📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

Hiệu đính truyện Tiếng Gọi Vĩnh Cửu

12 trả lời, 7.141 lượt xem — Trang 1 / 1
TIẾNG GỌI VĨNH CỬU
Tiểu thuyết
Tác giả : Anatoli Ivanov
Người dịch : Đoàn Tử Huyến
Đánh máy: nutacxinhxan
Hiệu đính: nutacxinhxan



Phần Mở Đầu


Vào một ngày tháng sáu năm 1908, trong phòng hỏi cung của Sở hiến binh thành phố Tomsk có hai người: dự thẩm Lakhonovski, chừng ba mươi lăm tuổi, chiếc mũi tẹt lúc nào cũng như láng mỡ, và cai ngục Cosorotov, một gã đàn ông vơi vẻ ngoài khó coi với chiếc quai hàm bạch ra bè bè.
Lakhnovski ngồi uống trà sau bàn làm việc, mình chỉ mặc một chiếc áo sơ mi. Trời nóng nực, áo khoác ngoài nhà binh treo trên lưng ghế tựa. Cosorotov đứng phục dịch, khăn vắt ngang tay, trông hắn chẳng khác gì một tên hầu bàn ở các quán ăn.
Lakhnovski đặt chiếc chén xuống khay, lên tiếng:
- Ta có xem đơn của anh gửi cấp trên. Anh muốn xin về nhà tù trung ương Alecsandrovski phải không?
- Thưa ngài, đó là điều con vẫn mơ ước từ thời còn trẻ đấy ạ.
- Mơ ước là điều rất tốt , mơ ước của con người cần phải được thực hiện.
- Dạ, ngài có lần đã hứa, nếu con lập được công ngài sẽ giúp.
- Được, được ta sẽ nói hộ. Cho anh đi thì ta cũng hơi tiếc, nhưng cũng phải khen thưởng anh vì sự phục vụ tận tụy và trung thành. - Lakhnovski đẩy chiếc khay với bộ ấm chén sang một bên. - Thôi, bây giờ ta lại bắt đầu với mấy người đồng hương từ Novonicolaevsk của anh…Làm thế nào mà anh chộp được chúng thế.
- Dạ, thưa ngài Arnold Mikhailovich, hôm đó con đang đi đến rạp xem phim xinê. Khi đi ngoài phố, bao giờ con cũng chú ý quan sát xung quanh, xem có gì đáng khả nghi không? Con đang nhìn thì bỗng thấy từ một ngõ hẻm ngay trươc mặt có hai người bước ra, rồi vội vã đi thẳng. Con nghĩ; có cái gì đáng nghi lắm…Vừa lúc đó một đứa ngoái nhìn lại. Con ngạc nhiên nhận ra đó là Piot’r Polipov. Đồng hương! Thế còn người đi với hắn là ai? Thôi đúng là Anton Saveliev bị giam ở nhà tù Novonicolaevsk. Lúc đó con làm cai ngục ở đấy. Con nghĩ, không biết chúng đến Tomsk để làm gì? Và thế là con thổi còi…
- Thôi, được rồi, khá lắm. Dẫn từng đứa một vào đây.
Lakhnovsk choàn chiếc áo khoác nhà binh trên vai, châm lửa hút. Khói thuốc bay ra ngoài theo lỗ thông hơi của chiếc cửa sổ bịt bằng lưới thép.
Chưa đầy 2 phút sau,Cosorotov đã đẩy Anton Saveliev vào phòng. Anton mặc chiếc áo vét tong nhàu nát, mấy túm tóc màu bạch kim rủ lòa xòa trước trán dưới vành mũ lưỡi trai. Đôi mắt trong và rất sáng nhìn Lakhonovski đầy vẻ hằn học, cau có.
Tên dự thẩm rít một hơi thuốc, bước đến bên cạnh Anton, hất đầu chỉ hai cặp giấy dày cộp nằm trên bàn, cười gằn:
- Tôi vừa mới hỏi xin hồ sơ cá nhân của anh và Polipov ở sở hiến binh Novonicolaevsk về đấy. Thế nào, bây giờ thì còn khăng khăng ngoan cố nữa không?

*
* *


Gần một tháng trước đây, Anton Saveliev vừa tròn 18 tuổi. Và cũng đúng vào ngày sinh, anh tổ chức lễ cưới. Vợ anh là lida Dakharova, con gái ông Nicardr Dakhanova, một đảng viên Đảng Xã Hội, quê ở Novonicolaevsk. Ông đã hi sinh hồi tháng ba năm 1905 trong một chuyến vượt ngục từ nhà tù trung ương Alecsandrovsk.
Anton sinh ra và lớn lên ở làng Mikhalovca nhỏ bé thuộc xã Santara, cách Novonicolaevsk chừng trăn rưỡi vecxata. Cha của cậu, Silanti Saveliev, rất nghèo. như ở Mikhailovkang người ta thường nói, “ nghèo hơn cả con chó của ông cố đạo ". Câu đó có nghĩa gì, không bao giờ Anton có thể hiểu được, vì ở Mikhailovka vốn không có nhà thờ, không có cố đạo, và lẽ dĩ nhiên là không có cả chó của cố đạo.
Anton lớn lên như một đứa trẻ lêu lổng, thường hay đánh đập hai em trai là Phedor và Ivan. Tất cả trẻ con làng Mikhailovka đều sợ cậu chết khiếp. Chưa ai biết Anton rồi sẽ thành người như thế nào, thì mùa xuân năm 1904, Mit’rophan , em ruột của Silanti, làm nghề thợ mộc, từ Novonicolaevsk về thăm làng Mikhailovka.
- Này chú Mit’rophan, chú đưa thằng Anton ra thành phố một thời gian nhé? – Người anh hỏi. – Có thể chú dạy nghề cho nó. Ở nhà tôi và mẹ nó chịu không làm sao bảo được nó. Thăng bé sẽ hỏng mất thôi. Nghe nói hình như còn kết bon với bọn chuyên ăn chộm ngựa, được chúng dạy cho cờ bạc.
Ở Novonnicolaevsk Anton rất thích, nhưng không chịu học nghề thợ mộc. Suốt ngày cậu lang thang khắp các phố, làm quen với bọn trẻ lêu lổng, đánh bạc với chúng, tìm cách móc túi những người say rượu nằm lăn lóc các quán, và nhiều lần bị đánh nhừ tử. Rồi bỗng nhiên cậu bỏ tất cả các trò đó và trở nên say mê bẫy chim ở các cánh rừng sung quanh thành phố, đưa ra chợ bán hoặc đổi lấy bánh quế cho Piot’r Polipov, con trai một chủ hiệu buôn ở gần đấy. Bản thân Anton không ưa của ngọt, bao nhiêu bánh cậu đều cho Lida có đôi chân dài thon thả, con lão “khổ sai " – như người ta thường gọi cô.
Cô bé Lida này, người gầy đét như một bộ xương, đầu gối nhọn hoắt và cặp lông mày đen rất dài, lúc đó chừng mười bốn tuổi, nhà ở cùng phố với chú Mit’rophan. Bà mẹ cô hình như bị bệch lao, ho quay năm suốt tháng, làm việc ở nhà máy xà phòng. Anton quan tâm đến Lind chỉ vì cô là con gái của một người tù khổ sai. “Cũng không biết tại sao mà người ta bắt ông ấy đi đày, - cậu nghĩ, - chắc có lẽ vì đấm chết ai đó".
Một lần, Anton đem điều này ra hỏi Grigori, con trai của chú Mit’rophan làm ghề đốt lò ở đềpô xe lửa. Anh cao lớn, xương xẩu, đôi mắt to, người bao giờ cũng sặc mùi khói và bồ hóng, Grigori là một thanh niên rất vui nhộn, thường hay cho Anton đi theo câu cá và nói chung, đối xử với cậu rất thân mật, bình đẳng như với một người bạn cùng lứa tuổi.
- Con người muốn đi tìm sự thật nên bị tống đi tù khổ sai. – Grigori nói. Anh chăn chú nhìn Anton rồi tiếp thêm: - Ông ấy , cha của Lida, là đảng viên Đảng Xã Hội.
- Đảng Xã Hội là cái gì?
- Là cách mạng.
- Thế cách mạng là cái gì?
Grigori phá ra cười, và không hiểu sao, anh lại nháy mắt nhìn Anton.
- Thế nào, lạ lắm phải không? Rồi anh cũng sẽ biết cả thôi. Mọi cái đều có lúc của nó.
Ít lâu sau, Anton biết được rằng cả Grigori, cả chú Mit’rophan, thậm chí cả bà thím Uliana Phedorovna cũng là những nhà cách mạng, mặc dù họ tìm mọi cách để giấu kín không cho Anton biết điều này. Và khi thấy Anton đã biết hết mọi chuyện, suýt nữa họ bắt cậu phải trở về với bó mẹ cậu ở làng Mikhailovka. Găng nhất là thím Uliana Phedorovna. Nếu không có Grigori, chắc chắn là Anton đã phải về rồi.
- Cha ạ, con thật không hiểu nổi cha muốn gì?! – một lần Grigori đã to tiếng với cha. Anh túm lấy bộ quân bài của Anton vừa bị thím Uliana tước được vứt trên bàn, lắc lắc trong không khí. - Cha muốn để cho Anton cứ đi theo con đường này à? Càng để lâu thì càng khó chữa đấy. Cha phải hiểu rằng vào cái tuổi này, ma quỷ nào biết được nó muốn gì. Toàn những chuyện khác thường! Cho nên, cần phải tìm cách giúp đỡ Anton.
Và ngay trong ngày hôm đó, chỉ nửa giờ sau, trong lúc nhận tài liệu từ tay liên lạc viên tại một ga gác xép ở ngoại ô thành phố, Grigori – anh thanh niên, Grogori bao giờ cũng sôi nổi, không biết chán nản là gì, người đã phản đối gửi trả Anton về làng Mikhailovka, - đã bị cảnh sát bắn trọng thương. Chiều hôm đó anh tắt thở trên tay Anton, chỉ kịp nói mấy lời:
- Anton, nếu anh muốn đi tìm sự thật, thì nhà tù, khổ sai và, có thể, cả cái kết cục như thế này…sẽ đợi anh…Anh có dám đi không?
- Dám!
- Không sợ à?
- Không!
- Tốt lắm…
- Tôi cũng sẽ trở thành người như chú!
- Tôi tin…
Chẳng bao lâu sau, Anton đã được nếm mùi tù ngục lần đầu tiên. Cả anh, Lida, cả Piot’r Polipov, - mặc dù Piot’r là con trai của một chủ cửa hiệu khá giàu có.
Dần dần, Anton và Piot’r thân nhau. Tình bạn của họ chỉ bị một điều duy nhất làm cho vẩn đục: từ bao giờ không biết, cả hai người đều thầm yêu Lida. Không hiểu cô gái có cái gì làm cho anh chàng Piot’r phải say mê? Lida không xinh, chỉ có đôi mắt của cô là đẹp, đôi mắt hơi xanh như làn nước suối, bao giờ cũng lấp lánh như một thứ ánh sáng vừa sống động, vừa bồn chồn. Anton yêu cô vì sự táo bạo tới liều lĩnh của cô, mặc dù nhìn bề ngoài thì không thể nghĩ như vậy được. Mới 14, 15 tuổi cô đã nhiều lần tới Tomsk và chuyển tài liệu mật, thậm chí cả vũ khí nữa, từ đấy về.
Về phía Lda, cô đối xử với Anton và Piot’r bao giờ cũng như nhau: và mãi mãi cho tới tận thời gian gần đây cũng không biết được là cô thích ai hơn. Trong thâm tâm, Anton cho piot’r có nhiều lợi thế hơn và triển vọng hơn, đặc biệt là sau ngày ở tù ra. Họ bị bắt vào cuối tháng 10 năm 1905, tất cả gồm bốn người: Anton, Lida , Piot’r và Ivan Mikhailovich Suboti – Người lãnh đạo tổ chức Đảng Công Nhân Xã Hội Dân Chủ Nga ở thành phố Novonicolaevsk, một nhà hoạt đông cách mạng dày dạn kinh nhiệm. Cùng với cha của Lida, ông vừa mới vượt ngục từ nhà tù trung ương Alecsandrovski về mấy tháng trước đây.Các đồng chí kiếm cho ông đựợc giấy tờ hợp pháp mang tên Cuzma Trurkin, và bố chí và bố chí làm chân rửa bát ở nhà bếp nhà lao Novonicolaevsk . Làm việc ở đây ông tích cực chuẩn bị cho những người tù chính trị vượt ngục. Vào một ngày tháng mười, trong thời gian bãi công, những người công nhân đường sắt, - sau cái chết của Grigori , tổ chức ở đây do cha anh, Mit’rophan lãnh đạo, - đã tổ chức một cuộc biểu tình chính trị lớn chưa từng thấy và phá được nàh tù. Những đại đội Codac và quân đội chính quy chỉ mấy phút sau được điều đến để giải tán đám biểu tình , và toàn bộ những người tổ chức phá ngục bị bắt.
Ngày hôm đó, Trurkin Subotin trao cho Anton và Piot’r Polipov một nhiệm vụ chiến đấu thật sự. Từ sáng Anton cần phải đến một ga xép vắng vẻ để nhận từ tay ông già công nhân đường sắt một túi đạn và trước mười giờ phải đem đến chỗ hẹn trong rừng ở ngoại ô thành phố. Đây là số đạn dự trữ. Trong trường hợp cần thiết, Piot’r sẽ chuyển số đạn đó vào thành phố cho tổ xung kích. Polipov là học sinh trung học. Mặc bộ đồng phục học sinh, anh đễ dàng mang đạn đi trong thành phố mà không gây sự nghi ngờ. Nhưng Anton lại tự ái vì anh không được chọn vào tổ xung kích đi phá nhà tù, người ta không tin tưởng giao cho anh mang đạn vào thành phố. Vì vậy, từ ga xép, anh mang đến thẳng địa điểm tập trung của đội xung kích.
Ôi, cơn giận dữ cảu Subotin khi thấy sự vi phạm kỷ luật như vậy mới thật dữ dội! Mà đạn thì vẫn cần, ông đã phái Piot’r Polipov vào rừng để lấy.
Việc điều tra vụ án những người tổ chức biểu tình và phá ngụ kéo dài hơn một năm. Những người bị bắt khi thi giam riêng mỗi người một nơi trong các xà lim khac nhau, khi thì nhốt chung một chỗ và gài chỉ điểm lẫn vào. Trong thời gian đó riêng Piot’r Polipov bị hành hạ nhiều hơn cả. Anh bị gọi lên hỏi cung luôn, thường bị đánh đập mặc dù đã có lệch cấm tra tấn tù binh chính trị. Có lẽ đối với bọn cai ngục, Piot’r là một trường hợp ngoại lệ; chúng hy vọng người con trai của một chủ hiệu giàu có quen sống sung sướng sẽ không chịu nổi. Nhưng anh đã chịu được. Không khai báo ai cả. Chính Subotin đã có lần nói về anh:
- Piot’r của chúng ta là một chàng trai chân chính. Chúng ta cần nhiều những chàng trai như thế.
Mặc dù tang chứng ít ỏi, ba người Anton, lida, Piot’r polipov, bị xử mỗi người hai năm tù. Mit’rophan Ivannovich hai năm rưỡi, còn Trurkin Subotin, tù chính trị vượt ngục, tám năm khổ sai. Nhưng trên đường tới chỗ đày, ông trốn thoát và trở về Novonnicolaevsk, bắt đầu xây dựng lại tổ chức Đảng của thành phố bị phá vỡ năm 1905.
Sau khi ra tù, Anton xin làm công nhân bốc vác ở một nhà máy gỗ, Lida vẫn như xưa, đối xử với Anton và Piot’r Polipov như nhau. Mẹ của Lida đã qua đời khi họ còn ở trong tù. Phải khó khăn lắm Lida mới xin được vào làm ở nhà máy xà phòng, chỗ của mẹ cô trước đây. Khi thì Anton, khi thì Piot’r đến đón Lida ở cổng nhà máy và đưa cô về nhà. Và một lần, để chấm dứt tình trạng mập mờ, không dứt khoat này, Anton quyết định nói thẳng. Khi gặp nhau anh cảm thấy rất khó nói, nhưng Lida cũng không để cho anh nói.
- Đừng anh! Không cần đâu anh ! - Cô kêu lên và lấy bang tay trái bịt miệng anh lại. Rồi cô vục mái đầu nóng hổi vào vai anh.
- Thế…thế còn Piot’r ? – Anh hỏi một câu ngớ ngẩn.
- Piot’r sao?! Có lẽ anh ấy cũng là người tốt. Nhưng…em không biết nữa. Em không yêu anh ấy, và trước đây cũng không bao giờ em thích. Anh ấy là người có học, còn em…Anh nói với anh ấy nhé. Để anh ấy đừng đưa đón em nữa…
Và Anton nói. Piot’r nghe, im lặng từ đầu tới cuối, khuôn mặt tròn trịa đỏ gay, rồi tái xanh, một cục u ở má phải nặng nề trôi lên, góc miệng bên đó méo mó co giật.
…Có thể nói, Anton và Lida có một đám cưới thực sự như của mọi người khác.
Một buổi chiều tháng năm ấm áp, anh dẫn Lida vào khu rừng ở ngoại ô thành phố.
Ở đó, họ dựng một ngôi lều nhỏ và sống với nhau đêm trăng mật đầu tiên. Anton say ngây ngất bởi hạnh phúc mới mẻ, bởi mùi hương dã, anh đang trong mùa hoa nở rộ.Mùi hương ấy anh đã cảm thấy ngay từ chiều, khi vừa ra khỏi thành phố. Những con chim én lặng lẽ bay lượn trên bầu trời xanh ấm dịu, khi lao vút lên cao, khi sà xuống tưởng như chạm ngay mặt đất. Và trong đầu anh, không hiểu từ đâu, bốn câu thơ kéo đến, ngân nga:
Hương dã anh từng đợt song thơm lừng.
Đã qua rồi mùa đông dài lạnh giá
Và chim én , đùa vẫy vùng đôi cánh,
Đang tưng bừng bay lượn giữa trời xanh…
Anton giật mình sợ hãi, Anh chưa bao giờ nghĩ mình có thể làm được thơ và biết rằng mình không có thứ tài năng đó.
Thế mà, bỗng nhiên lại có thể sáng tác được cả một đoạn! Mấy câu thơ suốt đêm cứ ngân lên trong đầu, và gần tới sáng bất ngờ lại hiện ra thêm khổ nữa.
Nếu tim em nặng chĩu nỗi u buồn,
Hãy ngẩng đầu cùng anh nhìn trời rộng
Em sẽ thấy ; kìa đàn chim phóng khoáng
Đang tưng bừng bay lượn giữa trời xanh…
Anton bàng hoàng cả người.
Khi những tia nắng mặt trời rọi qua các lỗ thủng chiếu vào trong lều, Lida nhận thấy sự khác thường của Anton.
Trong ánh mắt cô hiện lên sự lo lắng:
- Anh sao thế?
- Không sao, - Anton bối rối trả lời và đứng dậy đi ra ngoài trời.
Lida cũng bước ra khỏi lều. Khoảng rừng trống tràn trề ánh sáng mặt trời buổi sớm và tiếng chim ca đủ giọng. Lida tắm mình trong ánh nắng và tiếng chim, đi dọc theo bìa rừng tìm hái những bong cúc dại, mái tóc dài để xõa, người khoác một chiếc áo len trắng. Trông thấy Anton cô chạy tới nhảy tròn vòng quanh anh, miệng kêu không ngớt:
- Em là vợ của anh đây! Em là vợ của anh đây!
Họ ngả xuống đám cỏ mềm mại và say sưa hôn nhau, dường như cả đêm qua việc đó đối với họ còn chưa thỏa.
Rồi họ nhốm một đống lửa đun nước uống. Mắt nhìn vào ngọn lửa, Anton nói:
- Lida , em biết không, anh làm thơ cho em đấy.
- Sao cơ… - Cô không tin. – Anh làm như thế nào?
- Anh cũng chẳng biết nữa, anh đọc em nghe nhé.
Anh đọc tám dòng thư một cách hấp tấp, mặt đỏ gay.
Lida ngồi nghe, mắt mỗi lúc một mở to thêm:
- Anh…tự làm đấy à?
- Đúng thế.
- Cho em à?
- Ừ, cho em.
Lida im lặng, và hai người cảm thấy như ngượng nghịu. Bỗng nhiên, cô khe khẽ lẩm nhẩm, ghép những chữ những câu vừa nghê được theo một giai điệu đưon giản, cất tiếng hát, không bỏ sót một từ nào.
- Anton! Anh Anton! – Hát xong cô kêu to và nép sát vào người anh, òa lên khóc, sung sướng.
Lát sau, thím Uliana đến, mang theo một làn thức ăn và mấy chai rượu vang. Họ trải chăn lên cỏ, bày bữa tiệc giản dị ra. Khách từng người một, từng hai người một lần lượt tới đủ: Đầu tiên là Piot’r lầm lì ít nói, sau đến là mấy nhóm công nhân từ nhà máy cưa, nhà máy xà phòng và xưởng in . – Tất cả đều đảng viên đảng bộ bí mật thuộc Đảng công nhân Xã Hội Dân Chủ Nga của thành phố. Chú Mit’rophan và Subotin đến sau cùng. Như thường lệ ở các đám cưới, mọi người kêu “đáng lắm ” . Piot’r Polipov ngồi hơi tách ra một bên, hai tay bóp chặt chiếc tách thủy tinh nhiều cạnh. Anton và Lida ngượng nghịu hôn nhau. Tất cả mọi người đều đều cạn chén, chỉ có Piot’r Polipov không uống, vẫn ngồi im, tay bốp cạnh chiếc cốc. Bỗng nhiên, anh giật mạnh cánh tay, đổ hắt cốc rượu vào miệng. Nhưng mọi người không ai để ý đến cử chỉ đó của anh cả, vì Subotin đã ngồi ưỡn thẳng người lên và nói:
- Các đồng chí, chúng ta phải tranh thủ thời gian. Tôi công bố khai mạc cuộc họp của Đảng bộ bí mật Đảng Công Nhân Xã Hội Dân Chủ Nga thành phố. Ta chỉ bàn về một vấn đề: Tổ chức tờ báo công nhân bí mật…




Muốn là con chim chiếc lá
Con chim phải hót
Chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay lại không trả
Sống cho ai đâu chỉ sống cho riêng mình.

( LHM )
Đăng nhập để trả lời
0
- Thế nào, anh có định nói không đấy ? – Dự thẩm Lakhnovski nhắc lại câu hỏi.
Sau lưng Anton phía ngoài cánh cửa đóng chặt, tiếng bước chân đang xa dần. Hồi còn ở nhà tù Novonicolaevsk, Anton đã học được cách phân biệt được tiếng bước chân của Cosorotov với tiếng bước chân của những tên cai ngục khác. Mới ba chục tuổi mà hắn bước đi ì ạch, nặng nề như một ông già, bàn chân kéo lê trên mặt sàn.
- Đầu tiên ông cũng nên chào hỏi một câu chứ đã? – Anton nói.
- Các anh đến Tomsk có việc gì?
- Kiện à ? – Viên dự thẩm bước đến sát bên anh. Bỗng nhiên hắn ôm chặt lấy cổ Anton, giơ điếu thuốc đang cháy lên ngang mặt, định chọc vào mắt anh. - Đến Tomsk để làm gì? Đến Tomsk để làm gì?!
Anton nghiêng đầu tránh sang một bên, đồng thơì cố gắng giằng ra. Nhưng viên dự thẩm rất khỏe. Anton liền túm lấy cánh tay của Lakhnovski, vặn chéo ra sau. Viên dự thẩm buông cổ Anton ra kêu lên một tiếng vì đau, ngã ngồi xuống ghế. Tiếng kêu của hắn càng làm cho Anton thêm hăng máu, anh không còn nhớ mình đang ở đâu làm gì, vung tay lên một quả đấm thật mạnh vào cái cằm núng nính thịt. Lakhnovski bắn ra tới tận bàn, chiếc áo quân phục tuột ra khỏi vai, rơi xuống sàn nhà.
- Cosorotov! Lính đâu! Vứt thằng này vào xà lim cá nhân!
Bọn hiến binh lôi Anton đi. Cosorotov nhảy xum xoe quanh Lakhnovski.
- Thưa ngài. Làm sao bây giờ ạ? Ngài cần thuốc đắp không ạ? …Tôi cho lấy phèn chua ạ…
- Phèn, phèn cái gì, thằng ngu! Dẫn thằng kia đến đây, thằng Polipov ấy…
Khác với Anton Saveliev, Polipov có vẻ cau có, ủ rũ. Anh mệt mỏi đứng rựa vào tường, và nhìn trân trân lên cửa sổ chăng lưới thép. Đôi má đầy đặn của anh tọp xuống, nhão ra, mí mắt sưng mọng, rõ rang suốt đêm qua anh không ngủ được, mà cũng có thể anh đã mất ngủ rất nhiều đêm rồi.
- Nào, chào anh Lakhnovski cài chặt tất cả các cúc áo quân phục, ngồi xuống sau bàn – Thế nào anh có định chối nữa không? Mời anh ngồi. Anh đến Tomsk có mục đích gì?
- Tôi đã nói rồi…- Polipov ngồi xuống ghế uể oải trả lời. – Bạn tôi định sống tuần trăng mật ở Tomsk. Tôi đi cùng, giúp anh thuê nhà.
- Các anh có bịa thì cũng nên nghĩ ra một cái gì đó thông minh hơn đi chứ ! – Viên dự thẩm nhăn mặt nói. – Thử hỏi đã ai thấy ở đâu một công dân bình thường biết đến tuần trăng mật là gì chưa? Lại còn du lịch sau ngày cưới nữa chứ.
Quả thật họ nói dối không có căn cứ lắm. Sau khi Anton cưới vợ. Polipov hầu như không nói chuyện với anh. Trên đường đi tới Tomsk, họ cảm thấy như người này có lỗi gì đó với người kia và chưa bàn được với nhau xem sẽ xử sự ra sao nếu như không may bị bắt. Mãi tới phút cuối cùng, khi nghe thấy tiếng còi của Cosorotov, Polipov chỉ kịp dặn Anton về tuần trăng mật và việc tìm thuê nhà. – Đó là ý nghĩ đầu tiên nảy ra trong đầu anh. Và bây giờ anh và Anton buộc phải dùng lý do giải thích sự có mặt của mình ở Tomsk để khỏi gây rắc rối thêm.
Lakhnovski chăm chú nhìn người bị bắt một lúc, cười gằn thành tiếng:
- Này Polipov, anh nghe tôi. Chúng ta nói chuyện thẳng thắn với nhau nhé. Không hiểu thứ ma qủy nào lôi kéo anh, con trai của một người đáng kính trọng trong xã hội chúng ta, đến với bọ nổi loạn, bọn đảng viên đảng xã hội ? Bọn khố rách áo ôm đấy có gì quyến rũ anh đến thế?
Polipov vẫn ngồi cúi đầu im lặng Lakhnovski đứng dậy.
- Thôi được, tôi hiểu. Sự bồng bột của tuổi trẻ, cái lãng mạng của cuộc đấu tranh cho cái gì gọi là công lý. Chắc đã đọc ngồn hết Trernưecski, Gersen, Plekhanov… chứ gì? Nhưng bây giờ anh đã là người lớn rồi, anh có thể tự suy nghĩ lấy được. Anh cần cái công lý ấy để làm gì, nếu như người ta sẽ tước mất của cha anh, - và như vậy tất nhiên là của chính anh, - nhà cửa, hàng hóa, tiền bạc?
Hai bàn tay của Polipov đặt trên đầu gối, những ngón tay ngắn hơi run lên. Lakhnovski đã nhận thấy ngay điều đó.
-Anh cũng đã rơi vào tay chúng tôi một lần rồi, nhưng may mắn chỉ nếm mùi tí xíu thôi. Do ông cụ thân sinh ra anh…và cũng còn hy vọng rồi anh sẽ hiểu được, là người ta đối với anh, theo như tôi biết qua những hồ sơ và qua những lời của Cosorotov, người cai ngục cũ ở nhà tù Novonicolaevsk, không nghiêm khắc lắm. Bây giờ anh lại muốn vào tù để chịu nhục nhã, để bỏ lại trong xà lim những năm tháng đẹp nhấ của cuộc đời mình, mà cũng có thể, cả sức khoẻ, cả cuộc đời? Anh sẽ bị thối rữa, tàn tạ ở trong ngục, còn ngoài kia, ngoài bốn bức tường, là ánh sáng mặt trời, là rượu và đàn bà. Đúng cả đàn bà nữa, thật là tuyệt diệu! Còn cách mạng thì bị bóp nghẹn, bị đè bẹp từ lâu rồi. Bị đè bẹp vĩnh viễn – đã đến lúc anh phải hiểu được điều đó!
Lakhnovski dừng lại bên cạnh Polipov, châm lửa hút.
- Anh có vợ chưa?
- Chưa, - Polipov trả lời cụt ngủn.
- Thế có người yêu chưa?
- Chưa. Trước đây, theo tôi nghĩ, đã có, nhưng bây giờ thì không.
- Nó bỏ à?
- Nó đi lấy người khác rồi! Nếu như ông tò mò muốn biết!
- Lấy ai?
- Lấy quỷ! Lấy ma! – Polipov nổi cáu. – Việc gì đến ông?
Không thể không công nhận tài quan sát và khả năng đoán hiểu tâm trạng những người bị hỏi cung một cách chính xác của Lakhnovski .
- Hượm, hượm nào, - Lakhnovski nói, dáng suy nghĩ, - Có phải nó lấy cái ông bạn của anh.
Khóe miệng của Polipov giật liền mấy cái, y quay mặt đi.
- Thế - ế đấy !...Nghĩa là, người ta đã tước đi cả người đàn bà yêu quý của anh? Thế anh cũng để chúng cướp đi à? Để cho chúng cướp đi, mà như một tên hèn hạ, không dám chống lại? Thế anh không thử tìm cách để chiếm lại sao?
- Thôi đi! – Polipov thét lên.
Chẳng phải vii cớ mà Lakhnovski được cấp trên chú ý tới. Không để cho Polipov được trấn tĩnh, hắn ôm lấy ngang cổ y, như ôm Anton lúc nãy, và đưa điếu thuốc lên ngang miệng, chực đâm vào mắt, miệng gầm gừ:
- Thế anh không muốn thử tìm cách đoạt lại …người đàn bà anh yêu à? – Lakhnovski hỏi mắt chăn chú nhìn đốm lửa đầu điếu thuốc lá cầm trong tay. - Nếu như chúng tôi sẽ giúp anh? Hay là anh không yêu cô ta nữa?
Đứng cạnh tường, mà Polipov không thể làm thế nào nén được cơn run.
-Thế…tôi…cần phải…làm gì ? – giọng y đứt quãng.
-Anh hãy nói, các anh đến Tomsk để làm gì ?
Polipov rút tay ra khỏi túi quần, rút ra rồi lại đút vào.
-Các ông… các ông sẽ xử hắn…Saveliev…bao nhiêu…bao nhiêu năm?
Y nói thều thào, mặt ngoảnh đi nơi khác, Polipov cảm thấy xấu hổ cả khi nhìn thẳng vào viên dự thẩm.
- Còn tùy theo hắn đến Tomsk với mục đích gì. Nhưng ít ra, chúng tôi sẽ giấu hắn một cách chắn chắn chừng dăm bảy năm.
Bỗng nhiên, Polipov vội vã nhìn quanh, căn phòng hỏi cung trống rỗng, và rền rỉ kêu lên:
-Không! Không! Tôi nói dối đấy! Tôi bịa ra cả đấy!
Lakhnovski mỉm cười một cách rộng lượng, gần như là thân mật:
-Anh có thấy là cử chỉ của anh hơi buồn cười không đấy?
Polipov xẹp xuống, người co rúm lại.
-Thế chứ, - Lakhnovski nói. - tôi luôn luôn kính trọng kẻ nào biết bình tĩnh. Làm chủ được mình. Thế nào?
-Với một điều kiện. -tôi sẽ không bị nghi ngờ gì cả. – Polipov không nhìn viên dự thẩm. - Nếu không chẳng bõ công.
-Mà …, chúng tôi cũng có một điều kiện. Chúng tôi sẽ giữ anh ở trong tù một vài tháng. Để làm gì, chắc anh hiểu. Chúng tôi sẽ để anh ở nhà tù chính trị, anh phải thông báo thường xuyên cho chúng tôi về những câu chuyện, những kế hoạch và những mối liên lạc của chúng với bên ngoài. Ra khỏi tù anh sẽ tiếp tục hoạt động trong tổ chức Đảng của các anh, thông báo một cách đầy đủ về các hoạt động của tổ chức Đảng đócho cơ quan mật thám của địa phương…
- Thôi ! Đủ rồi!- Polipov kêu lên, người như bị ai đánh nhừ.
- Mời anh ngồi xuống đây. – Lakhnovski kéo ghế mời, rồi tự mình cũng ngồi xuống, đặt trước mặt một tờ giấy trắng. - Đầu tiên có mấy câu hỏi. Bọn cầm đầu Đảng Công Nhân Xã Hội Dân Chủ Nga của thành phố các anh là những ai? Tên? Biệt hiệu? Địa chỉ liên lạc? Ở Novonicolaevsk có một thằng tù khổ sai tên là Trurkin, chính tên thật là Subutin, đang lẩn trốn. Chỗ ở của hắn, ở đâu? và tất nhiên các anh tới Tomsk để làm gì?
- Chúng tôi đến để kiếm thiết bị cho xưởng in báo bí mật, - Polipov bắt đầu nói, giọng khản đặc. – Xưởng in đó đặt ở dưới hầm nhà số…
Khi polipov đã nói hết, dừng lại im lặng. Lakhnovski vẫn tiếp tục viết thêm một lúc. Viết xong, hắn ngẩng đầu lên nhìn Polipov đang ủ rũ ngồi trước mặt. Trong ánh mắt viên dự thẩm thoáng vụt một tia khinh bỉ, rồi tắt ngay.
-Này, anh biết tôi nghĩ gì không?- hắn hỏi.- Thôi, vứt mẹ cái cơ quan mật thám sang một bên. Nếu anh dây dưa với nó, sớm muộn gì cũng sẽ bị lộ. Chúng ta thống nhất như thế này, tôi sẽ đưa cho anh địa chỉ và mật mã. Theo địa chỉ này, anh sẽ gửi từ Novonicoleavsk về cho tôi những bản báo cáo của anh, ký bằng một tên giả. Như vậy, ngoài tôi ra không có một ma nào có thể biết được về hành động…ái quốc, vì lợi ích nước Nga của anh. Hãy gắng lên, Polipov, anh sẽ còn đi xa nữa…

*
* *


Vào tháng chạp năm 1912, dọc theo hành lang phía bắc, cái hành lang tối tăm nhất của nhà tù trung ương Alecsandrovsk, Cosorotov đi giữa hai tên gác ngục dưới quyền, chùm chìa khóa nặng chĩu treo trên chiếc thắt lưng rộng bản. úăn đi thông thả, mắt nhìn vào từng lỗ dòm ở cửa xà lim, kiểm tra lại từng khóa. Bỗng hắn nhận thấy chiếc áo sơ mi quân phục của một tên dưới quyền giắt không kỹ trong thắt lưng.
- Mày, đồ giẻ rách! - Cosorotov cau mặt. – Đồ trâu bò quê mùa! Gì mà phô ễnh bụng ra thế hả?
- Dạ thưa ngài, con có lỗi! - tên lính canh ngục, một thanh niên chừng hai mươi tuổi vội đứng thẳng người lên.
-Hừ, dù tao chưa lên đến chức ngài Cosorotov hơi dịu đi, - Nhưng trong phiên trực của tao tất cả phải nghiêm chỉnh, phải tròn trĩnh như quả dưa hấu! – Và hắn lại nổi cáu, hét vang cả hành lang. – Mày đang phục vụ ở đâu đấy hử? Mày đang phục vụ ở nhà tù trung ương Alecsandrovsk đấy! Mày đang canh giữ những tội phạm chính trị quan trọng nhất của nước Nga đấy! Bọn chúng đứa nào cũng có đến mấy lần vượt ngục, hiểu chưa?
- Nó mới được chuyển đến, thưa ngài, - tên cai ngục thứ hai có vẻ ngoài giống như một kẻ nhà quê, bộ ria đã bắt đầu bạc trắng, nói đỡ cho bạn. - Nó sẽ sửa dần.
- Người ta đưa tới đây đủ các loại người…Hắn lại dịu đi, lẩm bẩm . – Hết giờ, đến gặp tao ở phòng trực, tên gì?
Tên cai ngục trẻ chưa kịp nói tên, thì từ cuối hành lang vang lên tiếng cửa sắt mở loảng xoảng, tiếng xích khua leng keng và tiếng giày đinh nện xuống sàn lập cập.
- Trực nhật đâu! – Một giọng nói oang oang vang lên. - Ra mà nhận tù!
Cosorotov chạy vội về phía cuối hành lang.
Mấy phút sau, hắn quay trở lại, mừng rỡ nhảy lăng xăng quanh một người râu ria mọc rậm rạp, tay chân bị xiềng.
- Chào người anh em thân yêu của tôi! Ơn chúa lại cho chúng ta gặp nhau lần nữa!
- Xin chào, xin chào đồng hương, - người tù nói, miệng mỉm cười đáp lại. Anh thong thả, mệt mỏi đi dọc hành lang, kéo lê những mắt xiềng nặng trịch, khoan thái tận hưởng cái hơi ẩm ướt và ngột ngạt trong tù.
- Sẽ có ngay buồng cho anh! Càng chật, càng ngột càng tốt, - Cosorotov vẫn lăng xăng hớn hở. – Cuộc sống ra sao, anh bạn đồng hương vang ngọc của tôi?
- Cuộc sống ấy à? Thường thôi, không có gì phải phàn nàn cả. Người ta cho tôi đi đày ở Kirensk tôi đã vượt ngục. Lại cho đi Acatui, lại trốn. Mới đây làm quen với nhà tù ở Derentui. Cảm thấy không thích nên lại trốn một lần nữa.
- Chắc mệt lắm rồi phải không, anh bạn?
- Còn ông đạt được mơ ước rồi à?
- Cũng đã cố hết sức.
- Ông gặp nhiều may mắn lắm. Đấy, bây giờ lại làm quan trong một tòa lâu đài như thế này. Cái khu nhà giam đổ nát ở Novonicolaevsk chúng ta làm sao mà so sánh được với đây?!
Người tù chính là Anton Saveliev. Qua mấy năm, người anh cứng cáp lên, đôi vai nở rộng. Mái tóc cắt ngắn dường như trắng thêm ra và trên vầng trán rộng đã hằn hai vết nhăn chưa sâu lắm.
Cosorotov vấn đứng nhìn Anton, miệng mỉm cười mừng rỡ.
- Ấy chết, sao tôi vẫn đứng như thằng ngốc thế này nhỉ! Anh đi đường chắc phải mệt lắm. Lại đây, mời anh vào đây.- Cosorotov mở khóa cửa xà lim. – Đây , phòng này, phòng tối nhất, ẩm nhất đấy.
- Cảm ơn, cảm ơn lắm.
- Có gì đâu, đồng hương mà.
- Xin lỗi vì làm phiền ông nhé. Tôi ở cũng không lâu đâu.
- Bao nhiêu tùy thịnh tình của anh. Tôi không đuổi.
- Thế hai lần hay mấy lần nhỉ?
- Hình như bốn tháng rồi thì phải.
- Đấy, đấy, bốn tháng nữa, đến mùa xuân tôi lại đi. Còn bây giờ trời lạnh quá, phải nghỉ ngơi một ít đã.
- Anh vẫn là người vui vẻ như xưa, hà hà!- Cosorotov ngoác miệng ra cười. Nhưng rồi hắn trở nên cáu kỉnh, nào mau lên, mau lên!
Đẩy Anton vào xà lim, Cosorotov khóa trái cửa lại , giơ tay làm dấu thánh mấy lần liên tiếp, và trên khuôn mặt của hắn lại hiện ra một cái gì giống như cười.
- Lạy chúa, quả Người cũng không lấy bớt mất của bọn cai tù chúng con niềm vui…
Phía trong xà lim, Anton bỗng đấm ầm ầm vào cửa. Cosorotov vội mở cửa sổ nhìn vào.
- Gì thế, phòng không vừa ý à?
- Đâu dám! Phòng rất tuyệt là đằng khác. Tôi quên khuấy mất không báo cho ông một tin vui. Tôi mới sinh một thằng con trai. Con trai nhé!
Muốn là con chim chiếc lá
Con chim phải hót
Chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay lại không trả
Sống cho ai đâu chỉ sống cho riêng mình.

