📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Tâm Lý Đạo Đức của Tỳ Kheo Thích Chân Quang (Phật Học)

31 trả lời, 8.014 lượt xem — Trang 2 / 2
TÂM LÝ ĐẠO ĐỨC

Tỳ Kheo Thích Chân Quang


29. TỰ TẠI

1. Định nghĩa:
Bản thân chữ Tự tại khó có thể định nghĩa được một cách chính xác. Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu Tự tại là những cách sống, biểu hiện của chính mình không còn lệ thuộc, chi phối và lay động bởi ngoại cảnh. Đây cũng là bài quan trọng trong chuỗi bài nói về đạo đức của một người tu theo Phật.

2. Biểu hiện của tự tại:
Ở các tôn giáo khác, người ta có thể ca ngợi những giá trị nào đó của con người theo quan niệm của tôn giáo mình. Riêng trong đạo Phật, chúng ta ca ngợi rất nhiều về tinh thần tự tại, ung dung trong đau khổ, trong chết chóc và khi đối diện với những nghịch cảnh của cuộc đời. Tinh thần tự tại được xem là một đạo đức rất cao của những người tu theo đạo Phật. Vì vậy, một người khi gặp những nghịch cảnh đau lòng mà vẫn thản nhiên, không buồn khổ được gọi là người đã tu tập rất cao, có thái độ ung dung, tự tại trong đời sống.
Trong đạo Phật, chúng ta từng được nghe kể rất nhiều về gương sống Tự tại của Đức Phật, chư Tổ, của các vị Thiền sư. Đó là những con người trước muôn trùng sóng gió, đau khổ của cuộc đời vẫn đối diện một cách vững chắc và bình thản. Họ không bị ngoại cảnh làm phát khởi đau khổ, làm cho phiền não. Không chỉ riêng trong đạo Phật, ngay cả các Tôn giáo khác, nếu vị giáo Tổ hay vị triết gia nào thể hiện được tinh thần ung dung trước nghịch cảnh cũng đều được muôn đời sau ngợi ca, tin tưởng và xem như đó là một sự thành tựu vững chắc trong triết lý, tư tưởng của họ.
Ví dụ, Khổng Tử - một chính trị gia, một triết gia nổi tiếng của phương Đông- cũng được ca ngợi là người có tinh thần ung dung, tự tại. Có lần, ở nước Trần, Khổng Tử rơi vào hoàn cảnh khốn cùng, bị người ta hất hủi, xua đuổi, không có gì để ăn nhưng ông vẫn ung dung ngồi đánh đàn. Những đệ tử thấy vậy than phiền vì trong hoàn cảnh khốn cùng như vậy mà Thầy vẫn coi như không có gì xảy ra. Khổng Tử đã nói với họ rằng: “Cuộc đời cứ ung dung trôi đi, còn con người cứ bình thản mà sống”. Chính thái độ sống như vậy đã khiến cho những người theo đạo Nho đến bây giờ vẫn tin tưởng vào vị giáo Tổ của mình - con người không bị lung lay bởi ngoại cảnh. Mặc dù không giải thích được nhưng người ta vẫn cho rằng đó là sự thành tựu rất cao của tư tưởng, của tâm hồn, của nhân cách một con người.
Hoặc Lão Tử – một con người siêu việt, một người có tâm linh đặc biệt – cũng được người đời ngợi ca. Ông đã viết cuốn: Đạo đức kinh để lại cho đời sau một triết lý sống rất cao cả. Tuy sống một cuộc đời đạm bạc nhưng Đạo đức của ông cao ngất khiến ai cũng khâm phục. Phải là người chứng ngộ tâm linh rất cao, ông mới có thể vượt thoát mọi ràng buộc, không màng đến danh lợi và để lại một triết lý thâm sâu như vậy.
Chính sự xuất hiện của những người như Lão Tử, Khổng Tử đã làm phong phú cho nền văn hóa cũng như cho triết lý của phương Đông mà đến muôn đời sau, người ta vẫn còn phát triển và vận dụng. Triết lý ấy đã tạo nên một lối sống vừa nghiêm cẩn vừa thanh thoát của người phương Đông. Vì vậy, khi đạo Phật du nhập sang Trung Hoa, gặp gỡ hai tư tưởng ấy và đã kết hợp để tạo nên một nền văn hóa thật tuyệt vời. Có thể nói, đỉnh cao trí tuệ, triết học của loài người tụ hội lại nơi mảnh đất Trung Hoa. Là nước lân cận, Việt Nam chúng ta cũng tiếp nhận được cả ba nguồn văn hóa đó nhưng hoàn chỉnh nhất và đầy đủ nhất vẫn là đạo Phật. Chúng ta có thể xem đạo Phật như là cái nền có khả năng dung hợp được những tư tưởng của các tôn giáo khác.
Nhắc đến những người nổi tiếng có cuộc sống ung dung tự tại, chúng ta không thể không kể đến Socrate - một triết gia Hy Lạp, người được xem là có công khai sáng nền triết học phương Tây. Ông là một nhà tư tưởng, nhà triết học đồng thời cũng là một nhà giáo dục đã để lại cho nhân loại nhiều tư tưởng quý báu. Thời ông sống, không có phương tiện truyền thông như bây giờ. Vì vậy, ông chỉ truyền bá tư tưởng của mình bằng cách đi hết nơi này đến nơi khác để nói chuyện. Những lúc như vậy, ông cảm thấy như đó là một thiên chức, một sứ mạng cao cả nên rất hứng khởi và nói rất say sưa. Ông có một nghệ thuật, một cách nói rất thuyết phục khiến nhiều người tin tưởng và đi theo triết lý của ông. Đôi lúc, thấy ông không lo làm ăn, chỉ đi nói chuyện, vợ ông cũng buồn và có vài phản ứng. Thậm chí, có lúc bà còn mắng ông, đuổi ông ra khỏi nhà; có khi còn tiện tay tạt luôn ly nước vào mặt ông… nhưng ông vẫn coi như không có gì xảy ra, không giận, không buồn. Nhiều lúc ông còn tự hào, nhờ có bà vợ như vậy mà ông trở thành triết gia. Trong sự nhẫn nhịn trước những phản ứng của vợ, ông đã tìm ra nhiều đạo lý sống.
Là nhà tư tưởng nhưng Socrate có những biểu hiện khiến người đời không sao hiểu nổi. Một lần, khi đang đi ngoài đường phố, ông đứng lại suy tư, trầm ngâm rồi nhập định luôn. Cứ thế, suốt một ngày, một đêm ông đứng bất động ngoài đường phố, sáng hôm sau mới xuất định và trở về nhà. Đó là những con người không đơn giản.
Ngày xưa, ở phương Tây, người ta dùng chữ philosopher để chỉ những triết gia. Nhưng chính xác, philosopher phải hiểu là đạo sĩ. Những người như vậy thường có năng lực tâm linh rất lớn. Ngoài việc có tư tưởng, đạo lý để tryền bá cho mọi người, họ còn có năng lực tâm linh rất phi thường. Càng về sau này, những người đuợc gọi là philosopher chỉ còn khả năng thuyết giảng, không còn tâm linh phi thường như những philosopher trước kia nữa. Điều này cũng có thể hiểu tương tự như trong đạo Phật chúng ta. Thời Đức Phật, Ngài có trí tuệ, từ bi, thầân thông diệu dụng… nhưng bây giờ chúng ta giảng về đạo Phật chỉ có triết lý chứ không còn những biểu hiện siêu việt như Ngài.
Đệ tử của Socrate là Platon, đệ tử của Platon là Aristote là những người được coi là những vị giáo Tổ, để lại bao nhiêu tư tưởng quý giá cho nền triết học Tây phương. Sau đó, nền triết học Tây phương có ảnh hưởng rộng khắp trên thế giới. Tuy nhiên, xét cho cùng, hiện nay người ta vẫn thích triết học Đông phương hơn. Nhiều người đã học theo Tây phương rất nhiều cuối cùng cũng tìm đến triết học Đông phương vì sự sâu sắc, thâm thúy của nó. Triết học của người phương Tây không đi sâu vào tâm linh như người phương Đông nên khả năng đứng bất động như Socrate không được truyền dạy lại và vì thế cũng dần dần bị mai một đi.
Trở lại những câu chuyện kể về Socrate, chúng ta thấy ông thường hay nói chuyện đạo với người khác và dĩ nhiên khi nói chuyện đạo, ông có sửa những sai lầm của người này, người nọ nên đụng chạm đến những người có thế lực đương thời. Xung đột ngày càng trở nên gay gắt. Trong khi đó, quần chúng theo ông ngày càng đông. Một lần, do có người ganh ghét, vu khống, ông bị bắt và bị buộc phải uống thuốc độc. Ông đã ung dung thanh thản đón nhận cái chết bằng cách bưng ly thuốc độc uống và tiếp tục nói chuyện với các đệ tử của mình trong khi họ đang đứng khóc chung quanh ông. Sau đó, ông mệt quá, nằm xuống và nói với các đệ tử: “Bàn chân đã lạnh rồi, lạnh dần lên đầu gối rồi, lạnh lên đến ngực là chết”. Khi cơ thể đã lanïh đến bụng, ông dặn dò đệ tử vài điều rồi trút hơn thở cuối cùng.
Tất cả những điều đó đã để lại cho chúng ta sự cảm phục. Rõ ràng, phải có sự thành tựu thật sự trong nội tâm, trong tinh thần, họ mới nói được đạo lý và có những biểu hiện rất tự tại như vậy. Chính sự tự tại đó làm cho họ có sức mạnh, có sức sống, niềm tin, niềm hạnh phúc và có giá trị để không còn lệ thuộc bên ngoài nữa, khiến cho mọi người thán phục.

3. Những điều cần phải nhìn lại:
Một thời gian rất dài, khi đến với đạo Phật, nhiều người cũng hâm mộ thái độ tự tại đó. Mấy chục năm trở lại đây, Thiền tông xuất hiện trở lại ở Việt Nam. Những sách vở thiền luôn ca ngợi sự tự tại của thiền sư khiến những người hậu học chúng ta đâm ra quá thích thái độ tự tại đó. Vì quá thích và ước muốn đời sống tự tại trong khi công hạnh chưa dày, phước lực mỏng nên nhiều người đã bị đổ vỡ. Đây là điều rất tai hại không chỉ cho cá nhân mà còn cho cả Phật pháp. Thật ra tự tại là kết quả của bao nhiêu chuỗi công hạnh phía trước. Khi đã có được chuỗi các công hạnh, tự tại mới xuất hiện như là một biểu hiện rất tự nhiên. Nhưng vì vội vã tìm đến tự tại sớm quá nên tự tại bị mất căn bản, phát sinh nhiều phản ứng phụ, làm đổ vỡ sự tu hành của chúng ta.
Chúng ta biết rằng, Thiền định đưa đến trí tuệ. Nhờ công phu Thiền định sâu thẳm, chúng ta cũng có được sự tự tại. Nghĩa là, tự tại chỉ là một nhánh nhỏ, một hệ quả nhỏ của Thiền định. Nhưng nếu không biết, chỉ lấy tự tại làm mục tiêu để hướng đến, chúng ta sẽ sinh ra ngông cuồng, làm tổn phước rất nặng. Khi đến với chùa, không ít cư sĩ nghe người ta nói lõm bõm về một đạo Phật có các vị Thánh, các vị Thiền sư sống một cách ung dung tự tại, có những biểu hiện lạ lùng, vượt ra ngoài khuôn phép bình thường. Thế rồi họ cũng bắt chước, nhiều khi cũng nói năng ngông cuồng. Những điều đó làm cho họ tổn phước. Vì vậy, tự tại cũng nguy hiểm vì có những phản ứng phụ, chúng ta phải cẩn thận.

