📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Thể Thao

Võ Thuật

9 trả lời, 845 lượt xem — Trang 1 / 1
Chủ Nhật, 17/09/2006, 14:58

"Cửu Long hội ngộ"- buổi biểu diễn của các võ sư

TTO - Tối nay 17-9-2006, một buổi diểu diễn võ thuật hoành tráng sẽ diễn ra tại Nhà thi đấu Quân khu 7, do VinaGame tài trợ chính và Sony đồng tài trợ. Với tên gọi “Cửu Long hội ngộ”, đây sẽ là chương trình quy tụ “chín rồng” với những võ sư nổi tiếng của làng võ thuật trong nước và nước ngoài.

Ngoài ra, những nhóm lân sư rồng tên tuổi và nhóm cascadeur “đình đám” cũng sẽ tề tựu về để cống hiến những màn trình diễn thật độc đáo, những tuyệt kỹ võ công của mình cho khán giả thưởng lãm. Đầu tiên có thể kể đến võ công của các môn phái: võ sư Tô Thiếu Kiệt cùng các đệ tử biểu diễn Thái Cực quyền và Thái Cực kiếm, võ sư Trần Cửu với Hầu quyền hay hàng loạt màn trình diễn khác của nhóm Cascadeur Lữ Đức Long và nhóm Wushu Việt Nam.

Ngoài ra, chương trình còn có sự góp mặt của ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc hùng hồn và ca khúc nhạc Hoa lời Việt là Lương Chí Cường, ngôi sao nhạc pop Lương Bích Hữu… Chương trình không bán vé và số lượng vé mời có hạn, những ai yêu thích võ công có thể xem thêm những thông tin chi tiết hơn trên trang web www.cuulong.com.vn.

HOÀNG TRANG

http://www.tuoitre.com.vn/thethao/Index.aspx?ArticleID=162368&ChannelID=14
Đăng nhập để trả lời
0
Thứ Hai, 18/09/2006, 04:46

Cửu Long hội ngộ:

Ngày hội của các cao thủ võ thuật VN


Tiết mục dùng đầu công phá gạch ống của phái Thiếu Lâm Thái Lý Phật - Ảnh: N.K.
TT - Đêm 17-9, chương trình “Cửu Long hội ngộ” do Bến Thành Audio tổ chức dưới sự tài trợ của Công ty Vina Game đã diễn ra tại nhà thi đấu QK7 với sự tham dự của môn phái cùng các võ đường nổi tiếng như: Thiếu Lâm Hồng Gia, Bạch Mi, Thiếu Lâm Thái Lý Phật, Vịnh Xuân Nam Anh, Thái Cực Quyền, Nhơn Nghĩa Đường, Hằng Anh Đường, Tinh Anh Đường.

Hàng ngàn người yêu và ham mê võ thuật ngồi chật kín nhà thi đấu QK7 đã hết sức mãn nhãn với những tuyệt học được thực hiện bởi những võ sư danh tiếng như “đại lực sĩ” Hà Châu, “hầu vương” Trần Cửu; cùng những màn biểu diễn tuyệt kỹ nội công khác như thiết sa chưởng (dùng tay không đập vỡ những quả dừa tươi), thiết đầu công (đập gạch một phút 60 viên), dùng muỗng inox xuyên yết hầu, xếp sắt bằng tay...

N.K.

http://www.tuoitre.com.vn/thethao/Index.aspx?ArticleID=162475&ChannelID=14
Đăng nhập để trả lời
0
BaoBinhDinh>>Về miền đất võ

Võ thuật Bình Định

15:21', 22/7/ 2004 (GMT+7)

Trong quá trình phát triển của dân tộc, qua thời gian dài chiến đấu chống ngoại xâm để giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, võ thuật là bạn đồng hành không thể thiếu được và đã góp phần đánh thắng giặc ngoại xâm, giành thắng lợi to lớn cho đất nước.

Người dân Bình Định đã rất tự hào và thấy rõ tác dụng của võ không chỉ đem lại thể lực, sức khỏe, tinh thần dũng cảm, ý chí quật cường của nhân dân trong lao động sản xuất, chiến đấu, góp phần xây dựng cuộc sống bình yên, hạnh phúc mà còn là di sản văn hóa tinh thần vô giá thể hiện sức mạnh của dân tộc.

Võ thuật bao gồm hai nội dung cơ bản như: quyền thuật và các môn binh khí.

1. Quyền thuật

Quyền thuật bao gồm các môn luyện tập tay không, không có binh khí, chỉ dùng tay, chân, cấu tạo bằng cương quyền và nhu quyền, với kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp, bao gồm đòn công và đòn thủ lợi hại, đánh trả đòn rất quyết liệt, mang tính sát thương cao. Những bài cương quyền dùng sức mạnh với mục đích tấn công áp đảo, đè bẹp đối phương nhanh. Nhu quyền thể hiện những động tác mềm mại, mang tính thủ, né tránh linh hoạt, uyển chuyển, lợi dụng tình thế từ thủ sang tấn công nhanh cực kỳ lợi hại.

Phân loại các nhóm quyền (võ):


- Võ thể dục: là nội dung tập thể dục hoặc tập thể lực được rút tỉa và cách điệu trong các bài võ, ngoài ra còn có môn võ dưỡng sinh là môn tập dành riêng cho người lớn tuổi. Võ biểu diễn là môn võ thường xuất hiện ở các ngày lễ hội và là một trong các môn thi đấu võ cổ truyền Bình Định.

- Võ tự vệ: Trước đây và nhất là thời Tây Sơn, mọi người dân đua nhau học võ để tự vệ bản thân, chống chọi với thú dữ và chống đạo tặc, cướp đường, về sau để tự vệ chống lại bọn quan tham ô lại hà hiếp dân lành, đòi sưu cao thuế nặng, quấy nhiễu lương dân. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta, võ tự vệ là một nội dung của binh chủng đặc công, bộ đội hoạt động nội tuyến vận dụng nó để tiếp cận quân thù, tiêu diệt chúng không có tiếng động và tiếng nổ.

- Võ tỉ thí (còn gọi là võ đài): Là một loại hình thi đấu khá đặc biệt, có một võ sĩ thủ đài. Đài không cố định, bất cứ chỗ nào (trên đồng ruộng khô, trên đồi núi) miễn sao có một khoảng đất trống để hai người có thể đấm đá là được. Có lúc cũng có sàn đài cao hơn 1 mét, với diện tích không cố định, không có dây "rin" bảo vệ xung quanh. Võ sĩ thủ đài, thượng đài thách đấu tất cả các võ sĩ không phân biệt tuổi tác, không cần đến trọng tài, hai người dùng đủ mánh khóe, ra đòn công, thủ tùy ý, đánh nhau không tính thời gian, hễ ai bỏ chạy hoặc rơi xuống đài là thua cuộc.

Còn võ chiến đấu bao gồm võ để thi đấu, hoặc võ để chiến đấu từ hai người trở lên: hai loại này đều mang tính đối kháng cao và trực tiếp nguy hại đến tính mạng.

+ Võ thi đấu: Là một nội dung thi đấu theo một quy định bắt buộc, có sàn đài, luật lệ, có trọng tài, giám định, giám sát có dụng cụ bảo hiểm và mọi người thi đấu đều tuân thủ theo quy định thống nhất.

+ Võ chiến đấu: Là võ đánh nhau thực sự, đánh với mọi đối tượng, đánh không có ràng buộc gì cả, đánh nhau trên mọi trận địa với tất cả các loại võ khí hiện có. Chủ yếu đánh nhau ở cự ly gần (cận chiến hay còn gọi là đánh xáp lá cà). Loại võ chiến đấu này được áp dụng rộng rãi ở cả các giai đoạn lịch sử trước, trong và sau thời Tây Sơn. Trong chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, bộ đội đặc công của ta đã vận dụng võ chiến đấu đánh vào tận sào huyệt của địch để tiêu diệt chúng. Võ chiến đấu thường ít có bài bản nhất định, mà chủ yếu là sử dụng các đòn thế, đặc biệt là đòn thế bí truyền nguy hiểm hoặc đánh vào các huyệt đạo có thể gây tử vong, hoặc chết dần chết mòn về sau không có thuốc gì chữa được (Chỉ có phương cách duy nhất là dùng thuốc võ đặc trị hoặc thế giải huyệt của người đã đánh mình để cứu chữa).

Võ chiến đấu bao gồm một số nội dung:

Võ tay không đánh với tay không

Võ tay không đánh với binh khí

Võ binh khí đánh với binh khí

Hai người cùng đấu một loại binh khí như roi, kiếm, thương… hoặc bằng binh khí khác chủng loại.

. Theo Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định



CÁC TIN KHÁC >>
Võ đạo của võ cổ truyền Bình Định (21/07/2004)
Võ lý của Võ cổ truyền Bình Định (tiếp theo) (20/07/2004)
Võ lý của võ cổ truyền Bình Định (19/07/2004)
Nội dung cơ bản võ cổ truyền Bình Định (18/07/2004)
Một số đặc trưng cơ bản của võ cổ truyền Bình Định (15/07/2004)
Tiến sĩ võ (14/07/2004)
Võ cổ truyền Bình Định thời kỳ đất nước thống nhất (13/07/2004)
Quá trình giao lưu, ảnh hưởng của võ nước ngoài với võ cổ truyền Bình Định (12/07/2004)
Một số môn phái tiêu biểu của võ cổ truyền Bình Định (09/07/2004)
Một số dòng tộc, môn phái tiêu biểu của võ cổ truyền Bình Định (08/07/2004)

http://www.baobinhdinh.com.vn/642/2004/7/12820/
Đăng nhập để trả lời
0


BaoBinhDinh>>Về miền đất võ

Một số đặc trưng cơ bản của võ cổ truyền Bình Định

15:52', 15/7/ 2004 (GMT+7)


Võ cổ truyền Bình Định có nội dung vô cùng phong phú, đa dạng, mang đậm sắc thái độc đáo, tạo nên những nét đặc trưng của vùng đất được mệnh danh là cái "nôi" của võ cổ truyền các dân tộc Việt Nam.

Trước hết, được hình thành do các yếu tố địa lý, tự nhiên, kinh tế, xã hội và sự giao lưu văn hóa cùng với sự hội nhập của các dòng võ, hay nói cách khác đặc điểm lịch sử, bối cảnh xã hội và quá trình hình thành, phát triển võ cổ truyền của dân tộc đã tạo nên dòng võ cổ truyền Bình Định, bao gồm các lĩnh vực: võ lý, võ đạo, võ thuật, võ y, võ nhạc, võ phục... Chính những đặc điểm và các yếu tố đó hình thành nên các đặc trưng và nội dung cơ bản của võ cổ truyền Bình Định.

Võ cổ truyền Bình Định bao gồm nhiều đặc trưng, dưới đây là 3 đặc trưng cơ bản:

* Đặc trưng thứ 1: Mang tính quần chúng và tính chiến đấu sâu sắc

Có thể nói tính quần chúng và tính chiến đấu trong võ thuật là một thuộc tính chung, song đối với võ cổ truyền Bình Định nó còn mang ý nghĩa chính trị, xã hội và giá trị thực tiễn hết sức sâu sắc, trở thành máu thịt và niềm tự hào của người dân Bình Định từ đời này nối tiếp đời khác, đặc biệt là mỗi khi có họa ngoại xâm, mọi người từ già, trẻ, trai, gái, ai nấy đều hăng hái luyện tập võ nghệ, đầu quân giết giặc, lập công. Điều đó được thể hiện rõ nét trong câu ca dao:

Ai về Bình Định mà coi
Con gái Bình Định bỏ roi đi quyền


Từ xa xưa, ở vùng đất Bình Định, việc luyện rèn võ nghệ được coi là sự tự hào của gia đình, dòng họ, có nhiều nơi cả làng cùng học võ, cụ thể hơn là để giữ thân, giữ nhà, giữ của và là tiêu chí được người khác thán phục kính nể. Chính vì vậy nên không chỉ có đấng nam nhi, mà ngay cả phái yếu cũng theo đời cung, kiếm để khi "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh".

Tiên biểu nhất là dưới thời Tây Sơn và giai đoạn chống thực dân Pháp. Võ Bình Định được sử dụng như giấy thông hành, là một tiêu chuẩn quan trọng để trở thành nghĩa quân Tây Sơn. Thực tế đã chứng minh trong lịch sử chiến đấu chống ngoại xâm..., nhiều đội quân thiện chiến, võ nghệ cao cường, binh hùng, tướng mạnh nhưng đều bị quân đội Tây Sơn tiêu diệt, mà vũ khí lúc bấy giờ là võ thuật phối hợp cùng các binh khí sở trường của tổ tiên truyền lại.

* Đặc trưng thứ 2: Thường sử dụng bộ ngựa "Túc bất ly địa"

Bộ ngựa này thường di chuyển theo đồ hình bát quái, quyền bông trực chỉ (tay thường đánh thẳng) và vận hành theo huyết âm-dương ngũ hành.
Bộ ngựa di chuyển một cách vững chắc (ví như nền móng của ngôi nhà) nhưng không có nghĩa lúc nào cũng chôn chặt đôi chân hoặc di chuyển không hở mặt đất, mà luôn có sự biến đổi, tiếp cận, thích nghi và khi cần thiết mới dồn trọng lực ở đôi chân, nên khi đứng thì như "hòn đá tảng". Ngược lại lúc di chuyển thì lại linh hoạt, nhanh nhạy, biến hóa khôn lường và hoạt động ở mọi địa hình, mọi tư thế một cách nhẹ nhàng uyển chuyển, cơ động như "chiếc lá bay".
Còn về phần các chiêu thức, đòn thế mang tính đặc trưng của võ cổ truyền Bình Định thì có rất nhiều phương cách, miếng đánh, thế đánh độc đáo, nhưng rõ nét hơn hết, có lẽ phải đề cập đến các bộ pháp: bộ "đội" (thường dùng ngựa cực nhạy và sử dụng cả vai lẫn đầu để nhanh chóng áp sát đội vào vùng hạ bộ đối phương); bộ "hốt" (thường dùng thế đánh lừa đối phương và dùng ngựa cực nhanh, chính xác tiếp cận hốt đối phương quăng ra xa); bộ "liệng" (chủ yếu dùng bộ ngựa phối hợp với bộ tay gài ngựa và đánh đối phương té nhào xuống đất).
Đây là một số đòn thế cực kỳ nguy hiểm, có tính quyết định nhằm nhanh chóng triệt hạ hay quật ngã đối phương cao, to, khỏe hơn mình gấp nhiều lần trong nháy mắt.

* Đặc trưng thứ 3: Có lời thiệu

Mỗi bài quyền, mỗi bài binh khí của võ cổ truyền Bình Định đều có lời thiệu cụ thể, có tên gọi từng bài võ cụ thể tương ứng và phù hợp với từng động tác, từng thế võ trong đó có một số bài quyền, bài binh khí còn có cả hình vẽ minh họa từng cách đánh, cách di chuyển, có lý giải, phân tích sự lợi hại của từng động tác võ. Bài thiệu thường được viết theo dạng văn xuôi ngắn, hoặc thể thơ, ca dao dân gian để giúp cho người dạy và người học thống nhất, dễ đọc, dễ nhớ, dễ hiểu nhằm thực hiện một cách đồng bộ, chuẩn xác giữa lý thuyết với thực hành (nếu một khi thực hành động tác mà quên thì đọc lại lời thiệu sẽ nhớ và hiểu được ngay).

Thời gian qua, ngành TDTT Bình Định đã "mò kim đáy biển" sưu tầm, phát hiện thêm được trên 100 bài võ ở các địa phương trong tỉnh, trong đó có hơn phân nửa có lời thiệu, được viết rất công phu, cẩn trọng, trên loại giấy cổ (giấy gió) bằng chữ Hán-Nôm,

Đây chính là những tư liệu "giáo khoa" cực kỳ quý giá của tổ tiên để lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau khỏi mất gốc, đồng thời cũng để khẳng định và minh chứng: võ cổ truyền Bình Định thuộc nền võ dân tộc mới có bài thiệu, nhất là những bài thiệu được tìm thấy trên đất Bình Định.

. Theo Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định

http://www.baobinhdinh.com.vn/642/2004/7/12616/
Đăng nhập để trả lời
0
.
Bản đồ Bình Định: http://vietnamvoyage.com/photos/binhdinh/Binh%20Dinh%20Map.jpg

Tây Sơn và Qui Nhơn
Đăng nhập để trả lời
0
Nội dung cơ bản võ cổ truyền Bình Định

15:6', 18/7/ 2004 (GMT+7)

Võ cổ truyền Bình Định được hình thành trên nền tảng của võ cổ truyền các dân tộc Việt Nam, được đúc kết, tập hợp, hệ thống, chắt lọc và sáng tạo qua các giai đoạn lịch sử, phù hợp với yêu cầu và trình độ phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, với sự mở rộng quan hệ giao lưu, trong đó có sự hoàn thiện các kỹ năng, kỹ thuật, thể lực, tư duy và sự tiếp cận nền khoa học tiên tiến của loài người.

Với xu thế phát triển của dân tộc và thời đại, võ cổ truyền Bình Định cũng được từng bước nâng lên từ thấp đến cao, từ võ bản năng để tự vệ là chủ yếu với những thế võ, miếng võ đơn giản, riêng lẻ để dần dần hình thành các chiêu thức, các bài võ, các bài binh khí để truyền bá trong nhân dân, nhất là trong lực lượng vũ trang, trong thanh thiếu niên, học sinh, nhanh chóng thống nhất các nội dung và hình thức của võ cổ truyền Bình Định. Chính những bài thiệu được phát hiện tại các vùng đất võ ở Bình Định đã góp phần làm cơ sở lý luận trong việc xác định quá trình hình thành và phát triển võ cổ truyền Bình Định.

Đặc biệt, có những bài thiệu đã mất gốc từ lâu không còn lưu hành trong dân gian, nay đã tìm lại được để bổ sung vào kho tàng võ học Bình Định; đồng thời qua các tư liệu cổ vừa phát hiện sẽ làm cơ sở xác định lại một số từ ngữ do quá trình truyền khẩu từ đời này sang đời khác bị sai lệch, nay có điều kiện hiệu chỉnh lại cho đúng với nguyên bản ban đầu, giúp cho các nhà nghiên cứu, người dạy võ điều chỉnh lại một số động tác, tư thế phù hợp với bài thiệu gốc, tạo cơ sở khoa học cho việc thống nhất các bài võ, các bài binh khí trong tương lai không xa. Ông cha ta thường nói "văn biển, võ rừng". Văn học không bao giờ hết, võ học không bao giờ cạn. Văn mà không có võ là văn nhu, võ mà không có văn là võ biền (võ rừng). Cho nên, một con người toàn diện phải là con người văn võ song toàn, giỏi võ mà không nắm được võ lý thì là "võ tặc", chỉ biết đánh nhau, trộm cướp mà không biết mục đích của võ là gì? Võ phục vụ cho ai?

Thời nhà Tây Sơn, Nguyễn Huệ là một trong những người có công đúc kết các dòng võ trong cả nước để xây dựng nên một dòng võ đặc sắc, độc đáo là võ cổ truyền Bình Định, và đã rút ra những kinh nghiệm thực tế sinh động với các quan điểm, phương châm từ vị thế khó khăn có thể đánh thắng đối phương ở vị thế thuận lợi hơn:

Yếu có thể đánh mạnh

Thấp có thể đánh cao

Nhỏ có thể đánh lớn

Ít có thể đánh nhiều

Mỗi bài võ ở thời kỳ này phải bao gồm đủ các phần cơ bản về lời thiệu và động tác đi liền nhau, đây là vấn đề vừa có tính nguyên tắc, vừa có tính thực tiễn để hình thành dòng võ cổ truyền Bình Định.

Bản đồ Bình Định: http://vietnamvoyage.com/photos/binhdinh/Binh%20Dinh%20Map.jpg

http://www.baobinhdinh.com.vn/569/2003/8/5715/

>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>

Huyện Tây Sơn & Thành Phố Qui Nhơn

📎 aaqn
Đăng nhập để trả lời
0
Lịch sử võ học Việt Nam

GS. Vũ Đức

Cận kim thời đại (1802 – 1975)

Năm 1802, vua Gia Long thống nhất sơn hà vẫn theo gương xưa của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1631). Nhà vua cho thành lập xưởng súng đại bác, mở trường bắn huấn luyện voi, ngựa và trường huấn luyện võ kinh, võ lâm cho binh sĩ. Ở những nơi hiểm yếu, vua chỉ thị cho lập đồn ải. Tại các cửa bể và đảo, vua cho lập ra pháo đài. Ngoài ra, vua còn cho lập ra xưởng đóng tàu đồng, và huấn luyện thủy quân để đề phòng mặt biển.

