giấc mộng Nam Kha”
Tổng khởi nghĩa Tháng Tám như “cơn gió to” quét sạch cái nội các chính phủ Trần Trọng Kim do Nhật mới dựng lên, đã kết thúc chế độ phong kiến cuối cùng triều Nguyễn 13 đời vua. Sự ra đời và đổ sụp của nội các cuối cùng này như một “Giấc mộng Nam Kha” còn ít người biết, hồ sơ hiến binh Nhật và hồi ký “Một cơn gió bụi” của chính cựu thủ tướng Trần Trọng Kim kể lại:
... Ngày 9-3-1945 Nhật hất cẳng Pháp thì hôm sau, 10-3 hiến binh Nhật ở Xiêm (Thái Lan) tới bệnh viện quân đội ở Băng-cốc đưa “khách” đang “giấu” ở đó về Việt Nam. Đó là Trần Trọng Kim và Nguyễn Văn Sâm.
Khi quân Nhật liên tiếp thua trận, Nhật hoàng đã tính chuẩn bị người lập chính phủ mới để nói chuyện với Đồng minh ở Đông Dương và ngăn Việt Minh ở Việt Nam đang nổi lên. Con bài đã “dự trữ” là kỳ ngoại hầu Cường Để sang Nhật từ năm 1906 và Ngô Đình Diệm từng là thượng thư triều Nguyễn, nay không đủ tin cậy. U-ga-bê, trùm tình báo Nhật đánh giá Diệm là kẻ nhiều tham vọng, khó bề điều khiển, hơn nữa có anh ruột là cha cố Thục có quan hệ với người Mỹ nên nếu thời thế thay đổi thì sẽ phản lại Thiên hoàng. U-ga-bê đề nghị chọn những trí thức có tên tuổi nhưng ít tham vọng chính trị... nên cuối cùng Bộ tư lệnh quân Nhật ở Đông Dương đã chọn Trần Trọng Kim-Dương Bá Trạc “tuy ít thủ đoạn chống Việt Minh nhưng có quan hệ tốt với Nhật từ lâu...”.
Trần Trọng Kim là một học giả có nhiều tác phẩm, 31 năm làm giáo sư các trường Bảo hộ (Bưởi), Hậu bổ (bồi dưỡng quan lại)... đã về hưu năm 1942 đang sống ở Hà Nội. Còn Dương Bá Trạc là cử nhân Hán học từ năm 16 tuổi, từng theo phong trào Đông du của cụ Phan nên bị Pháp bắt đày Côn Đảo, là bạn thân của Trần Trọng Kim trong Ban văn học Hội khai trí Tiến Đức, đang sống ở Hải Phòng. Tháng 10-1943 tình báo Nhật được lệnh “bắt cóc” hai nhóm Trần Văn Ân-Đặng Văn Ký và Trần Trọng Kim-Dương Bá Trạc, không để người Pháp và Ngô Đình Diệm biết hành tung, đã đưa sang Xin-ga-po từ 1-1-1944. Trạc bị bệnh lỵ đã chết ngày 10-12-1944, nên nay chỉ còn Trần Trọng Kim. Còn Nguyễn Văn Sâm đi với Kim là điệp viên của trùm mật vụ U-ga-bê, được bố trí làm quản gia để bảo vệ Kim khi mới được đưa về Băng-cốc ngày 16-1-1945. Vì phải đợi máy bay, ngày 29-3-1945 Trần Trọng Kim mới được đưa về Sài Gòn. Trung tướng Tổng tham mưu quân đội Nhật đích thân ra sân bay đón Kim về Bộ tư lệnh, mới “hé” cho biết: “Ông Phạm Quỳnh và các quan thượng thư cũ đã từ chức. Vua Bảo Đại chờ ông về Huế hỏi ý kiến...”. Trong danh sách nội các mới mà viên trung tướng Nhật ướm hỏi, có các tên gọi Hoàng Xuân Hãn, Vũ Ngọc Oánh, Cao Xuân Cẩm... nhưng không thấy tên Ngô Đình Diệm, nên Trần Trọng Kim hỏi lại, viên trung tướng Nhật chỉ mỉm cười: “Đó là ý của vua, ra Huế ông sẽ rõ”. Trong lúc Kim chờ tàu bí mật ra Huế, Diệm bất ngờ từ Vĩnh Long lên tìm gặp. Nghe Diệm nói, Trần Trọng Kim mới hiểu người Nhật đã bỏ rơi Diệm. Ngày 10-4, đích thân U-ga-bê ra tận ga xe lửa Huế đón Kim về nhà Y-ô-cô-ha-ma là cố vấn tối cao quân Nhật bên cạnh vua Bảo Đại. Vợ và con gái, con rể của Kim cũng đã được đón tới đây từ trước. Bảo Đại xếp cho gia đình Kim nghỉ lại trong ngôi nhà viên đại úy Pháp D. Bon trước đây trong thành nội. Hôm sau Kim vào cung yết kiến vua, Bảo Đại nói ngay:
- Hiệp ước 1884 không có hiệu lực nữa. Trẫm phải đứng ra lo việc nước: lập chính phủ mới...