( LHM )
Đăng nhập để trả lời
0
Cuộc nổi loạn của bọn tù binh bạch vệ Tiệp Khắc ở Novonicoleavsk bắt đầu vào đêm 26 tháng 5 năm 1918.
Ngày hôm đó, ủy viên ban chấp hành Xô Viết đại biểu tỉnh Tomsk, Anton Saveliev đi dự đại hội các ủy viên lao động đáp tàu hỏa từ Maskva về nhà.
Anton được bầu vào ủy viên chấp hành Xô Viết tỉnh Tomsk mấy tháng trước đây. Tạm thời để Lida và con trai là Iuri ở lại Novonicoleavsk, anh đến Tomsk một mình. Trên đường đi tới Moskva họp, anh viết thư về cho Lida báo rằng cuối cùng anh cũng đã tìm được một căn nhà ở Tomsk, và khi về tiện đường sẽ ghé qua đón vợ và con trai theo. Họp xong rời Moskva anh lại đánh điện về bảo Lida phải sẵn sàng hành lý, chiều ngày 26 tháng 5 đợi anh ở nhà ga.
Nhận được điện, Lida,- Lúc đó đang làm văn thư ở ủy ban huyện, liền xin nghỉ việc và cuối ngày 26 tháng 5, từ sáng sớm, lo thu xếp đồ đạc.
Nhà ga Novonicoleavsk chật ních những đoàn tàu chở tù binh Tiệp Khắc. Họ được chính phủ Xô Viết cho phép trở về tổ quốc theo đường qua cảng Vladivostok. Thỉnh thoảng từ trong nhà ga lại có một vài sĩ quan chạy ra, cánh cửa đập sầm sầm. Trên nóc ga, lá cờ đỏ sũng nước, sau cơn mưa vừa qua chưa kịp khô, bay yếu ớt như cánh chim bị thương. Lúc trời vừa chậm chọang tối, một người đàn ông gầy gò khoác chiếc áo da, khuôn mặt cau có với chiếc mũi mỏng dính như mẩu phoi bào, xuất hiện trên quảng trường mờ mờ ánh điện cạnh sân ga cùng với chừng một tiểu đội chiến sĩ hồng quân có vũ trang.
Một toán tuần tra đi tới. Viên sĩ quan chỉ huy người Tiệp Khắc to béo chạy lại hét:
- Đi đâu? Không được! Quay lại!
- Có nhiệm vụ đặc biệt,- Người mặc áo da uể oải nói và chìa cho viên sĩ quan người Tiệp Khắc tờ giấy.
Viên sĩ quan soi đèn pin, đọc rất lâu, rồi kéo dài giọng thốt lên ngạc nhiên:
- Ô – ô! Chữ ký của ngài Grisin Anmadov! Nhưng vào nhà ga thì không được, ở đó đang họp. Mời ngài xơi thuốc, ngài Sviridov.
Sviridov từ chối không hút.
Ba phút sau, Polipov xuất hiện trên quảng trường, hắn cũng mặc áo da, cũng mệt mỏi và cau có.
- Thế nào?– Hắn bước tới bên Sviridov, hỏi.
- Mệnh lệch đã được truyền xuống cho toàn bộ quân đội Tiệp Khắc dọc theo khắp tuyến đường.- Sviridov nói giọng khan khan.– Nửa giờ nữa sẽ chiếm bưu điện thành phố, bến tàu, trụ sử Xô Viết, ủy ban đặc biệt, huyện ủy…Nhưng anh đến đây để làm gì, anh đi đi!
Polipov gặp Sviridov lần đầu tiên vào năm 1906 ở nhà tù Novonicoleavsk. Hồi đó Sviridov là ủy viên chấp hành đảng bộ Đảng Công Nhân Xã Hội Dân Chủ Nga thành phố Tomsk. Đảng bộ này gồm toàn những người Mensevich, và trong nhà tù, Sviridov thường tranh cãi kịch liệt với Subutin về những vấn đề chính trị. Nghe họ cãi nhau một lần Mit’rophan Ivannovich Saveliev nói: “Này, Sviridov, anh biết không, sau năm năm nữa, hoặc thậm chí có thể sớm hơn… Anh sẽ trở thành chỉ điểm viên ăn lương của mật thám Nga hoàng.
Từ đó Polipov không gặp lại Sviridov, nhưng biết rằng sau khi ra tù, Sviridov liền đoạn tuyệt với Mensevich và nhập vào phái Bolsevich trong Đảng Công Nhân Xã Hội Dân Chủ Nga. Sau cách mạng tháng mười hắn xuất hiện ở Novonicoleavsk với tư cách là chính trị viên một đơn vị nhỏ của Hồng quân.
- Này, Sviridov, sao anh lại tụt xuống thấp thế? hồi đó có lần Polipov đã hỏi đùa hắn.
- Còn anh, tôi thấy anh leo lên cao quá đấy.- Sviridov khó chịu trả lời, người hắn bốc lên mùi rượu votca nồng nặc.
Sau khi chính quyền Xô Viết được thành lập Ở Novonicoleavsk, Polipov trở thành ủy viên của tòa án quân sự cách mạng. Còn Lakhnovaki thì từ sau cách mạng tháng hai không thấy tin tức gì, và tất nhiên, Polipov cũng không đi tìm hắn. Đôi lúc Polipov nghĩ với một hy vọng thầm kín: biết đâu ông ta đã chết trong cái lò nghiền thịt này? Thế có khi lại hay…Nhưng vừa cách đây ít lâu, Sviridov tình cừ gặp y ngoài phố, bèn mời y tới nhà . Sau khi bảo vợ và đứa con gái chừng mười ba tuổi xuống bếp, Sviridov nói độp luôn, không mở đầu gì cả, mặt nhăn lại méo mó, một bàn tay xoa xoa trước bụng:
- Chính quyền Xô Viết chẳng còn tồn tại được bao lâu nữa đâu, lâu lắm là một tuần lễ nữa. Ở Novonicoleavsk từ lâu đã thành lập chính phủ lâm thời bí mật Sibiri, nó đang chuẩn bị lực lượng để đánh một đòn quyết định. Quân đội Tiệp Khắc sẽ giúp đỡ chúng ta. Tôi nói thẳng hết với anh như vậy, vì…Nói chung, tôi liên lạc với anh theo ủy nhiệm của Lakhnovski – là người rất quen biết…đáng tiếc.
Nhưng anh là ai? Polipov sửng sốt.
- Chúng tôi, tất nhiên sẽ cố gắng tóm cổ bọn chúng một cách bất ngờ, - không trả lời vào câu hỏi, Svỉidov nói tiếp.– Nhưng khó mà tóm hết được ngay một lần. Vì vậy… Nói chung, anh nên trốn đi, và đặc biệt chú ý theo dõi những đứa khác trốn ở đâu. Những tin tức này, dù chỉ là phỏng đoán đi chăng nữa, như anh hiểu đấy, đối với chúng tôi rất quan trọng. Anh chỉ được liên lạc với tôi, như trước đây đã liên lạc với Lakhnovski.
- Thế nhưng …Lakhnovski hiện ở đâu?
- Đang ngồi ở nhà tù Tomsk.
Và như thế là người ta chưa quên y, người ta lại giao y vai trò cũ của mình…
… Những toán lính Tiệp Khắc cuối cùng đã rời khỏi quảng trường cạnh nhà ga. Những chiếc cửa sổ của các tòa nhà tỏa sáng một cách bình yên, ấm cúng. Không có dấu hiệu gì báo trước rằng chỉ còn mấy phút nữa, trong thành phố sẽ diễn ra một cuộc tàn sát đẫm máu.
- Tôi hỏi anh, anh lang thang ở đây để làm gì?– Sviridov giận dữ hỏi Polipov.
- Lida…Cái gì sẽ xảy ra với Lida?...Tôi biết anh đang đợi chuyến tàu từ Moskva tới, anh sẽ bắt Anton, người mà tôi đã báo cho các anh…Nhưng còn Lida… tôi xin các anh đừng động tới Lida…
- Thần kinh, đồng chí Polipov ạ,- Sviridov cười gằn,- Anh vẫn chưa từ bỏ được hy vọng kia à? Đã đến lúc nào rồi đấy.
Ừ, quả là đã đến lúc rồi. Mười năm trôi qua từ ngày Lida đi lấy chồng, con trai cô đã lớn. Từ ngày cưới tới nay, tổng cộng cô chỉ được sống bên chồng chừng một năm, năm rưỡi.Thời gian còn lại anh ngồi tù, vượt ngục, rồi lại ngồi tù. Cách mạng tháng hai giải phóng anh khỏi nhà tù khổ sai ở mỏ sắt thuộc vùng phía tây hồ Baical: Sau cách mạng tháng mười anh về Tomsk. Và đôi lúc Polipov cảm thấy buồn cười, vừa cay đắng : Mười năm trứơc đây không hiểu anh hy vọng cái gì khi quyết định trở thành tên phản bội? Và cho tới tận bây giờ y vẫn chưa từ bỏ được hy vọng của mình. Y hiểu đã từ lâu rằng điều y mong đợi không bao giờ xảy ra, nhưng y vẫn không thể nào từ bỏ được. Cho đến bây giờ y vẫn sống độc thân, một cuộc sống không ổn định, bừa bộn và cô đơn trong ngôi nhà trống trải và rộng thênh thang của bố y để lại. Bố mẹ y giờ ở đâu, còn sống hay đã chết.– Polipov không biết. Sau khi chính quyền mới quốc hữu hóa ngân hàng thành phố, nơi bố y có một tài khoản khá lớn, ông ta trở lên buồn phiền, người hốc hác, lưng còng xuống. Và tháng riêng năm 1918, bỏ lại nhà cửa và những cửa hiệu trống rỗng, ông ta biến mất khỏi thành phố cùng với bà mẹ, sau khi gửi qua bưu điện cho con trai một mẩu thư ngắn ngủi: “ tất cả lũ các người đều đáng nguyền rủa…Mà mày, đứa con của hiếu nghĩa ạ, mày là kẻ đầu tiên…”
Polipov thậm chí còn lấy làm mừng về việc bố y đã xử sự như vậy, y thở dài khoan khoái. Sớm hay muộn thì y cũng buộc phải có cách xử sự nào đó đối với bố mẹ y. Còn giờ đây, nếu cuộc đảo chính thành công, bố mẹ y quay trở về, biết rõ toàn bộ sự thật về y, ông bố sẽ xóa bỏ lời nguyền rủa của mình trước đó.
Sviridov sốt ruột nhìn đồng hồ. Còi tàu đã rúc lên rất gần, tiếng bánh sắt của đầu tầu đang vào ga đã sình sịch ngay chỗ bẻ.
Từ một ngõ hẻm gần đó, trong màn tối, chợt vang lên giọng hát trẻ con.
Chúng ta giành lấy tự do
Không phải bằng cầu xin mà bằng lưỡi lê….
Polipov nhận ngay ra đó là tiếng hát của Iuri. Con trai của Lida. Và chỉ một lát sau đã thấy Iuri tới.– Áo sơ mi sạch bong, là cẩn thận, mái tóc bờm xờm cũng được chải gọn gàng đi sau bé là Lida và thím Uliana Phedorovna tay sách lỉnh kỉnh những vali và túi đầy.
Piot’r! Lida gọi to. Đôi mắt cô ánh lên lo lắng.- Cảm ơn anh đẵ ra đón Anton.
- Tôi đến tiễn Lida…
- Trong thành phố có chuyện gì vậy? Khắp đường phố chỗ nào cũng thấy quân Tiệp đi lại.
- Chẳng có gì đặc biệt đâu, - Sviridov lên tiếng,- Họ đi tắm ở nhà tắm công cộng đấy.
Thím Uliana Phodorovna đặt chiếc túi nặng xuống đất.
- Lạy chúa, sao mãi vẫn chưa thấy ông Mit’rophan Ivannicovich nhỉ ?...Đã hứa tới rồi cơ mà. Suốt ngày cứ mất tăm mất dạng với cái ủy ban đặc biệt này, quỷ tha ma bắt nó đi!
Mit’rophan Ivannicovich Saveliev. Người thợ mộc trước đây, từ sau cách mạng tháng mười làm việc ở ủy ban đặc biệt và hầu như chẳng đêm nào ngủ ở nhà. Mấy ngày gần đây ông không về nhà. Và hôm nay sau bữa ăn trưa cho người về báo rằng sẽ ra ga để đón cháu.
- Lida, ta ra đứng ở đây làm gì nhỉ?– Thím Uliana Phodorovna lại túm lấy túi, - hình như tàu đến kia rồi.
- Không được vào nhà ga đâu,- Sviridov nói, Anton sẽ tự tới đây.
- Tại sao lại không được?– Thím Uliana Phodorovna quay lại nhìn Sviridov.– Anh là ai ?
Sviridov ngoảnh mặt lại, Polipov hấp tấp cầm lấy tay Lida.
- Thôi…Tạm biệt! Chúc em hạnh phúc.
Hai bàn tay của Polipov nóng hổi, đẫm mồ hôi, tay run lên. Y giật giật một bên khóe miệng, rồi vội vã đi thẳng không ngoảnh lại, mất hút trong bóng tối.
Sự việc tiếp theo chỉ diễn ra trong vòng mấy phút. Đầu tiên trên sân ga có tiếng huyên náo, tiếng người kêu thét, tiếng hô khẩu lệch bằng tiếng nước ngoài, rồi một đám đông hành khách ùa ra cửa ga.
Và bỗng nhiên ở một nơi nào đó trong thành phố, ngay sát nhà ga, rộ lên một loạt sung, rồi im ngay.
- Cái gì thế? Cái gì thế? Lida kêu lên, mặt tái mét.
Chẳng có gì đặc biệt đâu, - Sviridov cười nhạt. – Người của chúng tôi bắn kẻ thù đấy.
- Kẻ thù nào? Người nào của các ông? Và ông ta là ai? Hình như tôi đã gặp ông ở đâu rồi…
Sviridov không trả lời.
Anton tách ra khỏi đám đông, xuất hiện một cách bất ngờ.
- Lida! Con!– Anh túm lấy Iuri, nhấc bổng lên, ghí sát vào người. Rồi anh ôm vợ: Lida! Lida! Có chuyện gì xảy ra thế?
- Chẳng có việc gì đặc biệt cả.– Sviridov trả lời, đi đến bên cạnh Anton.- Họ tiêu diệt chính quyền Xô Viết.
- Sviridov đấy à?!– Anton lùi lại một bước.– Anh nói sao ?
Sviridov ngập ngừng mấy giây, rồi nói uể oải dường như miễm cưỡng.
- Bắt lấy nó. Cả con mụ này nữa. Và cả thằng chó con này, biết đâu có lúc cần đến.

*
* *


Bọn hiến binh Tiệp Khắc thả sức hoành hành trong thành phố. Ngày đêm chúng đưa người ra xử bắn ở khu rừng cạnh bờ con song nhỏ Camenca.
Đã qua ba tuần kể từ sau cuộc nổi loạn, Polipov sống trong tầng hầm một ngôi nhà ở ngoại ô thành phố của người làm nghề đánh xe ngựa, một đảng viên già Đảng Công Nhân Dân Chủ Nga tên là Vasili Stepanovich Dasukhin, Polipov hầu như không ló mặt vào thành phố.
- Hỏng hết rồi! Hỏng hết cả chính quyền Xô Viết rồi,- Mỗi buổi chiều khi mang thức ăn cho Polippov, Dasukhin lại nói.– Coi như toàn bộ tổ chức đảng của thành phố đã bị triệt hết.
- Chưa hết đâu. Tôi cùng với đồng chí còn sống đấy kia mà, Subutin, như đồng chí nói, cũng còn chưa bị bắt,- Polipov nói.– Đồng chí cho tôi liên lạc với Subutin đi. Cần phải làm một cái gì chứ?
Dasukhin ngồi trên ghế đẩu, đầu gục xuống và im lặng rít thuốc. Căn hầm đã ngột ngạt lại càng thêm khó thở.
Một lần, Subutin râu ria sau ba tuần không cạo mọc xồm xoàm, chân đi đôi bốt lấm lê bụi đất, đầu đội chiếc mũ của những người đánh xe ngựa trong thành phố, tự tìm đến căn hầm.
- Còn sống à?– Ông bắt tay chào hỏi.– Tốt lắm. Người của ta còn quá ít. Chúng ta đã quyết định đua anh vào thành ủy bí mật.
- Có thế chứ!– Polipov thở phào,- Thế mà tôi nghĩ mình tới mốc meo lên ở đây chứ.
- Bây giờ thì chẳng còn thời giờ đâu mà mốc nữa. Cần phải tập hợp lực lượng còn lại, thực tế là phải xây dựng tất cả lại từ đầu. Và chúng ta sẽ bắt đầu. Chúng ta sẽ bắt đầu mọi chuyện gấp nghìn lần!...Còn thằng Sviridov…Tôi chưa bao giờ tin là hắn đã đoạn tuyệt thật sự với bọn Mensevich. Hồi hắn ở Tomsk bao nhiêu tổ chức ở đó lần lượt bị phá vỡ, bao nhiêu đồng chí ưu tú đã hy sinh! Bây giờ thì đã rõ do bàn tay ai. Và đấy, một kết cục rất lôgích : Hắn trở thành dự thẩm viên của hiến binh bạch vệ Tiệp Khắc. Đang ra sức cúc cung tận tụy. Có tin hắn đặc biệt hành hạ Anton Saveliev. Cả vợ của anh ấy nữa.
- Lida ấy à? Họ còn sống không?– Polipov tái mặt, cổ họng se lại.
- Hiện nay hình như còn sống. Còn Mit’rophan Ivannovich đã hy sinh,-Sobotin đứng dậy,- Mấy ngày nữa ta phải họp nhau để bàn một số việc.
- Bao giờ và ở đâu?
- Gì mà anh nôn nóng thế?
- Ngồi mãi trong hố này đã chán ngấy lên rồi.
- Vasili Stepanovich sẽ nói cho anh biết bao giờ và ở đâu. Thôi nhé. Tôi rất mừng lại gặp được anh Piot’r ạ.
Mấy ngày sau, giữa đêm khuya, Polipov lần mò theo những đường phố vắng vẻ nhất, đi vội về phía nhà ga, nơi Sviridov sống trong ngôi biệt thự được xây dựng rất chắc chắn, sau những cánh cửa bằng gỗ sồi dầy.
Vợ của Sviridov. một người đàn bà rất to béo, mắt như vừa mới khóc xong, ra mở cửa. Khi đi đến đây Polipov nghĩ rằng sẽ gặp bọn lính canh quanh nhà, nhưng lính canh không có, và khi vừa mở miệng nói là cần gặp ai thì cửa mở ngay, dường như không có sự đề phòng gì cả. Polipov rất lấy làm lạ.
Sviridov, mặc quần dài và chiếc áo sơ mi lót trong đang say rượu nằm trên giường, hai cái chai và một cai bát để trên bàn.
- A, ngài chỉ điểm!– Sviridov chào y.- Tôi đợi ngài đã lâu. Có tin gì mới?
Cả giọng lẫn lời nói của Sviridov đều làm cho Polipov khó hiểu, lo lắng.
- Thành ủy bí mật sẽ họp vào ngày mai…Tại nhà của Cornei Baulin, thợ sắp chữ ở xưởng in thành phố. Địa chỉ…
- Được rồi, được rồi. Tôi biết nhà của thằng này. Anh muốn uống rượu không?
- Này, anh Sviridov …Thế này nghĩa là thế nào?
- Mà sao?– Sviridov bỏ chân xuống giường nhưng vẫn không ngủ dậy.
- Anh uống như…một thằng nghiện ngập đốn mạt nhất! Chỗ ở không có bỏa vệ canh gác gì cả, cử chỉ như là thời bình không bằng. Và nói chung…
- Nói chung là không nên uống. Tôi bị viêm dạ dày. Ruột cứ như bị dao cứa…- Hắn lấy tay xoa bụng.- Còn bảo vệ thì có đấy…
- Này, Polipov nói tiếp. Tôi đến để bàn việc với anh, còn anh lại say rượu, mất hết tỉnh táo. Xin lỗi trong trường hợp như vậy, tôi đi…Tôi chẳng còn hiểu ra sao nữa.
- Culepanov!
Cánh cửa dẫn sang phòng bên cạnh bật mở, một tên bạch vệ hiện ra trên bục cửa, sau hắn còn một tên nữa.
- Bắt…bắt lấy hắn! Đưa về sở! Cho nó biết tay và tống vào xà lim cá nhân.- Sviridov nói, mắt không nhìn Polipov. Rồi hắn bước đến bên cạnh bàn, dốc rượu từ chai vào cốc.
Muốn là con chim chiếc lá
Con chim phải hót
Chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay lại không trả
Sống cho ai đâu chỉ sống cho riêng mình.

( LHM )
Đăng nhập để trả lời
0
Quả là Polipov không hiểu ra sao cả. Y bị dẫn về sở mật thám, bị một trận đòn nhừ tử, rồi bị vứt vào một xà lim chật chội.
Còn sau đó thì hình như người ta quên y đi. Mỗi ngày một lần, Cosorotov, người quen cũ, giờ làm ở đây, mang đến cho y thứ súp khoai loãng thum thủm và mang bô vệ sinh đi đổ. Y câm lặng như đá, suốt thời gian đó không nói tới nửa lời.
Một lần, Cosorotov dẫn y đi dọc theo hành lang dài và đẩy vào phòng làm việc của Sviridov.
Những vết tím bầm trên mặt Polipov còn chưa tan máu, mí trên mắt phải rách nát, sưng phồng che cả mắt. Đứng ở bậc cửa, Polipov đưa mắt trái nhìn khắp gian phòng khá rộng rãi. Một chiếc bàn, bên tường kê một chiếc tủ. Cạnh tủ lại còn một cánh cửa nữa, được phủ bằng lớp nhớt dày màu xám.
Sviridov mặc bộ áo sĩ quan cổ đứng nhưng không có quân hàm, đứng cạnh cửa sổ chán chường nhìn ra sân qua hàng song sắt dày. Khuôn mặt hốc hác của hắn có màu đất xám xịt, má tóp lại, đôi môi mỏng rộp run run.
- Có thể, anh hãy giải thích cho tôi nghe, tất cả những chuyện này có nghĩa gì?– Polipov nặng nhọc hỏi.
Dẫn anh Anton Saveliev vào đây!– không trả lời, Sviridov nói.– Chuẩn bị cả vợ hắn nữa. Sau đến cả con hắn.
Tuân lệnh!– Cosorotov bước ra, nhưng đến cửa hắn dừng lại.- Có điều tôi muốn báo cho ngài biết trước, con mẹ ấy, Lida Saveliev, đã ba ngày nay không ăn uống gì cả. Và hình như đã bắt đầu nói lảm nhảm.
- Dẫn chúng đến đây, đồ quỷ!.- Sviridov gào lên.
Khi Cosorotov ra khỏi, Polipov cũng bước đến bên cửa.
- Không, hãy để cho tôi ra…Tôi xin anh.
- Ngồi xuống!- Sviridov chỉ chiếc ghế ở góc phòng quát lớn. Rồi hắn đến bên tủ, lấy ra một chiếc chai rượu và một chiếc cốc. Khi rót rượu, tay hắn run lẩy bẩy. Tiếng thủy tinh chạm vào nhau kêu lách cách. Uống xong hắn thở hổn hển.
- Polipov, theo anh, con người sống để làm gì? Sviridov bất ngờ hỏi.- Ý nghĩa của cuộc sống và cái chết cảu con người ở đâu? Hả? Và nói chung là ở đâu là chân lý, sự thật. Ở đâu là là dối trá, lừa đảo?
- Khen anh khéo chọn nơi chọn lúc để bàn luận những chuyện đó!
- Tại sao? Nếu như có nhu cầu thì ở đâu và lúc nào cũng được.
- Tôi không ngờ anh là một nhà triết lý như vậy. Còn tôi, tôi không có những đức tính ấy.
- Đúng, đúng thế…Anh chỉ là một thằng chỉ điểm!
- Tôi đang ở đâu thế này?!- Polipov đứng bật dậy.- Tốt hơn hết là anh hãy nói: Các anh đã làm gì thành ủy thành ủy bí mật của đảng chưa?
- Để làm gì?– Sviridov nhún vai.- Bắt một thằng này lại xuất hiện thằng khác. Việc làm vô ích và…vô tận…
- Tôi không hiểu nổi.- Polipov lại ngồi xuống người run bắn.- Hoặc là tôi hóa điên, hoặc là …
Hằn ngừng lại, vì Cosorotov đã dẫn Anton vào.
Saveliev gầy tọp đi, đôi mắt trũng sâu, da ở gò má, thái dương và trên trán vàng sạm lại. Nhưng trên người anh không thấy dấu vết của sự tra tấn, chỉ có cảm tưởng rằng anh đã quá sức mệt mỏi.
Bước qua ngưỡng cửa, Anton lo lắng đưa mắt nhìn quanh phòng.
- Chào cậu, Piot’r - Ạnh nói khẽ,- Cả cậu cũng bị lũ chó này đánh hơi được à?
Polipov nghe lồng ngực lạnh toát. Nếu như Sviridov nói rằng y bị “ đánh hơi “ bằng cách nào thì sao? Nhưng Sviridov chỉ nhếch mép cười khẩy.
Anton nặng nề, như ông già, bước đến bên bàn và ngồi xuống ghế, căng ngực lên hít không khí.
Cậu lại uống đấy à, Sviridov?
Trong mắt của Sviridov, một chấm lửa như người đang cơn sốt bừng lên, cháy loang ra.
- Tớ không hiểu được cậu đấy,- Anton tiếp tục nói.- Hay đúng hơn, đôi lúc tớ cảm thấy có ngọn lửa nào đó đang nung đốt cậu từ bên trong. Phải chăng những mẫu lương tri con người còn sót trong người cậu lại trỗi dậy, và cậu toàn dùng rượu vốtca để dập tắt chúng đi?
- Đúng rồi, cậu đoán đúng lắm, hê hê…- Tiếng cười của Sviridov khô khốc, cụt lủn.
- Nhưng rồi sau đó tớ lại nghĩ : Làm gì còn có tí lương tri nào của tên đao phủ đã hóa dại, đã trở thành thú vật này!
- Và ở đây cậu cũng đúng, hê hê…- Bỗng nhiên người hắn tái nhợt ra, miệng gào lên.- Mày đoán đúng! Đúng, mày đoán đúng! – Hai tay hắn ôm lấy đầu, ngón tay luồn xoáy vào tóc như muốn bứt hết chúng ra.- Chỉ có điều vì thế mà mày đỡ hơn đâu! Không đỡ hơn đâu!.
- Tớ biết, cậu sẽ bắn hết tất cả bọn tớ,- tớ, Lida, tất cả gia đình tớ,- Anton lại nói tiếp.- Cả Iuri nữa. Trẻ con cậu cũng không thương đâu. Nhưng còn nhân dân, làm sao cậu có thể treo cổ, có thể bắn chết hết được?
- Thế sao?– Sviridov cười gằn.- Mày không điếc, không mù đấy chứ? Mày không biết, không hiểu cái gì đang diễn ra ở nước Nga này à? Chúng mày đã mất Novonicoleavsk, mất Treliabinsk, Ecaterinburg, Barnaun, Omsk, Tomsk, Crasnoiarsk. Quân Nhật đã chiếm Viễn Đông, Ataman Semenov đang kiểm soát vùng phía Tây hồ Baical, Ataman Dutov ở miền Nam Ural. Ở Povoljie, người ta đang diệt nốt những tàn quân cuối cùng của bọn đỏ. Thế đấy, chính quyền Xô Viết chỉ được nửa năm. Hết thời rồi. Và sẽ không bao giờ trở lại nữa.
- Ê, không đâu, người anh em! Chính quyền Xô Viết đã có và sẽ còn vĩnh viễn. Ngay trong những thành phố mà cậu vừa kể ra đấy, những tổ chức bí mật của đảng đã được thành lập và đang hoạt động. Họ sẽ phát động nhân dân đứng lên, và chẳng còn bao lâu nữa, nhân dân sẽ đè bẹp chúng mày xuống dưới móng tay như lũ rệp.
- Nhưng hiện nay chúng tao đang đè!
- Chẳng còn lâu nữa đâu. Chúng mày sẽ điên cuồng vì chúng mày bất lực. Một ngày gần đây, rất gần nhân dân sẽ hỏi tội chúng mày về hàng nghìn con người đã bị giết, tra khảo! chúng mày sẽ phải đền tội.
- Nói thế đủ rồi,- Sviridov ngắt lời anh.- Vẫn một câu hỏi cũ: Ai có thể vào thành ủy bí mật Tomsk?
- Tớ không biết, Sviridov ạ. Tớ bị cậu bắt từ mấy ngày trước khi quân bạch vệ Tiệp Khắc chiếm Tomsk cơ mà. Hơn nữa, tớ đang trên đường từ Moskva trở về.
- Tao biết rằng mày không biết chính xác, nhưng đoán chừng những ai?
Polipov ngồi ở góc tường như một kẻ thừa, bị lãng quên, ngơ ngác theo dõi cuộc hỏi cung. Sviridov cần biết tên họ những người hoạt động bí mật ở Tomsk này để làm gì, trong lúc ở đây, ở thành phố Noconicolaevsk này, hắn lại không đả động đến? Hay là Sviridov lừa y, Subutin và những người khác đều bị bắt từ lâu? Và bây giờ, sau Anton, Sviridov sẽ lần lượt bị gọi tên từng người một để đối chứng với y, với Polipov này? Thôi, có lẽ là đúng thế rồi! Hóa ra y bị bắt đưa tới đây, đến sở mật thám này là vì vậy! Chỉ có một điều khó hiểu là tại sao lại phải bắt y như vậy và lại đánh đập y?
Trong một thoáng, Polipov tưởng tượng ra cảnh vài phút nữa sẽ phải nhìn vào mắt Subutin, y toát mồ hôi hột.
Nhưng sự việc lại xảy ra hoàn toàn theo một hướng khác.
- Nghĩa là mày không chịu nói gì chứ?- Sviridov lại hỏi Anton.
- Tao đâu phải là thằng phản bội!
- Mày thì trước sau gì chúng tao cũng bắn. Ít ra mày cũng nên thương lấy vợ. Nó sắp hóa điên rồi đấy. Mày cũng nên thương lấy con. Cả thím của mày nữa…Bà ta bị những cơn đau tim hành hạ. Thực tế là mày đã giết chết bà ta rồi đấy. Nhưng vợ và con thì có thể cứu được. Thế nào? Chỉ cần đoán chừng thôi. Những ai?
Polipov thấy những giọt mồ hôi lớn chảy ra trên trán, trên má Anton.
- Dù đoán chừng, tao cũng không nói gì cho chúng mày nghe cả.- Giọng của Anton khản đặc, anh nuốt nước miếng đánh ực.- Đã đến lúc mày phải hiểu được điều đó chứ!
- Nói láo mày sẽ phải khai…Cosorotov!
Cosorotov liền đẩy Lida vào trong phòng. Anton và Polipov cùng đứng dậy. Một lát sau. Polipov, ngồi xuống và Anton vẫn tiếp tục đứng, hai tay bám chặt mép bàn.
Trông Lida thật đáng sợ. Đầu tóc tả tơi, áo quần rách nát, chị đưa đôi mắt đã hóa dại nhìn quanh phòng.
- Con trai…Con trai của tôi đâu? Các ông làm gì con tôi rồi!- Lida kêu khóc, ngã khuỵu xuống đất, bò đến bên bàn.
- Lida! Lida!- Anton chạy đến bên vợ, đỡ chị dậy, nhưng Sviridov vội vã rời khỏi bàn, đẩy chị ra xa Anton.
- Hiện giờ thì Iuri còn sống và khỏe mạnh.-Rồi hắn quay sang Anton:- mày có nói không?
Anton lấy ống tay áo lau mồ hôi trên trán.
- Tao chẳng có gì để nói cả…Chẳng có gì hết!
- Mày sẽ no-ói!- Và Sviridov giật cánh cửa bọc phớt, hét vào trong đó.- Bắt đầu đi!
Sự việc tiếp theo Polipov dường như thấy qua một màn sương xám, sóng sánh, lúc dày lúc mỏng. Từ trong că phòng có cánh cửa bọc phớt hai bóng đen chạy vụt ra, chúng túm lấy Lida lôi đi. Anton nhảy chồm theo, nhưng rồi anh lùi lại, suýt nữa giẫm phải Polipov, và đứng dựa lưng vào tường. Và anh cứ đứng như thế, đôi măt nhắm nghiền, những ngón tay co quắt cấu chặt vào tường đến bật cả móng, nghe những tiếng kêu của vợ từ phòng bên bật sang…Polipov nhìn lên những bức tường nơi những ngón tay của Anton bám chặt :Y thấy một mảng vữa bị bong ra để lộ lớp đá gồ ghề xấu xí. Và Polipov hiểu rằng Anton đã đứng và cào cấu bức tường như thế nào không phải chỉ mới một lần. Đầu óc y trở nên choáng váng, người như trôi bập bềnh trong sương đục.
Polipov không còn nhớ bao nhiêu thời gian đã trôi qua. Tiếng kêu như xé ruột của Lida làm hắn tỉnh lại.
- Con trai tao đâu? Chúng mày làm gì với con tao rồi? Chúng mày giết chết con tao rồi ư?!
Lida, chắc vừa mới bị vứt từ căm phòng từ căn phòng có cánh cửa bọc phớt ra, đang bò trên sàn, cố hết sức đứng dậy. Hai đôi bàn tay và đôi vai trần đẫm máu.
- Bây giờ thì chưa. Nhưng nó sẽ bị hnàh hạ đau đớn, nếu như mày vẫn im lặng!
Đó là lời của Sviridov nói với Anton. Anh vẫn đứng bên tường, mắt nhắm chặt.
- Trả con trai tao đây! Chúng mày giết nó rồi…Trả con trai cho tao đây!- Lida vẫn không ngừng la hét. Cuối cùng chị cũng đã đứng lên được, nhưng không còn nhận ra ai, cứ quay tròn một chỗ.
- Được rồi. Tao sẽ cho mày thấy con. Cosorotov!
Cosorotov vẫn im lặng đẩy Iuri từ hành lang vào phòng.
- Mẹ ơi! Mẹ!
Lida nhận ra con ngay lập tức, chị giơ hai tay run lẩy bẩy ôm choàng lấy đứa trẻ, làm vấy cả máu mình sang chiếc áo sơ mi cáu bẩn của Iuri. Đôi chân Lida khuỵu xuống và cả hai mẹ con ngồi bệt xuống sàn nhà.
- Con ơi! Con trai nhỏ bé của mẹ ơi1 Con còn sống ư? Con còn sống! -Con còn sống, mẹ ạ…-Iuri giơ hai tay nâng lấy mặt mẹ.- Sao mẹ lại thế này, mẹ?
- Người ta có đánh con không? Con có bị đánh không con?
- Không người ta không đánh con, con chỉ đói thôi. Ở đây người ta cho ăn ít quá…-Iuri chợt trông thấy bố và chú Polipov.- Bố! Chú Piot’r!
Cậu muốn chạy lại với bố, nhưng bị hai cánh tay của mẹ giữ chặt không giằng ra được.
-Bố nào? Bố con ở Tomsk chưa về, bố con không có ở đây đâu,- Lida vội vã nói.- Mẹ vừa nhận được điện của bố mà. Bây giờ mẹ con ta sẽ đến với bố ở Moskva. Nào, con của mẹ ngủ đi, ngủ một tí trước khi lên tàu. Con ngủ đi và con sẽ không thấy đói nữa. Mẹ sẽ hát ru con, bài hát của bố con…
Và Lida ôm con ghì vào lòng mình, cất tiếng hát rầu rĩ, não ruột, vất vả lắm mới nhớ được lời :
Hương dã anh từng đợt sóng…thơm lừng.
Đã qua rồi….mùa đông dài, giá lạnh.
- Thế nào, có nói không? – Sviridov đến gần Anton xẵng giọng hỏi.- Hoặc là…từ biệt con trai đi.
Hắn đứng đợi một lúc. Nhưng thấy Anton vẫn im lặng, hắn méo xệch đôi môi trắng nhợt khô héo, lập lại lần thứ ba:
- Nói láo! Mày sẽ phải khai! Hắn giật đứa bé ra khỏi tay mẹ, đẩy qua căn phòng có cánh cửa bọc phớt.- Chần cả thằng chó con này nữa!
- Mẹ ơi! Mẹ-e-e!- Tiếng Iuri kêu thất thanh sau cánh cửa vọng ra.
Tiếng kêu của đứa trẻ như xoáy vào đầu Polipov, làm y choáng váng. Cảm thấy từng dòng mồ hôi lạnh chảy trên ngực, dọc theo sống lưng giữa hai sương bả vai, y đứng dậy, định đi ra một nơi nào đó.
- Ngồi yên!- Sviridov sủa lên.
Polipov ngồi xuống, và không còn cảm thấy, nghe thấy gì nữa, y nhìn trân trân vào Lida. Còn chị trông như một con chim xù long lên, dữ tợn, bò bốn tay chân một cách kỳ cục, lấy tay sờ từng thanh gỗ lát sàn. Rồi chị ngồi im lặng mấy giây như nghĩngợi điều gì. Và bắt đầu giơ hai bàn tay ra bắt không khí, đôi môi rách toác mấp máy. Polipov nghe như từ xa vẳng lại :
Iuri…con tôi…Chúng mày đưa con tao đi đâu rồi?
Chị lảo đảo đứng dậy, va người vào bàn, vào tường . Rồi nghe ngóng một điều gì đó, chị mỉm cười. Một ánh lửa yếu ớt, ốm yếu, nhưng rất đẹp cháy lấp lánh trong đôi mắt của chị, đôi mắt hơi xanh và sâu vô đáy đã từng làm cho Polipov phỉa say mê…
Polipov biết rất rõ ràng, bên kia sau cánh cửa bọc phớt đang xảy ra một việc làm khủng khiếp. Chúng tra tấn đứa trẻ gần như ngay trước mắt người cha bất lực và bà mẹ hóa điên. Nhưng, hoặc là y đã quen cam chịu tất cả, hoặc là trong người y mọi thứ đều đã hóa gỗ, y không còn cảm thấy cơ choáng váng mà mấy phút trước đây đã làm cho y gần như bất tỉnh, y chỉ cảm thấy buồn nôn và sợ mình không kìm được.
Bây giờ Anton không còn cào vào bức tường nữa, đôi mắt anh mở to, hai hàm răng nghiến chặt, chặt đến nỗi xương quai hmà bạch ra làm cho mặt anh trở nên méo mó khó coi. Và Polipov như nghe thấy cả tiếng răng của Anton rít lên ken két.
Còn Lida vẫn lảo đảo lần theo bức tường đến bên chiếc cửa bọc phớt. Bỗng nhiên từ sau cánh cửa bọc phớt vang lên tiếng thét :
- Mẹ ơi! Mẹ-ẹ-ẹ !
- Thôi! Đủ rồ-ồi! – Sviridov giật tung cổ áo. Rồi hắn tự bóp tay lên cổ mình, hét lên trong cơn thở dốc. – Đưa đi hết! Đưa hết bọn Saveliev này đi!
Sviridov chạy đến mở tung cửa tủ, túm lấy chai rượu.
Tiếng thủy tinh lại chạm nhau lách cách.

*
* *


Uống cạn cốc rượu, Sviridov dường như bình tĩnh lại, hắn ngồi xuống cạnh bàn và cáu kỉnh lục lọi trong đống hồ sơ ra một tờ giấy, ngồi viết chừng mười phút, ngòi bút mấy lần chọc thủng tờ giấy mỏng.
Khủng khiếp quá! Khủng khiếp quá!- Polipov lẩm bẩm, người ướt đẫm mồ hôi. Y ngồi, lưng còng gập lại, mắt nhìn xám xuống sàn.– Dù sao thì cũng xin anh giải thích cho tôi biết.– Tại sao tôi lại ở đây? Tại sao lại tra tấn tôi? Tại sao…
- Đấy không phải là tra tấn anh, mà là tra tấn tôi. Tôi tự tra tấn tôi!
- Anh…Hình như không phải Lida, mà chính anh đã hóa điên.
- Đúng thế đấy, -Sviridov đồng ý.– Gần như vậy. Tại sao lại thế Polipov? Anh đã thấy người đàn bà hóa điên, người mà như anh nói, anh yêu…Bây giờ, sau việc vừa rồi, chắc anh đã hiểu, hoặc ít ra anh cũng bắt đầu suy nghĩ– con người sinh ra để làm gì? Sống để làm gì? Đâu là ý nghĩa cuộc đời ? Đâu là sự thật. Chân lý, còn đâu là giả dối?
Vừa nói, Sviridov vừa đứng dậy, hai cánh tay gầy guộc, chằng chịt gân xanh đặt chéo trước ngực. Đôi mắt hắn lạnh lung và trống rỗng.
Tôi chỉ còn việc ngồi nghĩ về điều này nữa mà thôi!...- Trong đầu, Polipov nghĩ thầm: “Hắn quả là thằng điên “.
- Thật đáng tiếc! Nhưng sẽ có lúc anh phải nghĩ đến. Sớm muộn gì rồi ai cũng phải suy nghĩ về điều này…Cosorotov!
Polipov rúm ngừời lại. Cái thằng điên này còn định bày trò gì nữa đây? À, đúng rồi, hắn gọi Subutin lên hỏi cung…
Nhưng khi Cosorotov bước vào, Sviridov hỏi, mắt nhìn vào một góc phòng:
- Có lẽ hóa điên hoàn toàn rồi, thưa ngài. Nó gói mấy mảnh rẻ rách vào với nhau, đi lại trong phòng, gặp ai cũng hỏi có phải tàu bị chậm không? Bảo chuẩn bị đi Moskva thăm chồng.
- Thế…còn bà già Savelieva?
- Nằm rên, ôm lấy ngực.
- Thế-ế…- Sviridov kéo dài giọng,- Tống cổ hết chúng đi, lũ quỷ cái. Bắn bọn điên làm gì cho tốn đạn. Thằng bé cũng tống đi. Còn… - Sviridov chìa ra mấy tờ giấy,- Đấy là giấy tờ của ông này,- hắn gật đầu chỉ về phía Polipov.– Cứ để cho đi. Thả ra.
Cosorotov ngạc nhiên liếc nhìn Polipov, nhưng vốn đã quen không hỏi lại mệnh lệnh của cấp trên, hắn chỉ nói:
- Xin tuân lệnh, thưa ngài!
Cosorotov đi ra, còn Sviridov buông phịch người xuống ghế nơi Anton vừa mới ngồi lúc nãy, hai tay ôm lấy mặt.
- Tôi cũng có…có thể đi được chứ?– Polipov khẽ hỏi.
- Đi đi.
- Thế tôi sẽ giải thích như thế nào cho …bọn họ…bằng cách nào tôi ra khỏi đây được.
- Cái đấy có quan hệ gì tới tôi? Anh cứ liệu cách …tuy quả thật cũng khó đấy. Đây, lời khuyên của tôi: Ngay đêm nay cuốn xéo khỏi thành phố này, càng xa càng tốt, rồi tìm bắt liên lạc đi theo một đơn vị hồng quân nào đó. Như vậy, anh có thể tự cứu mình và cái chủ yếu là cứu được những người đang hoạt động ở Novonicoleavsk. Quả thật, tôi chưa động tới lời tố giác của anh. Nhưng người khác thì chẳng để yên đâu…Hay là, anh cũng có thể công khai xung vòa một đơn vị bạch vệ ngay ở đây, trong thành phố. Đó là việc của anh. Hoặc tới Tomsk, tìm Lakhnovski, ông ta đã ra khỏi tù từ lâu…
- Thế …kết cục lại …anh là ai?!- Polipov kinh ngạc lặp lại câu hỏi mà có lần trước đây hắn đã hỏi ở nhà của Sviridov.
- Tôi ấy à?- Sviridov bỏ bàn tay ôm mặt ra. Đôi má hốc hác của hắn co giật.- Bây giờ thì có lẽ không còn là ai cả. Còn qúa khứ …còn trước đây thì tôi cũng là một thằng đểu như anh…
- Dù sao tôi cũng yêu cầu anh….
- Thôi, xin anh dẹp cái tính đa cảm lại,- Sviridov uể oải nói.- Tôi trước đây cũng có lần hành động đớn hèn như anh. Ở ngay đây, trong thành phố này, trong nhà tù Novonicoleavsk. Hồi đó, chúng ta cùng bị giam với nhau. Chắc anh còn nhớ, hình như bố hoặc chú của chính Anton Saveliev này có nói với tôi:
Chỉ sau năm năm nữa là anh sẽ thành chỉ điểm ăn lương của mật thám Nga Hoàng. Nhưng thực tế lại còn sớm hơn. Trước đây tôi vốn là Mensevich, nhưng theo lời khuyên của chính Lakhonovski, tôi đã công khai đi với bọn Bonsevich. Và tôi đã tố giác chúng! Cuối cùng người ta đã bắt đầu nghi ngờ tôi, không còn tin tưởng tôi nữa. Có lẽ lúc nào đó , nơi nào đó tôi không được khôn ngoan, thận trọng như anh…Chắc là họ đã vạch mặt chỉ trán tôi, nếu như không xảy ra cách mạng. Trong cái mớ hỗn độn đó không còn ai nhớ tới tôi, và tôi chuyển từ Tomsk đến Novonicoleavsk, và ở đây…
- Và ở đây anh biến thành thằng nát rượu?
- Không, ở đây tôi còn phải gặp một bất hạnh lớn hơn nhiều. Những câu hỏi bỗng nhiên từ đâu kéo đến và hành hạ tôi, không để tôi yên. Những câu hỏi hết sức đơn giản, những câu hỏi mà hôm qua đối với tôi còn hết sức rõ ràng: cái gì đang diễn ra trên trái đất này? Cuộc đời này đang đi về đâu? Cái gì đã xảy ra với nó? Tôi- một con người có học thức- trước đây tôi đã là giáo viên trung học, đã từng dạy cho trẻ cái thiện, cái công lý, cái nhân nghĩa, còn bây giờ, tôi là ai, tôi là cái gì, tôi sống để làm gì trên mặt đất này?
- Quả đúng vậy, -Polipov nói.
- Thôi đủ rồi!– Sviridov đột ngột đứng dậy. – Tôi không thể nào nói với anh hết được, mà anh, như tôi thấy, cũng trả hiểu nổi đâu.
Hắn đến bên cửa sổ, hai tay lại bắt tréo chữ thập trước ngực, bàn tay ôm chặt lấy vai như thể người bị lạnh, và nhìn rất lâu lên bầu trời chiều qua hàng song sắt. Bỗng nhiên, hắn lại lên tiếng hỏi:
- Còn Anton Saveliev, hắn có biết là hắn là ai, là cái gì, sống để làm gì trên mặt đất này không? Vợ hắn hóa điên ngay trước mặt hắn – Hắn im lặng. Con hắn bị tra tấn ngay trước mặt hắn – Hắn vẫn im lặng. Anh thấy đấy, hắn không khai báo ra ai cả dù chỉ là phỏng đoán. Anh hãy trả lời tôi nghe, làm sao hắn ta lại như thế được? Hắn lấy đâu ra những sức mạnh như thế? Hắn chịu đựng vì cái gì?
Polipov không biết có nên trả lời hay không, và trả lời ra sao.
- Hay là …hay là hắn biết, ngay từ đầu hắn đã biết rất rõ cái điều mà tôi bỗng nhiên không hiểu nổi?- Sviridov lấy những ngón tay dài lau hai thái dương.- Hắn sẽ bị bắn sớm hơn, còn toi với anh sẽ bị bắn muộn hơn một tí. Anh còn nhớ hắn nói gì không? “ Nhân dân sẽ đè bẹp chúng mày dưới móng tay “.– Sviridov mệt mỏi cười nhạt.– Nghĩa là như chấy rận ấy, phải không? Thế nào? Họ sẽ đè bẹp chứ?
- Anh còn hỏi cái gì nữa?! Chẳng phải chính anh vừa mới chứng minh cho Anton thấy điều ngược lại là gì?
- Anh là thằng ngu, Polipov ạ. Sao mà ngu đến thế! – Sviridov thốt lên, trong giọng nói dường như pha lẫn chút thương hại.
- Thì ra anh…ném tôi vào cái nhà tù này, bắt tôi phải nhìn…là để nói với tôi…và nói chung, để…để giãi bày những…không biết gọi là gì bấy giờ…những nghi ngờ của mình à? Để cho tôi cũng bắt đầu có những nghi ngờ, những câu hỏi như anh à?
- Để làm gì, chính tôi cũng không biết nữa, -Sviridov thò tay qua hàng song sắt, giật then đẩy cánh cửa sổ mở ra. –Tôi muốn- và tôi bắt anh, thế thôi. Hoặc tôi cũng có thể bắn chết anh ngay trong gian phòng này, bằng khẩu súng này.- Hắn bước tới bàn và lôi từ trong ngăn kéo ra một khẩu sung ngắn.
Polipov đang ngồi trên ghế liền bật chồm dậy. Nhưng y không kịp ưỡn thẳng người lên, mà đứng chết lặng vì khinh hoàng, sợ hãi trong tư thế cúi lom khom- Trên khuôn mặt của Sviridov không còn lấy một giọt máu, đôi mắt ấy bây giờ trở lên trống rỗng, lạnh lẽo, đôi mắt của một người mất trí, nhìn như cắm xuyên qua người Polipov.
- Đúng, tôi có thể bắn chết anh. Nhưng tôi không biết là như vậy có công bằng hay không? – Sviridov nói tiếp khe hơn, -Tôi cũng có thể Anton Saveliev ra, nhưng lại cũng không biết như vậy có công bằng hay không? Vì vậy, cái công bằng nhất, tôi nghĩ, là tự cho một viên đạn vào thái dương mình.
Polipov kinh hoàng đứng nhìn Sviridov, nhìn đôi mắt trống rỗng, khuôn mặt trắng bệch ra như tờ giấy và những ngón tay khô hóe, co quắp đang bóp chặt khẩu súng ngắn. Và Polipov thấy rất rõ rằng nhất định Sviridov sẽ tự sát ngay bây giờ.
- Tôi còn một đứa con gái. Hình như anh đã gặp nó rồi thì phải. Tên nó là Polia. Anh có biết nó không?- không hiểu sao Sviridov lại hỏi.
- Có, đã có lần gặp qua.
- Nếu như anh còn sống, nếu như khi nào có dịp…anh nói hộ với nó, rằng cha của nó đã lầm lạc, không tìm ra đường đi, lối thoát. Và nói chung, nếu…nếu sau này cuộc đời đã chứng minh rằng tôi đã đi ngược dòng, trời sáng rồi mà tôi vẫn toan đem đêm đã qua trở lại, thì…không sao cả, nghĩa là tất cả đều đúng. Còn nếu như quả thật tôi đã chiến đấu chi lẽ phải, thì các anh cũng hiểu và tha lỗi cho tôi vì tôi đã không đứng vững. Tôi đã cố gắng nhưng tôi kiệt sức rồi. Các anh hãy hiểu cho rằng tôi rất chân thực với chính mình. Với chính bản thân mình, mỗi con người đều phải trân thực. Nhưng…tôi nói với anh tất cả những điều này để làm gì nhỉ?
“Mà quả thật, để làm gì nhỉ? “- Polipov nghĩ thầm.
- Còn bây giờ anh đi đi! Cosorotov sẽ thả anh. …Tim đập mạnh, bụng vẫn chưa dám tin là mình được thả thật, Polipov ra khỏi những cánh cửa bọc sắt của tòa nhà sở mật thám. Y nhìn quanh, ngay ngáy lo có người quen nòa nhìn thấy y ở đây. Khi đã đi khỏi hàng rào cao giưng đầy giay thép gai, y nghe một tiếng sung, theo như y dự đoán, từ cánh cửa sổ mở toang của phong Svrridov. Tiếng nổ nghe rất nhỏ, hiền lành, giống như có một người nào đó bẻ một cành cây khô ngay sát bên tai.
Ngay đêm hôm đó, theo lời khuyên của Sviridov, Polipov không ghé vào đâu, và cũng chẳng gặp chào ai, biến khỏi thành phố.

