Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

tiểu thuyết vô đề - dương thu Hương

16 trả lời, 2.071 lượt xem — Trang 1 / 1
MS vừa scan và chuyển text tiểu thuyết nói trên của nhà văn DTH ! đây là một cuốn tiểu thuyết đã gây xôn xao dư luận một thời ! rất đáng xem !

Bạn nào có thể giúp mình sử chính tả và hiệu đính tác phẩm này thì đăng ký nhé ! nếu không thì ms sẽ từ từ sửa một mình vậy ! vì bản text này có độ khoảng 5% lỗi chính tả !


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Thân chào MS,

Nếu không ngại huynh làm chậm thì sẽ giúp MS một tay .

MS để bản text thô ở đây, huynh rảnh thì sẽ vào sửa giúp .

Vậy đi nhé . Chúc vui . [:)]
Thân ái,
TSAH




Tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhất .
Đăng nhập để trả lời
0
suốt đêm tôi nghe gió hú ngoài vực CÔ hồn.
Tiếng rên rỉ triền miên, tiếng nức nở, đôi lúc tiếng rít
hỗn hào như ngựa cái hý ngày động cỡn. Mái lán rung bần
bật, những ống tre nứt thổi sáo từng hồi, tấu lên giai điệu
thê lương của đám tang vùng thôn dã. Cây đèn chai của
chúng tôi phập phù như muốn tắt. Tôi thò cổ khỏi chăn,
thổi tắt ngọn lửa, mong bóng đêm sẽ bịt hết mọi giác quan.
- . cành cạch... cành cạch... cành cạch...
Một cành khô đập hoài vào vách liếp... Tôi vẫn không
ngủ được. Tiếng gió bên ngoài cuồng dại như tiếng vật vã
của ác thú!
"Chị em ơi...
Tôi lắm nhẩm khấn:
Chị em sống khôn chết thiêng, xin đừng ám ảnh
chúng tôi. Xin các hồn ma phù hộ cho chúng tôi cứng cáp
chân tay, sáng láng đầu óc, đánh đâu được đó... Bao giờ
thắng trận, đất nước an bình, chúng tôi nguyện sẽ rước chị
em về quê cha đất tổ..."
Khấn xong, tôi trùm chăn kín đầu, cố quên tiếng gió.
Nhưng gió vẫn luồn qua tấm chăn, đuổi theo... vực CÔ hồn.
Cách đây nứa tháng, chúng tôi đã chôn sáu cô gái!
Buổi sáng ấy, tôi cùng tiểu đội của Lành đi kiếm măng.
Khoảng non trưa, cả bọn mò tới vực CÔ hồn. Chợt thấy từng
đàn diều hâu chấp chới, con bay lên, con bổ xuống, kêu náo
loạn. Lành dừng lại, nhinh mũi đánh hơi:
- CÓ con vật não chết gần đây. Thối quá!...
Thối thật! Mùi thối mỗi lúc mỗi nồng nặc hơn. Chúng
tôi định bỏ đi nhưng chính Lành cản lại:
Biết đâu chẳng phải là xác người? Mà nhỡ là người
bên...
Tôi bảo:
ờ, thử xem sao...
Chúng tôi hướng vào góc rừng đã tỏa ra mùi thối
khủng khiếp mà đi. Tới vực CÔ hồn, gặp sáu cái xác truồng. .
Xác đàn bà. Vú và cửa mình bi xẻo, ném vung vãi khắp đám
cỏ xung quanh.
Nhờ những tấm khăn dù, nhờ những chiếc cổ áo sơ mi
kiểu lá sen tròn và hai ve nhọn mà chúng tôi nhận ra đấy là
những người con gái miền Bắc. CÓ lẽ họ thuộc một binh
trạm hoặc một đơn vị thanh niên xung phong cơ động nào
đó bị lạc. Cũng có thể họ đi kiếm măng hoặc rau rừng như
chúng tôi rồi vấp bọn thám báo.
Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết! Những cái
xác bầm đập méo mó! Da thịt con gái nõn nà tươi thắm vậy
mà khi chết cũng thối rữa y như da thịt một lão già phung lỡ
hay một con cóc chết!
Đám dòi lúc nhúc trong các vết thương, trong các hốc
mắt, hốc miệng. Những con dòi trắng nhở, béo tròn. Chúng
tít trên các tử thi, ngoi lội, trồi lên trụt xuống, vẻ viên mãn
của loài dòi bọ.
Một cậu lính nhăn mũi:
- Tiên sư loài dòi bọ, không Ơû đâu không có chúng...
Tôi bảo anh em:
- Đào huyệt đi.
Lũ diều hâu lượn vòng trên đầu chúng tôi kêu la như là
ăn cướp. Trời nóng, không gian tù đọng quấn đầy mùi tử thi.
MỒ hôi chảy ròng ròng trên mặt lính.
Đào huyệt xong, chúng tôi nhặt nhạnh xác chết, giành
giật với lũ diều hâu và bọn dòi từng mảnh thịt rữa của các cô
gái xấu số, cho tất cả vào tăng. Túi áo các cô không có giấy
tờ chỉ có mấy sợi len xanh đỏ và vài miếng cau khô. Chắc
len để buộc tóc và cau để đánh răng. Các cô vẫn nuôi hy
vọng ngày nào đó được cười với chàng trai của mình...
Khoảng đất Ơû vực hẹp nên chúng tôi chôn sáu ngôi mộ
thành vòng tròn. Chôn cất xong, quay lại đám cỏ vẫn thấy
vón thành cục. Lành vơ một ôm lá khô ném vào rồi châm
lửa đốt. Dòi nổ lép bép... lép bép.. Chúng tôi đứng quây
đống lửa, nhễ nhại mồ hôi, người nào người nấy rã rời.
Ném lại những gùi măng, chúng tôi trở về. Không rau,
không măng, cơm độn sắn khô với muối vằm sả ớt... Đời
lính mà! Tất cả sẽ qua... Vậy mà những ám ảnh không chiu
qua.
- Anh Quân ơi, anh Quân...
Tiếng Lũy gọi rền rĩ. ~
Tôi nằm im không đáp. Lũy gọi nữa: ( ~ ~
Anh Quân ơi... Anh đã ngủ đấy à?... ~ ' .. . ~ .~
Tôi im lặng, vờ ngủ... Một lúc sau, tôi ngủ thật. Giấc
ngủ như con tàu chạy vật vờ, trật trưỡng trên đường rầy,
luôn luôn đe dọa trượt bánh đổ. Con tàu không hành khách,
chở những giấc mộng thời hoa niên. Trong các toa tàu trống
rỗng, rơi rải rác những tờ giấy lem nhem mực tím, những
mảnh khăn quàng đỏ, dăm viên phấn gãy, một mẩu bút chì...
Con tàu lừng lững chạy như kẻ lữ hành câm điếc. Hai
bên là đồng hoang trơ trọi. Tôi muốn gọi người lái tàu, tôi
muốn kêu to, tôi muốn kéo phanh hãm... Nhưng tôi câm, tôi
trong suốt, vô ảnh, vô hình. Gương mặt tôi tan biến giữa
không gian, gió nuốt mất tiếng nói...
Anh Quân, anh Quân...
Cú đập mạnh khiến tôi bật dậy từ đáy nước. Gương
mặt tôi vỡ tan nghìn mảnh tử những gợn sóng lăn tăn xô dạt
về, đọng dần từng giây khắc. Tôi mừng rỡ nhìn gương mặt
của mình hiện lên.
- Anh Quân... anh Quân... dậy đi anh...
Cánh tay tôi tê bại. Tói cố cử động để kéo mép chăn
lên:
Gì thế mày?
- Dậy mau anh, em thấy một con dộ ộc (*) to lắm.
Tôi cuốn chăn, nằm im. Tôi đã tỉnh hoàn toàn, không
còn tê dại vì thấy mình tan biến dưới đáy nước. Nhưng tôi
muốn tận hưởng cảm giác êm ái giữa chăn ấm, để thấy rõ
ràng tôi vẫn là tôi, yên ổn, đầy đủ xương thịt, ba mươi hai
chiếc răng trong miệng, chân đi tất thum thủm mồ hôi, và
giữ nguyên thắt lưng khi ngủ...
- Dậy đi anh... Còn khối thời gian ngủ. Con dô ộc to
lắm. BỎ rẻ cũng mười lăm ký lô... Dậy mau anh...
Tôi nằm im.
Lũy nằn nì:
- Dậy đi anh... Lâu lắm không có chất tươi. Bước đi
run cả đầu gối.
Tôi vẫn nằm im.
Lũy thúc hối:
- Đi đi anh... Cả đơn vị sẽ được bữa no nê.
Tôi tung chăn:
- Sao măy không đi đi?
Lũy nhăn nhó:
- Một mình... rợn lắm... Anh đi với em. Em bắn. Em
bắn chỉ có tử trúng trở lên thôi.
Tôi ngồi dậy:
- Thằng khỉ, làm gì mà mò dậy sớm thế
Lũy đáp:
- Đói Bụng em réo ào ào... Nào, ông anh xỏ chân
vào Mau mau kẻo con dô ộc biến mất thì toi công.
Tôi khoác dây giầy, khoác áo, theo Lũy ra đi.
Rừng mờ sương. Những đám cỏ ướt quệt vào tai lạnh
buốt. Cây cối ken thành bức màn âm u rung động bởi tiếng
vượn kêu bầy xa tít.
( ) Dô ộc là một loài khí.
Tôi hỏi Lũy:
- Tối thế này sao măy thấy được dô ộc với khỉ?
Lũy cười:
Thủ trưởng không nhớ rằng mắt em tinh nhất đơn vi
hay sao?... Cái đận mình bắn hai con nai bên núi BỒ cào ấy...
Với cái đận săn sơn dương trên núi Khế, chẳng em thì' ai
điểm hỏa?
Tôi ậm ừ:
Ơ Ơø Ơø
Lũy nói:
Thủ trưởng chóng quên thế... Chính là hồi Ơû núi
Khế, Thủ trưởng đã tập ăn thịt dộ ộc lần đầu...
A... ạ... à...
Tôi vô tình thốt tiếng kêu. Tôi không quên nhưng tôi
chẳng muốn nhớ tới điều đó.
Lũy không chiu buông tha tôi. NÓ nheo mắt cười nụ
cười đồng lõa: '
- Thủ trưởng chiu em nhớ dai không?
Tôi im lặng cúi xuống móc một con vắt trong cổ giầy.
Dù trời chưa sáng rõ, vẫn thấy vết máu dây trên tay. Mùi
máu tỏa trong hơi sương lạnh, vừa tanh vừa ngát như lẫn
thuốc mê của người vùng núi.
Lũy bước dấn lên:
- Đoạn này đường hẹp, để em đi trước... Anh em mình
cố lên, thế nào trưa nay cũng có một nồi cháo to... Rồi Lũy
quay lưng, rảo bước. '
Tôi hình dung nồi cháo sôi sùng sực Ơû chân núi Khế.
Đám lính khua hăng-gô thìa bát ngồi vây quanh. Những đôi
mắt hau háu nhìn làn khói bốc lên. Thỉnh thoảng bếp
trưởng lấy chiếc muôi gỗ khoắng lên một chất nước trắng
sóng sánh lẫn những hạt gạo nở to... Và những... bàn tay bàn
chân dộ ộc trông hệt như bàn tày bàn chân đứa trẻ lên hai.
- Tuyệt... tuyệt...
Mươi phút nữa là được... ngon hơn cháo yến ngày
xưa đấy nhé...
Đám lính xuýt xoa...
Tôi nhìn những bàn tay bàn chân bé xíu của tổ tiên loài
người nhào lộn trong nồi cháo, kinh hãi...
Ngày xưa, khi đi chợ phiên vùng núi phía Bắc, tôi đã
từng kinh hãi nhìn những chảo thắng-cố vĩ đại sôi sùng sục
trên ba lảng đá đen. Một ngọn lứa vàng rực ôm quanh
miệng chảo, - chụm bởi những khúc củi lớn như cây cột
nhà, - reo phần phật.
Trong chảo, nước nổi váng bọt ngầu, lồng cồng từng bộ
xương bò xương trâu lẫn những chùm gan, lá sách, lá lách,
cả móng trâu, móng bò, móng ngựa.
Người bán thắng-cố bận quần áo đen nhờn mỡ, mắt
xếch, đầu trọc, dùng một cây tre đực vót nhọn xuyên từng
tảng thịt lớn trong chảo đặt lên miếng ván gỗ, thái thịt bằng
con dao phảng - thứ dao cớ thể chém đứt phăng cái cổ lực
lưỡng nhất theo luật xứ An nam xưa.
Dạo ấy tôi đã ngắm nhìn chảo thắng-cố với nỗi hãi
hùng và sự khâm phục lén lút, bởi vì tôi được nuôi dưỡng
trong nền văn minh nghèo đói của sông Hồng, - nơi người
ta chỉ được ăn thịt trong những ngày giỗ, ngày Tết, hưởng
một chút khoái lạc nương nhờ sự hiện diện của các hồn ma,
học thói bày thịt điêu toa, thái miếng thit càng mỏng càng
được khen là tài, bày thit càng lừa được mắt thế gian càng
được khen là khôn.
Do những lẽ đó, tói thấy món thắng-cố như thú thực
phẩm của những kẻ khổng lồ từ trong rừng đi ra, một thứ
thức ăn man rợ và hùng tráng, gợi đến những hắc điếm nổi
tiếng, các tay lục lâm thảo khấu thích nghe đàn tì bà và có
tâm hồn cao thượng...
Nhưng... thắng-cố là một nỗi kinh hãi.
Cháo dộ ộc lại là nỗi kinh hãi khác.
Dộ ộc là loài khỉ lớn, giống người hơn cả trong mọi loài
khỉ. NÓ ít đi thành bầy đông đảo như khỉ lửa, khỉ đen, - có
thể nặng từ mười tới mười lăm ki-lô, thịt ngon ngọt một
cách lý tưởng đối với dạ dày lính.
Nhưng loài thú này có ánh mắt hệt như ánh mắt người.
Cái nhìn của nó cũng tươi cười lấp lánh, cũng thù hận, cũng
đớn đau ai oán... Và nhất là hai bàn tay, hai bàn chân nhẵn
nhụi, trắng trẻo hệt như hai bàn tay bàn chân đứa trẻ lên
hai.
Đơn vị tôi có nhiều tay súng khá. Chúng tôi thường tổ
chức săn trong những dịp rảnh rỗi. Thịt nai, thịt gấu, thit
chồn hương, gà gô... chẳng thiếu thứ gì. Nhưng cũng có
những nơi bom đạn đã xua đuổi mọi loài. Bếp đơn vị, hàng
tháng ròng không có mùi thit thú.
Dạo Ơû núi Khế, chúng tôi hạ được hai con sơn dương.
Sau đó, bao nhiêu tay súng tài ba cũng chịu. Tám tuần liền,
cơm chỉ muối trộn ớt và môn thục nấu canh suông. Bọn lính
bèn săn khỉ.
Ngay hôm đầu tiên, chúng đã hạ được một con dộ ộc.
Lần ấy, có năm thằng tổ săn cùng hai cậu bếp dám ăn
món cháo. Nhưng lần thứ hai, con số gấp đôi. Lần thứ ba,
nửa đại đội. Lần thứ tư, toàn thể đơn vi, trừ một mình tôi...
Lúc ấy, cả bọn đổ đi săn dộ ộc.
Chúng không chỉ nấu cháo mà còn bày ra món nhúng,
món gỏi... Tất cả xúm vào gạ gẫm:
- Thủ trưởng không biết chứ đã ăn thịt dộ ộc rồi thì
hươu nai gà vịt đều nhạt như nước ốc. Loài dộ ộc sắp thành
người, thịt mới ngọt như vậy...
- Đừng tưởng tượng, thủ trưởng ơi... Nay mai hành
quân, đầu gối long ra là hỏng chuyện. Cứ coi nó như miếng
lòng lợn là xong...
Thủ trưởng ơi, thử một lần xem sao. Một bát cháo
dộ ộc bổ hơn một lạng cao khỉ đấy...
Trong tập thể, người di biệt giống như cái đinh chòi ra.
Ai cũng muốn bẻ cái đinh ấy đi, dù kẻ mạnh hay thằng hèn,
dù kẻ háo thắng hay thằng nhẫn nhịn... Tôi biết mọi người
muốn tôi khuất phục, ít nhất là để chứng tỏ sức mạnh của số
đông...
Chiều đó Lũy hạ được con dộ ộc nặng gần hai yến. TỔ
nấu bếp lọc thịt làm món nộm với các loại lá thơm rừng và
sả ớt Còn xương đem nấu cháo. Tối đến, trời rất lạnh. Hơi
cháo thơm bốc trắng xóa. Lính ngồi chầu hầu xung quanh,
mắt sáng rực. Tếu, cậu binh nhì quê Tiền hải, kéo áo tôi:
- Xê trưởng ăn với chúng em bát cháo nhá?...
Tôi lắc đầu:
- Không.
Tếu nằn nì:
- Xê trưởng thấy đấy, cháo độc thơm hơn thịt nai.
Tôi bảo:
Tao không thích.
Tếu lắc đầu:
Không phải không thích. Chỉ vì Xê trưởng sợ... Đúng
không?
Tếu lấy muôi khoắng, vớt lên bàn tay con khỉ:
- NÓ hệt như bàn tay trẻ con mà... Xê trưởng hốt...
Nhưng em bảo đảm, thử một lần, lần sau sẽ nghiện...
Đám linh xung quanh reo hò:
Thủ trưởng can đảm lên... Thử đi... thứ đi...
- Anh em ơi, lần này không tha cho Thủ trưởng...
Quyết bắt Thủ trưởng ăn cháo dộ ộc với chúng ta...
Mặt tôi nóng bửng. Tôi nhón bàn tay con dộ ộc trong
chiếc muôi gỗ, bỏ vào miệng nhằn lấy nhằn để, rồi phun ra
một nắm xương.
- Hoan hô... hoan hô... CÓ thếch...
- Thủ trưởng muôn năm...
Bọn lính reo hò, gõ bát, gõ hăng-gô ầm ĩ. Gáy và lưng
tôi nóng rực. Tôi ném cho bọn chúng một cái nhìn ngạo
nghễ rồi bước ra khỏi hang. Đêm đen. Tôi mò mẫm xuống
suối vốc nước súc miệng, cố móc cho cái bàn tay độc vọt
ra. Nhưng món ăn bổ béo ấy đã trôi qua cổ họng tôi, không
có phép thánh nào làm nớ nhảy ra được. Cảm giác tanh lợm
làm tôi ghê sợ. Tôi hối hả châm thuốc hút. Đốm lửa đỏ rực
trong đêm. Tim tôi ấm dần lên. Làn khói vương vấn trên
mặt tôi, ve vuốt. Trí não tôi cũng ấm dần lên...
Ngày tôi năm tuổi, có một ngọn đồi xa thẳm.
Ngọn đồi xanh với những vòm mít vòm nhãn trùm lên
nóc chùa rêu mốc. Nửa mái tam quan đổ nát nhô lên khỏi
lùm cây.
Một chiều nào đấy, nắng ấm bò quanh những luống sắn
nghiêng ngả dưới chân đồi.
Mẹ tôi dẫn tôi leo lên con dốc sỏi dẫn đến chùa. Bụng
mẹ to gần bằng chiếc thúng trồi lên dưới hai vạt áo nhuộm
vỏ dà. Vừa đi mẹ vừa ôm bụng nhăn nhó. Mặt mẹ tái nhợt,
mồ hôi vã đầy hai thái dương.
Con nhớ túm chặt miệng túi kẻo rơi hết áo quần, tã
lót
Mẹ bảo.
- Vâng ông ông...
Tôi cố hét to để trấn áp cơn sợ hãi. Tôi chưa thấy mẹ
như thế bao giờ. Mẹ tôi xinh đẹp, tươi thắm, cười lanh lảnh
như chuông, đu đưa tôi trên võng tay, bế bồng tôi lên trời...
Mẹ tôi như đòng nước trong veo chảy vào chum, qua chiếc
mo cau trắng nõn. Mẹ yêu tôi. Tôi yêu mẹ. Chúng tôi yêu
nhau. Khi tôi ôm cổ mẹ, không còn gì làm tôi sợ hãi, dù là
tiếng súng, tiếng tù và, tiếng rú hay bóng ma...
Vậy mà lúc ấy mẹ có bộ mặt trắng nhợt của kẻ chết
trôi. Bụng mẹ kềnh càng giống bụng cóc, trông kỳ di, xấu xí.
Mẹ đi lom khom như bà còng. Tôi chạy theo mẹ, mặt nhễ
nhại mồ hôi...
Quân uấn uấn... mau lên...
Bất chợt mẹ thét lên làm tôi ríu cả chân. Mẹ tôi chống
tay vào hông, ngửa bộ mặt ướt đẫm lên trời:
- ối giời ơi i i...
Những giọt mồ hôi của mẹ lăn dài trên cổ. Cha tôi đã
lên an toàn khu, một mình bơ vơ nơi quê chồng, mẹ tôi
đành lên chùa nhờ một sư nữ vốn là bà mụ-vườn và có họ
hàng xa giúp đỡ. ông bà nội tôi đã mất, ông bà ngoại Ơû tít xa
nơi chân trời - nơi những lượn lúa vàng nhòa đi trong khói
súng, tiếng đạn bắn qua bắn lại giữa bọn tề với Việt minh
thi thoảng lại vang rền.
Tôi biết nhưng điều ấy nhờ những ngày m~ tôi nghỉ đi
chợ, chờ sinh nở.
Những ngày ấy, mẹ thường ôm tôi vào lòng, thủ thỉ, ve
vuốt, cái bụng nhọn và ấm của mẹ chạm vào tôi. Nếu tôi tò
mò đặt bàn tay lên, tôi thấy vật gì đó trồi lên, trụt xuống. Mẹ
tôi cười:
- Em con đấy... NÓ đạp khiếp không?... Đấy, nó lại đạp
nữa rồi. Chắc chắn sau này nó sẽ nghịch hơn con. Hồi ở
trong bụng mẹ, con không đạp liên hồi như thế...
Tôi không hiểu lời mẹ nói. Nhưng tôi cảm nhận lờ mờ
rằng trong cái bụng tròn và ấm của mẹ có một sinh vật gần
gũi với tôi...
Quân uấn uấn... khéo không rơi túi quần áo...
Vâng âng âng...
Bỗng nhiên mẹ tôi phủ phục giữa đường, kêu rống lên:
Giời ơi i i... Tôi chết... tôi chết mất...
Mặt mẹ vục xuống cát. Tôi ôm cái hông to bè của mẹ,
mếu máo:
Mẹ ơi...
MỒ hôi mẹ tháo chảy ướt đầm lưng áo. Tóc bết quanh
cổ, mẹ tôi đưa tay cào dứt những búi cỏ bên đường. Tôi
đứng trơ trọi, run rẩy:
- Mẹ ơi i i...
Mẹ tôi lại gào:
- Chết mất... Tôi chết mất thôi...
Tôi ôm tấm lưng ướt đẫm. Rồi... không hiểu thần linh
nào xui khiến, tôi bỗng cất tiếng nói diu dàng:
Mẹ ơi, con lạy mẹ... Mẹ đừng chết. Mẹ sống nuôi
con...
Mẹ tôi từ từ ngẩng đầu lên, ánh sửng sốt lướt qua khóe
mắt, làn môi thoáng cong lên như chạm tới một nụ cười:
Con trai của mẹ...
Mẹ thì thầm. Một nụ cười nở trên gương mặt méo
xệch. Rồi, mẹ cúi mật, cắm cúi bờ lên phía trước. Tôi xốc túi
quần áo, chạy theo...
Tôi không còn nhớ mẹ con tôi đã leo qua cổng tam
quan bằng cách nào. Mấy bậc đá vừa cao vừa trơn như bôi
mỡ.
Sư nữ đưa chúng tôi ra căn nhà hoang tít sau vườn, nơi
các bụi cỏ leo mọc trùm lên các bậc đá và bụi kết từng đám
trong phòng, trên các gờ cửa, trên bàn thờ gỗ, ngay cả
những tấm mạng nhện khổng lồ như mạng nhện của loài
yêu quái trong chuyện cổ cũng xám xịt vì bụi.
Mẹ tôi nằm trên cái nong cũ trải lá chuối và vải thưa.
Giữa hai đùi mẹ, dòng máu thắm vọt ra, thắm đỏ như huyết
con trâu bị chọc tiết ngày lé... Cuối cùng là tiếng khóc oe oe
và những bàn tay bàn chân đỏ hỏn quờ quạng giữa không
trung.
- Mẹ mày đẻ em trai rồi... Sao không ra mừng mà đứng
run như giẻ thế kia?
Giọng một người đàn bà quát vào tai tôi.
Và tiếng của một người đàn bà khác:
- MÔ Phật, thằng bé dễ yêu quá, đừng làm nó sợ... Này
cu Tý... lại đây xem em trai...
Bà chĩa trước mật tôi một sinh vật đỏ hỏn. Tôi sợ cái
mặt cau cớ như mặt cụ giã, mấy nếp nhăn trên vầng trán ướt
nhoẹt, vài sợi tóc lưa thưa... Hai băn chân nó quẫy đạp vào
mũi tôi. Lúc ấy mẹ tôi quay lại:
Con trai mẹ, em đấy mà...
Nắng chiều hắt ngoài vườn vào mắt mẹ. ánh mắt êm
đềm. Giọng nói mẹ trớ lại lảnh lót như xưa. Tôi trút đi được
cơn sợ hãi. Túm lấy bàn chân đỏ hỏn của cái sinh vật xa lạ ấy
tôi cọ vào má:
Em em em...
Nhà sư và bà phụ đỡ cùng cười. Mẹ tôi cũng cười, răng
trắng ánh lên như ngọc. Tôi yêu nụ cười của mẹ. Tôi sung
sướng reo:
- Em ơi i i...
Em tôi khóc oe oe. Tôi buông chân nó ra để các bà mụ
đem đi tắm. Trong chiếc chậu sành, nó khóc kịch liệt, đạp
kịch liệt khiến nước bắn tóe ra xung quanh...
Điếu thuốc đã tàn một nửa. Bên kia đốm lứa đỏ là bóng
cây chập chùng. Một con thằn lằn trượt qua, ánh lên vệt lân
tinh. Tôi lại thấy buồn nôn. Tôi muốn móc cái bàn tay con
dộ ộc ra. Tôi rít mạnh hơi thuốc, tự nhủ:
- Chẳng có gì liên quan, chẳng có gì...
Nhưng bàn chân nhỏ xíu của đứa em trai ngày sơ sinh
vẫn quẫy đạp trước mắt tôi. Một váng mây trong suất phập
phồng giữa không gian. Tôi rít nốt hơi thuốc rồi ném mẩu
chót xuống suối, cổ họng đắng ngắt. CÓ cái gì đó đã rớt lại
phía bên kia... rớt lại phía bên kia đường chân trời...
Anh nghĩ gì thế
Lũy hắng giọng rồi huých vào sườn tôi.
- Chẳng nghĩ gì cả.
- Thế thì anh nói chuyện đi. Hai anh em cú lùi lùi như
gấu mò... ghê bỏ mẹ...
Tại sao mày không gọi tao là anh, có dễ nghe không?
Được một lát lại thủ trưởng... xê trưởng...
Lũy cười khì khì:
- Lúc nào em muốn ninh anh thì tự nhiên cái lưỡi nó
phun ra hai từ thủ trưởng...
- Ra thế... thủ trưởng, xê trưởng... Khều được tao chui
khỏi chăn, khoác súng vào rừng lã tử thủ trưởng biến thành
thủ viên?... ĐỒ đểu...
- Anh đừng giận, em có lừa anh cũng chỉ lừa được
những cái tí ti, bõ bèn gì?... Cẩn thận... đoạn này em nghi
còn mìn lá...
Trời đã rạng. Lũy vượt lên đi trước. Hai cánh vai ngang
bè giương ra như gọng xương con dơi. Lưng Lũy gù gù, nó
cao tới một thước bảy mươi lăm. Cơ thể nó đòi chất sống.
Lâu nay chúng tôi chỉ ăn mắm tôm khô với rau rừng, rêu đá
nấu suông. Da thằng bé nhợt đi. Bữa nào nó cũng ngồi nhặt
từng hột cơm rơi bỏ vào miệng. Miếng cháy quá lửa đen như
nhọ chảo nó cũng không tử.
ước gì được một bữa no. Một chõ xôi trắng với nửa
cái chân giò luộc... hay một rá bún chấm mắm tôm chanh.
Anh Quân ơi, cho em xem cái hộp đường...
Tối nào Lũy cũng nhắc lại cái điệp khúc ấy. Tôi bực
mình:
Đàn ông gì thứ mày?... Cái hộp đường vét nhẵn hôm
nọ rồi còn gì?
Chưa, chưa đâu... Hôm nọ em mới vét sơ sơ...
Thế thì ra ba-lô mà lục...
Lũy moi hộp đường của tôi ra, lúc đầu dùng thìa, sau
dùng lưỡi vét. Cuối cùng, nó đổ nước suối, lắc òng ọc lên rồi
ngửa cổ uống cạn... Qua buổi tối hôm đó, Lũy không còn
biết hành hạ thứ gì cho đỡ đói. Những giấc mơ thực phẩm
càng làm nó khốn khổ.
Ơû nhà, Lũy được chiều. NÓ là con một. Mẹ vừa làm
ruộng vừa buôn vặt nên rủng rỉnh tiền. Mỗi bữa Lũy ăn tám
chín bát cơm.
- Cẩn thận anh Quân, xuống vực đấy...
Chúng tôi bám những chùm rễ cây, lần từng bước
xuống vực. Vực này rộng và nông hơn vực CÔ hồn. Quanh
các thân cây già, quấn quít loài dây leo màu tím nhợt, hoa to
như hoa loa kền xanh lơ điểm chấm đen. Giữa các ống hoa
phủ đầy phấn, vươn lên những chiếc vòi mềm mại và hiểm
ác như vời bạch tuộc, gần như không màu sắc, lấm tấm
những giọt mỡ nhớt nhát vàng, mùi hương bầm dập như hoa
bào tây lẫn với mùi tanh của máu.
- Đây rồi. Anh chờ em.
Lũy xăm xắn chạy lui chạy tới kiếm cho tôi một khúc gỗ
mục làm ghế ngồi:
- Thế nhé. Anh cứ việc vuốt râu mà ngắm cảnh. Mọi
việc để em. Con dộ ộc này không thể thoát khỏi đây. Em đã
để ý kỹ. NÓ cứ luẩn quẩn trong đám cây dưới khe. Chắc nó
đói
Tôi ngồi, co vai cho ấm. ánh lê-minh len lỏi qua lớp
sương rắc từng vệt sáng màu bạc lạnh. Tử vực có một khe
nước nhỏ dẫn tới hang đá, lô nhô những thân cây khắc
khoải, cành thưa và đen, xù xì những u, như bướu của kẻ tật
nguyền.
Không lẽ loài dộ ộc kiếm ăn Ơû đây?
Cây khắc khoải có trái nhỏ và bùi, vừa tựa như trái
trám lại vừa tựa như trái đậu-keo. Nhưng thứ trái cây này
hiếm dẫu rằng hoa nở tràn lan vào mùa thu, hết đợt này qua
đợt kia, dùng dằng cho tới cuối đông chưa dứt và những
cánh hoa li ti màu khói rơi thành lớp dày trên mặt đất bốc
lên một mùi thơm nôn nao quằn quại.
Chưa ai tìm được ba trái cây khắc khoải. Người leo giỏi
nhất cũng chỉ hái được hai trái.
Ai cũng muốn nếm một lần, không phải vì hương vi
ngon ngọt bổ béo mà vì tò mò. Loài trái cây này ăn ngon
nhưng ăn xong, tim đập lúc nhanh lúc chậm, óc não vấn
vương những giấc mơ thần bí và con người bỗng thấy sự bất
tường trước đời sống, nảy nở ra mối khoái cảm lạ kỳ là: thắc
thỏm đợi chờ cái chết... Không có lẽ loài khỉ rừng kia cũng
muốn tìm cảm giác bất tường, cũng muốn được phập phồng
chờ đợi tử thần...
Lũy bỗng đứng lên một mỏm đá, giơ tay ra hiệu cho
tôi Theo hướng tay Lũy chỉ, tôi nhìn thấy một bóng đen lẩn
khuất trong đám cành cây khắc khoải. Giữa sương mờ, nó
giống hình dáng của một con gấu ngựa mới trưởng thành,
lần đầu đi ăn trộm mật ong.
Lũy ra hiệu tôi ngồi im, xách súng lom khom chạy về
phía trước. Một giải sương trắng đục che khuất. Tôi không
trông thấy Lũy, tôi khoanh tay, chờ đợi. Cái bóng trên cây
khắc khoải đang di chuyển. NÓ chuyền sang một cây khác và
trèo ngược lên.
Đoàng.
súng nổ. Một tiếng kêu đập vào các vách núi vọng tới
khiến tôi rợn gai ốc. Tôi đứng vọt dậy như bị ai quất: Tiếng
kêu ấy không giống tiếng kêu loài thú, cho dù loài thú ấy đã
được liệt vào hạng tiền sử của loài người. Và những hồi âm
tử các vách đá gần xa ném lại, nhân lên bởi các khe lũng, bồi
tiếp những âm hưởng dài và sắc như vết thương khứa bởi
một mảnh nứa cật.
Lũy quay đầu, xách súng chạy bổ lại phía tôi. Mặt nó
tím xanh:
- Anh Quân... anh Quân...
Tôi không dám nhìn vào cặp mắt láo liên của nó.
Chính tôi cũng run lên.
- Làm sao thế?
- Em không biết... Tiếng con dộ ộc kêu y như tiếng
người... Anh Quân, em sợ... Anh đi với em...
Lũy tụt lại phía sau, mũi súng chúc xuống. Chúng tôi đi
dọc theo lòng khe, về đám cây khắc khoải. Những viên sỏi
trượt dưới đế giầy làm tôi lao chao muốn ngã, - mỗi lần
như thế, mồ hôi rin ra thấm đẫm lưng.
Sương vắn quẩn giữa đám lá cành trên đầu chúng tôi,
mát như thạch. Chân tôi vướng vào một bụi gai. Đột nhiên,
phía sau bụi gai bật lên tiếng rên:
- Thủ trưởng... ương...
Lũy bóp chặt cánh tay tôi. Chúng tôi lao về phía bụi
gai. Phía sau đám cây rùm ra, phơi ra hai chiếc cẳng chân
gầy quắt queo, giầy đã rách, bên có tất, bên không. Tim tôi
đập lồng lộn, tôi kéo Lũy chạy tới, thấy người bị thương
đang ôm bụng, mảnh dù pháo sáng kẹp Ơû nách nhuộm đẫm
máu tươi. Máu thấm đẫm cả phần bụng dưới, một bên túi và
cửa gài khuy quần. Tôi nhận ra Phiến, cậu lính nhút nhát
nhất đơn vi. phiến thấy chúng tôi ngồi xuống thì cố nghển
cổ lên:
Anh Lũy... bắn ăn ăn... nhầm em rồi... ì...ì...
Cậu ta cố mỉm cười, chiếc răng khểnh chìa khỏi vành
môi, nhưng hai mép run giật đau đớn. Phiến nhìn tôi, thều
thào:
Thủ trưởng ương... đừng... đừng kỷ luật em... Em trót
ót trót đi... kiếm iếm... dù cho ...o...
Phiến nấc lên giữa chừng câu nói, cổ ngoẹo sang một
bên, mềm cật... Tôi đặt tay lên ngực trái Phiến, không thấy
động tĩnh gì. Tôi nhổ một sợi tóc đặt trước lỗ mũi cậu ta.
Sợi tóc im phăng phắc. Lũy rú lên, vùi mặt xuống ngực
Phiến khóc rưng rức. Tấm thân to lớn kềnh càng của nó
rung bần bật.
- Giời ơi, giời ơi... giời ơi...
Mắt Phiến vẫn mở, không còn ánh lên nỗi vui mừng
hay buồn khổ. Trước đấy một phút, khi nói lời cuối cùng, nó
còn dán vào mặt tôi, nhịn nhục sợ hãi:
- Thủ trưởng đừng kỷ luật em... em... em...
Cậu lính này đã lẻn dạy sớm, đi kiếm dù pháo sáng. Nớ
kiếm dù cho ai nhỉ?... NÓ đã lẻn đi như thế này bao nhiêu
hôm rồi? Tại sao tôi không biết?... Trong cuốn sổ danh bạ
của viên chỉ huy hạng bét hiện lên dòng chữ:
Nguyễn vôn Phiên. Tuổi: Mười chín.
Quê quán: Làng Nèo, Gia viễn, Ninh bình.
Cao nhột thước nam mươi.
Mặt rỗ hoa, có rang khênh.
Tính nhân nhịn, nhu thì.
Bất cứ nơi nào, dù trong rú hay đóng quân Ơû nhà dân,
những việc nặng nhọc bẩn thỉu đều có mặt Phiến: lấy củi,
kiếm rau, nặn than đun bếp, móc cống, làm vệ sinh lán trại...
Gặp đám gái làng xinh tươi, những cậu bẻm mép lăn vào tán
tỉnh, giăng gió. Nhưng hễ có hậu quả tai hại, bao giờ Phiến
cũng được cử đi dàn xếp. BỘ mặt Phiến có cái vẻ của kẻ chịu
tội bẩm sinh. Dù hung đồ đến đâu, nhìn vào bộ mặt tuẫn
nạn ấy cũng khó xuống tay đao.
Dạo còn Ơû ngoài tiền duyên, Phiến thường kè kè bên
mình cây nhị. Lúc nào rỗi lại thấy cậu ta ra gốc cây cò cử:
,!Trèo lên Quán dốc, ngồi gốc cây đa... ì...a..."
Lũy vẫn phục xuống khóc. Tôi quát:
- Đứng lên... Đứng...
Cậu ta ngẩng mặt, ngơ ngác nhìn. Máu và nước mắt
tèm lem. Tôi điên tiết lên:
- Mày khóc cái gì?... Mày sẽ phải ra tòa án binh, chờ
lĩnh một viên đạn vào đầu.
Lũy đứng im. Một giọt nước mắt đỏ ngầu rơi từ má trái
xuống cổ áo.
- Mù-xoa đâu, lau mặt đi. Dù có phải ra tòa án binh
mày cũng không thể giữ cái bộ dạng như thế.
Lũy thò tay vào túi quần, lục tìm, lấy ra một chiếc
mù-xoa bẩn thỉu, vo viên thành cục. Cậu ta gỡ tấm khăn
nhàu nát ra, đờ đẫn lau mặt.
Mày tính thế nào?
- Đằng não cũng phải linh một cái án tử hình... Hay
tao bắn cho mày một phát?
Vâng.
Lũy gật đầu, tiến lên đúng im trước mặt tôi:
Anh bắn em đi. Đằng nào cũng thế.
Cậu ta nhắm mắt lại. Tôi liếc xuống tử thi: Khốn nạn,
thằng sống thì nhắm mắt chờ đạn, thằng chết mắt lại mở
trừng trừng...
Lũy nói:
Anh bắn đi... Thế nhẹ nhõm hơn...
Mắt Lũy vẫn nhắm nghiền. Trời đã sáng hẳn nên tôi
nhìn rõ những nếp nhăn hằn trên má, dưới mí mắt. BỘ mặt
tái xám ấy là bộ mặt của một lão già. Thằng khốn nó đã già
đến thế ư? CÓ lẽ chính tôi cũng đã già đi nhanh như nó.
Nhưng chúng tôi không có thời gian để ngớ kỹ gương mặt
mình. Hai tay tôi rũ xuống. Thân thể tôi như không còn
xương cốt. Tôi bảo:
- Lũy, mở mắt ra.
NÓ mở mắt, đờ đẫn.
- Mày tưởng tao có thể giơ súng bắn mày hay sao?
tuỳ im lặng. Đám cây khắc khoải in vào đôi mắt bất
động của nó những vệt xanh đục. Tôi nhắc lại:
- Mày tưởng tao có thể giơ súng bắn mày sao?
Nước mắt lại ứa ra, trào qua mi, lăn xuống hai gò má
Lũy.
Chuyện nãy xảy ra, chỉ tao với mày biết. Không ai
muốn. Cũng không ai lường trước. Tai họa như sấm sét nổ
trên đầu, chẳng ngăn được. Giờ, đưa mày ra tòa án binh,
nhận án tử hình hay tù cấm cố, được cái gì nào?... Vả lại mẹ
mày sẽ...
Lũy bật khóc nức nở. Mẹ nó... người đàn bà Ơû góa nuôi
con. Bà ấy sẽ chết dần chết mòn, nếu nó hy sinh. Nhưng bà
ấy sẽ phải treo cổ hay nhảy xuống sông tự tử nếu nó bị tuyên
án tử hình hoặc tù cấm cố.
Tôi đã gặp bà ta một lần, ngày nhận lính. Ngày ấy, Lũy
trẻ măng, hai má tơ hồng mơn mởn, trắng như con gái. NÓ
khép nép đi sau một người đàn bà khổng lồ, bơi kềnh càng
trong tấm áo lụa mỡ gà... Mẹ nó, vị thần hộ mệnh, nô lệ và
người bạn thân thiết. Người đàn bà xấu xí, con voi cái đơn
độc chỉ có niềm tự hào duy nhất, nguồn vui sống duy nhất là
đứa con trai...
- Thế nào?...
Lũy vẫn khóc nức nở. Tôi gắt:
- Im mồm đi... Mày thấy chưa?... Nếu mày chết nhục
nhã như thế, mẹ mày sẽ chết theo... Cho nên, phải im như
tờ Giờ về lán, sinh hoạt như thường. Trưa, tới giờ cơm, tao
sẽ bảo Khuê kiểm quân số. Sẽ cử người đi tìm. Anh em sẽ
bắt gặp nó như sáu cô gái Ơû vực CÔ hồn thôi. Hiểu chưa?
Lũy mếu:
- Em hiếu... Nhưng anh cứ bắn cho em một phát... Thế
này em cũng không sống được đâu...
Tôi nắm tóc nó giật giật:
- Này, tĩnh trí lại đi... LỘ chuyện này ra, cả tao với mày
cùng chết... Nhưng như thế thì được ích gì? Tao với mày
không phải kẻ phản bội, cũng không phạm tội cố ý... Lẽ ra,
tao chẳng bày ra cái trò này làm gì. Kệ mày lĩnh một viên
kẹo đồng cho nhẹ xác. Nhưng tao thương mẹ mày, hiểu
chưa?... Tao thương bà ấy chứ không phải thương mày...
Câm mồm, không được bật ra một tiếng thút thít nữa. Và
lau mặt cẩn thận. Trông mặt mày gớm ghiếc như mặt ma...
Trưa hôm ấy, giờ cơm, tôi bảo Khuê kiểm điểm quân
số
Anh em thì thầm:
- Thằng Phiến lẩn đi đâu?...
- B quay rồi... Sai, cứ đem cổ tao ra mà chặt.
- Thằng ấy sao mà đào ngũ được?
- Rất có thể đấy. Thường những thằng nhu mì nhất lại
hay gây ra những cú động trời...
Trong ba lô của Phiến có một chiếc dù hoa to và tám
mảnh dù pháo sáng.
Buổi chiều, trong khi Khuê cử anh em đi tìm Phiến thì
liên lạc sư đoàn mang công văn xuống, triệu tôi lên họp gấp.
Lũy tiễn tôi một đoạn đường. Cậu liên lạc, trong lúc chờ,
lẻn vào chỗ khuất đái. Tôi hỏi Lũy:
Tại sao thằng Phiến nó tích lắm đù thế Không
hiểu?
Lũy đáp:
Mọi người lấy dù làm khăn quàng cổ, lăm kỷ niệm.
Nhưng nó kiếm dù để sau này đổi vải may áo. Ơû quê nó, ai
cũng thích có một chiếc khăn dù...
- Sao mày biết?
- Nớ kể với em... NÓ bảo: Sau chiến tranh, không biết
làm gì ra tiền, cớ ít mảnh dù đem đổi lấy vải may áo quần
cũng tốt... Anh Quân, anh không biết đâu... Nhà Phiến
nghèo lắm. BỐ mẹ nó chết từ lúc em nó lên hai. Hai anh em
chăn vịt thuê, mót thóc, đánh dậm nuôi nhau. NÓ thương
em gái lắm... Lũy lại khóc nức lên...
Tôi bảo:
- Thằng liên lạc nó đến bây giờ... Im đi... Giờ mà mày
làm lộ chuyện thì tao chết trước, hiểu chưa?
Lũy im bặt, quay về. Tôi cùng cậu liên lạc lên sư đoàn.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Người đợi tôi không phải Sư đoàn trưởng mà lại là
Lương, sư phó. Chúng tôi cùng lăng, bạn tử thuở cởi truồng,
nhà cách nhau một hàng dậu thưa trồng dâm bụt. Lương
hơn tôi hai tuổi. Người tầm thước, mặt vuông, cằm vuông,
mày ngang, dù hạ hay đông môi cũng đỏ thắm như hoa
hồng. Mười năm chiến tranh, sốt rét quật lên quật xuống,
màu đỏ có phai nhưng, so với người khác, vẫn còn tươi.
Anh có vẻ tư lự. Chúng tôi lẳng lặng uống rượu với
món nộm chuối rừng và vài con cá trích hộp.
Một giờ sau, anh rủ tôi ra suối tắm.
- Tôi mới tắm hôm qua. Mà trời lạnh bỏ sừ, nó giáng
cho một trận viêm phổi hay cảm hàn thì rách việc.
Lương hạ giọng:
Không tắm thì ngồi chơi. Tói có chuyện muốn nói
với cậu
Tim tôi giật thớt: Chẳng lẽ anh ta đã biết việc sáng
nay?... Không, không... họa có là Thánh sống. Nếu có Thánh
thì bom đạn mịt mùng, tử khí tụ đầy rừng núi cũng đủ cho
các vị Thánh phải bay tới những phương trời khác... Yên trí,
tôi gật đầu:
- Ta đi đi.
Chúng tôi rời lán vào lúc hoàng hôn. Vượt khỏi hầm
chứa lương chừng ba trăm thước thì tới cửa rừng, nơi các
ngọn cây nhuộm ánh trời rực rỡ. Chẳng ai bảo ai, chúng tôi
cùng ngửa cổ ngắm những vòm lá xao động gió chiều, hít
từng hơi dài khoan khoái làn khí thoáng đãng.
Lương đưa tôi qua giải đất thoai thoải men theo cửa
rừng, mọc đầy loài gai nhỏ như cây ruổi với những chùm quả
chi chít màu nghệ. Loài cây này mọc lan tới ven suối. Anh
bảo tôi:
- Ngồi đây.
Chúng tôi ngồi bên nhau hồi lâu, hút thuốc, không ai
nói với ai một lời. Ráng chiều đọng thành vũng trên suối
cạn tựa mặt hồ nơi khuất gió, không gợn sóng. Từ màu vàng
thếp, vũng suối cạn đã chuyển sang màu hồng, rồi màu tím.
Tôi nói:
- Sắp tối rồi.
Lương gật đầu hờ hững:
Ơø Ơø
Anh rít liền hai hơi thuốc rồi nói:
- Này Quân, nhớ làng không?
Tôi đáp:
- Nhớ chú. Sao lại không?
Lương nói:
- ở, nhớ nhất là con sông... Mỗi lần gặp suối, chân tôi
ríu lại... Ghê gớm hơn cả là dịp qua con suối Phiêu bồng...
Cậu cũng đến đấy rồi nhỉ?
Tôi đáp:
- Thằng lính nào đến vùng này mà chẳng phải qua suối
Phiêu bồng.
Lương gật gù:
- Đẹp thật...
Tôi nói:
- Đẹp thì hấn đi rồi. Nhưng anh gọi tôi ra đây chỉ để
nói chuyện nhớ làng hay sao?...
Lương há miệng:
- Ơ Ơ
Chẳng ra thú nhận cũng chẳng ra tán đồng, anh châm
điếu thuốc khác rồi nói:
- Không thể để lính nó nghe thấy... Chiến tranh mà...
Tôi cười:
- ờ, chiến tranh...
Chúng tôi cùng nhập ngũ với nhau một ngày. Sau mười
năm, Lương là cán bộ sư đoàn, hơn tôi ba hàm. Lăn lộn
không thể hơn tôi, nhưng anh biết ghìm giữ con người
mình. Hồi chúng tôi còn là tân binh, có một lần anh bị cán
bộ huấn luyện giáng cho một bạt tai vì chuẩn bị số đạn ra
thao trường không đủ.
Tôi điên tiết định lao ra cho thằng cha một cú đấm
nhưng Lương kéo ngay tôi lại: (- Tôi van cậu... đứng im...
Tôi van cậu...) anh thì thầm vào tai tôi, giọng rít lên quyết
liệt trong khi mặt vẫn cúi gầm.
Thằng cha cán bộ huấn luyện đứng cách chúng tôi
mươi thước vẫn tiếp tục phun ra những lời chửi rủa lỗ
mãng. Tôi còn nhớ mặt hắn: đen đủi, cằm bạnh, lỗ mũi
huếch, có một chiếc răng vàng.
Tối hôm đó, đi xem xi-nê về bắt gặp Lương ngồi quay
mặt vào tường, im lặng. Khi tới gần, tôi thấy những dòng
nước mắt bò ngoằn ngoèo trên hai má anh. Một chiếc thìa
xúc cơm bi bẻ vụn từng mảnh rơi trên giường...
Mười năm đã qua. Giờ Lương là một cán bộ có uy tín
trong sư đoàn. Tuy là Sư phó nhưng được cấp trên tin cậy,
trọng dụng. Đám sĩ quan cùng cấp thầm lén ghen tị anh. HỌ
xì ra với tụi lính tráng các đơn vị. Ai cũng biết ngày một
ngày hai Lương sẽ được kéo lên quân đoàn. Anh là người
của chiến tranh. Phẩm chất dầu tiên của chiến tranh là phải
từ bỏ mình.
Vũng suối cạn đã ngả sang màu tím sẫm. Những viền
cỏ đen chập chờn trên cao. Lương bỗng đưa tay sờ quai hàm
và nói:
Tôi gọi cậu lên vì chuyển cậu Biền.
Tôi hỏi:
Sao cơ?
Anh vẫn đưa tay sờ quai hàm. Hàm anh cân đối, vuông,
và tôi biết bộ râu quai nón của anh tuyệt đẹp. Nếu anh
chàng cạo, râu anh sẽ dày và rậm không thua gì râu Các-
Mác, vị Thần ngự tri trên tất tật các trang sách giáo khoa,
các bản kinh thề nguyền thường nhật và những lời tuyên
thệ. Nhưng Lương không biết mình có hàm râu ưu thế, anh
đang mân mê cằm vì mải nghĩ:
Biền bị điên. Hôm qua có người vượt tiền duyên vào
đây báo tin cho tôi biết.
Tôi buột miệng:
- Láo, thằng Biền làm sao mà điên được?
Lương từ tốn đáp:
- Người đưa tin nói rành rẽ như thế. Hiện cậu ấy bị
giam tại trạm xá chờ kiểm tra. Nếu đúng họ sẽ chuyển đến
bệnh viện tâm thần.
Tôi nói:
- Tôi không tin. Nếu điên thì nó phải điên từ hồi gặp
tôi ở Phải khen. Dạo ấy nó bi sốt rét ác tính.
Lương im lặng. Anh có thói quen giấu ý nghĩ của mình.
Nhưng chắc chắn anh cũng ngờ vực như tôi.
Chúng tôi đều là bạn cùng làng, cùng chung nhau một
cánh đồng, lô nhô gò mả, để chăn trâu, móc cua hay đánh
vật, cùng chung nhau một mái trường thơ ấu, cùng bị ông
giáo Khuê, biệt hiệu Khuê Khùng véo tai.
Nhà anh Lương với nhà tôi vùng chung hàng dậu. Nhà
Biền cách chúng tôi ba nóc, ở rìa làng.
Biền bằng tuổi tôi nhưng cao hơn tôi nửa cái đầu, nặng
bẩy mươi cân rưỡi, có thể gánh lúa tử tinh mơ sáng tới nửa
đêm, gánh nào cũng như gánh nào, ngót nghét một tạ.
Ba chúng tôi đã chung một niềm hân hoan trong ngày
nhập ngũ. Ngày ấy, sân ủy ban đỏ chói những cờ. Khẩu hiệu
treo la liệt trên các bức tường thôn:
"Hoan nghênh anh em tân binh lên đường cứu nước"
"Trai làng Đông tiến quyết trung thành với truyền
thống của Cha ông!'
'!Chủ nghĩa Mác-lê-nin bách chiến bách thắng muôn
năm"
Đội thiếu niên đánh trống cà-rùng từ tinh mơ cho tới
lúc đứng mặt trời. Những cô gái mặn mà nhất làng được
tuyển vào đội văn nghệ phục vụ công tác nghĩa vụ quân sự.
Các nàng giấu những tấm khăn hồng khăn xanh trong túi, rủ
nhau tới trước máy phóng thanh véo von:
"Yên tâm vững bước mà đi, hỡi người mà em yêu..."
Chúng tôi đứng thành hàng nghiêm ngắn, mắt nhìn
thẳng về phía trước trong lúc các bà mẹ lén lút hỉ mũi vào
vạt áo ghìm tiếng núc trong họng, để rồi mỗi khi có vị đại
điện nào tới thăm hỏi thì lại cố giương đôi mắt đỏ hoe lên,
trệu trạo cười:
Dạ, thưa bác, cháu nó được lên đường, chúng em
phấn khởi lắm ạ...
- Dạ, báo cáo với bác, em xin hứa: Giỏi tay cày, Hay
tay súng, xứng đáng với người ruột thịt Ơû chiến trường...
- Dạ, phụ nữ lảng Đông tiến quyết giật cờ đầu của
huyện về phong trào ba đảm đang...
Mẹ tôi mất sớm, hồi tôi tám tuổi. Nhưng tôi chứng
kiến các bà mẹ khác ngồi thâu đêm trong căn bếp, trước ánh
lửa leo lét của những đống trấu dấm, khóc thầm. Nước mắt
họ thấm đẫm những vạt áo vỏ dà, những tấm khăn tay nát
nhàu, nhem nhuốc.
Rồi, sớm hôm sau, những vạt áo của họ loang lổ ngấn
trắng và mắt họ đỏ mọng lên. Còn lũ trai trẻ chúng tôi đang
bi lôi cuốn bởi một sứ mạng vĩ đại, bởi một vinh quang sáng
chói.
Cuộc chiến tranh này không đơn thuần là cuộc chiến
đấu chống quân xâm lược. NÓ là cơ hội vinh thăng cho toàn
dân tộc. Đất Việt nam đã được lịch sử chọn lựa để hiển
thánh. Sau cuộc chiến, TỔ quốc chúng tôi sẽ trở thành
Thánh đường của nhân loại, nhân dân chúng tôi sẽ trở nên
những con người khác biệt, được tôn vinh và kính nể... Bởi
lẽ đó chúng tôi đã quay mặt đi, lảng tránh những giọt nước
mắt yếu mềm...
Từ đó tới nay đã mười năm. Chẳng ai nhắc lại, nhưng
không ai không nhớ.
Càng tiến sâu vào chiến cuộc, kỷ niệm ngày nhập ngũ
càng sâu đậm. Những giọt nước mắt của các bà mẹ mặn
thêm với mặc cảm thầm kín về sự vô tình của lũ con trai đi
tìm kiếm vinh quang.
Mặc cảm ấy liên kết chúng tôi lại với nhau, như các kỷ
niệm thời chăn trâu, cắt cỏ.
- Tôi không thể đi được...
Lương chậm rãi nói tiếp:
- Cậu hãy ra ngoài đó xem hư thực ra sao. Tôi có viết
thư riêng cho Sư trưởng Nguyễn văn Hảo, Chính ủy Đoàn
Trọng Liệt, tùy theo tình huống cụ thể mà cậu giải quyết.
Xong việc, cậu có thể tranh thủ đi phép luôn. Tử miền tây
Quảng bình ra Thanh hóa theo đường dây binh trạm. Đến
Thanh hóa là có xe rồi. Giấy tờ của cậu tôi đã bảo người
chuẩn bi. Mai về đơn vị bàn giao công việc cho cậu Khuê.
Tôi nghĩ cậu ấy cũng là một tay kha khá, đủ khả năng đảm
đương mọi thứ trong lúc cậu vắng mặt...
Tôi ngồi lặng đi. ân huệ lớn quá không thể ngờ. Tôi cố
trấn tĩnh, lấy giọng bình thản hỏi:
- Từ chỗ cậu Biền về quê mình còn xơi đường. Anh
tính làm sao tôi đi được?
Lương đáp:
Cứ đi đi Thời gian tôi lo. Miễn là cậu đừng có đào
tẩu
Tôi cười:
Đào tẩu thì đã có trạm thu dụng chờ đón, lo gì?
Lương cũng cười. Tôi nghe anh móc túi lấy cây đèn pin
cỡ nhỏ, thứ hàng xa xỉ của mặt trận, rồi anh bấm thử công-
tắc tách tách... Tôi hỏi:
Anh Lương... Tại sao anh cho tôi về phép?
Vì chuyện cậu Biền. Việc của sâu chỉ là tiện dịp mà
thôi.
Anh đột ngột đứng lên bảo tôi:
Về lán.
Tôi lẳng lặng bước theo anh. Tới trước cửa rừng, tôi
kéo áo anh lại:
- Chiến tranh còn kéo dài lắm, phải không anh?
Lương im lặng, - tôi nằn nì:
- Ơû đây chỉ có tôi với anh thôi, nói đi.
Lương đứng im một lát, không nói nửa lời. Rồi anh đột
ngột quay đi. Tôi theo anh. Chúng tôi vào sâu trong rừng.
Không khí trở lại ẩm ướt và ngột mùi lá mục. Bóng tối đổ xô
tới vây quanh. Những con chim rừng buông tiếng kêu rời rã.
Tôi muốn gọi anh Lương ơi... Tói muốn khoác vai anh...
nhưng kịp ghìm mình lại... Thời gian đã qua, chúng tôi
không còn là những chàng trai trần truồng, bình đẳng, cùng
nhảy xuống sông buổi chiều, cùng la hét, bơi lội và té nước
trêu đám con gái...
Mười chín ngày đêm ròng rã, tôi mới vượt qua đường
tiền duyên. Sáng ngày thứ hai mươi, người liên lạc của trạm
bảo:
Tới vùng phễu rồi, từ đây trở đi, đồng chí có thể dựa
vào dân mà sống. Tôi phải quay về trạữl, một đoàn chuyên
gia nghiên cứu tâm lý chiến đang chờ. Tôi có nhiệm vụ dẫn
họ vào vùng sâu. Từ đây tới K cũng còn gay go. Tôi đã vẽ sẵn
sơ đồ cho đồng chí.
Anh ta rút trong túi mảnh vỏ bao thuốc nhàu nát, trên
đó có những đường kẻ tay ngoằn ngoèo, những dòng chữ
nhỏ li ti như kiến. Tôi gật đầu:
- Thế này cũng tốt rồi. Cảm ơn đồng chí nhé. Không
biết chúng ta có còn gặp nhau không?
CÓ Lần vào tôi sẽ đưa anh. SỐ tôi khó chết lắm. Qua
ba trăm mười ~ảy trận bom rồi.
Tôi thọc tay vào ba-lô, tìm hộp thịt:
- Chỉ còn mỗi thứ này là có thể dùng được. Đồng chí
cầm đi. Người liên lạc trạm ngắm nghía món đồ hộp, gật gù:
ờ, thứ này với lính là xôm lắm... Chào đồng chí.
Anh ta nhét hộp thit vào ba-lô rồi quay đi. Anh ta có
cái mũi khoằm và đôi mắt lộ tròng, lởn vởn những tia máu
đỏ Người ta bảo mắt như vậy thường dễ gặp tai ương.
Phảng phất trên gương mặt anh ta như có làn mây xám làm
cho một cảm giặc xâm nhập vào tôi tê rợn.
ĐÓ là một người giao liên cần mẫn, một người đàn ông
hiền lành tử tế... Lạy trời... đầu sao anh ấy cũng đã qua ba
trăm mười bảy trận bom...
Mặt trời nở bửng như một quả cầu lửa trên cao. Người
giao liên vào hút trong rừng sâu. Tôi bước ra tráng cỏ. Lâu
lắm tôi mới được tắm mình vào khoảng không thửa thãi ánh
sáng và khí trời. Không còn bầu khí quyển tù hãm, không
còn khoảng trời bịt bùng bởi các vòm cây. Không còn những
luồng khí độc lướt qua da thit khiến lông tóc dựng đứng lên.
Trên đầu tôi, trời xanh lơ trọn vẹn, không gợn mây.
Trước mắt tôi, cỏ ngút ngàn. Tôi ném ba-lô và súng sang
một bên, nằm xoài xuống... ôi đất, ôi cỏ, ôi ánh nắng... óc
não tôi vang lên những tiếng kêu, những thán từ cũ kĩ của
trường tiểu học. Chính ông giáo Khuê khùng đã xoắn tai tôi
đau điếng:
"Mẹ sư mày, người ta dùng thán từ trong những trường
hợp nào? Than ôi, gió lạnh trăng buồn, một xác than khô,
nửa mảnh tâm hồn, anh lê gót trên nẻo đường tha hương
gập ghềnh gió bụi...
Câu ấy hay nhất trong vở Mạc Tuyết Lan đấy, nhớ
chưa?... Ví dụ thứ hai: ôi, TỔ quốc Việt nam giàu và đẹp,
bốn ngàn năm văn hiến, đang chờ băn tay xây đắp của chúng
ta... Câu mở đầu bài tập đọc: TỔ quốc Việt nam, phần chủ
điểm mùa thu ấy, nhớ chưa? Chẳng lẽ tao róc cho mày con
zê-rô, mẹ mây lại khóc lóc khốn khổ... Một điểm... Thôi về
chỗ. Nhớ làm hài tập thán từ..."
Vâng, thưa thầy, bây giờ tôi đã thuộc bài... ôi! Hạnh
phúc... áo quần tôi ướt đẫm sương. Những lá cỏ sắc cứa vào
da thịt, buồn nôn, son sót. Nắng chiếu vào tóc, vào lưng, vào
đám da gáy vừa cạo nhẵn. Trong luồng sáng ấm nóng ấy tôi
thấy nhảy nhót lao sao triệu triệu hạt màu quang phổ,
chúng đậu vào tóc tôi, chúng chạm vào thân xác tôi, chúng
nhuộm lên da thịt xanh tái, nhợt nhạt của tôi màu sắc hoan
lạc của đời sống. Tôi lật mình, nằm ngửa lên. Tức khắc tôi
thấy vùng ánh sáng cuồng nhiệt qua mi mắt hồng hồng. Hai
gò má, cổ, vùng ngực và hai cánh tay tôi ấm dần lên, như
màu hồng đang lan chảy, truyền sinh lực tới. Tôi nằm như
thế giờ lâu, không buồn ngủ chút nào, nhưng lại lơ mơ trong
trạng thái đắm chìm, mộng mị. Qua lớp mi mắt hồng hồng,
lần lượt lướt qua mọi gương mặt, mọi hình ảnh, những lời
thì thầm, tiếng cười ánh ỏi. Tất cả đều bồng bềnh trong
khói. Tất cả đều bi rọi chiếu bởi những lằn sáng mảnh và
dài, tựa những sợi thủy tinh chói lọi và mong manh. Tôi
chưa biết thế nào là hạnh phúc... CÓ lẽ giây phút này là hạnh
phúc?... Tôi chưa từng biết đến tự đo. CÓ lẽ khoảnh khắc
này tôi đã có tự do?... Trời mà hiểu... Những thứ chữ nghĩa
như thế trơn tuột như con cá quẩy. Tưởng nắm được trong
tay thì nó đã sụp xuống tận đáy bùn. Nhưng cỏ sắc quanh tôi
là có thật. Khoảng trời lơ trên đầu tôi là có thật. Tôi sung
sướng...
Tôi nằm mãi... Đất đã nóng sực lên, ngây ngất. Sương
đã khô hết và những sợi cỏ xanh thẫm lại. CÓ tiếng máy bay.
Kệ xác... Tôi thầm nghĩ: Chạy cũng thế mà không chạy cũng
thế. Đạn tránh người chứ người không tránh được đạn. Tôi
nhỏm lên, đưa mắt nhìn thảm cỏ mượt mà, nguyên vẹn,
không một gò ổ, không vết bom nào. Mười năm qua, tôi
chưa gặp thảm cỏ nào như thế. Làm sao nó còn tồn tại qua
bao nhiêu đợt oanh tạc của các loại máy bay?... Vẻ đẹp bất
thường. Giống như một mụn sa-tanh vá trên tấm áo thô
nháp, rách rưới của chiến tranh.
Lũ máy bay rú lên, ào ào bay qua. Tôi nằm vùi trong
cỏ CỎ cao chấm lưng người. CỎ che chở cho tôi. ít nhất
màu diệp lục cũng đem tới sự bình ổn trong tâm hồn. Bầy
máy bay lao về phía tây nam, lấp lóa dưới nắng. Rồi từng
loạt bom nối nhau rơi. Chúng rơi chênh chếch, từ tử, thản
nhiên như đó không phải là bom mà là một đàn mối khổng
lồ bi gầy cánh đang rớt xuống mặt dết.
Chừng nửa giờ sau, cơn giông tố qua đi, rừng núi trở lại
yên tĩnh và âm u. Mặt trời đã lên tới đỉnh, trời sáng lóa. Đất
quanh tôi bỏng rẫy, bốc hơi ngùn ngụt. Tôi bóc gói lương
khô dở, ăn nửa thanh, uống nước rồi đi. Thảm cỏ rộng hơn
tôi tưởng. Bươn bả đi mãi trong biển cỏ đến lúc chiều tà tôi
mới tìm thấy con đường mòn dẫn qua cành rừng thưa mang
ký hiệu N22 trên tấm sơ đồ của người giao liên. Từ cửa rừng
đi vào ba trăm mét có chua dấu chữ thập, bên cạnh ghi chữ:
"Lán". Tôi cầm tấm sơ đồ, cắm cúi đi. Quả nhiên, chừng trên
bốn trăm bước chân, con đường mòn phình rộng thành một
khoảnh sân, có lát những tấm gỗ và sắt lấy từ thùng xe hỏng.
Tử mảnh sân .đó có vài bậc thềm lót đá, dẫn lên một chiếc
lán dựng áp sát vào vách núi.
Tôi khum lòng tay làm loa, cất tiếng gọi:
- CÓ ai trên lán không...ong...?
Trời lặng gió, tiếng gọi của tôi dội vào rừng núi nghe
rợn sống lưng. Ngay sau đó, có tiếng vọng đáp lại:
- Đợi ơi với ới ới
Tôi thầm nghĩ: !'Cũng còn may".
BỎ chiếc mũ khỏi mái đầu ướt đẫm mồ hôi, tôi rút
khăn tay lau mặt, yên tâm chờ. Mươi phút sau có tiếng chân
bước huỳnh huỵch và một bóng đen to lớn tiến đến. Trời đã
tối hẳn, không thể nhìn rõ khuôn mặt người vừa tới. Tôi
nói:
Chào đồng chí. Tôi ở tuyến 3, vượt tiền duyên tới.
Xin đồng chí cho ngủ nhờ đêm nay. Mai tói đi sớm.
Bóng đen cất giọng khàn khàn:
B quay ă? Giấy tờ đâu?
Tôi cười:
Không phải lính đào ngũ. Tôi có nhiệm vụ Ơû K. Giấy
tờ đây.
Bảng đen móc túi lấy chiếc đèn pin nhỏ xíu hệt như
đèn của Lương, bật lên xem công lệnh và thẻ quân nhân.
Nhờ ánh sáng hắt lên, tôi thấy một khuôn mặt vuông bẹt,
rấl to, lấm tấm mụn đỏ hai bên má. Hàm răng trên vổ đau
vổ đớn chìa khỏi môi.
ánh đèn vụt tắt. Một bàn tay to lớn dúi xếp giấy vào
tay tôi. Và cái giọng khàn khàn cất lên:
Anh đi theo em.
Chút nữa thì tôi bật tiếng kêu: !!Đàn bà, đó là một
người đàn bà!" Người dần đường đã quay lưng bước đi, dẫn
tôi lên lán. Chiếc đèn pin trong tay lúc bật lúc tắt, quét
loang loáng trên các bậc đá gập ghềnh.
Cẩn thận kẻo ngã anh ạ. Bữa trước có một anh quê
Lào cai ngã gãy cả bốn cái răng.
- Cảm ơn đồng chí...
Tôi đáp khẽ, lí nhí trong kẽ răng.
Tới rồi... Chủ nhân vừa nói vừa đưa tay kéo tôi qua
khung cửa ghép bằng gỗ thùng.
- Anh chờ một lát nhé... Quái lạ, cái bật lửa vừa để đây
mà... A, đây rồi...
CÓ tiếng quẹt của bánh xe bật lửa, rồi ánh sáng bùng
lên. Nữ chủ nhân châm ngọn đèn săng pha muối, khiến làn
khói đen cuồn cuộn bay. Lửa đỏ cháy hửng hực soi rõ mọi
vật trong lán: chiếc giường cá nhân kê bằng các hòm đạn
trải tấm tăng, chiếc bình-toong treo trên vách, mảnh gương
nhỏ gắn một bông hoa giấy, hình các nữ diễn viên Ba lê và
các chàng ca sĩ nổi tiếng dán la liệt khắp nơi.
Tôi nhìn quanh quẩn rồi bỗng nhiên buột miệng nói
một câu vu vơ:
Đèn sáng khiếp thật. CÓ sợ máy bay không?...
- Máy bay thấy thế nào dược. Phải bảo đảm an toàn
chứ? Còn cái khoản săng thì anh đừng lo! Ơû đây, cánh lái xe
cung cấp săng cho em dư dả.
Nữ chủ nhân nói đoạn, liền tong tả khuân mấy chiếc vỏ
hòm đạn tử phía trong lán đem ra. Tôi hỏi:
- Đồng chí làm gì thế? .
- Làm giường cho anh. Ơ đây ối vỏ hòm đạn. Tha hồ...
Cảm ơn. Nhưng tôi có võng rồi.
CÓ võng sao anh không ngủ quách ngoài rừng? Đã
chui vào lán mà còn đánh võng có họa điên.
vừa nói cô vừa hì hục tráo đổi, sắp xếp lại mấy chiếc vỏ
hòm đạn. Khi chúng đã được kê thành dãy phẳng phiu, cờ
rút mình tăng vắt trên sợi dây căng sát vách, bảo tôi:
- Anh trải ra, em vào hang khuân ít củi.
Hang nào?
- Hang Ơû phía sau lán. ĐÓ là cái kho.
Nói đoạn, cô lùi lùi chạy đi. Bóng tối nuốt mất cái dáng
to lớn, kềnh làng như con gấu ngựa. Tiếng củi rơi lích kịch
vọng ra. Tôi trải tấm tăng, quăng ba-lô và súng vào một góc
rồi ngồi xuống, duỗi dài đôi chân mỏi nhừ, nóng ran từ hông
cho tới tận gót.
Lúc ấy, nữ chủ nhân mang củi ra. Khi cô quỳ xuống bên
bếp, ánh lửa rọi thẳng vào mặt cô. Tôi rùng mình vì cô xấu
khủng khiếp! CÔ ngẩng lên bảo tôi:
- Em bắc cơm, anh ở nhà chụm lửa nhá... Em xuống
suối tắm ù một cái rồi về.
Tôi nhìn khung trời tối đen bên ngoài:
Giờ này còn xuống suối à?
Quen đi chứ... Mà em cũng phải tắm mới được...
Lúc ấy tôi mới biết bộ quân phục cô đang mặc lấm đất,
loang lổ từng đám như nhựa đen. Chúng bốc mùi tanh, mùi
mồ hôi...
- Quần áo cô sao thế, máu à?
Ưø máu... Từ trưa đến giờ, vật nhau với ba cái xác còn
- Sao vậy?
CÔ đinh cười nhưng chợt mím môi lại, hai cánh mũi
huếch rung rung:
- CÓ gì lạ?... em gác nghĩa trang N22. CÓ nhiệm vụ thu
lượm những tử thi trong vùng. Phía sau núi là mộ các chiến
sĩ chưa kịp liệt kê theo đơn vi hành chính. Cả ba người bị
dính bom trưa nay cũng thế. Một tay em chôn hết. Hang sau
lán là kho chứa quân trang, quân dụng của tử sĩ. Chờ ban
công tác tới thì giao nộp.
Nới xong, cô nhanh nhẹn mở chiếc xoong nhôm đặt sẵn
trên bếp, xúc gạo trong chiếc thùng đựng bột trứng cũ gần
đó và róc nước từ chiếc ống nứa đật sát cửa vào nồi:
- Đừng vo gạo anh ạ. Vo hết cám, người phù lên thì
chết. Ơ đây không kiếm được thuốc chữa phù đâu.
Đoạn cô đứng lên:
- Anh nhóm bếp đi. Bật lửa đây, lấy gỗ thông làm mời.
Chẻ nhỏ ra thì nó cháy như hột trám ấy, chỉ chợp mắt là
cơm sôi.
Nói xong, cô vớ mấy chiếc quần áo trên giường rồi chạy
vọt ra ngoài. Tiếng lạo xạo của sỏi đá vẳng lại. Tôi chẻ nhỏ
mấy thanh gỗ thông, châm lửa rồi chất thêm củi, chăm chút
cho tới khi nồi cơm sôi lục bục. Cơm vừa cạn, nữ chủ nhân
bước vào. CÔ đã thay bộ quần áo mới, tóc vừa gội quấn
thành búi trên đỉnh đầu. Một tay cô vắt mớ quần áo ướt. CÔ
liếc tôi và bảo:
Gạt than ra mà hạ nồi cơm kẻo khê.
Tôi làm theo lời cô như cái máy. Trong lúc ấy, cô đã
kịp phơi mớ quần áo ướt lên sợi dây căng sát vách lều. Một
mùi gây thoang thoảng lan tỏa rất gần gụi. Bất giác tôi khít
khịt mũi. ơi tiến đến gần tôi, hất mái tóc ướt về sau gáy và
nói:
Ba tháng nay em hết xà-phòng. Thiếu xà-phòng, tài
thánh cũng không tẩy được mùi máu... Anh đốt lửa to lên,
khói sẽ át đi, lát nữa là quen thôi...
CÔ chải tóc. Trong cách ve vuốt mái tóc cô rất đàn bà,
dẫu thân xác cô giống như vi hộ pháp. Tôi chất thêm củi vào
bếp, chăm chắm nhìn những lưỡi lửa phập phồng uốn lượn.
Bên ngoài đã có sương. Một vài váng sương chập chờn
trong khoảng không đen thẳm. CÓ lẽ trời lạnh lắm.
Nữ chủ nhân đã ngồi xuống bên tôi, mái tóc chải mượt
xõa trên lưng. CÔ đặt lên bếp chiếc chảo nhỏ và bỏ vào đó
chút mỡ:
- Em đãi anh món rau mì chính vừa hái được ban sáng
trước lúc bọn chó sả bom. Còn có cả một hộp thtt năm trăm
gam nữa, tha hồ ăn...
CÔ ném vào chảo rau nắm ớt rừng với chút muối, cờ
đảo lìa lịa như người ta đảo thóc rang. Đoạn cô bắc chảo
xuống cạnh bếp:
- Anh gắp rau vào hăng-gô.
Tôi ngoan ngoãn thực hiện. CÔ đứng bật dậy rất nhanh,
đi vào phía hang và trở ra tức thì, tay cầm hộp thtt:
- Thịt hộp Trung quốc, vua đồ hộp đây... Chắc anh ăn
nhiều lần rồi. Nạc ơi là nạc...
CÔ đặt hộp thịt bên bếp lửa. Tim tôi thót giật.
ĐÓ chính là hộp thịt tôi tặng người giao liên buổi sáng!
Trên nắp còn hằn rõ vết dao cắt dở. Hộp thịt Lương đưa cho
tôi trước lúc lên đường, nhưng tôi đinh mở ra đãi mấy chiến
sĩ của anh. Vết cắt ấy là vết con dao nhíp Mỹ của cậu trợ lý.
Lúc ấy Lương giữ tay tôi lại, cằn nhằn vì cái tính vô lo...
- CÔ lấy đâu ra thứ này?
Tôi bật ra một câu hỏi vô tích sự. CÔ gái nhìn tôi ngạc
nhiên và bảo:
- Thực phẩm thì được phép sử dụng. Chỉ phải kiểm kê
những đồ vật khác trong ba~lô tử sĩ thôi. Anh chưa được
xem bao giờ phải không? Mai em sẽ cho anh xem... Vui đáo
để: CÓ anh chàng gom hàng tá khăn tay tới su-chiêng, xi~líp
cho người yêu. CÓ người lại cất giấu từ hòn cuội đến quả
thông khô khắc chữ. Chẳng ai giống ai. Nhật ký mười cuốn
thì đến tám cuốn long cả bìa lẫn gáy... Mà thôi, ăn đi anh,
em đói...
CÔ lật nắp hộp thịt xuống, đẩy tới trước mặt tôi. Rồi cô
xới cơm, đưa tận tay tôi, hệt như một người vợ xới cơm cho
chồng. Tôi lí nhí:
- Mời đồng chí...
CÔ không đáp, cúi gầm mặt xuống và cơm. Tôi biết cô
chờ đợi một lời mời khác: Mời em... Nhưng lưỡi tôi bị cứng.
Tôi đới nên tôi cũng cắm cúi ăn. Giữa chúng tôi, thời gian
lặng lẽ trôi. Tiếng lửa reo đếm nhíp thay cho tiếng tích tắc
của quả lắc đồng hồ. Chợt một lát sau, cô ngẩng lên:
- ơ, sao anh ăn toàn rau thế? Sĩ quan cấp mấy mà chê
thịt hộp?
- Tói sót ruột. Lâu nay toàn ăn khan.
Chỗ anh không kiếm được măng à?
Thỉnh thoảng, nhưng ít lắm.
CÔ đón bát xới cơm tiếp cho tôi. Không khí dần dần
bớt đi sự gượng gạo: .
Các anh lười bỏ cha. Rừng nào mà chẳng có măng?
rau thì vô số!
- Vâng, tụi lính đực vẫn vô tích sự hơn đàn bà.
- Các anh vẫn gọi tôi em là lính cái phải không? ĐỒ
đểu A, mà anh tên gì nhỉ? Lúc nãy đọc xong, quên rồi.
- Tôi là Quân.
- Quân... Tên đẹp ghê! Em tên Viếng. Anh ăn nữa đi.
Thôi à? Lính tráng mà ăn thế thì kém tài. Em ăn hơn anh
hẳn hai bát đấy nhé.
Cảm ơn đồng chí...
- Cảm cúm hả... Khách sáo? Anh Quân người Hà nội
phải không?
- Tôi trai làng Đông tiến.
- Anh chẳng có vẻ trai làng tí nào cả... Mất gốc rồi.
Đây nước cơm cháy rang, uống mát lắm. Bát đũa cứ dẹp
sang một bên, mai rửa. Đi ngủ đi thôi, em mỏi đừ xương ra
rồi.
CÔ ngửa cổ uống một hơi hết bát nước rồi nằm vật ra
giường. Chỉ tích tắc sau cô đã ngáy.
Chiếc gối trắng có diềm chỉ đỏ tuột khỏi đầu. Miệng cô
há và những chiếc răng vổ chĩa thẳng lên trời. Tôi lén lút
nhìn cô, một chút sợ hãi, một chút tò mò, một chút thương
hại... Rồi tôi chốt cửa lán, lên chiếc giường của mình và
chìm vào giấc ngủ, - giấc ngủ mài miệt, an toàn, đem lại
cho tôi sự phục hồi sức khoẻ cùng sự mẫn tiệp...
Không mơ mộng gì hết, nhưng khi bi một vật nặng đè
lên bụng, tôi tỉnh giấc ngay. Tói biết rằng cô đã đến, nằm
bên tôi, tóc cọ vào vai tôi, cánh tay vạm vỡ của cô vắt lên
bụng tôi. Hình như cô đang tính toán, do dự, hơi thở phả
nóng hổi. Thỉnh thoảng cô cựa quậy. Thỉnh thoảng cô thở
đài lẩm bẩm gì đó nghe không rõ.
Tôi nằm im,. đóng vai kẻ ngủ say. Nhưng toàn bộ giác
quan đều căng thẳng như dàn ra-đa pháo binh trong khoảnh
khắc đón chờ cuộc oanh kích của máy bay địch. Tôi biết cờ
đang nhìn chăm chắm vào mặt tôi, chờ động tĩnh.
Dưới chân giường đống than hồng rực tỏa một thứ ánh
sáng dễ chịu nhưng bất lợi cho tôi. Tôi đành nhắm nghiền
mắt. CÔ trăn trở, cục cựa mạnh hơn lên, hơi thở cô dồn dập.
Rồi, không kiên nhẫn được nữa, cô túm lưng quần tôi, lay.
Tôi ậm ừ, giả bộ ngái ngủ, xoay mình đi. Động tác đó thật
sai lầm. CÔ hiểu ngay rằng tôi đã thức. CÔ gọi:
Anh Quân...
Tôi im lặng.
Anh Quân.
Tôi không đáp.
CÔ buông lưng quần tôi, ngồi lên:
- Anh Quân, sao anh ác thế Em Ơû đây một mình,
buồn thối ruột gan. Anh mở mắt ra em bảo cái này.
Tôi không dám mở mắt nhưng tôi xoay người lại, nói
ôn tồn:
Đồng chí Viếng ạ... Chính vì đồng chí Ơû đây một
mình nên tôi không dám gây phiền phức. Lỡ có chuyện gì
không may xảy ra thì chết mất...
CÔ thốt lên một tiếng kêu khe khẽ rồi đổ ập xuống
người tôi:
- Chẳng có gì mà chết cả. CÓ nghén với anh càng tốt...
Anh Quân, anh Quân...
Người uốn cong lên, cô rền rĩ, quằn quại.
Tôi bảo:
- Đồng chí bình tĩnh lại. Phải làm chủ được bản thân.
Dại dột thế thì chết.
- Không... không...
CÔ bật kêu khe khẽ:
Em đang muốn chết đây. Anh hãy giết em đi. Anh
hãy làm cho em chết đi...
Rồi cô riết chặt lấy tôi, ôm bổng lên bụng mình. Một
cảm giác xộc lên khiến tôi như tê bại. Thoáng qua tiếng tặc
lưỡi: "Thôi nhắm mắt cho xong... Nhắm mắt..." Chân tay tôi
đờ ra. Một nỗi sợ hãi mơ hồ chập chờn, một cơn đói nhục
thể chập chờn. Đúng lúc ấy cô lại thở hồng hộc và cất tiếng
gọi:
- Anh Quân... anh Quân...uấn...
Trong ánh sáng hồng hồng của lửa than, tôi thấy cô
nhắm nghiền hai mắt, miệng há ra, lắp bắp, hổn hển, những
tiếng nói rời rạc lọt qua kẽ răng dị hình:
Anh Quân, anh giết em đi..i..i...
Cái tiếng kêu quằn quại ấy thúc dậy trong tôi một cảm
giác nhắm tởm. NÓ thiêu cháy các nhục cảm và làm tôi bỗng
nhiên ráo hoảnh. Mặt nóng ran vì hổ thẹn, tôi đẩy người
đàn bà sang một bên và ngồi dậy:
- Đồng chí Viếng... không nên thế...
CÔ chồm đến bên tôi, gục đầu xuống:
- Anh Quân, anh chê em xấu phải không?... Hay để
em... tắt lửa đi nhá...
CÔ vùng đứng lên, chạy tới bên đám than hồng rực. CÔ
tìm thanh cời, tấp tro. Dáng điệu hối hả, tận tụy. Tôi nhìn
tấm lưng cong cong của người đàn bà:
- Đồng chí Viếng...
Chạy đến bên cô, tôi bảo:
- Hãy ngồi xuống, tôi nói cho mà nghe...
CÔ ngoan ngoãn bước theo tôi, đôi mắt ngước lên vẻ
ưng chiu và thuần phục. Mọi đường nét trên khuôn mặt thô
kệch: cái mũi hếch, vầng trán quá ngắn, những chiếc răng
chĩa khỏi cặp môi lúc nào cũng như thiếu hụt... tất thảy toát
ra vẻ chờ đợi nhục cảm, vẻ hân hoan dành cho mọi loài vật
giống cái, từ con hoẵng tới người đàn bà.
Trời đất! Sao tôi không có cái can đảm của TÔ Vũ?
Trong một chuyến đi sứ, lạc vào hoang đảo, ông đã kết
duyên với con vượn cái. Sao tôi không đủ lòng quả cảm của
một quân vương xưa, vì phẩm hạnh của một người đàn bà đã
tôn xưng nàng lên ngôi hoàng hậu, quên đi cái dung nhan
quỷ sú Chung VÔ Diệm? ôi, những người đàn ông hiếm có
ấy hoặc họ phải là tột bậc Thánh nhân, hoặc họ phải vô
cùng thú vật!
- Đồng chí Viếng này...
Tôi vẫn nắm tay cô để giữ một khoảng cách an toàn
giữa hai người, và tôi cố gắng nhìn thật lâu vào gương mặt
cô để cô khỏi có cảm giác tủi hổ:
- Đừng giận tôi Viếng nhé. Tôi không muốn cho đồng
chí buồn, nhưng quả thực... tôi không thể...
CÔ nhìn tôi, giọng run run, nghẹn ngào:
- Anh Quân...
- Mong đồng chí hiểu cho, tôi không thể...
Viếng vụt đưa mắt hồ nghi nhìn tôi rồi bất chợt thọc
tay vào bụng dưới tôi, khoảng giữa hai đùi... Lúc ấy, rõ ràng
cô đã thấy tôi là thằng đàn ông vô dụng! Cuộc khám nghiệm
có hiệu quả đảo ngược tình thế. Nữ chủ nhân thu tay về, đưa
mắt nhìn tôi im lặng, cái nhìn đầy vẻ bao dung và khinh bỉ.
Kẻ bị thương hại bây giờ là tôi. "Thế là may rồi? Thật hú
vía!" Tôi thầm nghĩ và cố nặn ra bộ mặt tủi hổ:
Mong Viếng thông cảm... tôi cũng không muốn thế.
CÔ gái đứng lên, ngẩng mái đầu đồ sộ một cách tức
giận:
- Chắc là tại chất độc hóa học... TỔ sư thằng Mỹ...
Rồi cô quay lại bảo tôi:
- Thôi, anh đi ngủ, mai lấy sức mà cuốc bộ.
Nói xong cô trở về giường. Tôi không ngủ được. Tôi
nhen lửa, tiếp thêm củi rồi nhìn lửa đăm đăm như một con
vượn già nhìn mặt trời.
Nỗi khấp khởi mừng thầm đã tan biến, tâm hồn tôi
đắng ngắt. Tôi có lỗi gì đâu? Nhưng cái trò dối gian kia thật
bần tiện. Muốn hay không tôi cũng chẳng gạt bỏ được cảm
giác tự xỉ. NÓ mọc như thứ rêu vô hình, tăng trưởng, bám
chặt vào những đường rãnh sâu trong óc não. NÓ dần dà
trùm phủ tâm hồn tôi bằng thứ bóng râm nhớt nhát, âm
hiểm, khiến những ý nghĩ trong tôi trở nên rối loạn.
Tôi là kẻ thiếu lực chăng! Một gã đàn ông thiếu chất
đực tới mức phải quy hàng trước một cuộc kết hợp man sơ?
Tôi là kẻ ích kỷ, thiếu sự vị tha tới mức tàn nhẫn? Tôi là nô
lệ ngu tối, trung thành với những định kiến xửa xưa, với
những quan niệm đức hạnh xửa xưa, với những ước mộng
trong sạch về ái tình... Những giá trị xa lắc xa lơ, lạc lõng
giữa một cuộc sống ngập ngụa máu và bùn. Hay là...
Tôi không dám nghĩ nữa... Tôi đã chối từ người đàn bà
đón tôi giản đi, nồng hậu, khao khát tôi như khao khát một
mảnh đời chân thực - cái đời sống chúng tôi đã đánh mất
lâu rồi và chỉ còn nhận biết nhờ khả năng trực cảm mong
manh... CÓ lẽ vì cô quá xấu xí?... Không chỉ có thế... Người
đàn bà đã vác ba tử thi đi qua một buổi chiều, một mình
vuốt mắt cho ba người tử sĩ, một mình chôn họ ra sau đồi,
lựa giữ các kỷ vật và cai quản các bóng ma như một phần tài
sản của cuộc sống...
CÔ là người đàn bà của chiến tranh. Tôi từ chối cô
không chỉ vì cô quá xấu xí mà vì tôi còn hèn yếu hơn, tôi sợ
hãi đối thủ. Mười năm mặc áo lính, nếm đủ vinh và nhục,
biết mọi trò chơi oái oăm của kiếp người thời loạn lạc, cho
tới lúc gặp cô tôi mới tự hiểu mình. Tôi bại. Tôi không bao
giờ nhập cuộc. Chú bé mười tám tuổi năm xưa hăm hở lao
vào con đường binh nghiệp, giờ vẫn chỉ là một đứa bé đứng
bơ vơ bên kia đường chân trời.
Lửa cháy mỗi lúc mỗi to hơn, tỏa ánh sáng rực rỡ khắp
lán. ấm áp thật! Người đàn bà đã ngủ lại, nhíp thở đều đều.
Một cánh tay cô vắt qua trán, trông bình yên. Tôi trầm
ngâm nhìn cô, lòng thầm nguyện cầu cho cô may mắn. Chắc
chắn có những người đàn ông đích thực của chiến tranh. HỌ
sẽ đem lại hạnh phúc cho cô.
Ghi vài dòng cảm ơn trên bìa cuốn sổ liệt kê đồ vật của
tử sĩ, tôi đeo hành trang ra đi. Lúc ấy bốn giờ ba mươi hai
phút. Trời tối mịt mờ, lạnh thấu xương. Tôi phải đọc kỹ sơ
đồ rồi vừa đi vừa dò đường.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Cái đói tấn công tôi khiến hai đầu gối bủn rủn, mồ hôi
vã ướt đầm lưng. Hai hôm nay, tôi đi lòng vòng như bị ma
ám giữa một thung lũng um tùm cây môn thục. Sớm nay lại
đi vã mồ hôi. Cuối cùng tôi thấy trước mặt bụi môn có ba
hòn đá tảng ở điểm xuất phát.
Nghỉ nửa giờ, tôi tìm đường ra theo hướng khác. Đi
ròng rã hơn hai tiếng nữa, vào đúng ngọ lại thấy lù lù ba hòn
đá tảng với bụi món thục ấy. Không còn hồ nghi gì nữa, giữa
thung lũng hoang lạnh này có hồn ma!
Tôi đặt ba~lô trên một hòn đá tảng, sục sạo xung
quanh. Từ lối mòn lan sang hai bên, mọc dầy đặc thứ cỏ leo
hoa tím, lá có ánh bạc. Dây cỏ dâm ngang đâm dọc, dai hơn
dây thừng, quấn quít với những loài gai lùn và dương xỉ. Tôi
rút dao phạt những đám gai lơ lửng ngang đầu phòng loài
rắn lục. Từ đám gai ấy, chúng có thể phóng tới làm một cú
mổ trong nháy mắt và thế là toi đời.
Quanh quẩn mãi, chỉ gặp loài gai và cỏ leo.
Khoảng tiếp giáp giờ Mùi, một làn gió âm u thổi từ
phía bắc tới. Trong hơi gió như có tiếng vi vu của sáo tre sáo
trúc. Tôi nổi da gà đứng khứng lại giờ lâu, mồ hôi lạnh lưng
áo Rồi định thần, tôi nhìn lại cây cỏ bốn xung quanh. Tất ~
xanh um, tĩnh lặng. Tôi đi về phía bắc. Chừng hơn một trăm
bước, chân tôi gặp đám môn thục vĩ đại. Chúng cao gấp đôi
thứ môn thục thường, cỡ chừng gần hai mét, che lút đầu
người. Mỗi cuộng môn lớn gấp đôi bẹ chuối, xanh bóng.
Dọc lá quận thành gốc, cỡ bằng gốc chuối ngự.
Kích thước khổng lồ của chúng làm tôi e ngại. Dường
như chính từ trong bóng râm ướt át, u tối của chúng, làn gió
lạnh lẽo kia đã được phát sinh... Tôi vung dao, chặt ràn
ro ạt. Những dọc môn ngã rạp xuống. Chừng non nửa thước,
hiện ra những tảng đá lớn, màu trắng xám, xếp một cách
công phu.
Theo bức tường đá, tôi lần lần phạt trụi đám môn thục
vây quanh. Đám rừng môn ngã xuống, hiện ra một chiếc nhà
quàn bằng đá tảng. Các tảng đá lớn nhỏ, góc cạnh được sắp
xếp chồng khít lên nhau làm thành bốn bức tường khép kín,
một cái hộp không đáy và không nắp.
Giữa bốn vách đá là tấm võng dù mắc sang hai cây dồi
ở hai đầu. Trên võng, một bộ xương người nguyên vẹn, trắng
rợn, sạch như lau!
AÀà, người anh em... hóa ra người anh em đã giữ
chân tớ lại... Tôi lầm rầm khấn. Cái đầu lâu hoác miệng như
cười Hai hàm răng trắng, đều tăm tắp, đủ ba mươi hai
chiếc. ĐÓ phải là hàm răng của một chàng trai. Chắc anh ta
cũng đã bị lạc nhiều ngày, cũng như tôi, không thế nào thoát
khỏi cái thung lũng ma quái này, bi sương khói bốn phương
chập chùng vây hãm.
Khi mọi cố gắng đã tan rã, mọi hy vọng đã tàn lụi,
chàng vẫn còn một hi vọng cuối cùng: Hi vọng giữ được bộ
hài cốt của mình. Chàng không muốn các loài thú xâu xé
thân xác, chàng muốn lưu lại, dù một chút bóng đáng thảm
thê, ~i hình hài nguyên vẹn mà cha mẹ chàng đã tác tạo ra.
Tôi tin rằng chàng đẹp hơn lôi, khỏe mạnh và ý chí hơn tôi.
Nếu không, với hơi tàn của kẻ sắp chết đói, người lính này
đã không thể tự xây cho mình một nhà quàn kiên cố, công
trình kiến trúc để cho kẻ hậu thế phải ớn lạnh sống lưng:
- Người anh em ơi, tớ biết người anh em ở đây quạnh
hiu lắm. Tớ biết cuộc sống trong cái thung lũng khốn nạn
này chẳng ra gì... Đằng ấy cũng như tớ, khi ra đi không hình
dung được con mèo nào sẽ đón đợi số phận...
Làn hơi lạnh quẩn quanh trên mặt đất khẽ lùa qua hai
nách, qua gáy tôi. Nghe vi vút mơ hồ tiếng sáo của một
chiều thôn dã:
"Trông đã lên ngang đồi...
Dung sông ngập ánh trăng soi
Đàn bò thong thả qua nương lúa ơi hòi. .. "
ôi âm nhạc diệu vợi... Hai hàm răng trắng nhởn của cái đầu
lâu ngoác ra cười. Xương tay, xương chân xếp thẳng băng
như nặn bằng thạch cao trong phòng thí nghiệm trường phổ
thông trung học. Lão quản lý thấp bé, mặc bờ-lu trắng,
gườm gườm nhìn lũ học sinh chúng tôi, qua hai tròng mắt
kính tròn xoe:
"Các trò cẩn thận, không được sờ vào hiện vật. Hãy ghi
nhớ các vị trì trong bộ xương người: Xương đầu, xương tay
và xương chân...
Trò Quân, anh không được ngọ nguy, cái xương bánh
chè bên trái đã bị lớp 6E làm vỡ năm ngoái..."
Đấy là lần thứ nhất tôi thấy bộ xương người. Và giờ là
lần thú hai. Xương thạch cao dễ vỡ. Xương người thật khỏe
chắc hơn.
BỐ mẹ chúng ta đã sản sinh được những tạo vật đáng
giá! Tôi nhìn từ đầu xuống chân bộ xương người trải dài
trên tấm võng ni-lông, hình dung tới một chàng trai: Anh
lim dần trong cơn đói, trong trạng thái tàn lạnh khi máu
khô cạn trong các huyết quản, như một thứ keo, đọng dần
dần chất mủ đặc tanh của cái chết, và luồng khí nóng của sự
sống đi qua nó bị nguội đi, màu hồng chuyển sang máu xám.
Chắc chắn vào khoảnh khắc đó những giấc mơ sẽ trôi
qua như cuộn hình trong cây đèn kéo quân: giấc mơ an bình,
giấc mơ thù hận, giấc mơ ấu thơ, giấc mơ tình ái... đó sẽ là
bữa ăn cuối cho kẻ tử tù, niềm an ủi cuối cùng của người
lính rủi ro. Tới lúc chất mủ tanh hôi của cái chết lấp đầy các
huyết mạch, những giấc mơ kia sẽ lụi.
Tử đấy bắt đầu bữa tiệc của các loài thú. Trước hết là
chim ưng, kền kền và quạ. Thứ hai đến các loài kiến, các loại
bọ, các loại dời. Sau cùng, mưa rừng sẽ hoàn thiện nốt công
trình phá hủy, phần sót lại của cơ thể tan hòa thành phân
loãng tưới xuống đám môn thục khiến chúng lớn vụt lên, trở
thành loài thực vật ăn thịt người kiêu hãnh và vĩ đại! BỘ
xương trắng sạch bong nhìn tôi như cười: "Tớ còn nguyên
vẹn đấy chứ?... Thật là tuyệt phải không người anh em?"
Tấm võng m-lông cũng còn nguyên vẹn. Nền văn minh
nhựa dẻo của con người trong các thập kỷ này cũng tuyệt
diệu. Tôi thầm thì:
Người anh em ơi, ngả nào đằng ấy cũng đã phải chiu
cảnh đơn côi. Hãy cho tớ ra đi... Tớ còn nhiều việc phải làm.
Một thằng trai trẻ đang mắc chứng điên. Nếu họ tống nó
vào trại điên thì rồi đời... Vả lại, tớ còn ông bố và thằng em.
Nghe nói nó cũng đã tòng quân, chẳng hiểu sống chết ra
sao... Người anh em sống khôn chết thiêng, hãy chúng cho
lòng thành của chiến hữu...
Khấn xong, lòng tôi nhẹ nhõm. Tôi chắc vong linh kia
đã thấu cho mình. Nhưng chân tôi vẫn nặng như đeo đá,
không thể nhấc nổi. Tôi đập đập vào hai cẳng chân lạnh
buốt, thầm nghĩ: "Còn một cái gì đó... Chắc hẳn còn vấn
vương gì đó..." Vã tôi chợt hiểu rằng chàng trai đã tự kiến
tạo cho mình một cái chết sang trọng như thế hẳn là phải
gửi gấm lại những lưu vật.
Tôi ngồi thụp xuống, vạch cỏ, chặt dây. Chỉ dăm phút
sau, thấy lộ ra một nấm mộ nhỏ xếp bằng đá nằm dưới võng,
từ chiếc đầu lâu dọi thẳng xuống. Tôi ném đi lần lượt từng
viên đá rồi tôi dào. Đất rất mềm, lưỡi dao ăn ngọt lịm. HỐ
đào ước chừng nửa mét dãi, nửa mét rộng, căn theo độ lớn
của chiếc ba-lô.
Đào sâu ba gang thì vấp lớp nhựa xám. Tôi khoét rộng
ra bốn xung quanh rồi lôi bọc ni-lông lên. Chúng được
chằng kỹ bằng dây ni-lông, nút chặt không thể cởi. Tôi dùng
dao cắt vụn, mở gói vải nhựa ra. Bên trong còn ba lớp vải
nhựa nữa mới tới ba-lô.
Ba-lô còn nguyên, mùi vải hăng sực như vừa được lôi
ra từ một chiếc rương gỗ. Một khẩu liên thanh báng gập
với hai băng đạn rưỡi, đạn chưa rỉ. Tôi mở ba-lô, sửng sốt
vì cùng với làn hơi xám bay lên, lơ lửng điệu nhạc của tre
trúc:
" Dòng sông ngợp ánh trăng soi
Con diều đứt dây nơi lưng trời
Gió, gió ơ~ thồi bên kia đồi... "
Hệt như có gã trai làng ngồi thổi sáo bên bờ đê, vào lúc
chiều chạng vạng. Tôi kéo rộng nắp ba-lô, nhặt được mảnh
bìa, viết nguệch ngoạc dòng chữ: "Đồng chí nào nhặt được
ba-lô, xin cố gắng mang về cho m~ tôi, bà Đào thị Lý, 68
tuổi thôn em mơ, xã Phùng... Xin cảm ơn."
Bên dưới có ba bộ quân phục, một Thu-đông, hai
Xuân-hè. Giữa các lớp quần áo giấu cây sáo trúc, thứ trúc
quí, vàng màu tơ tằm, bóng như gương. Sau rốt là cuốn nhật
ký. Nhật ký lính chiến, long bìa, rách gáy, nhiều vết hoen.
Trang đầu dán tấm ảnh một thiếu phụ quê mùa, vẻ nhút
nhát, nét khá xinh. Trang sau là một chàng trai mười tám,
mười chín, mặc quân phục mới, cười toe toét, mắt ánh lên
niềm hăm hở.
Tấm ảnh đó hệt như tấm ảnh tôi chụp ngày tòng quân,
cái ngày long lở vì tiếng trống giục giã và chói lọi màu cờ,
cái ngày lũ trai trẻ chúng tôi ngây ngất trước lúc lên đường,
đăm đăm tìm kiếm hình ảnh của chính mình nơi chân trời.
Nơi ấy, ẩn hiện trong lớp khói là gương mặt những người
anh hùng hân hoan và kiêu hãnh, ngực lủng lẳng từng dãy
huân chương...
Tôi ngồi bệt xuống, sục tay vào lớp áo quần mát lạnh.
Cơn đói bắt đầu gào réo khiến tôi hoa mắt. Từng bầy đom
đóm sặc sỡ bay lượn như những đóm lửa pháo hoa, thứ pháo
hoa tởm lợm... Tôi gục đầu xuống gối, nhắm mắt lại, cố nghĩ
tới một việc gì đó thật trọng đại, thật vui tươi, một kỷ niệm
thật êm đềm... Nhưng, cuối cùng, vẫn hiện lên trong óc não
hình ảnh (ra xôi trắng với nửa cái chân giò luộc, một rá bún
với bát mắm tôm... Cơn mơ thực phẩm! Tôi đã lây cái bệnh
tồi tệ của thằng Lũy.
Chất cường toan sủi bọt trong dạ dày tôi, cắn rút từng
tế bào, ăn mòn mỗi đường gân, mỗi thớ thịt. Trong bụng,
nhói lên những cơn co bớp liên hồi. Tôi cong lưng, thở dốc
từng hồi và dần dà nằm ngửa xuống lúc nào không rõ. Kéo
một tấm áo che đầu, tôi chìm vào giấc ngủ.
Như thế, thời gian đi lặng lặng, xa xa, như tan dần
thành khói. Lúc chập chờn tỉnh, tôi có cảm giác một bàn tay
ai đó nhe/ nhàng ve vuốt bên má... Mở mắt, tôi thấy mình
nằm gối đầu lên chiếc ba-lô của người đã chết, tấm áo
thu-đông trùm đầu lạnh toát sương, ba-lô của tôi ném ngay
dưới chân. Trên đầu tôi vẫn bộ xương trắng im nguyên nằm
trong tấm võng.
Nắng đã lên đặt trên má tôi bàn tay ấm áp, sự sống vuốt
ve êm dịu. Tôi ngắm những dây cỏ leo trong suất như thủy
tinh giữa buổi rạng đông. Tôi nhìn giải mây hổ phách phía
dưới vầng mặt trời, bỗng nổi lên nỗi thèm khát.
Nắng nhuộm một màu hồng đắm đuối. Thân thể tôi
nóng dần, máu trào lên tim như ngọn triều, phấp phỏng.
Tim tôi cũng đập phấp phỏng, nuối tiếc, tưởng chừng như
chỉ qua buổi sáng này nó không bao giờ còn đập. Tôi chợt
hiểu nỗi thèm muốn ám ảnh tôi: Tôi thèm sống... Tôi không
hiểu những gì chờ đợi tôi, nhưng tôi thèm sống.
Như con trâu bị thương trong cuộc chọi, tưởng đã cắm
sừng vào đất bãi, chợt vùng lên lao vào hiệp mới, tôi ngồi
dậy sảng khoái vì niềm khát sống gia tăng sức mạnh trong
tôi với ngọn đũa của thần linh...
Ngồi bật dậy nên đầu tôi va vào chiếc đầu lâu đau
điếng. "ôi chao, người anh em cục đầu tớ đau làm vậy?" Tôi
nhăn nhó nghĩ thầm và bắt đầu thu xếp hành trang. Cuốn
nhật ký của người đã chết rơi xuống, lật trang, ngẫu nhiên
hiện trước mắt tôi dòng chữ lớn nguệch ngoạc:
- Mẹ ơi...
Mẹ ơiii... Thốt nhiên, tâm linh tôi bật lên tiếng kêu
đồng điệu, tiếng kêu làm thung lũng chao đảo rung rinh, làn
sóng âm vang tới tận chân trời.
Mẹ ơiii... Nơi chân trời lãng đãng khói sương vầng
mặt trời bỗng nhòa nước mắt.
I!Mẹ ơi, con sắp chết... Chắc con không về với mẹ
được chẳng có ai lợp lại mái nhà...!i
Tôi đọc tiếp dòng chữ ngoằn ngoèo trong cuốn nhật
ký. BỘ xương kia cũng như tôi, những gã trai chưa vợ. Chưa
người đàn bà nào thay thế được hình bóng mẹ trong tim...
Chúng tôi vẫn chỉ là những thằng bé con...
- Mẹ ơiii...
Tôi lại thấy nụ cười tươi, mái tóc dãi, mùi mồ hôi lẫn
mùi thơm quen thuộc.
Đặt cuốn nhật ký giữa lớp áo quần tôi gấp lại cho
chúng phẳng phiu. Tôi lấy chiếc khăn mặt cuốn cây sáo trúc
cẩn thận rồi xếp tất cả vào ba-lô. Còn sợi dây dù dài, tôi cột
chặt chiếc ba-lô của người đã khuất vào lưng ba-lô của
mình. Khẩu tiểu liên báng gập nằm phơi trên tấm vải nhựa
với các băng đạn. Nắng sớm chiếu vào lấp lóe. Tôi xách
khẩu súng lên:
',Mẹ kiếp, thằng chó đẻ nào làm ra cái thứ này... nặng
như cối đá..." Tôi thầm nghĩ, ước lượng: "Họ bảo súng này
có bảy cân, sao giờ mình thấy như ntla tạ! Lại còn đạn nữa
chứ... CÓ ngậm sâm cũng chẳng tha được của quỷ này." Tôi
lẳng khẩu súng sang bên phải, thuận chân đá đám đạn sang
bên trái.
Chỉ vài tháng nữa, tất cả sẽ vùi dưới rừng môn thục.
Lại một rừng môn thục mới trên đám cây thối rữa, trên
mảnh đất thấm đẫm chất thối rữa của da thịt người. Chúng
sẽ lại gieo xuống thứ bóng râm nhớt nhát, lạnh lẽo và thổi
qua thung lũng ngọn giờ âm u của tử thần.
Thôi, chào nhé...
Tôi đằng trước võng, nhìn bộ xương sạch bóng, ba
mươi hai chiếc răng đều tăm tắp, nguyên vẹn. Đầu lâu
không cười mà ngoác miệng ra như mếu...
Thôi đằng ấy rán chịu vậy. Đời mà, biệt ly là chuyện
thường. Tớ sẽ mang những vật kỷ niệm này giao tận tay mẹ.
Nếu rủi bà cụ không còn nữa tớ sẽ đem đến trước mộ, làm lễ
chiêu hồn, cúng siêu linh. Tớ sẽ đọc nhật ký của đằng ấy cho
vong nghe, không sót một dòng nào để vong được hởi lòng
mát dạ... Chúng mình là những thằng con vô tích sự, làm
khổ mẹ khi mẹ còn sống, chỉ an ủi được các hồn ma...
Tôi chụp mũ lên đầu ra đi. Đi một mạch tới quá trưa,
vượt khỏi thung lung tới vùng đồi bao la, mọc các loài gai
nhỏ, cây chổi và cây chạc-chìu. Đến đây bắt đầu phải chiu
gió Lào, thứ gió khô khan, tàn nhẫn hút kiệt cả mồ hôi lẫn
nước bọt.
Không ngụm nước, không hạt cơm, chân bước bồng
bềnh như trong mây... Cứ thế tôi mải miết qua không biết
bao nhiêu ngọn đồi. Mắt mờ đi, cổ họng sưng, nóng bỏng,
tôi lê bước như kẻ mộng du. Vào lúc mặt trời đã chìm một
nữa sau giải đồi xa, tôi chợt nhìn thấy một khuôn cửa hầm
hình chữ A bên khóm chuối. Không còn đủ hơi để cất tiếng
gọi, tôi thu hết tàn lực, lảo đảo tới miệng hầm, nằm vùi
xuống đó...