- Sao ngài không dùng ông Diệm?
- Trẫm có cho điện gọi rồi nhưng chưa thấy về...
U-ga-bê đã gợi ý trước với Kim tìm gặp ông Hoàng Xuân Hãn thuyết phục những trí thức tên tuổi có uy tín ra làm bộ trưởng để một khi quân Đồng minh vào Đông Dương sẽ không có cớ gì bác bỏ, lại vừa có thể ngăn chặn ảnh hưởng của Việt Minh đang lan rộng... Danh sách cái nội các mới được trình vua ngày 17-4, Y-ô-cô-ha-ma chờ Bảo Đại xem xong, cầm lấy “duyệt lại” tỏ hài lòng, ra hiệu thông qua. Cuộc họp nội các mới, đầu tiên là bàn chọn quốc kỳ, quốc ca... “Về quốc ca, chúng tôi chọn mãi, thấy bài “Đăng đàn” tuy đã cổ lỗ nhưng nghiêm trang nên mọi người bảo nhau trong lúc chưa có bài nào hơn, thì tạm chọn bài ấy. Về quốc kỳ, chúng tôi chọn màu vàng làm nền vì là màu của vua, ở giữa có vẽ “quẻ ly” màu đen, ý nghĩa là chủ phương Nam. Trong kinh dịch, “quẻ ly” còn có nghĩa là lửa-ánh sáng...”. Còn cái nội các mới thì “... Bộ quốc phòng không có, quân đội vỏn vẹn 300 binh sĩ ở Hoàng cung, vũ khí thì cổ lỗ, hoen gỉ... Điều đáng buồn khác nữa là các sở, ty công an cấp tỉnh-huyện đều do người Nhật nắm giữ. Một chính phủ như thế thì làm được gì?...”.
Trần Trọng Kim nói, chính phủ lúc đó chưa có Bộ quốc phòng nhưng có Bộ thanh niên, với quan điểm cho rằng bộ này sẽ lập ra các đạo “thanh niên tiền tuyến, để một ngày kia thành những đội quân có tinh thần mạnh mẽ...”. Trần Trọng Kim cũng ngây thơ khi cho rằng, đã có chính phủ mới thì coi như tình hình chính trị ở Trung Bộ đã ổn, chỉ còn Bắc và Nam Bộ vẫn còn trong tay người Nhật. Quân Nhật đã hất Pháp để giải phóng Việt Nam, vua Bảo Đại đã tuyên bố bỏ hết những hiệp ước triều Huế đã ký với Pháp trước kia, thì bây giờ người Nhật phải trao lại cả lãnh thổ cho vua Việt Nam. Thế là Trần Trọng Kim cho người đàm phán, điều đình để Nhật “trả đất”, nhưng cố vấn tối cao Y-ô-cô-ha-ma “thừa lệnh Thiên hoàng” chỉ “giao lại đất Bắc” nhưng vẫn giữ lại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và toàn xứ Nam Bộ. Người Nhật vẫn ngự trị các cơ quan trọng yếu như sở công an, tuyên truyền, các công sở thuộc phủ toàn quyền của Pháp: Nha tư pháp, học chính, bưu điện, tài chính, giao thông-công chánh... Mãi đến tháng 8-1945, khi đã thảm bại hoàn toàn trong chiến tranh, Nhật mới “nhượng bộ” trao trả các công sở, ấn định sẽ làm lễ chính thức vào ngày 2-8-1945...