Năm 1820, vua Minh Mạng đã chia binh đội ra thành bộ binh, thủy binh, tượng binh, kỵ binh và pháo binh. Bộ binh gồm có kinh binh và cơ binh. Kinh binh chia làm doanh, vệ, đội. Kinh binh dùng để đóng giữ ở kinh thành hoặc để sai phái đóng giữ ở các tỉnh. Mỗi doanh có năm vệ, mỗi vệ có mười đội, mỗi đội có năm chục người. Mỗi đội có suất đội và đội trưởng cai quản. Những binh khí của mỗi vệ gồm có hai khẩu súng thần công, hai trăm khẩu súng điểu thương và hai mươi mốt ngọn cờ. Còn cơ binh là lính riêng của từng tỉnh, cũng được chia ra làm cơ, đội. Cơ thì có quân cơ, đội thì có cơ suất đội cai quản.

Tượng quân được chia ra thành từng đội, mỗi đội có bốn chục con voi. Số voi ở kinh thành gồm có một trăm năm chục con. Ở Bắc thành có một trăm mười con. Ở Gia Định thành có bảy mươi lăm con. Ở Quảng Nam có ba mươi lăm con. Bình Định có ba chục con. Nghệ An có hai mươi mốt con. Tại Quảng Bình, Quảng Ngãi, Thanh Hóa, mỗi nơi đều có mười lăm con. Còn ở Quảng Trị, Phú Yên, Bình Thuận, Ninh Bình mỗi nơi có bảy con.

Thủy quân có mười lăm vệ được chia làm ba doanh, mỗi doanh đều có quan chưởng vệ quân lính, và quan đô thống chỉ huy cả ba doanh.

Ngoài ra, vua Minh Mạng còn cho thành lập ra trường Anh Doanh và Giáo Dưỡng Binh để cho các con của quan võ, từ suất đội trở lên ai muốn tình nguyện vào học sẽ được hưởng lương bổng. Việc huấnluyện võ lâm và võ kinh do một viên quan đại thần chăm sóc.

Để bổ dụng vàongành võ học, vua còn cho mở ra các khóa thi võ lâm, tuyển chọn người đậu tú tài, cử nhân và tiến sĩ võ khoa. Người dự thi võ khoa đều phải biết chữ nghĩa, vì sau khi thi xong các bộ môn của võ lâm, thí sinh còn phải dự thi phần võ kinh, để chứng tỏ khả năng trong cách dùng binh pháp đánh giặc mà trong sách võ kinh đã ấn định.

Năm 1837, vào thời Minh Mạng thứ 18 vua còn định phép cho các kỳ thi võ lâm như sau:

_ KHÓA THI HƯƠNG: trường thứ nhất thi cử tạ, trường thứ hai thi diễn roi côn (trúc mộc), diễn quyền, múa kiểm đoản. Trường thứ ba thi về bắn súng điểu thương (loại súng thời xưa). Nếu thí sinh trúng tuyển cả ba trường, được chấm đậu cử nhân võ khoa. Nếu thí sinh chỉ trúng tuyển ở trường thứ nhất và trường thứ hai, được chấm đậu tú tài võ khoa. Sau đó, để sắp hạng cao thấp, các võ tú, võ cử còn phải dự thi vấn đáp để trả lời những cẩu hỏi có liên quan đến sách võ kinh và sách Tử Tư. Nếu ai trả lời thông suốt, tên được sắp hạng đứng trước.

_ KHÓA THI HỘI: Cũng như khóa thi Hương, thi Hội gồm có ba trường. Nhưng ở phần diễn côn roi, thí sinh phải dùng đến côn roi bằng sắt (thiết côn). Thí sinh nào trúng tuyển cả ba trường và giỏi thông chữ nghĩa sẽ được vào kỳ thi Đình.

_ KHÓA THI ĐÌNH: Sau khi được tuyển chọn ở kỳ thi Hội, thí sinh được vào dự khóa thi Đình để làm một bài văn sách, trả lời những câu hỏi về nghĩa lý trong bộ sách võ kinh, sách Tử Tư, và những binh pháp chính yếu của các danh tướng thời xưa. Những thí sinh được trúng tuyển ở kỳ thi Đình được chấm đậu tiến sĩ võ khoa. Nếu thí sinh chỉ được trúng tuyển kỳ thi Hội mà không đậu ở kỳ thi Đình được chấm đậu phó bảng võ khoa.

Trong thời Pháp thuộc, người Pháp đã gặp phải những sự chống cự oanh liệt của người dân Việt, phần lớn các tổ chức kháng chiến chống Pháp, bắt nguồn từ các nhà lãnh đạo võ thuật. Do đó, để vô hiệu hóa phần nào sức kháng cự của người Việt, chính quyền Pháp đã ra lệnh nghiêm cấm các hoạt động võ thuật trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, với tinh thần ái quốc và bất khuất của người Việt, các vị võ cử, võ gia Việt Nam vẫn âm thầm lén lút dạy võ cho các thanh thiếu niên để nung đúc tinh thần quật khởi, kháng chiến chống Pháp. Mặc dù với khí giới thô sơ, tầm vong chuốt nhọn, gươm giáo không thể trực diện đối đầu với các súng đạn tối tân của người Pháp nhưng người Việt đã dùng phương pháp du kích, nhiều phen khiến cho chính quyền Pháp kinh hoàng và đã giết được các tướng tài Pháp như tướng Francis Garnier và tướng Henri Riviere tại Ô Cầu Giấy, Hà Nội (Bắc Việt).

Trong các vị lãnh đạo chống Pháp, quân Pháp đặc biệt chú ý đến các ông như Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Lê Trực, Hoàng Hoa Thám...


Năm 1862 – 1864 Ông Trương Công Định kháng chiến ở Gò Công và Biên Hòa.


Năm 1875 ông Nguyễn Hữu Huân (Thủ khoa Huân) nổi lên ở Mỹ Tho và Tân An.

Vào tháng 8/1864 ông Trương Huệ (con ông Trương Công Định) nổi lên ở Tây Ninh.

Vào 8/1917 ông Lương Ngọc Quyến và Trịnh Văn Cấn nổi lên ở nhà lao Thái Nguyên.

Năm 1927 hai ông Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng nổi lên chống Pháp ở Yên Bái.

Năm 1885, ông Quản Hớn Nguyễn Văn Bường khởi binh ở Bà Điểm Hốc Môn, Bà Trà, Tân Khánh. Trận đánh nổi tiếng nhất là ở Mười Tám Thôn Vườn Trầu (gọi là Thập Bát Phù Viên) trong đó nghĩa binh bị vây đánh, sau cùng còn lại bảy chục người cùng nhau thề đánh cho đến chết. Và họ đã giữ vững lời thề. Từ trận đánh Pháp nổi tiếng này về sau, danh từ "võ vườn" đã được lưu truyền để nói lên tinh thần võ dũng của địa phương này. Nếu muốn nói "võ vườn" là một môn phái võ thuật người ta cũng không thấy được một tài liệu sách vở nào để chứng minh về nguồn gốc, kỹ thuật căn bản của nó, mà chỉ được nghe nhắc qua lời truyền miệng của các dân địa phương. Có lẽ, đây chỉ là một số đòn thế chiến đấu tự vệ của dân địa phương được ảnh hưởng bởi võ thuật Trung Hoa, bắt nguồn từ năm 1679, tướng Trần Thắng Tài và hơn ba ngàn binh sĩ nhà Minh, bất phục tùng Thanh triều, đã được chúa Nguyễn Hiền Vương cho phép tỵ nạn, khai hoang, lập ấn định cư dọc theo đồng bằng sông Đồng Nai (Biên Hòa, Hốc Môn). Để chứng minh cho luận cứ trên, chúng tôi còn ghi nhận qua lịch sử bởi chiến tích võ dũng của mười tám thôn vườn trầu vào năm 1782. Tại đây, quan binh Tây Sơn Nguyễn Nhạc đã bị đánh bại, do sự phục kích của đạo binh Hòa Nghĩa (người Trung Hoa cư ngụ tại 18 thôn Vườn Trầu, theo giúp Nguyễn Ánh).

Vào năm 1911, ngài Mộc Đức Thiền Sư, một trong nhưng vị cố vấn cho Tôn Dật Tiên đã thu nhận bốn đồ đệ người Việt Nam như Trần Tần Chân Nhân, Thiện Tảo Đạo Nhân, Tư Hớn Cư Sĩ, và Thiện Tâm Thiền Sư. Về sau bốn vị này góp công lớn vào việc phát triển ngành thiền tông và võ lâm tại Việt Nam.

Riêng về Thiện Tâm Thiền Sư, tên thật là Nguyễn Văn Sáu, hiệu Đoàn Tâm Ảnh, sanh năm 1900 tại Bạc Liêu, Nam Việt Nam. Sau mười tám năm được theo thầy Mộc Đức Thiền Sư để học võ lâm và thiền tông tại chùa Phi Lai Tự, miền Bắc Trung Hoa, ông trở về Việt Nam vào năm 1930 mở trường dạy võ thâu nhận môn đồ. Đồng thời, ông cùng một số nghĩa sĩ âm thầm thành lập đảng Sao Trắng để chống Pháp. Đảng Sao Trắng với tinh thần nghĩa hiệp giúp đỡ dân lành, đã làm cho những tay cường hào ác bá và chính quyền Pháp phải nhiều phen bối rối, tại miền lục tỉnh hậu giang, Nam Việt Nam. Năm 1960, để hưởng ứng phong trào thanh niên võ thuật, ông đã chính thức thành lập Hội Võ Lâm Việt Nam và sau đó thu nhận được bốn vị đệ tử tâm đắc như Giáo Sư Vũ Đức, Giáo sư Hùng Phong, Giáo Sư Hàng Thanh, và Giáo sư Nguyễn Thiên Tài. Mãi đến năm 1970, ông lui về ẩn dật chức vụ Chưởng Môn Phái Võ Lâm Việt Nam đã được ông chính thức truyền lại cho Giáo sư Vũ Đức (Âu Vĩnh Hiền) để tiếp tục công việc phát triển môn phái. Về sau, để tìm nguồn an lạc nơi chốn thiền, Thiện Tâm Thiền Sư đã trụ trì tại chùa Pháp Hoa, Sài Gòn.

Ngoài ra, một số các vị võ sư Việt Nam lão thành nổi danh như Thầy Võ Dựt (1870 – 1958), hiệu là Nam Nghĩa, người làng An Dinh quận Bình Khê. Thầy Hồ Nhu (1890 - ?) hiệu Hồ Ngạnh người làng Thượng Truyền, quận Bình Khê giỏi về côn pháp. Thầy Đàon Phong và Thầy Tàu Sáu ở quận Bình Khê giỏi về quyền cước. Thầy Triệu Thúc Lang ở quận Dương Đông đảo Phú Quốc. Thầy cử nhân Trương Thạch (1880 - ?) ở Bình Định. Thầy cử nhân Đinh Các (1880 – 196?) người Qui Nhơn. Thầy Năm Soai (1880 – 197?) người Bạc Liêu. Thầy Sáu Khá (1885 – 196?) và các thầy Tư Công, Hai Sình đều ở Bạc Liêu. Võ sư Huỳnh Kim Hên (1905 – 1980) hiệu là Mã Thanh Long người ở Bạc Liêu về sau cư ngụ tại Hòa Hưng, Sài Gòn. Thầy Hàn Bái sáng tổ hệ phái Hàn Bái. Thầy Vũ Bá Oai (1901 – 28/1/2001) kế nghiệp thầy Hàn Bái thành lập võ đường Hàn Bái tại Sài Gòn. Thầy Truong Thanh Đăng (1895 – 197?) hiệu Sa Long Cương người tỉnh Phan Thiết, về sau cư ngụ tại Sài Gòn. Thầy Hồ Hợi (1896 - ?) sáng lập Hội Cửu Long Võ Đạo tại Sài Gòn. Thầy Bảy Nếp người quận Cần Đước, Nam Việt Nam về sau là cư sĩ tại tỉnh Gia Định.

Trong thời Pháp thuộc, môn quyền anh được du nhập với kỹ thuật tay nghề đấm giản tiện và rất được sự ngưỡng mộ của quần chúng người Việt. Vào giữa thập niên 1960 – 1970, các võ sư huấn luyện quyền anh đáng kể như Minh Cảnh, Huỳnh Tiền, Kidemsey, Trần Mộng Lân, Nguyễn Son, Lý Huỳnh, Minh Thành, ... Bộ môn quyền anh được hoạt động dưới sự chăm sóc của Tổng Cuộc Quyền Thuật Việt Nam. Tổng cuộc này đã được thành lập vào năm 1956 tại Sài Gòn do sự góp mặt của các võ sư và võ sĩ thuộc nhiều môn phái võ thuật Việt Nam khác nhau.

Ngoài ra vào năm 1960, các vị võ sư còn thành lập Tổng Hội Nghiên Cứu Võ Học Việt Nam với ước vọng để khảo cứu các ngành võ thuật Việt Nam. Trong suốt 15 năm (1960 – 1975) thành hình, tổng hội này không có một biểu hiện nào đáng được ghi nhận. Phần lớn nổ lực hoạt động võ thuật Việt Nam trong quảng đại quần chúng đều do công trình của Tổng Cuộc Quyền Thuật Việt Nam đẩy mạnh, dưới sự yểm trợ của chính quyền thanh niên. Mặc dù có rất nhiều võ phái Việt Nam hoạt động son song với Tổng Cuộc Quyền Thuật Việt Nam, nhưng chỉ có vài võ phái đạt được sự tổ chức một hệ thống võ đường qui cũ, thu huat được nhiều võ sinh trên toàn quốc như Hội Võ Thuật Vovinam, do Võ Sư Nguyễn Lộc sáng lập, về sau võ sư Lê Sáng kế nghiệp; hội Võ Lâm Việt Nam do lão sư Đoàn Tâm Ảnh (pháp danh Thiện Tâm Thiền Sư) sáng lập, về sau giáo sư Vũ Đức kế nghiệp; Hội Cửu Long Võ Đạo do võ sư Hồ Hợi sáng lập, ...

Năm 1945, sau khi quân đội Nhật Bản thắng Pháp tại Việt Nam, cũng như tinh thần võ sĩ đạo Nhật vang danh khắp thế giới, môn võ Nhật nổi danh lúc bấy giờ là môn Nhu Đạo (Judo) và Nhu Thuật (Jiu-Jittsu) rất được người Việt Nam hâm mộ. Vị võ sư người Nhật đầu tiên đến giảng dạy Nhu Đạo tại Việt Nam là võ sư Yonka, về sau lại có các võ sư Watanabe, võ sư Ishikawa. Năm 1948, giáo sư Hồ Cẩm Ngạc trở về nước sau 5 năm du học tại Nhật Bản. Giáo sư Hồ Cẩm Ngạc là người Việt Nam đầu tiên đã tốt nhiệp môn Nhu Đạo tại trường Đại học Nhu Đạo Kodokan, Nhật Bản. Ngoài ra ông còn tốt nghiệp các bộ môn võ Nhật khác như Karatedo (KHông thủ đạo) thuộc trường phái Yosheikan. Vào năm 1956, giáo sư Hồ Cẩm Ngạc đã xuất bản quyển Nhu Đạo Tạp Phương. Vào năm 1955, Giáo sư Phạm Lợi từ Pháp về Việt Nam và đã xuất bản quyển Kỹ Thuật Nhu Đạo vào năm 1956. Ngoài ra còn có một số giáo sư Nhu Đạo đáng kể như giáo sư Đặng Thông Trị, giáo sư Phan văn Quan, giáo sư Thái Thúc Thuần, giáo sư Vương Quang Ba, thượng tọa Thích Tâm Giác. Những vị giáo sư Nhu Đạo vừa kể trên đều là những vị đã góp công thành lập Tổng Cuộc Nhu Đạo Việt Nam vào năm 1956. Riêng giáo sư Đặng THông Trị ngoài môn Nhu Đạo, ông còn làm giaó sư Aikido đầu tiên đẩy mạnh phong trào Hiệp Khí Đạo tại Việt Nam. Vào năm 1964 bào đệ của giáo sư Trị là giaó sư Đăng Thông Phong thành lập Tổng Cuộc Hiệp Khí Đạo Việt Nam.

Vào năm 1960 quân đội viễn chinh Đại Hàn đến tham chiến chống cộng sản tại Việt Nam, môn võ Đại Hàn Taekwondo (Thái Cực Đạo) do tướng Choi Hong Hi lãnh đạo đã được chính quyền quân đội VNCH yểm trợ phát động môn võ này trong quảng đại quần chúng. Sau đó Tổng Cuộc Thái Cực Đạo Việt Nam được ra đời do Trung Tá Phạm Văn Cư làm chủ tịch sáng lập. Đến niên khóa 1973 – 1975, Đại tá Trần Thanh Điền kế nhiệm chức chủ tịch Tổng Cuộc Thái Cực Đạo Việt Nam. Môn võ Thái Cực Đạo đã lớn mạnh tại Việt Nam trong cao trào thanh niên khỏe với nhiều võ phái trăm hoa đua nở.

Căn cứ vào lịch sử tranh đấu Việt Nam, võ học cổ truyền Việt Nam là một nền tảng căn bản cho quân sự quốc phòng. Do đó, võ học đã đóng một vai trò rất quan trọng trong vận mạng thịnh suy của đất nước. Kể từ thượng cổ thời đại, vào đời vua Hùng Vương lập quốc, mặc dù con người chưa biết dùng chữ viết để ghi chép lại sự diễn tiến của võ học nhưng nhờ vào một số di tích của các món binh khí như búa, rìu, dao, dùi, cào, trống đồng và một số tranh ảnh chiến đấu được khắc vẽ trên những phiến đá tại các vùng đất thuộc Bắc Việt Nam, được tìm thấy bởi các nhà khảo cổ đã nói lên được phần nào khoa võ học lập quốc của tổ tiên người Việt Nam.

Với vốn liếng căn bản khoa võ học lập quốc đầu tiền, sau đó trong các dịp giao tiếp với lân bang, người Việt đã biết khôn khéo thái nạp cái hay của người để biến chế và đồng hóa và sắc thái riêng biệt của mình. Điển hình là sự ảnh hưởng ở nền võ học Trung Hoa và Ấn Độ xuyên qua các nhà truyền giáo, hoặc các quần binh người Trung Hoa trong thời kỳ một ngàn năm Bắc thuộc. Để rồi sau đó nền võ học kiến quốc được phát huy trong các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn... Mãi đến thế kỷ 17, người Âu Châu đến buôn bán và truyền đạo Thiên Chúa tại Việt Nam, và đến thế kỷ 19, cuộc tranh chấp bằng võ lực giữa Việt Nam và Pháp bùng nổ, nền võ học kiến quốc của Việt Nam đã bị vô hiệu hóa trước đạn súng ống tối tân của Pháp. Sau đó, Việt Nam phải chịu đựng hơn tám mươi năm lệ thuộc người Pháp. Trong thời gian tiếp xúc với người Âu Châu, người Việt đã hiểu được rằng sự tiến hóa của nhân loại trên thế giới hiện nay đã bước qua một kỷ nguyên tiến bộ mới trên nhiều phương diện. Cũng như võ học cổ truyền với gươm giáo làm căn bản, không còn là một yếu tố chính yếu thích nghi cho quân sự quốc phòng nữa, mà đã được thay thế bằng những đạn dược, súng ống tối tân hiên đại hóa quân sự với những kỹ thuật chiến tranh máy móc. Kể từ đó, nền võ học kiến quốc của Việt Nam không còn đóng một vai trò chính yếu quân sự trong lịch sử mà đã biến thể trở thành một bộ môn thể thao tự vệ cũng như các bộ môn thể thao thuần túy khác, nhằm mục đcíh phụng sự cho phong trào khỏe của nước nhà, thêm phần phong phú.