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
- Ơ chú...
- Chú ơiii...
- Ơ chúúú...
Một tiếng gọi lặp đi lặp lại như con sóng đập vào tai
tôi Giọng nhỏ nhẹ êm ru... Tôi cảm thấy dễ chịu.
Ơ chú... dậy di chú...
Ơ chú... mở mắt ra đi chúúú...
Tiếng gọi khẩn thiết, run run như muốn khóc. Tôi chợt
hiểu rằng tôi phải mở mắt ra, dù điều đó thật khó khăn. Tôi
đang muốn chìm vào một cơn ru rĩn mới.
ƠƠƠ chúúú...
Tôi gắng cựa mình, làm đà để mở mắt. Vệt nắng chói
khiến tôi vội nhắm chặt lại. Vài giây sau, tôi tử từ hé mắt
nhìn. Trước mặt tôi có hai con mắt đen long lanh. Hai con
mắt đó chăm chú nhìn tôi. ánh sáng viền quanh một mái
tóc tơ với nửa khuôn má. Lát sau tôi mới nhận ra khuôn
mặt nó. ĐÓ là một khuôn mặt nhỏ, cân đối, hơi nghiêm
trang. Thấy tôi đã hoàn toàn tỉnh táo, con bé lên tiếng:
- Chú làm tui sợ.
Giọng nó hãy còn run. Tói định cất tiếng hỏi nhưng
lưỡi như bị dính chặt vào hàm. Dường như hiểu ý tôi, nó nói
tiếp:
- Tôi gọi chú từ đầu hôm tới chừ, khản cả giọng. Chú
cứ nằm im như chết... Chừ hết sợ rồi. Tôi đút cháo cho,
nghẹn...
NÓ tụt khỏi bộ ván, chạy vào phía trong. Nháy mắt sau,
nó quay ra bưng một tô mẻ với chiếc thìa cụt đuôi. CÓ một
làn hơi mỏng mảnh bay trên miệng tô cháo. Con bé trèo lên
ván, đ~t tô cháo cẩn thận bên chỗ tôi nằm, rồi nó nhấc đầu
tôi lên đặt vào một bên đùi và múc từng thìa cháo bón cho
tôi Một chất nước sanh sánh, ấm, tỏa mùi thơm của cám
mới lẫn với lúa non. Những hạt gạo nở chưa nhuyễn nghe
lật sật trong hai hàm răng và mắc nghẹn nơi cổ họng sưng
bỏng. "Cơm tẻ mẹ ruột", tôi sực nhớ tới lời mẹ tôi thường
nói hồi xưa. Tôi cố gắng nuốt.
- Rán lên, rán lên đi chú...
Con bé, chừng như đoán ra tình trạng khó khăn của tôi
nên cất tiếng dỗ dành:
Chú sốt cao lắm. Sốt cao thì nước miếng nhạt như
nước hồ. Nhưng phải cố ăn kẻo đau nữa. Cháo gạo mới đấy,
ngon hung!
Hẳn là nước cháo đã kịp thấm vào cái dạ dày lép kẹp
của tôi nên tôi thấy tỉnh táo hơn. Con bé nhanh tay xúc vì
thấy tôi nuốt được dễ dàng.
- Vài muỗng nữa thôi... rán lên chú, rán lên... sắp hết
tô cháo rồi.. sắp... hết...
NÓ vét thìa quèn quẹt. TÔ cháo chắc nhẵn như chùi.
Con bé kéo vạt áo lau miệng cho tôi đoạn chuồi khỏi bộ
ván, mang tô và thìa đi. NÓ lục sục gì đó phía bên trong
không rõ. Một lát sau, ước chừng quãng thời gian hút tàn
điếu thuốc, con bé trở lại, hai bàn tay bưng chiếc chén sành
khói bốc nghi ngút:
Nè chú, rán uống chén mật này rồi hãy ngủ... Rán
chút xíu. Nào, nhấc đầu lên.
Chén nước bốc mùi thơm của mật ong hòa với các loại
lá đồi những thứ lá dân ở đây thường nấu nước uống và bọn
lính chúng tôi thường cắt để ngụy trang pháo và xe. Chất
nước ngọt ấm nóng lan tỏa trong tôi cảm giác êm dịu. Tôi
nhắm mắt. Đùi con nhỏ mềm mại dưới đầu tôi, quần áo nó
bốc mùi nắng khét. Cặp mắt đen đau đáu lo âu của nó chăm
chú đưa theo chiếc thìa nhỏ khiến tôi không thể nào không
hình dung đó là người mẹ trẻ, - nó chính là người mẹ thứ
hai tôi tình cờ bắt gặp tử khi mẹ tôi bỏ tôi xuống tuyền đài.
- Hết rồi. Chừ thì chú ngủ đi, nghen.
Vị nữ thần hộ mệnh của tôi cất tiếng nói, đoạn lấy vạt
áo lau miệng cho tôi. Rồi bò qua chân tôi, nó rút một mảnh
chăn dù:
- Chú ngủ cho ngon, nghen. đừng cục cựa mà chăn
rớt. ĐỘ này ông nội mắc việc chưa dọn hầm được...
Tôi thấy nó trải tấm dù trên thân thể tôi, cẩn thận ém
dưới chân và bên lưng. Tôi chưa thể cất lời. Con bé đặt bàn
tay lên trán tôi rồi nó chuồi xuống hầm. Lúc ấy, tôi he hé
nhìn. Con bé trạc sáu tuổi là cùng, mặc chiếc quần hoa vá
miếng vải đen, chiếc áo xanh bạc phếch. Da đen mịn như
phấn. Môi nhỏ xinh. Một bà cụ non tơ!
Săn sóc tôi xong rồi, gương mặt nó trở nên nhẹ nhõm.
NÓ rút trong túi mảnh gương vỡ, mảnh lược dùa bằng nhôm
máy bay, bắt đầu chải tóc. Bàn tay nhỏ xíu đưa nhát lược đều
đặn, chải chuốt tựa một thiếu nữ. Mái tóc tơ xoè những món
nhỏ hoe hoe nhuộm nắng sau gáy khiến tôi liên tưởng tới
bầy Chúa hài đồng vây quanh Đức Mẹ. Gác chuông nhà thờ
vút lên sau đồi...
Lão BÕ già mặc quần áo thâm chùng đưa mẹ con tôi
đi qua nhà nguyện vào cái ngày khốn khổ mẹ tôi sắp sinh
nở. Chúng tôi đã nhờ cậy vi cha xứ quen thân ông bà ngoại
tôi tìm cách liên lạc với Hà nội và xin viện trợ ít tiền... Cái
ngày xa xôi... Nhưng gương mật xinh tươi của Chúa hài
đồng... Gương mặt vị thần hộ mệnh tôi vừa xuất hiện... Thế
giới của các ảnh tượng cũ và mới nhảy múa, ru tôi đi mãi...
Trong giấc mơ thoạt tiên thanh bình rồi sau thảng
thốt, tôi thấy nạn hồng thủy: Một đợt sóng lừng từ chân trời
cuồn cuộn dâng ngọn thủy triều đen ập tới trùm phủ khắp
nơi... rừng núi, khe suối, thành phố, làng xóm, - mặt trận
bên đông, mặt trận bên tây, - những người lính chiến đấu
cho quốc gia lẫn chúng tôi, đội quân chiến đấu cho chủ
nghĩa xã hội, - những con chim tước và sơn ca, những con
thỏ và những con cáo, những con chim kền kền chuyên ăn
xác chết, - và các loại dòi bọ, các loại kiến mối... thảy thảy
đều chìm.
Ngọn thủy triều đen xóa mọi biên giới. Cả những đỉnh
non đầy sao, cả những ngọn cây đầy nắng. Các gác chuông
nhà thờ và các kho lưu trữ chồng chất các tuyên ngôn, các
hệ thức luận, các biên bản bút chiến giữa những ông lớn đầu
hói râu dài, những nghi quyết đẻ lổm ngổm từng đàn cừu
đam mề và suy tưởng... Tất cả.
Trong nụ cười lặng lẽ và ngạo mạn, thủy triều đen trải
lên mặt nước vô cùng tận những bọt sóng màu lam xám. Và
mặt trời trên cao rọi sáng, phản chiếu lên vẻ đẹp thê thảm
của thế gian những giọt nước mắt xanh lơ rơi từ một tinh
cầu xa lạ. '!Thế là hết - Không còn ai - Lc công bằng dành
cho con người. Quà tặng cuối cùng của tạo hóa..."
Nhưng mà không! Nơi chân trời đen thẳm, bỗng hiện
lên những chiếc mảng bập bềnh. Và tôi thấy khắp nơi, ngoi
ngóp dưới làn nước màu chì, những con người tuyệt vọng
trồi lên cố bám lấy những mảnh bè hi vọng. CÓ tôi trong
dám đóng ấy. Tất cả chúng tôi lúc nhúc như kiến bọ, chen
chúc nhau trên những con thuyền Nó-ê mỏng manh ghép
bằng tre nứa. Tất cả chúng tôi đều trần truồng, ướt nhảy, kẻ
ít tóc thì phơi lớp da sọ, kẻ râu rậm tóc dài thì lướt thướt
như lũ dê già lội sông. Toàn bọn đực rựa, không mảnh vải
che thân, ngồng ngồng phơi bày các loại của nợ...
Giữa cảnh ấy, chúa hài đồng nhỏ bé của tôi hiện ra
trong tấm áo xanh bạc ngắn cũn, chiếc quần hoa cũ vá mụn
đen, món tóc hoe vàng vì phơi nắng. Nàng tiên giản dị ấy lần
lượt nhặt từng gã đàn óng nhỏ bé và trần truồng như con
chuột nhắt, nàng tắm cho từng người trong một chiếc chậu
sành. Những gã đàn ông ấy, bi cơn hồng thủy phù phép, trở
thành thứ sinh vật nhỏ bé khốn khổ đã ngoan ngoãn ngồi
trong chiếc chậu sành như thuở mới lọt lòng...
ô, ông đã về... ông ơiii...
Tiếng reo bất thình lình đập tan cơn mê. Tôi choàng
dậy. Một ông già đứng giữa hầm, xây lưng lại phía tôi. Con
bé ôm chặt lưng óng, kêu lớn:
Răng mà ông đi mô rứa? ông làm cháu sợ cả đêm...
Chui cha, ông đi mô mà đi hoài vậy? ...Hu hu hu...
Con bé khóc, khóc nức nở, tức tưởi như bị đòn oan.
ông già ve vuốt nớ:
Thôi mà... ông xin... Cho ông xin...
- Hu hu hu... hu hu...
Con bé càng khóc to hơn, chen vào từng cơn là những
tiếng nức nở. Tấm thân nhỏ bé rung lên, ông già ngồi phục
xuống, ỏm đầu nó mà hôn hít, thít tha:
- Cho ông xin mà. ông xin con... Lặng nghe ông nói
này: ông qua thăm ông Kiến, mẹ Kiến với đám con cháu
trúng đạn cối chết cả lượt. ông phải Ơû lại giúp đám ma. Sau
ông phải rẽ qua dì Hường, cho tụi nhỏ vài ký gạo. Rồi ông
tạt lên rú kiếm ít mật ong... Con xem nè, đõ ong nguyên.
Còn cả ong non, lát nữa óng cháu mình ăn nghen...
Con bé vẫn còn nức nở, dụi đầu vào cổ ông. ông già
vuốt ve nó gượng nhẹ. Chăm chú như trong mỗi cái vuốt ve
ấy ông phải cố gắng chống lại sức nặng và thói quen của
bàn tay người làm việc nặng. Tôi nhắm mắt, vờ ngủ. Cuộc
đối thoại tiếp tục:
Con đừng khóc nữa nghen.
Dạ.
Sớm mai tới chừ con ăn chưa?
Con ăn cháo.
Sao không nấu cơm? còn gạo mà?...
- Không.
- A... ông biết rồi. Con nấu cháo cho chú bộ đội ăn...
Đau hả?
Dạ.
Chú ấy đau sao?
Khi hôm, con ra sau vườn kiếm rau nấu canh. Lúc
quay vào, thấy chú nằm úp dưới gốc chuối. Con kêu hoài
chú không thưa. Con qua bên o Lài nhờ o Lài bồng chú
xuống hầm. O ấy xoa dầu cho chú xong phải về cho thằng
Lanh bú. Mình con ngồi canh. Mãi ông không về. Con đốt
đèn cả đêm, hết kêu lại rứt tóc chú, chú chẳng thưa.
Sợ hả?
- Con sợ chú chết luôn. Chết xuống dưới mồ, chẳng
bao giờ dậy như cha.
- Chú ấy không mở mắt, không thưa nên con không
dám ngủ...
Chui cha, cháu ông ngoan quá. ông thương cháu
nhất đời...
Hai ông cháu lịch kịch giờ đồ đạc, sửa soạn nấu ăn. Vi
thần hộ mệnh của tôi đã trở lại là một đứa bé được nuông
chiều. NÓ ăn ong non, mật, nhõng nhẽo đòi ông kết tóc đuôi
sam. Thỉnh thoảng nó lại kêu to:
Không cơ...
ông già xoa suýt:
- Đừng kêu... đừng kêu, chú bộ đội mất giấc ngủ...
Lặng nghe ông bảo nè...
Tôi lại ngủ tiếp giấc thứ hai cho tới tận hoàng hôn.
Ngoài trời chạng vạng, trong hầm đã phải thắp đèn. ông lão
cho tôi ăn cháo nấu với mật ong. Sau đó, ông ép tôi uống
một bát nước đen đặc, gồm những lá cỏ, - một bài thuốc
dân giã lưu truyền. MỒ hôi toát ra ướt như tắm, người tôi
nhẹ bỗng như vừa xông hơi nước xông. ông cụ đem tới
mảnh nồi đất vỡ, chứa than hồng:
- Lát nữa, khô hết áo quần con sẽ tỉnh... Nào, đã thấy
đủ hơi nóng chưa? '
Tôi gật đầu. Hơi than tỏa trong hầm rất nhanh, làn gió
ấm thoang thoảng chờn vờn trên da thịt. Tôi trôi tiếp vào
một cơn mê khác, một giấc mơ an bình.
Sáng hôm sau, khi mở mắt, tôi thấy mình lọt giữa một
đám người. BỘ ván rộng đặc kín những chăn dù, vải tăng.
Vào lúc tôi tỉnh ngủ, mọi người cũng thức giấc. Lần lượt,
những tấm chăn tung lên. Tôi thấy bên trái mình là ba cô
thanh niên xung phong, còn bên phải là hai anh thông tin kỳ
cựu Hai ông cháu nằm trong cùng.
Căn hầm hừng hực hơi người, ấm nhưng ngột thở. Mọi
người ngồi dậy. Các cô gái chải tóc, sửa sang quần áo một
cách hồn nhiên trước mặt các chàng lính già. Hai anh thông
tin tóc muối tiêu hí hờn chuyện trò, biết chẳng được sơ múi
gì nhưng có âm có dương, đời thêm chất ngọt.
Tiếng bom dội từ hướng tiền duyên vẫn ầm ì vọng đến.
ông lão bưng ra một nồi khoai khô nấu đậu:
- Các con ăn buổi mai cho no, lấy sức lên đường.
Vị chúa hài đồng bé xíu của tôi đem ra chồng bát đủ
loại: bát sứ, bát sành, bát sắt Trung quốc, bát B.52... Bom đã
phá vỡ hết thảy những đồ gia dụng quí bằng pha lê hoặc
bằng sứ. Nhà nào cũng ước ao cớ được một chiếc hăng-gô
lính và một chục bát sắt tráng men.
Các cô thanh niên xung phong vừa đùa giỡn hai anh
lính vừa xúc khoai nấu đậu ra bát. HỌ mời nhau rầm ran:
- Chúc anh ăn no, deo chân hành quân nhá. Từ đây
vào tới trạm còn xơi đường đấy...
- Chúc em ăn nhiều, chóng thành trục lăn nhé... Bao
giờ chiến thắng, về quê em chơi, có mời tụi anh thịt gà
không đấy?
- Cớ chiến thắng, về quê, em thịt hẳn con nhái bén
làm cỗ mời hai anh...
HỌ vừa ăn vừa cười rinh rích, vừa đấm lưng nhau thùm
thụp. Bữa sáng xong, người nào người nấy chào chủ nhân
rồi lên đường. Tôi nghe tiếng họ ngoài cửa hầm lẫn với
tiếng rền của một đợt bom từ chân trời phía tây vọng tới:
- Các anh đi, thắng lợi nhé...
- Chào... Chào...
- Tụi em chòng ghẹo quá lời, đừng giận nghe không?
Không... Không...
Một bàn lay lạ, rất ấm và đầy sờ lên trán tôi. Một vật gì
đó khá nặng đặt bên cạnh:
BỌ ơi, con chào bọ... Cớ hộp sữa để cho anh bộ đội
bi ốm. BỌ nới tụi con gửi lời chào anh ấy, chúc anh ấy chóng
khỏe.
- BỌ ơi, đêm qua con nằm cạnh anh ấy. Thế là duyên
trời đã đinh, như Chữ Đồng Tử hiện dưới màn chúa Tiên
Dung. BỌ bảo anh ấy phải ghi tên tuổi con. Bao giờ chiến
thắng, về làng Nga mi đem trầu cau ăn hỏi...
HỌ đi xa dần, tiếng cười lanh lảnh vọng lại. Cả ngày
hôm ấy, chập chờn những cơn mơ màng, tiếng cười trẻ trung
ánh ỏi của họ ám ảnh tôi. Tối đến, tói dứt hẳn cơn sốt. Sáng
hôm sau, tôi chào chủ nhân lên đường. Nhưng ông lão đã
dằn ba-lô của tôi xuống tấm ván:
Con chưa đi được.
Thưa bọ, con phải tới K. Việc quan trọng không thể
trì hoãn.
- Từ đây tới K sức bò tót mới đi bộ được. Con xa lạ
không biết, nhưng bọ biết. Ngày trước, người ta đi ngựa tới
đó CÓ khi ngựa chết dọc đường nếu không chọn giống ngựa
khỏe!
- Con sốt ruột lắm. Thời gian...
ông già nghiêm nghi bảo:
- Chiến tranh còn dài. Con phải giữ sức chiến đấu.
Con là người lính của nhân dân.
Tôi im. ông nói tiếp:
- Ơû lại vài ngày. BỌ bồi dưỡng cho. Hồi hôm, bọ đã đổi
chai mật ong.lấy con gà. Hôm nay đem nấu cháo. Sớm mai
bọ vào khe bắt vài con cá về nướng. Cá nướng chấm mắm ăn
chóng lại sức lắm... Thế, kha khá lên con mới đủ sức mà bò
Nói đoạn, ông lão lui cui vào hầm xách bu gà. Trong
chiếc bu gà dẻo do, một con gà mái tơ dương mắl thao láo
nhìn tôi. Cái mào mới nhú, đỏ tươi... Chắc nó chưa kịp đẻ
lứa đầu. Tôi nằm xuống ván, gối đầu lên tay, đăm đăm nhìn
kèo hầm.
Dọc theo kẽ nứt của cây kèo, một đàn rệp béo mọng
xếp hàng nằm nghỉ. Lũ rệp thời chiến là những ông hoàng
bã chúa. Chúng được tự do và luôn luôn no đủ. Người ta
hiến máu cho chúng một cách vui vẻ vì, so với lệ phí của
bom đạn thì đó chỉ là những khoản thuếcòm...
Tôi thờ Ơ lướt qua lũ chúng, lặng nhìn khoảng trời bên
ngoài. Hôm nay nắng. Trời lơ thắm tươi không gợn mây. Tôi
thầm cầu mong cho sức khỏe mau chóng trớ lại để lên
đường... Chắc giờ nãy, Lương đang nhắc tôi.
Tấm sơ đồ của người giao liên quá đơn giản! Nếu
không gặp anh chàng Vân kiều Te Chiêng, tôi dám chắc
không thể tìm đến K. được. Tôi gặp Chiêng trong lúc anh la
ngồi bên bờ suối, phơi la liệt những lá thư bi thấm nước.
- Làm sao thế
Mình bi ngã, ướt hết gùi thư. BỘ đội đi đâu?
- Tới K.
- Thế cùng đi. Mình gùi thư tới cho lũ ở K.
- Từ đây tới đó bao nhiêu cây số?
Mình không hiểu. Cây số là cái cây gì?
- A... Chừng một hay hai ngày đường?
Không, bộ đội có đi nhanh bằng ngựa được không?
Con ngựa khỏe đi hết ba ngày đêm mới tới.
Chúng tôi cùng đi, băng qua hai cánh rừng và một con
suối lớn. Đêm xuống, hai chúng tôi chui vào một chiếc hang
nhỏ vừa đủ kín tới khoeo chân. Sáng hóm sau, một luồng
ánh sáng đỏ rọi vào mắt khiến tôi bừng tỉnh. Tôi ngồi dậy,
bàng hoàng. Không gian đỏ rợn như pha sắc máu vây phủ
bốn bên. Tôi dập vào lưng Chiêng:
- Dậy, dậy...
Anh chàng Vân kiều trở mình, vùi đầu vào cánh tay:
Ngủ nứa đã, mình mệt lắm... chưa đi được đâu...
Chiêng lại ngủ. Tôi tựa vào anh ta. Hơi ấm truyền từ
con người hoang dã ấy cho tôi thêm sức mạnh. Tôi choáng
váng trước cái không gian lộng lẫy khủng khiếp này. Nơi
chúng tôi ngủ là rẻo núi đá cuối cùng, cái hang nhỏ như
hang của con cáo độc. Từ hang đó trở đi là giải đất lởm
chởm cỏ gai, dài ước chừng dăm chục mét. Sát mép cỏ là cát.
Cát đỏ như máu, chạy ló xô tới tận chân trời. Một hoang
nguyên cát đỏ. Một sa mạc máu kết tinh. Màu đỏ phản
chiếu ánh rạng đông, hắt lên sắc hồng ma quái. Bầu trời lơ
nhuốm hồi quang trở nên tím rim.
Gió thổi từ chân trời trơ trụi cát, phả lên không trung
những ngọn triều đẫm máu. Những ngọn triều xô dạt, rượt
đuổi, phiêu du dưới những tia mặt trời tê quết. Cảnh tượng
ấy đắm trong một giai điệu âm u, xa tít tắp, rì rầm không
ngớt tựa hồ có bài kinh nguyện vô cùng, có bài ca cám dỗ vô
cùng, có những lời rủa nguyền dốc dịa vô cùng, tất thảy giao
hòa trong phức điệu đẫm máu của thời gian, tồn tại từ niên
kỷ này qua niên kỷ khác, và rắc xuống mặt đất những giọt
máu oan khốc.
Từ những giọt máu ấy, nảy sinh ra loài cây dại hình thù
từa tựa như cây duỗi, quả kết chùm màu huyết làm chốn
quanh quất cho những bầy bướm ma là loài bọ hóa thân của
những oan hồn...
- Chiêng, Chiêng...
Tôi đập túi bụi vào vai anh chàng Vân kiều. Hắn ngồi
dậy, dụi cặp mắt đỏ kè. Tôi bảo:
Nắng quá rồi.
Chiêng lè nhè:
- Thì nắng cả ngày mà... CÓ trốn được đâu?
Chiêng đã quen thuộc vùng này, anh ta bình thản.
Nhưng tói sợ. Nơi chân trời, từng làn bụi đỏ bay, kéo lê trên
mặt đất cái bóng mờ ảm đạm. Ngọn gió lo âu, phấp phỏng
chờ... ai đó?... CÓ thể là tôi... Rất có thể là chính tôi. Bầu
không gian tẩm máu tử trong các huyền sử đã thổi về hơi
thở lạnh buốt của ân oán. Thịt da các tử thi nguội lạnh đi,
tan rữa qua các thiên niên kỷ nhưng bóng dáng các âm hồn
vẫn lảng vảng đi về...
BỘ đội làm sao xanh lct?... ốm à?
- Vâng, tôi khó chịu.
- Mình cho bộ đội uống thuốc nhé?
Thôi, cảm ơn.
Tuổi trẻ của chúng tôi kiêu hãnh làm sao! Ngày lên
đường, mười năm trước đây, tôi không mường tượng tới
cảnh này. Lúc ấy, chúng tói chỉ muốn hát khúc khải hoàn.
Dù phải bắn cối, bắn liên thanh, gài mìn, đâm lê, thọc dao
găm... các kiểu giết người đều tốt... miễn là được ca khúc
khải hoàn... Bóp cò, băm vằm không chán tay trong hứng
khởi thù hận và đòi công bằng trong thù hận.
Bây giờ, hai mươi tám tuổi, tóc có dăm sợi bạc, tôi đi
qua mảnh đất xưa kia chính là khải hoàn môn của tổ tiên
mình. Bao nhiêu niên kỷ trước, có thể ông tổ tôi đội nón
dấu, vác súng hỏa mai và đeo mã tấu đến đây, và hát khúc
khải hoàn, và uống rượu khao quân trong những chiếc bát
loe bằng đất, và sung sướng khôn cùng, và kiêu hãnh vô
hạn...
Anh chàng Vân kiều đái tồ tồ một bãi ngay bên tôi,
không thèm bước quá vài bước chân. Rồi bảo:
Ta đi thôi.
Tôi đeo ba-lô, lặng lẽ đi theo Chiêng, Mỗi bước, tôi
phải bấm chân xuống cát vì không gian rung rung xung
quanh như sóng... NÓ làm tôi chòng chành, nó khiến tôi
ngột thở. Chân trời cát đỏ tóe máu lên chân mây. Cả những
gợn mây trắng li ti cũng nhuốm sắc đào. ~ những bụi gai
xương rồng mọc ven tráng cát cũng có màu máu loãng.
Những chùm hoa xương rồng ngậm sương, trông giống hệt
những giọt máu vẩy trong ống thủy tinh...
Tuổi trẻ cơ cực của tôi, tuổi trẻ tội nghiệp của tôi, cớ
sao bắt tôi cảnh tượng này... Bất chợt, Chiêng dừng lại:
BỘ đội thấy đẹp chưa, sau cái gò cát đó.
- Cái gì?
Anh chàng Vân kiều giơ tay chỉ...
Tôi nhìn thấy sau một gò cát nghiêng nghiêng, lởm
chởm những búi cỏ mặt trời, hiện lên một cái tháp Chàm.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Người tiếp tôi không phải sư trưởng Nguyễn văn Hào,
cũng không phải chính ủy Đoàn Trọng Liệt! Uổng công tôi
gìn giữ hai lá thư nọ phẳng phiu, khô ráo. Cả sư trưởng lẫn
chính ủy đã rời K từ mười hai ngày trước, đi dự một hội nghị
quan trọng trên quân đoàn.
Người tiếp tôi là Đào Tiễn, thấp béo, mắt ti hí, giọng
nói rốn ráng sang trọng. ông ta cỡ ngoài năm mươi tuổi,
đầu hơi hói. Sau khi đọc xong cả hai lá thư của Lương gửi sư
trưởng và chính ủy, Tiễn bảo:
- Ba chúng tôi như anh em một nhà. Đồng chí cứ xem
xét tình hình rồi đề xuất biện pháp. Việc gì đồng chí Hào,
đồng chí Liệt giải quyết được, tôi cũng giải quyết. Đừng
ngại.
Thấy tôi nóng ruột muốn gặp Biền ngay, ông ta cản:
- Chín ngày đêm đi bộ không phải chuyện bỡn. Hãy
nghỉ ngơi đã. Cậu ấy chẳng thăng thiên cũng không độn thổ
được đâu
Nói xong, ông cười hềnh hệch. Con mắt bé tí ánh lên vẻ
ranh mãnh của một nhằng ôn vật hơn là một người chững
chạc đã tới tuổi ngũ tuần. Tôi đành xuống phòng khách sư
đoàn ngủ. Nhưng chưa kịp mắc màn, ông sư phó đã mò vào:
Đồng chí uống nước chè chưa?
- Cảm ơn, không cần đâu.
Tôi có mang chè xuống đây. Chè Tây Nguyên uống
tạm. Nước đen thui như nước gạo rang.
ông ta lúi húi pha chè vào chiếc ca quân dụng rồi róc
ra hai chiếc bát sắt tráng men cỡ nhỏ:
- Mời đồng chí.
- Vâng, cảm ơn.
- ơn nghĩa gì! Đồng chí trẻ tuổi mà sao khách sáo
thế Dân Hà nội à?
Không, tôi người làng Đông tiến.
Trông như người thành phốấy!
- Bề ngoài thôi. Cái bề ngoài hay làm người ta nhầm.
- CÓ vẻ như cả bề trong nữa. Tôi ít khi nhầm lắm. Cả
sư đoàn biết điều đó.
Tôi mỉm cười:
- Trường hợp này thì đồng chí nhầm.
ông ta cười:
Ư thế cũng hay. Đồng chí bao nhiêu tuổi?
- Hai mươi tám.
- Tuổi con khỉ, đúng bằng thằng em út tôi. NÓ cũng bộ
đội
Anh em gặp nhau chắc toàn chuyện lính, tha hồ vui.
Chẳng vui lắm đâu... Trước nó cứ đòi đi học đại học
y làm bác sĩ. Tôi phải chỉnh cho nó một trận nên thân nó
mới chịu vào lính.
Tôi nói:
- Thành bác sĩ cũng có ích cho xã hội. Cứ gì phải làm
lính mới nên người. Trong đơn vị tôi chẳng hạn, có một gã
tên là Hùng... đánh trận giỏi, giết năng xuất nhưng...
Đào Tiễn giơ tay, xua lấy xua để:
Thói thôi, tôi biết luận điệu của đồng chí rồi. Y như
thằng em trai tôi. Bọn trai trẻ bây giờ suy nghĩ nông cạn
lắm. Chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt, không nhìn thấy cái lợi
lâu dài. Chỉ nhìn thấy vinh quang của bản thân, không nhìn
thấy vinh quang của TỔ quốc.
~Đ mẹ thằng già, lại bắt đầu lên lớp." Tôi cười nhạt:
- Vâng, t~li trẻ chúng tôi ngu dốt, đồng chí cú phân
tích cho.
Sư phó Tiễn nhìn xói vào mắt tôi:
Này, đừng riêu nhá... Tôi không lạ gì tụi lính trẻ bây
giờ.
Tôi uống một ngụm chè đen, đỡ mệt. Tôi bảo ông ta:
- Tôi tỉnh ngủ rồi, xin tiếp chuyện đồng chí. Thực ra ai
mà chẳng có cái ngu. Nhưng chắc chắn cái ngu của người
này khác cái ngu của người kia. Bọn tôi lớn lên, đến tuổi thi
hành nghĩa vụ thì đăng lính. Ai cũng có máu Việt nam trong
tim cả. Cứ có một thằng giặc khác dòng giống nào trên đất
của mình thì sống chết cũng phải đánh bạt chúng đi. HỌ
Trần ngày xưa diệt quân Nguyên cũng thế. HỌ Lê ngày xưa
diệt quân Minh cũng vậy.
ông ta gật gù quấn một điếu thuốc, thứ thuốc lá đen
của dân Vân kiều, nhựa đặc sánh như mật gấu, người không
quen, hút một hơi là lăn quay! Cuốn chặt lá thuốc, Tiễn lè
lưỡi liếm cho mép lá dính chặt thành sâu kèn. Vẻ mặt ông ta
toát ra niềm tự đắc và viên mãn:
- Cũng đúng. Nhưng chỉ là một nửa sự thật thôi. Các
đồng chí ít tuổi mà không chiu học tập chính tri. TỔ tiên
chúng ta dũng cảm nhưng không có may mắn được lịch sử
lựa chọn và trao gửi một trọng trách như chúng ta bây giờ.
Đồng ý là nhà Trần, nhà Lê, nhà Nguyễn đã có những chiến
thắng oanh liệt, nhưng đó chỉ là những cuộc chiến tranh bảo
vệ tổ quốc đơn thuần. Chúng ta khác: Chiến thắng của
chúng ta không chỉ là chiến thắng của một dân tộc nhược
tiểu với lũ đế quốc mà còn là chiến thắng của hệ tư tưởng
Mác-xít. Chỉ có hệ tư tưởng Mác-xít mới thiết lập được chủ
nghĩa cộng sản trên toàn trái đất, thực hiện được giấc mơ...
CÓ tôi nhớ rồi... thiên đường của loài người.
Đào Tiên vội hỏi:
Các đồng chí không qua các đợt học tập à?
CÓ Nhưng chúng tôi học cách đánh hơi kẻ thù, thăm
dò độ cứng của đất, bố trí các Oå hỏa lực nhiều hơn... Thành
ra chúng tôi quên béng những bài học kia.
Đào Tiễn nhường cặp mắt ti hí lên:
- Oâ hay, đồng chí chỉ huy đơn vi mà...
- Vâng, đơn vi chúng tôi chiến đấu cử lắm nên được
cấp trên cưng chiều, chúng tôi ít phải học tập chính trị. Hết
đánh trận thì chúng tôi đánh bạc bôi râu và đi săn thú cải
thiện...
Đào Tiễn thở dài:
Lạ thật!
Em trai đồng chí chắc cũng giống tôi. Tuổi trẻ mắc
tật hay quên là thường chứ đâu có gì lạ.
ông ta cau mày:
- Vấn đề chính là sự nghiêm túc trong tư tưởng.
Không thể quên những điều hệ trọng như thế được!
- Sự lãng quên không có tư tưởng...
ông ta trả lời gần như gắt:
Đồng chí không hiểu ý tôi!
- Vâng...
Hai chúng tôi ngồi im lặng. Ngọn đèn săng nổ lép bép.
Tôi buồn thầm, riêng nghĩ "Thôi, trêu chọc lão ta làm gì?
Dầu sao lão cũng hiền lành, tử tức. Vả, ngày mai, chính lão sẽ
giải quyết chuyện thằng Biền..." Bên ngoài, tiếng cú rúc
vọng tới. Rồi sau đó, âm điệu mơ hồ của đêm.
Tôi nói vớ vẩn:
- Chè đen của đồng chí ngon đấy.
- Ơø thứ này ngon nhất trong các loại chè đen. Nhưng
không thể sánh được với chè Thái nguyên miền Bắc.
- Vâng, chè Thái tuyệt thật.
Tói hình dung thứ nước chè trong vắt, màu vỏ chanh
hượm hượm chín, róc vào chén sứ men ngọc. Tói thấy thứ
chén chè sang trọng như thế, lần đầu tiên tại nhà một thằng
bạn quê Ơû Hà nội. Chúng tôi quen nhau vì nó sơ tán, Ơû nhờ
nhà dì Huyên trong xóm. Thái nguyên. Trung đu...Cọ chơ vơ
đợi nắng trên các mỏm đồi. Con đường rải đầy rơm tươi,
nồng nàn mùi lúa chín... Chúng tôi là những người đồng
hương. ôi ,... miền Bắc... tôi hỏi:
- Em trai anh tên gì?
- Đào Khánh. Hồi mới sinh, ông cụ tôi đặt Đào Bảo
Khánh. Sau, nó tự ý bỏ tên lót đi. Cái thằng bố láo.
- Khánh Ơû sư đoàn nào?
- Z 702. Hình như cách đây vài tháng, đơn vi nó
chuyển tới thung lũng Ba cây sồi.
Tôi giật thót trong tim:
Đồng chí nói sư nào?
Đào Tiễn đáp:
Sư Z 702. Tên khó nhớ nhỉ?... Cái thằng tính oái
oăm, vào đơn vị có con số cũng oái oăm! RÕ thật nồi nào
vung ấy.
Tôi ngồi lặng. Z.702... Z.702... không thể nhầm được,
đúng con số đã ám ảnh tôi cũng như nhiều anh em trong
đơn vị từ ít lâu nay.
Ba tháng trước đây, chúng tôi bị rơi vào vòng vây của
ngụy. Bọn chúng khống chế các điểm hỏa lực ưu thế hơn tụi
tôi Lực lượng cũng hơn tụi tôi ít nhất ba lần. Trận đánh
diễn ra từ lúc mờ sáng cho đến nửa đêm. SỐ thương vong
quá lớn, không còn hy vọng tải thương ra và tìm đường
thoát thân.
Chúng tôi vừa hứng chịu các làn đạn của địch, vừa
chiến đấu một cách tuyệt vọng với ý muốn cuối cùng là
nhích đến sự cân bằng phương trình hủy diệt. ít nhất cái
chết của mỗi chúng tôi cũng phải đổi được dăm bảy sinh
mạng đối phương. Chúng có thể mạnh hơn, ưu thế hơn,
nhưng bọn công tử ăn trắng mặc trơn ấy không thể có được
chí quyết tử.
Tinh thần quyết tử là phẩm chất đầu tiên của người
lính, của bất cứ đội quân nào muốn chiếm lĩnh khải hoàn
môn.
Mặc dầu bóng đêm dãy đặc đã bao phủ, các điểm hỏa
lực không ngừng róc. Khả năng chịu đựng bền bỉ cuộc đấu
thì chắc chắn chúng tôi hơn hẳn mọi đội quân trên thế gian.
- ~m hụm nước.
Cậu nào ghé tai tôi. Hóa ra Phiến! Tôi bảo:
- Bi-đông tao dắt sau đít ấy.
Phiến gỡ bi-đông, uống ừng ực, rồi cậu ta mò mẫm thắt
lại vào dây lưng tôi.
- Anh Quân, mình bắn dính thật!
- Sao biết?
- Nghe tiếng chúng hộc lên thì biết. Tai em thính nhất
đơn vi mà! Sao anh điểm hỏa tài thế
- Tao ngửi mùi.
Ngửi mùi!
Tại tao cầm tinh con chó, gì tao cũng ngửi mùi hết.
Thôi, về vị trí đi. Sắp sửa rồi đấy...
Tôi vừa nói xong thì '!thụp!!... một quả cối cá nhân rớt
rất gần. Chúng tôi chúi đầu, nghe mảnh pháo rít s~t sạt
ngang tai. Lại một trận đối khấu của các họng súng...
Khoảng hai giờ sáng, các hỏa điểm của địch yếu dần,
bọn chúng giàu đạn nhưng có lẽ đã cạn người...
Chúng tôi kiểm điểm lại số quân chiến đấu và số
thương vong. Thái không nói gì, tôi cũng không nói gì
nhưng trong lòng không khỏi kiêu hãnh. Nghệ thuật cân
bằng phương trình hủy diệt là nghệ thuật siêu đẳng của
chiến tranh. Một ta bằng bảy nó. Kẻ địch bao giờ cũng bị
đinh giá rẻ.mạt như thế. Ai tìm được cách cân bằng phương
trình sẽ thắng.
- Thèm thuốc quá!
Thái ghé sát tai tôi thì thào. Giọng cậu ta khản đặc.
Tôi bảo:
- Nhin tí nữa.
Thái nói:
- Anh trì thật.
Tôi lặng im không đáp. Tôi đang tranh thủ chợp mắt.
Tựa lưng vào mô đất, kẹp súng giữa hai đùi, tôi lơ mơ ngủ.
Trong mọi cuộc chiến, tôi đều chóng vánh ngủ được ngon
lành như thế. Chỉ cần năm phút, bảy phút, mười lăm phút...
thư dán toàn bộ thần kinh, tự cắt bỏ cảnh trạng quanh
mình, tự ru rĩn vào cơn phiêu lãng ngắn ngủi, tự đắm chìm
vào những cơn mơ đẹp nhất. Và liền ngay sau đó tôi sẽ lại
hồi sinh. Lúc này đây, tôi đang mơ thấy một mảnh ruộng
xanh. Khoảnh đất gần đình, nơi dành riêng gieo mạ ngày
mùa, và, những chiều rảnh rỗi, bọn trẻ làng ra đá bóng. Tôi
ngửi thấy mùi mạ non. Tôi nhìn rõ những nhánh mạ lốm
đốm vệt bùn...
Chợt một tràng trung liên rộ lên phía nam, âm vang
theo khe BÒ chửa. Tiếp nối là những tràng súng khác. Thái
quát:
- Bọn chó đến tiếp viện!
Tôi nhỏm dậy:
- Bình tĩnh đã.
Thái bảo:
- NÓ tới đông đấy. Mình điểm hỏa luôn, thi uy trước.
Tối thế này, nhà ngói như nhà tranh. Nếu để tụi nó đến gần,
lúc trời rạng sáng, biết chỉ có một dúm người là chúng nó
nghiền mình thành bột.
Thái vừa nói xong, hai Oå trung liên của mấy cậu phía
sau đã khạc lửa đỏ lòe. Thái huých vào lưng tôi:
Đinh hướng cho chính xác nhá. Đạn cứ ăn giữa khe
là thế nào tụi chúng cũng dính.
Một trận bắn quyết liệt giữa hai bên. Nhưng có một ý
nghĩ lởn vởn khiến tôi bối rối. Tôi không hiểu mình nghĩ gì.
Phút chốc, tôi đứng đờ ra nhìn những đường đạn đi vàng
khè. Bóng đêm bị cày nát, bi xé rách tơi tả vì vệt đạn băm.
Anh Quân...
Tôi quay lại:
Cậu nào?... à, Phiến.
Phiến thở hổn hển:
- Anh Quân, dừng lại đi... Em nghi ta bắn nhầm!
Tim tôi khứng lại. Một tia sét bổ đôi óc tôi ra và tôi
chợt hiểu cái ý tưởng lù mù từ nãy như đám sương lởn vởn:
- Tại sao?
Tôi quát hỏi Phiến, nhưng trong lòng đã xác định một
sự thật hiển nhiên. Phiến run run đáp:
- Toàn tiếng súng của ta. Không có cối cá nhân.
Không có một phát cối cá nhân nào.
Tôi hô:
- Dừng lại, tất cả dừng lại...
- Dừng lạiii...
Thái ngừng tay trước hết. Sau đến các tay súng khác.
Tất cả im bặt, chờ lời giải thích. Tói nuốt nước bọt, lên
tiếng:
- CÓ thể là quân tiếp viện của chúng ta.
Tất cả im lặng. Nghe rõ tiếng chân Thái đạp lên chiếc
vỏ đồ hộp. Lát sau, Lũy run run nói:
- Thảo nào em cứ ngờ ngợ... Bắn cứ ghê ghê tay!
Thái hỏi tôi:
- Giờ làm sao?... án binh bất động, chờ đến sáng
chăng?
Đến sáng thì từng bầy trực thăng sẽ đổ quân tiếp
viện xuống. Lúc ấy mới thật cùng đường.
- Thế anh định sao?
- Ta chủ động khai hỏa. Mục tiêu Ơû phía tây, chúng ta
không có đạn cối. Nếu ta nhận dược tiếng đạn của quân tiếp
viện thì các đồng chí ấy cũng sẽ đoán được tiếng đạn của ta
và tập trung hỏa lực vào mục tiêu. Xong, phải tìm cách rút
ngay. Rút về hướng nam, dọc theo khe BÒ chửa. Tất cả làm
công tác thương binh, tử sĩ cho tốt.
CÓ lẽ, vào khoảnh khắc ấy, sự nghiệm sinh đã cho tôi
khả năng nhận định tình thế một cách minh mẫn.
Sau khi chúng tôi khai hỏa được chừng vài phút, có
tiếng súng hiệp đồng quả nhiên phát động bên phía nam.
Hàng ngàn tia lửa dạn rạch như pháo thăng thiên chụm về
tuyến quân dịch. Hỏa lực của chúng rất yếu. Thi thoảng mới
có vài phát cối cá nhân. Liên thanh bắn từng tràng rồi đứt
đoạn. Một giờ hai mươi lăm phút sau, tiếng súng bắn trả
ngưng lặng.
Chúng tôi hối hả kiểm điểm thương binh tử sĩ, phân
công nhau cõng và tải thương rồi rút lui. Rạng sáng, chúng
tôi gặp quân tiếp viện tại cánh rừng lùi sau khe BÒ chửa
chửng non cây số. Đơn vi này mang số hiệu Z.70Z... ĐÓ là kỷ
niệm u ám nhất trong những kỷ niệm của đời tôi!...
Tôi nhìn sư phó Đào Tiễn, lén lút lục soát trí nhớ xem
trong đám thương vong của Z.702 có gương mặt nào na ná
gióng ông ta không.
Hai mươi tám... Tuổi con khỉ... Ngang bướng lắm...
Biết đâu em trai ông ta đã chẳng dính đạn mà tử vong trong
cái đêm kinh hoàng ấy?
Nhưng gương mặt lính sau cuộc chiến đều nhem nhuốc
khói súng, máu, đất bụi... Tử thi nào cũng giống nhau.
Đào Tiễn chợt cất tiếng hỏi tôi:
Tôi có bản tin mới, dộng chí đã đọc chưa?
Vâng, tôi đọc rồi.
Trước đây, tôi chăm đọc các bản tin của mặt trận.
Nhưng có lần, tình cờ nhặt dược Ơû binh trạm 88 một mảnh
báo Nhân Dân cũ. Trên mảnh báo ấy, người ta tán tụng
những thắng lợi của mặt trận B5 năm Mậu Thân, đúng là
mặt trận của chúng tôi. Và đúng cái năm quỉ khốc thần sầu
này, một tay tôi đã chôn không biết bao nhiêu đồng đội. Cái
năm tôi đã cõng tử thi cậu bé Hoàng, - vị thiên thần lạc
lõng của chiến tranh, - khỏi vòng tử đia, cậu bé chỉ còn một
cánh tay, một cẳng chân và cuốn nhật ký miên man những
giấc mộng vàng...
Tôi xé vụn mảnh báo ném xuống suối.
Tất nhiên tôi không nói sự thật kia với ai cả.
Nhưng từ dạo ấy, tôi biết nói dối là trò chơi thường
nhật của con người và càng những kẻ cao đạo lại càng thích
đùa giỡn với lương tri. Tôi không đọc báo nữa. Huống chi là
các bản tin! Nhưng tôi hiểu đám đông không được biết sự
thật thì sung sướng miên man trong các chiến thắng thật
cũng như các chiến thắng rởm. Và chính mù quáng đã tạo
nên một sức mạnh phi thường nơi họ...
- Oáp cáp
Đào Tiễn há miệng ngáp thật to rồi nói:
- Ta đi ngủ. Mai sẽ bàn việc cậu Biền.
- Vâng.
Đồng chí có cần để đèn không?
Sao cũng được ạ.
Đào Tiễn bảo:
Thế thì tắt đi nhá... Cho đỡ tốn săng...
Rồi ông ta đi ra.
Hôm sau, Đào Tiền đến đánh thức tôi dậy. Hình như vi
sư phó này cũng buồn và thèm có người nói chuyện. ông ta
mời tôi ăn cơm với đu đủ xào mắm tôm. CÓ tráng miệng
bằng hai lát khoai dẻo.
- Đồng chí hút thuốc không? Tôi còn một bao Điện
biên.
Vâng.
Đào Tiễn châm lửa cho tôi. Chắc cử chỉ đó với ông ta
rất hiếm!
Tôi ôn tồn:
- Tối hôm qua, tôi nói gì, đồng chí đừng để bụng nhé.
Tụi trẻ chúng tôi không mấy khi nhã nhặn.
Đào Tiễn lắc đầu:
- Đồng chí đánh giá tôi thấp quá! Các đồng chí là
tương lai đất nước. Lớp già chúng tôi có nhiệm vụ uốn nắn
tư tưởng cho thế hệ đi sau. Chúng tôi không có quyền ghét
bỏ mà phải thương yêu đàn em mình.
- Vâng.
Đào Tiễn trinh trọng hơn nữa, nói tiếp:
Như thằng em tôi chẳng hạn. Khi nó hiểu rõ phải
trái, bỏ trường y nhập ngũ là tôi lại vui vẻ thuận hòa...
Không góp phần tạo dựng một Sứ mệnh cao cả như thế cho
đất nước thì thật tệ hại.
Vâng.
Tôi dáp và nhìn một con châu chấu vừa nhảy thóc qua.
"Góp một phần cho sự cao cả!... Phải tham dự vào) bữa
tiệc vinh quang của ngày mai! ...!'
Từ hòn xôi miếng thịt trong làng vinh thăng lên tới
phần cỗ trong Sứ mệnh lịch sử! ?...
Mười năm trước, tôi đã choáng váng vì những ảnh
tượng này. Các danh từ ấy làm tôi mê mẩn. Lần đầu ngủ với
gái tô cũng không mê mẩn đến như thế!
ấy là bận hành quân qua Nghệ an, một làng nhỏ ven
núi. Con gái vùng ấy thật dễ dàng. Các cô sán đến cấu chí,
chỉn đùi cọ vú vào bọn tôi. Tối đến, chúng tôi lần mò lên
đồi Gió thồi mát rượi đưa những tiếng cười rúc rích, lướt
qua những thảm cỏ mịn màng ấm nóng nấp sau những tiếng
thì thầm, tiếng rên, tiếng nấc của những bụi sim hổn hển,
chao đảo, nhấp nhô.
Trong vòng tay tói, cô ta vừa ôm chặt lấy tôi, vừa líu ríu
nói gì đó tôi nghe không rõ... Tôi đã mê mẩn những danh từ
trang trọng kia hơn cuộc kết hợp chợt gặp này. Nhưng rồi
năm tháng qua trong bùn và máu, các danh từ ấy bị mài dùa,
sờn mòn đi như đôi giầy cũ của chú linh già...
Tôi ngán những trò vinh thăng, phong thánh.
Tôi nhìn đăm đăm vào khoảng hư không mà chẳng biết
mình tìm gì nơi đó. Con châu chấu quay lại, nhảy thóc vào
cổ tôi NÓ bám những móng chân sắc lém vào da, tôi vội lấy
tay vuốt mạnh. Đào Tiền cười:
Quê đồng chí có nhiều châu chấu không?
- Cũng khá nhiều.
- Quê tôi cũng vậy... Hồi bé Ơû nhà, chi tôi chúa ăn
châu chấu rang. Tôi sợ nhất món ấy. Mẹ tôi bảo: Con nhà
lính, tính nhà quan... Chẳng nói ra chứ lòng vả cũng như
lòng sung, ai chẳng thích làm quan, ai chẳng thích ăn trên
ngồi chốc?
Tôi hờ hững:
- Vâng.
Đào Tiền nhìn đồng hồ rồi phẩy tay:
- Đi đi Giờ này, mấy cậu y tá đã dậy rồi.
Vi sư phó đi trước, tôi theo sau. Chúng tôi đi qua dãy
lán dài, qua đồi, sang một căn lán chơ vơ giữa bãi cỏ.
Tôi hỏi:
- Trạm y tế sư đoàn Ơû đó?
- Phải. Trước định làm sát khu doanh trại. May mà
chính ủy có sáng kiến đấy, nếu không thì rắc rối to!
- Sao cơ?
Sao nữa?... Mấy cậu sốt rét ác tính điên rồ, cởi hết áo
quần ra mà nhảy múa, la hét. Còn cậu Biền thì điên thật.
- CÓ ai chết không?
CÓ Đã mấy trường hợp nhiễm trùng và sốt rét ác
tính chuyển không kịp. Tụi tôi làm báo cáo và chôn họ ở kia
kìa.
Tôi nhìn theo tay Đào Tiễn chỉ. Lướt qua những đám
gai dại và cỏ kim, có chừng dăm nắm đất lô nhô. Mỗi mộ
cắm một tấm biển bằng tôn lá hoặc sắt đóng vào cọc gỗ.
Giữa khu nghĩa địa với trạm có chằng dây thép gai. Xung
quanh trạm cũng chăng dây thép gai, cả thứ thẳng lẫn thứ
vòng, trông như một ấp chiến lược. Dọc theo hàng rào, treo
lủng lẳng những chuỗi ống bơ và những vỏ đồ hộp. Cảnh kỳ
cục nứa như trò chơi, nửa như trại tù binh. Tôi hỏi sư phó
Đào Tiễn:
- Sao hăng rào lại treo lỉnh kỉnh các thứ đồ vớ vẩn ấy?
- Phòng mấy ông điên bỏ trốn. Húc đến hàng rào, các
thứ ống bơ kêu rủng roẻng, y tá mới biết đuổi theo...
Tôi không hỏi thêm gì nữa, lặng lẽ cùng đi tới cổng
trạm, cổng đóng bằng gỗ đẽo sơ sài. Đào Tiễn thò tay qua
khe hở, đầy cây chốt bên trong. ông mở cửa cho tôi đi qua
rồi đóng lại như cũ.
Chúng tôi đi về phía gian phòng cuối, nơi nhốt Biền.
Cách phòng chừng mươi thước đã ngửi thấy mùi phân
và nước tiểu. Phòng thưng gỗ ván, dày và chắc. CÓ một
khuôn cửa sổ không cánh, trông thô kệch. Tôi bước thẳng
đến cửa sổ nhìn vào.
Một gã trai trần truồng, bẩn thỉu đang ngồi g~c đầu
xuống hai gối. Nghe thấy tiếng động, gã ngẩng lên. Vì mặt
trời rọi từ sau lưng tôi chiếu tới nên gã không nhìn được rõ
mặt tói. Đôi mắt gã âm u, trống rỗng. Vẻ mặt tiều tụy, hai
gò má nhô cao. Tóc gã kết từng món xù ra như lông nhím
khiến đầu gã to di thường so với cái thân thể vốn cũng đã rất
vạm vỡ. Xung quanh nơi gã ngồi, ngổn ngang trên nền đất là
phân, rác, nước tiểu đóng thành váng trắng. Một tờ lịch
nhàu nát với nửa lon nước lã... Phải, gã chính là Biền, người
bạn thuở thiếu thời của Lương và của tôi. CỐ nén cảm giác
tởm lợm vì mùi khai, mùi thối, tôi cất tiếng gọi:
Biền.
Và tôi đứng lùi sang một bên, chếch ánh nắng. Biền
ngẩng phắt lên lần thứ hai. Lần này, gã nhận ra tôi. Trong
khoảnh khắc, ánh mắt Biền lóe lên mọi thứ tình cảm mà
một con người lành mạnh có thể có được. Sau khoảnh khắc
ấy gã lại cúi gầm mặt xuống hai gối, cất tiếng khóc hu hu.
Khóc một hồi rồi gã hát sẩm:
"Sáng trăng sáng cả vltờn chè
Một gian nha nhô đi về có nhau...
~ t~m thiệp phải lụy dâu
~ chúng thiệp phải qlla c('u đắng cay... "
Dứt tiếng hát sẩm, gã hét:
- Xung phong... Anh em đâu, xung phong. Tiểu đội I
theo tôi... Giương lê lên, nhằm phía trước đâm cho trúng...
Trận này, ta đánh giáp lá cà...
HÒ hét xong, gã nhảy dựng lên, đập đầu đôm đốp vào
vách gỗ. Đập như thế được vài phút, máu chảy đầm đìa tử
chân tóc rơi xuống.
Đào Tiễn nói:
- Ván có đinh. Cậu ta cứ dọi đầu vào mấy cái mũ đinh,
không tiếc máu... Mà thế là còn may đấy! Dạo chưa nhốt
được vào phòng này, ngày nào cậu ấy cũng nhảy vào đám dây
thép gai vòng mà lăn, gai thép đâm toàn thân thể nát như
tương, máu chảy đỏ lòm từ đầu xuống chân, anh em trong
đơn vi nhiều người phải ngoảnh mặt đi, không dám nhìn...
Tôi kéo tay ông ta:
- Đi đi thôi.
Đào Tiễn bảo:
Cậu ấy điên nặng như thế, đồng chí định ra sao?
- Điên mấy cũng có lúc tỉnh. Tói sẽ đến vào lúc ấy,
chắc cậu ấy se nhận ra tôi.
- Hồi xưa, nhà đồng chí Ơû cạnh nhà cậu Biền?
Vâng.
- Nhà cậu ấy có dòng điên không?
- Không... à... à mã cũng có thể... Tôi không rõ lắm...
Hình như họ hàng bên ngoại...
- Đồng chí hãy nhớ kỹ lại đi... Tôi bảo đảm rằng nếu
không họ nội thì bên họ ngoại cậu ấy có máu điên.
V vâng... cớ lẽ...
Không phải có lẽ mà chắc chắn! Tôi biết chuyện này:
Trước nhà tôi là một ông giáo hẳn hoi, một ông dạy cấp ba,
người nho nhã đường hoàng, vợ con nề nếp sang trọng...
Bỗng dưng cảm hàn một trận. Khỏi ốm, phát điên luôn.
Suốt ngày cởi truồng, bò lông nhông như con vện ngoài
đường, mồm sủa gâu gâu... ông ta đến đâu, chó nhảy cớn
lên sủa đến đấy. Cả làng khiếp. CÓ người bảo vì anh ruột
ông ta làm chánh án tòa án tỉnh, một tay ký không biết bao
nhiêu án tử hình... Tôi duy vật, tôi không tin mấy thứ lý luận
ba láp, tôi dò hỏi... Hóa ra họ ngoại ông ta có máu điên.
- Vâng, chắc bên họ ngoại cậu Biền có máu điên.
Hồi đầu, tôi cứ nghi là cậu ta giả tảng...
- Tại sao?
- Cậu ấy đang khỏe mạnh, hăng hái như mọi người.
Chỉ đôi lúc bần thần. Rồi bỗng một hôm cậu ta mò xuống
trại bò và bi bò đá. Anh em khiêng vào trạm y tế, săn sóc.
Được hôm trước thì hôm sau cậu ta phát điên. Trời rét cắt
ruột, cậu ta cởi hết quần áo, trần như nhộng nhảy múa
ngoài trời. Lúc thì cầm mảnh vải hô to: Cắm cờ lên cứ điểm.
Lúc lại cầm gậy đập đôm đốp vào đầu. - Anh em xì xào bàn
tán. Người cho cậu ấy mắc bệnh tâm thần, người bảo cậu ấy
giả điên vì xấu hổ.
Tôi hỏi:
- Cậu Biền có làm gì mà xấu hổ?
Đào Tiễn tủm tỉm cười:
- CÓ chứ. Tại sao bỗng dưng cậu ấy mò xuống trại bò?
Cái trại ấy tổ cấp dưỡng quản lý. Cứ dịp tổng kết, chúng tôi
lại cho thịt khao quân. Toàn bò chưa đẻ nên không thể vắt
sữa trộm. Người ta cho rằng cậu ấy khỏe quá, máu rực lên
như lửa, lại bốn năm năm không tìm được gái, đành xuống
trại bò...
- Chuyện nhảm nhí!
- Đồng chí không tin à?... Chuyện ấy cũng đã có: Ơû
làng Hắc môn giáp làng tôi, có một thằng !'Tây" lai mười bảy
tuổi Tụi giặc càn, mẹ nó gánh hàng xáo chạy chậm nên bi
một thằng Ma-rốc hiếp. NÓ lớn lên, cao đến gần hai thước,
tóc quăn tít như bụt ốc, da đen thui, răng trắng nhởn. Ngoài
mẹ nó ra, không ai dám gần. Đã thế, nó lại khùng khùng.
Đám đàn bà con gái trong làng khiếp nó như khiếp thú dữ!
Rồi đến một hôm, mấy đứa chăn trâu hớt hải chạy về gọi
mọi người. Cánh đàn ông tay dao tay thước chạy ra nghĩa
đia, nơi trẻ làng vẫn thả trâu. HỌ thấy thằng khùng đang
làm cái trò khỉ đó với một con bò. Ai nấy kinh hoảng. CÓ
người định đánh nó. Nhưng ông bác tôi, - một ông già làm
nghề bốc thuốc, hồi xưa đăng lính leo đến chức xuất đội, -
đã khuyên mọi người để mặc: 'nếu không sẽ có ngày nó
phạm tội loạn luân. Lúc đó Thành hoàng làng sẽ bỏ đình mà
đi dân chúng sẽ sa vào cảnh khốn quẫn..."
Tôi bảo:
- Chuyện của đồng chí nghe như chuyện ma quái?
Đào Tiễn lắc đầu:
- Không đâu. Tôi sống nhiều năm hơn đồng chí, qua
trải nhiều cảnh, chí dù ít tôi cũng nhận ra nhiều điều...
- Nhưng cậu Biền không phải thằng Ma-rốc lai.
Vi sư phó cười xúy xóa:
- Thôi, thôi, đừng tranh luận... Thoạt tiên tôi cũng
nghi. Nhưng khi cậu ấy lăn vào vòng thép gai như con thiêu
thân lao vào lửa, tôi tin là cậu ấy điên thật.
- Thật không ngờ... A mà bây giờ tôi nhớ: Biền có một
bà dì điên? Bà ta thường quấn lá chuối quanh bụng mà đi
dọc theo bờ đê. Hồi đó tôi còn nhỏ. Lớn lên, tôi không thấy
bà nữa. Chắc bà ấy chết rồi...
Im lặng một lát, tôi chậm rãi nói thêm:
Thật đáng buồn là Biền đã không được dòng giống
của ông bố di truyền. HỌ bên nội của cậu ấy toàn là những
người khỏe mạnh, làm việc quanh năm không nghỉ một
ngày...
Đào Tiễn lắc đầu, chép miệng:
- Ơû đời, có ai học được chữ ngờ đâu?
túc này, nét mặt ông ta thật hiền. Tôi không ngờ mình
đã dắt câu chuyện được ngọt ngào đến thế! Chúng tôi đi qua
một bãi gai trinh nữ nở tràn những bông hoa tím phơn phớt.
Một nhành gai mắc vào gấu quần Đào Tiễn. ông ta cúi
xuống gỡ. Lưng ông đã hơi gù, phị mỡ. Nước da bủng của
người Ơû rừng lâu.
Tôi tự hỏi: người đàn ông này đã xa vợ con bao năm và
có lúc nào lòng khắc khoải?... Hay ông ta chỉ là một bộ máy
hăm hở tiến về phía trước, nơi hứa hẹn một Khải-hoàn-môn
vã những phần Cỗ-vinh-quang?
Tôi bảo:
- Khí hậu vùng này độc ác thật.
Đào Tiễn gật:
ờ, trời trở mặt như bàn tay. Khối cậu chết vì cơn sốt
ác tính.
Tôi nói:
Chúng ta ăn cơm rồi đồng chí nghỉ đi. Đến tuổi này,
đồng chí đừng coi thường sức khỏe. Chiều, tôi sẽ xuống
trạm một mình.
Chúng tôi ăn cơm, lại đu đủ xào mắm tôm, ớt mọi.
Cũng không còn khoai dẻo tráng miệng nhưng bù vào đó,
tôi kể cho vi sư phó nghe những câu chuyện tầm xàm của
bọn lính .trẻ. RÕ ràng ông đào Tiễn buồn và thèm nói
chuyện. Ơû đây, đóng vai trò lãnh đạo, ông ta không được
phép bả lả với lính tráng. Tôi chia tay ông với một chút tình
cảm rồi trở về nhà khách sư đoàn.
Đồng hồ chỉ mười hai giờ ba phút. Tôi nằm vật xuống
giường. Còn một giờ năm mươi bày phút nưa tôi mới có thể
được đến trạm y tế.
Mùi phân lưu cữu... mùi nước tiểu lưu cữu... Những
dòng máu đỏ chảy dàn dua trên khuôn mặt hốc hác, bẩn
thỉu... Tôi không ngờ Biền đến nông nỗi ấy... NÓ là một
mảnh đời tươi sáng của tôi:
Những ngày mùa. Gió thu rợn tới chân mây trong lẻo.
Lũ trai làng chúng tôi ngả lưng trên đống rơm tươi, chuyện
gẫu. Chuyên rôm nhất bao giờ cũng là chuyện huê tình.
- Này, Biền ơi, sao mày bỏ con Hòa?
- Em có bỏ đâu, anh Lương khủng bố tinh thần em
nhá.
- Tao nghe Hòa kể...
- Phía!
- Chú bảo tao phía hả?
- Không. Cái Hòa nó phía. Lỗi tại nó đấy.
- Lỗi thế nào?
- NÓ cứ ngủng ngoằng với em.
- NÓ bảo nó yêu chú mày.
Yêu gì mà yêu ì ì...
Hòa là em ruột Hoa, người con gái tôi để mắt. Tôi hiểu
chị enl nhà ấy. Nhút nhát, mảnh dẻ, sợ bộc lộ tâm tình đến
mức như gàn dở. Chắc chắn Hòa không thể chịu được tình
yêu khủng khiếp của Biền.
ĐÓ là gã trai nặng cân nhất làng, cao nhất làng, ngày
gánh trăm gánh lúa chạy veo veo, gánh nào cũng ngót nghét
một tạ. Bữa sáng mờ sương, Biền ăn hết năm bát vật. Bữa
trưa, tám chín bát. Bữa chiều cũng tám chín bát. Đi chơi lỡ
chừng trăng mọc lại phải làm vài bát chè đỗ đen hoặc lưng
rá khoai. Da thịt Biền chắc như gỗ lim. Môi đỏ, răng trắng
đều tăm tắp. Tóc gã đen, dày tới mức chỉ nắm chỏm tóc đầu
đã chặt chét tay. Mắt gã long lanh, lúc nào cũng long lanh.
Gã cười như nước reo ở cửa cống thủy lợi. Biền thửa hưởng
những đặc tính ấy của cả bố lẫn mẹ.
ông Biên bà Nhàn là cặp vợ chồng kỳ lạ, tiếng đồn
khắp vùng. Cả hai đều cao lớn như hai đô vật. ông Biên tóc
đen, râu rậm, nước da đồng hun, mắt xếch như mắt tướng
Tàu. Bà Nhàn da trắng, tóc dài, giọng lanh lảnh như
chuông, môi tròn như hai trái mận chín.
Cả hai đều làm giỏi. Tay họ đứng đến đâu ra tiền đến
đấy HỌ trồng hành tây một vụ bằng nhà khác cày sâu cuốc
bẫm cấy lúa mười năm. Lúc họ bỏ hành tây sang trồng cà
chua, một vụ thu vài bi tiền. Khi cả vùng trồng cà, trồng
hành, vợ chồng ấy đã lại xoay sang nấu rượu, nuôi lợn nái...
Thiên hạ cứ nhìn họ cũng đủ chóng mặt!
Thêm nữa, họ đẻ những mười sáu đứa con, đứa nào
cũng nên tấm nên đần. Thêm nữa, họ công nhiên bày tỏ
cảnh yêu đương đến nỗi thiên hạ sững sờ. Chẳng có cặp v~l
chồng nào ngần ấy tuổi mà còn mặn nồng đến thế, quấn quít
đến thế! Bà dính cho ông be rượu, ông mua cho bà nắm xôi.
Đôi khi giữa chốn tụ tập họ hàng, ông bà lại cũng vẫn còn
cấu chí thì thầm, khúc khích nhấm nháy.
Ơû nông thôn, người ta đã quen với kiếp sống lầm lủi,
tối tăm. ăn con gà cũng phải ăn thầm, ăn lén. (Sư bố nó,
nhà ấy ghê thật, chẳng giỗ ki gì cũng đè gà ra mà thịt). May
được tấm áo mới cũng phải cất đi, chờ ngày Tết hoặc dịp lễ
chùa (Mẹ bố cái con ớ Soạn, đang mùa cày cấy cũng diện áo
xanh áo đỏ như con cào cào.) Trai gái yêu nhau phải chờ
đêm tối, hẹn hò nơi bụi cây bờ ruộng, mặc kệ cứt trâu, lá
ngứa, đè nhau ra mà vật cho thỏa cơn nhớ cơn thèm. Còn
giữa thanh thiên bạch nhật, chớ có đầu mày cuối mắt, nếu
không, thế nào cũng dược nghe chửi đến ủng óc...
Cho nên, chẳng vì cớ gì mà thiên hạ cứ thù ghét vợ
chồng ông Biên. Ghét nhưng mà sợ, vì bắp tay ông ta nần
nên như bắp cày. Rồi... một bận, có mụ đàn bà nào đó
không nhín được cơn nanh nọc, thấy ông Biên đi qua bèn
chửi đổng:
- Cha tiên nhân cái giống dê già.
ông Biên nghe thấy, lừ lừ quay lại:
Dê già hả?... Đúng thế. Xưa nay tao toàn dê với vợ Ơû
nhà. Giờ, tao thử con đàn bà lăng loàn này xem nó to hay
Miệng nói, tay ông dứt phăng dây rút quần mụ nọ. Mụ
đàn bà tô hô đứng... chưa kịp hiểu ngô khoai ra làm sao...
ông Biên thuận tay lột tuột tấm áo cánh của mụ, phân bua
với đám người xung quanh:
Các ông các bà nghe đấy nhé. Con mụ này nớ đòi tôi
phải dê. Mọi người làm chứng để thằng chồng mụ biết.
Đoạn ông vật mụ ngay xuống vệ đường.
Lúc ấy mụ đàn bà khốn khổ mới hiểu tình thế của
mình. Hai tay che bảo vật, chân đạp loi choi như nhái bén,
mụ la hét:
ối giời ơi, ối đất ơi i i... Các ông các bà cứu tôi...
Mọi người xúm đến khuyên can:
Thôi mà... người ta trót nhỡ miệng...
- ông anh ra tay thế là họ kệch đến già, thôi, xin ông
anh tha cho mụ ấy.
Trong thâm tâm, đám người ấy cũng van vỉ cho chính
họ.
ông Biên dận một chân lên cái bụng đen sì dăn dúm
của mụ đàn bà, sẵng giọng nói:
- Mụ đen đủi xấu xí như con cóc già thế này, làm sao
tao dê với mụ được. Từ giờ khôn hồn, có miệng thì cắp, có
nắp thì đậy kẻo ta không dê với lỗ trôn mà tao dê với cái lỗ
miệng mụ, nghe chưa?
Nói đoạn, ông Biên bỏ đi. Người làng xanh mặt, họ
đành nén lòng đố kị. Dần dần về sau, bồ thóc nhà ông lớn
quá, nhiều kẻ với tay, túi tiền nhà ông to quá, lắm người đến
mượn, thiên hạ đành phải chấp nhận kiểu sống ngông ngược
của ông.
Biền là con trai lớn của óng Biên. Cơ thể ngùn ngụt lửa
sống của nó không thể cam chiu cảnh tình suông như tôi với
Hoa: Vài khóe mắt đưa tình, dăm bảy lá thư, dăm lần
chuyện gẫu trong những cuộc sinh hoạt tập thể, hoặc cắt
lúa, hoặc làm thủy lợi... Biền đã bỏ Hòa để đi theo Vinh, cô
gái làng Xuân viễn.
Tôi bảo:
- Anh Lương ơi, anh không biết nhưng lôi biết. Thằng
Biền nó cắp tráp theo em Vinh rồi.
Lương hỏi:
- Vinh nào, Vinh chèo làng Xuân viễn phải không?
Tôi đáp:
- Đích thi.
Lương cười:
- Thế thì tao giơ tay hăng chú mày. Táo gan thật...
Một cậu trai lăng đang nằm vắt chân chéo khoeo chợt
ngồi phắt dậy, cười hô hố:
Thằng Biền dại quá, hứng của thửa thằng Sính làng
Xuân viền. Hai đứa ấy cặp với nhau suốt vụ mùa năm ngoái,
đêm nào đi lưới tao chẳng gặp?...
Một cậu khác chắc lưỡi:
Cũ người mới ta, miễn là đẹp.
Cậu kia gân cổ?
- Đẹp? Gái làng mình đẹp hơn chán vạn mấy con
xuân viễn. Tao không hiểu mắt chúng mày để đâu... Mà báu
gì cái con Vinh chèo, ớ rạc ớ dài...
Lương cắt ngang lời bọn chúng:
- Các cậu rõ thật buồn cười ! Nồi nào vung nấy chứ, thì
cứ lo chọn vợ cho mình đi hẵng...
Biền im lặng. Cậu ta hiền, không ưa tranh cãi. Ai nhờ
việc gì, dù nặng nhọc đến mấy cũng nai lưng ra làm. Nhưng
đấu khẩu thì sẵn sàng thua đứa bé mười hai... Chúng tôi
mến nó. Cả cái năng lượng tình dục ngùn ngụt như núi lửa
của nó bi coi là điều dị hợm với một xã hội khô héo, cay
nghiệt, chúng tôi cũng chấp nhận.
Tôi nhớ một đêm rạng rỡ sáng trăng. Ba chúng tôi nằm
hóng mát trên một bãi cỏ bên hồ. Cả buổi chiều, chúng tôi
đã nô dờn sau mẻ quăng chài đánh cá. Ngoài phần đem ra
chợ, người nhà có bớt lại một mớ cá cho chúng tôi nướng
ăn. Em trai tôi mang ra một ấm chè nụ và một óc cơm. Tôi
cho nó vài đồng mua kẹo rồi đuổi về làng.
Ba thằng nằm gác chân lên nhau, nhìn trời màu pha lê
tím. Dăm vì sao óng ánh như vảy cá dắt trong mắt lưới.
Không gian lồng lộng làm chúng tôi ngây ngất. Cách đầu
chúng tôi hai sải tay, đống lửa nướng cá còn ngủn cháy, trổ
những bông than đỏ thắm...
Bỗng nhiên, Biền cất tiếng:
- Anh Lương ơi.
- Gì thế?
- Anh cớ bao giờ nghĩ đến thánh thần không?
Không. Làm sao cơ?
- Em tưởng tượng cảnh này hay lắm.
Cảnh thế nào?
- Anh bảo thần có to lớn không?
- Tao không biết... Nhưng theo các cụ kể thì thần
thánh cao gấp đôi gấp ba người thường.
Không phải gấp dôi gấp ba mà gấp trăm nghìn lần!
Sao mày biết?
- Dế biết lắm chứ...
Tới đó, Biền hi hí cười, vẻ thú vị lắm. Khi chúng tôi hỏi
cười gì thì cậu ta lại cười sằng sặc to hơn, cười rũ rượi đến
dàn cả nước mắt.
Tôi quát:
- Thằng điên. Lặng im đã nào...
Lương bảo:
- Mày kể cho nghe đi.
Biền chùi nước mắt, nói:
- Này nhé. Các cụ có câu: Cái... của bà Nữ Oa bằng ba
mẫu ruộng. đi... của ông Tứ Tượng bằng mười bốn con sào.
Thế rõ ràng là các vị thần thánh to lớn gấp trăm nghìn
người thường, phải không?
Lương ậm ừ ra chiều tính toán rồi bảo:
ừ Cũng có thể.
Biền nói:
Dứt khoát là thế... Anh Lương ạ, em tưởng tượng ra
một cảnh hay lắm...
- Cảnh gì? Hay ho thế nào?
- Cảnh bà Nữ Oa với óng Tứ Tượng... ối giời ơi, họ
ngủ với nhau hẳn là phải mây mưa lở đất, sấm sét long trời!
Tôi ngớ người: Cái thằng lành như đất mà nghĩ ra
những trò oái oăm... Lương cười, thủng thẳng nói:
- Chú mày ôm con Vinh chèo chưa thỏa hay sao mà lại
còn vẽ ra cảnh bà Nữ Oa ôm ông Tứ Tượng... Thật quá thể!
Biền cười hình hích rồi co giò ngồi nhỏm lên:
Anh Lương ơi, em đói rồi...
NÓ quay lại, vỗ vai tôi:
Quân ơi, tao với mày chia nhau con chép nhá...
Tôi ngồi dậy. Dưới lớp than đỏ rực kia, tôi vùi con
chép nặng cân rưỡi. Chép tươi giãy đành đạch, để nguyên
ruột, nguyên vảy, bọc lá chuối tươi, ngoài đắp bùn. Cứ thế
nướng cho tới khi bùn khô trắng, nứt nẻ. Bấy giờ đem ra đập
vỡ bùn, lật lá, tuột lớp vảy đi. Thịt con cá chép hiện ra, trắng
nõn nà, thơm phưng phức... ôi chao...
Hình như tôi thiếp đi được mươi phút. Lúc tôi mở mắt,
đã đúng hai giờ. Tôi xuống trạm y tế. Mấy cậu y tá phụ trách
thấy tôi đã đi với Đào Tiễn buổi sáng nên mặc tôi tự do. Tôi
đi thẳng tới cửa chính, mở then chốt ngoài...
Mùi thối nồng nặc xộc thẳng vào mũi tôi. Biền đứng
choàng lên. NÓ đinh nhảy. Tôi khẽ dằn từng tiếng:
Đứng im!
Biền đứng im. Tôi nói tiếp, giọng nhỏ hơn:
- Những vết thủng trên đầu mày buổi sáng chưa lành
đâu Mày có khỏe như trâu, tim mày cũng chẳng phải cái
thùng không đáy.
Biền lặng nhìn xuống đất. Tôi bảo:
- Ra đây. Tao không muốn ngửi mùi cứt.
Biền đưa mắt nhìn xung quanh. Tôi nói nhẹ:
- Tao xuống đây có một mình. Đi ra...
NÓ đi ra, theo tôi. Chúng tôi rời khỏi căn phòng xú uế.
Mấy cậu y tá thò đầu ra nhìn. Hẳn là họ kính nể tôi như...
một ông bác sĩ tâm thần siêu đẳng!
Chúng tôi đi khá xa. Quãng đường từ trạm y tếđến lạch
suối, gần nhất cũng già một cây số. Suối cạn, nước chỉ đến
ngang ngực người vóc cao trung bình. Nước khá trong và
chảy nhanh. Tôi bảo Biền:
- Xuống tắm đi.
Móc trong túi quần, tói đưa cho nó một miếng xà
phòng với chiếc quần đùi sạch:
- Tắm nhanh lên kẻo lão sư phó của mày mò ra đấy.
Biền lẳng lặng xuống suối lặn ngụp, tắm. Đầu nó kết
đất, bọt xà phòng nổi lềnh bềnh trên mặt nước đặc như bọt
cua. Trên mình nớ, chằng chịt những vết sẹo - không biết
bao nhiêu lần lăn trong vòng thép gai. Lưng trồi cả đãy
xương sườn. So với ngày nhập ngũ, nó gầy đi nhiều lắm. Lúc
đợi mậc quần áo lính, trong gian đình làng, cả bọn tồng
ngồng, thằng nọ nhìn thằng kia, cười sằng sặc. Dạo ấy,
những thớ thịt nổi vồng trên ngực và trên lưng Biền như
những con chuột đồng vĩ đại...
- Xát xà phòng vào gáy toàn ghét đen thui kia kìa...
Tôi bảo nó. Biền ngoan ngoãn xát xà phòng sau gáy,
hai bả vai, dọc theo sườn lưng. Ghét vón lại từng đám.
Tôi hỏi:
- Mấy tuần rồi chúng nó không đưa mày đi tắm?
Biền đáp:
Hai tháng.
Bỗng nó ngước mắt nhìn qua vai tôi. Tôi quay lại thấy
Đào Tiễn đang lúc lắc tấm thân nặng nề đi tới. Điều tói dự
đoán không sai. Tôi nói nhỏ, dặn Biền:
Mày phải giữ bộ mặt diên dại.
Biền gật đầu. Tôi đứng dậy, thong thả đón ông sư phó.
Ngủ được một giấc đầy, ông ta vui vẻ hẳn lên, niềm nở:
- Đồng chí tài thật! Làm sao dỗ được cậu Biền ra đây?
- Người điên nào cũng có lúc tỉnh. Cách đây vài năm,
tôi vớ được một cuốn sách nói về các loại bệnh tâm thần.
Tôi biết cách chuyện trò với những người điên khi họ tỉnh
và khi họ sắp chuyển từ trạng thái tỉnh sang trạng thái mê.
Đào Tiễn nói:
Cẩn thận, cậu ta khỏe ghê gớm. Hồi trước, khi cậu ấy
lên cơn, năm người giữ không nổi đâu!
- Giữ người điên, giữ bằng mẹo. Không dại gì mà đem
đọ sức
Đào Tiễn cười tít:
Đồng chí thõng minh ra trò, thằng em tôi cũng thế.
Tuổi con khỉ phải cái vất vả nhưng mà đầu óc thì sáng láng.
Tôi nói:
- Tuy thế, tôi vẫn phải chuẩn bi sẵn sợi dây để trói hai
cổ tay vì chỉ chừng nửa giờ nữa, cậu ta sẽ chuyển sang trạng
thái điên...
Miệng nói, tay tôi rút sợi dây dù trong túi quần. Đoạn,
tôi xuống suối dắt Biền lên, dụ cậu ta mậc quần rồi trói
nghiến hai cổ tay lại. Biền nhìn tôi bằng đôi mắt đờ đẫn. Thi
thoảng, Biền lại nhếch mép cười.
Ba chúng tôi v~ nhà khách sư đoàn. Tói hỏi Đào Tiễn:
- Đồng chí có thuốc ngủ không?
- CÓ Thứ nhẹ nhất: Xê-luy-xen.
Tốt rồi. Tôi xin đồng chí ba viên cho cậu ta uống.
Đào Tiễn lắc đầu:
- Không ăn thua. Hồi trước, y tá đè cổ cậu ấy ra cho
uống cả vốc...
Tôi ngắt lời:
ăn thua là Ơû chỗ kết hợp với biện pháp trị liệu tâm

