Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

THỜI THƠ ẤU GIAN KHỔ (PHẦN II)-IAMIN MUXTAPHIN 🔒

23 trả lời, 2.294 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-01-28 11:42:18Ct.Ly>
PHẦN II
CHƯƠNG I

Người Bônsêvích ngoài Đảng
Đã hai tháng trôi qua kể từ ngày cụ mất.
Đưa đám cụ xong, các cậu ngơ ngác như gà con mất mẹ. Xtêpan là người đầu tiên nhận ra điều đó. Bác thấy con trai trở nên ít nói, không còn kể về việc làm của mình ở xưởng, không hỏi về chiến tranh, không hỏi loại xe tăng nào khoẻ hơn – “con hổ”, “KV”, “IX” hay “T-34” như trước nữa. Còn chuyện đi câu thì cậu hoàn toàn không nhớ tới nữa.
- Có chuyện gì xảy ra với thằng bé nhà mình thế nhỉ? - một hôm Grunhia hỏi chồng khi nhận thấy con trai lặng lẽ ăn xong, bỏ đi tới nhà Giamin.
Xtêpan như đã chờ câu hỏi này từ lâu:
- Ngoài mặt trận chuyện như thế vẫn thường xảy ra với cánh lính trẻ - bác im lặng một lúc rồi đáp - Một anh lính trẻ, khi người bạn chí thiết của mình hi sinh, dễ trở nên buồn rầu. Nhưng thường họ hay gan dạ hơn, dũng cảm hơn - đối với họ, mình không còn là mìn, đạn không còn là đạn nữa. Những lúc thế, người ta có vẻ như không còn thích đùa nghịch. Đấy là do tuổi trẻ, Grunhia ạ. Là vì tâm hồn còn trong trắng, thơ ngây. Tiếc là càng ngày, tâm hồn ấy càng phải chai lại… Chỉ có cụ Cudia, con người thật giàu tình cảm, là giữ được nó trong sáng mãi tới ngày cuối cùng của đời mình. Nhưng không sao, rồi thời gian sẽ hàn gắn tất cả, sẽ làm dịu bớt vết thương. Bọn trẻ chúng ta sẽ được tôi luyện dày dặn, và trái tim chúng sẽ hiểu được cần phải yêu cuộc sống thế nào… - Xtêpan dựa trên hay tay trống bằng gỗ rồi tìm cách ngồi thoải mái trên chiếc giường ọp ẹp phủ tấm da gấu đã cũ.
Grunhia đứng đối diện nghe chồng nói, đôi bày tay chai sạn dấu dưới yếm áo. Chiếc chảo đựng khoai tây luộc và bắp cải muối còn để trên bàn.
- … Như ngoài mặt trận chẳng hạn, tại sao ai cũng có thể sẵn sàng hi sinh vì người khác? Mẹ nó hiểu chứ, hi sinh vì bạn… Trong khi ai cũng có gia đình, ngời thân - thế mà ai cũng sẵn sàng hi sinh cả… Là vì chiến tranh, ai cũng giống ai. Mọi người đều chung một giường là mặt đất, chung một chăn là bầu trời, cùng ăn chung từ một nồi, đều phải chịu đựng như nhau. Số phận của ai cũng giống nhau là có thể bị giết bất cứ lúc nào, và cũng giống nhau về mục đích là tiêu diệt kẻ thù… Chính điều này làm cho người ta thân thiết với nhau. Không ai có bí mật riêng, có chăng chỉ là những điều thuộc tâm tình. Thế mà bây giờ, thử nhìn vào cuộc sống hàng ngày xung quanh chúng ta xem, và thấy những gì? Ai cũng có cái tổ riêng của mình… Như láng giềng của ta, Prônca chẳng hạn. Cùng làm việc với nhau, cùng tắm chung kì lưng nhau, thế mà hoá ra hắn lại là một con quỉ, một con chó sói… Còn cụ Cudia…
- Sao hôm nay bố nó bỗng nói say sưa thế? Cứ như là một nhà diễn thuyết ấy! – Grunhia ngắt lời chồng - Bố nó nên nói chuyện với Côlia và hỏi nó xem nó nghĩ gì trong đầu. Dù sao thì cụ Cudia cũng có phải là bà con của nó đâu mà nó cứ phải rầu rĩ thế mãi.
- Rõ bà này – Xtêpan thở dài - Chiến tranh đã cho thấy là những người hoàn toàn không quen biết có thể trở thành người thân và sẵn sàng hi sinh tất cả vì nhau. Hãy thử nhìn những người sơ tán đến Taisét mà xem! Ở đây với chúng ta, họ có cảm thấy xa lạ không? Cho nên mẹ nó đừng làm phiền lòng thằng bé… - Xtêpan nhìn ra cửa sổ và nở một nụ cười rộng mở. Bên ngoài con mèo vàng đang đứng cạnh mé cửa, giơ hai chân rtước cào cào vào cửa kính, không ngớt kêu meo meo đòi được cho vào nhà.
- Thôi được, để tôi vào xưởng gặp chúng nó, nói chuyện với đốc công. Có thể họ sẽ kiếm cho tôi một việc làm nào đó cũng nên – Xtêpan bỗng quay sang nói chuyện khác.
- Kiếm việc à? Còn lâu! – Grunhia đặt đĩa xúông bàn đánh “cạch” một tiếng trách chồng: - Cứ ngồi yên ở nhà có hơn không? Làm như không có bố nó thì mọi việc sẽ hỏng cả hay sao? Cống hiến như thế cũng đủ rồi…
- Thì tôi nói là nói thế thôi chứ - Xtêpan an ủi vợ - Chính bà chẳng bảo tôi gần gũi với bọn trẻ đấy mà…
Một lúc sau Côlia trở về, cùng đi có cả Giamin và Gôga. Mọi người chào nhau. Đã lâu Xtêpan không gặp các bạn của con trai, bây giờ thấy các cậu đã lớn hẳn lên, vai rộng ra, tiếng nói nghe ồm ồm…
- Nào, vào đi, các chàng trai, vào đi!
- Bố ạ, - Côlia bắt đầu – chúng con, con và các bạn đã làm cho bố một cái.. - rồi cậu sung sướng nhìn các bạn, làm mấy cậu này đỏ mặt, nói tiếp:
- Không, chẳng có gì đặc biệt đâu ạ…
- Đâu nào, đâu nào… Mang lại bàn xem nào. Như người ta vẫn nói, trao hàng phải cho xem tận mặt đã chứ - chủ nhà nói đùa, thân mật nhìn các cậu. Chống tay xuống đất, Xtêpan lê tới cạnh bàn.
- Lại thêm trò gì nữa thế? - từ sau bức tường chắn làm bằng những mảnh gốc ngăn góc bếp, Grunhia lấy que cời gõ vào chảo gang, nói vọng ra, giọng tức tối.
- Nhưng cái này không đặt lên bàn được ạ, - Giamin lúng túng trả lời – Nó ở kia, ngoài đường…
- Không sao, cứ mang lại đây! – Xtêpan vui vẻ nói. Bác chống tay nhấp nhỏm như múôn nhảy từ giường xuống và cùng các cậu chạy ra ngoài đường.
Gôga và Giamin vội lao ra sân. Côlia mở cửa và đứng giữ thế. Xtêpan nghe ngoài hiên có tiếng gì va vào bậc thang lạch cạch, và sau là tiếng thì thầm:
- Khẽ chứ, khéo gẫy bây giờ…
- Ngộ nhỡ bác không thích thì sao?
- Thôi nhanh lên, làm gì ngoài kia mà lâu thế?
Xtêpan lê người tới tận mép giường rồi vươn cái cổ ngắn và to về phía trước, như một đứa trẻ tò mò, nhìn qua khe cửa.
- Chà, cái máy hay thật! – bác ngạc nhiên khi thấy các cậu đẩy vào một chiếc xe ngồi có ghế tựa, bánh xe đạp – Khéo nghĩ đấy!
- Bố thích không? – Côlia hỏi
- Rất thích. Trông cứ như là mới từ dây chuyền nhà máy ra ấy. Mấy đứa em của mày tha hồ mà thích.
- Nhưng đây là để cho bố… - Côlia nói, giọng buồn rầu nhưng rất nghiêm túc - Từ nay bố tha hồ muốn đi đâu thì đi…
Xtêpan chăm chú nhìn từng cậu một rồi thở dài rõ to như mới ngoi từ nước lên
Các cậu nhìn Xtêpan hầu như cùng chung một ý nghĩ. “Nếu bây giờ bác ấy kêu lên: “Chúng mày điên rồi hay sao? Chúng mày xem tao là ai à? Tao là một đưa bé năm tuổi như thằng Xasa à? Thật khéo vẽ chuyện! Sao không mang đến cho tao chiếc núm vú cao su nữa…?””
Đã có một chuyện tương tự như thế xảy ra… Một lần vào mùa đông, một số công nhân trước cùng làm việc với Xtêpan ở xưởng, chở gỗ và củi dến, dỡ củi xuống xong, bắt đầu cưa. Xtêpan suýt làm vỡ kính cửa sổ vì những nắm đấm to lớn của mình, miệng không ngớt kêu to: “Các anh cho tôi là người tàn phế à? Cứ nghĩ là không còn chân thì đời tôi vứt đi hay sao…?”
Hồi lâu Xtêpan ngồi im, làm vợbác ta phải nói vọng từ bếp lên, giọng lo lắng:
- Cãi nhau rồi hay sao mà im lặng thế? Tôi hỏi mọi người, ngậm hột thị cả rồi à?
Các cậu lúng túng nhìn nhau, đã định kéo xe ra ngoài nhưng cuối cùng Xtêpan lên tiếng:
- Các cháu ạ, thật bác không biết cảm ơn các cháu thế nào nữa… - giọng bác run run – các cháu không biết là đã giúp đỡ bác thế nào đâu. Có thể nói, các cháu, chính các cháu đã trả chân lại cho bác… - Rồi Xtêpan bỗng kêu lên to: - Mẹ nó đâu, Grunhia! Lên mà xem các cậu tặng tôi cái gì này! Nào, đẩy xe lại đây!... – Xtêpan cười như một đứa trẻ.
Các cậu chen nhau đẩy xe lại gần, giúp bạc tuột từ giường xuống chiếc ghế ngồi bọc vải bạt trong xe.
- Thật cứ như ngồi trên yên ấy! Cừ lắm! mẹ nó trông này, trông kĩ vào xem bọn này có giỏi không! – Xtêpan khéo léo cho xe nhanh nhẹn đi lại giữa những chiếc ghế, quanh căn phòng rộng của mình. Bác cười khà khà, thỉnh thoảng lại vừa lắc đầu vừa kêu to: “Tuyệt thật, thế này thì tuyệt thật”. Còn Xasa thì cứ bám riết sau xe, luôn miệng năn nỉ:
- Bố ơi, cho con đi với! Bố tiếc à?
Côlia bế Xasa ngồi lên cổ mình:
- Để anh làm ngựa cho em cưỡi, đồng ý không? Không được lại gần bố nhé!
- Thế thì thích quá! Em thích cữơi ngựa hơn! – Xasa kêu to
Grunhia mỉm cười, nói:
- Sao không mang đầu máy xe lửa về đây luôn thể?
- Mẹ nó xem, các cậu ấy tặng tôi đấy nhé – Xtêpan sung sướng nói to – Khoái thật! Bây giờ thì tôi có thể đi đâu tuỳ ý! Tự đi, không cần ai giúp đỡ.. Chà! Trước hết phải làm một vòng khắp đường đã…
Grunhia đứng nhìn chồng vui thích và thấy các cậu bé sung sướng, không hiểu sao bỗng oà lên khóc rồi bế xốc Xasa trên tay, chạy ra ngoài.
Xtêpan nhận thấy các cậu đang bối rối:
- Không sao, không sao đâu các cháu ạ. Bà ấy vẫn thế đấy… Người lớn có khi như vậy. Tốt hơn là bây giờ nói cho bác nghe các cháu kiếm đâu ra những chiếc bánh xe thế này. Và cả bi, trục nữa. Một lần, thậm chí bác còn định tháo từ cày ra. Bác nghĩ vào xưởng người ta sẽ giũa lại… Các cháu khó hình dung nổi phải cảm thấy mình là một đứa bé thì khó chịu thế nào. Suốt 35 năm đi bằng chân, thế mà đùng một cái, cả hai chân đều mất. Thế đấy, khi lành lặn thì ít người nghĩ đến sức khoẻ, ít nghĩ đến giá trị từng bộ phận của cơ thể mình.
Xtêpan cảm dộng đến nỗi các cậu phải lấy làm ngạc nhiên, vì từ khi từ mặt trận về tới nay, có ai nghe bác than phiền về một điều gì đâu, thế mà bây giờ, lại thổ lộ nỗi lòng…
- Ai đã nghĩ ra chuyện này thế, các cháu?
- Cậu này – Côlia chỉ Giamin – Nó đã tháo bánh xe đạp của nó. Còn làm thì bọn con làm chung…
- Lúc vẽ mẫu, chúng cháu đã cái nhau đấy, bác Xtêpan ạ! Đứa nào cũng muốn làm chiếc xe kiểu thật mới – Gôga nói thêm
- Thế cháu có bị mắng không? – Xtêpan hỏi Giamin
- Không, mẹ cháu có biết. Thật ra, lúc đầu mẹ cháu nói là sau này các anh cháu từ mặt trận trở về sẽ trách, nhưng sau lại bảo: “Thôi, bác Xtêpan cần hơn, lấy đi!”. Chúng cháu làm cả tháng mới xong đấy – Giamin đáp
- Bố ạ - Côlia nói – Chúng con còn định dựng bia cho cụ Cudia. Cụ ấy chẳng có ai là người thân cả…
- Tốt lắm! Người tốt thì bao giờ cũng phải nhớ đến… - Xtêpan ủng hộ - Thế định làm bia bằng gì?
- Có thể lấy một tấm sắt hàn lại, trên đắp một ngôi sao đỏ với dòng chữ: “Tưởng nhớ đảng viên Bônsêvích Bêlôgrivưi Cudơma Mitrôphanôvích – các đoàn viên thanh niên cộng sản Taisét”.
- Thế là tốt các cháu ạ. Có điều hơi phiền một tí là cụ Cudia không phải là đảng viên.
- Sao lại không? - Cả ba đồng thanh hỏi
- Chúng con vẫn thường nghe cụ nói: “Lão là một người Bônsêvích cả tâm hồn lẫn thể xác, vì lão hoàn toàn ủng hộ các tư tưởng của Lênin” – Côlia nói, lúc bối rối nhìn bố, lúc nhìn các bạn.
- Không, cụ Cudia không phải là đảng viên, - Xtêpan nhắc lại và thấy các cậu có vẻ thất vọng, hạ giọng nói tiếp – Nhưng cụ ấy, các cháu ạ, trong tâm hồn là một người cộng sản chân chính. Bản thân việc làm của cụ đã chứng minh điều đó. Cho nên, theo bác, cụ xứng đáng được ghi dòng chữ ấy trên bia. Vâng, Bêlôgrivưi Cudơma Mitrôphanôvích xứng đáng được ghi như thế…
Bỗng Gôga hỏi:
- Bác Xtêpan, thế bác có phải là đảng viên cộng sản không?
- Có
- Lâu chưa?
- Mới thôi. Từ khi ở ngoài mặt trận…
- Sao lại từ khi ở ngoài mặt trận? – Côlia đỏ mặt hỏi
Câu trả lời của bố đã làm cậu ngạc nhiên. Trước chiến tranh, nếu có ai hỏi cậu bố có phải là đảng viên không, cậu sẽ không do dự mà trả lời là có. Ở chỗ làm việc, bố cậu được mọingười kính trọng, là lao động tiên tiến, trong các cuộc họp trọng thể, bố cậu luôn được bầu vào đoàn chủ tịch, các ngày lễ, thường dẫn đầu đoàn người diễu hành và bao giờ cũng cầm cờ. Người khác thường tìm đến bố cậu hỏi ý kiến, nhờ giúp đỡ.
- Sao lại chỉ từ khi ở ngoài mặt trận thôi hả bố? – Côlia hỏi lại
- Con hỏi tại sao à? Được, bố sẽ trả lời. Có điều, chuyện này cũng khá dài đấy… Bây giờ các cháu chưa hiểu hết đau. Các cháu còn phải hiểu biết nhiều. Đời các cháu còn dài. Trong đầu nghĩ thế nào thì ngoài đời sống thế ấy. Cũng như làm bánh mì ấy mà. Bánh nướng có xốp, có ngon hay không là nhờ vào men chua đấy.
Xtêpan suy nghĩ một lúc rồi nói tiếp, giọng chậm rãi, long trọng:
- Bác sẽ cố gắng giải thích tất cả cho các cháu nghe như bác đã hiểu. Còn sau thì tự các cháu suy nghĩ lấy, có còn bé nữa đâu. Các cháu ai cũng đã học hết lớp bảy. Bác nghe nói các cháu còn định học tiếp nữa. Bác tán thành điều đó. Bác nghĩ thế này: người đảng viên của đảng chúng ta phải là người trong sạch như pha lê. Như một người mẹ hiền nghiêm khắc, bản thân không ăn miếng nào chừng nào chưa cho người khác ăn no. Anh ta phải là người nghĩ về mình ít nhất và chỉ được nghĩ về người khác. Các cháu biết Lênin và những đồng chí cùng hoạt động với người là người như thế nào rồi đấy. Trách nhiệm của người cộng sản lớn lắm… Nói thực với các cháu, trước chiến tranh bác không dám vào đẳng, sợ không gánh vác nổi trách nhiệm nặng nề đó. Trách nhiệm không riêng đối với bản thân mà còn đối với người khác. Tự mình phải làm gương cho người khác. Nhưng ngoài mặt trận, sau vài lần giáp mặt với cái chết không thấy sợ, lúc ấy bác mới hiểu là mình có quyền trở thành đảng viên cộng sản. Trước trận đánh cuối cùng, bác đã làm đơn xin được kết nạp… Có thể bác nói không trôi chảy lắm… Nhưng bác thấm thía và hiểu đảng mình rất rõ. Bác biết chắc một điều là người cộng sản là một người đặc biệt, nhưng đồng thời cũng là người bình thường. Đúng thế đấy, các cháu ạ. Vì danh hiệu ấy bác đã đổ máu, và nhiều người khác hi sinh cuộc sống của mình… Nghĩa là bác không thể và không có quyền sống dễ dàng và no dủ hơn người khác… - Xtêpan dừng lại một lúc xem các cậu tiếp thu lời của bác thế nào – không hiểu bác nói thế các cháu có hiểu không? Hơn nữa, cái này khó nói lắm.. Cũng khó như nói bác yêu cuộc sống, yêu quê hương, tổ quốc thế nào… Thế này nhé: bác yêu các cháu, yêu cái nhà của bác, yêu xưởng cơ khí, yêu rừng tâig, yêu mưa, yêu tuyết… Nhưng phải thể hiện cái tình yêu ấy ra nữa chứ! Thành ra, các cháu ạ, người cộng sản là người ngay thẳng nhất, nguyên tắc nhất. và dứt khoát là anh ta phải biết hiểu và giúp đỡ người khác. Thế nào, con hiểu bố chứ?
Côlia gật đầu, nhìn các bạn như muốn hỏi: “Còn các cậu thì nghĩ thế nào?”