Suốt thời gian đó, Trần Trọng Kim và cái chính phủ bù nhìn của ông ta nằm trong bốn bức tường Hoàng thành, không biết bánh xe lịch sử đang lăn nhanh. Tổng khởi nghĩa nổ ra trên cả nước. Ở Huế, trưa 23-8, Phạm Quỳnh bị các chiến sĩ Việt Minh đột nhập ấp Hoa Đường bắt lên ô tô chở đi, cùng lúc quân cách mạng vây bắt cha con Ngô Đình Khôi... Riêng Trần Trọng Kim, đang ở cùng dinh tòa Khâm với Nhật, các chiến sĩ Việt Minh viết giấy hẹn ông ta đến 15 giờ ngày 24-8 phải đi khỏi nơi ông ta ở. Hôm sau ông ta đi trước hẹn 1 giờ... Cách mạng đã giành chính quyền từ Nhật về tay nhân dân. Trần Trọng Kim lui về náu ở ngôi nhà đã thuê tại làng Vĩ Dạ, lòng dạ chua chát-như ông ta viết trong hồi ký “Một cơn gió bụi”: “...Thế là xong một giấc mộng Nam Kha. Bận rộn trong hơn 4 tháng trời, nghĩ lại thấy nực cười... tay không lại hoàn không...”.
Hồ Tuấn (lược thuật
Tổng khởi nghĩa Tháng Tám như “cơn gió to” quét sạch cái nội các chính phủ Trần Trọng Kim do Nhật mới dựng lên, đã kết thúc chế độ phong kiến cuối cùng triều Nguyễn 13 đời vua. Sự ra đời và đổ sụp của nội các cuối cùng này như một “Giấc mộng Nam Kha” còn ít người biết, hồ sơ hiến binh Nhật và hồi ký “Một cơn gió bụi” của chính cựu thủ tướng Trần Trọng Kim kể lại:
... Ngày 9-3-1945 Nhật hất cẳng Pháp thì hôm sau, 10-3 hiến binh Nhật ở Xiêm (Thái Lan) tới bệnh viện quân đội ở Băng-cốc đưa “khách” đang “giấu” ở đó về Việt Nam. Đó là Trần Trọng Kim và Nguyễn Văn Sâm.
Khi quân Nhật liên tiếp thua trận, Nhật hoàng đã tính chuẩn bị người lập chính phủ mới để nói chuyện với Đồng minh ở Đông Dương và ngăn Việt Minh ở Việt Nam đang nổi lên. Con bài đã “dự trữ” là kỳ ngoại hầu Cường Để sang Nhật từ năm 1906 và Ngô Đình Diệm từng là thượng thư triều Nguyễn, nay không đủ tin cậy. U-ga-bê, trùm tình báo Nhật đánh giá Diệm là kẻ nhiều tham vọng, khó bề điều khiển, hơn nữa có anh ruột là cha cố Thục có quan hệ với người Mỹ nên nếu thời thế thay đổi thì sẽ phản lại Thiên hoàng. U-ga-bê đề nghị chọn những trí thức có tên tuổi nhưng ít tham vọng chính trị... nên cuối cùng Bộ tư lệnh quân Nhật ở Đông Dương đã chọn Trần Trọng Kim-Dương Bá Trạc “tuy ít thủ đoạn chống Việt Minh nhưng có quan hệ tốt với Nhật từ lâu...”.