*
* *


Anton Saveliev bị đưa ra xử bắn vào đêm đầu tiên của tháng bảy ẩm ướt và tối như bưng. Có lẽ chưa tới ba giờ sáng, nhưng đêm mùa hè ngắn ngủi, đằng đông, hướng mà người ta dẫn anh đi, những đám mây dày trải khắp bầu trời đã bắt đầu chuyển sang màu xanh hồng. Từ một nơi nào đó vọng lại những tiếng sấm xa.
Đi bên phải Anton là một người lính áp giải đã đứng tuổi có bộ ria thưa vểnh ngược. Thỉnh thoảng, người lính dữ tơn quát giục Anton.
- Nhanh, nhanh …bước nhanh lên! Đã muộn lắm rồi, trời sắp sáng. Nào đồ chết tiệt! Và thúc cho anh một báng súng.
Trước đó mười lăm phút, trong sân nhà tù, khi khóa còng tay Anton, cũng người lính áp dải này đã nói khẽ vào tai anh:
Còng bị cưa đôi rồi đấy. Chúng tôi sẽ đưa anh qua một cái khe ngoằn nghèo. Nghe tiếng tôi ho, anh hãy nhảy xuống, dưới đó có người đợi sẵn…
Trống ngực Anton rộn lên. Chẳng lẽ cả lần này anh cũng thoát khỏi tay thần chết?
Ra khỏi thành phố, con đường chạy qua một cánh rừng bạch dương thưa, Anton biết rằng qua hết cánh rừng bạch dương thưa này , họ sẽ đến một khu rừng tạp rậm rạp, nơi bắt đầu của cái khe núi ngoằn nghèo. Khe không sâu lắm, đây khe mọc đầy các bụi cây nhỏ “ có thoát được không “. Ai đợi anh ở dưới đó? Chắc là Subutin, còn ai nữa.
Anton cảm thấy rất hồi hộp. Chưa bao giờ anh lại hồi hộp như lần này, kể cả trong những tình huống căng thẳng nguy hiểm nhất của vô số những lần vựơt ngục mà anh đã trải qua.
Họ đi dọc theo bờ khe khá lâu. Anton căng tai chờ tiếng ho của người lính áp giải có bộ ria vểnh ngược, nhưng anh chỉ nghe cách đâu đây không xa một cn chim đầu tiên của bình minh cất tiếng hót.
Mặc dù đã hết sức tập trung chờ đội, anh vẫn bị bất ngờ khi nghe tín hiệu. Người lính có bộ ria vểnh ngược, vẫn bước đi bên cạnh anh, hơi quay mặt sang bên và khẽ ho một tiếng. Anton vụt lấy vai hích mạnh, gạt ông ta sang một bên và chỉ hai bước đã ở bên bờ khe, anh nhảy bổ xuống phía dưới, lăn theo bờ dốc thoai thoải. Anh cảm thấy đôi tay anh được tự do, hai mẩu sắt đã bị cưa đôi vẫn còn đeo ở cổ tay, nhưng bây giờ chúng không có gì là đáng sợ nữa. Phía trên đầu khe vang lên tiếng la ó của bọn kính áp giải và tiếng sung nổ loạn xạ. Mặc dù bọn lính chỉ bắn hù dọa – Dưới đáy khe rất tối, không thể nhìn thấy gì, Anton vẫn nghe xung quanh mình tiếng đạn rít và cắm phập vào lòng đất.
- Nhanh lên! lại đây!- Một người nào đó khẽ gọi.
Nghe giọng, Anton nhận ra tiếng bác Cornei Baulin, thự sắp chữ ở xưởng in thành phố. Bác kéo anh bật sang bên, chui tọt vào một khe dài nhỏ, rồi tự mình nằm xuống bên cạnh, thử gấp. Tiếng chân người đã đuổi tới rất gần và Anton nghe tiếng người lính có bộ râu vểnh ngược kêu to:
- Nó chạy đường này, thằng chết dấp! Đường này này, xuống phía dưới khe. Đấy, nó đấy! Đừng lại! Đồ…
Tiếng súng lại nổ loạn xạ, và tiếng chân người, tiếng cành cây gẫy xa dần, xa dần.
- Chạy mau! – Baulin nhồm dậy, chạy ngược lên phía trên khe.
Trong lúc nhảy xuống khe, Anton bị trẹo chân, nhưng rất may là không đau lắm. Anh khập khiễng chạy hteo Baulin.
Được khoảng năm chục xagien, họ bèn leo từ dưới khe lên bờ. Trên bờ khe, chiếc xe ngựa cho thuê của Dasukhin đã đứng chờ trong một bụi rậm.
Ngồi lên, chủ chiếc xe ngựa kéo căng dây cương nói. –Anh thay áo quần và cưa bỏp còng ở tay đi,- Dasukhin ném cho Anton chiếc dũa ba cạnh và gói quần áo, rồi quất ngựa chạy theo con đương rừng mọc đầy cỏ. Còn Baulin thoàn một cái đã biến mất vào rừng, dương như mấy phút trước không hề có bác ấy ở đây vậy.
Bầu trời dần dần hửng sáng, tiếng chim đua nhau hót. Bánh xe lăn trên cỏ mềm không một tiếng động.
Khi trời đã sáng rõ, họ đến bờ song Inhi, một con sông nhỏ, chảy ngang gần thành phố. Chiếc xe dừng lại trong một đám rừng liễu mọc sát mép nước. Một thanh niên chừng hai lăm tuổi, người cao ngồng, chạy đến cất tiếng chào.
- Đây là Đamilo Coskin, con của người lính áp giải Ivan, cái ông có bộ ria vểnh ấy,- Dasukhin nói với Anton,- Cậu ta sẽ trở anh sang bờ bên kia, còn sang bên đó…,Cậu ta đã biết là đi đâu rồi…Tốt nhất là hiện nay anh nên tránh xa thành phố đã, Subutin có dặn như vậy. Đồng chí ấy gửi lời chào anh. Thôi, đi đi, sáng bạch ra rồi.
- Cho tôi hỏi một câu, Vasili Stepanovich. Người nhà tôi- Lida, Iuri, bà thím- ở đó ra sao? Thằng dự thẩm chó chết đã tự tử, nhưng trước đó hắn cũng thả ba người ra.
- Bà thím, Anton ạ, đã mất liền sau đó,- Dasukhin nói, giọng trầm xuống, -Tim không chịu nổi. Còn vợ anh, Lida, nhờ trời, cũng không sao cả, đang khỏi dần. Con trai khỏe anh không phải lo, đã có người của ta lui tới chăm sóc. Về thằng Sciridov tôi cũng có nghe. Cả chuyện ông chú của anh, ông Mit’rophan nữa. Còn Polipov không biết ở đâu? Nghe nói cũng sơ xuất thế nào rơi vào tay Sviridov thì phải.
- Có lần tôi trông thấy trong phòng hỏi cung…chỉ một lần. Chắc bị bắn rồi.
- Cũng có thể là như vậy, -Dasukhin sa sầm mặt lại. –Có những đêm chúng đem bắn hàng trăm người.
Ngồi trên thuyền, Anton thở căng lồng ngực, đưa mắt nhìn suốt dòng sông vắng vẻ, Đanilo Coskin im lặng khua mái chèo xuống nước.
- Khi nào gặp bố, cho tôi gửi lời cảm ơn nhé,- Khi thuyền cập bờ, Anton nói.
Đanilo lầu bầu trong miệng:
- Cho ông ta viên đạn thì có, thế mới công bằng.
- Tại sao lại thế?- Anton ngạc nhiên hỏi.
- Tại vì…anh cho rằng ông ấy đồng ý giúp chúng ta đấy à? Còn lâu! Phải trả cho ông ấy một món tiền lớn đấy. Tham tiền lắm. Tôi cứ lo, biết đâu mình bị lừa. Nhưng không, ông ấy làm đúng như thỏa thuận.
- À, ra thế đấy!
- Thế theo anh thì sao? Em với ông ta đã đoạn tuyệt với nhau rồi,- Nghĩ một lúc, Đanilo tiếp:- Về mặt ý thức tư tưởng.
Muốn là con chim chiếc lá
Con chim phải hót
Chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay lại không trả
Sống cho ai đâu chỉ sống cho riêng mình.

( LHM )
Đăng nhập để trả lời
0
Đại tá Dubov ra lệnh treo cổ Silanti Icanovich Savsliev và vợ ông là Uschinia trên con đường chính của Mikhailovka trước mặt toàn thể dân làng. Ngày chủ nhật, 13 tháng 7 năm 1919, sau bữa trưa tất cả ông già, bà lão, trẻ em làng Milhailovka bị lùa tới chỗ tập trung ở bãi trống cạnh cây dương cổ thụ giữa làng. Hai chiếc thong lọng bằng dây thừng thấm nước treo lủng lẳng trên một cành lớn mọc ngang, chiếc ghế dài bằng gỗ mộc đặt tựa vào gốc cây. Khắp thôn tiếng la hét ồn ào, tiếng trẻ con kêu khóc om sòm. Những tên cướp của toán phỉ Captanov- trước đây hắn là chủ hiệu ở làng Mikhailovka, một người giàu có nhất vùng- thẳng tay lùa tất cả ra khỏi nhà, dồn đến chỗ hành hình. Captanov và toán phỉ của hắn xuất hiện trong làng cùng lúc với trung đoàn bạch vệ của đại tá Dubov.
Cách làng Mikhailovka chừng năm vécxta, trên nền trời màu xanh nhạt rộng mênh mông, những mỏm đá hoa cương hùng vĩ của dãy núi Dvenigora cháy rực rỡ dưới ánh nắng mặt trời. Mấy đám mây nhỏ, trắng muốt, vướng vào một mỏn đá và đậu ở đó rất lâu. Chúng bồng bềnh, dường như đang quan sát những gì xảy ra trong làng. Rồi, sau khi để lại vài mẩu nhỏ trên mỏm đá nhọn, mây tiếp tục trôi về hướng thị trấn Santara- Một làng lớn nằm trên bờ sông Gromotukha khá rộng, cách Dvenigora không xa lắm.
Ông già Silanti bị xử treo cổ về tội đã chỉ đường giúp cho một đội du kích trốn vào những hang đá hẹp rất hiểm trở trong dãy núi Dvenigora. Đội du kích này khá lớn, được thành lập cách đây vài năm, do Policarp Crugilin, cựu chủ tịch ban chấp hành Xô Viết xã Santara, chỉ huy. Đuổi riết theo toán phỉ Culắc do tên Mikhail Lukich Captanov cầm đầu vừa mới xuất hiện sau cuộc nổi loạn của bọn Tiệp Khắc, trên thực tế đội du kích đã kiểm soát được cả vùng Taiga rộng lớn ở thượng lưu sông Gromotukha, ngăn cản không cho bọn địa chủ trở lại đòi ruộng đất và thu những thứ tô thuế mà mấy năm qua chúng bị mất, cản trở việc bắt lính vào quân đội của tên tướng Contrac. Và mùa xuân năm nay, ẩn mình trong các khu rừng Gromotukha, các đội viên du kích chia thành từng nhóm nhỏ bắt đầu xuất hiện trên các quãng đường sắt vắng vẻ ở phía nam Santara, phá đường, tháo dỡ ray và mang đi, dùng mìn tự tạo làm nổ tung những chiếc cầu nhỏ. Trong các tháng ba, tư, năm, việc liên lạc bằng đường sắt giữa Novonicolaevsk và Barnaum hầu như bị cắt đứt. Chính lúc đó, từ Novonicolaevsk, một trung đoàn kị, bộ binh chính quy do tên đại tá Dubov chỉ huy được phái đến với nhiệm vụ đặc biệt: Bằng mọi cách phải tiêu diệt cho kỳ được đội du kích của Crugilin.
Đầu tháng sáu, trung đoàn xuống tàu ở ga Santara và tiến qua làng Mikhailovka, vào rừng Taiga. Captanov và toán phỉ của hắn, gồm chừng trăm tên cướp, liền tìm đến nhập bọn. Đến cuối tháng, Dobov và Captanov đã đuổi được đội du kích bị đánh tơi tả ra khỏi rừng Taiga, dồn họ tới một cánh đồng trống trải ở gần làng Mikhailovka. Trong đội vẫn còn độ ba trăm người, nhưng đạn dược hầu như đã hết sạch. Tìm cách bỏ rơi bọn bạch vệ đang đuổi theo được vài tiếng đồng hồ, Crugilin dẫn toàn bộ đội du kích vượt con sông Gromotukha ở quãng cạn cách làng Mikhailovka chừng ba vécxta, dự định sẽ đi xuyên qua làng để sang hướng đông, đến vùng có mạch nước ngầm Ognievski. Từ phía nam và phía bắc, Dubov và Captanov theo sát gót, phía tây là dãy Dvenigora, theo báo cáo của đội trưởng trinh sát Iacov Aleinicov, một con người cái gì cũng biết, có một đơn vị bạch vệ đang trú phòng. Bọn chúng tuy không đông lắm, nhưng được vũ trang rất tốt. Chỉ còn lại con đường dẫn đến mạch nước ngầm Ognievski ở hướng đông, nhưng Grugilin không tin chắc rằng Dubov lại chưa cho lính tới mai phục ở đó để lấp nốt lỗ hổng cuối cùng này.
- Đồng chí Iacov, cần phải điều tra con đường Ognievski,- Grigilin nói và nhảy xuống ngựa cạnh một giếng cuối làng, múc một gầu nước đầy uống ừng ực.
- Tôi sẽ cho điều tra ngay,- Aleinicov, một thanh niên người không cao lắm, hơi gầy, đôi môi mỏng trả lời. Anh ra lệch cho một người du kích đã đứng tuổi có bộ râu hung hung đỏ:- Này, anh đi báo cho Phedor Saveliev dẫn toàn đội kỵ binh đến gặp tôi ngay. Nhanh lên!- Nói xong, anh cũng vồ lấy gầu nước.
Những người dân tò mò và sợ sệt vây quanh Grugilin và Aleinicov.
Chừng hai chục du kích cưỡi ngựa phi nhanh đến bên giếng, vó ngựa tung phi bụi mù mịt. Từ trong đám đông vang lên những tiếng kêu ngạc nhiên:
Cha mẹ ơi, ai đứng bên cạnh Phedor ấy nhỉ? Đấy, người cưỡi con ngựa tía, mặc áo da ấy? Đàn bà mặc quần! Có phải Anna Captanov không?
- Chỉ nói liều! Con gái Captanov vào du kích để làm gì?
- Đúng là Anna rồi! Xem kìa! Xem kìa!
- Kirian?! Inhiuchin?- một bà già kêu lên. –Mày cũng đi du kích à?
- Kirian nào? Con trai lão hương trưởng ấy à?
- Đúng, hắn đấy!
- Lạy chúa tôi! Sao mà loạn cả thế này! Lão hương trưởng một chân thì làm quản lý cho Capyanov. Ankim máy xay nói rằng…
- Đây là cánh du kích nào thế này?
- Nghe Ankim nói, thằng con út lão Silanti Ivan Saveliev, cũng theo Captanov.
- Thế đấy, thế đấy…Đúng là loạn!...
Trong lúc mọi người đang bàn tán, Aleinicov đã nhảy lên mình ngựa, vẫy tay và cả đội kị binh tung bụi mù tịt, phi như bay ra khỏi làng. Chừng một giờ sau họ trở về, mất hai người bị bắn chết.
- Rơi vào ổ phục kích súng máy. Ở đầm Hạc,- Iacov báo cáo vắn tắt. –Chúng không đuổi theo. Lũ khốn nạn, chúng biết bây giờ ta không còn lối thoát nào nữa.
Chính điều này đang làm cho Grugilin lo sợ. Đầm Hạc rộng hàng mấy Kilomét. Con đường duy nhất thoát ra qua đầm lầy giờ đã bị cắt đứt. Đội du kích như rơi vào một cái túi.
Gruginlin ngồi trên một chiếc ghế dài trong căn lều chật chội của Silanti Saveliev, nghe Aleinicov báo cáo, đầu cúi thấp, im lặng rít thuốc.
Phedor, một thanh niên hai mươi bốn tuổi, ngực rộng, khỏe mạnh, đôi mắt đen, hơi cau có, lấp lánh dưới cặp lông mày mọc khít liền vào nhau, nhảy từ lưng con ngựa đẫm mồ hôi xuống sân. Theo thói quen, anh ném dây cương cho Anna, lau bộ ria mép ngắn đầy bụi, rồi bước vào nhà, kiếm khua loảng xoảng. Sau chiếc bàn gỗ, mấy người du kích đang ngồi húp một thứ gì đó trong chiếc yêu lớn. Bà mẹ Uschinia, già nua, khô đen như một chiếc lá còn sót lại từ năm ngoái, bước lảo đảo đến bên con :
- Phedor! Con…- Bà òa lên khóc.- Còn Ivan thì sao? Nó ở đâu? Con có biết nó còn sống không?
- Nào…May chưa gặp con, nên nó còn sống đấy!- Phedor nói, giọng khô khốc.- Còn nếu gặp thì hết sống.
Và anh khẽ gỡ mẹ ra. Ông già Silanti đầu tóc bạc phơ, ngồi trên chiếc ghế dài cạnh cửa ra vào, chỉ im lặng nhìn con , không nói.
Pancrat Nazarov– Trước đây là chủ tịch Xô Viết làng Mikhailovka, còn bây giờ là chỉ huy phó của Grugilin – bước vào nhà. Ông đã ngoài bốn trục tuổi, đầu bạc quá nửa, dáng dấp một nông dân, hơi vụng về chậm chạp. Nửa năm trước ông bị thương nặng, viên đạn vẫn còn nằm trong ngực. Hai tuần lễ liền máu từ miệng ông cứ ứa ra. Không ai nghĩ rằng ông sẽ qua khỏi. Nhưng Nazarov là người có một sức khỏe kỳ lạ. Máu ngừng chảy, và ông bắt đầu bình phục.
- Chắc anh đã nhổ cả viên đạn ra với máu chứ gì?– Các đội viên du kích hỏi.
- Đâu, tôi nghe nó còn nằm trong ấy,- ông nói.- Nó nằm đâu trong phổi ấy, đồ dịch hạch! Cứ mỗi lần thở mạnh là lại nghe thấy nó…Nhưng không sao, có nó, người tôi càng nặng thêm một tí.
Ông là người điềm đạm, chín chắn và công bằng vì vậy dân làng Mikhailovka đã mấy lần bầu ông làm hương trưởng, và trong đội du kích, ông có một uy tín lớn, được mọi người kính trọng. Chiếc bao da với khẩu mode đeo trĩu thắt lưng hoàn toàn không hợp với ông, có vẻ như thừa. Nhìn Nazarov, không ai nghĩ là ông biết sử dụng vũ khí.
- Mọi người đã được ăn rồi,- ông báo cáo.- Tôi vừa tính qua số đạn còn lại– Chẳng được bao nhiêu. Thế nào, đành chịu chết sao?
Grugilin ngẩng mái đầu có vầng trán rộng lên, ánh mắt sắc như dao cứa lướt qua Nazarov, Phedor, rồi dừng lại ở Silanti.
- Có chết thì cũng không phải với giá rẻ như vậy. Trên địa hình trống trải này, chúng ta không thể cầm cự được nửa giờ…Anh hãy dẫn mọi người vào dãy Dvenigora, chúng ta sẽ ẩn vào trong các khe núi. Anh đi đi.
Nazarov bước ra ngoài. Mấy người du kích ăn xong cũng vội vã ra theo. Qua những bức tường đã mục nát của nhà gỗ nghe vang lên tiếng ngựa hý khắp nơi trong làng, tiếng bánh xe trở thương binh gõ lộc cộc, tiếng người kêu và tiếng hô khẩu lệnh.
- Thế nào, ông Silanti Ivanovich?- Crugilin thở dài, hỏi, có lẽ không phải là lần đầu.– Có thể, ông chỉ giùm cho chúng tôi con đường vào thung lũng Xanh chứ? Ngoài ông ra chẳng còn ai nữa cả. Tôi đã hỏi vài ba người già rồi, nhưng họ đều từ chối. Họ sợ.
Ông già vuốt vuốt mấy sợi tóc lưa thưa trên đỉnh đầu và vẫn im lặng. Bà Uschinia lau đôi má đen đúa, đẫm nước mắt, rồi lại nấc lên:
- Nhưng nếu không thì chúng giết sạch cả đội…Mà trước hết là Phedor, con trai của bà,- Crugilin nói, giọng gay gắt.
- Thôi, bà im đi!- Cuối cùng ông Silanti lên tiếng.- Không phải là tôi sợ chúng giết chết– nhờ trời, tôi cũng đã sống gần hết đời rồi. Chỉ có điều, liệu tôi còn có thể tìm ra được đường không? Đã gần năm chục năm nay tôi không đến thung lũng này. Nhưng biết đâu Chúa sẽ phù hộ cho chúng ta. Nào đi,- và ông đứng dậy.– Các anh kiếm lấy dăm khúc gỗ dài, mười tấm ván và đinh mang theo…
Thung lũng xanh mà họ vừa nói đến nằm đâu đó giữa những khe đá của dãy Dvenigora. Đấy là một cánh đồng bằng phẳng nằm trên núi cao, mọc đầy một loại cỏ xanh tốt, không bao giờ bị nhàu nát, bốn phía bao bọc những vách đá đứng phẳng lì, nhiều nơi phun ra những mạch nước ngầm lạnh buốt. Chỉ có một con đường núi hẹp độc nhất chạy theo vách đá đứng trên bờ vực sâu không đáy dẫn vào thung lũng. Con đường chỉ vừa một người đi, giỏi lắm mới dắt thêm được một con ngựa.
Những người già sợ bọn trẻ ưa mạo hiểm đi vào thung lũng Xanh rồi mất tích ở đó, nên giữ rất kín bí mật của con đường này. Crugilin lớn lên ở làng Mikhailovka, từ nhỏ đã mấy lần cố đi tìm nơi bắt đầu của con đường núi bí mật đó, nhưng không có kết quả.
Dự định của Crugilin rất đơn giản. Trong những thung lũng đá trống trải, đội du kích thế nào cũng sẽ bị bọn bạch vệ tiêu diệt. Nhưng nếu như tìm vào được thung lũng Xanh hiểm trở, với số đạn còn lại, họ có thể giữ vững con đường hẹp dẫn vào đó rất lâu: còn sau đó…
Nhưng “ sau đó ” sẽ ra sao thì Crugilin không thể biết được, và anh cũng cố không nghĩ về điều này.
Khi Grugilin, Aleinicov, Phedor và Silanyi xuống xe ở chân dãy Dvenigora, mặt trời hãy còn khá cao. Ông già đứng nhìn quanh một lát, rồi chống nạng nặng nhọc leo lên dốc núi, miệng thở hổn hển. Được chừng dăm trục bước, ông dừng lại và nhìn quanh một lần nữa.
- Hình như đây thì phải. Các anh đi theo vệt đá lở này, nhớ mang theo ván, gỗ. Cách chừng bốn trục xagien vệt đá lở sẽ hết, ngay trên bờ vực. Vực này sâu kinh khủng, nhưng không rộng lắm, chỉ độ hai xagien. Phía bên kia vực là bắt đầu con đường. Các anh ném mấy khúc gỗ sang, đem ván lót làm cầu, sẽ đi qua dễ dàng, cả ngựa nữa. Con đường sẽ đưa các anh đến nơi, nếu như nó chưa bị lở trong mấy chục năm qua. Còn tôi trở lại đây, mệt lắm rồi…Ông dừng lại và như chợt trông thấy con lần đầu tiên, ông ôm lấy Phedor.– Có lẽ vĩnh biệt con nhé, chúa phù hộ cho con.
Hay là đi với chúng tôi, ông Silanti Ivannovich? Grugilin nói.
- Thôi tôi thì còn đi đâu. Các anh nên nhanh nhanh lên.
- Ông đi xuống núi, leo lên xe ngựa và trở về làng đi ngược chiều với những người du kích đang kéo vào dãy Dvenigora.
Đến chiều tối sau khi bỏ lại những cỗ xe ngựa, bây giờ trở lên vô dụng , những người còn lạ của đội du kích Grugilin dắt ngựa cõng thương binh đi hút vào trong núi.
Đại tá Dubov, một người cao gầy, đôi má căng tròn bao giờ cũng cạo nhẵn thín, đã nổi cơn điên khùng khi đến sùi bọt mép khi biết Grugilin thoát khỏi tay hắn. Có một kẻ nào đó trong làng tới báo tin cho hắn về ông già Silanti. Tức giận điên ngườI, chiều hôm đó hắn phóng ngựa vào làng, nhảy xuống sân, ném dây cương cho Piot’r, con trai hắn, một đứa bé chừng mươi- mười hai tuổi, hồng hộc chạy vào nhà Saveliev.
- Đồ súc sinh!- Hắn lấy roi ngựa quất ông già hai lần. Đôi má rắn căng của hắn rung lên như tảng thịt đông.- Bắt lấy nó! Nện đến chết cho tao, trước mặt tất cả dân làng!
- Xin ngài rủ lòng thương!- Bà Uschinia sụp xuống dưới chân đại tá.– Họ bắt chồng con phải đưa đi, ai dám chối! Xin ngài rủ lòng thương! con trai của chúng con, thằng Ivan, đang theo hầu ngài mà. Thằng con Ivan…Con lậy ngài.
- Câm! Đỏ mặt tía tai, Dubov gầm lên. – con trai nào nữa? Mày là đứa nào? Bắt lấy cả con mụ này!
Nhưng rồi cả Silanti lẫn Uschinia đều không bị chúng đưa ra đánh. Hai người bị nhốt hơn một tuần lễ trong ngôi nhà kho được xây rất chắc chắn của Captanov. Sau đó, Dubov ra lệnh đem họ đi treo cổ.

*
* *


Ivan Saveliev, một thanh niên người hơi gầy, nhưng khỏe mạnh, gân guốc như một con chó săn, là con trai út của ông già Silanti. Vì sự phục vụ đắc lực của mình, Ivan được Captanov chọn làm người giám mã, đánh xe kiêm vệ sĩ cho hắn. Tất cả những nhiệm vụ của mình, Ivan làm một cách nhẫn nhục và cố gắng, vì đã từ lâu, ngay cả trước năm mười tám, Captanov đã hứa gả Anna, con gái duy nhất của mình cho gã.
Mùa xuân năm 1816, khi cuộc chém giết hỗn độn, đẫm máu này mới bắt đầu, Anna bỏ trốn khỏi làng và cúng với Phedor đi theo đội du kích của grugilin.
- Đồ chó cái!- khi nghe tin này, Dinovi thằng con cả của Captanov, mắt bị nhài quạt, chửi, con mắt lành của hắn long lên.– Và làm tình nó cũng như con chó cái. Nó chạy theo thằng Phedor anh mày, như chạy theo chó đực. Và bây giờ…
Việc Anna theo Phedor thì Ivan cũng biết. Đã nhiều lần Captanov tự tay đánh con gái mình, túm tóc lôi sềnh sệch, quyết làm cho cô không dám tìm gặp Phedor nữa. Nhưng vô hiệu. Và mặc dù Captanov đã hứa gả con gái cho Ivan, người làm công của mình, Ivan vẫn nhận thấy và hiểu rằng hắn vẫn đang chần chừ, do dự. Khi được tin Anna đi theo du kích, râu cằm của Captanov dựng ngược lên, những tia máu đỏ dọc trong ánh mắt hắn nổi phồng to thêm. Và hắn nói, giọng lạnh lùng ghê sợ.
- Cứ phục vụ tao đi, Ivan ạ.– Còn Anna, tao sẽ bắt được nó. Tao sẽ quẳng nó xuống dưới chân mày. Lúc đó mày muốn giày nó cho tới chết hay muốn tha nó tùy mày. Tao hứa vớI mày đấy.
Nhưng đã một năm trôi qua, Captanov vẫn không thể nào bắt được Anna, con gái của mình. Nhưng nếu như Captanov bắt được Anna và quẳng xuống chân Ivan thật, thì lúc đó mọi việc sẽ ra sao?– Ivan càng ngày càng hay nghĩ về điều này một cách chẳng lấy gì làm vui lắm. Một người du kích của Crugilin bị bắt và Ivan đem đi bắn theo lệnh của Captanov, đã kể lại với Ivan rằng, trong đội kỵ binh của Phedor, Anna cũng tham gia trận mạc, đánh nhau như đàn ông, trong các trận đánh, ngay cả những trận ác liệt nhất bao giờ cô cũng ở bên cạnh Phedor, giữ cho Phedor thoát khỏi mũi gươm, hòn đạn.
- Còn ăn ở với nhau như đàn ông với đàn bà, như vợ chồng, thì không thấy. Không, không có như vậy. Điều này làm mọi người đều ngạc nhiên, - người du kích nói.- Nhưng tôi thì không, tôi biết. Anna là một người đàn bà hiếm có bấy giờ. Trước khi cưới nhau thì dù có giết, cô ta cũng không cho phép làm điều gì như vậy…
Ivan thả người du kích. Gã làm một việc hết sức liều lĩnh và sau đó cứ nơm nớp lo sợ - Nếu như Captanov biết đựợc, tự tay hắn sẽ bắn chết Ivan ngay lập tức. Còn người du kích được tha, một nông dân có đôi chân vòng kiềng ở làng Cazanikhi, mừng quá, bảo Ivan:
- Hay là, anh đến với chúng tôi đi? Đến với Crugilin?
- Đi đâu, anh bạn…tôi đã lầm lạc, rối tung lên như gà rừng mắc bẫy. Anh tôi, Phedor, tự tay sẽ chém giết tôi ngay.
- Phedor thì sao? Ở trong đội chúng tôi, Grugilin là chỉ huy tất cả. Anh ấy là một người rất hiểu biết, sống có tình…
- Anh đi đi, không tôi cho một phát đạn bây giờ!- bỗng nhiên Ivan giận dữ quát.
Sau ngày đó, Ivan càng trở nên buồn bã, người phờ phạc, mặt đen sạm lại. Đêm gã không ngủ, cứ trăn trở, suy nghĩ: Tại sao mình lại lầm lạc như thế này, ai là người có lỗi? Tại mình và cả mối tình của mình với Anna? Hay là tại Anna, người đã trối từ tình cảm của mình? Hay là tại Captanov, người đã hứa gả Anna cho mình? Hay là cái thời đại hỗn loạn, đẫm máu, rối tung lên này? Hay là tại tất cả, tất cả gộp lại?
Ivan không thể trả lời được cho mình câu hỏi đó.
Muốn là con chim chiếc lá
Con chim phải hót
Chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay lại không trả
Sống cho ai đâu chỉ sống cho riêng mình.

( LHM )
Đăng nhập để trả lời
0
Nghe tin Dubov ra lệnh treo cổ cha mẹ mình, Ivan mặt tái xanh, người lảo đảo.
- Ôi, ông Mikhail Lukich!
- Sao?!- Captanov quát lên.– Bây giờ thì tao làm sao được? Ai bảo thằng quỷ già ấy chỉ đường vào cái thung lũng ấy làm gì? Bây giờ thì làm cách nào mà bắt được bọn du kích?
Du kích bây giờ thì quả là không làm cách nào mà bắt được. Con đường khá hẹp dẫn vào thung lũng bị một nhóm nhỏ du kích ngày đêm canh giữ. Theo lời kể lại, mấy người du kích nằm trên bãi đất hẹp sau một ụ đá, hễ thấy tên lính bạch vệ nào xuất hiện, môtj người nào đó liền chậm rãi, cẩn thận lấy đích và bóp cò.Tên bạch vệ chới với chân tay, bị hất ra hỏi con đường đá, rồi lao xuống vực thẳm. Và thế là hết.
- Nếu vậy...nếu vậy, tự tôi sẽ đến gặp đại tá, xin ông ta...
- Cứ đi đi, Captanov cười nhạt.- Biết tiếng Mikhail Cosorotov chứ? Ông ta sẽ vứt mày cho hắn ngay.
Trong đám phỉ Captanov có những tin đồn đại ghê rợn về một tên Cosorotov nào đó. Thấy thì chưa ai thấy nhưng nghe nói ở trong đại đội trinh sát có một tay mặc thường phục, một chuyên viên tra tấn, có thể bắt bất cứ tù binh nào cũng phải khai. Người ta kể tỉ mỉ nhiều chuyện,- không biết có thật hay bịa, nhưng nghe sởn cả gai ốc.
Sau khi đuổi đội du kích vào thung lũng Xanh và thấy rằng không thể nào bắt được họ, Dubov quyết định vây hãm cho họ chết đói. Hắn bố trí ở chân dãy Dvenigora một tiểu đoàn lính, số còn lại cho đi nghỉ ngơi ở làng Mikhailovka. Còn hắn, để đề phòng bất trắc, mang theo một đại đội bộ binh về gnhỉ trong trại của Captanov ở mạch nước ngầm Ognievski.
Trại này nằm trên bờ một cái hồ sâu, nước trong suốt ở rừng Taiga, cách làng Mikhailovska chừng hai chục vécxta. Trong trại có một ngôi nhà lớn chia ra làm nhiều phòng, bên cạnh là nhà tắm, ba bốn nàh kho, nhà chứa củi, chuồng ngựa. Chính ở đây, nơi rừng sâu hoang vu, vắng vẻ này, trước đây Captanov thường tổ chức nhũng cuộc chè rượu truy hoan với bọn đàn bà. Còn bây giờ khắp trại im ắng, chỉ có tiếng hàm thiếc ngựa va leng keng trong trong các chuồng ngựa, và mấy tên lính cần vụ của tên đại tá lặng lẽ đi lại trong sân trại mọc đầy cỏ. Còn chính tên đại tá, vẻ mặt lầm lì, cau có đã mấy ngày nay bơi thuyền đi câu cá với đứa con trai bé tí ở bên hồ.
Captanov sợ đám quan của hắn say sưa la hét làm kinh động đến sự nghỉ ngơi yên tĩnh của tên đại tá, nên bắt cả bọn chúng phải ở lại làng, Mikhailovska chỉ mang theo Ivan và Dinovi vào trại.
Mặc dù đã bị Captanov hăm dọa những điều khủng khiếp, sáng ngày 13 tháng bảy, Ivan vãn quyết định tìm đến cửa phòng ông đại tá. Nghe trống ngực và sống lưng lạnh toát, gã lấy hết cam đảm gõ hai lần vào cánh cửa. Và đợi được trả lời, gã lảo đảo bước qua bục cửa căn phòng lớn nhất ngôi nhà.
Dubov đang ngồi ăn sáng cùng đứa con trai. Tên đại tá, trước đây cũng đã mấy lần trông thấy Ivan, ngạc nhiên nhìn gã, mãi vẫn không hiểu được gã đến có việc gì. Và khi gã hiểu ra, mặt hắn bắt đầu đỏ rực lên:
- À ra thế! Hắn, lão ấy... là cha mày hả?
- Dạ thưa ngài!- Ivan khẩn khoản.- Ông già ..đã lẩm cẩm rồi ạ.
- Cu-út!- Tên đại tá quát lớn, giật tung chiếc khăn ăn quàng trước cổ, vò nát trong tay.
Ivan không nhớ hằn đã làm như thế nào để ra khỏi nhà và đến ngồi trên chiếc ghế dài đặt ngay cạnh tường, hai tay ôm chặt lấy mái đầu như đang bốc lửa.
Một giờ sau, gã vẫn ngòi nguyên như thế, Dubov vác cần câu vác ra sân, gọi.
- Saveliev!
Ivan bật đứng dậy.
- Anh ta đã phục vụ một cách trung thành - ta khen cho anh. Cha của anh sẽ...sẽ bị treo cổ. còn mẹ không có lỗi gì thì ta tha cho...Ta đã cho người đi báo rồi đấy
Rồi hắn vác cần câu đi ra hồ. Còn Ivan thì đứng như một khúc gỗ bị trôn xuống đất, và tưởng như sẽ đứng như thế suốt đời

*
* *


Đám người bị lùa tới cây dương giữa làng xôn xao, lo lắng, đâu đó tiếng đàn bà khóc, tiếng thì thầm trao đổi cố nén lại. Rồi tất cả bỗng lạnh ngắt, đám đông im bất động: Bọn lính đang dẫn Lilanti và Uschinia đến.
Ông già bước đi rắn rỏi, đôi môi mín chặt cau có, mắt nhìn thẳng phía trước. Uschinia kéo lê bước chân đi tụt sau chồng một tí, mắt ngơ ngác nhìn quanh, dường như không hiểu đám đông kia tụ tập lại để làm gì. Khi chợt trông thấy đôi thòng lọng lủng lẳng trên cành cây, bà hét lên và ngồi bịch xuống trên con đường đầy bụi.. Hai tên lính bạch vệ túm lấy tay bà kéo lê đến bên gốc cây.
Giữa đám người, cách gốc cây dương một quãng, Iacov Aleinicov mặc bộ quần áo nông dân rách nát đứng cau có nhìn bọn lính đang loay hoay đặt chiếc dài dưới gốc cây, bàn tay anh run run xoa bộ râu giả. Ba ngày đêm liền anh đã bò theo các bức tường đá bao quanh thung lũng Xanh, tay chân rách toác, teo toét máu, để tìm được một chỗ tương đối thuận tiện. Đêm qua lợi dụng sự che chở của bóng tối, anh nối những dây cương bằng da lại với nhau, rồi leo từ vách đá cao chừng năm chục xagien xuống. Sáng sớm anh đã tới nhà của Pet'ovan Golovlev, một nông dân làng Mikhailovska trước đây đã nhiều làn giúp đỡ các trinh sát viên du kích.
Khi bọn lính bắt đầu xua dân làng qua chỗ hành hình, Golovlev định giấu Aleinocov xuống hầm nhà, nhưng Iacov, một con người vốn tất to gan, liều lĩnh, nói:
- Để tôi đi xem một tý, cho thêm dữ tợn.
- Chúng nhận ra anh thì sao?
- Tôi không khai anh đâu, đừng lo.
Đám người bỗng nhiên giạt ra cho một người cưỡi ngựa phi vào. Tên cần vụ của Dubov vội vã nói câu gì đó với tên lính bạch vệ. Tên này liền đến cạnh Uschinia đang ngồi bệt dưới gốc cây, lấy chân đá thúc bà dậy và lặng lẽ đẩy vào dám đông.
- Được tha hay sao?- Một người đàn bà bế con đứng bên cạnh Aleinicov hỏi.
- Chắc thế,- Một người khác nói.- Có khi cả Silanti...
Nhưng cũng tên lính bạch vệ đó đã lôi ông già Silabti bắt đứng lên chiếc ghế dài. Rồi hắn nhảy lên ghế, đem thòng lọng tròng vào chiếc cổ gày guộc, đẩy những nếp nhăn của ông và nhảy xuống đất.
- Nào lão già, vĩnh biệt mọi người đi chứ! tên lính bạch vệ nói khẽ.
- Nào, lão già hỏi lại.- A, ngay bây giờ...- Và ông cúi đầu xuống, ngẫm nghĩ. Rồi ông ngẩng lên nói:- Tôi nhờ các người nói lại với thằng Ivan, cha của nó đã chết như thế nào...
Đám người im lặng nghe như nuốt lấy từng lời. Đột nhiên tiếng ồn ào lại nổi lên.
Tên lính bạch vệ giật mình sợ hãi, vội đạp đổ chiếc ghế dưới chân ông già.
- Silanti!- Uschinia thều thào tuyệt vọng kêu lên.- Ông ơi!
Tiếng kêu chìm trong tiếng rú khủng khiếp của đám người.

*
* *


Mấy ngày sau, Iacov Alienicov trở về thung lũng Xanh lúc trời tờ mờ sáng. Phedor và Đanilo Coskin - chính là anh con trai người lính áp anh con trai người lính áp giải ở nhà tù Novonicoleavsk đã có lần tuyên bố đoạn tuyệt với bố " về mặt ý thức tư tưởng "- trực ở trên vách đá kéo anh lên.
- Trên đời có đủ loại Iacov, nhưng người như tớ thì chỉ có một, -Iacov nói một cách đắc ý. Nhưng anh bỗng sa sầm mặt lại, tiếp:- Cha cậu bị chúng treo cổ rồi Phedor ạ.
- Cha tôi?!- Phedor kêu lên, và như người bị giội nước sôi, anh gục xuống tảng đá đẫm sương đêm.
Sáng ra, Iacov Alieniov đề nghị một kế hoặc táo bạo liều lĩnh.
- Lối ra vào thung lũng chỉ có chừng một trung đội kị binh canh giữ. Trước đây ở dưới núi còn một tiểu đoàn lính nữa, nhưng sau đó chúng cho rằng chúng không làm gì được ta, nhưng ta cũng không thể thoát ra khỏi đây, nên chúng phá chiếc cầu của ta bắc qua khe vực và rút gần hết vào làng Mikhailovska. Hiện nay dưới chân núi chỉ còn lại đúng mười hai thằng, tôi đã đếm từng đứa. Chúng thay nhau hai thằng một canh gác, bọn còn lại ngủ lu bù. Ngựa chúng thả chăn ở một bãi cỏ bên cạnh. Cả trung đoàn và đám phỉ của Captandov thì ở lại trang trại Ognievski. Suốt ngày chỉ tắm hơi và câu cá. Tuy nhiên, ở đó còn một đội kị binh và một đại đội lính bộ. Trên con đường qua đầm Hạc còn có một đội súng máy đóng đồn ngày đêm canh giữ. Nhưng đồn này thì có nghĩa lý gì?! Tôi và đội trinh sát đảm bảo diệt gọn bọn chúng không một tiếng động. Tóm lại, tôi đề nghị thế này: Chọn chừng hai chục du kích, ban đêm dùng dây thừng leo theo vách đá xuống núi. Dùng gươm chém chết mười hai tên lính ngái ngủ, việc dễ như bỡn. Sau đó, đưa toàn đội xuống núi và tiến thẳng tới mạch nước ngầm Ognievski. Chúng ta sẽ đến trại kịp trước lúc trời sáng. Mà cần phải kịp! Đội súng máy canh của Dubov ta cũng chém gọn như trở bàn tay và biến vào rừng Taiga. Lúc đó thì tha hồ chúng tìm.
Bên cạnh túp lều của Grugilin, trên một bãi cỏ nhàu nát năm người ngồi cạnh nhau:Alienicov, Crugilin, chỉ huy phó Pancrat Nazarov, Cornei Baulin, trước đây là là thợ sắp chữ nhà in Novonnicoleavsk và Vasili Dasukhin, người đánh xe ngựa thành phố. Sau lần tổ chức cuộc vượt ngục cho Anton Saveliev, để tránh sự trả thù của bọn hiến binh bạch vệ, Baulin, Dasukhin và anh chàng cao kều Danilo Coskin, theo lời khuyên của Subutin đã trốn khỏi thành phố. Lang thang chán trong các khu rừng Gromotukha, một năm trước đây họ gia nhập đội du kích của Crugilin. Hiện nay Baulin là một người rất ít nói, hai bàn tay bị trì ăn mòn, giữ một chức vụ tương tự như tham mưu trưởng. Dasukhin lo việc hậu cần cho đội, còn Soskin thì ở trong đội kỵ binh của Phedor.
Mặt trời đã mọc, ánh nắng sớm nhuộm vàng các đỉnh núi đá. Trong lòng thung lũng ngổn ngang lều trại, không khí rất lạnh, như dưới đáy một cái giếng sau; mỗi khi thở, từng đám hơi nước bốc ra từ miệng dày đặc. Sương móc không có, nhưng từ lòng thung lũng, một lớp sương mù bốc lên liếm ướt các vách núi đá dựng đứng. Ngựa được thả chăn giữa các túp lều bạt. Một vài nơi, những người du kích vừa ngủ dậy đang nhóm lửa bằng các cành cây ẩm ướt.
Iacov Alienicov trình bày kế hoặc của mình một cách hào hứng tự tin, dường như việc thực hiện nó dễ như bỡn. Nhưng mọi người đều hiểu rằng; Nói thì dễ như vậy, nhưng thực hiện thì có thể khác hoàn toàn. Và giờ đây, mọi người đều trầm ngâm im lặng.
- Thế đấy,- Cuối cùng Cornei Baulin, một con người bao giờ cũng thận trọng, lên tiếng, giọng kéo dài.- Kế hoặc của cậu rất khéo, Iacov ạ. Giá như trong tay chúng ta còn có cái gì để đánh nhau, thì kể cũng được đấy. Còn nếu thằng lính nào đó trong trung đội phía dưới chân núi thoát được và tẩu ngựa chạy về Mikhailovska thì sao? Chúng báo động cả trung đoàn, còn ta thì vừa mới chui ra khỏi cái lỗ này. Cả đội sẽ bị chém nát như bún!
- Tất nhiên là mạo hiểm,- Iacov đồng ý và nhún vai, dường như ngạc nhiên tại sao Baulin lại không hiểu điều này.
- Hoặc lỡ không diệt gọn được bọn lính trên đồn canh đường vào Ognievski,- Noazarov chen vào, chúng sẽ báo hiệu về trại, đội kỵ binh sẽ kéo đến, và theo sau là đại đội bộ binh, chen ngang con đường qua đầm lầy. Phía sau cả trung đoàn ập đến. Lúc đó chẳng những thành bún, mà ta sẽ bị nghiền ra như cháo. Hoặc cả đội sẽ chết chìm trong đầm lầy.
- Tôi đã nói rồi, trong chiến tranh thì bao giờ cũng phải mạo hiểm,- Alienicov cau có trả lời.– Nào, cứ giả sử hai đội kỵ binh và bộ binh đóng ở trại ra kịp. Ta sẽ đánh tan bọn này, nhất định sẽ đánh tan! Bởi vì, trên quãng đường hẹp này chúng không thể nào triển khai đội hình được. Chúng ta còn chừng hai trục lựu đạn. Sau khi ném phủ đầu một loạt lựu đạn, ta sẽ chọc thủng tuyến, xông ra mặc dù có thể phải mất khá nhiều người trong lúc phá vây. Cái chính là phải tóm gọn bọn dưới núi, không cho thằng nào thoát về báo động trung đoàn. Còn trong trường hợp xấu nhất, nếu để thoat mất dù chỉ một đứa, thì ta lại quay trở lại thung lũng, chẳng sao cả. Nhưng cần phải thử một keo. Rất cần!
Cần phải thử một chuyến, điều này thì ai cũng hiểu là như vậy. Thương binh chết vì không có thuốc đã phải chôn đến chín người. Số lượng khô ít ỏi mang theo từ Mikhailovska cũng đã gần hết. Hôm qua Grugilin đã ra lệnh giết hai con ngựa để lấy thịt. Với số mì ít ỏi còn lại, với số thịt đó, đội có thể trụ lại hai tuần, hoặc cứ cho nhiều nhất là một tháng nữa, nhưng sau đó thì sao, chết đói…
Mọi người bàn đi bàn lại suốt một giờ. Dasukhin đưa ra một phương án: Trong vòng vài đêm, các toán sẽ leo xuống núi theo vách đá như Alienicov đã làm, rồi từng người, từng hai người một tản ra theo các ngả rừng rồi tập hợp ở một nơi quy định. Mọi người sau khi thảo luận đã bác bỏ phương án này vì chỉ cần một đội viên du kích nào đó rơi vào nanh vuốt của Dubov và không chịu nổi tra tấn ( mà trong đội thì đủ các hạng người )- và thế là hết, con đường thoát duy nhất sẽ bị cắt đứt, chỗ tập trung sẽ bị khám phá ra…Hơn nữa, trong đội thương binh rất nhiều, đưa hộ đi bằng cách nào?
Lại thêm một giờ nữa, phương án của Alienicov được đưa ra thảo luận tại cuộc họp và được thông qua.