Đào Tiễn lẳng lặng đi lấy thuốc cho tôi. Không ngờ
mấy danh từ lang băm học mót lại có hiệu quả!
Trong bữa cơm chiều hôm ấy, tôi đã trổ hết tài khua
môi múa mép để vi sư phó vui lòng. Buổi tối, tôi khéo léo
đề xuất một phương án rất linh hoạt với tương lai Biền: CÓ
thể cậu ta sẽ được điều tri nếu bệnh điên không có cơ vãn
hồi. CÓ thể cậu ta sẽ được giải ngũ nếu không còn khả năng
khôi phục trạng thái tinh thần. CÓ thể cậu ta sẽ được
chuyển sang một đơn vị nào đó thích hợp hơn với sức khỏe
trong tình huống tốt nhất. Đào Tiễn tỏ ra dễ tính:
- Tôi chiều đồng chí hết mức đấy nhá.
Tôi đáp:
- Thưa vâng.
ông ta cười hề hề:
- Cậu Biền có mả tống táng hàm rồng nên mới có bạn
hiền.
Chiến hữu mà anh... Bọn tôi cùng sống với nhau từ
thuở tắm truồng. Lại cùng vào lính...
đào Tiễn bảo:
- Chả phải ai cùng vào lính cũng tốt với nhau như thế.
Tôi có cậu bạn cùng nhập ngũ một ngày... Đồng chí biết
không, - nói ra lại bảo tiêu cực, - lúc bị vây còn bao nhiêu
thực phẩm nớ cuỗm hết rồi chuồn, bỏ lại mình dưới gốc
tre...
Tôi cười:
Đồng chí biết hơn tôi chứ: lụa dệt cũng có mặt trái.
Đào Tiễn bỗng thở dài:
Biết, nhưng mà vẫn chẳng biết...
Tôi đặt tay lên vai ông ta, người đàn ông to béo này
thật thà và duy cảm. CÓ lẽ ông ta khao khát một tình bạn
nhưng không tìm được nó. Tôi nói nhẹ nhàng:
- Người tốt như đồng chí sớm muộn cũng gặp bạn
hiền. Trời không phụ... Kỳ này tôi về ngoài Bắc sau khi giải
quyết việc cậu Biền. Đồng chí có gửi gấm gì cho gia đình
không?
Mắt Đào Tiễn sáng lên:
Đồng chí giúp tôi nhá?
- Vâng.
- Đêm nay tôi sẽ viết thư. Sớm mai tôi gửi đồng chí.
Thế nào chúng ta cũng còn phải chia tay...
Nói đoạn ông ta hấp tấp quay về buồng.
Hôm sau, vào giờ cơm sáng, Đào Tiễn đưa cho tôi một
phong bì nặng trịch. CÓ lẽ ông ta đã thức suốt đêm mới viết
được ngần ấy. Kèm theo bì thư là một chiếc lược làm bằng
mảnh máy bay cho con gái, một tấm dù trắng lăm khăn
choàng cho vợ, một chiếc bút bi ba màu của Mỹ cho con
trai.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Nhà bếp đem cho tôi cơm nắm, xôi nếp với muối lạc.
Chắc theo lệnh của vi sư phó. Đào Tiễn theo chúng tôi đi
tới nửa cây số, ông ta nắm chặt tay tôi, mắt ươn ướt:
- Đồng chí nói chuyện với vợ tôi... và...
Xin đồng chí yên tâm.
Thôi lên đường bình an nhá.
Rồi ông ta quay lưng đi, cái đầu chúi về phía trước,
điệu bộ cung cúc của những kẻ tận tụy bẩm sinh.
Chờ ông ta đi một đoạn, tôi bảo Biền:
- Đi thôi.
Hai chúng tôi lặng lẽ đi, đi mãi cho tới khi khuất hẳn
những trái đồi trơ trụi, những mái lán cheo leo với những
hàng cỏ gai lưa thưa đâm lên chân trời. Rồi chúng tôi qua
những mảnh nương hẹp của dân trong vùng, trồng toàn một
thứ sắn còi cọc, thân cây bé bằng chiếc đũa.
Non một giờ sau, chúng tôi đến một cánh rừng.
Yên trí không còn cặp mắt thứ ba nào nữa, tôi cởi trói
cho Biền. Lằn dây dù thắt thành vệt tím bầm trên cổ tay. Tôi
ôm nó, nước mắt chảy dài trên má.
CÓ lẽ lâu lắm rồi tôi mới lại khóc... tử ngày mẹ tôi
khuất núi: Bãi tha ma làng ngổn ngang những lỗ huyệt cũ và
mới, những mảnh ván-thôi ải mục, những đám gai cào cào
ma, gai trinh nữ... Tôi ngồi rúc trong bụi chuối cổ thụ cuối
nghĩa đia ôm đầu khóc. HỌ hàng thân quyến không tìm
được tói Bận mọi việc tang ma bối rối, mọi người bỏ mặc
tôi ra về.
Tôi đã khóc. Khóc một lần cho tuổi thơ côi cút. Khóc
một lần cho người đàn bà tôi yêu hơn cả thế gian. Tôi khóc
no, từ lúc mặt trời ngang đỉnh núi cho tới khi lửa ma trơi lập
lòe khắp nghĩa địa, lơ lửng trên các ngọn dứa dại và gai cào
cào ma... Bấy giờ tôi mới mò về làng. Năm đó tôi lên tám.
Hai mươi năm qua, giở tôi mới lại khóc. Nước mắt
Biền nhỏ ướt nóng vai tôi. NÓ cũng cố nuốt đi tiếng nức nở.
Hai chúng tôi âm thầm khóc như thế giờ lâu... Rồi tôi bảo:
Ngồi xuống đây.
Chúng tôi ngồi bệt xuống rừng trải đầy những lá mục
lẫn loài dương xỉ lăn tăn như vảy ốc. Những vệt nước mắt
chảy dài trên má Biền đục ngầu bụi đỏ.
Tôi hỏi:
Giờ mày định sao?
Biền lặng im. Tôi nói tiếp:
- Mày biết vì sao tao mò được tới đây không?... ông
Lương ra lệnh đấy.
Biền chau mày:
Chắc ông Hào hay ông Liệt nói chuyện.
Tôi hỏi lại:
Giờ đinh sao?
Biền cúi đầu lau nước mắt vào ống tay áo. Tôi bảo:
- Hay mày về làng mà cưới vợ. Con Vinh chèo chắc
Chẳng đợi đâu nhưng thiếu gì con gái trẻ. Đàn bà thời chiến,
cưới một lúc ba đứa cũng không sao.
Biền lắc đầu. Tôi khuyến khích:
- Tao sẽ lo cho mày giấy chứng thực tình trạng tinh
thần không ổn định, cần giải ngũ.
Biền lại lắc đầu. Tôi phân giải:
- Hay mày sợ người ta chê cười?... Về mặt chính trị,
chỉ mấy thằng đào ngũ mới nhục. Còn mày, đau ốm, bệnh
hoạn, nếu không coi là vinh thì cũng bình thường. Đứa nào
lấy mày, nó khắc dần dà hiểu rõ. Lúc ấy, chỉ lo nó sẽ ôm khư
khư lấy mày như giữ hũ vàng ròng.
Biền nói:
- Tao chịu thói.
Tôi gắt:
- Chịu cái gì?
Biền ấp úng:
- Về làng bây giờ... không biết nói năng ra sao... không
biết...
NÓ cúi mặt xuống, một đường gân đỏ chạy rần rần từ
sơn căn lan sang bên trán và thái dương. Nhìn gần mới thấy
da nớ không còn tươi rói như xưa, lấm tấm những lỗ chân
lông đen, những vết sẹo gai cào và sẹo trứng cá. Dưới mi
mắt, thịt đã hơi chảy.
Tôi bảo:
Nói năng gì? Cứ cày sâu cuố( bẫm mà sống, cần gì
phải nói?
Biền đáp:
- Nhưng mà... tao nghĩ mãi rồi... không thể được...
Tôi lặng im. Tôi hiểu. Con gà chết tức vì tiếng gáy.
Cùng một lượt ra đi, nay Lương đã ngấp nghểnh cán bộ
quân đoàn, đeo hàng cấp tá. Ngang ngược chày bửa như tôi
cũng được phong hàm đại úy từ ba năm nay. Chỉ nó vẫn là
thượng sĩ... Lại thêm cái án tâm thần. NÓ không thể bỏ cuộc
về làng, chí ít cũng để tránh điều tiếng. Và... sau nữa... lẩn
lút trong những thèm khát của nó... Tôi biết chắc rằng Ơû đâu
đ~ sâu kín nhất trong tâm hồn ngây dại gã trai quê, sừng
sững một khải-hoàn-môn mộng tưởng... NÓ chẳng thể bỏ
cuộc Thà nớ rúc Ơû xó xỉnh nào đớ, không ai biết tới trên
mặt trận mênh mông trùng điệp này... NÓ chờ đợi ngày
chiến thắng, khi bước chân rầm rập của đoàn quân bước qua
khải-hoàn-môn... Tới lúc ấy, nó lẻn bước theo. Hoặc giả, nó
sẽ trở về làng, mượn ánh sáng của thắng lợi để trang hoàng
cho cái lịch sử nhỏ mọn và buồn tẻ của bản thân.
Tôi bảo:
Thôi được, tao sẽ gửi mày sang đơn vị thằng Húc.
Một đơn vị đặc nhiệm có kí hiệu M.035.
Biền ngẩng lên:
Đặc nhiệm ă?... Nhiệm vụ gì đây?
- Chính tao cũng chưa rõ. Chỉ nghe nói thôi. Nhưng
thằng Húc, đại đội trưởng là chỗ quen biết từ lâu... Giờ, tao
đưa mày lên F. Rồi từ đó làm thủ tục...
Biền nói:
- Thế thì tao yên tâm... Cơm đâu mày, lấy ra ăn không
tao đói.
Tôi bỏ búi thực phẩm, nhìn nó săm sắm ăn... Tôi
thương tiếc gã má hồng môi đỏ ngày xưa, đã từng gánh trăm
gánh lúa mỗi ngày, đã từng gác chân lên chân tôi để ước ao
chuyện tình ái giữa các thần linh, với tâm hồn trong trắng và
hùng vĩ...
Khi tôi đặt chân lên đồng bằng tỉnh Thanh, trời bỗng
đổ mưa rào. Bốn phương trắng xóa. CÓ lẽ đó là nước mắt
nhớ thương của mẹ tôi dưới mồ đã hiển hiện về.
Những người qua đường ngạc nhiên thấy tôi đi lừng
lững dưới mưa, không áo, không mũ. Thân thể và tâm hồn
tôi đầm nước.
Lính tráng bao giờ cũng thêu dệt trong tưởng tượng
mọi cảnh mặn nồng về ngày trở lại. Quê hương, tóm gọn
trong hai từ ấy là tất cả những gì anh đã từng hút thở,
từng ôm ấp, từng thờ phụng. Nhưng tôi không còn tình
cảm ấy. Mẹ tôi chết từ lâu. Cha tôi, với tôi luôn luôn là
người xa lạ.
Tôi nhớ không nguôi ngày xách bọc áo quần đưa mẹ
lên chùa đẻ. Cơn đau quằn quại khiến mẹ tôi gục mặt xuống
đất đầu tóc lấm lem bụi cát và cỏ khô, mồ hôi ướt đẫm tấm
lưng, cái bụng nở phồng như bụng ếch nhô lên dưới vạt áo
vỏ dà...
Trong những lời kêu la, có lần mẹ thét: !'ối anh ơi, anh
Ơû đâu mà để mẹ con tôi khổ sở thế này... Anh ơi i i..." Tôi
biết mẹ gọi tên một người đàn ông nào đó. Người ấy là cha
tôi
Từ hôm ấy, tâm hồn non dại của đứa bé lên năm ngóng
chờ. Ngóng chờ, một chút tò mò xen lẫn chút tự hào, xen lẫn
chút ganh ti. Cái người tôi gọi là cha ấy chắc được mẹ yêu
hơn cả tôi...
Tuy thế, mỗi khi bọn trẻ hàng xóm hoạnh hoẹ, tôi
thường giơ ngón tay cái lên: !!Sư nhà mày, cứ chờ đấy
nhá... bố ông về rồi biết tay...!' VỖ lộp độp lên ngang
hông, tôi bảo: !!Bố tao đeo súng lục Ơû đây này này... Rút ra
bắn: pằng pằng sáu viên liền, chết từ ông bà mày đến anh
Chút chi Chít của mày nữa...!I Thằng Quang em tôi mới
đầy tuổi, bám đít tôi nghe thế cũng bập bẹ: pằm pằm
theo.
Em Quang tôi được một tuổi rưỡi thì hòa bình. Làng
tôi ở, thuộc vùng tự do nên các đêm vui được tố chức liên
miên. Những đoàn người nắm tay nhau mê man nhảy múa
bên đống lửa:
~ "Thềm thiệt tình ~iệt-trung-sô.
đếqllốc ng~l một n~ôí lo
Lo vì lình người lao động... "
Rồi một tối nhá nhem, người đàn ông tôi mong đợi đã
về: Một chú bộ đội vác ba-lô, đội mũ bọc vải, người nồng
nặc mùi thuốc lào và mồ hôi. Mẹ kêu lên, chạy vào buồng
ôm mặt khóc. Chú bộ đội chạy vào theo:
Mình nín đi, mình...
Hai anh em tôi nắm chật tay nhau, đứng ngơ ngẩn Ơû
ngưỡng cửa. Lát sau, mẹ vùng chạy ra:
- Quân ơi, Quân... bế em vào chào bố...
Mẹ thắp đèn. Chú bộ đội tay bế thằng Quang, tay níu
vai tôi:
- Ra đây với bố...
Mùi mồ hôi và thuốc lào lạ hoắc. Tôi dằng khỏi tay
ông. ông nhìn tôi cười:
- ~l hả?... BỐ bận đi đánh giặc. Lại đây rồi bố con
mình làm quen nhau...
Lúc ấy, vẻ mặt ông dề chịu.
Tối, nhà tôi chật khách. Mẹ tôi nấu ba ấm chè xanh,
bày năm (ra kẹo lạc. Anh bộ đội đã trở về. Tiếng cười râm
ran từ tối đến nửa đêm. Hai anh em tôi ngủ rồi, khách còn
ngồi chuyện dòn như pháo...
Ba bốn hôm sau mẹ tôi lại khóc. Nhưng không khóc vì
sung sướng. Lúc ấy đã xế chiều. Hai người ngồi đối mặt
nhau qua chiếc bàn kê giữa đôi tràng kỷ trúc. Mặt bố tôi
hầm hầm. ông cầm chiếc bật lửa gõ cành cạch xuống bàn.
Mẹ tôi vừa quệt nước mắt lã chã rơi, vừa nói:
- Đường xa như thế, bọn linh bên tề đi vơ vẩn luôn, tôi
mới nhờ chú ấy đưa một đoạn...
BỐ tôi đập cái bật lửa xuống:
Thôi đi i
Mẹ tôi òa nức nở:
Khốn khổ thân tói thế này...
Thằng Quang nằm trong lòng mẹ bỗng thức giấc nhỏm
dậy. Mẹ tôi vừa lau nước mắt vừa dỗ dành nó. Trong lúc cặp
mày bố tôi chau lại thành vết đen trên tinh mũi, hai mép
ông rung rung, tôi len lén bước lại gần m~ nắm vạt áo. Mẹ
ghì đầu tôi vào lòng, hôn hít, nước mắt mẹ rơi đầy mật tôi:
Quân ơi, mẹ con mình khốn khổ chưa?... Lúc đói
khát, lúc qua sông vượt cạn chỉ thui thủi một mẹ một con,
đồng xu dính túi không có... Nay tưởng tới lúc yên hàn thì sự
lại sinh.
Tôi không biết nói gì. Tôi vuốt ve hai bên má ướt đẫm
của mẹ. BỐ tôi hầm hầm bước ra sân. Tôi nhìn theo ông, vụt
tan biến chút cảm tình cỏn con vừa nhen nhúm. Lúc ấy, với
tôi, ông là một gã khổng lồ độc ác, một lực lượng hùng vĩ
nhưng chỉ đáng để căm thù.
Những cuộc cãi vã ngày một nhiều hơn. Mẹ tôi khóc
nhiều hơn. Dần dà, mẹ không nức nở mà chỉ ngồi lặng
thinh, nước mắt âm thầm chảy. Tôi đã nhiều lần thấy dòng
lệ câm lặng khi mẹ ngồi cời lửa, khi mẹ ngồi sàng gạo, khi
mẹ nhổ cỏ vườn. Mắt mẹ thờ thẫn nhìn đâu đó... Trái tim
nhỏ của tôi run lên. Nhưng tôi bất lực. Dẫu sao tôi cũng chỉ
là một thằng bé con chưa tròn bảy tuổi.
Qua năm sau, mẹ tôi mất sau trận cảm hàn. Người ta
bảo tại mẹ tôi tham việc quá.
Nhưng tôi không chiu tin điều đó. Trong trí nhớ
nguyên vẹn của tôi, có một người đàn bà xinh đẹp mặn mà,
tiếng cười lanh lảnh. Một người đàn bà trong bất kỳ cơn
khốn cùng nào cũng giữ được gương mặt nhẫn nại, tươi rói.
Người ấy yêu thương chúng tôi không mệt mỏi. Người ấy
cho chúng tôi sinh lực nồng ấm không mệt mỏi. Càng cho
lại càng đầy...
Người ấy đã chết, đã bắt đầu sự chết khi hai vệt lông
mày của bố tôi nhíu trên tinh mũi, khi cái bật lửa có bánh xe
khả Oá của ông gõ cành cạch xuống bàn. Sự chết được hoàn
tất sau mười tám tháng não nề, dài dặc, cuộc hành trình qua
những dòng nước mắt. A
Từ ngày mẹ tôi chết, bố tói sống như cái bóng. ông
nuôi hai chúng tôi, chăm sóc vừa phải như mọi người bố
nhưng Ơ hờ.
CÓ lẽ ông cảm thấy giữa ông và tôi, đứa con trai lớn, có
mơ hồ một bóng đen thù hận. Tôi không cãi ông, không trái
lời ông nhưng không khi nào nhìn vào mắt ông.
Ba năm sau ông lấy vợ, một cô gái già ba mươi tư tuổi,
người đòn đòn như con cá rô đực. Hình như họ chẳng yêu
đương nhau cho lắm. Được năm năm, không có con chung,
dì ghẻ tôi bỏ lên thành phố buôn chuyến. Năm ấy tôi mười
sáu
Người làng kể cho tôi nghe chuyện cũ: BỐ tôi cả ghen
nên mất trí.
Hồi em Quang tôi bảy tháng, mẹ tôi không biết vay ai
gạo mà sống nên đành gửi con cho hàng xóm, liều mạng
vượt vào vùng tề tìm ông bà ngoại. Đường xa nguy hiểm,
bọn cướp thì ít nhưng tụi lính đểu thì nhiều. Mẹ tôi nhờ chú
Quyến đi theo. Chú Quyến ở cuối làng, mồ côi, nghèo rớt
mồng tơi nhưng được cái sáng dạ và biết chơi tay thước. Chú
đưa mẹ tôi tới giáp Rãnh rồi quay lại. Chuyến ấy mẹ tôi
được ông bà ngoại trợ cấp kha khá tiền. Về làng, mẹ đãi chú
Quyến ba gánh thóc...
"Đàn bà, một nách hai con, đứa ấp đứa bú, cấy cày
không được, những lo ăn lo mặc đã quắt cả gan, còn hơi sức
đâu mà đú đởn... Chẳng qua vì lão Hán, anh họ bố mày vay
thóc không được nên đặt điều phá chơi..." Chuyện kể thủng
thẳng như mái tranh ngày mưa nhỏ giọt. Sau này, tôi
nghiệm rằng mọi tội ác và sự đểu giả của con người đều diễn
ra một cách bình thản, đủng đỉnh như mưa nhỏ từ mái
tranh...
Năm tôi mười tám tròn, nhập ngũ, bố tôi bảo: "Trước
khi đi, mày có ra đồng thắp hương cho mẹ hay không?" Tôi
chợt bùng cơn uất đáp: !'Không!I. Mặt bố tôi tái xám. ông
cười gằn, lẳng lặng cầm cây cuốc mỏng ra nạo cỏ vườn. Tôi
nhìn cái lưng gù gù của ông, tự hỏi: 'không hiểu cơn gió
nào đã đẩy mẹ tôi vào tay óng, để đến nông nỗi tủi hờn như
thế Mẹ tôi vốn gốc dân Hà nội. ông ngoại tôi dạy tiểu học.
Bà ngoại là thợ thêu.'! Hai anh em tôi giống bố một cách
khốn khổ. Đến nỗi thấy thằng con trai nào giống mẹ là tôi
lại thèm.
Đêm hôm ấy, tôi mua hương hoa ra bãi tha ma làng.
Nghĩa địa lập lòe lửa ma trơi. Gió thổi những đóm lửa ma
phiêu diêu, lúc tung bông lưng trời, lúc là là trên cỏ. Tôi đặt
hoa rồi cắm hương trước mộ. Cả nắm hương cháy đỏ như
than trong lò. Tói nhìn những ngọn cỏ leo phơ phất trong
ánh lửa tím hồng, mơ tưởng thêm một lần úp mặt vào mái
tóc nồng mùi hương như và lá sả...
Khi tôi ra về, một bóng đen lù lù làm tôi giật thốt! BỐ
tôi đứng cách tôi vài bước chân, núp sau bụi dứa hoang. Tôi
không nói gì cả. ông cũng lặng im. Cho đến tận sáng hôm
sau, khi tiếng trống làm náo loạn làng xóm...
Tôi đến làng lúc trời nhá nhem. Kéo sụp mũ xuống
trán, tôi đi thẳng về nhà, cầu trời khấn phật đừng gặp ai. Tôi
đang đau bụng muốn chết! May thay, đường làng vắng teo.
Lũ trẻ đã dong trâu về chuồng và mọi nhà đang xáo xác
chuẩn bị bữa cơm tối. Nhã tôi tối om. BỐ tôi chưa thắp đèn.
Đặt ba-lô xuống gốc cau, tôi chạy thẳng ra cầu tiêu Ơû ngoài
vườn. Lối đi vẫn như cũ. Cây cối vẫn như cũ. Tôi bước lên
mấy cái bậc cầu tiêu, thoáng có cảm giác như mình vẫn còn
là thằng bé mười năm trước. Lát sau, xong xuôi, tôi vào
giếng múc nước rửa. Trong nhà, có tiếng bố tôi quát vọng
ra:
Con nhà Si tắm phải không?
Tôi im lặng, tiếp tục thả gầu xuống. Tiếng gầu xúc nước
lõm tõm vọng lên. BỐ tôi làu bàu:
- Đúng là đồ giác cái ! Cứ ầm ầm như thế thì đến lở cả
giếng nhà người ta ra...
Nghe giọng nói, tôi biết bố tói đã yếu đi nhiều. Ngày
xưa, ông không làu bàu như thế. CÓ thể, thay vì mắng chửi,
ông sẽ lẳng lặng đi ra bợp cho con bé hàng xóm một cú long
óc! Rửa mặt xong, tôi lại gốc cau lấy ba-lô rồi vào nhà. BỐ
tôi đang ăn cơm, không đèn không lứa. Tôi hỏi:
- BỐ ăn cơm à?
ông quay ra, ngưng một phút rồi hỏi:
- Quân phải không? Mày mới về?...
Vâng, con vừa về.
Giọng tôi vang khắp mấy gian nhà. Tôi hỏi thêm:
- Sao bố không thắp đèn lên?
CÓ mấy con nhộng với bát canh, thắp đèn làm gì cho
muỗi?
Tôi ngồi xuống phản. Bóng tối ngập tràn mắt tôi. Một
gợn sóng chua cay trong tim trào lên. ông ấy là bố tôi. Hồi
mẹ tôi còn sống, kinh tế gia đình một tay mẹ nắm: Phần nhà
ngoại viện trợ, phần mẹ xoay xỏa vừa làm vườn, vừa làm
ruộng, vừa chung vốn đi buôn với mấy người bạn gái...
Từ ngày mẹ tôi mất, cảnh nhà lụn bại dần. BỐ tôi
không phải là loại người có đầu óc. Cả đời, ông ấy chỉ cày
khi bốn xung quanh rủ ông cày, chỉ giồng khoai tây khi cả
làng đã giồng khoai tây... Đi theo voi, hít được bã mía. Thứ
nhẫn nại của đám người như thế, không mấy hơn sự nhẫn
nại của con bò... Nhưng óng ấy là bố tôi...
- BỐ buồn cười nhỉ! Sống dầu đèn, chết kèn trống...
Tôi gắt. BỐ tôi ngồi lặng thinh lúc lâu, rồi đáp:
Nhà hết dầu mấy hôm rồi. Tao chưa được lĩnh lương
hưu.
A... Tôi sực nhớ món tiền còm trả cho anh cán bộ thời
kháng Pháp. Tôi hỏi:
Lương bố bây giờ được bao nhiêu?
- Cũng đủ mua được sáu lít dầu.
- Thôi, l)ố ăn cơm xong, con sang bên bác Hưởng
mượn cây đèn.
Tôi chải lại dầu, bước qua hàng dậu sang nhà Lương.
Nhà anh đang ăn cơm, sáu bảy người xúm xít quanh mâm,
trên đầu treo cây đèn ba dây bóng thủy tinh lau muội trong
suốt ánh sáng ấm, khác hẳn thứ ánh sáng của đèn nê-ông
ngoài thành phố.
Bác Hưởng trai thấy tôi, tíu tít sai con cháu lấy thêm
bát đũa, róc rượu. Bác gái xăng xở chạy quanh nói nói cười
cười Tôi phải trình bày kỹ lưỡng là tôi đã bị ép mua mấy
quả trứng thiu trên ô-tô thế nào, bị đau bụng ra sao... hai
ông bà mới chiu ngồi im. Cả nhà mắt sáng rực hau háu nhìn
vào miệng tôi, chờ đợi.
Lương là con trưởng, được cả bố mẹ lẫn các em kính
nể. Mặc dầu vắng mặt, anh vẫn là linh hồn của gia đình họ
Lê.
Tôi bắt đầu kể về Lương... Lúc ấy, lục tục bên hàng
xóm có người kéo sang. Rồi người nọ gọi người kia, chỉ
mươi phút sau, cả làng đã tụ tập đông đủ. BỐ tôi cũng sang.
ông ngồi ngoài thềm với mẹ con chị Si. Bác Hưởng sai đốt
thêm hai cây đèn nữa. Cả trong nhà lẫn ngoài sân sáng
choang. Tôi đứng giữa vòng vây, lần lượt trả lời câu hỏi của
mọi người.
Tử mặt trận bên Đông sang mặt trận bên Tây. Từ chiến
trường A qua chiến trường B, chiến trường C, chiến trường
mang mật danh X... Chuyện tôi biết, chuyện tôi nghe kể,
chuyện tôi mường tượng ra. Mặt trận mênh mông trải trên
còi đất, số phận con người cũng mênh mông trong các bước
thăng trầm... Ơû làng này, lính tráng rải khắp nơi, chẳng nơi
não thiếu mặt.
Mười hai giờ rưỡi đêm, khách khua mới chịu về hết.
Một mình tôi ngồi với bác Hưởng giữa sân. Bác Hưởng bảo:
- BỐ mày dạo này lẩn thẩn rồi... Không chiu làm ăn gì
cả suốt ngày ngồi nhìn ngọn cau, không thì lại ra bãi tha
ma.
Tôi nói:
- Sao bỗng dưng ông cụ dở chứng ra như vậy?... Năm
ngoái, thằng Quang viết thư cho cháu báo tin ông cụ vẫn cày
cấy bình thường.
Bác Hưởng sửng sốt nhìn tôi. Trí não tôi chợt tê buốt.
ông già cúi xuống, lấy thanh đóm gạt mãi chiếc nõ điếu. Tôi
im lặng chờ đợi. Cuối cùng, ông nói:
CÓ nhẽ ở mặt trận cháu không biết. Em cháu đã có
giấy báo tử rồi... Giấy báo tử đến xã hồi tháng năm...
"Thếlà hết!..." Tôi cười nhạt. Rồi tôi đứng lên:
- Bác cho cháu mượn cây đèn.
Tôi xách cây đèn ra về. ông già bước theo đến bờ dậu:
- Mai bác sang.
Tôi đáp:
- Vâng.
Vào nhà, tôi đặt cây dèn lên bàn thờ. Rồi, tôi bó gối
ngồi nhìn đăm đăm cái đốm lửa vàng vui vẻ kia như một kẻ
mất trí. '!Thế là hết... hết hẳn..." Trí não tôi lặp lại.
Một tiếng vang âm u như tiếng vang trong hậu cung
chùa. Tôi chợt nhận thấy hai tay tôi run lên. Rồi cả hai cánh
tay, hai chân. Sau cùng, toàn thân tôi run bần bật như đang
bị hành hạ bởi con sốt ác tính. Tiếng thét rợn hồn trong cơn
sinh nở của mẹ vụt xé trong tôi. Cái chậu sành sóng sánh
nước. Bàn chân đỏ hỏn của đứa em trai quẫy đạp... Quẫy
đạp NÓ mất công quẫy đạp như thế để làm gì?... Cuối
cùng, cái chết đã nhặt nó đi, như nhặt mảnh giẻ rách vương
trên nẻo đường lầm bụi...
- Pho pho pho... Phi pho, phi pho...
BỐ tôi bắt dầu cất tiếng ngáy. Cằm ông trễ xuống, râu
đã bạc. ánh đèn chấm một vệt bóng trên chóp mũi.
- Phi pho, phi pho pho...
Giờ thì ông ngáy vang như sấm. DỖ xương vai nhô lên
thụt xuống đều đều theo nhịp thở. Gương mặt ông lấp trong
bóng tối. Giấc ngủ an nhiên. Ngọn lửa vàng nhảy nhót
không ngừng, đùa dờn, xoa bồng bềnh làn ánh sáng ấm áp
trong không gian quạnh hiu của mấy gian nhà, cái bàn thờ
rộng rỉnh, phủ bụi, lờ mờ bóng mấy cây giá nến đồng với cái
đỉnh đen ám khói, một nhành hoa giấy cóc ~y, bẩn thỉu vì
muội lửa và vì dán gặm... Tôi nhìn không rời ngọn lửa đèn...
ngọn đèn mượn nhà người khác...
Phi pho... phi pho pho... .
Tiếng ngáy đổ hồi. Toàn thân tôi vẫn run lên, không
ngừng run lên trong cơn bức xúc. Chưa bao giờ tôi run đến
như vậy. Lính tráng lẫn các cấp chỉ huy gọi tôi là "Quân lý".
Anh em nửa sợ nửa khoái. Cấp trên nửa gờm nửa ghét.
Hiểm nguy, đói khát, máu chảy... tất cả đã no nê đến tận
cùng...
Chưa bao giờ tôi run như thế. Tôi kinh hoảng vì thấy
như cơ thể tôi sắp chồm lên - như con hổ vồ mồi, sắp nhào
xuống - như con rái cá vọt xuống nước, sắp làm điều gì đó...
mà tôi cũng không thể biết... Tôi không nhìn ngọn đèn mà
cúi nhìn xuống chân tay mình, kinh hoảng vì chúng tựa như
tay chân ai đó, không kiểm soát được...
Phi pho... phi pho pho...
Tiếng ngáy lại dội lên lần nữa... Lần này, cây kim trên
cán cân đã lệch sang bên phải. Tôi chồm đến phản:
Bố. . .
ông cụ ú ớ. Tôi đập vào vai bố tôi, gọi dồn dập:
BỐ dậy... bố dậy ngay...
Tôi không hiểu vì sao tôi làm như vậy. Nhưng nếu
không làm như vậy, chắc tôi sẽ điên. Hoặc tôi sẽ cởi trần
truồng cắm cổ chạy ra cánh đồng, hoặc tôi sẽ vác dao chặt
hết hàng cau trước nhà, hoặc tôi sẽ đạp đổ bức thành để lấp
giếng. CÓ lẽ đó là sự lựa chọn theo bản năng:
- BỐ ngồi dậy cho con hỏi...
ông cụ ngồi dậy, đưa tay dụi mắt. Mắt ông đỏ kè. BỐ
tôi thuộc loại người u mê trong giấc ngủ. Những ông già
khác không như thế. HỌ thường ít ngủ, tỉnh táo, dường như
trong chặng cuối, năng lượng sống của họ dồn tự lại các giác
quan. HỌ muốn thâu nhận mọi tín hiệu của cuộc đời trước
khi từ giã nó...
BỐ tôi ngáp liền bốn năm cái, rồi bảo:
Đưa tao cái điếu cày.
Tôi đem chiếc diếu lại cho ông. BỐ tôi rít một hơi
thuốc dài, rồi hỏi:
Chuyện gì thế
Tôi nhìn mặt ông. NÓ như bức tường, không phản
chiếu điều gì. Một vẻ cù lì thâm căn cố đế. Chân tay tôi vẫn
run bần bật. Phải tự chế ngự lắm tôi mới giữ được một giọng
nói bình thường:
Giấy báo tử của em con đâu?
ông cụ ngồi im vài giây. Rồi bố tôi đứng lên, đi đến
bàn thờ, rút dưới chân cây giá nến đồng bên trái một chiếc
phong bì mang lại cho tôi.
- Đây
Chiếc phong bì nhẹ bỗng trên tay tôi. Loại phong bì
cẩu thả gập bằng giấy xấu, hồ dán lem nhem ngoại mép, sờ
nham nháp vì bụi.
BỐ tôi lại ngồi xuống phản, vớ cây điếu.
Tôi bảo:
- BỐ hút như thế đủ rồi... cho con hỏi chuyện đã.
ông cụ ném thanh đóm xuống phản:
- Hỏi gì thì hỏi đi.
Tôi thấy ruột đau căn cắt... Tôi hỏi:
- Sao bố lại bình thản như thế?
BỐ tôi cau mày hỏi lại tôi:
- Thế mày bảo tao phải như thế nào?...
Tôi im lặng. CÓ lẽ ông cụ không bao giờ hiểu điều tôi
muốn nói. Chúng tói mãi mãi là những kẻ xa lạ với nhau.
Như hai mảnh dầm trong hai cánh đồng, không đòng
mương, con lạch nào nối lại. Quang đã chết. Sợi đây liên lạc
cuối cùng giữa chúng tôi đã đứt...
Tôi nói:
- Con nghĩ, bố phải hiểu vì sao thằng Quang vào bộ
đội?
- Thế mày?... mày vào bộ đội vì cái gì?
- Con làm nhiệm vụ với đất nước.
BỐ tôi cau có:
Dễ thằng Quang nó không nghĩ được như mày?
Tôi nói:
- Gia đình ta chưa có ai góp phần xương máu trong
chiến tranh chống Mỹ. Con là đứa con lớn, con phải đi...
Nhưng thằng Quang lại khác. NÓ học toán giỏi thứ nhì
trong tỉnh và vẫn ước ao theo nghề điện toán... Dạo ấy, con
đã viết thư về...
BỐ tôi cắm cảu:
Thư từ gì, tao không biết.
- BỐ có biết nhưng giờ bố không chịu nhận.
- Mày vu vạ cho tao hả?....
Không. Con đã nhận thư thằng Quang. NÓ viết rằng
nó muốn đi học điện toán nhưng bố động viên nó đi bộ đội.
BỐ bảo: Thời chiến, chỉ đi bộ đội mới có tương lai... Họp chi
bộ, bố xung phong ghi tên động viên một trăm phần trăm
con cái lên đường làm nghĩa vụ quân sự. Lúc nhận thư nó,
con đang ở Tà chống.
BỐ tôi cắm mặt xuống nhìn cái nõ cày. Tôi nói tiếp:
Con đã viết thư về ngay cho em Quang... Nhưng chắc
đường giao liên tắc... NÓ đã lên đường...
BỐ tôi vẫn đăm đăm nhìn cái nõ cày, bàn tay trái lần sờ
thanh đóm. Tôi nói thêm:
Không ai có được trí nhớ ghê gớm như nó... Nếu
không, nó có thể trở thành một người...
Bỗng dưng, tôi không thể nói được nữa. Phần vì tôi
nghẹn ngào, phần khác tôi bỗng hiểu nói với bố tôi là việc
vô nghĩa... Tôi bỏ dở câu chuyện, đi ra sân.
Dãy cau giăng hàng đứng trong đêm như những chiếc
bóng thân ái, u sầu. Tôi ngồi xuống thềm đá... Em ơi... Hình
dung lại cái bóng nhỏ lũn cũn của nó ngày thơ ấu, những
ngày cơ cực, nó đeo lấy cổ tôi như một con ếch và chúng tôi
lẵng nhẵng tha lôi nhau từ vệ đường, gốc ổi cho tới sân đình.
Tại sao nó lại tuân thủ người cha cộc cằn thiểu trí như
cha tôi?... Cái thằng bé ngay từ phút chào đời đã quẫy đạp
dữ dội khiến nước trong chiếc chậu sành bắn tung tóe?...
llthế là hết... Tất cả đã quá muộn." Bức thư rủi ro của
tôi nằm mắc Ơû chặng đường nào đó khi gặp cơn mưa lũ,
hoặc bi vứt bỏ Ơû một binh trạm vô danh khi người giao liên
hi sinh. Đã quá muộn, cái ước mong khôi phục lại sự hưng
thịnh của gia đình, dòng giống.
Em trai tôi thông minh, nó có thể trở thành một con
người xứng đáng trong xã hội an bình... Tất cả đã được quyết
định vào một khoảnh khắc, khi người cha giơ cánh tay lên
trong cuộc họp chi bộ: "Tôi xin xung phong động viên một
trăm phần trăm con cái lên đường...'! Toàn bộ gia sản ký
cược vào canh bạc binh đao!
Hóa ra, con người dù đầu óc tối tăm đến đâu cũng
không chịu từ bỏ dục vọng. BỐ tôi muốn xí phần vinh quang
trong bữa tiệc chiến thắng ngày mai...
Gà gáy canh một. Con gà trống siêng năng nào từ xóm
trại gáy vọng vào. Sau đó, gà trong làng nhất loạt hòa tấu
theo. Một ngôi sao xanh lợt nhấp nháy làm tóa ra những tia
sáng màu mạ non. Tôi nhớ mẹ điên cuồng. Hàng cau làm tôi
nhớ mẹ diên cuồng. Những chiều lãng đãng, hoa rau cải
xuống thềm, mẹ lắm cho tôi trong chiếc chậu đồng sóng
sánh thứ nước thơm hương bưởi. Nếu mẹ tôi còn, cuộc đời
sẽ khác.
Một khi tôi đã đi bộ đội, Quang sẽ Ơû nhà.
Với người mẹ, không có thứ vinh quang nào sánh bằng
sự tồn tại của địa con, không có thứ giáo lý nào cao cả bằng
việc làm cho con hạnh phúc.
Nhưng ở làng này, quyền uy thuộc người cha. "Thời
chiến, đi bộ đội có tương lai hơn cả..." BỐ tôi đã kết luận!
Cúc cù cu cu cu
Gà gáy canh hai. Lần này, từ xóm tôi lan ra khắp làng.
Ngôi sao màu lá mạ đã biến khỏi chân trời, thay vào đó là
làn khói nhè nhẹ bay vì cơn gió xua đuối. Hàng cau khẽ rì
rầm xoa dịu nỗi đau của tôi và làm mờ cái ý đinh vừa nảy
sinh: Yù định tự hủy hoại thân mình... CÓ lẽ, sẽ còn một cái
gì đây... Tôi cô độc. Nhưng tôi mong muốn tôi sẽ tìm được
một cái gì đấy, sau những mất mát...
Sáng hôm sau, bà Nhàn mang đến một thúng quà: Nào
xôi nào chuối, nào bánh gai, bánh cốm. Tôi vừa ngủ được
một giờ đồng hồ, bố tôi đã đánh thức dậy:
- Dậy, bà Nhăn sang kia kìa... Đội cả thúng gạo chắc...
Mắt tôi cay xè. Bà Nhàn đon đả từ ngoài sân:
Anh Quân đã dậy chưa đấy?... Tôi quấy quả đây...
Tôi thèm ngủ nhưng phải ngồi dậy tiếp khách. Tôi nói:
- Bác Nhàn đem lễ sang ăn hỏi chắc? Tiếc là cháu
không phải con gái dông trinh!
Bà Nhàn cười tít:
- CÓ đáng gì đâu?... Xôi chuối để anh ăn sáng. Còn
bánh cốm bánh gai, nhân thể tôi đặt cưới con Thoa. Sáng
ngày kia, mời cả bố con sang dự.
Tôi sửng sốt:
Con Thoa mà lấy chồng!?
- NÓ mười tám rồi cỡn gì?... A, mười tám tuổi ta, mười
bảy tuổi tây. Nhưng nhã trai mót cưới thì tôi cho cưới.
- Kinh thật! Hồi cháu với thằng Biền đi, nó còn trèo
lên cổ cháu chơi trò cưỡi ngựa.
Bà Nhàn gật đầu:
~ Kinh chứ sao không kinh? Tháng, năm, thấm thoát
thoi đưa mà. Anh soi gương mà xem, vết chân chim đầy hai
đuôi mắt rồi đấy! Lần này về, có cưới vợ không tôi góp trăm
cau?
Tôi cười:
- Bác hãy lo cưới vợ cho thằng Biền trước. Biết đâu
sang năm nó chẳng đùng đùng về phép?
- Chẳng phải lo. NÓ cứ đặt chân đến đầu làng là tôi
khắc lo xong mọi chuyện.
Tôi hỏi:
- CÔ vinh chèo làng Xuân viễn à?
Bà Nhàn bĩu mói:
Các cậu cứ tưởng bở! NÓ lấy chồng tám năm nay, tay
bồng tay bế lại còn lẵng nhâng hai đứa nữa sau lưng.
Tôi cười:
Đẻ gì mà khiếp thết
Tám năm bốn đứa con có gì mà khiếp? Tướng con ấy
mắn như gà ri: đít cong chân ngắn, đẻ cho hết trứng cũng
ngót nghét hai chục... Nhưng tiếc gì nó? Cả anh, cả thằng
Biền cứ về làng vơ tay trái cũng được dăm cô... Nhưng thôi,
chuyện vợ con hãy gác lại đã, tôi sốt ruột quá, chẳng thấy
thằng Biền viết thư về...
Tôi bảo:
Cháu vừa gặp nó cách đây mười một ngày...
Mắt bà Nhàn sáng rực:
Thế à Phúc đúc quá! NÓ có nhắn gì tôi không?
- NÓ vội quá không viết thư kịp. NÓ gửi nhời cho cháu,
mong hai bác và cả nhà bình an.
Mũi bà đỏ huẩy, hai tròng mắt đã rân rấn nước:
NÓ mong cả nhà bình an!... Thực là người leo cây lo
cho người đứng dưới gốc. Chúng tôi mong nó bình an mới
phải, nó Ơû nơi mũi tên hòn đạn, biết sống chết lúc não?
Bà sụt sịt, lấy khăn tay lau mũi. Tôi pha trò. Rồi mô tả
cảnh tượng đời sống chúng tôi: CÓ gian khổ nhưng luôn
luôn vui, cơm ăn áo mặc không thiếu thứ gì, lại có văn công
văn nghệ lưu động phục vụ các mặt trận... Tóm lại, tất cả
những khía cạnh tươi sáng nhất của cuộc sống thời
chiến...Bà Nhàn nghe một lúc, tỏ vẻ an tâm. Bà xếp bánh
trái lên bàn, te tái:
Tôi đi chợ đây. Tối, anh sang uống rượu với ông Biên
nhà tôi nhé... ông ấy dặn anh nhất thiết phải sang chơi.
~ Vâng, cháu cũng muốn gặp bác trai.
Bà chào bố tôi rồi cắp thúng đi.
Tôi ngủ lại. Khoảng sáu giờ chiếu tôi mới thức giấc.
Tựa hồ kẻ lặn dưới nước lâu vừa ngoi lên, tôi hít thở hoài
hoài làn không khí nhẹ bỗng nơi làng thôn. Mọi thứ hương
của cỏ cây, hoa trái hòa trộn với mùi xú uế, mùi bùn, mùi
súc vật tạo thành thứ mùi quen thuộc, thú mùi đã tẩm đẫm
vào tôi từ thuở ấu thơ.
BỐ tôi hỏi:
- Mày ăn cơm không, tao nấu?
Con đã hẹn sang nhà ông Biên.
- Thế thì tao cũng sang cụ Chấn ăn tiết canh cháo
lòng. Nhà cụ ấy hôm nay ngả lợn.
Vâng.
- Khóa cửa rồi hãy đi. Chìa khóa đem qua nhà cụ
Chấn cho tao.
Nhà có gì nữa mà phải khóa?
- Dạo này hay có trộm vặt. Mâm thau, nồi, xoong nó
cũng lấy.
Thế thì con cũng đi luôn. BỐ khóa cửa mà giữ lấy
chìa.
Tôi đi trước. BỐ tôi kì cạch khóa rồi đi sau. Chúng tôi
cùng đi một đoạn đường nhưng chẳng ai nói với ai một lời
nào. Rồi bố tôi rẽ vào nhà cụ lang Chấn. Tôi đi thẳng đến
nhà ông Biên.
Tòa nhà ông Biên khang trang vào loại nhất làng.
Thềm năm bậc lát đá, hiên rộng có hàng cột đỡ. Ơ căn nhà
ngang, ông vượt lên hai gian gác, đổ mái bằng, chạy những
đường hoa văn tỉ mỉ trông vui mắt. Lúc tôi đến, cơm nước
đã sẵn sàng, đèn thắp sáng choang.
Bà Nhàn trách:
- Anh sang chậm thế, suýt nữa tôi bắt con Thoa đi
đón.
Tôi cười, tạ lỗi:
- Cháu ngủ quên.
Lúc ấy, một cô bé má hồng, mắt đen nhanh nhánh đứng
ôm cây cột bên hàng hiên, ngước lên:
Anh Quân trông lạ ghê!
Tôi quay lại, chưa kịp nhận ra ai thì bà Nhàn đã nói
đón:
Con Thoa đấy... Chào anh chưa?
Thay vì chào, cô bé lè lưỡi ra. Tôi bật cười:
- Mày vẫn nghịch thế mà hai ngày nữa đã lấy chồng rồi
Thoa đỏ bừng mặt, cười khanh khách:
- Nghịch là một việc, lấy chồng là một việc chú anh?...
Thiên hạ thích lấy em thì em cho nó lấy...
Lúc ấy, ông Biên bước ra:
- Vào đi anh Quân...
ông bảo tôi, đoạn quay lại mắng con:
Con ranh này, lại dám trêu anh Quân... Hỗn...
Thoa nháy mắt với tôi rồi chạy biến ra ngõ. Lúc ấy, tôi
mới nhận thấy nó đã thành một thiếu nữ, xinh đẹp không
ngờ! ông Biên dắt tôi lên mâm rượu, chỉ có hai ông bà và
tôi Đám con cái dọn mâm riêng, ăn dưới nhà ngang. Bà
Nhàn róc rượu ra ba cái chén sứ trắng nõn:
Rượu thuốc đấy anh Quân ạ. Các anh uống thì tốt
lắm.
ông Biên liếc bà:
- Thế bà uống có tốt không?
HỌ nhìn nhau đồng lõa, cùng cười. Không trách đám
đàn bà trong làng ghen lồng lộn với bà Nhàn! Riêng việc bà
cứ ngồi sánh vai với chồng uống rượu tiếp các loại khách, từ
bậc lão trượng xuống hàng con cháu đã đủ cho mấy người
đàn bà suốt đời ngồi ăn vụng, uống lén dưới bếp phải tím
ruột bầm gan.
Hôm ấy cuối tháng nên bà Nhàn thịt hai con vị. Làm
hai (ra tiết canh. Một con vịt hầm hạt sen, một con luộc
chấm muối giã tỏi. Con nào con nấy ngót nghét ba cân. Rau
thơm để tràn ra cả vành mâm. Loại trừ thứ chén sứ uống
rượu và loại bát ớ a thường dùng, mâm cỗ ấy khiến tôi nghĩ
là mâm cỗ đãi ~ Trí Thâm hoặc Lý Quỳ tái sinh!
ông Biên bảo:
- Anh Quân dùng tay nhé. Nhà tôi thích ăn thế cho
tiện. Kí ca kí cách chặt tốn thì giờ mà nước thịt chảy ra ăn
mất ngon... Nào, bà nó dùng đi... Anh Quân dùng đi... đừng
khách khí...
Nói đoạn, ông vặt cánh con vịt luộc, chấm muối, ăn
ngon lành.
Chuyện của chúng tôi lan man từ việc làng sang việc
nước. Không thấy ông Biên hỏi gì tới thằng con trai. ông có
mười sáu đứa con, sáu trai, mười gái. Biền là con trai
trưởng, ngày đẻ cu cậu, ông ngả con lợn ngót tạ đãi họ hàng.
Tôi xa nhà đã lâu nên nghe hai ông bà kể chuyện về những
người lân bang, họ mạc cứ như nghe kể chuyện cổ tích.
Chuyện đang dòn thì ông Lý, bí thư đảng ủy xã đi vào:
- Chào cả nhà. Chào người chiến sĩ anh hùng từ mặt
trận trở về...
Lại vẫn là bà Nhàn tụt xuống phản, te tái ra đón khách:
Chào bác Lý, mời bác vào uống rượu.
ông Biên vẫn ngồi như bụt mọc trên phản, miệng nói:
- Mời bác Lý vào đây.
Tôi thấy mặt ông Lý tối sầm lại khoảnh khắc, có vẻ bất
mãn. Rồi ông cười được ngay:
- Vui vẻ quá!
Tôi nói:
- Mời bác xơi chén rượu.
ông Lý bảo:
- Không khách khí gì đâu nhưng có cuộc họp quan
trọng của đảng ủy xã đang đợi tôi... Anh Quân, mười năm
nay anh mới về làng, tôi muốn mời anh tới nói chuyện với
các đảng viên, sau đó với dân làng.
Tôi đáp:
- Cháu có học nghề nói chuyện bao giờ đâu?... Tụi
cháu là lính, ăn no vác nặng...
ông Lý tợp ng~lm rượu, thò tay vặt cái tỏi vit, đoạn
cười hề hề:
- Chính thế mới hay đấy... Cánh cán bộ tuyên huấn của
Đảng nới mãi rồi. Giờ, các anh nói dân họ tin hơn. Đề nghị
anh phổ biến những tin thắng trận để dộng viên bà con có
khí thế tiến công vào vụ mới...
Đến đó, ông ngừng lại để gặm cái tỏi vịt. Tôi nói:
- Hôm nay cháu trót nhận lời làm khách của bác Biên.
Vừa kíp nhấc chén rượu lên, chưa nói được chuyện gì... Bác
biết, cháu với Biền là bạn...
ông Lý gật dầu:
Biết, tôi biết... Thế tôi hẹn anh tối mai nhá?
Tôi đáp:
Bác Lý thông cảm cho. Cháu chỉ biết đánh giặc,
không biết thuyết giảng.
ông Lý uống nốt chén rượu, giơ tay:
- Yên trí, yên trí... tôi sẽ làm việc trước với anh về cái
đề cương... Cốt nhất là phải thông qua cái đề cương.
Tói góp ý:
- Hay cháu đứng ra chào bà con, rồi bác nói?
ông Lý ậm ừ:
- Để tôi nghiên cứu đã...
Lúc ấy, ông Biên bóc miếng lườn vịt to tướng bỏ vào
bát ông Lý:
Bác dùng tự nhiên.
Bà Nhàn róc chén rượu đầy:
- Rượu thuốc đấy bác Lý ạ... Bắc đùng tốt lắm...
Đoạn, cả hai ông bà cùng ngừng lại, chờ ông bí thư xã
ăn uống. Tôi thấy ngượng nên nhấc chén lên cùng uống với
ông. Chẳng còn chuyện gì để nói. ông bí thư xã ăn xong cái
lườn vit, quẹt đũa lau miệng đứng lên:
- Tôi vội lắm, kiếu các vị nhá... Anh em ban thường vụ
đang chờ. Anh Quân cứ nghĩ kỹ đi, phương án nào tối ưu thì
ta thực hiện...
ông Lý xuống sân, bà Nhàn chạy theo chào với:
Bác Lý đi họp ạ ạ...
Cái bóng óng bí thư xã khuất dần trong quầng đèn.
Ngày chúng tôi nhập ngũ, ông đọc bài diễn văn động viên
lính mới hùng hồn. Hồi ấy, tôi thấy ông oai vệ. Giờ, ông nhỏ
bé hẳn đi... Mười năm trôi qua...
ông Biên róc cho vợ chén rượu rồi cười khẩy:
- Chưa thời nào đám hào lý mất tư cách như thời này...
Bà Nhàn gạt đi:
ông nói làm gì chuyện ấy, mất vui...
ông Biên trầm ngâm:
Thời xưa, cứ mười người là phải có bảy tám người là
con nhà tử tế, có lễ nghĩa. Muốn làm bậy cũng còn sợ nhục.
Bây giờ, đa phần là bọn phong học cương thường đạo lý. HỌ
học luân lý Mác-lê. Cướp vườn cướp ruộng nhà người ta
cũng là theo sách Mác. Lột quần vợ người ta mà ngủ cũng là
vì lợi ích của đấu tranh giai cấp...
Bà Nhàn giật áo chồng:
- Thôi đi, đừng dây với bọn họ. Tay dao tay thước
trong tay đám ấy cả, họ muốn làm gì ta mà không được?...
Bà vặt chiếc cánh bỏ vào bát ông:
- Cánh con vít này nơm những mỡ, ông nhắm đi.
Chúng tôi nói sang chuyện mùa màng, đồng đất. Tàn
bữa rượu thì cậu Bảo, con trai út ông Biên bước lên thềm:
- BỐ ơi, đêm nay bố hay là con ra trông vit cho anh
Bình?
ông Biên đáp:
Tao đi. Chúng bay lo sửa soạn bài vở rồi mà ngủ sớm.
Đoạn, ông quay sang bảo tôi:
- Lâu lắm anh mới về làng, đêm nay ra ngủ đồng với
tôi Ta tha hồ nói chuyện.
Rồi ông bảo vợ:
- Bà pha cho tôi ấm chè, ủ vào giỏ. Róc bình rượu với
nướng con mực nữa nhé...
Bà Nhàn tụt xuống phản:
- CÓ ngay đây ông ạ...
Chờ bà sắp xếp xong mọi thứ, chúng tôi ra đi. Nửa giờ
sau mới tới nơi. Khi tôi trông rõ túp rạ nhọn hình chữ A,
cũng là lúc vang lên giọng Oà Oà của một thiếu niên:
BỐ à?
- Tao dây. Đói bụng chưa con?
- Cũng kha khá bố ạ... Ai đi với bố vậy?
- Anh Quân, mày không nhận ra ư?
Từ trong túp lều, một bóng đen lao ra. Một chàng trai
chạy tới ôm chầm lấy tôi:
- Anh Quân uấn...
Tôi đứng lặng trong hai cánh tay rắn chắc, nồng ấm của
nó, tưởng như vòng tay em trai mình. Rồi, tôi nâng mặt nó
lên và nhận ra thằng Bình, trên con Thoa một tuổi:
Mày lớn thế ư?...
Bình cười ngượng nghiu, rồi nói:
Anh gặp anh Biền em không?
CÓ gặp.
- Anh ấy thế nào?
Cũng như tao đây này. Già hơn tôi chúng mày... (và
đùa thêm:) Mà cũng chẳng ai cho đi chăn vịt để... bán trộm
trứng!
Bình cười hưng hức, dúi đầu vào vai tôi. Ngày trước, tôi
và Biền đi chăn vit, thường bán vụng trứng cho mấy mụ
buôn chợ huyện để lấy tiền mua kẹo, dầu chải tóc và thuốc
bôi trứng cá. Bình đi theo, thường được chia vài đồng. NÓ
lấy tiền ấy mua nịt cao su và dây thung làm ná bắn chim...
ông Biên bảo nó:
- Về ăn cơm không đói.
Bình nói:
- Em về đây, mai anh Quân phải chơi với em cả ngày
đấy nhá.
NÓ đi dọc theo bờ mương và chẳng mấy lúc biến vào
bóng đêm. Trời đẫm sương, lành lạnh. Chúng tôi ngồi trong
lều, nhìn chân trời nhủ nhòa mây nước, nghe tiếng vạc xào
xạc trên mặt đầm. ông Biên róc chè nóng ra chén. Chúng tôi
lặng lẽ uống, hết chén này tới chén khác. Lúc lâu sau, ông
Biên nói:
- Thằng Biền ra sao?
Tôi lặng im. ông nói tiếp:
- Tôi biết là có chuyện, nếu không, nó đã gửi thư về.
Anh nói cho thật. Thằng Biền làm sao?
- Bác đừng lo. Biền còn sống.
- Tôi không phải như những người cha khác, thúc con
ra chiến trường: '!Một là xanh cỏ, hai là đỏ ngực!" Tôi cũng
chẳng ích kỷ, hèn nhát, xui con đào ngũ. Nước có ngoại xâm,
dù đứt ruột cũng phải cho con ra đi.
Vâng.
- Sáng qua bà Nhàn về kể chuyện lại. Tôi lặng thinh.
Anh nói với mẹ thằng Biền như vậy là tốt. Đàn bà cũng như
con trẻ, ưa điều nói dối hơn là chịu sự đắng cay. Nhưng tôi
là bố nó...
Trong ánh sao, tôi thấy ông hướng gương mặt cương
nghị về phía trước. Bóng tối che khuất đôi mắt sáng và xếch
như mắt quan võ Tàu, nhưng tôi biết nó đang đăm đăm nhìn
khoảng hư không, với những tia sáng lạnh lùng. Trước một
người cha như thế, không còn cách nào khác. Tôi uống nốt
chén chè rồi bắt đầu kể chuyện...
Đêm trôi. Cánh đồng yên tĩnh, xột xoạt tiếng cỏ lay.
Thi thoảng có vài tiếng vịt các cạc trong đàn quây bên lều.
Tôi cũng không còn nhận ra tiếng nói của mình. Đấy như là
giọng nói của một kẻ xa lạ, bình thản, một cái máy hát vô
hồn xướng lên những cảnh đắng cay cùng một giọng như
bản tụng ca.
Tôi vừa kể chuyện, vừa đằm mình trong giấc mộng
phiêu bạt của quá vãng, từ ngày lên năm tuổi nghe tiếng
súng nổ đì đọp nơi chân trời khói lửa tới năm hai mươi
nhăm tuổi, lội qua những thung lũng nhầy nhụa thịt và
bùn... Suốt quãng thời gian ấy, có một thằng tôi đang sống,
có một thằng tôi đứng bên lề cuộc đời, ngơ ngác nhìn gió
bão đi qua... và... ngắc ngoải đợi chờ...
ông Biên chợt hừm một tiếng trong họng:
- NÓ không nói gì nữa?
Tôi đáp:
- Thưa vâng. NÓ rất buồn.
Tại sao nó không chịu giải ngũ?
- Biền không chiu... Cháu nghĩ là tại nó ngại anh em
làng xóm...
Phải, nó thương chúng tôi. Không ai không sợ miệng
đời mai mỉa?
- Thưa vâng.
- NÓ sống kham khổ Ơû vùng ấy đã bao lâu?
- Cháu nghe ông sư phó nói lại là ngót nghét sáu năm.
- Khổ thân con tôi, trai đương thì hơ hớ... Anh Quân
này, lũ dân thường như chúng ta, chịu cực đủ điều, bóp
miệng bóp mồm, bóp cả đến con c... Tụi tướng lĩnh nó có
khổ như thế đâu? Ra Bắc vào Nam, đâu đâu chúng nó cũng
có đàn bà. Ngày xưa thì là phi là thiếp, giờ thì các đồng-chí-
nữ phục vụ! Trò đểu, thời nào cũng giống nhau là thế
Vâng.
- Biết vậy mà có ai dám nói đâu?... Như tôi, ngang
ngược bậc nhất làng này cũng phải kéo anh ra đồng trò
chuyện. Kiếp dân đen, miên man cơ khổ. Bao nhiêu người
chết đi, từ cụ Đề, cụ Phan tới ông Nguyền Thái Học... Bao
nhiêu sinh linh mới đổi được lá cờ độc lập. Nhưng bọn thực
dân da trắng cút đi thì lại mọc lên bọn cường hào, ác bá da
vàng!?
Vâng.
Nhưng ta hiểu riêng với nhau thế thôi, anh Quân
nhé... Chớ để cho ai biết. Anh em, họ hàng, bè bạn bây giờ
rình mò tố cáo nhau còn hơn chồn cáo. Thời này, gương mặt
người cung biến dạng đi, không còn giống cái mặt người...
Tiếng một con vịt trời cô lẻ rơi trong đêm. Mặt đầm xa
ánh lên gợn bạc. Làn sương mỏng trên cánh đồng bay bảng
lảng khiến tôi rùng mình vì lạnh. Tôi nói:
Năm nay có lẽ rét sớm, bác nhỉ?
ông Biên gật đầu:
- Rét lắm đây. Màu sẽ hỏng vì sương muối.
Im lặng một lát, tôi nói:
Cháu nhớ mẹ cháu quá.
Tôi hiểu. Tội nghiệp cho anh. Bà ấy đẹp cả nết lẫn
người. Trời già cay độc.
ông Biên thở dài...
Hơi sương ẩm ướt làm nhờn mắt tôi...
Hồi lâu, ông Biên nói:
- Hay anh cưới vợ đi? Tôi với bà Nhàn sẽ đúng ra lo
liệu
Tôi lắc đầu:
- Cháu còn đi.
ông Biên nói:
- Kiểu này, chiến chinh chưa biết đến bao giờ mới
hết... Đừng chờ.
Tôi nói:
- Chẳng để làm gì bác ạ. Lại đèo bòng thêm khổ cho
người đàn bà.
- Anh gàn lắm... Chớ nghĩ thế. Đàn bà không có ai rờ
đến cũng khổ chẳng kém gì chờ đợi! Cứ cưới rồi gieo cho nó
đứa con, mình có kẻ nối dõi tông đường mà nó có đứa bế
ẵm... ~li cả đôi.
Tôi lắc đầu:
- Cháu chịu.
ông hỏi:
- Bận trước, tôi vẫn thấy anh hay cập kè với đứa nào ấy
nhỉ?
A... cô Hoa...
Tôi nhớ rồi: Cái Hoa là chị cái Hòa, nhà ông Tiến...
Tưởng ai. Đám ấy tôi khuyên anh nên quên đi. Hỏng rồi!
CÔ ấy đã lấy chồng?
- Lấy chồng thì đã tốt phúc! Loanh quanh hai ba đám,
lão Tiến gàn, thách cao dao bầu, không chịu gả... Đến năm
ngoái, ủy ban xã lấy nó lên chạy việc vặt. Được đầy năm thì
cái bụng ễnh ra. Chẳng ai chiu nhận, con bé cũng không
chiu khai. Vợ chồng lão Tiến xấu hổ, đánh đuổi con bé đi...
Giờ nó túp mái lều trên ngọn đồi trọc, gần xóm trại, ngoài
bờ sông ấy...
Tôi rùng mình. ông Biên bảo:
- Lạnh hả... Ta uống rượu cho ấm người.
ông lấy bình rượu với con mực nướng bày lên cái ớ a
sắt tráng men. Ngọn đèn hột lạc treo Ơû góc lều tỏa ra thứ
ánh sáng mờ đục. ông Biên róc hai chén rượu đầy. Chúng
tôi uống cạn một hơi.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
CÓ một dòng nhựa nóng bò vào các huyết quản của tôi,
trong khi trí não trở nên lạnh buốt. Tôi mường tượng thấy
một mái lều cô lẻ trên đồi, dưới kia là dòng sông vắng...
Thiên hạ hay nói đến người đàn bà lý tưởng. Tôi chẳng
biết Hoa có phải người lý tưởng của tôi hay không, nhưng
tôi đã yêu cô hết thời mến thiếu.
So với đám gái làng, cô thuộc loại xinh. Hơn nữa, cô lại
được chiều. Vợ chồng ông Tiến không có con trai, chỉ có hai
cô gái. Con nhà nông, nhưng cả Hoa lẫn Hòa đều không
phải chăn trâu, cắt cỏ. Họa hoằn, các cô mới ra ao vớt bèo
cho mẹ rải chuồng lợn, hoặc cắp giỏ theo đám bạn gái hôi cá
Ơû ao đình.
ông Tiến đay Hoa đánh đàn. Cây đàn măng-đô-lin reo
tính tang những chiều rỗi rãi: "Đây đó, đây trong rừng, đây
cánh đồng, kìa bao phóng khoáng..." Món tóc đen như than
đổ nghiêng xuống má mỗi khi cô ngồi gảy đàn. Da cô min
như l~la, ánh lên nâu nâu hồng hồng ngon như ổi chín.
Hoa học dưới tôi một lớp. Bọn trẻ làng chế. "Thằng
Quân mà lấy con Hoa. Mang thai tám tháng đẻ ra thuồng
luồng". Không biết ai dạy bọn nó. Câu hát làm tôi sợ. Trong
trí não chúng tôi, thuồng luồng là loài yêu quái chuyên làm
hại dân lành. Tôi hết đuổi đánh lại van xin tụi bạn, nhưng
chúng không tha. Một lần, thằng đầu sỏ gọi tôi lại:
- Này Quân, mày muốn chúng ông thôi chế không?
Tôi gật đầu:
- Muốn.
Thằng trùm nhe răng cười:
- Nếu thế, tí nữa con Hoa đi qua đây, mày phải ném
vào lưng nó một nắm cứt trâu...
Tôi sững sờ. Thằng trùm bĩu môi:
~ ông biết ngay mà. Mày yêu nó. Mày muốn cưới nó
làm vợ.
Tôi cãi yếu ớt:
- Đâu nào?
Thằng trùm bảo:
- Nếu mày không yêu nó, mày phải ném vào lưng nó
một nắm cứt trâu thật to. Hễ mày không ném, chúng ông cứ
đặt vè, lại còn lấy than vẽ mày với nó lên sân đình nữa...
Sân đình... Cái sân gạch mênh mông, suốt ngày người
lớn và trẻ con qua lại... Tôi toát mồ hôi hột, nói:
- Ném thì ném, sợ gì...
Thằng trùm bắt tất cả núp sau bụi chuối.
Hoa đang đi trên đường tới chỗ chúng tôi. Chắc mẹ nó
sai đi trả cái chảo rang bánh phồng khoai. Tay cầm chiếc
chèo, Hoa vừa đi vừa khe khẽ hát, mắt liếc đôi chích chòe
đang hót nhịp trên ngọn tre. Thằng trùm lấy đầu gối thúc
vào đít tôi:
Kìa, mày?
Mặt tôi nóng ran, không biết vì sợ hãi hay tủi hổ, tôi
cúi xuống, bốc một nắm cứt trâu tươi, ngay sát bụi chuối,
dang tay ném thẳng vào người Hoa.
Nắm cứt trâu tới trúng ngực áo trắng của nó thành một
bãi nhoe nhoét bắn lên vai và cổ con bé.
Thằng trùm và bọn trẻ cùng rú lên cười.
Tôi đứng ngây thộn nhìn Hoa.
Con bé, sau khi hét lên một tiếng hãi hùng, kịp đưa
mắt qua bụi chuối, nơi bọn trẻ nhảy cỡn lên reo hò, và nhận
ra thủ phạm. Nớ nhìn thẳng vào mắt tôi một tích tắc, rồi òa
khóc và bỏ chạy. Cái nhìn ấy, làm bỏng mặt tôi đến bây giờ...
Đã CÓ một ngọn gió u hoài, thổi từ thời thơ ấu, từ kỷ
niệm nhục nhã ấy đến hôm nay. Nhưng dẫu sao, chúng tôi
cũng đã yêu nhau. Hoa nhút nhát. Tôi sợ hãi. Vả chăng, tôi
lại là một thằng bé nghèo, mồ côi mẹ. Tôi luôn luôn sợ hãi...
Tôi nhớ không nguôi cái đêm chúng tôi đi qua cánh
đồng. Lúa sắp chín, uốn câu. Bờ cỏ lút giữa những mảnh
ruộng thơm ngát. Hoa đi trước, tôi theo sau. Hoa nhủ:
- Anh viết thư luôn nhé.
Anh sẽ viết thư luôn.
Anh đi khắp nơi, thiếu gì người. Rồi anh sẽ quên em.
Không, anh chỉ có em thôi.
Hoa ngoái dầu lại, cười. Vì thếvấp, ngã. Đang đà bước,
tôi ngã chồm lên cô. Trời tối, trăng hạ tuần chưa lên, sao
khuất lấp trong mây. Nhưng tôi thấy rõ gương mặt Hoa kề
dưới cổ tôi, khuôn ngực phập phồng lọt dưới vòng tay tôi...
Tôi choáng váng, xây sẩm mặt mày, lần đầu tiên thân thể
chúng tôi gần gụi đến thế.
Lần đầu tiên tôi thèm muốn điên cuồng... Tôi đã là
một thằng trai. Chuyện thầm kín giữa đàn ông và đàn bà
như một trái cây chín đong đưa ngay trước miệng. Tôi là bạn
thân của Biền, tôi biết cuộc tình của nó với cô Vinh chèo có
cặp mắt lá dăm và bộ đít cong như đít bọ ngựa. CÓ lẽ đây là
cơ hội đầu tiên tôi có thể trở thành đàn ông một cách toàn
vẹn. Nhưng tôi nghe Hoa thì thào:
Đừng anh...
Tay cô vẫn đặt trên ngực tôi, môi cô vẫn kề môi tôi
trong nụ hôn mê man. Khi chúng tôi ngừng lại để thở, cô
nói với tôi, lần này rành mạch hơn:
- Đừng anh... Chúng mình chưa cưới. BỐ mẹ sẽ đánh
đuổi em nếu mà...
Thân xác tôi cuồng lên như ngọn triều điên dại, nhưng
trí não tôi thoáng qua hình ảnh một người đàn bà trẻ, bụng
chửa vượt mặt, cắp nón lủi thủi trên đường... Tôi đi. Và Hoa
sẽ là người đàn bà bị xua đuổi!? Người con gái tôi yêu lơ
lả!? Tim tôi đau nhói. Tôi ghì riết Hoa. Vừa thương vừa
thèm muốn. Hoa nói:
- Bao giờ... bao giờ mình cưới?...
Tiếng cô rời rạc, hổn hển.
Tôi riết chặt hai vai cô:
- Phải, mình sẽ cưới...
Hoa nép vào ngực tôi. Cử chỉ đó khiến tình thương
trong tôi trào lên. Tôi kéo cô ngồi dậy:
Anh sẽ về phép... một ngày gần nhất. Chúng mình sẽ
làm một lễ cưới đời sống mới, đơn giản.
Hoa đáp:
Vâng.
Tôi vuốt ve hai cánh tay cô:
- Em chờ anh chứ?
Hoa khẽ gật đầu:
- Em chờ anh...
Mười năm qua. Hồi âm "Em chờ anh" rung trong tôi
những con sóng xa vời. Giờ, tôi trên đường ra ngọn đồi xóm
trại. Cuối cùng, người con gái tôi yêu cũng vẫn bi xua đuổi,
nhưng không phải vì lầm lỗi với tôi...
Mặt trời đã lặn tử lâu, không có trăng. Sao mờ. Tôi đã
chọn thời khắc thuận tiện nhất, lẩn tránh mọi gặp gỡ, dò
hỏi. Tôi lén lút đi. Đường ngoằn ngoèo qua đồng, dọc theo
những bờ mương. Bốn xung quanh lúa ngan ngát mùi hương
quá vãng. Tiếng côn trùng ri ran yếu ớt, khác hẳn ngày tôi ra
Thuốc trừ sâu đã diệt chúng, cũng như bom đạn làm
tiêu tan những luồng sinh khí siêu nhiên. Không còn nghe
thấy tiếng đập cánh của cào cào, cà cuống. Không còn bắt
được những con muỗm muỗm nõn nường. Cả lũ chim đêm
cũng lìa xa cánh đồng, tìm góc trời nào đó...
Tôi vén quần lội qua dòng mương, đề tới cánh đồng cỏ
giáp xóm trại. Xóm này, hồi tôi còn Ơû nhà chỉ lơ thơ vài túp
lều tranh. Giờ, cớ dễ tới hai chục nóc nhà. Chó sủa râm ran
từ sau những bụi tre chưa kịp kết lũy, trông lụn vụn. Thoáng
mùi hoa móng rồng đưa... Tôi ngại gặp người quen nên đi
vòng quanh xóm. Phải nớa giờ nữa tôi mới đến giải đồi phía
sau.
ĐÓ là giải đồi trơ trụi, mọc toàn cỏ lau, cỏ cứng và cây
hắc bà. Xưa, tôi chưa bước chân tới. CÓ một lối mòn lách
qua những vườn ớt, vườn cà, những khu ruộng dứa. Mắt đã
thuộc bóng đêm, tôi mò mẫm theo. Lối mòn vượt qua gò đất
nhỏ, tới ngọn đồi hình bát úp. Dưới chân đồi, dòng sông
lặng lờ chảy. Trong đêm, trông như mảnh gương màu thiếc,
có vẻ cám dỗ kinh rợn như vẻ đẹp của một nữ ma đầu.
Thoảng mới có tiếng cá quẫy.
Tôi trèo lên đồi, tin chắc đó là nơi Hoa ở. Leo đến gần
đỉnh mới thấy lều. Nớ im lìm trên nền trời đêm. Không ánh
lửa, không tiếng động. Tôi ném một hòn sỏi, hi vọng có
tiếng chớ sủa đáp lại.
Tiếng chó sủa cũng không! "Chẳng lẽ Hoa đã trốn đi
đâu?" Tôi nghĩ nhưng tôi vẫn tin là cô Ơû trong gian lều tối
tăm đó. CÔ ấy không thể trốn đi đâu được. Bụng chửa vượt
mặt. Không có giấy giới thiệu của chính quyền, không có hộ
khẩu... chưa kể là không có tiền dắt lưng. Tất thảy những
điều kiện buộc con người không thể tìm lối thoát.
Chân tôi vấp phải một cái cọc. Cây cọc tre đóng xuống
đất đồi, có sợi dây thép buộc lên chóp lều. Người đàn bà
chuẩn bị cho mùa mưa bão sắp tới. Tôi bước qua mấy luống
sắn, cây mọc ngang bắp chân, qua mảnh sân lát lỏng chỏng
vài viên gạch vỡ tới khuôn cửa. Liếp cửa chống một cây sào
xiêu vẹo
- Hoa ơi...
Tôi cất tiếng gọi. Dù rất khẽ, tiếng vọng vẫn âm vang
trên khu đồi. Không cớ tiếng trả lời.
Hoa ơi, Hoa...
Tôi gọi .lần thứ hai, da diết. Rồi tói lắng nghe những
hồi âm tan vẳng trong không gian. Bóng đêm và hoang vắng
bao phủ quanh tôi. Tiếng gọi của tôi có đơn quá! Tôi bước
thêm một bước:
- Hoa... trả lời anh đi i i...
Hoa oa oa...
Tới đó, một giọng khẽ kháng, ráo hoảnh cất lên:
- Anh đến đây làm gì?
Tôi sững lại một giây. Rồi tôi hướng theo tiếng nói,
bước vào lều:
- Hoa ơi...
Hai tay tôi quờ quạng dò đường hệt như thằng mù.
Chợt tiếng quát:
Đừng vào!
Tiếng quát tuy khẽ nhưng gay gắt. Tôi dừng lại:
- Sao lại thế, Hoa...
Lặng yên.
Tôi nhào vào khoảng tối phía trước, nơi vừa phát ra
giọng nói khô cằn, lỗ mãng, giọng nói vô cùng xa lạ với
giọng nói cô gái tôi yêu. Giờ, tôi nhận thấy bóng người trải
dài trên chiếc giường hoặc chõng đặt ở góc lều. Tôi bước
thêm hai bước, xô tới. Tay tôi chạm vào cái bụng căng
phồng, ấm nóng...
Đừng!
Người đàn bà hét lên, đẩy tay tôi ra. Cùng lúc ấy, bật
lên tiếng khóc. Tôi rờ rẫm ngồi xuống mép chõng, tay sờ
thấy những nan tre nhẵn nhụi. Tôi quàng tay qua hông cô:
- Hoa... em bình tĩnh...
Người đàn bà nấc lên, rồi, như cơn lũ tràn, khóc nức nở
dồn dập, hết cơn này tới cơn khác... không sao ngừng lại
được Tôi nằm xuống bên Hoa, ôm tấm thân nóng rực, run
bần bật như đang sốt. Những sợi tóc cô vướng trên mặt tôi.
Chúng có mùi chua của mồ hôi. Trong dêm, tôi im lặng vuốt
ve cô. Từ gương mặt ướt đẫm, xuống cần cổ gáy, bờ vai
mảnh... Tôi tránh không chạm tới cái bụng kềnh càng của
Hoa, đoán chắc nó sắp tới ngày sinh nở. Cớ như thế, tôi chờ
Hoa khóc cho hết nước mắt, cho hết cơn oan khổ mười
năm... Thời gian trôi qua một cách trì đọng trong tiếng rỉ
ran thưa thớt của côn trùng, trong âm vang mơ hồ của dòng
sông... Rồi tiếng gà canh một dừng dả. Tôi lau nước mắt cho
người đàn bà:
- Nín đi em...
Hoa vẫn còn nức nớ, tuy nhiên, chừng như vơi bớt cơn
đau, cô thở đều đặn hơn. Tôi dỗ:
Nín đi em. Chúng mình đều lớn rồi... Ngày anh đi,
anh mười tám. Giờ, anh sắp sang tuổi hai mươi chín. Tóc đã
có sợi bạc.
Hoa úp mặt vào cổ tôi. Một tay cô lùa vào tóc lôi. Tôi
cầm tay cô, vuốt nhẹ:
Em cũng sang tuổi hai mươi bảy rồi. Các cụ bảo Tam
thập nhi lập...
Không hiểu Hoa nghĩ gì, cô lắc đầu và tiếp tục vUốt tóc
tôi. Tôi nói tiếp.
- Chúng mình không còn Ơû tuổi trẻ con...
Hoa lại lắc đầu. Và cô vẫn im lặng ve vuốt tóc tôi.
Tôi nói:
- Chúng mình không có lỗi... Em không có lỗi... Anh
cũng không cớ lỗi... Điều quan trọng hơn cả là... anh yêu
em...
Tôi nắm tay Hoa.
CÔ lại khóc nức lên, rung chuyển toàn thân. Hai cánh
tay nóng hổi quấn chặt lấy tôi.
Em đừng khóc... Hãy nghe anh nói...
Tôi lắp bắp. Tôi không còn nói mạch lạc được. Tôi ôm
người đàn bà trong vòng tay, xiết bao gần gũi và vô cùng xa
lạ vừa thương yêu, vừa nghi ~l xa xót. Tôi kinh hoảng nhận
thấy mỗi lúc, những cám giác trái ngược đó càng lớn hơn,
căng rõ rệt hơn trong tâm hồn mình.
Tôi ghì chặt Hoa, vùi mặt tôi trong mặt cô, trộn tóc tôi
vào tóc cô, áp ngực tôi vào ngực có... Tôi muốn lấp đi
khoảng trống ngăn cách của mười năm. Tôi muốn chôn vùi
dĩ vãng..Môi chúng tói tìm nhau. Nụ hòn điên dại mặn vị
nước mắt. Da thịt tói tìm da thịt cô, trong ước muốn điên
dại được hòa nhập. Trí tưởng tượng của tôi căng ra, để phục
hồi những cảm giác đã phai mờ trong khoảng thời gian nhòa
nhạt... cánh đồng... bờ cỏ đầm hương... cơn ngây ngất đầu
tiên... ước muốn ngày hôn lễ...
Một tia chớp lóe lên niềm đam mê đau đớn. Tôi thấy
đầu tôi như u mê đi, các giây thần kinh nhức nhối. Tôi nhắm
thật chặt đôi mắt lại, để đêm đen dày đặc hơn, thẳm sâu
hơn, mịt mùng hơn, xóa nhòa các ý nghĩ, các cảm giác, các
hồi ức và chỉ còn tràn lên duy nhất ngọn triều nhục cảm...
Tôi nhắm thật chặt đôi mắt lại...
Gà gáy sang canh!
Tiếng gà gáy làm không gian rung rinh, rạn vỡ. Tôi
đoán chừng Hoa đã ngủ say. Tói ngồi dậy, ra khỏi lều. Vành
trăng lạc loài như móng tay quỉ sứ cắm trên nền trời.
May thay trong túi áo tôi còn vài điếu thuốc nhàu nát.
Tôi móc chúng ra, vuốt thẳng từng diếu một, châm lửa hút.
Mùi khói thuốc khiến tôi tự trấn tĩnh. Tôi nhìn làn khói
trắng bay lơ lửng, tan hòa trong đêm. Đêm an bình. Nhưng
nơi chân trời, những ngọn mây tím nứt nẻ gợi lại chân trời
của những bãi chiến trường nồng nặc máu và khói súng.
Cảnh tượng quen thuộc tái sinh, cộng với tiếng ngáy
của người đàn bà trong lều vẳng ra khiến óc não tôi lạnh
giá. Tôi rít từng hơi thuốc dài, nhìn vào khoảng trời mông
lung để tìm lại một cánh đồng thơm ngát, nơi chúng tôi mê
man trong những nụ hôn đầu, tâm hồn sáng rực lên bởi hình
ảnh của ngày hôn lễ với đôi gối trắng tinh, thêu những con
bồ câu bạc...
Nhưng tôi đã đến với người đàn bà đầu tiên Ơû một ngọn
đồi miền Trung, một người béo nần nên như khúc dồi, nhễ
nhại mồ hôi, đâm đãng!
Còn Hoa... với ai đó, cái kẻ tôi không nớ hỏi tên, tác
giả đứa bé nằm trong hung...
Tất cả, không thể quên đi, không thể đánh mất, không
thể đổi thay. Người ta không sửa chữa được quá khứ. Không
có cách nà(l bắt dòng sông quay lại nguồn nước ban đầu, từ
khe núi vọt ra, mát lạnh và trong suốt. Dòng sông đã qua
các bờ bến, các thành phố, nó chở theo rác rắy và bùn nhơ...
Tôi lắng nghe, thấy tiếng ngáy của Hoa đều đặn hơn,
mạnh hơn... Ngày mai, tôi biết làm sao?... Tôi sẽ lại lén lút
tới đây, trong bóng tối?... Cớ thể tránh được mọi người
nhưng không thể tránh được chính tôi. Ngày mai, tôi biết
chắc tôi không còn yêu thương dào dạt như hôm nay vì,
trong lần ân ái thứ hai, cái bụng kềnh càng của Hoa sẽ nhắc
nhở tôi cái ám bóng kẻ tình địch và tố cáo rằng giấc mộng
đẹp nhất giữa chúng tôi không còn nữa.
Bác Hưởng tổ chức một bữa cỗ tiên tôi, nhân thể thông
báo tin anh Lương sắp sửa lên chức. HỌ mạc, láng giềng,
người nào người nấy tươi cười hê hả. CỖ mặn bảy món, ba
ớ a, bốn bát lại thêm xôi gấc đỗ xanh như cỗ cưới hạng nhất
ngoài phố.
- Nhà bác Hưởng phúc to bằng cái đình, chẳng mấy
chốc cậu Lương lên cấp tướng!
- Tôi biết mà, dòng họ Lê đời nào cũng có người nên
danh nên giá. Thời bình làm đến chức thượng thư, thời loạn
ngồi đến ghế súy. Mỗi làng chỉ được một dòng họ cũng đủ vẻ
vang rồi!
- Bao giờ anh Lương về làng, ông bà phải ngả bò khao.
Tôi sẽ đút lót cánh trên huyện cho nó dòng điện về. Thắp
được mươi cái bóng đèn trăm "oắt! thì cứ gọi là lóa mắt!
ông Biên ngồi góc trong cùng, lặng lẽ nghe mọi người
bàn tán. Vẻ mặt óng kín bưng.
Xung quanh, người ta róc rượu òng ọc. Cốc nâng lên
rồi đặt xuống. Đũa gắp liên tục. Những gương mặt đỏ rực
như say nắng. Nào tướng, nào tá, nào úy... những danh từ nở
như pháo trong dòng miên man của giấc mơ chung, niềm
khao khát chung.
ông Biên phòng ăn uống gì, nhâm nhi từng hột lạc.
Mọi người quên ông. CÓ lẽ, Ơû một bữa tiệc khác ông sẽ là
nhân vật chính...
Nếu đám đông cần tới một thủ lĩnh dạy họ trồng lúa,
trồng mầu, nuôi gia súc.
Nếu đám đông cần tới một bậc huynh trưởng dạy họ
biết làm một người chồng biết thương yêu, một người cha
khoan dung biết dẫn dắt.
Nếu đám đông cần một người bạn lớn dạy họ biết
thưởng thức mọi cung bậc của đời sống, biết chắt giọt rượu
nồng ấm vào tiết xuân sang, biết ngắm nhìn ngọn lửa ngày
đông giá, biết tận hưởng hương vị của sen hạ, cúc thu...
Vâng, nếu vậy...
Nhưng ngày đó chưa tới
Giờ, ông thu mình trong một góc yên lặng, lắng nghe.
Tôi nhớ tới cánh đồng bảng lảng sương bay, đêm chúng tôi
trò chuyện cùng nhau. Nỗi buồn dâng trong tôi, tan hòa
cùng men rượu.
CÓ ai đó huých rất mạnh vào vai tôi:
- Mai lên đường, phải vui lên cho có khí thế chứ anh
Quân?
Tôi quay lại: Một cái miệng ngoạch ra cười, bóng lọng.
- Vâng, chào dông chí Lý.
ông Lý ngồi ghé bên phản:
- Nào, dịch vào... Tôi thay mặt anh em địa phương cạn
một cốc rượu với vị sĩ quan quân đội nhân dân. Mong rằng
đồng chí sẽ làm cho làng Đông tiến vẻ vang.
Thưa đồng chí, tôi không dám.
ông Lý quay lại:
Sao lại không?
Tôi cười:
Báo cáo, tôi không được như anh Lương. Tôi kém...
ông Lý bảo:
Đồng chí phải có tinh thần quyết thắng. Ta đã có
truyền thống anh hùng. Lại có duy vật biện chứng của chủ
nghĩa Mác làm vũ khí. Cái gì mà ta không thắng?...
Tôi đáp:
- Vâng. Mời đồng chí lên đũa.
Tôi ăn mâm ngoài kia rồi. Vào nói chuyện với đồng
chí cho vui. Tiện thể cảm ơn cuộc gặp gỡ hôm trước.
- CÓ gì mà cảm ơn.
- CÓ chứ! Các đồng chí Ơû chiến trường về, người thực
việc thực. CÓ các đồng chí, công tác tuyên truyền của Đảng
thắng lợi rực rỡ hơn. Đợt này, hai mươi tám thanh niên tình
nguyện làm nghĩa vụ quân sự. Bên thôn Hạ, dân số đông gấp
rưỡi Đông tiến mà chỉ có bảy người ghi tên tình nguyện
thôi!
Bác Hưởng vào mời mọi người uống chè. Chè Thái, bác
Hưởng gái tự ướp sen, thơm đáo để. Các mâm khác tiếng
đũa bát vân va nhau lách cách. Tôi cáo từ bác Hưởng ra về.
Bác gái bảo đến tối sẽ sang nhà tôi chơi, để gửi thư và quà
cho Lương.
Mãi gần nửa đêm, khách mới ra về. Tôi mò ra xóm trại
thăm Hoa. CÔ ngồi ở sân chờ tôi, tóc rũ xuống lưng đen như
đêm tháng chạp. Tói đưa cho Hoa ít tiến phòng ngày sinh
nở. CÔ khóc hoài, khóc mãi. Tôi bảo Hoa:
Em nín đi. Anh đã khóc, cũng chứng kiến nhiều
người khóc. Mà toán là lính, những người dày dạn với
chuyện tử sinh. Anh muốn em đừng khóc nữa. ít nhất cũng
để cho anh cảm thấy đôi phút yên vui...
Hoa không nín mà lại khóc òa lên, nức nở từng cơn
như bi đòn oan. Tôi ngồi im, bực tức. Đàn bà là cái giống
quái gì không biết. Chẳng hiểu họ ra sao... Một lát, tôi cố ôn
tồn:
Nghe anh này, khóc cũng không được ích gì đâu...
Hoa vùng dừng lên chạy vào trong lều. CÔ vật mình
xuống chõng.
- Hoa, anh bảo...
Tôi chạy theo Hoa.
Một cây cọc dập vào mặt tôi, giữa sống mũi! Khoảng
tối phía trước bỗng nảy ra những vòng tròn ngũ sắc, đom
đóm bay loạn xạ. Đứng giữa lều, tói ôm mặt đau điếng, hai
thái dương nhức buốt lên tận đỉnh đầu.
Cùng với cảm giác đau đớn, một cơn hung dữ chồm lên.
Tôi kinh hãi vì nhận thấy mình đang Ơû trong trạng thái
say máu chiến: Thù hận, thèm chém giết, khao khát hủy
diệt... Luồng khí nóng bốc bừng bừng trong tim, thiêu đất
óc não. Tôi nắm cây cột, định giật xuống. Chợt tói hình
dung thấy cả mái lều sẽ sập theo. Ngày mai, khi tôi lên
đường người đàn bà bụng mang dạ chửa kia sẽ làm gì với
đống tre pheo tranh nứa ngổn ngang?...
Tôi dừng tay lại, và càng kinh hoảng vì nỗi khát thèm
hủy diệt cứ cháy bừng bừng trong tói như ngọn lửa tưới dầu,
không thể dập tắt. Hai bàn tay tôi co quắp lại vì chúng thèm
muốn bóp chặt một cần cổ nào đó, thèm xóc lưỡi lê vào một
tấm thân nào đó, thèm khạc lửa liên thanh vào một tiêu
điểm nào đó... bất cứ vật gì liên quan tới cõi đời khốn khổ
này, liên quan tới những mất mát của tôi, liên quan tới
những sức mạnh vô hình dày vò, dày đọa tấm thân và tâm
hồn rách nát của tôi...
- Trời ơi, trời ơi là trời i i...
Hoa rên rỉ. CÔ vẫn không ngừng khóc. Mắt tôi mở
trừng trừng hướng về phía người đàn bà. Toàn thân tôi căng
như sợi dây dàn lên hết cỡ. Chỉ một tích tắc, chỉ nửa tích tắc
nữa thôi nó sc đứt. "Thế là hết... Không còn gì tồn tại". Một
ý tưởng rạch ròi, buồn thảm tới. NÓ tới chậm chạp, uể oải
tựa hồ một con trăn no bụng trườn trên đám lá khô, tìm chỗ
ngủ.
Và bỗng nhiên, ý tưởng đó khiến cơn hung hãn trong
tôi tắt ngấm. Cả những cảm xúc, cả những dự tưởng cũng tắt
theo. Tói biệt tôi không thể nói một lời an ủi, hay có một cử
chỉ khích lệ người đàn bà. Thậm chí, tôi chẳng thể tới ngồi
bên có. Tôi không thể làm gì hết... Tôi bỗng hoang vắng như
một nhà ga bi loại bỏ. Tôi bỗng trơ trọi như mỏm đá nhô
giữa lăn nước biển. Tôi bỗng chán nản và cạn kiệt sinh khí
như một lão già trụy lạc đã quá tuổi tám mươi ngồi nhìn
những mảnh vỡ sau bữa tiệc túy lúy của cõi đời...
Tôi quay lưng bước khỏi lều.
Cuộc chia tay không lời chào, không lời hẹn.
Đêm tối thui. Lũ chó xóm Trại sủa ầm ĩ.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Tôi mơ thấy một chàng trai có gương mặt vui vẻ dắt tôi
qua cánh đồng tường vi. Mặt trời đã lên nhưng sương trắng
chưa tan bay lang thang như ước vọng của kẻ si cuồng. Bốn
xung quanh, hương nồng đậm, hoa tường vi nở mê man cho
tới tận chân mây.
Hai chúng tôi im lặng, mài miệt bước đi.
Chợt một tiếng gọi dòng dả khiến tôi bừng tỉnh:
Quân, dậy mau không thì mày sẽ chậm tàu!
Chật vật lắm tói mới kiếm được một chỗ ngồi... Ngay
trên đầu tôi, đung đưa đôi chân to như chân voi và dơ dáy
của một cô buôn chuyến. CÔ ta mắc võng ngay toa tàu, rồi
cứ nằm há miệng ngáy, mặc cho kẻ qua người lại.
Con tàu thời chiến giống bái cơm chộp giật trong cơn
đói Lầm than, khốn cùng. Tàu chỉ đỗ Ơû ga xép năm phút.
Khách đi tàu chen lẫn nhau, đạp lên những bãi phân lổn
nhổn rác và đá, đạp lên các túi xách, ba-lô, sọt đựng hàng,
đạp cả lên lưng và chân nhau...
Người ta cố phải tìm được một chỗ ngồi, dù trên ghế
hay dưới sàn. đau toa, nước tiểu tràn lênh láng bốc mùi
khai lợm. Những chiếc ghế gỗ cứng, long lở, nhem nhuốc
vết dao cứa và nhựa hắc ín. Oâ cửa: cái còn, cái mất, phủ đầy
bụi lẫn muội than. Tàu sơn loang lổ màu rêu ngụy trang.
Một người đàn ông gảy gò, mật đen nhẻm, huých tôi
vào sát thành toa:
- Nhờ anh tí nhá.
ông ta ghé mông ngồi xuống đồng thời đặt kê nửa
chiếc bao tải nặng trĩu lên đùi tôi:
- Thông cảm tí nhá.
Tôi nói:
- Việc gì khó, tôi sẵn sàng giúp ông. Nhưng đi đường
dài, mà đặt bao tải nặng như cùm sắt thì làm sao chịu nổi?
ông ta nhăn nhó:
- Bát. Toàn bát ăn cơm. Để dưới sàn vỡ mất.
Tôi bảo:
- Phải tìm cách thu xếp chứ?
ông ta lắc đáu quầy quậy: ,
- Anh thông cảm, vỡ mất. Ơ vùng tôi, bom phá vỡ hết,
cả đến bát ớ a. Nhiều nhà phải ăn cơm bằng gáo đứa!
Tôi dịu giọng:
Yên trí, tôi sẽ giúp ông.
Thương lượng với mấy cô buôn chuyến, tôi xếp được tải
bát giữa những cuộn chiếu cói và sắn khô. Người đàn ông
sung sướng nhoẻn miệng cười. Hai hàm răng trắng làm sáng
bừng gương mặt gảy choắt, đen như nhọ than.
ông ta thở phào:
- May quá là may.
Đoạn, rút trong túi dết ra một Oå bánh mì khô cứng, ông
ta bẻ làm đôi mời lôi:
Làm một miếng cho đỡ đói lòng.
Tôi lắc đầu:
~ Cảm ơn, tôi vừa ăn cơm no.
Người đàn ông hể hả, (lầm bánh ăn. Miếng bánh mì đã
có vết mốc. Tôi nhìn những lằn gân nổi chằng chịt trên cổ
ông ta, cả hai bàn tay khó khẳng như rê duỗi... Trong chiến
trường, có lúc đói trắng mắt, đói rã xương, mà lại có lúc thực
phẩm dồi dào, ngập đũa ngập bát. Nhưng cái đói đinh đường
của người dân hậu phương là thứ đói triền miên vô tận!
Thấy tôi nhìn, người đàn ông nói vồn vã:
- Tôi hãy còn cái bánh nữa trong túi, anh ăn nhá?
Tôi vui vẻ đáp:
- Không, tôi nhìn cái mụn ruồi trên cổ ông. NÓ giống
hệt mụn ruồi của bố tôi.
Người đàn ông cười hề hề, đoạn cúi xuống cắn thận
nhặt từng mẩu bánh v~m rơi trên đùi, bỏ vào miệng. Xong
xuôi, ông ta khoanh tay trước bụng, nhắm mắt ngủ. Chỉ một
lát sau, tiếng ngáy đã cất lên đều đặn.
Con tàu thét lên hồi còi dài, nhưng vẫn chưa chuyển
bánh. CÔ buôn chuyến nằm võng trên đầu tói nói mê:
- Trả tiền tao ngay... Không cho khất được. Biết phiên
chợ sau mày còn hay bom nó cắt hộ khẩu rồi... Trả tao...
CÔ ta nói rành rẽ khiến đám buôn chuyến xung quanh
phì cười.
Tàu rú hồi còi thứ hai. Một nhân viên hỏa xa bước vào
toa:
- Yêu cầu đồng bào lùi ra... yêu cầu lùi ra...
Anh ta nói liên tục:
- Dẹp cho tôi một lối đi, yêu cầu...
Đám khách xô đẩy nhau, dạt sang hai phía, nhường
đường cho anh ta. Một việc miễn cưỡng. Tuy nhiên, bộ đồng
phục ngành hỏa xa, chiếc mũ kê-pi mới và chiếc túi giả da
đeo bên hông khiến tấm thân lom khom của anh ta cũng có
phần nào oai vệ. Phía sau anh ta, hai người đàn ông bước
theo. Cả hai đều to béo, nhưng một người lùn, một người
cao. ông lùn đeo kính gọng vàng, ông cao đeo kính cận dày
như trôn chén.
- Nào, nào... dẹp vào... dẹp vào lấy lối...
Người nhân viên hỏa xa tới dãy ghế đối diện với dãy
ghế tôi ngồi. Ơ dó, đã có hai hành khách đi từ ga nào chẳng
rõ. Khi tói lên tàu, họ đang ngủ, đầu ngoẹo vào nhau, mũ
cối úp lên mặt. Cả hai đều mặc quân phục cũ.
Chàng nhân viên hỏa xa đập vào vai họ:
Dậy, dậy... .
Hai thanh niên bừng tỉnh, giương những con mắt đỏ kè
nhìn xung quanh. Khi nhận ra người động trước mặt, họ
bỗng ngồi thẳng lên. Người nhân viên hỏa xa nói lạnh lùng:
- Yêu cầu cho kiểm tra vé.
Cả hai thanh niên đều giữ khư khư mũ cối trước bụng,
người nọ đưa mắt nhìn người kia. Cả vẻ mặt lẫn toàn thân
họ toát ra vẻ khúm núm:
- Dạ... thưa đồng chí... dạ...
Người soát vé nhắc lại:
- Yêu cầu cho kiểm tra vé...
Hai người đàn ông đeo kính vẫn im lặng quan sát tử
đầu bỗng cùng lên tiếng:
Thôi thôi...
Nhân viên nhà ga bảo hai thanh niên:
- Về phòng vé giải quyết.
Đoạn, anh ta quay lại cúi dầu một cách lễ phép nói:
- Xin hai đồng chí cho ý kiến: ngồi đây có được
không?
Người đàn ông lùn gật đầu:
Được
Chàng nhân viên hỏa xa nói tiếp:
Dạ, có cần gì xin các đồng chí tìm tôi tại phòng vé.
Tôi sẵn sàng phục vụ.
Người đàn ông lùn gật đầu:
- Được rồi.
Nhân viên hỏa xa nói:
Tôi xin phép được di ạ?... .
Vì phải cúi xuống nói với người lùn một cách kính cẩn,
trông bộ dạng anh ta hệt như thằng gù có bướu lưng. Người
đàn ông lùn sẵng giọng:
- Được rồi, cần gì tôi sẽ báo...
Anh chàng nhân viên hỏa xa cúi dầu chào lần nữa rồi
Hai người đàn ông không cớ hành lý gì đáng kể, ngoài
một chiếc túi du lịch cớ nhỏ chắc đựng đồ ăn. Không ai dám
ngồi chen thêm vào ghế của họ. Những con người béo múp,
trắng như dế nhốt lâu ngày trong bao diêm trở thành bậc
chúa tể vô danh giữa đám đông.
Người ta bắt đầu liếc nhìn họ một cách rụt rè, hoặc sợ
hãi, hoặc muốn lấy lòng. Ngay đám buôn chuyến trâng tráo
là thếcũng không dám thản nhiên buông những lời thô tục.
Không khí trong toa tàu bớt ồn ĩ hẳn đi... CÓ một thứ quyền
lực không tên khống chế mọi người!
Con tàu rít lên hồi còi thứ ba, xô lắc rồi chuyển bánh.
Hai người đàn ông tựa dầu vào thành toa, nhìn nhau. ông
lùn đeo kính gọng vàng cười ha hả:
- Thấy chưa? Cậu đã thấy chưa?...
Người cao lớn gật dầu, im lặng với vẻ như chờ đợi.
Người lùn nới tiếp:
- Cuộc đời không nhàm chán, mịt mù như văn chương,
báo chí của các cậu. Chỉ bước lên toa tàu này mươi phút đã
rõ.
Người đàn ông đeo kính cận nói:
- Chính vì muốn thấy rõ nên tôi mới theo cậu đi
chuyến tàu chợ này. Chưa chi vợ tôi nó đã đe: Liệu đấy, đem
rệp về nhà thì tôi tống khứ!
Người đàn ông lùn cười:
- Vợ là kẻ thù không chính thức của mọi người đàn
ông ha... ha... ha... Nhưng chúng ta không thể loại bỏ. Bây
giờ trở lại vấn đề cậu quan tâm.
Người đàn ông cao lớn hỏi:
- Nội dung và hình thức.
Người đàn ông lùn gật đầu:
- Chính thế. Tôi khỏi cần bố trí diễn các tiểu phẩm
làm minh chứng. Trước mặt chúng ta, vừa mới đây đã xảy ra
một ví dụ hiển nhiên. Cậu hãy nhớ lại: Hai thằng trốn vé tàu
gọi cậu nhân viên hỏa xa là đồng chí. Cậu nhân viên hỏa xa
cũng gọi chúng ta là đồng chí.
Nhưng thực chất mối quan hệ thớ nhất là mối quan hệ
giữa những kẻ phạm pháp với người thừa hành pháp luật.
Mối quan hệ thứ hai là quan hệ đầy tớ với ông chủ. Nói
rô thêm: cậu nhân viên kia chỉ là đầy tớ của đầy tớ chúng
ta... Đúng chưa?...
Vậy danh từ đồng chí là cái vỏ. Một hình thức chứa
đựng những nội dung khác biệt nhau: Xét phương diện
ngữ-nghĩa, đó là sự ngụy trá, - Xét phương diện lịch sử, đó
là sự thích ứng, - Xét phương diện thực tiễn, đó là một
mánh khóe của các nhà cai tri.
Người cao lớn đưa tay sửa gọng kính, lắc đầu:
Trong xã hội văn minh, người ta phải tìm cách khắc
chế sự bất-tương-đồng giữa hình thức và nội dung.
Người đàn ông lùn nhìn vào mặt bạn, lại cười ha hả:
Cậu ngây thơ thật! Không phải lúc nào chúng ta
cũng cần đến một xã hội văn minh.
Người đàn ông cao lớn nói:
- Tôi không hiểu.
Người đàn ông lùn diễu cợt:
- Tói không hiểu... tôi không hiểu... Đừng nói câu đó
khi tuổi ngoại ngũ tuần. Văn minh là con đường cực nhọc.
Chúng ta lại thiếu thời gian. Cuộc dời chúng ta ngắn ngủi.
Phải tìm kiếm vinh quang bằng con đường khác.
Người đàn ông cao lớn nhăn mũi:
- Cậu có những ý tưởng tàn nhẫn.
Người đàn ông lùn cười:
Phẩm chất đầu tiên cần thiết cho các nhà cầm quyền
là tàn nhẫn. Cậu giống như đàn bà, duy cảm bệnh hoạn!
Người cao lớn nói:
- Tôi giống tôi.
Người lùn vẫn cười:
Cậu thấy con đà điểu chưa'!... Khi gặp ác thú tiến
đến, nó rúc dầu vào cát. NÓ tưởng cát sẽ khắc chế dược hiện
thực.
Người đàn ông cao lớn bảo:
Nhưng chúng ta đã ra đi vì lý tưởng.
Người đàn ông lùn gật đầu quả quyết:
- Đúng. ĐÓ là sự thực không thể chối cãi...
Rồi ông ta lại cười.
Lần này tôi thấy rõ hàm răng ông ta ám khói thuốc
vàng vàng, lại hơi chìa ra phía trước. Mũi ông ta tẹt, hai lỗ
mũi trống hoác. CÓ lẽ vật giá tri nhất trên con người ông ta
là chiếc gọng kính bằng vàng nguyên chất. Sức chinh phục
lớn nhất ở ông ta là cái vẻ tự tin pha lẫn diễu cợt chớt nhả
của một thằng ôn con lõi đời. ông ta nói tiếp:
- Tôi và cậu, và nhiều người khác nữa, chúng ta đã ra
đi vì lý tưởng. Nhưng đó là những ý nghĩ năm mười bảy tuổi.
Vào lứa tuổi năm mươi, nó chỉ là những kỷ niệm mốc meo.
Lý tưởng đó, đơn giản là bánh thánh phát cho lũ trẻ vị thành
niên. Muốn chúng mặc áo thầy tu, mặc áo lính hay áo cảnh
sát quốc gia cũng chỉ cần dùng bấy nhiêu từ.
Người đàn ông cao lớn nói:
Không ít người nghĩ như thế. Nhưng...
Người đàn ông lùn cắt lời:
- Danh từ cũng như mọi vật: có lúc nảy sinh, có lúc lụi
tàn.
Người đàn ông cao lớn hỏi:
- Vậy năm tôi với cậu rời Quảng tri ra đi, cái gì nảy
sinh, cái gì đã lụi tàn?
Người đàn ông lùn đáp:
- Hồi ấy chúng ta mười lăm tuổi, tâm hồn và cách
mạng đều tươi non. Suốt cuộc hành trình, chúng ta luôn
miệng hát bài Đồng Chí.. Gì nhỉ?... "Quê hương anh nước
mặn đồng chua. ~lng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá..." Lời hay
tuyệt, phải không? Nhưng qua thời gian đó, nó đã trổ bông
kết trái. Giờ, tới lúc lụi tàn. ĐÓ là qui luật. Cách mạng cũng
như tình yêu, có nảy sinh, có thối rữa. Nhưng cách mạng
thối rữa nhanh hơn ái tình...
.Đồng chí... Khi thực chất mối quan hệ giữa những
người cùng tham dự vào một trận tuyến không còn là đồng
chí nữa thì các nhà cầm quyền cần phổ biến danh từ ấy một
cách rộng rãi và ầm ĩ hơn... ĐÓ chính là bổn phận của các
cậu các nhà văn hóa và giáo dục cao cả. Người ta trả lương
cho các cậu chính vì lẽ đó.
ông ta ngửa cớ lên cười. Rồi rút một điếu thuốc, châm
lửa hút. Người đàn ông cao lớn ngập ngửng:
- CÓ những hạt nhân có lý trong điều cậu nói... Nhưng
mà...
Người đàn ông lùn cướp lời:
- Nhưng mà không chịu nổi, đúng không?...
ông ta cười tiếp. Hình như ông ta có điều gì vui vẻ lắm
và cuộc chuyện trò chỉ là cái cớ để bùng nổ nhưng trận cười
vô tiền khoáng hậu. Tới lượt người đàn ông cao lớn châm
thuốc. Hai người thi nhau thả khói. HỌ im lặng hồi lâu.
Trong toa chỉ còn vài người đàn ông cùng tôi theo dõi câu
chuyện. Đám đàn bà buôn chuyến đã há hốc mồm ra ngủ.
Tiếng bánh sắt nghiến trên đường rầy buồn tẻ vô cùng. Chợt
người đàn ông lùn hỏi:
- Cậu có đem bia theo không đấy?
Người kia gật đầu:
CÓ Đã khát rồi à?
Người đàn ông lùn lắc đầu:
- Không. Tí nữa ta uống.
Người cao lớn mỉm cười:
Đã muốn đi tàu chợ xem dân chúng sống ra sao mà
lại còn phải đem theo đồ hộp!?
Người đàn ông lùn cười xúy xóa:
- Tôi yếu bụng. Trình độ vệ sinh ăn uống của dân ta Ơû
vào loại man rợ nhất nhì thế giới. Nước lã Ơû các nơi bên Tây
âu sạch hơn nước lọc giải khát đóng chai và hộp Ơû bên ta.
Người đàn ông cao lớn cười mát:
Cậu thật mâu thuẫn! Vừa muốn hưởng tiện nghi của
nền văn minh vừa không muốn thiết chế một xã hội văn
minh!?
Thiết chế một xã hội văn minh là việc khó. Nhưng
bảo đảm đời sống văn minh cho một nhóm người là việc dễ.
Tôi đã bảo cậu rằng văn minh là con đường gai góc, tốn phí
thời giờ lại phải chia xẻ quyền lực. Đối với một dân tộc ấu
trĩ như dân ta, tìm cho họ một tôn giáo thích hợp, dẫn dắt
họ đến lễ đài vinh quang bằng con đường ngắn nhất, đễ
trăm lần hơn dạy họ văn minh...
Người đàn ông cao lớn nheo mắt:
Cậu trắng trợn thế?...
Người lùn cười hề hề:
- Sự thật nào mà không trắng trợn?... Cậu cứ thử đặt
đia vị của cậu văn vi thế của một ông vua... Lúc ấy, cậu sẽ
khoái đứng trên lễ đài duyệt binh hơn lọ mọ trong triều
đình để tìm kiếm các phát minh về một giống lúa mới hay
một qui trình sản xuất mới. Đấy, cái nền văn minh của cậu
bắt buộc các ông vua phải lọ mọ trong triều, phải gặp gỡ ve
vuốt lũ trí thức gàn dở, kiêu ngạo... Còn đứng trên lễ đài, cờ
xí rợp trời, lưỡi lê tuốt trần sáng lóe, súng đại bác gầm
thét... đó là niềm thụ hưởng tối cao của quyền lực, - tiền
bạc, và ái tình cũng không sánh được... Cho nên, chúng ta
cần tôn giáo...
Người đàn ông cao lớn nói:
- Thế mà ít nhất cũng dăm bảy lần lôi nghe cậu trích
dẫn câu nói của Lê-nin: Tôn giáo là thuốc phiện của nhân
dân.
Người đàn ông lùn cười cợt:
- Cậu đến lạ! Tôi là giáo sư. Khi đứng trên bục giảng,
tôi phải giảng bài đúng yêu cầu. Bọn sinh viên chúng cần ăn
những thứ thực phẩm ấy, cũng như cần học thuộc lòng danh
từ lý tướng... Chúng ta không phải bọn chíp hôi... Vả lại,
đừng cố chấp. Nếu đúng tôn giáo là thuốc phiện thì chúng
ta cần thứ thuốc phiện ấy hơn ai hết.
Người bạn đồng hành lắc đầu:
Đến thế là cùng...
Người lùn nhìn bạn, vẻ ái ngại:
Cậu luôn luôn là một thằng học trò... Nhưng có lẽ
tôi thích cậu cũng chính vì điều đó. Thế cậu tưởng rằng
chúng ta là những kẻ vô thần hay sao?... Không phải thế!
Khi chúng ta đập phá đình chùa miếu mạo, ấy là để dọn chỗ
treo ảnh Mác, là để tạo đựng hình ảnh một tân-chúa cho
đám đông.
Cậu có nhớ những cuộc chỉnh quân, chỉnh huấn năm
52-53 không? Chúng có khác gì những buổi lễ xưng tội Ơû
nhà thờ? Trong đó con người tự hành xác, tự dằn vặt sám
hối để lương tâm thanh sạch, để được tiến đến gần đấng chí
tôn... Bây giờ cũng thế, tôi cũng đã dự những buổi kiểm
điểm và kỷ luật đảng viên. Mác đã hiển thánh và trở thành
tấm gương đạo đức.
Tới đó, ông ta bật ra vài tiếng ho. Người bạn đồng
hành lặng im. Rồi hai người cùng châm thuốc hút... Nhả vài
hơi khói, người đàn ông lùn nheo mắt nhìn bạn:
- Cậu đọc kỹ tiểu sử Mác chưa?
- Chưa, chỉ một đoạn a-văng pờ-rô-pô (avant propos)
trong cuốn "Gia đình thần thánh" thôi.
CỐ nhiên... CỐ nhiên... Muốn cho Mác hiển thánh thì
phải xóa đi mọi dấu vết của đời thường... Tôi, thì tôi đã tới
tận ngôi nhà sinh ra Mác, tôi ký tên trên các bảo tàng về
Mác, tôi đến đặt vòng hoa trên nghĩa trang Mác tại Anh...
Ngửng nói, ông ta nghiêng đầu ngửa mặt nhìn người
bạn. Mắt ông ta nheo lại, ánh lên nụ cười ranh mãnh. Cái
gọng kính vàng lóng lánh dưới tràng mày thưa. Người đàn
ông cao lớn quay sang nhìn, ông ta nói tiếp:
- Tất nhiên, chân giá trị của một vĩ nhân không đặt Ơû
phạm trù đạo đức cá thể... Nhưng mà, nói cho vui, cậu có
biết về phương diện sinh hoạt, cá nhân Mác là người thế nào
không? ĐÓ là một thằng lùn trụy lạc. Từ thời sinh viên đã
mò xuống các xóm nhà thổ chơi điếm. Đặc biệt, Mác rất
thích đám con gái di-gan. Nói theo ngôn ngữ của Lép-tôn-
tôi, đó là một thằng cha đi hoang không biết mệt. Đoạn đời
sau của Mác, nhiều người biết: lão ngủ với cô đầy tớ, đẻ một
đứa con. Khi Mác chết, Gien-ni đã tha thú và công nhận đứa
con ngoài hôn thú... Ha ha... ha ha... ha...
ông ta cười rũ rượi. Người bạn đồng hành cũng cười.
HỌ thi nhau lấy khăn tay thấm nước mắt. Rồi họ châm điếu
thuốc thứ ba, tiếp tục hút.
Tôi ngồi im. Lưng tôi lạnh toát. Một cơn choáng váng
xâm chiếm óc não tôi. Tôi có cảm tưởng như mình đang đi
trên một cây cầu, trong chớp mắt nó hóa thành sợi dây và
bên dưới là vực thẳm. Tôi lén lút đưa mắt nhìn người đàn
ông đeo kính gọng vàng lần nữa. ông ta đang chun mỏ thả
khói thuốc, đầy vẻ mãn nguyện. ánh mắt ông ta như còn
tiếp tục cười cợt Hai khóe mép nhếch lên vui vẻ nhưng mỉa
mai... Tôi hiểu, những điều ông ta nói là sự thật...
Tôi bỗng hình dung ông ta là tay phù thủy, vê cục bột
thành một hình nhân, đặt lên bệ thờ, rồi ông ta phá ra luồng
hơi phù phép. Hình nhân thằng lính kèn bằng bột hóa
thành vị thần linh oai nghi, vĩ đại. Trước thần linh ấy, ngàn
triệu người xì xụp quì lạy, khấn vái. Ngàn triệu cặp mắt
ngước nhìn khiếp hãi, cuồng si. Ngàn triệu sinh linh chờ đợi
một tín hiệu là nhất loạt nhảy vào bể dầu sôi hay hỏa ngục...
Trong ngàn triệu người ấy có tôi, có tất thảy những người
máu thịt thân thiết của tôi... Và ông ta, gã phù thủy thấp lùn
mũi tẹt, ngồi Ơû hậu cung vừa nhả khói thuốc vừa tủm tỉm
cười
Báo cáo...
Tiếng nói giật giọng khiến tôi sửng sốt!
Tôi quay lại, thấy một anh chàng bận quân phục, đeo
băng đỏ đang đứng trước mặt hai người đàn ông.
Anh ta dằn từng liếng:
- CÓ người đến báo rằng hai ông đã xúc phạm Các-
Mác, vị lãnh tự vĩ đại và đã bôi nhọ chủ nghĩa xã hội của
chúng ta.
Người đàn ông lùn lập tức đứng bật dậy, ưỡn ngực
quát:
- Ai, ai tố cáo?
Mặt ông ta đanh lại, không còn vẻ bỡn cợt mà trở nên
nghiệt ngã:
- Ai?
ông ta quát lại lần thứ hai, dõng dạc, khinh bỉ. Anh
chàng cảnh vệ quay lại phía sau... Hằn kẻ tố cáo đã nhanh
chân lủi mất. Anh ta đúng đần độn, mặt đỏ lựng, ấp úng:
CÓ người đã tố cáo... Dứt khoát có người đã...
Người đàn ông lùn rút trong túi áo một mảnh giấy, chìa
cho chàng cảnh vệ:
- Đây đọc đi
Một cuốn sổ nhỏ có bìa cứng màu đỏ, các góc hơi quăn
lên. Tôi biết đó là tấm hộ chiếu ngoại giao, loại các ông lớn
thường dùng. Anh chàng cảnh vệ run run đỡ lấy cái báu vật
biểu hiện quyền uy, mắt như lạc khỏi tròng.
Anh ta đọc rất nhanh, và, đọc xong, mặt tái xám.
Người đàn ông mỉm cười, rút lại cuốn sổ nhỏ trên hai
bàn tay thô kệch của anh ta, bảo:
- Chính chúng tôi là những người đưa chủ nghĩa Mác
vào Việt nam. Chính chúng tôi dạy cho nhân dân, trong đó
có bản thân anh, hiểu thế nào là chủ nghĩa Mác. Cho nên,
người bảo vệ chủ nghĩa Mác trước tiên là tôi chứ không phải
là anh. RÕ chưa?
Chàng thanh niên cúi gằm mặt xuống. Tôi nhìn rõ
những hạt mồ hôi đọng trên hai thái dương của anh ta lớn
dần lên.
Người đàn ông lùn nói tiếp:
Tôi bỏ qua cho anh lần này... Lần sau còn hành động
hồ đồ như thế, anh sẽ được đưa tới nơi cần thiết.
Anh chàng vẫn cám mặt xuống sàn tàu.
Người đàn ông lùn giật giọng:
Đi đi
ông ta ưỡn ngực, chắp tay sau đít, mắt hầm hầm khủng
bố đến nỗi chàng cảnh vệ ngã dúi dụi vào đám hành khách.
Đi tới gần cửa toa anh ta mới dừng thẳng lên được. Tức
khắc, anh ta biến mất.
Người đàn ông lùn ngồi xuống. Vẻ cau có, nghiệt ngã
trên mặt ông ta tan biến. ông ta quay sang người bạn, nháy
mắt cười vui vẻ nói:
- Cậu thấy chưa?... Dân mình ngu lắm. Phải có tôn
giáo dẫn dắt và phải có ngọn roi để dạy dỗ họ.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Đã bốn giờ ba mươi tám phút!
Thời giờ đi mau quá. Lưng, áo tôi ướt đẫm mồ hôi. Vẫn
chưa thấy tấm biển chỉ đường vào đơn vị đặc nhiệm M.035
đâu cả Tôi giở ra coi lần nữa tấm sơ đồ trên F đã cho... Mũi
tên, chữ x nhỏ, chữ X hoa, đường kẻ, dấu chấm... Tấm sơ đồ
cầu kỳ, chi tiết mà lại hóa ra vô dụng. "Giờ không tìm thấy
đường, đêm chỉ còn cách nhịn đói trèo trên cây mà ngủ!"
Tôi nghĩ vậy, rồi nhét tấm sơ đồ vào túi áo, tôi cắm đầu
bước đi. "Một liều, ba bảy cũng liều. Không biết ngả nào mà
lần sờ hết. Sơ đồ vẽ một đằng, đường ra một nẻo! Mẹ ơi,
vong hồn mẹ có khôn thiêng xin đưa đường dắt lối cho
con..." Tôi đi ào ào như ma đuổi, mắt không nhìn, chân đưa
tới đâu bước tới đấy...
Chửng nửa giờ sau, hiển hiện trước mắt lôi một tấm
bảng gỗ bề rộng hai thước, bề cao chừng thước rưỡi, ghi nắn
nót dòng chữ:
Đơn vi độc nhiệm M. 035 - cách 500 thét.
Một mũi tên vẽ hùng dũng. Tất cả viết, kẻ bằng nhựa
đường rõ rệt. Tôi dừng lại lau mồ hôi.
Gió rợn lên khiến toàn thân tôi mát rượi. ôi hạnh
phúc. Chẳng kém gì hành quân mùa khô nỏ lại gặp dòng
nước khe. Xóc ba-lô, tôi rảo bước và bắt đầu mơ tưởng đến
một mái lán, một bữa ăn nóng. Chẳng gì đại đội trưởng Húc
cũng là chiến hữu của tôi. Dù chiến hữu của thời quá vãng.
Chắc chắn Húc sẽ thết đãi tôi mấy món hắn thích: nộm
chuối rừng, thịt hộp nấu rau chua me, sơn dương hay hoẵng
nướng.
ôi chao, hắn là một tay săn bắn ngoại hạng. Cái thời
chúng tôi ngoéo tay thề kết nghĩa anh em, hắn đã nuôi tôi
triền miên bằng thịt thú rừng. Nửa đêm, tôi ngủ say là hắn
lùi lùi ra đi. Tới sáng, có khi tôi chưa kịp tung chăn ngồi dậy
hắn đã vào ngồi ghé bên giường, toàn thân toát ra khí lạnh
của núi, mùi cây lá, mùi sương đêm, cả mùi lông thú mà hắn
vác trên vai. Xung quanh người ta cười hắn mê tôi. HỌ đâu
biết tôi đã cứu hắn khỏi một ngọn đòn trời giáng của tay
chính trị viên đại đội.
Húc là kẻ hữu dũng vô mưu, đánh giặc tận tụy nhưng
đối đãi với đám người xung quanh lại lỗ mãng. Tên hắn cũng
lạ đời: Tạ văn Húc. Hắn có biệt tài nấu ăn, ngang tài săn
thú. Các món ăn hắn sáng tạo với các loại rau rừng và thật
rừng thật tuyệt vời. Riêng nộm, ngoài nộm chuối, nộm môn
thục, nộm rau mì chính, hắn cả gan nộm rau tàu bay, đọt sắn
non và lá ớt. Bởi vậy, đám lính của hắn, vào trận mạc sợ thủ
trưởng như sợ cọp nhưng về hậu cứ lại nhõng nhẽo vòi ăn
suất ngày...
Rắc ắc...
Một cành cây khô gãy rơi ngay sau gáy tôi. Hú hồn!
Chết theo kiểu bi cây gãy hay xà nhà đổ vào đầu, người ta
gọi là ách thượng lương. Tôi thấy hơi lạnh nên rảo bước.
Được chừng một trăm bước chân nữa, có liếng ầm ầm vọng
tới rõ ra tiếng chặt cây. Khi những hồi âm tan lắng lại có
tiếng rù rì đều đặn tựa dòng âm thanh đậc sánh chảy giữa
hoang vu.
!,Quái lạ! Đã quá năm trăm thước mà chẳng thấy doanh
trại đâu... Lại có thứ tiếng động kì quái kia nữa... Chẳng lẽ
chúng nó cắm tấm bảng để lừa mọi người?..."
HỒ nghi nhưng tôi vẫn bước. Vùng này không thể có
tụi thám báo xâm nhập nên không ai bày trận giả để mai
phục ai. Trên F, người ta đã nói với tôi ky lưỡng... Đang
nghĩ, chợt tôi đụng đầu vào một chiếc cổng chào bằng gỗ:
Đặc nhiệm M.035. ~ng gỗ đã bắt đầu ải, gỗ nứt từng kẽ
dài. Lạy trời, cuối cùng tôi cũng đã tìm ra mà trời còn chưa
tối
Hăm hở, tôi đi một mạch vào doanh trại. Qua cổng
chửng năm chục mét có ba dãy nhà nằm châu hình chữ Môn.
Toàn bộ vách thưng gỗ kín đáo. Một khoảng sân trống trồng
lưa thưa dăm cây hoa mào gà. Nhưng cách sân vài mét có
một khoảng vườn rộng trồng toàn rau. CÓ cả rau bạc hà, rau
mùi tàu, rau thanh hao và xương sông... Toàn những thứ gia
vị siêu việt không thể mơ tưởng trong thời chiến. "Đúng là
thằng Húc..." Tôi thầm nghĩ không khỏi tủm tỉm cười.
Vượt qua sân, tôi đến khu nhà chính. Các cửa đều chết
gỗ phía trong, và cửa cuối cùng được xoắn bằng dây thép.
Tôi xuống khu nhà bên trái, nơi duy nhất có một cánh cửa
nửa mở nửa khép.
- CÓ ai trong nhà không?
Tiếng vọng trả lại tôi.
- CÓ ai đấy không?
Tôi hỏi lần thứ hai, và lần thứ hai cũng chính tiếng
vọng của tôi đáp lời. Tôi xô cánh cửa, bước vào. Hai dãy
giường trống chạy dài, bụi trắng xóa. Riêng chiếc giường
cuối có trải vải thô màu cỏ nhạt, bày bề bộn vài trang giấy,
hai cuốn vở học trò. Một chiếc bút bi Mỹ lăn lóc. Một khúc
gỗ bào nhẵn làm gối đã nhuốm màu đen và bóng như sừng.
Trên nóc lán, treo tròng teng chiếc ba-lô.
"Họ đi đâu cả, chỉ cử một người giữ doanh trại. SỐ
mình thật không may..." Tôi nghĩ. Đoạn, bỏ ba-lô lên một
tấm phản, tôi ngồi bệt xuống cửa, duỗi dài đôi chân.
Những tia mặt trời phía tây rọi thẳng vào mắt tôi, chói
nhưng ấm áp. Tôi nhắm mắt, tựa đầu vào khuôn cửa, tận
hưởng khoảnh khắc hạnh phúc bất chợt của thiên nhiên vốn
ác độc và hay lật lường. Tôi thấy ánh tà dương có một mùi
thơm, mùi thơm tựa như hoa sởi trộn với dạ hương, thứ mùi
làm kinh sợ tuổi thiếu niên và khai nở những giấc mộng
tình. Cái dạ dày sôi sục của tôi xẹp xuống, dường như cơn
đói tạm lui. Tôi bắt đầu lơ mơ...
CÓ tiếng bước chân lẹt xẹt. Tôi mở mắt: Một lão già
đầu trọc lụ khụ bước lại phía tôi, xanh lét như một thây ma
biết di động. "Sao ở đây lại có người già?" Tôi giật mình.
Lão già gật gật đầu như chào tôi, môi nhếch lên như cười.
Tôi đứng dậy:
- Chào đồng chí.
- Chào đồng chí...
Thây ma thều thào đáp.
Tôi nói:
Tôi đến gặp đại đội trưởng Tạ văn Húc.
Lão trọc gật đầu, giơ tay chỉ về phía những ngọn núi
đàng sau doanh trại, nơi tiếng rù rì bí ẩn đang phát ra không
ngớt:
Thủ trưởng và đơn vị đang Ơû hiện trường. Chỉ có em
giữ doanh trại.
- Lúc nãy đồng chí ở đâu, tôi tìm không ra?
- Em đi đồng, em bị kiết lỵ...
Nói xong, lão nhăn trán, ôm bụng. CÓ lẽ vì cơn đau
hành hạ. Lúc ấy tôi mới thấy hàm răng trắng nõn của lão,
hai bên cánh mũi mịn và đuôi mắt không vết nhăn. Hình
như đây là người bệnh lâu năm chứ không phải lão già.
Nhưng cái đầu trơ trụi, không một sợi tóc khiến tôi hồ nghi,
tôi hỏi:
Đồng chí bi kiết lị lâu chưa?
- Bốn năm bảy tháng, sau khi nhập ngũ được một năm
rưỡi.
- Vậy đồng chí mới nhập ngũ được sáu năm!
- Vâng, tháng sau em tròn hai mươi bốn tuổi.
Tôi bàng hoàng nhìn cái đầu bóng lọng, xanh xám, nhìn
lớp da nhăn nheo trên cần cổ, cả tấm thân trong suốt như
không phải tạo bằng da thịt mà bằng một loài rêu đá:
- Đồng chí bị kiết lị, sao không chữa từ đầu?
Cậu ta ngước mắt nhìn tôi. Tôi thoáng rùng mình vì
cập mắt ấy trong veo, hệt như cặp mắt của Hoàng, cặp mắt
của những chàng trai chỉ sống bằng mộng.
Cậu ta ngước mắt nhìn tôi, cười cười và đáp:
- Em có uống thuốc ạ... Nhưng bệnh chỉ khỏi từng đợt
rồi tái phát... Kỳ này, nặng quá...
- Thế sao không xin chuyển về hậu phương?
- Em không muốn... Em tin em phấn đấu được...
- Bệnh phải trị bằng thuốc chớ?
- Vâng, tại kỳ này không có thuốc. Đơn vị đặc nhiệm ở
sâu, khó liên lạc. Anh Húc định có đoàn nào đi qua sẽ gửi
em ra bệnh viện ngoài quân khu... Nhưng chờ mãi chưa có
đoàn nào qua. Mà em lại bị thêm sốt rét ác tính, hai tháng
trời, rụng hết tóc...
- Đồng chí ăn uống thế nào? Đơn vi vào rừng bao giờ
mới ra?
- Em ăn cháo. Thủ trưởng Húc quan tâm đến em lắm.
Săn được con thú nào cũng mang thịt về cho em... Anh chắc
quen với thủ trưởng? '
- Chúng tôi là chiến hữu từ ngày nhập ngũ.
. Vậy anh vào hiện trường đi. Chắc thủ trưởng mừng
lắm.
Tôi ngần ngừ hỏi:
~ Đồng chí Ơû đây có một mình thôi à?
- Anh đừng lo cho em... Em quen rồi. Em vẫn giữ một
khẩu A.K.
Rồi cậu ta cười, hai vành môi xinh đẹp nhưng trắng
nhợt như giấy ngâm. Một tia sáng chiếu vào hàm răng óng
ánh. Cậu giơ ngón tay lên làm điệu:
- Yên tâm đi. Em vẫn đủ sức bóp cò: pằng pằng pằng...
Tiếng nói yếu, đôi lúc như hụt hơi. Tôi bảo:
Đồng chí vào nhà nghỉ. CÓ cần tôi giúp gì không?
- Không. Anh đi đi kẻo tối. Lối tắt đây này... Chỉ mươi
phút là tới.
Tôi đi theo lối tắt mã cậu ta vừa chỉ. Lối men theo khe
cạn. Chỉ mươi phút sau, lói đã tới hiện trường. Để chào đón
tôi, là tiếng đổ của một thân cây lớn, làm rung chuyển tất cả.
Bốn bề núi vọng ầm ầm. CÓ tiếng người hét và ai đó reo to:
- Hoan hô... Nghỉ đi thôi...
Những tiếng khác lao xao, nghe không rõ. Tôi vượt qua
một trái núi thấp chỉ còn trơ những gốc cây đã bi cưa, nhô
khỏi mặt đất chừng nứa thước. Chân tôi dằm lên rất nhiều
đống mùn cưa lẫn với cỏ. Trời bắt đầu tối. Không còn trông
được rõ những rễ cây bò ngang lổn chốn, tôi vấp ngã luôn
luôn...
Chừng hút tàn điếu thuốc, tôi nhìn ra một ngọn lửa Ơû
phía trước mặt. Đồng thời tôi đụng phải những khúc gỗ lớn
nhỏ ngổn ngang, những dàn cưa dựng cao sừng sững. Không
gian nức mùi gỗ. "Đơn vị thằng này làm thợ xẻ. Tiếng rù rì
lúc nãy là tiếng cưa. CÓ thế mà mình không nhận ra". Xung
quanh đống lửa, lăng xăng những người chạy qua chạy lại.
Vì đi từ chỗ tối ra nên tôi nhìn thấy họ, nhưng họ không thể
thấy tôi. "Thế này mà có thám báo, chắc bị chúng xơi gọn.
Hớ hênh quá. Xưa nay thằng Húc có liếng là cẩn thận cơ
mà". Tôi nghĩ vậy và đi vòng quanh một gốc cây lớn để tìm
Húc. Cuối cùng, tôi thấy cậu ta nằm chênh ềnh trên chồng
ván xếp gần đống lửa, dáng điệu vừa mệt mỏi vừa thỏa
mãn...
- Ai? Giơ tay lên!
Một cái nòng súng lạnh buốt dí ngang sườn tôi.
- Giơ tay lên !
Tiếng quát lặp lại. Tôi giơ hai tay lên cao. Húc ngồi dậy
vã đám người đi lại nhốn nháo quanh cậu ta cũng lùi lại sau
lưng Húc. Cậu ta có vẻ một con voi đầu đàn. Cái nòng súng
chọc vào lưng tôi đau nhói:
Đi!
Tôi tiến về phía Húc, vừa đi vừa lo ngay ngáy. Kẻ áp tải
mình lỡ tay chạm cò súng thì nguy! Chiến tranh, mạng một
tù binh đâu có đáng giá gì...
Húc đã đứng lên. Cậu ta giương mắt nhìn tôi chằm
chặp. Tôi nhìn lại cậu ta rồi bất chợt buông tiếng cười. Quả
thật, vẻ mặt căng thẳng của Húc rất khôi hài.
- Anh (quân...
Húc reo lên, nhảy tới ôm lấy tôi.
- Anh Quân... lâu quá... lâu quá...
Húc lắp bắp. Cậu ấy có tật nói lắp mỗi khi xúc động.
Tôi bảo:
- Định giả bộ tụi thám báo dọa các cậu. Ai dè bị lính
của cậu dí súng vào lưng điệu đi. Cái điềm này khéo tôi sắp
trở thành tù binh thật.
Chú lính gác cười cười, chúc mũi súng xuống đất. Húc
phởn chí nói:
- Anh coi thường em quá... Húc cơ mà! Vẫn nhớ
nguyên những bài bản anh dạy ngày xưa. Lại bổ xung kinh
nghiệm chiến đấu...
Cậu ta dắt tay tôi tới ngồi bên đống lửa. BỘ ngực trần
bóng như xoa mỡ bắt ánh sáng trông giống pho tượng đồng.
Tôi hỏi:
- Sao dạo này đen thế
Húc giơ tay chỉ:
- Suốt ngày phơi lưng trên đồi trọc kia kìa, mai anh sẽ
thấy.
Tôi hỏi tiếp:
Biền đâu?... Cậu ấy có khá không?
- Biền sắp gánh cơm lên đây. Khỏe như ông hộ pháp
mà tốt bụng lắm. Anh cho em cậu ấy bằng cho vàng. Chúng
em đã kết nghĩa tử sinh rồi đấy. Chúng em bằng tuổi nhau.
Thế thì tôi mừng lắm.
- Biền nhắc đến anh luôn.
Tôi gật đầu:
Chúng tôi là bạn đồng môn, lại cùng làng.
Thấy người tôi đầy bụi và ướt đẫm mồ hôi, Húc đưa tôi
xuống suối tắm. Trời tối mịt. Chúng tôi dắt nhau mò mẫm
đi Khi sắp xuống bãi sỏi, Húc bảo:
- Cách đây bảy mươi thước là bếp ăn của đơn vị. Biền
đang lo sắp quang gánh đem lên.
Bếp sao tối thui tối mò như vậy?
Đề phòng tụi thám báo. Dù trên F đã công bố khu
vực này không thuộc phạm vi hoạt động của chúng nhưng
em vẫn lo. Chẳng lo chúng đánh lén mà lo chúng vào ăn
trộm muối. Ơ đây, muối còn quí hơn máu người.
Đợt trước, đơn vi em chết non chục người vì phù
thủng. ăn tro cỏ gianh, tro lá rừng mãi, có cậu đái ra thứ
nước tiểu đục như nước đất. Không có muối, thớt thú rừng
ăn vào miệng cũng muốn nôn ra...
Húc bước xuống suối trước:
Xuống đây anh. Đoạn này lòng suối thoải ngon lành
lắm...
Tôi cởi quần áo, mò mẫm xuống theo. Những gợn
nước, ánh trong đêm, như đường trườn của rắn. Mắt tôi đã
quen với bóng tối, nhìn lờ mờ được cảnh vật nhờ ánh lân
tinh quanh quất giữa những đám lá mục hắt lên. Nước lạnh
mát, dễ chịu.
Húc bảo:
- Quần áo bẩn để sáng mai giặt. ít nhất anh cũng Ơû đây
chơi với em và Biền vài ngày.
- Cũng muốn Ơû nhưng ngại ông Lương kỳ kèo...
Nói thế nhưng tôi cũng đưa mớ quần áo bẩn cho Húc
gài lên cây. Tắm xong, bưng đói cồn cào. Hai chúng tôi trở
về Đống lửa cháy rực lên giữa rừng đêm, lộng lẫy. Anh em
xúm quanh.
Mau lên, đói quá thủ trưởng ơi...
Một cậu kêu to.
Húc quát:
Sao không ăn trước.
Lúc ấy, Biền vứt đứng lên ôm lấy tôi. Tôi yên lặng vỗ
vai cậu ta. Một tích tắc sau, bọn tôi ngồi xuống ăn cơm. ĐÓ
là một trong những bữa cơm ngon nhất trong đời. Cơm chỉ
còn âm ấm nhưng gạo thơm sực mùi cám. Mùi gạo ấy đem
hương vị của mùa gặt làng quê tới tận chốn thâm sơn này.
Thức ăn gồm đu đủ xào mỡ, ớt mọi trộn mắm tóm.
Húc bảo:
- Anh ở đây vài ngày. Em sẽ đi kiếm con nai về nướng
ăn.
Tôi đi lâu quá ròi. Sư đoàn họ riềng cho...
- Vài ngày là bao?... ~ ra đêm nay em vác súng đi
ngay được, nhưng sắp phải nộp hàng.
- Hàng à?... Tôi thấy các cậu đẵn cây, cưa gỗ. Làm gì?
- Lát nữa anh sẽ thấy. Hàng đặc biệt dành cho chiến
trường.
Một cậu lính cười hô hố:
- Thủ trưởng không thấy cổng doanh trại của bọn em
đề chữ gì ư?... "Đơn vị đặc nhiệm. Làm hàng hóa đặc biệt
cho chiến trường."...
Tôi bảo:
- Rau nào sâu ấy! Từ đại đội trưởng tới lính, cả lũ đều
mắc chứng ỡm ờ.
Húc cười. Đám lính của cậu ta cũng cười phá lên. Rồi
Húc ghé tai tôi nói:
- Anh cứ ăn cho ngon cơm. Nguyên tắc của tụi em là
chỉ kể chuyện tiếu lâm và thực phẩm trong bữa cơm, cấm
chỉ mọi chuyện khác.
Biền có đem tới một thùng chè đen cho mọi người
uống sau bữa cơm. Húc bảo chính Biền đã phải lặn lội đi
bốn chục cây số để đổi gạo kho lấy gạo tươi của dân bản và
mua chè. Nếu không có ông khổng lồ ấy, cả đơn vi đến bi
phù thũng vì gạo kho lâu năm ăn xốp như bông, không còn
chất cám. Húc còn nói thêm là đám con gái Vân kiều cứ
nhìn thấy Biền là đờ đẫn như hít phải thuốc mê. CÓ cô vượt
bảy chục cây tới chầu chực ở bìa rừng... Húc kể tới đó, đám
lính cười rú lên... Biền cúi mặt, lẩm bẩm:
- ông này chuyện lằng nhằng...
Tôi cũng cười, vỗ vai Biền nói:
Người anh hùng của đơn vi~
ánh lữa đùa dờn trên mọi gương mặt trẻ trung. Những
lưỡi lửa vọt lên cao, rền dừ, rồi lại tụt xuống thấp, uốn lượn
giữa những đám tàn lửa rực rỡ. Mọi hình ảnh đều có thể nảy
sinh trong làn ánh sáng cổ xưa và huyền bí ấy, cả những ảnh
tượng tương lai chưa rõ nét tới những kỷ niệm xa mờ của dĩ
vãng.
Lửa đêm, quà tặng của cuộc trường kỳ kháng chiến.
Trong ánh lửa, gương mặt sốt rét nào cũng trở nên
hồng hào! Làn da xám ngắt vì chứng tê thấp hay suy dinh
dưỡng cũng được tô điểm thành tươi sáng! Mọi ánh mắt đều
long lanh!
Tôi biết ngày mai ánh mặt trời độc ác sẽ vạch trần sự
thực. Nhưng đầu sao, vẻ đẹp của lửa đêm, vào khoảnh khắc
ấy vẫn cuốn hút tâm hồn tôi... Tôi cũng không hiểu tôi nữa!
Tôi buồn, tôi khắc khoải, tôi say mê...
Đám lính xung quanh vẫn chuyện rào rào. Các trận
cười nổ ran như pháo. Húc bảo chẳng mấy khi được có
khách nên anh em hứng chí, thức khuya. Mọi hôm, cứ cơm
nước xong là mọi người đi ngủ. Làm việc nặng cả ngày, đặt
lưng xuống túc khắc ngủ như chết.
Mọi cuộc vui đều phải có lúc tàn. Chín giờ đúng. Húc
bảo mọi người đi ngủ và nhắc:
- Chỉ còn ngày mai. Sáng ngày kia có người đến lấy
hàng. Anh em chuẩn bị tư tưởng làm kiệt lực. Chúng ta còn
thiếu mười lăm chiếc.
Rõ.
Đám lính đáp lời và đứng lên. Tôi nhìn quanh quất:
Không hiểu họ sẽ ngủ Ơû chỗ nào. Trên đầu là trời. Xung
quanh là không gian thăm thẳm. Xa hơn nữa, nơi những làn
sương phập phồng trên vực tối là rừng núi... Nhưng đám
lính tỏ vẻ không ngại ngần gì hết. HỌ thẳng tới một tấm ván
mới xẻ chất đầy những quần áo và tăng võng. Người nào tìm
đồ của người nấy. Húc bảo Biền:
- Đêm nay để anh Quân nằm cạnh cậu nhé. Tha hồ
nghe chuyện làng!
- Vâng.
Cậu đưa cái chăn thám báo của tớ cho anh Quân. Tớ
sẽ đắp chiếc áo thu-đông của cậu.
Biền gật đầu:
On rồi.
Đoạn Biền đi tới nơi cất giữ quần áo cho đơn vị. Vài
phút sau, Biền quay lại. Lúc ấy, đám lính đã tản đi. Biền bảo
tôi:
- Đi đi
Húc nói:
- Mai anh Quân cứ ngủ cho kỹ nhé. Tụi em phải dậy
sớm.
Biền đưa cho Húc chiếc áo. Húc đi.
Tôi với Biền đi sang hướng khác.
Càng xa lửa, mọi người càng khuất bóng dần. HỌ len
lỏi giữa những gốc cây cụt, những dàn xẻ, những khúc gỗ lăn
lóc Chân tôi sục vào mùn cưa. Chợt nghe giọng Húc oang
oang:
Đêm nay cậu nào gác?
CÓ tiếng đáp túc khắc:
Em: Quang.
- Nghiêm chỉnh đấy nhé. Khéo hổ về!
- Thủ trưởng yên trí.
Biền chợt dừng lại, bảo tôi:
Đây rồi.
Cậu ta kéo tay tôi lại gần, chỉ cho tôi thấy một vật
trăng trắng nằm ngay dưới chân tôi:
- Anh ngủ Ơû đây.
Tôi thấy vật trắng dài bốc mùi nhựa gỗ. Biền bảo:
- Em cậy nắp cho anh. Anh nằm vào rồi em đậy lên.
Tôi lạnh gáy, bật kêu:
- Quan tài hả?
Vâng. Đơn vị đặc nhiệm chuyên đóng. Lúc nãy anh
Húc không cho nói sợ anh ăn mất ngon... Tụi em Ơû đây quen
rồi.
Tôi đứng im, không biết nói gì, không ~m giác. Chỉ
thấy các đầu ngón chân tê tê. Biền nói tiếp:
- Hồi đầu, đơn vi đóng hòm Ơû hiện trường, tối kéo về
ngủ tại doanh trại. Nhưng, đốn hết gỗ núi gần, phải đốn đến
núi xa, ăn ngủ, di chuyển cách rách quá nên anh Húc quyết
định chuyển bếp nấu ăn lên đây. Còn ngủ, cứ mỗi anh chui
vào một cỗ quan tài. Vừa sạch, vừa có nắp đậy tránh sương
gió.
Biền cúi xuống kéo tấm ván nắp hòm ra:
Anh nằm vào đi... Quen ngay ấy mà.
Tôi nằm vào quan tài. Biền đắp chăn cho tôi. Tấm chăn
đù thám báo nhẹ bông, mát lạnh. Xong, Biền đậy nắp ván.
Rồi cậu ngồi thụp xuống, quờ quạng hồi lâu. Lát sau, Biền
đặt một mẩu gỗ lên đầu quách, kê cho giữa thành hòm và
mảnh ván có một khe hở. Biền ngắm nghía, nói:
Thế này đủ thoáng khí. Hở rộng quá sợ đêm lạnh và
hơi người bay nhiều, hổ dễ đánh mùi.
Vùng này lắm hổ thế cơ à?
- Vâng. Đây được coi như hậu cứ nên ít có bom. HỔ từ
các khu rừng núi bị oanh tạc dạt về.
- Các cậu có ai bi không?
- Không, chưa ai bị vì tụi em luôn luôn có người gác.
Chủ yếu là gác hổ. Sau mới tới đề phòng thám báo. Cứ nghe
mùi hôi là nổ súng liền. Dạo em mới về đơn vị chứng kiến
hổ tha cái đầu của một cô gái ngay trước cổng doanh trại.
Chắc là giao liên.
Biền tự nằm vào hòm của mình, nhưng không đậy ván.
Cậu ta nhô đầu lên hỏi chuyện tôi. Vừa nói tôi vừa nhìn qua
kẽ hòm. Ơû đấy, trên nền trời mông lung, hiện lên vành trăng
hạ tuần gầy guộc. Trăng có màu tím ngắt, tựa hồ cánh bông
cúc tím tàn. Nghe chuyện xong, Biền nói:
- Tôi thương bố tôi quá...
- Ư hừ, tao thì lại ghét bố tao!
Rất tế nhi, Biền lảng chuyện:
- Bao giờ chiến thắng?
- Tao đã hỏi ông Lương, ông ấy không trả lời.
Chúng tôi im lặng hồi lâu. Rồi Biền nói:
Ngủ đi Quân nhá. Mai tói phải dậy sớm.
Kéo tấm chăn thám báo lên ngang mũi, tôi nhắm mắt.
Mùi gỗ mới hòa với mùi mồ hôi tẩm trong chăn bỗng trở
nên quen thuộc. Tôi không còn áy náy. Dường như sinh ra,
tôi đã quen ngủ trong chiếc giường loại này. Tôi ngủ say...
CÓ hàng triệu con ong đang bay. Không trung trong
biếc như ngọc. Tiếng rù rì mênh man ru ngủ tâm hồn... Rồi
một cánh đồng cúc tím xôn xao hiện lên dưới ánh rạng đông.
Những bông cúc tím trĩu nặng sương, trĩu nặng mật. Đàn
ong hòa nhập vào cánh đồng cúc, rù rì, rù rì...
Một đõ ong khổng lồ bằng sáp trắng hiện ra giữa
không trung. Mặt trời rọi bạc. Đất bên dưới mờ mịt khói
lam, trôi phiêu diêu như tấm khăn choàng bị gió cuốn.
Tiếng rù rì của triệu con ong vẫn vang không ngắt. Giai
điệu buồn tẻ, đơn điệu lặp lại dai dằng làm sao! âm điệu
ngập tràn tất thảy như cơn hồng thủy, nhấn chìm mọi âm
thanh khác, nuốt hết mọi tiết điệu khác và chế ngự vũ trụ. ..
Tôi mê man trong âm điệu kỳ vĩ đó.
Tôi đi, trên cánh đồng cúc tím, mê man đuổi theo làn
sóng âm thanh... Tôi đi, đi hoài...
Tôi cũng phiêu diêu như mặt đất.
Rồi tôi thấy mình râu tóc bạc phơ, áo quần tơi tả, cứ
chạy mãi chạy hoài trên cánh đồng.
CÓ một tiếng sấm vang rền nơi chân trời, tia sét rạch
giữa không trung chan hòa ánh nắng. Tôi kinh hoàng ngước
mắt lên, tôi thấy chiếc đõ ong khổng lồ kia đang tan chảy.
Mỗi Oâ cửa lục lăng rơi xuống một cỗ quan tài. Hàng triệu cỗ
quan tãi rơi xuống mặt đất, chồng chất lên nhau...
- Anh Quân... hét gì mà to thế?...
Luồng ánh sáng chói lóa khiến tôi choáng váng. Tôi
vội kéo chăn phủ kín đôi mắt.
- Dậy đi anh...
Tôi nhận ra tiếng Húc. Định thần vài phút, tôi tung
chăn ngồi lên. Húc đang đứng chống nạnh trước mặt tôi,
nhăn nhở cười:
- Khiếp! Mê gì mà hét to thế
Tôi cười trừ, trèo ra khỏi quan tài. Mặt trời đã lên cao,
sáng lóe như gươm đâm. Xung quanh tôi, cả trăm con người
đang nỗ lực làm việc. Những đàn cưa xếp chéo cánh sẻ, xoèn
xoẹt không ngửng. Bụi gỗ bay mù, không khí thơm phức.
Anh em chuyển những tấm ván xẻ cho nhóm cưa tấm và vào
mộng. Mấy chàng lính còm được giao việc căng dây, lăn
mực, tay đen nhẻm, bút chì dắt tai, hệt đám phó mộc vườn.
Tiếng chí chát xen tiếng cưa miên man dội trong bầu không
gian lặng lẽ...
Húc giơ tay chỉ những trái núi trọc, lô nhô gốc cây cụt
và những đám dương xỉ bò quanh:
Anh thấy không? Tụi em đã quét cơ man nào là gỗ.
Tôi gật đầu:
- Khiếp thật!
Húc nói tiếp:
- Hàng nộp cho chiến trường tăng vô kể, làm bã xác
cũng không kịp. Em đang đề xuất trên bổ sung thêm một
trung đội lính khỏe. Trên đã duyệt nhưng chưa có lực lượng
thực thi. Hiện tại thì vẫn phải cố gắng... Anh xem kia...
Húc chỉ cho tôi thấy một tấm băng rơi lắt lẻo trên cành
cây:
- Khẩu hiệu em nghĩ ra, anh xem có thuận tai
không?...
Đoạn, Húc hét to:
Lâm ơi, treo lại cái khẩu hiệu cho có khí thế! Cậu
nào trưa qua mượn tạm dây căng chưa trả hả?...
Cậu lính tên Lâm đáp:
- Nhóm hạ cây mượn để bật mực thủ trưởng ạ...
Nhưng em tìm được dây thay đây rồi.
Cậu ta lấy một đoạn dây buộc tấm băng vào vi trí cũ.
Tôi đọc thấy những dòng chữ kẻ nắn nót bằng thú mực
bật gỗ đen như than:
"Đơn vi đặc nhiệm quyết tâm hoàn thành vượt mức
kê hoọch.
Mỗi chiên sĩ là một nhà phát minh sáng kiên, t~p
trung trí tuệ t~p thể, cải tiến lao động, tăng năng
xuôi phân đấu giao nộp hàng tốt cho chiên trường. "
Tôi nói:
- Hay lắm.
Húc bảo:
- Xưa nay em có thuộc loại văn hay chữ tốt đâu...
Nhưng phải tìm cách động viên lính. Anh xem, bi nhốt giữa
chốn thâm sơn cùng cốc thế này, sách báo, thư từ hàng năm
chẳng có, ăn uống chật vật khốn khổ, thuốc men cũng
thiếu... May mà có Biền nó chiu khó xoay sở nên đơn vi mới
được như ngày nay.
Tôi bảo:
Cậu có tay săn sát thú, sao không truyền cho anh
em?
- Săn là một nghệ. CÓ phải cứ truyền là thành tài đâu.
Đơn vi chỉ có em với cậu Lâm đi nổi. Nói thật với anh, tụi
em không tự túc được chất tươi thì quị tử lâu. Vùng này,
nước xanh như mắt mèo. Thượng nguồn suối, thuần thứ
rừng lim già, ác mó... Anh ăn sáng đi nhé. Em phải sang xem
họ vào mộng ra sao.
Húc đưa tôi suất ăn sáng, đoạn tất tưởi đi sang trái núi
trọc bên kia.
Tôi kiếm một khúc gỗ ngồi, giở gói lá ra: một vắt cơm
bằng con sò lớn, trên quệt cục mắm tôm. Một khúc sắn luộc.
Tôi nhai từng chút một, ngon lành.
Xưa kia, tôi không biết ăn mắm tôm. Mùi tanh khắm
của nó làm tôi kinh sợ. Tôi cũng ghét lây cả những người
đàn bà thường sà xuống quanh mẹt bánh đúc mắm tôm, thê
dài lưỡi đón miếng bánh một cách say sưa, bất kể đến vẻ
đẹp
Tử ngày nhập ngũ, tôi quen dần với món ăn này. Giờ
thì nghiện! Mùi tanh khẳn của nó gợi cho tôi những xóm
chài, bờ biển, ngọn lửa nướng cá cháy liu riu nơi bãi cát,
tiếng rì rào của rừng phi lao... Tất thảy cảnh xót thương của
những xóm mạc miền Quảng bình: Nơi tôi đã sống gần trọn
ba năm, đã quen thân những con người chất phác và vi tha,
những con người chịu ăn sắn suốt bốn mùa để gửi tới hạt
gạo cuối cùng cho các chiến sĩ.
Những người dân ấy, có lẽ chẳng bao giờ nhớ tôi,
nhưng tôi luôn luôn nhớ họ. Một ngọn khói mờ vấn vương
khôn dứt trên hoang nguyên thăm thẳm của đĩ vãng...
- Xoẹt, xoèn xoẹt, xoèn xoẹt...
Chát, chí chát, chí chát...
Xung quanh tôi, công trường vẫn hoạt động náo nhiệt,
hối hả.
- Xong chưa Huân, nhanh tay lên, trưa mẹ nó rồi!
- Chỉ còn chiều nay thôi đấy nhé, con lạy các bố khẩn
trương lên cho!
- Quát ơi, mày sang băng cho thằng Toàn một tí, lưỡi
cưa xoẹt vào bắp tay nó...
Một chiến sĩ di ngang qua chỗ tôi ngồi, mỉm cười:
- Anh rủi quá, đến đúng lúc rối tinh rối mù lên! Bảnh
mắt sáng mai, đám Vân kiều tới nhận hàng.
Tôi bảo:
- Tốt thôi. Tôi ăn sáng rồi, sẽ giúp cậu một tay.
Cậu ta ngần ngại:
Thôi, thủ trưởng Húc mắng em.
CÓ mắng thì nó mắng tôi chớ không mắng cậu.
Cậu ta ngần ngừ một tí rồi nói:
Em Ơû vào tổ mộng, việc ky thuật anh không làm được
đâu Anh chiu khó sang tổ chuyển ván và phụ việc của Khoa
nhé.
Tôi gật đầu:
- Gì cũng được.
Thế là tôi nhập vào nhóm chiến sĩ khuân ván và làm
việc vặt do các tổ kỹ thuật khác yêu cầu. Tóm lại, đó là
nhóm người vụng dại nhất.
Chúng tôi làm việc tới đúng trưa. Ai nấy mồ hôi chảy
như tắm từ tóc xuống chân. Người nào cũng mặc quần đùi.
Lúc Biền đưa cơm ra thì Húc trở lại. Chúng tôi cùng ăn. Rồi
tôi xuống suối tắm, giặt. Mớ quần áo gài trên cây hôm qua
khô cứng lại thành cục, phải ngâm một lúc lâu. Biền đưa tôi
tới nhà bếp, vương quốc của nó! Biền bắt tôi ngủ trưa, ăn cả
một con gà rừng nó bẫy lúc mờ sáng. Con gà non, thịt ngọt
lừ
Biền bảo:
- ~n thận, xương gà gô cứng lắm đấy.
Tôi gật đầu. Biền lại hỏi:
- Bao giờ chúng ta gặp nhau?
Tôi ném khúc xương ra ngoài, đưa mắt nhìn bờ suối:
- Biết thế nào mà nói trước... Chiến tranh này...
Những gì làm được cho mày, tao đã làm. Giờ mày muốn gì
nữa, cứ bảo tao. Sức có tới đâu tao làm tới đó...
Biền cúi nhìn mũi giày, lặng thinh. Chóp mũi nó hồng
ớng. To như gấu mà lại mau nước mắt. Tôi nói thêm:
Trước khi về đơn vị, thế nào tao cũng qua sư đoàn để
gặp anh Lương. Anh ấy rất thương mày.
Hai giọt nước mắt lăn trên gò má rộng của Biền:
Tôi làm khổ mọi người... mà nghĩ cũng cực thân.
Mày cứ nghĩ lẩn thẩn thế thì hóa rồ... Thôi đi đi, tụi
lính nó ì éo gọi mày dưới suối từ nãy...
Biền lau nước mắt, nặng nề đứng lên. Rồi nó đi xuống
suối Tôi nhìn tấm lưng vạm vỡ khuất dần trong quầng sáng
của cây lá đùa dờn với ánh trời.
Hồi còn nhỏ, tôi cũng đã từng nhìn vào tấm lưng nó
như lúc này, nhưng không phải với nỗi tiếc thương. Hồi ấy,
chúng tôi chơi thả diều. Biền khỏe nhất bọn nên bao giờ
cũng cầm cuộn dây để đánh cho diều lên gió. NÓ chạy trước,
chúng tôi theo sau, vượt qua cánh đồng. Và vi vu, con diều
chao lượn giữa trời xanh, róc xuống hồn lũ trẻ chúng tôi bao
nhiêu nguồn ước vọng.
Tối hôm đó, Húc hớn hở. Kế hoạch đã hoàn thành vượt
mức thời gian mười hôm, lại dư ra một sản phầm. Tôi đùa:
- Cái hòm dư ra ấy chắc cậu làm cho tôi.
Húc cười tràn. Và hứng chí bảo lính:
- Đêm nay cho các lâu vui thỏa thích. Mai nghỉ.
Đám lính hoan hô ầm ĩ. Đêm ấy, lửa cháy rừng rực,
sáng mê hồn. ăn cơm xong, mọi người xúm lại kể chuyện
tiếu lâm. ~ủ không tìm được chuyện kể, phải chống hai tay
xuống, chổng mông lên cho mọi người phát! Hết trò, họ
chuyển sang đánh bạc. Đơn vị chỉ có bốn cỗ bài, mỗi chiếu
bạc tới vài chục người hô hét xung quanh. Ai thua phải nộp
nửa lá thuốc Vân kiều hoặc chiu bôi một vệt mực đen lên
mặt. Tiếng cười, tiếng reo hò vang trời.
Húc nói với tôi:
- Lâu lâu chúng em mới có một đêm vui. Anh Ơû đây
chơi nhé. Đêm mai em sẽ đi săn đãi anh bữa thịt thú no nê.
Đêm nay em phải ngủ vì mệt quá.
Tôi gật đầu:
ừ, tắm mà ngủ trước đi.
Thực ra, tôi đã chỉ nói cho Húc yên lòng. Mai tôi sẽ đi
sớm. Không còn thời gian...
Hôm sau, tôi chưa thức giấc đã có ha phát súng nổ. Rồi
tiếng chân người chạy, tiếng thét đột ngột lẫn tiếng nói lao '
xao. Tôi nâng tấm ván nắp quan tài, ngồi dậy. Biền đã đứng
một bên. Trời sáng nhưng chưa rõ hẳn mặt người. Tôi hỏi:
CÓ chuyện gì vậy?
- HỔ về. NÓ tha mất một người của ta.
Ai thế?
Biền trỏ về phía doanh trại:
Cậu sơn. lâu ấy bị kiết li nặng nên Húc giao trông
nom doanh trại. Không hiểu sao lại bị hổ cám đi. Sớm nay,
bên tổ đốn cây có cậu đi đồng sớm trông thấy, hô hoán lên.
Anh em bắn ba phát chỉ thiên đuổi theo...
Chúng tôi đứng bên nhau, chờ đợi.
Chân trời phía đông như mảnh gốm, men rạn vỡ, màu
xanh lam đan hòa những sợi trắng lạnh, khắc nghiệt. Phía
trên các cánh rừng, sương phập phồng trôi. Những ngọn núi
trọc, lởm chởm gốc cây cụt phơi ra trần trụi vẻ buồn bã cay
độc Cách nơi chúng tôi đứng chừng non trăm thước, những
cỗ quan tãi mới, chất thành đống, gọn gàng, vuông vức, đợi
chờ. Khẩu hiệu căng bên trên:
"Đơn vị đặc nhiệm quyết tâm hoàn thành vượt mức kế
hoạch."
Tôi bảo Biền:
Tao đi đây. Chờ thằng Húc về là tao đi.
Biền nói:
- Tôi đã gói thức ăn cho cậu mang đi đường.
Vừa lúc ấy, Húc đần một tốp lính trở về. HỌ vừa đi vừa
thở đứt hơi, mồ hôi ướt đầm đìa.
Biền hỏi:
Thế nào?
Húc cau có:
- Cái thằng khỉ, biết thế trước đây mình cứ cho nó vài
cái tát Đã dặn đi dặn lại khi đi ngủ phải chốt chặt cửa. Ai
dè nó quên, để toang hoang!
Biền nói:
Không phải cậu ấy quên đâu.
Húc vặc:
- Lại bao che cho nó. CÓ bao che thì nó cũng chết rồi!
Biền đáp:
- Tôi không bênh cậu ấy. Bận trước Sơn kể với tói: đã
ba lần hổ về lượn quanh nhà. Lần nào Sơn cũng kéo hai
thanh nứa cật rít vào nhau. Nghe tiếng nứa rít là hổ chạy
liền. HỔ sợ nứa. Trong rừng chỉ có nứa mới có thể làm nó bị
thương. Và, hễ bị thương, hổ sẽ liếm vết đau. Lưới nó sắc,
lại bẩn, chắc chắn vết thương nhiễm trùng, hoại tử, lan rộng
mãi cho tới khi con vật kiệt sức... Tính Sơn thận trọng,
nhưng lần này, tôi tin rằng cậu ấy đi lị nhiều quá nên...
Húc vụt kêu lên:
Chết tôi rồi...
Rồi mặt cậu ta xanh xám lại. Tôi bảo:
- Bình tĩnh. Đằng nào chuyện cũng đã xảy ra.
Húc nói:
- Tại em. Em chủ quan. Tuần trước em xuống doanh
trại thăm nó. NÓ cứ đuổi em quầy quậy: Thủ trưởng đứng lo,
em phấn đấu được, em sắp khỏe rồi, thủ trưởng cứ yên tâm
làm việc.
Húc nghiến răng lại, hai đường gân nổi dọc quai hàm:
Thật không ngờ, không ngờ...
Một tốp lính nữa trở về, nhợt nhạt. Một cậu hổn hển:
- Báo cáo... Đã tìm thấy xác Sơn...
- Ơû đâu?
Ơû tảng đá đen, khúc suối quành. HỔ đã ăn mất hai
đùi và ít gan.
Húc đột ngột gầm lên:
- Thôi, không phải nói nữa. Mang nó về đoành trại
khâm liệm.
Cậu ta quay đi. Mọi người im lặng. Không gian cũng
lặng tờ. Rồi, bất chợt, tiếng chim rừng lảnh lót vang lên, vô
tư một cách độc ác. Tiếng chim chào đón bình minh.
Từ sau lưng tôi, một người lính vượt lên:
- Báo cáo anh, đoàn Vân kiều đã tới nhận hàng.
Húc quay lại:
- Được Tôi ra ngay.
Mắt cậu ta đỏ kè:
Thật không ngờ, không ngờ cái cỗ hòm dư ra lại để
dành cho nó.
Rồi Húc bảo tôi:
Anh chờ em tí nhá, em phải ra giao hàng.
- Tôi cũng phải đi. Tôi phải trông nom trên một trăm
con người như cậu. Mong là chúng ta còn gặp nhau.
Tôi nắm tay Húc, hai bên mép cậu ta hằn nếp nhăn đau
khổ.
Tôi bảo:
- Tôi đã từng gặp cảnh tương tự... Tôi hiểu. Nhưng cố
mà dẹp nỗi buồn. Chúng ta phải chấp nhận tất cả, vì không
có quyền lựa chọn...
Húc ôm chầm lấy tôi. Chúng tôi cứ ôm nhau như thế
hồi lâu, tới khi đám người Vân kiều từ chân núi leo lên.
Húc buông tôi ra:
Anh đi mạnh khỏe nhá.
Tôi đáp:
ừ sẽ gặp nhau.
Biền đưa tôi xuống bếp lấy thức ăn đi đường. Một gói
lá chuối buộc sẵn, nặng chích. Ba phong lương khô với hai
hộp thịt.
Tôi hỏi:
- Mày kiếm đâu mà lắm thết
Biền bảo:
- Khắc có
Rồi Biền đeo ba-lô, tiễn tôi một đoạn đường. Khi
xuống thung lũng, tôi nhìn thấy đám Vân kiều đi thành
hàng, mỗi người cõng trên lưng một cỗ quan tài. Lưng họ gù
xuống, vóc thấp bé nên trông họ giống như những người dân
đồng chiêm cõng chiếc thuyền nan.
Tôi bảo Biền:
- Nậng thếmà sao họ cõng nổi!
- Cũng phải quen. Đoạn này xe không vào được. HỌ
phải cõng hàng sang qua núi bên kia...
Tôi gật đầu, ngẫm nghĩ: Ư cũng phải quen thật... Con
người phải học thói quen...
Mặt trời đã lên. Phương đóng không còn màu men rạn
mà biến thành những lớp mây ngọc trai óng ánh. Các ngọn
cỏ leo và các đọt cây nhuốm mặt trời hóa trong suất, hồng
hồng...
Đoàn người mang những cỗ quan tài in hình trên
đường viền của núi, giữa khung cảnh rạng đông. Bóng họ đi
động chậm chạp nhưng kiên nhẫn, mê mải. Hành trình. Con
người tự vắt kiệt sức mình để đem được quà tâng cho chiến
trường. Trong các tặng vật ấy, biết đâu chẳng có một chiếc
dành cho tôi?... Và tôi, và bất cứ người lính nào cũng đã sẵn
sàng tiếp nhận món quà kì lạ đó... Trong cả hai hành động,
có chung vẻ đẹp tuyệt vời của chiến tranh.
Bất chợt, tôi sực nhớ tiếng kêu xé ruột, man đại của m~
tôi gương mặt dầm mồ hôi, nỗi đau làm méo mó một cách
kinh dị. Rồi cũng chính trên gương mặt méo mó kinh di ấy,
ngời lên nụ cười rạng rớ hạnh phúc khi tiếng khóc oe oe của
đứa con cát lên và đôi bàn chân đỏ hỏn của nó quẫy đạp
trong không khí... Đó, vẻ đẹp mặn mòi của đời sống, vẻ đẹp
của tạo sinh.
Vẻ đẹp ấy đã xa vời. NÓ lẩn khuất với những kỷ niệm
vụn vặt thời thơ bé. Tôi bỗng kinh hoàng. Người ta không
thể cùng một lần đắm mình vào hai dòng nước.
Tôi, tôi và những bạn hữu của tôi, chúng tôi đã sống
đời lính quá lâu, chúng tôi đã đắm chìm trong vẻ đẹp thời
binh đao... Liệu bao giờ, và có thể được chăng, tìm lại ngọn
nguồn của vẻ đẹp tạo sinh, niềm đam mê của đời sống an
bình?...
Tôi dừng lại, bảo Biền:
- Thói, mày về đi.
Biền dặn:
- Đi cẩn thận nhé.
Tôi bật cười, buột mồm văng tục:
- Cẩn thận cái cục cứt! Bom đạn tránh người chứ
người làm sao tránh được bom đạn. Thôi, về đi. Khỏi lo cho
tao, liệu mà lo cho cái thân mày.
Biền làu bàu:
RÕ thật là...
Tôi giơ tay chào rồi quay phắt đi.
Tôi rất sợ những cuộc chia tay bịn rịn. NÓ làm tim ta
não nề, ngấm mãi nỗi buồn vào những tháng năm sau...


