📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

ĐẠO PHẬT VÀ DÒNG SỬ VIỆT

0 trả lời, 1.121 lượt xem — Trang 1 / 1
ĐẠO PHẬT VÀ DÒNG SỬ VIỆT
HT.Thích Đức Nhuận

ĐẠO PHẬT TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN HẬU
BÁN THẾ KỶ XX
Đạo Phật đời nhà Trần, về phía xuất gia có đức vua Điều ngự Giác Hoàng, tôn giả Pháp Loa, tôn giả Huyền Quang lập thành Thiền pháp Trúc Lâm Yên Tử; về phía cư sĩ có các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông và ngài Tuệ Trung thượng sĩ… đều là những Phật tử chân chính, hết lòng hoằng dương chính pháp làm cho Đạo Phật sáng rỡ một thời; nhưng cuối đời Trần thì Đạo Phật mất dần thanh thế. Cho mãi tới thời Trịnh – Nguyễn (1576-1786), tuy có đôi lúc được hưng hiển nhưng đấy chỉ như những vì sao rời rạc lấp lánh trên bầu trời vẫn tỏa ánh sáng chiếu soi xuống cõi trần gian mù mịt tối tăm này!
Phật giáo suy thoái từ cuối đời Trần Hiển Tông (1329-1341) và tiếp theo các đời Trần Dụ Tông (1358-1369); Trần Nghệ Tông (1370-1372); Trần Duệ Tông (1373-1377); Trần Phế Đế (1377-1388); Trần Thuận Tông (1388-1398); Trần Thiếu Đế (1398-1400). Tiếp đó là nhà Hồ thay nhà Trần (nhà Hồ làm vua được hai đời, trị vì bảy năm (1400-1407). Sau đó nước ta, suốt hai mươi năm bị nội thuộc nhà Minh (1408-1428)1.
Ngày 29 tháng 4 năm 1428, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, chấm dứt cảnh nội loạn ngoại xâm, Lê Lợi chính thức lên Ngôi vua, trị vì sáu năm thì mất (1428-1433). Các vua kế nghiệp là Lê Thái Tông (1434-1442); Lê Nhân Tông (1443-1459); Lê Thánh Tông (1460-1497); Lê Hiến Tông (1498-1504); Lê Túc Tông (1504) và Lê Uy Mục (1505-1509); Lê Tương Dực (1510-1516); Đà Dương Vương (1516-1522) và Lê Cung Hoàng (1522-1527) gồm mười đời, trị vì 99 năm (1428-1527). Rồi nhà Mạc diệt nhà Lê. Nhà Mạc làm vua được năm đời, trị vì 65 năm (1527-1592) (Lịch sử gọi thời kỳ này là thời Nam Bắc triều Lê – Mạc).Tiếp đến thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, kể từ đời vua Lê Kính Tông (1600) trở về sau, hai họ Trịnh – Nguyễn đánh nhau cả thảy bảy lần, kéo dài 45 năm (1627-1672), khiến cho dân chúng đói khổ lầm than, đất nước bị chia cắt: họ Nguyễn hùng cứ phương Nam, họ Trịnh xưng chúa phương Bắc; tuy còn vua, nhưng quyền hành về cả hai chúa. Sau đó, trong nam có Trương Phúc Loan chuyên quyền làm bậy; ngoài Bắc thì có kiêu binh làm loạn…
Năm 1786, Nguyễn Huệ, lấy danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh”, kéo quân ra Bắc diệt họ Trịnh xong, trao quyền hành lại cho nhà Lê, nhưng vua Mẫn Đế (Chiêu Thống) nhu nhược, triều thần lại thiếu người có tài kinh luân (đến nỗi) để cho Trịnh Bồng và nguyễn Hữu Chỉnh nối nhau chuyên quyền. Vua Càn Long (nhà Thanh) nhân đấy mượn cớ cứu nhà Lê, sai bọn Tôn Sĩ Nghị, Sầm nghi Đống, Hứa Thế Hanh đem quân sang giữ thành Thăng Long; phong cho vua Chiêu Thống làm An Nam Quốc Vương.
Việt Nam Sử Lược chép: “Nhà Lê, kể từ vua Thái Tổ (Lê Lợi) khởi nghĩa, đánh đuổi quân nhà Minh về Tàu, lập lại nền tự chủ cho nước nhà, truyền đến vua Cung Hoàng thì bị họ Mạc cướp Ngôi. Sau nhờ có họ Trịnh1 và họ Nguyễn2 giúp đỡ, nhà Hậu Lê trung hưng lên, truyền đến vua Chiêu Thống, tức là Mẫn Đế, thì hết”.
Nhà Lê, kể cả Tiền Lê và Hậu Lê, trị vì 360 năm (1428-1788) nhưng từ khi trung hưng trở về sau, nhà Lê bị họ Trịnh hiếp chế, nên vừa có vua lại vừa có chúa. Vua ngồi làm vì. Chúa giữ cả mọi quyền bính. Đến khi nghiệp chúa suy thì Ngôi vua cũng đổ theo!
Cuối năm 1788, Bắc bình vương Nguyễn Huệ được các tướng sĩ tôn lên làm vua, rồi tự mình thống lĩnh đại binh, từ Thanh Hóa dẫn mười vạn quân và hơn 100 voi ra dẹp giặc Thanh. Ngày 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789), đoàn quân của vua Quang Trung đánh thành Thăng Long, các tướng Hứa Thế Hanh, Trương Sĩ Long, Trương Duy Thăng đều tử trận. Sầm Nghi Đống dóng quân ở Đống Đ, phải tự thắt cổ chết. Còn quân sĩ nhà Thanh sỡ hãi bỏ chạy, dẵm đạp lên nhau mà chết, “xác nằm ngổn ngang như gò đống, máu chảy như thác nước”
Để ca tụng chiến công hiển hách năm 1789 của dân tộc ta đại thắng quân Thanh, nhà thơ đương thời Ngô Ngọc Du đã sáng tác bài thơ:
“Giặc đâu tàn bạo sang điên cuồng,
Quân vua một giận oai bốn phương.
Thần tốc ruổi dài xông thẳng tới,
Như trên trời xuống ai dám đương.
Một trận rồng lửa giặc tan tành,
Bỏ thành cướp đò trốn cho nhanh.
Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến,
Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh.
Mây tạnh mù tan trời lại sáng,
Đầy thành già trẻ mặt như hoa.
Chen vai khoác cánh cùng nhau nói:
Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta”.
Về sau bọn khách trú ở Thăng Long làm đền thờ Sầm Nghi Đống ở ngõ Sầm Công, phố hàng Buồm, Hà Nội, nữ sĩ Hô Xuân hương có thơ vịnh rằng:
“Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,
Kìa đền thái thú đứng cheo leo.
Ví đây đổi phận làm trai được,
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?”
Vua Quang Trung NGUYỄN HUỆ khi đã dẹp yên giặc Thanh, thống nhất đất nước, lập nên nhà Nguyễn (Tây Sơn), nhưng cách 4 năm sau (1788-1792) thì ông mất, con là Nguyễn Quang Toản mới 10 tuổi, được triều đình tôn lên làm vua, xưng đế hiệu là Cảnh Thịnh, để kế nghiệp cha. Đến năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh diệt nhà Tây Sơn, lập nên nhà Nguyễn.