*
* *


Chiều đến, bấu trời trên thung lũng bị mây phủ kín như một chiếc vung úp. Thời tiết rất thuận lợi cho đội du kích. Dưới sự chỉ huy của Alienicov, ngay từ chập tối, đúng hai mươi người đã dùng dây thừng và dây cương nối lại leo xuống các vách đá. Alienicov xuống sau cùng. Gần một tiếng đồng hồ, anh dẫn mọi người đi theo một hẻm núi hoang vu, sau đó qua mấy cánh rừng cây mọc rậm rạm, và cuối cùng, họ tới ngay dưới chân núi Dvenigora.
Trung đội bạch vệ canh giữ con đường xuống núi bị tiêu diệt gọn. Bọn lính đang ngủ bị chém chết hết, chỉ có hai tên trực canh kịp bắn hai phát súng trường, nhưng chúng liền bị Alienicov giết chết; một tên bị anh dùng gươm chém đứt đôi người, một tên bỏ chạy, anh cho ăn một viên đạn súng ngắn. Ba tiếng nổ vang lên đanh gọn, tiếng vang dội vào vách đá.
Còn Policarp Crugilin đã dẫn toàn đội theo con đường đá hẹp ra khỏi thung lũng.
Trong ánh sáng của đống lửa do hai tên bạch vệ trực canh đốt lên, các đội viên du kích vội vã bắc lại chiếc cầu qua vực, bốn người chạy đi bắt những con ngựa bị buộc chân đang thả chăn gần đấy.
- Gọn không, hả? Đấy, cả mười hai đứa,- Iacov vẫn còn bị kích động bởi trận đánh vừa rồi, nói với Grugilin khi anh nhảy qua vực theo thanh gỗ đầu tiên vừa bắc xong.- Anh tập hợp đội mau mau lên, còn tôi đi diệt nốt ổ súng máy trên đường đây. Chúng chỉ có năm đứa thôi.
- Cẩn thận đấy, Iacov!– Crugilin lo lắng dặn.
- Được rồi. Tôi biết cách đến gần chộp gọn bọn chúng. Anh cứ yên tâm dẫn đội đi.
Cùng với mười du kích, Aleinicov biến vào đêm tối.
Cho đến bây giờ, mọi việc đều yên ổn. Tiếng ngựa thở phì phì, tiếng vó nện lộp cộp trên mặt ván cầu vừa bắc qua vực, bóng ngườI đi tới đi lui vội vã. Một phần số các xe ngựa của đội du kích bỏ lại dưới núi đã bị bọn bạch vệ mang đi, một phần bị chúng phá làm củi. Bây giờ các đội viên du kích phải tìm nhặt những chiếc còn nguyên, thắt ngựa vào, đặt thương binh lên, rồi dàn đội hình kéo dài tới nửa cây số, tiến vào đêm tối như bưng.
Trong lòng Grugilin lo lắng không yên. Cả cái kế hoạch liều lĩnh này sẽ kết thúc ra sao? Họ đã quá mệt mỏi, thiếu vũ khí. Chỉ cần tới một tên bạch vệ ốm yếu nào đó đi lang thang trên đồng cỏ, trông thấy đội, và chạy về Mikhailovska báo động…Điều này trong kế hoạch của Alienicov không được tính đến, nhưng rất có thể sẽ xảy ra. Và lúc đó…
Crugilin rùng mình, toàn thân ớn lạnh.
Đội du kích đã đi được hơn một giờ trong đêm tối giữa đồng cỏ trống trải, hoang vắng, sau đó bắt đầu những bãi rừng con. Crugilin hơi yên tâm được một chút, vì dù sao đây cũng là rừng. Sắp tới sẽ đến đầm Hạc, mà vẫn không thấy một tin tức gì của Iacov cả. Tình hình ở đấy ra sao? Aleinicov có diệt được ổ súng máy không?
Từ trong bóng đêm, Aleinicov hiện ra đột ngột và không một tiếng động, dường như ngựa của anh không phải chạy trên mặt đất mà bay trong không khí.
- Ổn cả rồi!- Anh kêu khẽ, và Crugilin thở ra nhẹ người,- dễ như bắt gà đêm. Chỉ có điều là chúng tôi ướt hết cả. Phải bò trong lầy để đến gần chúng. Anh có gì cho tôi thay cái không?
- Thế còn súng máy của chúng đâu?
- Tôi bảo là ổn rồi mà. Cả một hòm đạn đến mười lăm băng!
Như vậy có thể coi là đã thoát! Bây giờ nếu như cả trung đoàn bạch vệ có đuổi theo đội, thì họ cũng đã đủ sức để giữ chân chúng rất lâu trên con đường hẹp qua đầm lầy, đủ thời gian để đội có thể đánh tan hai đại đội kỵ binh và bộ binh của tên Dubov ở trong trại và biến vào những khu rừng Taiga rậm rạp ở ngay sau đầm Hạc.
Muốn là con chim chiếc lá
Con chim phải hót
Chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay lại không trả
Sống cho ai đâu chỉ sống cho riêng mình.

( LHM )
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-16 17:07:05tieudongta>
“ Cha bị chúng treo cổ rồi…Cha ơi!”– Suốt cả ngày qua đầu Phedor cứ như búa gõ không ngớt. Anh chui vào lều nằm cho tới tận chiều tối không hề nhúc nhích. Đã ba lần, sáng, trưa và chiều Anna mang cho anh một thứ canh bột mì loãng, nhưng anh đều đẩy bát ra, rít qua kẽ răng:
- Đi đi!
Trong lúc lần theo bờ thành đá từ thung lũng Xanh ra, Phedor bước hụt chân, suýt nữa cả người lẫn ngựa lăn xuống vực. Anna đi sau thấy vậy thét lên kinh hoảng, nhưng Phedor lạnh lùng nói :
- Im! Tôi chết giờ còn quá sớm.
Và anh nghĩ thầm: “ Đúng là còn quá sớm. Chỉ cần đến trại Ognievski! Thằng Ivan có lẽ ở đó. Nếu thằng Captanov ở đấy thì ắt hẳn thằng Ivan cũng theo thằng kia…Tao sẽ hỏi chuyện mày, thằng súc sinh! “
Rồi từ đó cái ý nghĩ về thằng em trai Ivan không chịu rời anh ra nữa.
Khi họ đến trại, trời đã gần sáng. Giá gặp hôm thời tiết sáng sủa, bầu trời đằng Đông chắc đã ửng hồng lên, nhưng hôm nay nó bị phủ một lớp mây đen kịt, nặng nề. Nhưng ngày hay đêm, đối với Phedor giờ đều không quan trọng. Trại đây rồi. Thấp thoáng sau hàng cây một ngọn đèn trong đêm tù mù hắt ánh sáng ra ngoài cửa sổ. Những người du kích đã tuốt gươm ra, và Phodor cũng rút thanh gươm của mình ra khỏi vỏ, mở bao súng ngắn. Còn Iacov Alienicov vẫn cứ nói mãi về nhà kho nào đó, nơi bọn lính đang ngủ, về nơi đại tá Dubov mà mọi người không được để sổng. Anna, vẫn như thường lệ, cưỡi con ngựa hồng thấp nhỏ, đi kèm bên cạnh anh, và vẫn như thường lệ, thì thầm dặn: “ Hãy giữ gìn nhé, anh Phedor, anh nhớ cẩn thận đấy". Nhưng anh cẩn thận, giữ gìn để làm gì? Anh thiết gì tên đại ta Dubov? Anh chỉ cần gặp Ivan, chỉ cần gặp thằng em ruột Ivan! Grugilin và Nazarov đâu? Sao mãi vẫn chưa phát lệnh?
Nhưng anh không trông thấy Grugilin hoặc Nazarov, cũng không nghe được một hiệu lệnh nào cả. Phía bên sườn bỗng vang lên một tràng súng máy và tiếng lựu đạn nổ xé không khí. Ngọn đèn chong đêm trong ngôi nhà của Captanov nhấp nháy rồi chiếu sáng hơn. “ Xung phong !”– Tiếng Iacov rít lên the thé, và Phedor cũng thét bằng một giọng như vậy, thúc ngựa lao vào trại.
- Theo tô- ô– ôi !
Rồi tất cả hòa thành một tiếng gào rú hỗn tạp kéo dài, một cơn bão lửa gầm thét. Một ngôi nhà nào đó cháy bùng lên như kho thuốc súng, Phedor thúc ngựa chạy như điên khắp sân trại sáng rực ánh lửa, vung tay chém xuống đầu những tên lính bạch vệ ngái ngủ, chưa kịp mặc quần áo, dường như cố ý chạy ra đón lưỡi gươm của anh. Trước mặt anh thấp thoáng những khuôn mặt quen thuộc bị méo mó đi vì căng thẳng của Đanilo Coskin, Kirian Iniuchin và các chiến sĩ khác trong đội. Anna trong chiếc áo khoác bằng da vẫn bám sát bên cạnh anh, tay lăm lăm khẩu súng ngắn. Trong bất kỳ trận đánh nào Anna cũng luôn đi bên cạnh anh như vậy với khẩu súng ngắn trong tay và đã hai lần cứu anh thoát khỏi cái chết tưởng như không sao tránh khỏi.
Bỗng nhiên Phedor cảm thấy không còn có Anna bên cạnh. Anh cố gìm con ngựa đang hăng máu. Ngoảnh lại nhìn: Cách anh chừng năm chục thước, con ngựa của Anna bị trúng đạn nằm giãy giụa trên mặt đất, còn Anna đang cố sức rút chân ra khỏi bàn đạp. Đanilo Coskin vội đến giúp cô nhưng từ trong góc trại chuồng ngựa đang bốc cháy ngùn ngụt như đống nhựa thông, một tên bạch vệ đang cố gắng quỳ xuống giương súng ngắm bắn hai người. “ Nó bắn chết mất, nó bắn chết mất “ Phedor vội rút súng ngắn ra khỏi bao. Nhưng anh chưa kịp bóp cò, thì từ phía sau chuồng ngựa, từ trong cột khói và lửa, Alienicov bay vụt ra, lưỡi gươm của anh vung lên trong ánh lửa loáng như một tia chớp, tên lính bạch vệ buông khẩu súng, gục đầu xuống đất và từ từ duỗi người ra như dặt mình nằm xuống nhủ. Iacov quát to, giọng dữ tợn:
- Phedor chú ý các cửa sổ. Dubov và Captanov ở trong nhà, không được để thoát!
Alienocov nói xong, nhảy xuống ngựa, lao lên thềm lấy vai thúc vào cánh cửa khóa kín. Phedor quất ngựa nhảy lồng lên và một loáng sau anh đã ở bên kia ngôi nhà. Các cửa sổ đều tốI đen, chỉ một cửa cso chiếc ghế dài chôn xuống đất ở phía dưới là có ánh đèn, trên tấm màn chắn che cửa thấp thoáng những bóng người . Bỗng nhiên Phedor cảm thấy như một bóng người đó giống Ivan. Tuy chỉ là “ cảm thấy” thôi, nhưng chừng ấy cũng đã đủ. Không nghĩ gì đến nguy hiểm anh nhảy từ mình ngựa xuống chiếc ghế dài, dùng vai hẩy tung cánh cửa sổ, giật tấm màn che xuống.
Và khi đã đứng trên bệ cửa sổ, nghe tiếng kính rơi vỡ loảng xoảng xung quanh, anh gầm lên đức thắng: trước mặt anh, Captanov đứng tựa lưng vào sát tường, trong tay cầm khẩu maode, trong góc là một người cao gầy, gươm tuốt trần, chiếc áo quân phục đại tá khoác vội lên vai, một thằng bé mươi - muời hai tuổi mặc bộ quân phục sĩ quan may theo cỡ người. Nhưng không có cầu vai, khiếp đảm nép bên cạnh. Và bên cánh cửa ra vào là Ivan, thằng em ruột Ivan! Ivan cũng có vũ khí, bàn tay cầm khẩu súng ngắn buông thõng xuống , ngạc nhiên, luống cuống nhìn anh, đôi mắt to tròn chớp chớp…

*
* *


Gần như suốt cả tháng Chín năm 1919, vùng thượng lưu sông Gromotukha bị mưa bão liên tục, những cây rừng váng sớm bị gió vặt trụi lá. Nhưng rồi thời tiết trở nên ổn định, mặt trời tỏa ánh nắng lạnh lẽo xuyên qua lớp lá thưa thớt còn lại, cố hết sức hun khô mặt đất ẩm ướt.
Chim bắt đầu bay đi tìm chỗ trú đông. Từ sáng sớm cho tớI tận chiều tối, vịt giời giăng hàng kêu ầm ĩ, từng bấy giỗng trời qua mùa hè béo đẫy ra lười biếng lặng lẽ vẫy cánh, những đàn sếu nặng nề bay qua gửi những tiếng kêu não ruột xuống khắp các xó xỉnh của rừng taiga.
Ivan ngồi trên chiếc thùng gỗ trong một căn phòng chật chội, ngột ngạt, nghe tiếng kêu rầu rĩ của đàn sếu lọt vào đây qua hai lần cửa, đầu gục xuống im lặng. Và Anna, ngồi nép mình trong góc, như một con thú nhỏ, chân co lại trên giường , cũng im lặng. Ngoài cửa sổ căn phòng, thấp thoáng bóng tên lính canh. Khi thì hắn đi đi lại lại, khi thì ngòi lên một gốc cây để hút thuốc, luôn miệng nhổ nước bọt xuống đất.
Trên khuôn mặt xanh xao, ốm yếu của Anna không còn tí biểu hiện nào của sức sống. Thay vào đôi mắt xanh xám là hai hố to cháy tàn, lạnh lẽo. Chỉ có hai đồng tử đen là chưa cháy lụi. Vẫn còn bốc lửa và thiêu đốt Ivan một cách đau đớn.
- Đừng nhìn anh như thế, Anna!- Ivan năn nỉ, đầu càng cúi xuống thấp thêm.
- Thế tôi phải nhìn anh như thế nào?- Anna mấp máy đôi môi khô, vẻ kinh tởm.
Ivan lắc đầu, rên rỉ :
- Em làm anh tan nát cả cuộc đời anh! Em đã giẫm bẹp nó như miếng cà chua dưới gót giầy!
- Này, khéo ngất xỉu rồi không chữa được đâu đấy.
- Anna, chúng ta tổ chức đám cướI đi!- Ivan kêu lên, giọng khẩn khoản van xin. Anh đứng dậy.– Chúng ta sẽ sống cùng nhau. Anh sẽ giữ dìn em, đến gió anh cũng không để cho động đến người em.
Không đâu…Tốt nhất là anh cho tôi vào dây thòng lọng, như cha anh…
- Anna!
- Thì anh thử cố hết sức tình yêu của tôi đi xem, Anna nói, giọng giễu cợt.-Ai biết đâu đấy, lại xin được.
Những cuộc nói chuyện như vậy không chỉ mới diễn ra có một lần. Ivan ra khỏi căn phòng, đến ngồi bên bức tường trong ánh nắng vàng nhạt, những tiếng kêu của đàn sếu bay qua ở ngoài sân nghe rõ hơn, to hơn và dường như vì vậy càng não ruột, buồn bã hơn.
Xóm nhỏ Datcova Balác, nơi toán phỉ của Captanov đã hai tuần nay ẩn náu trốn đội du kích, nằm trên một triền núi, những ngôi nhà xiêu vẹo chen nhau lộn xộn, không theo một trận tự nào hết, và không hiểu sao chúng vẫn còn đứng vững được trên sườn dốc. Có cảm tưởng như chỉ cần gió thổi mạnh một tí là tất cả các ngôi nhà đó như những vỏ hộp rỗng sẽ lăn xuống khe núi Datcova Balca cắt đôi rừng Taiga ở phía dưới.
Phía đầu dốc, ngay trên đỉnh đèo, bốn người cưỡi ngựa xuất hiện. Đó là Captanov, gã con trai mắt bị nhài quạt của hắn, Dinovi, cựu hương trưởng làng Mikhailovska, Đemian Iniuchin, và chính tên Cosorotov bí ẩn mà về hắn người ta đã đồn đại bao nhiêu là chuyện kinh khủng.
Chiều tối hôm qua, có một gã nông dân từ làng Parphenovo phi ngựa tới báo tin đội du kích đã kéo đến bên đó.
-Chúng lại đánh hơi thấy rồi, lũ chó đẻ!- Captanov chủi đổng, và không giao cho ai cả, tự mình mang những tên tin cẩn nhất đêm hôm đó đi điều tra xem có bao nhiêu du kích ở làng Parphenovo.
Ivan cũng là một trong những người tin cẩn nhất của Captanov, nhưng hắn để anh lại với Anna. Mười ngày trước đây. Anna bị tên cai ngục cũ Cosorotov bắt về.
- Cho mày ở lại vừa làm gác vừa làm chú rể,- Captanov phi ngựa đến ngôi nhà Ivan đang ngồi, nhìn anh bằng đôi mắt đỏ ngầu qua một đêm không ngủ, cất tiếng hỏi.
- Thế nào? Có thể gọi mày là con rể được chưa?
- Anna không đồng ý.
- Tao đã cho phép mày rồi cơ mà? Phải dùng sức mà chiếm lấy nó, cái đồ chó cái đỏ ấy…
- Tôi không thể làm như thế được. Không thể…- Ivan lắc đầu.
- Đồ nhãi ranh!- Những sợi râu hung hung đỏ của Captanov bệt lại thành từng túm rung rung.- Mặc xác mày, nhưng đừng có kêu nữa đấy. Tao đã làm đúng lời hứa với mày.
Captanov, Dinovi và Cosorotov bỏ vào nhà, Demian Iniuchin khéo léo hất chiếc chân giả bằng gỗ đính vào đầu gối bên trái qua lưng ngựa, tụt xuống đất, khập khiễng, lạch bạch như vịt què, dắt mấy con ngựa vào mái che. Khi trở ra hắn lên tiếng:
Tao thấy mày từ lâu có vẻ đáng nghi lắm. Trong đầu mày đang có một xoáy nước ngầm. Nó sẽ cuốn mày đi đến đâu hả? Giá như ông Mikhailukich nghĩ đến điều này!
- Hắn ngừng lại một lúc như chờ đợi cái gì, rồi nói tiếp:
- Nhưng mày phải biết, đừng có hòng mà thoát khỏi tay tao và Mikhail Cosorotov!
- Ma-a-ày! Ivan gầm lên, nhảy chồm dậy, giật nửa thanh gươm ra khỏi vỏ…
Trong đầu anh xoắn nước đã bắt đầu. Cái điều đã xảy ra với anh có thể gọi bằng một từ khác, nhưng nó đã xảy ra. Ivan Saveliev cảm thấy điều ấy từ lâu…
Lần đầu tiên, anh nói lên điều này với người du kích của Crugilin bị bắt làm tù binh mà anh đem đi xử bắn, nhưng lại thả ra. Người du kích chạy biến vào rừng, còn Ivan bắn chỉ thiên chiếu lệ để Captanov nghe thấy tiếng súng. Rồi anh ngồi trên gốc cây, suy nghĩ rất lâu: Tại sao lại như vậy, tại sao đến người nông dân gày gò kia cũng đi du kích, anh ruột Phedor cũng trong đội du kích của Crugilin, và cả Anna, thậm chí cả Kirian, thằng con trai của gã hương trưởng cụt chân Đemian Iniuchin, cũng vậy. Đáng lẽ ra hai người Anna và Kirian phải đi theo Captanov, còn anh Ivan, ở trong đội của Crugilin mới phải. Đằng này tất cả đều rối tung, tất cả đều đảo ngược…Và mình đánh nhau vì cái gì ở đây? Mình giúp thằng Captanov giữ của cải của nó. Nhưng cứ cho rằng giữ được đi nữa, thì mình được cái gì cơ chứ? Lại đi chăn ngựa cho nó à? Anna thì trước sau gì cũng đi với Phedor. Và hơn nữa bây giờ đã rõ rành rành là Captanov. Cũng như bất kỳ một thằng nào khác, không còn có thể cách nào giữ của cải của mình nữa. Chẳng còn bao lâu hắn sẽ bị đánh tan, tất cả sẽ bị bắn sạch. Và mình chịu chung cái chết, nhưng chết vì cái gì mới được chứ?
Liền ngay đó trung đoàn của Dubov được điều động đến để tiêu diệt Crugilin. Bắt đầu những trận đánh ác liệt, những cuộc vây đuổi liên miên kéo dài theo những người du kích cứ tuột đi như chạch. Ivankhông còn thời gian để suy nghĩ nữa. Rồi sau đó…sau đó xảy ra những việc mà cho tới bây giờ Ivan vẫn chưa hết choáng váng: Cha anh bị treo cổ và cuộc tấp kích bất ngờ và khủng khiếp vào trại Ognievski của những người du kích– Không biết bằng cách nào mà họ ra được khỏi thung lũng Xanh, chẳng lẽ lại bay trong không khí?…
Khi tiếng súng máy bắt đầu nổ ở ngoài trại. Ivan đang nằm ngủ trên sàn nhà cạnh Captanov, liền bật dậy và vặn to ngọn đèn chong đêm tù mù, mà đáng ra phải tắt hẳn đi.
Cái gì? Ai? Captanov quát hỏi.
Từ phòng bên cạnh, Dubov mặc độc một chiếc quần ngủ, chạy ra hét:
- Cái gì? Cái gì thế?
Còn ngoài sân, phía ngoài cửa sổ, tiếng súng trường đã nổ loạn xạ, tiếng la hét, vó ngựa rầm rập.
Không nói thêm lời nào nữa, cả ba đã hiểu cái gì đang xảy ra, cuống cuồng chộp lấy áo quần khoác vội lên người. Dubov biến vội vào phòng của mình, một phút sau đẩy thằng con đang ngái ngủ ra trước, rồi cũng chạy ra, chiếc áo sĩ quan còn chưa kịp cài cúc.
Tại sao lại như thế này? Dubov thét hỏi, dường như có một người nào đó có thể ngừng lại không muốn giải thích cho hắn về sự việc đang diễn ra.
Bỗng cánh cửa sổ bật tung, tiếng kính vỡ loảng xoảng trên khung cửa đen ngòm, Phedor hiện ra, đôi mắt long lên, sáng quắc.
Ivan đã rút súng ra từ lâu, nhưng trông thấy Phedor, đôi tay tự dưng buông thõng xuống. Ngược lại, Captanov đứng ở góc từơng vụt đưa súng lên nhưng Dubov đột ngột túm chặt lấy tay hắn hét.
- Điên à? Không được bắn! không được bắn!- Và quay lại, Phedor lúc đó đã nhảy xuống sàn:- Tôi xin đầu hàng. Đây là Piot’r, đứa con trai duy nhất của tôi,- Hắn khẽ đẩy đứa bé đến trước mặt Phedor:- Tôi hy vọng rằng anh sẽ tha cho thằng bé.
Ngay trong tích tắc đó, trên khung cửa sổ đen ngòm lại hiện ra một bóng ngườI mới.–“ Anna !” – Ivan choáng váng như phải bỏng.
Nhưng Anna không kịp nhảy xuống sàn nhà. Ở bên cạnh, Captanov thét lên một tiếng khàn khàn, và, không ngắm đích, bắn một phát vào con gái. Anna lặng lẽ ngồi gục xuống, rồi lăn nghiêng ra sàn.
Anna!
Không, đấy không phải là Ivan kêu, mà nói chung, cũng không có ai kêu lên cả. Đó chỉ là thứ tiếng gì âm ầm ở trong đầu Ivan, mỗi lúc một lớn thêm, và như cánh cửa kính vừa rơi xuống, nó cũng nổ tung, mảnh văng đi kêu loảng xoảng.
Rồi Ivan không nghe thấy gì nữa, đầu óc trở lên rối loạn. Như trong một giấc mơ, không còn hiểu được việc gì đang xảy ra, anh thấy cánh cửa ở bên cạnh mình mở, và một thanh niên người không cao lắm, chiếc mũ da lật ngược ra sau gáy, chạy xộc vào, Iacov Alienicov.
- A-a, đại tá dubov, chắc hẳn anh phải thét to lắm, nhưng Ivan chỉ nghe vọng đến rất khẽ. Iacov vung gươm.
Nhưng Dubov đã nhảy lùi lại, đồng thời gạt đỡ cú đánh. Thanh gươm của Alienicov bật ra khỏi tay, vẽ thành một vòng cung trong không khí. Alienicov nhảy lùi lại cuối bàn, tay rút súng ngắn từ trong bao ra. Nhưng anh không kịp. Dubov đã cúi gặp người trên bàn chém với mũi gươm tới anh. Alinoclov ôm mặt ngã sấp suống sàn.
Trong lúc sự việc đang diễn ra, Ivan nghe có người nào đó kéo tay và một giọng nói khàn khàn vang bên tai: " Theo tao, mau!” Anh thấy Captanov luồn qua cửa ngoài, nhưng anh không chạy theo hắn. Tại sao không chạy – anh cũng không biết nữa mặc dù hình như Phedor đang bắn vào anh. Ừ, đúng rồi, Phedor đang bắn, một phát vào anh và một phát vào tên đạI tá Dubov đang chạy quanh trong phòng. Tiếng đạn cắm vào tường sát ngay bên cạnh, nhưng Ivan vẫn không nhúc nhích. Cuối cùng, phedor bắn trúng Dubov, tên này gập cong người, sững lại. Nhưng hắn không ngã xuống, mà từ từ đứng thẳng lên. Phedor định bắn thêm phát nữa, nhưng đầu kim hỏa chỉ gõ một tiếng khô khốc- băng hết đạn. Phedor liền nhảy đến bên tên đại tá như một con thú dữ vung gươm chém. Hắn đổ nhào xuống bên cạnh Alienicov. Đứa con trai của Dubov rúm người trong góc tối thét lên một tiếng chói tai rồi im bặt.
- Sao mày không bắn đi, đồ phản đạo, bắn đi…..
Phedor thở hổn hển nói, và Ivan ngạc nhiên nhận thấy nòng súng của mình chĩa thẳng vào trán ướt mồ hôi của phedor.
- Anh vẫn là anh của tôi, tôi không bắn,- Ivan nói.
Ivan nói thật lòng. Dù cho Phedor có vung gươm nhảy bổ vào anh, có lẽ anh cũng không nổ súng. Anh chỉ nghe trong đầu như búa gõ: “anna, Anna, Anna.” Và giữa tiếng vang nhức nhối đó, một ý nghĩ chợt hiện ra, rõ mồn một: Nếu như Anna không còn nữa, thì mình sống để làm gì? Cứ để cho anh chém chết đi. Thế có khi lại tốt hơn, rằng không phải ai khác, mà chính là anh Phedor …anh ấy sẽ vung gươm lên- và tất cả sẽ kết thúc. Tất cả, tất cả…Thế cũng tốt…Nhưng mình lại chĩa súng vào anh ấy? Để làm gì? Để làm gì?
Trong lúc đó Phedor, lưng vẫn tựa vào tường. Nhích lần vào góc phòng, nơi đứa con của Dubov đứng, người co rúm lại …À thì ra anh ấy,- Ivan chợt tỉnh lại. Anh ấy định chém thằng bé. Ivan thét to:
Không được động đến thằng bé! Nó không có tội gì cả!
- À-à, đồ rắn độc! Phedor rít lên.- Mày là đồ rắn độc và đi lo cho lũ rắn con à? Giá như mày đi thương lấy cha ruột của mày có phải tốt hơn không! Mày nên nhớ chúng đã treo cổ…
Và Phedor xông đến bên đứa bé. Ivan cũng nhảy băng tới, và khi Phedor vung gươm lên bổ vút xuống, anh theo đà xô mạnh vào vai Phedor. Bị đẩy mạnh, Phedor không đứng vững, ngã xuống sàn nhà, lăn đi mấy vòng. Thằng bé thét kên một tiếng chói tai, hai tay ôm lấy mặt, máu chảy túa ra, lăn lộn bên cạnh xác cha nằm bất động. Và lúc đó Ivan mới nổ súng, nhưng không phải vào Phedor, mà vào chiếc đèn treo trên tường. Nhưng trong phòng vẫn không tối lại, vì ngay trên mái nhà sát cửa sổ, lửa bốc sáng rực. Chân bỗng giẫm phải Alienicov nằm trên sàn nhà (Alienicov bỗng cất tiếng rên, và Ivan nghic thầm: “ Còn sống “. ) Ivan bế xốc thằng bé và chạy vụt ra khỏi nhà.
Sân trại không một bóng người và sáng rực trong ánh lửa của chuồng ngựa đang bốc cháy ngùn ngụt. Những ngọn lửa nhảy múa điên cuồng trên nền bầu trời đen kịt, những dải lửa vút lên cao rồi tan ra như hút vào khoảng không tối mịt mùng. Bên ngoài trại, ở một nơi nào đó trong rừng sâu, vang lên mấy tiếng súng đì đùng.
Chạy qua sân, Ivan vẫn đợi viên đạn của Phedor bắn đuổi vào lưng. Nhưng không có ai đuổi theo anh cả. Bên bờ hồ có mấy chiếc thuyền với mái chèo. Ivan ném piot’r Dubov vào một chiếc thuyền và đẩy ra khỏi bờ. Đút khẩu súng ngắn vào bao, vung máy chèo khuấy động những vệt sáng phản cháy đám cháy trên mặt nước hồ đen thẫm, anh vội vã bơi thuyền sang bờ bên kia, lẫn vào bóng tối…
- Ma-a-ày!– Ivan gầm lên, nhảy chồm dậy, giật thanh gươm ra khỏi vỏ.
- Thằng ngu,- Iniuchin thản nhiên nói và bỏ đi, chiếc chân gỗ chọc những lỗ sâu trên mặt đất.
Ivan lại ngồi xuống. Đúng mình là thằng ngu. Tại sao đêm hôm đó mình không để cho Phedor chém chết, hoặc ít ra cũng đầu hàng và làm tù binh? Tại sao lại bỏ chạy mà không phải một mình, còn kéo theo cả thằng bé ấy nữa, thằng con trai của kẻ đã ra lệch treo cổ cha mình? Phía bên kia hồ cũng có một chiếc thuyền, và Ivan hiểu ngay : Captanov đã chạy trốn bằng chiếc thuyền đó. Quả vậy, Captanov từ trong bụi cây đi ra mừng rỡ gọi:
- Ivan đấy à? Khá lắm! Chúng ta bị một cú đau quá! Không hiểu làm sao mà lũ chó chết ấy lại chui được ra khỏi hang cơ chứ?
Một bên má của Piot’r bị chém toác, thằng bé rên rỉ như chó con. Captanov xé áo trong của mình băng mặt cho thằng bé rồI nói, giọng trầm trầm.
- Tội nghiệp, con chim nhỏ bây giờ trở nên hoàn toàn côi cút. Đại tá kể rằng mới lên ba, nó đã không còn mẹ. Đưa nó đi đâu bây giờ? Hay gửi nó đến cho Lukeria? Cho nó đến sống với thằng Maca nhà ta, có thể. Chúng sẽ thành bạn thân cũng nên.
Captanov đem giấu Maca, đứa con trai út lên sáu của mình ở một trại nào đó tận trong rừng Taiga hẻo lánh, giao cho Lukeria Casarova, một người đàn bà tháo vát và dâm đãng ở làng Mikhailovska, nuôi nấng, chăm sóc.
- Đúng rồi, ta sẽ gửi nó cho Lukeria nuôi,- Captanov nhắc lại.– Còn bây giờ, Ivan ạ, ta phải tẩu sâu vào rừng để tránh xa tai họa đã. Không trời cũng sắp sáng rồi. Chẳng lẽ bọn du kích lạiI thịt hết cả trung đoàn và cả người của ta ở Mikhailovska à? Bằng cách nào và bằng gì? Không thể thế được! Tuy nhiên, ta cũng phải dò xem. Cẩn tắc vô ưu.
- Còn Anna, sao ông bắn Anna?- bất giác Ivan buột miệng thốt lên.
- Thôi!- Captanov lạnh nhạt quát lên.- Không có nó mày cũng chẳng chết đâu. Đồ chó cái ấy một viên đạn chưa đủ, nó thì phải băm xác ra từng mảnh.- Nói xong, Captanov bước vào rừng.
Ánh bình minh muộn màng cũng đã loang khắp rừng Taiga. Nhìn cái lưng gù của Captanov lắc lư đi phía trước, Ivan cảm thấy muốn rút phắt khẩu súng ngắn ra khỏi bao và làn lựơt cắm cả băng đạn vào cái thân xác to lớn đáng ghét của hắn. Và bây giờ Ivan không hiểu tại sao mình lại không đủ cam đảm- Thời cơ thuận tiện đến là thế!. “ Mà nói chung những thời cơ thuận lợi thế thì thiếu gì?- Ivan cười nhạt, có như thế mình mơi slà thằng ngu như Iniuchin nói.”
Hôm đó khi trời đã sáng hẳn, Ivan và Captanov đi ra con đường rừng Taiga còn mớI tinh vết chân giày, vết móng ngựa và vết bánh xe. Hai người đều hiểu rằng đội du kích của Crugilin vừa mới đi qua đây đi về hướng đông, về phía khu rừng bên kia mạch nước ngầm Ognivski.
Hai tuần lễ sau, du kích quay lại sau khi đã nghỉ ngơi và trang bị đầy đủ.
Trung đoàn của Dubov sau khi mất chỉ huy đã bị gọi đi nơi khác. Bây giờ vai trò đã đảo ngược, bây giờ đội du kích của Crugilin lại đuổi theo sát gót đám phỉ của Captanov dồn chúng lên phía thượng nguồn của con sông Gromotukha. Và nay Captanov đang phải ẩn náu ở xóm Datcova Balca nhỏ bé này.
Ivan, vẫn như trước, làm cần vụ và làm vệ sĩ cho Captanov. Anh càng ngày càng hốc hác, mắt trũng sâu, trở nên cau có lầm lì.
- Thôi, mày đừng héo hon đi nữa! Captanov bảo Ivan khi hộ đến Datcova Balca.- Nó, con Anna của mày á, còn sống dai hơn cả mèo hoang nữa đấy.
- Sao! Ivan không hiểu.
- Nó còn sống…Đáng ra tao phải bồi thêm cho nó mấy phát nữa. Còn bây giờ nó còn sống, thì tao cũng không lấy lại lời hứa với mày. Tao sẽ tóm được nó.
- Sao?- Ivan hỏi lại lần nữa.
- Mikhail Cosorotov sẽ tóm được nó. Tao đã bảo hắn đi rồi.
Sau khi trung đoàn của Dubov bị điều đi, Cosorotov ở lạI vớI toán phỉ của Captanov.
- Hắn đi đâu?– Ivan vẫn chưa hiểu gì cả.
- Đi bắt Anna. Có tin nó đã hoàn hồn sau viên đạn của tao và giờ đang đi các làng quyên thu ủng lông và găng tay cho bọn du kích. Thế nào Cosorotov cũng chộp được nó về.
Và Cosorotov chộp được thật. Một ngày sau khi xảy ra cuộc nói chuyện trên, hắn trở về, ném Anna bị trói chặt chân tay xuống đất, rút miếng giẻ nhét ở miệng cô ra.
- Đấy, nhận lấy,- Hắn nói với Captanov.
- Anna! Anna!- Ivan kêu lên, chạy bổ tới.
- Thế thằng Kirian của tôi có đi với con bé này không?- Đemian Iniuchin hỏi.- Giá mà tóm được nó cho tôi nữa! – Và, giẫm giẫm chiếc chân gỗ trên mặt đất, hắn nói thêm một câu khó hiểu: - Cứ như mình lấy quách con bé này chứ không để cho thằng Ivan...
Anna nằm trên mặt đất đầy bụi, tóc sổ tung, bị miếng giẻ nhét vào miệng làm nghẹt thở người tái mép. Ivan định cởi trói giúp cô đứng lên, nhưng Anna tự quỳ dậy, ngẩng đầu ném cho Ivan một cái nhìn làm anh phải sững người lùi lại. Và bây giờ...

*
* *


Suốt cả đêm Ivan không chợp mắt. “ Cả mẹ như thế cũng như đã bị chúng treo cổ...”- Anh nằm trên chiếc chăn đắp ngựa hôi hám mà suy nghĩ, tim như bị ai bóp chặt, một cảm giác đau nhấp nhối khắp taòn thân.
Ngoài cửa sổ, bầu trời đang chuyển dần sang màu trắng đục ban mai.
Chiếc giường Captanov nằm khẽ rung lên kem két.
- Ivan, mày ngủ à?- Hắn hỏi khẽ.- Tao đi kiểm tra gác một tí đây.
Captanov bắt đầu mặc quần áo, cố gắng không gây ra tiếng động. Mặc quần áo xong, hắn xách ủng rón rén đi đến bên cửa và nhẹ nhàng bước ra ngoài.
Việc Captanov đi kiểm tra các vọng gác đêm hoàn tòan không có gì đặc biệt cả. Trong thời gian gần đây, dù đóng lại ở đâu, hắn đều tự mình, hoặc giao cho con tai là Dinovi, đi kiểm tra việc canh gác quanh thôn. Nhưng không hiểu sao, Ivan bỗng bị một nỗi lo ngại và sợ hãi bao trùm.
Sự lo lắng mơ hồ, không thể giả thích được đó, Ivan cảm thấy ngay từ chiều, khi bắt gặp ánh mắt của Captanov dò dẫm một cách khả ố trên khắp người con gái hắn. Rồi sau đó, hắn đi đi lại lại trong phòng, dường như đang tính toán một điều gì đó. Chốc chốc, hai lỗ mũi to tướng của hắn lại phập phồng, đôi môi lông lá giật giật, ánh mắt nhìn dự tợn. Nhưng hắn vẫn không nói được lời nào, lăn ra giường và chỉ mộtlúc đã cất tiếng gáy lên.
Và bây giờ hắn lại nói rất khẽ, cố gắng sửa soạn nhẹ nhàng để khỏi làm cho Ivan thức giấc...Ivan chồm dậy, chạy ra bên cửa sổ.
Khắp trong xóm không có lấy một ánh lửa. Góc nhà kho. Nơi Anna giam, mờ mờ hiện ra trong bóng tối xám đục. Bên cạnh kho có một chiếc xe đã thắng ngựa, và hai bóng người thấp thoáng. Một lát sau hai bóng người dẫn Anna từ nhà kho ra, đẩy cô lên xe. Tất cả những cái đó Ivan đoán ra nhiều hơn là nhìn thấy, tim anh đập mạnh. “Họ đưa Anna đi đâu? Chẳng lẽ lại đưa đi thả? Thế mà Captanov bảo đi kiểm tra...
Ivan căng mắt nhìn ra cửa sổ. Một trong hai bóng người ( theo dáng, Ivan nhận ra là Captanov ), cũng ngồi lên xe và quất ngựa chạy. Người thứ hai khập khiễng quay vào nhà.
Ivan vơ vội lấy quần áo xỏ vào, rồi hấp tấp quấn xà cạp vào chân. Choàng chiếc áo vét lên vai, anh nhảy bổ ra cửa.
- Đi đâu?- Tiếng của Đemian Iniuchin vang lên ngay ở cửa.
- Buông ra! Ivan định xô lão cụt chân sang một bên nhưng Iniuchin đã khéo léo giơ chiếc chân giả bằng gỗ ra như ngọn giáo, đâm mạnh vào bụng Ivan,làm anh đau điếng gò người lại, rồi ngã xuống đất. Khi trấn tĩnh lại được, Ivan thấy Iniuchin đang cầm khẩu súng ngắn chĩa vào người anh.
- Tao hỏi mày định chuồn đi có xa không hả?
- Anna...Anna bị đưa đi đâu?
- Đưa đến nơi cần đưa, cha nói với con mấy lời rồi thả. Một giờ nữa chúng ta sẽ rời khỏi nơi đây. Nào đưa tay ra sau lưng! Quay bước! Mày sẽ phải ngồi cho tới khi ông chủ về, sau đó ra sao tùy ông ấy. Đi đến nhà kho, tao bảo! Đừng có giở trò, tao bắn ngay tại chỗ.
Ivan miễn cưỡng bỏ tay ra sau lưng, bước đi.
- Anna...Ông ấy đưa đi bắn...
- Đó là việc của ông ấy. Ông ấy là cha. Đi! Bước!
Họ đã đi đến cạnh nhà kho, Ivan đã bước qua bục cửa. Nhưng khi Iniuchin bắt đầu kéo hai cánh cửa nặng nề đóng lại, Ivan bất ngờ nhảy chồm tới như mèo vồ mồi, đè hắn xuống tước lấy súng ngắn và giang thẳng tay quật báng súng vào thái dương. Iniuchin chỉ kêu hự lên được một tiếng, giãy nảy lên rồi nằm im.
Ivan nhảy lùi lại, bối rối. “ Chẳng lẽ mình đánh chết rồi à? Chết thật rồi à?”
Lão cựu hương trưởng làng Mikhailovska nằm không động đậy, tắt thở. Ivan lôi xác hắn vào nhà kho, đóng cửa lại và không kịp bấm chiếc khóa treo lủng lẳng trên thanh móc cửa sắt, chạy bổ đến bên con ngựa của mình.
Ra khỏi làng Lunevo, con đường chia làm nhiều ngả. Captanov đi theo hướng nào không rõ. Mỗi con đường đều là một bí mật.
Ở hai trạm gác đầu bọn lính canh nói với Ivan là không thấy Captanov , cũng không thấy bất cứ một ai khác ra khỏi làng. Ở trạm thứ ba một tên phỉ còn trẻ, mặt phờ phạc vì thiếu ngủ, bảo:
- Ataman ấy à? Thấy cùng con gái đi qua đây, họ đi đâu thế Ivan?
Không trả lời, Ivan quất ngựa chạy theo con đường rừng đang hiện dần trong ánh bình minh buổi sớm.
Nếu như không nhờ có con ngựa đực của mình, chắc buổi sáng hôm đó Ivan không thể tìm thấy Captanov, và cũng không bao giờ anh còn thấy được Anna, thậm chí cũng không biết được Anna đi đâu, bằng cách nào đã biến mất khỏi mặt đất này. Con ngựa của anh chạy theo một con đường đầy bụi được chừng năm. Sáu vecxa, rồi mặc dù Ivan ra sức quất roi một cách không thương tiếc, nó bắt đầu chạy chậm lại rồi hí lên the thé. Ở một nơi nòa đó bên sườn phía sau lập tức có tiếng ngựa cái hí đáp lại. “ Ngựa của Captanov “- Ivan thoáng nghĩ. Anh quay ngựa lại. Dường như hiểu rằng ý muốn của nó và chủ cùng trùng hợp như nhau, con ngựa ngoan ngoãn quay phắt sang bên, nhảy qua các bụi cây thấp, mang Saveliev đến một bãi cỏ ướt đẫm sương đêm.
Bên bìa bãi rừng trống, một chiếc xe ngựa đứng dưới những cây thông cành rậm rạm, đen sì, cách đấy một quãng Anna nằm sóng soài, phơi trần đôi chân trắng , còn Captanov đang nghiêng người lom khom chạy khỏi chỗ cô nằm, kéo lê chiếc thắt lưng bằng da, vừa chạy vừa rút khẩu súng maode nòng dài từ một chiếc bao bằng gỗ.
Toàn bộ cảnh tượng trên hiện ra trước mắt Ivan chỉ trong vòng một giây đồng hồ, và trong khoảng thời gian còn ngắn hơn một giây, Ivan hiểu ngay sự việc đã xảy ra ở đay. Ngay tích tắc đó , đầu anh sưng ù lên như bị nhét đầy thuốc súng, ý thức. tri giác bị bao phủ bởi một lớp gì cay và nóng.
Tiếng nói của Captanov làm anh tỉnh lại:
Cầu chúa đi Ivan. Những gì mày thấy ở đây, mày phải mang theo xuống âm phủ. Trên mặt đất này không ai được biết đến điều đó...
Qua tấm màn đen đang tăng dần, trước mắt Ivan dần dần hiện ra một khuôn mặt đỏ gay, đẫn nồ hôi của Captanov. Hắn đứng cách Ivan ba bước, tay trái gài cúc áo vét, còn tay phải lăm lăm chĩa vào anh nòng súng maode ám khói đên sì.
Ivan không còn nhớ anh đã nhảy xuống ngựa đứng đối diện với Captanov như thế nào và từ bao giờ.
- Mày...mày...sao mày có thể...anh lắp bắp từng tiếng nặng nhọc
- Việc đó mày không thể biết được đâu. Còn nó thì biết. Mày đến đây là ngu. Nếu không thì còn được sống.
Ivan hiểu rất rõ ngay bây giờ anh sẽ bị bắn chết. Bên thắt lưng anh cũng có súng, nhưng Captanov không để cho anh có thời gian rút ra, không cho anh được nhúc nhích lấy dù chỉ một ít. Và Ivan đứng bất động, đôi tay dài buông thõng. Một tay anh vẫn cầm chiếc roi ngựa ngắn.
Họng súng maode đen ngòm trong tay Captanov đã bắt đầu chyển động giật nảy lên.” Ngay bây giờ, ngay bây giờ “. Ý nghĩ như một tia chớp thoáng lên trong óc Ivan. Và không còn hy vọng gì nữa, anh nhanh như cắt vụt mạnh chiếc roi ngựa ngang mặt Captanov, rồi nhảy bổ vào hắn. Captanov nổ súng. Ivan cảm thấy như bị ai đó lấy càng xe nện vào vai. Không hiểu mình đã bị bứn chết hay chỉ bị thương, cũng không thấy Captanov lấy tay ôm lấy mặt, Ivan lại vung roi, lần này quật vào bàn tay cầm súng. Khẩu maode bị rơi xuống cỏ, Ivan nhảy bổ vào Captanov đưa hai tay thít lấy chiếc cổ gân guốc đầy lông lá của hắn, và ra sức bóp. Hai người cùng ngã lăn dưới đất.
- Ivan...Ivan!- Captanov thở khò khè, đầu lắc lư, râu cọ cả vào mặt Ivan.
Captanov khỏe hơn, hắn chống hai tay vào ngực Ivan đã yếu sức vì mất máu và hất anh ra không khó khăn lắm. Nhưng hắn không kịp đứng dậy, Ivan đã chộp lấy khẩu maode rơi trên cỏ và lại xông vào Captanov đang lồm cồm bò dậy và dùng hết sức ấn mạnh lòng súng vào ngực hắn bóp cò hai lần...
Anhkhông nghe thấy tiếng nổ. anh chỉ nghe thấy tiếng mấy con ngựa giật mình phì mạnh và lồng sang phía bên kia bãi rừng trống.