4. Hiểu sai và lạm dụng:
Tự tại có rất nhiều ý nghĩa nhưng có thể bị hiểu sai và lạm dụng.
Trước hết, tự tại có thể bị hiểu sai trở thành ích kỷ. Bản thân chữ tự có nghĩa là chính mình. Trong đạo Phật, chữ tự này xuất hiện rất nhiều. Trong Thiền tông, chúng ta thường nghe câu: “Phản quang tự kỷ bổn phận sự”. Nghĩa là nhiệm vụ, việc làm gốc của người tu là soi lại chính mình. Đặc biệt, danh từ Thiền giáo thường nhấn mạnh đến: tự tánh, tự tâm, tự kỷ… Đó là những chữ nhắc nhở người tu thiền luôn luôn đi tìm những giá trị tồn tại nơi chính mình. Nếu người nào hướng ngoại, đi tìm những giá trị từ bên ngoài, đều bị các thầy lớn nhắc nhở: “ Kho báu trong nhà không tìm mà lang thang ra bên ngoài”. Nghĩa là nơi chính mình có đầy đủ hạnh phúc, trí tuệ, giá trị, trăng gió xưa nay chưa từng hết, cứ nơi đó mà tha hồ thưởng ngoạn, không có gì phải sợ hết, không việc gì phải tìm ra bên ngoài. Chữ tự có nghĩa là vậy. Nhưng chữ tự ấy cũng chính là tự ngã. Quả thật, khởi điểm của sự tu hành phải chính nơi nội tâm của mỗi người, nhưng cứ đứng tại đó thì chúng ta sẽ củng cố cái bản ngã của mình, củng cố cái chấp ngã của mình, dễ làm cho tự ngã tăng trưởng.
Mặt khác, người tự tại không bận tâm gì đến ngoại cảnh nên cũng không bận tâm gì đến những người chung quanh. Sống như vậy, vô tình họ đánh mất đi sự vị tha mà không hay biết. Một khi không sống vị tha nghĩa là vị kỷ đã xuất hiện. Bởi vậy, nếu không có gốc, cứ đi tìm tự tại trong khi bao nhiêu công hạnh phía trước không thực hiện được, dần dần chúng ta sẽ rơi vào sai lầm. Nhiều người khi đi tìm sự tu tập, khát khao giải thoát, khát khao giác ngộ, hết sức tinh tấn, vào thất đóng cửa ngồi thiền định hoặc ở trong đại chúng mà sống như giữa không người, không quan tâm đến ai, không lệ thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài… và cứ tưởng như vậy là sự giải thoát, tự tại. Không ngờ, lối sống đó làm lòng ích kỷ lớn dần, không còn thông cảm đến những cảnh vui khổ của người.
Chúng ta vẫn thường ước mơ về một thế giới mà ở đó con người luôn luôn biết thương yêu nhau. Chưa nói gì đến những vấn đề cao siêu, nếu mọi người đều thương yêu nhau thì thế gian này sẽ trở thành thiên đường, hạnh phúc sẽ tràn ngập. Hiện tại, có thể chúng ta còn bị thiên tai, đói khổ, bệnh tật đe dọa nhưng trong hoàn cảnh đó nếu con người ai cũng yêu thương nhau, cũng giúp đỡ nhau thì hạnh phúc, niềm vui vẫn tràn đầy.
Mãi về sau tôi có viết những dòng thơ để nói
Sẽ chỉ nói lên để ca ngợi tình thương
Của con người vì nhân loại quê hương
Của hạnh phúc thoát ra ngoài tội lỗi

Mãi về sau tôi có viết những dòng thơ để nói
Sẽ nói lên để ca ngợi sự an nhiên
Hạnh phúc nào thong thả tựa thần tiên
Rất thanh thoát ung dung và đĩnh đạc

Mãi về sau tôi có viết những dòng thơ để hát
Sẽ đoàn kết mọi người trong một trái tim chung
Hạnh phúc thiêng liêng và vĩ đại vô cùng
Một là tất cả và tất cả mọi người là một.

Khi công phu tu hành đúng hướng, tâm chúng ta dần dần trở nên quan tâm đến những người chung quanh nhiều hơn. Nhu cầu của huynh đệ, nét buồn trên gương mặt khách, vẻ xanh xao của bạn… đều được ta nhận ra nhanh chóng và tìm cách giúp đỡ. Nếu dụng công sai, chúng ta sẽ càng lúc càng tự tại mà quên dần người chung quanh.
Đức Phật đã từng dạy, một giáo lý phải thực hành, phải xem xét tới lui đến khi tin chắc đây là lẽ phải mới chấp nhận. Giáo lý về sự tự tại cũng vậy, cũng phải được xem xét tới lui qua nhiều góc độ để thấy rõ ưu và khuyết điểm của nó. Và rồi chúng ta đều sẽ thấy rằng người tu khi bớt lo cho bản thân mình, nghĩa là bớt ngã chấp, thì vị tha sẽ xuất hiện rất tự nhiên. Lúc ấy, cuộc sống của huynh đệ chung quanh hiện ra trước mắt để họ phải lo lắng, giúp đỡ và đó cũng là một bổn phận, một đạo lý, một bước tiến nho nhỏ trên đường tu. Còn người nào có thể tiến xa, vượt trội hơn để sống một cuộc đời vị tha trọn vẹn vì tất cả chúng sinh thì điều đó quá lý tưởng, là niềm mong ước của tất cả mọi người.
Cần lưu ý một điều, khi đi tìm sự tự tại, nhất là càng chứng tỏ sự tự tại của mình bao nhiêu, người ta càng mất vị tha bấy nhiêu. Vì vậy, lúc đầu có người hơi nghi ngờ về giáo lý của sự tự tại. Mãi đến sau này, trải qua một thời gian dài tu hành, người ta mới củng cố lại được lý luận về sự tự tại để hiểu thế nào là sự tự tại đúng và thế nào là tự tại sai.
Như vậy, biểu hiện của tự tại sai trước hết là lệch qua ích kỷ vì điều gì cũng cho là do chính mình, do nơi mình mà quên đi mọi người. Biểu hiện thứ hai là hiểu sai tự tại trở thành thờ ơ, lãnh đạm. Cứ đi tìm và duy trì sự an nhiên tự tại của chính mình nên đối với ngoại cảnh, chúng ta không còn trách nhiệm, chỉ sống bàng quan, dửng dưng. Ngay đối với niềm vui và nỗi khổ của chúng sinh, chúng ta cũng thờ ơ để trở thành người thiếu từ bi, thiếu tình người.
Sở dĩ chúng ta xem đây là một lệch lạc của Tự tại vì người tu đúng sẽ bất động khi những nghịch cảnh như khen chê, đau khổ, mất mát… ập đến với chính mình nhưng phải đồng cảm với khổ vui của người, không được tỏ thái độ bàng quan, dửng dưng. Ví dụ, khi bị một người nào đó mắng chửi, chúng ta không giận dữ là lúc ấy chúng ta bất động. Đó là một thái độ rất đúng đắn. Nhưng khi có người nào đó đến nói với mình đêm qua nhà họ bị cháy, tất cả tài sản không cứu được, chúng ta không được tỏ thái độ lãnh đạm. Tất nhiên, chúng ta không khổ theo nỗi khổ của chúng sinh mà phải có sự đồng cảm, tìm cách an ủi, giúp đỡ họ. Chúng ta phải hiểu, đồng cảm là vui với niềm vui của người và sẻ chia nỗi khổ với họ khi họ tìm đến với mình. Đây là đạo đức mà người tu không thể thiếu được.
Chúng ta còn nhớ câu chuyện một người mù ca ngợi thiền sư Bankei. Ông bị mù, không nhìn thấy được nét mặt người khác nên chỉ đánh giá con người qua tiếng nói của họ. Chẳng hạn, có người nghe người khác khổ cũng tỏ ra tội nghiệp nhưng trong âm thanh lời nói vẫn có cái mừng trong đó, mừng vì người ta sẽ thua mình. Có người thấy người khác thành công cũng khen nhưng trong lời khen đó ông vẫn lắng nghe điều gì bực bội, đó là cái bực bội vì người ta hơn mình. Với ông, chỉ có thiền sư Bankei mỗi khi san sẻ nỗi buồn của người khác, trong âm thanh của lời nói có trọn vẹn nỗi buồn. Hoặc khi Ngài khen sự thành công của người khác, ông nghe được trong âm thanh ấy trọn vẹn nỗi vui mừng. Nghĩa là Ngài luôn đồng cảm, sẻ chia một cách chân thành với niềm vui và nỗi khổ của chúng sinh.
Nếu muốn đạt đến Tự tại mà trước đó không chuẩn bị một cách căn bản thì sự Tự tại của chúng ta sẽ kéo theo những sai lầm. Đó là sự ích kỷ, lãnh đạm, thờ ơ. Vì vậy, đối với bản thân mình, người tu không để khổ vui chi phối nhưng đối với khổ vui của chúng sinh phải có sự đồng cảm. Tuy nhiên, sự đồng cảm của chúng ta không giống người đời. Nghĩa là không có buồn khổ uỷ mị hay vui hả hê theo khổ vui của người khác. Sự đồng cảm, vui buồn của người tu phải thật sự nhẹ nhàng nhưng sâu sắc.
Ví dụ, với người đời, ghét là không ưa, trong lòng bực bội tức tối, ghét cay ghét đắng. Nhưng với chúng ta, nếu nói ghét điều gì đó (người mặc áo dài mà mặc quần xà lỏn chẳng hạn) có nghĩa là không bằng lòng, không thích như vậy chứ không tức tối, bực bội hay phải ruồng bỏ. Nghe chữ ghét có vẻ nặng nề, cường điệu nhưng thật sự trong tâm chúng ta rất nhẹ nhàng, chỉ là sự không bằng lòng mà thôi.
Sở dĩ chúng ta không tỏ ra quá quắt khi đồng cảm vì khi người ta đến với mình, trong sự bất động đó, chúng ta khởi được cái dụng. Nếu nghe người ta có chuyện buồn, chúng ta có nỗi buồn cùng họ. Trước nỗi đau khổ ghê gớm của người, chúng ta vẫn có tâm trạng buồn để chia sẻ nhưng nỗi buồn ấy không thành một cái xao động của cảm giác quá mạnh ở phía trên. Đó chính là cái dụng của tâm, của sự đồng cảm do Đạo đức của lòng từ bi phát ra chứ không phải là nỗi buồn bình thường.
Những người hiểu lệch về tự tại, cố biểu hiện tự tại cũng sẽ trở thành kiêu mạn. Vì sao như vậy? Vì người ấy lo đi tìm giá trị tự tại, chỉ sống với chính mình không cần tôn trọng ai. Chúng ta biết rằng, khiêm hạ có được là do mình biết tôn trọng người khác. Càng tôn trọng nhiều người, tâm khiêm hạ càng lớn. Một khi không còn ai để tôn trọng, kiêu mạn sẽ phát sinh. Đây là điều rất nguy hiểm.
Khi tu tập cũng vậy. Trước hết, chúng ta phải biết lạy Phật với trọn lòng tôn kính để giữ gốc công đức. Công đức lễ Phật làm chúng ta được phước rất lớn nhưng tâm khiêm hạ vẫn chưa nhiều. Vì Phật là một vị Thánh quá tuyệt đối. Khi tôn kính Ngài, nơi tâm chúng ta sẽ dần dần xuất hiện những công đức vi diệu, những tư cách của bậc Thánh nên công đức rất lớn. Nhưng tâm khiêm hạ vẫn chưa nhiều vì trước một bậc Thánh quá vĩ đại như vậy, chúng ta có đảnh lễ, tôn kính cũng là điều bình thường. Nhưng nếu tận trong thâm tâm có được lòng cung kính, biết ơn đối với những vị có niên cao, lạp trưởng nhưng kém tài hơn mình thì tính khiêm hạ lại càng lớn hơn.
Ví dụ, gặp một vị Thượng tọa, một vị Hòa thượng tu trước dù vị đó chưa đắc đạo, có khi còn kém tài hơn mình, chúng ta vẫn cúi đầu đảnh lễ, vẫn tôn kính thì tâm khiêm hạ của chúng ta rất lớn. Dù sao họ vẫn là những người đi trước, thời gian tu hành tích lũy lâu, có đức hơn chúng ta và là một trong những mắc xích quan trọng nối tiếp nhau giữ gìn Phật pháp qua từng thời đại, qua từng thế hệ. Đảnh lễ những vị tôn túc ấy là chúng ta biết ơn họ, tôn kính họ – những người đã có công giữ gìn Phật pháp. Tôn kính được những người bình thường ấy chứng tỏ tâm khiêm hạ của chúng ta đã vững.
Hoặc cung kính, biết ơn các huynh đệ ngang hàng với mình, tâm khiêm hạ của chúng ta càng lớn hơn và có thể tiêu trừ được kiêu mạn. Ví dụ, khi có lỗi lầm gì, chúng ta ra trước đại chúng sám hối, đảnh lễ một cách chân thành dù đó chỉ là những huynh đệ ngang với mình, thì tâm khiêm hạ rất cao. Chính sự khiêm hạ này là công đức gốc làm cho kiêu mạn không còn nữa.
Như vậy, đối tượng kính trọng càng tầm thường bao nhiêu, tâm khiêm hạ của chúng ta càng lớn bấy nhiêu. Hiện nay, người tu hành chúng ta đã đảnh lễ được đến đại chúng, đến những huynh đệ ngang với mình. Nhưng lý tưởng trong đạo là chúng ta phải tôn trọng những đối tượng thấp hơn nữa như lời một bài hát: “ Xin Phật dạy cho con được lòng khiêm cung, hiểu mình như sương như bụi, xin quỳ lạy nơi nơi, dù cỏ cây hay cánh chim bạt trời”.

5. Tiến trình đưa đến tự tại:
Chúng ta đã biết, khởi điểm của sự tu hành là ba công hạnh căn bản: Tôn kính Phật - Từ bi và Khiêm hạ. Từ ba công hạnh này sẽ xuất hiện vô số những công hạnh khác mà chúng ta đã khảo sát trong những bài trước.
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là giới. Giới có hai mức: thấp hơn Đạo đức và cao hơn Đạo đức. Thấp hơn Đạo đức là những giới điều bình thường, những quy định bình thường như: đi chứ không được chạy. Giới cao hơn Đạo đức chính là sự vô cấu, vô nhiễm. Phải có công đức rất vững mới đạt được sự vô nhiễm này. Người nào muốn giữ được sự vô nhiễm phải thực hành kỹ ba tâm hạnh trên.
Khi đã có đủ các yếu tố ấy, chúng ta mới thành tựu Thiền định, nghĩa là trong tâm chúng ta mới xuất hiện được định lực khi ngồi Thiền. Khi đã thành tựu Thiền định, trí tuệ và sự giải thoát mới xuất hiện. Người nào cứ hăm hở tu Thiền mà không biết đến những công hạnh phía trước, người đó sẽ không thành công.
Như đã nói ở phần trước, Thiền định có nhiều nhánh. Tự tại là một nhánh quan trọng của Thiền định, là một biểu hiện tự nhiên của người tu tập chứ không phải là đường đi chính của Thiền định. Tự tại sẽ xuất hiện song song với Thiền định một cách tự nhiên chứ không phải là mục tiêu phấn đấu để đạt được. Do vậy, cứ cố ý đi tìm tự tại, chứng tỏ tự tại là chúng ta đã hiểu sai về Phật pháp. Khi nội tâm bất động, thái độ tự tại sẽ xuất hiện. Đó là cái chúng ta không quan tâm, không cố ý đi tìm nhưng nó vẫn xuất hiện. Chúng ta nên nhớ điều này.
Tương tự như vậy, trên con đường thẳng đi đến Thiền định, có vô số những biểu hiện bất ngờ xuất hiện. Đó cũng là những cái chúng ta không quan tâm. Nếu cứ chứng tỏ cho mọi người thấy mình sống trên đời này an nhàn, ung dung, tự tại là chúng ta đã sai. Đó chỉ là sự khoe khoang.