Gs Vũ Đức

http://www.daichung.com/69/13_ls_vo_vn.htm
Đăng nhập để trả lời
0
Lịch sử Võ học Việt Nam


Vũ Ðức

Kể từ ngày hồng bàng lập quốc cho đến nay, nước Việt Nam đã có gần năm ngàn năm lịch sử (kể từ năm Nhâm Tuất) 2879 trước Thiên Chúa), trải qua mười tám đời vua Hùng Vương cho đến các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý Trần, Nguyễn,... nước Việt Nam đã chịu biết bao nỗi thăng trầm lịch sử của các thời thịnh trị và loạn lac. Để giữ vững đất nước, tự vệ chống ngoại xâm từ phương bắc và mở mang bờ cõi lấn chiếm về phương nam, tổ tiên Việt Nam cũng đã khéo léo phối hợp trong việc xử "VĂN" dùng "VÕ", để tạo nên được một dãy giang san cẩm tú như ngày hôm nay. Do đó, người xưa đã có câu:

Văn quan cầm bút an thiên hạ,

Võ tướng đề đao định thái bình.

Qua hai câu trên, chứng tỏ rằng người xưa chẳng những học văn mà còn chú trọng đến việc rèn luyện võ thuật để chống giặc, dẹp loạn, ngõ hầu mang lại thanh bình cho xứ sở. Nhìn chung vào toàn bộ lịch sư tranh đấu của dân tộc Việt Nam, nền võ học Việt Nam đã đóng một vai trò rất quan trọng, trong vận mạng thịnh suy của đất nước. Bởi vì, những vị anh hùng dân tộc, phần lớn đều xuất thân từ giới võ học, đã tiên phong mang tài thao lược võ dũng và võ trí để góp công vào cuộc lập quốc và kiến quốc. Do đó, để tìm hiểu lịch sử võ học Việt Nam, chúng tôi xin được căn cứ trên bối cảnh lịch sử và thứ tự thời gian, trong bộ "Việt Nam sử lược", của học giả Trần Trọng Kim làm căn bản, để phân chia lịch sử võ học Việt Nam ra làm bốn thời kỳ chính yếu như sau: Thượng cổ thời đại, Bắc thuộc thời đại, Tự chủ thời đại, và Cận kim thời đại.

I. Thượng cổ thời đại (2879 – 110 trước Thiên Chúa)

Căn cứ vào lịch sử tiến hóa của nhân loại, võ học đã có một nguồn gốc sâu xa trong quá khứ, từ khi con người còn sống trong các hang động, chỉ biết ăn sống thịt thú rừng, cây cỏ, và sự sinh hoạt còn quá phôi thai, rời rạc. Đó là thời tiền sử, theo các nhà khảo cổ học, thời tiền sử được chia ra làm bốn thời kỳ chính: Thời cựu thạch (thời đá đẽo), thời trung thạch (thời đá mài), và thời kim khí.

Trong thời cựu thạch (đá đẽo), khởi đầu vì bản năng sinh tồn, trong cảnh sống chống chọi với thiên nhiên, mà con người đã biết vận dụng sức mạnh lao động của thể xác để tự vệ và tranh đấu với các loại vật sống chung quanh mình. Từ đó, các động tác và các dụng cụ thô sơ dùng làm khí giới, để chiến đấu của thời khai nguyên đã được chớm nở. Mặc dù, trong thời tiền sử con người chưa biết dùng chữ viết để ghi chép lại những biến cố xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, nhưng các nhà khảo cổ cũng đã tìm hiểu được sự sinh hoạt của nhân loại vào thời xa xưa qua những di tích còn để lại.

Riêng tại Việt Nam, những di tích thuộc vào thời cựu thạch (đá đẽo) như các món binh khí: búa, rìu, dao, nạo, dùi, cào, ... làm bằng loại đá đẽo đã được các nhà khảo cổ Việt Nam tìm thấy tại các vùng đất Thanh hóa, Lạng Sơn, Vĩnh Phú, thuộc miền Bắc Việt Nam. Ở hang Thượng Phú thuộc miền Trung Việt Nam, nhà khảo cổ M. Colani đã tìm thấy được những hình ảnh khắc vẽ trên vách đá, giống như một người thợ săn tay đang cầm cây lao để nhắm hướng lên một con chim đang bay lượn trên không trung, trong khi ở bên dưới là hình ảnh của những chiếc đầu thú vật có sừng. Ngoài ra, xuyên qua những bức tranh họa trên da thú rừng hoặc được khắc trên những phiến đá được lưu trữ tại các viện bảo tàng Việt Nam, chúng ta còn nhận thấy được hình ảnh của những chiếc thạch côn trong thời đại đá đẽo. Với những di tích vừa kể trên cũng đã nói lên được một phần nào sự liên quan đến khoa chiến đấu của tổ tiên Việt Nam trong thời đó.

Đến thời đại trung thạch (đá mài) con người vẫn nhờ vào võ công của mình để làm phương tiện mưu sinh căn bản cho cá nhân và gia đình, rồi dần dần với đà tiến bộ biết cách trồng trọt, nuôi thú vật, con người đã tạo được sự bảo đảm về mặt thực phẩm, rồi sự sinh sản gia tăng, con người mới bắt đầu sống định cư, thành tập đoàn dưới hình thức bộ lạc. Theo quan điểm của các nhà khảo cổ học đã ghi nhận, đây là thời kỳ tân thạch, con người bắt đầu biết sống tập đoàn và có chút ít sống văn minh, tiến bộ lần tới thời đại kim khí.

Theo các sử gia và các nhà khảo cổ học Việt Nam, vào đời vua Hùng Vương chính là thời đại kim khí cực thịnh, tổ tiên người Lạc Việt đạt được một sự tiến bộ lớn lao về phương diện kỹ thuật và mỹ thuật. Tổ tiên Việt Nam đã tìm được các quặng mỏ đồng, sắt, ... và biết cách áp dụng phương pháp luyện kim (những kỹ thuật pha chế thành hợp kim) để sản xuất ra các dụng cụ và binh khí sắt bén như: rìu đồng, trống đồng, đồng côn, thiết côn, dao, búa, cào bằng sắt cho các vị Lạc tướng và binh sĩ dùng để đánh giặc.

Trong những di tích đào được ở các vùng đất núi Việt Nam, người ta nhận thấy có những món binh khí bằng kim loại rất là mỹ thuật như rìu đồng và trống đồng.

Rìu đồng là một dụng cụ để chặt chém, và cũng là một loại binhkhí dùng để đánh giặc. Trên những rìu đồng này, phần lớn đều được trạm trổ hình kỷ hà, hoặc là những hình ảnh sinh hoạt của con người thời đó. Những hình vẽ thường là hình ảnh bơi thuyền, nhảy múa, săn bắn thú vật, và những động tác đấu võ.

Trống đồng là một loại nhạc cụ dùng để tạo ra những âm thanh hòa tấu trong những buổi lễ, đặc biệt trong thời vua Hùng Vương đã biết dùng trống đồng làm một loại binh khí bằng âm thanh, để khích động tinh thần tướng sĩ, cũng như ra hiệu lệnh cho binh sĩ trong lúc đánh nhau. Loại trống đồng này đã được tìm thấy rất nhiều tại các vùng đất thuộc các tỉnh miền Bắc Việt Nam như Thanh Hóa, Hà Đông, Bắc Ninh, Cao bằng, Hà Nam, Hà Nội, Hòa Bình, Yên Bái, Hải Dương, Nghệ An, ... Trên mặt trống đồng có trạm vẽ hình ảnh và sự sinh hoạt của thời đó rất là đẹp đẽ. Điều này đã chứng tỏ được tinh thần mỹ thuật của tổ tiên Việt Nam đã bước tiến rất cao xa.

Một di tích khác mà hiện nay còn lưu lại tại tỉnh Phúc Yên (Bắc Việt) đó là thành Cổ Loa, với kiến trúc cổ kính đầy tính cách quân sự, vòng thành xoắn theo hình trôn ốc, với sự bố trí rất thuận lợi cho việc phòng thủ, chống giặc từ bên ngoài. Đây cũng là một di tích đã nói lên được một khoa võ học quân sự có tổ chức trong triều đại An Dương Vương (257 – 207 trước Thiên Chúa), với năm mươi năm làm vua, sau khi Thục Phán đã đánh bại vua Hùng Vương thứ 18 để đổi tiên nước từ Văn Lang thành nước Âu Lạc.

II. Bắc thuộc thời đại (207 trước Thiên Chúa đến 939 sau Thiên Chúa)

Sau khi đánh bại được vua An Dương Vương, Triệu Đà là một vị quan úy ở quận Nam Hải liền sát nhập Nam Hải vào nước Âu Lạc lập thành một nước tự chủ, đặt tên là Nam Việt, làm vua được năm đời. Đến năm 111 trước Thiên Chúa, nhà Hán bên Tàu đánh chiếm nước Nam Việt rồi đổi thành Giao Chỉ Bộ (Giao Châu) đặt quan cai trị như các châu quận của nước Trung Hoa.

Vào năm 40 sau Thiên Chúa, hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị người huyện Yên lăng, tỉnh Phúc Yên, đầu tiên cầm gươm cỡi bạch tượng, điều khiển nghĩa quân đánh đuổi quan quân Thái Thú Tô Định, và chiếm được sáu mươi lăm thành trì, rồi hai bà lên làm vua dành quyền độc lập, giải phóng nước nhà ra khỏi ách đô hộ của người Tàu được ba năm. Sự kiện này đã viết lên được một trang võ sử oai hùng cho dân tộc Việt Nam nói chung, và cho nữ giới Việt Nam nói riêng.

Mãi đến năm 248 sau Thiên Chúa, noi gương hai bà Trưng, bà Triệu Ẩu, người huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa cỡi bạch tương mặc áo giáp vàng, cùng với một ngàn nghĩa quân đứng lên chống với quân Thái Thú Lục Dận, cầm cự một thời gian ngắn, quân của bà chống cự không lại, bà đành tự tử. Đây là một điểm son thứ hai cho nữ giới trong lịch sử Việt Nam.

Năm 542, Lý Bôn, một vị anh hùng dân tộc đã đứng lên đánh đuổi quân Tàu để làm vua, dựng nên nghiệp nhà Tiền Lý. Đến năm 602, Lý Phật Tử thuộc hậu Lý Nam Đế vì thế yếu nên xin hàng phục vua nhà Tùy. Kể từ đó, Giao Châu lại lệ thuộc nước Tàu lần thứ ba. Mãi cho đến năm 939 sau Thiên Chúa, người Việt mới dành lại được quyền tự chủ.

Vào thế kỷ thứ hai, song song với việc du nhập các tôn giáo Phật, Khổng, Lão và Việt Nam, ngành võ học từ Ấn Độ và Trung Hoa cũng được các vị thiền sư, đạo sĩ mang đến qua hai con đường thủy và đường bộ do hai cách được ghi nhận như sau:

_ Do các đạo sĩ Trung Hoa sang đất Giao Châu (Bắc Việt Nam) để lánh nạn vì năm 189 sau Thiên Chúa, sau khi vua Hán Linh Đế mất, nước Trung Hoa có nhiều loạn lạc. Nhân cơ hội này các vị đạo sĩ đã giới thiệu đạo Khổng và Lão cũng như các phương pháp thể dục dưỡng sinh, thổ nạp chân khí (tức là cách luyện khí). Trong số đó có ngài Mâu Bác (Meou-Po) rất tinh thông tam giáo, về sau ngài phát tâm theo Phật giáo.

_ Do các vị thiền sư Ấn Độ sang đất Giao Châu (Bắc Việt Nam) để truyền báo đạo Phật, hoặc có một số ghé ngang qua Giao Châu, trước khi sang Tàu vào thế kỷ thứ ba. Trong số các vị thiền sư Ấn Độ được ghi nhận như Chí Cương Lương (Tche-Kiang Leang), Khương Tăng Hội (K'ang Seng Houei), Ma Ha kỳ Vực (Marjivaka ha La Jivaka)... Vào năm 247, vua Ngô Tôn Quyền thấy ngài Khương Tăng Hội thi triển nhiều phép lạ đem lòng tín phục và xây chùa ở thành Kiến Nghiệp (Nam Kinh bây giờ) để ngài tu trì và giảng dạy Phật học. Trong sách "Cao Tăng Truyện" có ghi: "Ông Ma Ha Kỳ Vực gốc ở Ấn Độ, đi du lịch các nước, đến Founan theo đường Giao Châu và Quảng Châu (bắc Việt và Quảng Đông bây giờ), đến nơi nào ngài cũng làm phép lạ. Khi đến Tương Dương, ngài muốn qua đò nhưng người lái đò thấy ngài quần áo rách rưới không cho xuống. Nhưng đến khi đò ngang cập bến, mọi người đều lấy làm lạ vì thấy ngài đã ở bên này sông rồi."

Vào thời kỳ này, mặc dù võ học đã được mang đến do các vị thiền sư, đạo sĩ nhưng vẫn chưa được phổ biến sâu rộng trong dân gian.

Mãi đến năm 580, vị thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) từ Tây Trúc đã chánh thức mang đến Việt Nam ngành đạo thiền tông đầu tiên ở nước Việt Nam, tại chùa Pháp Vân (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh), truyền được 19 đời (580 – 1216). Năm 820, vị sư Trung Hoa là ngài Vô Ngôn Thông đến chùa Kiến Sơ (Bắc Ninh) lập nên thiền phái thứ hai, truyền được 14 đời (820 – 1221).

Kể từ đó, các môn võ lâm cổ truyền từ Ấn Độ cũng như các môn Thiếu Lâm nam và Bắc phái của ngài Bồ Đề Đạt Ma từ Trung Hoa bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam.


III. TỰ CHỦ THỜI ĐẠI (939-1802 SAU THIÊN CHÚA)

Năm 939, sau khi Ngô Quyền thắng trận Bạch Đằng Giang, đánh đuổi được quân Nam Hán và giết được Thái Tử Hoằng Thao, Ngô Quyền đã thật sự giải phóng cho dân Việt khỏi ách ngàn năm đô hộ của người Tàu, và cũng mở đường cho các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn về sau được tự chủ ở phương Nam.

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp xong lạon thập nhị sứ quân, lên ngôi vua đạt lại quốc hiệu là Đại Cồ Việt, ngài lo việc tổ chức binh bị và chỉ thị cho binh sĩ tập trận đánh Trường Tiên, mà sau này dân Việt gọi là Trung Bình Tiên hay roi Quang Trường, để áp dụng vào việc chống giặc, giữ gìn bờ cõi. Về binh đội, ngài phân chia ra làm Đạo, Quân, Lữ, Tốt, Ngũ. Mỗi Đạo quân có 10 Quân, mỗi Quân có 10 Lữ, mỗi Lữ có 10 Tốt, mỗi Tốt có 10 Ngũ, mỗi Ngũ có 10 người.

Năm 980, vua Lê Đại Hành nhờ vào việc tổ chức binh bị hùng mạnh của nhà Đinh để lại mà đã tạo được nhiều chiến công hiển hách trong việc dẹp nội loạn, cũng như phá được dại quân Tống ở phương Bắc, bình được Chiêm Thành ở phương Nam. Do đó vua Lê đã tạo được thanh thế rất lừng lẫy.

Năm 1010, Lý Công uẩn tiếp nối nghiệp đế của nhà Lê để sáng lập ra nhà Tiền Lý, truyền ngôi được chín đời. Lý Công Uẩn là vị vua rất giỏi võ lâm, xuất thân từ cửa thiền ngay từ nhỏ đã theo nhà sư Lý Khánh Vân làm con nuôi, được học võ lâm và đạo thiền tại chùa Cổ Pháp. Khi lớn lên nờ tài văn võ mà được nhà tiền Lê bổ nhiệm chức Quân Tả Thần Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Khi lên ngôi, vua Lý Thái Tổ rất trọng đãi giới tu hành, Phật giáo cũng được chọn làm quốc giáo, song song với thiền tông, nhà vua cũng phát động việc huấn luyện môn võ lâm cổ truyền cho các quan viên, quân sĩ, cũng như các hoàng tử đều phải luyện tập võ lâm ngay từ thuở nhỏ. Khi lớn lên, các hoàng tử đều giỏi võ lâm và cách dùng binh. Muốn được phong vương các hoàng tử đều phải đích thân cầm binh đánh giặc để lập chiến công.

Năm 1054 – 1072, để gia tăng hiệu quả về binh bị, vua Lý Thánh Tông lo việc định quân hiệu, chia phân quân đội ra làm Tả, Hữu, Tiền, Hậu. Tất cả là bốn bộ, hợp lại là một trăm đội, mỗi đội đều có lính kỵ và lính bắn đá còn những phiên binh thì lập ra thành đội riêng biệt, không cho lẫn lộn với nhau. Binh pháp nhà Lý vào lúc bấy giờ có tiếng là giỏi, nhà Tống bên Tàu đã phải bắt chước. Điều này cũng làm vẻ vang cho con dân đất Việt.

Năm 1072 – 1127, vua Lý Nhân Tông còn chia võ ban ra làm chín phẩm. Quan đại thần có Thái Sư, Thái Phó, Thái úy, Thiều Sư, Thiếu Phó, Thiếu Úy. Còn phái dưới có Đô Thống, Nguyên Súy, Tổng Quản Khu mật Sứ, Khu Mật Tả Hữu Sứ, Kim Ngô Thượng Tướng, Đại Tướng, Đô Tướng, Chu vệ Tướng Quân, ... Vào thời này, cũng nên kể đến danh tướng Lý Thường Kiệt, một võ tướng tài ba thao lược cũng đã lập được nhiều chiến công rực rỡ trong cuộc dẹp nội loạn, bên ngoài phá Tống bình Chiêm Thành.

Năm 1125 – 1400, tiếp nối nhà Lý các vua nhà Trần chú trọng đến việc chỉnh đốn binh bị. Vua Trần Thái Tông ra luật tổng động viên, tất cả những dân trai tráng đều phải đi lính. Ngài cho mở nhiều "Giảng Võ Đường" để huấn luyện võ lâm cho dân chúng. Để trông nom binh bị tại triều đình, vua đặt ra các chức: Phiêu Kỵ Thượng Tướng Quân, Cẩm Vệ Thượng Tướng Quân, Kim Ngô Đại Tướng Quân, Võ vệ Đại Tướng Quân, Phó Đô Tướng Quân, ... và ở ngoài, có các chức Kinh Lược Sứ, Phòng Ngự Sử, Thứ Ngự Sử, Quan Sát Sử, Đô Hộ, Đô Thống, Tổng Quản, ... Binh lính được chia thành Quân và Đô, mỗi Quân có ba chục Đô, mỗi Đô có tám chục người được xếp vào Quân và Đô. Binh lính phải luôn luôn luyện tập võ lâm, sẵn sàng trong tình trạng chiến đầu. Binh lực của nhà Trần lúc này rất hùng mạnh, ba quân tướng sũ rất là thương yêu lẫn nhau. Vì vậy, đã hơn ba lần thắng được giặc nhà Nguyên, đánh đuổi hơn năm chục vạn quân Mông Cổ ra khỏi bờ cõi vào năm 1284 – 1288, dưới sự lãnh đạo của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, cùng với sự hợp lực của các võ tướng như Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão đã chiến thắng trận Chương Dương Đô.

Nguyễn Khoái, Phạm Ngũ Lão, Hưng Võ Vương Nguyên, Hưng Hiếu Vương Úy cùng với Hưng Đạo Vương đã đánh thắng quân Nguyên tại trận Vạn Kiếp, đến nổi tướng Mông Cổ là Thoát Hoan thua phải bỏ chạy về nước. Trần Khánh Dư cướp lương thực của quân Nguyên tại trận Vân Đồn. Tại trận Bạch Đằng Giang, Hưng Đạo Vương đại thắng bắt được Ô Mã Nhi và Trần Nhật Duật đã phá quân của Toa Đô ở trận Hàm Tử Quan.

Đây là những chiến công rất hiển hách, vẻ vang nhất trong lịch sử vì với một đế quốc Mông Cổ lớn mạnh nhất vào thời bấy giờ, có một binh lực viễn chinh hùng mạnh, đã từng làm mưa làm gió tại các chiến trường lớn trên thế giới, đã chiến thắng thôn tính được nhiều dân tộc lớn trên thế giới như đã thôn tính được nước Trung Hoa, chiếm được Tây Bá Lợi Á, xâm lăng Trung Âu, uy hiếp được Áo và Đức... Thế mà khi đến bờ cõi Việt Nam, họ phải nếm mùi thật trận hơn ba lần. Hơn ba lần chiến thắng vinh quang của dân tộc Việt đối với kẻ thù số 1 của loài người trong thời đó, đã chứng tỏ được dân tộc Việt là một dân tộc oanh liệt đứng hàng đầu trên thế giới.