*
* *


Mặt trời đã lên cao từ lâu, tỏa nắng dịu xuống khu rừng. Một gió thoảng qua,từ từ làm se lại đám cả đẫm sương đêm.
Hai con ngựa đã hết sợ từ lâu, đứng kề đầu vào nhau. Con ngựa cái của Captanov cọ má vào chiếc mõm bẹt dí của chú ngựa đực. Một lát sau. Có lẽ vì đã chán những cử chỉ âu yếm đó, con ngựa đực bỏ đi ngắt cỏ ăn.
Chú sóc nhảy nhót trên cành thông phía trên cỗ xe ngựa, làm cho những chiếc lá nhọn vàng khô rơi xuống lả tả.
Captanov nằm hiền lành trên cỏ, hai tay doãi ra dường như đang nằm ngủ. Ven khoảng rừng trống , nơi ánh nắng mặt trời còn chưa chiếu đến, Anna cũng đang nằm bất động và im lặng. Ivan ngồi bên cạnh, đôi mắt trống rỗng nhìn không chớp một nơi nào đó trước mặt.
Từ khóe mắt nhắm ngiền của Anna, những giọt nước mắt vẫn chảy, chảy không ngừng. Máu loang đỏ cả vai trái Ivan.
Nếu như không có những giọt nước mắt kia và cái vai đẫm máu này, thì chẳng có gì có thể nói răngd trước đây nửa giờ ở đây có xảy ra một tấn bi kịch của cuộc đời, một tấm bi kịch của con người. Dường như ở đây chỉ có ba người bạn đồng hành dừng lại để nghỉ ngơi, hai người đang ngủ va một người canh cho hai bạn ngủ yên.
Lại thêm nửa giờ nữa trôi qua. Bỗng Anna nhỏm người ngồi dậy, và dữ tợn, đầu tóc dũ rượi , rối bù, cô hét lên , giọng lạc đi:
- Anh đến đây để làm gì? Hắn đã định bắn chết tôi sau khi...Anh ngăn cản lại để làm gì? Bây giờ anh hãy bắn tôi đi! Bắn tôi đi!
Và cô lại ngã vật xuống, lăn lộn trên cỏ, miệng rú như loài thú, mái đầu rũ rượi đập xuống đất. Ivan vẫn ngồi yên bất động như cũ, không khuyên giải. Chỉ đến khi Anna kiệt sức, nguôi dần, anh mới nói khẽ.
- Nhưng dù sao thì, Anna à, cũng phải sống. Còn về điều ấy...Anna ạ, sẽ không bao giờ và không ai biết được. Cần phải sống...

*
* *


Chiều ngày hôm đó, một chiếc xe ngụa bốn bánh đi vào xóm Datcova Balca đã bị du kích chiếm đóng. Những người mang súng vây lấy chiếc xe. Chợt có tiếng kêu.:
- Anna! Xem kìa! Anna đã bị mất tích của chúng ta về kìa! Phedor, Anna của cậu kia kìa!
Từ căn nhà đối diện với chiếc xe, Crugilin, Alienocov và Pancrat Nazarov đi ra.
- Có việc gì đấy? Anna, cô từ đâu đến đấy?– Grugilin đi đến hỏi. Chợt trông thấy Ivan, trán anh nhíu lại.– Saveliev?!
- Tôi...
- À-à, thằng thổ phỉ culắc, tự nó đã dẫn xác tới đây! – Phedor lách qua đám người miệng hét lớn.
Ivan dùng cánh tay còn lành hất xác Captanov từ trên xe xuống đất không hiểu để làm gì nói.
- Đây, Atamam của chúng tôi...tuy chỉ còn là cái xác. Còn tôi đây, các anh muốn làm gì thì làm.– Và Ivan ngồi xuống cỏ cạnh Ivan.- Muốn bắn thì cho một viên đạn vào trán. Chỉ có điều xin các anh làm nhanh lên.
- Ở chỗ chúng tao việc này chẳng phải đợi lâu đâu.- Vết sẹo còn mới trên má Alienicov giật giật,- Nào đi vào nhà. Xem xét xong - xin mời đứng vào tường.
Ivan đứng dậyvà bước đi, lưng gù xuống . Anna trứơc đó vẫn ngồi dửng dưng, lãnh đạm trước mọi việc xảy ra xung quanh, bỗng rùng mình gạt Phedor vừa bước đến bên cạnh ra.
- Đừng! Đừng! Các anh nên xét rõ thực hư. Đừng...- Anna thét lên thất thanh, như một con chim sã cánh hết chạy đến bên cạnh Crugilin, Alienicov, lại đến Nazarov, khi họ dẫn Ivan vào nhà.
Muốn là con chim chiếc lá
Con chim phải hót
Chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay lại không trả
Sống cho ai đâu chỉ sống cho riêng mình.

( LHM )
Đăng nhập để trả lời
0
Phần thứ Nhất
Ba anh em



Liếc nhìn chiếc đồng hồ quả lắc bằng sắt tây đang kêu cót két trên tường, Đima nhảy vội xuống giường, kim đã chỉ bảy giờ kém mười.
Xóm làng tắm trong làn sương mù dầy đặc.
Chỉ phía trên mái gỗ đẫm sương của mấy ngôi nhà ở gần là còn thấy mờ mờ những ngọn cây đang đang khẽ lắc lư, còn xa hơn, tất cả đều mất hút trong màn sữa đục, đến chiếc tháp canh cứu hỏa cũng ngất ngểu trên gò đất cao cuối con đường cũng không còn trông rõ.
Đima, mặc quần cộc và áo may ô, đứng co ro trong vườn rau, đưa mắt nhìn qua hàng giậu trơn đã mốc đen, hết sang phải – Phía vườn của nhà Iunichin, lại sang trái- Phía sân nhà bà Cascarova. Nhưng cả Nicolai Inunichin lẫn Victor Cascarov đều không thấy đâu cả. “ Chắc lại đang ngủ khì,- Đima ngáp, nghĩ thầm.- Thế này hôm nay lại có mà đi câu...” Và cậu đi ra bờ sông Gromotukha rửa mặt.
Những thân ngô ngả nghiêng , lá run rẩy sương hạt lên vai, những gốc khoai tây ướt lạnh đâm vào chân ran rát. Đôi chân của Đima tê cứng, đầy những vết chai sẹo sần sùi, trông như vỏ một quả dưa chuột.
Chạy đến bờ sông, Đima ngồi xuống bậc đá và buông thõng chân xuống dòng sông đầy cát ngập trong làn nước ấm. Ngay lập tức, những chú cá bống con xúm đến xỉa tới tấp vào bắp chân, ngón chân.
- Chúng mày...- Đima khẽ ngọ nguậy ngón chân.
Lũ cá bống vội chạy tản ra theo hình dẻ quạt, dừng lại cách chân của Đima chừng nửa thước, dường như đang suy nghĩ, thì thầm trao đổi với nhau, rồi thận trọng, nhưng tất cả cùng một lúc, bơi ngược trở lại.
Con sông nhỏ Gromotukha qủa là kỳ lạ. Nước trong suốt như gương, lòng sông không rộng lắm, những vụng nước cạn nằm khuất dưới các tán lá đan chéo nhau. Nhánh sông nhỏ này – gần như là một con suối – bắt nguồn từ nơi nào đó cách xa Santara, qua suốt đồng cỏ tới tận làng. Đồng cỏ trần trụi, không có lấy một bụi cây, chỉ thỉnh thoảng nổi lên những gò đất trọc ảm đạm, còn dọc theo hai bờ Gromotukha, mỗi bên rộng đến gần chục mét, mọc đầy các loại cay tạp rậm rạp. Ở đấy có cả hoàn diệp liễu, bạch dương, cả hoa kim ngân, rất nhiều dã anh và đặc biệt phúc bồn tử thì vô số. Nhưng nhiều hơn cả vẫn là loài thùy dương, mà ở Santara vẫn gọi là liễu trắng. Và tất cả đều bị các lọai cây hoa bia, hoa dâm đũm hương mọc bám quanh quấn quýt.
Những đám cây này gọi là biền sông Gromotuska. Mặc dù chúng không rộng lắm, bốn phía đều là đồng cỏ trống trải sáng sủa, đôi chỗ cũng vắng vẻ, hoang dại đến nỗi làm cho các bà ở Santara đi hái quả dại phải lắm hôm mất via. Những lúc đó, mặc dù bao nhiêu quả cây vừa hái được rơi vãi hết, mặc cho quần áo móc vào gai rách toạc, họ chạy bán sống bán chết ra đồng cỏ, rồi đứng đó, hai tay ôm lấy ngực mà hớp lấy hớp để cái không khí đăng đăng mùi ngải cứu.
Người ta đồn rằng ở trong các biền sông Gromotuska có rất nhiều điều bí ẩn.Có thể những điều bí ẩn đó chỉ hiện ra trong đầu một bà đi hái qủa nào đó khi bà ta len lỏi vào tận biền sâu, mà cũng có thể họ bỗng như nghe vẳng lại một tiếng rú rùng rợn làm sởn gáy, của con tinh lông lá bù xù, mà theo lời đồn đại, từ xưa tới nay vẫn sống cạnh đầm nước to nhất trên sông Gromotukha – cái đầm nước ấy vì vậy mà có tên là đầm Tinh. Ở Santara có người còn khẳng định rằng chẵng những họ đã nghe thấy tiếng rú khủng khiếp đó, mà còn thấy vào lúc tờ mờ sáng và chập choạng tối cái đầm nước khủng khiếp đó như sợi len, một người to lớn, đen trũi quay tròn trong đầm nước sẫm, đuổi những con sóng nặng chạy ra tứ phía.
Đến cạnh làng, biền sôngGromotukha trở nên thưa hơn. Hoàng diệp liễu và bạch dương đã dừng lại từ xa, hoa kim ngân cũng rần rần rời bỏ con sông. Nhưng dòng sông nhỏ vẫn chảy về phía trước, qua những vườn rau, những đường làng nhỏ hẹp. Và bây giờ, chỉ còn những hàng liễu trắng đi theo sông, vẫn như xưa, nghiêng mình sát mặt đất cúi chào ân nhân và người chủ củamình.
Ra khỏi làng, Gromotukha chảy xuống một trũng thấp,- ở đây những bãi đá và lau sậy rậm rạp đang đợi nó - rồi lặng lẽ chạy hòa vào con sông rộng đầy nước Gromotukha
Sông Gromotukha lắm các giống cá còn ở Gromotukha có mỗi cá bống và một ít cá thyman sống trong các đầm nước sống trên các đầm nước phía trên nguồn. Về mùa đông, con sông Gromotukha hùng dũng bị đóng băng, chết cứng lại - có năm, băng dầy đến mét rưỡi,- còn Gromotuska nhỏ bé vẫn chưa bao giò phải khoac một lớp vỏ băng dù chỉ mỏng một phân mét thôi.
Không có một đống tuyết nào có thể làm nghẽn được nó- tuyết sẽ tan ra trong làn nước cạn của Gromotuska, như tan trong nước nóng. Băng tan cũng không thể làm nó đông cứng được. Suốt mùa đông, con sông nhỏ Gromotuska cứ bốc hơi ngùn ngụt, những đám hơi nước trắng tụ lại, trôi trên các biền sông Gromotuska như trên các mái nhà tắm hơi, còn cây cối đứng nặng trĩu những cành bao bọc trong một lớp băng dầy, mấp mô và trong suốt. Chỉ chạm nhẹ một cái, lớp băng phủ sẽ kêu lanh canh vỡ ra thành những mảnh vụn như thủy tinh, và cành cây trơ ra trần trụi.. Nhưng chỉ độ ba hay bốn giờ sau, nó lại được mang một lớp băng dầy, còn diêm dúa hơn trước.
Đến cả những đợt giá rét hung hãn nhất cũng bó tay không thể làm gì được con sông Gromotuska nhỏ bé. Chỉ có làn sương mù trên sông là dày hơn, nặng hơn và lớp áo băng trên các cành cây thêm sang trọng, rực rỡ hơn mà thôi.
Đima vỡ nước lên khuôn mặt đầy tàn nhang và lại nhìn qua hàng giậu, hết sang phải rồi sang trái...” Vẫn đang ngủ...”
Vừa lúc đó, cánh cửa nhà Lukeria Cascarova kẹt mở và Cascarova- Ở làng, mọi người vẫn gọi mụ ta bằng cái tên đó – bước ra, chạy vội đến nhà ngang, nơi dùng để nuôi gia súc.
Phía sau dãy Dveigora mặt trời hình như bắt đầu lên, màn sương mù bao phủ trên làng Santara đã chuyển sang màu hồng lấp lánh. Chiếc tháp cứu hỏa cũng dần dần hiện ra rõ nét, mắt thường có thể nhìn thấy những mảng sương màu hồng thẫm đang trườn qua những cành dương lớn, liếm ướt từng ngọn lá.
Trong nhà ngang của Cascarova nghe có tiếng gà kêu, rồi mụ bước ra, một tay cầm con dao làm bếp, tay kia xách con gà mái vừa mới bị cắt tiết.
- Bà Lukeria ơi,- Đima bước đến bên hàng rào gọi,- Victor đang làm gì ở trong ấy? Chúng cháu hẹn nhau đi câu cá...
- Cá nào? Câu cá nào?- Mụ Cascarova lắp bắp và như sợ hãi điều gì, kêu lên.– Thằng Victor hôm nay không đi đâu! Cái quân lêu lổng này, lạy chúa ngài xá tội cho con...
Và mụ biến vào nhà. Đima nghe tiếng cài then cửa lách cách . “Y như chuột ấy,- Đima lẩm bẩm: Ban ngày mà cũng chốt cửa. Không biết mụ ta đang làm trò gì?”
Những dải nắng màu vàng nhạt giờ đã xé nát màn sương mù, xuyên qua các cành dương , chiếu xuống đất. Chúng rất nhiều , có những dải rộng như tấm phản, lại có những dải như sợi tơ và giữa vân là những dải sương mù. Nhìn chúng Đima có cảm tưởng như những dải nắng đang đung đưa, sờ sọang trên mặt đất.
Một chiếc lao phóng thanh đặt trên bãi đất rộng cách đấy không xa, cạnh ngôi nhà gỗ lớn, nền gạch, dùng làm trụ sở huyện ủy, bắt đầu nói.
- Đây là đài phát thanh Moskava,- Tiếng phát thanh viên vang lên khắp làng,- Xin chúc mừng các đồng chí và các bạn một buổi sáng tốt lành.–Hôm nay là chủ nhật ngày hai mươi hai tháng sáu...
“ Ở Moskava bây giờ làm gì có buổi sáng?! ” Ở Moskava bây giờ là ba giờ đêm. Trời chỉ bắt đầu hửng “ Đima nghĩ thầm.
Từ chiếc loa, tiếng hát vang ngân. Bài hát rất hay, bao giờ Đima cũng thích nghe:
Nắng sớm mai hồng
Nhẹ phơi phới lòng
Chiếu trên đường cổ kính Gremli...
Đima lắng nghe, và dù ở Moskava xa xôi giờ hãy còn là ban đêm, cậu vẫn tưởng tượng ra những tia nắng mặt trời đang nhuộm hồng những bức tường đá điện Gramli mà cậu chỉ được thấy trong phim và tranh ảnh.
Semion, anh cả Đima, bước ra vừơn rau, nheo mắt nìn về phía mặt trời và vươn vai, các khớp xương kêu răng rắc. Bỗng nhiên anh cúi lộn người lại, đứng bằng hai tay và đi về phía bờ sông Gromotuska. Lúc qua luống cà rốt, anh nhẹ nhàng nhún người trên đôi tay, rùng răng nhổ một cây còn nhỏ, màu xanh nhợt, và ngậm trong miệng mang đến bên bờ nước.
Đây chỉ là một tiết mục bình thường của Semion. Anh tham gia nhóm tập võ xambô và còn biết nhiều thứ khác. Trong bụng, Đima rất thèm làm được như anh, nhưng cậu tỏ vẻ thờ ơ và quay mặt đi.
Trước khi rửa mặt , Semion giũ giũ củ cà rốt trong nước suối trong suốt và cắn đánh rắc ngay một nửa, mắt nhìn Đima.
- Thế nào.
- Cái gì? Đi bằng tay ấy à? Tưởng giỏi lắm đấy...
- Cái thằng...chỉ phét. Thử xem nào?...
- Việc dễ không!- Đima cáu tiết kêu lên và cố đứng bằng hai tay. “ Dễ ngã ra sau lưng lắm...- cậu thoáng nghĩ.- Làm nát khoai tây mẹ cho một trận...” Chỉ vừa kịp nghĩ đến đây, Đima đã nghe tiếng la hét của mẹ ập xuống đầu:
- Mày làm nát khoai tây của tao bây giờ, Đima!
Thế là cậu ngã sóng soài ra đất, lưng đè lên luống khoai tây, chân tay duỗi thẳng.
Bà mẹ kêu thét lên, Đima thấy đôi mắt lo lắng của mẹ đang cúi sát mặt mình, liền nhảy vùng dậy.
- Thế nào?! Thế nào? Mẹ giật mạnh tay cậu hai lần. Rồi bà quay sang Demion .- Mày bày cho thằng bé cái trò gì thế? Nhỡ nó gãy tay, sái cổ thì sao hả?
Thấy mẹ vừa ngoảnh đi, Đima liền chạy ra khỏi vườn rau.

*
* *


Bên bàn ăn trong gia đình Saveliev bao giờ cũng im lặng. Chủ nhà Phedor Silanchievich Saveliev không ưa vừa ăn vừa nói chuyện.
Nhưng cái trận tự thiêng liêng đó bị cậu bé mười tuổi Andrei– Thành viên bé nhất cảu gia đình- phá vỡ. Húp được hai, ba thìa súp. Cậu khịt khịt mũi và nhắc đi nhắc lại một câu:
- Mẹ-ẹ! Cho con đi câu cá nhé?...
Vợ của Saveliev, Anna Mikhailovna, vẫn im, lặng như không nghe thấy tiếng van vỉ của cậu con trai út.
- Thôi thì để cho nó đi, không mất đâu mà sợ,- cuối cùng Semion không nhịn được lên tiếng.
Người bố liền quảng chiếc thìa xuống, giận dữ lau chòm râu mép đen, ướt đẫm nước sốt mì ống.
-Này, Semion, tao bảo...Khi bằng tuổi mày, tao đã chỉ huy một phân đội kỵ binh, chém đầu bọn bạch vệ,- và không hiểu sao, ông lại chỉ lên bức tường phái sau lưng, nơi treo bức trân dung phóng to từ một tấm ảnh cũ của bố ông, Silanti Saveliev. Còn mày, tuy đã hai năm lái máy kéo, vẫn ham nghịch như lũ trẻ chăn bò ấy.
Semion ngước nhìn lên bức chân dung người ông. Cha anh rất giống ông nội, cũng vầng trán rộng và cặp lông mày mọc khít vào nhau, cũng bộ ria đen trên cặp môi dầy, sống mũi thẳng với hai lỗ mũi rộng, mái tóc đen cứng sổ tung ra tứ phía. Chỉ có cằm của cha không giống cằm ông. Cằm của ông dẹt với một ngấn sau ở giữa. Còn cằm của cha dốc đứng chắc chắn, với chòm râu rễ tre rậm và có lẽ cũng cứng như thép.
- Nhưng cha ạ, bây giờ đâu còn chiến tranh...thay vào phân đội kỵ binh, con có máy kéo...
Phedor quay mặt nhìn ra cửa sổ, châm thuốc hút, rồi lấy bàn tay đạp mạnh vào cánh cửa sổ. Một bông hoa hướng dương sắp nở, màu xanh sẫm, sần sùi, đẫm sương sớm, lắc lư, ngả nghiêng ngay bên cửa sổ. Từ giữa nụ hoa đã nhú lên một vài cánh hoa màu vàng rực như những tia lửa.
- Thế mày đi câu cá đấy à?
- Hôm nay chủ nhật, con còn làm gì nữa? Máy kéo con đã sửa xong từ lâu rồi, Semion đáp.
- Còn tao cũng đã sửa xong chiếc máy liên hợp từ lâu. Thế không cần giúp người khác nữa à? Hay là tay cứng lại rồi?
- Để họ tự làm lấy. Con hít hơi xăng như thế cũng đủ rồi, giờ muốn thở tí một ít không khí sạch ngoài sông...
- Me-ẹ, cho con đi câu cá với nhé?- Ander lại nài nỉ.
- Cái thằng bám dai như đỉa! mẹ tức giận nói.- Thôi cút đi cho rảnh!
Ander nhảy vội xuống ghế và chạy vụt ra cửa, Đima cũng phóng theo sau.
- Không họ cứ quen thói ngồi mát ăn bát vàng.- Và Semion cũng đứng lên.
- Họ là ai?
- Đấy, chẳng hạn như tay chúa lười Anikev Elizarov. Hoặc lão sâu rượi Kirian Iniuchin, bạn của cha đấy. Đáng lẽ phải tống cổ bọn họ ra khỏi chạm máy kéo từ lâu rồi, mà cha thì cứ cố giúp họ, nai lưng ra gánh cho họ. Còn con thì chịu thôi.- Semoin bước ra khỏi phòng.
- Đồ ngu, mày là thằng ngu!- người cha nói với theo.
- Phedor!- Anna kêu thốt lên.
- Còn cô- Im đi! Im đi!– Phedor quát lên dữ tợn. Rồi ông bứoc dọc theo gian phòng giong đã bình tĩnh hơn, tiếp: -Có một cái gì đó..cơ bản nhất trong cuộc đời này của chúng ta , Semion chưa hiểu. Đấy mới là điều đáng lo. Thôi, tôi đi đây. Gói cho một tí gì ăn trưa. Chắc phải đến tận nơi mới ra khỏi xưởng sửa chữa được.
Khi Phedor đi rồi. Anna ngồi xuống ghế bên cửa sổ và mải miết nhìn rất lâu bên bông hoa hướng dương đang sắp nở. Và không hiểu sao, Anna bỗng nghĩ rằng bông hoa này sẽ không bao giờ nở để hướng khuôn mặt hồng hào của mình ra đón ánh mặt trời. Bà lấy góc tạp dề lau những giọt nước mắt đang lặng lẽ trào ra.
Anna hiểu vì sao Phedor không yêu quý người con trai cả. Cả hai đứa sau Điam và Andrei, đều giống bố, cũng nước da ngăm ngăm và mái tóc đen sẫm, cũng cặp lông mày đậm và vầng trán rộng. Đến dáng đi của hai đứa cũng giống hệt như bố, đặc biệt là Đima- mạnh mẽ, tự tin, hơi khệnh khạng. Và mắt đen, sâu, sáng và sắc như mắt của Phedor. Còn người con trai đầu, Semion, lại giống mẹ, tóc màu hạt dẻ, da trắng, mắt xanh...
- Tôi với cô nặn nó ở trong hầm phải không nhỉ? Cô không nhớ à?- Khi Semion bắt đầu lớn, Phedor thường nói với Anna như vậy và mỉa mai nhếch bộ ria mép đen và nhọn cứng cười nhạt. Anna nghe như có một cơn lạnh buốt chạy khắp toang thân. “ Anh ấy không tin..đó là giọt máu của anh ấy...rằng anh ấy là cha!...
Một lần Anna đã thử làm cho chồng phải xấu hổ về những mối nghi ngờ không căn cứ của mình. Phedor ngồi nghe rất lâu và chăm chú. Khi đã hiểu vợ muốn nói gì, anh vỗ mạnh xuống mặt bàn bằng gỗ:
- Thôi đủ rồi! Tôi biết...tôi lấy cô dâu đâu còn là gái tân nữa!
- Phedor!
- Thôi!- Phedor tái mặt, cao giọng- Đã bảo là đủ rồi mà...
Ông chống khuỷu tay xuống mặt bàn, thọc cả mười đầu ngón tay vào mái tóc đen dầy và riết chặt. Ông ngồi như thế một...hai phút trôi qua...
- Chuyện này ta chấm dứt ở đây, Phedor nói ngước cặp mắt đục ngầu, nặng trình trịch lên nhìn Anna. Đáng lẽ phải dùng gươm mà chém cô, đồ đê tiện ra làm dăm mảnh, nhưng dù sao tôi vẫn yêu cô. Hơn nữa, lại sinh được Đima, thằng này là của tôi.
- Thế Semion là của ai?
- Ta chấm dứt ở đây...- Phedor không nghe, gầm lên,- Từ nay về sau không một lời nào nữa! Tuyệt đối! Nếu như cô còn muốn sống... trong nhà này....
Và họ sống, người ngoài không ai nói tồi cả. Phedor nghiêm khắc và ít nói, nhưng những ngày hội hoặc ngày sinh bao giờ ông cũng có một món quà nào đó. Phần lớn chỉ là những vật không đáng kể.- Một tấm khăn quàng hay mấy đồ nữ trang cài áo bằng thủy tinh. Nhưng vấn đề đâu phải là giá bao nhiêu! Và với Semion ông vẫn đối xử đúng mực, không có gì phân biệt với những đứa con khác. Chỉ có thỉnh thoảng như hôm nay, bỗng dưng anh lại sinh ra cãi lộn với đứa trai cả vì những chuyện không đâu. Và lại nữa, đêm đêm đôi như bị cái gì đó xâm chiếm dằn vặt, ông nằm bất động hầu như tới sáng, người lạnh như băng, và trong bóng tối, Anna thấy mắt của chồng ánh nên những tia khô, sắc. Anna cũng biết thế nghĩa là gì? Cuối cùng, vẫn câm lặng và thô bạo, Phedor kéo vợ sát vào bên mình, với một sự tàn nhẫn và cuồng loạn tới tuyệt độ, vò bộ ngực nhỏ bé của bà đến thâm tím, bầm máu, bóp chặt đôi xương vai như muốn làm cho gãy vụn. Anna cảm thấy trong con người Phedor có một cái gì thú vật trỗi dạy, và ông trả thù bà, một cách vô ý thức, vì sự có mặt của Semion.
- Phedor! Phedor!- Anna thét lên sợ hãi.
Tiếng kêu dường như làm cho Phedor tỉnh lại, nằm im.
Không, Anna không lên án Phedor. Bà hiểu những đau khổ của chồng. Semion là con của ông, con của Phedor. Anna biết rõ điều đó, nhưng không thể nào làm cho Phedor tin được. Và Phedor có quyền không tin...
Đúng, họ sống, người ngoài không ai nói tồi cả. Nhưng cũng không ai nói được Anna có yêu chồng hay không. Và chính Anna bây giờ cũng không nói được điều này. Trước đây, có lúc Anna yêu đến say mê, mất trí, đã có lúc Anna đem tình yêu của mình tưới ngập Phedor như cơn mưa rào mùa hạ tưới tràn mặt đất. Những dòng nứơc đã cuồn cuộn chảy khắp nơi; những thung lũng sâu đồng thấp đã trắng băng; chỉ còn những cây lau lá nhọn dẻo dai và những bông hoa mẫu thảo thân cao nhô trên mặt nước sủi bọt dưới những giọt mưa căng như dây đàn; và dòng sông Gromotukha đã đục ngầu nước lũ,- mà cơn mưa rào vẫn trút , vẫn giội xuống ào ào...
Nhưng rồi những sợi dây đàn mưa trở nên chùng hơn, thưa hơn. Nhưng rồi như có ai vung chiếc rây khổng lồ hứng ngang cơn mưa, cắt những sợi mưa ra thành từng giọt. Và mặc cho mưa vẫn rơi xuống dưới dày đặc, chúng bây giờ chỉ có những giọt mà thôi. Đầu tiên, những giọt to hơn, nặng hơn rơi xuống , sau đó là những hạt nhỏ li ti, rơi rất lâu. Và cuối cùng cơn mưa hoàn toàn chấm dứt. Những vũng nước theo các mương rãnh, khe lạch lần lượt chảy hết vào dòng sông Gromotukha không bao giờ đầy, còn trong các chỗ trũng mọc đầy cỏ, nước dần dần thấm vào lòng đất, để lại trên đáy một lớp bùn ướt lấp lánh dưới ánh mặt trời. Chẳng mấy chốc bùn khô đi tạo thành một lớp vỏ mỏng. Mấy giờ sau, lớp vỏ bùn này sẽ nứt ra cong lại, như vỏ bạch dương phơi, rồi biến thành bụi dưới ánh mặt trời khô nóng. Một làn gíó thổi đến cuốn bụi rắc khắp nơi, làm sao động ngả nghiêng những ngọn lau nhọn, những bông mẫu thảo trắng vừa mới đây đứng run rẩy trong mưa, và các loài cỏ dại hoa đồng khác.
Đôi lúc, Anna nhớ lại lần nói chuyện cuối cùng với người cha đáng nguyền rủa của mình. “ Ông còn khoe cái gì?! Ông sống như một loài thú vật,,,- lúc đó Anna thét vào bộ mặt đầy lông lá của cha.- Nhưng còn có một cuộc sống khác – cuộc sống của con người”...” Người ta có cho mày đến cuộc sống đó không?– cha bà mỉa mai hỏi.– Sớm muộn gì rồi người ta cũng nhớ mày là con của ai. “
Không có ai nhắc tới Anna là con của ai. Nhưng cuộc sống mà Anna khao khát, Anna mong muốn đến thế, cũng không có được.
Lúc đầu Anna cho rằng tất cả là lỗi của người cha ác ôn. Nhưng rồi bà bắt đầu nghĩ: có phải là chỉ mình ông ta có lỗi hay không?
Muốn là con chim chiếc lá
Con chim phải hót
Chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay lại không trả
Sống cho ai đâu chỉ sống cho riêng mình.

( LHM )
Đăng nhập để trả lời
0
Tất cả các con đường làng Santara đều như hẹn nhau cùng chạy xuống phía dưới, đến gặp con sông Gromotukha. Những đường lớn bị giẫm nát, đầy bụi, còn các ngõ nhỏ quanh co thỉnh toảng mới có một chiếc xe ngựa chạy qua thì mọc lút cỏ, có nơi ngải cứu và cỏ ngưu bàng ken đặc đến nỗi muốn len qua cũng không phải dễ.
Chỉ có con đường chính trong làng– “ đường cái “ như người ta thường gọi,- là được lát đá, hai bên đường có rãnh thoát nước, hàng dương trồng rất dày và vỉ hè được lát bằng gỗ.
Dọc theo con đường cái vắng vẻ trong buổi sáng sớm chủ nhật này, ba anh em nhà Saveliev và Nicolai Iniuchin – một cậu thiếu niên mười lăm tuổi, có biệt hiệu là “ Carca- Socol “, người cao vồng y như một đấu hỏi lớn – đang rảo bước.
- Vừa rồi tao nhìn qua hàng rào thấy chị mày đang nói gì với mày,-Semion nói,- Tao nghĩ chắn lại không cho thằng bé đi câu rồi.
- Đâu có. Chị Vera chỉ hỏi xem bọn mình đi câu cá ở đâu. Em bảo, ở sông nhánh Gromotukha. Hôm nay anh cho bọn em xem miếng võ “ máy xay “ nhé?
- Sẽ cho xem,- Semoin đáp, nhưng đầu còn mải nghĩ đâu đâu.
Ra khỏi cổng làng, cả bốn anh em đi ra cánh đồng cỏ đã bắt đầu ngả sang màu hung đỏ, qua hàng chân trụ bằng gỗ của hệ thống đường dây điện cao thế với những thanh dây đỡ đầy phân chim, dọc theo một lũng nhỏ cỏ mọc xanh tốt để đến con sông nhánh Gromotuska nhỏ bé.
Đến đây, Victor Cascarov, bạn cùng tuổi của Đima, đuổi kịp họ, miệng thở hổn hà hổn hển.
- A, Victor!- Đima mừng rỡ reo lên. Thế mà mẹ cậu bảo là cậu không đi!
-Thiếu gì chuyện bà ấy bảo...- Victor lẩm bẩm, đưa cặp mắt có điều gì không vui nhìn ra chỗ khác.
Trên bầu trời xanh quang đãng, mặt trời như bị nung chảy đã xua tan nốt chút sương mù buổi sáng còn sót lại và đổ từng dòng thác nóng bỏng xuống mặt đất. Những vệt nắng phản chiếu trên mặt nước làm nhức mắt. Ở cạnh bờ chúng hầu như không có, ra chừng ba, bốn mét mới có một vài vệt màu vàng nhạt thưa thớt rập rờn trên sóng, càng ra xa những vệt nắng càng nhiều, càng to hơn, và ở giữa dòng chúng hòa thành một dải dày đặc chói chang.
Cả bọn vội vã moc mồi vào chiếc lưỡi câu, rồi ngồi nhìn phao chăm chắm. Trên chiếc mũi sầy da của Andrei, mấy hạt mồ hôi li ti rịn ra vì căng thẳng. Chỉ có Victor Cascarov vẫn đang loay hoay buộc dây cước vào cần câu. Rồi như quên việc câu cá của mình, quên cả mọi sự việc trên đời, cậu ngồi bất động nhìn ra xa, ở một điểm nào đó ở bên kia con sông nhánh, nơi mấy câu liễu mọc cạnh bờ dốc một hòn đảo nhỏ đang mềm mại buông cành xuống vạch những đường nông trên bờ nước xiết.
- Đây rồi!- Đima bỗng hét toáng lên và giật từ mặt nước lên một chú cá nhỏ.
Tim Andrei thót lại vì thèm thuồng, cậu ta bắt đầu giật lia lịa.
- Mày đừng có vội, Anderei ạ, Semion nói và liếc nhìn Victor ngồi trên bờ đá, mắt vẫn nhìn sang phía hòn đảo.
Múc đầy một xo nước, Đima ném cá vào. Con cá quẫy mạnh làm nước bắn tung tóe. Iniuchin cắm cần câu cảu mình xuống cát và chạy đếm chúi chiếc mũi khoằn của mình trên xô nước, trông cậu càng giống hệt cái dấu hỏi.
- Cũng tàm tạm,- Iniuchin nói một cách kẻ cả. Tuần vừa rồi tớ đi câu ở dưới chân dãy Dvenigora. Vừa mới bỏ mồi xuống là cu cậu đớp liền. Cần câu tớ liền đánh rắc một cái, gãy đôi. Nó liền kéo khúc ngọn ra tận giữa sông. Tớ liền để cả quần áo nhảy ào theo.
- Đừng có bịa, Semion nói.
- Bịa cái gì?! Con cá rô bằng chằng này này! Đồ chết tiệt, nó lủi mất. Đuổi không kịp.
- Làm sao cậu biết là cá rô, Nicolai?- Đima hỏi.
- Còn cái gì nữa!? Nicolai tự ái. Trên mình nó có sọc hẳn hoi. Ngoài nó ra không còn con nào khác.
Chiếc phao của Andrei bỗng chìm sâu xuống nước. Bị bất ngờ , Andrei ngồi bệt xuống đống cát ướt, rồi cậu chồm dậy giật mạnh cần câu, tiếng dây câu xé nước kêu đánh soạt. Chiếc dây câu bật lên khỏi mặt nước, dung đưa tên sợi dây cước kéo căng. Andrei vừa bước đật lùi , vừa kéo chiếc cần câu về phía mình. Một con cá gì đó rất khỏe. Andrei cảm thấy nó đang quẫy manh ở đầu dây, đang cố sức lôi ra sông. Cần câu bằng cành liễu oằn cong lại, kêu răng rắc, và chiếc phao lại chĩu xuống chạm mặt sông, rồi ngập trong làn nước lạnh.
- Đứt mất! Đứt dây mất! Victor như trút bỏ sự trầm ngâm của mình, hoạt bát hẳn lên, kêu rối rít.- Nới ra một tí! Hạ thuống, hạ thuống cho nó một ít. Cậu thét líu lưỡi, không nhận ra là hạ xuống nói thành hạ thuống. Ôi! Nó đi mất, nó đi mất thôi!
- Đừng có động vào! Andrei hét lên.
- Mặc kệ nó, Victor, cứ để tự nó. Simion mỉm cười nhìn cậu em út nói.
Đima và Nicolai cũng quang cần câu nhảy cẩng xung quanh Andrei, tranh nhay bày cánh. Bặm môi lại vì hồi hộp, cậu tiếp tục giằng co với chú cá. Và cuối cùng, có lẽ cậu nghĩ: Muốn ra sao thì ra! Liền lấy hết sức giật mạnh cần câu. Chiếc phao vọt lên mặt nước, và dường như đuổi theo chiếc phao, một chú cá rô to tướng bay vút lên theo, vẽ thành hình một vòng cung lấp lánh màu vàng xanh dưới ánh mặt trời, tuột khỏi lưỡi câu, rơi đánh phạch trên bờ đá cạnh mép nước. Andrei hét to, nhảy chồm tới, lấy ngực đè lên và cười một cách khoái chí.
Sau đó cả bọn lần lượt truyền tay nhau ngắm nghía con cá rất lâu một cách thèm thuồng.
- Bỏ nó vào xô đi, không nó chết ươn ra bây giờ. Andrei đang mắc con mồi mới vào cần câu, ngoảy mặt lại ra vẻ không quan tâm đến con cá, cố lấy giọng dửng dưng, nói. Làm như chưa bao giờ thấy cá không bằng.
Mày gặp may rồi đấy, em ạ. Semion nói. Cái loại lớn tướng này ít khi ăn mồi run lắm!
Thế này thì gì mà lớn tướng! Nicolai thả chú cá vào xô nói, năm ngoái ở sông Gromotuska em...Em với chị Vera đi hái phúc bồn tử .MÀ em thì bao giờ cũng mang theo dây câu. Em nghĩ, nào ta thử kiếm lấy dăm chú cad thyman nấu nồi canh cá cho bữa trưa. Chị Vera rất thích canh cá mà, không hiểu cậu giải thích để làm gì, rồi nói tiếp. Còn phúc bồn tử bọn em hái ngay sát đầm tình...
- Ở đâu, Ở đâu? Simion rời mắt khỏi chiếc phao, hỏi.
- Cái gì ở đâu? Nicolai nhấp nháy đôi mí mắt nhạt màu. Cạnh đầm tình. Ở đó phúc bồn tử nhiều vô số! Chỉ có việc bốc từng làn. Các bà sợ không dám đến đấy...Còn chị Vera lại rất thích ăn quả mà, chị ấy rủ: “ Nicolai, ta đến đấy đi..” Thế là đi.Sao, không tin à?
- Cứ bịa tiếp đi, Đima nói, mắt vẫn chưa rơid xô nước, thầm so sánh cá của mình và cá của Andrei.
- Mày bịa thì có...Nicolai quay lại nhìn Đima và giận đỗi im lặng.
Cả bọn im lặng quang mồi thêm chừng mười lăm phút nhưng cá không cắn mồi nữa. Để nứm mồi được xa hơn, Andrei lội xuống sông, nước đến ngang hông. Cú mội lần móc mồi mới vào lưỡi câu, cậu lại cẩn thận nhổ nước miếng vào , cho rằng như vậy mồi sẽ ngon hơn. Nhưng tất cả đều vô hiệu.
Mặt trời đã lên cao tỏa lửa ra khắp nơi, làm bầu trời từ màu xanh dịu trở nên trắng đục. Hơi nắng từ trên cao đổ xuống từng đợt, dìm hết mọi âm thanh, chỉ trừ tiếng vỗ nhè nhẹ của những con sóng đang liếm mãi bên lên bờ đá cuội tròn. Không hiểu sao, những con bướm cải cứ liên tục đậu xuống các hòn cuội ướt này và chấp chới đôi cánh trắng gân đen, chúng chỉ bay khi một đợt sóng mới lại xô tới.
- Thế mày bắt được con gì ở đầm tinh, Semion hỏi.
- Chẳng bắ được gì cả, vẫn còn giận dỗi, Nicolia lầm bầm. Nhưng chỉ một lúc sau, cậu đã bắt đầu kể. Thế là em đi đến bên đầm. Sợ thật đây. Tự nhiên em nghĩ: Con tinh từ bên bụi rậm hiện ra thì làm sao? Trống ngực đập thình thịch, chị Vera thì đang chui đâu khuất trong bụi cây.Thế rồi em đến bên đầm nhìn....
- Sao nữa? Đima suốt ruột kêu lên. Con tinh hả.
Victor quên chiếc cần câu của mình, cũng ngoái đầu lại phía Nicolai. Nhưng ánh mắt Victỏ không dừng trên mặt bạn mà chỉ bay ngang để đến một đám mây xốp nhỏ vừa mới bất ngờ hiện ra nơi chân trời, ánh mắt thờ ơ trống rỗng. Chỉ có Andrei ngập sâu trong nước, người cúi gập về phía trước như sắp ngã xhúi xuống sông, mà vẫn giữ chặt chiếc cần câu trong tay giơ cao đã cứng đờ và mắt vẫn không rời khỏi chiếc phao.
- Em nhìn... và thấy một đôi cá Thyman rất to đang bơi nổi trên mặt nước. Nào, em nghĩ, thử xem... Cố thật khẽ để khỏi làm chúng sợ, em vung cần câu. Mồi chưa kịp chìm xuống nước chúng đã tranh nhau lao tới đớp, một con nuốt chửng cả lưỡi câu và kéo phao chìm ngỉm xuống ! Bỗng nhiên.....
- Có tiếng con tinh cời trong bụi!- Đima thêm vào.
- Tao nói thật, còn chúng mày cứ...Nicolai lắc chiếc đầu cắt ngắn, nói. –Con cá thymam vừa lặn xuống sâu, thì giữa đầm nổi lên một cột nước, kêu ầm ầm!...Tất nhiên, em sợ hết hồn, khắp người nổi gai ốc. Cái gì? Phải lúc ấy chúng mày ở đấy... Lại còn chính giữa đầm nhô lên một cái đuôi cá chẻ đôi to bằng chừng này. Và Nicolai vung hai tay ra hiệu chỉ chiếc đuôi to gần bằng sải tay. Nó quẫy một cái và nước bắn tung lên như mưa rào, làm ướt hết cả người. Em giật mạnh một cái, đến nỗi dây câu kêu đánh phụt...
- Đứt mất! Andrei kêu to và bước lên bờ để móc con mồi mới, Nicolai thế con cá gì vậy? con măng á?
- Tớ không biết, Nicolai thở dài.
- Cá măng đấy! Đúng là cá măng!– Andrei khẳng định. Cha có lần kể rằng trong các đầm lớn trên sông Gromotuska có cá măng đấy.
- Cũng có thể là cá măng.
- Chắc là cá mập đấy, Đima vừa cười vằ nói. Đuôi như vậy chỉ có cá mập thôi.
- Cậu thì chẳng bao giờ tin cả! Nicolai giận dỗi ngoảnh mặt đi.
- Về một mặt nào đó mà nói, cái cậu bé Nicolai này quả là khác thường. Với cậu bao giờ cũng xảy ra những chuyện phiêu lưu kỳ lạ. Khi thì cậu bị con chó nhà nào cắn rách quần , khi thì ngồi trên lớp bỗng nhiên không ai dụng chạn đến, khẩu súng diêm tự tạo ở trong túi cậu phát nổ, xé thịt ở đùi rách đến tận xương.
Ba năm trước đây, cậu đánh cuộc với bạn sẽ nhổ được sợi lông đuôi con ngựa rất hung dữ của văn phòng huyện ủy, có biệt hiệu là “Carca- Socol “, để làm dây câu. Con ngựa này thuộc giống rất hiếm toàn thân màu nâu thẫm gần như một con ngựa ô, nhưng bờm và chiếc đuôi rất dài lại trắng toát như cước bạc. “ Nó là giống mêrinot đấy “ bác chăn ngựa của văn phòng huyện ủy Evsei Galánin giảit thích với vẻ tò mò khi bác thả ngựa cho ăn đêm ở sau làng. Thấy bọn trẻ không hiểu được những từ xa lạ đó, bác liền nổi cáu: “ Cút khỏi đây đi, lũ quạ con! Tao biết chúng mày lại muốn nhổ lông ngựa chứ gì? Nó lại đá cho vỡ quai hàm bây giờ...’’ Và buộc vào đôi chân trước con ngựa vòng dây tróng bằng lông bện rất chắc chắn, bác bỏ đi, dáng người thẳng, nghiêm như cây sào.
Sợi lông đuôi ngựa trắng là cả một sự mơ ước. Nhưng chưa ai nhổ được, dù chỉ là một sợi thật nhỏ. Con ngựa chỉ cho mỗi mình ông già Evsei tới gần. Thấy bóng bất kỳ một người lạ nào khác, nó liền hất cao đầu, nhe những chiếc răng dài, dẹt như răng chó và xoay chân sau lại một cách đầy hăm dọa.
Cả bọn kéo nhau đi giải quyết cuộc thách đố vào lúc chập tối, khi ông cụ Evsei theo thông lệ thả ngựa ra ăn ở đồng cỏ.
- Đứng ở đây mà nhìn, Nicolai đứng cách con ngựa chừng hai trăm mét và nói. Không được tới gần đấy.
- Tại sao? Đima tò mò hỏi.
- Nguy hiểm, -Nicolai đáp có vẻ khinh mạn. Lỡ nó nổi khùng lên, rồi nhảy vào chúng mày thì sao? Nó giẫm nát chúng mày ra, còn tao lại chịu tội...
Lời dọa quả có tác dụng. Cả bọn dừng lại. Một mình Nicolai đến bên con ngụa, tất cả đứng lại nhìn theo, nín thở, thèm muốn sự dũng cảm của cậu.
Con ngựa đang bình thản gặp cỏ, thấy bóng Nicolai liền ngẩng đầu, lên tiếng hý. Lũ trẻ sợ đến thót bụng lại, nhưng Nicolai vẫn không dừng bước, giơ tay ra phía trước chậm rãi đi đến bên con ngựa. Một thoáng sau, cậu đã đứng cạnh ngựa và gioe tay vuốt ve đôi má dẹt của nó. Lũ trẻ há hốc mồm ra nhìn điều kỳ lạ đó.
Không ai biết rằng suốt cả một tháng nay Nicolai đã tìm cách làm quen được với con ngựa này.
Một lần, vào buổi sáng, khi đuổi bò ra bãi chăn theo đàn, Nicolai nhận thấy rằng trước lúc cởi dây tróng ở chân và dắt ngựa về, ông già Evsei cho nó ăn một mẩu bánh mì đen. Con ngựa ăn hết và và cọ má một cách biết ơn vào bàn tay sần sùi chai sạn vì năm tháng của ông già. Nicolai kêu thốt lên một tiếng ngồi xuống bãi cỏ còn ướt sương và suy tính một điều gì đó.
Buổi chiều, cậu ra bãi cỏ với một mẩu bánh mì đen to tướng. Khi ông cụ vừa mới thả con ngựa đã buộc tróng chân trước, khập khiễng đi vào làng. Nicolai liền tiến đến bên con ngựa, chìa mẩu bánh mì buộc vào đầu một chiếc gậy dài.
Mấy hôm sau, vừa trông thấy gậy, con ngựa đã nhảy né sang một bên, dữ tợn nhe những chiếc răng vàng khè và quay lại đe dọa. Nhưng dần dần, cái mùi quyến rũ của bánh mì đã thắng thế, và một lần Casca - Socol thận trọng gặp mẩu bánh ở đầu gậy.
Một tuần sau, con ngựa đã ăn bánh mì trong tay của Nicolai và thêm một tuần nữa nó đã cho phép cậu vuốt ve chiếc cổ mượt mà của mình.
Nicolai cho rằng mọi việc như vậy coi như đã xong, và giờ đã tới lúc làm cho các bạn phải kinh ngạc.
Như thường lệ, sau khi cho ngựa ăn xong một mẩu bánh mì bí mật mang theo người. Nicolai vuốt ve đôi má của Carca – Socol chừng nửa phút, vỗ vỗ vào chiếc cổ dốc đứng và cứng như đá, rồi đưa bàn tay vuốt dọc sống lưng dài bóng nhẫy. Con ngựa rùng mình quay ngoắt lại, đôi mắ màu tím nhạt lấp lánh. “ Ai làm gì mày đâu nào . đồ cỡm “- Nicolai âu yếm nói. Giọng quen thuộc đã làm con ngựa yên tâm, nó thôi rùng mình và bắt đầu ngắt cỏ ăn.
Nicolai, một tay tiếp tục xoa xoa lên phần mông, tay khác thận trọng chọnmột túm lông đuôi , quấn vào nắm tay, nhảy vội sang bên và một bên dùng hết sức giật mạnh. Nhưng không biết vid lông đuôi ngựa quá bền hay vì tham mà Nicolai túm quá nhiều, nên cậu không thể nào giật đứt được. Con ngựa nhảy chồm lênvì đau, chân cào tung đất bụi. Nicolai định bỏ chạy ra xa nhưng bàn tay đã bị túm lông đuôi quấn chặt. Con ngựa tung hai vó sau đá hậu, và rất kỳ lạ là Nicolai thoát khỏi không khỏi vỡ đầu. Cậu bé nhẩy sang một bên, cố hết sứa gỡ tay ra. Trong khi đó con ngựa quay đầu nhe răng ra đớp một miếng và mạng sườn Nicolai...
Khi các bạn đến, Iniuchin nằm úp mặt xuống đất, bất động. Một miếng da to bằng gần bằng bàn tay, đẫm máu nằm treo bên sườn bị rách toạc.
Nicolai khẽ rên, ngồi dậy đưa mắt nhìn vết thương đang phun máu của mình. Cậu cởi chiếc áo sơ mi bị răng ngựa cắn xé toặc , xé ra thành từng dải nhỏ, đặt miếng da bị đứt ra vào chỗ cũ và im lặng tự băng cho mình.
- Hồi được, tớ sẽ vào bệnh viện. Nicolai đứng lên, nói.
Người ta đã chữa lành vết thương bên sườn cho cậu, nhưng trên thân mình da màu bánh mật của nicolai còn lại suốt đời một vết sẹo trắng nhợt hình móng ngựa. Và sau sự kiện này Nicolai được gắn vĩnh viễn cho một biệt hiệu rất đọc đáo: Carca- Socol.
Mặc dù với cậu thỉnh thoảng lại xảy ra những chuyện tương tự như vậy. Nicolai vẫn nổi tiếng là tay khoác lác bịa chuyện. Cũng có thể là có khi kể lại những chuyện có thật của mình, cậu thường đem phóng đại, vẽ vời thêm, hoặc có khi còn bịa ra nữa.
Kể xong câu chuyện ở đầm Tinh, Nicoali đi tách ra khỏi bọn, đến ngồi trên một tảng đá nóng và xịu mặt xuống.
- Câu với kéo gì thế này!- Andrei lội từ sông lên, ném cần câu xuống đất kêu to:- Chẳng có con nào cắn câu cả.!
Semion đứng quay lưng lại phía sông, mắt nhìn lên con đường chạy qua đồng cỏ. Một người nào đó đang đi trên đường. Qua chỗ những cột điện cao thế, đến ngã ba, người đó đi rẽ sang trái, theo hướng ngược với con sông, lên đèo Dvenigora.
- Đima, nhìn thử ai đi trên đường về Mikhailovka thế? Simion nói.
- Một người bình thường ...khoác bị, đi ủng. Tay cầm gậy, Đima có đôi mắt tinh như diều hâu, nói.
Có phải chú Ivan không?
- Chú ấy ở đâu ra, đang ngồi tù kia mà.
Nghe nói vậy, Victor Cascarov từ nãy vẫn ngồi tách riêng ra một mình, vội đứng dậy nhìn theo bóng người đang đi khuất về phía đèo. Và ngồi xuống chỗ cũ, cậu lại ủ rũ nhìn đôi chân đầy những vết sẹo nứt nẻ của mình.
Tao cảm thấy như vậy. Đôi vai xo giống như của chú Ivan, Semion nói.
Mặt trời vẫn trút những dòng thác lửa xuống như định thiêu cháy cả mặt đất . Sau mỗi lần bị những cơn sóng ấm và lười biếng tràn qua , hai bờ đá nóng bỏng lại khô ngay tức khắc. Những cô bướm cái nửa giờ trước đây còn chập chờn dưới chân đã biến đi đâu mất. Bầu trời vẫn quang đãng, ở một góc xa nơi mới đây chỉ có một đám mây bôngnhỏ lơ lửng sau làn sương mỏng, bây giờ đã mọc lên một cột mây trắng muốt đồ sộ, ngọn to hơn gốc gấp nhiều lần.
Bị chiếc mũ khổng lồ đè nặng , cả cột mây bị lệch nghiêng về bên phải và như chực đổ sập xuống thị trấn Santara.
- Này, các bạn chài tí hon, Semion cởi áo sơ mi, nói.- Đến chiều chẳng có cá cắn câu đâu. Tốt hơn là ta tắm một cái, rồi nấu nồi cá của Đima và Andrei. Trong lúc chờ nấu xong , anh sẽ cho chúng mày xem mấy thế võ xambo, trong đó có cả thế máy xay nữa.
Semion cởi quần áo, rồi đứng lặng chừng nửa phút trên bờ sỏi nóng trước những con mắt thèm thuồng của bọn trẻ. Thân hình chắc nịch, bắt thịt nổi lên cuồn cuộn lấp lánh màu đồng hun dưới ánh mặt trời. Mái đâud hơi xương xẩu, góc cạnh ngự một cái bướng bỉnh trên đôi vai nở nang lựclưỡng bị mặt trời đốt đến cháy đen. Và chiếc cổ ngắn , đôi gò má rộng vầng trán dô, tất cả đều sạm nắng. Chỉ có mái tóc bạch kim rậmlà mựt trời không đủ sức đốt sém, chúng rực lên một ánh lửa trắng không bao giờ tắt.
Đứng một lát cạnh mép nước, Semion khẽ nhún chân, vươn thẳng người, vung hai cánh tay, và dường hư có một sức mạnh vô hình nào đó nhẹ nhàng nhấc bổng anh lên, rồi ném mạnh ra xa bờ, vào lòng nước sông sâu mát. Bọn trẻ cũng nhảy theo anh. Chỉ có Victor vẫn ngồi yên tại chỗ trên bờ sông, dưới ánh mặt trời, thiêu đốt, im lặng đào một chiếc hố nhỏ trên bờ cát ẩm ướt.
Cả bọn bơi cạnh bờ chừng mấy phút, cười đùa ầm ĩ, té nước làm tung lên những vồng cầu lấp lánh. Semion leo lên bờ trước nhất . Vẫn cởi trần, anh lục trong các túi quần,lấy thuốc lá hút.
Từ người anh, những hạt nước trong veo theo nhau chảy xuống cát.
- Victor có chuyện gì thế, nói nghe xem nào, ở nhà có chuyện gì à? Semion ngòi xuống bên cạnh hỏi.
- Thôi, để mặc em, Victor uể oải nói, đứng dậy bỏ đo ra bờ sông.
Semion nhảy mấy bước, đuổi kịp Victor, đứng chắn ngang đường.
- Anh muốn gì hả? Victor kêu lên, giọng gần như giận dữ, hất mạnh mái tóc đã từ lâu chưa cắt. Anh cần gì nào?
- Anh chẳng cần gì cả, Semion đặt tay lên vai Victor – Anh có thể giúp gì cho em được không?
- Không thể! Không, không thể!- Victor tuyệt vọng kêu lên, hất bàn tay nặng trịch cảu Semion xuống, và bỏ đi tiếp. Nhưng được mấy bước , cậu quay người lại hỏi:- Tối qua, cái gã...gã...Maca Captanov về. Anh hiểu chưa?
- Macar à?- Semion thốt lên và bất giác đưa mứt nhìn sang phải, về phía con đường mà vừa mới đây có một người, từ xa giống chú Ivan đã ngồi tù mấy năm nay- xách túi đi vè làng Mikhailovka
Victor hiểu ý cái nhìn đó, nói.
- Có thể, họ cùng về với nhau.
Semion nhíu lông mày im lặng. Maca Captanov cậu ruột của anh, là một tay ăn chộm khét tiếng, một chuyên gia về đục tường bẻ khóa các cửa hàng mua bán. Mới hai mươi tám tuổi, hắn đã phải sáu lần ra tòa...