6. Tự tại đúng bao gồm các hạnh khác:
Tự tại đúng phải bao gồm những đức hạnh khác. Trước hết, đó là sự nhẫn nhục trước nghịch cảnh. Khi đã tự tại, chúng ta không có sự sầu khổ vì những chuyện buồn phiền xảy đến với mình, nhưng vẫn có lòng bi mẫn đối với nỗi khổ của chúng sinh. Đây là sự đồng cảm mà chúng ta đã đề cập ở phần trước. Ví dụ, khi bị mất một chiếc xe, lòng chúng ta vẫn bất động, không có sự lo lắng, buồn phiền hay chán nản. Đó là tự tại nhẫn nhục. Nhưng khi người khác bị mất xe, chúng ta laiï xót xa, đồng cảm với họ. Điểm này gọi là trung đạo. Hai thái độ này trái ngược nhau nhưng hỗ trợ, làm nên sức mạnh cho nhau. Cái này xuất hiện, cái kia sẽ không có và ngược lại. Hay nói cách khác, khi vị tha xuất hiện thì vị kỷ sẽ vắng mặt và ngược lại, vị kỷ tồn tại thì vị tha sẽ biến mất. Trong cuộc sống, nếu đồng cảm, quan tâm đến những vui, buồn của người khác thì tự nhiên chuyện của mình sẽ không còn nữa, chúng ta trở thành người tự tại mà không hay. Nếu cứ quan tâm, buồn vui sướng khổ theo chuyện của mình thì chuyện của người, chúng ta không quan tâm được. Vì vậy, tự tại đúng nghĩa phải là không bận tâm vì chuyện của mình nhưng rất bi mẫn, rất đồng cảm với chuyện của người. Chính sức mạnh của lòng thương yêu, đồng cảm với những khổ vui của người người (vị tha) đã làm cho vị kỷ tan biến và tự tại xuất hiện.
Một biểu hiện khác của tự tại là không có tham vọng, không lo toan, chạy vạy đi tìm danh lợi cho mình. Người có tham vọng là người luôn bận tâm và khổ sở vì những mưu mô, tính toán, tranh thủ lấy lòng người này, người khác. Họ có những nỗi sầu khổ, bận tâm do tham vọng thúc đẩy. Trong khi đó, người tự tại là người không còn ham muốn đó nữa, không còn tham vọng đối với danh lợi thế gian nữa. Tuy nhiên, họ không phải sống một đời an nhàn, ung dung, giải thoát mà suốt đời tận tụy hy sinh vì Phật pháp, vì chúng sinh. Với khả năng của mình, lúc nào họ cũng hết lòng hỗ trợ cho Chánh pháp.
Trước đây, nhiều người đã hiểu sai về vấn đề này. Họ cứ nghĩ đi tu là tự tại, là vô tác - không làm gì cả. Người tu chỉ cần một cái cốc đầy đủ tiện nghi và suốt ngày ở trong đó tụng kinh, ngồi thiền là đủ. Một triết gia Trung Hoa ảnh hưởng tư tưởng “Vô vi” của Lão Tử đã phát biểu rằng: “Bạt nhất mao lợi thiên hạ bất vi” (Nhổ một sợi lông để làm lợi cho khắp thiên hạ cũng không làm). Ông chủ trương :“vô tác vô vi”- không làm gì hết - và xem đó là đạo lý. Người hiểu đạo như vậy là sai lầm. Tuy cũng đi tìm sự ung dung, tự tại, nhưng do hiểu lệch nên họ không còn tận tụy, hy sinh vì người khác. Ở đây, người có thái độ đúng là người trong thẳm sâu tâm hồn không còn mong ước, đấu tranh, tìm kiếm lợi ích cho bản thân mình nhưng lại tận tụy, vất vả một đời vì cuộc sống của mọi người.
Nói đến điều này, chúng ta cần tránh hai cực đoan: Thứ nhất, người không còn ý niệm mong cầu cho riêng mình nên thích sống ẩn dật, xa lánh mọi người. Thứ hai, người có quá nhiều tham vọng nên trong công việc chung luôn tranh giành, thủ đoạn rất vất vả.
Người tu chúng ta không cầu mong điều gì cho mình. Trong tận đáy sâu tâm hồn, thấy ai hơn mình, chúng ta vui mừng nhưng lúc nào cũng bận rộn, tận tụy, giúp được ai điều gì chúng ta cũng sẵn sàng. Ví dụ, sau này, chúng ta có thể làm giáo thọ, về dạy ở một làng quê nào đó trong khi người huynh đệ cùng lớp với mình lại về một Huyện lớn làm Chánh đại diện. Khi người huynh đệ nhờ phụ giúp một số việc vì họ quá bận, nếu sắp xếp được chúng ta cũng sẵn sàng về phụ. Có thể đó là công việc lo giấy tờ giúp cho huynh đệ rất vất vả, không ai biết đến nhưng chúng ta vẫn vui vẻ. Vì là người có đạo đức, chúng ta không nề hà bất cứ việc gì miễn là việc ấy có lợi cho Phật pháp, có lợi cho chúng sinh. Chúng ta làm mà không hề mong cầu điều gì khác cho mình. Đó mới là thái độ đúng. Nếu có năng lực, có sức khoẻ nhưng cứ ngại cuộc đời danh lợi, bon chen mệt mỏi mà tìm đến nơi nào vắng vẻ để tu, không đóng góp vào Phật pháp là chúng ta đã có thái độ sai lầm.

7. Những đức hạnh cần thiết đi kèm với tự tại:
Đức hạnh thứ nhất là không bận tâm về sự đánh giá, khen chê của người (vượt lên trên dư luận) nhưng vẫn chân thành lắng nghe và học hỏi cái hay của người.
Người tự tại không bận tâm về sự khen chê của người khác. Khi ra làm việc hoặc đi thuyết giảng, nếu có người khen hoặc chê điều gì, chúng ta cũng không bị động tâm. Đó chính là sự không động tâm vì dư luận bên ngoài. Tuy nhiên, chúng ta cũng không phải như cỏ cây, sắt đá vô tri vô giác, không biết nghe ý kiến người khác. Trước lời khen chê của người, chúng ta phải xét lại bản thân mình, xem lời khen tiếng chê đó đúng sai ở mức độ nào mặc dù không để lòng mình buồn vui theo điều đó.
Ví dụ, khi người khác khen mình giảng hay, rất cảm động, chúng ta phải xét xem những điều người ta nói có thật hay không. Nếu lời khen ấy là đúng, chúng ta phải tìm ra nguyên nhân vì sao giảng hay, thuyết phục để có thể truyền kinh nghiệm cho những người khác. Hoặc khi người ta nói về cái sai của mình, chúng ta phải bình thản. Nếu những điều họ nói là đúng, chúng ta phải tìm lỗi mà sửa. Nếu lời phê bình của họ sai, chúng ta cũng không vì thế mà giận. Đó chính là thái độ đúng của người tự tại. Nếu cứ bỏ mặc ngoài tai những ý kiến của người khác, chúng ta sẽ trở thành người lì lợm, bướng bỉnh. Điều này không phù hợp với chủ trương của đạo Phật.
Chúng ta phải tinh ý quan sát cái hay của người để học hỏi một cách chân thành. Nếu biết nhìn vào cuộc đời, nhìn vào con người để học, chúng ta sẽ tránh được những sai lầm của người khác đồng thời học hỏi được những cái hay, cái tốt đẹp của họ. Người xưa đã từng dạy: “Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư yên” (Trong số ba người cùng đi với ta chắc hẳn có một người là thầy ta). Cứ học hỏi cái hay của người, chắc chắn chúng ta sẽ thành công. Có người không được học nhiều, chỉ học một số giáo lý căn bản của Đức Phật, chư Tổ, chư Thánh nhưng biết quan sát trong cuộc sống kết hợp với kinh nghiệm bản thân mình nên đã thành công.
Một điều nữa chúng ta phải để ý là người tự tại có nội tâm bình lặng, không lăng xăng nhưng tràn đầy lòng thương yêu chúng sinh. Nói như vậy nghĩa là người có nội tâm trống rỗng, không còn điều gì, không lăng xăng điều gì không phải là người tu đúng. Ví dụ, một mảnh đất đầy gai góc, cỏ dại, chúng ta dọn cho sạch rồi để đó, mảnh đất vẫn chưa có lợi. Mảnh đất tốt phải là mảnh đất được dọn sạch cỏ dại, gai góc, cày xới và được con người trồng lên đó những hàng cây ăn quả, những khóm hoa, những loại cỏ đẹp v.v… Tâm hồn con người cũng vậy. Lúc đầu, trong tâm hồn ấy có đầy đủ tham, sân, si, hận, thù, thương, giận, ghét… Khi biết đạo, chúng ta dọn sạch những xấu xa, tội lỗi, những sai lầm, mê muội nhưng phải lấp đầy trong đó lòng từ bi, lòng thương yêu chúng sinh. Vì vậy, nội tâm đúng phải là một nội tâm thanh tịnh mà tràn đầy tình thương yêu.
Ở đây, nếu đừng bị tà kiến tấn công thì khi có được một chút định nào, từ bi sẽ tự nhiên theo đó mà nảy nở. Nhưng khi đã bị tà kiến xâm nhập vào tâm (do mới tu chúng ta đã học một giáo lý gì đó sai lầm), lúc nào chúng ta cũng sẽ giữ tâm khô khan, bất động, không thương không ghét một ai. Lúc ấy, càng định bao nhiêu, tâm chúng ta càng trống bấy nhiêu, không có một chút từ bi nào trong đó. Hiểu được điều này, khi khởi điểm cho sự tu hành, chúng ta phải chuẩn bị trước tâm từ bi để khi việc tu tiến dần, tiến dần về phía trước, từ bi cũng sẽ theo đó mà nảy nở suốt cuộc đời mình.
Tất nhiên, lòng từ bi không phải dễ dàng có được. Thông thường, người nam (quý Thầy) ít có tình cảm hơn người nữ (quý Cô). Người nữ vốn nhạy cảm, dễ thương yêu dù sự thương yêu của họ có thể nhỏ bé, ích kỷ. Nhưng nếu bỏ đi sự ích kỷ nhỏ nhặt, họ sẽ phát triển lòng từ bi nhanh hơn người nam. Ngược lại, quý Thầy được ưu điểm là không cố chấp nhỏ nhặt nhưng lòng lại khô khan hơn, tu tập từ bi khó hơn. Nếu muốn từ bi trong tâm mình xuất hiện tràn đầy, quý Thầy phải quán tâm nguyện và từ bi ít nhất từ ba năm trở lên. Ngay cả những người thường ca ngợi lòng thương yêu con người cũng đã thú nhận cả một thời gian dài tu tập mà vẫn thấy lòng mình trơ như sỏi đá. Phải qua nhiều năm, họ mới bắt đầu thấy tâm từ bi dần dần xuất hiện. Và khi nó đã xuất hiện, chúng ta mới tin được Phật pháp có sự vi diệu.
Nói chung, những vấn đề về lòng từ bi vốn vô hạn, không thể diễn tả hết được. Mỗi người tự tu tập đồng thời vẫn tin vào Phật pháp sẽ thấy được điều đó. Khi chưa có từ bi mà nói về nó, chúng ta cũng chỉ nói một cách hời hợt. Phải quyết tâm tu tập từ bi trong một thời gian dài, có thể ba năm, năm năm hay mười năm, chúng ta mới thấy được giá trị của tâm này.
Một đức hạnh nữa đi kèm với tự tại là có tinh thần phóng khoáng nhưng không phóng túng. Chúng ta không cố chấp nhỏ nhặt nhưng nghiêm túc, ung dung, kỹ lưỡng, nhẹ nhàng. Cố chấp nhỏ nhặt sẽ trở thành người khó tính một cách vô lý. Nhưng chúng ta cũng đừng bao giờ nghĩ rằng người tự tại sống không cầøn điều gì, không cố chấp rồi buông tuồng, phóng túng. Đó là suy nghĩ lệch lạc, không phải tự tại đúng nghĩa.
Chúng tôi có gặp một Ni sư ở nước ngoài về. Qua câu chuyện, chúng tôi biết bà làm phước rất nhiều, luôn luôn giúp đỡ người khác. Khi về già có tiền hưu, bà cũng để dành mang về Việt Nam làm phước. Nhưng trên gương mặt Ni sư ấy xuất hiện những nét khó chịu. Quả thật, bà là người rất khó tính. Cái khó tính của bà là do cố chấp nhỏ nhặt. Điều này, người Ni rất dễ mắc phải vì họ có đến ba trăm bốn mươi tám giới. Làm gì cũng thấy tội phước nên họ rất lo sợ và giữ thật kỹ. Khi giữ được, họ lại muốn mình hơn thiên hạ nên hay bắt bẻ người này, người kia và đâm ra khó tính. Thực ra, không phải như vậy. Đạo Phật rất kỹ lưỡng nhưng có những cái rất bao dung, tha thứ, không xem là quan trọng.
Chẳng hạn, luật có quy định người xuất gia không được ăn cơm chung với người tại gia để giữ nề nếp, tôn ti trật tự. Nhưng thực tế, có những lúc chúng ta vẫn ăn cơm với họ rất bình thường. Vì sao vậy ? Vì trong hoàn cảnh nào đó, ngồi ăn cơm chung với cư sĩ là chúng ta thể hiện tình thương, sự hòa đồng, không phân biệt, không thấy mình hơn thiên hạ. Đúng là khi không ăn cơm chung, chúng ta giữ được nề nếp nhưng nếu cứ giữ mãi nề nếp ấy, chúng ta sẽ thấy mình hơn thiên hạ, nghĩa là người tu mình hơn người tại gia. Đó là quan điểm kiêu mạn. Nghĩ như vậy, kiếp sau chúng ta sẽ không được làm người xuất gia nữa. Thực ra, có nhiều cư sĩ đời trước là người xuất gia nên bây giờ rất giỏi, kinh điển rất thông nhưng không bao giờ xuất gia được. Đơn giản là vì đời trước khi xuất gia rồi, người ấy cứ nhìn thấy thiên hạ thua mình.
Vì vậy, giữ được nề nếp, giữ được sự cách biệt giữa Tăng và tục, làm cho người tục có được niềm tin với người xuất gia cũng là điều hay. Nhưng không cẩn thận, có khi chúng ta trở nên phân biệt, tự cao và thiếu tình thương. Cho nên, tùy trí tuệ của mình, đôi lúc chúng ta cũng nên ăn cơm chung để thể hiện tình thương, sự hòa đồng.
Mặt khác, sở dĩ Phật quy định người xuất gia không ăn cơm chung với người tại gia vì đề phòng đôi khi người xuất gia còn những sơ xuất, khi quá gần gũi với cư sĩ sẽ bị họ nhìn thấy. Một khi thấy những sơ xuất của người tu, cư sĩ sẽ mất niềm tin với Phật pháp. Vì vậy, phải giữ khoảng cách với cư sĩ cũng là điều cần thiết. Sự thật, điều này đã xảy ra. Có người từng làm việc với quý Thầy trong các chùa đã tâm sự là không muốn đi chùa nữa, vì từ khi làm việc chung với quý Thầy, họ thấy được những lỗi của người tu và bất mãn, mất niềm tin với Phật pháp. Nghe những lời tâm sự ấy, chúng ta rất đau lòng. Nhưng đây cũng là một thử thách đối với tất cả chúng ta. “Thiệt vàng chẳng sợ chi lửa”, trong hoàn cảnh phải gần gũi với Phật tử, chúng ta cố gắng chứng minh được bản lĩnh, được đạo lực của mình.
Ví dụ, có thể trên một chuyến hành hương xa hoặc trong một chuyến ủy lạo từ thiện nào đó, chúng ta cùng đi chung với Phật tử. Hoặc có khi người cư sĩ đến chùa làm công quả. Hằng ngày, họ làm việc, tụng kinh, ăn uống… với chúng ta. Những lúc như vậy, chúng ta không bao giờ để họ tìm thấy lỗi của mình. Đó chính là vàng thật không sợ lửa. Chúng ta phải tu tập nội tâm vững chắc để khi sống gần gũi với mình, Phật tử càng có niềm tin vào Phật pháp. Như vậy là chúng ta đã thành công.
Tóm lại, chúng ta không được cố chấp giới điều, phải tùy nghi ứng xử cho thích hợp.