Trong lúc chống với giặc Mông Cổ, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã soạn ra bộ "Binh Thư Yếu Lược". Đây là bộ sách tập hợp các phương pháp dùng binh đánh giặc của những danh gia trên thế giới để huấn luyện cho quân sĩ.

Năm 1400, sau khi cướp được ngôi nhà Trần, Hồ Quý Ly lo chỉnh đốn việc binh bị để đề phòng chống với giặc Minh. Hồ Quý Ly bắt dân kê khai hộ tịch rất cẩn thận rồi tuyển dân vào làm lính để gia tăng số binh sĩ, và chia quân đội ra làm bộ binh, và thủy binh. Ngoài ra còn thành lập bốn kho quân trang quân dụng, và tuyển dụng người có kỹ thuật vào làm việc ở xưởng sản xuất binh khí.

Về thủy binh, để đề phòng giữ mặt sông và biển, Hồ Quý Ly cho làm ra những chiến thuyền lớn, ở trên có sàng đi, ở dưới cho người chèo chống, thật là tiện lợi trong việc chiến đấu. Ở các cửa bể và nơi hiểm yếu của các sông lớn, Hồ Quý Ly cho người lấy gỗ đóng cộc để đề phòng quân giặc. Việc quân chế ở Nam và bắc được phân chia ra làm mười hai vệ, Đông và Tây được phân ra làm tám vệ. Mỗi vệ có mười tám đội, mỗi đội có 18 người. Đại quân có ba chục đội, trung quân có hai chục đội. Mỗi doanh có mười lăm đội, mỗi đoàn có mười đội. Còn những cẩm vệ chỉ có 5 đội và một người đại tướng thống lãnh.

Năm 1418, Bình Định Vương Lê Lợi cùng với các nghĩa sỉ sau nhiều năm gian lao thao luyện đứng lên khởi nghĩa ở đất Lam Sơn. Mãi đến năm 1427, ngài mới đuổi được quân nhà Minh ra khỏi bờ cõi Việt Nam.

Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi vua, trong các vị có công lao lớn theo giúp vua, đáng kể nhất về quan văn là ông Nguyễn Trãi trong việc tham mưu, về quan võ có đại tướng Lê Vấn và nhà sư Sa Viên trong việc huấn luyện võ dũng cho binh sĩ. Riêng về nhà sư Sa Viên, hiệu là Sơn Nhân người ở tỉnh Sơn La, Bắc Việt, vào năm 1407 ngài theo quy y học đạo tại chùa Huyền Thiên, tỉnh Sơn Đông Trung Hoa. Năm 1415, ngài về nước theo giúp vua Lê Lợi trong việc huấn luyện võ công cho các nghĩa sĩ.

Đến năm 1428, vua Lê Lợi cho mở ra những kỳ thi "Minh Kinh Khoa" bắt buộc các quan văn võ, từ tứ phẩm trở xuống phải dự thi, nghĩa là quan văn phải vào kinh thi sử, quan võ phải thi về võ kinh. Nhà vua còn mở rộng các khóa thi Minh Kinh cho dân chúng, để kén chọn nhân tài ẩn sĩ ra giúp nước. Nhân vào cơ hội phát động võ thuật của vua Lê, thầy Sa Viên đã thành lập trường huấn luyện võ lâm ông Nguyễn Trãi đặt tên là "Trường Võ Bình Định" để tưởng nhớ đến công lao của Bình Định Vương Lê Lợi, đã có công đánh đuổi quân Minh mang lại thanh bình cho xứ sở.

Năm 1460, vua Lê Thánh Tông cho mở khoa thi Tiến sĩ đầu tiên. Mỗi ba năm ngài cho mở kỳ thi võ để tưởng thưởng quân sĩ và kén chọn nhân tài võ dũng. Vào thời bấy giờ, nhiều võ sinh của trường võ Bình Định đã được trúng tuyển, cho nên danh từ võ phái Bình Định đã được dân chúng biết nhiều đến kể từ đó.

Về binh bị, vua Lê Thánh Tông còn chỉ thị cho các quan Tổng Binh phải chăm lo giảng tập trận đồ, thao luyện binh sĩ. Ngài cho đổi lại năm vệ thành năm Phủ: Trung Quân Phủ, Nam Quân Phủ, Bắc Quân Phủ, Đông Quân Phủ, Tây Quân Phủ. Mỗi phủ có sáu vệ, mỗi vệ có năm hay sáu sở, mỗi sở có bốn trăm người. Quân sĩ của năm phủ có khoảng sáu hoặc bảy vạn người. Ngài còn đặt ra ba mươi mốt điều quân lệnh để tập thủy trận, bốn mươi hai điều để tập bộ trận.

Năm 1679, vào thời Trịnh Nguyễn phân tranh, ở miền Nam nền võ học Việt Nam còn chịu ảnh hưởng vào các võ phái của người Trung Hoa như Thiếu Lâm Nam và Bắc phái, Võ Đang, Nga Mi, Không Động, Bạch Hạc, Bát Quái Chưởng, ... xuyên qua các quan binh của nhà Minh bất phục tùng Thanh Triều đến khai hoang lập ấp, định cư rãi rác trên các vùng đất cận nam. Do đó, về sau người ta còn được nghe nhắc đến những danh từ như Võ Tiều, Võ Hẹ, Võ Quảng, Võ Hải Nam, Võ Phúc Kiến, ... (để chỉ các môn võ do các người Tàu, gốc thuộc các địa phương khác nhau). Đến đây, chúng tôi xin nhắc lại một quan điểm chính trị của chúa Nguyễn Hiền Vương, với ý định mở mang bờ cõi về miền Nam, cho nên chúa Nguyễn đã cho phép các tướng lãnh cùng hơn ba ngàn binh sĩ nhà Minh bất phục tùng Thanh Triều đến tỵ nạn, và tiện dịp, dùng họ để khai hoang, lập ấp tại các vùng đất cận Nam, rồi dần dần xâm chiếm các vùng đất của người Chân Lạp. Về sau những vùng đất khai hoang, lập ấp này đã tạo nên những thành phố dân cư trù phú, sự thịnh vượng đáng kể nhất là việc sản xuất lúa gạo đã tạo nên một nền kinh tế lớn mạnh ở miền Nam. Nền kinh tế này đã giúp ích rất nhiều cho chúa Nguyễn trong công cuộc thống nhất sơn hà. Trong các tướng lãnh nhà minh đến khai hoang định cư, đáng kể nhất là tướng Trần Thắng Tài và Dương Ngạn Địch. Vào năm 1679, Trần Thắng Tài đã khai hoang tại Biên Hòa và dọc theo các vùng đất thuộc đồng bằng sông Đồng Nai. Còn Dương Ngạn Địch lập ấp tại Mỹ Tho, và các vùng đất thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1680, Mạc Cửu định cư tại Hà Tiên và vùng đất dọc theo vịnh Xiêm La (Thái Lan), Rạch Giá, Cà Mau.

Năm 1706, vào đời vua Lê Dụ Tông, ở miền Bắc chúa Trịnh Cương cho mở trường huấn võ, đặt quan giáo thụ để dạy cho con cháu các quan võ về môn võ kinh chiến lược. Cứ mỗi tháng một lần tiểu tập. Ba tháng một lần đại tập. Mùa xuân và mùa thu thì tập võ lâm. Mùa Đông và mùa hạ thì thập võ kinh (là binh thư chiến lược và chiến thuật, áp dụng những phương pháp dùng binh đánh giặc). Kể từ đó mà danh từ võ kinh mới được phổ thông trong quần chúng. Mỗi năm có một kỳ thi võ. Để tham dự vào kỳ thi võ, thí sinh lần lượt phải qua các bộ môn như bắn cung, múa giáo, múa gươm, bắn cung trong lúc phi ngựa, và bắn cung trong lúc chạy bộ. Sau cùng, thí sinh phải qua kỳ thi vấn đáp về nghĩa lý trong sách vỡ thánh hiền để xét về học lực và những phương lược trong sách võ kinh để xét về tài năng.

Năm 1740, Trịnh Doanh cho lập võ miếu ở chánh vị có bàn thờ Vũ Vương, Khương Thái Công, Tôn Võ Tử, Quan Tư, ... Ở phía sau có bàn thờ Trần Hưng Đạo, và lập miếu riêng thờ Quan Công. Mỗi năm vào mùa xuân và thu, vua cho mở cuộc tế lễ tại võ miếu.

IV. Cận kim thời đại (1802 – 1975)

Năm 1802, vua Gia Long thống nhất sơn hà vẫn theo gương xưa của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1631). Nhà vua cho thành lập xưởng súng đại bác, mở trường bắn huấn luyện voi, ngựa và trường huấn luyện võ kinh, võ lâm cho binh sĩ. Ở những nơi hiểm yếu, vua chỉ thị cho lập đồn ải. Tại các cửa bể và đảo, vua cho lập ra pháo đài. Ngoài ra, vua còn cho lập ra xưởng đóng tàu đồng, và huấn luyện thủy quân để đề phòng mặt biển.

Năm 1820, vua Minh Mạng đã chia binh đội ra thành bộ binh, thủy binh, tượng binh, kỵ binh và pháo binh. Bộ binh gồm có kinh binh và cơ binh. Kinh binh chia làm doanh, vệ, đội. Kinh binh dùng để đóng giữ ở kinh thành hoặc để sai phái đóng giữ ở các tỉnh. Mỗi doanh có năm vệ, mỗi vệ có mười đội, mỗi đội có năm chục người. Mỗi đội có suất đội và đội trưởng cai quản. Những binh khí của mỗi vệ gồm có hai khẩu súng thần công, hai trăm khẩu súng điểu thương và hai mươi mốt ngọn cờ. Còn cơ binh là lính riêng của từng tỉnh, cũng được chia ra làm cơ, đội. Cơ thì có quân cơ, đội thì có cơ suất đội cai quản.

Tượng quân được chia ra thành từng đội, mỗi đội có bốn chục con voi. Số voi ở kinh thành gồm có một trăm năm chục con. Ở Bắc thành có một trăm mười con. Ở Gia Định thành có bảy mươi lăm con. Ở Quảng Nam có ba mươi lăm con. Bình Định có ba chục con. Nghệ An có hai mươi mốt con. Tại Quảng Bình, Quảng Ngãi, Thanh Hóa, mỗi nơi đều có mười lăm con. Còn ở Quảng Trị, Phú Yên, Bình Thuận, Ninh Bình mỗi nơi có bảy con.

Thủy quân có mười lăm vệ được chia làm ba doanh, mỗi doanh đều có quan chưởng vệ quân lính, và quan đô thống chỉ huy cả ba doanh.

Ngoài ra, vua Minh Mạng còn cho thành lập ra trường Anh Doanh và Giáo Dưỡng Binh để cho các con của quan võ, từ suất đội trở lên ai muốn tình nguyện vào học sẽ được hưởng lương bổng. Việc huấnluyện võ lâm và võ kinh do một viên quan đại thần chăm sóc.

Để bổ dụng vàongành võ học, vua còn cho mở ra các khóa thi võ lâm, tuyển chọn người đậu tú tài, cử nhân và tiến sĩ võ khoa. Người dự thi võ khoa đều phải biết chữ nghĩa, vì sau khi thi xong các bộ môn của võ lâm, thí sinh còn phải dự thi phần võ kinh, để chứng tỏ khả năng trong cách dùng binh pháp đánh giặc mà trong sách võ kinh đã ấn định.

Năm 1837, vào thời Minh Mạng thứ 18 vua còn định phép cho các kỳ thi võ lâm như sau:

_ KHÓA THI HƯƠNG: trường thứ nhất thi cử tạ, trường thứ hai thi diễn roi côn (trúc mộc), diễn quyền, múa kiểm đoản. Trường thứ ba thi về bắn súng điểu thương (loại súng thời xưa). Nếu thí sinh trúng tuyển cả ba trường, được chấm đậu cử nhân võ khoa. Nếu thí sinh chỉ trúng tuyển ở trường thứ nhất và trường thứ hai, được chấm đậu tú tài võ khoa. Sau đó, để sắp hạng cao thấp, các võ tú, võ cử còn phải dự thi vấn đáp để trả lời những cẩu hỏi có liên quan đến sách võ kinh và sách Tử Tư. Nếu ai trả lời thông suốt, tên được sắp hạng đứng trước.

_ KHÓA THI HỘI: Cũng như khóa thi Hương, thi Hội gồm có ba trường. Nhưng ở phần diễn côn roi, thí sinh phải dùng đến côn roi bằng sắt (thiết côn). Thí sinh nào trúng tuyển cả ba trường và giỏi thông chữ nghĩa sẽ được vào kỳ thi Đình.

_ KHÓA THI ĐÌNH: Sau khi được tuyển chọn ở kỳ thi Hội, thí sinh được vào dự khóa thi Đình để làm một bài văn sách, trả lời những câu hỏi về nghĩa lý trong bộ sách võ kinh, sách Tử Tư, và những binh pháp chính yếu của các danh tướng thời xưa. Những thí sinh được trúng tuyển ở kỳ thi Đình được chấm đậu tiến sĩ võ khoa. Nếu thí sinh chỉ được trúng tuyển kỳ thi Hội mà không đậu ở kỳ thi Đình được chấm đậu phó bảng võ khoa.

Trong thời Pháp thuộc, người Pháp đã gặp phải những sự chống cự oanh liệt của người dân Việt, phần lớn các tổ chức kháng chiến chống Pháp, bắt nguồn từ các nhà lãnh đạo võ thuật. Do đó, để vô hiệu hóa phần nào sức kháng cự của người Việt, chính quyền Pháp đã ra lệnh nghiêm cấm các hoạt động võ thuật trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, với tinh thần ái quốc và bất khuất của người Việt, các vị võ cử, võ gia Việt Nam vẫn âm thầm lén lút dạy võ cho các thanh thiếu niên để nung đúc tinh thần quật khởi, kháng chiến chống Pháp. Mặc dù với khí giới thô sơ, tầm vong chuốt nhọn, gươm giáo không thể trực diện đối đầu với các súng đạn tối tân của người Pháp nhưng người Việt đã dùng phương pháp du kích, nhiều phen khiến cho chính quyền Pháp kinh hoàng và đã giết được các tướng tài Pháp như tướng Francis Garnier và tướng Henri Riviere tại Ô Cầu Giấy, Hà Nội (Bắc Việt).

Trong các vị lãnh đạo chống Pháp, quân Pháp đặc biệt chú ý đến các ông như Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Lê Trực, Hoàng Hoa Thám...

Năm 1862 – 1864 Ông Trương Công Định kháng chiến ở Gò Công và Biên Hòa.

Năm 1875 ông Nguyễn Hửu Huân (Thủ khoa Huân) nổi lên ở Mỹ Tho và Tân An.

Vào tháng 8/1864 ông Trương Huệ (con ông Trương Công Định) nổi lên ở Tây Ninh.

Vào 8/1917 ông Lương Ngọc Quyến và Trịnh Văn Cấn nổi lên ở nhà lao Thái Nguyên.

Năm 1927 hai ông Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng nổi lên chống Pháp ở Yên Bái.

Năm 1885, ông Quản Hớn Nguyễn Văn Bường khởi binh ở Bà Điểm Hốc Môn, Bà Trà, Tân Khánh. Trận đánh nổi tiếng nhất là ở Mười Tám Thôn Vườn Trầu (gọi là Thập Bát Phù Viên) trong đó nghĩa binh bị vây đánh, sau cùng còn lại bảy chục người cùng nhau thề đánh cho đến chết. Và họ đã giữ vững lời thề. Từ trận đánh Pháp nổi tiếng này về sau, danh từ "võ vườn" đã được lưu truyền để nói lên tinh thần võ dũng của địa phương này. Nếu muốn nói "võ vườn" là một môn phái võ thuật người ta cũng không thấy được một tài liệu sách vở nào để chứng minh về nguồn gốc, kỹ thuật căn bản của nó, mà chỉ được nghe nhắc qua lời truyền miệng của các dân địa phương. Có lẽ, đây chỉ là một số đòn thế chiến đấu tự vệ của dân địa phương được ảnh hưởng bởi võ thuật Trung Hoa, bắt nguồn từ năm 1679, tướng Trần Thắng Tài và hơn ba ngàn binh sĩ nhà Minh, bất phục tùng Thanh triều, đã được chúa Nguyễn Hiền Vương cho phép tỵ nạn, khai hoang, lập ấn định cư dọc theo đồng bằng sông Đồng Nai (Biên Hòa, Hốc Môn). Để chứng minh cho luận cứ trên, chúng tôi còn ghi nhận qua lịch sử bởi chiến tích võ dũng của mười tám thôn vườn trầu vào năm 1782. Tại đây, quan binh Tây Sơn Nguyễn Nhạc đã bị đánh bại, do sự phục kích của đạo binh Hòa Nghĩa (người Trung Hoa cư ngụ tại 18 thôn Vườn Trầu, theo giúp Nguyễn Ánh).

Vào năm 1911, ngài Mộc Đức Thiền Sư, một trong nhưng vị cố vấn cho Tôn Dật Tiên đã thu nhận bốn đồ đệ người Việt Nam như Trần Tần Chân Nhân, Thiện Tảo Đạo Nhân, Tư Hớn Cư Sĩ, và Thiện Tâm Thiền Sư. Về sau bốn vị này góp công lớn vào việc phát triển ngành thiền tông và võ lâm tại Việt Nam.

Riêng về Thiện Tâm Thiền Sư, tên thật là Nguyễn Văn Sáu, hiệu Đoàn Tâm Ảnh, sanh năm 1900 tại Bạc Liêu, Nam Việt Nam. Sau mười tám năm được theo thầy Mộc Đức Thiền Sư để học võ lâm và thiền tông tại chùa Phi Lai Tự, miền Bắc Trung Hoa, ông trở về Việt Nam vào năm 1930 mở trường dạy võ thâu nhận môn đồ. Đồng thời, ông cùng một số nghĩa sĩ âm thầm thành lập đảng Sao Trắng để chống Pháp. Đảng Sao Trắng với tinh thần nghĩa hiệp giúp đỡ dân lành, đã làm cho những tay cường hào ác bá và chính quyền Pháp phải nhiều phen bối rối, tại miền lục tỉnh hậu giang, Nam Việt Nam. Năm 1960, để hưởng ứng phong trào thanh niên võ thuật, ông đã chính thức thành lập Hội Võ Lâm Việt Nam và sau đó thu nhận được bốn vị đệ tử tâm đắc như Giáo Sư Vũ Đức, Giáo sư Hùng Phong, Giáo Sư Hàng Thanh, và Giáo sư Nguyễn Thiên Tài. Mãi đến năm 1970, ông lui về ẩn dật chức vụ Chưởng Môn Phái Võ Lâm Việt Nam đã được ông chính thức truyền lại cho Giáo sư Vũ Đức (Âu Vĩnh Hiền) để tiếp tục công việc phát triển môn phái. Về sau, để tìm nguồn an lạc nơi chốn thiền, Thiện Tâm Thiền Sư đã trụ trì tại chùa Pháp Hoa, Sài Gòn.

Ngoài ra, một số các vị võ sư Việt Nam lão thành nổi danh như Thầy Võ Dựt (1870 – 1958), hiệu là Nam Nghĩa, người làng An Dinh quận Bình Khê. Thầy Hồ Nhu (1890 - ?) hiệu Hồ Ngạnh người làng Thượng Truyền, quận Bình Khê giỏi về côn pháp. Thầy Đàon Phong và Thầy Tàu Sáu ở quận Bình Khê giỏi về quyền cước. Thầy Triệu Thúc Lang ở quận Dương Đông đảo Phú Quốc. Thầy cử nhân Trương Thạch (1880 - ?) ở Bình Định. Thầy cử nhân Đinh Các (1880 – 196?) người Qui Nhơn. Thầy Năm Soai (1880 – 197?) người Bạc Liêu. Thầy Sáu Khá (1885 – 196?) và các thầy Tư Công, Hai Sình đều ở Bạc Liêu. Võ sư Huỳnh Kim Hên (1905 – 1980) hiệu là Mã Thanh Long người ở Bạc Liêu về sau cư ngụ tại Hòa Hưng, Sài Gòn. Thầy Hàn Bái sáng tổ hệ phái Hàn Bái. Thầy Vũ Bá Oai (1901 – 28/1/2001) kế nghiệp thầy Hàn Bái thành lập võ đường Hàn Bái tại Sài Gòn. Thầy Truong Thanh Đăng (1895 – 197?) hiệu Sa Long Cương người tỉnh Phan Thiết, về sau cư ngụ tại Sài Gòn. Thầy Hồ Hợi (1896 - ?) sáng lập Hội Cửu Long Võ Đạo tại Sài Gòn. Thầy Bảy Nếp người quận Cần Đước, Nam Việt Nam về sau là cư sĩ tại tỉnh Gia Định.