*
* *


Sau bữa ăn, Phedor Saveliev đi ngang qua chuồng súc vật ra sân, cất tiếng gọi oang oang, hách dịch.
- Kirian!
Cách cửa bằng gỗ ván nhà Iniuchin lập tức mở toang. Kirian Iniuchin, như một mũi tên, nhảy vội ra ngoài hiên, nơi treo lủng lẳng những mớ giẻ rách đã phai hết màu.
- Ăn sáng chưa?– Phedor hỏi,- Sửa soạn mà ra trạm ngay.
- Nhưng hôm nay là chủ nhật cơ mà. Tôi vừa cho trai rượu xuống hầm lạnh...
- Rượu với chè gì?! Mùa đến nơi rồi, mà máy kéo của cậu chưa đâu vào với đâu cả.
- Thôi được, nếu cần tì tôi cũng sãn sàng ngay- Kirian lập tức đồng ý.
Căn nhà của Iniuchin được ghép bằng những tấm gỗ mỏng và thô, đứng bên cạnh ngôi nhà rộng rãi của Phedor trông cành nhỏ bé, dột nát và xấu xí. Và chính Kirian Iniuchin cũng vậy, với đôi vai hẹp và chiếc trán hói, lại càng xấu xí thảm hại so với Saveliev cao lớn, lực lưỡng như gấu.
Kirian lại biến vào sau cánh cửa. Từ ngoài vườn vợ của Kirian, Anphisa, một người đàn bà mũi nhọn có đôi mắt sắc hẹp, bao giờ cũng ánh lên một ngọn lửa cuồng nhiệt, đi vào, bước lên hè. Bộ ngực nở, thân hình gọn gàng cân đối, mặc dù đã ba mươi chín tuổi, Anphisa trông vẫn như một cô gái trẻ.
Anphisa đi vào, trông thấy Phedor, chiếc váy cũ bạc màu xắn cao, để lộ đôi bắp chân hồng vì lạnh, ướt đẫm sương sớm trong vườn và dính đầy bùn.
- Ngủ ngon chứ?– Phedor lên tiếng hỏi.
- Ôi!- Người đàn bà giật mình kêu lên, vội vã buông gấu váy xuống.
Phedor bước đến bên hàng rào chia đôi hai mảnh vườn:
- Lại đây một tí nào...
Anphisa thoáng ngập ngừng, rồi bước đến bên hàng rào.
- Gì đây?– Mắt chị nhìn xuống đất, đôi mí mỏng, phơn phớt màu hồng, hơi chớp chớp.
- Trời tối, anh sẽ đợi...trong vườn hướng dương nhé?– Phedor vuốt bộ ria, gật đầu chỉ về phía mảnh vườn hướng dương ở cuối hàng rào. Đến chứ?
Anphisa vụt lia sang Phedor một cái nhìn như giọt nước sôi, rồi cúi xuống, mâm mê những quả dưa chuột non dựng trong tấm vải tạp dề.
- Anh tiếc là đã để em cho Kirian, Phedor cười nhạt,- Em dường như không già đi, không hao mòn tí nào cả.Còn Anna thì...
- Bây giờ còn nói làm gì nữa...Anphisa thở dài..
- Thế em đến không?
- Thôi được. Nếu Kirian không tỉnh dậy, Anphisa nói một cách đơn giản, tự nhiên, và thấy Kirian từ trong nhà đi ra, chị liền giúi một quả dưa chuột vào bàn tay Phedor.- Thử một quả xem. Của vườn nhà đấy.
- Cô quả là một tay làm vườn giỏi nhất xóm này, Phedor nói.
- Quả đúng vậy,- Kirian cau mặt xác nhận.– Bất cứ loại rau củ ào, khi chưa nghe thấy ở đâu nói đến, trên bàn nhà đã có rồi... thôi, đi đi! Kirian giận dữ nói và đẩy vợ lên thềm.
Phedor và Kirian ra đường, im lặng rảo bước về phía trạm máy kéo.
Muốn là con chim chiếc lá
Con chim phải hót
Chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay lại không trả
Sống cho ai đâu chỉ sống cho riêng mình.

( LHM )
Đăng nhập để trả lời
0
Sau khi dẹp xong bọn phiến loạn Contracor Phedor Saveliev, theo sự giới thiệu của chủ tịch Xô Viết xã, vốn là cựu chỉ huy đội du kích Policarp Crugilin. Được cử làm trưởng phòng bưu điện Santara. Phedor lấy Kirian Iniuchin, đội viên trong phân đội du kích của mình, làm chân phụ trách quản trị. Họ làm việc ở bưu điện khoảng mười năm, cho đến năm 1931. Đầu tiên, công việc ra chiều chót lọt, nhưng dần dần Kirian bắt đầu uống rượu, tìm cách từng ít một, bí mật tuồn tài sản công cộng ra ngoài, khi thì ít cuộ dây đồng, khi thì vài chục cột điện bằng gỗ thông, khi thì một bộ yên cương ngựa, Đã nhiều lần Phedor sửa cho nên thân, vung nắm tay đầy lông lá sát chiếc mũi hơi quặp của Kirian.
- Ấy chết, Phedor! Anh nói gì vậy?!– Iniuchin nhấp nháy đôi mắt của kẻ vô tội, lấy bàn tay lau những hạt mồ hôi lớn tướng rịn ra trên chiếc trán đã bắt đầu hói,- Trời dằn chết tôi đi, làm cho tôi tắt thở ngay, nếu như tôi dám động đến một cái gì trong tài sản nhà nước... Đúng là bọn trăn ngựa lấy trộm để đi uống rượu, không ai khác. Tôi sẽ cho chúng một mẻ biết tay, lũ ăn bám trời biết này. Chúng sẽ chẳng dám động đến một cái kim nào nữa đâu.
Rồi Kirian khéo léo mở các kiện hàng gửi, lấy chộm đủ các thứ linh tinh. Những lời kêu ca về bưu điện càng nhiều, và ít lâu sau Phedor buộc phải thôi việc.
- Thế mà đòi cũng là một cựu du kích đấy! Một chỉ huy phân đội dũng cảm!- Grugilin, bây giờ đã là bí thư huyện ủy, hét ầm lên. Mà phân đội nào kia chứ? Phân đội xuất sắc nhất trong trung đoàn! Phá cả bưu điện làm hỏng hết nhân viên...Thật là nhục nhã!
Sau sự kiện này, Phedor xin làm chân thu mua cho trạm Mikhailivka thuộc phòng thu mua gia súc của huyện vừa mới thành lập trước đó không lâu.
Người đầu tiên Pedor gặp ở làng Mikhailovka là Ivan, người em trai út. Anh gầy như que củi, tái nhợt như kẻ suốt đời trong hầm tối, da trên cặp lưỡng quyển mỏng và vàng hợt, tưởng như những đầu xương hằn lộ ra cả ngoài.
- Mày?!– Phedor ngạc nhiên, sao mày lại ở đây?...
Ivan ngoảnh đi, nhìn lên những ngọn núi Dvenigora đen sẫm trong làn khói sương buổi chiều. Một chiếc roi chăn ngựa kẹp bên nách.
- Tôi chăn ngựa ở chạm, - Ivan đáp.
- Được rồi, việc này chúng tao sẽ sửa lại ngay – Phedor cười nhạt.–Tao vẫn còn chưa quên cách nói chuyện với thổ phỉ đâu. Mày từ đâu ra đấy hả, thằng phản động?
- Nếu cần biết... Iacov Alieniov sẽ giải thích cho anh, Ivan nói và bỏ đi. Vạt áo mưa đã cũ sờn vì mưa gió trên đồng cỏ bay phần phật, vướng vào những thân cây ngải cứu cứng khô như bằng sắt tây.
Iacov Alieniov, cựu đội trưởng trinh sát trong đội du kích của Grugilin, sau nội chiến làm ở cục chính trị quốc gia. Khi biết Phedor đến vì việc gì. Alieniov xoa xoa vết sẹo nằm chéo trên má trái- dấu tích phát gươm của Dubov,nói.
- Thằng em của cậu từ năm hăm nhăm người ta đã thả cho ra ở nhà giam Baranacun. Nó hết hạn rồi.
- Kẻ thù của chính quyền Xô Viết mà chỉ năm năm à? Hạn gì lạ thế?
- Tòa án họ biết rõ hơn cậu chứ! Họ thấy có những điều làm giảm bởt tội. Sau đó nó ở Barnaun mấy năm, làm thợ mộc cho xưởng nào đó, rửa xà lan chở dầu hỏa trong vũng sông. Rồi cưới một người bán căng tin trên tàu thủy làm vợ. Nó về đây là được sự đồng ý của bọn mình. Các nông trang viên không muốn nhận nó vào...
- Và tôi cũng sẽ không làm việc cùng với nó. Anh hiểu chưa?
- Tôi thì hiểu rồi... Nếu để cho tớ, tớ để cho tất cả quân tương tự, những kẻ có dây dưa với bọn phản cách mạng, đặt vào tường- và chấm dứt vấn đề ! Để trong nước được đảm bảo, yên tĩnh. Nhưng Crugilin nói cứ để cho nó làm việc, không sao... Nhân đạo, khoan hồng mà. Nhưng chúng thì chằng nhân đạo, khoan hồng với ta đâu... Alieniov thôi đi lại trong phòng. Ông dừng lại bên cửa sổ, ném về phía Phedor một cái nhìn lạnh lùng, đôi lông mày rậm níu lại:- Nhưng sao cậu lại căm thù nó đến thế? Dù sao cũng là anh em ruột...
- Chẳng lẽ anh không hiểu à?
- Thôi được. Iacov Alieniov nhếch mép cười. Đó là chuyện, như người ta nói, của gia đình các cậu.– Và ông lại sờ lên vết thẹo trên má,nói tiếp:- Còn như đứng trên quan điểm gia cấp vô sản mà xét, tớ lại muốn đề nghị cậu, Phedor ạ, nếu như thấy nó có điều gì... ý nghĩ, lời nói, chứ chưa kể đến hành động...
- Sao?– Phedor muốn túm lấy thắt lưng mới tinh, bóng lộn, lấp lánh những tia nắng từ cửa sổ chiếu vào của Aleiniov mà lắc mạnh, nhưng kìm lại được- Tôi không phải là mật thám. Anh muốn gì mặc xác anh!
Phedor bỏ ra về, Aleinopv khẽ rướn đôi lông mày rậm đăm chiêu nhìn theo.
Mặc dù Phedor có sôi tiết đến đâu, cuối cùng ông cũng phải sống tại cái làng Mikhailivka, bên cạnh người em trai không đội trời chung. Họ không đến nhà nhau, không nói chuyện với nhau, chỉ có đôi lúc sau khi đuổi đàn gia súc vật dã béo mẫm lên về Santara, Ivan đưa giấy tờ cho Phedor hỏi:
- Được chưa?
Phedor mấp máy bộ ria, xem lâu những con số và chữ ký trên mấy tờ giấy vàng khè, nhàu nát, rồi gật đầu, mắt vẫn không thèm nhìn Ivan.
- Được
Lòng thù địch từ lâu giữa hai anh em cứ tăng thêm, chằng buộc bằng những sợi dây rối rắm, nặng nề và rất chặt, gây ra trong làng Mikhailovka bao nhiêu lời đồn đại, những câu chuyện của những người ngồi lê mách lẻo.
- Phedor ngứa tay muốn nện thằng phản động lắm rồi. Thế nào cũng có lúc..
- Cả hai... cùng một nòi một giuộc với nhau thôi. Thì Phedor cũng lấy con gái culắc làm vợ đấy…
- Không nên nói thế. Captanov là một con thú dữ, bao người phải khốn khổ với hắn. Còn con gái hắn Anna, lại tham gia du kích với Phedor…
- Người ta còn đồn rằng không chỉ với Phedor, mà cả với Ivan nữa…
- Ha ha ha, thế ra hai an hem cùng húp một bát…
Nghe những lời xì xào bàn tán của dân làng, thình thoảng lại bắt gặp những cái nhìn, khi thì công khai giễu cợt, khi thì dò hỏi ngạc nhiên, Phedor sa sầm mặt xuống.
- Này, mày đi đâu, đến xứ ma quỷ nào thì đi!- Chừng một năm sau, Phedor không chịu được nữa bảo:- Đi sớm cho khỏi tai họa! Tao nói thật với mày đấy!
- Tôi ở đây thì có gì phiền đến anh? Những sợi ria của Ivan khẽ rung rung.
- Bộ ria của mày làm tao không thích!– Phedor trùm lên người Ivan một ánh mắt căm thù.
Ivan mới để ria, cũng một bộ ria rậm rạp và cứng như của Phedor, hình móng ngựa. Điều khác nhau thì chỉ là ria mép của Phedor thì đen nhánh, còn Ivan thì màu sang, màu của đôi mắt xám nhạt như bầu trời tháng sáu nắng rực.
- Cũng là ria cả thôi. Gần giống như của anh, chỉ có hơi khác màu…
Phedor nghe trong người như có một cái gì đâm nhói, ông túm lấy ve áo vét tông của Ivan lắc mạnh.
- Mày cười tao hả?!– Và trong cơn nóng giận không còn nhớ gì nữa, Phedor giật mạnh chiếc cổ áo xuống phía dưới.
Tiếng vải bị xé rách như làm cho Phedor chợt tỉnh, ông lùi lại một bước, nhìn mảnh vải nằm trong bàn tay nắm chặt.
- Anh phát rồ lên rồi,- Ivan thản nhiên nói,- Ai bong gió châm chọc anh…
Vừa lúc đó, Agata, vợ của Ivan, một người đàn bà nhỏ bé rất nhanh nhẹn, rẽ vào chuồng ngựa, nơi hai an hem đang cãi nhau. Chị có việc đi ngang qua. Khi đã sắp ra khỏi dãy chuồng thì nghe tiếng đàn ông thì dừng lại.
- A, cái đồ ăn bám, loài quỷ xù lông, đồ dịch hạch chết tiệt!– Agata vừa trông thấy đã tuôn ra một chàng chửi rủa như tắt nước.– Mày định không để cho Ivan sống nữa hay sao? Hay anh ấy chưa đủ khốn khổ, mày muốn hành hạ hơn nữa, xé nốt chiếc áo cuối cùng? Mày thì quần áo nỉ, còn chúng tao chỉ có giẻ rách. Bỏ áo vét tông của mày ra đây, mau lên đồ mặt lợn…
Người đàn bà mắt long lên, nhảy loi choi sung quanh Phedor cao lớn, tay khua loạn xạ, đôi bím tóc sổ ra ngòai chiếc khăn bịt đầu cũng vung vẩy theo. Rồi chị bắt đầu tìm cách giật chiếc áo vét tông trên người Phedor. Phedor vằ lùi lại, vằ chống đỡ như chống đỡ một con chó đã nổi điên lên đang vừa sủa vừa xông vào cắn. Cuối cùng, người đàn bà đã cướp được chiếc áo, vò túm lại, cắp vào nách chạy đi.
- Đừng lo, tôi sẽ trả lại áo cho anh,- Ivan nói, cúi xuống nhặt những mảnh vạt áo của mình bị xé rách.
Ngày hôm sau. Ivan mang chiếc áo vét tông của Phedor đến một căn phòng nhỏ, tường bằng ván mỏng, im lặng quảng lên mặt bàn đã ọp ẹp.
- Tao còn muốn nói thêm vào câu chuyện ngày hôm qua, không hiểu sao Phedor lại tránh ánh mắt của Ivan, nói:- Nếu như tao thấy… Mày nói chuyện lôi cuốn Somion… hay… và lạy chúa, nếu như tao thấy…mày ở cạnh Anna... có mặt người khác hay không cũng vậy… Lúc đó, đừng có trách.
- Chứ còn sao nữa,- Ivan thốt lên.– Anh có phải Kirian đâu, tôi biết chứ.
Phedor nhảy hai bước đến bên cạnh Ivan, phải cố kìm lắm ông mới không túm lấy vạt áo của người em như hôm trước.
- Anh cứ xé áo tôi nữa đi,- Ivan nói như khuyên.– Anh thấy đấy, Agata đã vá những mảnh rách lại rồi. Không sao, cô ấy còn vá nữa.
- Không, tao sẽ không xé áo đâu!- Phedor rít lên, tiếng rít như bị tắc lại trong cổ.–Tao sẽ giết chết mày ngay, quân phản động, nếu như mày dám tung tin đơm đặt!
- Cất ngay tay đi!– Cuối cùng Ivan cũng nổi cơn cáu lên.- Trông đầy lông lá đến tởm!
Mấy giây, hai anh em ruột đứng đối diện nhau, những đôi mắt nảy lửa như muốn xé nhau ra thành trăm mảnh.
Phedor là người đầu tiên không chịu nổi, quay đi và bước đến bên bàn.
- Đơm đặt…Cả làng người ta còn đang bàn tán chuyện anh với Anphisa đấy.
- Mày cứ liệu hồn đấy, kẻo rồi lại hối,- Phedor uể oải, dường như đã hết cơn tức giận nói.
….Sau khi ổn định xong chỗ làm việc mới, Phedor liền xin huyện cho mình một người giúp việc, mặc dù, thực ra nói, chức vụ của Phedor chẳng có gì là phức tạp lắm, một người cũng chẳng có việc gì để làm,- và kéo Kirian Inuchin về. Gia đình Iniuchin dọn đến nửa còn trống trong ngôi nhà của Saveliev. Khi nhà Iniuchin dọn đến, Anna nghe họ sửa soạn bên kia bức tường, tiếng xô, chậu, xoong bát kêu loảng xoảng, thỉnh thoảng chị lại khóc thầm.
- Có thôi đi không!- Phedor quát vợ,- Còn việc gì nữa đây?!
Chừng hai, ba tuần sau, Visilisa Poconova một người đàn bà tính đồng bóng ở làng Mikhailovka khi đi từ đồng về nhà đã bắt gặp Phedor và Anphisa trong một bụi cây rậm rạp bên con đường sau làng.
- Ôi, các bà ôi!- Chiều hôm đó mụ chạy đi khắp làng, từ nhà này sang nhà khác, líu cả lưỡi lại vì hấp tấp kể.–Thật đáng xấu hổ! Thằng cha lấy ria cù vào đôi vú trần của ả, còn ả thì cười sặc sụa…tôi nghĩ: ai nghịch ngợm gì đây trong bụi…Tôi thử vạch cành cây ra nhìn xem- Ôi các bà ôi!
Sau đó người ta còn mấy lần bắt gặp Phedor và Anphisa, khi thì trong cánh rừng con, khi thì ngoài đồng, khi thì bên bờ song Gromotukha.
- Thật tởm!- Các bà trong làng ra sứa bêu riếu Anphisa, nhổ nước miếng nói.
- Sao cô ả không xấu hổ nổ con ngươi ra! Mà có con rồi đấy, con bé Vera đã mười mấy tuổi, sắp nghé chồng con rồi còn gì.
- Cứ để đấy, rồi thừng con út Nicolai nó sẽ cho biết tay.
- Những ngữ ấy thì phải bóp cổ khi nằm trong tã ấy…
Những người đàn ông làng Mikhailovka hoàn toàn không hiểu được thái độ của Kirian Iniuchin. Iniuchin biết rất rõ rắng vợi của mình tằng tịu với với Phedor – người ta nói thẳng với anh về điều này không chỉ mới có một lần. Thậm chí còn có những người tình nguyện bày tỏ sự sẵn sàng dẫn Iniuchin đến một khe núi hay một gò đất cao nào đó trên đồng để bắt quả tang: Đôi chim gu “ ngay tại chỗ. Nhưng Kirian chỉ ngúng nguẩy chiếc mũi hơi quặp của mình trong không khí, nhổ những bãi nước bọt xuống mặt đất bị rang khô lên vì nóng , và nói:
- Anphisa của tôi ấy à?! Không bao giờ! Cố ấy thà cắn rách cổ mình còn dễ hơn là…
Nhưng mọi người đều biết rằng Kirian thường uống say bí tỉ, dẫn vợ ra một nơi vắng vẻ nào đó ngoài làng và đánh đập hết sức tàn nhẫn, không chút thương tíêc, trên thân thể trắng muốt và đầy đặn của Anphisa chẳng còn chỗ nào nguyên lành. Thường thường, Anphisa phải nằm lại trong bụi cây cho đến đêm, và khi trời tối hẳn xuống mới lặng lẽ để không ai nhìn thấy, bò về làng,
Ivan im lặng quan sát cảnh sống như vậy của người anh, không nói bóng gió gì về Anphisa, và cấm vợ không được động đến họ.
- Nếu không thì Phedor sẽ nuốt sống anh đấy.
- Nhưng tại sao hắn lại căm thù anh đến vậy có chứ?
- Có lẽ do anh đã ở trong toán phỉ của Capatanov. Và vì cả Anna nữa. Anh ấy nghĩ Semion là con của anh,- Ivan nói giọng trấm xuống,- anh đã kể cho em nghe rồi đấy…Về mọi việc đã xảy ra. Anh chẳng có gì giấu em cả.
- Hay là ta đi khỏi đây, anh yêu?- Một lần sau bữa tối, Angata hỏi chồng.
Một lúc lâu Ivan không trả lời. Trong góc phòng cậu bé Vladimir lên ba tuổi đang khịt mũi, loay hoay với mấy ống cuộn chỉ đã vứt đi từ lâu.
- Không, không làm thế được, cuối cùng Ivan cũng thở dài nói. Anh sinh ra ở đây. Ở đây bố mẹ anh đã bị bọn lính Contrac giết. Người anh cả Anton viết rất đúng: “ Chú hãy sống để chuộc tội ngay ở làng quê của mình, hãy để cho những nấm mồ của bố mẹ suốt đời là nỗi day dứt trong lương tâm chú “.
Muốn là con chim chiếc lá
Con chim phải hót
Chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay lại không trả
Sống cho ai đâu chỉ sống cho riêng mình.