8. Tự tại là biểu hiện của thiền định và uy đức:
Chúng ta vẫn giữ oai nghi rất kỹ lưỡng vì tự tại là một biểu hiện của thiền định và uy đức. Người có thiền định tự nhiên rất có uy. Khi đến gần họ, dù chưa nghe nói tiếng nào, chúng ta cũng có sự nể phục. Đó là một trong những biểu hiện của thiền định. Nhưng dù tự tại, họ vẫn có uy đức, nhìn vào chúng ta thấy mọi cử chỉ của họ đều nghiêm trang, cẩn trọng. Đó là sự dung hòa. Nếu tu tập thiền định, đi tìm tự tại mà không có uy đức là chúng ta đã sai. Đó là tự tại không có gốc.
Khi xét về tự tại, chúng ta thấy có nhiều mức độ khác nhau.
Mức độ thứ nhất: Nhờ ba tâm hạnh Kính Phật – Vị tha – Khiêm hạ thuần thục, chúng ta xuất hiện tự tại. Ví dụ, khi có được đời sống vị tha, không lo cho mình, không bận tâm vì mình nữa, ai nói gì cũng không làm mình động tâm, chúng ta sẽ đạt được sự tự tại.
Có một vị Thầy kể lại chuyện mình đỡ đẻ cho một sản phụ khiến rất nhiều người khâm phục. Trên đường đi, vị Thầy ấy gặp một sản phụ đang lên cơn đau đẻ. Lúc ấy, ông đành phải xuống xe và đỡ đẻ cho bà một cách rất bình tĩnh. Không phải ai cũng làm được điều này. Nếu lúc nào cũng giữ nề nếp, oai nghi, giữ giới luật, chúng ta sẽ không dám giúp người ta điều đó. Khi đã vị tha, tự nhiên chúng ta sẽ có sự tự tại, không sợ hãi, không mắc cỡ cũng không sợ bị người ta dèm pha, dè biũ. Đó cũng là sự tự tại do tâm vị tha tạo thành. Như vậy, chỉ ở mức độ đạo đức thôi, vị tha cũng đã tạo thành tự tại.
Mức độ thứ hai: Khi tu thiền định, xuất hiện được trạng thái chánh niệm tỉnh giác, tâm hồn chúng ta càng ung dung, tự tại. Lúc đó, những phiền não mới chớm nhẹ trong tâm sẽ được hóa giải. Nhờ chánh niệm tỉnh giác thu phục tất cả tạp niệm lăng xăng mà chúng ta đạt được tâm bất hối. Điều này chúng ta đã đề cập khi nói về năm triền cái .
Ví dụ, khi làm điều gì sai, được mọi người cho biết đó là lỗi, chúng ta không hối hận nhưng quyết không bao giờ tái phạm. Đó là bất hối của người được chánh niệm tỉnh giác.
Mức độ thứ ba: Khi chứng Sơ thiền, người tu không còn dụng công nữa, tâm vào định một cách tự nhiên, vô cùng thanh tịnh, tham dục biến mất. Mức độ tự tại lúc này cao hơn trước.
Càng chứng những bậc thiền cao hơn, thân và tâm càng ung dung tự tại hơn nữa. Khi đã đạt đến trình độ như Đức Phật hoặc bằng các vị Alahán thì tự tại đó thoát ra ngoài sự ràng buộc của ba cõi, sáu đường và hoàn toàn giải thoát.
Còn một mức tự tại mà chúng ta hay nghe kể là muốn sống, chết tùy theo ý mình. Một Thiền sư muốn tịch giờ nào có thể tịch giờ đó. Nhưng chỗ này chúng ta cần hiểu thêm: Tự tại trên sống chết cũng chưa hẳn là đạt mức tuyệt đối của Thiền định, chưa phải là chứng ngộ hoàn toàn. Có người chỉ mới đắc đạo một phần cũng có thể làm được điều đó.
Có chuyện kể rằng, ông Tri sự trong ngôi chùa nọ nghe nói có một vị Tăng tu hành có công phu đặc biệt nên đến hỏi một câu Thiền ngữ. Vị Tăng đó không trả lời, sau đó bước vào phòng ngồi kiết già và tịch luôn. Sau khi vị Tăng tịch, chùa đem thiêu và được mấy chục viên xá lợi. Đại chúng rất ngạc nhiên khi một người tu có thể tịch tự tại, thiêu có xá lợi như vậy lại không trả lời được câu Thiền ngữ khi người khác hỏi. Vị Tri sự kia đã nói:“Dù cho ông được ba đấu xá lợi cũng không bằng lúc đó ông hạ một chuyển ngữ, trả lời một câu Thiền ngữ cho sắc bén, cho độc đáo”. Cho nên, dù đã tịch tự tại, dù thiêu có xá lợi nhưng người Tri sự vẫn chê vị Tăng kia tu chưa đúng với đạo Phật, chưa đúng với Phật pháp thật sự, chưa đạt đến mức chứng ngộ chuẩn mực của Thiền.
Như vậy, người tu đạt đến sinh tử tự tại cũng là điều quá tuyệt vời. Nhưng đó cũng chỉ là một mức độ tự tại tương đối mà thôi.
Nói đến tự tại, chúng ta nhận xét lại một vài trường hợp gọi là tự tại trong nhà Thiền. Chúng ta từng nghe chuyện kể về ngài Đơn Hà. Ngài Đơn Hà lúc đầu đến với Mã Tổ, sau Ngài đến với ngài Thạch Đầu. Ở đó, ông đắc đạo lúc nào không ai biết, chỉ có ngài Thạch Đầu biết. Sau đó, Ngài từ giã ngài Thạch Đầu trở về Mã Tổ, đi vào trong chùa cưỡi lên cổ Phật. Mã Tổ ra nhìn, thấy đệ tử mình đắc đạo, Ngài nói: “Con ta, Thiên Nhiên” (Ngài đã đặt cho ngài Đơn Hà pháp danh là Thiên Nhiên. Về sau, người ta gọi là ngài Đơn Hà Thiên Nhiên). Có lần, mùa đông đến, chùa lạnh quá, Ngài Đơn Hà đã chẻ tượng Phật ra sưởi ấm. Ông còn nói: “Tượng gỗ làm gì có xá lợi” và càng đốt thêm nữa.
Nếu giải thích, phân tích kỹ, chuyện cũng có nhiều ý nghĩa. Người xưa có nói một câu rất hay: “Linh tại ngã, bất linh tại ngã”. Mọi vật linh hay không là do tâm của chúng ta. Khi người thợ tạc tượng nghĩ đây là tượng Phật thì trong tượng ấy đã có cái linh rồi. Sau đó, người ta thỉnh về đưa lên đảnh lễ như đảnh lễ Phật thì tượng còn linh hơn nữa. Vì vậy, khi lạy Phật với lòng tôn kính (dù chỉ là lạy tượng), công đức của chúng ta cũng gần bằng lạy Phật lúc còn tại thế. Tất nhiên, nếu gặp Đức Phật còn tại thế, lòng tôn kính của chúng ta càng lớn, không thể tưởng tượng được. Thời Đức Phật, hễ gặp Ngài là người ta đi theo đạo Phật liền, vì uy đức của Phật quá mãnh liệt nên mặc dù Ngài đã tịch sáu, bảy trăm năm, cả ngàn năm sau, Phật pháp vẫn cực thịnh, vẫn nề nếp, quy cũ như thời Ngài còn sống. Nếu mỗi ngày vẫn lễ lạy Phật nhưng tâm hời hợt, phước chúng ta sẽ không được bao nhiêu. Lòng tôn kính Phật vô biên chính là công đức nền. Có người cho rằng không cần lạy Phật nữa vì đó chỉ là cục xi măng, là cục gỗ thôi. Nói như vậy là một tà kiến vì không tạo cho chúng sinh có công đức.
Như vậy, điều quan trọng chúng ta phải hiểu là linh hay không linh là do tâm của mình. Đúng đó là một cục gỗ nhưng nếu đã quy định là tượng Phật, ai cũng công nhận đây là tượng Phật mà chúng ta nói chỉ là cục gỗ nghĩa là cặp mắt của mình không nhìn thấy được cái tâm linh vi diệu, cái tâm cảm ứng mà Phật đã chứng từ lòng thành của con người. Những người nói tượng Phật không có gì hết, không có linh thiêng, chỉ là cục gỗ, cục đá là người tà kiến, hiểu không thấu vấn đề mà gieo rắc tai họa cho chúng sinh.
Hơn nữa, tùy mức độ tâm lắng như thế nào, chúng ta sẽ nhìn mọi vật trên đời này như thế đó. Ví dụ, khi cầm viên phấn vẽ lên bảng một hình người đầu trọc, ở mức độ thứ nhất, thô nhất, chúng ta thấy đây là phần đầu của một vị Tăng. Nếu lắng tâm đó xuống, chúng ta chỉ thấy đó là những nét phấn. Hoặc nhìn lại bức tranh trên tường, chúng ta thấy đó là tranh vẽ hoa sen. Nhưng lắng xuống một chút, chúng ta chỉ thấy đó là màu sơn. Nếu lắng xuống một chút nữa, chúng ta chỉ còn thấy đó là miếng vải có phết màu… Như vậy, tùy mức độ lắng xuống của tâm mà chúng ta thấy được bản chất của sự vật, sự việc.
Tương tự như vậy, trở lại chuyện của ngài Đơn Hà Thiên Nhiên chúng ta thấy, khi Ngài leo lên tượng Phật, chẻ tượng Phật đem thiêu là Ngài muốn biểu thị mức Thiền định sâu thẳm của mình. Nghĩa là Ngài muốn chứng tỏ Ngài đã lắng tâm xuống tới đáy, thấy rõ thực tướng của vạn vật, thân tâm và vũ trụ vốn đồng thể tan hòa vào nhau. Tuy nhiên, đó là lúc Ngài cần chứng tỏ cho Thầy mình biết, còn những lúc bình thường, Ngài có thể khởi tâm thấy ngay đó là tượng Phật và vẫn luôn tôn kính. Tự tại nhưng phải tùy mức độ như vậy, nếu không sẽ trở thành cuồng ngạo.
Câu chuyện một vị Tăng bế cô gái đi qua đường lầy cũng vậy. Đường lầy lội quá, cô gái lại đang mặc quần áo đẹp nên không dám băng qua. Vị Tăng đã bế giúp cô gái qua đường. Khi sư huynh đi cùng tỏ ra giận dữ, vị Tăng đã trả lời một cách rất thản nhiên: “Trời, tôi đã bỏ cô gái xuống đó rồi sao huynh còn mang theo tới đây”. Điều này không đánh giá theo tướng mà theo tâm. Vị Tăng làm việc đó mà trong lòng không ham muốn, không lay động. Đó chính là tự tại.
Hoặc chúng ta cũng đã nghe chuyện Tế Công Phật sống (Tế Điên Hòa thượng). Chuyện về Ngài có rất nhiều và được người ta thêu dệt thành những thiên tiểu thuyết hấp dẫn. Nhưng sự thật, lịch sử của Ngài có một số chuyện rất độc đáo. Ví dụ, có một lần ông đang tắm trong khi trong nhà giảng, Thầy đang giảng đạo. Khi nghe thầy hỏi một câu về đạo lý rất quan trọng, ông vội quấn khăn và chạy ra nói với Thầy: “Con trả lời được”. Thầy hỏi: “Trả lời sao?”. Ông lộn nhào một cái, tấm khăn quấn trên người bỗng rơi ra nên tất cả hiện bày trọn vẹn trước mắt mọi người.
Một lần khác, chùa ông bị cháy. Đêm đó, Hoàng Thái Hậu nằm mơ thấy một vị Alahán đến kêu bà cúng tiền cất chùa. Bà đến chùa kể lại giấc mơ. Khi gặp ông, bà quỳ xuống lạy: “Đây mới chính Ngài”. Sau đó bà hỏi: “Xin Ngài cho con biết về sau con sẽ như thế nào ?”. Ông không nói gì, tuột quần xuống và bỏ đi vào trong. Mọi người trong chùa ai cũng kinh ngạc vì đó là tội phải bị chém đầu. Quân sĩ tức giận định hành động nhưng Hoàng Thái Hậu cản lại: “Không, ta hiểu ý Ngài. Ngài muốn nói ta kiếp sau chuyển thân thành nam giới”. Ngài cũng ăn thịt uống rượu rất dữ nhưng thần thông diệu dụng, phi thường. Có thể Ngài có một đạo lý gì đó rất lạ để dạy người, chúng ta không dám phê bình vì Ngài đắc đạo quá cao siêu.
Trong cuộc đời giáo hóa của mình, Đức Phật cũng gặp nhiều sóng gió, tai ương nhưng Ngài quá tuyệt vời, lúc nào cũng tự tại. Có chuyện kể rằng: Một hôm, vua Bình Sa mời Ngài về kinh đô để an cư. Khi Ngài về đến nơi, ông ta lại quên mất sự có mặt của Ngài. Thế là Ngài phải ở luôn ngoài trời. Nhưng lúc ấy Ngài vẫn tự tại như không có gì xảy ra. Chư Thiên Long thấy vậy không cho trời đổ mưa mặc dù lúc bấy giờ đang là mùa mưa. Thấy trời luôn nắng, nhà vua vừa ngạc nhiên vừa kinh hoảng bèn hỏi Đại thần. Một người tự nhiên sáng ý trả lời: “Hay là Đại Vương mời Thế Tôn về đây rồi quên lo chỗ ở cho Ngài nên trời không dám mưa”. Lúc đó, nhà vua giật mình chạy lại thỉnh Phật về, dựng tinh xá cho Ngài ở. Sau đó trời mưa trở lại.
Như vậy, dù rơi vào hoàn cảnh nào, Ngài vẫn tự tại nhưng không phải tự tại để chứng tỏ bản lĩnh của mình mà để cho người khác đừng khổ tâm. Đó là sự tự tại vị tha rất cao quý.
Một điều nữa cần lưu ý là chúng ta không nên cố ý chứng tỏ mình tự tại. Người tu theo Phật hay ca ngợi sự tự tại và nhiều khi ca ngợi quá đáng nên đâm ra ngông cuồng. Có khi phạm lỗi, được người khác chỉ lỗi lại không biết sửa vì cho là mình tự tại. Đó là bệnh lớn của người tu theo đạo Phật. Chúng ta phải nhớ một điều: Biểu hiện tự tại là do người khác nhìn thấy và nhận xét cho mình, còn bản thân chúng ta không nên quan tâm đến điều đó. Cái chúng ta cần quan tâm là thương yêu muôn loài. Nếu cứ cố ý biểu hiện ra vẻ tự tại, chúng ta dễ trở thành người khoe khoang, lập dị.