________________________________________
1 Trong thời gian chống quân Minh, năm 1413, vua Trùng Quang (đời Hậu Trần) có lần sai Nguyễn Biểu tới trại của Trương Phụ, (tướng nhà Minh) để điều đình, bị chúng giữ lại. Ông giận mắng vào mặt Trương Phụ: “Chúng bay, trong thì mưu kế đánh lấy nước ngoài, ngoài thì phô trương là quân nhân nghĩa. Trước nói lập con cháu nhà Trần, nay lại chia đất làm quận huyện; không những cướp bóc của cải, lại còn tàn sát lương dân, thật là quân nghịch tặc”. Trương Phụ tức giận, sai trói ông và đem dìm dưới chân cầu ngâm cho chết. Sau nhân dân Nghệ Tĩnh lập miếu thờ, suy tôn là “Nghĩa vương”.
Cảm kích trước sự hy sinh oanh liệt của Nguyễn Biểu, một nghĩa sĩ chống quân Minh, vị tăng trụ trì chùa Yên Quốc đã làm bài “Cầu Siêu Độ” cho người anh hùng quá cố ấy.
Nguyên văn:
Chói chói một vùng tuệ nhật,
Đùn đùn mấy đóa từ vân.
Tam giới soi hòa trên dưới,
Thập phương trải khắp xa gần.
Giải thoát lần lần nghiệp chướng,
Quang khai chốn chốn mê tân.
Trần quốc xảy vừa mạt tạo (1),
Sứ Hoa (2) bỗng có trung thần.
Vàng đúc lòng son một tấm,
Sắt rèn tiết cứng mười phân.
Trần kiếp vì đâu oan khổ,
Phương hồn đến nỗi trầm luân!
Tế độ dặn nhờ từ phiệt,
Chân linh ngõ được phúc thần (*)”
--------------------------
(1) Mạt tạo: cuối đời, cuối vận.
(2) Sứ hoa: Nguyễn Biểu
(*) Chân Linh: tinh thần thiêng liêng có thực; Phúc Thần: danh nhân sau khi chết đuợc thờ làm thần.
1 Xem mục các chúa dòng họ Trịnh đối với Phật giáo.
2 Nguyễn Kim (có sách viết là Nguyễn Hoàng Kim) làm quan Hữu vệ điện tiền tướng quân an thanh hầu dưới triều Lê, khi Mạc Dăng Dung diệt nhà Lê năm 1527, ông trốn sang Ai Lao, được vua nước ấy là Xạ Đẩu cho đến ở xứ Sầm Châu (Thanh Hóa). Đến năm 1532, Nguyễn Kim tìm được người con út vua Chiêu Tông tên là Duy Ninh lập làm vua, tức vua Trang Tông. Cùng thời ấy, ở làng Sóc Sơn, có Trịnh Kiểm là một tướng giỏi, ông Nguyễn Kim gả con gái là Ngọc Bảo cho, để cùng hợp lực giúp vua Lê, dứt nhà mạc.
Năm 1542, Lê Trang Tông đem quân đánh Thanh Hóa và nghệ An; năm 1543, lấy đất Tây Đô; năm 1545, nguyễn Kim đem quân tiến đánh Sơn Nam, đi đến huyện Yên Mô, bị tướng nhà Mạc đánh thuốc độc chết, binh quyền giao cả cho con rễ là Trịnh Kiểm.
Trịnh Kiểm rút quân về Thanh Hóa, lập hành điện (ở đồn Vạn lại) để cho vua ở.
Năm 1570, Trịnh Kiểm mất, em là Trịnh Tùng lên thay, được vua Lê Anh Tông phong làm Thái úy trưởng quốc công. Năm 1592, Trịnh Tùng dẫn quân ra Bắc đánh chiếm thành Thăng Long, nhà Mạc mất ngôi từ đấy).

Gió vẫn thổi trên những tầng mây , ngày vẫn trôi qua có ai nghĩ được gì trong khoảng miên man bất tận . Hỡi em ! Ta sẽ yêu em như những ngày xưa đầy mộng tưởng trong giấc mơ viết thành bài thơ tình lãng mạn ....
Đăng nhập để trả lời
0