( LHM )
Đăng nhập để trả lời
0
Anton, người con trai đầu trong gia đình Saveliev, từ sau nội chiến sống ở Kharcov, làm phó quản đốc một xưởng trong nhà máy chế tạo máy kéo. Tất cả những điều này Agata đều đã biết hết. Chị biết cả bức thư mà chồng vừa nhắc tới. Họ nhận được bức thư đó từ lâu, hồi còn ở Barnaun. Nhờ bức thư đó mà họ đến đây, về làng Mikhailovka này, mặc dù Agata khuyên chồng nên ở lại thành phố.
-Anh muốn viết thư cho anh Anton, nhưng vẫn không viết được. Cần phải xin một bức ảnh. Không lỡ ra gặp nhau lại không nhận được ra nhau, mà cứ thế bỏ đi. Lần cuối cùng anh trông thấy anh ấy là vào năm 1910 thì phải. Hình như anh ấy vừa vượt ngục từ nhà tù Tomsk hoặc Novonicolaevsk. Cảnh sát bám theo sát gót. Nhưng tất cả những cái này anh đã kể cho em nghe hết rồi.
- Anh Ivan… đến tận giờ anh vẫn còn…yêu Anna à?
Một cơn sóng ngầm trào lên trong người Ivan, dường như ở mọt nơi sâu kín nào đó có tiếng thở dìa bị nuốt, bị nén xuống lại dạy lên.
- Anh cũng đã đủ khốn khổ với cô ta, con người đáng nguyền rủa ấy rồi…Cô ta đã làm nát cuộc đời anh. Nếu như không có cô ta, làm sao anh lại ở trong toán phỉ của Captanov?– Và im lặng một lúc. Ivan nói tiếp.– Nhưng buộc tội cô ta để làm gì?
Quay sang phía vợ, anh đưa bàn tay thô nhám lên vuốt tóc, lên mặt Agata. Cảm thấy bàn tay mình ướt đẫm bởi những giọt nước mắt chảy trên má vợ, Ivan nói:
-Nào em, nào…Nếu như có chuyện gì, chẳng lẽ anh lại sống cùng em? Và nói chung, anh sẽ ra sao trên đời này nếu không gặp được em? Anh biết đi về đâu? Thôi, em ngủ đi.
Anh kéo ghì đầu vợ vào ngực mình, và Agata dịu dần, rồi ngủ thiếp đi. Nhớ những lời cảnh cáo của Phedor, suốt hai năm Ivan như sống sau một bức tường vô hình ngăn cách anh với gia đình Phedor. Với Kirian Iniuchin và Anphisa. Nếu vô tình gặp ai trong bọn họ ở một nơi nào đó, anh đi ngang qua thậm chí không nhìn sang. Và cũng không ai nhìn anh, chỉ có Anphisa thỉnh thoảng liếc quất sang anh một cái nhìn sắc sảo như dao, rồi cụp ngay mắt xuống, dường như xấu hổ. Và còn một lần, cậu bé Semion, lúc dó mười tuổi, đi tìm quả dại trong khu rừng con, đến bên cạnh Ivan khi anh ngồi dưới gốc thông trông đàn ngựa đang thả.
- Chú ơi…- Semion thọc đôi bàn tay lấm đất vào túi quần, hỏi.- Người ta nói chú là chú ruột cháu, phải không ạ?.
- Đúng đấy, chú là chú ruột cháu,- Ivan ngập ngừng trả lời.
- Thế nhưng tại sao chú lại đi lính cho bọn bạch vệ?
- Chú…bắt buộc phải làm vậy,- Ivan bối rối mỉm cười.
- Cái đồ phản động bụng trắng!- Cậu bé cau có nói, bỏ đi, tay vẫn không rút ra khỏi túi quần.
Nhưng nếu một bức tường ngăn cách giữa hai an hem ruột không mất đi, thì với những người dân làng Mikhailovka, Ivan dần dần trở nên gần gũi. Càng ngày anh càng ít cảm thấy những ánh mắt nhìn soi mói và thù hằn, khi gặp anh, nhiều người đã chào hỏi và có lúc còn đứng lại tán gẫu, khi thì giúp quạt lúa đổ vào kho, khi thì giúp gặt những thửa ruộng thu hoạch muộn.
-Việc gì mà phải vất vả thế,-Thỉnh thoảng những người đàn bà hỏi.–Chị có phải nông trang viên đâu?
- Tôi cũng chẳng biết gì?– Agata mỉm cười trả lời,- Anh Ivan nhà tôi đi chăn ngựa, còn tôi hầu như chẳng có chuyện gì để nhắc tay động chân nữa cả.
Và Ivan cũng thỉnh thoảng giúp nông trang khi thì chữa bộ đồ thắng ngựa, khi thì làm lại chiếc xe trượt tuyết. Anh biết làm rấ giỏi những cung càng xe, vành bánh xe, thùng chứa bằng gỗ đủ kiểu. Chủ tịch nông trang bong lúa đỏ (tên gọi của nông trang làng Mikhailovka ) Pancrat Nazarov thỉnh thoảng lại có việc nhờ anh, và không lần nào Ivan từ chối cả.
Một lần, vào buổi chiều thu mưa dầm dề, cựu chỉ huy phó đội du kích Pancrat Nazarov rẽ vào căn nhà gỗ thăm Ivan.
- Cái thời tiết chết tiệt này…- Pancrat giũ nước mưa bám trên bộ râu, lấy túi đựng thuốc lẩ và ngồi xuống cạnh cửa. Từ chiếc áo mưa, những dòng nước nhỏ long tong xuống sàn gỗ không sơn.- Tôi làm bẩn nhà mất thôi.
- KHông sao, - Agata mỉm cười đáp.- Lau đi một tí thì có khó gì! Bác cởi áo ra, ngồi uống chén chè nóng.
- Không còn lúc nào mà chè với chén nữa đâu,- Pancrat nhăn mặt nói.- Đang phải đầp các đụm rơm năm ngoái, nhưng…
Bấy giò là vào năm đói 1933. Mùa đông khá dài,khắc nhiệt đang kéo đến sau vụ hè thất thu.
- Còn nhà ta thì sao? Qua được mùa đông chứ?
- Khoai tây đang còn, chắc chẳng phải chết đói đâu,- Ivan đáp.
- Không chết đói đâu,- Agata lại cười rộng miệng, dường như chị đã biết một cách chắc chắn rằng có một niềm vui nào đó đang đến gần.
- Có người vợ thế này mà chết thì thật đáng tội,- Pancrat đùa và bỗng ông nói tiếp:- Này, Ivan muốn vào nông trang không?
Ivan đang ngồi bào những mảnh ván để đóng thùng trong góc, liền bỏ bào xuống, vươn thảng người lên. Agata nhảy bổ đến bên chồng như anh bị một cái gì đó đe dọa, níu lấy vai anh.
- Thế các bác có nhận không? Ivan hỏi.
- Bây giờ nhiều người ra khỏi nông trang,- thay vào câu trả lời, chủ tịch nông trang lấy tay dụi đôi mắt mệt mỏi , nói.-Họ chất những thư rẻ rách lên xe và đi. Vào thành phố, kiếm việc. Họ cho rằng ở đấy dễ dàng hơn.
- Năm sau nhất định sẽ được mùa! Agata gần như giận dữ kêu lên.
- Chắc phải thế,- Pancrat đồng ý. Và im lặng một lúc, ông tiếp:- tôi có một điều cú nghĩ mãi – lúc anh bắn chết lão Mikhail Lukich Canpanov, cha của Anna, để làm gic cơ chứ? Anh cũng chưa giải thích một cách rõ rang gì cả. Để chuộc lỗi đã ở trong nhóm phỉ à?
- Không, không phải vậy, Ivan khẽ gỡ tay vợ ra,
- Còn Iacov Alienicov lúc đó, và bây giờ nữa, cứ bảo là như vậy. Cả Phedor nữa.
- Nhưng họ làm sao mà biết được vì vậy hay không vì vậy?! Chưa bao giờ tôi báo cáo với họ về điều này cả. Cả lần hỏi cung, tôi cũng chưa nói. Chưa nói và cũng sẽ không nói.
- Gì mà ồn lên thế? Pancrat, đứng dậy nói. Nói hay không, đó là việc của anh. Còn anh sống, như tôi thấy, không có sự tính toán bẩn thỉu trong lòng. Lại là người được việc, khéo tay nữa. Iacov Aleinicov bảo: “ Đừng có nghĩ đên chuyện nhận hắn vào nông trang đấy. Giờ hắn còn đang cụt đuôi nămg yên, chờ đến lúc hắn lại sẽ như đinh móc sau lưng, chẹn ngang cổ đấy…”
- Ra thế đấy,- Ivan nặng nề và cay đắng cười khẩy. Thì ra tôi như chiếc xe ngựa bị sụt trong đầm lầy sau bãi trăn súc vật…
- Đầm lầy là trước đây, nhưng giờ không còn nữa. Người ta đã lấp nó cách đây không lâu, giờ ỏ đấy là một chỗ khô giáo,- Nazarov cài cúc áo mưa.–Trong đời người cũng thường như vậy đấy. Aleinicov chắc chưa nghĩ tới điều này. Nhưng thôi, mặc kệ anh ta. Anh và Agata suy nghĩ kỹ càng đi, sang mùa xuân chúng tôi sẽ nhận anh vào nông trang.
Và anh đã được nhận vào. Ivan sợ trong cuộc họp mọi người sẽ hỏi anh vì sao, đã làm gì ở trong nhóm phỉ của Captanov , đã giết chết nó trong trường hợp nào? Và lúc đó, mọi người có thể đặt vấn đề về Đemian Iniuchin, lão xã trưởng một chân: Ai đã giết lão, giết như thế nào, vì sao? Về Đemian, trừ Agata ra, Ivan chưa nói với ai một lời nào, cả với những người du kích lúc đó, cả với tòa án sau này. Nhưng không ai hỏi gì cả.Có thể vì khi khai mạc hội nghị, Pancrat Nazarov đã nói không úp mở.
- Như vậy là Ivan Silantievich, chuyện anh ở trong lũ phỉ Captanov, chúng tôi đã biết. Vì vậy mà anh đã phải ngồi tù hết hạn mà chính quyền Xô Viết xử anh. Nhưng nếu như có những lỗi gì mà anh giấu tòa án…
Hoặc là một hành động xấu nào, Evsei Galansin, một nông dân lúc đó đang sống ở Mikhailovka, chêm vào, rồi đưa mắt nhìn những nông trang viên vẻ đắc thắng.
- Vậy nên, Ivan ạ, tốt nhất là bây giờ, trước mặt mọi người anh tự nói hết đi. Còn nếu sau này có chuyện gì... tự anh hiểu đấy.
- Tôi không có gì cả. Ivan nói, và tôi cũng không phạm một tội ác nào cả. Tôi chỉ giặt giẻ, quấn chân cho Captanov và kiếm rượu lậu cho hắn…
Thế đấy không phải tội ác à? – Lukeria Cascarova, một mụ đàn bà trạc năm trục tuổi , nhưng trông mặt còn trẻ, vẫn giữ được vẻ đẹp của một thời đã qua, bỗng kêu to :- Chính mày lấy mất của tao một phần tư lít rượu. Đến giờ tao vẫn nhớ rõ cái chai ấy , miệng bị mẻ một miếng…Lại còn vung roi ngựa ra dọa đánh nữa chứ… Và ngày hôm đó tao cũng còn nhớ, ngày lễ thánh Agraphena năm mười tám…..
- Đúng, có thế thật,- Ivan buồn rầu nói, lúc đó mụ níu láy cái chai khốn khổ đó làm như bị người ta móc lấy trái tim của mụ không bằng. Còn Captanov lúc đó say rượu hóa điên, đã ra lệch không phải chỉ có rượu, mà còn phải lôi chính mụ đến nữa cơ.
Nghe thế, những lời thì thầm vừa mới nổi lên lại lắng xuống, và một sự tò mò chừ đợi lan tràn khắp các hàng ghế nông trang viên đang ngồi .
- Rồi sao nữa?– Một người nào đó ngồi hàng ghế sau cùng không nhịn được, thốt lên hỏi.
- Tôi nói với Captanov rằng, “ Lukeria hình như đoán được ý của ông nên từ chiều đã chạy ra đồng mất rồi “.
- Ra thế!– Galansin bật dạy huơ hai tay lên trời. Chính vì thế, vì sự nói dối đó mà Lukeria không tha thứ cho cậu đấy!
- Làm cho mụ ta mất một dịp sướng…
- Đến nay vẫn còn tiếc… Tiếng cười rộ lên trong gian phòng họp chật chội đầy khói thuốc lá.
- Đồ ngựa đực, quỷ tha các người đi, quân đểu cáng! Bà tiếc cái gì hả? Đấy, khi Ivan nói rằng Captanov muốn…cái ấy, bà liền, ngay trước mặt Ivan, gói mấy cái áo để thay, rồi chạy thẳng vào rừng. Có anh Ivan chứng cho đấy…Anh nói đi, phải thế không, anh Ivan Silantievich? Bà phải chạy đến một giờ không dám ngoảnh lại, đến khi tim đứt lại mới thôi.
- Quả thế thật, mụ chạy đến có cưỡi ngựa cũng khó mà đuổi kịp,- Ivan nói, nhưng Galansin ngắt lời anh.
- Này Ivan, có phải mụ ta lại quen đường chạy vào trại… ở mạch nước ngầm Ogniecski không?
- Trại nào? Mạch nước ngầm nào?! Mụ Lukeria chồm lên gào to, nhưng tiếng của mụ chìm trong tràng cười rộ lên như sấm.
Thời trẻ, Lukeria là một cô gái rất bạo dạn và hào phóng trong chuyện tình yêu. Có lẽ vì vậy , tuy xinh đẹp, nhưng không ai chịu lấy làm vợ, mặc dù rất nhiều người đã được hưởng sự hào phóng đó. Còn lão nhà giàu Captanov ở làng Mikhailovka, mỗi lần có cuộc truy hoan, lại công khai mang Lukeria vào trại ở với nhau hàng tuần lễ.
Mọi người cũng biết rằng năm hăm tám, một tay tốt bụng đã kỷ niệm cho Lukeria một cậu con trai. Biết mình có mang, mụ ngạc nhiên về chuyện đó, và khi gặp những người đàn bà khác, mụ giận dữ nhìn chiếc bụng đang phình to của mình, không hiểu để làm gì, nói với từng người một.
- Các bà ơi, không biết thằng nào nhét vaòp trong tôi thế này? Tôi mà biết được thì sẽ móc mắt nó ra. Cứ đợi đấy đến khi sinh xong! Nhìn mặt tôi sẽ đoán ra bố và ném đứa con vào cửa cho hắn…
Nhưng khi Victor sinh ra, Lukeria nhìn mãi đứa bé mà không xác định được nó giống ai.
… Mọi người cười đến đau bụng, đến chảy nước mắt. Lukeria gào khản cả cổ, quay ngang quay ngửa, cố giải thích một điều gì đó, rồi ngồi xuống òa lên khóc.
- Quân đểu cáng chúng mày!- Mụ gào tướng lên. Chúng mày lại sẽ nói rằng tao sẽ tằng tịu với thằng con của Captanov, thằng Maca chứ gì? Tao biết mà, chúng mày chúng mày vấn lê xì xào với nhau mà! Sao lưỡi chúng mày không mọc đinh sưng tướng lên hả?
Mọi người liền im lặng ngay. Tất cả đều lấy làm lạ khi thấy Lukeria khóc. Ngoài ra, mụ lại quá trơ tráo, không hổ thẹn khi nói ra trước mặt mọi người những lời bàn tán xì xào ở trong làng về mụ.
Những lời đồn đại đó có cơ sở nào không, khó ai mà nói được. Con trai đầu cảu Captanov là Dinovi sau khi cha hắn chết, đã cầm đầu bọn phỉ và ít lâu sau bị Iacov Aleiniov bắt được ở một xó xỉnh nào đó. Theo lời đồn, Dinovi bị giải đến Novonicolevska, ngày nay là Novonibirsk, và bị xử tử ở đó. Nhưng Captanov còn một đứa con trai nữa là Maca. Năm 1919, đứa bé mới sáu tuổi, Captqnov giấu nó ở đâu đó trong rừng Taiga. Người ta bảo rằng trong việc đó không phải không có sự giúp đỡ của mụ Lukeria này.
Sau đấy. Maca sống ở đâu, và nói chung còn sống hay không, chẳng ai biết. Nhưng đến năm ba mươi, ở làng Mikhailovka xuất hiện một thanh niên người cao, ngực hẹp, da đen như ống khói, nhưng lại ăn mặc sạch sẽ, theo kiểu thành phố, đầu đội mũ, tay cầm can. Người thanh niên ngủ lại nhà mụ Cascarova, sang hôm sau ra đường làm cho tất cả mọi người phải chú ý đến cái vẻ khác lại của mình.
- Cậu là giống chim gì thế này? Evsei Galansin là người đầu tiên mon men đến gần, hỏi.
- Tôi là Maca. Maca Captanov. Tôi mới về quê nhà đấy.
- À ra thế! Evsei kéo dài giọng và chun chiếc mụi bẹp dí, nói. Thế người ta tóm cổ cậu thì sao? Vì cha cậu ấy mà ?
Không đâu. Tôi không làm chính trị mà. Tôi là hình phạm.
- Là ai? Là ai?- Galansin chớp mắt lia lịa.
- Tôi là kẻ chộm.
- Ca-ái gì?- Evsei vươn chiếc cổ ngẳng ra thôi chớp mắt.
- Đừng sợ, bác già ạ.- Maca đập đập can lên vai Galansin, cười nhạt. Tôi chỉ ăn trộm cửa hàng thôi. Nghề nghiệp chuyên môn của tôi là cửa hàng. Hay là ông lại có cửa hàng?
Một đám đàn ông đàn bà, tò mò đứng vây quanh Galansin và Maca, nghe câu chuyện có vẻ khác thường. Evsei cười hì hì ve không tin, đi một vòng quanh người Maca, nói.
- Các tay bông phèng thì bọn ta cũng gặp nhiều rồi. Nhưng chuyện cửa hàng, người ta lại chẳng tóm cổ cậu ấy à?
- Ôi, ông dọa tôi sợ quá… Nhưng cần phải bắt được đã chứ... Và nói chung là thế này. Lukeria Cascarova là mẹ đẻ của tôi. Tôi sẽ mua ở Santara một ngôi nhà và sẽ đưa mẹ đến đó. Còn bây giờ cấm không ai được động đên sợ tóc của bà.
Và Maca bỏ đi .Hai tuần sau có tin một cửa hàng ở Santara bị mất cắp và đây là bàn tay của Maca Captanov. Lukeria đi đâu cũng nhưng ai hỏi cũng không trả lời gì cả.
Sau đó Maca còn xuất hiện ở làng hai lần nữa. Bây giờ tất cả mọi người đều biết rằng Maca Captanov quả là tên hình phạm và đã nhiều lần phải vào tù vì tội chộm cắp, nhưng thường hắn chẳng phải ngồi lâu, sau nửa năm nhiều nhất là sau một năm bằng một cách nào đó mà không ai hiểu nổi, hắn lại ra được.
Cả hai lần, sau khi ở nhà Lukeria vài ngày, hắn đều bảo đi Santara vài ngày để mua nhà cho mụ ta, nhưng chắc chưa kịp mua đã lại vào tù.
Và bây giờ, khi mọi người nhận Ivan Saveliev vào nông trang, người ta đang đợi Maca về lần thứ tư, nhưng khồng biết tại sao chưa thấy hắn.
Mụ Lukeria khóc, khụt khịt mũi, lau bộ mặt ướt đầm bằng chiếc tay sặc sỡ . Mọi người vẫn im lặng. Cuối cùng Galansin lên tiếng trước.
- Này Lukeria, sao miệng thế gian mụ lại động lòng? Như tục ngữ nói, nếu không có lửa thì làm sao có khói….
Có người nào ở trong phòng bật ra tiếng cười, nhưng nén ngay lại. Tiếng xì xảo lại nổi lên, mọi người rục rịch. Pancrat Nazaorov quát to át cả tiếng ồn ào:
-Thôi đủ rồi. Nói nhảm thế thôi, bây giờ bàn vào công việc. Còn ai, ngoài Lukeria, còn ý kiến nào phản đối nhận Ivan không?
Không ai phản đối cả.
Ngày thứ hai hoặc thứ ba gì đó sau cuộc họp, một chiếc xe ngựa nhẹ phóng như bay về làng Mikhailovka, con ngựa lưng hung màu thẫm nhảy chồm lên, rồi dừng lại trước ban quản trị nông trang. Aleiniov ném đôi dây cương bằng da đen cho Ivan lúc đó vừa ở chỗ chủ tịch ra .
- Cầm lấy!
Rồi chạy nhanh theo bậc thềm lên nhà.
Aleiniov nói gì với Pancrat , không biết ai chỉ thây một lúc sau, cả hai người ra khỏi văn phòng đều nổi khùng lên như hai con gà chọi Nazarov, không nhìn về phía Ivan, bỏ đi làm việc của mình. Còn Alieniov cầm lấy dây cương nói, vết sẹo trên má khẽ giật giật:
- Chui vào khá lắm.
- Tôi không chui vào đâu cả .
- Này! Alieniov rướn lông mày lên. Điều này thì cho phép chúng tôi được tự biết lấy.! Nói rồi, ông chui vào xe quất ngựa đi thẳng.
Buổi chiều hôm đó Ivan gặp Pancrat ở nhà kho.
- Iacov nói gì về tôi thế?
- Kệ lão ta, Nazarov đáp. Việc gì lão ta chẳng phải hỏi. Đấy là nghề của lão…
Những lời của Nazarov làm cho Ivan và Agata đang lo sợ về việc Aleinicov đến nông trang yên tâm. Đêm về, Agata im lặng cầm lấy tay chồng đặt lên bụng mình. Ivan không cảm thấy gì ngoài hơi ấm dịu dàng toát ra từ người vợ, nhưng anh đã đoán ra.
- Bao giờ thế? Ivan nói, tay khẽ vuốt bờ vai lạnh của vợ.
- Chắc đến lễ kỷ niệm cách mạng tháng mười.
- Em của anh khá lắm. Đấy em thấy không niềm vui, cũng như tai họa không bao giờ đến một mình.
Đến tháng sáu khi vụ cắt cỏ mới bắt đầu, Ivan bị bắt.
Hôm đó là một ngày nóng rực, trên trời chim sơn ca lảnh lót hót. Từ sang, các nông trang viên đã bắt đầu cắt cỏ trên cánh đồng gần sồn Gromotukha.Suốt buổi vung liềm mệt lử, sau bữa cơm chưa mị người nămg nghỉ trên các bụi cây, hít thở hương vị ngọt ngào của cỏ héo. Ivan nằm nhìn những đụm cỏ vừa mới phát xong đang héo dần dưới nắng, nhìn bầu không khí như đang lung linh lay động, và mỉm cười lặng lẽ, thanh thản, nghĩ về Agata đang nằm bên cạnh, đôi chân bị cọng cỏ đâm sây sát bát chéo và phủ mặt bằng chiếc khăn chùm đầu đã bạc mầu, nghĩ về đứa con mà vợ đang mang trong mình, Ivan muốn nó sẽ là con gái.
Một chiếc xe ngựa chạy trên con đường dẫn xuống đồng cỏ, tiếng bánh lăn lọc cọc. Ivan vừa mới ngẩg đầu lên thì vợ đã đứng hẳn dậy, lấy bàn tay che mắt nhìn ra đường. Rồi chị sợ hãi buông tay xuống ôm lấy ngựa đã bắt đầu nở căng ra .
- Em sao thế, Agata? Ivan đứng hỏi.
- Ôi em không biết…Làm sao tim nó thắt lại ý…
Chiếc xe ngựa chạy đến bên cạnh, rồi dừng lại. Từ trên xe, Iacov Aleinicov, người đầy bụi, bụi bám kín cả đôi lông mày rậm, nhảy xuống. Cùng với ông là một người công an đã đứng tuổi.
- Chào bà con nông trang viên. Cầu chúa giúp bà con, ông nói với mọi người vừa đứng dậy, rồi quay lại phía Ivan. Nào ta đi. Chui vào thế nào, ta lại lôi ra thế ấy thôi mà.
Agata kêu thét lên một tiếng và đứng chắn lấy chồng, ngoảnh bộ mặt tái nhợt về phía Iacov.
- Chị đứng lui ra, Iaciv nghiêm giọng nói.
- Bắt Ivan đi tù à? Mụ Vasilisa Posconova, chính là mụ Vasilisa, người đầu tin tung ra khắp làng tin đồn về mối quan hệ bất chính giữa Phedor và Iniuchin, sợ sệt lên tiếng hỏi. Vì tội gì thế, nếu như được phép hỏi.
- Đúng đấy đồng chí công an, đồng chí giải thích cho mọi người nghe đi.– Pet’rovan Golovle, một nông trang viên đã đứng tuổi, dáng người to béo phục phịch, dùng ngón tay tách làm đôi bộ râu đã từ lâu chưa cạo, lên tiếng cau có đồng tình với mụ Vasilisa .
- Lui ra! Aleinicov quát to. Nhưng vòng người vấn không giãn ra, họ im lặng đứng nhìn Iacov, chờ đợi.
- Mà đứng đấy, có việc gì xảy ra thế? Maksim Nazarov, một thanh niên hăm ba tuổi, người cao lớn cằm vuông và chắc như y như cha anh, chủ tịch nông trang hỏi. Maksim nhập ngũ lúc mười chin tuổi, mới về phép thăm nhà được một tuần nay, trên ve áo của anh lấp lánh hai ngoi sao quân hàm trung úy. Sáng nay cùng mọi người, anh vung liềm phạt cỏ chắc phải đến mệt lử, nên vừa ăn trưa xong đã ngủ thiếp đi ngay, đầu gối lên một mớ cỏ vừa cắt. Bây giờ hai mắt anh hơi sưng mọng, trên má vẫn cong hằn những cọng cỏ.
- Một vụ hình sự, Aleinicov khó chịu nói. Mà cũng có thể là một vụ chính trị, tòa sẽ xử.
- Nhưng Ivan đã làm gì mới được chứ? Evsei Galasin hằn học hét lên bằng một giọng kim hơi the thé, rồi đưa mắt nhìn quanh tìm sự ủng hộ, đồng tình.
- Đúng đấy…
- Chẳng lẽ không nói với mọi người được hay sao? Từ bốn phía nỏi lên nhao nhao.
- Nhưng cũng có thể… có thể… Ivan vẫn còn giấu những tội lỗi trước đây của mình? Cũng chính Evsei Galansin một con người cũng chưa bao giờ tỏ ra nhất quán trong các ý kiến, lại kêu lên. Và bây giờ mới lộ ra? Chủ tịch Pancrat đã nói rồi còn gì. Các anh còn nhớ không.
- Thôi được rồi, các ông ạ,- Ivan bước vào trong vòng người. Chắc ông anh Phedor chơi tôi một vố đây. Về chuyện hai con ngựa ấy mà. Nhưng người ta sẽ làm ra thôi …
- Hai con ngựa nào vậy? Evsei quay sang Alienicov. Hai con ngựa của trạm thu mua hồi mùa xuân bị mất chứ gì?
- Chúng đấy, Ivan đáp và quay lại với vợ đang khóc.
Hai con ngựa mà Phedor vẫn dùng để thu mua gia súc bỗng nhiên biến mất vài ngày sau khi Ivan thôi việc.
- Đã là nông trang viên rồi cơ đấy?- Khi Ivan mang đơn xin thôi việc đến, Phedor cười nhạt hỏi.
- Thế anh không thích à?
- Tao thì có việc gì? Người ta đã nhận thì cứ việc mà vào …
Rồi sau đó, hai con ngựa xấu số biến mất. Buổi chiều hôm trước, Iniuchin, như thường lệ, buộc tróng rồi thả cho chúng ăn đêm trên đồng cỏ.
Buổi sáng, Kirian xách dây cương đi bắt ngựa, nhưng chúng đã biến đi đâu mất, không còn lại dấu vết gì,.
- Thế đấy... sáng hôm ấy gặp Ivan trên đường, Phedor nói, khi còn làm ở trại thì chưa dám điều gì hèn mạt, còn bây giờ thế là bắt đầu rồi đấy?
- Tôi bắt đầu cái gì?- Ivan hỏi lại. Và anh chợt hiểu cái thâm ý trong lời nói của Phedor. Mà anh... Anh nói nhảm gì đấy? Tưởng phải nghĩ ra cái gì thông minh hơn chứ…
- Rồi sẽ tìm ra thôi, em ạ. Phedor buông gọn lỏn rồi bỏ đi, tấm lưng rộng lắc lư.
Và hôm nay Iacov Aleiniov đến đây.
Ivan im lặng xoa tay lên lưng Agata đang gì chặt lấy anh khóc nức nở, người run rẩy.
- Thôi đủ rồi, nín đi em… Khóc để làm gì? Điều này cần phải chứng minh chứ. Bây giờ tạm biệt em đã nhé. Ivan nói và ngồi vào chiếc xe ngựa.
Aleinicov cũng bước đến bên xe ngựa người công an làm nhiệm vụ đánh xe ngựa, cầm dây cương.
- Khoan đã-ã.. Một thanh niên rất to béo, dáng người vụng về, tên là Arcadi Montranov, biệt hiệu chàng câm, từ sau bụi cây rẽ cành nhỏm dậy.
Ở làng Mikhailova không có một người nào kỳ lạ hơn người này. Trong suốt khoảng gần ba chục năm của đời mình, số từ anh nói khoảng độ vài trăm từ. Có khi hàng năm trời anh chẳng nói bao giờ. Anh cũng hay có mặt ở nơi đông người, nhưng thường ngồi và hơi tách riêng ra một bên. Và nghe mọi người bàn tán, từ dưới túm tóc dầy dối bù, đôi mắt nhìn quanh tò mò. Nhưng anh cứ im lằng như đá cuội và trên bộ mặt khá đẹp trai hoàn toàn không thể hiện một điều gì cả.
- Này, Arcadi, cậu câm hay sao ấy?- Thỉnh thoảng có người hỏi anh.
Thường thường Arcadi không then trả lời những câu hỏi như vậy nhưng cũng có đôi khi anh mở miệng:
- Ai bảo? không.
- Thế sao cậu không nói gì cả?
- Nói gì?
Và rồi lại im lặng một hai năm.
Arcadi hiền lành tốt bụng, hay làm và có sức khỏa khủng khiếp. Bao lúa mì nặng năm put anh dungf một tay quảng lên xe như chơi: Túm lấy sừng anh có thể vật ngã bất cứ con bò nào một cách nhẹ nhàng. Đặc biệt những con ngựa, không hiểu sao cũng cảm nhận được cái sức mạnh đó, mỗi lúc thấy anh chúng lại quỳ hai chân sau xuống, tai vểnh dựng lên lo lắng, mặc dù đối với động vật, cũng như đối với con người,anh không bao giờ tỏ ra một sự thô bạo, thù hằn nào.
Arcadi sống với bà mẹ già lụ khụ, nghễnh ngãng tai trong một ngôi nhà rộng rãi, sang sủa mà anh mới xây cách đây không lâu, và làm tất cả mọi việc nội trợi ở trong nhà. Nghe những người trong lòng khuyên nên lấy vợ, thường anh chỉ im lặng nhưng có một lần anh đáp:
- Họ sợ. Cô nào cũng vậy, mới thử ôm một cái xương đã kêu răng rắc. Hình như tất cả đàn bà trong làng đều làm bằng kính hay sao ấy.
Quả là các cô gái sợ gần chàng trai này, mặc dù họ vẫn tìm cách quanh quẩn anh với một sự tò mò nóng bỏng vì biết tính anh hiền lành.
Vừa nghe thấy giọng Arcadi, tất cả mọi người đều im bặt. Anh giẫm chân thình thịch đi qua trước mặt những nông trang viên đang đứng im lặng và ngồi vào xe cạnh Ivan.
- Thế..Anh định đi xa không vậy? Aleinicov bỏ chiếc mũ lưỡi trai xuống và lau chiếc trán đẫm mồ hôi.
- Đến công an, Arcadi nhổ nước bọt xuống cỏ .
- Được thôi. Nhưng anh muốn khai báo điều gì?
- Gần sang đêm hôm mất ngựa tôi có ra sông Grototukha. Đi xem câu cặm. Mẹ tôi ốm, muốn ăn cháo cá mà, Arcadi thủng thẳng nói, rồi dừng lại ngồi im.
Mọi người sốt ruột chờ anh nói tiếp, nhưng Arcadi hoàn toàn không tỏ ra ý định gì them nữa.
- Chỉ có thế thôi à? Anh định làm trò hề gì đấy? Bước xuống xe ngay!
- Tôi đi và thấy: Kirian đang bắt mấy con ngựa ấy mà..Trời lúc ấy còn chưa sáng mà ông ta đã bắt ngựa đi rồi… Một con cưỡi, một con dắt, rồi phóng đi.
- Rồi sao?! Aleinicov cau có hỏi to.
- Ông… Cái gì mà gào lên thế?– Arcadi tự ái, sầm nét mặt lại và ngoảnh đi nơi khác.
- Alieinocov, anh cứ để cho cậu ta nói, đừng giục.
- Arcadi- Chàng câm mở miệng là chuyện lạ xưa nay hiếm đấy! Evsei Galansin lăng xăng nói. Nào Arcadi, cứ tiếp tục bài diễn văn của cậu đi…Như vậy Kirian phóng đi, nhưng đi đâu?
- Đi vào núi Dvenigora! Arcadi bỗng gần như quát lên với một sự giận dữ bất ngờ đối với tất cả mọi người.Tôi xem xong trở về thì gặp Kirian từ trên núi xuống. Đi bộ tay cầm mấy bộ cương ngựa.
- Thế ngựa hắn để đâu? Pet’rovan Golovlev hỏi.
- Tôi cũng tò mò muốn biết. Kirian đi về làng không thấy tôi. Tôi leo lên núi nhìn xuống bên kia: cách đấy một quãng có một trại người Digan, mấy đống lửa thấp thoáng trong sương mù…
Mọi người xung quanh đứng lặng một lúc lâu, Ivan ngồi bên cạnh Arcađi, đầu cúi gục xuống, dường như anh không chú ý nghe cả câu chuyện của anh chàng Arcadi ít nói đó.
Pet’rovan Golovlev là người đầu tiên phá tán sự im lặng:
- Như vậy có nghĩa thế nào hả các ông?
- Tức là tống mây con ngựa cho bọn Digan chứ gì?Kirian ấy mà.
- Các ông bà ơi! Agata cố hết sức chen vào đám đông.– Anh Ivan không có tội tình gì đâu! Chẳng lẽ anh ấy có thể làm một chuyện như vậy?!..
- Agata, im đi…
- Cần phải điểu tra xem …
- Thế mày trước đây tại sao lại không nói cho ai biết cả, cái thằng câm chiết tiệt này?
Tiếng ồn ào la ó bắt đầu nổi lên.
- Trâ-ật tự! Aleinicov quát to, tay vung chiếc mũ lưỡi trai lên đầu, rồi quay lại hỏi Arcadi: Thế nghĩa là anh muốn làm chứng chứ gì? Thôi đựơc, ta đi.
- Con ngựa thiến ăn no tròn kéo chiếc xe qua bãi cỏ ra đường cái. Agata bước theo mấy bước, rồi kéo gập thân mình đã mập đẫy ra , ngồi xuống cỏ, đôi vai run lên từng đợt. Những nông trang viên đứng vây quanh, bối rối, dường như chính họ có lỗi với chị. Trên bầu trời trong xanh, bầy sơn ca vẫn bay lượn thả xuống đất những chùm tiếng hót vui mừng lảnh lót…
Arcadi trở về nhà vào mấy hôm sau. Anh về đến nơi lúc xế chiều, sau khi cởi bộ quần áo đầy bụi, rửa ráy xong, anh ngồi vào bàn và húp lấy húp để cái món canh nấu với củ hành. Bà mẹ phải liên tiếp múc cho anh .
- Ivan ở trên đó sao? Miksim Nazarov con trai của chủ tịch nông trang chạy xồng xộc vào, hỏi. Đã xét xong chưa.
- Đang xét.
Và ngoài ra Maksim không thể cậy thêm một lời nào nữa của chàng câm.
Sau đó người ta còn cho gọi Arcadi đi lên huyện mấy lần nữab của chàng câm.
Khi đi có xe đón, nhưng bao giờ anh cũng về bộ, ai hỏi gì cũng không trả lời, chỉ có mặt càng ngày càng cau có lầm lì hơn.
Kirian Iniuchin cũng bị ba lần gọi lên huyện, Phedor Saveliev một lần. Kirian lần nào trở về cũng sặc sụa hơi rượu, và cũng như Arcadi không trả lời những câu hỏi tò mò, chỉ bĩu môi và nhắc đi nhắc lại mỗi một câu:
- Không sao, người ta sẽ cho biết tay. Và cả Arcadi của các anh cũng vậy. Vu khống người trung thực đâu phải dễ dàng như chim ỉa trên mả người chết.
Và sau chuyến lên huyện về, Phedor cũng không nhiều lời.
- Trời cho tôi một thằng em… ông chỉ nói nửa chừng và im lặng.
Cuối tháng tám năm1935, Ivan bị xử phạt sáu năm tù . Nghe tin này Phedor vẫn im lặng, chỉ có bộ ria mép là giật giật. Kirian uống rượu say mềm và hôm đó đánh vợ một trận rất đau.
Các nông trang viên không còn biết ra sao nữa.
- Này, con lừa cụt lưỡi, tại sao cậu lại ba hoa rằng thấy Kirian bán ngựa cho bọn Digan? một vài người trách Arcadi- Chẳng lẽ người ta lại đi xử kẻ vô tội à?
- Chắc cậu lại ngủ mơ chứ gì? Rồi đi nói nhảm…
- Cút mẹ các người đi, đồ… - Lần đầu tiên trong đời Arcadi giận dữ chửi tục: Từ đó, anh hoàn toàn sống cô độc, không nói năng gì với ai nữa.
Buổi chiều hôm đó, Pancrat Nazarov ngồi trong nhà Ivan cạnh cánh cửa ra vào khép hở và hút thuốc hết điếu này đến điếu khác, tay sát mãi bộ râu cằm lởm chởm. Râu cọ vào bàn tay chai cứng như đá kêu rít lên như ngọn lửa nóng liếm ngang. Agata người cứng đờ và khô héo như tượng gỗ, ngồi cạnh cửa sổ, cặp mắt đờ đẫn nhìn ra bóng tối đang chầm chậm kéo đến.
- Tôi không tin, Agata ạ, rằng Ivan lại có thể hèn mạt đến thế, Pancrat thở dài nặng nề, nói. Nhưng mặt khác, không thể vô cớ lại bắt người ta phải mục xương trong tù.
Ông hút thêm một điếu thuốc và đứng dậy:
- Còn với chị, chúng tôi muốn nói đến một điều. Chuyện của Ivan đã đành rồi, nhưng chị vẫn là một con người. Chẳng có gì phải oán trách mọi người cả. Bây giờ mà xa lánh mọi người có nghĩa là chết đấy. Còn chúng tôi bây giờ sẽ tạm coi Ivan là một chuyện, chị với mấy cháu là chuyện khác, tách nhau ra. Còn ra sao sau này sẽ hay . Thời gian sẽ làm cho tất cả mọi chuyện rõ rang hết thôi mà…
Sau sự việc này, Phedor Saveliev và Kirian còn sống thêm một thời gian nữa ở làng Mikhailovka. Đến đầu hè năm 1936 cả hai xin thôi việc và chuyển về Santara.
Sau khi Ivan bị bắt và bị xử tù, trong quan hệ của dân làng Mikhailovka đối với Phedor và kirian không có gì thay dổi. Trước đây không có ai chơi thân với họ và bây giờ cũng không có ai kết bạn với họ cả.
Nhưng Phedor càng ngày càng cảm thấy sự lạnh lùng xa lánh . Gặp nhau, dường như mọi người cố tránh nhìn ông, nhưng đi qua rồi thì họ lại ngoái nhìn theo. Phedor cảm thấy những cái nhìn khó chịu đó như cắm và lưng mình, ông rụt đầu vào vai, co rúm người lại.
Và có lẽ Anna cũng phải chịu đựng nhưng điều tương tự như thế. Cặp mắt xám, trước đây to và trong suốt, sâu đến có thể thả mình vào trong đó được, giờ cứ mỗi ngày lại cạn dần đi, trở nên hoang dại như đồng cỏ cuối thu.Với dáng người cao dong dỏng , cân đối, mặc dù đã qua ba con rồi vẫn giữ được vẻ nhẹ nhõm, gọn gang. Anna bỗng như bị nhũn ra, trở nên nặng nề chậm chạp. Những lúc ở nhà một mình, bà thường ngồi cạnh cửa sổ, đôi bàn tay nóng bỏng, nhỏ nhắn nặng nề đặt trên đầu gối và nhìn rất lâu lên dãy Dvenigora màu xanh đậm, người đờ ra bất động trong những dòng suy nghĩ miên man và bất tận. Rồi bỗng nhiên bà giật mình, người run lên, ngực phập phồng, ở đó có một cái gì đầy sức sống và mãnh liệt đang bắt đầu nhịp đập. Bà đặt tay lên ngực, trấn tĩnh lại và tiếp tục đờ đẫn nhìn không chớp mắt ra cửa sổ.
Đã nhiều lần Phedor bắt gặp vợ trong trạng thái như vậy, nhưng ông không nói gì. Chỉ có mép ria nhọn khẽ run run. Bà thở dài, dứng dậy, gỡ chiếc lược bằng sừng từ trên đầu xuống. Mớ tóc màu hạt dẻ sáng xõa lên vai như những đợt sóng lạnh. Anna chải đầu, vấn lại tóc thành một múi lớn sau gáy và xua đuổi hẳn cái trạng thái đắm chiêu mơ màng, bắt tay vào thu dọn nhà cửa.
Họ đi khỏi làng Mikhailovka một cách hoàn toàn bất ngờ.
Một lần, vào một buổi tưa nóng nực, cậu bé Đima tám tuổi từ ngoài vườn chạy về uống sữa , rồi thục ngón tay vào mũi , hỏi:
- Mẹ ơi, tại sao mọi người bảo rằng chính bố làm cho chú Ivan phải vào tù?
Phedor, lúc ấy vừa từ ngoài bước vào, đứng sững lại trên bực cửa. Rồi ông nặng nề buông mình xuống chiếc ghế đẩu cạnh bàn.Ông ngồi một lúc lâu trong im lặng nề, rồi vụt đứng dậy, lấy chăn hất đổ chiếc ghế.
- Thôi đủ rồi! Mắt đứa nào gặp cũng soi mói, làm như thế quả thật tao là kẻ bắt thằng Ivan.
Và bỏ đi lên Santara ngay. Ba ngày sau ông trở về với một cán bộ thu mới trên chiếc xe hai ngựa kéo.
Một giờ sau toàn bộ tài sản ít ỏi đã thu xếp xong. Phedor bảo vợ ngồi vào xe, trao dây cương cho Semion.
- Cho đi từ từ thôi.
Còn tự mình dứng lại, hỏi xin lửa ở Nazarov đang đi đến.
- Đi đấy à? Sẽ làm ở đâu?
- Vào trạm máy kéo. Xin đi học thợ máy.
- Ra thế đấy. Thợ máy giờ cần lắm. Sắp tới máy sẽ nhiều,- Pancrat nói. Và, sau một lát im lặng, tiếp:- Cậu đi khỏi đây, thế là hay đấy.
- Thế sao?
Evsei Galansin chạy ngang qua hỏi một cách không úp mở .
- đi cùng?
Vẻ ngoài Phedor vẫn tỏ ra bình tĩnh, chỉ có chiếc cổ đẫm mồ hôi đỏ bầm lên và đôi má như sệ xuống.
- Cái đó thì còn tùy tôi thấy thế nào tiện hơn,- Phedor cười nhạt ném cho Evsei một cái nhìn nặng như đá.
Một tuần lễ sau, Iniuchin và gia đình cũng rời khỏi làng Mikhailovka. Và thêm hai tuần lễ nữa, mụ Vasilisa Posconova mà ở đâu cũng có mặt, ngày chủ nhật đi chợ Santara về đưa tin rằng Iniuchin cũng đã vào lớp học thợ máy kéo mà Phedor đã nhắc đến.

- Bây giờ cả hai cùng cắp cắp tới lớp, cùng ngồi học một bàn,- Mụ hấp tấp vừa thở vằ nói.
- Thế có nghe thấy gì về Anphisa, vợ hắn ta không?– Các bà tò mò hỏi.
- Một ngày thì nghe thế nào được mọi chuyện. Làm như tôi đã ở đó hàng tuần không bằng…Vasilisa luống cuống như có lỗi.
Những người đàn ông đàn bà làng Mikhailovka chỉ còn biết lắc đầu kinh ngạc trước tình bạn gắn bó như vậy giữa Phedor và Kirian
Muốn là con chim chiếc lá
Con chim phải hót
Chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay lại không trả
Sống cho ai đâu chỉ sống cho riêng mình.

( LHM )
Đăng nhập để trả lời
0
Khuya ngày 21 tháng 6, Anton Saveliev đi tàu đến Peremusl.
Chiếc đầu máy đen nhẻm, gặp mỗi đoạn dốc lại rít lên hồng hộc, nặmg nề kéo chừng nửa tá toa tàu bằng gỗ kêu răng rắc, gặp các ga xép cũng nghỉ lại rất lâu. Mỗi lần dừng lại như vậy các cô gái làm nghề buôn bán mặc tạp dề rất diện lại bám đầy các cửa toa, tranh nhau chào mời khách nếm thử bánh mằn thắn còn nghi ngút ngất khói, nấm rán với kem chua, gà dò quay…
Ngay sau khi miền tây Ucraina được giải phóng. Anton liền chuyển từ Kharcov về Lvov. Hồi đó nhà máy chế tạo máy kéo phái một sô chuyên gia về công táctại vùng mới giải phóng. Trong thâm tâm Anton không muốn rời bỏ nơi mà ông quen sống nhưng ông không nói với ai về điều này cả., chỉ có trong câu chuyện với bí thư đảng ủy nhà máy, ông hỏi:
- Đến đấy tôi sẽ làm được gì? Ở Lvov hiện nay chưa có nhà máy chế tạo máy kéo…
- Sẽ có việc,- Bí thư trả lời.- Chúng tôi sẽ cử đồng chí về các cơ quan của Đảng công tác.
Ở tỉnh ủy Lvov, người ta cử Anton giữ chức xưởng trưởng của một nhà máy cơ khí lớn sắp ra đời. và trong lúc nhà máy còn đang thi công xây dựng, ông tạm thời phụ trách công việc tiếp vật liệu cho công trường. Bây giờ ông đến Peremusl để giục nhà máy gạch địa phương khẩn trương cung cấp gạch ngói.
Trời về đêm yên tĩnh và ấm áp. Nhưng dù sao, từ bên kia sông Xan vẫn nghe mùi xăng cháy thổi đến, và Anton lại nhứ tới những tin cuối cùng đầy lo lắng mà ông nghe tỉnh ủy, nơi ông hầu như ngày nào cũng đến để giải quyết công việc của công trường, ở bên kia sông vừa có hững binh đoàn bộ binh và cơ giới Đức tập trung một cách đáng ngờ…Về việc này có nhiều ý kiến khác nhau, trong đó có ý kiến cho rằng đấy chỉ là bọn Đức đưa lính của chúng từ Pháp về nghỉ ngơi. Nhưng Anton cảm thấy trong lòng của các cán bộ Đảng viên ở lvov có cái gì không yên tâm. Điều này cũng phải thôi. Máy bay bọn Đức xâm phạm vùng trời mỗi ngày càng nhiều hơn, đôi lúc còn lượn đi lượn lại rất lâu trên bầu trời Lvov, trong thành phố và các vùng lân cận thường bắt được bọn Bandera. Chính Anton mới cách đây không lâu cũng lôi cổ một tên thám báo như vậy vào cơ quan nội vụ. Hôm đó vào giờ nghỉ trưa , ông đang đi dọc khu vực công trường, thì nghe ở phía bên kia bức tường gỗ của phòng nghỉ lao động có tiếng nói:
- Chẳng bao lâu nữa sẽ cho chính quyền Xô Viết vào hòm có nắp đậy hẳn hoi, nếu sai tớ không sống hết chiều nay…Vậy cho nên các cậu còng lưng vô ích làm gì trên cái công trường này?...Ta sẽ đóng đinh thật chặt nắp quan tài này lại…
Anton đi đến góc phòng, thấy năm người thợ nề đang nghỉ t rưa.
- Ai ở đâu định đóng quan tài cho chính quyền Xô Viết đấy? Anh bước đến hỏi.
Mấy người miễn cưỡng đứng dậy. Và lúc đó Anton mới nhận thấy rằng mình hành động thiếu thận trọng, nơi vắng vẻ, xung quanh không một bóng người.
- Cứ cho là tôi chẳng hạn, một gã người cao lêu đêu mặc áo khoác dính đầy vôi, nhìn quanh cười nhạt đáp.
- Anh là ai? Họ tên?– Rút lui bây giờ đã quá muộn.
- Phải trình chứng minh thư hay có thể tin bằng lời?– và gã cao lêu đêu phanh áo ra, trên ngực hắn chạm hình một chiếc chĩa ba răng, biểu tượng của bọn Bandera.
Không thể để mất thơì gian được. Gần như không vung tay lấy đà, Anton nện cho gã cao lêu đêu một quả đấm vào chiếc cằm râu mọc lởm chởm .
- Sao các anh cứ đứng đấy, đánh chết thằng chó này đi! Gã hét lên và rút dao ra.
Anton nhặt ở dưới đất lên một mẩu gạch vỡ- ở gần đó không có gì cả. Nhưng ông cũng không cần dùng đến gạch nữa. Vì bốn người thợ nề kia đã xô đến vặn tay tên Bandera…
Anton vừa bước dọc theo những dãy phố Peremưsl vắng vẻ, chìm khuất trong các vườn cây, vừa nhớ lại những việc đã xảy ra. Ông quyết định sáng mai mới đến nhà máy gạch. Ngày chủ nhật nhà máy vẫn làm việc, còn bây giờ tốt nhất là được tắm rửa cạo râu ria và ăn một tí gì đó.
Mặc dù đã muộn, ông vẫn tìm được một hiệu cắt tóc còn chưa đóng cửa.
Ở đây, người ta cạo mặt không như ở kharcov. Đầu tiên thợ cạo xoa xà phòng lên mặt, rồi dùng bàn tay xát rất kỹ cho xà phòng thấm vào da. Rồi bác ta cũng làm như vậy với người khách hàng thứ hai, thứ ba, sau đó mới cầm lấy dao cạo quay lại với người khách t hứ nhất.
Nhưng giờ này khách không có và Anton cạo xong rất nhanh. Bác thợ cạo già người do thái dầu đã bạc trắng, múa lưỡi dao nhanh đến nỗi ông phải kinh ngạc là làm sao bác ta có thể khéo léo không làm đứt da.
- Bác có nghe nói chúng đang làm gì bên kia sông Xan không?- Anton hỏi.
- Làm sao mà tôi biết được chúng làm gì bên kia sông Xan?- Bác thợ cạo trả lời bằng một giọng Do Thái đặc sệt.- Hay là ông cho rằng tôi hàng ngày chui qua hàng rào biên phòng bên đó ăn trưa?
Nhưng cạo xong, bác tiếp:
- Hôm trứơc nghe nói có một đơn vị xe tăng đến đóng đối diện với Peremưsl. Theo ông, xe tăng bọn Đức đến đây làm gì?
- Tôi nào biết được, -Anton thở dài.
- Vâng, vâng…-bác thợ cạo cũng thở dài. Nhưng không thể thế được. Liên Xô đã ký với nước Đức hiệp ước không tấn công lẫn nhau kia mà…
Một lúc sau Anton đã ngồi trong một quán rươụ nhỏ ấm cúng ở khách sạn. Ở đây cũng như các quán ăn ở Lvov, người ta bán những bánh ga tô bé tí xíu và bánh kẹp thịt loại nhỏ. Chỉ có café là không được đặc biệt như ở Lvov mà loãng hơn, không có mùi vị gì cả.
Nằm vào giường, Anton còn trưn trở rất lâu, không sao ngủ được: “ Không hiểu Lida ở nhà ra sao? Và Iuri g iờ đã về chưa?” Chẳng biết vì sao mà ông cứ lo lắng nghĩ ngợi, Iuri, đứa con trai duy nhất của ông, đang làm thợ tiện ở nhà máy chế tạo máy kéo Kharcov, hẹn hôm nay sẽ về và ở n hà hết cả đợt phép.
Nhưng rồi giấc ngủ cũng đã kéo đế. Cái cuối cùng ông nghe thấy trước lúc thiếp đi là giọng nói người nào đó ở phí bên kí bức tường bằng gỗ mỏng cứ nghêu ngao hát đi hát lạ một bài một bài hát vui nhộn của thành phố Lvov.
Thành phố Lvov đang đại tu,
Con gái đua nhau may áo mới…
Ông tỉnh dậy bởi những tiếng nổ khủng khiếp.
Nhỏm dậy trên giường, Anton không thể hiểu ngay là mình đang ở đâu và cái gì đang xảy ra . Rồi nhìn lên tường, ông nhìn thấy những ánh lửa đang châph chờn nhảy múa - có một cái gì đó cháy bung lên cạnh khách sạn không xa. Và cũng gần như đồng thời, một vật gì nổ tung ngay trước cửa sổ, những mảnh sắt cắm vào tường sát ngay trên đầu ông, một cột khói và lửa cuộn lên trùm lấy cửa sổ.
Mặc vội quần áo và vơ chiếc áo khoác, Anton nhảy bổ ra cửa. “Chẳng lẽ chiến tranh à?”– Ông vừa chạy vừa nghĩ và thấy người như ớn lạnh bởi cái ý nghĩ đó. Từ các phòng, những người ngái ngủ mặc đồ lót đổ xô ra , vừa kêu vừa chạy dọc hành lang. Trong một phòng nào đấy, có tiếng phụ nữa rú lên thất thanh và tiếng trẻ con khoc chói tai.
Anton vừa kịp nhảy ra đường phố, thì ngôi nhà hai tầng của khách sạn rung chuyển vì nó bị bứctường gạch cạnh đó đổ đè lên. Ông chạy tránh sang phía bên kia đường và đứng nhìn mái ngói của ngôi nhà khách sạn đang nghiêng dần, rồi rơi sập xuống giữa bức tường.
Chỉ tới lúc đó, trong đầu ông mới hiện ra cái ý nghĩ rõ ràng nhức nhối: “ Đấy chính là chiến tranh!...Chiến tranh!...Chiến tranh!...
Ngoài đường, trời gần như đã sáng rõ, nhưng bốn phía đạn pháo vẫn nổ liên tiếp, tiếng ầm ầm khủng khiếp.” Chúng bắn trực tiếp từ phía bên kia bờ sông Xan sang!... Anton thoáng nghĩ.Ông định chạy ra phía nhà ga. “Nhưng còn người đàn bà kêu la lúc nãy giờ ở đâu? Có kịp chạy ra không? Cần phải giúp đỡ…..giúp đỡ…”
Nhưng chỉ một giây sau Anton hiểu ra rằng chẳng còn ai mà giúp đỡ nữa.Ở chỗ trước đây là ngôi nhà của khách sạn giờ chỉ còn một đống gạch ngói đổ nát . Khoác chiếc áo vào người, ông chạy về phía đường phố chính, nơi hôm qua ông đã tìm ra hiệu cắt tóc. Người đổ xô ra từ các ngôi nhà, ném vali, áo quần, chăn gối qua cửa sổ, buộc chúng lại thành từng gói, vừa kêu khóc vừa cuống quýt chạy đi vấp phải những chiếc Vali vừa đủ thứ đồ đạc vứt ngổn ngang, ngã giúi giụi. Tiếng chửi rủa, tiếng kêu rên, tiếng khóc, tiếng nổ ầm ầm trộn lẫn với nhau tạo thành một tiếng rú kéo dài vô tận, càng làm cho mọi người khiếp sợ.
Cuối cùng đám người hỗn loạn này đã cuốn Anton ra tận quảng trường trung tâm thành phố, nơi có những hàng cây dẻ vừa mới trồng còn thấp lè tè rồi tản ra theo các phố chạy từ quảng trường. Anton dừng lại, suy tính.- Đi đâu bây giờ? Và, cái ý nghĩ ngày hôm qua lại xoắn buốt trong đầu: “ Ở Lvov tình hình ra sao? Iuri đã về chưa?”
Một chiếc xe bọc thép sơn xanh chạy từ trong ngõ nhỏ nào đó ra, len vào đám người, rồi dừng lại giữa quảng trường. Một người mặc quân phục leo lên nóc xe giơ loa lên miệng:
- Các đồng chí! Đừng gây hoang mang mất trật tự! Tiếng loa vang lên khắp quảng trường:- Có thể đây chỉ là một vụ khiêu khích …Nhưng để đề phòng đề nghị tất cả mọi người đi ra khỏi đây theo đường ô tô Đrogobut, vì nhà ga và đường sắt đã bị hỏng. Ở trong cánh rừng phía nam Sambr người ta đã tổ chức một trạm tản cư . Ô tô sẽ đón các đồng chí ở đấy…
Đám người lại xách vali, gói bọc dồn ngược trở lại đường phố cũ. Vừa lúc đó trận bắn phá thành phố cũng chấm dứt. Tiếng nổ xung quanh bỗng đột ngột im bặt.
Và mọi người chợt nghe tiếng rú kéo dài ngắt quãng vang lên trên bầu trời.
Những cột khói đen nâu dựng lên dựng lên khắp thành phố. Đằng sau những cột khói đó, mặt trời đã mọc lên, qua làn khói dầy đặc trông hệt như một chiếc gối bông xám khổng lồ.
Những chiếc máy bay bay về phía bên kia các cột khói, về phía mặt trời mọc. Chúng bay thành hàng ba chiếc một, rất thấp. Trên cánh, hình chũ thập đen hiện ra hung dữ…
Muốn là con chim chiếc lá
Con chim phải hót
Chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay lại không trả
Sống cho ai đâu chỉ sống cho riêng mình.