Nguồn: Websiet Phật học www.thuvienhoasen.org
Trời còn có bữa sao quên mọc
Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em
Đăng nhập để trả lời
0
TÂM LÝ ĐẠO ĐỨC

Tỳ Kheo Thích Chân Quang


30. TÁM MUÔN TẾ HẠNH

1. Đạo dức nơi các bậc Thánh là vô hạn:
Trong Những bài kinh tụng, chúng ta đã được nghe nhiều về “ba ngàn oai nghi” và “tám muôn tế hạnh”. Đó là những oai nghi và tế hạnh nói về Phật, về chư Đại Bồ Tát, về các vị Thánh Tăng. Ở đây, người tu chúng ta cần nắm vững hai điều: Oai nghi bên ngoài và Đạo đức bên trong.
Về Oai nghi, trong luật chúùng ta đã học hai mươi bốn thiên Oai nghi, trong khi đó, Oai nghi của chư Thánh được Kinh diễn tả có đến ba ngàn. Về Đạo đức, chúng ta chỉ tìm hiểu những Đạo đức căn bản trong khoảng ba mươi bài. Bấy nhiêu cũng đủ làm cho chúng ta cảm thấy vất vả, khó khăn. Vậy mà, đối với chư Thánh, Đạo đức được thể hiện ở “tám muôn tế hạnh”.
Vậy “tám muôn tế hạnh” là bao nhiêu ?
Chúng ta đã biết, một muôn là mười ngàn. “Tám muôn tế hạnh” là tám mươi ngàn tế hạnh, tám mươi ngàn điều về Đạo đức. Như vậy, so sánh với Đạo đức của các vị Thánh, chúng ta còn khoảng cách khá xa.
Tuy là bài kết thúc môn Tâm lý Đạo đức nhưng bài học này lại khởi đầu cho một cuộc đời tu hành, khởi đầu cho nhiều kiếp tu hành sắp đến; là bài học gợi ý cho chúng ta bước vào một đoạn đường mới, một cuộc tu dưỡng mới vất vả hơn, khó khăn hơn. Chúng ta phải nắm vững để phấn đấu không những cho kiếp này, kiếp sau mà còn cho tám mươi ngàn kiếp về sau nữa.
Bài học này cho chúng ta cơ hội chiêm ngưỡng tính cách của chư Thánh, giúp chúng ta hiểu thêm về Oai nghi, về Đạo đức của các vị ấy. Ngoài những Tâm hạnh Đạo đức chính, một vị Thánh trong đạo Phật còn phải thành tựu một tư cách đặc biệt. Dù biết rằng không thể nào làm nổi như các vị nhưng chúng ta vẫn cố gắng vận dụng từng chút, từng chút để hiểu sâu hơn, để thấy được cái vĩ đại, cái cao siêu của các bậc Thánh, của chư Đại Bồ Tát trong Phật pháp.
Trước hết, chúng ta nói đến Oai nghi. Oai là oai đức, nghi là dung nghi. Oai nghi là những cử chỉ bên ngoài thể hiện được oai đức, sự đẹp đẽ, sự thanh thản của người tu hành. Khi diễn tả về Oai nghi của những vị Thánh, chúng ta thường nghe nói đến “ba ngàn oai nghi”. Vậy, “ba ngàn oai nghi” đó là gì ? Đã bao giờ chúng ta được nghe liệt kê từng oai nghi tạo thành “ba ngàn oai nghi” ấy chưa ?
Thực ra, “ba ngàn oai nghi” này chưa hề được liệt kê ở một văn bản nào cả. Nhưng dựa vào trí tuệ, chúng ta tự xét để có thể hiểu “ba ngàn oai nghi” là gì. Chúng ta phải hiểu rằng, với một nội tâm thanh tịnh, sáng suốt, người tu hành có sự kiểm soát rất chặt chẽ, rất kỹ lưỡng những cử chỉ bên ngoài để toát ra một vẻ oai nghi thanh tịnh, đĩnh đạc, đẹp đẽ… Vấn đề này cũng tồn tại yếu tố mỹ thuật, hay nói xa hơn đây là một nghệ thuật. Nghệ thuật này có được là do trí tuệ.
Ví dụ, một nghệ sĩ nghiên cứu về mỹ thuật và nghệ thuật chưa hẳn là người có Thiền định, có trí tuệ mặc dù họ cũng cảm nhận được một cách sâu sắc cái đẹp, cái mỹ thuật để tạo nên nguồn cảm hứng, sự rung động và sáng tạo. Trong khi đó, một người đạt được trí tuệ, Thiền định thanh tịnh, luôn luôn có những biểu hiện, những khả năng về mỹ thuật và về nghệ thuật. Đó cũng là một trong những lý do vì sao các vị Thiền sư hay làm thơ và làm thơ khá hay.
Trong oai nghi cử chỉ cũng vậy. Bình thường, nếu tâm không thanh tịnh, sự đi đứng của chúng ta có thể không được đẹp mắt. Nhìn những người đi đứng đẹp đẽ, nghiêm trang, chúng ta có thể biết được nội tâm của họ. Đó là người đàng hoàng, có Đạo đức, có Trí tuệ. Tất cả những oai nghi đều do trí tuệ Thiền định thanh tịnh tạo nên. Ví dụ, khi đang đứng, chúng ta không thể tự thấy, không tự biết mình đứng như thế nào. Chỉ có người ngoài nhìn vào mới biết chúng ta đứng có đàng hoàng hay không. Nhưng khi tu, tâm đã kiểm soát được thân thì chúng ta sẽ tự biết được thân mình đang đứng trong tư thế đàng hoàng hay không. Hoặc khi ngồi cũng vậy, khi ngồi xổm mà tâm có sự kiểm soát thân thì vẫn khác. Cho nên, cũng ngồi giống nhau, đi đứng giống nhau nhưng người có tâm thanh tịnh kiểm soát được thân thì có sự khác hẳn.
Có người băn khoăn làm sao có thể biết được người tu tâm đã thanh tịnh hay chưa. Điều này thật đơn giản. Không cần thần thông hay phép mầu gì cả, chỉ cần nhìn họ đi, đứng, ngồi… có sự kiểm soát được thân, chúng ta biết người này thanh tịnh dù họ không cố ý kiểm soát. Đây là điều rất lạ. Chúng ta nên biết, cố ý giữ hình dáng thân cho đẹp là không đúng. Đó chỉ là cái ngọn của sự tu tập Thiền định chứ không phải là gốc. Nếu cố ý tạo dáng thân nghĩa là chúng ta chỉ đi ra ngọn thôi. Ở đây, ta không cố ý tạo dáng cho thân, chỉ giữ một pháp môn đúng, tâm họ định và từ trong định đó toát ra trí tuệ kiểm soát thân một cách rất tự nhiên.
Ví dụ, một người niệm Phật chỉ biết niệm Phật thôi nhưng trong cái định đó phát ra một trí tuệ kiểm soát được thân. Cho nên, dù vẫn chăm chú niệm Phật nhưng từng bước đi của họ đĩnh đạc, nhẹ nhàng. Hoặc có người lạy Phật rất đẹp. Sở dĩ được như vậy là do người ấy có nội tâm thanh tịnh. Chính nội tâm thanh tịnh, sáng suốt đã kiểm soát mọi cử chỉ nhỏ nhặt tạo thành oai nghi thong dong, đẹp đẽ, nghiêm trang. Dù ở nơi vắng người hay đông người, họ vẫn tự biết thân mình đang trong tư thế, cử chỉ đàng hoàng hay không.
Ví dụ khi có một việc gì đó cần thiết phải chạy (cháy nhà chẳng hạn), nếu lặng lẽ nhìn bao nhiêu người chạy, chúng ta sẽ biết được người nào có tu, người nào có chánh niệm và người nào mất chánh niệm. Có người chạy hết mình, không còn biết gì nữa; có người rất nhanh lẹ nhưng vẫn giữ vẻ bình tĩnh, ung dung, đĩnh đạc, kiểm soát được thân. Nhìn vào, chúng ta biết người này tâm rất khá, trong lúc vội vàng mà vẫn biết được toàn thân.
Hoặc việc leo cây chẳng hạn. Trong giới luật, Phật cấm không cho tu sĩ leo cây vì khi leo cây, người tu khó giữ tư thế cho đàng hoàng. Nhất là vào thời xưa, tu sĩ chỉ quấn y vòng vòng, khi leo cây lỡ có sơ xuất gì trông rất khó coi. Nhưng vì có một vị Tỳ kheo bị cọp đuổi mà không dám leo cây đã bị cọp ăn thịt nên Đức Phật chế lại giới, người tu có thể leo cây trong những trường hợp bất đắc dĩ. Tuy nhiên, khi leo cây, người kiểm soát thân vẫn khác người không kiểm soát được thân; người có oai nghi vẫn khác người không có oai nghi. Dù cũng leo, cũng níu, cũng chuyền cành nhưng người có tâm tỉnh giác thanh tịnh vẫn có sự ung dung, đĩnh đạc, đẹp đẽ, khác hẳn người có tâm không thanh tịnh…
Tất cả những điều đó gọi là oai nghi. Vậy, tế oai nghi là gì ?
Tế oai nghi là những cử chỉ rất nhỏ nhưng chúng ta kiểm soát được như ánh mắt, nụ cười, âm thanh của lời nói vv... Chẳng hạn, ánh mắt của một người thanh tịnh thường bình thản, nhìn đúng nơi, đúng chỗ, vừa đủ chứ không nhìn trừng trừng hay láo liên. Cái nhìn của đôi mắt cũng có sự oai nghi của nó. Khi nói chuyện với một người, chúng ta phải nhìn nhau. Nhưng đôi mắt khi nhìn đã phát ra điện. Nếu hai người cứ nhìn nhau đăm đăm sẽ rất khó chịu vì lúc đó có sự phản kháng của hai luồng điện. Vì vậy, khi nói chuyện, chúng ta chỉ thoáng nhìn người đối diện rồi đưa mắt đi chỗ khác. Đó là cách khéo giữ ánh mắt của mình. Hoặc khi nói chuyện, chúng ta chỉ nhìn những chỗ đáng nhìn. Giả sử đang nói chuyện, người đối diện có việc phải mở bóp lấy tiền, chúng ta phải đưa mắt nhìn đi chỗ khác. Trường hợp ai đó cố ý nhìn thật sâu vào mắt mình khi đang nói chuyện mà mình không thể tránh được, không thể nhìn sang chỗ khác được, chúng ta nên nhìn lại nhưng phải nhìn bằng tâm từ bi. Nếu tia điện của ánh mắt họ chiếu vào gặp ánh mắt bao dung mở rộng, không phản kháng của chúng ta, họ sẽ không cảm thấy khó chịu. Đó là oai nghi, là tế oai nghi của ánh mắt nhìn.
Nụ cười cũng có sự oai nghi, tế oai nghi. Có những trường hợp chúng ta chỉ cần mỉm cười, cười nhẹ là đủ. Có lúc chúng ta nở nụ cười tươi, có khi lại bật cười thành tiếng. Nghĩa là chúng ta phải biết mức độ vui của câu chuyện, của khung cảnh mà tặng cho mọi người một nụ cười thích hợp. Nếu câu chuyện chỉ đáng mỉm cười mà chúng ta cười ha hả thì sẽ mất đi sự oai nghi. Khi giao tiếp, chúng ta phải biết kiềm chế, biết kiểm soát, không để mất tự chủ trong các câu chuyện vui. Nhưng những lúc người ta đang nói chuyện vui, chúng ta cứ tỏ ra lạnh lùng cũng không phù hợp. Trong mọi trường hợp, chúng ta phải hài hòa, chừng mực để phù hợp với câu chuyện, với mọi người. Những lúc có Phật tử đến chùa, dù đó không phải người quen, dù không phải nhiệm vụ của mình, chúng ta cũng phải cúi chào hoặc mỉm cười để thể hiện lòng từ bi của người tu đối với các Phật tử. Nếu gặp những Phật tử không quen, chúng ta không quan tâm coi như người xa lạ là một sai lầm lớn. Rất nhiều người tu mắc phải điều này. Nhất là ở những ngôi chùa có chúng đông, nhiều khi chúng ta thấy các Thầy chỉ tiếp những Phật tử quen.
Ngay cả âm thanh của lời nói cũng vậy. Người có tỉnh giác sẽ kiểm soát, điều chỉnh được âm thanh của mình sao cho vừa đủ, nghe êm ái lại vừa có cái gì thanh thản. Nếu âm thanh giọng nói của một người có những nốt cao thấp, không phù hợp hài hòa, chúng ta biết người này chưa điều chỉnh được âm thanh, chưa kiểm soát được tâm thanh tịnh. Giọng nói là một oai nghi rất tế. Nghe âm thanh của một người, chúng ta có thể đánh giá được đạo đức của họ. Ví dụ, một người bên ngoài trông rất đẹp trai, con nhà giàu nhưng nếu nghe trong âm thanh lời nói, những dấu thanh điệu không phối hợp cân đối, chúng ta biết đạo đức người này chưa kỹ, chưa kiểm soát được thân và tâm. Hoặc những người có giọng nói hay một cách tự nhiên (không phải hay do làm điệu) là người rất tốt.