- Hẳn là thế - Gôga nói thay cho cả bọn, và tiếp – Làm đoàn viên trách nhiệm đã không dễ rồi… còn đảng viên cộng sản, thì khỏi phải nói…
- Phải, không dễ, đúng thế. Nhng nó cũng không phải là gánh nặng. Đó là một vinh dự lớn – Xtêpan nói rồi tự ngắt lời mình – À mà sao bác nói nhiều quá rồi. Hôm nay các cháu mang tặng… Thôi, mà các cháu đi làm đi! – Xtêpan quay xe sang phải, một tay lăn bánh đi về phía hiên. Đến cạnh cây cảnh sum suê lá, bác dừng lại, lấy tay vuốt nhẹ những chiếc lá to ónh ánh - Mẹ nó ơi, nhớ tưới nước cho cây! – bác gọi vọng vào nhà
Các cậu phấn khởi ra khỏi nhà. Mọi việc hôm nay đều tốt đẹp cả. Bác Xtêpan rất hài lòng khi nhận chiếc xe, ủng hộ ý kiến dựng bia cho cụ Cudia, và các cậu lại còn được nghe bác nói hay như thế về những người cộng sản nữa. Xtêpan ngả người vào lưng xe rồi bỗng bấc lên không thành tiếng. Bác lấy tay lau khô nước mắt, hồi lâu nhìn trân trân về phía trước
- Thế nào, các cậu ấy đi rồi à? - vợ bác bước vào và hỏi
- Đi rồi, Grunhia ạ, đi rồi, - giọng bác hơi khàn – Chúng là những đứa bé tót, sau này sẽ trở thành những con người chân chính
- Vâng, đúng thế, cảm ơn chúng…
- Mẹ nó biết đấy, chúng tình cảm lắm! Nghĩ ra cái xe này, không quên cụ Cudia…. Cuộc sống bây giờ khó khăn là thế mà chúng vẫn đứng vững, không kêu ca, chịu đựng tất cả… Trong bọn, Gôga là khó hơn cả, thế mà nhìn xem, cũng đứng vững…
Grunhia nhận thấy có sự thay đổi nào đấy trong giọng chồng, bước lại gần, áp người vào vai bác, hỏi:
- Bố nó định đi làm thật đấy à? Tôi biết, tôi biết mà - chị thở dài – Lúc nào bố nó đi? Bố nó sợ không có mình thì người ta không làm được việc hay sao? – Grunhia khóc thút thít như một đứa trẻ rồi khẽ yêu cầu – Xtêpan, đừng giận tôi. Tôi nói không đâu vào đâu. Xung quanh bao nhiêu là điều đau khổ…
- Không sao, không sao. Tôi hiểu… Bây giờ mẹ nó vất vả hơn bao giờ hết. mà nói chung phụ nữ ửo đâu bây giờ cũng thế. Còn chuyện đi làm… - Xtêpan nói chậm lại, âu yếm nhìn vợ rồi cương quyết nói: ngay ngày mai, thứ hai, tôi sẽ đi làm…
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG II
Ngôi sao trong tâm hồn

Mùa hè đã đến lúc như chiếc khăn thần giải bàn bỗng một chốc cho thiên nhiên biết bao món ăn quí; trong rừng sâu, hắc mai đã chín, ở những khu rừng rậm, bên những sông nhỏ và dòng suối hay cạnh các mạch nước, anh đào dại đã trĩu quả. Đây là lúc không khí sặc mùi phúc bồn tử đen, cây tầm ma, và đầy tiếng vo ve của hàng trịêu con côn trùng có cánh. Những chiếc mạng nhện lớn, lấp lánh như bạc dưới ánh nắng mặt trời. Trên các mỏm đất cao, việt quất chín mọng khoe màu sặc sỡ.
Tất cả những ai có thể đi vào rừng taiga là đều đi hái quả. Những quả hắc mai màu xanh đen được phủ một lớp bụi lông trắng mỏng, trông đẹp một cách lạ lùng. Những quả chín mọng nước, to bằng đầu ngón tay út đung đưa trên những cành mảnh khảnh, chỉ cần khẽ đụng một cái là có thể rụng xuống đất hàng loạt. Người ta hái hắc mai bằng những chiếc gáo con, làm bằng vỏ đồ hộp, mép trước có răng cưa. Chỉ cần kéo đi kéo lại vài lần chúng đã rụng đầy gáo. Thậm chí, cả những người chậm chạp nhất cũng có thể hái đầy thùng trong vòng hai ba giờ. Hắc mai được đem làm bánh ngọt, cho lên lò sưởi sấy khô để dành mùa đông, đem ăn với sữa, một thời gian lâu sau, răng vẫn cứ xanh lè. Vào những dịp này, nhà ai cũng phảng phất mùi quả chín ngọt dịu.
Sau hắc mai là đến lam mai, một loại quả lớn hơn, có màu lam, nhưng trong thơờ gian chiến tranh, người ta ít hái vì chua, chỉ để làm mứt là tốt nhưng không có đường. Việt quất là thứ quả được dân Taisét hái nhiều hơn cả. Mà việt quất thì nhiều lắm. Ai đi hái chẳng thích. Hắc mai còn bị khô héo, dập nát chứ việt quất thì cứ như những hạt đạunhỏ lăn vào gáo rồi vào giỏ, những chiếc lá nhỏ, cứng, kêu sột soạt. Về nhà dễ nhặt sạch và vặt lá, một công việc khá thú vị. Người ta thường đặt lên bàn một tấm gỗ dốc thoai thoải, hai bên có mép chắn. Đổ việt quất lên tấm gỗ, quả lăn xuống dưới còn rác và lá thì đọng trên mặt gỗ. Sau đấy, chúng được đem ngâm để dành mùa đông; cho vào thùng,d dậy nắp gỗ lên rồi lấy đá nặng nén chặt. Dần dần, việt quất sẽ cho một thứ nước giống rượu nho ủ lâu năm, ngày một giọt. Sau một công việc nặng nhọc, hay sau khi ở nhà tắm hơi ra được uống một cốc thì không còn gì bằng!
Suốt bốn mùa, cái đặc sản hiếm có này của rừng Xibêri đã giúp rất nhiều cho người dân ở đây.
Vào ngày chủ nhật cuối cùng của háng Tám, các cậu rủ nhau đi hái mâm xôi cạnh ga Bairônốpca. Đây là vùng nhiều phúc bồn tử, cả những người ở xa cũng tìm tới đây.
Tối hôm trước, Côlia gặp Tamara ngoài đường làng, cạnh giếng, khi cô bé đi lấy nước. Suốt mùa hè, Tamara cùng các bạn trong lớp làm việc ở nông trang tập thể. Cô bé lớn hẳn lên và bây giờ trông giống một cô gái Xibêri chính cống – đi chân đất, mặc áo xaraphan điểm hoa, một tay xách hai chiếc thùng, một tay cầm chiếc đòn gánh.
- Thế nào, đã về rồi à? – Côlia hỏi, thậm chí quên cả chào, ngắm nhìn cô bé như mới gặp lần đầu.
Tamara nhận thấy điều đó, lúng túng. Cô bé để chiếc đòn gánh lên vai, không hiểu để làm gì rồi lại đặt xuống, mặt đỏ ửng
- Mình vội, Côlia ạ. Ở nhà đang chờ nước – Tamara liền nói rồi đi lại gần giếng nước - Bọn mình về hôm qua…
- Sao Tamara phải ra đây lấy nước? Cạnh nhà bạn có giếng cơ mà? – Côlia hỏi tiếp, quên khuấy là các bạn đang chờ mình ở nhà Giamin.
- Người ta quên đậy nắp giếng, có con mèo nhà ai bị chó đuổi đã rơi xuống đó… - Tamara vừa đáp, vừa cho gầu xuống giếng. Cô bé phải nhón chân khi quay tời kéo nước. Côlia nhìn Tamara và nghĩ thầm: nhỡ ra tay quay bỗng tuột khỏi tay cô ta thì sao?
- Để mình giúp nhé? - cuối cùng cậu cũng nghĩ ra việc cần làm, rồi nắm lấy tay quay, quay vù vù làm lắc mạnh cả giàn giữ.
- Ôi! – Tamara kêu lên – Khéo không đứt dây đấy…
- Mình mà quay thì không đứt được! – Côlia vui vẻ đáp, vừa lấy lòng bày tay hãm dần tay quay, cho đến khi chiếc gầu cham mặt nước, dây kéo căng. Côlia ké dây xách gầu nước và nói: - Đấy, thấy không, ổn cả… Bọn mình sắp đi hái phúc bồn tử - cậu nói tiếp – Chúng mình biết những chỗ chỉ hai ba giờ là có thể hái đầy thùng.
- Làm gì có chuyện ấy! – Tamara nói vẻ không tin
- Tamara không tin à? Cứ hỏi Giamin mà xem…
- Cho bọn mình đi với.
- Bọn mình là ai?
- Là mình và Nhura. Mình chưa bao giờ hái quả ở rừng taiga thực sự.
- Không hiểu các cậu ấy thế nào chứ mình thì… được thôi…
Trong lúc nói chuyện, Côlia đã múc đầy cả hai thùng nước. Tamara móc hai đầu đòn gánh vào thùng, rồi bước đi từng bước ngắn. Nước trong thùng sóng sánh té ướt chân và gấu váy cô gái. Côlia rất muốn lại giúp nhưng một cảm giác xấu hổ nào đó rất khó tả đã bắt cậu ta đứng im.
- Thế là bọn mình ngày mai cùng đi với các cậu nhé? – Tamara ngoái lại nói
- Được, chuẩn bị đi! – Côlia nói theo rồi chạy một mạch tới nhà Giamin, nơi các bạn đang đợi cậu.
- Cậu làm gì mà lâu thế? - mấy cậu kia hỏi
- À, mình phải giúp cô bé người Matxcơva lấy nước – Côlia lấy giọng bàng quan đáp
- Cô ấy đã về rồi à? – Giamin đỏ mặt hỏi
- Ừ, - Côlia đáp – cô ta bảo có con mèo rơi xuống giếng ở nhà… Trông cô ta mà buồn cười. Người thì bé, phải với tay mới tới tay quay… Thành ra mình phải giúp… Buồn cười thật…
- Có gì mà phải buồn cười? – Giamin bỗng hỏi - Thế cậu cho là nếu cô ta cao như cây sào thì hơn à?
- Cây sào? Mình nói là nói thế thôi, chưa gì cậu đã bảo là “cây sào”… Mình chỉ giúp cô ta…
- Thì hãy nói trắng ra là cậu thích cô ấy – Gôga vừa nói vừa cho thức ăn vào thùng và nhìn Côlia vẻ ghen tị - Con gái Mátxcơva cơ mà!
- Này, nếu cậu muốn biết thì mình nói cho mà nghe. Mình hoàn toàn không thích một đứa nào trong bọn con gái cả, - Côlia nổi nóng – Còn cái cô này thì được nước gì nào? Hả? Có đuôi sam và tóc quăn à? Người thì thấp bé, gánh có hai thùng nước mà đã còng lưng, rụt cổ lại. Chắc là lần đâầ tiên đi chân đất ra đường, lúng túng, không biết nhìn vào đâu. Chỉ có mình không để lộ ra mà thôi…
- Sao lạ nói với mình làm gì? Đối với mình thì điều đó hoàn toàn không quan trọng – Gôga nói để làm bạn nguôi giận – Thôi, giúp mình chuẩn bị đi, kẻo sáng mai phải dậy sớm.
Giamin nghe hai bạn đấu khẩu nhau và cảm thấy tất cả những gì liên quan đến cô bé Mátxcơva không phải là không quan trọng đối với cậu. Suốt mùa hè qua, một ngày làm việc mười hai giờ, cậu không hề gặp Tamara một lần nào. Tất nhiên, cậu có thể gặp nếu đi vào rạp chiếu bóng hay câu lạc bộ đường sắt, nhưng có lúc nào được rỗi đâu. Từ xưởng về, cậu phải giúp mẹ bổ củi để dành mùa đông, tưới rau, xách nước… Chủ nhật thì câầ liềm vào rừng cắt cỏ cho bò, xếp lên xe chở về nhà phơi khô. Tuy thế, Giamin vẫn luôn luôn nhớ đến Tamara và lúc nào cũng thấy lo lắng, hình như những người xung quanh đã thấu tận đáy lòng của cậu và biết được tình cảm của cậu đối với cô bé người Mátxcơva kia. Và điều đáng ngạc nhiên hơn cả là trước kia, đi làm về, cậu ngủ say không bao giờ mộng mị, thế mà bây giờ hầu như đêm nào cậu cũng mơ thấy Tamara, bao giờ cũng muốn nói với cô một điều gì, hay làm một việc gì tốt lành nào đó. Một lần trong mơ, thậm chí cậu còn định hôn cô ta nữa, nhưng cô ta, đúng như cậu vẫn thấy trong phim, đã cho cậu một cái tát nên thân, làm cho cậu chợt tỉnh. Từ đó, Giamin cố không nghĩ về Tamara. Thế mà bây giờ Côlia lại đang nói về Tamara như thể đoán ra Giamin đang nghĩ gì, và chủ tâm trêu cậu…
- Này các cậu, - Côlia thận trọng nhìn Gôga, hạ giọng nói – mình chưa nói với các cậu điều quan trọng nhất: đó là việc Tamara và Nhura muốn đi hái phúc bồn tử với bọn mình - rồi cậu lại liếc nhìn Gôga, tin lần này chắc Gôga thế nào cũng chế giễu.
- Và tất nhiên cậu vội bảo: hay lắm, chuẩn bị đi! Bọn tớ có các cô đi sẽ vui hơn! – Gôga chộp ngay
- Thì cậu bảo tớ còn biết nói thế nào nữa! Cô ta bảo chưa bao giờ được thấy rừng taiga thực sự…
- Đấy, đấy, thế mà cứ bảo là cậu không thích cô bé Mátxcơva
Giamin cố giấu không cho các bạn nhận thấy là mình đang vui sướng. Ngày mai, Tamara sẽ ở với các cậu suốt ngày. Cậu sẽ xách giỏ cho cô, hái cho cô những quả to nhất, chín nhất. Tamara chỉ việc hát và hái hoa. Lúc này trong rừng, trên các gò đất cao có thể hái được hoa xaranca, một loại hoa màu da cam có chấm. Không hiểu sao cậu cảm thấy như loại hoa này, trong địêu nhạc buồn, có thể tự kể cho mọi người nghe vì sao chúng đẹp thế mà không có mùi thơm. Từ ngày biết Tamara yêu hoa, Giamin cũng bắt đầu chú ý tới chúng, cái đẹp, cái kì lạ của thiên nhiên. Cậu sẽ dạy Tamara cách đào cả bụi xaranca, và nhất định sẽ cho cô nếm các củ của nó có vị ngọt như dưa bở. Như tất cả các cậu bé Taisét, Giamin rất thích ăn củ loại hoa này. Không hiểu Tamara có thích không nhỉ? Sao lại không? Như cậu chẳng hạn, cậu sẽ thích tất cả những gì Tamara thích… Và sau nữa, thế nào cậu cũng phải làm một việc gì đó thật đặc biệt để Tamara chú ý đến cậu… Bỗng Giamin cảm thấy hoảng hốt: nếu Tamara thích Côlia hơn cậu thì sao? Cậu cảm thấy hai má mình nóng bừng. Và cậu tưởng tượng bỗng có con gấu nhảy từ bụi rậm ra, há miệng xông vào Tamara. Lúc ấy, Giamin sẽ cho mọi người biết cậu là người thế nào! Cô bé thấy gấu thì sẽ hoảng sợ kêu thé lên. Còn cậu thì vượt lên mọi người, lấy gậy gõ vào chiếc thùng rỗng, tiến thẳng về phía chúa tể rừng taiga…
“Giamin, quay lạ!” – Tamara sẽ kêu lên và ngã xuống, bất tỉnh. Còn Giamin, thì vẫn tiếp tục gõ thùng, vừa đuổi theo con gấu đang bỏ chạy rồi quay lại với Tamara, bế cô lên tay mang về tận nhà. Côlia và Gôga tất nhiên sẽ muốn giúp đỡ, nhưng cậu nhất định sẽ không giao cô bé cho ai. Còn Nhura lắm mồm thì thế nào cũng sẽ chạy theo, than thở cho đến tận nhà: “Trời ơi, Tamara, làm sao thế này! May mà cô có được một người bạn dũng cảm như vậy”.
- Này, cậu làm sao thế? – Côlia cắt đứt dòng suy nghĩ của Giamin – Mình gọi, gọi mãi mà cậu cứ như thằng điếc…
Giamin lúng túng một lúc rồi sôi nổi nói:
- Không, các cô ấy sẽ không đi hái phúc bồn tử với bọn mình.
- Và chính mình cũng nghĩ thế - Gôga lên tiếng.
- Cậu quên là vùng ấy năm ngoái gấu đã tha đi một bà à? Bà ấy đi xa mọi người chừng bốn chục bước, thế mà… Và chắc cậu còn nhớ chính bọn mình cũng đã gặp ở đấy một chú gấu con, phải không? Cũng may mà bọn mình đang đứng tụm với nhau và gõ thùng đến nhức óc nên nó phải bỏ chạy. Còn bọn con gái, thì chỉ cần thấy thế cũng đủ chết ngất rồi…
- Ừ, đúng thế, - Côlia nói – Nhưng khốn nỗi cô ta tha thiết xin đi… Và nói là múôn được thấy rừng taiga thực sự.
- Cô ta là con gái thì cô có thể xin đi, - Gôga lại nói – Cô ta có biết vùng ta đâu. Cứ làm như công viên Mátxcơva không bằng… Chắc lại nghĩ là ở công viên Mátxcơva có cây thì trong rừng taiga cũng có cây. Thật buồn cười… Các cậu có nhớ năm ngoái cả lớp vào khu rừng cạnh Taisét không? Cô ta hái đúng một ôm hoa lan tiên, hoa anh đào dại… Người khác hỏi tại sao hái nhiều thế, cô ta ôm chặt vào ngực, đáp: “Thế nhỡ sau không tìm thấy nữa thì sao?” Đấy, buồn cười không? Sợ không tìm thấy hoa ở rừng taiga!
- Có gì mà buồn cười? – Giamin vặn lại - Cậu mà đến Mátxcơva xem có làm người ta ôm bụng lăn ra mà cười không?
- Bao giờ thì các cháu mới tản về nhà hở? – Thím Samsura hé cửa sổ, nói vọng ra - Định sáng mai dậy sớm mà bây giờ cứ chần chừ mãi, thật là những người hái quả hạng bét.
- Chúng con xong rồi, trong khoảnh khắc thôi mẹ ạ - Giamin đáp
- Miệng bảo trong khoảnh khắc mà suốt một giờ rồi vẫn cứ quanh quẩn bên mấy chiếc thùng. Như thể sửa soạn đi xa hàng tuần ấy không bằng… Giamin, đi tìm con bò về hộ mẹ. Bò người ta về hết rồi mà con Pêxtrukha nhà mình vẫn chưa thấy đâu…
- Vâng ạ.
Các cậu kiểm tra lại một lần nữa xem có quên cái gì cần thiết không; hai chiếc rìu con, diêm, chảo, dao đi săn tự làm giống như những chiếc kiếm nhỏ kiểu Thổ Nhĩ Kì, muối, cuộn dây. Các cậu đặt chiếc thùng ở phòng ngoài.
- Sáng mai sáu giờ mình sẽ lại gọi các cậu, - Côlia nói – Mình về đây. Còn phải bổ mấy khúc bạch dương và xách nước nữa. Mẹ mình định sáng mai giặt quần áo mà chưa có tro.
- Ừ, về đi! Bây giờ mình cũng phải đi tìm con Pêxtrukha – Giamin bảo bạn.