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Tôi thấy mẹ tôi ngồi trên bậc cửa, chân duỗi dài, cho
một cái đầu lâu bú. Bầu vú của mẹ, quá quen thuộc với tôi,
một bầu vú tròn, mịn, với núm vú rất nhỏ màu nâu hồng.
Mẹ ấn núm vú giữa hai hàm răng trắng nhởn của chiếu đầu
lâu
Bồng bồng, bống bống, bang bang...
Lời ru bay lên tận đỉnh trời. Và tận đỉnh trời, nắng
vàng rây xuống.
Bồng bồng, bống bống, bang bang...
Em tôi đã chết, c.ớ sao mẹ làm vậy?... Mẹ cứ ấn mãi
núm vú giữa hai hàm răng khô. Nước mắt mẹ lã chã rơi, nhỏ
vào hai hốc xương tối thui. Nhưng mà cái đầu lâu cứ nghiến
chặt hai hàm răng như thế.
Bồng bồng, bống bống, bang bang...
Tôi tỉnh dậy, thấy mình ngồi tựa vào một gốc cây sòi-
ma ven đường. Ba lô và nửa gói cơm lăn lóc bên ~nh. Một
đàn kiến leo qua đùi tôi để tiến công món ăn béo bở đó. Tôi
vội vàng mở lá gói, đuổi kiến. Rồi tôi cột chặt gói đồ ăn vào
ba lô tiếp tục đi. Mặt trời rọi thẳng trên đỉnh đầu. Một giấc
mơ đúng ngọ...
Chân trời tiền duyên lúc ấy tím ngắt. Chỉ quanh quẩn
khóm chuối tan nát với những mảnh cột kèo. HỐ bom thật
chăng? Vì tất cả đã xáo trộn nháo nhào. Chợt một người
đàn bà bận quần áo đen tất tưởi chạy đến. Vừa chạy, chị ta
vừa hét:
- chú tê đứng đó mần chi?
Tôi quay lại:
- Chào chi.
Hình như không nghe thấy tôi chào, chị ta hét tiếp:
Đứng đó mần chi?
Tôi đi tới trả lời:
- Em tìm ông cụ... với con cháu nhỏ...
Không đợi tôi nói hết câu, chi bảo:
- Bom đánh trúng lỗ đáo, hầm trúc rồi...
Đoạn, cht kéo tay tôi:
- Đi đi ngay khỏi đây, đi đi...
Tôi chạy theo chị. Lát sau, tới trước cửa hầm, chi mới
dừng lại thở hổn hển và giải thích:
- Bom đánh chừ đó. Tới giờ cao điểm rồi... B52 nó rập
đúng giờ lắm...
Vừa lúc, từ trong miệng hầm, ba bốn cái đầu nhô ra:
Mạ, mạ...
Người đàn bà kéo lay tôi:
Vào đi
Hầm sực mùi xăng, mùi cát, và cả mùi bọ chét. NÓ
khiến tôi nôn nao. Lúc sau, quen bóng tối, tôi biết chị
không phải có ba hay bốn mà tới sáu đứa con. Sáu đùa trẻ
lóc nhóc sàn sàn nhau như một bầy vịt chưa ra ràn. Chúng
quây lấy tôi:
- Cháu chào chú bộ đội.
Tôi chưa kịp đáp lời chúng thì đứa lớn nhất bọn đã
ngỏng cổ nghe ngóng rồi hét:
Hắn tới đó!
Theo hiệu lệnh ấy, cả bọn chui xuống tấm ván ngựa kê
giữa hầm, đứa nào đứa nấy rúc đầu vào trong chổng mông ra
ngoài. Mẹ chúng hét:
- Rúc xuống ván chưa?
Cả sáu cái miệng đồng thanh:
- Rồi i i.. Mạ nở Ơø ờ...
Tới đó, tiếng bom bắt dầu rền như sấm.
Người đàn bà, hai tay bịt tai, miệng hét to:
- Chú bịt tai lại lẻo lộng óc chừ...
Tôi cười thầm thấy cht chỉ huy tôi cũng như đàn con
nhưng tôi làm bộ áp hai lòng tay lên thái dương cho cht hài
lòng.
Trận bom rền liên tục ba đợt. Chắc tốp B5Z này gồm ba
chiếc. Lòng đất rung lật bật từng hồi khiến cát sỏi tử nóc
hầm lọt qua phên lót rơi lắc rắc xuống đầu tóc tôi và mặt
ván ngựa. Hai mươi phút sau, tất cả lại yên tĩnh.
Lũ trẻ lốc nhốc chui ra, lắc đầu, nghiêng tai cho hết
cát Mẹ chúng bảo:
Để yên cho chú nghỉ, không đứa nào được quấy,
nghe.
Chị quay sang bảo tôi:
Chú nghỉ đi, tui trộ (*) chú xanh mét... Nghỉ đi rồi
tui kêu dậy ăn trưa.
Tôi xúc bát gạo đưa cho chị, đoạn leo lên bộ ván nằm.
BỘ ván gỗ mát như thạch. Tôi tức khắc ngủ ngay. Giấc ngủ
êm, không mộng mị...
Rồi một dàn âm thanh ran như pháo bên tai tôi:
Chú bộ đội, dậy ăn cơm...
- Chú ơi, má tui biểu kêu chú dậy...
- Bớ chú bộ đội, dậy mau tề...
Tôi ngồi lên, năm ~lp mắt nhỏ long lanh, năm cái
miệng nhỏ chẩu ra chờ nói. Tôi cười. Đứa con gái lớn nhất,
chừng tám chín tuổi đang giúp mẹ dọn cơm. Tôi nghe nó
nói:
- Tụi hắn đi rồi. Mang cơm lên trên (* *) mà ăn.
Người đàn bà cự nự:
Mày chỉ bày việc. ăn dưới hầm.
( ) Tie~ng vl~ngbình Tr.ì Thiên. Tui: tô( Trộ: nhìn thấy.
( *tiếng vùngbmh Tr.ì Thiên. Trên.' trên ấy.
Con bé lảu nhảu:
- Mần răng mà mẹ nạt tui?
Mẹ nó quát:
ôi chao, cái miệng mi nhọn rứa?... Mang cơm lên
trên.
Con nhỏ cười hi hí. NÓ bưng mân lên hầm. Tụi trẻ reo:
Lên trên, lên trên...
Rồi chúng túm áo tôi:
ăn trên... chú bộ đội... Mạ cho lên trên...
Mâm cơm bày dưới gốc cây mít. Thứ mâm hình vuông,
chân cao chừng non gang tay, đóng bằng gồ. Trên mâm chất
tú ụ sắn cơm, loại sắn tôi từng ăn ròng rã mùa mưa ở Quảng
bình. Một nắm muối đâm với ớt và mắm tôm đặt lên lá mít.
Lũ trẻ ngồi xúm xít xung quanh, chờ đợi. Nắng rực rỡ
khiến mắt chúng hấp him, cánh mũi chúng nở ra vì hít gió.
Ơû dưới hầm nhiều, chúng nhớ hơi gió. Đứa con gái lớn ra
giọng răn đe:
- Ngồi im nghe, chờ mạ. Đứa nào hoang (*), tao khé
(*) què tay.
Cặp mi đen rướn cong như mi thiếu nữ. Lúc ấy, người
đàn bà từ dưới hầm đi lên, một tay bưng tô cơm vun tới
ngọn, một tay bưng tô canh:
- Rồi i i...
Chị đặt tô cơm, tô canh xuống góc mâm còn trống,
đoạn lấy chiếc bát úp trên tô cơm với đôi đũa đưa cho tôi:
- Chú ăn cơm. Nhà không có chi. Lưa (*) mấy con tép
khô nấu canh chua me cho chú.
Chị lựa sắn, nhấc củ to, đặt củ nhỏ, sao cho sáu phần
sắn như nhau:
Nè, phần con Hoa, phần con Hà, phần con Hướng...
Những đứa bé chìa tay nhận phần sắn, nhưng mắt
( ) Tiếng Bình Trị thiên. Hoang.' nghịch. Khé: đánh. Ltla:còn
chúng liếc tô cơm lén lút rồi vội cụp mi xuống. Tôi giữ tay
người đàn bà:
- Chị chia cơm cho các cháu. Em ăn sắn.
Chi lắc đầu:
- Không được.
Tôi nói:
- Chi không chịu, em không ăn.
Chi bảo:
- Chú phải ăn mi có sức leo núi, mới có sức đánh Mỹ.
Tụi con tui đang tuổi lớn, ăn chi cũng lớn.
Thằng bé nhỏ nhất chợt nhìn thấy một cục cơm lăn
xuống mâm. NÓ nhặt bỏ vào miệng. Con chi cả hét lên:
- Hư, răng mi dám ăn phần cơm chú bộ đội?... Ai đánh
Mỹ cho mi hả ả ả...
NÓ đập vào tay em. Thằng bé, nhiều nhất cũng hai tuổi
rưỡi òa lên khóc... Tôi giữ tay người đàn bà:
Chi không được làm thế. Trước ở Quảng bình, em ăn
sắn trừ cả mùa mưa. Vả lại, sắn cơm ăn không biết chán.
Chị cau mày, nói gay gắt:
Tôi không đôi co với chú mấy hạt cơm. Trước kia,
nhà tôi thóc tràn vựa, tôm bạc cả thúng, có thêm khát chi
mô. Chừ, lâm cảnh binh đao, phải chiu cực mới đánh được
giặc chớ?
Tôi lắc đầu:
- Không
Người đàn bà ngọt giọng năn nỉ:
- Chú không chịu hiểu điều phải quấy. Chú có nhiệm
vụ ăn để lên đường đánh giặc.
Tôi bảo chi:
Em không nói lý luận. Nhưng nếu chi không nghe,
em sẽ đi ngay.
Tôi đứng lên, làm bộ bỏ xuống hầm lấy ba ló. Tới đó,
người đàn bà đầu hàng. Chị hớt hải níu áo tôi:
Nè, thì thôi... Tui nghe chú...
Chị sớt cơm cho lũ trẻ, nhưng vẫn ép tôi ăn một bát.
Chị không đụng tới một hạt.
Tôi nhìn người đàn bà mới ba mươi tuổi mà nếp nhăn
chi chít hai bên khóe miệng, tự hỏi: Chị là ai và chị sống ra
sao?... Chừng như hiểu nỗi băn khoăn đó, chị cười:
- Chú đừng lo cho tui. Xưa nhà tui hai tòa gỗ đỏ như
son. Chồng tui đem dỡ lát đường cho xe kéo pháo (Xe chưa
qua, nhà không tiếc)... Mà đó là gia cơ mới tu tạo một đời.
Hồi cải cách, bố chồng tui bị quy phản động, còng tay đem
ra trường bắn. Trên đường đi, có lệnh hoãn thi hành án,
đem giải lên tỉnh. Từ tỉnh, người ta đưa ông lên giam trên
rú (*). Vậy mà ông vượt ngục, lần lút trên rú sống một năm.
Tới khi sửa sai rồi, được trả lại Đảng tịch, ông mới về... Lúc
tui về làm dâu, ba bố con rúc trong cái chòi lá. Bảy năm sau,
bố chồng tui cất nhà ngói to nhất làng.
Tói hỏi ướm:
- Anh đi đâu chưa về?
Người đàn bà đáp:
Chồng tui hi sinh hồi tháng chạp năm ngoái. Anh ấy
là đội trưởng đội vận tải đường thủy.
Tôi nhìn chị ngạc nhiên:
Vận tải đường biển?
- Phải. Tui gốc dân biển. Nhưng từ hồi đánh Mỹ, nửa
làng sơ tán lên đây...
Nói rồi, chị vuốt tóc đứa con trai nhỏ nhất:
- Mai sau cu sẽ về đi thuyền. Còn hai thằng anh thì lên
rú lấy gỗ dựng nhà cho mạ...
Ngưng một lát, chị tiếp:
- Miên là, giặc Mỹ cút đi...
Mắt chị mơ màng nhìn xa... Tôi biết, phía ấy là biển. Sẽ
có một con thuyền chờ đợi chàng thủy thủ tí hon cởi truồng
(*) Ri': nựng (liếng ông Bìnll Tí.ì Tlliên)
đang ngồi thèm thuồng liếm từng hạt cơm dính trên mép
tô Miền là... còn có ngày ấy...
Tôi chào chị, ra đi, tiến đến chân trời tiền duyên. Vào
phút đó, nó tím như một miền cúc tím...
Thần may mắn chưa rời bỏ tôi. Đang thất thểu đi, vớ
ngay được một đoàn xe tải. Tôi đứng chắn đường. Chiếc xe
thứ nhất dừng lại cách tôi hai mét:
Điên hả?
Tay lái xe hét xong, nhảy xuống nói to:
- Phanh trợt mẹ nó rồi! CÓ ăn bánh đâu?... Suýt nữa
thì toi mạng, mà lại đưa người ta ra tòa án binh. Oan gia...
Tôi nhăn nhở cười:
- Xin lỗi người anh em... thông cảm.
Tay lái xe gắt:
Lên đi, bố già.
Tôi lẳng lặng leo lên ca bin. Đi được một đoạn ngắn,
anh chàng quay sang hỏi tôi:
- ông tên gì?
- Tôi là Quân.
- Còn tôi là Vũ, hai lăm tuổi. Quê Hưng khôi. Còn
ông... chắc ba mươi nhát có lẻ?
Mới hai mươi tám nhát nhưng sầu đời nên tóc bạc!
Tôi Ơû Đông tiến.
- A ha à à... Thế là huyện ông sát nách huyện tôi!
Chúng ta là anh em đồng hương. Kết nghĩa vườn đào nhá?
- Đồng ý.
- Hội đồng hương trong sư tôi đã tới hai mươi ba nhân
mạng. ông tham gia nhé?
Tôi đáp:
- Được thôi.
Một cú xốc khiến tôi chồm về phía trước, chút xíu là
đập đầu vào cửa kính. Vũ bậm môi đánh vô lăng rồi nói:
Cắn thận. Đoạn này đường lởm lắm... Không chú ý là
vập gấy răng!
Tôi túm chặt thanh chắn, thò cổ nhìn ngoài. Trong
ráng chiều, những bụi cây lạc tiên bám đầy bên thành ta-luy
vàng rực. Phía dưới tàn lá của chúng, ló lên những túm
dương xỉ màu ngọc già... Và những ngọn cỏ leo! ! Tôi bàng
hoàng đưa mắt nhìn ra xa: một thung lũng mênh mông trải
tới chân trời.
Vu hỏi:
- ông qua đãy rồi chứ gì?... Thung lũng Bảy-oan-hồn
đấy Tởm lắm, lơ mơ là làm mồi cho mối như chơi!
Tôi lặng im, cố tìm cho ra vùng rừng cũ. Những đám
dương xỉ, cỏ leo... và sau đó là rừng môn thục. BỘ xương
trắng trẻ trung cười... "đằng ấy đừng oán hận gì tớ nhé. Tớ
đã mang ba lô đến tận làng Em nơ, giao cho mẹ. Tớ không Ơû
được lâu vì người đèo tớ đến đàng ấy là một gã khó tính, tớ
không muốn làm phiền hắn..." Tôi khấn thầm.
Tôi đã đến Em nơ, hỏi thăm bà Đào thi Lý, Người ta
chỉ cho tôi tới một bà lão nhỏ nhắn, tóc muối tiêu ngồi bán
hàng ngay dưới gốc đa đầu đình. Khi tôi tới, bà đang chuyện
trò rôm rả với hai người đàn bà khác, tay không ngừng phe
phẩy chiếc quạt nan trên chõng hàng. Tôi chào bà rồi gỡ ba
lô xuống. Nhìn thấy chiếc ba lô, mặt bà trắng nhợt. Bà hét:
Con ơi... rồi ngã lăn. Người ta bôi dầu vào hai lòng bàn
chân, cõng bà vào nhà.
Một trong hai người đàn bà ngồi lại trông hàng kể với
tôi:
Bà cụ chỉ có một mình nó. ông cụ chết đúng năm bà
cụ mang thai. Làm đám tang chồng được ba tháng thì sinh
nở. Phúc đức là thằng bé ngoan, lại có tài gảy đàn bầu, thổi
tiêu, thổi sáo. Gái làng mê tít mà nó chẳng để mắt cô nào...
Con trai lớn tướng vẫn còn lẵng nhẵng bám đũng quần mẹ.
Từ ngày nó đi, đã tám năm, ngày nào bà cụ cũng dậy từ mờ
sương làm hàng bán... Nhặt từng hào để sau này lấy tiền
cưới vợ cho con... Chõng hàng của bà lão có đủ thứ: bún
riêu, bánh đúc, bánh dợm, bánh đa lại thêm mấy lọ kẹo bột,
kẹo vừng, kẹo bi xanh đỏ...
Vũ đột ngột hỏi:
Làm gì mà thộn mặt ra thế Nhớ mẹ à? Hay nhớ
nàng?
- Đâu có
Tôi chưa trả lời hết câu thì lại một cú xốc mạnh. Vũ
nói:
Đã bảo mã... Đoạn này đường tởm lắm. NÓ men theo
phía đông thủng lũng Bảy-oan-hồn... ông nhìn rõ chưa?
- Ơù cũng rõ. Trừ phía kia, chỗ rừng màu cúc gấm.
Vũ quay đầu nhìn hướng tay tôi chỉ rồi đáp:
ĐÓ là rừng thộp. Mà chính nó là điều khủng khiếp
nhất với lính. Thung lũng này mang tên Bảy-oan-hồn cũng
vì thế... ông thấy không, phía đông và phía nam thung lũng
có màu xanh khác: ấy là màu rừng gai, dương xỉ lẫn môn
thục Ơû các chỗ trũng. Nửa phía tây và tây bắc toàn thộp.
Rừng thộp ăn lan qua các dãy núi bên kia. Lạc vào đó,
mênh mông bể sở, không sao lần được lối ra: Cây thộp
giống nhau như gạch cùng một khuôn nên không dễ gì tìm
đặc điểm đia hình, đia vật. Tôi đã bi lạc cũng chính từ cái
rừng thộp ông vừa chỉ lúc nãy...
Tôi hỏi:
- Thông tin, hay công tác đặc biệt?
Vũ lắc đầu:
- Khốn nạn, công tác công teo gì... Tôi đi i. Lúc ra,
không tìm thấy đường. Quay tứ bề, thấy chỗ nào cũng thế,
hệt như bi bỏ bùa mê. Cứ vậy là lặn sâu vào rừng thộp. Hú
gọi, kêu gào chẳng ai nghe. Lại không mang súng bắn báo
động. Gọi mãi không được, đành liều đưa chân. Càng đi
càng mê man những thộp. Mà ông biết, chẳng tìm được cái
gì bỏ vào mồm. Hai tay trắng, dao không, bát chén không,
bật lửa cũng quên trong ca bin... Năm ngày trời, tôi loanh
quanh như hồn ma, không hột cơm, không ngụm nước. Tới
ngày thứ sáu, không bò được nữa, lăn ra gốc cây chờ chết...
Đúng lúc ấy, đơn vị đổ đi tìm. Anh em thương tôi nên giao
hàng xong, họ xin thêm người, chia làm ba tốp đi lùng sục.
Vừa tìm vừa bắn súng báo hiệu cho nhau.
HỌ thấy tôi ngất xỉu dưới một gốc thộp, liền cáng về.
Trên võng, tôi mê man. Khi bình phục rồi, anh em kể rằng:
trên đường tìm tôi, họ qua một hang đá. Trước cửa hang có
bảy bộ xương người. Da thịt, áo quần, giấy tờ, ba lô... Tất
thảy đã bị mối ăn. Chỉ còn bảy bộ xương và bảy khẩu súng
hoen rỉ. Xung quanh, mối đùn từng ổ. Tử đấy, chúng tôi đặt
cho thung lũng này cái tên thung lũng Bảy-oan-hồn.
Tôi im lặng nghĩ tới oan hồn thứ tám. Và biết đâu, thứ
chín, thứ mười?... Làm sao đếm được chính xác những oan
hồn trong cuộc binh đao?...
Vũ hỏi:
- Chẳng biết sau chiến tranh, người ta có tới nhặt
xương linh không nhỉ?
Tôi nói:
Chưa biết... Nhưng trường hợp thất lạc thế... thì
cũng khó.
Vũ chép miệng:
- Đến lúc ấy thì cũng mục mẹ nó rồi còn gì!
Tôi không trả lời. Xe rù rù chạy. Lát sau, Vũ bảo:
- Tí nửa nghỉ nấu cơm ăn. Tôi sẽ giới thiệu ông với các
đồng hương. Chắc mọi người sẽ vui lắm.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Tôi nhớ khôn nguôi người đàn bà mộng tưởng của tôi,
người đàn bà đi qua đường chân trời. Gương mặt ấy ngời
ánh sao trong đêm lúa vàng rượi. "Bao giờ mình cưới hả
anh?I, Cái eo lưng mảnh mai đến thế. Và ánh nhìn xanh xao
của em ngày tôi nhập ngũ, ánh nhìn vòi vọi qua những con
đường lầm bụi, nhưng con đường thối rữa trong bùn, những
con đường mục nát cây cỏ và tử thi... Tôi nhớ khôn nguôi,
người đàn bà xa vắng của tôi. Gương mặt ấy mơ hồ, có lúc
hao gầy, có lúc tươi thắm như gương mặt mẹ ngày xưa với
tiếng cười lảnh lót rạng đông, với cái nhìn không bao giờ vơi
cạn, với cả điệu nựng nịu ngây ngô và bất tận.
Bồng bồng, bống bống, bang bang...
Nắng vàng tự đỉnh trời rây xuống.
Ơû sư đoàn, Lương bảo tôi rằng trong thời gian tôi đi
vắng, Lũy đã mắc chứng bệnh điên, thê trầm cảm. Một tuần
lễ, cậu ra ủ rũ không nói, xê phó Khuê hết dọa nạt lại dỗ
dành cũng không moi được một lời. Sau đó, sang ngày thứ
tám, Lũy không ăn uống, không đi ra ngoài. Cậu ta chúi đầu
vào một xó nhà, hai tay lúc nào cũng giơ lên che mặt. Hễ ai
tới gần lại rú lên sợ hãi. Sang ngày thứ mười, Lũy không chỉ
sợ người lại sợ cả ánh sáng. Cậu ra rúc dưới tấm chăn, nhất
đinh không chịu bỏ ra. Lũy gầy rộc đi, hôi hám, con mắt lơ
láo như mắt thú bị đạn. Sư đoàn đã cho chuyển cậu ta tới
bệnh viện quân khu. Từ đó tới nay chưa có tin tức gì.
Lương an ủi tôi và bảo tôi về đơn vi chuẩn bị. Chúng
tôi sắp tham gia một trận đánh lớn.
Khi tôi kể chuyện Biền, chuyện gia đình anh và làng
xóm, anh chỉ lặng yên nghe. Tôi hơi bực nhưng lại tự an ủi
rằng thời thơ ấu đã qua lâu rồi. Giờ Lương là sư phó, hàm
đại đá Sự vinh quang chờ đợi anh ngay bên kia ngưỡng cửa.
Anh không thể còn là người bạn nguyên vẹn của tôi. Anh
bắt đầu bài tập chối bỏ gốc rễ...
Tói chào anh, hậm hực đeo ba lô về đơn vị.
Trận đánh của chúng tôi tuyệt đẹp. Sóng Sông Hồng đã
đại thắng, chứng minh khả năng kỳ lạ của kỹ thuật chiến
tranh. Một trung đoàn đích bị xóa sổ, hai trung đoàn tan
tác Chúng tôi được lệnh rút về hậu cứ nghỉ ngơi, nuôi
dưỡng sức lính.
Dọc đường hành quân, một hạ sĩ vấp mìn chết!
Anh em bảo cậu ta mò vào rừng đi đồng hay đi liễu.
Nhưng khi mở chiếc ba lô nặng chích ra kiểm kê, tôi thấy
hơn ba chục chiếc vừa thìa, vừa dao, vừa nĩa... Toàn đồ i-nốc
Mỹ. Chút nữa tôi hạ lệnh quẳng cả mớ đồ xuống suối. Rồi
tôi nghiến răng lại. CÓ ích gì đâu chút đau đớn của kẻ
nghèo? Anh em trong đơn vị ngạc nhiên vì thấy tôi nổi
khùng lên vô cớ. HỌ im lặng chịu đựng. Còn tôi, tôi lỉnh ra
bờ suối một mình.
Ơû đó, tôi đốt thuốc liên miên, nhìn những vòng khói
uốn lượn rối ren. "Đồ khốn! Lẽ ra tao phải dựng xác mày lên
cho mấy cái tát. Cớ sao mày dám đổi mạng lấy một món
chiến lợi phầm khốn cùng?" Tôi chửi rủa người đã chết. Tôi
tự chửi rủa mình.
Sau rốt, cánh đồng lênh láng nước hiện lên với đàn cò
trắng. Những con chim kiếm ăn chốn bùn lầy. Những con
chim cùng khốn... Tôi thấy các lùm tre quằn quại trong gió
và đàn cò ướt lướt thướt, lông cánh xác xơ dò dẫm bước ven
đầm...
Giấc mơ quen thuộc trở lại ám ảnh tôi. Trong khoảng
một năm lại đây, nó như kẻ đòi nợ thuê lẽo đẽo theo tôi
khắp mọi ngả đường. Lại một chân trời mịt mù, vô đinh.
Con tàu lang thang. Những chiếc toa rỗng xô nhau lịch kịch
nơi mối nối đường rầy. Ngọn đèn ám khói lắc lư và thi
thoảng, tiếng còi rúc từng hồi ảo não nhuốm lên cảnh tượng
nỗi buồn vô hạn.
Gió lang thang trên con tàu lang thang, cuốn từ toa này
sang toa kia những tờ giấy vụn, những trang sách giáo khoa
bị mọt ăn dở, những mảnh giấy thấm chằng chiu hình vẽ và
chữ ký... gió lăn từ toa này sang toa kia những viên phấn
gãy bình mực cạn, chiếc mũ trắng, ngời bóng dáng mùa hè
thơ ấu. Những đồ vật vỡ vụn ấy lăng lông lốc, cười rốn ráng
hòa với tiếng còi thê lương.
- Báo cáo thủ trưởng...
Tiếng quen thuộc. Nhưng nó bi chìm trong các âm
thanh khác. Con tàu bổng thét lên hồi còi dài, lao rầm rầm
trên đường rầy như kẻ mắc chứng khùng, rồi, sau dó, mất
hút nơi chân trời ảm đạm. Thay vì nó là những con chim đen
tử đồng cỏ ướt, lướt thướt nhoi lên. Chúng không bay mà sải
cánh đi trên bình nguyên, bước đi vụng về dữ tợn.
Chúng đến gần, mỗi lúc mỗi gần. Tôi kinh hoảng vì
nhận ra đó không phải là loài cò loài diệc hay những con
ngỗng trời phiêu bạt. ĐÓ là những con kền kền, loài chim ăn
thịt, kẻ thu dọn bãi chiến trường, loài vật ám ảnh giấc mơ
đúng ngọ và khoảnh khắc lạc hồn của người lính.
Chúng tiến về phía tôi, lúc lắc cái đuôi bắn thỉu, đầu
chúi về phía trước và há ngoác ra cái mỏ đỏ lòm, - hình ảnh
ghê rợn nhất đối với tất cả những ai đã từng sống trên vùng
rừng núi này - nó gợi ra những bản làng cháy thui rụi, ngổn
ngang xác chết trương phềnh, những thung lũng ngập ngụa
máu thịt, mùi thối khẳng, dòi nhặng vo ve..., ánh nắng cô
đặc tất cả để khảm vào trí nhớ.
- Thủ trưởng...
- Báo cáo thủ trưởng...
Không chỉ là tiếng gọi mà cả hai bàn tay ai đó lay dữ
dội. Tôi choàng dậy. Trung đội trưởng Mão đứng đầu
giường:
- Báo cáo thủ trưởng: đồng chí Hùng vừa đâm vào
mạng sườn đồng chí Tếu.
- Tại sao?
- Báo cáo, họ trêu nhau. Rồi đồng chí Hùng nổi cơn tự
- Vết thương cậu Tếu ra sao?
- Y tá đơn vi khám sơ sơ cho biết: vết thương dài bảy
phân, sâu khoảng từ năm đến bảy, chắc chắn chạm lá lách.
Chuyển thương ngay.
Vâng, tôi cũng đã chuẩn bị tư tưởng để chuyển
thương. Hiện y tá đang băng bó.
- Còn cậu Hùng?
Dạ...
Đồng chí dạ cái gì?... Trong trường hợp này, xứ lý thế
nào?
- Dạ... dạ...
Mặt anh ta tái đi, miệng lúng búng. RÕ ràng cậu ta sợ.
Tói cười gằn:
- Việc xảy ra trong trung đội của đồng chí. Lẽ ra phải
bắt giam kẻ phạm pháp ngay. Không làm nổi, chắc tôi phải
thay thế kẻ bi giam là đồng chí...
- Dạ... báo cáo... dạ...
Mão đứng nghiệt ra, miệng lắp bắp một cách thảm hại.
Tôi dằn giọng:
Ra lệnh bắt giam ngay kẻ phạm tội. Cử người chuyển
thương lên trạm phẫu. Sau đó, đồng chí trở lại đây gặp tôi
tường trình.
Báo cáo, rõ.
Mão đi.
Tôi ngao ngán. Tôi đã mơ tưởng đến một ngày an vui.
Lâu lắm đơn vi mới có được những ngày nghỉ ngơi thoải mái
như bây giờ. Thêm nữa, sau hàng năm trời nghiền măng với
rau rừng, ba tuần nay thực phẩm được cung cấp thừa thãi.
Đường vùng phễu và B5 đã mở, quân 559 chuyển vào đây
nào gạo, nào thịt hộp, cá hộp, nào mỡ tổng hợp, kẹo Hải
châu, lương khô BA70, mắm tôm đặc, ca-la-thầu... Sang
trọng hơn cả là sưa hộp Liên xô và bội trứng Trung quốc.
Hôm qua, tôi họp các trung đội trướng, hạ lệnh phát
gấp đôi suất thực phầm cao cấp dể liên hoan. Tôi cũng yêu
cầu mọi người để cho tói ngủ bù vì suốt bốn đêm qua, tôi
thức trắng viết báo cáo tổng kết gửi giao liên kịp mang lên
trung đoàn trước ngày ấn định...
Vậy mà cơn mơ chưa tan, máu đã đổ!
Tôi sục chân vào giày, đi rửa mặt. Khi trở lại lán, trung
đội trưởng Mão đã ngồi chờ. Hai tay anh ta khoanh trước
ngực. Tôi ngồi đối diện với Mão, quẳng cho anh ta điếu
thuốc:
Hút đi.
Mão lật bật châm lửa.
ĐÓ là một người chất phác, hiền lành. Nếu tạo ra bầu
không khí nghiêm trọng, chắc chắn anh ta sẽ hoảng lên, rối
loạn đầu óc. Nghĩ vậy nên tôi điềm tĩnh ni liền vài hơi thuốc
rồi mới nói:
Chán thật. Tới một ngày vui!
Mão thở dài nhẹ nhõm gật:
- Vâng, đáng lẽ thì thật là vui.
Tôi rít tiếp hơi thuốc, nhả khói thành vòng tròn và đưa
mắt theo dõi những vòng khói lơ lửng bay lên. Bất giác,
Mão cũng ngước mắt nhìn theo. Tôi hỏi:
- Các cậu đã ăn chưa?
- Chưa,... báo cáo anh, chưa kíp ăn mà đã xảy ra
chuyện rủi ro mới bực...
- Hôm nay, anh em bày ra món gì thế
- Nhiều lắm: thịt hộp hầm măng, nộm chuối rừng,
nộm rau mì chính với lại...
- Rồi chuyện xảy ra sao?
- A... a... Báo cáo anh, hôm nay bếp trưởng là cậu Tếu.
Cậu ấy làm món thit ếch tẩm bột trứng, rán...
- Bột trứng thì sẵn có nhưng ếch đào đâu ra?
- Báo cáo anh: thế mới rách việc... Cậu Tếu đổi nửa
thùng bột trứng lấy góc con heo của người Vân kiều. Anh
em đều khen là sáng kiến. Cậu ấy hấp thịt heo, thái từng
miếng giả thit ếch rồi đem nhúng bột trúng. Nhưng trước
khi nhúng, cậu ta đã mút hết nước ngọt thành ra miếng thịt
nhạt thếch như nước lã...
- Trò quỉ... rồi sao?
- Chưa hết ạ. Cậu ta còn lấy một miếng...
Mão ấp úng... Trông điệu bộ, tôi biết cậu ta ấp úng thật
chớ không phải vờ vĩnh để che giấu một uẩn khúc nào. Tôi
bảo:
- Cứ thẳng thắn nói cho tôi nghe.
Mão thoáng sượng mặt lại, nhếch mép cười rồi hạ
giọng:
Báo cáo... cậu ta lấy một miếng... bướm lợn... tức là
bộ phận sinh dục của lợn cái, kẹp vào đó quả ớt, rồi đem tất
cả nhúng bột trứng, thả vào chảo mỡ rán...
Chút nữa tôi phá ra cười: Cái trò ấy thì ông cố nội tôi
sống lại cũng không nghĩ ra được. Trung đội trưởng Mão
nhăn nhó:
- Báo cáo anh... Khi Tếu rán xong, Hùng sục xuống
đời nếm. Cậu Hùng có cái tính ấy tử lâu. Tếu để cho Hùng
bốc sáu bảy miếng ăn rồi mới hỏi: "Hùng ơi, mày không thấy
miếng thịt lợn này nhạt à?" Hùng hiểu ra... Vì chính cậu ta,
hai năm trước, trong lần liên hoan tại rừng Chồi cũng đã
mút hết nước tảng thịt bò luộc rồi mới thái cho anh em
trong đơn vi ăn.
Chuyện có thế thôi?
- Báo cáo anh, còn ạ: Lúc Hùng biết, đinh xông đến
đâm Tếu thì một cậu kéo áo Hùng lại bảo: "Mày dây với
thằng ôn con đó làm gì cho hổ mặt anh hào, cứ chọn những
miếng to miếng ngon chén sạch. Tí nữa thằng Tếu sẽ bị bọn
chúng nó làm lông". Hùng bảo: "Được, phương án ấy hợp
lý" Cậu ta sấn đến chộp miếng to nhất. ĐÓ chính là cái...
Biết rồi. Cậu Hùng ăn hết rồi mới vỡ lẽ?
- Không ạ. Cái đồ quỉ ấy dai lắm... xưa nay có ai ăn
được đâu? Hùng cố ăn vài ba miếng. Sau đó, vừa dai vừa cay,
cậu ấy phải lè ra. Anh em xung quanh cười phá lên. Hùng vỡ
lẽ, rút dao nhảy xổ vào đâm Tếu. Sự việc nhanh chóng chớp
mắt nên không ai kịp can.
Mão kể xong, khoanh tay chờ đợi. Nhìn mặt cậu ta, tôi
biết chằng thể hỏi thêm điều gì, tôi nói:
- Đưa dâu Hùng lên gặp tôi.
- Vâng.
Mão đứng dậy, xăm xăm đi. Khi anh chàng trung đội
trưởng bước ra tới cứa lán, tôi chợt thấy điều mình làm vô
nghĩa. Tôi gọi Mão, bảo anh ta cử người canh gác Hùng cẩn
mật, chờ sáng mai giải lên quân đoàn. Lúc ấy các lán khác
lặng như tờ.
Sau biến cố, anh em buồn tẻ ăn cơm rồi im lìm về lán...
không nghe thấy cả tiếng sát phạt quanh ván bài. Giờ này,
mọi khi thường có những chiếu bạc... liền đặt là thuốc lá,
kẹo bạc hà, kẹo cao su, dù pháo sáng, dao i-nốc và ảnh đàn
bà. Dạo đói thảm đói sầu, không có gì đặt được, lính tráng
chơi trò bôi râu và trồng cây chuối, bắt vạ anh nào thua.
Dẫu sao, đó cũng là những giây phút êm diu.
Đời lính, niềm khao khát yên vui như con suối chảy
giữa khe núi. NÓ có thể chảy đến gặp được dòng sông, cũng
có thể cạn khô dưới chân núi lèn đá. Sự rủi ro là chuyện cập
nhật, đủ loại rủi ro... Vậy mà tôi chưa lường được sự rủi ro
ngày hôm nay.
Miệng nhạt thếch, tôi đành moi bao thuốc chiến iợi
phẩm để dành trong ba lô ra hút. Cậu liên lạc mang phần
cơm trưa vào:
Anh em đã ăn hết. Thủ trưởng mời cơm kẻo nguội.
- Được để lên bàn cho tôi. Cậu nghỉ đi.
- Báo cáo thủ trưởng, trông thủ trưởng xanh lắm.
- Cam ơn, tói sẽ chú ý. Cậu đi đi...
Tôi nhìn cậu ra rời khỏi buồng, nhanh như loài chuột
nhắt. Con mắt tròn láo liên, thỉnh thoảng lại quét vụt lên.
Tôi không ưa thứ người như vậy. Bên dưới vẻ khúm
núm ấy, chẳng biết ẩn giấu mưu cầu gì: xuất học viên sĩ quan
ngoài miền Bắc? một kỳ nghỉ phép? một bậc quân hàm...
không loại trừ một âm mưu đào ngũ. Loại người như thế
không ít, ta khó tránh. Cho nên, khi Thái đề cử cậu ta làm
liên lạc, tôi gật đầu ngay. Tất cả những ai ở dưới quyền kiểm
soát của tôi, tôi có nhiệm vụ bao dung họ. Mà cái nhiệm vụ
đó cung na ná như một thứ cực hình...
Giờ này, không hiểu kẻ phạm tội đang nghĩ gì. Những
người đã trói và phải canh giữ cậu ta đều là bạn đồng ngũ,
cùng nằm bên nhau trước vòng phong tỏa của địch, cùng
ngồi sát nhau quanh chiếu chơi bài...
Tôi tìm mấy tờ giấy trắng trong xà-cột. Chính tôi phải
viết tường trình về vụ này. Phải viết kíp gửi lên trung đoàn
vào sáng sớm mai. Từ trung đoàn, người ta sẽ chuyển tội
phạm sang tòa án binh, cách hành dinh hai cánh rừng. Ơ đó
có các trại giam và quản thúc. Tôi mới chỉ nghe nói chớ
chưa từng đi tới.
Cây bút trong tay nặng trĩu. Tôi cúi xuống trang giấy lại
vừa tách mình ra ngoài nhìn ngắm gã sĩ quan thi hành cóng
vụ, một công vụ thảm sầu như của con trâu phải kéo cày san
ủi mồ mả...
Lần Phi Hùng...
Tuổi: 25
Quê quán: Không rõ.
Trú quán: Làng Mai động, quân Hai Bà Trưng.
Gã trai ấy là chiến sĩ giỏi trong đơn vị. Không có hiểm
nguy nào làm gã chùn bước. Không tình huống nào khiến gã
bối rối. Trời sinh ra gã để làm nghề giết người.
Đúng như sách Binh thư yếu lược đã dạy ta tiêu chuẩn
tuyển chọn binh lính: Thượng đẳng là quân đầu trộm đuôi
cướp không cửa không nhà, thứ đến bọn tứ cố vô thân, cầu
bơ cầu bất. Bọn ấy liều chết chẳng tiếc thân.
Về tướng mạo, bọn đó có: Một gương mặt vẻ u ám,
hình cong diệp cày, - mũi nhọn và khoằm - cằm rất dài nhô
ra như mảnh sành vỡ dưới hai gò má bẹt, - hai mắt nhỏ,
xếch, cái nhìn ngưng đọng như cái nhìn của loài rắn. HỌ có
dáng đi lừ đừ nhưng trong nửa giây thoắt biến thành con
mèo rừng chộp mồi, sau đó tức khắc trở lại vẻ lừng khừng
an nhiên.
Hùng thường nghĩ ra những cách giết người đặc sắc
trong các trận giáp lá cà. Và gã kể lại cho đồng đội nghe với
khoái cảm không che đậy. Kẻ thì gã xọc lê tử họng xuống
tim, - kẻ gã chọc từ nách bên phải qua bên trái, - kẻ gã lại
đâm từ hạ bộ ngược lên Oå bụng. Kỳ thú nhất là một lần đánh
ấp, gã bò vào phòng riêng một tên sĩ quan nguy, chờ tên này
dính chặt với cô vợ trắng phôm phốp của y như một cặp cá
thờn bơn, gã mới phóng lê tử trên xuống "Một xọc xuyên
hai, bảo đảm là sướng mắt".
CÓ lần tôi vô tình hỏi Hùng: "Hôm tòng quân có em
nào khóc trên vai ~âu không đấy?". Gã bỗng trợn trừng mắt
nhìn chằm chặp vào mặt tôi, tưởng tôi trêu chọc. Sau một
lát biết tôi hỏi thật tình, gã bảo: "Chẳng đứa nào rỏ nước
mắt cho em. Mà từ khi biết sự đời, em không nhớ có lần nào
mình khóc. Thiên hạ chỉ cười thôi! HỌ cười khi em bị đứa
nào đớ sừng hơn, quại ngã em. Hoặc họ cười vụng khi công
an còng tay em điều qua chợ.
Thủ trưởng biết không, làng em ở, chuyên nghề thit
trâu trộm. Thịt trâu trộm và trộm trâu là mặt lục và mặt
nhất của con súc sắc. Em sống bằng hai nghề đó. Khi nào có
tiền, em đánh bạc. Mười lần thì chín lần rưỡi là thua. Nhưng
hễ vơ được tiền thì vơ cả nắm. CÓ nắm tiền trong tay, phải
có lưỡi dao cắt lìa cổ thằng khác mới giữ nổi tiền."
Kể xong, gã cười. Đến giờ tôi vẫn nhớ cái cười ấy.
Tôi bắt đầu chú ý đến Hùng. Nếu không vì buổi tâm sự
thì những thành tích chiến đấu của gã đã chinh phục tôi
tuyệt đối Gã nhiều tài vặt: thịt nai, thịt sơn dương, thit
dô ộc, không nói đến thịt trâu thit lợn, kể đến thit voi gã
cũng làm được khéo léo, trơn tru. Gã đan rổ đan rá cũng tài.
Nghe đâu, trước khi trở thành thằng bụi đời Ơû chợ Mai
động, gã đã từng Ơû quê vài năm. Gã chữa súng nhanh hơn cả
những tay quân khí sừng sỏ. Đôi lần hứng lên, gã hát khá
hay. Giọng gã ấm nhưng lời hát kinh dị:
"Con chó xồm nồm trong xó nhà
Cho nlộl nhái là nlà~ quay lơ
Nào chả, nào hầm, nào xóc bún tao bằm thây
mày l()m bảy món
Riêng cái đầu cật giừ đem sấy khô... "
Gã chỉ hát đi hát lại mấy câu ấy suốt bảy năm trong
quân ngũ. CÓ lẽ trong nhà tù gã cũng hát như vậy.
Tôi hơi thích gã. ít nhất gã cũng hấp dẫn hơn những
thằng nịnh nọt như ~âu liên lạc. Tôi cũng ghê ghê khi gần
gã Hùng không mái nhà trú thân, không anh em, họ hàng.
BỐ mẹ đẻ không biết. Mụ chột mà gã nhận là mẹ nuôi, -
chuyên mua rẻ đồ ăn cắp của Hùng và cho gã ngủ trên chiếc
bàn bán quà vặt - chỉ là một liên minh ma quỉ tạm bợ của
kiếp bụi đời. CÓ lẽ chính vì chẳng bận bịu gì với ai mà Hùng
đã gia nhập vào cuộc sống này như một cuộc trùng phùng vô
tiền khoáng hậu.
Tôi có một kỷ niệm với gã...
Dạo ấy, mùa thu oan nghiệt năm Mậu thân đang rà
lưỡi hái của Tử thần trên đầu chúng tôi từng giây, từng
phút, từng ngày. Mỗi chiều, - hoàng hôn tro xám nơi
phương trời phía Tây, mịt mù khói súng và bụi - mỗi chiều
chúng tôi lại kéo xác đồng đội rời khỏi vùng đất lầy máu
thit, máu thit tươi tanh ói của ban ngày, máu thit thối nồng
nặc còn lại từ hai, ba hôm trước và máu thit lưu cữu đã qua
bảy đêm sương bốc lên một mùi thối khẳn, - mùi thối độc
địa không thứ văn chương nào tả nổi.
Trong ánh chiều chạng vạng, từng bầy dơi liệng một
bên trời và đàn quạ bay bên trời kia buông tiếng kêu đỏ lòm
thịt sống. Chúng tôi, đứa nào đứa nấy nhễ nhại mồ hôi, nhễ
nhại máu, vác trên lưng cả súng lẫn tử thi. CÓ tử thi nguyên
vẹn, có tử thi cụt đầu hoặc chân tay, gan ruột xổ lòng thòng.
Máu đồng đội quyện với mồ hôi muối xót thấm khắp
người, trí óc mê mụ đi vì mệt mỏi, vì tuyệt vọng, chúng tôi
dồn toàn lực vào cuộc rút chạy không phải vì ước vọng bảo
toàn đời sống mà vì ý muốn điên cuồng tham dự vào cuộc
chém giết sc tới ngày mai. Chúng tôi phải sống để hai mươi
bốn giờ nữa, hoặc bốn mươi tám giờ nữa, hoặc bảy mươi hai
giờ nữa, những nòng súng của chúng tôi sẽ khạc lứa vào kẻ
thù.
Trước luồng đạn ấy sẽ có những xác thịt đổ xuống, sẽ
có những vòi máu phun lên, sẽ có từng bụm óc trắng phọt
ra... sẽ phải có tất cả cái cảnh tượng ngoạn mục ấy, - vì
chúng tôi đã từng trải nghiệm nó: Phương trình phải được
cân bằng hai vế. Sự hủy diệt phải được hưởng thụ bình đẳng.
Cái khát vọng điên cuồng ấy, lớn hơn mọi khát vọng, độc
chiếm tâm hồn.
Buổi chiều hôm ấy, tiếng kêu chiu chít của bầy dơi hòa
lẫn tiếng quạ đuổi theo đám làn quân tới tận cửa rừng.
Những cặp cánh đen loạng choạng giữa bóng chiều. Trời
lặng gió, tim tôi ứ lên ngột ngạt. Tôi bảo anh em tạm nghỉ
để lấy sức vượt qua quãng đường sau chót. Mỗi người kiếm
một gốc cây, chúng tôi đặt xác đồng đội và vũ khí sang một
bên rồi, kẻ nằm vật ra cỏ, người ngồi dựa gốc cây thở.
Không ai nhìn rõ mặt ai vì trời tối, nhưng tất cả đều ngấm
đầy độc tố cay đắng, tủi hổ và thù hận.
Tôi rờ rẫm lên mái đầu bết máu bụi của tử thi Hoàng,
cậu lính trẻ nhất đơn vi. ĐÓ là người trong trắng nhất trong
đám chúng tôi. Hoàng mười tám, con đầu lòng của một gia
đình trí thức, cha bác sĩ, mẹ giáo viên cấp ba. Hoàng có hai
em gái.
ĐỖ đầu trong khóa thi tuyển học sinh đặc biệt học toán
Ơû nước ngoài nhưng Hoàng đã tình nguyện nhập ngũ:
"Không, giảng đường với tôi không cần thiết bằng chiến
trường. Các giảng đường đã, đang và sẽ còn lâu dài với tất cả
những ai mong muốn nó. Nhưng sứ mệnh lịch sử với TỔ
quốc chỉ có trong cuộc chiến đấu này mà thôi. Tôi đã nghe
tiếng gọi thiêng liêng đó... Tạm biệt mái trường thân yêu với
màu phượng đỏ cháy rực trên bầu trời Thủ đô. Tạm biệt hồ
Tây, Quảng bá, những vườn hoa lộng lẫy và những kỷ niệm
êm đềm... Ngày nào đó chúng ta sẽ lại gặp nhau..."
Nhật ký của cậu bc miên man... nồng nhiệt như thế! !
Gương mặt Hoàng thon thon, da trắng, môi đỏ, mắt
trong veo như nước hồ. Hoàng ưa tắm giặc và thu dọn đồ
đạc sạch sẽ, thích hái hoa rừng cắm nơi lán trú quân... Tất
tật những thói quen của đời sống nền nếp đô thị đã quá xa
xôi và lạc lõng với khung ~nh của cuộc chiến.
Tôi mến Hoàng nhưng tôi cố giấu niềm mến đó. Nếu
không, Hoàng sẽ thành con mồi cho sự đố kỵ của tập thể.
Nhưng tôi vẫn kín đáo theo dõi và hỗ trợ cho cậu tránh khỏi
lầm lạc thường xảy ra với những cậu học trò có tinh thần
nhiều tế nhị và quá mẫn cảm trong cuộc đời lính tráng. Tôi
từng thấy nhiều trường hợp mà loại người mỏng manh như
vậy đã bị nghiền nát trong thô lậu và hà khắc.
Mảng pháo chém cụt chân trái và tay trái của Hoàng.
Máu cậu đã chảy hết, thấm vào lưng áo tôi, khô cứng như
mo cau. Xác đã lạnh, bắt đầu cứng. Tôi vuốt ve tóc và vai
cậu Bóng tối che phủ. Sẽ không ai thấy được hành vi đó. Sẽ
không ai biết sự yếu mềm của tôi. Thằng bé chết rồi. Tôi có
quyền bộc lộ mối cảm tình riêng nậng niềm tiếc hận: Bao
lâu nay, tôi phấp phỏng dè chừng. Vậy mà, cuối cùng, điều
lo ngại cũng vẫn xảy ra: Tôi đã không bảo vệ được cậu bé.
Cái chết?
NÓ như một gã mắc chúng bạo dâm, bao giờ cũng lựa
những cô gái yêu kiều nhất. NÓ như một thằng súc sinh
tham ăn, tục uống, bao giờ cũng ngửi ra những miếng thịt
mềm ngon.
- Khét khét... két... ét...
Đột nhiên, mấy tiếng chim rừng! Cậu lính ngồi gần tôi
giật bắn lên, thì thào:
- Chạm rồi.
- Ssss suýt?
- Đích thi bọn chó.
- Truyền tin. Coi chừng có cậu ngủ gật.
Hai chúng tôi bắt đầu bò tới từng người, thì thầm.
Cũng có vài cậu mệt quá, ngủ gật. Nhưng tất cả tỉnh như sáo
tức khắc. Tiếng chân bọn địch đã quá gần. Chúng tôi không
thể bàn bạc, cũng chẳng có kế hoạch tác chiến nào hết. Tất
cả, ngửi mùi mà nhận ra nhau, cùng nhạy tạt vào một mé
rừng, và, từ đó, chúng tôi nã súng như điên vào khoảng bóng
tối đối nghịch, nơi gió đưa tới một mùi khác lạ, mùi kẻ thù...
Tiếng kêu, tiếng rú, tiếng đạn nổ điên loạn. Những
vạch lửa rét rét đỏ lóe cắm vào bóng đêm.... Loáng thoáng
nhìn thấy hình thù bọn chó. CÓ lẽ chúng là một trung đội
độc lập nhận nhiệm vụ truy quét hoặc phối hợp với quân
chủ lực. Cũng có thể bọn bổ xung nhưng hành quân tới
chậm?... Nhưng chắc chắn đấy là lũ gà tồ - danh từ chỉ bọn
lính mới - chưa từng nếm mùi, chưa say máu chiến. Cứ
nghe tiếng rú loảng loạn và điệu bộ lóng ngóng của chúng
khi tản đội hình là rõ.
Chúng.tôi, đám tàn quân, những kẻ mang nặng nỗi tủi
hổ và cay đắng sau một ngày bị tàn sát khốc liệt, lúc ấy bùng
lên khát vọng trả thù. Cái đói, sự mệt nhọc, nỗi đau đớn tan
biến. Cần ăng-ten của người lính trở nên tinh tường. Mắt
sọc qua những lằn sáng mờ nhạt để đinh vị mục tiêu, mũi
đánh hơi để nhận biết con mồi di chuyển... Chúng tôi đã bắn
như để tẩy rửa nỗi đớn đau và cơn tuyệt vọng của mình.
Lặng dần, lặng dần những tiếng kêu, những làn đạn
bắn trả. Sau rốt, im lặng hoàn toàn. Nghe rõ tiếng kêu lạc
của chim đêm. Một tiếng rên bật lên sau hồi yên tĩnh. Tiếp
theo một phát đạn gằn. Rồi giọng của Hùng vang lên rành
rọt:
Được chưa con? BỐ mày gia ân cho đấy nhé...
Lại im ả. Bóng Hùng lướt sát bên tôi. 'Giọng gã ném
vào không gian tối om, rời rạc như từng viên đá rơi xuống
khe núi:
- Thằng nào còn sống, biết điều thì đứng lên.
Hùng cười gằn, ngừng một chút rồi thong thả nói tiếp:
Không xó xỉnh nào thoát được mắt Tôn Hành Giả
đâu, bố cho các con biết...
Tôi nghe tiếng tiểu liên Hùng đập vào đùi. Tôi bảo:
- Đồng chí Hùng, không được bắn tù binh. Giải cả về
cứ
Nói xong, tôi thấy một bóng đen từ sau lưng tôi lò dò
đi lên, run rẩy:
- Con... con xin...
Hùng nói:
- Lại đây, mày có hai thằng bạn sau lưng tao đây rồi.
Lúc ấy tôi mới biết Hùng đã bắt được hai tù binh khác.
Trung đội rủi ro của bọn ngụy bi xóa sổ. Hùng đẫn ba
tù binh. Chúng tôi lần mò tìm lại xác đồng đội của mình,
tiếp tục đi nốt quãng đường cuối. Chợt tôi sực nhớ, gọi hỏi:
Đồng chí Hùng, lúc nãy đồng chí cõng ai?
Không cõng ai cả. Tôi vác súng hộ đồng chí Thêm.
Sau này, tôi biết Hùng không chịu làm công tác
thương binh hay tử sĩ. CÓ lần, gã cười hềnh hệch "Đòm bao
nhiêu thằng cũng không ngán. Nhưng cõng mấy đứa cụt đứa
què với xác chết, tao chả chơi."
Đêm hôm đó, chúng tôi mò mẫm đi như những bóng
ma. Cơn say máu chiến đã qua, cái đói, ~i mệt thấm vào
từng thớ thịt. Xác cậu bé Hoàng đã cứng, lại mấl một bên
chân nên tôi luôn bị chòng chành. Các chiến sĩ của tôi cũng
mệt.
- CỐ lên, sắp tới rồi... các cậu....
Thỉnh thoảng tôi lại lên tiếng động viên anh em, biết
điều đó vô ích vì chính tôi cũng hoa mắt lên từng chặp và
lưng gần như sụm xuống.
Rồi chúng tôi đi qua vực Khan. Con vực dài, sâu hút.
Những lay động âm u trong đêm khe khẽ vọng lên. CÓ lẽ chỉ
nửa giờ nữa là tới cứ. Chợt nghe tiếng Hùng quát:
- Nhanh lên.
- Dạ... thưa ông... con đau....
- Đứng lên. Tao cho mày một phút.
- Dạ ạ ạ...
- Rộp.
Một tiếng động khô khan. Tôi chưa kịp hiểu chuyện gì
thì núi rừng rung lên bởi tiếng thét man rợ của kẻ xấu số.
Một cây thịt đổ xuống vực Khan, dội lại tiếng đá lăn giữa
hẻm núi. Hai tên tù binh còn lại rú lên như mất trí. Chúng
đã chúng kiến cãi chết của đồng bọn. Chúng bỏ chạy.
- Rộp....
Lại một tiếng động khô khan, đanh gọn.
Sau đó hai phát đạn.
Hai cái xác rơi tiếp xuống vực. Các hồi âm đuổi nhau,
vọng theo....
Lúc đó, tôi đã tới sát mặt Hùng. Chúng tôi cùng nghe
rõ hơi thở của nhau. Hơi thở gã đều đặn, bình thản. Hơi thở
của tôi, hổn hển vì mệt và sợ hãi. Đáng lẽ tôi phải cao giọng
trách mắng, cảnh cáo Hùng trước mặt mọi người: Luật nhân
đạo với tù binh, quy ước của chiến tranh, nhân phẩm và
danh dự của chiến sĩ... Nhưng lưỡi tôi như cứng lại trong
hàm ếch. Tôi đồng lõa?!... VI cái chết của cậu bé Hoàng, vì
nôi đau sót của kẻ tuyệt vọng, vì tính chất quá khủng khiếp
của tội ác?... CÓ lẽ vì tất cả... Hoặc, có lẽ chẳng vì điều gì
hết.
Chúng tôi đứng im phắc trong bóng đêm. Cả các chiến
sĩ trong đơn vi cũng vậy. Dường như tất ~ chúng tôi bị tê
liệt Rồi, khoảnh khắc sau đó, chính Hùng, trước tiên, cất
giọng khàn khàn, uể oải nhưng đầy tự tín:
Chúng ta đi thôi... Sắp tới rồi...
Nói xong, gã cất bước. Gã vác có hai khẩu súng, gã nhẹ
nhõm hơn tất cả chúng tôi, gã là người chỉ huy đích thực!...
Tôi thấy máu nóng trào lên họng. CÓ lẽ sự tủi hổ này của tôi
cũng không hơn không kém sự tủi hổ trong trận đánh thảm
bại vừa trải qua...
Giờ đây, kỷ niệm ấy thức dậy. Tôi bỗng nóng mặt bởi
cái điều chưa bao giờ tôi dám thú nhận với chính tôi: không
phải chỉ vì đồng lõa với tội ác mà còn vì mặc cảm của kẻ
thua kém. Tôi không muốn dằn mặt Hùng.
Tôi đặt bút lia, không nghĩ ngợi, tóm tắt sự kiện đơn
giản. Lời đề nghị: Cấp có thẩm quyền xử quyết. Rồi tôi gọi
Mão, dưa bản tường trình:
- Xong rồi. Đồng chí nộp lên cấp trên.
Mão đáp:
- Rõ.
Tôi bảo:
- Mang theo ba tay súng tin cậy. Đề phòng khả năng
nó thịt các cậu rồi đào ngũ.
Mão gật đầu:
- Báo cáo thủ trưởng, tôi cũng nghĩ tới điều đó.
Cậu ta đi. Tôi tần ngần bước tới trước phần cơm nguội
lạnh. Mặc dầu hổ thẹn, tôi không thể không công nhận rằng
lòng tôi nh~ nhõm như cất được gánh nặng khi nghĩ tới buổi
sáng ngày mai.
Ngày mai, thằng cha ấy sẽ rời khỏi nơi đây!
Một giọng nói vui vẻ cất lên sau lưng tôi:
- Thủ trưởng khao em nhé...
Tôi quay lại: khuôn mặt tròn xoe của cậu Tạo đang
sáng bừng lên, mắt lấp lánh cười. Tôi hỏi:
- Gì thế?
- Thủ trưởng khao em đi... Thủ trưởng có thư nhà.
Cậu bé rút trong túi áo ngực một chiếc phong bì đưa
cho tôi... Tôi vui vẻ khất:
- Cho nợ nhé. Hôm nay tôi hết kẹo cao su rồi...
Thư của người đàn bà ngày xưa tôi mộng tưởng. Một
chiếc phong bì hoen ố, vàng khè, có nhiều vết dán gặm xung
quanh và mép hồ. Dấu bưu điện hoàn toàn mất.
Anh Quân ca em,
Em đã gửi người sóu lá thư mà không nhận được thư tin
lờL Tháng nào chị Soạn, cô Liên cũng rú em lên bưu điện
huyện hỏi. HỌ nói không có thư đọng hòm. Chi enl chúng em
đành kéo nhau về tay không. đường xa mà thời rét Căm Căm,
bọn em vl'a đi vừa chảy nước thốt.
Anh ơi, anh sống chết thê'nào mà b~t vô âm tín. Lá thư
cuối cùng enl nhộn của anh đã cách đây người bôn thõng rồi.
Làng xóm mình vân như xưa chẳng có gì thay đổi. Năm
nay lúa kém nên dạo tháng mười mọi nhà lê vào mùa chẳng
có gà cũng chẳng nên xôi. Ai nấy chỉ cúng hoa quờ vôi rượu
trắng quần hơn cái lể nôm xưa chúng mình cùng nhau đi
chùa.
Quân ơi, enl nhớ anh, nhd anh nhiều lắm. Tám năm hai
tháng đã qua từ ngày anh đi. Em bây giờ gầy, không còn được
như xưa. Hôm lên huyện, em chỉ cân được bôn mươi mốt cân
rưỡi.
Anh còn yêu em không hở Quân ? Em yêu anh, thương
anh mãi mãi...
Một chữ ký run rẩy, ngoằn nghèo, với những nốt nhòe
không hiểu do thời gian hay nước mắt. Thư ấy, viết cách
ngày tói về phép một năm, bảy tháng, mười ba ngày...
Vào một buổi chiều yên tĩnh, chúng tôi đang ngồi uống
trà. Dạo ấy tôi có nhiều trà đen của đám bạn từ cao nguyên
gửi cho. Tôi cũng đã quen uống trà đen nóng pha với một
thìa mật ong hoặc một mảnh đường phổi hay một thìa
đường cát. Thứ trà ấy ngọt dịu, thấm được nỗi nhớ mơ hồ
vương vấn, thấm đượm những cảm giác không gọi được tên,
những cảm giác thường lẫn quất trong khoảng trống vắng
của tâm hồn người lính.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
CÓ hai người ngồi với tôi: Xê phó Thái và binh nhất
Tạo. Thái có một nửa gói lương không BA70. Tạo có hai
quả bứa chín. Cộng với nước trà đường của tôi tạo nên bữa
tiệc ngọt tuyệt vời.
Rừng chiều êm ả trong ánh thái dương. Không khí hiền
hòa đến mức Tạo đang thao thao nói về cách ngào chè lam Ơû
quê cậu ta cũng đột nhiên ngừng lại. Cả ba chúng tôi lặng lẽ
uống trà, lặng lẽ nhìn những vòm lá rừng xao xuyến.
Đột nhiên vang lên tiếng kêu quái gở:
Ngoeo oeo oeo...
Tiếng kêu rít lên như còi, lại méo mó âm thanh như
tiếng còi đó bị dẫn qua một chiếc ống cong queo rồi mới
phát ra.
Cả ba chúng tôi đưa mắt nhìn nhau.
- Ngoeo oeo oeo...
Tiếng kêu lần thứ hai thật rùng rợn... Một con mèo
rừng lao thẳng vào. Thái và tôi cùng đứng bật dậy lui về phía
sau. Lúc ba chúng tôi dàn ra cũng là lúc con mèo rừng lao
thẳng vào chiếc bàn ghép bằng nứa, nơi chúng tôi vừa ngồi
uống trà. NÓ chụm bốn chân lại, cong lưng lên như đinh
nhảy. Nhưng nó không nhảy mà lại đưa mắt nhìn khắp lượt
xung quanh. Mắt nó phát ra những tia sáng lạnh như nước
đá
Tôi vừa đặt tay lên hông, Thái hét:
- đừng bắn!
Con mèo đập đuôi vào bát nước trà, dựng ngược lông
lên. ~p mắt nó như nở to ra, long lanh ma quái. Một lần
nữa nó quay đầu nhìn thẳng vào mắt chúng tôi, từng người
một, với cái nhìn hung hãn của quỉ sứ. NÓ không hề sợ. ánh
sáng từ đôi mắt xanh rêu trong như thủy tinh phát ra làm
chúng tôi tê liệt. Thái run run nhắc lại:
- Đừng bắn... đừng ai bắn...
Mặt Thái tái nhợt. Tạo lui ra sau ghế, chuẩn bị sẵn vũ
khí. Con mèo lườm cả ba chúng tôi một cách khinh bỉ:
- Ngoeo oeo oeo...
NÓ kêu lần thứ ba rồi nhảy vọt ra ngoài. Chúng tôi
đứng lặng đi vài tích tắc, ớn lạnh xương sống. Rồi Tạo kêu:
- Khiếp! Chưa gặp con mèo rừng nào kinh khủng thế!
Mặt Thái vẫn tái nhợt. Anh uống một ngụm nước như
để lấy lại bình tĩnh. Tôi nói:
- Mười năm bảy tháng lính tôi mới gặp con quỉ này.
Thái im lặng. Tôi nói tiếp:
- Tôi tưởng giống mèo rừng thấy người là chạy. NÓ chỉ
hung dữ khi đang nuôi con.
Lúc ấy, Thái mới nhìn vào mắt tôi và kể:
nghề mộc và thi thoảng theo phường săn đi săn. ông nói
rằng giống mèo rừng không bao giờ mon men xuống nương
rẫy hoặc làng bản. Người ta đặt bẫy hổ ngửa nó cõng lợn
cõng bò, đặt bẫy lợn lòi ngửa nó xuống dũi nương sắn, đặt
bẫy khỉ ngừa chúng bẻ trộm ngô, thậm chí đật bẫy gấu ngừa
những con gấu tinh ranh xuống ăn vụng mật ong nuôi trong
vườn... Không ai đặt bẫy mèo rừng.
Cho nên khi nào mèo rừng xông tới nơi người ở là điềm
báo trước một tai họa bất thường vô cùng khủng khiếp. CÓ
thể đời ông qua đời cháu, mèo rừng mới xuống một lần.
Nhưng lần ấy, thế nào cũng có trận lũ cuốn trôi cả một bản,
cơn hỏa hoạn đốt trụi cả vùng hay bệnh địch không thể cứu
chữa...
Chú tôi còn bảo nếu có ai đó đánh chết con mèo báo
mộng thì tai họa sẽ xảy ra triền miên không bao giờ dứt.
Nếu có bệnh dich thì bệnh dịch ấy sẽ lưu truyền từ đời này
qua đời khác, thập niên này qua thập mền khác. Nếu có hỏa
tai hay lũ lụt thì năm nào nó cũng tới hành hạ con người...
Anh đừng cho là tôi mê tín. Chú tôi thật thà chất phác, cả
đời chú ấy không nói sai một câu, tôi không thể không tin...
Tạo túm áo tôi, rú lên:
Eo ơi, rợn hơn cả chuyện ma.
Tôi bảo:
- Đừng có kể cho ai chuyện này nhé.
Thái gật đầu:
- ừ, cậu phải giữ hoàn toàn bí mật...
Ba chúng tôi cùng im lặng
Buổi chiều ấy qua đi, nhưng thi thoảng câu chuyện con
mèo rừng vẫn ám ảnh tôi. Một tháng rưỡi sau, tôi bắt đầu
thấy nó ứng nghiệm.
Thời gian ấy, chiến dich "Mũi tên thần tốc" mở màn.
Đang mùa khó mà bỗng dưng trời u ám. Sương mù
buổi sớm tan rất muộn, có mùi hăng ngột ngạt như mùi các
lò chế độc dược bí truyền. Khắp các thung lũng, các khe sâu,
các hẻm núi lửng lơ một lớp khí trong suốt, màu lam, nặng
nề luân chuyển với các ảo ảnh bị tan vụn, bị cát rời. Những
luồng hồi quang mơ hồ, vụt ẩn, vụt hiện in dấu giữa không
trung các hình ảnh lạ kỳ, khi là những đường kỹ hà quái lạ,
khi là bức thành cổ tua tủa những mũi lao, khi là những
gương mặt tươi cười bi cắt làm ba, bốn mảnh, các mảnh lẻ ấy
rượt đuổi nhau, chập chờn, kỳ ảo như những chiếc bong
bóng xà phòng trẻ con thổi...
Đơn vị chúng tôi nhận nhiệm vụ bảo toàn lực lượng,
làm lương khô cho giai đoạn chót chiến dịch. Chúng tôi
phải thay đổi vi trí tập kết luôn luôn, thực hiện nguyên tắc:
Lai vô ảnh, khú vô hình. Như giống mèo hóa thân, chúng tôi
phải xóa kỹ mọi dấu vết của mình: bếp lửa nấu ăn phải dập
tắt, vết chân không được lộ, đi đồng phải chôn phân thật
kỹ... Mùa khô năm trước, một đơn vi bị lộ chỉ vì một cậu
lính tai quái không chịu đái nơi bụi rậm mà lại đái vào một
bông loa kèn rừng.
Thường các cuộc hành quân bắt đầu lúc vào đêm.
Người dẫn đường đeo mặt nạ, chỉ hở cặp mắt. Khâu lệnh
thay đổi từng tuần. Lính không được hỏi, không được nói,
không có giờ giải trí. Đến địa điểm tập kết, sau khi mắc
võng, tổ chức nơi ăn ở phải ăn cơm và đi ngủ ngay. Tất cả
đều hiểu rằng đó là giai đoạn đợi chờ...
Một tối, khi chúng tôi đã đến vị trí thứ tư, Thái gọi tôi
vào rừng. Tôi nghĩ đó là cuộc hội ý thường lệ nên hỏi:
- Khuê đâu?
Thái lắc đầu:
- Không cần. Tôi có chuyện riêng với anh.
Đoạn cậu ta quay lưng đi trước. Chúng tôi vào khe núi,
nơi hai bên um tùm những cây đại thụ và vách đá. Đêm ấy
sáng trăng. Chúng tôi ngồi dưới một tàn cây rậm và bóng tối
phủ chúng tôi tựa một con mèo khổng lồ dâm đãng. Bên
ngoài, những đốm lửa lạnh lẽo của mặt trăng rây qua tầng lá
rừng đùa giỡn vì gió, thứ gió đỏng đảnh chỉ có Ơû vùng núi
miền Tây.
Thái nói:
Anh Quân này, em tôi chết rồi.
Tôi hỏi:
- Thăng hả?
- Phải, tôi chỉ có một mình nó là em trai. Đã có lần tôi
nói với anh...
- Nhớ rồi... Cậu ấy ở đại đội giữ B41.
Lần ấy, Thái bi sốt rét ác tính. Cậu ta tưởng chết nên
lúc tỉnh kể chuyện nhà, gửi gắm đứa em trai và ông bố già
cho tôi. Nhà Thái có đến bảy anh chị em, nhưng chỉ có hai
anh em trai là Thái và Thăng. Mẹ Thái chết vì hậu sản khi
đẻ đứa con gái út. BỐ Thái làm nghề trồng thuốc lào, ở vậy
nuôi con cho tới tận bây giờ.
Giọng Thái run. Cậu ta hỏi:
- Anh Quân biết tay Hữu, chính ủy trung đoàn không?
Biết chứ.
- Trung đoàn trưởng đi vắng, lão Hữu muốn lập công
với sư đoàn nên quyết định đánh lẻ. Bọn dưới nịnh lão, ủng
hộ kế hoạch tác chiến vắng mặt sư trưởng. Lão lại là bí thư
đảng ủy trung đoàn, toàn thể các đảng ủy viên nhất trí quyết
đinh của ban thường vụ. Đại đội trinh sát vừa muốn lấy lòng
lão Hữu, vừa lười nên báo cáo ẩu, đia hình địa vật hoàn
toàn sai. Thế là đại đội B41 của thằng em tôi được lệnh tiêu
diệt các hỏa điểm của địch, mở đầu trận F.E.18. Chúng nó
bò tới trận địa, vừa rút xẻng ra đào hầm trú ẩn thì bi ngay.
Ơû đó, không phải loại đất pha cát như tụi trinh sát báo
cáo, thuần một thứ đất sỏi pha đá ong già, lưỡi xẻng chọc
xuống là lửa lóe lên. Các hỏa điểm đích cứ thấy đốm lửa lóe
lên Ơû đâu là nã cối và các loại đạn nóng vào đó. Đại đội B41
phơi lưng, không một hòn đá, gốc cây ẩn núp. Địch trút cả
núi đạn xuống.
Hôm sau phải điều động ba đại đội tới đánh trả và lấy
xác các tử sĩ ra. Lại thêm năm mươi nhân mạng hi sinh... Đại
đội B41 chỉ còn một cậu, nghe đâu quê Ơû Quảng bình, thoi
thóp, đưa về trạm phẫu phải cắt cả lách lẫn gan, giờ không
biết ra sao...
Tôi hỏi:
- Cả một đại đội bị xóa sổ!! CÓ lấy được hết xác ra
không?
- Làm sao lấy ra được hết tứ sĩ hả anh?
- Cậu ấy đã có người yêu chưa?
- Chưa... chưa... Tôi còn chưa kíp yêu nữa là nó. NÓ
chết rồi. Đại đội ấy toàn là những thằng trẻ như nó cả....
Rồi Thái bật lên nức nở:
- Em tôi chết oan, anh Quân ơi... Cả đại đội ấy chúng
nó cũng chết oan....
Tôi im lặng nhớ tới hai bàn chân đỏ hỏn đạp trong
chiếc chậu sành. Những làn nước sóng sánh ánh chiều
hôm... Hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu bàn chân đỏ hỏn
như thế. Những thằng con trai đã hăm hở chào đời, và hăm
hở ra đi...
Tiếng Thái nức lên, âm thầm trong bóng đêm. Tôi ngồi
lặng lẽ chờ cho cậu ta bình tĩnh lại rồi bảo:
- Thôi nhé. Trông chừng tinh thần anh em.
Thái nói:
- Tôi hiểu. Nhưng tôi cần phải nói với anh.
Tôi trả lời:
Tôi e rằng sẽ đến lúc không ai buồn nói với ai...
Chúng tôi ra về. Nhưng tôi biết Thái đang nghĩ tới hình
ảnh con mèo rừng bữa trước. Vì chính tôi cũng đang bi nó
ám ảnh.
Ngày hôm sau, từ sáng sớm, y ta báo cáo một tiểu đội
bi sốt rét. Anh em thì thầm rằng tiểu đội đó xấu tính, đi ăn
mảnh, vớ phải thứ quả độc. Ba ngày sau, lần lượt các tiểu
đội khác nộp mạng cho Thần Rừng.
Ngày thứ tám, số người ốm đã quá một phần ba quân
số Không ai còn thì thầm đùa giỡn. Mật ai nấy xanh lè.
Những người khỏe nhất được phân công kèm giữ mấy cậu
lên cơn sốt ác tính. HỌ thường la hét, trần truồng bỏ chạy
vào rừng. HỌ bị một ngọn lứa đốt tử trong gan ruột đốt ra,
bị nỗi sợ hãi vây bủa trùng điệp như cảnh rừng núi xung
quanh, bị nỗi thèm muốn điên cuồng không gọi được tên
hành hạ...
Ngày thứ mười, tôi cử người mang báo cáo lên cấp trên
thì đúng lúc có lệnh: rời vi trí tập kết, bất cứ giá nào. Người
mang lệnh nhìn tôi qua khe hở của chiếc mặt nạ, nói với
giọng ồm ồm:
- Ngay đêm nay, không chậm trễ.
- Nhưng một phần ba quân số ốm!?
Trên yêu cầu hành quân gấp. Đây là vi trí tập kết
cuối cùng của các đồng chí trong chiến dịch này.
Đêm ấy, sương dày hơn bao giờ hết. Một thứ gió âm u
lùa sau chúng tôi, buốt lạnh sống lưng. Đại đội đi thành
hàng dọc, cứ hai người khóc cõng một người ốm, kèm theo
tư trang.
Đường mòn, cây và dây leo bò ngang chân. Tôi phải đi
đầu, phát cho quang. Người dẫn đường đi cách tôi vài bước,
luôn luôn nhìn thấy tấm lưng thẳng cứng của anh ta, như
một phiến gỗ. Thái đi cuối đoàn quân. Còn Khuê, mạnh
khỏe nhất, chạy lên chạy xuống, chăm sóc những người bệnh
nặng và, khi cần thiết, võng thay anh em.
Không ai nói được một lời nào. Sự mệt nhọc quá độ
khiến mọi người phải căng toàn bộ thần kinh để cố gắng
nhích từng bước một về phía trước. Hành quân... hành
quân... hành quân... tôi chợt nhớ khúc quân hành mười năm
trước chúng tôi đã hát vang trên đường tiến vào phương
Nam, tiếng hát làm rung chuyển rừng già. Năm ấy tôi mười
tám tuổi...
Đoàng....
Một phát súng dội vào tai. Người dẫn đường nằm phục
xuống, quát:
- Đứng lại!
Đoàng... ~
Một phát chỉ thiên thứ hai. Tôi chạy lên, ngọn đèn pin
trong tay, tôi rượt đuổi. Người dẫn đường cũng chạy theo
một bóng đen. Chỉ vài phút sau, chúng tôi đã tóm được nó.
ĐÓ là một thằng bé loắt choắt, da đen xam, đầu trọc. NÓ
ngồi bệt trên đám lá mục, giơ hai tay lên, cổ thụt giữa hai
vai:
- Em lạy hai anh, em lạy hai anh...
Giọng nói trọ trẹ của nó là giọng dân Hà tây. Cái ba lô
đeo sau lưng dúm dó, bẩn thỉu như cái đãy thằng ăn mày. NÓ
chắp hai tay, hổn hển:
Em lạy hai anh, em chắp tay lạy hai anh...
Hơi nó yếu. CÓ lẽ nhin đói đã lâu. Tôi bảo:
- Đào ngũ hả? Giấy tờ đâu?
NÓ móc túi đưa ra chiếc thẻ quân nhân và cả tờ công
lệnh nhàu nát:
- Em không phải lính đào ngũ... em bị lạc...
Tôi đọc lướt các thứ giấy tờ của nó rồi bảo:
- Mày lại muốn lừa tao hả?... Công lệnh tháng sáu
năm ngoái sao giờ còn ở đây?
- Báo cáo thủ trưởng, em lạc... rồi em sốt rét. Em Ơû
trong kia với người Vân kiều. NÓ giơ tay chỉ nhưng vì bóng
tối quá dày, tôi không nhìn rõ nó chỉ hướng nào. Ngọn đèn
của người dẫn đường lại rọi thẳng vào bộ mặt choắt khoeo,
hốc hác của nó. Móc trong túi một mảnh giấy nhàu nát, nó
đưa cho tôi:
Dạ, có giấy của bà con Vân kiều chứng nhận.
Tối thế này làm sao tao đọc được? Nhưng không đào
ngũ, tại sao mày không tìm đơn vi?
Mồm nó méo xệch rồi bỗng dưng nó ti tỉ khóc:
Báo cáo thủ trưởng... em nhớ u em lắm... U em... có
mỗi mình em... mà đơn vị em xa quá, giờ Ơû tận B9, làm sao
em tìm được.
Lúc đó, Khuê chạy lên, hỏi:
- Gì thế?
Tôi bảo:
- Vớ một thằng lỏi con đào ngũ.
Khuê nói:
- Thôi, dong nó cùng đi đi... Mấy cậu dưới kia sắp lên
cơn ác tính rồi...
Tôi gật đầu:
Ưø đi đi
Những chàng lính phải võng bệnh nhân nhở cơ hội ấy
vừa được nghỉ ngơi, lại chuẩn bị đặt đòn lên vai.
Tôi bảo thằng bé:
- Đi theo tao.
Người dẫn đường vượt lên và cuộc hành quân tiếp tục.
Lát sau chúng tôi vượt khỏi cửa rừng, tới một lối nhỏ men
theo núi. Đường sáng hơn nhờ trăng chiếu rọi. Kẻ đào ngũ
đi sau lưng tôi, thỉnh thoảng lại chúi đầu ngã. Lần nào nó
cũng vấp phải gót chân hoặc sau đùi tôi. Tôi quay lại:
- Làm sao thế, mày đói à?
NÓ lặng thinh. Tôi móc túi áo, tìm mảnh lương khô
Thái đưa cho tôi buổi trưa, dúi vào tay nó:
- Này.
NÓ im như thóc. Từ lúc ấy, nó không vấp ngã. Đôi lúc
quay lại, tôi thấy nó lẽo đẽo bám gót tôi, im lặng như cái
bóng.
Mẹ nó là ai nhỉ?... CÓ lẽ là một người đàn bà lam lũ
vùng Hà tây. CÓ thể tôi đã gặp bà ta trong số những người
đặn bà gánh nặng trẹo cả vai nào ốc, nào su hào, rau cải, nào
chuối, nào khoai lên thành phố, đi bộ đèo đẽo vài chục cây
số để kiếm mấy đồng bạc tiền lời.
Hay mẹ nó là một trong những người đàn bà chân đất
vẫn cầm ấm chè xanh chạy rong theo các xe chở khách?
Hay mẹ nó Ơû trong số những người chúi mặt xuống bùn
cấy lúa để, đến mùa thu hoạch, được chia mấy đấu thóc còm,
vẫn sung sướng tươi cười vì được ghé mặt vào chụp ảnh với
đồng chí bí thư tinh? Mẹ nó là ai?...
Yù nghĩ tôi miên man như mê sảng. Trăng sáng. Lạnh
như kem. Trước mặt chúng tôi, núi rừng bị trăng phủ, mơ
hồ như những bóng quỉ ngồi. Hơi thở của lính tan loãng
trong bầu không khí lạnh. Bất chợt, tôi quay đầu lại và thấy
thằng oắt đang cắm cúi bước... Đã có lần, tôi nghe hòn lính
xuyên tạc mọt bài quân hành ra những lời lẽ sau:
"Tao là con của bố tao mẹ tao,
Muốn về là tao cứ ra về,
Tao không cần ba lô
Không còn lương khô
Không cần Oâ tô.
Tao về ăn Têí xong tao lại lên"...
Chắc thằng oắt này là một trong số những kẻ đặt lời
xuyên tạc đó.
Những bài hát như thế, các sử gia chiến tranh không
thêm để tâm!
Chúng tôi đến được nơi tập kết thì số người ngã bệnh
lên tới non nửa quân số. May sao, thuốc đã chở tới kịp thời.
Dứt bệnh sốt cũng là lúc chúng tôi tham dự trận đánh.
Chiến dịch "Mũi tên thần tốc" đã sang giai đoạn thứ ba,
và đơn vi chúng tôi là một trong hai con chủ bài của giai
đoạn này. Cuộc đấu diễn ra không thuận lợi như chiến dịch
"Sóng sông Hồng". Đơn vị tôi chỉ còn Thái, tôi và mười bảy
lính. Khuê đã hi sinh lừ trận đầu tiên. Đại đội của chúng tôi
được tặng danh hiệu đại đội anh hùng và bổ sung quân số
túc khắc. Dẫu sao, chúng tôi cũng đã thắng.
Tôi được lệnh đưa anh em về nơi tập kết bởi vì mùa
mưa sắp tới. Đám lính trẻ cần được tập luyện và làm quen
với nghề chinh chiến.
Trước khi lên đường, mười chín người chúng tôi được
gọi là bộ khung của đại đội, làm lễ vĩnh biệt những người đã
khuất. Chúng tôi đóng trước lễ đài, dựng bằng nứa từ hôm
trước, trên phủ vải trắng. Tôi hạ lệnh đốt lửa. Phải có một
ngọn lửa thật lớn mới đủ soi sáng hơn một trăm gương mặt
những người đã khuất. HỌ luôn luôn đóng bên cạnh chúng
tôi với bộ mặt xanh xám của kẻ bị rút hết máu, tỉ tê, hờn
dỗi, đòi ân oán...
Tôi mơ giấc mơ áo xanh. Người đàn bà mặc áo xanh từ
khoảng trời xanh hiện ra. Nàng vừa giống, vừa xa lạ người
đàn bà tôi mộng tưởng. Không với khuôn mặt hao gầy và cái
bụng kềnh càng sắp tới ngày sinh nở mà với gương mặt kiều
diễm có hai hàng mày dài. Tôi đã yêu nàng tới kiệt sức. Tôi
yêu nàng tới mức tôi sẵn sàng từ bỏ cõi đời vì đã được yêu...
Nhưng tôi tỉnh dậy trong võng một mình, áo quần ướt
mồ hôi và dơ dáy:
- Khốn nạn, mơ với mộng, hão huyền...
Một thằng đàn ông rít lên chửi thề, nghiến răng trèo
trẹo.
Một thằng khác nhẫn nại xuống suối tắm giặt, đi ăn
cơm chiều và bàn với Thái kế hoạch hành quân ngày mai.
Buổi tối, khi chúng tôi ngồi uống trà thì liên lạc trung
đoàn xuống. Cậu ta chuyển cho tôi tờ lệnh của sư đoàn. Tôi
có nhiệm vụ áp tải bốn tù binh quan trọng tới đia điểm tập
kết, giao cho bộ phận điều tra xét hỏi.
Lệnh nhấn mạnh: Không được để tù binh thất lạc hay
bỏ trốn, hoặc ốm chết trong bất kỳ tình huống nào.
Lệnh do chính Lương ký thay sư trưởng.
Mưa rừng ập xuống, như tai nạn dọc đường, như tình ái
không báo trước. Mưa ròng rã nửa tháng liền không cho
mặt trời kịp nháy mắt. Trắng xối xả không gian. Suối dâng
ào ào, đường tắc, chúng tôi đành đóng quân Ơû binh trạm
X3-57.
Ngày này qua ngày khác, nhìn dòng nước tuôn như
thác, nhìn những tầng lá rung giật, quằn quại dưới mưa.
Đêm nọ qua đêm kia, nhìn những ngọn đèn săng khói mù,
tỏa thứ ánh sáng đỏ cáu lên mùi hôi khét, những gương mặt
mốc meo quanh đám chơi bài. Tôi trở nên cáu bẳn.
Tôi hay nhớ đến em trai tôi. Tôi mơ thấy đôi chân đỏ
như son của nó quẫy đạp như con cá mắc lưới, vào giữa
chừng một bữa cơm chỉ mắm tôm rang ớt, hay giữa chừng
buổi trò chuyện quanh một ấm nước lá rừng. Không phải
mơ, dường như tôi nhìn thấy nó. Kỷ niệm ấy khiến tôi ủ ê.
Đến lúc, tôi thấy chính tôi như con cá mắc lưới, bị dĩ vãng
dày vò...
Cũng một buổi sáng, mưa. Tôi trở dậy, tới lán số 2. Từ
nơi tôi Ơû qua lán số 1, số 2 và số 3 có các mái hiên dài, người
đi không ướt. Dọc theo các mái hiên, chăng từng dãy dây
phơi quần áo. Mùa mưa, quần áo chỉ vắt lên dây cho róc hết
nước, muốn khô phải đem xuống bếp than hơ một đêm.
Mưa vẫn tuôn không ngừng. Đang đi, chợt tôi bắt gặp tên tù
binh số 4 đứng một mình đầu mái lán.
Hắn đang hứng mưa. Nước xổ từ mái nứa xuống lòng
tay hắn bắn lên tung tóe. Gương mặt hắn nhìn nghiêng
giống hệt như Hòa, cô em gái của người đàn bà tôi yêu.
Đường sống mũi, vành môi, khuôn cằm... tất thảy gợi dáng
nét của một tu sĩ. Hắn không nhìn thấy tôi. Hắn chăm chú
chơi trò hứng mưa, hồn nhiên như học trò tiểu học... "Nếu
có Hùng Ơû đây, chắc gã sẽ cười khẩy và trề môi ra nói: Bọn
trai Mỡ, bọn Gà giò. Gảy đàn, thổi sáo, viết nhật ký, làm
thơ, ép hoa khô... đó là trò khỉ của những tâm hồn oặt oèo,
ủy mị, bọn lính Cậu, bọn trai Hoi - Tao cầu cho bom dập
chúng mày thành cám - Tao cầu cho pháo cối băm chúng
mày thành món pa-tê..."
Bất chợt một cành khô gãy. Tên ngụy giật mình quay
lại, mặt đỏ bừng:
Bẩm thưa ông...
Tôi định trấn an hắn, song tự cảm thấy điều đó lố bịch.
Hắn vẫn không hết luống cuống:
Dạ... thưa ông.
Tôi chợt thấy hắn giống Hòa ghê gớm. CÓ lẽ hắn cũng
trạc tuổi Hoàng. Hắn có viết những dòng nhật ký miên man
mê cuồng không? Hắn... có từ bỏ một giảng đường để đi tìm
lý tưởng không?... Tôi bảo hắn:
- Tù binh số 4, về buồng tôi.
Đoạn, tôi quay lưng đi trước. Hắn lẽo đẽo theo sau.
Buồng tôi ở là một gian được ngăn cách trong dãy lán
đặc biệt dành cho ban chỉ huy binh trạm và chỉ huy các đoàn
quân tạm trú. Buồng thưng gỗ ván, kín đáo, treo vài tấm
lịch đã phai màu. ĐỒ dùng khá đủ: Giường nằm, tủ đựng tài
liệu, bàn ghế. Tất cả đều đóng bằng gỗ mộc.
- Vào đi.
Tôi bảo tên lính. Hắn rón rén vào phòng, cúi đầu lau
mái tóc ướt vào cánh tay áo.
Tôi trỏ chiếc ghế đối diện:
Ngồi xuống.
Hắn ngồi, thu hai tay vào lòng. Hắn có đôi bàn tay mỹ
nhân, ngón dãi, nuột nà như tay tố nữ trong tranh. Tôi róc
cho mình một chén nước và cho hắn chén thứ hai:
- Uống đi cho nựng.
Nước còn bốc khói. Hắn khẽ nhấp một ngụm rồi lại
ngồi yên, vẻ lo lắng. Khi hắn nhìn xuống, hai hàng mi dài và
đen che một phần tròng mắt. Lưa thưa hai bên mép và môi
trên, có vài chấm râu.
Thấy tôi ngồi yên, tên tù binh ngước nhìn sợ sệt. Tôi
nhìn đôi mắt hoảng loạn của hắn, bảo:
- Yên tâm đi, tao không giết lén mày làm gì.
Hắn lặng thinh, mắt cụp xuống.
Tôi nói tiếp:
- Mà Ơû đây, cho thêm kẹo chúng mày cũng không dám
trốn. Đúng không?
Hắn ngẩng lên:
- Bẩm óng, trung tá Huyên cũng nói thết.
Tôi cười thầm vì hắn quả là thật thà. Chưa tên ngụy
nào đối đáp như vậy. Tôi hỏi:
- Huyên là tên tóc muối tiêu, tù binh số 1, đúng
không?
- Bẩm ông, phải. Ngài trung tá nói nếu trốn, chúng
con sẽ rơi vào các đơn vi khác. Mười phần, chắc tám chín là
được nếm kẹo đồng hoặc lưỡi lê.
Tôi cười:
- Phải rồi. Bọn chúng mày cũng cáo lắm. Không ai có
đủ lòng tử thiện để chia từng mẩu lương khô giữa mùa mưa
lũ với bọn người nã pháo cối vào họng mình. Bọn mày là kẻ
thù, nhân đạo nhất là người ta cho chúng mày vài viên kẹo.
Hắn im lặng. Tôi nói tiếp:
- Ơû đây với tao được an toàn vì tao có nhiệm vụ nộp
chúng mày cho bộ phận khai thác tù binh. Tao phải nuôi
sống và bảo vệ chúng mày.
Tôi châm điếu thuốc, lơ đãng nhìn dòng nước trắng xóa
bên ngoài. Bỗng dưng tôi nhớ m~ khủng khiếp. Tôi lang
thang trên bãi tha ma giữa đồng vắng. Những nấm mộ nhấp
nhô giữa những bụi dứa gai, những lùm dây mây và những
ngọn cỏ leo đỏ như tiết lợn. Tôi lượm từng thoi vàng bẹp
dúm giữa cỏ, giữa đất ướt. Tôi dẫm lên những mảnh ván-
thôi... Mẹ ơi... Nắm hương bén lửa bốc cháy đùng đùng.
Chắc mẹ đã nghe tôi gọi.
- Kìa!...
Tên tù binh chợt thốt tiếng kêu. Hắn chỉ vào tay tôi.
Điếu thuốc cháy bỏng lớp da ngoài. Tôi ném mắu thuốc ra
ngoài mưa, nhìn hắn:
- Tên gì?
- Dạ, thưa ông, con tên Huỳnh Hoài An, mười tám
tuổi
Quê quán?
Dạ, Gia định, Sài gòn.
Nghề nghiệp?
- Thưa ông, Ba con dạy trung học, Má có cửa hàng
may.
- Thợ may?
- Thưa ông, chuyên may đồ cho phụ nữ.
Tại sao đi lính?
- Dạ thưa ông...
Hắn hớt hải nhìn tôi, rồi cắm mặt xuống bàn.
- Tại sao?
Dạ, thưa... vì nhiệm vụ với quốc gia...
Cái gì?
- Dạ... thưa... vì lý tưởng quốc gia...
Tói nhớ đến gã đàn ông đeo kính gọng vàng, trắng như
con dế nhốt trong bóng tối: "Lý tưởng, đó đơn giản là Bánh
thánh phát cho lũ trẻ vị thành niên. Muốn chúng mặc áo
thầy tu, mặc áo lính hay áo cảnh sát quốc gia cũng chỉ cần
dùng bấy nhiêu từ..." ông ta cười. Nụ cười của kẻ quyền uy,
khả Oá một cách đáng khâm phục! Dù sao tôi cũng phải cảm
ơn chuyến tàu hôm ấy...
Tên tù binh vẫn nhìn lôi, càng thẳng chờ cuộc hỏi
cung.
Tôi mỉm cười:
Lý tưởng?
- Dạ...
- Bảo vệ non sông gấm vóc?
Dạ... thưa...
- Làm tròn nhiệm vụ của người thanh niên yêu nước,
xứng đáng với dòng dõi Lạc Hồng?
~ Dạ... thưa ông...
Ta thề hi sinh tới giọt máu cuối cùng phụng sự cho
TỔ quốc?
Dạ...
Hắn dạ nhịp sau mỗi câu tôi nói, mặt mỗi lúc mỗi tái
xanh. Hai tay hắn run như giẻ. Hai chân hắn cũng bắt đầu
run. Hắn không hiểu thằng Việt cộng này đang giương ra
thứ bẫy nào để đưa hắn tới đoạn đầu đài hay giá treo cổ...
Tròng mắt hắn lạc đi.
Tôi hỏi tiếp:
- Thờ thánh thần nào?
Hắn hổn hển đáp:
- Dạ... thưa ông... nhà con không theo đạo...
Môi hắn xệch đi, mếu:
- Dạ, thưa ông... Má con chỉ ăn chay niệm Phật ngày
mùng một và ngày rằm...
Tôi lắc đầu:
Tao hỏi: thờ thánh thần nào?
Hắn chắp hai tay vái:
- Dạ, thưa... xin ông tha cho...
Tôi bảo:
- Đừng có khóc... Không ai ăn thịt mày mà sợ! Nghe
tao nói đây này: Chúng tao thờ một chủ thuyết. Chúng mày
cũng thờ một chủ thuyết. Vị thần chúng tao thờ tên là Mác,
mũi lõ, mắt xanh, râu rậm. Còn vị thần chúng mày thờ tên là
gì? Tóc thưa hay tóc rậm? Trán hói hay trán vuông? Để râu
dê hay râu cáo?
Đến lúc ấy, hắn bắt đầu hoàn hồn. Hắn thở dốc từng
cơn:
- Dạ, thưa ông, không có...
Tôi nhăn mặt:
- Sao không? Lý tưởng quốc gia của chúng mày kém
thế Không tìm được vị thần nào mà tôn ngôi à?
Hắn lắp bắp:
- Dạ, xin ông tha lỗi, con không hiểu...
Tôi nói:
Đừng vờ, nhất định phải có...
Hắn đáp hối hả:
- Thưa óng, dạo học Trung học, con có nghe các thầy
nói tới ông Mác, với lại ông He-ghen, ông Lăng, ông Nít...
Nhĩeu lắm. Nhưng con không ưa môn triết nên không tò
mò...
Tói cười:
- Ghê thế cơ à?... Chúng mày thờ đa thần... Cái lý
tưởng quốc gia của chúng mày tham lam quá!... Tại sao mày
bị bắt?
- Dạ, thưa ông, chúng con bị phục kích. Con là lính
tháp tùng cho trung tá Huyên.
- A, thằng lùn tóc muối tiêu. Thủ lĩnh của tụi mày?
Dạ.
- Mày ra trận lần thú mấy rồi?
Thưa ông, lần thứ hai.
- Lần thứ nhất, mày bắn được mấy thằng Việt cộng?
- Dạ, thưa...
- CÓ khi tao chạm trán mày trận ấy... CÓ khi chính
viên đạn của mày nghiến sứt vành tai tao đây này, thấy
chưa?...
Tôi chìa cho hắn vành tai phải bị mảnh pháo tiện cụt
một mẩu. Mặt tên tù tái xanh, nước mắt rân rấn quanh
tròng:
- Dạ... Con làm sao bắn trúng ông được ạ!
Sao không?
Thưa ông... vì lần ấy, nghe súng nổ, thấy xung quanh
nhiều người chết quá nên con chúi đầu xuống đất, không
dám ngẩng lên.
- Không dám ngẩng lên à?... Đúng thế thật... Nhưng
lần thứ hai, lần thứ ba mày sẽ ngẩng lên... Và lần thứ tư mày
sẽ ngắm trúng họng tao mà bắn... Đúng không?
Hắn run rẩy:
Thưa ông...
Tôi nhìn hắn, mỉm cười. Lần nữa, tôi thấy hắn ngần
mặt ra và hắn giống cô bé Hòa như đúc! CÓ lẽ hắn không
hiểu lôi là người hay quỉ. Các thớ thịt trên khuôn mặt hắn
cứng đờ. CÓ lẽ đầu óc hắn rối tung và hắn không thể tìm
được lời giải. Tôi khoái chí nhìn hắn:
Đừng sợ. Bắn giết là công việc của chiến tranh. Bước
ra trận tao cũng bắn tụi mày như bắn lũ sâm cầm, không ghê
tay... CÓ lẽ vì tụi mày thờ đám thần khác với thần của chúng
tao nên mới khổ vậy. Hay mày về nói với lão trung tá Huyên
xin chính phủ chúng mày đổi sang thờ thần Mác?
Tên tù binh há miệng nhìn tôi chằm chằm. Hoặc là hắn
nghi tôi điên. Hoặc hắn sắp điên.
Tôi nói tiếp:
Hoặc giả chúng tao với bọn mày sẽ chọn chung một
ông nào đó. Ví như ông Thổ địa, cãi vị bụng phệ vẫn ngồi
bệt Ơû dưới góc nhà ấy... Không ai chém giết nhau vì một ông
thần cỏn con như thế...
Tên tù há mãi miệng ra mới nói được vài lời:
Con xin ông... tha tội... Con chẳng hiểu ông nói gì...
con xin...
Tôi cười phá lên, bảo:
- Không có gì đâu?... Tao đùa tí chơi... Về đi...
Hắn đứng lên, chắp hai tay vái:
Thưa ông, con xin phép...
Hắn lùi ra sau vài bước. Khi tới cửa, hắn quay lưng
bước nhanh như chuột. ánh mắt hắn nhìn tôi hãi hùng như
ánh mắt đứa bé gái nhìn thấy con yêu râu xanh!