Trong thời Pháp thuộc, môn quyền anh được du nhập với kỹ thuật tay nghề đấm giản tiện và rất được sự ngưỡng mộ của quần chúng người Việt. Vào giữa thập niên 1960 – 1970, các võ sư huấn luyện quyền anh đáng kể như Minh Cảnh, Huỳnh Tiền, Kidemsey, Trần Mộng Lân, Nguyễn Son, Lý Huỳnh, Minh Thành, ... Bộ môn quyền anh được hoạt động dưới sự chăm sóc của Tổng Cuộc Quyền Thuật Việt Nam. Tổng cuộc này đã được thành lập vào năm 1956 tại Sài Gòn do sự góp mặt của các võ sư và võ sĩ thuộc nhiều môn phái võ thuật Việt Nam khác nhau.

Ngoài ra vào năm 1960, các vị võ sư còn thành lập Tổng Hội Nghiên Cứu Võ Học Việt Nam với ước vọng để khảo cứu các ngành võ thuật Việt Nam. Trong suốt 15 năm (1960 – 1975) thành hình, tổng hội này không có một biểu hiện nào đáng được ghi nhận. Phần lớn nổ lực hoạt động võ thuật Việt Nam trong quảng đại quần chúng đều do công trình của Tổng Cuộc Quyền Thuật Việt Nam đẩy mạnh, dưới sự yểm trợ của chính quyền thanh niên. Mặc dù có rất nhiều võ phái Việt Nam hoạt động son song với Tổng Cuộc Quyền Thuật Việt Nam, nhưng chỉ có vài võ phái đạt được sự tổ chức một hệ thống võ đường qui cũ, thu huat được nhiều võ sinh trên toàn quốc như Hội Võ Thuật Vovinam, do Võ Sư Nguyễn Lộc sáng lập, về sau võ sư Lê Sáng kế nghiệp; hội Võ Lâm Việt Nam do lão sư Đoàn Tâm Ảnh (pháp danh Thiện Tâm Thiền Sư) sáng lập, về sau giáo sư Vũ Đức kế nghiệp; Hội Cửu Long Võ Đạo do võ sư Hồ Hợi sáng lập, ...

Năm 1945, sau khi quân đội Nhật Bản thắng Pháp tại Việt Nam, cũng như tinh thần võ sĩ đạo Nhật vang danh khắp thế giới, môn võ Nhật nổi danh lúc bấy giờ là môn Nhu Đạo (Judo) và Nhu Thuật (Jiu-Jittsu) rất được người Việt Nam hâm mộ. Vị võ sư người Nhật đầu tiên đến giảng dạy Nhu Đạo tại Việt Nam là võ sư Yonka, về sau lại có các võ sư Watanabe, võ sư Ishikawa. Năm 1948, giáo sư Hồ Cẩm Ngạc trở về nước sau 5 năm du học tại Nhật Bản. Giáo sư Hồ Cẩm Ngạc là người Việt Nam đầu tiên đã tốt nhiệp môn Nhu Đạo tại trường Đại học Nhu Đạo Kodokan, Nhật Bản. Ngoài ra ông còn tốt nghiệp các bộ môn võ Nhật khác như Karatedo (KHông thủ đạo) thuộc trường phái Yosheikan. Vào năm 1956, giáo sư Hồ Cẩm Ngạc đã xuất bản quyển Nhu Đạo Tạp Phương. Vào năm 1955, Giáo sư Phạm Lợi từ Pháp về Việt Nam và đã xuất bản quyển Kỹ Thuật Nhu Đạo vào năm 1956. Ngoài ra còn có một số giáo sư Nhu Đạo đáng kể như giáo sư Đặng Thông Trị, giáo sư Phan văn Quan, giáo sư Thái Thúc Thuần, giáo sư Vương Quang Ba, thượng tọa Thích Tâm Giác. Những vị giáo sư Nhu Đạo vừa kể trên đều là những vị đã góp công thành lập Tổng Cuộc Nhu Đạo Việt Nam vào năm 1956. Riêng giáo sư Đặng THông Trị ngoài môn Nhu Đạo, ông còn làm giaó sư Aikido đầu tiên đẩy mạnh phong trào Hiệp Khí Đạo tại Việt Nam. Vào năm 1964 bào đệ của giáo sư Trị là giaó sư Đăng Thông Phong thành lập Tổng Cuộc Hiệp Khí Đạo Việt Nam.

Vào năm 1960 quân đội viễn chinh Đại Hàn đến tham chiến chống cộng sản tại Việt Nam, môn võ Đại Hàn Taekwondo (Thái Cực Đạo) do tướng Choi Hong Hi lãnh đạo đã được chính quyền quân đội VNCH yểm trợ phát động môn võ này trong quảng đại quần chúng. Sau đó Tổng Cuộc Thái Cực Đạo Việt Nam được ra đời do Trung Tá Phạm Văn Cư làm chủ tịch sáng lập. Đến niên khóa 1973 – 1975, Đại tá Trần Thanh Điền kế nhiệm chức chủ tịch Tổng Cuộc Thái Cực Đạo Việt Nam. Môn võ Thái Cực Đạo đã lớn mạnh tại Việt Nam trong cao trào thanh niên khỏe với nhiều võ phái trăm hoa đua nở.

Căn cứ vào lịch sử tranh đấu Việt Nam, võ học cổ truyền Việt Nam là một nền tảng căn bản cho quân sự quốc phòng. Do đó, võ học đã đóng một vai trò rất quan trọng trong vận mạng thịnh suy của đất nước. Kể từ thượng cổ thời đại, vào đời vua Hùng Vương lập quốc, mặc dù con người chưa biết dùng chữ viết để ghi chép lại sự diễn tiến của võ học nhưng nhờ vào một số di tích của các món binh khí như búa, rìu, dao, dùi, cào, trống đồng và một số tranh ảnh chiến đấu được khắc vẽ trên những phiến đá tại các vùng đất thuộc Bắc Việt Nam, được tìm thấy bởi các nhà khảo cổ đã nói lên được phần nào khoa võ học lập quốc của tổ tiên người Việt Nam.

Với vốn liếng căn bản khoa võ học lập quốc đầu tiền, sau đó trong các dịp giao tiếp với lân bang, người Việt đã biết khôn khéo thái nạp cái hay của người để biến chế và đồng hóa và sắc thái riêng biệt của mình. Điển hình là sự ảnh hưởng ở nền võ học Trung Hoa và Ấn Độ xuyên qua các nhà truyền giáo, hoặc các quần binh người Trung Hoa trong thời kỳ một ngàn năm Bắc thuộc. Để rồi sau đó nền võ học kiến quốc được phát huy trong các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn... Mãi đến thế kỷ 17, người Âu Châu đến buôn bán và truyền đạo Thiên Chúa tại Việt Nam, và đến thế kỷ 19, cuộc tranh chấp bằng võ lực giữa Việt Nam và Pháp bùng nổ, nền võ học kiến quốc của Việt Nam đã bị vô hiệu hóa trước đạn súng ống tối tân của Pháp. Sau đó, Việt Nam phải chịu đựng hơn tám mươi năm lệ thuộc người Pháp. Trong thời gian tiếp xúc với người Âu Châu, người Việt đã hiểu được rằng sự tiến hóa của nhân loại trên thế giới hiện nay đã bước qua một kỷ nguyên tiến bộ mới trên nhiều phương diện. Cũng như võ học cổ truyền với gươm giáo làm căn bản, không còn là một yếu tố chính yếu thích nghi cho quân sự quốc phòng nữa, mà đã được thay thế bằng những đạn dược, súng ống tối tân hiên đại hóa quân sự với những kỹ thuật chiến tranh máy móc. Kể từ đó, nền võ học kiến quốc của Việt Nam không còn đóng một vai trò chính yếu quân sự trong lịch sử mà đã biến thể trở thành một bộ môn thể thao tự vệ cũng như các bộ môn thể thao thuần túy khác, nhằm mục đcíh phụng sự cho phong trào khỏe của nước nhà, thêm phần phong phú.


MÔN QUYỀN THUẬT VIỆT NAM

Trong phong trào hoạt động võ thuật tại Việt Nam sau 1945, Tổng Cuộc Quyền Thuật Việt Nam được thành lập vào năm 1952, là một tổng cuộc kỳ cựu, lão thành nhất so với các tổng cuộc võ thuật khác tại Việt Nam như: Tổng Cuộc Nhu Đạo (Judo), Tổng Cuộc Hiệp Khí Đạo (Aikido), Tổng Cuộc Thái Cực Đạo (Taekwondo).

Dĩ nhiên, trước khi tổng cuộc ra đời, phong trào Quyền Thuật Việt Nam trên toàn quốc đã chớm nở mãnh liệt, với những hoạt động võ thuật trong quần chúng, được lãnh đạo bởi các vị võ sư lão thành, thuộc nhiều môn phái khác nhau. Cho nên, việc ghi nhận lại một số phương danh được biết, trong số đông đảo những vị võ sư lão thành vào thời trước. Đó cũng là một việc làm rất chính đáng.

CÁC VỊ VÕ SƯ LÃO THÀNH ĐÁNG KỂ

Năm 1850 – 1974: Thầy Cử Nhân Võ Triệu Thúc Lang, về sau ở quận Dương Đông, đảo Phú Quốc. (Thầy sống 124 tuổi).

Năm 1870 – 1958: Thầy Võ Dựt, hiệu là Năm Nghĩa, người ở làng An Dinh, quận Bình Khê.

Năm 1880 – 19 ??: Thầy Cử nhân Võ Trương Trạch, ở Bình Định.

Năm 1880 – 196?: Thầy Hai Cụt, ở làng Cẩm Thượng, Bình Định.

Năm 1880 – 196? : Thầy Ba Cát (Nguyễn Văn Cát) ở Qui Nhơn.

Năm 1880 – 197? : Võ sư Năm Soai, ở Bạc Liêu, giỏi về quyền cước.

Năm 1885 – 196? : Các vị võ sư Sáu Khá, Tư Cống, Hai Sình, người ở Bạc Liêu, giỏi về quyền cước

Năm 1889 – 1928: Thầy Lê Văn Bái, hiệu là Hàn Bái, thân phụ của ông là một võ tướng, chức Lãnh Binh của triều đình Huế. Oâng thất lộc vào mùng 6 tháng 3 âm lịch, năm 1928. Oâng đã đào tạo được một số cao đồ như: Nguyễn Văn Đắc, ông Quỳnh, ông Giãn, Viêu Khang và Vũ Bá Oai. Về sau, chỉ có võ sư Vũ Bá Oai làm rạng rỡ cho môn phái, và đã rèn luyện được một số học trò đáng kể như: Đỗ Dư Ánh, bác sĩ Nguyễn Anh Tài, Trương Minh Lắm ở Bến Tre, và Lê Bất Trị ở Tây Ninh... Năm 1950, võ sư Vũ Bá Oai đã thành lập Hàn Bái Đường tại Sài Gòn.

Năm 1890 – 197? : Thầy Hồ Nhu, hiệu là Hồ Ngạnh, làng Thượng Truyền, quận Bình Khê, giỏi về côn pháp.

Các Thầy Đoàn Phong, và thầy Tàu Sáu ở quận Bình Khê, giỏi về quyền cước.

Võ Sư Quách Văn Kế, giỏi về quyền cước, là sáng tổ của môn phái Lam Sơn Võ Thuật Đạo, sau khi cụ qua đời, con trai là võ sư Quách Văn Phước kế nhiệm chức Chưởng Môn võ phái.

Thầy Bảy Nếp, người quận Cần Đước, nam Việt Nam, về sau là cư sĩ tại tỉnh Gia Định.

Võ sư Chính Hóa là sáng tổ của võ phái Tây Sơn Nhạn, về sau, học trò lớn của cụ là võ sư Kim Kê (Đặng Văn Anh) kế nhiệm chức vụ Chưởng môn võ phái, và võ sư Nguyễn Văn Mách là phó chưởng môn.

Năm 1897 – 197 ? : Thầy Trương Thanh Đăng, hiệu là Sa Long Cương, người ở Phan Thiết. Năm 1925, bắt đầu dạy võ ở Phan Thiết. Năm 1930, dạy võ tại Sài Gòn. Năm 1964, chánh thức thành lập võ đường Sa Long Cương tại Sài Gòn. Lúc 14 tuổi, ông theo học võ với thầy Trương Trạch, một cử nhân võ thời bấy giờ tại Bình Định, sau đó với thầy Hai Cụt, ở làng Cẩm Thượng, Bình Định, và thầy Ba Cát (Nguyễn Văn Cát) tại Qui Nhơn.

Năm 1896 – 197? : Võ Sư Hồ Văn Hợi, năm 1969, sáng lập Hội Cửu Long Võ Đạo tại Sài Gòn (do nghị định 165/PDUTNTT/TDTT, ngày 16/2/1970) với hội đồng quản trị như: Chủ tịch Trần Văn Thoàn, Chưởng Lý Tối Cao Pháp Viện, các phó Chủ Tịch: Kỹ sư Trần Văn Hà, giáo sư Phạm Thành Mãi, Tổng thư ký: Nghị sĩ Lê Tấn Bửu, thủ quỹ: Nghị sĩ Võ Văn Truyện, các ủy viên: kỹ sư Huỳnh Văn Diệp, thương gia Trần Văn Chiêu và võ sư Phùng Văn Chính.

Năm 1900 – sống: Võ sư Đoàn Tâm Ảnh, pháp dah Thiện Tâm Thiền Sư, phương danh Nguyễn Văn Sáu (Sáu Nhỏ) hiện nay 2001 ông vẫn còn sống tại Việt Nam. Oâng sanh tại Bạc Liêu, nam Việt Nam. Năm 1911, ôn theo thầy Mộc Đức Thiền Sư học đạo Thiền Tông và võ lâm cổ truyền, tại chùa Phi Lai Tự (miền Bắc Trung Hoa). Năm 1930, trở về Việt Nam, ông sáng lập môn phái võ lâm Việt Nam Chính Tông. Lần lượt, mở các võ đường tại các tỉnh miền Nam Việt Nam như: Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau, Cần Thơ, Bến Tre, Long Xuyên, Vĩnh Long, Rạch Giá ... Rồi, bí mật thành lập đảng Sao Trắng, kết nạp các nghĩa sĩ để chống Pháp, và đã một thời oanh liệt, đảng Sao Trắng của ông đã làm điên đảo , bối rối cho các tay cường hào ác bá cùng chính quyền Pháp ở miền lục tỉnh (Hậu Giang, miền Nam). Về sau ông lên Sài Gòn mở các lớp dạy võ lâm. Trong suốt cuộc đời truyền dạy võ lâm, ông đã đào tạo rất đông đảo huấn luyện viên và võ sư rải rác từ Sài Gòn đến các tình miền nam, Việt Nam. Trong số các cao đồ đắc ý nhất của ông, và đã làm rạng rỡ cho môn phái võ lâm đáng kể đến như: Giáo sư Hàng Thanh (Phan Chấn Thanh), giáo sư Vũ Đức (Âu Vĩnh Hiền), giáo sư Hùng Phong (Huỳnh Ninh Sơn), giáo sư Nam Phong (Nguyễn Thiên Tài), giáo sư Lạc Hà(Nguyễn Văn Bé), giáo sư Từ Võ Hạnh, giáo sư Lư Công Khanh, võ sư Long và võ sư Châu (ở Cần Thơ) ...

Đến năm 1970, ông chánh thức chấm định giáo sư Vũ Đức (Âu Vĩnh Hiền) là người được ủy nhiệm thừa kế chức vụ Chưởng Môn võ phái, để thay thế ông trong việc phát triển môn phái Võ Lâm Việt Nam Chính Tông. Sau đó, để tìm nguồn an lạc tại chốn thiền môn, ông đã trụ trì tại chùa Pháp Hoa (Sài Gòn).

Từ năm 1970 đến 4/1975, giáo sư Vũ Đức (Âu Vĩnh Hiền) đã thành lập Trung Tâm Huấn Luyện Võ Lâm Việt Nam Chính Tông tại địa điểm: Chi Thanh Niên Quận Sáu, Chợ Lớn (140 Lê Quang Hiền, Chợ Lớn). Trong thời gian tại Việt Nam, giáo sư Vũ Đức đã đào tạo được một số đông đảo võ sinh. Những Đai Đen Huấn Luyện Viên đáng kể như: Hồng Long, Châu Việt Hùng, Trần Văn Quang, Lê Văn Phước, Lê Kiến Sanh, Trần Văn Hoàng, Nguyễn Văn Bình, Trương Sắc Hào ...

Sau 4/1975, môn phái Võ Lâm Việt Nam Chính Tông đã được chánh thức sửa tên gọi là Võ Lâm Đạo Việt Nam, với sự chuẩn nhận của sáng tổ Thiện Tâm Đoàn Tâm Ảnh và Chưởng Môn giáo sư Vũ Đức (Âu Vĩnh Hiền).

Để thống nhất đường lối hoạt động của các võ đường chi nhánh Võ Lân Đạo ở trong nước Việt Nam và hải ngoại, võ phái còn được sự chỉ đạo trung ương của Tổng Hội Thế giới Võ Lâm Đạo Việt Nam (VoLamDao Vietnam Kungfu World Federation), chủ tịch hội đồng do Chưởng Môn Giáo Sư Vũ Đức phụ trách, trụ sở đặt tại miền nam California, Hoa Kỳ (hộp thư liên lạc: PO Box 6204, Rosemead, CALIF. 91770 – 1634, USA).

Tổng Hội Thế Giới Võ Lâm Đạo Việt Nam đã được giáo sư Vũ Đức chánh thức thành lập , với giấy phép của chính quyền tiểu bang California, USA, cấp ngày 07/07/1982.

Năm 1910 – 198? : Võ sư Huỳnh Kim Hên, hiện là Mã Thanh Long, sanh tại tỉnh Bạc Liêu. Thuở nhỏ, từ 9 đến 19 tuổi, đã theo học võ với người bác ruột hiệu là Mã Thanh Khôn, thuộc võ phái Thiếu Lâm Hồng Gia Quyền. Năm 1936, ông bắt đầu dạy võ cho quân đội Hoàng Gia Cao Miên, tại Nam Vang. Đến năm 1957, ông chánh thức thành lập võ đường Mã Thanh Long, tại Hòa Hưng, Sài Gòn. Trong cuộc đời dạy võ, ôn đã đào tạo rất nhiều huấn luyện viên, và võ sĩ danh tiếng chiến thắng trên võ đài.

Năm 1917 – 198? : Võ Sư Lê Văn Kiển, hiệu là Tám Kiển, người ở Sóc Trăng, tỉnh Ba Xuyên, man Việt Nam. Lúc 12 tuổi, học võ với thân phụ, được chú ý về môn bắn cung. Về sau ông được học võ với nhiều vị lão sư có trình độ võ học cao về lý thuyết lẫn thực hành. Oâng đã thành lập võ phái Nam Tông. Năm 1950, ông có lớp dạy võ tại sân vận động Phan Đình Phùng (Sài Gòn). Năm 1961, ông dạy võ tại Trung tâm Sinh Hoạt Thanh Niên /Chợ Lớn (Khu Đại Thế Giới cũ) và tại sân vận động Cộng Hòa, đường Nguyễn Kim, Chợ Lớn. Năm 1969, ông được đắc cử Chủ Tịch, tổng hội Võ Học Việt Nam. Nam 1970, ông đã xuất bản sách võ "Thập Bát Liên Châu".

Năm 1920 – sống: Võ sư Lê Sáng, sanh tại Hà Nội (gốc ở Thanh Hóa), theo học võ từ năm 1939 đến 4/1960 với võ sư Nguyễn Lộc, sáng tổ của môn phái VoViNam (gọi tắt của Võ Việt Nam). Trước khi qua đời (vào ngày 4/4/1960), võ sư Nguyễn Lộc đã ủy nhiệm lại cho võ sư Lê Sáng chức vụ Chưởng môn lãnh đạo võ phái VOVINAM . Về sau, võ sư Lê Sáng đã phát triển một hệ thống võ đường huấn luyện cho quân đội, cảnh sát, và dân sự trên toàn quốc, dưới sự lãnh đạo của Tổng Cục Huấn Luyện trung ương tại đường Sư Vạn Hạnh, Chợ Lớn. Trải qua nhiều thăng trầm với thời cuộc, môn phái VoViNam đã thật sự bành trướng mạnh mẽ, sâu rộng trong quảng đại quần chúng Việt Nam.