Trần Trọng Kim là một học giả có nhiều tác phẩm, 31 năm làm giáo sư các trường Bảo hộ (Bưởi), Hậu bổ (bồi dưỡng quan lại)... đã về hưu năm 1942 đang sống ở Hà Nội. Còn Dương Bá Trạc là cử nhân Hán học từ năm 16 tuổi, từng theo phong trào Đông du của cụ Phan nên bị Pháp bắt đày Côn Đảo, là bạn thân của Trần Trọng Kim trong Ban văn học Hội khai trí Tiến Đức, đang sống ở Hải Phòng. Tháng 10-1943 tình báo Nhật được lệnh “bắt cóc” hai nhóm Trần Văn Ân-Đặng Văn Ký và Trần Trọng Kim-Dương Bá Trạc, không để người Pháp và Ngô Đình Diệm biết hành tung, đã đưa sang Xin-ga-po từ 1-1-1944. Trạc bị bệnh lỵ đã chết ngày 10-12-1944, nên nay chỉ còn Trần Trọng Kim. Còn Nguyễn Văn Sâm đi với Kim là điệp viên của trùm mật vụ U-ga-bê, được bố trí làm quản gia để bảo vệ Kim khi mới được đưa về Băng-cốc ngày 16-1-1945. Vì phải đợi máy bay, ngày 29-3-1945 Trần Trọng Kim mới được đưa về Sài Gòn. Trung tướng Tổng tham mưu quân đội Nhật đích thân ra sân bay đón Kim về Bộ tư lệnh, mới “hé” cho biết: “Ông Phạm Quỳnh và các quan thượng thư cũ đã từ chức. Vua Bảo Đại chờ ông về Huế hỏi ý kiến...”. Trong danh sách nội các mới mà viên trung tướng Nhật ướm hỏi, có các tên gọi Hoàng Xuân Hãn, Vũ Ngọc Oánh, Cao Xuân Cẩm... nhưng không thấy tên Ngô Đình Diệm, nên Trần Trọng Kim hỏi lại, viên trung tướng Nhật chỉ mỉm cười: “Đó là ý của vua, ra Huế ông sẽ rõ”. Trong lúc Kim chờ tàu bí mật ra Huế, Diệm bất ngờ từ Vĩnh Long lên tìm gặp. Nghe Diệm nói, Trần Trọng Kim mới hiểu người Nhật đã bỏ rơi Diệm. Ngày 10-4, đích thân U-ga-bê ra tận ga xe lửa Huế đón Kim về nhà Y-ô-cô-ha-ma là cố vấn tối cao quân Nhật bên cạnh vua Bảo Đại. Vợ và con gái, con rể của Kim cũng đã được đón tới đây từ trước. Bảo Đại xếp cho gia đình Kim nghỉ lại trong ngôi nhà viên đại úy Pháp D. Bon trước đây trong thành nội. Hôm sau Kim vào cung yết kiến vua, Bảo Đại nói ngay:
- Hiệp ước 1884 không có hiệu lực nữa. Trẫm phải đứng ra lo việc nước: lập chính phủ mới...
- Sao ngài không dùng ông Diệm?
- Trẫm có cho điện gọi rồi nhưng chưa thấy về...
U-ga-bê đã gợi ý trước với Kim tìm gặp ông Hoàng Xuân Hãn thuyết phục những trí thức tên tuổi có uy tín ra làm bộ trưởng để một khi quân Đồng minh vào Đông Dương sẽ không có cớ gì bác bỏ, lại vừa có thể ngăn chặn ảnh hưởng của Việt Minh đang lan rộng... Danh sách cái nội các mới được trình vua ngày 17-4, Y-ô-cô-ha-ma chờ Bảo Đại xem xong, cầm lấy “duyệt lại” tỏ hài lòng, ra hiệu thông qua. Cuộc họp nội các mới, đầu tiên là bàn chọn quốc kỳ, quốc ca... “Về quốc ca, chúng tôi chọn mãi, thấy bài “Đăng đàn” tuy đã cổ lỗ nhưng nghiêm trang nên mọi người bảo nhau trong lúc chưa có bài nào hơn, thì tạm chọn bài ấy. Về quốc kỳ, chúng tôi chọn màu vàng làm nền vì là màu của vua, ở giữa có vẽ “quẻ ly” màu đen, ý nghĩa là chủ phương Nam. Trong kinh dịch, “quẻ ly” còn có nghĩa là lửa-ánh sáng...”. Còn cái nội các mới thì “... Bộ quốc phòng không có, quân đội vỏn vẹn 300 binh sĩ ở Hoàng cung, vũ khí thì cổ lỗ, hoen gỉ... Điều đáng buồn khác nữa là các sở, ty công an cấp tỉnh-huyện đều do người Nhật nắm giữ. Một chính phủ như thế thì làm được gì?...”.