- Để mình đi với cậu, - Gôga buồn rầu nói - Ở nhà, bà mình không để mẹ mình và mình yên. Quân phản chúa, bà mình bảo, đã làm hại con trai bà – Không biết đây là lần thứ mấy Gôga kể thế với bạn – Ngày nào bà mình cũng chỉ nói đi nói lại một điều: “Trời tru đất diệt chúng mày đi! Một mình con bà còn đáng bằng cả mẹ con chúng mày”. Rồi bà mình khóc, ôm lấy mình kể lể: “Cháu giống hệt bố cháu. Mắt bố mày cũng xanh này, còn thân hình thì thật đúng là dòng giống nhà ta…”. Mìh chán lắm rồi. Mình cũng thương hại bà mình, nhưng vẫn thấy khó chịu khi bà mình cứ xỉ vả mình và mẹ mình mãi như thế.
Giamin kiên nhẫn nghe bạn, chẳng biết nói gì. Cậu biết là ở nhà, Gôga đang khốn khổ như thế, nhưng bất lực không giúp được gì, nên lại càng cảm thấy khó nghĩ hơn.
- Hay cậu đến ở với mình? – Giamin đột ngột đề nghị.
- Sao được? – Gôga ngạc nhiên – Còn mẹ mình thì sao? Giá mình chong chóng được cấp chứng minh thư lúc ấy chắc bà mình không còn làm ầm ĩ lên như bây giờ.
- Hẳn là thế
- Giamin này, cậu nói mình nghe nhé… Có điều phải nói thật – Gôga bỗng bối rối, ngập ngừng, lúng túng.
- Cậu định nói gì? Mình có điều gì bí mật đâu?
- Đành thế… Nhưng cậu phải nói thật, - Gôga quay mặt - cậu… có thích Tamara không?
Giamin đớ người. Mặc dù đã chập tối, cậu vẫn sợ Gôga thấy mình đang đỏ mặt và tự đoán hiểu hết mọi chuyện…
- Thì sao? – Giamin cố trấn tĩnh, hỏi lại
- Cậu biết đấy… Nói chung, cô ta cũng không sao, chân thật. Kể ra cũng hơi buồn cười một tí; đáng lẽ hái hoa anh đào dại thì cô ta lại vơ tàn những cỏ. Cưa không biết cầm, gặp bò thì sợ đến chết… - Gôga im lặng một lúc rồi hạ giọng nói tiếp như người có lỗi – Nhưng mình thích cô ấy…
Giamin lại lặng người vì ngạc nhiên. Cậu tưởng chỉ mình cậu thích Tamara thôi, hoá ra…
- Pêxtrukha, Pêxtrukha! – Giamin bỗng kêu to rồi không trả lời Gôga chạy thẳng về phía rừng bạch dương, nơi có bóng những con bò lạc đàn thấp thoáng đi lại.
Trên đường về hai cậu im lặng không nói chuyện với nhau. Chỉ nghe tiếng con bò thở đều đều. Mỗi cậu đi một bên, hai tay để lên hông âm ấm bốc mùi sữa của nó. Hai con chó nhà ai chạy ra cất tiếng sủa vu vơ. Trong các sân, ngỗng kêu quang quác trước khi ngủ. Có tiếng ai gọi to trong đêm: “Burenca, Burenca!”
Tới nhà Gôga bảo:
- Liệu chừng sáng mai đừng có ngủ quên đấy.
Giamin mở cổng, vỗ nhẹ lên lưng con Pêxtrukha, cho nó vào chuồng. Để đáp lại, con bò ve vẩy đuôi như muốn nói: vâng, tôi biết là người ta đang chờ tôi.
- Gôga, thực ra… mình rất… - Giamin không nói hết câu, mà có nói hết thì Gôga cũng không nghe thấy vì cậu ta đã đi xa.
- Con đi đâu mà lâu thế? - tiếng mẹ cậu đang sửa soạn thùng vắt sữa từ phòng ngoài vọng ra - Mẹ chờ sốt cả ruột, người ta thì vắt xong, lọc rồi mà mẹ vẫn cứ phải chờ con mỏi mắt.
- Bò nhà ta chạy vào ăn ở rừng bạch dương, - Giamin vẫn còn đứng cạnh cổng khẽ đáp
Bây giờ cậu cảm thấy hoảng sợ vì điều vừa mới xảy ra, vì lời tự thú của mình. Cái điều mà cậu chưa bao giờ nói với ai, thậm chí không dám nghĩ tới nữa, thế mà bỗng chốc tự một nơi nào đó tận đáy lòng đã buột ra, và cậu có cảm giác nó đã xuyên qua trời chiều, sẵn sàng bay tới tận các vì sao. Nó đã làm xao xuyến tim cậu, làm má và tai cậu nóng bừng, làm đầu óc choáng váng.
Bây giờ toàn thân cậu như bị điện giật, người cậu run bần bật như đang lên cơn sốt. Lần đầu tiên, cậu thấy tim mình đập mạnh và dồn dập. Cậu bỗng hoảng sợ vì trạng thái này, nhưng rồi liền lúc ấy, cậu nhảy lên và như một chú dê con chạy lon ton ra sân.
Thím Samsura đang ngồi xổm cạnh con bò sữa, vừa nói những lời âu yếm, vừa lấy nước ấm rửa sạch các đầu vú của nó.
- Có chuyện gì thế? - người mẹ ngạc nhiên hỏi, vẫn tiếp tục dùng khăn lau cẩn thận các đầu vú đang có những dòng sữa ấm chảy ra - Thấy không, đi lang thang lắm, bây giờ căng sữa chảy cứ như là suối. Chúng mày cả hai là chúa thích đi chơi…
- Mẹ-ẹ! – Giamin kéo dài giọng và nắm lấy hai chiếc sừng ngắn cũn của Pêxtrukha hôn đánh chụt một cái vào mõm nó. Pêxtrukha lắc đầu, đánh đuôi vào hai bên hông.
- Sao mày cứ quấn lấy con bò thế? Vào nhà đi – bà mẹ nghiêm khắc bảo rồi chăm chú nhìn con trai - Đốt ấm xamôva có hơn là đứng quấy rầy con Pêxtrukha không?
- Con đi đây, mẹ ạ! – Giamin nói to và hôn vào mõm con bò một lần nữa rồi chạy vào nhà.
Vừa lẩm bẩm hát lẫn từ bài này sang bài khác, Giamin nhanh nhẹn đặt ấm lên lò, dùng chiếc ủng cũ thổi hơi cho to lửa rồi ngồi xuống cạnh chiếc cửa sổ để ngỏ. Bầu trời xanh điểm sao hôm nay đẹp lạ lùng. Giamin ngồi im và mỉm cười vì hạnh phúc mà chữ “yêu” không nói ra, nhưng đầy sức quyến rũ, đã mang lại cho cậu.
Cậu nghe rõ tiếng sữa nhỏ từng giọt vào mép và đáy chậu hứg, và sau là tiếng sữa chảy từng dòng đều đều. Cậu tưởng tượng thấy sữa nổi bọt, làm thành những chiếc bong bóng nhỏ. Con Pêxtrukha thì chốc chốc lại ngoái cổ nhìn mẹ cậu như muốn hỏi: bà còn định hành tôi đến bao giờ mới thôi đấy? Còn mẹ cậu thì vẫn như mọi lần, âu yếm bảo nó: “gượm nào, chờ tí nữa. Vắt kĩ thì mày sẽ nhẹ người hơn mà…”
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG III
Những chiếc tà vẹt nặng như chì

Nhưng đến ngày nghỉ hôm ấy, các cậu đã không vào rừng hái phúc bòn tử được; đang đêm người gác cổng xưởng cơ khí chạy lại, đập mạnh vào cửa sổ gọi to:
- Thím Samsura, đánh thức cậu con trai thím dậy ngay. Có lệnh của đốc công phải chất tà vẹt lên đoàn tàu khôi phục. Để tôi còn chạy đi gọi người khác. Bảo con thím nhớ gọi các cậu trong đội của nó. Thím nghe rõ chứ? Hay lại ngủ rồi?
- Bác cứ đi đi, tôi nghe rồi… - thím Samsura càu nhàu - Suốt hai tháng mới được một ngày nghỉ mà cũng chẳng để cho yên - Rồi thím thắp đèn, lại giường Giamin – Giamin, dậy con. Bác gác cổng xưởng vừa chạy lại đây bảo là phải bốc ngay tà vẹt lên tàu. Có đoàn tàu khôi phục nào đấy đang chờ, không thể để sáng mai được…
Giamin ưỡn người ngồi dậy, ngơ ngác dụi mắt hỏi:
- Không lẽ ngày nghỉ đã qua rồi?
- Dậy con, dậy! Phải đi làm bây giờ.
- Thế à? Sao mẹ không nói ngay?
Khi Giamin ra đến bậc thềm, mẹ cậu gọi theo:
- Con lại gọi các bạn con cùng đi. Nhớ đừng quên. Con bảo với bố mẹ các cậu ấy là bác gác cổng Kêkha truyền đạt lại lệnh của chính thủ trưởng như thế. Con hiểu chứ?
- Vâng.
- Ôi, biết bao giờ thì cuộc chiến tranh đáng nguyền rủa này mới chấm dứt? – Giamin nghe tiếng mẹ nói sau lưng - Đến ngủ cũng không cho bọn trẻ ngủ. Người ta đã cướp mất tuổi thơ của chúng…
Đã có khoảng hai mươi người tập trung ở phân xưởng rèn. Những người thợ rèn đang làm việc lúc ấy cũng được điều động đi khuân tà vẹt. Chỉ có một lò là vẫn tiếp tục làm việc, đó là lò của thợ rèn Viđônốp, hay bác Misa, như người ta vẫn gọi. Bác là một người gày gò, gù lưng, hai má trễ xuống trên khuôn mặt màu sáp ong bao giờ cũng ảm đạm, đôi mày màu hung đỏ luôn nhíu lại. Nhưng Viđônốp là thợ rèn thượng hạng, có thể làm các công việc tinh vi nhất. Khi làm việc, gò má bác khẽ ửng đỏ, đôi mắt mờ, nhợt nhạt vì ngọn lửa rèn ánh lên một cách kì lạ, đôi môi mỏng uốn thành một nụ cười. Bác Misa thường động viên người thơ quai búa bằng những câu pha trò, bằng những tiếng búa âm vang và ngân rung của mình. Chắc hôm nay bác phải làm một công việc quan trọng nào đó, nếu không, trong khi đang thiếu người huân tà vẹt thế này, người ta đã chẳng để bác và Anđơrây Xêliép, người thợ quai búa rất khoẻ mạnh của bác ngồi yên.
Đã ba giờ sáng mà người phụ trách vẫn chưa thấy đến. Mọi người đi đi lại lại như bầy ruồi ngái ngủ, uể oải nói chuỵên với nhau hay ngáp dài thành tiếng. Một số người cáu kỉnh lẩm bẩm: “Không chờ được đến sáng nay hay sao mà đêm hôm phải dựng người ta dậy thế này?”
Cuối cùng, đốc công Xamôrucốp từ phân xưởng dụng cụ đi ra. Vừa vuốt vuốt bộ râu rậm ám khói, ông vừa nhìn những người công nhânquanh mình, lẩm bẩm điều gì đó trong miệng rồi bắt đầu nói một cách mệt mỏi, chậm chạp, mắt nhìn xuống nền đất của phân xưởng rèn:
-Thế là người ta đã đánh thức các đồng chí dậy! Vâng… Các đồng chí tưởng mai sẽ được nghỉ một ngày, mà hoá ra lạ phải thế này đây. Tôi biết các đồng chí đang trách tôi, và nghĩ là chắc đốc công Xamôrucốp muốn tâng công với cấp trên, nên hắn ta không thể chờ đến sáng… Các đồng chí nghĩ như thế là đúng… Tôi có thể chờ đến sáng…. - Rồi bác bỗng ngẩng chiếc đầu to rối bù của mình và bắt đầu nói sang sảng, hoàn toàn không giống lúc nãy – Nhưng thử hỏi chờ đến mai thì còn ai ở nhà? Ai? Người thì đi xách súng vào rừng đi săn, người đi hái quả, người đi cắt cỏ… Cứ kiểu ấy, ít ra cũng gần chục người không ở nhà rồi. Nghĩa là chúng ta sẽ phải gánh phần của họ, chừng nào họ chưa tới xưởng làm việc vào thứ hai. Rồi lại còn phải để Viđônốp và người thợ cùng làm với bác ta ở lại xưởng nữa. Thành ra tất cả chúng ta phải chia nhau mà gánh phần việc của họ…
Trong khi đốc công đang say sưa noó thì các cậu trong đội của Giamin đến ngồi quanh bên chiếc lò rèn rực lửa và càu nhàu về việc vỡ kế hoạch ngày chủ nhật. Như một con vẹt, thằng Rỗ luôn muồm lặp đi lặp lại một câu:
- Thủ trưởng thì ngủ khì ở nhà mà chúng mình, như những thằng ngốc cứ quẩn quanh ở đây…
- Này Lênca, tao lấy kìm xoắn lưỡi mày ra đấy! – bác Misa giận dữ bảo hắn
Còn đốc công Xamôrucốp thì ngồi xuống đe, nói tiếp:
- Các đồng chí sẽ bảo là làm suốt mùa hè mà không được nghỉ một ngày nào! Vâng, tôi biết, tôi biết! Cả cán bộ lãnh đạo tuyến cũng biết. Thế các đồng chí tưởng ở ngoài mặt trậncũng có ngày nghỉ à? Tôi hỏi các đồng chí: ngoài mặt trận cũng có ngày nghỉ à? – Ông nhìn mọi người, hạ giọng nói tiếp: - Có, có điều là nghỉ dưới mộ hay như Xtêpan Xôlôcốp mà thôi… Khi hai chân bị cưa đến tận rốn.
- Bác nói diều này với chúng tôi làm gì, Piốt Pêtrôvích? - Một người nào đấy lên tiếng – Chúng tôi không phải là người và không hiểu hay sao? Kể ra để sáng mai thì cũng đỡ vất vả hơn thật…
Xamôrucốp bỏ chiếc mũ lưỡi trai bằng da mà bao giờ bác cũng đội, cho vào chiếc túi áo mưa rộng thùng thình của mình:
- Tất nhiên, cán bộ lãnh đạo tuyến của ta tốt lắm – bác chậm rãi nói tiếp: - Nếu biết tôi đã dựng các đồng chí dậy vào giữa đêm thế này thì có thể cắm ngòi nổ vào người tôi đấy…
Có tiếng cười nổi lên:
- Nhưng ngòi mà không có thuốc súng thì bác cũng chẳng tan xác được đâu, Piốt Pêtrôvích ạ.
- Chỉ có bỏng nặng thôi…
- Không sao, Piốt Pêtrôvích chỉ hơi hoảng thôi…
- Thì hắng cứ cho là thế - đốc công đáp lại những lời pha trò - Được, giả sử tôi chờ đến sáng mai mới gọi các đồng chí dậy, lúc ấy sẽ thế nào? – Bác tiếp tục thanh minh - Chờ các đồng chí tập trung đầy đủ, kéo nhau tới chỗ làm việc, dọn toa xe chuẩn bị chỗ làm… thì sớm ra đến 10-11 giờ mới bắt đầu làm việc được. Mà theo địên trên thì đúng 17 giờ 00 chuyến tàu đầu tiên đã phải sẵn sàng xuất phát rồi. Cho nên các đồng chí cũng tự hiểu tại sao tôi phải gọi dậy từ bây giờ?
- Có gì mà hiểu với chẳng hiểu!
- Thế thì tốt! Còn bây giờ, tinh thần đã nhẹ nhõm, ta bắt đầu đi thôi!
Vừa nói chuyện ồn ào, công nhân vừa bắt đầu ra khỏi phân xưởng rèn.
Bầu trời đêm như được nới rộng ra. Phương Đông đã rạng sáng, bắt đầu ngả sang màu xám sáng. Sao nhạt dần. Theo đoàn người cùng đi xa là tiếng búa nhỏ của bác Misa đập giòn giã xuống đe. Đáp lại những tiếng ấy là tiếng búa tạ ầm ầm và mạnh hơn.
Càng đến gần xưởng tà vẹt, mùi dầu crêôdốt càng bốc lên nồng nặc. Cạnh cổng ra vào là một bà lão mặc áo khoác ngắn, vẻ ngái ngủ, cây súng trường cổ lỗ sĩ kẹp giữa gối. Vẫn ngồi yên trên ghế, bà lão hỏi:
- Cả đoàn cả lũ kéo nhau đi đâu mà sớm thế này?
- Đi công việc, bà ạ…
- Đi đâu, đi đâu? – bà lão gác cổng đứng dậy, banh cổ áo ấm, đặt lòng bàn tay nhăn nheo lên vành tai
- Ngủ quên rồi, bà già ơi, lại còn hỏi “đi đâu, đi đâu” – Lênca nói như gầm gừ
- Tao cho mày biết tay, đồ nhóc, bảo tao ngủ quên à? – bà lão hùng hổ bước ra chặn đường nó - Giấy tờ đâu? Khéo pha trò đấy, con ạ. Tao nhẵn mặt thằng như mày rồi! Cứ trông cái mõm của mày cũng đủ biết xấu tốt thế nào!
Lênca định xông bừa lên phía trước nhưng bà lão đã đưa nòng súng gạt ra một bên rồi nghiêm khắc nói:
- Đứng yên! Không được làm phiền người khác. Chờ Ivan Chikhônôvích tới sẽ nói chuyện với mày.
Cái tên Ivan Chikhônôvích của một người bí mật nào đó đã được bà lão nhắc đến với sự kính trọng đặc biệt, đến nỗi xung quanh bỗng trở nên yên lặng trong chốc lát.
- Phải thế chứ - hài lòng vì thấy mình đã gây được ấn tượng cần thiết, bà lão nói, lần này đã dịu giọng
Công nhân thậm chí còn thấy làm thích thú về cái cảnh vừa xảy ra. Còn Lênca thì ngồi xuống chiếc ghế trong bục gác, nhếch mép nói:
- Mình thì chẳng việc gì phải vội cả. Mình có thể ngồi suốt ngày ở đây cũng chẳng sao…
Một người trong đám công nhân lại gần, ra bộ nói khó với bà lão:
- Này mẹ ạ, không thể để cậu này ở đây được. Cậu ấy rất cần cho công việc. Mẹ biết không, cậy ấy mà không được làm việc thì sẽ chết mất. Mẹ xem mặt cậu ấy buồn chưa kìa?
- Thật thế à? – bà lão ngạc nhiên – Thế mà tôi trông mặt hắn có vẻ gian xảo lắm, tuy có đẹp thật.
Lúc này Côlia, Gôga và Giamin đi lại:
- Thế nào, sao lại ngồi đây? – Côlia hỏi
- Các cậu thấy đấy, mình bị bảo vệ giữ lại đây cho đến khi chính Chikhôn Ivanôvích đến - Thằng Rỗ cười hì hì.
- Ivan Chikhônôvích, - bà lão chữa lại, rồi giận dữ nói thêm – Thôi, xéo đi, kẻo tao lấy báng súng nện cho bây giờ. Hay đấy, mọi người thì làm việc mà hắn thì ngồi ở chỗ ấm chờ Ivan Chikhônôvích. Không được! Còn mình, đã già mà vẫn ngốc, cứ tin là hắn thích làm việc thật.
Lênca miễn cưỡng đứng dậy, đi theo các bạn. Hắn nói:
- Thế có bực không… Định đã thế cứ ngồi đây cho khoái thì mấy thằng này lại đến. Thiếu mình thì có sao đâu…
- Cậu không nghe đốc công bảo gì à? – Giamin ngắt lời hắn – Trong kế hoạch người nào cũng có phần việc của mìn. Cậu tưởng là tà vẹt tự nhảy lên toa chắc?