Năm 1917 – 199? : Võ sư Mai Văn Phát, pháp danh Thích Thiện Tánh, sinh tại xã Thuận Hưng, Thốt Nốt, Long Xuyên. Năm 1929, lên Thất Sơn thụ giáo với ông Huỳnh Trí Đức về võ thuật và thiền tông. Năm 1936, tại Cần Thơ, được gặp võ sư Hia Thêm, đưa về Trung Hoa để truyền dạy võ thuật Thiếu Lâm. Năm 1942, hồi hương Việt Nam. Năm 1943, dạy võ tại Châu Đốc. Năm 1956, lên Sài Gòn trụ trì tại chùa Long Hoa. Năm 1964, chánh thức thành lập võ đường Trung Sơn, tại số 53/22 Trần Khánh Dư, Tân Định (ngang hồ tắm Cộng Hòa cũ). Năm 1971, võ sư đắc cử Chủ Tịch, Tổng Hội Võ Học Việt Nam.

Năm 1908 – 198? : Võ Sư Trần Phú Đáng, sinh tại quận Diên Bàng, tỉnh Quảng Nam. Oâng bắt đầu học võ vào lúc 20 tuổi (1928). Sau 5 năm luyện võ, lần đầu tiên, ông đã chiến thắng trận đấu võ đài được tổ chức tại hội chợ tỉnh Hội An vào năm 1933. Sau đó mỗi 2 năm, các trận đấu võ đài tại hội chợ của các tỉnh (Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam), ông đều có tham dự đấu, có trận thắng hoặc hòa, chưa có bị thất bại. Năm 1954, ông mở phòng tập dạy võ tại Đà Nẵng, về sau, chánh thức thành lập võ đường Trần Hưng Đạo (tại số 50 đường Hàm Nghi, Đà Nẵng). Oâng đã đào tạo rất nhiều võ sinh, huấn luyện viên, đáng kể là hai cao đồ Đặng Ngọc Sách và Nguyễn Văn Vĩnh đã mở hai võ đường riêng, có đông đảo võ sinh trong thành phố Đà Nẵng, vào năm 1970 – 71.

Năm 1910 – 198? : Võ sư Bảy Hý (tên thật Lê Công Trứ), sinh tại Duy Xuyên, Quảng Nam. Lúc 14 tuổi, theo học võ với vị thầy võ tại Duy Xuyên. Về sau, được thụ giáo với võ sư Hiệp Vân, một hiệp sĩ nổi danh vào năm 1930. Oâng đã chiến thắng oanh liệt các trận đấu võ đài tại các tỉnh Hội An, Thu Bồn, Đà Nẵng, vào lúc tuổi thanh niên. Trước 1970, ông thành lập võ đường Lê Huấn, tại Đà Nẵng.

Tại Đà Nẵng, đồng thời với võ sư Bảy Hý, còn có các võ sư lão thành như:

-Võ sư Hồ Phước là chú của Hồ Cưu (nhà vô địch tại điạ phương 1940)

Võ sư Phan Vũ Túc với võ đường Hòa Quang Phái (kiêm Đông y sĩ, Vạn Hưng Đường) tại số 34 đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng. Oâng rất kỹ lưỡng trong việc thu nhận học trò.

Võ sư Trương Khả có tính tình rất vui vẻ, rất tận tâm, sốt sắng trong việc dạy dỗ học trò. Vào thời Pháp, ông đã tham gia vào quân đội lính Lê Dương của Pháp và được xuất ngoại rất nhiều nơi như: Pháp, Ý. Trước năm 1970, ông mở võ đường tại xã Thanh Khê 3, ngoại ô Đà Nẵng.

Võ sư Đặng Văn Vàng với Võ Đường Việt Nam, tại số 132/902 đường Trần Cao Vân, An Cư 3, Đà Nẵng.

Võ sư Năm Sẻ (tên là Trần Tử Hiếu) với võ đường Nguyễn Trung Trực, tại khóm Hòa Bình, Liên Gia 75, xã Hòa Phát, tỉnh Quảng Nam.

Võ sư Lưu Thanh Bình với võ đường Lê Trung Hậu, tại xã Hòa Khánh, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Võ sư Nguyễn Lự với võ đường Cao Thắng, tại Liên Gia 34, thôn An Hòa, Xã Hòa Phát, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Võ sư Tấn Hoành với võ đường thành lập trước 1970, tại ấp Từ Quang, Từ Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

Võ sư Lâm Võ, tên thật là Lâm Hiến Giới, sinh năm 1910, tại Tây Hồ, Phúc Kiến, tỉnh Quảng Đông (Trung Hoa). Thân phụ của ông tên là Lâm Hùng Sơn thuộc môn phái Thiếu Lâm Tự. Năm 1945, ông sang sinh sống ở Việt Nam. Về sau, ông dừng chân tại đất Quảng Ngãi, vui sống tuổi về già. Trước năm 1970, ông đã mở võ đường tại ấp Phú Hòa, Tàu Tương (gần cầu sông Trà Khúc), tỉnh Quảng Ngãi. Oâng đã đào tạo được rất nhiều môn đồ võ công xuất sắc.

Võ sư Thanh Long kiêm Đông y sĩ, với võ đường thành lập trước 1970 tại số 96/10 đường Hoàng Diệu, tỉnh Pleiku.

Võ sư Lãng (đã qua đời trong biến cố tết Mậu Thân, 1968) thuộc Nga Mi phái, ông đã có lớp dạy võ tại sân vận động Tự Do, Huế.

Võ sư Nhuận với võ đường ở Bãi Dâu (chợ Dinh) Huế.

Võ sư Minh với võ đường ở đường Lê Lợi, Huế.

Võ sư Lê Văn Tường, dạy võ Thiếu Lâm và Bình Định, trước năm 1970 với võ đường Đại Hải, nằm bên quốc lộ 1, Nha Trang.

Võ sư Võ Châu Long, thuộc phái Bình Định và Thiếu Lâm Nam phái, đã từng là nhà vô địch tại Phú Yên, Quảng Ngãi, Quảng Trị. Oâng nổi tiếng gan lì trong nhiều trận đấu võ đài từ Trung vào Nam. Trước năm 1970, ông mở võ đường tại đường Nguyễn Thái Học (gần lò heo) Nha Trang.

Võ sư Kim Sang dạy võ quyền Tự Do vào năm 1970 với võ đường Kim Sang tại số 30 đường Đồng Nai, sau về số 3, Lê Lai, Nha Trang.

(Người viết xin cáo lỗi: Vì sự hiểu biết của soạn gỉa có hạn nên còn thiếu sót rất nhiều về phương danh của các bậc võ sư lão thành, thuộc nhiều võ phái khác nhau, trên toàn quốc. Người viết xin cám ơn trước nếu quí vị độc giả bổ khuyết cho phần này. Về tên tuổi, quê quán và hoạt động của các võ sư lão thành, xin gởi về: Giáo Sư Vũ Đức, hộp thư PO Box 6204, Rosemead, CA 91770. Thành thật cám ơn.)


MÔN QUYỀN ANH (BOXING)

Trong thời gian quân đội viễn chinh Pháp đặt chân lên mảnh đất Việt, môn Quyền Anh (Boxing), với kỹ thuật tay đấm thần tốc, mãnh liệt, đã được sự ngưỡng mộ nồng hậu của quần chúng Việt. Vào thập niên 1960 – 1970, các vị võ sư huấn luyện Quyền Anh đáng kể như: võ sư Minh Cảnh, võ sư Huỳnh Tiền, võ sư Kid-Dempsey, võ sư Trần Mông Lân, võ sư Nguyễn Son, võ sư Lý Huỳnh, võ sư Minh Thành .... Bộ môn Quyền Anh được hoạt động dưới sự chăm sóc của Tổng Cuộc Quyền Thuật Việt Nam.

Gs Vũ Đức

http://vietsciences.free.fr/lichsu/lichsuvohocvn.htm




Đăng nhập để trả lời
0
Võ Bình Định

Jul 12 2006, 12:58 PM

Nguyễn Trung Như

Nguyễn Trung Như sinh năm 1747, con ông Nguyễn Kim Châu và bà Lê Thị Yến ở làng Nhơn Phúc, huyện Anh Nhơn (An Nhơn?- TLBP), tỉnh Bình Định.
Nguyễn Trung Như theo học thầy giáo ở làng Thắng Công (An Thái) cả văn lẫn võ. Đến năm 25 tuổi thì cha mẹ đều qua đời.

Một hôm Nguyễn Trung Như thưa với thầy: nghe phong trào Tây Sơn chiêu mộ hiền tài, con có thể lên đường giúp Tây Sơn được không?Thầy giáo Hiến đáp: Nay đất nước đang trong lầm than, mà anh em Nguyễn Huệ là người có chí lớn, nếu con tự nguyện lên đường giúp Tây Sơn thì đó là điều may cho quốc gia đại sự. Ông từ giã thầy về nhà sắp xếp đồ đạc và tìm đến anh em Tây Sơn. Ông đã được Nguyễn Nhạc tin dùng và giao cho nhiệm vụ đi chiêu mộ hiền tài hào kiệt 4 phương. Nhờ bản tính thông minh lanh lợi, nên ông đi đến đâu cũng được dân chúng mến mộ và anh hùng hào kiệt hưởng ứng tham gia phong trào Tây Sơn.Có những lúc ông đã đến các nơi xa xôi có những lò võ giỏi để trao đổi học tập và thuyết phục họ. Qua hai mươi mấy năm theo Nguyễn Huệ đánh Nam dẹp Bắc ông đã được phong Đô đốc quản những đội quân tinh nhuệ của Tây Sơn. Sau khi vua Quang Trung mất (1792) nội bộ bất ổn và bị nhà Nguyễn truy lùng gắt gao, ông đã từ bỏ quân ngũ trở về làng cũ làm ruộng.Mùa xuân năm Mậu Ngọ (1798), trước cảnh đao binh nhân dân khốn khổ, quân thần Tây Sơn ngày càng tan rã, các tướng trung thành sức cùng lực tận chống đỡ không nổi, người thì bị bắt, người thì chết. Một buổi chiều, bên trường dạy võ, ông Như ngồi trầm ngâm yên lặng hồi tưởng thời đã qua. Và từ đây, ông đã dồn tâm đền trí vào việc biên soạn lại các bí kíp của các danh tướng hào kiệt thời Tây Sơn mà nhiều năm ông đã lăn lộn sống bên nhau với họ. Ông soạn hoàn thành quyển :"Tây Sơn danh tướng bí kíp) vào ngày 20 tháng 12 năm Kỷ Mùi (1799), lúc này ông 52 tuổi.

Sau đó ông từ bỏ quê nhà sang sống ở làng Thiết Tràng (Phù Cát) và tiếp tục dạy võ.Trong số môn sinh của ông có Nguyễn Trung Dung và Hồ Tâm Phúc là được ông truyền thụ võ công đến nơi đến chốn. Một chiều sau khi đã cúng tổ, ông cùng các môn sinh lên núi Tiểu Du dạo chơi ngắm cảnh , trong lúc hứng thú, ông đã vẽ những thế rồng phụng tụ nhau trên điểm cao. Sau đó ít lâu ông lâm bệnh và mất, thọ 56 tuổi.
Tác phẩm của ông lưu lại có quyển "Tây sơn danh tướng bí kíp mộ hồn thu".Chia làm 2 tập:

-Tây Sơn liệt quang chi binh pháp.
-Phổ đại Nam triều chi tướng thao.


Trong 2 tập này ông đã ghi rất tỉ mỉ về các sở trường của những danh tướng thời Tây Sơn, ví dụ như Quang Trung giỏi về kiếm và thương, Nguyễn Văn Lộc giỏi về roi, Bùi Thị Xuân giỏi về song kiếm,...
(Tài liệu về thời Tây Sơn hiện nay rất hiếm. Tài liệu này nằm chung trong hệ thống sách Phật do thầy Hạnh Hoà ở chùa Long Phước, xã Phước Thuận, Tuy Phước cung cấp)
(nguồn http://www2.ttvnol.com/vothuat/674380/trang-11.ttvn)

http://nhatnam.com/forum/lofiversion/index.php/t379.html
Đăng nhập để trả lời
0
Bình Định Và Võ Thuật

Con Gái Bình Định

Đào Đức Chương (Thếkỷ 21 No.109, May 1998)

Phụ nữ ở Bình Định được học võ đến nơi đến chốn để trở thành bậc cao thủ, đem tài võ nghệ làm nên lịch sử như nữ tướng Bùi Thị Xuân người đất Tây Sơn cũ, quán làng Xuân Hòa xã Bình Phú quận Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn) thì xưa nay chưa có người thứ hai. Nhưng con gái Bình Định được cha mẹ cho học võ phòng thân, nhất là trước năm 1945, thì hầu như cô gái nào cũng biết qua hai môn võ căn bản:

Ai về Bình Định mà coi,
Con gái Bình Định múa roi, đi quyền (Ca dao)

Tuy nhiên, đôi lúc cũng có những cô gái học võ không chỉ để phòng thân mà muốn phát huy cái đẹp của võ truyền thống như trường hợp Thanh Tùng, hoặc còn đi xa hơn, thi thố với đời, trở thành cao thủ trong làng võ. Điển hình có bà Mân sống vào thời chúa Nguyễn, cô Quyền vào giữa thế kỷ 19 và sang đầu thế kỷ 20 lại có Tám Cảng.

Bà Mân chưa phải là nhân vật lịch sử nhưng với tài võ nghệ, bà được dân Bình Định ca tụng qua bài vè Chú Lía dài 1434 câu thơ lục bát và được lưu truyền khắp các tỉnh miền Nam Trung phần.

Theo bài vè, bà Mân ở gần vùng Truông Mây, nơi sào huyệt của một đảng cướp lớn do cha Hồ chú Nhẫn và sau có thêm chú Lía cầm đầu, nay thuộc xã Ân Đức huyện Hoài Nhơn. Một hôm hai tên Hồ, Nhẫn đem cả lực lượng hùng hậu đến bắt heo nhà bà, cả làng khiếp sợ không ai dám tiếp cứu:

Lân la bốn chục theo rày
Thẳng đường xuống xóm chật đầy đường quan

Trong tay bà chỉ có cây roi ngắn nhưng với lòng can đảm và tự tin, bà xông ra cự địch với một đảng cướp mạnh khét tiếng trong vùng:

Mụ Mân độ khoảng bốn hai
Làu thông võ nghệ ít ai sánh bì
Thình lình chưa biết việc chi
Tiện tay mụ với tức thì đoản côn
Bước ra thấy rõ thiệt hơn
Mụ không thèm hỏi huơ côn đánh liền.

Ai cũng tưởng phen này bà Mân bị nát thây vì hai tên Hồ, Nhẫn không những võ nghệ phi thường mà còn hung bạo chưa từng có. Nhưng không may cho chúng, thế võ của bà sâu hiểm vô cùng, áp đảo được ngay đối thủ:

Cả ba vùng vẫy đua tranh
Mụ Mân quả thực liệt oanh ai tày

Chỉ mới so tài ở hiệp đầu mà bọn cướp đã bị ngọn roi thần của bà cuốn người như bão táp, chúng phải đổi từ thế công sang thế thủ rồi tìm đường tháo lui:

Phút thôi Hồ, Nhẫn cả hai
Đuối tay kéo chạy như bay khác nào!

Thân đàn bà mà đánh đuổi bọn cướp đông đảo để bảo vệ tài sản là điều hiếm có. Nhưng cũng tại huyện Hoài Nhơn còn một cô gái khác, trong tay chỉ có con dao mà hai lần đánh thắng cọp để cứu mẹ, mới là chuyện phi thường.

Trần Thị Quyền, cái tên do cha mẹ đặt gắn liền với võ nghệ, âu đó là cái nghiệp tiền định làm nên kỳ tích mà chính cô cũng không ngờ được. Nhà nghèo, cha mất sớm, không có anh em, cô là người duy nhứt sớm hôm với người mẹ. Cô có nhan sắc, nhiều người đến xin cưới nhưng nhất mực từ chối để làm tròn chữ hiếu.
Thường ngày hai mẹ con vào núi chặt củi đem ra chợ bán kiếm tiền nuôi thân. Một hôm cô Quyền đang chặt cây để cho mẹ gom thành bó, bỗng có một con cọp nhảy ra vồ người mẹ, bà phải lăn người mới kịp né tránh. Cô Quyền đang cầm cái rựa, thấy thế vội xông đến cứu mẹ. Nhờ có võ nghệ và bình tĩnh, cô tránh được tầm nanh vuốt của mãnh thú và chém trả lại nhiều nhát chính xác, cọp đau quá đành bỏ chạy.

Câu chuyện đánh cọp tưởng đã lãng quên theo năm tháng, không ngờ cọp luôn luôn rình rập quyết báo thù. Một đêm bà mẹ có việc phải ra sân, như có linh tính, cô Quyền cầm dao theo mẹ phòng thú dữ.

Thình lình cọp nhảy bổ ra vồ hai mẹ con, cô vội kéo mẹ dạt sang một bên để tránh rồi dùng dao chống trả. Cọp được lợi thế nhờ đêm tối, còn cô Quyền cũng có lợi điểm đánh cọp nơi quang đãng, tiện bề công thủ. Hai bên quần thảo với nhau, cọp vồ hụt nhiều lần đâm ra mệt trở nên hung dữ, liều lĩnh lao tới, cô tràn bộ ( né tránh. Cọp đang tầm phóng chưa kịp xoay mình lại, nửa phần thân sau của nó là mục tiêu ngon lành cho mũi dao của cô cắm phập vào hông cọp. Tuy bị thương nhưng cọp còn thừa sức quay đầu lại chồm lên, chuyển hết thần lực vào hai chân trước để trả đòn. Lanh như chớp, cô Quyền hoành bộ (2) rồi phóng mạnh lưỡi dao ngọt xớt vào lồng ngực nở nang của đối thủ, trước khi nhảy trái tránh cú vồ sinh tử. Khi dân làng đèn đuốc kéo đến tiếp cứu, con cọp to lớn chỉ còn là một cái xác giãy giụa trên vũng máu.

Nếu bà Mân tên tuổi sống mãi trong văn học dân gian, chuyện cô Quyền giết cọp được truyền tụng trong làng võ của tỉnh nhà thì trường hợp của bà Tám Cảng là một bài học đáng suy ngẫm.

Ông Hương mục Ngạc, kế tổ của phái quyền An Vinh mà phương ngôn đã có câu truyền tụng "Roi Thuận Truyền, quyền An Vinh" có ba người con: Bảy Lụt là trai trưởng, kế là Tám Cảng và út nam là Chín Giác. Tuy là gái nhưng Tám Cảng có sức mạnh hơn người và ham mê võ thuật nên được cha cưng chiều truyền dạy chu đáo. Tiếng đồn con gái ông Hương mục Ngạc mới 18 tuổi, trong tay chỉ có cây đòn gánh mà đánh bạt cả hàng trăm thanh niên cầm gậy bủa vây tại sân chùa Bà An Thái trong ngày lễ hội Đổ Giàn càng làm thiên hạ phục sát đất lò võ của ông Hương mục Ngạc nhưng đồng thời càng không ai dám tính chuyện trăm năm với cô. Năm Tám Cảng 20 tuổi vẫn chưa được nơi nào dạm hỏi dù rất có nhan sắc. Ông Hương mục Ngạc thông cảm nỗi khổ tâm của con, tuyên bố với mọi người rằng nếu ai đánh bại được Tám Cảng thì ông sẽ gả con gái cho mà không đòi hỏi một lễ vật gì. Có ba người đến xin đấu võ với Tám Cảng. Người thứ nhất bị Tám Cảng cho một cú đá văng vào hàng rào. Người thứ hai, võ nghệ khá hơn, kịt ngựa (3) nhanh nhẹn, công thủ song hành nên cầm cự được hiệp đầu, sang đến hiệp thứ hai thì bị Tám Cảng dùng ngón gia truyền ép vào bể cạn, đánh gục. Người thứ ba là Dư Hựu (không phải tên Hựu, quân sư trong đảng cướp của Dư Đành) bị Tám Cảng đạp nhào vào hồ cá, đành bỏ ra về tầm sư học đạo. Một năm sau lại đến xin đấu, lần này Tám Cảng tung cước bị Dư Hựu tóm được chân, ném trả vào hồ cá.