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Mưa vẫn rơi sầm sập trút thác ngoài trời. Các mái lán
rung rào rào dưới mưa rơi. Nước hắt bụi vào tận nơi tôi ngồi
lạnh lạnh, tê tê. Tôi nhìn màn mưa trắng xóa, thấy núi rừng
trùng điệp lô xô, mặt trận nọ nối tiếp mặt trận kia, hun hút
tới chân trời.
Trên vùng đất mênh mông ấy, lúc nhúc những binh
đoàn như kiến đen và kiến đỏ, kiến gió và kiến lửa, kiến ong
và kiến mối... lúc nhúc ngoi lội giữa bùn, giữa nước, giữa
đồng khô nắng cháy...
Cả hai bên đều hô hét, cả hai bên đều điên cuồng chém
giết, - cả hai bên đều rú lên khoái trá khi máu đối phương
phụt khỏi tim, óc đối phương vọt khỏi não, - cả hai bên đều
quằn quại như sâu bọ dưới những làn đạn lửa, - phần sống
sót lê khỏi chiến địa để làm mồi dự trữ cho các mặt trận tiếp
theo, - phần đã chết tự hiến nốt hình hài cho các loài ác thú
và dòi bọ.
Cả hai bên đều yên trí là mình đã hi sinh xứng đáng cho
lý tưởng. Than ôi, họ có chung một nòi giống, con của mẹ
âu cơ và cha Lạc Long Quân. HỌ là những hữu thể được tái
sinh trong cùng một bão thai - không xứ sở nào có được cái
huyền thoại mê ly đến thế!...
Tôi đã sốt liền một tuần không ăn uống. Y tá chuyền
nước muối đẳng-trương và đường Glu-cô trực tiếp vào
mạch. Sang ngày thứ tám, dứt cơn sốt, tôi đòi ăn cháo. Mưa
đã tạnh. Buổi chiều nắng ấm, tôi chống gậy mò ra cớa ngồi
chơi.
Rừng đẹp não lòng. Tôi sung sướng vì mình còn sống,
bắt đầu thả cơn mơ mộng lãng đãng dọc theo đường quê, từ
bờ đê chạy thõng xuống ánh đồng, nghe tiếng chim vít vịt
lưng trời gom nhặt lại những mình thời gian đã mất, uống
nước trong với tí tẹo trời lơ khuấy trong đáy cốc... CÓ thể tôi
sẽ mọc lên như nhành mạ sót, lay lắt giữa khí trời thù địch
và những cơn bão rớt nhưng sẽ còn trổ bông?...
- Đề nghi thủ trưởng vào lán ngay.
Cậu y tá miệng nói, tay lôi tôi vào giường, bắt tôi nằm
ngoan dưới tấm chăn. Nhưng, thân thể vừa ấm, tôi lại chìm
vào cơn mê buốt lạnh.
Tôi thấy Hoa. CÔ đang ăn nằm với một gã đàn ông đen
sì, dị dạng. CÓ kêu ú ớ, mặt tái nhợt như kẻ chết trôi. Gã
đàn ông bóp nặn cô với đôi cánh tay gầy, lông lá. Tóc gã
dựng đứng. Tấm thân gã cử động khó nhọc và quái dị như
con đười ươi. Tôi thấy gã nhìn tôi, nhăn nhở cười, phơi bày
cuộc chiến thắng bỉ ổi một cách hê hả...
Tim tôi nhói đau vì ước muốn trả thù. Tôi định hél to
một tiếng. Nhưng cổ họng tôi bỏng rát. Rồi bỗng dưng tôi
tan biến. Tôi thấy một cảm giác tan nhuyễn lạ kỳ khi xương
thịt mình hóa thành làn nước, lan qua đồng cỏ, hòa nhập
vào dòng sông lặng lờ miền quê cũ...
Hôm qua có một tay kẻng trai trên trung đoàn xuống
chơi. ông ta đem theo thư của Lương với một hộp táo tầu
và nửa cây thuốc lá. Trên sư đoàn, Lương đã nghe tin tôi bị
sốt rét ác tính. Anh không xuống được nên nhờ người
chuyển thư và quà. Sú giả của anh hơn tôi một hàm, mười
một tuổi. Rất giỏi tán. Sau bữa cơm, chúng tôi ngồi tán gẫu.
Bất chợt, ông ta khoe bắn một thằng trúng đầu gối trên
đường tới đây.
Tôi hỏi:
Thám báo hả?
ông ta lắc đầu:
- Không, một thằng đào ngũ. Đáng kiếp. Hai phát đạn
của tôi trúng hai đầu gối nó. Thế nào nó cũng phải tháo
khớp háng. Từ ngày vào lính, chưa bao giờ tôi bắn chính xác
như lần này.
Tôi hỏi:
- Thằng ấy nom thế nào?
ông ta kể:
- Nghe giọng biết là dân Hà nam. NÓ còn nhóc lắm...
Chắc bằng tuổi thằng con lớn của tôi. Ngu như bò. HÔ dừng
lại cứ lao đầu chạy tiếp nên mới chết.
Rồi ông ta cười:
Này, cái bật lửa của ông chúa quá. Tụi sĩ quan ngụy
cũng khó kiếm thứ hàng cao cấp thế? Kỷ niệm cho tôi nhé?
- Sẵn sàng.
Tôi ném chiếc bật lửa vào lòng ông ta và nhìn bộ mặt
ông ta rạng rỡ lên.
Các cán bộ cỡ đại đội trở lên phải dự một cuộc tập
huấn. Địa điểm chính xác không biết trước nhưng từng
chặng tập kết có giao liên đưa đường.
Tôi mới ốm dậy nên đề nghị Thái đi thay nhưng cấp
trên không chuẩn y.
Đành vậy. Cậu ở nhà lo cho cơm ngon canh ngọt.
Rỗi rảnh thế này, bọn lính dễ đi sục gái. Không cẩn thận lại
xảy ra chuyện rầy rà...
Trong buổi bàn giao công việc đại đội, tôi bảo Thái
như vậy. Cậu ta đần mặt ra hồi lâu mới nói:
- Anh đi xa, tôi chống chếnh lắm!
Tôi cười:
- Cậu phải nghĩ tới lúc tôi tỏi chứ.
Thái nói:
Đừng.
- Cậu dớ đần. Chuyện đó là thường. Riêng trong đơn
vị này, nó đã xảy ra với một trăm ba mươi bảy người.
Thái lắc đầu:
- Nhưng với mười chín người còn lại thì không.
Tại sao?
- Tại tôi tin thế. Chẳng lẽ trời không có mắt?
- Nếu trời có mắt, con người đã chẳng chém giết nhau!
Thái cúi đầu hạ giọng:
- Anh Quân này, hết chiến tranh rồi mình sẽ sống ra
sao? Nhà tôi chẳng hạn, có mỗi mống em trai thì chết mất,
còn lại một đống em gái... Ai sẽ lấy đàn vịt cái ấy?... Rồi
suất ngày chúng sẽ quàng quạc bên tai tôi...
- Cậu lo xa quá!... Trước mắt hãy lo cho cứng gân cất
mà đi qua cuộc chiến tranh này.
Thái đưa cho tói gói thuốc Vĩnh bảo của một cậu đồng
hương tặng. Thuốc gửi từ miền Bắc vào, qua bao nhiêu ngày
đường nên đã mốc. Thái phải rửa sạch, sao lại. Tuy thế, còn
hơn hút rễ cây hồng-ma hay lá đu đủ.
Tôi đi từ lúc mờ sương, theo đường giao liên tới địa
điểm tập kết thứ nhất. Nghỉ ngơi Ơû đó một đêm, sáng hôm
sau, tôi cùng năm chục người được đưa lên một chiếc ô-tô
tải xuyên rừng. Xe phủ bạt kín mít. Đi hai ngày một đêm thì
tôi điểm tập kết thứ hai.
Đấy là một cánh rừng rậm, lán dựng san sát dưới các
vòm cây. Khói bếp tập thể luồn qua ống dẫn tới tận khe sâu.
Người đi kẻ lại rầm rập, khua bát khua thìa, chuyện trò râm
ran...
Ơû đấy các hội đồng hương tha hồ hoạt động, các cuộc
kết nghĩa vườn đăo được tổ chức quanh các bếp lửa hoặc
ven suối, các buổi biểu diễn văn nghệ tự động liên miên
ngày đêm. Giọng ngâm thơ miền Trung lẫn với giọng quan
họ xứ Bắc. Toàn bọn đàn ông mà cũng rôm rả lắm trờ... Sớm
ngày thứ hai, giao liên tới.
~ Nữ giao liên, anh em ơi...
Ai đó hô to. Thế là bỗng dưng, người trong các lán đổ
ra và tiếng hoan hô vang dậy trời:
- Hoan hô Oâ ô...
- Ha a a...
- HÔ Oâ ô...
CÓ nhiều cậu nhẩy cẫng lên. Cả đám người xao động,
nháo nhác chạy ngược chạy xuôi. Tôi đứng lẫn trong đám
đông, lòng rộn ràng. Mãi mươi phút sau, chúng tôi mới thấy
người con gái ấy. " Cũng bõ công mọi người chờ đón..." CÔ
xinh xắn, tuy không đẹp. Da trắng xanh, tóc đen, mắt đen,
răng khểnh. CÔ lại nhỏ bé, có vẻ yếu ớt.
Tất cả chúng tôi xô ra, ai cũng cố nói với cô một câu,
chạm vào vạt áo đen mềm hay mái tóc xõa ngang lưng. CÔ
giao liên cười với tất cả, gật đầu chào tất cả bằng thái độ
bình tĩnh, nhẫn nại.
Chắc chắn cô đã quen với cảnh rồ dại của đám đàn ông
bi nhốt lâu trong rừng.
Vị nữ thần xinh xắn ấy đưa tới một đoạn thuyền. Chúng
tôi theo cô, vượt rừng tới ngọn nguồn một con sông xanh
biếc.
Mười hai chiếc thuyền, mỗi thuyền chở mười hai người
vừa tròn một tiểu đội. Chúng tôi đã được phiên chế rất
nhanh trên đường đi. Nữ giao liên đi thuyền đầu tiên, cùng
với ban chỉ huy. May sao, tôi không được bầu vào ban chỉ
huy ấy. Khi đoàn thuyền bắt đầu xuôi, bóng người con gái
đứng nơi mũi thuyền khắc vòi vọi giữa khung trời. Trong b~
bà ba lụa đen mềm mại, trông cô xinh đẹp và mời gọi. Ơ
những thuyền đi sau, tôi nghe tiếng thở dài. Một giọng:
- Làm chỉ huy, sướng thật!
Một giọng khác:
Được ngồi thuyền ấy, chỉ ngửi mùi cũng đớ nhớ!
Giọng kia:
- Gió ơi, hãy đem mùi thơm của nàng chia đều cho
chúng anh.
Giọng thứ hai:
- Cậu ca cải lương đó à?
Giọng đáp lại:
- Cải lương gì?... Đúng bỏ mẹ còn làm bộ!...
Vài tiếng cười khúc khích. Sau đó là yên lặng. Những
gương mặt đờ đẫn.
Hai bên bờ, núi rừng xanh thẳm chầm chậm trôi. Tiếng
mái chèo khua buồn tẻ. Cứ ba giờ, thay chèo một lần. Người
dẫn thuyền chỉ trực tiếp chèo những đoạn lắm ghềnh hoặc
nhiều mỏm đá. Chúng tôi tựa vào nhau, ngủ gà gật, khi thời
gian trôi cùng với con thuyền, đưa chúng tôi về đồng bằng.
Tôi tỉnh ngủ vào lúc trời chiều. Mặt trời Ơû sau lưng chúng
tôi, nơi đuôi thuyền, dập dềnh giữa sóng nước. Trước mặt
tôi, Ơû hai bên bờ, mênh mông cát đỏ...
'! Xứ Chàm... Mình đã gặp trên đường tới K..." Tôi chợt
nhớ tới chàng Vân kiều Te Chiêng. Anh ta đái tồ tồ ngay
bên cạnh tôi và tiếng nước tiểu róc trong buổi sáng hôm ấy
đã cứu tôi khỏi các ám ảnh... Miền cát đỏ... Tôi ngồi thẳng
dậy, sửng sốt nhìn. Các triền cát chạy dọc theo con sông,
miên man, với những lượn sóng mờ và các đám cỏ xam xám.
Giờ này vào lúc hoàng hôn, màu cát ngả sang tím nhợt
như cánh hoa bèo. Giờ này vào lúc hoàng hôn, nó không ám
ảnh tôi bởi các bóng ma quá vãng mà trải trước mắt tôi nỗi
sầu thảm mênh mông. Miền cát đỏ đã nguội đi hơi nóng mặt
trời, ngọn lửa thù hận, các cuồng vọng và những đam mê.
Vùng cỏ xám mờ dần trong hơi thở miên man của đất đai,
không khắc khoải, không chờ đợi.
Tôi nghe tiếng nức nở. Phải chăng ấy là tiếng sóng vỗ
lúc chiều hôm?... Một giai điệu u hoài văng vẳng. Đêm đen,
với ngọn lửa lập lòe bên chân thành ốc. Ai đó đang ngồi, cái
bóng âm thầm, câm kín kề một bên mũi giáo. ánh lửa soi
xanh rờn giọt nước mất đọng nơi khóe mắt, chưa kịp rơi.
- Ai kia?
- Ta
ông là ai?
- Ta là ông tổ bảy đời của con.
- Tôi không quen ông.
Phải, con người không thể quen tổ tiên của chính
mình.
Cái bóng ngẩng lên. Giọt nước mắt lăn khỏi khóe mắt,
từ tử bò thành dòng trên gò má. Gương mặt ấy dường như
tôi đã gặp đâu đó trong cuộc hành trình của đời mình. Vừa
quen, vừa lạ. Nhất là nét cong cuối tràng măy và những nếp
nhăn trên trán.
Tôi hỏi:
ông cần gì?
- Ta phải gặp con.
- Để làm gì vậy?
Con đã dựng ta khỏi mồ, vì lòng hờn oán.
Vâng... CÓ thể...
- Con đã từng tới vùng đất này, đã bị bóng ma Chàm
rượt đuổi, đã sợ hãi và nguyền rủa chúng ta.
- Phải.
- Đừng thế.
- Tội ác đó có thật. Dù chôn dưới bảy tầng đất đen, sự
thật vẫn là sự thật.
- Phải.
Nếu vậy, không còn gì để nói.
còn...
Bóng ma ngẩng lên nhìn tôi. Một cái nhìn đắm đuối.
Tôi lạnh toát sống lưng. Tôi không muốn mình bị chinh
phục bởi một hồn ma. Nhưng rô ràng, trong cái nhìn u buồn
đau đáu kia, ẩn chứa một tình yêu không cưỡng chế. Bóng
ma khẽ nhếch môi cười, hướng đôi mắt xa vắng vào mắt tôi:
- Còn một sự thật nữa...
Tôi cau có, gằn giọng:
Vậy thì ông nói đi.
Bóng ma cười buồn:
- CÓ một con hồ xa vắng, có một dòng sông xa vắng, có
cánh rừng xa vắng...
Tôi gắt:
ông nói dài dòng tôi không hiểu?
Bóng ma cười hiền:
- Rồi con sẽ hiểu... Tít xa kia, nơi phương Bắc... CÓ
một con hồ xanh biếc, có một dòng sông, một cánh rừng và
những đồng lúa tốt... ấy là quê hương ta, và quê hương xưa
cũ của con. ông tổ bảy mươi đời của ta đã sinh ra ở đó, đã
lấy vợ, đẻ con, gây dựng cơ đồ... Rồi bọn rợ phương Bắc tới
cướp đất, chiếm nhà, đánh bạt tổ tiên ta khỏi vùng quê ấy...
TỔ tiên của ta phải ra đi...
Tôi nói:
Tôi hiểu rồi. Bọn rợ phương Bắc rượt đuổi các ông.
Và các ông lại tiến về phương Nam chinh phạt. Một vòng
tròn luẩn quẩn của tội ác.
Bóng ma nói:
- Lịch sử đầy tội ác.
Tôi hỏi:
- Tại sao các ông không chống lại nó?
Bóng ma lắc đầu:
- Con người không chống được số phận của mình.
Tôi nói:
- Chính các ông đã truyền lại cho chúng tôi câu nói:
SỐ bảy, người ba.
Bóng ma cười:
- Phải, đấy là điều ta muốn nói.
Tôi hỏi:
- Tại sao không làm mà lại nói?
Bóng ma đáp:
- Thời ta sống, người ta đâm chém nhau bằng gươm
giáo. Muốn chuyển một bức thư, ngựa chạy cả tuần trăng.
Con người bị cắt chia trong các khu vườn tối tăm, man dã.
Chúng ta sống giữa u mê như bầy thú mù lòa, chúng ta
không thể vượt qua những lũy tre đầy gai nhọn tìm vùng đất
mới.
Tôi nói:
- Các ông để lại cho chúng tôi một chiếc túi rỗng.
Bóng ma đáp:

Tôi hỏi:
Cãi gì?
Bóng ma bảo:
- Những khải hoàn môn.
Tôi cười sằng sặc:
Khải hoàn môn của chúng tôi bây giờ còn to hơn.
Bóng ma nói:
- Kiêu ngạo là thói thường của lũ trẻ đầu xanh... Con
hãy nhìn ta xem: ta không có giày, có mũ, có súng. Chân ta
đi đất, vai ta đeo ruột tượng đựng lương khô - Lương khô
ấy là bắp rang trong nồi đất. Cây giáo của ta rèn trong bếp
lửa làng quê... Chúng ta trần trụi. Và chúng ta đã dựng cho
các con những khải hoàn môn bằng xương máu của chính
mình.
Tôi nói:
- Cóc cần những khải hoàn môn của các ông... Cóc cần
cả ông nữa... Sao ông cứ ám tôi?... Tôi chán lắm rồi...
Bóng ma đáp:
Con là giọt máu của ta. Dù luân lạc qua bao đời, nó
vẫn là của ta... Đừng cáu bẳn... Đừng bội bạc... Trước kia khi
đã từng oán hận tổ tiên như vậy... Nhưng con ơi, chúng ta
không lựa chọn được lịch sử cho mình...
Tôi thấy ngột ngạt. Dường như tôi sắp khóc. Tôi hét
lên:
- Tôi cóc cần!
Bóng ma vẫn nhìn tôi, không nổi giận, không an ủi:
- Người ta không nên bước vào đời với một cái đãy
rỗng không. Nhưng cũng chẳng nên thò tay bốc gạo trong
đãy ăn mà không nghĩ cách đất lụa may một chiếc đãy mới.
Kẻ không có gia tài đáng tủi nhục còn kẻ không lạo được
gia tài cho con cháu thì cần khinh bỉ.
Tôi nhìn chăm chăm vào đôi mắt xa vời của hồn ma,
hoang mang:
ông đinh nói gì?... ông còn muốn gì ở chúng tôi?
Bóng ma nói:
Chúng ta đã để lại cho con những khải hoàn môn.
Sao các con không dựng lấy những khải hoàn môn của chính
mình?...
Tôi nghĩ "A... thật hàm hồ... cái ông cụ ông kị này...
Chẳng lẽ ông ấy không thấy chúng tôi đang làm gì hay
sao?... Chẳng lẽ ông không thấy bao nhiêu lớp người đã ra
đi, và đã gục xuống, và đã hát khúc khải hoàn... Tất cả đang
tiến về phía cái nửa vòng tròn huyền diệu của chân trời
tương lai?" Nhưng lưỡi tôi bỗng cứng ngắc, không thốt lên
lời
Bóng ma nhìn tôi giờ lâu, âu yếm, thắm thiết. Một cái
nhìn vừa khoan dung vừa trông đợi. Một ánh mắt đau đáu,
vượt qua thăm thẳm thời gian, vượt qua mọi cách biệt thế
hệ, vượt qua các triều đại và các nền văn minh... Đôi bàn
chân lấm đất, bên trên quấn xà cạp. BỘ áo quần bằng vải thô
dơ dáy. Một mũi giáo và cái ruột tượng đựng ngô rang... ôi
những con người đã dựng lên các khải hoãn môn... TỔ tiên
đau khổ của tôi...
- Này, lại ngủ hả?...
Tôi giật mình quay lại: Không phải ngọn lửa chập chờn
bên chân thành cớ mà là bộ mặt tí tởn của anh chàng ở B9
mới ra. Anh ta cười: '
Nghĩ gì mà ngồi ngây như tượng?... Nhìn kia kìa...
Anh ta chỉ cho tôi. Trên chiếc thuyền chỉ huy, cớ giao
liên đang ngủ, tựa đầu vào vai một tay trung tá. ông này vừa
thích vừa sợ xung quanh di nghị nên ngồi cứng ngắc như
tượng, mắt nhìn về phía trước.
Anh chàng ngồi bên cười toe toét, bảo tôi:
Đằng ấy muốn được thay vi trí không?
Tôi đáp cộc lốc:
- Không!
Anh ta nhăn mũi:
Sĩ diện!
Tôi lặng im không tranh cãi.
Mặt trời chìm xuống nước, chỉ còn nhô lên cái mí đỏ
như vành móng tay. ánh dương rực rỡ hắt lên mặt sông.
Phía trước, những giải mây xám đang chập chờn trên bờ cỏ.
Các triền cát ngả sang màu tím thẫm. Đấy là màu của buổi
chiều hoang vắng xưa, khi tiếng tiêu cô độc lướt qua bãi
chiến trường ngổn ngang những thây người cùng thây
ngựa...