- Tớ cần quái gì cái kế hoạch của cậu. Tớ là thợ nguội, không phải phu khuân vác, - thằng Rỗ càu nhàu – Bây giờ tớ mà không làm thì cũng chẳng ai làm gì được tớ…
- Thì thử xem! – Các cậu đi lại những đống tà vẹt. Cạnh đấy một đoàn tàu không đã đợi sẵn. Mùi trứng thối lẫn mùi dầu hoả xông vào mũi, vào cuống họng nồng nặc, khó chịu. Xung quanh có tiếng người ho. Đốc công Xamôrucốp chia toa không cho các đội trưởng, điểm người, hoá ra, một công nhân phải phụ trách một toa mà vẫn còn thừa năm toa trục kép ở cuối đoàn tàu. Cuối cùng, mọi người quyết định cùng bốc chung mấy toa này.
Bỗng một người lạ mặt mặc đồng phục đường sắt có một ngôi sao đỏ trên đường viền ve áo xuất hiện. Anh ta lại gần đốc công, tự giới thiệu:
- Tôi là Côriakin, trưởng đoàn tàu khôi phục. Các đồng chí phải hiểu cho là không có tà vẹt, chúng tôi không xuất phát được. Mà Mátxcơva thì yêu cầu phải khôi phục gấp các tuyến đường gần mặt trận. Tôi rất mong các đồng chí cố gắng. Các đồng chí biết đấy, tiền tuyến đang chờ chúng ta…
Giọng Côriakin đều đều và nhỏ nhẹ. Chỉ có đôi má hơi ửng đỏ và ánh mắt là để lộ vẻ xúc động.
- Cố gắng! Anh không thấy là ai phải vác tà vẹt kia à? - một người nào đấy trong số các đội trưởng lúng túng nói, hất đầu về phía bọn thiếu niên.
- Chúng tôi sẽ cố gắng, đồng chí Côriakin ạ, - Xamôrucốp nói - Quả là người chúng tôi thiếu thật, anh trông thì biết. Chúng tôi đứng vững được cũng là nhờ các cậu ấy. Tất nhiên, bắt các cậu ấy vác tà vẹt bây giờ kể cũng hơi sớm, nhưng biết làm thế nào được, thời chiến cơ mà!
Khi đồng chí trưởng tàu khôi phục đi khuất sau các đống tà vẹt, Xamôrucốp ra lệnh mọi người bắt đầu làm việc. Những người đang hút thuốc rít vội mấy hơi cuối cùng, lấy ngón tay bóp tắt những điếu thuốc tự quấn, rồi người thì cho vào túi đựng thuốc, người thì cẩn thận cho vào túi áo trong hay vào những chiếc hộp thuốc làm từ thời trước chiến tranh. Mọi người vội tản đi tới chỗ làm việc của mình, không ồn ào, lộn xộn.
Cạnh mỗi toa có những chiếc móc tà vẹt to tướng, lớn dễ gấp mười lần những chiếc thường, dùng để cặp đống tà vẹt trơn như cá sộp.
Đội của Giamin quyết định cả bốn người cùng bốc một toa, vì làm thế nhanh hơn, dễ đặt các thanh tà vẹt khó tính vào chỗ hơn. Một cậu dựng đứng các thanh tà vẹt, hai cậu khác đi đến, vác lên vai và mang đến toa. Cậu thứ tư sẽ dùng kẹp sửa và dồn chúng nằm sát nhau. Trong toa, công việc có vẻ nhẹ hơn nhưng cầnnhanh nhẹn và mắt phải biết ước lượng. Nếu có chiếc nào nằm chênh vênh mà không sửa kịp thời thì sau cả đống sẽ cồng kềnh, lộn xộn, phải dỡ ra xếp lại hết.
Giamin và Lênca khiêng mười chiếc đầu tiên. Côlia ở trong toa, Gôga dựng các thanh tà vẹt. Lúc đầu các cậu như nghẹt thở vì mùi crêôdốt, vất vả lắm mới giữ nổi những khúc gỗ vuông cạnh, ónh ánh đen, không hiểu sao cứ như cắn chặt vào vai, nhưng rồi các cậu cũng quen dần, làm nhanh hơn, các thanh tà vẹt như tự nhảy lên vai, gọn và chắc chắn đến mức có thể khiêng đi hàng cây số được.
Cứ khoảng 100m lại có một chiếc đèn mờ không đủ sáng để làm việc. Cạnh các đống tà vẹt còn có chút ánh sáng chớ ở gần toa và trong toa thì hoàn toàn tối om, phải vừa làm vừa sờ sẫm.
- Các cậu phải đốt lửa lên thôi – Lên ca bỗng đề nghị khi Giamin suýt vấp phải chiếc cầu gỗ để lên toa.
- Cậu điên hay sao mà nói thế? Không biết đang làm việc ở đâu à? – Gôga bác lại
- Lấp sau những đống tà vẹt thế này thì ai nhìn thấy mà sợ - thằng Rỗ vẫn giữ nguyên ý kiến của mình, lôi chiếc bật lửa từ túi ra - Tớ không muốn gãy cổ, nó còn phải đỡ đầu tớ nữa chứ!
- Côlia, Giamin ơi! – Gôga gọi to, đi lại gần Lênca - Cậu muốn đốt cháy tất cả hay sao? Ở đây cả thuốc lá cũng không được hút nữa là. Không thấy, các bác công nhân phải lại gần các thùng nước mới dám hút đấy à?
- Ai thì không được nhưng tớ thì được, - thằng Rỗ bướng bỉnh nói, bật lửa châm các vụn gỗ rồi quì xuống thổi. Ngọn lửa nhấp nháy mấy cái rồi bùng cháy, soi sáng chung quanh.
- Cậu làm gì thế này? - Có tiếng Giamin nói trên đầu hắn. Cậu đạp chiếc giày được khâu bằng lốp ô tô cũ lên ngọn lửa.
- Còn cậu thì làm gì thế? Nói gì thì nói, nhưng cám không được đặt chân lên đấy! Cậu tưởng là đội trưởng thì có quyền làm gì cũng được à?
- Đúng, có quyền! Mấy bác công nhân mày thấy thì thế nào họ cũng đấm cho vào mõm. Phải nhớ lấy điều đó…
Trời hửng sáng, mặt trời đã nhô lên sau dãy núi xa xa, các cậu nhìn mặt tưởng như mới gặp lần đầu, mặt cậu nào cũng loang lổ những vết dầu crêôdốt. Cả bọn chỉ tay vào nhau, cười to:
- Gì mà phải cười rống lên thế? - Thằng Rỗ nói - Người đã nhọ nhem như quỉ sứ, lại còn lấy thế làm sung sướng. Đồ quê kệch…
- Ai là đồ quê kệch? – Côlia nhảy từ trong toa ra - Tiếc là mày đang vác nặng, không tao cho mấy cú.
- Thì đấy! – thằng Rỗ càu nhàu hất chiếc tà vẹt xuống đất – Mày vác đi, tao vào làm thay mày. Làm như tao không biết, một thằng dựng đứng tà vẹt, thằng khác vờ vĩnh trong toa…
- Được, cậu vào thay Côlia đi – Giamin ngắt lời nói - Cậu chỉ được cái lắm lời. Còn thanh tà vẹt này, Lên ca, cậu phải mang vào trong toa..
Thằng Rỗ còn định nói gì, nhưng sau chỉ hằn học lườm các cậu rồi lặng lẽ cúi xuống. Hắn định dựng đứng thanh tà vẹt lên nhưng nó vẫn cứ bám chặt lấy mặt đất. Hắn thử đầu này rồi lại thử đầu kia, nhưng không thể làm gì được cả.
- Giúp cậu ấy một tay, Côlia, kẻo lại cố quá lòi ruột ra phải vào viện bây giờ.
- Kể ra danh dự cũng lớn đấy! – nhưng rồi Côlia cũng giúp hắn – Mà thanh tà vẹt cũng nặng thật đấy, - cậu nói vẻ thông cảm – Có lẽ bằng gỗ tùng lá rụng…
Bác đốc công đi lại, nhìn vào trong toa xem các cậu làm việc ra sao.
- Tốt lắm, các cậu, không thua người lớn tí nào! Nhưng cẩn thận, cũng đừng cố quá đấy. Cứ làm đều, chắc, không cần vội – Xamôrucốp khuyên.
Khi chất được nửa toa thứ hai, các cậu ít nói hẳn đi. Các cậu đã thấm mệt.
Bỗng Giamin nhận thấy không hiểu sao toa các cậu bây giờ xếp có vẻ như chóng đầy hơn. Cậu nói với Côlia. Côlia đáp:
- Có lẽ chúng mình đã quen, làm chóng hơn…
- Cậu chạy sang toa cạnh xem họ làm thế nào? – Giamin nói
Côlia chạy đi, một lúc sau quay lại. Vừa khoát tay vừa kêu to một điều gì đấy.
- Thế nào, họ có làm nhanh hơn chúng ta không? – Giamin hỏi
- Nhanh hơn à? Còn lâu! Họ xếp mới chưa đầy nửa toa – Côlia sung sướng báo tin
- Không thể thế được!
- Hoá ra mình nói dối à? Cậu chạy lại mà xem…
Giamin đứng suy nghĩ một lúc rồi đi sang toa cạnh. Trở lại cậu nói:
- Không, có lẽ tao của ta thế nào ấy… Ta xem lại một lần nữa đi, có thể xếp không đúng cách chăng?
- Kìa, sao bắt người ta chờ mãi thế? – có tiếng thằng Rỗ từ trong toa vọng ra – Khuân đi chứ, không đựơc đứng thế, Xôlôcốp. Bây giờ thì cậu biết vác tà vẹt nặng thế nào rồi nhé! Tao biết chúng mày láu cá lắm…
Côlia và Giamin bước lên toa. Côlia đứng lên hàng tà vẹt đầu tiên, nhìn vào phía trong, gần chân tường:
- Gì thế? Cậu để quên cái gì à? Xuống đi, mình sẽ tìm ngay được bây giờ. Mình biết rõ từng thanh tà vẹt một - thằng Rỗ nói lúng túng nhưng vẫn còn cái vẻ trâng tráo của nó.
- Này, tao sẽ cho mày biết tay, đồ giả dối khốn khiếp, - Côlia nhảy từ đống tà vẹt xuống, xông lại định đánh hắn – Giamin, cậu xem hắn làm gì này! Trong ấy còn có thể xếp gọn hưon chục thanh tà vẹt nữa. Hắn chừa cả những cái hang rộng.
- Thế này thì có lẽ phải cho mày vài quả đấm vào mõm hả? Như thế chẳng có ích mấy… Trước là rắn độc thế nào, bây giờ vẫn như vậy… Dỡ ra, xếp lại đi, đồ khốn khiếp! Cho đến cái cuối cùng mới thôi! – Giamin tái mặt tới gần Lênca, nói – Mày định đánh lừa ai, hả? Tà vẹt này là để chở ra mặt trận, đồ vô lương tâm! Mày không nghe người kia yêu cầu chúng ta thế nào và nói gì về việc Mátxcơva đang chờ à? Thế mà mày đình chừa trống nửa toa…
- Cậu định tuyên truyền hắn hay sao? Hắn có biết chữ đâu! – Côlia nổi nóng - Để mình cho hắn một trận, cha hắn phải vác cái mặt tím bầm mà đi. Dùng lời mà nói với hắn có ăn thua gì đâu!
- Côlia, không được! – Giamin đứng ra chặn cậu
Thằng Rỗ nép người vào tường. Chắc hắn vừa nhớ tới mùa đông qua, nhớ toa tàu, lò sưởi nóng và những quả đấm chắc nịch của Côlia.
- Mình định làm thế nào cho tốt hơn mà các cậu lại… - Lênca lẩm bẩm
- Dỡ xuống! – Giamin ra lệnh và gọi Gôga lại
- Các cậu làm gì ở đây thế? – Gôga vừa bước lên tấm gỗ bắc vào toa, hỏi.
- Thằng Rỗ lại giở chứng. Phải xếp lại cả đống tà vẹt.
- Bắt hắn làm một mình! Tớ mà là đội trưởng thì tớ đã giã cho hắn một trận từ lâu. Phải bắt hắn làm khoán mới được, cho hắn biết miếng bánh hắn ăn giá bao nhiêu… Buông lỏng với hắn không được đâu.. Nếu làm hết phần việc thì được lĩnh cả phiếu bánh mì, còn không làm được bao nhiêu, lĩnh bấy nhiêu.
- Gì mà hăng thế? - Đội trưởng ngắt lời cậu ta – Không nên lấy bánh mì mà doạ người khác. Làm việc thì tránh thế nào được khi thế này, khi thế nọ. Cậu không nhớ là thời gian đầu bọn mình cũng chỉ làm được 20-30% định mức đấy à? Nếu người ta cũng chỉ đưa cho mình chừng ấy phần trăm bánh mì thì hỏi có sức bây giờ mà làm việc nữa không?
- Mình không doạ, mà là giáo dụ-ục hắn – Gôga kéo dài giọng – Cái thằng này bao giờ cũng khôn vặt, giờ trò hại chúng mình, mà cậu lại còn bênh hắn…
Được Gôga cổ vũ, Côlia lại xông tới thằng Rỗ, giơ nắm đấm.
- Thôi để nó yên, các cậu, như thế cậu ấy cũng đã biết thân rồi. Bắt tay vào làm đi! – Giamin dùng kẹp cặp thanh tà vẹt trên cùng, kéo về phía mình.
Các cậu lặng lẽ làm việc, chỉ đồng thanh xuýt xoa kêu lên mỗi khi có thanh tà vẹt nào dó nặng đổ sầm xuống. Mặt trời đã nung nóng mái sắt che toa, khiến các cậu làm việc như trong một chiếc lò sưởi nóng bỏng. Chật chội. Mùi dầu crêôdốt bị sấy nóng, bốc lên, xông vào cuống họng.
Khi các cậu dỡ xong đống tà vẹt mà Lênca đã xếp một cách giả dối và đang bắt đầu cẩn thận xếp lại từng cái một thì đốc công Xamôrucốp đến. Ông nhìn vào toa, ngạc nhiên hỏi:
- Sao các cậu lại tụ nhau một chỗ thế này? Nếu định nghỉ thì ra ngoài trời mà nghỉ.
- Chúng cháu gặp phải mấy thanh tà vẹtt cong không chịu nằm gọn với nhau đành phải dỡ ra xếp lại, - Giamin ngảnh đi chỗ khác, không nhìn mặt đốc công, đáp.
- Thế thì làm việc đi. Các cậu để người khác vượt rồi đấy. Nhanh lên một tí. Chiều đã có đầu máy đến kéo. Rồi ông lại biến mất sau toa xe, các vụn gỗ dưới chân kêu lạo xạo.
- Thấy chưa, Lênca, chỉ vì cậu mà cả đội mình có thể làm không kịp đấy – Côlia nói qua kẽ rằng – Làm nhanh lên và cất cái mặt phụng phịu ấy đi…
- Mình có phụng phịu đâu… Vẫn làm hết sức đấy chứ. Cậu nhìn xem… - Lênca nhấc lên vai một thanh tà vẹt rồi loay hoay không biết đặt vào đâu.
- Ai bảo để lên vai làm gì? Có thể lấy cái kẹp mà kéo kia mà? – Côlia lại bực bội nói - Cậu thì nặng mà bọn mình thì thêm vướng.
Khuân đầy toa xong các cậu đã nằm xoài trên mặt đất, chân duỗi thẳng, tay giang ngang, mắt nhắm lại. Chỉ bây giờ các cậu mới nhận thấy chân và các ngón tay của mình run run. Khó mà tưởng tượng nổi bây giờ có ai có thể nhấc các cậu khỏi mặt đất đầy mùi cỏ và dầu hoả đã được mặt trời sưởi ấm này.
Cái mệt và buồn ngủ đè lên người các cậu không tài nào cưỡng nổi. Thậm chí, không tin được là mặt đất đầy mảnh gỗ nhọn lại có thể mịn màng, êm ả, còn không khí lại trong lành dễ chịu đến thế. Cỏ xung quanh thấm dầu crêôdốt, nhưng lác đác vài nơi, ở chân các đống tà vẹt, cạnh đường ray, một vài bông hoa ngưu bàng tim tím khẽ lung lay trước gió, những cây cúc vươn những nụ hoa trắng, nhỏ với những chiếc lá dài, yết ớt, về hướng mặt trời.
Cạnh các toa khác, mọi người cũng đã kẻ ngồi, người nằm, quá mệt mỏi vì công việc. Họ chậm rãi nói chuyện với nhau. Giamin không nghe rõ những gì họ nói với nhau nhưng đoán là vẫn như mọi khi, người lớn đang nói về tình hình chiến sự, rồi sau thế nào cũng nhắc đến những người đã hi sinh hay những người trở về tàn tật, bàn nhau giúp họ cắt cỏ, lấy củi, vì mua thu đã đến gần.
Giamin thấy một vài cậu đã thiếp đi. Một con muỗi vo vo bay đến rồi lao xuống đốt vào tay Gôga. Nhưng gặp phải lòng bàn tay chai sạn không lấy gì làm mềm lắm, con muỗi đập cánh, vuốt vuốt hai chân trước tìm chỗ hiểm để châm nọc. Cuối cùng, nó tìm được chỗ mềm, cong đít định cắm chiếc vòi xuống da. Không nhịn được thêm, Giamin đập đánh đét một cái. Một vệt máu đỏ hằn xuống da. Không nhịn được thêm, Giamin đập đánh đét một cái. Một vệt máu đỏ hằn trên tay người ngủ. Gôga ầm ừ mấy tiếng gì đấy trong mơ, lấy tay gãi gãi chỗ con muối vừa đậu, rồi trở mình ngủ tiếp.
Đốc công lại đến. Ông không nói gì, chỉ mở cửa toa đánh kẹt một cái, chăm chú nhìn những thanh tà vẹt to, chắc, trông giống như những con cá lớn bị chặt đầu và đuôi, rồi lại đóng sập cửa.
- Vẫn làm việc tốt đấy chứ? – ông hỏi, rồi không đợi trả lời, nói tiếp: - mà cậu, đội trưởng, không nên để các cậu ấy nằm thế, sau chỉ mệt thêm. Làm gì cũng vậy, phải quen mới được, - rồi ông bỏ sang toa khác, hai tay chắp sau lưng, đầu hơi cúi về phía trước.
Giamin cầm một chiếc que xúông đất bên cạnh đặt một hòn sỏi nhỏ, “khi nào bóng chiếc que đổ tới hòn sỏi, mình sẽ đánh thức các cậu ấy dậy”. - cậu nghĩ bụng rồi ngả lưng xuống đất.
Trên trời, những đám mây nhẹ, thưa thớt đang lững lờ bay. Nhìn như dán mắt vào chúng, Giamin cảm thấy mình cũng đang bay, cả mặt đất đỡ những toa tàu đầy hàng, cả xưởng tà vẹt khổng lồ với ống khói cao ngút cũng đang bay. “Mình đang bay! Hoan hô! – suýt nữa thì cậu kêu lên – nghĩa là mình không ở một chỗ, mặc dù đang nằm. Mặt đất nhưmột con tàu đang chở mình đi giữa các vì sao…”. Ý nghĩ này làm cậu hết sức thích thú, nhưng đồng thời không hiểu sao cũng làm cậu cảm thấy buồn nữa. Giamin nhắm mắt, rồi lại mở mắt. Cậu tin chắc là cậu có bay thật, thậm chí còn hơi chóng mặt nữa… Điều khám phá mới mẻ này làm cậu xúc động, hồi hộp. Cậu lập tức đánh thức các bạn dậy và hỏi chúng có thấy đang bay như mình không.
Côlia miễn cưỡng mở mắt, vừa ngáp vừa đáp:
- Thì đã sao? Mây bay, mình bay…
- Còn mình thì có vẻ như bay, có vẻ như không – Gôga thờ ơ đáp
- Tưởng gì lạ lắm! Bay hay không cũng thế - thằng Rỗ càu nhàu rồi nằm sấp.