Ngoài oai nghi của ánh mắt, nụ cười, âm thanh…, chúng ta còn thấy nhiều oai nghi cho những cử chỉ nhỏ nhặt hơn nữa. Ví dụ như oai nghi trong cử chỉ của những ngón tay. Khi nói chuyện với người khác hoặc ngay cả khi ngồi một mình, nếu không kiểm soát các ngón tay, chúng ta sẽ có những cử chỉ rất buồn cười: có khi đưa tay vân vê gấu áo, có khi xé giấy vứt xuống nền nhà, có khi tiện tay cào xước mặt bàn vv… Những điều này quá tế, vượt qua sự kiểm soát của mình nên chúng ta phải cẩn thận. Nếu có sự kiểm soát, chúng ta sẽ biết làm như thế nào là đúng. Ví dụ, khi ngồi nghe Pháp, có người chống tay rất đẹp, rất ung dung vì có sự kiểm soát. Nhưng có người chống tay trông như buồn ngủ hoặc như có điều gì bất mãn, chán đời.
Từng điểm nhỏ như vậy đều là oai nghi. Trong cuộc sống tu hành, chúng ta rất khó đếm hết tất cả là bao nhiêu oai nghi. Con số “ba ngàn oai nghi” cũng chỉ là con số mang ý nghĩa tượng trưng. Chúng ta cũng lưu ý “ba ngàn oai nghi” ấy là những gì chân thật toát ra từ nội tâm thanh tịnh chứ không phải là sự cố ý làm dáng làm điệu. Chỉ cần kiểm soát tâm thôi, tự nhiên thân chúng ta sẽ trở nên đẹp. Những người có Trí tuệ thường là những người luôn giữ được oai nghi.
“Tám muôn tế hạnh” cũng vậy. Đó chỉ là con số tượng trưng cho rất nhiều tế hạnh của các bậc Thánh mà chúng ta khó có thể đếm được một cách cụ thể. Tế là nhỏ, tế hạnh là những Đạo đức toát ra rất sâu sắc ngay cả trong những điều nhỏ nhặt. Chính Trí tuệ vô cùng sắc bén đã kiểm soát được Chấp ngã nên tạo thành vô số tâm hạnh Đạo đức vi tế trong sự ứng xử với chúng sinh.
Thử so sánh với việc cư xử tế nhị, chúng ta sẽ hiểu thế nào là tế hạnh. Trong cuộc đời chúng ta đã từng gặp nhiều người có lối cư xử rất tế nhị. Đó là người rất sáng ý trong mỗi tình huống giao tiếp. Họ đoán được tâm trạng của những người đang đối diện để cư xử sao cho những người đó không buồn lòng. Họ rất tinh tế. Và càng tinh tế bao nhiêu, họ sống càng tế nhị bấy nhiêu.
Tế nhị và tế hạnh có chỗ hơi khác nhau. Tế nhị thuộc về cách cư xử lịch sự. Nếu bên ngoài cư xử lịch sự nhưng bên trong không có đạo đức, chúng ta chỉ gọi đó là người lịch sự, có văn hoá. Người có cách cư xử lịch sự bên ngoài, bên trong lại có đạo đức mới là người có tế hạnh. Tuy nhiên, dù chưa đạt được tế hạnh, chúng ta cũng phải cố gắng cư xử cho tế nhị với mọi người. Nngười sống tế nhị thường rất khéo léo, sâu sắc, đoán được ý người khác nên không làm họ buồn, có khi còn đem đến những niềm vui bất ngờ cho mọi người. Trong cuộc sống, nếu ai cũng cư xử tế nhị với nhau thì cuộc sống sẽ dễ chịu biết chừng nào.
Ví dụ, khi đóng cửa phòng, chúng ta nên nhẹ nhàng (dù lúc đó trong phòng không có ai) . Điều này thuộc về oai nghi. Nhưng hành động đóng cửa nhẹ nhàng sẽ biến thành đạo đức trong trường hợp có người đang ngồi trong phòng nói chuyện với mình. Vì sự nhẹ nhàng ấy biểu lộ sự tôn trọng người khác. Nếu trong phòng còn người mà đóng cửa thật mạnh nghĩa là chúng ta đang bực bội, tức giận hoặc coi thường họ.
Người Việt nam chúng ta có những phong tục thể hiện sự tế nhị trong cư xử với người khác. Chẳng hạn, khi khách đến nhà chơi, chúng ta không được quét rác. Vì hành động ấy biểu lộ thái độ đuổi khách. Nếu trường hợp cần thiết phải quét nhà, chúng ta phải xin phép trước để biểu lộ sự tôn trọng người khác.
Trong việc cư xử tế nhị, có khi có sự chân thành của đạo đức, có khi đó là sự đãi bôi, lịch sự bên ngoài theo phong tục tập quán của mỗi vùng, mỗi đất nước. Vì vậy, chúng ta phải có sự hiểu biết, không nên chủ quan để xảy ra thất thố trong giao tiếp. Nếu sang các nước Nhật, Pháp, Mỹ…, chúng ta sẽ bắt gặp những lời nói, những lối cư xử tế nhị nhưng thực chất đó chỉ là thói quen, là một nét trong văn hoá giao tiếp của họ mà thôi.
Ví dụ, khi gọi nhầm số điện thoại, chúng ta sẽ được người ở đầu dây bên kia cho biết: You have a wrong number ( Bạn đã gọi sai số). Nếu chúng ta nói lời xin lỗi, người ấy sẽ trả lời : You’re welcome. Dịch sang tiếng Việt có nghĩa là: “Không có chi”. Nhưng nếu hiểu sát nghĩa từng chữ, câu nói đó có nghĩa là: “Bạn/ Ông/ Bà vẫn được đón tiếp”. Đó là câu nói xã giao theo thói quen nhưng thực chất trong lòng có khi không phải như thế.
Hoặc khi đang nói chuyện với chúng ta, nếu nghe không rõ họ sẽ hỏi lại: Pardon ? ( Xin hãy tha thứ cho tôi). Nghĩa là họ không cho rằng chúng ta nói sai hay nói khó nghe mà tự nhận lỗi về mình, cho rằng lỗi là tại họ không nghe được. Đó là nét đẹp trong văn hoá giao tiếp của người phương Tây. Những lúc như vậy, chúng ta đừng nghĩ là họ có lỗi thật.
Hiểu điều này, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi xem một đoạn phim nước ngoài: Trên xe buýt, một thanh niên đang ngồi, đứng dậy nhường chỗ cho một phụ nữ có thai. Anh ta vừa đứng lên và người phụ nữ kia chưa kịp ngồi xuống thì một người da đen ở đâu bước đến ngồi đúng vào chỗ đó. Anh ta nói rất đàng hoàng: “ Thưa ông, ghế này không phải của ông” .Nhưng người da đen kia nóng nảy văng tục. Anh thanh niên hỏi: “Pardon?” đồng thời lấy kiếng ra nhờ người phụ nữ cầm giúp rồi đánh cho anh kia một trận.
Như vậy, dù vẫn rất lịch sự, vẫn dùng từ Pardon để nói với người kia nhưng anh thanh niên vẫn sẵn sàng đánh để cảnh cáo anh ta.
Không nói đâu xa, ngay trên đất nước chúng ta cũng có nhiều địa phương rất lịch sự, tế nhị trong cư xử, nhưng thực chất đó chỉ là văn hoá. Ví dụ, khi đến thăm một gia đình người miền Bắc vào đúng lúc họ đang ăn cơm, chúng ta sẽ được mời rất vồn vã: “Mời anh ăn cơm ! Mời chị ăn cơm ạ !” mặc dù lúc ấy nồi cơm đã hết sạch và họ chẳng đứng dậy lấy thêm cái chén, đôi đũa nào. Nếu không hiểu, chúng ta mau mắn ngồi vào mâm là sẽ gây khó khăn cho gia chủ.
Tất cả những điều chúng ta vừa nói đều thuộc về việc cư xử tế nhị. Nếu muốn biến cư xử tế nhị thành tế hạnh, chúng ta chỉ cần thêm lòng chân thành thương yêu và sự tôn trọng. Lòng thương yêu xuất phát từ Từ bi, sự tôn trọng xuất phát từ Khiêm hạ. Cả hai đều bắt nguồn từ những Đạo đức căn bản mà chúng ta đã học. Nhờ thương yêu và tôn trọng con người nên chúng ta có những cách cư xử đẹp, vi tế, không làm buồn lòng, không làm tổn thương người khác. Một người ở trong đạo, khi tâm thanh tịnh, tràn đầy lòng thương yêu, tôn trọng người khác, tâm sẽ rất sáng. Họ có thể thấu suốt tâm trạng chúng ta và có sự đối xử thích hợp, khéo léo, nhẹ nhàng, ân cần và sâu sắc. Như vậy gọi là tế hạnh.
Những người có lòng Từ bi thì Trí tuệ sẽ xuất hiện. Vì từ bi là nhân mà trí tuệ là quả. Chúng ta đừng nghĩ định sẽ sinh được huệ. Nếâu không có từ bi, định vẫn không sinh được huệ. Ví như một người ngồi thiền đạt được định vẫn có thể rơi vào không ngơ, vào chấp không, vô ký. Nhưng chỉ cần người ấy quán từ bi, thương yêu chúng sinh thì từ nơi định đó, trí tuệ sẽ xuất hiện. Tương tự như vậy, trong cuộc sống, khi chúng ta thương yêu mọi người, tự nhiên trí mình sẽ sáng lên. Và chỉ khi nào thật sự thương yêu, chúng ta mới được quyền hiểu về con người. Đây là quy luật do trời Phật đặt ra, cũng là Nhân Quả. Chỉ khi nào thương yêu ai, chúng ta mới được quyền hiểu về người đó. Nếu không yêu thương, chúng ta sẽ hay nghĩ sai, hay chê bai những nhược điểm của họ. Chẳng hạn, khi nhìn những Phật tử đến thăm chùa, do có lòng thương yêu, chúng ta sẽ quan tâm đến họ, hiểu những nỗi vất vả khi họ phải vượt một chặng đường khó khăn để đến với chùa. Từ đó, chúng ta sẽ có sự quan tâm đúng mực: lo cơm nước, sắp xếp chỗ nghỉ ngơi…
Bao giờ cũng vậy, khi có sự quan tâm, chúng ta mới hiểu về người khác. Chính tình thuơng yêu làm cho chúng ta có sự quan tâm và chính sự quan tâm làm cho chúng ta có trí tuệ, hiểu sâu sắc về con người. Như vậy, không phải ngẫu nhiên mà chúng ta nói từ bi sinh ra trí tuệ.
Trong cuốn Cặn bã ký ức, bác Hai Như Sanh có kể câu chuyện: Một lần, khi đi trên xe, bác lấy chai dầu gió ra xoa. Thấy người phụ nữ có đứa con nhỏ đang nhìn chăm chăm vào chai dầu, bác biết người ta cũng đang cần nên đưa chai dầu bảo bà ta dùng. Bà mừng quá, vì từ sáng đến giờ trong người cảm thấy ớn lạnh, khó chịu nhưng không có dầu để xoa. Khi bà dùng xong trả lại, bác mở chai dầu xoa thêm một chút rồi đóng nắp lại, tặng luôn cho bà.
Đây là chỗ thể hiện “tám muôn tế hạnh”. Nếu lúc người ta vừa trả lại, bác không lấy mà cho luôn, họ sẽ nghĩ rằng bác thấy người ta nghèo khổ, lam lũ, dơ bẩn nên không muốn lấy lại nữa. Như vậy, bác đã làm cho họ bị tổn thương. Việc cầm lại chai dầu xoa thêm lần nữa trước khi cho chứng tỏ bác cho người ta vì chân tình, vì sự ưu ái, quý mến, vì lòng tốt chứ không phải vì sợ dơ hay sợ lây bệnh. Giúp người mà vẫn không làm tổn thương người, đó là cách cư xử khéo léo của một bậc trí tuệ.
Khi đi làm việc thiện cũng vậy, Phật tử nên kín đáo, biết tôn trọng mọi người, đừng bao giờ giúp người khác được ít gạo, ít áo quần mà đăng báo quảng cáo khắp nơi, vì làm như vậy là chúng ta không tôn trọng người khác và làm mất đi ý nghĩa của việc thiện. Người ta sẽ nghĩ chúng ta giúp đỡ họ là vì danh lợi chứ không vì tình yêu thương. Giúp đỡ người khác phải kín đáo, tế nhị, đó chính là tế hạnh.