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Lương đã chờ tôi Ơû đia điểm tập huấn. Anh tới đây một
tuần để chuẩn bi nội dung. Tóc anh bạc một món bên thái
dương. Đêm đầu tiên có văn công quân khu phục vụ nên
không ai còn tâm trí nghĩ tới chuyện nào khác. Tôi cũng thế,
tôi quên Lương ngay khi trước sân khấu hội trường, - đào
ngầm trong lòng đất, - người ta treo lên hai tấm màn đỏ.
Từ sau tấm màn ấy vọng ra tiếng vĩ cầm sai lạc và tiếng đàn
ác-cóóc-đê ông vụng dại oàm oạp như ếch kêu nhưng chúng
làm cho tim tôi như đứng lại cùng những hồi ức học trò,
hi vọng được tái sinh.
Tôi đứng đần độn trong một xó rừng, không ai hay biết,
nghe đám nhạc công thll đây đàn, tấu những khúc nhạc lộn
xộn và đôi khi có tiếng cười lanh lảnh của một người con
gái. Tiếng cười ấy làm tôi thèm muốn chết được gặp cô.
Nhưng nỗi sợ hãi cầm chân tôi tại chỗ.
Rồi một anh chàng đi qua, kéo vai tôi:
- Vào đi sắp tới giờ biểu điển.
Tôi đi theo anh ta, như bè nứa bi đẩy ra dòng nước.
Những bài hát và điệu múa nối tiếp ra sao, tôi không còn
nhớ. Tôi dán mắt vào những gương mặt hồng hào, tươi đẹp,
những tấm thân quyến rũ của cả đám đàn ông lẫn đàn bà
trên sân diễn. Tôi chẳng nghĩ gì. Tôi bị hút hồn. Như kẻ lạc
rừng đêm, bước về phía ánh lửa, như kẻ đi biển hướng về
mỏm núi, tôi bị thôi miên bởi vẻ đẹp từ lâu thiếu vắng và
quên lãng. Nụ cười ấp ánh, cái liếc mắt mồi chài, cánh tay
trắng phau, lườn lưng mềm đéo và dính hút như nhựa đánh
bả, những ngôi sao trong suối tóc đen, giai điệu phiêu du
của ái tình và tuổi trẻ, cặp mông Thi Mầu, giải lụa màu
thiên thanh phấp phới bay những bông hoa dại khờ đính
trên gấu váy...
Những tràng vỗ tay ran tứ phía, lan truyền như sóng.
Tôi cũng vỗ tay thật to. VỖ mãi, mãi, mãi... Rồi một người
giật tay áo tôi:
- Cậu điên à?...
Tôi không trả lời, ngơ ngẩn nhìn...
Anh chàng nhăn nhở cười vào mũi tôi:
- Máu quá phải không?
Tôi gật đầu đáp bừa:
- ừ, máu.
Anh ta cười nhăn:
Máu cũng phải từ từ không họ cười cho... Sắp chỉnh
huấn rồi, thằng nào thù nó để ý thì sinh lắm chuyện.
Tôi chỉ ư hữ, gật gù, anh kia cũng gật gù nói tiếp:
- Nghĩ đời chán bỏ mẹ, máu một tí cũng không dám...
Tôi định nói với anh chàng điều gì đó nhưng Lương đã
đi tới Đầu anh luôn luôn thẳng đứng trên cần cổ cũng
thẳng đứng và vẻ mặt trầm tĩnh. Anh bảo:
Vê phòng tôi đi.
Tôi chào anh chàng vui tính, đi theo Lương. Chúng tôi
đi qua những đường môn, chằng chịt đan chéo nhau như
một tấm mạng nhện khổng lồ trên mặt đất phủ đầy lá mục
và lửa lân tinh.
Các đám người tấp nập qua lại, ánh đèn pin loang
loáng, các sơ đồ doanh trại cầm tay, tiếng hỏi đường, tiếng
tán dóc, tiếng cười, tiếng xì xầm trò chuyện tạo thành bản
hòa tấu của cả bày ong đêm.
Lương hỏi:
- Đoàn nãy diễn hay không?
Tôi đáp:
- Hay.
Anh pha chè đen, khoắng hai thìa đường và đặt trước
mặt mời tôi:
- Uống đi.
Chờ tôi uống hết cốc nước, anh mới nói:
- Tôi không đinh báo tin này cho cậu... Nhưng trước
sau rồi cũng biết.
Tôi nhìn vào mặt anh. Lập tức, đôi mắt anh sập xuống.
Tôi hiểu rằng có cái gì đó trọng đại. Tôi hỏi:
- Anh định điều tôi sang một đơn vi mới phải không?
Không.
- Sắp có tai biến trong sư đoàn mình?
- Không.
Tôi không hỏi nữa, ngồi chờ... Một lát, trong tầm
nhìn xa xăm và trong tiếng thở dài, Lương khe khẽ:
- Biền chết rồi.
Tôi lặng im.
Anh nói tiếp, chậm rãi:
lần, đạp mảnh pháo. Vết thương nhiễm trùng uốn ván...
Tôi đứng lên:
Anh dẫn tôi đi gặp thằng Húc. Tôi muốn biết nó chết
như thế nào.
Húc không về tập huấn. Đơn vị đặc nhiệm được miễn
vì nhận chỉ tiêu đột xuất. Chúng ta sấp mở chiến dịch lớn.
Trên bổ xung cho Húc hai đại đội. Giờ cậu ấy là tiểu đoàn
trưởng, vừa được phong hàm...
Tôi hỏi:
Chỉ tiêu mới?... Bao nhiêu? Một vạn hay mười vạn
chiếc hòm?
Lương ngồi im, cái đầu cứng đơ trên cần cổ cúng đơ.
Tôi biết anh không nói. Không bao giờ nói...
Trong óc tôi diễu qua đoàn người. Đoàn Vân kiều cõng
những chiếc quan tài ra mặt trận, bóng họ in trên đường
diềm núi trong buổi rạng đông xanh rờn. Rồi những đoàn xe
tải phủ kín bạt chở những chiếc hòm đó xuyên rừng, xuyên
núi, lắc lư. Những chiếc quan tài, như những con mắt rỗng
không, những túi tiền rỗng không, chờ đợi...
Lương vẫn ngồi lặng lẽ. Tôi bỗng sợ hãi anh:
- Anh Lương, chẳng lẽ anh không nói gì với tôi?
Lương im lặng.
Tôi gọi giật giọng:
Anh Lương!
Lương ngẩng lên:
Mình buồn lắm, Quân ạ... Nhưng chiến tranh là
chiến tranh. Và sứ mạng lịch sử đã trao cho nhân dân
mình...
"Câu nói ấy thì tôi đã nghe hàng vạn lần trong các buổi
phát thanh... hàng vạn". Tôi chào anh, đi về. Hình như anh
định đứng dậy tiễn tôi, nhưng tôi đi quá nhanh, tôi không
nhìn anh. Người bạn thời thơ ấu.
Chúng tôi đã cùng nhau nhảy xuống sông làm ánh
dương đọng trên mặt nước vỡ thành trăm ngàn mảnh, lấy
cọng cỏ đo chim nhau xem thằng nào dài hơn. Cả Lương, cả
Biền, cả tôi đều có con cu bằng quả ớt. Thời ấu thơ của tình
thân ái... thời ấu thơ bình đẳng!
Những con chim đa tình gù suốt những trưa hè trên
ngọn tre. Những con cào cào nhảy chanh chách trong đám
cỏ ven đê. Những người đàn bà da thịt phốp pháp ví von hát
ghẹo nhau, đuổi rượt nhau, ôm nhau lăn trên bờ ruộng
khiến lũ trẻ chúng tôi tràn đầy sung sướng... CÓ con diều
neo giữa khoảng trời lơ, khiến những giấc mơ cứ muôn đời
lơ lửng trong thinh không... Còn mặt đất lầy bùn, lầy thịt
người thối rữa. Những con mắt thối rữa cho chim ác là
khoét. Những cẳng chân cẳng tay thối rữa cho con lợn lòi
khốn quẫn sục mõm vào. Những tâm hồn thối rữa vì thói
quen chém giết, vì lạc thú mò mẫm chốn chuồng bò, vì
chứng hoại thư cấy vào lòng trắc ẩn...
. "Thằng khốn kiếp, nó đã không chiu nghe lời
mình...'! Tôi nhớ buổi sáng Biền tiễn tôi đi. Giá nó nghe tôi
trở về lăng làm sống lại chàng trai má hồng gánh một ngày
trên trăm gánh lúa!... Giá mà... Đấy là câu nói đặt giữa hai
bờ tiếc thương và tuyệt vọng. Giá mà... Chính tôi cũng
không thể đặt cho mình hai từ ấy.
Trong cái đêm xuân mát rượi ven sông, tiếng cá quẫy và
tiếng cỏ rì rào làm cho bầu trời trở nên gần gũi hơn, có ba
thằng trai làng đã nằm gối đầu lên cánh tay, mơ mộng. Các
giấc mơ như lũ bọ-gậy cung quăng bơi lội. Lũ bọ-gậy ấy đã
trôi tuột vào cái mồm của một con thủy tức, - ấy là giấc mơ
kì vĩ của đám đông, - giấc mơ hiển thánh giữa cung đình
toàn nhân loại.
Ta đã để cho các con những khải hoàn môn...
Tiếng nói của hồn ma xưa vọng khắp cánh rừng, lẫn
tiếng lá, lăn tiếng thác. Tôi ngồi xuống bên chân thành ốc,
nghe tiếng tiêu u hoài. ông tố tôi gác ngọn giáo, ngồi bên
tói Từ đám xà-cạp quấn quanh hai bắp chân voi sưng
phồng, bốc lên mùi mồ hôi lưu cữu. Những giọt nước mắt
xanh rờn đọng trên mi mắt ông. Hai bên thái đương, hai bên
mang tai ông lún phún từng đám rêu già.
Tôi hỏi:
- Sao lúc nào ông cũng khóc? Chúng tôi đâu có cần
thêm nước mắt của ~c hồn ma?...
ông tổ tôi đáp:
Ta khóc cho các con.
Tôi bảo:
ông nên khóc cho hai bắp chân voi kia, cho ngọn
giáo kia, cho cái túi ngô rang lưu cữu kia...
Bóng ma gật đầu:
ờ, nhưng chúng ta đã đuổi quân của Thành cát Tư
hãn.
Tôi bảo:
Khải hoàn môn ấy cũ rồi. NÓ cũng sẽ mục nát như
những mái chùa thời ấy.
Bóng ma nói:
Con đừng bội bạc. Không có cái khải hoàn môn cũ
kỹ ấy, đầu gối các con sẽ nhũn như bông trước lũ giặc hôm
nay.
Tôi bảo:
- Nhưng thời ấy, loài người không biết tới tên tuổi đất
nước này.
Những giọt nước mắt xanh lóng lánh trong đêm nối
nhau lăn. Bóng ma cúi đầu nức nở:
- Giọt máu phiêu bạt của ta... Ta thương con...
Tôi im lặng, nghe tiếng núc nở vang trong đêm. Hồi lâu
bóng ma ngước nhìn tôi với đôi mắt u uẩn:
- Chúng ta đánh giặc để giữ bàn thờ tiên tổ, chúng ta
đánh giặc để bảo tồn nòi giống, chúng ta không đánh giặc vì
tiếng tung hô của ngoại nhân...
Một tiếng thở dài tan trong gió. Rồi đôi chân voi sưng
phù lê vào lối mòn. Mùi mồ hôi lưu cữu bay lại. Rừng đêm
khép dần bóng ma xưa. Chỉ còn lại với tôi ngọn lửa chập
chờn hư ảo, tỏa một thứ ánh sáng xanh trong suốt, tái tê.
- Ai?... Đứng lại.
Tiếng quát.
Tôi nói:
Chim én tới mùa xuân.
Tiếng nói diu lại:
Sao đồng chí đi khuya thế
- Tôi từ chỗ đồng hương về.
- Về ngủ đi. Mai phải lên hội trường sớm.
Rồi tiếng chân xa dần trong rừng đêm. Cây đèn trong
tay tôi vừa lúc hết pin. MÒ mẫm mãi tôi mới về tới chỗ ngủ.
Bốn xung quanh tiếng ngáy vang lên. Tôi rúc đầu trong
chăn.
Người nằm cạnh tôi mắc chứng đái dầm. Sáng ra một
góc chăn tôi ướt sũng, bốc mùi khai. Anh ta không thèm xin
lỗi tôi mà cỡn càu nhàu:
- Hỏng mẹ nó máy rồi... Thế này về làng, ớ'... con nào
nó lấy!
Tôi lẳng lặng ôm chăn xuống suối giặt. Anh ta cũng ôm
mớ quần áo bẩn và chăn xuống theo. Trời rét, sương mù bay
cuồn cuộn. Nước giá như kim châm vào tay, hơi lạnh thốc
vào mặt. Người đàn ông đái dầm bị trượt chân, ướt cả hai
ống quần. Anh ta vừa vò quần áo vừa run lập cập rồi bỗng
dưng quay sang tôi gây sự:
Sao ông không thèm nói với tôi?... Kiêu thế?... ông
muốn khinh tôi hả?...
Tôi ném chiếc chăn ướt xuống chân, quay sang ước
lượng: !'Từ đây tới đó đúng ba bước chân, thuận một cú đá.
Chỉ một tích tắc, mày sẽ được bơi lóp ngóp giữa dòng, tha
hồ mát..." BỘ mặt anh ta tái rét, một điểm tím tụ trên sơn
căn. Cái cần cổ vươn ra như cần cổ một con gà chọi về già
trên cổ áo thu đông đã sờn cũ. Tôi chợt rùng mình "Mặt ám
thế kia, chắc sắp tỏi rồi... Không thoát khỏi trận tới." Tôi đã
hình dung ra chiến dịch mới qua không khí câng thẳng của
những bài tập chỉnh quân. Một ngày mai... thoáng liếc nhin
gương mặt tái xanh, tôi thấy hai hố mắt rữa nát giữa bùn
vùng chiến địa. Tôi thu tay về, cúi xuống vò tiếp chiếc chăn
đù Còn anh ta vẫn vênh váo nhìn tôi, miệng lằm bằm:
- Tưởng định gây chuyện với đây?...