- Đúng là mình bay thật, các cậu ạ! – Côlia bỗng kêu lên – Có điều phải nhìn thật chăm chú mới thấy.
Nghĩa là tất cả đều bay. Nghĩa là ước mơ của cậu (Giamin sợ, chưa bao giờ kể với ai, ngay tự thú với mình cũng còn thấy ngại ngùng) sẽ trở thành sự thật… Rồi liền lúc ấy cậu đã nghe Lênca ngáy. Hắn gối đầu lên tay, ngủ ngon lành, không nhớ gì tới việc vì hắn làm dối mà cả đội phải vất vả xếp lại cả một đống tà vẹt gần 50 chiếc.
Giamin lay sườn Lênca
- Dậy, đồ lười, ngủ như thể một mình cậu vừa xếp xong tất cả mọi toa.
- Thế các cậu khác? - hắn càu nhàu – Mình phải làm hơn người khác, hả? À!
- Người ta đã dậy cả rồi
Các cậu vất vả bước những bước đầu tiên. Cúi xuống nhấc tà vẹt lên khỏi mặt đất, các cậu thấy các cơ bắp đau nhức như có một người vô hình nào đấy lấy gậy nện lúc thì xuống đôi vai rát bỏng, lúc thì vào tay các cậu…
- Đồ chết tiệt! - thằng Rỗ bông kêu to rồi hất thanh tà vẹt vừa đặt lên vai xuống đất.
- Cậu tưởng ở đây là thiên đường, muốn làm gì thì làm, không thì thôi à? – Côlia lại gần hắn - Cậu xem cậu đã làm gì… Bọn mình thì nhấc lên, còn cậu lại vứt xuống. Hay chỉ mình cậu đau vai thôi?
- Thôi, Côlia – Giamin ngăn bạn - Cậu ấy mệt, không chịu nổi…
- Thế mình, mình không mệt à? Gôga cũng không à? – Côlia nhăn mặt nói như sắp oà lên khóc.
Giamin quay mặt sang chỗ khác, nói:
- Tất cả đều mệt, nhưng cậu ấy mệt hơn cả. Cậu ấy chưa quen làm những việc như thế này. Đến cắt cỏ cậu ấy cũng không biết, cả đến xẻ gố, bổ củi cậu ấy làm cũng chẳng nên thân…
- Đúng thế, chỗ mình làm gì cũng bằng máy… Còn liềm thì chưa bao giờ mình cầm lên tay… - Lênca lúng búng nói.
- Đấy, thấy không. Làm gì chưa quen cũng mệt. Sau một vài lần sẽ thấy đỡ hơn.
Lại tiếp tục làm việc. Để tiết kiệm sức, các cậu thong thả bước từng bước đều đặn như những người thơ khuân vác cẩn thận và kinh nghiệm.
Khi xếp xong toa thứ hai, trời đã xẩm tối. Đốc công đi lại mấy lần, giục:
- Nhanh lên, các cậu ơi, nhanh lên tí nữa! Kẻo không các cậu phải về sau cùng đấy. Các toa khác người ta sắp xong rồi.
Các cậu nghe ở đâu ông cũng nói như thế, nhưng vẫn cố làm nhanh để không phải xong cuối cùng. Khi mọi người ra về, trời đã tối hẳn. Một người nào đấy trong đám công nhân lớn tuổi nói buông một câu với người khác, cũng mệt mỏi như bác ta và đang không buồn động lưỡi:
- Mấy cậu kia thế mà giỏi, làm chẳng thua gì cánh mình.
- Thật thế, không chê vào đâu được! Cả thằng Lênca cũng làm ra trò…
Lênca nghe hai người nói chuyện với nhau, lên tiếng:
- Được điếu thuốc quấn mà hút, đội trưởng nhỉ, - dù biết trong đội không cậu nào hút thuốc.
Sự việc xảy ra đúng như nó dự định, - ngay lúc đó một người trong đám công nhân lớn tuổi bảo cậu:
- Này sếu vườn, lại đây! Hôm nay cậu làm việc khá lắm.
Thằng Rỗ đi lại:
- Nghĩa là cậu sống theo nguyên tắc: muốn bon chen của người khác chứ gì? Lấy đi, lấy đi… thêm tí nữa… Này, cầm lấy, chốc nữa hút.
- Thôi, đủ rồi ạ, chừng này cả đội hút vẫn còn thừa, - Lênca nói, vẫn không tin là tại sao những người này, lúc sáng keo kiệt với cậu thế, bây giờ lại một lúc cho cả một nhúm thuốc lớn. Và nói chuyện với cậu như người ngang hàng. Công nhân thật là khó hiểu.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
Giamin chưa kịp vào nhà thì mẹ cậu đã chạy ùa ra đón bằng những tiếng kêu sung sướng lúc thì khóc, lúc thì cười, trong bóng tối mẹ dơ cho cậu xem một chiếc phong bì ba góc.
- Này, xem đây, đọc đi, đọc đi… Thư của anh mày đấy… Còn sống.. Chỉ bị thương thôi. Ở đâu thì không thấy nói. Anh mày còn nhắc đến mấy con hổ gì nữa. Cô láng giềng đã đọc cho mẹ nghe rồi. Con đọc mẹ nghe nữa đi…
Giamin chậm rãi đọc bức thư của anh hai lần. Cậu giải thích cho mẹ biết “con hổ” là tên một loại xe tăng mà bọn Đức hết lời khoe khoang, và anh cậu đã dùng đại bác bắn cháy hai “con hổ” như thế, và đang được đề nghị tặng thưởng. Còn “cung sông” là một nơi ở ngoại vi thành phố Cuốcxcơ, nơi hai tháng liền đã xảy ra những trận đánh lớn, ác liệt. Ở đấy bọn Đức bị quân ta cho nếm đòn có lẽ còn đau hơn ở Xtalingrát nữa.
- Sướng quá, con nhỉ! – thím Samsura nói, tay vẫn giữ chặt bức thư. Rồi như chợt tỉnh, thím nói - Ồ, sao mẹ lại hoàn toàn quên khuấy con thế này! Mừng quá hoá ra quên cả… Mà người con bốc mùi dầu hoả hay mùi gì nữa mẹ không hiểu. Bọn con làm việc ở xưởng tà vẹt à?
- Vâng.
Trong lúc Giamin cởi bộ quần áo dính đầy dầu crêôdốt ra, mẹ cậu đặt chảo khoai tây, sữa và một miếng bánh mì nhỏ lên bàn. Khi cậu cởi áo sơ mi để lau rửa người phía trên, mẹ cậu kêu lên:
- Ôi, vai con làm sao thế này? Ngã ở đâu à? Da bong hết.
- Con vác tà vẹt, do chưa quen đấy mẹ ạ… Những người chuyên làm việc cở đấy có đệm lót vai, còn bọn con thì cứ thế… - cậu con trai đáp rồi an ủi mẹ - Không sao, mẹ ạ, rồi sẽ khỏi… Chính mẹ thường nói, quí hồ xương cốt nó không gẫy thôi, chứ thịt da thì sẽ mọc lại…
Sáng hôm sau, phải khó nhọc lắm thím Samsura mới đánh thức được Giamin dậy. Cậu luôn miệng nói: “Bây giờ, con dậy bây giờ” nhưng lại quay sang ngủ tiếp. Mẹ cậu phải kéo cậu sang chiếc phản, nhúng tay vào nước, vuốt mặt cậu
- Con dậy đây, dậy đây mà – Giamin uể oải mấp máy môi, ngồi dậy mặc quần áo
Toàn thân cậu đau nhức khó chịu. Cậu thấy như chân không còn là của mình nữa, đạp xuống đất cứ như chân giả. Vất vả lắm mới mặc xong quần áo, ăn vội mấy miếng, cậu xách chiếc túi đựng thức ăn ra đi.
- Mẹ làm cho con cái này đây – bà mẹ chìa cho con trai miếng đệm lót vai làm bằng ống tay áo ấm cũ – Có lẽ đỡ đau hơn.
Giamin muốn ôm chầm lấy mẹ, nói với mẹ lời cám ơn, nhưng rồi kìm lại: như tất cả các thiếu niên mới lớn lên, cậu cố đối xử với mẹ làm sao cho có vẻ chững chạc. Thím Samsura đã hiểu được trạng thái này của con trai: đôi mắt cậu để lộ niềm vui và lòng biết ơn, cái mà cậu thẹn thùng không muốn nói.
Thím vỗ vào lưng con dịu dàng nói:
- Đi đi, con… Các bạn đang huýt sáo gọi con đấy.
Ngày bốc vác tà vẹt thứ hai bắt đầu. Côlia cũng có một chiếc đệm lót vai, khâu bằng hai ống tay áo len. Không ai làm cho Gôga và Lênca miếng đệm lót. Người nào vác tà vẹt thì người ấy dùng đệm lót.
Công nhân xưởng cơ khí phải vác tà vẹt suốt tuần. Sau đoàn tàu khôi phục, người ta còn kéo đến đoàn tàu không nữa. Các toa xe sạm đen, lỗ chỗ vết đạn. Bánh và các bộ phận giảm xóc đầy các vết xước hoen gỉ. Ở một số toa, cửa vênh vẹo, chống vào nhau, phải lấy búa tạ đánh hồi lâu mới mở ra được. Mà người ta nói đoàn tàu này cần phải ra mặt trận còn gấp hơn đoàn tàu trước. Lần này có thêm công nhân xưởng sửa chữa đầu máy và xưởng sửa chữa toa xe đến khuân vác nữa. Trong số họ, không có ai là thiếu niên. Một người đàn ông má phính, đỏ, dáng nhanh nhẹn, trên ve áo có hai ngôi sao, lăng xăng chạy đi chạy lại dọc đoàn tàu, luôn miệng nói như quát. Bộ comlê vải len màu xám của ông ta cứ thấp thoáng hết chỗ này đến chỗ nọ. Ông ta tới đâu là công việc ở đó dừn glại, vì mọi người phải nghe ông ta giải thích về việc mặt trận phải chờ tà vẹt ra sao, và còn cả việc phải vác tà vẹt thế nào nữa. Ở đâu ông ta cũng nhấn mạnh đến địa vị công tác của mình:
- Với tư cách là đại diện cục, tôi nói với các anh như thế…
Ông lấy làm ngạc nhiên và phẫn nộ khi nhìn thấy đội công nhân thanh niên của xưởng cơ khí. Sau ngày làm việc hôm trước, các cậu trông rất mệt mỏi.
- Mấy cậu này là ai thế này? – ông ta bực bội hỏi Xamôrucốp đang đi theo – Làm được trò trống gì mà ở đây? - rồi hất đầu về phía bọn thiếu niên – Tôi được chính cục trưởng trực tiếp giao nhiệm vụ đon đốc việc bốc xếp tà vẹt, mà anh thì huy động những người thế này à? - Giọng ông ta vang lên the thé, bàn tay mũm mĩm luôn chém vào không khí - Thật chẳng khác gì một vườn trẻ, anh hiểu chứ? Anh định đánh lừa ai đấy?
- Đồng chí bình tĩnh… Bây giờ tôi sẽ giải thích tất cả để đồng chí rõ, - bác đốc công định thanh minh.
- Không cần giải thích, tự tôi cũng thấy tất cả!
Xamôrucốp muốn cho ông ta biết là ở xưởng của bác chỉ còn lại mấy người ốm yếu. Viđônốp và anh thợ phụ của bác ta, và hơn một nửa công nhân của bác bị điều đi công tác đột xuất trên tuyến đờng cho kịp trước khi mùa rét tới.
- Rút mấy cậu nhóc này đi. Chúng chẳng làm được tích sự gì, chỉ quấy rầy người khác, - không chịu nghe đốc công nói, ông đại diện cục ra lệnh.
- Sao lại thế? – Xamôrucốp hỏi
- Xong! Không ý kiến gì nữa. Bây giờ là thời chiến. Đã đến lúc anh phải hiểu điều đó. Đấy là lệnh của tôi. Còn chúng mày, bọn nhóc, đi về!
- Từ lâu chúng tôi không còn là nhóc nữa… - Giamin bước lên phía trước, nói.
- Cái gì? Mà đang nói với ai như thế? Đồ vắt mũi chưa sạch!
- Chính ông là vắt mũi chưa sạch thì có, - thằng Rỗ lên tiếng.
- Mày nói gì? Muốn ra toà à?
- Này, đừng doạ chúng tôi, chúng tôi không nhát lắm đâu! - thằng Rỗ lại hằn học nói
- Oai nhỉ, ra bộ thủ trưởng lắm! Loại ấy cánh mình xơi tái thôi! – các cậu thi nhau nói
Ông đại diện bẽ mặt. Khuôn mặt tròn trĩnh của ông ta đỏ bừng. Ông béo phệ thấy trước mặt mình là những cậu bé quần áo lem luốc đang giận dữ nhìn ông, bèn vung tay đe doạ
Công nhân nghe tiếng ồn ào chạy lại, biết rõ chuyện, phá lên cười. Ông kia có lẽ đã nhận thấy mình sai, bèn nói:
- Thôi được, cứ để chúng làm việc, nhưng tôi bảo trước là có việc gì xảy ra, dù nhỏ, dù lớn, cậu phải dơ đầu ra mà chịu trách nhiệm.
- Không phải cậu mà là bác phải chịu trách nhiệm, - một cậu trong bọn chữa lại - Thế mà cũng đòi là tri thức!
Như bộ không nghe thấy gì, ông đại diện cục nói thêm:
- Ta sẽ bàn tiếp ở đảng uỷ! - rồi xúng xính trong chiếc quần rộng, ông ta hấp tấp hướng đôi chân ngắn cũn của mình về phía cổng.
Xamôrucốp định đi theo, nhưng rồi khoát tay, quay lại chỗ các cậu.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
Chương IV
Misa chơi phong cầm

Giamin nghe nói là các bạn lớp cậu học cũ quyết định tổ chức một buổi tối khiêu vũ. Côlia đã nói điều này với cậu khi giờ nghỉ trưa kết thúc, mà Côlia thì do gặp Nhura ngoài phố, cô bé vẫn nhanh mồm nhanh miệng như mọi khi, đã kể cho cậu nghe tất cả những tin tức mới mà cô biết. Cô giáo dạy toán Nhina Mikhailốpna, sơ tán từ Lêningrat tới, nhận đực giấy báo tử: chồng cô là phi công đã hi sinh. Còn học sinh lớp trên sẽ đến nông trang tập thể lao động một tháng kể từ ngày mồng một tháng chín.
- Các cậu tới khiêu vũ nhé, - lúc chia tay, Nhura mời - đến đấy sẽ biết cả. Chứ không, chỉ rặt bọn con gái. Bọn nữ mình chán nhảy với nhau lắm rồi.
Học sinh lớp trên thường đi tới những buổi khiêu vũ, mà thực ra cũng chẳng còn nơi nào hơn mà đi nữa. Phim ở câu lạc bộ công nhân thì hoạ hoằn lắm mới có. Nếu có nghệ sĩ nào đó tới biểu diễn thì cũng không tài nào vào xem được. Còn trên sân khiêu vũ thì mọi người có thể nghỉ ngơi, giải trí, tạm quên chiến tranh.
Thấy Giamin bảo là muốn đi khiêu vũ, mẹ cậu gật đầu:
- Tất nhiên rồi, nên đi, con ạ. Suốt mùa hè thậm chí conc hẳng vào rạp chiếu bóng lần nào.
- Nhưng con biết mặc gì mà đi bây giờ? – Giamin đỏ mặt hỏi.
Thấy vậy, mẹ cậu lấy ra một bộ com-lê đen của anh cậu, khâu vén tà áo lên, sửa lại ống áo và thân lưng rồi là lại cẩn thận. Chiếc quần thì được kéo lên gần tới ngực, lấy thắt lưng thắt chặt, còn hai ống thì được nhét vào ủng.
- Chà, trông con dịên quá! – bà mẹ âu yếm nói và nhìn con trai như đã lâu lắm không gặp – Con lớn hẳn lên rồi đấy, giống anh con như đúc…
Và thế là, lần đầu tiên trong suốt cả mùa hè, Giamin đi dự buổi khiêu vũ tổ chức trong vườn, cạnh câu lạc bộ. Thậm chí đây cũng chẳng phải là vườn nữa, mà chỉ là một khu đất con, có hàng rào màu xanh, với dăm cây dương, hè dến lại nở bông trắng xoá, và một ít bụi cây thấp bị dê gặm trụi. Giữa vườn là sân khiêu vũ, được ngăn bằng những thanh gỗ mỏng. Cạnh cửa ra vào thường có thím Masa ngồi soát vé. Thím là một người đàn bà cao to, chẳng thua gì một thủ trưởng lực lưỡng. Thím thường cất giọng oang oang hỏi:
- Này, định đi bừa vào đâu thế? Không thấy người ta đang ngồi đây à? Chìa vé ra! Ghê nhỉ! Không thì xì tiền đây.
Ít người cãi lại thím. Ngay cả Lênca cũng phải gờm vì lần đầu tiên cậu định đi chui không vé đã bị thím cho biết tay, phải bẽ mặt.
- Này, định đi bừa đâu thế? – Thím Masa hỏi, vẫn cái giọng oang oang như mọi khi – Chìa vé ra!
- Cái gì, cái gì? Vé nào? - thằng Rỗ trâng tráo hỏi lại
- Đừng có giở cái giọng ấy ra! Còn trẻ lắm, con ạ! – Thím Masa gằn giọng nắm chặt tay áo hắn – Vé đâu, đưa đây! Tao bảo! Nếu không thì biết tay đấy! – và thím dơ nắm tay hộ pháp của mình trước mặt hắn.
- Có buông ra không? - thằng Rỗ gầm gừ, cho tay trái vào túi vẻ hăm doạ.
- A, định doạ tao đấy hả? – thím Masa hét lên rồi nhẹ nhàng lấy chân gạt hắn ngã xuống đất – Không có tiền mua vé thì hỏi xin tử tế, không được giở trò lếu láo…
Sau vụ này, lần nào thằng Rỗ cũng mua vé tử tế, và thím Masa cũng chẳng bao giờ nhắc lại với hắn cái lần gặp gỡ đầu tiên ấy.
Cạnh sân khiêu vũ là bệ dàn nhạc, linh hồn của cả buổi khiêu vũ. Nhạc công là những thanh niên bề ngoài trông khoẻ mạnh nhưng một số thì bị bẹt chân nặng. Một số khác làm việc ở đường sắt, thuộc vào diện không thể điều đi đâu được. Họ ăn mặc khá diện; ủng cao cổ, áo ngắn bó chẽn, mũ lưỡi trai bé không đủ che mái tóc. Nghe nói loại mũ này đang là mốt thịnh hành ở tất cả các thành phố lớn.
Thường thì một lúc chỉ bốn người chơi, còn những người khác thì xuống nhảy. Ít ai có thể bằng họ về khoa nhảy. Trông họ ôm các cô gái quay những vòng tuyệt đẹp thì không người nào không lấy làm khâm phục. Khi có máy hát thay nhạc thì đám nhạc công hoàn toàn làm chủ sân khiêu vũ. Các ô gái sung sướng vì được mời. Những cô xinh nhất mỉm cười ngoan ngoãn theo họ ra sân.
Giamin cũng thích nhảy, nhất là địêu van-xơ “Trên núi đồi Mãn Châu Lí”. Mặc dù các nhạc công chơi sai bét, nghe nhạc Giamin nhớ tới cụ Cudia, người vẫn hay lẩm bẩm hát điệu van-xơ ấy. Kể ra, nghe nó và nhớ tới cụ Cudia đã khuất có làm cậu thoáng buồn thật. Nhưng cậu vẫn thích địêu nhạc quen thuộc này. Người nhảy với Giamin bao giờ cũng là một cậu nào đấy trong số các bạn trai. Cậu xấu hổ không dám mời các cô gái nhảy, và lấy làm ghen tị khi thấy bọn con trai bằng tuổi thản nhiên, không hề bối rối là gì, cầm tay các cô gái dắt ra chính giữa sân.