2. Tiêu chuẩn của vô số tế hạnh:
Biết rõ luật Nghiệp Báo và gạn lọc kỹ càng tâm vị kỷ là khởi điểm của Tám muôn tế hạnh. Vì khi biết rõ điều này, chúng ta sẽ làm được những việc rất tốt cho con người dù trong những tình huống không mấy dễ dàng. Cuộc đời nhiều khi rất phức tạp, chúng ta phải cư xử thế nào cho hợp lý dựa trên luật Nhân Quả.
Ví dụ, mặc dù chùa còn nghèo nhưng những khi Tăng Ni cần giúp đỡ, chúng ta cũng sẵn sàng trong khả năng của mình. Tất nhiên, giúp cho Tăng Ni không có gì khó khăn vì chúng ta lấy của thường trụ đem ra giúp thập phương Tăng nên không thành tội, đỡ phải suy nghĩ. Nhưng cũng có trường hợp những cư sĩ có tình với chùa gặp hoàn cảnh khó khăn, chúng ta không cầm lòng được, đành lấy tiền chùa ra giúp. Như vậy là chúng ta đã phạm luật. Trong luật Tỳ kheo không cho phép người tu làm điều đó. Nhưng nếu không giúp, chúng ta sẽ vô cùng áy náy. Trong những tình huống khó xử như vậy, chúng ta phải suy nghĩ tìm cách biện hộ cho việc làm của mình. Thứ nhất, chúng ta phải tìm ra công lao của họ và cho rằng đây là người đã từng có công với Phật pháp nên xứng đáng được hưởng số tiền này. Thứ hai, nếu người ấy không có công lao gì, chúng ta có thể biện minh ra lý do rằng nên gieo duyên để họ mắc nợ chùa. Biết đâu hết kiếp này đến kiếp khác, họ vào chùa công quả và nhờ vậy học được Phật pháp để tu hành.
Biện ra đủ cách, đủ lý do để lấy tiền chùa giúp cho cư sĩ là những tế hạnh ở trong tâm. Chúng ta suy nghĩ về Nhân Quả và phải biết về Nhân Quả, biết phước, biết tổn phước như thế nào chứ không làm phước để cầu phước. Chúng ta cũng đừng bao giờ nghĩ bố thí luôn luôn đem lại phước. Ngược lại, có khi còn bị tổn phước nữa nếu không bố thí đúng cách. Vì vậy, chúng ta tự biện minh trong Nhân Quả để được yên tâm rằng mình không làm điều sai và người kia cũng không đến nỗi quá tệ dù thực ra đó cũng là một sự tổn phước.
Một tiêu chuẩn để tạo thành vô số tế hạnh nữa là tâm thanh tịnh trong Thiền định. Bình thường, chúng ta sống với tâm thanh tịnh nhưng khi gặp việc phải ứng xử ngay, phải hiện thành Đạo đức dù là việc rất nhỏ nhặt. Như vậy gọi là tế hạnh. Có những Phật tử rất tinh ý và chu đáo. Chỉ cần ngồi nói chuyện với chúng ta trong khoảng thời gian rất ngắn nhưng họ biết ngay chúng ta cần những gì và hôm sau mang đến cúng. Chúng ta cũng có thể học ở họ những điều như vậy trong cư xử. Trong cuộc sống, khi đối diện với ai, chúng ta nên để ý, quan tâm đến những nhu cầu cần thiết của họ dù đó là những điều rất nhỏ. Ví dụ, khi đang ăn cơm nửa chừng bỗng có người về trễ, chúng ta không được ngồi yên, tiếp tục ăn mà phải vội vàng đi lấy chén đũa và mời họ cùng ăn. Nếu để người kia lặng lẽ ngồi vào bàn ăn là chúng ta đã đối xử không có tình với họ, không thương yêu tôn trọng họ, không có sự quan tâm, và không cư xử tế nhị lịch sự. Những điều nhỏ nhặt đó gọi là tế hạnh, là sự thương yêu tôn trọng mọi người một cách sâu sắc.
Hãy nhớ rằng, Đạo đức luôn luôn làm chúng ta vất vả. Chỉ có những người ích kỷ mới có cuộc sống an nhàn. Vì vậy, muốn sống một đời vị tha, chúng ta phải chấp nhận sự vất vả, khổ cực. Từng lời nói, từng hành động của chúng ta phải làm sao chuyển tải được tình thương yêu, sự tôn trọng của mình đến với người khác. Một khi quan tâm đến những nhu cầu của người khác để giúp đỡ họ thì cây Đạo đức trong lòng chúng ta sẽ bắt đầu ra hoa kết trái.
Một điều nữa cũng cần phải nói đến là thái độ cư xử của chúng ta đối với mọi người. Chẳng hạn, người tu phải nghiêm túc, đứng đắn, không được xuề xòa để người khác coi thường. Nhưng nếu lúc nào cũng nghiêm túc thì không khí sẽ rất căng thẳng. Vì vậy, chúng ta phải làm sao cân đối được hai thái độ, hai cách sống đó. Người Thầy thường hay nghiêm khắc với đệ tử để họ cố gắng học hành, tu tập cho giỏi. Tuy nhiên, nếu lúc nào cũng nghiêm thì không đúng với Đạo. Có những lúc thầy trò phải vui vẻ, khôi hài với nhau để cuộc sống bớt đi sự căng thẳng.
Trong cuộc sống, có những sự kiện xảy đến đơn giản, dễ ứng xử nhưng cũng có những sự kiện phức tạp khó ứng xử, chỉ cần lệch một chút là chúng ta sẽ giải quyết sai. Vì vậy, tùy từng trường hợp chúng ta phải xử sự một cách tinh tế.
Về điều này, chúng ta phải noi gương Đức phật. Còn nhớ, lần đầu tiên Phật về thăm Hoàng cung, khi vào thăm bàø Da Du Đà La, Đức Phật không cho ai đi theo trừ hai vị đệ tử đã đắc đạo. Vì Ngài đoán trước đây là một tình huống rất khó xử, bà Da Du Đà La sẽ không kiềm chế được xúc động. Trước khi bước vào, Ngài căn dặn những vị đệ tử: “Các Thầy để yên nếu Da Du Đà La có ôm Như Lai”. Sau đó ba người cùng vào. Quả đúng như dự đoán của Ngài. Khi gặp lại người chồng mà mình hằng thương yêu, quý kính sau bao nhiêu năm xa cách nhớ nhung, bà không kiềm nén nỗi cảm xúc và ôm Ngài khóc nức nở. Lúc ấy, Ngài vẫn đứng bình thản, không phản ứng. Hai vị đệ tử đứng lặng yên một bên. Cảnh tượng thật cảm động, thật thiêng liêng và rất đỗi tế nhị, sâu sắc. Nếu lúc đó Đức Phật la lên : “ Đừng đụng vào tôi ! đừng đụng vào tôi” thì tình thương yêu, nhung nhớ nhiều năm kia có thể biến thành sự bất mãn, hận thù. Lúc ấy người vợ sẽ cảm thấy mình bị xúc phạm. Nhưng chính cách cư xử tế nhị của Ngài đã làm bà cảm động. Bao nhiêu năm xa cách, nỗi nhớ nhung thương mến đó đã không bị ruồng rẫy mà vẫn được tôn trọng, bà cảm thấy lòng mình ấm áp. Cách cư xử của Đức Phật đã lay chuyển được tâm bà và sau này bà đã đi tu. Đây là tế hạnh, là cách xử sự rất hay của Đức Phật. Tất nhiên, lúc bấy giờ không có người khác đi theo, Ngài mới có thể xử sự như vậy. Nếu trước đông đảo mọi người, Ngài để cho bà Da Du Đà La ôm như vậy là không ổn vì có thể biết bao nhiêu người sẽ nghĩ không tốt về Ngài. Hai vị đệ tử đi theo Ngài là những người đã chứng đạo, hiểu rõ tâm của Thầy mình vẫn thanh tịnh nên không có gì phải ngại. Như vậy, Ngài đã xử sự mọi điều rất đẹp, rất độc đáo. Đây là một trong những tế hạnh của Đức Phật.
Một câu chuyện khác cũng minh chứng cho điều chúng ta vừa nói. Đó là việc Ngài hóa độ cho một người Bà La Môn nông dân.
Khi người Bà La Môn đang phát cơm cho những thợ cày của mình, Đức Phật cũng ôm bát đứng đó chờ đợi. Người nông dân kia không cho còn nói:
- Này Tôn giả ! Tôi cày ruộng nên tôi có ăn, Tôn giả cũng nên cày ruộng, Tôn giả sẽ có ăn.
Đây là một câu nói xúc phạm. Nếu ở vào trường hợp ấy, chúng ta sẽ nổi sân, sẽ bực tức hoặc dẫu không nói cũng buồn bã bỏ đi. Nhưng Đức Phật vẫn rất điềm tĩnh nói:
- Như Lai cũng cày ruộng và Như Lai cũng có ăn.
Ngài đã tùy thuận theo lý luận của vị Bà la môn mà không chống đối. Nghe vậy, ông ta nói:
- Ngài nói Ngài cày ruộng, Ngài có ăn nhưng tôi có thấy luống cày đâu? Tôi có thấy con bò với cái ách của Ngài đâu?.
Đức Phật trả lời:
- Như Lai cày trên luống ruộng tâm của mình. Đôi bò là sức mạnh của tinh tấn, cái ách là giới luật, ngọn roi là sự kiểm soát nội tâm.
Nghe xong, người Bà La Môn kia hiểu ra, quá kính nể Ngài, bèn bày tỏ sự khâm phục và xin cúng dường. Nhưng lúc đó Ngài từ chối và nói rằng:
- Không được, vì ba đời Như Lai đều không bao giờ nhận cúng dường sau khi nói Pháp. Điều đó giống như bán Pháp mà ăn, đó là tà mạng.
Nói xong, Ngài ôm bát đi chỗ khác.
Ngài xử sự rất hay, không có điểm nào sơ hở, vừa kiên nhẫn độ lượng, vừa giữ khoảng cách cần thiết. Đó là tế hạnh. Nếu lúc đó nói xong, được người khác đổi tâm cúng dường mà vẫn nhận, Ngài sẽ trở nên rất tầm thường.
Một ví dụ khác cũng cho thấy cách cư xử hoàn hảo của Ngài. Khi Đức Phật bắt đầu nổi tiếng, người ngoại đạo ganh ghét toan mưu hại Ngài. Họ đã giết một cô gái và chôn xác ngay trong Kỳ Viên Tịnh Xá để vu khống Đức Phật và Tăng đoàn. Họ đã hô hoán lên rằng: “Chư Tăng ở Tịnh Xá giết người để bịt miệng”. Sự việc nghiêm trọng như vậy nhưng Đức Phật vẫn rất điềm tĩnh, không hề bàn đến. Mấy vị Tỳ kheo chưa đắc đạo lo lắng hỏi Phật. Ngài nói: “Coi vậy chứ không có gì, ít bữa sẽ hết”. Quả thật như vậy, sau một thời gian ngắn, tự nhiên mọi người không tin là Đức Phật và Chư tăng làm điều gì sai trái, liên quan đến cái chết cuả cô gái. Nếu trong trường hợp đó, Ngài phản ứng hoặc tìm cách thanh minh, đính chính sẽ làm cho sự việc trở nên phức tạp hơn. Vì vậy, Ngài cứ im lặng, mặc cho mọi người nói gì, nghĩ gì. Cách xử sự đó thật tế nhị và hiệu quả. Đó cũng chính là tế hạnh.
Trong cuộc sống, chúng sanh khó có thể hiểu thấu hành vi của một bậc Thánh nên nhiều khi chỉ phê bình theo tâm thiển cận của mình. Thực ra, có những điều chúng ta không thể nào hiểu nổi. Vì vậy, đừng bao giờ lấy tâm lượng, trí óc của mình để nhận xét về cách cư xử của các bậc Thánh. Một vị Thầy có trí tuệ thì từng việc làm, lời nói hay tiếng khóc, nụ cười … đều nằm trong sự kiểm soát của họ. Họ biết lúc đó mình phải làm gì. Điều này không đơn giản dễ hiểu nên chúng ta phải khiêm tốn, đừng vội vã phê bình, đánh giá. Đó là với những vị Thầy có trí tuệ. Đối với Thánh nhân, chúng ta càng phải cẩn thận hơn nữa trong đánh giá. Có những vị Thiền sư đắc đạo mà ngôn hạnh phát ra đến bây giờ cũng chưa ai giải thích được. Người ta kể rằng, có một vị Thiền sư đắc đạo, cuối đời ngồi kiết già tịch một cách đàng hoàng, tự tại nhưng trong suốt những năm tháng tu hành, ông chỉ ăn thịt, uống rượu. Thái độ và cách sống đó đến bây giờ chúng ta vẫn không giải thích được nhưng cũng không dám phê bình. Vì ông có Thiền định sâu sắc, Thiền ngữ đối đáp trôi chảy và với đệ tử, ông lại rất nghiêm khắc.
Chính vì vậy, khi muốn phê phán ai điều gì, chúng ta phải dè dặt, cẩn thận.