( LHM )
Đăng nhập để trả lời
0
Ngày tháng sáu như bốc lửa. Chiếc mái gỗ trên lều phòng hỏa ở làng Santara cong queo lại, nổ lách tách, nóng hừng hực, dường như chỉ một tí nữa tự nó sẽ cháy bung lên.
Mặc dầu là ngày chủ nhật, Vera Iniuchin, một cô gái hai mươi tuổi, người nở nang, với những nốt tang nhang thưa thớt quanh mũi, cặp môi mọng, từ sáng vẫn ngồi bên chiếc máy chữ cọc cạnh nhãn hiệu “ Unđecvut “ đánh bản báo cáo của Grugilin cho cuộc hội nghị cán bộ đảng của huyện vào thứ tư tới. chính Grugilin cũng dã có mặt từ sớmở văn phòng huyện ủy,và qua cánh cửa để ngỏ của phòng mình, Vera nghe tiếng ông quay điện thoại liên tục và giọng khàn khàn của ông hét vào máy nói:
- A-lô, a-lô! Tổng đài đâu?...Cachia,Cachia đấy à? Novosibirsk ra sao?...Không trả lời à?...Thế còn nhà riêng của bí thư tỉnh ủy?...Cũng im lặng? Không biết bọn họ biến đi đâu mất cả…Cứ nười lăm phút một cô gọi điện cho tỉnh ủy nhé.
Vera làm ở đây đã hai năm, nhưng cô không thích công việc của mình. Mím chặt môi, cô giận dữ gõ những câu trong bản báo cáo viết theo lối quân sự về việc từ hồi mùa đông tới mùa xuân này bao nhiêu phân đã đưởc trở tới các cánh đồng của các nông trang tập thể, bao nhiêu diện tích lúa đã làm cỏ xong. Thỉnh thoảng, Grugilin lại đến bên cạnh, im lặng cầm lấy những giấy tờ vừa đánh xong, rồi lại im lặng đi ra.
- A-a. Iacov Nicolaievcich,- Grugilin đang nhựt mấy tờ giấy bỗng thốt lên.– Anh đến gặp tôi à? Qua phòng tôi đi.
- Tôi sẽ qua. Aleinicov đứng ở cửa phòng Vera nói, tí nữa tôi sẽ qua.
Grugilin ngạc nhiên liếc nhìn Aleinicov, rồi đi về phòng mình. Còn Iacov đi qua phòng đến ngồi bên bệ cửa sổ. Ông mặc thường phục, bộ quần áo ngoài bằng vải sợi to còn mới tinh, hoàn toàn còn chưa có một nếp nhăn, và chiếc áo sơ mi trắng càng làm nổi rõ hơn vết thẹo trên má sau bao nhiêu năm tháng giờ đã ngả sang màu xanh . Một mạch máu đỏ hồng nổi to chạy cắt ngang vết thẹo.
Vera cảm thấy sợ cái con người lầm lì, suốt đời cau có này. Từ cặp mắt gần như bị che lấp bởi đôi lông mày rậm rì của ông ta như phát ra một luồng khí lạnh, tê buốt, thấu đến tận tim. Cô mang theo nỗi sợ hãi này từ khi hãy còn bé tí. Mẹ cô mỗi lần bắt thằng em Nicolai nghịch ngợm đi ngủ, thường tức giận càu nhàu:
- Nghịch gì mà nghịch lắm thế, đồ quỷ sứ này! Đợi đấy, tao đi gọi ông Iacov Aleinicov có vết thẹo trên má, ông ấy đến cho mày chết bây giờ…
Nhưng Aleinicov chưa lần nào đến nhà cô cả, mà cô chỉ nhớ một đêm, lúc trời gần sáng, ông ta đến nhà Maria Ogorotnicova.
Lần ấy xảy ra đã lâu, một năm sau khi họ từ Mikhailovka trở về. Vera và Maria gần như bằng tuổi nhau và suốt ngày chạy nhảy trên đồng cỏ, chơi bịt mắt trốn tìm. Những lùm cây của biền sông Gromotuska mọc vào sát ngay nhà của gia đình Ogorot nicova ở cuối thị trấn Santara.
Một lần, hai đứa đọc chung một cuốn sách gì đó dưới ngọn đèn dầu: Khi đọc xong Vera sợ không dám về nhà theo con đường vắng vẻ, nên ngủ lại nhà Maria.
Trong giấc ngủ nặng nề, chập chờn cô nghe có tiếng xe dừng lại bên cửa sổ,tiếng gõ cửa và tiếng người nói. Lấy bàn tay giụi mắt nhìn ra, cô thấy Aleinicov đang đứng dưới đèn, trên người khoác chiếc áo capốt vạt dài nặng trịch,đầu đội mũ,có quai caìo lại dưới cằm. Cạnh cửa ra vào còn có ba người lạ nữa, họ cũng mặc chiếc áo capốt như của Aleinicov. Cha của Maria, một ông già có bộ râu quai nón rậm , mọc đến tận mắt,màu hung đỏ, đang đi ủng, tay run run. Aleinicov đang hút thuốc, dáng nhẫn lại chờ đợi.
Eropheni Cuzmich không phải là bố đẻ của Maria, ông nhận cô từ nhà trẻ mồ côi vầ nuôi lúc cô mới ba tuổi. Ông làm nghề thợ giày ở xí nghiệp liên hiệp công nghiệp, không có vợ, chỉ co hai cha con sống với nhau.
Đêm nay Vera vẫn còn nhớ, Ogorotnicova đi ủng song, ngồi thẳng lên.
- Vì tội gì?- Ông hỏi.
- Đến đấy ta sẽ nói chuyện. Aleinicov uể oải trả lời, lấy mũi giầy gí tắt mẩu thuốc lá trên sàn nhà.- Tưởng đổi họ tên, để râu là người ta không tìm ra đấy à? Tìm thấy hết!
- Maria, con ở lại nhé.– Erophei Cuzmich ngoảnh lại nói với con nuôi. Con đã lớn rồi, không sao. Gặp người tốt,con lấy chồng đi. Nhà đã có rồi, không sao đâu….
Ông nói một cách bình thường,điềm tĩnh, như trước lúc đi làm việc, biết chắc rằng chiều lại sẽ trở về nhà. Chỉ có đôi mắt cháy lên như người lên cơn sốt.
….Aleinicov ngồi trên bục cửa sổ nhìn ra đường. Cạnh hàng rào của khu nhà huyện ủy, dưới bóng cây loang lổ, và xa hơn,trên bãi buộc ngựa vương vãi những sợi rơm vụn, mấy con gà đang bới đất làm tung lên một làn bụi khô.
Phía đối diện, bên kia đường là một ngôi nhà gỗ rộng rãi, mái lợp tôn, đó là nhà của bí thư huyện ủy. Nhà được bao quanh khắp bốn phía bằng một dãy hàng rào gỗ chắc chắn.
Rồi không nói tiếng nào, Aleinicov đứng dậy,đi ra. Còn Vera như quên bẵng chiếc máy chữ , ngồi rất lâu, bất động, bàn tay áp lên lồng ngực đang đập thình thịch.” Ông ta đến đây để làm gì? Để làm gì?” Câu hỏi đó cứ quay cuồng mãi trong đầu cô.
- Có việc gì thế? – Grugilin ngẩng mái đầu nặng nề, đã bạc trắng từ lâu, nhìn Aleinicov và hỏi .
Nhưng Iacov, vẫn ở phòng cô đánh máy, im lặng ngồi bên bệ cửa sổ và cau có nhìn ra đường.
-Alô, Cachia đấy à? Thế nào, Novosibirsk không trả lời à? Không? Grugilin lại quay máy điện thoại – Họ chết hết cả rồi hay sao ấy…
- Chủ nhật mà. Người thì câu cá, người thì khách khứa ăn uống,- Aleinicov nói. Chỉ có chúng ta là làm việc, làm việc …
Grugilin đặt ống nghe xuống, liếc nhìn sang Aleinicov, rồi cúi xuống một tờ giấy đặt trên bàn.
Anh đến có việc gì phải không?– Grugilin hỏi, đầu vẫn không ngẩng lên.
- Thế không có việc gì không đến được à? Bạn bè cả mà, Alienicov cười nhạt.
Một cơn giận dữ nặng nề và gần như vô cớ trào lên trong người Grugilin. Thậm trí ông còn cảm thấy cơn giận đang lớn dần, hai bàn tay để trên bàn trở nên nặng trịch.
- Sao anh bảo là bạn bè à?
Khác với Vera, Policarp Matveievich Grugillin không sợ Aleinicov . Và nói chung , ông, Grugilin không hề biết sợ ai và sợ cái gì trên đời này. Kể cả cái chêt, mặc dù đã nhiều lần nó đã tính toán xem sẽ quật ngã ông như thế nào, sấp hay ngửa..
Policrap Matveievich Grugillin hiểu rõ sự cần thiết và tính chất quan trọng đối với cách mạng của các công việc mà Aleinicov đang làm, cái công việc đôi lúc khó khăn, thậm chí có thê bẩn thỉu và bao giờ cũng nguy hiểm. Nhưng ông không hiểu chính con người Iacov, không hiểu cái gì đã xảy ra với ông ta…
…Sau khi dẹp xong bọn Contrac, Grugilin đem Aleinicov về làm thư ký cho mình ở Xô Viết xã. Nhưng họ làm việc với nhau không lâu, vì mùa xuân năm 1920 ở vùng lân cận Santara một toán phỉ khác lại mọc lên thay thế cho toán phỉ của Captanov vừa bị tiêu diệt cách đó không lâu. Đột nhập vào các làng, bọn phỉ này giết bằng sạch những người du kích cũ của Grugilin, chém chết gia đình họ, không tha cả phụ nữ và trẻ em, đốt trụi nhà cửa.
- Đây là Dinovi, con trai của Mikhail Captanov. Xem cung cách biết ngay, Aleinicov mấy lần nói. Policrap Matveievich cho tôi đi nhé? Chỉ một tháng là tôi sẽ lôi cái đồ quỷ một mắt ấy về đây cho anh.
Iacov nói, mắt lấp lánh lộ vẻ sốt ruột đôi lông mày rậm như nhảy lên vì kích động.
Cuối cùng, Grugillin cũng đã thỏa thuận được với người lãnh đạo. Ủy ban đặc biệt của Santara, một con người ốm yếu, lừ khừ rõ ràng là ngồi không đúng chỗ của mình, giao cho Aleinicov tổ chức những người ở trong ủy ban đặc b iệt và những cựu du kích thành một đội tiễu phỉ. Và Iacov, tuy không phải sau một tháng mà phải tới giữa mùa thu năm 1920,đã lôi thẳng đến phòng làm việc của Gruligin một người chừng ba nhăm tuổi mắt bị nhài quạt .
- Đấy, như đã hứa vơi anh… Mày phải đứng thẳng dậy, đồ chó chết, trước mặt chính quyền Xô Viết!
Hắn quả là Dinovi Captanov, con trai cả của Mikhail Captanov.
Sau đó, chính Policrap Matveievich giới thiệu Iacoc Aleinicov sang công tác ở ủy ban đặc biệt, thay người chỉ huy ốm yếu trước đây. Và Grugilin đã không lầm, Aleinicov có lẽ đã tìm ra sở trường của mình trong công tác này. Chẳng bao lâu sau anh đã tóm sạch bọn phỉ , trộm cướp ẩn náu sau các khe núi Dvennigora và các khu rừng Gromotuskha, lập lại trật tự trong xã. Khi Aleinicov chuyển đến Bacnaum công tác. Grugilin rất tiếc. Sau đó Aleinicov trở lại Santara, lần này Grugilin lại mừng.
- Nào, Iacov, giúp một tay,- Grugilin nói với anh. Tình hình bây giờ lại căng thẳng. Bọn Culắc trong thời kỳ kinh tế mới im hơi lặng tiếng giờ đã bắt đầu cựa quậy rồi đấy.
Tình hình quả nhiên căng thẳng: bắt đầu công cuộc tập thể hóa ở nông thôn. Lúc bấy giờ Grugilin đã là bí thư huyện ủy.
Iacov dường như có cái tài đánh hơi đoán trước được bọn Culắc đang dự định làm điều gì và ở đâu, anh kịp thời đập tắt những vụ nổi loạn, bắt giam bọn cầm đầu. Ngày đêm anh đi ngang dọc khắp huyện, người gầy khô, mặt đen xạm lại, nhưng bao giờ cũng tốt bụng và cởi mở.
- Vất vả lắm nhỉ, Iacov? Thỉnh thoảng Grugilin hỏi. Người chỉ còn cặp lông mày và vết sẹo trên má nữa thôi.
- Chịu đựng được thôi, Aleinicov trả lời, miệng mỉm cười để lộ nhẵng chiếc răng chắc chắn, trắng lóa. Ngày mai tôi sẽ qua nông trang Belưi Iac. Ở đó người của tôi đã từ lâu theo dõi hai nông trang viên. Thỉnh thoảng lại có những người khách lạ mặt đến thăm họ. Bao giờ cũng về ban đêm, có vẻ lén lút. Đáng ngờ lắm.
- Đáng ngờ thật.- Grugilin đồng ý, - Dạo mùa xuân hay trước vụ gặt, ở đó mười lăm con ngựa bỗng lăn ra chết. Họ bảo ăn phải cái gì đó…
- Chúng tôi sẽ tìm ra. Tôi sẽ thường xuyên liên lạc với anh . Hễ có gì tôi sẽ báo cho anh xin ý kiến.
Và quả thật A leinicov luôn luôn thông báo cho huyện ủy biết tình hình tất cả các công việc mình và xin ý kiến. Nhưng sau đó Iacov Aleinicov bắt đầu thay đổi, trở nên lầm lì, ít nói, thường đến văn phòng huyện ủy với dàng điệu ủ rũ, cau có, mặt không cạo. Grugilin cũng không nhận thấy sự thay đổi đó bắt đầu từ bao giờ. Đầu tiên Grugilin nghĩ rằng có lẽ Aleinicov đã quá mệt mỏi, tuổi tác cũng đã nhiều, thần kinh không chịu được sự căng thẳng quá mức như vậy. Iacov càng ngày càng ít đến văn phòng huyện ủy hơn.
- Có lẽ cậu nên nghỉ ngơi một thời gian, Iacov ạ- Có lần Gruglin bảo.- Đến nhà nghỉ mát chẳng hạn .
- Sẽ được nghỉ luôn ở…bên kia thế giới, nếu bây giờ nỏng tay. Aleinicov cau có đáp.
Aleinicov bắt đầu áp dụng một phương pháp công tác mới. Trong khi theo dõi một tên kẻ thù nào đó cảu chính quyền Xô Viết đang náu mình, đầu tiên Iacov tạo nên xung quanh hắn một khonảg trống. Sau đó, khi kẻ mà Aleinicov săn bắt đã sa lưới, ông tiến hành điều tra hết sức cẩn thận rồi thả những người vô tội ra.
- Cậu phải bỏ cái lối ấy đi, Aleinicov ạ. Khi biết về cái phương pháp làm việc này, Grugilin yêu cầu.– Bắt giam những người vô tội…Chắc cậu biết sẽ như thế nào đấy…Đâu phải cậu đang chỉ huy bọn hiến binh Nga Hoàng…
Sau này chính Grugilin phải trả giá cho câu nói đó, tuy nhiên bằng một cách khá đặc biệt. Chuyện này xảy ra vào khoảng giữa năm 19 36.Trong một chuyến về Novosibirsk công tác. Ông được mời đến cơ quan nội vụ của khu và bị giữ ở đó gần ba ngày. Ban đêm ông ngủ trên chiếc ghế dài bọc da đã sờn r ách trong một căn phòng làm việc, ban ngày một nhân viên được ủy quyền trẻ măng tên là Tisenco đến “nói chuyện “ với ông .anh ta cứ hỏi đi hỏi lại mãi rằng ông sinh ra ở đâu, hồi bé làm gì, cha mẹ là ai, ai là bạn đồng ngũ…v..v
Mãi đến lúc hai giờ chiều ngày thứ ba, cửa phòng bỗng bất mở và Iacov bước vội vào gần như chạy.
- Anh Matveievich Grugillin! Đúng là cái bọn này!... bảo,- Các anh hóa rồ lên rồi à? Sao anh có thể nghĩ điều gì về Grugilin ? Thế mà chúng tôi cứ thấy mất hút bí thư huyện ủy…”Thôi, ta đi,tôi cũng đi về huyện đây.
- Không thông minh lắm đâu, Aleinicov ạ, Grugilin nói khẽ và rành rọt từng tiếng một.
Iacov dừng lại giữacâu, đôi lồng mày rướn lên rồi hạ xuống. Trên đôi gò má căng, một cặp u nổi lên chạy ngang rồi biến mất, da mặt đã căng lại thêm căng, tưởng như đã hết mức.
- Anh Policrat Matveievich, Iacov nói, giọng khô khốc, đôi mắt không chớp nhìn thẳng vào mặt Grugilin,- Những người trung thành với đảng và chính quyền Xô Viết chúng tôi không động đến. Ngược lại chúng tôi hết sức bảo vệ. Còn chuyện gì xảy ra với đồng chí, có thể giải thích một cách đơn giản, Iacov bỗng chuyển sang lối xưng hô chính thức. Có lần nào đó, ở sở đây, tôi kể đùa rằng đồng chí đã phê bình tôi về phương thức làm việc, rằng…đấy, không phải tôi đang chỉ huy cơ quan hiến binh Nga hoàng ..Thế mà họ, anh hiểu không, họ nhớ những lời ấy…
- Đừng nói dối, Aleinocov! Tôi không còn là trẻ con với anh nữa đâu!
- Anh Policrat Matveievich!
- Policrat Matveievich cái gì? Anh đang làm bậy ở trong huyện này!
- Thí dụ? Aleinicov nheo mắt lại, mấy vệt trắng mờ xuất hiện trên gò má của anh và từ từ loang ra.
- Thí dụ như Ivan Saveliev, anh ta không có tội! Thí đụ như anh nông trang viên ở làng Mikhailovka Arcadi Morntanov. Vì sao khi bắt Saveliev các anh lại bắt giam anh ta?
Grugilin thở hổn hển vì tức giận,đôi bàn tay hết nắm vào lại mở ra. Tấm thân to lớn của ông run lên, ông muốn cưỡng lại cơn run đó,nhưng không thể nào làm được.
- Thế tiếp theo ra sao nữa?- Aleinicov nhếch mép cười nhạt.
- Còn tiếp theo - những chuyện như vậy không thể tái diễn! Chúng tôi đã định đưa công việc của cơ quan nội vụ ra thường vụ huyện ủy, xem xét một số vấn đề. Riêng anh, có lẽ phải đề nghị thôi việc ở đó vì đã vi phạm luật pháp xã hội chủ nghĩa. Còn anh, để đánh đòn gió nên bày cách đưa tôi đến đây! Không sẽ họp! Chúng tôi không cho phép anh …tách ra khỏi sự kiểm soát của Đảng…
Aleinicov đứng im lặng một lúc rồi bước đến bên chiếc tủ con, rót một cốc nước và uống cạn.Sau đó anh nói, giọng bình tĩnh:
- Có những việc mà có lẽ anh không hiểu được, Policrat Matveievich ạ. Sẽ không có cuộc họp thường vụ nào hết.
- Tại sao? lý do gì?
- Lý do chính trị. Đây, giấy của anh đây.
Không cong nhớ gì nữa, Grugilin chạy ra đường và đến ngay khu ủy.
bí thư khu ủy Subutin,một ông già xương xẩu với những vết nhăn hằn sâu trên đôi má, không tiếp Grugilin ngay,nhưng lại nghe toàn bộ câu chuyện một cách chăm chú, bình tĩnh, không ngắt ngang lời. Và chỉ khi Policrat Matveievich kể hết, đừng lại im lặng,ông mới nói:
- Thế nghĩa là… Nghĩa là tôi quả có điều gì đó không hiểu được, như Aleinicov nói, hở anh Ivan Mikhailovich.
- Có thể đấy.
- Nhưng…điều gì? Điều gì?
- Điều gì à? –bí thư khu ủy hỏi lại một cách không vui. Nhiều điều lắm . tình hình chính trị. Mạch thời gian.
- Cái gì? –Grugilin ngẩng lên nhìn bí thư khu ủy dường như lần đầu tiên trông thấy ông..
Đã từ lâu lắm, có lẽ từ tháng mười năm 1919. Policrat Matveievich được biết con người này, một trong những cán bộ lãnh đạo tổ chức bí mật của Novonicoleavsk, sau đó là chính ủy một trung đoàn thuộc quân đoàn thứ năm nổi tiếng của Hồng Quân. Đúng, từ tháng mười, bởi vì chính trong những ngày cuối tháng mười năm 1919, đội quân duc kích của Grugilin cùng với trung đoàn này đánh bật bọn bạch vệ ra khỏi Santara. Sau đó, trung đoàn tiếp tục hành quân vè phía Novonicolaevsk. Khi tạm biệt, ông nắm rất chặt tay Grugilin lắc mạnh và nói: “ Nào, Policrat Matveievich, anh hãy xây dựng chính quyền Xô Viết ở đây nhé, bây giờ anh hãy tạm ngừng choảng nhau đã”.
Chừng hai, ba năm sau Grugilin lại gặp lại ông tại đại hội Đảng ở Barnaun, lúc đó Santara còn thuộc về khu Barnaun. “ Đấy, tôi nay cũng thôi choảng nhau rồi. Khi nhận ra Grugilin, ông nói và lại bắt tay thất chặt.. Tôi bây giờ có lẽ phải làm ở khu ủy. Ta cùng cộng tác nhé?”
Và họ cùng làm việc, cùng gặp nhau luôn, mãi cho đến năm 1930 , khi Santara được sát n hập vào khu tây Sibiri vừa mới thành lập. Suốt mấy năm Grugilin mất bống con người này. Nhưng khoảng năm rưỡi trước đây họ lại gặp nhau ở khu ủy tâu Sibiri. A chào anh Policrat Matveievich! Ông thốt lên mửng rỡ và lắm tay lắc mạnh.- anh thấy chưa quả đất tròn, số phận lại cho chúng ta gặp nhau! Nào, vào đây, ta nói chuyện.Tình hình các anh ở Santara ra sao?...
Làm việc với Ivan Mikhailovich rất thoải mái, nhẹ nhàng. Bao giờ cũng nhẹ nhàng cởi mở, ông không hề nổi nóng, hoặc hấp tấp, mất bình tĩnh. Tất cả những cái này dường như trái ngược với vẻ ngoài xương xẩu, góc cạnh hơi thiếu cân đối của ông, nhưng dù sao ở con người ông cũng luôn luôn toát ra sức mạnh và sự công bằng dễ chinh phục lòng người. Lúc đầu Grugilin không thể nào hỉểu được do đâu mà con người này có dược các sức mạnh chinh phục lòng người đó? Nhưng sau ông hiểu: Do đôi mắt, cái nhìn. Khi ông nói chuyện với ai, Ivan MIkhailovich cũng luôn luôn nhìn thẳng vào mắt người đó bằng đôi mắt màu xám, hơi buồn buồn dường như không chớp, và dường như cái nhìn của ông xuyên thấu tận tâm hồn, thấy được những điều mà người khác không bao giờ thấy. Và thật kỳ lạ, điều này không hề làm cho người nói chuyện với ông cảm thấy khó chịu và sợ hãi – ít ra là Grugilin không bao giờ cảm thấy như vậy, nó chỉ làm ông mất khả năng giấu diếm một cái gì đó, buộc ông phải nói ra tất cả những gì trong lòng, cả điều tốt lẫn điều xấu. Và ông đã nói hết, vì rằng cái nhìn của Ivan Mikhailovich, bằng một cách kỳ lạ, không thể giải thích nổi, bắt ông phải tin rằng trước mặt ông là con người hiểu biết tất cả, một con người không phê phán ông vì chưa biết được những điều quan trọng nào đấy, và con người đó sẽ giúp ông hiểu những gì ông chứ hiểu.
Và bây giờ, Subutin cũng đang nhìn Grugilin bằng cái nhìn như vậy.
Hia người ngồi im lặng khá lâu trong căn phòng làm việc rộng rãi, sạch sẽ . Con lắc tròn bằng đồng hồ treo tường chậm rãi và rõ ràng thả từng tích tắc xuống sàn nhà gỗ trải tấm thảm đã sờn. Trên cửa sổ , tấm màn vải bị gió lay động khẽ kêu sột soạt.
- Nhưng… nếu như tôi không hiểu được những điều như vậy…-Grugilin nói và không hiểu sao day dứt lắng nghe tiếng tích tắc của quả đồng hồ, thì tôi làm sao tiếp tục…làm bí thư huyện ủy?
- Tôi cũng đang nghĩ về điều đó. Ivan Mikhailovich nói giọng khô trầm. Grugilin như bị điện giật, từ từ ngẩng đầu lên. Bí thư ủy thở dài đứng dậy. Thôi đựơc anh cứ về đi, Policarp ạ.
Từ khu ủy, Grugilin bước ra về, trong đầu nghe ong ong và ông có một cảm giác kỳ lạ: Ông Grugilin, bị một người nào đó nhai rất lâu, rất kỹ, đã nát nhừ - lên mặt đất đầy bụi.
Ở nhà ga, Grugilin vào một quán ăn tồi tàn và uống một hơi cạn cốc rượu vốtca hâm nóng, nhưng không cảm thấy gì ngoài cảm giác lợm giọng, buồn nôn, ông leo lên tàu.
” Thế này là thế nào”– Ông suy nghĩ suốt cả quãng đường trong tiếng gõ đều đều của bánh tàu.- Thì cứ cho là mình chưa hiểu được đi…Thế nhưng tại sao ông ta, ông Ivan Mikhailovịc ấy không giải thích cho mình những điều mình chưa hiểu?..Ông ta có thể giả thích được cơ mà…”
Về huyện, Grugilin chút đầu vào công việc, suốt ngày đêm sục sạo hết làng này, xã khác. Đang giữa vụ cát cỏ , nên nhiều khi Grugilin cởi bỏ áo ngoài, cầm lấy nạng và suốt ngày đầm đìa mồ hôi, đứng xóc cỏ chất lên những đụn cao ngất.
Một lần ông cũng làm việc suốt ngày như vậy ở nông trang Mikhailovca. Người ta đánh cỏ thành từng đụm trên cánh đồng cạnh con sông Gromotukha. Tối đến sau khi tắm trong dòng nước sông mát, ông ngồi lên bờ đá đã phả hết hơi nóng và nghe tiếng sông Gromotukha róc rách nơi con thác nhỏ. Có tiếng xe ngựa từ phía sau đi đến và dừng lại , rồi tiếng chân người bước khẽ.
- Thế nào, làm có mệt không, anh Policarp Matveievich?– Qua giọng nói Grugilin nhận ra ngay đó là chủ tịch nông trang Mikhailova Pancrat Nazarov.
Thỉnh thoảng làm một bữa thì cũng tốt thôi, Pancrat ạ, máu lưu thông.
- Tất nhiên là tốt rồi,- người cựu chỉ huy phó đội du kích đồng ý, ngồi xuống bên cạnh, xèo bàn tay ôm lấy bộ cằm rộng. –Chỉ có điều tự nguyện thì vẫn hơn là cưỡng bức.
Grugilin ngước nhìn sang Pancrat đang ngồi như một tảng đá trong bóng đêm nhờ nhờ, nhưng không nói gì.
- Này, anh cò nhớ không, lần ấy chúng mình qua sông ở chỗ nông này đây. Trốn thằng Dubov ấy mà.
- Sao lại không nhớ. Grugilin đáp, đúng là chõ này.
Rồi họ ngồi im lặng rất lâu, mỗi người theo đuổi một ý nghĩa riêng.
- Anh có nghe tin gì về Ivan Saveleiv không?
- hông, có gì thế?
- Ấy đấy, ấy đấy, Pancrat lặp lại hai lần. Thực ra cậu ta không có tội đâu.Tai bay vạ gió đấy mà. Và có lẽ vì mãi không thấy Grugilin đáp, ôn ghỏi tiếp – Nhưng sao lại thế? Còn anh, anh là bí thư cơ mà…
Grugilin biết trả lời sao ? Ông ngồi im lặng rất lâu.
- Nói anh nghe, chắc anh cũng không tin…có những lúc bí thư huyện ủy cũng phỉa bó tay bất lực không làm gì được.
Con sông vẫn chảy róc rách. Đằng Tây, những mảng mây cuối cùng trắng nhờ như khối tuyết bị dòng nước đen cuốn trào lên đem vung vãi khắp trời. Có cảm tưởng như đêm sẽ kéo dài bất tận, thanh vắng và đen đặc, tối như bưng.
- Thế đấy à, Nazarov thở dài, thò tay vào túi lấy thuốc,….Thức lâu mới biết đêm dài. Quả thế thật…Anh ruột của cậu ta cho cậu ta vào tù đấy. Nhưng vì sao? Để làm gì? Anh nghĩ sao?
- Tôi nghĩ sao ấy à, anh Pancrat? Tôi cũng không biết nữa,- Grugilin thú thực. Rồi ông nói tiếp trong đầu không chỉ nghĩ về Phedor Saveleiv mà còn về Aleinicov. Con sông Gromotukha này mùa hè thì gầm réo, mùa đông thì im lặng, điều này còn dễ hiểu. Nhưng những gì xảy ra với con người đôi lúc chẳng còn biết ra sao nữa. Có le anh nói đúng đấy, muồn biết đêm dài thì phải thức lâu.
Họ cùng đứng dậy đi đến bên xe của Pancrat.
- Thôi chào anh nhé, anh Pancrat… Tôi đi thắng con Carac đây…
- Tôi có tí chuyện về Agata muốn nói… Tôi định cử cô ta làm tổ trưởng…
- Tổ trưởng à? Chẳng lẽ trong nông trang không còn đàn ông sao?
- Họ đi đâu mà chẳng còn! Nhưng có khi hàng tá đàn ông không bằng một mụ đàn bà..
Nazarov im lặng, đợi Grugilin trả lời.
- Không nên, ông thì thầm trong bóng tối.
Chủ tịch nông trang thở dài:
- Hay chuyển cô ta sang trại sữa?
- Sang trại sữa cũng không nên. Bây giờ không nên làm gì cả, anh Pancrat ạ. Cứ để đấy hẵng…
- Thôi được, có khi anh nói đúng đấy, cứ để vậy có lẽ tốt hơn.
Sau sự việc xảy ra ở Novosibirk, sau lần nói chuyện với bí thư huyện ủy, Grugilin chưa từ bỏ ý định đem ra xem xét và thảo luận trong thường vụ huyện. Nhưng trong những ngày đầu tiên ông không thể nào tập trung suy nghĩ được. Những chuyến đi trong huyện giúp ông bình tĩnh lại hơn. Sau khi về Santara, Grugilin chỉ thị cho nhân viên văn phòng huyện ủy chuẩn bị số tài liệu cho cuộc họp thường vụ.
Sáng ngày hôm sau, Alienicov gọi dây nói tới.
- Này, có người của anh đến đây yêu cầu lấy những số liệu nào đó.
- Đấy không phải là người của tôi mà là cán bộ của huyện ủy..
- Thế nhưng... Aleinicov thoáng ngập ngừng vài giây. Tôi không cho họ số liệu nào đâu.
- Trong trường hợp như vậy, thường vụ sẽ xem xét tư cách của đảng viên Aleinicov.
Ống nghe lại im lặng mấy giây. Grugilin chỉ nghe thấy tiếng thở nặng nề, ngắt quãng của Aleinicov ở đầu bên kia.
- Còn tôi, anh Grugilin, rất sợ…, cuối cùng trong ống nghe vang lên giọng khe khẽ, đều đều, với một sự chậm rãi, rõ ràng khác thường của Aleinicov.- Tôi rất sợ rằng thường vụ lại phải xem xét tư cách cá nhân của một đảng viên khác…đảng viên Grugilin. Mà tôi thì rất không muốn điều đó..- Và Aleinicov đặt ống nghe xuống.
Grugilin giận điên người, đi lại trong phòng. Hơi bình tĩnh một tí, ông lại gọi điện cho Aleinicov. Nhưng một giọng phụ nữ nhạt nhẽo trả lời rằng Aleinicov vừa sang huyện và còn lâu mới trở về.
- Cụ thể là báo giờ?
- Tôi không biết…
Grugilin liền gọi lên khu ủy. Nhưng Ivan Mikhailovich không có ở nhà. Cả ngày thứ hai, rồi thứ ba cũng vậy. Đến ngày thứ tư thì chính bí thư khu ủy gọi điện xuống.
Chào hỏi xong, subutin bỗng nhiên hỏi thăm về sức khỏe, về cuộc sống của Grugilin, làm cho Gruglin phải cảnh giác đề phòng.
Có chuỵện gì vậy, anh Ivan Mikhailovich? Anh nói thẳng ra đi.
- Việc thế này, Grugilin ạ… Khu ủy có ý định chuyển anh sang Oirochia. Đội ngũ cán bộ dân tộc ở đó hơi yếu, cần phải giúp…
- Thế đấy, tôi hiểu rồi…- Grugilin thốt lên.
- “ Hểu cái gì “? Giọng bí thư huyện ủy nghiêm lại.- Anh hãy vứt bỏ những ý nghĩ đằng sau ấy đi. Yêu cầu Đảng.
- Cụ thể các anh định chuyển tôi đi đâu? Về châu nào? Hình như ở Oirchia người ta gọi huyện như vậy thì phải.
- Anh sẽ đến tỉnh ủy Oirchia - Turinsk chịu sự điều động sử dụng. Ở đó họ biết rõ nên để anh làm gì…
…Ở tỉnh Oirchia, Grugilin giữ chức vụ phó chủ tịch ủy ban của một trong những huyện hẻo lánh nhất cho đến năm 1941. Ông đã hoàn toàn mât tin tức về Ivan Mikhailovich và Aleinicov, vì tỉnh Oirchia được sát hập vào khu Antai vừa được thành lập năm đó.
Grugilin đã yêu chịu với số phận của mình, nghĩ rằng sẽ không còn bao giờ gặp lại hai người đó nữa. Nhưng tháng riêng năm nay, ông bỗng được gọi về Barnaun và người ta bảo rằng theo yêu cầu của tỉnh ủy Novosibirsk, khu ủy Antai thấy có thể trong thời gian tới để ông thôi việc và trở về Novosibirrsk.
" Đây là Ivan Mikhailovich”!- Không hiểu sao Grugilin lại nghĩ như vậy.
…Và nửa tháng sau, ông đã lại được bầu làm bí thư huyện ủy Santara.
- Nhưng khoan đã, Aleinicov vẫn còn làm việc ở đấy à?–Grugilin hỏi Ivan Mikhailovich trước lúc lên đường về dự đại hội đảng bộ huyện.
- Vẫn ở đấy.
- Nhưng theo tôi hiểu, chính vì Aleinicov mà…
- Thời gian đã qua đi bao nhiêu rồi, Ivan Mikhailovich ngắt lời. Và hình như bí thư ủy không muốn nói về điều này. –Tôi ngĩ rằng cả hai đều đã hiểu biết thêm ít nhiều và giờ có thể đã làm việc với nhau.
Policarp Matveievich vừa hiểu, vừa không hiểu ý bí thư tỉnh ủy nói gì. Quả là không ít thời gian trôi qua- một khoảng thời gian đầy khó khăn, thử thách. Những vụ án rầm rộ xét xử bọn người tham gia liên minh Trotski – Bukharin năm ba sáu, ba bảy, ba tám đã buộc Grugilin phải có cách nhìn khác đối với nhiều sự việc.Trong đó có cả việc làm của Aleinicov ở huyện này. Như thế có nghĩa là sau hai trục năm tồn tại của chính quyền Xô Viết, kẻ thù lại thực sự ngóc đầu dậy. Không ít các nhà máy bị nổ tung, thỉnh thoảng công an đặc biệt lại khám phá ra những âm mưu, bắt diệt những tổ chức phá hoại. Như thế chắc là Ivan Saveleiv và tay nông trangviên lầm lì hiền lành bị Aleinicov bắt chắc phải có l ý do gì chứ? Cũng có thể là Saveliev đã bán hai con ngựa khốn khổ cho bọn Digan, và Montranov tìm cách bao che cho anh ta? Một số thì mưu sát những người lãnh đạo đảng và nhà nứơc, số khác thì tìm mọi cách phá hoại chính quyền Xô Viết. Nhưng cả Pancrat Nazarov, cả các nông trang viên khác ở Mikhailovich đều bào chữa cho Saveliev, đều không tin rằng anh có tội. như thế thì cả họ cũng là những kẻ phá hoại sao?
Phân tích, đánh giá tất cả những cái này cho đến tận cùng, tìm racho được chân lý, là điều không thể làm được. Đầu óc cứ rối tung, quay cuồng cả lên.
Nhưng đấy chưa phải là điều khó hiểu nhất - và cũng vì vậy là điều đáng sợ nhất đối với Grugilin – là lúc đó, ngay từ giữa năm 1936, aleinicov đã có thể không cho phép huyện ủy xem xét công việc cơ quan nội vụ huyện, ngăn chặn cái ý định đầu tiên của huyện ủy trong chuyện này .
Policarp Matveievich mang những ý nghĩ đó trong đầu như một gánh nặng không biết trao đổi, san sẻ cùng ai.
Sau khi Grugilin chuyển sang tỉnh Oirochia, Polipov Piot’r Pet;’rovich cán bộ tỉnh ủy Novosibirrk một người to béo, mập lùn và lầm lì được cử về làm bí thư thứ nhất huyện ủy Santara. Ở ông ta, mọi cái đều như rộng hơn người khác, từ trán, vai cho đến đôi gò má. Thậm chí cặp cánh mũi cũng rộng bè bè. Ông ta đón Grugilin với một vẻ ngoài thản nhiên, đôi mắt to, lạnh lùng nhìn nhanh qua một vài giây, cặp mí sưng nặng khẽ nhíu laị “ Chẳng lẽ ông ta uống rượu à” Grugilin thoáng nghĩ.
Và Iacov Aleinicov cũng đón Grugilin một cách dè dặt, im lặng, không tỏ thái độ vui mừng hoặc khó chịu. Chỉ mới mấy năm qua mà ông đã thay đổi rất nhiều, già hẳn đi, mái tóc vẫn chải mượt ra phía sau nhưng trở nên thưa hơn, trên đỉnh đầu đã bắt đầu hình thành một mảng hói. Và cả cặp lông mày rậm rì cũng hình như thưa hơn, vết sẹo chéo trên má có màu xanh tím. “ Cái quỷ gid thế này, chẳng lẽ tay này cũng uống rượu à “ – Grugilin lại nghĩ.
Đúng là Iacov Aleinicov đã thay đổi . Đứng đầu các tổ chức trong huyện là những người không quen biết. Grugilin biết rằng cũng có một số người cùng làm việc ở đây với ông khi ông chưa chuyển sang Oirochia, đã bị bắt, chủ nhiệm liên hiệp hợp tác xã tiêu thụ huyện Vasili Dasukhin, người quản lý hậu cần của đội của đội du kích cũ, đã bị bắt. Những lần đội bị bao vây, khi mọi người đang chờ đợi một cái chết đói khó lòng tránh khỏi, thì Dasukhin bằng cách kỳ diệu nào đó mà không ai hiểu nổi, đã tìm ra thức ăn - lúc thì dăm con cừu gầy tóp, lúc thì vài bao bột mì. Trưởng phòng tài chính huyện Đanilo Coskin người mà an hem du kích trong đội dặt cho cái biệt hiệu “ Đanilo- Thiên lôi” cũng bị bắt. Hàng ngày hiền lành , không có gì nổi bật, nhưng khi vào trận Đanilo trở thành một con người khác hẳn. Đôi mắt cháy rực lên như trong cơn sốt, anh xông vào những chỗ nguy hiểm nhất và cũng vì vậy có cái biệt hiệu trên.Rồi cả chủ tịch ủy ban huyện Cornei Baulin cựu tham mưu trưởng của đội du kích , cũng bị bắt. Vì tội gì, số phận họ ra sao- không được hỏi. Mà có hỏi thì cũng chẳng được ích gì. Và Grugilin sẽ chẳng bao giờ biết được điều đó, nếu như Aleinicov, giờ đây ngồi trước mặt ông, trên bệ cửa sổ với dáng điệu như trầm ngâm, ủ rũ, không tự nói ra, hoặc ít nhất không gợi lên.
Trong phòng làm việc, mọi sự im lặng nặng nề, kéo dài, bao trùm lên cả hai người. Bên ngoài cửa sổ, ngày dài nhất trong năm đang đổ lửa. Trong vườn, những chùm lá dương non bị hun héo rũ xuống từng túm đen. Trên nền trời xám đục, ngột ngạt, những đám mây bong trắng pha màu xanh phơn phớt tụ lại ngay phía trên ngọn dương, dường như đang sắp sửa rơi sầm xuống đất.
- Trời sắp dông - Aleinicov nói.
- Iacov Nicolaievich, tôi cần phải chuẩn bị báo cáo cho cuộc họp đảng sắp tới.– Grugilin nói,- Nếu như anh không có việc gì cấp bách..
- Cấp bách…- Aleinicov cười khẩy,- Mọi việc của con người đều cấp bách, bởi vì cuộc đời ngắn ngủi đã được đo sẵn từ trước…
Những lời này vang lên ở miệng Ivan Aleinicov nghe có một cái gì đó khác thường.
- Hôm nay Ivan Saveleiv ở nhà tù về đây,- Aleinicov bỗng đột ngột nói.- Có thể là ngay bây giờ trong phút này, đang bước vào ngõ.
- Thế... thì sao ?
- Không sao cả . Ngồi đủ hạn rồi, giờ cứ việc sống.- Im lặng một lúc, ông từ từ quay đầu lại. Phía Grugilin.– Sao anh lại không trách gì, rằng anh ta phải chịu oan.
- Thế nào, Iacov, anh lại bày trò khiêu khích đấy hả.
Aleinicov, không hiểu sao bỗng rùng mình như bị đánh: Ông rời bệ cửa sổ đến ngồi xuống chiếc ghế cạnh bàn Grugilin.
- Tôi nghĩ là anh sẽ không nhắc lại nữa. Không nên nhắc lại làm gì. Anh Policarp ạ. Mọi việc nó rất phức tạp…
- Mọi việc- Nghĩa là thế nào?
Mọi việc…Cả việc Cornei Baulin, Coskin Dasukhin bị bắt, cả việc anh bây giờ lại về đây, lại về làm bí thư huyện ủy…
Aleinicov nói, hai tay che mặt. Còn Grugilin mỗi lúc một trở nên kinh ngạc.
- Lúc đó, năm ba sáu, nếu như anh không đi, thì tôi... có lẽ…cũng đã…Cái ông bí thư tỉnh ủy… hoặc theo cách gọi lúc đó là bí thư khu ủy, đã cứu anh, phái anh đi một nơi xa hẻo lánh …Thế rồi Oirochoa sát nhập vào Barnaun! Đúng, cái ông Subutin ấy thật thông minh …
- Nhưng khoan đã đã, Iacov,- Grugilin nói, đưa tay đẩy đống giấy tờ sang một bên.- Nếu thế, ta hãy theo thứ tự. Iacov….
- Không cần đâu. Không cần gì cả. Không cần theo thứ tự . Hoàn toàn không cần thiết,- Aleinicov cau có nói và đứng dậy.
Vera cầm mấy tờ giấy đánh máy cuối cùng của bản báo cáo bước vào phòng và đặt lên bàn.
- Hôm nay cháu có cần ở đây nữa không ạ?
- Thôi, đi nghỉ đi
- Anh làm việc với Polipov như thế nào?- Khi Vera đi khỏi, Iacov bỗng hỏi. Sau khi Grugilin về đây, Polipov được cử làm chủ tịch ủy ban huyện.
- Làm việc như thế nào à?– Crugilin nhún vai.- Khó có thể kết luận được gì, vì mới có ba bốn tháng. Đầu tiên, tôi tưởng ông ta có vẻ tự ái vì phải chuyển sang công tác ở chính quyền. Nhưng hình như đây chỉ là bản tính ông ta, ít nói, lầm lì.
- Thế đấy, -Aleinicov buông lấp lửng.- Thôi được, tôi đi đây.– Và ông đứng dậy đi ra cửa, ông đứng lại, lấy mấy ngón tay vuốt vuốt tóc ở thái dương.- Tôi đến để định hỏi anh một điều gì đó... à phải rồi, về cái cô thư ký này…Tên cô ta là gì nhỉ?
- Vera Iniuchin ấy à?
- Vâng vâng… Cô ta đánh máy ra sao, tốt chứ?
- Tốt!
- Anh có thể để cho sang chỗ tôi được không? Tôi, anh hiểu không, cần một cô đánh máy khá…
- Cứ lấy đi, nếu như anh ưng. Và, nếu như cô ta đồng ý.
- À, nhưng thôi, không cần. Tôi sẽ tìm đâu đó một người khác, Aleinicov lại bỗng thay đổi ý định. Chào anh.
Aleinicov đi khỏi, Policarp Metveievich còn ngồi rất lâu nhìn ra cửa, cố gắng tập trung những suy nghĩ của mình lại. Hình như lại có điều gì đó sắp xảy ra với Aleinicov. Nhưng điều gì?
Grugilin biết rằng trong đời riêng của Aleinicov có những điều bất hạnh.Năm ba sáu, đứa con trai của ông bị chết đuối. Tắm ở sông Gromotukha, đứa bé cùng với một lũ bạn leo lên một chiếc xà ngang. KHi phà sang đến giũa sông, lũ trẻ hò nhau nhảy xuống nước để bơi vào bờ. Đứa con trai của Aleiicov cũng nhảy theo, nhưng chưa kịp chìm xuống nước, người đứa bé đã rập rờn trên mặt sông như một chiếc phao nặng, máu loang đỏ mặt nước.
Mùa xuân, khi lũ về, người ta thường thả rất nhiều bè gỗ xuôi theo dòng Gromotukha. Thỉnh thoảng những cây gỗ đặc biệt nhiều nhựa, nặng như đá bị chìm xuống sông. Nhưng dòng nước vẫn cuốn chúng đi, những thân gỗ đó vướng vào đá, vào rễ cây hai bên bờ, nhưng vẫn chập chạp trôi xuôi. Và không ít trường hợp những cây gỗ nặng đó đã đâm thủng đáy các khoang phà dễ dàng như đâm thủng một tờ giấy.
Đứa con trai của Aleinicov đập đầu phải một khúc gỗ như vậy. Và thêm nửa năm sau, vợ của Iacov, không hiểu vì sao bỏ nhà đi. Grugilin không biết rõ về chị ta lắm. Đó là một người phụ nữ người dong dỏng cao, xinh đẹp dáng kiêu hãnh, nhưng hình như tốt bụng và thông minh. Trong những lần gặp nhau không lấy gì làm nhiều lắm, chị ta luôn chào hỏi trước, mỉm cười niềm nở, nhưng đi ngang qua một cách vội vã, mái đầu cắt ngắn như con trai ngẩng cao. Chị tên là Galina Phedorseevna, bác sĩ, làm việc tại bệnh viện huyện. Vợ của Grugilin cũng làm việc ở đó, về kể rằng Galina là một bác sĩ giỏi, nhưng trong bệnh viện mọi người không gần gũi, thậm chí còn sợ chị ta. Có lẽ vì chồng.
Iacov đưa chị từ Novosibirsk về vào mùa đông năm bat ư hoặc đầu năm ba lăm. Trước khi lấy Iacov, chị đã có một đời chồng, chị đến Santara với đứa con trai tám tuổi, và hình như Iacov cũng thương yêu đứa con nuôi đó. Con riêng, Aleinicov không có…
Grugilin đi lại trong phòng từ góc này sang góc khác tay bới mớ tóc bạc và ngẫm nhĩ về Al einicov, về Subutin, người mà hôm nay như bỗng hiện ra với ông một thứ ánh sáng khác. Đúng, có lẽ chính Ivan Mikhailovich đã cứu ông khỏi bị bắt bằng cách phái ông đến một huyện xa xôi hẻo lánh. Ông, Grugilin, đã không tiếc xương máu, không hề nghĩ tới đời mình, chiến đấu vì chính quyền Xô Viết, vì đấy là chính quyền của nhân dân, và sau đó, tất cả sức lực và trí tuệ mà ông có, ông hiến dâng cho sự nghiệp xây dựng và củng cố chính quyền đó. Thế mà bỗng nhiên, chính ông, đến cả ông, lại cần được bảo vệ, lại cần phải được cứu thoát bởi một tay nào đó vì một nguyên nhân nào đó… Nếu như quả như vậy, nếu như Subutin đã hiểu tất cả những điều này ngay từ hồi đó, năm 1936, thì tại sao ông không nói ra, một cách chân thực và thẳng thắn, như một người cộng sản với một người cộng sản, về những việc đang xảy ra ở trong nước? Và lúc đó hẳn nhất thiết phải nảy sinh một câu hỏi cụ thể: tại sao phải cứu đảng viên cộng sản Grugilin ra khỏi bàn tay của đảng viên cộng sản Aleinicov? Ừ thì sao, nếu câu hỏi đó nảy sinh ra thì bí thư đảng ủy phải trả lời, nếu như có thể. Ông cần phải trả lời, có trách nhiệm phải trả lời- theo chức vụ ông đang giữ, theo tuổi đời và tuổi đảng. Nhưng ông đã không nói ra, không trả lời, tại sao?
Grugilin còn đi lại rất lâu trong căn phòng làm việc vắng vẻ.Ông không nhận thấy trời bỗng tối sầm lại. Một tiếng sấm dữ dội nổ ngay trên mái nhà, làm ông chợt tỉnh: hàng loạt tiếng nổ nhỏ nối nhau lan về phía dãy Dvenigora.
“Thôi, cứ xếp những ý nghĩ, những câu hỏi đó lại đó đã! Không biết ngày mai ở tỉnh ủy ai sẽ về dự hội nghị cán cốt đây?” – Grugilin thầm nghĩ và lại bắt đầu quay số điện thoại.
- Alô! Cachia đấy à? Thế nào cháu, ở tỉnh ủy có gì không?
Novosibirsk vẫn im lặng như cũ.
Muốn là con chim chiếc lá
Con chim phải hót
Chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay lại không trả
Sống cho ai đâu chỉ sống cho riêng mình.

( LHM )
Đăng nhập để trả lời
0