Hôm nay, tới dự khiêu vũ Giamin mong ước được mời Tamara cùng nhảy.
Cậu chững chạc đi qua trước mặt thím Masa, đàng hoàng chìa vé cho thím rồi đưa mắt nhìn quanh. Mới chỉ có ít người tới. Giamin lấy làm mừng khi thấy Tamara chưa tới, nghĩa là cậu sẽ có đủ thời gian suy nghĩ nên mời cô nhảy thế nào và nói với cô những gì. Thậm chí, cậu còn muốn dàn nhạc bắt đầu chơi ngay bây giờ để cậu mời thử một cô gái nào đấy trước đã. Giamin đã để ý thấy một ôc, nhìn lên dàn nhạc, nhưng ở đấy cả nhạc công lẫn nhạc cụ đều chưa có. Chỉ bây giờ Giamin mói chú ý nhìn các cô gái vẫn hay nhảy với cánh nhạc công. Cô nào mặt cũng hơi buồn. Đã bắt đầu có tiếng người nói, vẻ không hài lòng:
- Nổi nhạc lên thôi!
- Dàn nhạc đâu rồi?
- Chủ tịch câu lạc bộ?
Thím Masa móc khoá vào cửa, bước ra chính giữa sân khiêu vũ, cất giọng oang oang:
- Xin các đồng chí bình tĩnh. Sẽ bắt đầu ngay bây giờ, không phải về đâu mà sợ. Sẽ múa đến một giờ sáng.
- Sao dàn nhạc vẫn chưa thấy?
- Bây giờ tôi sẽ giải thích. Các nhạc công ấy à? Các bạn thân mến ạ, họ đã được động viên vào quân đội sáng nay rồi. Ông chủ tịch câu lạc bộ suốt từ trưa tới giờ đang tìm xem có ai biết chơi loại đàn nào không.
- Thế thì cho vặn máy hát lên!
- Cả người phụ trách máy hát cũng nhập ngũ. Nhưng không sao, lát nữa ông chủ tịch tới. Ông ấy biết làm việc này. Tôi chỉ biết sử dụng máy quay tay thôi.
Tiếng xì xào bực tức lại nổi lên trên sân khiêu vũ. Giamin lấy làm tiếc là đã gặp một buổi tối như thế này. Cậu đã định bỏ về thì ông chủ tịch tới. Theo sau ông là một người thọt chân trái, mang một chiếc đàn phong cầm đựng trong chiếc hộp cũ kĩ. Có tiếng cười chế giễu. Anh này đỏ mặt, ngồi xúông chiếc ghế cạnh góc, lấy từ chiếc hộp ra một miếng vải nhung phủ lên đầu gối.
- Kìa, xem kìa! Tội nghiệp anh chàng, lại còn mang cả vải giải giường theo nữa! – có người nào đó thốt lên – Hay là quẳng cho anh ta chiếc khăn lau mũi nhỉ?
Không để ý tới những lời nhạo báng người nghệ sĩ kì lạ này để chiếc đàn lên gối, đưa ngón tay sờ nhanh phím đàn từ trên xuống dưới, và từ dưới lên trên rồi bắt đầu chơi bài “Chiếc khăn xanh”. Trước đây ở Taisét chưa có ai biết chơi bài này cả, nên bây giờ ai cũng phải đứng lặng người mà nghe.
Sau này ông chủ tịch đã kể lại cho mọi người nghe ông đã tìm được một người chơi phong cầm giỏi như vậy ra sao. Mà người này chẳng bao lâu đã trở thành một người hết sức cần thiết không thể thay thế được trong đời sống của dân Taisét.
- Một lần tôi vào ga, - ông chủ tịch kể - thấy cạnh lò sưởi có một người gầy gò mặc áo ấm có chiếc đàn phong cầm. Anh ta ngồi trên ghế hơ hơ đôi tay của mình. Mọi người bảo anh ta chơi thử, - có chơi mới hòng người ta cho tiền. Ai cũng muốn nghe một bản nhạc nào đấy thật hay, nhưng anh ta vẫn ngồi im, tiếp tục hơ tay như trước. Có người đã bảo: “Anh ta chắc không biết chơi, bảo anh ta làm gì. Ai có nửa lít rượu muốn đổi lấy chiếc đàn thì có lẽ anh ta xin giơ cả hai tay”.
“Cho tôi miếng bánh mì, tôi sẽ chơi” – anh ta bỗng nói
“Nghe anh ta nói kìa, khôn không? Đưa bánh mì cho anh ta!”
Lúc ấy, một quân nhân chống nạng ngực đeo hai sọc vàng đi tới, nói:
“Bánh mì thì không có, anh bạn nghệ sĩ ạ, chỉ có hai miếng bích cốt thôi. Có chơi không?”
“Đưa đây!” – anh ta chìa tay
“Không được, trước hết phải chơi đã rồi nhận bánh sau! Dân nhà lính không lừa ai bao giờ. Hay định chơi khăm bọn này đấy?”
“Thôi được, chơi bài gì nào? Có điều, phải giữ lời đấy nhé!”
Và anh ta cầm đàn, lấy tay nhẹ nhàng vuốt mặt phím rồi bắt đầu chơi, hay đến nỗi cả đám đông đang ầm ĩ trước cửa bán vẽ cũng phải đứng lặng mà nghe. Lúc đầu anh ta chơi bài “Chiếc khăn xanh”, rồi đến bài “Cô gái tiễn người yêu ra mặt trận” và nhiều bài khác nữa. Anh ta chỉ ngừng chơi khi nghe người lính bảo:
“Anh bạn ạ, hay lắm, khỏi phải nói. Này, ăn đi, thịt hộp đấy, mở nắp rồi đấy. Đừng giận mình nhé. Cậu là một người chơi đàn tuyệt diệu, cứ như là xoáy vào lòng người ta ấy. À, mà sao cậu phải lang thang thế này?”
“Thế đấy, đời người lúc thế này, lúc thế nọ, - anh ta ngượng nghịu nói và đưa mắt nhìn xung quanh – Đã hai ngày nay tôi chưa đựơc miếng nào vào bụng. Đây là tuần thứ hai từ khi tôi lên đường về nhà. Tiền hết…” Anh ta thận trọng cho chiếc đàn vào hộp và đứng dậy.
Ngày hôm sau vẫn thấy anh ta ở nhà ga. Người ta trò chuyện với anh ta. Thì ra anh ta đã tốt nghiệp trường trung cấp âm nhạc….
Thấy tất cả nhạc công của ta đã nhập ngũ, tôi liền nhớ tới anh ta và đi ngay ra ga. Anh ta vẫn còn ở đây… Tôi nói đúng không, Misa? – ông chủ tịch hỏi anh ta.
- Đúng cả, có điều ông quên nói đến việc cho tôi tắm và quần áo mới…
- Điều ấy, Misa ạ, không liên quan gì đến việc ta đang nói đây – ông chủ tịch nhíu mày.
Các chàng trai và cô gái quay tròn dưới điệu nhạc đượm buồn. Thậm chí, Giamin không nhận thấy Tamara đã cùng các bạn gái đến từ bao giờ.
Trong khi cậu đang suy nghĩ có nên đến với cô ta hay không thì Nhura giật tay Tamara, gật đầu về phía cậu, liếng thoắng nói với Tamara một điều gì đó.
“Địêu nhảy sau thế nào mình cũng mời Tamara. Mình sẽ đi tới và nói: “Cho phép tôi được mời chị cùng nhảy?”… Thế thôi, có gì mà phải sợ…” – Giamin nghĩ vậy và cảm thấy hồi hộp hơn trước.
Sau điệu van-xơ, Giamin rụt rè đi lại chỗ các cô gái. Chào xong, cậu hỏi họ bây giờ đang làm gì, lúc nào thì năm học bắt đầu. Rồi cậu nói về các vì sao, rằng các vì sao mới đẹp làm sao, - nhiều lần xem phim cậu thấy các chàng trai vẫn bắt đầu nói chuyện với các cô gái như vậy. Tamara và các bạn nhìn nhau cười. Giamin đỏ mặt, không biết nói gì nữa. Cậu có cảm giác như tất cả đang nhìn và lắng nghe những lời nói ngốc nghếch của cậu.
Cuối cùng, Misa đã chơi đến bài “Anđriusa”. Ai mà chẳng thuộc lời của bài hát chân thành và hơi có phần lả lơi này:
Ơi, Anđriusa, tại sao chúng ta phải buồn?
Chớ vội cất đàn, hãy chơi to lên nào
Chơi lên cho núi đồi phải nhảy
Và các vườn cây xanh tươi phải xào xạc!...
Giamin vẫn đỏ mặt, lo lắng nghĩ: “Mong sao Nhura không mời Tamara nhảy trước mình”. Cuối cùng, cậu lấy hết can đảm, lại gần Tamara khẽ nói:
- Ta ra nhảy đi…
Mấy giây mà Giamin chờ Tamara trả lời đối với cậu lâu như hàng thế kỉ. Nếu cô từ chối thì cậu sẽ nói to cho mọi người nghe: “Tôi muốn thử cô ấy đấy thôi…”
- Mình đã nghĩ là cả điệu này cậu cũng không mời mình đấy. Đi hái quả cũng có cho theo đâu… - Tamara mỉm cười rất cởi mở làm Giamin lập tức quên hết những gì cậu vừa nghĩ.
Cậu hoàn toàn ngây ngất vì hạnh phúc. Cậu nghe thấy hơi thở của cô, mái tóc quăn của cô đã mấy lần chạm má cậu. “Cô ta bé và mảnh dẻ làm sao” - cậu nghĩ và tưởng như có thể nâng cô lên hai tay mà nhảy cũng được.
- Sao trước đây cậu không mặc bộ quần áo này? – Tamara đột ngột hỏi - Cậu mặc vừa lắm, - cô nói tiếp, chân thật.
- Thật chứ?
- Tất nhiên rồi, - cô gái lại mỉm cười
- Mình tiễn Tamara về nhà nhé? - cậu hỏi rồi dừng nhảy, hoảng sợ vì chính câu hỏi của mình. Cậu không nhận thấy người khác đang va vào mình, trách cậu đứng cản họ nhảy.
- Thế nào tất cả chúng ta cùng về cùng nhau. Nhà chúng ta ở gần nhau cả mà. Một mình, mình sợ lắm, - cô gái trả lời, vẻ như lúng túng.
- Không, mình muốn tiễn Tamara về một mình kia, - Giamin nói, giọng đã tự tin hơn
- Được, - nghĩ một lúc, Tamara khẽ đáp
Ban đêm trời đã rét, báo hiệu một mùa thu đang đến. Hơi lạnh. Giamin và Tamara đi bên nhau, ngón tay họ lúc thì khẽ chạm vào nhau, đan chéo vào nhau, lúc thì gỡ ra, xa nhau. Rồi bỗng Giamin bắt đầu nói, nói nhanh về việc cậu sẽ học và làm việc, sau này cậu sẽ tới Mátxcơva. Cậu rất muốn thấy thành phố này, dù chỉ thấy một lúc thôi…
- Đây là ước mơ thứ hai của mình, - Giamin nói
- Thế ước mơ thứ nhất là gì? – Tamara tinh nghịch hỏi
- Bây giờ mình không thể nói… Một ngày nào đó, tự Tamara sẽ hiểu.
Hai người lại im lặng.
Họ đứng rất lâu cạnh nhà Tamara. Giamin cởi áo ngoài khoác lên vai cô. Chiếc áo che kín cô gái như một chiếc bành tô. Nghe có tiếng chân đang bước, họ đứng khuất sau bóng một cây dương cổ thụ cạnh cổng nhà.
- Mình ấm rồi, cầm lấy – cô gái thì thầm nói và cởi chiếc áo ra - Chắc cậu rét lắm?
- Hoàn toàn không. Mình là dân Xibêri mà, - và Giamin lại khoác chiếc áo lên vai cô gái
- Ngày mai cậu phải đi làm, về đi!
- Không. Tamara về trước.
- Nếu vậy, mình tiễn Giamin nhé. Được không? – Tamara nói
- Được, - Giamin cầm tay Tamara.
Họ chậm rãi đi dọc đường làng
- Nhà Giamin đây rồi, về đi. Cầm lấy áo này. Mình chạy về nhà đây.
- Khoan, gượm đã, thế không được, - Giamin khẽ giật tay cô gái – Bây giờ mình sẽ tiễn Tamara. Có thể Tamara sẽ gặp điều không hay, biết đâu đấy. Đêm đã khuya. Còn ở đây thì có con chó nào mà không biết mình?
- Không, không cần. Gần đây thôi mà. Việc gì phải sợ cho mình? – Tamara từ chối – Thôi, thế cũng được - cuối cùng cô đồng ý.
Cứ thế, họ tiễn nhau cho đến khi mặt trời bừng sáng ở phương đông, giấu kín các vì sao ở một nơi nào đấy.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
Chương V
Tai nạn

Năm nay, năm học ở trường bắt đầu từ giữa tháng Mười, khi mặt đất đã hoàn toàn đóng băng. Mùa thu, học sinh các lớp trên làm việc ở nông trang tập thể một tháng rưỡi, dùng xe chở lúa từ đồng về nhà, đập lúa, thu hoạch bắp cải, đào khoai tây…
Bây giờ mọi người ngày càng ít phàn nàn về khẩu phần ăn ít đi của mình, về việc thiếu xà phòng, muối, diêm…
Người ta đã quen dần với khó khăn, thiếu thốn và mất mát. Ai cũng hiểu, cũng cảm thấy thực sự là muốn thắng kẻ thù nham hiểm, không thể không hi sinh, mất mát được. Nhưng chính trong những khó khăn ấy, người ta đã trở nên vững vàng hơn, cứng rắn hơn, và sống bằng hi vọng, niềm tin vào thắng lợi đang đến.
Khi các đoàn tàu chở đầy khí tài của bọn Đức bị phá huỷ từ phía Tây về thì cả những người ở các đường xa nhất của Taisét cũng chạy tới xem. Tranh thủ giờ nghỉ trưa, công nhân các xưởng sửa chữa đầu máy và toa xe, nhân viên bẻ ghi và các nhân viên bàn giấy cũng kéo đến…
Mọi người xem chiếc xe tăng Đức bị phá hỏng như xem một vật sống:
- Thế nào ông bạn, người ta nện cho ông bạn ở đâu thế?
- Ở đâu, ở đâu! Ở trên đất của ta chứ ở đâu! Không thấy răng xích còn dính đất đen đấy à?
- Chắc ông bạn không lấy làm hài lòng lắm khi bị người ta lật tung tháp tăng ra một bên thế này nhỉ? Đáng lẽ không nên dẫn xác vào nơi người ta không mời đến thì hơn. Dáng đời lắm. Không hiểu mày đã giết bao nhiêu người rồi trước khi người ta kịp hỏi tội mày thế này?
Mấy người công nhân cơ khí chui vào trong xe, lấy ta gõ gõ vào thành xe, lắng tai nghe, vừa ngắm nghía các lỗ thủng, vừa trò chuyện với nhau.
- Không hiểu dao cắt thép có cắt được nó không?
- Sao lại không? Thì nó cũng từ thép mà ra thôi. Cứ cho vào lửa một tí là cắt được tuốt. Thép nó kể cũng không đến nỗi tồi lắm…
- Không hiểu loại đạn gì mà lại bắn thủng được bụng nó thế này?
Một hôm các cậu bé tìm được trong xe tăng những mảnh mũ vỡ bị cháy xém và mấy mẩu vải của một chiếc áo sơ mi màu xám. Chúng được huyền xem từ tay người này sang tay người khác như bằng chứng của một sự báo thù.
Sau đó một đoàn đại biểu mang quà và các đồ ấm như giầy, quần áo, mũ của tỉnh Ircrútxcơ ra mặt trận đã chở về. Mấy ngày liền ở câu lạc bộ, các đại biểu đã kể về cuộc tấn công của quân ta, về các cuộc gặp gỡ giữa họ và các chiến sĩ. Họ cho mọi người xem những huân chương của bọn Đức - những hình chữ thập bằng nhựa và huy chương bằng nhôm.
- Hítle bây giờ cay cú lắm. Bị nếm đòn đau, hắn đã bắt đầu vung tay phát những loại huy chương.
Một tối, khi mọi người đang nín thở lắng nghe các đại biểu kể chuyện thì phía đường sắt bỗng có tiếng ầm ì, sèn sẹt rồi một chốc sau, một tiếng nổ lớn vọng lại, làm rung kính các cửa sổ. Còi tàu được kéo lên inh ỏi.
- Tai nạn rồi! – trong phòng có ai đó kêu to, và mọi người chen nhau ùa ra cửa, chạy ra đường. Đã có nhiều nhân viên nhà ga chạy về hướng xưởng cơ khí.
- Tàu quân sự chở hàng! - họ kêu to
Lú cnày đội của Giamin đang thu dọn các thanh ốp bị hỏng. Bên kia bờ rào, cách khoảng 100 mét đã là đường sắt. Các cậu thấy một đoàn tàu chở hàng chạy về phía tây, kéo từng hồi còi dài, vẻ lo lắng. Một chốc sau, có tiếng tàu hãm sèn sẹt, tiếng ầm ầm, tiếng kim khí va vào nhau và cuối cùng là tiếng nổ.
Các cậu bỏ việc, chạy bổ ra cổng. Những gì các cậu thấy, có thể làm ngạc nhiên cả những người từng trải nhất: gần hai chục toa hàng năm lăn bên mép đường. Các toa còn ở trên mặt đường thì chồng chất lên nhau, tạo thành những đống hình chóp quái dị. Các cậu nghe tiếng những thanh kim khí trên toa va vào nhau gãy, kêu ken két và thấy bộ khung các toa bị ép co rúm lại một cách dễ dàng.
Chiếc đầu máy “FEĐ” bị dựng đứng, toà than lăn xuống vệ đường nồi hơi nổ tung, phía trong còn phì phì phụt ra. Bánh xe vẫn còn quay nhanh như muốn bấu víu vào một cái gì đấy. Trước đầu máy là một toa bị ép co rúm như hộp hơi đàn phong cầm. Toa này cũng bị thủng mấy chỗ và than sạch, loại tốt, từ phía trong ào ào tuôn ra. Phía sau nó là một thùng chứa chất lỏng loại 60 tấn bị uốn cong, hai bên phồng lên. Khi mọi người đứng tụ xung quanh khá đông, chiếc thùng bỗng nứt ở giữa và từ đó phun ra một dòng chất lỏng màu vàng, sủi bọt. Có người kêu to:
- A-xít đấy! – và tất cả chạy dạt ra.
Đúng lúc này các cậu thấy người phụ trách toa tàu đang bị vùi dưới tuyết. Anh ta đã chết, đôi mắt bình thản nhìn lên trời.
- Ở đây có người! – các cậu kêu to, sợ không dám lại gần xác chết.
Một người nào đó trong đám người lớn, nói:
- Các đồng chí ơi, phải cứu người bị nạn. Sao lại đứng nhìn thế? Hãy đi tìm đi, cứ đi dọc theo đoàn tàu! – bây giờ thì anh ta ra lệnh thực sự. Thấy Giamin và các bạn vẫn lúng túng đứng quanh người phụ trách tàu đã chết, anh ta gọi lại gần, bảo: - Các cậu hãy nhanh chóng kiểm tra các toa bị bắn ra xa xem có ai cần cứu không, - Và dặn thêm – Có điều phải cẩn thận đấy nhé!