Trần Trọng Kim nói, chính phủ lúc đó chưa có Bộ quốc phòng nhưng có Bộ thanh niên, với quan điểm cho rằng bộ này sẽ lập ra các đạo “thanh niên tiền tuyến, để một ngày kia thành những đội quân có tinh thần mạnh mẽ...”. Trần Trọng Kim cũng ngây thơ khi cho rằng, đã có chính phủ mới thì coi như tình hình chính trị ở Trung Bộ đã ổn, chỉ còn Bắc và Nam Bộ vẫn còn trong tay người Nhật. Quân Nhật đã hất Pháp để giải phóng Việt Nam, vua Bảo Đại đã tuyên bố bỏ hết những hiệp ước triều Huế đã ký với Pháp trước kia, thì bây giờ người Nhật phải trao lại cả lãnh thổ cho vua Việt Nam. Thế là Trần Trọng Kim cho người đàm phán, điều đình để Nhật “trả đất”, nhưng cố vấn tối cao Y-ô-cô-ha-ma “thừa lệnh Thiên hoàng” chỉ “giao lại đất Bắc” nhưng vẫn giữ lại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và toàn xứ Nam Bộ. Người Nhật vẫn ngự trị các cơ quan trọng yếu như sở công an, tuyên truyền, các công sở thuộc phủ toàn quyền của Pháp: Nha tư pháp, học chính, bưu điện, tài chính, giao thông-công chánh... Mãi đến tháng 8-1945, khi đã thảm bại hoàn toàn trong chiến tranh, Nhật mới “nhượng bộ” trao trả các công sở, ấn định sẽ làm lễ chính thức vào ngày 2-8-1945...
Suốt thời gian đó, Trần Trọng Kim và cái chính phủ bù nhìn của ông ta nằm trong bốn bức tường Hoàng thành, không biết bánh xe lịch sử đang lăn nhanh. Tổng khởi nghĩa nổ ra trên cả nước. Ở Huế, trưa 23-8, Phạm Quỳnh bị các chiến sĩ Việt Minh đột nhập ấp Hoa Đường bắt lên ô tô chở đi, cùng lúc quân cách mạng vây bắt cha con Ngô Đình Khôi... Riêng Trần Trọng Kim, đang ở cùng dinh tòa Khâm với Nhật, các chiến sĩ Việt Minh viết giấy hẹn ông ta đến 15 giờ ngày 24-8 phải đi khỏi nơi ông ta ở. Hôm sau ông ta đi trước hẹn 1 giờ... Cách mạng đã giành chính quyền từ Nhật về tay nhân dân. Trần Trọng Kim lui về náu ở ngôi nhà đã thuê tại làng Vĩ Dạ, lòng dạ chua chát-như ông ta viết trong hồi ký “Một cơn gió bụi”: “...Thế là xong một giấc mộng Nam Kha. Bận rộn trong hơn 4 tháng trời, nghĩ lại thấy nực cười... tay không lại hoàn không...”.
Hồ Tuấn (lược thuật
Gió vẫn thổi trên những tầng mây , ngày vẫn trôi qua có ai nghĩ được gì trong khoảng miên man bất tận . Hỡi em ! Ta sẽ yêu em như những ngày xưa đầy mộng tưởng trong giấc mơ viết thành bài thơ tình lãng mạn ....