Dư Hựu thắng. Giữ lời hứa, ông Hương mục Ngạc làm lễ vui qui cho con gái. Năm ấy Tám Cảng 22 tuổi. Nhưng cũng chỉ sống chung với nhau được ba năm. Một hôm vợ chồng lời qua tiếng lại, Tám Cảng quen thói bướng bỉnh, trả lời khinh khỉnh làm Dư Hựu điên tiết. Anh thuận tay chụp cái bình hoa chưng trên sập gụ ném mạnh vào mặt vợ. Nếu là người khác thì đã nát mặt, nhưng Tám Cảng nhẹ nhàng đưa tay bắt lấy đem đặt trên bàn và mỉa mai: "Bình xưa mà làm ngơ không bắt, để bể cũng uổng." Dư Hựu càng giận, với lấy cái chày đâm tiêu bằng đá ném mạnh vào đầu vợ. Tám Cảng cũng đưa tay chụp cười gằn giọng châm chọc: "Cái đầu mà quáng mắt lầm cái cối đâm tiêu hả?" Dư Hựu giận lắm, mất hết trí khôn, chụp con dao phay, bằng thế võ rất lợi hại, phóng thẳng vào ngực vợ. Đường dao quá mạnh, Tám Cảng không thể chụp được, đành phải té ngửa để tránh. Con dao ngon trớn cắm phập vào vách đất ngập đến cán. Dư Hựu sực tỉnh thì mọi việc đã xảy ra rồi, suýt nữa gây nên án mạng. Tám Cảng lồm cồm ngồi dậy, còn Dư Hựu bỏ chạy một mạch đến nhà cha vợ. Gặp ông Hương mục Ngạc, anh ta sụp lạy kể lại đầu đuôi câu chuyện và nhất quyết xin trả Tám Cảng mà không đòi hỏi một điều kiện nào.

Chuyện Dư Hựu trả vợ nhanh chóng lan truyền khắp vùng. Nhân đó câu ca dao trên được sửa lại:

Ai về Bình Định mà coi
Con gái Bình Định cầm roi rượt chồng

Các bậc phụ huynh ở Bình Định rút kinh nghiệm, thôi không dám chiều ý con gái cho học nhiều võ nghệ nữa, sợ bị ế chồng như Tám Cảng. Họ chỉ luyện con gái vài thế võ thủ thân, thế cũng đủ cho
đối phương kinh hồn rồi. Sau đây là một trong hàng trăm chuyện về phản ứng tự vệ của các cô gái Bình Định.
Ai đến Tuy Phước cũng biết câu ca dao về các phiên chợ trong quận: "Chợ Huyện liệng Cây Gia, Cây Gia xa chợ Mới, chợ Mới tới chợ Dinh, chợ Dinh rinh Bồ Đề, Bồ Đề kề chợ Huyện." Phiên Huyện nhằm các ngày 1, 6, 11, 16, 21, 26 âm lịch, là phiên chợ lớn nhất của huyện nhà nhưng lại cách thị trấn Tuy Phước hơn ba cây số.
Ngày phiên, không những dân trong vùng tập trung về mà còn đủ mặt dân buôn từ xa đến mua gom sản phẩm địa phương và bán hàng hóa ở nơi khác mang tới. Con đường quốc lộ 1 từ huyện lỵ đến chợ Huyện người mua kẻ bán đi lại tấp nập có cả những chàng trai đi dạo chợ để tìm ý trung nhân:

Trai khôn tìm vợ chợ đông
Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân.
(Ca dao)

Tuy nhiên cũng có kẻ lợi dụng đám đông để giở trò xằng bậy. Từ sáng, tại cổng Lý Môn có hai thanh niên ăn mặc chải chuốt, cười nói rổn rảng, chốc chốc lại trông ra đường. Nhìn dáng điệu biết ngay là dân ăn chơi từ tỉnh thành lạc đến. Trong dòng người từ chợ về, có một thanh nữ cao lớn, bước đi chậm chạp, hai tay xách hai giỏ nặng đầy ắp thức ăn. Đợi cho cô gái rẽ vào con đường đất dẫn vào cổng làng, hai "công tử" bước tới đón đàng, buông lời chọc ghẹo và giở trò sàm sỡ. Nhanh như chớp, cô gái buông hai giỏ thức ăn, xoay nghiêng né tránh tầm tay của kẻ vô hạnh đang sấn tới ngực, rồi đưa tay đánh phất qua một chiêu. Bị phản ứng bất ngờ, một trong hai tên né sang bên nhưng hắn đã lầm vì đó là hư chiêu. Cô gái thấy hắn trúng kế, thuận chân tung cước trúng thẳng vào hông làm hắn lăn xống ruộng, bùn bê bết từ đầu đến chân. Tên thứ hai mất tinh thần nhưng trước đám đông hắn tự ái liều mạng xông tới. Cô gái trong tư thế đứng ngựa (4), đón hắn bằng ngón võ gia truyền, chiếc khăn quàng cho ấm cổ trở thành roi nhuyễn tiên quất mạnh vào mặt đối thủ làm hắn không kịp tránh cú đá song phi, lảo đảo cắm đầu xuống ruộng.

Thanh nữ ấy là con gái út nhà họ Đào, quan Trung nghị Đại phu Quang lộc Tự khanh người làng Vinh Thạnh, nay bà đã giữa tuổi thất tuần thường kể lại câu chuyện năm xưa lúc bà chưa lập gia đình. Và ngón võ phòng thân ấy do ông cậu Năm Hương ở thôn Dương An nay thuộc xã Phước An huyện Tuy Phước truyền dạy cho bà lúc tuổi trăng tròn.

Vào đầu thập niên một chín bảy mươi, một ngôi sao lóe sáng trên vòm trời Võ học Bình Định: nữ võ sĩ Thanh Tùng của miền sông Côn. Cô được phong võ sĩ và được làng báo Sài Gòn tặng biệt danh "Hổ Cái Miền Trung" không phải vì cô đã thắng trên võ đài hoặc đã từng tranh tài cao thấp với ai; người ta chỉ thấy Thanh Tùng ở điện thờ Quang Trung trong ngày hội Đống Đa biểu diễn các bài quyền như Lão Mai Độc Thọ hay bài roi như Tấn Nhất Ô Du với thế thủ như cản gió che mưa và thế công dồn dập như bão táp là đã đủ khiếp.

Xét cho cùng, điều ấy là lẽ dĩ nhiên. Thanh Tùng là con nhà võ, đời đời nối nghiệp và thừa hưởng các ngón bí truyền của một dòng họ cao thủ. Ông nội của Thanh Tùng là một tay roi quỉ khiếp thần kinh, người đồng thời và xứng tài với Hồ Ngạnh (1891 - 1976, kế tổ của phái roi Thuận Truyền). Thân sinh cô vẫn nối nghiệp nhà, giữ vai trò đứng đầu hàng võ tại địa phương. Rồi đến Thanh Tùng, tuy là gái, cô vẫn tiếp nối thừa hưởng tinh hoa của con nhà võ. Nhưng với bản chất kín đáo và nhũn nhặn, Thanh Tùng ngoan hiền về nhà chồng như bao cô gái Bình Định khác, ngày ngày chăm chỉ bên chiếc máy may, nhỏ nhẹ với khách hàng. Trông dáng dấp liễu yếu đào tơ, không ai thấy ở Thanh Tùng một dấu vết gì về võ nghệ, một thời nổi tiếng biểu diễn quyền roi. Chớ lầm! Khi cần tự vệ, "con người võ" của Thanh Tùng nổi dậy. Đôi mắt hiền lành sẽ rực sáng như gươm bén và đôi tay mềm mại sẽ biến thành thanh sắt.

Nhưng trên hết, người đàn bà Bình Định đáng nói hơn cả là nữ tướng Bùi Thị Xuân. Võ nghệ của bà vào bậc siêu phàm, ngang tài với các danh tướng mày râu của Tây Sơn như Nguyễn Huệ sở trường về roi, Nguyễn Lữ sáng chế và xuất sắc môn Hùng kê quyền, Võ Văn Dũng giỏi về đao, Đặng Văn Long quán thông cả cương quyền và miên quyền, còn Bùi Thị Xuân không ai sánh kịp về độc kiếm và song kiếm. Tài thao lược, bà xứng là đấng nữ kiệt. Gương dũng cảm, bà đáng bậc anh thư làm cho Nguyễn Ánh khiếp sợ và căm tức. Còn đức độ của bà, không những trong hàng ngũ Tây Sơn mến phục mà ngay cả kẻ thù cũng thầm kính nể.

Bà Bùi Thị Xuân có họ hàng với vua Quang Toản, nhưng về thứ bậc gia tộc lại có nhiều sách chép khác nhau: Theo tài liệu của Vương Bích Thu, viết trong giai phẩm Tây Sơn Xuân Quí Dậu (1993), trang 148, Bùi Thị Xuân là chị ruột của quan Thái sư Bùi Đắc Tuyên và là con của Bùi Đắc Kế. Còn bà chánh cung Hoàng Hậu họ Phạm sinh ra Nguyễn Quang Toản theo Việt sử Tân biên của Phạm Văn Sơn, quyển 4, trang 204, bà này là con của Bùi Đắc Tuyên, không rõ là em cùng mẹ khác cha hay anh em thúc bá bên ngoại? Nếu vậy vua Nguyễn Quang Toản gọi Bùi Đắc Tuyên bằng cậu và Bùi Thị Xuân bằng dì. Nhưng theo sách "Những vì sao đất nước" (truyện danh nhân lịch sử của nhiều tác giả) tập 5, trang 204, Quỳnh Cư chép "Bùi Đắc Tuyên là anh cùng cha khác mẹ với vua Cảnh Thịnh (?), là cậu Bùi Thị Xuân."

Nữ kiệt Bùi Thị Xuân có bốn lần đối đầu với Nguyễn Ánh sau là vua Gia Long. Lần thứ nhất vào mùa hạ năm 1797, Đại Nam Thực Lục Chính Biên, bản dịch, tập 2, trang 261 có chép, tóm lược như sau:

Nguyễn Ánh đem binh thuyền đánh Thị Nại, rồi đích thân đem hơn 100 chiếc thuyền ra đánh cửa Đà Nẵng nhưng vì Trương Phúc Luật không tiếp tế thuyền lương thực kịp thời vì bị gió ngược, trong quân chỉ còn năm ngày lương nên vua tạm đem quân về Gia Định và cố nhiên không thể lấy mạnh yếu mà luận. Đó là lời biện bạch của sứ thần nhà Nguyễn, nhưng theo Quỳnh Cư thì ban đầu Nguyễn Ánh định đem quân đánh Thị Nại, nhân lúc triều đình Phú Xuân chia rẽ nội bộ (phe Bùi Đắc Tuyên bị phe Võ Văn Dũng sát hại) nắm bắt thời cơ, đích thân ông đem binh thuyền ra đánh Đà Nẵng, nơi Bùi Thị Xuân đang trấn nhậm, với ý định phá tan căn cứ quan trọng nằm sát nách kinh đô Phú Xuân. Nhưng đội thám mã Tây Sơn từ Bản Tân (5) đã kịp thời báo về Tổng hành dinh của bà về cuộc hành quân bất thần của Nguyễn Ánh. Nhân có chiếu chỉ của vua Cảnh Thịnh hối thúc bà hồi triều để dàn xếp nội bộ, tương kế tựu kế, Bùi Thị Xuân phao tin ba ngày nữa sẽ kéo đại binh về Phú Xuân, cốt làm kiêu lòng giặc. Quân Nguyễn hăm hở tiến tới thành Quảng Nam nhưng đã bị 5000 quân của Bùi Thị Xuân phục đánh đúng chỗ. Trận ấy, may cho Nguyễn Ánh đi đoạn hậu nên thoát chết. Thua cả tài lẫn trí đàn bà, Nguyễn Ánh vừa thẹn vừa tức, thu tàn quân về Gia Định, giấu nhẹm việc bại trận, nại cớ hết lương phải rút quân.

Lần thứ hai Nguyễn Ánh đụng độ với Bùi Thị Xuân tại mặt trận Trấn Ninh (6). Theo hai bộ chính sử của Trần Trọng Kim và Phạm Văn Sơn, quân Tây Sơn cả thủy bộ gồm ba vạn, chia làm ba đạo tấn công.

Tháng 12 năm Tân Dậu (tháng 1-1802) quân Tây Sơn vượt sông Linh Giang (sông Gianh), lực lượng tiền phương quân Nguyễn đang đóng ở đây do các Tướng Nguyễn Văn Trương, Tống Phúc Lương và Đặng Trần Thường chỉ huy, phải lui binh về Đồng Hới. Được tin cấp báo, Nguyễn Ánh thân chinh đem cả đại binh ra tiếp ứng, sai Phạm Văn Nhân và Đặng Trần Thường giữ mặt bộ, giao Nguyễn Văn Trương giữ mặt biển.
Ngày mùng Một tết Nhâm Tuất (3-2-1802) Nguyễn Quang Thùy tiến đánh lũy Trấn Ninh bị hỏa lực của quân Nguyễn cầm chân lại. Bùi Thị Xuân lãnh chức Đại tướng đem 5000 quân bản bộ tấn công lũy Đồng Hới, địch quân bắn ra như cát vãi nhưng cờ lệnh của bà vẫn chúc hẳn xuống, dấu hiệu quyết chiến không lùi. Đang chiến đấu anh dũng, vua Cảnh Thịnh ra lệnh lui binh, bà không chịu, vua phải nghe theo. Suốt ngày hôm ấy bà ngồi trên bành voi xông xáo trận tiền đôn đốc binh sĩ; tuy thế trận chưa nghiêng hẳn bên nào nhưng Nguyễn Ánh đã núng thế, định tháo lui.

Bỗng nghe tin thủy quân Tây Sơn ở cửa Nhật Lệ bị Nguyễn Văn Trương phá tan lại thêm tướng Nguyễn Văn Kiên ra hàng địch làm cho vua Cảnh Thịnh và các tướng tá nản lòng. Trước tình thế ấy bà vẫn quyết chiến, sai một đội quân đến điền khuyết bọn làm phản rồi giành lấy dùi trống thúc quân liên hồi. Được lệnh xung phong quân của bà ào ạt trèo tường chiếm thành. Thế trận này nếu kéo dài thêm hai tiếng đồng hồ nữa, bà hạ được thành Trấn Ninh rồi, Nguyễn Ánh và tướng tá hoảng hốt liền sai thủy quân liều chết vượt sông đánh bọc hậu để chia lực lượng, hòng giảm bớt mũi nhọn tấn công của Tây Sơn, ngõ hầu mở đường máu thoát thân. Nhưng Nguyễn Quang Thùy nhát gan, thấy thủy quân của Nguyễn Ánh ở mặt sau đánh tới, sợ bị vây, vội rút quân. Một lúc sau Bùi Thị Xuân mới biết trên mặt trận chỉ còn quân dưới quyền bà đang đơn độc chiến đấu, các cánh quân khác đã hỗn loạn tháo chạy. Bà vẫn bình tĩnh giữ vững hàng ngũ, bảo vệ vua Cảnh Thịnh rút lui an toàn.
Lần thứ ba, Nguyễn Ánh đối diện với Bùi Thị Xuân khi bà cùng gia đình bị quân Nguyễn bắt ở huyện Thanh Chương, Nghệ An và giải về Phú Xuân. Sự kiện này có nhiều sách kể lại nhưng chi tiết lại khác nhau đôi chút. Nếu theo hai tài liệu của Vương Bích Thu và Quách Giao viết trong Giai phẩm Tây Sơn Xuân Quí Dậu (1993) và Xuân Ất Hợi (1995) thì lời đối đáp giữa Nguyễn Ánh và Bùi Thị Xuân như sau:
Khi quân hầu dẫn Bùi Thị Xuân vào, Nguyễn Ánh với giọng tự đắc hỏi:

"Ta và Nguyễn Huệ, ai hơn?"
Bùi Thị Xuân ung dung đáp:

"Nói về tài ba, tiên đế ta bách chiến bách thắng, hai bàn tay trắng dựng nên cơ đồ. Còn nhà ngươi bị đánh phải trốn chui trốn nhủi, phải cầu viện ngoại bang, hết Xiêm đến Pháp. Chỗ hơn kém như ao trời nước vũng. Còn về đức độ, tiên đế ta lấy nhân nghĩa mà đối xử với kẻ trung thần thất thế như đã đối với Nguyễn Huỳnh Đức, tôi nhà ngươi. Còn nhà ngươi lại dùng tâm của kẻ tiểu nhân mà đối với những bậc nghĩa liệt đã hết lòng vì chúa, chẳng nghĩ rằng ai có chúa nấy, ái tích kẻ tôi trung của người khác, tức là khuyến khích tôi mình trung với mình. Chỗ hơn kém cũng rõ ràng ban ngày và đêm tối. Nếu tiên đế ta đừng thừa vong sớm, dễ gì nhà ngươi trở lại đất nước này."

Nguyễn Ánh cười gằn:

"Nhà ngươi có tài sao không giữ ngai vàng cho Cảnh Thịnh?"

Bùi Thị Xuân đáp:

"Nếu có thêm một nhi nữ như ta thì cửa Nhật Lệ không dễ gì mà lạnh. Cửa Nhật Lệ không dễ lạnh thì nhà ngươi cũng khó đặt chân lên đất Bắc Hà."

Nguyễn Ánh nén giận hỏi với giọng mỉa mai:

"Ngươi có muốn ta ân xá không?"

Bùi Thị Xuân đáp:

"Ta đâu có sợ chết mà phải chịu nhục, hạ mình trước một kẻ tiểu nhân đắc thế!"

Nguyễn Ánh căm gan, dằn từng tiếng:

"Không chịu nhục. Ta sẽ làm cho ngươi biết nhục..."

Lần thứ tư, vua Gia Long lại đối đầu với bà Bùi Thị Xuân tại pháp trường.

Trước đó, Nguyễn Ánh gặp Bùi Thị Xuân ba lần đều lãnh ba vố thua đau. Lần một, đấu trí thua tài, lần hai đấu lực thua dũng, lần ba đấu khẩu thua lý. Vì thế, sau Quang Toản, Bùi Thị Xuân là kẻ thù số một của Gia Long, nhà vua dành cho gia đình bà cực hình thảm khốc nhất và đích thân chứng kiến cuộc hành quyết này. Gia Long hả hê nghĩ rằng phen này bà phải chịu đau đớn tột cùng về thể xác lẫn tinh thần, dù có gan đồng da sắt cũng không thể cầm được nước mắt. Thế nhưng Gia Long lại một lần nữa thua cuộc.

Theo tài liệu của Giáo sĩ De la Bissachère viết năm 1807 (7) do một người thân tín đã chứng kiến rồi tường thuật lại, tại pháp trường hôm ấy, dân chúng khắp kinh thành Phú Xuân được huy động đến xem đông nghẹt. Trên khán đài các quan và khách ngoại quốc đã tề tựu đông đủ, khi kiệu nhà vua đến nhiều phát đại bác nổ vang làm tăng thêm uy nghi của ngày lễ hiến phù. Kế bên khán đài là chòi phát thanh cao lêu nghêu vang lên bài chiếu của Gia Long, nghe câu được câu không:

"Vì chín đời mà trả thù... Chợt nửa chừng gặp lúc gian truân, để ngoan dân gây nên biến loạn... Chống giặc bắt xong tội nhân được hết... Yết tế thái miếu, làm lễ hiến phù... Phanh xác tán xương, trả thù miếu xã, rửa hận thần dân..." (8)

Tiếng loa vừa dứt, một hồi thanh la vang lên báo hiệu giờ phút thi hành án bắt đầu. Hàng vạn người như nín thở, mắt đăm đăm nhìn mẹ con bà Bùi Thị Xuân, không khí nghiêm trọng bao trùm cả pháp trường. Từ xa, một thớt voi to lớn, đen đủi, lù lù tiến tới tử tù theo lệnh của quản tượng. Cô con gái của bà mới 18 tuổi xuân, bị lột hết quần áo đang co ro trong thân thể tiều tụy, bỗng nàng hét lên thất thanh rồi toàn thân biến sắc trắng bệch như một bóng ma, quay lại cầu cứu mẹ.

Bà Bùi Thị Xuân nén xúc động, nghiêm nét mặt nói với con lần cuối: "Con gái của mẹ, con không được làm thế, phải chết anh dũng để xứng đáng là con nhà tướng Tây Sơn. Mẹ đây còn làm thế nào cứu con được!"