Các cậu khập khễnh đi dọc theo đoàn tàu méo mó, nằm lăn bên đường, leo lên thành toa xem xét bên trong. Không ở đâu thấy người nữa. Nhưng bỗng từ chiếc đầu máy bị lật đứng, các cậu nghe như có tiếng ai đang rên.
- Các cậu có nghe gì không? – Gôga hỏi
- Có…
- Hay có thể là người lái tàu?
- Không phải người lái tàu đâu. Người ta đã tìm thấy anh ta cách đây 30 mét. Toàn thân bị bỏng – Côlia đáp
- Hay thơ đốt than hoặc phụ máy? – Gôga lại hỏi - Người ta chưa tìm thấy họ
- Dễ họ chết đuối trong nồi hơi chắc? - thằng Rỗ khinh khỉnh cười và chỉ về chiếc nồi hơi bị lật ngược vẫn còn bốc khói. Rồi hắn hít hít mũi như chó – Các cậu xem ở đây nhé, để mình đi lại đằng này, - Lênca chỉ tay vào khoang không rồi vội đi về hướng chiếc thùng chứa.
Lúc này tiếng rên nghe đã rõ, như từ dưới mặt đất lên.
- Các cậu ơi, hay anh ta bị than vùi lấp nhỉ? – Côlia hỏi
- Đúng đấy, tiếng rên nghe từ chiếc toa trước đầu máy – Giamin đồng ý với bạn – Ta thử tìm trong toa ấy xem sao.
Các cậu bắt đầu đi quanh toa xe. Bỗng Gôga nhìn thấy dưới một đống than có cái gì đang động đậy.
- Đây rồi! - cậu hoảng sợ nói
Mọi người lắng nghe. Đúng thế, tiếng rên vọng lại từ phía ấy. Các cậu chạy xô lại đống than rồi lấy tay vội vàng moi than ra.
- Mũ đấy, - Gôga thì thào, quan sát vật vừa đào được lên.
- Thế thì đầu anh ta cũng phải gần đây thôi, - Côlia khẽ nói
- Đừng nói đùa. Đào nhanh lên – Giamin nói và ngay lúc đó, cũng sợ sệt như Gôga, kéo dài giọng.
- Ta-ay…
Côlia và Gôga đứng lặng người, nhìn Giamin, chờ đợi. Trong đống than, các cậu thấy những ngón tay dính đầy dầu ma dút khẽ động đậy như muốn bám vào than.
- Nhanh lên các cậu ơi, nhanh lên! – Giamin kêu lên, vẫn còn thấy sợ vì ấn tượng những ngón tay đen gây nên – Chà, giá có xẻng nhỉ! Lênca đâu rồi?
Không có ai trả lời cậu.
Cuối cùng các cậu đã moi được người bị nạn lên. Anh ta nằm sấp, hổn hển thở, chiếc áo ấm dính đầy mỡ, hai ống quần bông bỏ trong ủng. Vất vả lắm mới lật được anh ta nằm ngửa mặt lên trời. Anh ta định nhổm dậy, hắt hơi mạnh.
- Anh nằm yên, nằm yên. Chúng em sẽ làm ngay, - Giamin dỗ dành anh ta như với một đứa trẻ - Côlia, chạy đi gọi mọi người lại.
Lúc này các nhân viên chữa cháy đã đánh xe ngựa tới. Công an cũng xuất hiện. Những con ngựa mồ hôi ướt đẫm giận dữ nhìn đám người và muốn kéo những chiếc thùng nặng đầy nước chạy xa hơn. Các nhân viên cứu hoả, người mặc áo khoác vải bạt rộng thùng thình được thắt chặt bằng nhiều thắt lưng to bản có dây xích đang làm việc tích cực và trật tư. Đã lâu ở Taisét không có cháy nên bây giờ họ làm việc hăng lắm. Vòi rồng được nhanh chóng dỡ ra, gắn vào máy bơm rồi cắm vào thùng đựng nước.
- Nào, các đồng chí tránh ra, tránh ra! Đừng cản trở người khác làm việc! Giúp chúng tôi bơm nước có tốt hơn không? - một người rậm râu vừa kêu to, vừa luôn luôn sửa chiếc mũ sáng loáng trên đầu.
- Yêu cầu mọi người tránh ra xa hơn nữa! - một đồng chí công an khẽ đẩy mọi người về một phía, nói - Ở đây nguy hiểm. Bất cứ lúc nào một tàn lửa nhỏ cũng có thể làm nổ tung tất cả.. Nào, đứng tránh ra…
Một số bộ đội cũng đã đến. Họ vừa khẽ nói chuyện với nhau, vừa thận trọng xem xét đầu máy và các toa.
- Các cậu làm gì ở đây? - một đồng chí đại uý dong dỏng cao thấy các cậu nghiêm khắc hỏi – Ai đấy? – và chỉ vào người bị nạn đang nằm.
- Có lẽ người trên đầu máy. Chúng em vừa đào anh ta lên, - Côlia trả lời.
- Có trời mà biết được thế này là thế nào! - đồng chí sĩ quan quay lại những người cùng đi, giận dữ nói – Tàu quân sự chở hàng mà lại nhận vào đường đang bận, vì sao? Thật chẳng ai hiểu. Các cậu ấy vừa đào được một người.
Sợ những người tò mò chú ý, anh ta nói nhỏ, giọng bình tĩnh hơn:
- Cám ơn các em. Bây giờ về nhà đi. Ở đây tự các anh cũng giải quyết được việc. Cần phải gửi ngay người bị nạn vào bệnh viện.
Thằng Rỗ bỗng xuất hiện, mỗi tay xách một chiếc xô dúm dó mà công nhân ở xưởng rèn vẫn hay dùng để múc nước bẩn.
- Trong khi các cậu hí hoáy đào bới anh này lên thì xem mình đã kiếm được gì này! - hắn phấn khởi nói, vẻ sung sướng lộ ra mặt, nhưng thấy có người lạ vội im bặt, định chuồn.
- Lại đây, - đồng chí đại uý vẫy ngón tay ra hiệu bảo hắn lại gần - Lại đây cho xem đã “kiếm” được gì nào!
Lênca rụt rè lại gần người sĩ quan và miễn cưỡng chỉ vào những cái hắn mang đến. Trong một xô là dầu thực vật, còn trong xô kia là một thứ bột màu vàng.
- Cái gì thế này? - người sĩ quan nghiêm khắc hỏi
- Dầu..
- Còn đây?
- Bột trứng…
- Lấy ở đâu?
- Trong các hòm đằng kia… Nhiều lắm…
- Cái gì? - đồng chí đại uý đỏ bừng mặt - Cậu có biết là đang cầm cái gì trong tay không?
- Bột trứng… - thằng Rỗ nhắc lại, càng lúng túng hơn trước.
- Thứ bột trứng này có thể cho cậu về chầu diêm vương đấy! Đây là thuốc nổ! Đồ ngốc!
Thằng Rỗ tái mặt:
- Em còn giấu hai hòm nữa ở đằng kia… Em… tưởng… là bột trứng - hắn lắp bắt nói, lúng túng không biết đặt chiếc thùng đựng thuốc nổ ở đâu.
- Xamôkhin, đi theo cậu này và lấy ngay “bột trứng” của cậu ta đi - đồng chí đại uý nghiêm khắc bảo người trung uý đi cạnh – Và xem xem còn ai giấu bột này nữa không. Chứ cứ để họ nấu “bột trứng” này lên thì có ngaà… Nhân tiện, làm thế nào đừng để những người như cậu này lấy hết dầu.
- Nào đi, và chỉ cho biết cậu đã kịp dấu “bột trứng” của mình ở đâu, - đồng chí trung uý nói rồi theo thằng Rỗ đi về phía xưởng cơ khí.
Cái tin đoàn tàu gặp tai nạn và có dầu đổ làm xao động dân Taisét. Người ta mang thùng, mang chậu, mang bì đi lấy “bột trứng”. Có tiếng đồn là bộ đội không muốn mọi người lấy hết “bột trứng” nên đã nói đó là thuốc nổ. Nhưng rồi, thấy xung quanh đoàn tàu đổ có nhiều công an đứng gác, dù sao họ cũng không thể không lo ngại.
Thứ bột vàng thì người ta tránh, nhưng tuyết thấm mỡ thì được xúc từng xẻng cho vào thùng, vào chậu. Về nhà, cái thứ hỗn hợp ấy được đem đốt nóng, dầu nổi lên trên, còn xỉ, than và đá thì lắng xuống. Chờ lắng xong, dầu được múc từng thìa cẩn thận đổ sang một cái lọ khác. Cứ làm thế ít lần là có được một thứ dầu có thể đem dùng, mặc dù kể ra vẫn còn ít mùi dầu tây và xỉ than. Nhưng bây giờ có ai thèm chú ý tới cái điều vụn vặt ấy.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
Chương VI
Con rất cần có bố

Một hôm, không hiểu sao Côlia tới xưởng làm việc có vẻ buồn, lúc nào cũng muốn tách riêng ra một chỗ. Khi Nunhikianốp khen cậu:
- Làm việc khá lắm, Côlia ạ. Con giống bố. Dạo này Xtêpan có khoẻ không? Không buồn chứ? – Côlia chỉ khịt khịt mũi im lặng.
- Côlia, làm sao chỉ khịt mũi? Miệng ngậm hột thị rồi hay sao? - Nunhikianốp lại hỏi - Bố dạo này thế nào, không nghe à? Định đến chơi đã lâu nhưng chẳng có một phút nào rỗi cả.
- Thì chuyện gì có thể xảy ra với bố cháu? Vẫn sống… - Côlia lúng búng trong miệng, không nhìn bác thợ nguội.
- À, mày nói về bố mày thế hả? Bằng này tuổi đã bướng rồi thì hơi sớm đấy, cháu ạ! - Nunhikianốp nghiêm khắc nói. – Hay mày nghĩ bố mày bây giờ không trị được mày nữa… Thế thì tao có thể giúp ông ấy một tay. .. Ghê nhỉ!
Côlia lúng túng bỏ chiếc búa xuống bàn
- Thôi, hãy nhìn thẳng và nói cho bác nghe nào, bố đánh à? - Nunhiakianốp dịu giọng hỏi và đặt tay lên vai cậu – Không được trách bố, cháu ạ. Có chuyện gì xảy ra à?
- Cháu hút thuốc, thế là bố cháu… Cháu bảo cháu có quyền, chưa gì bố cháu đã cầm lấy roi…
- Chỉ có thế mà bị ăn đòn, ha ha! - thằng Rỗ nói chen vào - Từ năm mười hai tuổi tớ đã phì phèo, có ai làm gì tới được đâu? Mà giả sử có định làm gì đi nữa thì mình sẽ…
- Không ai nói chuyện với cậu! Nhà ai có phép tắc luật lệ nhà ấy! - Nunhiakiacốp ngắt lời hắn rồi quay sang Côlia. – Đau lắm hả?
- Đau. Bác đã biết cánh tay bố cháu rồi đó. Đánh mấy người vẫn không mệt…
- Tớ mà thế thì thế nào tớ cũng… - thằng Rỗ lại chêm vào - Cậu làm việc có phiếu lương thực công nhân…
- Đã bảo là không được nói leo, khi người lớn đang nói chuyện với nhau! - Nunhikianốp xẵng giọng, - Còn cháu, Côlia ạ, đừng giận bố cháu. Xtêpan làm thế là để giữ cho cháu đấy thôi.
- Lúc nhỏ bố cháu có đánh cháu bao giờ đâu, thế mà bây giờ…
- Bác hiểu, bực mình lắm chứ! Nhưng cần hiểu bố cháu. Thần kinh căng thẳng, cháu là người biết điều, phải hiểu bố cho đúng. Một người bố như thế chẳng bao giờ muốn điều xấu cho con mình đâu… Còn hút thuốc thì không nên. Sau này còn kịp dùng cái của nợ ấy.
Khi Nunhikianốp đi khỏi, Giamin mơ màng nói:
- Nếu mình có bố, Côlia ạ, bố mình làm gì mình cũng sẽ chịu được hết. Cậu biết không, thấy mọi người có bố, mình rất thèm! Hầu như mình không nhớ gì về bố mình cả. Khi bố mình mất, mình hãy còn rất bé…
… Một lần, cách đây đã lâu nhưng Giamin vẫn còn nhớ rất rõ, mặc dù lúc ấy cậu mới hơn năm tuổi. Cậu cùng bố đi trên một đoàn tàu dài, rất dài, màu sặc sỡ, toa đỏ, toa xanh lẫn lộn nhau, không hiểu sao được gọi là “Maxim Goócki”
Giamin rất thích ngồi bên cửa sổ toa tàu nhìn ra những làng mạc, thành phố đang chạy nhanh về phía sau như sợ người ta bốc bỏ lên đoàn tàu dài, rất dài này mà chở đi, nhìn ra những ngôi nhà nhỏ màu vàng vụt thoáng qua, những người nhân viên đường sắt tay cầm những lá cờ bé tí vẫy đoàn tàu.
- Này bố, mấy bác kia có biết con không? - cậu hỏi khi thấy họ, và lần nào cậu cũng rụt rè dơ tay vẫy lại
- Sao lại không? Nếu các bác ấy không vẫy cờ với con thì nghĩa là đường không đi được. Con đã biết là gặp người quen thì phải chào, mà mấy bác này thì biết hết tất cả những ai đi trên tàu.
- Vâng! – Giamin đáp, gật đầu ra chiều suy nghĩ, cái đầu khá to, hai tai vểnh lên. Đôi mắt xanh của cậu long lanh sung sướng.
Lần nào Giamin cũng cố nhìn thấy người nhân viên cầm cờ trước và gọi to:
- Bác ơi, chào bác! – và vẫy tay cho tới khi người này khuất hẳn mới thôi.
Không hiểu sao ở các ga người ta gọi tất cả hành khách đi trên tàu cùng bố cậu là những người đi di cư. Giamin thích điều đó vì thế nghĩa là cả tàu đều là bà con. Tuy nhiên, không ít “người bà con” của Giamin hay cãi lộn với nhau vì nước sôi, vì củi vụn, than đốt lò sưởi, hay chửi, giơ xô, giơ ấm lên doạ nhau, hay thậm chí còn đánh nhau nữa. Thấy vậy, các bác đội cát két đỏ mặc áo có hàng cúc trắng doạ sẽ cho họ xuống tàu và tống vào nhà giam. Có lẽ nhà giam là cái gì đánh sợ lắm vì những người đang đánh nhau nghe thế liền lặng lẽ ai về toa người ấy. Nhưng tàu vừa chuyển bánh, họ đã thò đầu qua cửa sổ tiếp tục chửi nhau, người này cầu mong người kia phải chết sặc, chết nghẹn vì nước sôi và củi vụn đáng nguyền rủa kia… Giamin không hiểu sao nước lại đáng nguyền rủa? Vì nó làm hại ai đâu. Và làm sao người ta có thể chết sặc, chết nghẹn vì nước?
Tới các nhà ga lớn, những “người bà con” của Giamin ùa ra khỏi toa và toả đi các góc hẻm vắng vẻ.
- Phải cho tàu đi ngay thôi, mấy bác đội cát két đỏ nói - kẻo không, họ lại gây dịch ở đây mất. Nhìn xem họ đang làm gì kìa, - rồi chỉ tay về phía những người di cư đang ngồi chồm hổm dưới các toa tàu, sau các nhà, trong góc vườn…
Nói rồi mấy bác này rung chuông to giống như chiếc mũ của một chiến binh ngày xưa. Đầu đấm của các toa chạm vào nhau ầm ầm rồi đoàn tàu từ từ chuyển bánh.
Đoàn tàu nấn ná như không muốn đi tiếp.
Giamin rất thích ngồi trên đùi bố nghe người lớn nói chuyện. Tối tối, người lớn thường hay mở cửa sổ rồi ngồi xuống giường và bắt đầu nói với nhau đủ mọi chuyện. Mọi người cùng nhớ lại quê hương cũ Baskiria, làng xóm, những người ở lại… Không hiểu sao họ nói chuyện rất khẽ dù chưa ai ngủ. Mặt trăng như một quả bóng vàng nhợt lăn trên bầu trời, chạy theo như được cột với đoàn tàu bằng một sợi dây vô hình. Họ ngồi im, mơ màng nhìn theo mặt trăng và kể cho nhau nghe câu chuyện về một cô bé mồ côi bị dì ghẻ đang đêm bắt đi lấy nước và nhất định phải đi qua sông, theo con đường do ánh trăng trải trên mặt nước. Cô bé hoảng sợ, khóc van, xin dì ghẻ đừng bắt mình đi vào chỗ chết như vậy. Nhưng mụ kia không nghe, đưa cho cô bé chiếc đòn gánh, hai chiếc thùng gỗ nặng rồi nắm tay cô lôi ra bờ sông.
“Theo đường ánh trăng này mà sang bờ bên kia múc nước mang về đây!” - mụ nói và đẩy cô bé về phía trước.
Cô bé nức nở khóc, nhắm mắt bước xuống sông. Nhưng lạ chưa kìa! Cô bé bước trên đường, ánh trăng trắng bạc như đi trên cầu. Cô bước nhẹ nhàng, không nghe thấy tiếng mụ dì ghẻ gọi cô quay lại.
Và thế là cô bé lên mặt trăng…
Một người thò đầu ra khỏi cửa, còn những người nằm tầng trên giường thì nhìn lên mặt trăng qua mặt kính cửa sổ bé tí, và khẽ nói chuyện với nhau, vẻ huyền bí.
- Mình thấy, mình thấy rồi. Cô ta đấy kìa!
- Chiếc đòn gánh và đôi thùng vẫn ở trên vai cô bé đáng thương.
- Trông mặt cô ta buồn không.
Còn Giamin thì dù có cố tìm cô bé và chăm chú nhìn lên mặt trăng đến đâu cũng vẫn không thấy gì cả. Mặt trăng trêu cậu, chạy rất nhanh, như thi với đoàn tàu.
Mọi người đã đi nằm, đang thiu thiu ngủ. Một chốc sau, người thì ngáy, người thì rên, có người còn giận dữ chửi nhau.
Cậu bé Giamin lay bố hỏi:
- Này bố, bố, sao cô bé kia biết được mụ dì ghẻ không phải là mẹ của mình?
- Có lẽ người ta nói cho cô ấy biết. Ngủ đi!
- Thế người ta có nói cho con biết không?
- Cái gì? Thôi ngủ đi!
- Thế mẹ con bây giờ là mẹ đẻ hay dì ghẻ?
- Hừ, con nói vớ vẩn gì thế, ngủ đi. Nghe cho lắm chuyện vào… - Rồi bố cậu đưa tay âu yếm xoa đầu cậu, ghì vào lòng, khẽ nói – Con là con cưng của cả nhà. Con út mà.
Giamin lặng thinh, nhưng một chốc sau lại thì thầm hỏi bố.
- Sao mọi người thấy cô bé trên mặt trăng mà con thì không, hả bố? Hay con không biết nhìn?
- Biết chứ, sao lại không. Ngủ đi. Trên mặt trăng có ai đâu mà con thấy được. Con không thấy gì là đúng. Mong sao sau này lớn lên con thấy hết mọi chuyện…
Ngày hôm sau, bố cậu đã không dậy được nữa, người nóng bừng, lúc nào cũng đòi uống nước. Mẹ cậu luôn ở bên cạnh, nhưng không cho cậu lại gần bố.
- Mẹ ơi, cho con nằm với bố, con nằm yên mà. Người bố ấm, ấm lắm…
- Để nó lại đây nằm với tôi, kẻo sau này lại… - bố cậu nói.
Đoàn tàu vẫn tiếp tục đi về hướng đông. Tíêng bánh đập đều trên đường ray. Công nhân phục vụ đầu máy thay nhau một ngày đêm mấy lần… Giamin cảm thấy tất cả các ga và những người làm việc trên ga đều giống nhau. Và cậy lấy làm khó hiểu sao cả tàu là “bà con” với cậu mà bố cậu ốm, không thấy ai đến thăm.