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Chiến dịch Ngôi sao Bắc đẩu.
Ngôi sao Bắc đầu đã cháy sáng nhưng tiểu đoàn bị xóa
sổ Tôi còn mười hai lính.
Sau bốn mươi tám giờ, quân số được bổ sung. Lính tử
miền Bắc vào ào ào như thác lũ. Cơ man nào là con cháu
của nòi giống Lạc Hồng.
Chúng tôi tiến về phương Nam.
Chân trời đỏ rực lửa.
- Pằng pằng pằng... pằng pằng...
Pằng pằng pằng... pằng pằng pằng...
Tôi đứng bật dậy:
Cậu nào bắn ẩu thế?
Tạo đứng lên theo:
- Thủ trưởng để em ra xem sao.
Cậu ta lao vút ra ngoài bóng đêm. Chỉ cỡn tôi và cậu y
tá Đèn sáng đến chói mắt. Chưa bao giờ tôi ngập tràn ánh
sáng như bây giờ! Căn phòng còn nguyên vẹn, cả những
chiếc phô-tơi bọc da màu huyết dụ, cả những tấm rèm ni-
lông trong suốt, cả máy đàm thoại, ~ chồng giấy viết thư
trắng tinh có in bông hoa tím...
Kc địch sống sang trọng thế này, làm sao chúng chống
chọi lại chúng tôi?... Chiến tranh cần chó gì thứ giấy viết
thư kìa với những bông hoa li ti màu tím?
- Thủ trưởng để yên, chưa xong đâu...
Cậu y tá nhắc. Cậu ta đang thay băng cho tôi. Hình như
vết thương sắp có mủ, nó cứ cắn run rứt như kiến đốt.
- Pằng pằng pằng... pằng pằng pằng pằng...
Tôi bảo:
Quái lạ, đứa nào bắn như động rồ mãi thế CÓ lẽ
tôi phải đi xem sao. Xong chưa?
Cậu y tá nói:
- Tí tẹo nữa thôi ạ.
Cậu ta cuốn vòng băng cuối, thắt nút một cách khéo
léo và dịu dàng. Tôi nghĩ: "Cái một nó đáng ghét nhưng bàn
tay của nó bằng văng! Giá nó làm thợ khắc, thợ chạm thì
tuyệt "
Thắt xong nút băng, cậu y tá xin:
Thủ trưởng cho em đi theo?
Ưø thì đi.
Chúng tôi rời khỏi phòng, vượt qua khoảng sân xi-
măng mênh mông về phía tiếng súng. ĐÓ là dãy kho quân
dụng. ánh đèn lấp lóa với mấy cánh tay cần câu đen sì,
những mảnh vải trắng, vải dù mắc trong đám dây điện phất
phơ bay. Mùi thuốc súng, mùi khói lẫn mùi các vết thương
và máu người, hờa trong khí trời đêm như những chiếc vòi
bạch tuộc hút chặt trí não. Tôi nghe bước chân mình vang
lên, lạ lùng. Tiếng gõ trên nền xi-măng cứng lạnh. ~
Xưa nay, tôi chỉ nghe tiếng chân mình lẫn trong tiếng
cỏ xạc xào, tiếng sột soạt của lá rừng, tiếng lép nhép của bùn
lầy tiếng va chạm của vỏ đạn và vũ khí.
Lần đầu tiên, chúng tôi bước xuống thành phố...
- Rảo bước lên...
Tôi bảo cậu y tá, vã chúng tôi tiến về dãy nhà lô nhô dưới chân cây đèn cao áp trắng. Người chạy ra đầu tiên đón tói là Tạo:
nào cũng không được...
- Bắn ai?
Không ạ. Gặp gì bắn nấy. Lung tung cả...
- Dẫn tôi đi, mau lên...
Cậu ta chạy trước. Chúng tôi vào kho. Mái tôn cao ước trên hai chục thước, tựa trên khung sắt lớn, vừa đơn giản, vừa quái dị. Các thùng hàng chồng chất, sừng sững cho tới áp mái, chỉ để lọt những lối đi hẹp hình bàn cờ. Chúng tôi đi theo các lối hẹp ấy. Phía trước, tiếng súng thỉnh thoảng lại rộ lên từng tràng, lẫn tiếng cười oang oang, tiếng hát và tiếng nói líu lưỡi của kẻ say.
Tôi hỏi:
- Những đứa nào thế?
Tạo đáp:
- Báo cáo thủ trưởng, tiểu đội của thằng Lành.
- Chúng nó say rượu cả hay sao?
- CÓ thằng say, có thằng tỉnh.
Đoạn, cậu ta ngăn tôi lại:
- Thủ trưởng rẽ sang lối này...
Chúng tôi bước sang gian kho khác, lối đi rộng hơn, với một chuỗi đèn chạy dọc theo mái kho, chiếu xuống. Nền kho láng bóng. Đang đi, chợt một dòng nước màu hồng thắm chảy tới, bò từ từ đến mũi giày tôi. Tôi chưa kịp dừng chân, một dòng suối nữa tràn đến, màu hồng trong suốt lóng lánh dưới đèn, như si-rô lựu ai tưới xuống mặt đất.
Tôi hỏi:
- Cái quái gì thế này?
Tạo đáp:
Báo cáo thủ trưởng, thuốc ạ.
Thuốc gì?
- Thuốc tiêm Bi2. Toàn thuốc cao cấp của Mỹ. Ơû kho đằng kia, chúng nó đã bắn tan bốn công-ten-nơ, Bi2 chảy ngập tới mắt cá chân... Giờ lại thế...
Lại một dòng nước hồng đặc sánh chảy tràn qua lối đi.
Giày chúng tôi ướt. Lội trong dòng nước sóng sánh, chúng tôi đi
Pằng pằng pằng... pằng pằng pằng pằng...
Tiếng súng vọng trong kho, chối óc. Tạo chạy lên phía trước quát:
- Thủ trưởng đến đấy... dừng lại...
Tiếng cậu ta lấp trong tiếng súng. Khi tôi và cậu y tá đến nơi, Tạo vẫn còn đang hò hét.
Cách Tạo hai bước chân, một cậu đen đủi, thấp bé cầm tiểu liên quạt như điên vào chiếc hòm gỗ trước mặt. Tên nó là Tu, dân Hà tĩnh. NÓ đứng chạng đôi chân cong queo, gầy như hai que củi, bậm môi bóp cò. Cặp mắt Tu đỏ vằn, chắc nó say. Khi Tạo đập liên hồi vào vai Tu, cậu ta mới quay ra, nhìn thấy tôi. Tu ngước cặp mắt đờ đẫn lên, nhe răng cười.
Tôi hỏi:
- Ai cho cậu bắn?
Tu kẹp súng, đáp:
- Báo cáo thủ trưởng, hắn là đồ của đế quốc Mỹ, em bắn cho hắn không thể ngóc đầu lên.
- Cậu không có mắt à? đâu không biết đó là cái gì à?
- Em có trộ chi mô... Dưng mà em biết đó là đồ của đế quốc Mỹ.
Tôi bảo:
ĐÓ là thuốc bổ. Thứ thuốc người ta đã tiêm cho cậu khi cậu nằm trong quân y viện.
Tu kêu:
- Không, thủ trưởng lộn rồi... Hồi ì, em toàn tiêm thuốc bổ của Liên xô...
Dứt lời, cậu ta loạng choạng lùi lại. Đường gân xanh đập phập phồng nơi cổ. Tôi hỏi:
Lành đâu?
Mấy cậu đứng sau Tu đáp:
- Báo ~o, anh Lãnh say quá đã ngủ rồi.
Tôi bảo:
- Đẹp mặt nhỉ, các cậu lấy rượu Ơû đâu?
- Báo cáo anh, trong bếp của ban chỉ huy cứ điểm. CÓ cả một kho... đủ các loại rượu...
Mặt cậu nào cậu nấy lấm lét. Tôi biết chắc thủ phạm chính chưa xuất hiện. Mấy bộ mặt cù lần không thể nghĩ ra cái trò chơi tàn bạo này. Tôi hỏi:
- Ai đẫn các cậu đến đây?
Mấy đứa cúi gằm mặt xuống.
Tôi quát:
- Ai?... Các cậu muốn ra tòa án binh cả nút hả?
Lúc ấy, Tu lảo đảo bước lên:
- Thủ trưởng, tha cho em... tụi em có làm... chi mô.
Tôi gằn giọng:
- Ai đưa các cậu tới đây?
Tu ngẩng lên, ngất ngưỡng:
- Báo cáo thủ trưởng... là... anh Kha... Anh Kha bảo...
'!Thảo nào... Thằng ôn con chuyên bày trò khỉ..." Tôi quát:
- Tìm cậu Kha lại đây.
Nhưng đám lính chưa kịp chạy đi, Kha đã tử sau lưng tôi bước lên:
Báo cáo, em có mặt.
Hóa ra cậu ta rúc vào khe giữa hai hòm hàng. Mặt Kha trắng xanh, hoàn toàn tỉnh táo. Tôi bảo:
- Hóa ra cậu!
Kha im lặng.
Tôi hỏi:
Đã uống mấy chén rồi? Tôi ngửi hơi cậu không có mùi rượu. Cậu giữ cho tỉnh để đưa mấy thằng say đi làm trò càn dở phải không?
Kha cúi gầm mặt, lặng im.
Tôi bảo:
Vê phòng tôi.
Tạo đưa mấy chàng say và Tu về chỗ ngủ. Kha đi cùng tôi Cậu y tá lẽo đẽo bước sau. Khi chúng tôi băng qua sân phi trường, một đám cháy lớn bùng lên phía tây in chóp nhọn của một ngôi nhà thờ như lưỡi lê chĩa ngược vào trời đêm. Đối điện với cái lưỡi lê ấy, vài ngôi sao thoi thóp sáng.
CÓ tiếng chuông từ nơi nào xa lắm vọng tới. Cậu y tá nói:
- Báo cáo thủ trưởng, đã nửa đêm.
Tôi bảo:
- Cho ~lu về nghỉ.
Tôi dẫn Kha về phòng. Căn phòng sáng choang, cửa ngỏ. Gió thổi những tờ giấy viết thư bay khắp nơi trong khi cục thủy tinh chặn giấy hình quả chuông nằm choáng lộn trên bàn. Tôi bảo Kha ngồi xuống, mở tủ lấy chai vang trắng róc hai cốc.
- Nào, bây giờ đến lượt tôi và cậu cùng uống. Uống xong, không có gì bắn thì bắn lẫn nhau...
Kha đớ cốc rượu, ngước mắt nhìn tôi:
- Anh Quân, tha tội cho em...
Tôi bảo:
Hãy uống đi đã.
Tôi uống trước. Kha uống theo. Vẻ mặt nó không mảy may lo ngại.! Thằng mất dạy, nó ỷ thế... NÓ biết mình mến nó.!! Trong đại đội, sau khi Hoàng chết, tôi gần gũi với Kha. NÓ không trong trắng như Hoàng, nó khôn lỏi, láu cá vặt, lười nhưng tốt bụng và, khi cần, biết hi sinh cho lẽ phải.
Trong chiến đấu, bao giờ Kha cũng tìm được phương pháp tối ưu tiết kiệm xương máu. NÓ không ham sục gái, thích mộng mơ và vẽ ra những trò oái oăm để trêu cợt mọi người.
Rượu đã cạn, tôi nói:
- Tửu lượng cậu cũng khá... Uống hết chai này chăng?
- Nếu anh thích.
- Trông cứng cỏi ra phết. Tựa như là tôi mời cậu lên đây để bồi dưỡng báo cáo điển hình.
Cậu ta cúi mặt, mân mê chiếc cốc trong tay. Tôi nhìn những vòng ánh sáng chao đảo quanh miệng cốc pha lê, như những vòng sóng bất tận, không bờ bến. Những vòng sóng trên mặt đầm ấu thơ của tôi, - .nơi những con sâm cầm ngã dưới làn đạn ghém tàn ác của những người săn chim tử thành phố đổ về, máu đỏ tươi nhau trên đám cỏ hoặc rơi xuống tan hòa cùng làn nước, - nơi đám trẻ ngụp lặn giữa cỏ và bùn phóng tầm mắt tới chân trời mộng tưởng - không có chi ngoài con tàu cổ lỗ chạy hơi nước, phun ra từng đám hơi lẫn bụi than, như con ngựa ghẻ của hiệp sĩ Xéc-văng-tát từ thế kỷ nào đó lạc tới, - nơi những đứa bé gái cưỡi trâu nhông nhông chạy trên đồng lần đầu tiên nhìn thấy hai núm vú nhỏ xíu giữa làn nước trong suốt - sợ hãi như con người tiền sử thấy sấm sét ~ vụng lén như tên trộm cất giấu của bất chính - hồi hộp đợi chờ nó nảy nở thành hai trái đào tiên - Và rồi hằn học chai lý nhìn chúng dăn dúm, teo tóp lại trên lồng ngực lép kẹp chưa một bàn tay đàn ông chạm tới chưa cặp môi non dại nào đòi sữa... Vòng sáng óng ánh kia... con đầm... những giấc mơ trong suốt như thủy tinh.
Quả pháo thăng thiên vụt tan thành trăm ngàn vụn giấy...
- Choang...
Giờ cuốn tấm rèm, giật chiếc cốc trên bàn rơi xuống. Những mảnh pha lê bắn trên sàn đá hoa. Tôi thấy Kha đưa mắt nhìn. Cậu ta vẫn chờ lời phán quyết. Tôi ngồi xuống bên nó:
- Tại sao?
Kha nói khẽ:
Anh tha cho em.
Nhưng tại sao cậu làm như vậy?
Em không biết.
- Cậu có biết.
Kha im lặng. Tôi hỏi gặng:
- Cậu làm như thế để được cái gì?
Kha ngẩng lên, nhìn vào mắt tói:
- Nhưng không làm như thế em cũng chẳng được gì.
Cậu nhầm rồi! Cậu đã phá hoại tài sản của nhân dân. Tất cả những gì chúng ta đổi xương máu để có đều thuộc về nhân dân.
Kha cười:
Làm gì có nhân dân?
Cái vẻ nhếch mép chán chường của nó... Cái ánh mắt chán chường trên gương mặt tái xanh... Thằng lỏi khốn kiếp, vốn được tôi o bế, giờ coi tôi như một gã khờ đáng thương hại. Tôi cố nén cơn giận, mỉm cười:
- Cứ nói đi... Ngày hôm nay cậu đã tàn phá bao nhiêu thứ?
- Tụi em bắn tan ba công-ten-nơ đựng thứ đài to có mặt kính. Nghe thủy tinh nổ như mưa rào khoái cả tai. Rồi xơi đến mấy chiếc tủ lạnh trong bếp ban chỉ huy cứ điểm.
Còn buổi tối thì...
- Đủ rời!
Tôi ngắt lời:
- Các cậu đã phá hủy một số thuốc đủ tiêm cho hàng vạn bệnh nhân. Còn thứ đãi to có mặt kính là máy truyền hình, có thể chiếu cho hàng ngàn người...
- Vâng...
Kha ngắt lời tôi:
- Nhưng số người được xem chiếu hình không phải là nhân dân... Nhân dân, trong đó có bố mẹ anh, bố mẹ em, có đám lính tráng này... đừng hàng xơ múi...
Tôi bảo:
Tại sao cậu dám nói thế?
Kha đặt tay lên vai tôi:
- Anh Quân, đừng to tiếng... Năm em mười bảy tuổi, Ơû thị trấn, người ta quyên tiền xây dựng nghĩa trang cho các liệt sĩ hồi kháng Pháp. Tinh cờ, lúc nộp tiền, em Ơû nhà. Trong số tiền mẹ em nộp cho chính quyền có một tờ bạc có lô thủng bằng hột vừng đúng giữa hình bông lúa.
Năm hôm sau, một đứa bạn gái học cùng lớp rủ em lên tỉnh chơi. NÓ kém em vài tháng, dược nước da trắng hồng nhưng mắt lác và rụt cổ. NÓ mê em như điếu đổ. Trong chuyến đi ấy con bé tiêu tiền như ném rác. Cửa hàng nào nó cũng sà vào, mua toàn đồ xa xỉ, không cần trả giá. SỐ tiền nó tiêu một ngày gấp sáu lần số lương tháng của bố nó, ông chủ tịch thị trấn. Và trong số tiền hôm ấy, em nhìn thấy tờ giấy bạc có lỗ thủng bằng hột vừng đúng giữa hình bông lúa, đó rõ ràng là tiền của mẹ em!
Tôi lặng im, Kha cũng lặng im. Chúng tôi nghe gió lang thang qua phi trường, nghe tiếng nổ lép bép của đám cháy nào đó chưa lụi hết. Lát sau, tôi nói:
- Cậu làm tôi choáng cả đầu!
Kha đáp:
- Em nghĩ nhiều... Em cũng nghe chán vạn điều thiên hạ nói. Nhưng mà, nhân dân lúc có thật, lúc như bóng ma:
Nếu cần lúa, nhân dân là con bò kéo cày. Lúc có chiến tranh, con bò ấy mặc áo giáp và cầm súng. Rồi, khi mọi sự đã qua, vào những ngày lễ lạt, hội hè... người ta tôn xưng nhân dân như hú vọng ~c hồn ma, tưởng thưởng cho khói thơm và tro tiền, còn phần xôi thịt thì kẻ khác hưởng...
Tôi choáng váng thật sự, như bị đè dưới đáy nước, giống hệt cảm giác hồi năm tuổi bị thằng anh họ điên khùng dìm dưới sông.
Rồi Kha nói:
- Anh đưa em ra tòa án binh cũng được... Nhưng mà em đã trót biết sự thật... em đã trót nghĩ như thế...
NÓ cúi đầu, mái tóc đen lánh đổ xuống... "Thằng khốn kiếp... NÓ làm mình tái tê..." Tôi nhớ đôi bàn tay xanh lét của nó hơ trên lửa dạo Ơû trong hang BÒ cạp. Tôi nhớ miếng thịt chim ưng núi vừa dai vừa khét nó chia cho tôi ở bên kia đường. Tôi nhớ thân hình mảnh dẻ của nó, trần truồng lông nhông chạy bên bờ suối, lúc nó bị sốt rét ác tính hành. Tôi nhớ... Bỗng dưng, toàn thân tôi run bần bật. Tôi quát:
- ĐỒ khỉ... Lẽ ra cậu phải lãnh một viên đạn Ơû tòa án binh... Về ngủ... Từ ngày mai, bỏ trò phá hoại ấy đi...
Kha đứng lên, lẳng lặng ra khỏi phòng.
Tôi ngồi lại một mình. Gió ùa vào, cuốn những tờ giấy viết thư liệng khắp nơi. Tôi vớ quả chuông thủy tinh rồi ngồi nhìn những tờ giấy chao liệng như đàn bướm trắng khổng lồ. Những tờ giấy tiếp tục bay. Căn phòng tán loạn màu trắng. Tôi thấy lạnh. Không phải vì gió đêm, mà vì một bàn tay thần bí nào đó rút lửa khỏi xương tủy, da thịt tôi.
Tôi lạnh hơn mười mấy mùa mưa lạnh buốt Trường sơn, mười mấy mùa chìm ngập giữa sương giá của rừng núi... Tất cả rét mướt mười mấy năm dồn lại cho buổi tối này... Tay chân bủn rủn, tôi đặt quả chuông xuống sàn đá, mặc cho gió lồng lộn thổi đám giấy trên bàn, vãi tung tóe, cuốn khỏi Oâ cửa, mang vào khoảng đêm đen ngoài kia...
Một con gà gáy gọi bình minh.
- Cúc cù cu cu cu cúc cù cu.
Tôi ngồi dậy, đi tìm nó. Suốt đêm tôi không chợp mắt, người nhão như vải thưa. Cậu liên lạc mới, vừa tới:
- Thủ trưởng dậy sớm thết
Tôi bảo:
- Đun nước pha cho tôi ấm chè.
Cậu ta đập gót chân:
- Rõ.
Tróng cậu ta hớn hở ra mặt. Mười tám tuổi rưỡi, vừa gia nhập quân ngũ vài tháng đã được tiến về giải phóng đồng bằng. Anh chàng chưa biết đói khát, sốt rét, u sầu, thèm gái, nhớ quê... NÓ được bổ xung thay cậu liên lạc cũ tử vong trong chiến dịch Ngôi sao Bắc đẩu. Tôi đi qua phi trường, khí lạnh ban mai khiến đầu óc dần tỉnh táo.
- Cúc cù cu cu cu
Tiếng gà gáy cất lên lần thứ hai, hào hển hơn, vang từ phía sau bức tường đổ. Tôi dẫm qua đống gạch vụn, lổn nhổn vỏ đạn, vỏ đồ giải khát, bông băng và bắt gặp một chú gà trống trắng đứng lẻ loi trong chiếc chuồng đan bằng thép mắt cáo. Chiếc chuồng rất đẹp đứng giữa đống đổ nát của tòa nhà. Đúng là phép lạ của thần linh
Trong chuồng, còn nửa lon gạo tấm, nửa lon ngô xay với bát nước. Một mảnh pháo nhỏ nằm cong queo giữa đáy ý tưởng như tia chớp vọt qua: "Mày là con gà trắng yêu quái trong chuyện cổ An Dương Vương hay sao mà hiện ra trong buổi sớm này?" Con gà trắng nghiêng đầu nhìn tôi: "Sao không?... Ta cất tiếng gáy ở đâu, ở đó những thành trì sụp đổ "
- Báo cáo thủ trưởng...
Tôi giật mình quay lại. Cậu liên lạc đã đứng trước mặt tôi:
- Báo cáo thủ trưởng, một nồi luộc ạ...
Cậu ta chỉ con gà, hấp háy:
- Con này vừa nồi luộc. Trưa nay thủ trưởng cho phép...
Tôi cố gắng nén cảm giác khó chịu, hỏi:
- CÓ việc gì?
Thấy vẻ lạnh lùng của tôi, cậu liên lạc cụt hứng. Cậu ta thò tay gãi đầu, nói:
- Báo cáo, nước đã sôi... Em đã pha chè... Mời thủ trưởng...
Tôi bảo:
- Về trước đi.
Cậu ta đi, tôi cũng đi luôn, tâm hồn nặng trĩu. Cho tới khi uống chè với Thái, tôi vẫn không thoát được tâm trạng ngột ngạt. Tôi thầm oán hận Kha, nhưng không hiểu vì sao tôi thấy Kha có lý. Những lời tiên tri mơ hồ bay chập chờn như đàn quạ đen trên nghĩa địa thành phố.
Thái bảo tôi:
- Theo lệnh trên, bảy giờ tối nay đơn vị xuất phát. Tôi cho anh em ăn tươi buổi trưa.
Tôi nói:
- Phải đấy. Mà làm sớm lên. Bữa chiều ăn lúc bốn giờ ba mươi cho nhẹ bụng.
Thái gặng:
Anh có cần dặn dò các trung đội không?
Tói lắc đầu:
Không.
Thái ăn nốt mẩu lương khô rồi đi.
Tôi ngồi lại một mình, bi vây bọc giữa nghi ngờ và oán hận. Ngoài sân phi trường, đám lính lăng xăng chạy đi chạy lại Một không khí nao nức đến cuồng nhiệt hun đốt mọi người. ánh mắt khát khao, nụ cười bồn chồn, cử chỉ hăm hở vội vã Tất cả bị cuốn trong guồng quay của bánh xe. Tất cả lăn tới chân trời phía trước, nơi khải hoàn môn đã sừng sững hiện lên sau những đám cháy và sau màn bụi đỏ...
Tôi cô lẻ. Tôi bị câu chuyện của Kha làm tê liệt. Trái tim yếu hèn của tôi không chịu được dày vò. Thằng lính trong tôi mạnh hơn tôi. NÓ đã chiến đấu cừ, nó đã chịu đựng hết thảy mọi gian khổ, một trong số mười hai người ít ỏi còn lại từ con số một trăm năm mươi chiến sĩ của đại đội ban đầu.
Vậy mà nó đã đi qua cuộc hành trình dằng dặc ấy không một giấc mơ, không thèm khát vinh quang, không trông đợi một phần xôi thịt. Trong trí óc lạnh lẽo của nó, khải hoàn môn đã hiện ra như một chiếc cầu vồng sặc sỡ nhưng khi đì qua nửa vòng tròn mộng tưởng ấy, người ta sẽ lại lội trong bùn thuở nguyên sơ, với những rạch cày từ thuở nguyên sơ...
Trưa ấy, trong bữa cơm khao quân, sâm banh nổ đôm đốp vang tuôn chảy như suối. Tôi cố tình không nhìn Kha nhưng tôi biết cậu ta nhìn tôi. Cái nhìn thương cảm. CÓ lẽ, vẻ xanh xám ngơ ngác của tôi, với nó là bộ mặt của một thằng bé lần đầu bị bỏ trong phòng tối... !!Sư mày... thằng lỏi con chơi nước kiệu. Mình đã quá mềm yếu... Phải trị cho nó một trận..." Tôi cố giữ cảm giác điên khùng. Tôi đưa mắt hằm hằm nhìn xung quanh. Đúng lúc tôi nhìn Kha, cậu ta mỉm cười. Nụ cười xề chia, buồn như nắng cuối đông. Trong nụ cười của nó có vẻ ngượng ngùng của một kẻ vác nặng sẻ gánh cho người khác. NÓ đã vác gánh nặng ấy quá lâu, một mình, và thời gian không còn cho đủ lòng kiên nhẫn...
Bốn xung quanh, tiếng nói cười, tiếng ly cốc ồn ào sôi động. Giền hưng phấn tràn trề. Những gương mặt hừng hực lửa hi vọng. Đoàn xe đã nổ máy ngoài kia, chuẩn bị cho cuộc hành quân vào lúc lặn mặt trời. Tôi chợt hiểu rằng chỉ có tôi và Kha là hai kẻ bất hạnh đuy nhất trong đoàn quân nồng nhiệt này, chúng tôi đã bị trói buộc cùng nhau bởi đã xẻ chia một điều bí mật...
Rạng đông đỏ lừng lững như sóng đỏ tràn trên mặt đất.
Xe chúng tôi lăn qua mặt lộ rải rác đầy giày dép, quần áo mũ, túi xách, ba-lô, đạn vàng choa, bàn chải gãy, su- chiêng của đàn bà, bánh mì kẹp thịt bị xéo nát, búp bê nhựa c~lt đầu dấu vết của cuộc rút chạy nóng hổi.
- Tiến về đồng bằng, ta tiến về đồng bằng...
Một cậu hét to. Cả đám hòa theo:
- Tiến về đồng bằng, anh em ơi i i...
Gió thốc lại. Bụi đỏ bay mờ mịt. Một cậu sau lưng tôi cất tiếng cười:
Ha ha... Bao nhiêu năm nay chúng ông rúc trên rừng.
Đ mẹ chúng mày. Giờ chúng ông đã về đây, sướng sướng sường sương nhé...
Tiếng cười rộ lên trong tiếng gió gào và tiếng máy. Tới ngã ba cao nguyên, gặp một đoàn tăng từ cánh trái đi tới.
Phía trước, một chiếc Dép trắng của quân ngụy bỏ lại, bánh cháy lụi, tên lính lái xe chết gục mặt vào vô-lăng. Đám lính hét to:
Anh em tăng dâu... nghiến mẹ nó đi... nghiến đi...
Đám lính tăng ngồi trên tháp giơ tay vẫy.
- Hoan hô... hoan hô...
- Xin chào...
Tụi lính của tói hào hứng đứng lên, hoa chân múa tay, gào tới rách cổ:
Nghiến mẹ nó đi, anh em ơi...
Đám lính tăng hình như nghe thấy. Một cậu từ tháp pháo tụt xuống. Vài giây sau, chiếc tăng quay đầu tử từ bò tới nghiến chiếc Dép:
- Hoan hô... hoan hô...
- Anh em tăng tuyệt vời i i...
Tôi quay đi, chợt bắt gặp ánh mắt của Kha. Mặt cậu ta thản nhiên, môi khẽ nhếch lên cười. Đám lính của tôi còn hò hét vẫy chào mãi khi đoàn tăng vượt qua ngã ba cao nguyên rẽ sang đường khác. Xe chúng tôi tiến lên, tiến lên...
Và tôi dần dần ngủ thiếp đi trong tiếng hát của bọn lính mới được bổ sung. Sức lực còn dư nên chúng gào mãi không chán...
Trong lúc ngủ, tôi vẫn hình dung ra trận đánh tới. CÓ lẽ nó sẽ ít hiểm nguy hơn những trận đã qua một trăm lần.
Quân địch đã rút lui hỗn độn. Một cuộc rút lui như thế sẽ huỷ diệt tới giọt cuối cùng tinh thần kháng cự. Chúng tôi sẽ thắng... Khải hoàn môn lấp ló phía chân trời. Tim tôi trào lên niềm hoan lạc đau đớn cùng lúc óc não tôi hiện lên một ảnh tượng lạnh lẽo:
Tôi thấy tôi tách khỏi đám đông, đang níu lấy những cây cột sơn son thếp vàng để dò dẫm tiến về cánh đồng phía trước. Cánh đồng ấy trơ trụi những gốc rạ, loang loáng mặt đầm xa. Một đàn cò đang lặn lội mò tép. Tôi đi theo chúng, câm lặng như cái bóng, đôi chân trần sục giữa cỏ và bùn.
Trận đánh đã diễn ra như một màn giáo đầu tiếp tới đoạn kết thúc, chóng vánh không ngờ, và, so với những trận đánh trong mười mấy năm vừa qua, nó tựa như trò chơi...
Tôi không nhớ qua bao lâu mình ngồi giữa sở chỉ huy của địch, hầu như nguyên vẹn, và nghe tiếng đồng hồ quả lắc đong đưa trên tường. Cứ nửa giờ lại một giai điệu thánh thót ngân nga. Trong ngăn kéo bàn chỉ huy, có một đống giấy tờ, sơ đồ, hóa đơn và ảnh đàn bà cởi truồng màu sắc chói lọi như lưỡi quỉ. Đột nhiên, u liên lạc chạy vào:
- Báo cáo thủ trưởng...
Tôi hỏi:
- Cái gì?
Trong đám tù binh có một thằng Mỹ. Anh em hỏi thủ trưởng xem xử lý ra sao?
- Quái lạ! Lính Mỹ rút tử hai năm trước. Sao còn một thằng rớt lại đây?
- Báo cáo thủ trưởng, nó to như hộ pháp, nói xí xồ không ai hiểu gì...
- Đem nó lên đây.
Cậu liên lạc dạ một tiếng ngoan ngoãn rồi chạy đi. Tôi lơ đãng nhìn Oâ cửa ngập nắng, lòng trống rỗng. Rời ít phút sau, đám lính của tôi giải thằng Mỹ vào. CÓ tới bốn cậu nhăm nhăm tay súng. Tù binh bị trói quặt tay ra sau, đi quanh quạng. Hắn cao lớn thật, tóc vàng trơn bóng, mắt xanh lơ. Đám lính của tôi dúi hắn quỳ giữa nền nhà. Cả cây thịt to rơi huỵch xuống, mặt hắn nhăn lại vì đau và đôi mắt xanh lơ của hắn ngước nhìn tôi. Một cái nhìn không thể diễn tả. Tôi hỏi:
Đại đội ta có ai biết nói tiếng Anh không?
Một cậu đáp:
Báo cáo, lúc bắt được hắn, thủ trưởng Thái cũng đã hỏi khắp rồi, nhưng chẳng ai biết tiếng Anh. Đồng chí Kiệm biết tiếng Nga hỏi hắn thì hắn lắc đầu.
Tôi bảo:
- Cởi trói cho nó. Súng ống như rừng vây quanh, làm sao nó trốn được!?
Đám lính cởi trói cho tên tù binh. Hắn nói gì đó, chắc là lời cảm ơn, và co duỗi những ngón tay lằn tím. Tôi nhìn những ngón tay trắng nõn của hắn, trắng như những mầm giá đỗ. Hắn lại nói với tôi từng tràng tiếng Anh, vừa nói vừa làm điệu bộ. Hình như hắn muốn chứng minh hắn không phải là lính, chỉ là một phóng viên hay thợ chụp ảnh nên hắn hết đập vào ngực, lại chỉ vào chiếc áo sơ-mi và làm động tác của mấy anh phờ nhòm.
Da hắn hồng, với những đám lông nâu loăn xoăn trên ngực. Màu da trắng hồng, màu tóc vàng, màu lông hung nâu, màu mắt lơ... Những hình sắc dị biệt ấy xưa kia đã là tiêu điểm cho lòng căm thù truyền kiếp... Kẻ ngoại xâm... Kẻ ngoại bang. Những ông tổ xa xưa của tôi từng căm thù cái đuôi sam của bọn rợ Hung nô như vậy. Lòng thù hận ấy đặt sức mạnh vào cái lẫy nỏ hoặc lưới gươm. Chúng tôi cũng đã có cùng một sức mạnh ấy khi phóng những quả đạn B40 và B41, khi lia từng tràng tiểu liên, khi xọc lưới lê...
- Mất thì giờ quá...
Một cậu lính kêu.
Một cậu khác nói:
- Em nghi nó là gián điệp. Tống giam.
Cậu kia kêu lên:
- Giam hả?... Lấy ai canh giữ. Cho mẹ nó một viên kẹo đồng.
Cậu thứ ba bảo:
- Phải đấy thủ trưởng ạ... Đơn vị mình còn tiếp tục đi. Giữ làm quái gì cái của nợ này...
Tên tù binh đưa mắt nhìn quanh. NÓ nhìn đám lính của tôi đang bàn cãi, mỉm cười làm thân. ĐỒ bò, nó chẳng hiểu gì cả. NÓ tưởng người ta đang bàn cách làm các món ăn chắc?... Mái tóc văng lúc lắc khi nó cười. Rồi nó khẽ nhún vai... Lúc ấy tôi mới thấy đôi vai nó to và dày làm sao! Cả tấm lưng đồ sộ kia nữa!
Vai và lưng nó hoàn toàn giống Biền. Dường như đôi vai ấy và tấm lưng ấy sinh ra để gánh mỗi ngày hơn trăm gánh lúa. Hắn vẫn cười ngô nghê nhìn tôi.
Bỗng dưng, tôi thấy lòng thù hận trong tôi dời chỗ. Hình như nó đã đi dạo chơi đâu đó, như con hổ bị nhốt đã xổ cũi dạo chơi trong rừng... Dã thú cũng tới lúc mệt mỏi...
Trước đây, cứ nhìn màu da trắng hồng kia, mái tóc vàng óng kia là tôi nổ súng không nghĩ ngợi! Kẻ ngoại xâm, - tiêu điểm của hận thù! Lòng tự tôn đã bớ kết với thù hận! Sự bảo tồn gắn với hủy diệt! !...
- Thủ trưởng...
Đám lính của tôi lên tiếng:
Thủ trưởng quyết định đi...
1 Một cậu hạ giọng:
- Tụi Mèo này chuyên ăn thịt, thủ trưởng ạ... Mình lấy đâu của thừa mà nuôi nó?... Thủ trưởng đồng ý đi... Em đòm cho. Tích tắc là xong...
Tên tù binh nhìn tên lính của tôi, nheo nheo mắt như suy ngẫm. Tôi chợt hình dung trái đồi xanh rờn, gã trai trẻ này ôm người đàn bà của hắn lăn trên cỏ. CÓ thể là một đứa con gái thành thật như lũ ngợm tôi vừa xem ảnh cởi truồng.
Cũng có thể là một thôn nữ, có cái tên mộc mạc như tên con gái quê tôi: con Hoa, con Hòa, con Vinh, con Lài, con Mơ, con Mận...
cũng có thể một đêm xuân mát rượi, hắn từng gác chân lên chân bạn và mơ tưởng đến cuộc ái ân sấm sét giữa các thánh thần như Biền từng mơ tưởng đến bà Nữ Oa với ông Tứ Tượng...
Rồi hắn phải từ bỏ tất thảy những vui thú ấy để mặc áo lính ra đi vì lý tưởng quốc gia, vì những giọng nhật ký miên man cuốn hút, vì một buổi rạng đông nào đó hắn bi cám dỗ bởi hình ảnh của chính mình nơi chân trời khói lứa, ngực lủng lẳng những tấm mề~đay... Mọi ý tưởng ấy làm tôi lạnh toát sống lưng.
- Báo cáo thủ trưởng...
Một cậu lính kêu:
Sắp tới giờ ăn, tụi em đói quá... Xin thủ trưởng quyết đinh cho.
Tôi nói, giọng lạnh lùng:
- Các cậu nghĩ mọi việc đơn giản như đùa! Chiến tranh sắp kết thúc, không còn là thuở sống giữa rừng. Lúc này, bất kỳ ai, kể cả bản thân tói, vi phạm chính sách tù binh sẽ phải ra tòa án binh lãnh tội.
Nói xong, tôi quay ngoắt đi.
Thái độ đó có hiệu quả. Đám linh của tôi giải tên Mỹ đi lặng lẽ, không dám xô đẩy hắn thô bạo như trước.
Tôi lại trở về chỗ ngồi cũ, nghĩ tới những sợi tơ nhện đong đưa trước gió, những trò ú tim tàn bạo của chiến tranh. Trên đường tiến quân, tói đã chứng kiến biết bao thây người treo lủng lẳng trên cạnh cây, kẻ bi móc mắt, kẻ bị phanh thây làm đôi, kẻ bi cắt gân đầu gối buộc gập lên như con cào cào bi bẻ càng... Những cuộc trả hận không ai kiểm soát được Vào lúc từng loạt pháo rền để báo trước tiếng đại bác ngày chiến thắng, tiếng kêu của bầy quạ cũng vang lên trên các nghĩa địa và quanh những thây ma chưa được vùi lấp Mùi tử thi lẫn mùi thuốc súng hôn mê...
Mặt trời lặn trong lúc đèn bật sáng khắp nơi. ánh tà dương trộn cùng ánh đèn, trộn cùng ánh nến. Đám lính của tôi vớ được một hộp nến, chúng cắm la liệt khắp các phòng và ngoài sân. Đêm tới cùng bữa ăn náo động. TỔ cấp dưỡng khui được cả hầm rượu, mở ra đổ vào chậu tắm. Một chậu tắm khổng lồ tràn đầy thứ rượu màu vàng: pha trộn đủ loại vang, sâm banh, cô-nhắc. Lính mạnh ai nấy thò ca múc tùy tửu lượng. Mỗi gương mặt như nhân lên hàng trăm lần vì hàng trăm ngọn đèn và nến... Cười, nói, chếnh choáng, hớnhở, ca hát...
Trên bàn ăn, bày đầy những món đồ hộp của ta và đồ chiến lợi phẩm: cá hộp Liên xô, cá hộp Mỹ, thịt hộp Trung quốc, bánh quy Mỹ, nho khô Mỹ, táo Tầu... Bữa ăn kéo dài lâu lắm. Thái ngồi bên tôi, hình như cậu ta nói gì đó rồi len lén cúi xuống chùi nước mắt. Tôi chắc Thái nhớ đứa em trai đã hi sinh.
Tôi định nói vài lời an ủi Thái nhưng tôi lại lặng im. Vì tôi cũng nhớ em trai tôi. Sau đó tôi chẳng nhớ ai nữa. Tôi nhớ tới một gương mật vô danh, vừa câm lặng, vừa sống
động trồi lên ngọn triều quá khứ... Mười mấy năm trôi qua...
NÓ mỉm cười...
Một số cậu say loạng choạng ra về. SỐ khác chụm lại tán gẫu. Tôi chợt thấy Kha kéo Tạo đi ngang qua. Hai anh chàng ra cửa. CÓ tiếng va chạm của vỏ đồ hộp ngoài kia.
Tiếng cười hô hố. Rồi tiếng Tạo kêu:
- Anh Kha, đái đi.
Kha đáp:
- Ờ thì đái ì i...
- Em đố anh đái đầy hai hộp cá này.
- Mày muốn thi hả?... ơ... thì thi...
Tiếng tồ tồ của nước tiểu róc, lúc nhỏ, lúc to. Rồi Kha nói:
- Mày lợi hơn đấy nhé... Tao say, tao đái rớt ra ngoài.
- Nào, lấy nến ra xem cho rõ.
Tạo nhảy xổ vào phòng, lấy ngọn nến trên bàn đem ra.
Một phút sau, anh chàng reo vui vẻ:
- Bằng nhau... Của anh, hai hộp cá Mỹ. Em được nửa hộp thịt lợn Tàu... Coi như hòa...
Tiếng Kha:
- Ờ bọng đái tao với bọng đái mày to bằng nhau... BỐ khỉ, từ thuở cha sinh mẹ đẻ chưa bao giờ say mà đêm nay thấy cái mặt mày nhảy nhót... Tạo, về ngủ thôi...
Tiếng chân bước xa dần. Đám lính quanh tôi cũng lục tục kéo nhau về. Sau rốt, còn lại hai chúng tôi. Thái hỏi:
- Bao giờ mình đi tiếp nhỉ?
Tôi trả lời:
- Chờ lệnh trên.
Thái ngậm ngùi:
- Bao nhiêu năm nay, đơn vi mình toàn là mũi tiến công chủ chốt.
Tôi cười:
- Mỗi năm mỗi khác. Giờ chỉ có mười hai thằng lính già. Còn lại toàn lính mới, đưa chúng nó lên các điểm nóng làm chả nướng à?...
Thái nói:
- Dù sao cũng buồn, anh Quân ạ...
Tôi bảo:
- ờ, thời oanh liệt nào cũng qua.
Thái hỏi:
- Sau đây, rồi sẽ ra sao?
Tôi cười:
- Tôi biết gì mà hỏi tôi? Cá mè một lứa cả...
Thái im lặng một lát rồi hạ giọng:
- Đại đội ta là đại đội anh hùng... Chúng mình... anh với tôi sẽ được đề nghị phong hàm vượt bực đấy...
Tôi không trả lời Thái. Tiếng anh róc bên tai tôi đều đều nhưng tôi chỉ nghe thấy tiếng róc rách của lạch nước dưới chân cầu, tiếng lúa rì rào trên đồng. Một điệu ca lảnh lót giữa chốn quê hương u tịch:
" Trèo lên Quán Dốc, ngồi gốc cây đa ". . .
Giai điệu ấy cùng cây nhị ư ừ rền n những năm tháng Trường sơn... Chú lính nhỏ bé của tôi... Chú lính tội nghiệp của tôi trong buổi sớm giá lạnh ấy đã trúng đạn rơi xuống...
Và máu trai loang đỏ tấm dù...
Hà nội, 11-/2-/990
(25 tháng 10 năm Canh Ngọ)
DƯƠNG THUHƯƠNG


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0