3. Mỗi đức hạnh có nhiều nhánh rẽ, nhiều mức độ và giao xen phối hợp với nhau:
Chúng ta biết rằng, mỗi đức hạnh có nhiều nhánh rẽ, nhiều mức độ và có những giao xen phối hợp với những đức hạnh khác. Và chính sự phức tạp này đã tạo thành oai nghi tế hạnh.
Ví dụ, lòng từ - lòng thuơng yêu chúng sinh có ba nhánh rẽ. Khi thương chúng sinh, chúng ta đau nỗi đau của họ, đó là bi. Thương yêu chúng sinh, chúng ta vui mừng truớc hạnh phúc của họ, đó là hỷ. Và thương yêu chúng sinh, chúng ta mới tha thứ được những lỗi lầm của họ, đó là xả. ( chữ “xả” này không có nghĩa là bỏ. “Xả” trong “tứ vô lượng tâm” có nghĩa là ‘tha thứ”). Lòng từ cũng có nhiều mức độ. Ở mức độ cạn, đó chỉ là tâm nguyện: “Con tâm nguyện xin thương yêu chúng sinh”. Vì là tâm nguyện nên khi gặp chuyện, chúng ta cũng có thể phản ứng gay gắt, chưa bộc lộ lòng thương yêu. Ở mức độ cao hơn, chúng ta ngồi quán hằng đêm trải lòng thương yêu chúng sinh. . Mức độ thứ ba là tâm được vào định. Trong định, chúng ta tu từ bi tam muội trải lòng thương yêu tất cả chúng sinh, dù ngã chấp vẫn còn. Và ở mức độ cuối cùng như chư Phật, A La Hán, ngã chấp biến mất, lòng từ trở thành tuyệt đối.
Lòng từ bi có thể phối hợp với các hạnh khác. Ví dụ, Từ bi phối hợp với hạnh chân thật sẽ thể hiện ở chỗ chúng ta đã nói thật như thế nào. Lúc nào chúng ta cũng nói thật vì thương yêu chúng sinh. Hoặc từ bi phối hợp với tâm bình đẳng sẽ thể hiện ở cách đối xử đúng mực với con người. Vì thương yêu chúng sinh mà chúng ta đối xử bình đẳng, không phân biệt giữa người giàu với người nghèo. Hoặc lòng từ bi phối hợp với vượt qua chính mình sẽ giúp chúng ta thương yêu mọi người, mong cho những người đến sau giỏi hơn mình, nói được những điều độc đáo hơn mình để Phật pháp ngày càng phát triển.
Như vậy, một tâm hạnh vừa có nhiều nhánh rẽ, vừa có nhiều mức độ, vừa phối hợp với những tâm hạnh đạo đức khác tạo nên vô số tế hạnh. Chúng ta có thể phối hợp giữa hiền lành và kiên định. Hiền lành thể hiện ở sự tùy thuận với người khác. Kiên định thể hiện ở việc giữ vững lập trường của mình. Do vậy, phối hợp hai tâm hạnh này, chúng ta sẽ tùy lúc mà ứng xử cho đúng. Có những lúc chúng ta phải hiền lành nhưng cũng có khi chúng ta phải kiên định. Đó là trí tuệ của tế hạnh.
Chúng ta có thể phối hợp giữa sâu sắc và buông xả. Sâu sắc là tinh tế, biết rõ người khác. Sống với người sâu sắc, chúng ta phải rất ý tứ trong việc làm, lời nói. Vì chỉ cần sơ ý một chút là họ biết chúng ta thuộc loại người nào: hời hợt, kỹ lưỡng, thông minh hay ngu dốt, tu được hay tu không được …Tuy nhiên, người sâu sắc thường biết mà tỏ ra không biết, đó là buông xả. Họ biết nhưng không cố chấp cái biết của mình, vẫn ưu ái, thương yêu mọi người. Nếu như các vị Thánh lúc nào cũng biết mà tỏ ra biết, chúng ta sẽ không bao giờ dám đến gần họ. Ở đây, biết mà như không biết, sâu sắc mà buông xả là xuất phát từ tâm từ bi, tâm thanh tịnh. Đó cũng là tế hạnh. Vì vậy, người chưa có tế hạnh, chưa kín đáo thường hay bộc lộ sự hiểu biết của mình trước mặt mọi người.
Hoặc chúng ta có thể phối hợp giữa nghiêm trang và hoan hỷ. Trong cuộc sống, nếu lúc nào cũng nghiêm trang thì sẽ tạo nên không khí nặng nề. Môt ngôi chùa quá nghiêm trang, trông có vẻ nặng nề thì Phật tử sẽ không dám đến. Nhưng nếu lúc nào cũng hoan hỷ, xuề xòa thì người ta lại coi thường. Khi đến cửa chùa, họ sẽ không biết tôn nghiêm, không biết sợ. Vì vậy, chúng ta phải kết hợp hài hòa giữa hai thái độ này.
Hoặc người tu phải khiêm hạ nhưng không hèn hạ, khúm núm. Đó cũng là biểu hiện của tế hạnh. Khi gặp người khác, chúng ta luôn tôn trọng họ nhưng tuyệt đối không khúm núm, không có thái độ của một kẻ cầu cạnh vì đó là thái độ của người mất tư cách. Người mất tư cách, hay cầu cạnh thường tỏ ra khúm núm trước người khác.

4. Thiền định và đạo đức không thể tách rời:
Chúng ta luôn nhớ rằng: Thiền định và Đạo đức là hai mặt không thể tách rời. Chúng ta tu dưỡng Đạo đức là làm cho Thiền định phát triển. Và khi Thiền định phát triển thì trí tuệ trong định sẽ làm cho Đạo đức trở nên hoàn thiện. Khởi điểm của Thiền là thanh lọc tâm cho thuần thiện. Sự cảnh giác về Đạo đức cũng là sự tỉnh giác kiểm soát tâm. Ngược lại, sự tỉnh giác kiểm soát tâm cũng sẽ tạo thành Đức hạnh.
Có người không hiểu điều này nên khi nghe nói đến tu tập Đạo đức đã phản đối : “Đạo đức là cái tương đối, còn Phật tánh là tuyệt đối”. Người lý luận như vậy là người không có kinh nghiệm tu hành vì bỏ Đạo đức thì không bao giờ có được Thiền định. Nếu người nào may mắn có được phước đời trước để được định hôm nay thì cái định ấy cũng sẽ nhanh chóng tan vỡ. Vì vậy, chúng ta tu tập Thiền định phải đi song song với Đạo đức. Suốt một đời tu hành, chúng ta phải huân tập Thiền định và Đạo đức mà không được thiên về bên nào.
Tất nhiên, Định mà chúng ta nói ở đây là Chánh Định – là cái Định làm phát triển Đạo đức. Nó hoàn toàn trái ngược với những loại định chỉ biết có mình. Trong Đạo đức có cuộc sống vị tha, sống vì người khác. Ngay trong thanh tịnh vắng vẻ, chúng ta ngồi thiền cũng vì cứu vớt chúng sinh đang trầm luân. Nếu có rút bớt thời giờ tu tập Thiền Định, chúng ta cũng vì chúng sinh. Hoặc những khi dành được nhiều thời gian tọa Thiền cũng là vì lợi ích của chúng sinh. Từng giờ, từng phút ngồi Thiền định trong yên lặng, trong vắng vẻ, trong cô đơn không ai biết, chúng ta cũng vì chúng sinh. Cho nên, Thiền định tức là Đạo đức. Nếu cứ nghĩ tu dưỡng Đạo đức để được điều này, điều nọ là chúng ta đã vị kỷ, đã đi sai con đường của đạo Phật. Hoặc khi tinh tấn ngồi Thiền với mục đích để đắc đạo, sáng đạo, chúng ta cũng đã vì mình, không phải vì chúng sinh, nghĩa là cũng là đi sai con đường của đạo.
Vì vậy, khi làm bất cứ điều gì, chúng ta cũng phải tâm niệm một điều là làm vì chúng sinh, vì Phật pháp. Dù có nhập thất, chúng ta vẫn nhớ nhập thất quyết liệt, tinh tấn cũng vì chúng sinh chứ không vì được điều gì vẻ vang cho bản thân mình. Một khi đã vì chúng sinh, nếu tu không được gì, chúng ta cũng không buồn phiền, vẫn kiên nhẫn làm đến cùng. Nhưng nếu tu vì mình mà không được gì, chúng ta sẽ buồn vô hạn, có khi thất vọng dẫn đến gãy đổ nửa chừng.
Như vậy, làm sao đánh giá được sự tiến bộ của Thiền định?
Muốn đánh giá được sự tiến bộ của Thiền định ở một người nào đó, chúng ta nên nhìn vào Đạo đức của họ. Kết quả tu tập Thiền định của một người được biểu hiện nơi sự đối xử với chúng sinh càng lúc càng Đạo đức hơn, tinh tế hơn. Nếu thấy người nào ngày càng phát triển về Đạo đức, tế hạnh càng lúc càng sâu, oai nghi càng lúc càng tế, chúng ta sẽ biết đó là người Thiền định tiến bộ. Ngược lại, nếu thấy người ngồi Thiền nhiều nhưng còn hời hợt trong ứng xử với mọi người, chúng ta biết người đó định chưa vững, có thể bị đổ vỡ.

5. Không bao giờ tự mãn với những đạo đức có được:
Điều cuối cùng chúng ta muốn nói ở đây là không bao giờ được tự mãn với những Đạo đức có được. Vì mỗi Đức hạnh có nhiều mức độ sâu cạn khác nhau. Ngày hôm nay chúng ta hiểu được mức độ này nhưng không có nghĩa là đã đạt được trọn vẹn hết Đức hạnh đó. Chúng ta phải hiểu rằng, từ Đạo đức đi đến hoàn thiện, đến tuyệt đối là một con đường rất xa, không phải ai cũng có thể đạt được. Vì vậy, chúng ta không bao giờ được tự mãn.
Ngược lại, chúng ta phải chiêm ngưỡng đời sống của những vị Thánh để học hỏi, bắt chước. Ngày nay, Đức Phật đã cách xa chúng ta nhưng qua những bài Kinh, những truyện cổ, truyện tích về những tế hạnh của Ngài, chúng ta phải nghiềm ngẫm, phải suy tư để những điều hay lẽ phải, những oai nghi tế hạnh ấy dần dần thấm vào tâm hồn chúng ta.
Tế hạnh có được là do Thiền định nên không dễ gì chúng ta đạt được. Do đó, khi học bài Tám muôn Tế Hạnh, chúng ta phải hiểu đây là bài học cho vô lượng kiếp về sau.

Viết xong mùa xuân năm 2004
Thích Chân Quang

Nguồn: Websiet Phật học www.thuvienhoasen.org


HẾT
Trời còn có bữa sao quên mọc
Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»