Con voi hung hãn dùng vòi quấn chặt cô gái, đu đưa lấy trớn tung mạnh nạn nhân lên cao rồi nhảy bổ lên dùng ngà hứng lấy và lại tung lên lần nữa, cao hơn lần trước. Lần này cô gái rơi xuống đất chỉ còn là một cái xác mềm nhũn bê bết máu. Bây giờ voi dùng chân trước chà đạp lên xác nạn nhân cho đến khi nát bấy thành đống bùn màu đỏ.

Đến lượt Bùi Thị Xuân, bọn đao phủ mới phát hiện trong lớp áo quần bà đã quấn chặt thân thể bằng lụa để tránh sự lõa lồ khi bị voi giày. Chúng định tháo gỡ nhưng không kịp nữa rồi vì con voi đang hăng máu xồng xộc chạy tới toan làm phận sự như lần trước. Bà vẫn đứng bình thản, nét mặt không hề biến sắc, đợi voi đến gần bỗng thét lên một tiếng thật lớn, nhái theo khẩu lệnh dùng để nạt những con voi bướng bỉnh. Voi giật mình lùi bước rồi cong vòi quay đầu lại.

Một sự kiện bất ngờ! Dân chúng lại càng thán phục người nữ tướng Tây Sơn trước cái chết vẫn còn biết tiên liệu và vẫn còn oai quyền khiến voi dữ cũng phải khiếp sợ. Gia Long ngự trên khán đài đang hí hửng bỗng sầm mặt lại khiến viên Đề Đốc chỉ huy cuộc hành hình tái mặt, run lập cập, truyền loa giục đao phủ thi hành án lệnh gấp. Viên quản tượng hốt hoảng dùng cây sào nhọn đâm vào miệng voi và quát to bảo bà phải quì xuống cho voi khỏi sợ. Còn bọn giáp sĩ cũng vội vàng bắn hỏa pháo vào đít voi, buộc nó phải tiến tới phía tội nhân. Con voi bị kích thích cùng cực trở nên hung tợn và như điên dại, chạy bổ tới vội vã quấn lấy bà, tung lên cao rồi cong đuôi chạy quanh pháp trường, rống lên những tiếng đầy sợ hãi, làm hàng vạn người hoảng hốt theo.

Về cái chết của bà, giáo sĩ Bissachère còn cho biết trong đám vua quan Tây Sơn bị Gia Long hành hình tại Phú Xuân chỉ có ba người gồm em vua Quang Toản (9), quan Thiếu Phó Trần Quang Diệu và vợ là nữ Đại tướng Bùi Thị Xuân là vẫn bình thản, mặt không biến sắc trong lúc bị hành hình.

Ông Nguyễn Huyền Anh, trong Việt Nam Danh Nhân từ điển, đã nhận xét về bà: "Có tài binh bị, bà thường tòng chinh chống địch, lập được nhiều chiến công. Là một nữ tướng rất dũng cảm và có độ lượng, bà không bao giờ giết những quân đã chạy hay đầu hàng."

Trong Từ điển Nhân vật Lịch sử Việt Nam có bài thơ vịnh bà:

Vận nước đang xoay chuyển
Quần thoa cũng vẫy vùng
Liều thân lo cứu chúa
Công trận quyết thay chồng
Khảng khái khi lâm nạn
Kiên trinh lúc khốn cùng
Ngàn thu gương nữ kiệt
Gương sáng hãy soi chung

Ông Nguyễn Bá Huân (1848-1899), một danh sĩ Bình Định có chân trong phong trào Cần Vương của tỉnh nhà, chuyên nghiên cứu sử Tây Sơn để viết liệt truyện qua các tác phẩm như Tây Sơn tiếm long lực, Cân quắc anh hùng truyện, Tây Sơn danh tướng chinh nam truyện... Ông còn để lại bài thơ vịnh Bùi Thị Xuân (Vịnh phu nhân Bùi Thị Xuân)

Cân quắc do tư báo quốc cừu
Khả liên di hận phó đông lưu
Dạ lan mỗi độc Tây Sơn sử
Phảng phất phương dung hiện án đầu
Việt Thao dịch:

Phận gái lo tròn chuyện nước non
Thương thay mối hận chảy về đông
Đêm khuya lần đọc Tây Sơn sử
Phảng phất dung nhan trước án còn

Và trên vùng đất quê hương của bà, miền sông Côn, người đời sauc ó bài thơ hết lời ca tụng, rất phổ biến:

Xưa nay khăn yếm vượt mày râu,
Bùi Thị phu nhân đứng bậc đầu.
Chém tướng, chặt cờ, khoe kiếm sắc,
Vào thần, ra quỷ, tỏ mưu sâu.
Quên nhà, nợ nước, đem toan trước,
Vì nước, thù nhà, để tính sau.
Tài đức nghìn thu còn nức tiếng,
Non còn chảy ngọc biết vì đâu?

Với tài đức và gương dũng cảm ấy, anh thư Bùi Thị Xuân đáng đứng riêng một danh sách và vượt hẳn các nhân vật nữ ở Bình Định đã nêu trên.

Chú thích:
1. Tràn bộ: xê dịch nhanh sang bên trái hay bên phải để tránh đòn của đối thủ.
2. Hoành bộ: quay ngược trở lại để tấn công vào chỗ sơ hở của đối thủ.
3. Kịt ngựa: thế võ tiến thẳng tới hoặc tiến sang bên phải, bên trái của đối thủ mà bàn chân không rời mặt đất.
4. Đứng ngựa: thế đứng mà bắp đùi song song với mặt đất để bảo vệ phần hạ bộ.
5. Bản Tân: tức Bến Ván, tên của bến sông Trầu ở làng An Tân phía namcửa Đại, thuộc tỉnh Quảng Nam.
6. Trấn Ninh: thuộc xã Trấn Ninh, sau đổi là Phù Ninh, huyện Phong Lộc phủ Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình.
7. Theo Thiên Nam nhân vật chí bà Bùi Thị Xuân bị xử lăng trì. Các sách sau này viết về cái chết của bà đều dựa vào một trong hai thuyết ấy.
8. Theo tài liệu của Quỳnh Cư trong Những vì sao đất nước, tập 5, trang 228.
9. Vua Nguyễn Quang Toản có bốn người em: Quang Thùy tự tử ở ngoài Bắc, còn Quang Bàn, Quang Duy và Quang Thiệu cùng bị bắt với vua anh và bị đóng cũi giải về Phú Xuân chịu cảnh gia hình.
Bài Đọc Thêm

Ðánh gậy : Môn võ truyền thống
Phan Quỳnh


Nhà võ xưa cho rằng gậy là tiền thân của các loại binh khí cầm tay cổ điển khác. Gậy vót nhọn có thể trở thành dáo, lao hay ngọn bút v.v... Gậy còn được gọi là Roi, Hèo, Trượng, Tiên, hay Côn ... và có nhiều loại dài ngắn khác nhau . Gậy dài được gọi là Gậy Bẩy hay Trung Bình Tiên, dài bẩy thước ta (khoảng 2,80 mét); gậy ngắn có tên là Gậy Ba dài ba thước ta (khoảng 1,20 mét) tiết diện tròn. Gậy ngắn tiết diện vuông hay chữ nhật được gọi là tay thước hay giản. (Ðôi khi giản có tiết diện lục giác và cán cầm). Nhiều lò võ xưa thực dụng hơn, không phân chia gậy, côn theo thước tấc như trên mà linh động căn cứ vào tầm vóc lớn nhỏ của từng người xử dụng, căn cứ vào chiều cao từng võ sinh để phân chia gậy ra nhiều loại dài ngắn với những tên khác nhau như Trường Côn, Tề Mi Côn, Trung Côn, hay Ðoản Côn. Ðoản côn có chiều dài từ bả vai hay nách xuống tới đầu ngón tay người xử dụng duỗi thẳng. Trung côn dài từ mặt đất chân đứng thẳng đến ngực người xử dụng. Tề mi côn dài từ mặt đất đến ngang tầm mi mắt. Trường côn dài nhất, từ mặt đất tới đầu ngón tay với thẳng của người xử dụng (được gọi là "dài một đầu một với") . Do đó Tề Mi Côn của người này có thể là Trung Côn của người khác.
Ðánh gậy là môn võ chiến đấu và cũng là môn thể thao được hình thành rất sớm ở nước ta . Truyền thuyết Phủ Ðổng Thiên Vương nói lên gậy đã được xử dụng nhiều và phổ biến từ hồi đầu thuở các vua Hùng dựng nước. Cậu bé đánh giặc Ân bằng ngựa sắt, roi sắt. Chưa hết, roi sắt bị gẫy, cậu bé dũng sĩ anh hùng làng Gióng đã nhổ từng khóm tre ngà làm roi quay tít hàng trăm vòng rồi quất mạnh xuống đầu giặc :
Ðứa thì sứt mũi sứt tai,
Ðứa thì chết nhóc vì gai tre ngà.
(Bài ca Hội Gióng)
Truyền thuyết cho biết thêm theo Thánh Gióng đi đánh giặc còn có ông Ðường Ghềnh (Trung Mầu, Gia Lâm) cầm vồ đập đất, có đoàn trẻ chăn trâu Hội Xá (Gia Lâm) cầm roi, cầm khăng, có người câu cá vác cần câu đuổi giặc.
Gậy đã gắn liền vào sinh hoạt hàng ngày của tổ tiên chúng ta . Gia đình nào trước đây cũng có cái gậy dựng ở góc nhà. Cái then cài cửa, cái cán cuốc, cán xẻng, cái mái chèo thuyền, cái bắp cầy, đòn gánh, cần câu, v.v. ... lúc biến cũng dễ dàng trở thành cây gậy ngừa phòng bất trắc. Tới dịp hội hè đình đám, đánh gậy là môn thể thao được thanh niên trai tráng trong làng đua nhau thi sức , trổ tài . Họ lập ra những phường hội để tập dượt, để giúp nhau trau dồi tài nghệ, tinh luyện về môn đánh gậy . Tác giả Toan Ánh nói về ngày hội thi đấu trung bình tiên xưa như sau :
" Thường tại các hội quê, khi có đấu trung bình tiên dân làng đều có treo giải như giải đánh vật hoặc giải bơi thuyền hoặc như nhiều cuộc vui xuân khác vậy. Các võ sĩ dự cuộc đấu roi, vì giải thưởng thì ít, vì tinh thần thượng võ, nhất là vì danh dự của từng lò roi thì nhiều. Hai tiếng lò roi để chỉ những tay chơi trung bình tiên xuất thân ở một xã nào, hoặc ở một nhóm nào, có người huấn luyện chỉ dẫn.
"Ðánh trung bình tiên, đánh tay đôi, ai đánh trúng địch thủ vào những chỗ hiểm và đánh trúng nhiều được coi là thắng.
"Trong cuộc đấu, chiếc gậy thường được bịt giẻ ở đầu để tránh sự nguy hiểm cho các đấu thủ. Ðầu bịt giẻ, được nhúng vào nước vôi trắng, để một khi địch thủ nào đánh trúng đối phương sẽ có dấu vết để lại. Vết vôi ở người mỗi địch thủ giúp cho ban giám khảo xét định hơn thua. Trận đấu gồm nhiều hợp và mỗi hợp tính theo những động tác của các đối thủ". (
Năm 1258, quân Nguyên lần thứ nhất sang xâm lược Ðại Việt. Khi đã chiếm được Thăng Long, bọn giặc xua quân đi càn quét, cướp phá các vùng lân cận. Tới Cổ Sở (nay là Yên Sở phía tây ngoại thành Hà Nội) , giặc bị nhân dân trong vùng dùng gậy, dùng dáo đánh cho thua to . Nói về trận đánh này, sử cũ đã ghi :" Ðời Nguyên Phong (Trần Thái Tông), quân Thoát Hoan vào cướp, khi đến xã Cổ Sở ngựa không tiến được , người trong xã chống phá được giặc".
Sử cũ cũng ghi :"Năm Mậu Tuất (1298) (đời Trần Anh Tông), mùa thu tháng tám thi đấu gậy ". Tuy sử không thuật rõ thể thức thi đấu thế nào, song cuộc thi được kể là ở triều Trần, diễn ra sau khi đất nước đã ba lần đánh thắng giặc Mông Cổ và cuộc thi đấu có ý nghĩa khuyến khích quân sĩ và nhân dân trong nước mài sắc cảnh giác, luôn luôn tập luyện sẵn sàng đứng lên chiến đấu đập tan mọi cuộc ngoại xâm. Một sự kiện cũng liên quan đến đánh gậy đã được Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi chép : Quí Hợi, [Ðại Khánh] năm thứ 10 [1323] , mùa thu, tháng 8, ngày 22, vua ngự đến nhà Thái Học. Có tên Mặc trong quân Thiên thuộc ở Hoàng Giang đỗ khoa thi Thái Học sinh, vua xuống chiếu bắt trở lại quân ngũ, làm quân lại quân Thiên đinh, đến khi thi đánh gậy, [Mặc] lại đỗ cao (2) .
Ðánh gậy là một môn võ truyền thống của dân tộc đã được nhiều người ngưỡng mộ và tập luyện. Không những thanh niên trai tráng tập luyện mà ngay cả nữ giới cũng trau dồi kỹ thuật chiến đấu này :
Ai vô Bình Ðịnh mà coi,
Ðàn bà cũng biết cầm roi đi quờn (quyền).
(Ca dao)

Tháng 11 năm Mậu Thân 1788 quân Mãn Thanh xâm chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, sau khi đăng quang tại Phú Xuân (Huế), vội kéo đại binh thần tốc đi Bắc phạt. Tới Nghệ An, nhà vua dừng lại đây vài ngày để mộ thêm quân và nhanh chóng tuyển dụng được trăm ngàn tân binh. Theo truyền thuyết vùng Thanh Nghệ, cả cánh rừng tre rộng lớn nơi đây đã được nhà vua trưng dụng để lấy tre làm binh khí, làm quân dụng cho đoàn tân binh nghĩa quân này. Ðiều đó nói lên gậy tre vót nhọn có lẽ là binh khí chủ yếu của đoàn tân nghĩa binh, bởi với thời gian ngắn ngủi kỷ lục không dễ rèn đúc đủ binh khí bằng sắt thép trang bị cho cả trăm ngàn quân.
Tới thế kỷ 19, võ gậy ở nước ta đã được phát huy tới trình độ cao. Gậy dùng để tập và thi lúc này ngoài gậy tre còn có hai loại nữa là sắt và gỗ. Gậy sắt theo qui định có loại dài hơn 6 thước 3 tấc ta (khoảng 1,50 mét) và nặng tới 40 cân ta ( khoảng 25 kg); còn gậy gỗ dài 6 thước 5 tấc với chu vi 2 tấc 6 phân. Việc thi gậy thời này có hai môn : múa và đấu. Múa gậy để biểu diễn tài khéo léo và sức mạnh. Ðấu gậy để thẩm định kỹ thuật chính xác, dũng mãnh và linh hoạt cần thiết cho chiến đấu.
Thể thức thi Hội, ngoài các môn võ bắt buộc phải thi khác, riêng môn đấu gậy đầu thế kỷ 19 sử sách có nói rõ : "Thi đấu côn gỗ cứ một người thi đấu với hai người, người nào thắng luôn cả hai là hạng ưu; thắng một người và ngang sức (hòa) một người là hạng bình ; thắng một người và kém (thua) một người hoặc ngang sức hai người là hạng thứ ; không thắng là hạng liệt ". Rõ ràng đây là môn đấu đòi hỏi người thi phải có tài năng, sức lực, dũng cảm, và mưu trí. Ðó là cuộc thi đấu gậy để đạt danh hiệu Cử Nhân Võ.
Còn đấu gậy trong thi Ðình thì mức độ yêu cầu cao hơn. Một người phải đấu với năm người, thắng cả mới được là ưu; nếu chỉ thắng bốn ngang sức một hay thắng ba ngang sức hai là bình. Còn thắng hai ngang sức ba hoặc thắng một ngang sức bốn là thứ ; không thắng là liệt. Ðó là cuộc thi đấu gậy để đạt danh hiệu Tiến Sĩ Võ.
Song dù thi Hội hay thi Ðình, người thi đều phải qua cuộc thử sức bằng môn múa hai loại gậy gỗ và sắt. Yêu cầu múa phải nhanh, mạnh, khéo, gọn, ... , gậy múa phải quay tít trên cao và bao kín quanh mình, không trống không hở.
Chàng Lía, một dũng sĩ đất Qui Nhơn Bình Ðịnh nổi lên chống bất công của triều đình nhà Nguyễn, có tài đánh gậy rất khéo léo , tinh vi :
Ðường côn trọn vẹn trăm bề,
Múa như giông tố tiếng nghe vù vù .
( Vè chàng Lía )
Khi quân Pháp nổ súng tấn công cướp thành Gia Ðịnh năm 1859, nhân dân Nam Bộ đứng lên dùng gậy tầm vông xông ra chống giặc Pháp cứu nước. Tinh thần chiến đấu ngoan cường của nghĩa quân dưới trướng chủ tướng Trương Ðịnh đã được cụ Nguyễn Ðình Chiểu ca ngợi trong bài " Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc " nổi tiếng :
Ngoài cật có một manh áo vải,
Trong tay cầm một ngọn tầm vông.
Các thế võ gậy cổ truyền với những đòn miếng lợi hại mỗi địa phương trên đất nước, mỗi lò võ xưa có những đặc tính khác nhau . Có lò võ thích xử dụng gậy dài, có lò chỉ chuyên luyện gậy ngắn.
Về kỹ thuật cầm gậy, cầm côn, thường dùng cả hai tay nhưng cũng có thể xử dụng một tay cho gậy ngắn, và có nhiều lối nắm cầm gậy khác nhau tùy theo thế võ hay đấu trường. Thông thường có hai lối cầm gậy dài : Nhật nguyệt áp chưởng và Long trảo hộ châu . Nhật nguyệt áp chưởng là lối cầm gậy hai tay đối nhau hai bên , tay trong tay ngoài nắm chặt gậy nằm gọn ở giữa hai lòng bàn tay. Long trảo hộ châu là lối cầm gậy bằng mười đầu móng tay và cả hai tay đều cùng ở một phía gậy .
Ðể tạm kết thúc, xin đơn cử hai bài võ gậy cổ truyền, một bài về gậy dài, bài "Lữ Vọng Tâm Côn" và một bài về gậy ngắn, bài "Hoàng Kim Giản Pháp".
I/ Lữ Vọng Tâm Côn
Thượng trình thọ thế lưỡng biên khai ,
Tam tấn xà thương nhất điểm lai ,
Bảo tử kinh xa hồi tọa mã ,
Kinh châu hổ cứ trấn Trung sơn ,
Ðiểm thủy phong đao phi chiếc dực .
Thạch bàn Lữ Vọng tọa lý ngư , (2)
Phi khứ phi lai biên quơ thảo ,
Ðàng địa phi xa luyện trung thiên .
II/ Hoàng Kim Giản Pháp
Bình thân lập thế ,
Lưỡng long thủ châu ,
Khuynh thân bái tổ ,
Thiềm thử vọng nguyệt ,
Kim giản bạt sơn ,
Tiềm tàng long hổ ,
Phượng vũ xuyên lâm ,
Phi giao đoạt ngọc ,
Mãnh sư trấn động ,
Cuồng phong tảo diệp nhất,
Cuồng phong tảo diệp nhì,
Tiềm tàng long hổ ,
Phượng vũ xuyên lâm ,
Phi giao đoạt ngọc ,
Mãnh sư trấn động ,
Cuồng phong tảo diệp ,
Tiềm tàng long hổ ,
Lão tiều quải sơn ,
Thiềm thử vọng nguyệt ,
Lão tiều quải sơn ,
Vân gia hồi giản ,
Ðoạt mệnh kim giản ,
Khuynh thân bái tổ . /.
Phan Quỳnh.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
Toan Ánh, Nếp cũ . Hội hè đình đám. Saigon, Sao Mai xb, 1974, trang 278.
Ðai Việt Sử Ký Toàn Thư, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18, tập II.
Có nơi đọc là " Thạch bàn lưỡng vọng tọa lý ngư ".

Trích từ: http://www.vovinamcanada.org/thuvien/thvothuat/dg.html

.................................................................................................................................

http://e-cadao.com/queta/binhdinhvavothuat.htm
Đăng nhập để trả lời
0