Mấy ngày sau, tàu đỗ lâu hơn thường lệ trên một nhà ga nhỏ cạnh rừng tâig. Những “người bà con” của Giamin vẫn nhốn nháo, ầm ĩ tranh nhau lấy than, lấy củi như trước. Trên sân ga, các bà bán bánh khoai tây rán rao inh ỏi. Các cậu bé mập mạp, vẻ cứng cáp mời mọi người mua kẹo nhai bằng nhựa thông. Một mẩu bằng ngón tay út mà các cậu đòi những một rúp. Hành khách tò mò ngắm nhìn mẩu kẹo màu nâu còn bốc mùi nhựa cây. Một số cho vào miệng thử nhưng vội nhổ ra ngay, không chờ cục nhựa mềm và tan trong miệng.
- Xi gắn chứ kẹo đâu mà kẹo!
- Có cái gì ngon lành đâu?
- Đây là kẹo nhựa thông, phải nhai chứ ai bảo ăn – các cậu bé Xibêri giải thích.
Ở ga này, Giamin thấy các bác mặc áo trắng tới toa cậu, đặt bố cậu người mềm nhũn như một đứa bé lên một chiếc cáng rồi khiêng đi. Sau đó người ta vây toa cậu lại, phun một thứ thuốc gì đấy mùi sặc sụa, những người trong toa được chuyển đến một chỗ cách li…
Một thời gian sau, gia đình Giamin dọn đến ở một ngôi nhà bé tí, có hai cánh cửa sổ lâu nay vẫn để trống, ở ven làng. Sau vườn đã là rừng taiga, nhiều khi đến dễ sợ, nhất là ban đêm, khi thời tiết xấu, những cây thông lâu đời điên cuồng cọ lá vào nhau, rên rỉ như những người khổng lồ thực sự.
Một sáng đầy nắng, anh của Giamin thăm bố ở bệnh viện về. Anh của cậu như một hành khất cứ nấn ná bên ngưỡng cửa, rồi Giamin không hiểu sao anh cậu lại nhăn mặt, khó nhọc nói:
- Bố chết rồi…
Nghe hai tiếng “chết rồi” này, mẹ cậu đứng lặng người rồi ngã xuống đất. Và Giamin cảm thấy hai tiếng đó đã mang vào nhà cậu một sự im lặng ghê sợ…
Trong nhà mọi người bỗng oà lên khóc. Còn Giamin thì như một con bê lạc mẹ, hết đi lại chỗ các anh chị lại đến với các anh nhưng chẳng ai để ý đến cậu. Thấy vậy, cậu ngồi xúông ngưỡng cửa, cũng thút thít khóc, vì cậu ấm ức lắm. Nhưng cũng chẳng ăn thua gì, mọi người vẫn thờ ơ với cậu như trước. Cậu thút thít khóc thêm chốc nữa rồi nằm xuống chiếc phản trần, ngủ thiếp đi.
Cậu chợt tỉnh vì tiếng ồn ào chung quanh. Nhà cậu đầy người lạ, Giamin chạy ra đường, thấy bố cậu đang nằm trên xe ngựa, người quấn đầy vải giải giường trắng, và đang ngủ say, mặc dù mặt trời chiếu thẳng vào mặt.
- Bố ơi! – Giamin sung sướng kêu lên chạy ra gần chiếc xe - Bố ơi! Dậy đi! Dậy đi - cậu lay bố, rồi vuốt chòm râu màu hung, sờ cái mũi nhọn lạnh buốt của bố rồi bỗng rụt tay lại như bị bỏng.
Người lớn từ trong nhà đi ra. Các anh cậu dìu mẹ cậu. Mẹ cậu im lăng đứng trước người chết, nức nở khóc rồi ngã xuống, ôm lấy ngực bố cậu.
Vẫn như cũ, không ai để ý tới Giamin. Hình như không ai nhìn thấy hay nghe tiếng cậu, mặc dù mấy lần cậu khẽ gọi bố và mẹ.
Cậu không hiểu cái gì đã xảy ra với người lớn. Một số thì lặng lẽ đi lại trong sân, số khác im lặng đứng bên bố cậu, buồn rầu nhìn mẹ, các anh và chị cậu.
Sau đấy, năm người đàn ông lạ mặt cầm xẻng, thúc ngựa gióng xe đi ra khỏi sân. Coò những người phụ nữ tất cả đèu ở lại nhà cậu.
- Tôi… để tôi cùng đi… - mẹ cậu chạy theo chiếc xe.
- Không được, bà chị ạ - một người vấn khăn trên đầu nghiêm khắc nói – Bà chị biết đấy, kinh côran không cho phép phụ nữ đạo Hồi có mặt khi chôn người chết. bà chị có thể làm mộ người ấy mất linh thiêng…
- Không đâu.. Thánh Alakhơ sẽ tha lỗi cho tôi - mẹ cậu nức nở, cố giãy khỏi những vòng tay của các bà láng giềng đang giữ chặt.
Giamin, với tư cách là nam giới, đã có mặt khi người ta chôn bố cậu xuống đất. Cậu đứng ra xa một chỗ, ngơ ngác nhìn người ta chôn xác bố cậu xúông lỗ huyệt và những gì đang xảy ra xung quanh. Cậu tin chắc đây chỉ là một trò chơi kéo dài và khó hiểu nào đó của người lớn. Các anh cậu khóc, Giamin cũng đi lại, thút thít:
- Em muốn về… Sao người ta lại giấu bố ở đây? Kéo bố lên khỏi hố đi.. Ở đây không tốt đâu. Em muốn về nhà…
Mấy người đàn ông lạ mặt không hề để ý tới Giamin, miệng luôn lẩm bẩm một cách đều đều cảm ơn thánh Alakhơ đã cho gặp chỗ đất mềm nên huyệt đào không đến nỗi vất vả lắm
- Cứ xem thì biết, người chết là một người nhân đức - một người nhỏ nhắn, mặt nhăn nheo, lấy tay bóp vụn một mẩu đất, nói.
Các anh của Giamin không nghe tiếng cậu đang đứng cạnh khóc thút thít và luôn miệng đòi về. Các anh cậu đứng lặng nhìn xuống đất như những pho tượng. Giamin bước lại gần lỗ huyệt, và hết sức ngạc nhiên vì lúc nãy người ta cho bố cậu xuống đó mà bây giờ không thấy bố đâu. Dưới ngách, cậu thấy một vật gì trăng trắng và một người đàn ông đang cẩn thận đóng chặt cái ngách ấy bằng những thanh gỗ đều, phẳng. Khi người này leo lên khỏi huyệt, mọi người cầm xẻng, vội xúc đất lấp lại.
Giamin ngạc nhiên nhìn mọi người và không biết nên làm gì tiếp. Rõ ràng là không ai cần đến cậu, nhưng một người lạ mặt bảo cậu cũng lấy đất ném xuống hố.
- Để làm gì? – Giamin hỏi và liền nói thêm – Không, cháu không ném đâu… Tại sao các bác lại làm thế? Chắc bố cháu đau lắm… - rồi cậu vừa khóc vừa chạy ra đứng một bên. Cậu không thể hiểu nổi tại sao người ta lại xử tệ với bố cậu như thế, tại sao lại lấp đất vào hố để không cho bố cậu dậy nữa. Dưới ấy chắc khó chịu lắm. Thế mà đất cứ đầy dần lên miệng hố. Một thoáng sau, đã nổi lên một ụ đất sét màu đỏ.
Mọi người lặng lẽ rời khỏi nghĩa địa. Về đến cổng nhà, Giamin dừng lại:
- Sao để bố ngoài ấy?
- Đi thôi, nào cháu, đi thôi - một người nào đấy nói rồi lấy tay ẩy nhẹ Giamin về phía trước.
- Không, cháu quay lại với bố cháu đây! - cậu kêu to và chạy ngược trở lại.
Anh cả cậu chạy theo và bế cậu trên tay dỗ:
- Nào, về nhà, mẹ đang chờ. Còn bố, sẽ về sau… Về nhé, Giamin…
- Bố về thế nào được? Người ta lấp bố xuống hố rồi.. Bố chết rồi… Em muốn đến với bố… - Giamin giãy giụa trên tay anh.
Hôm sau Giamin ốm.
Sau này, ít khi cậu nói về bố với những người khác. Cậu giữ gìn những kỉ niệm về người bố như giữ gìn một báu vật, và bao giờ cũng cảm thấy rõ thế nào là cuộc sống của một người con thiếu bố. Và nếu có ai trong số các bạn cậu nói về bố mình là cậu liền lẳng lặng bỏ đi chỗ khác. Cậu không muốn người ta biết cậu vẫn thường thấy bố trongmơ, và bao giờ đến, bố cậu cũng cưỡi ngựa.
Lần nào bố cũng hỏi về cuộc sống của cậu. Cậu trả lời là mọi cái đều tốt, có điều thiếu bố, cậu thấy hết sức bỡ ngỡ… Và không hiểu sao, lần nào mơ đến đây cậu cũng chợt tỉnh dậy. Cậu còn nằm hồi lâu, không dám động đậy, từ từ mở mắt, hi vọng bố cậu sẽ trở lại với cậu. Nhưng bố cậu vẫn cứ ở một nơi nào đấy, mờ mờ ảo ảo, chỉ làm cậu thêm đau đớn. Giamin lại nhắm mắt, nói rất khẽ, rất khẽ:
- Bố ơi, trở lại với con. Con chờ bố lâu lắm rồi… Con rất cần có bố.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
Chương VII
Chuyện bất hường xảy ra trong đội

Xamôrucốp Xôcôlốp đến phân xưởng rèn một cách đột ngột. Qua những ô cửa sổ ám khói và bụi, những người thợ rèn bỗng nhiên thấy chiếc xe của bác.
- Không lẽ Xtêpan thật à?
- Anh ta đến đây làm gì thế nhỉ?
Xtêpan không chịu ngồi yên ở nhà.
- Chắc suốt ngày quanh quẩn bên vợ, buồn quá nên định lại đây chuyện trò xả hơi một chốc, - mọi người bảo nhau
Xtêpan cho xe lăn đến chiếc cửa nặng nề của phân xưởng, đấm mạnh vào cửa gọi:
- Các cậu ơi, mở cửa ra! Có thêm người làm đến nữa đây!
Lập tức, một lúc mấy người chạy về phía cửa:
- Mời vào, mời vào! Cơn gió nào mang anh lại đây thế này? - vừa bắt tay, các bác thợ rèn vui mừng hỏi.
- Thế nào, không ngờ à? Lại nghĩ là Xôlôcốp chẳng bao giờ có thể đến xưởng nữa chứ gì? Thế mà hắn đến được đấy, phải không?
Công nhân giúp Xtêpan đẩy xe lại lò rèn, cho thổi lửa. Xtêpan nhìn than cháy trắng, tan dần như tuyết dưới mặt trời nói:
- Trông kìa, cháy ghê không? Mùi dễ chịu quá! Thật hít mãi không thấy chán!
Sau đấy, khéo léo lăn xe giữa các thùng nước, dụng cụ, các đoạn ray nằm ngổn ngang, bác đi lại chỗ chiếc đe, cầm búa lên tay. Bác ngắm nó cẩn thận như sắp múa, đưa ngón tay to sờ cạnh rồi khẽ đập đập lên mặt đe. Tiếng búa vang lên lanh lảnh khắp phân xưởng. Xtêpan lắng nghe rồi hỏi các bạn mình đang im lặng đứng cạnh:
- Nghe vang đấy chứ, phải không?
Mọi người im lặng. Không ai biết nên nói gì với người mà trước đây khoẻ nhất, làm việc giỏi nhất, nhưng bây giờ là người tàn phế. Mọi người hiểu Xtêpan đến đây không phải không có việc, vì đây là lần đầu tiên từ ngày ở mặt trận trở về bác ta đến xưởng.
- Búa này chắc là của Viđônốp làm chứ gì? Tiếng hơi nặng một chút. Misa ạ, bao giờ cậu cũng để quá lửa. – Xtêpan cầm chiếc búa khác, to hơn một tí rồi nhẹ nhàng để nó lên mặt đe bóng loáng. Tiếng búa nghe nhẹ, dài hơn.
Những người thợ rèn nhìn Xtêpan cố đoán xe bác ta đến đây làm gì. Và ai cũng cảm thấy hình như mình có lỗi vì bác ta về nhà đã lâu mà mình đến thăm ít quá. Công việc ở xưởng và việc gia đình bận rộn đã làm họ hầu như chẳng còn lúc nào để nghĩ tới Xtêpan Xôlôcốp nữa, và rồi số người bị thương trở về ngày một nhiều hơn. Nếu không ngày đầu người ta còn hay hỏi Côlia về bố cậu, về việc nhà, xem có cần giúp đỡ gì không, thì dần dần người ta ít hỏi hơn, và thời gian gần đây thì thậm chí hầu như đã quên hẳn bác ta.
Nhưng bản thân Xôlôcốp cũng chẳng yêu cầu gì, chẳng viết đơn nhờ cơ quan giúp đỡ. Khi anh còn khoẻ, ai cũng cần, người ta nhớ đến anh, người ta nhờ anh giúp đỡ… Bây giờ từ mặt trận trở về, cụt chân, người ta thốt lên những lời thương tiếc, thông cảm, các bà láng giềng đỏ mắt khóc (mong sao cho người thân của mình không phải trở về thế này) rồi tất cả có vẻ như bị quên đi…
Đọc được câu hỏi trên nét mặt mọi người, Xtêpan phá lên cười to, kiểu cười chỉ mình bác mới có, đầu hất về phía sau, mắt lim dim, cái cổ to lớn đỏ bừng:
- Mà sao các cậu lại nhìn mình thế? Như thể không nhận ra mình là ai ấy. Tại sao im lặng, mất lưỡi cả rồi à? – Xtêpan thôi cười, nghiêm túc nói – Hôm nay tôi đến đây với các anh là để làm việc - Rồi ranh mãnh nói tiếp – Các anh nghĩ thế nào?
- Bác định làm việc à?
- Làm gì mới được chứ? - một vài người rụt rè hỏi
- Thì tôi có thua ai đâu. Tôi sẽ tới phân xưởng dụng cụ, - Xtêpan nhìn mọi người nói - Với cán bộ phụ trách thì các anh nhớ ủng hộ nhé. Các anh biết đấy, thế nào mà người ta chẳng lô ra hàng mớ luật lệ, nguyên tắc, điều khoả, điểm này điểm nọ để bắt tôi ở nhà…
Cả phân xưởng cảm thấy như nhẹ nhõm hẳn đi. Xtêpan không yêu cầu giúp đỡ gì hết, bác chỉ đề nghị được giúp đỡ người khác. Nếu thế thì tất cả đâu sẽ vào đấy. Thậm chí cũng chẳng trách họ ít đến thăm mình nữa, chỉ yêu cầu ủng hộ bác như những người ngang hàng với nhau…
Những người thợ rèn bắt đầu sôi nổi nói chuyện với nhau. Bác Misa chen lên phía trước, chùi tay vào chiếc tạp dề bằng vải bạt, nói:
- Thế mà mình cứ nghĩ, Xtêpan ạ, thôi chết rồi, thế nào cậu ấy cũng sẽ quát tháo om xòm lên. Mình sợ cậu sẽ vớ lấy chiếc búa tạ rồi… Thế mà hoá ra… Cái xe của cậu đi khá nhẹ.
- Cậu cho mình điên hay sao, Misa? Hay là một thằng dở hơi? – Xtêpan khoát tay hỏi – Còn chiếc xe là do con trai và các bạn của nó làm đấy. Thôi, các ông quỉ sứ Diêm Vương làm việc đi. Mình còn đi gặp Xamôrucốp
Rồi Xtêpan lăn xe sang phân xưởng nguội.
- Thế mới gọi là khoẻ chứ! Cứ như là không có chuyện gì xảy ra với bác ta. “Mình sẽ làm việc!” - một anh thợ phụ gầy gò nói theo, thán phục.
Xtêpan tìm thấy đốc công trong phòng họp, một phòng nhỏ đầy mùi thuốc lá với một cửa sổ, không hiểu sao được lắp song chắn bằng sắt cẩn thận, mặc dù trong phòng không có gì đáng giá ngoài chiếc giá đựng bút mực to nặng và một cây đa héo rũ trong góc. Nhiều chiếc lá nhẵn bóng của nó đã bị những người hút thuốc đốt cháy. Trên bàn, cạnh giá mực là một chiếc vỏ đồ hộp đựng các mẩu thừa thuốc lá.
“Hình như mình chưa xa đây một ngày nào, - Xtêpan nghĩ bụng rồi đưa mắt liếc nhìn phòng họp - vẫn cây đa ấy, vẫn chiếc ghế dài, và cả chiếc vỏ đồ hộp cũ này nữa.” - thấy mọi vật vẫn y nguyên như lúc mình ở nhà, Xtêpan lấy làm yên tâm.
Đốc công ngồi quay lưng ra cửa, đang giận dữ nói chuyện với một người nào đấy qua điện thoại.
- Chào anh, Piốt Pêtrovích, - Xtêpan cho xe lăn vào phòng.
- Ồ, Xtêpan đấy à? Chào anh, hay lắm! – Xamôrucốp mừng rỡ đáp lại, một tay bịt ống nghe, nói tiếp: - Chờ tôi tí nhé, - rồi quay sang quát vào ống nghe – Không một người nào hết! Thế chỉ có gọi là ăn cướp! Không thế người ta cũng gọi tôi là giám đốc nhà trẻ rồi. Cái gì? Thế nào? Tôi có thể mất thẻ đảng à? Tôi chẳng sợ. Thẻ của tôi bây giờ là một bộ phận của cơ thể tôi!... Anh bảo những người cộng sản không làm thế phải không? Thế thì làm thế nào? Anh múôn đình chỉ công việc lại à? Không được! Vâng, vâng! Tôi cũng chịu trách nhiệm trước đảng, trước nhân dân! Đấy, anh xem, đã bao lâu nay tàu vẫn chạy liên tục… Còn tai nạn? Thì anh cũng thừa biết là không phải do tình trạng đường sắt! Anh biết rõ hơn tôi! Có tai nạn là do người bẻ ghi nhận tàu vào đường đã có đoàn tàu rồi. Tại sao à? Tại vì anh ta đã ba ngày ba đêm không ngủ một tí nào. Chính anh chẳng bảo tôi nhân viên bẻ ghi ngồi không và đã rút đi một số đó ư… Anh không cần phải doạ tôi! Một khi công việc được giao cho tôi, tội chịu trách nhiệm về nó! – Xamôrucốp mệt nhọc treo ống nghe vào máy, quay lại – Chào anh, Xamôrucốp! - rồi từ bàn bước ra, cầm hai tay Xtêpan lắc mạnh – Hay lắm! Xin lỗi là tôi đã bắt anh chờ nhé. Có anh chàng định gây sự với tôi – ông quay đầu về phía máy điện thoại - Người ta giao quyền hành cho mà không biết sử dụng thế nào. Anh ta bảo anh ta làm nhiệm vụ đảng. Còn chúng ta thì không? Thế đấy… Không biết đâu là đâu mà cứ bắt người khác theo mình, - Xamôrucốp nói, vẫn còn tức giận – Lúc nào cũng giở các chỉ thị và qui định từ thời kì trước chiến tranh ra, cái mà anh ta bảo anh ta đặt ra, mà chúng ta thì không chấp hành. Tôi bảo lỗi không phải tại chúng ta, mà là cuộc sống, là chiến tranh, nhưng anh ta không chịu nghe… Vấn đề phức tạp thế đấy. Sao anh ngồi im thế? – Xamôrucốp bỗng hỏi.
“Không biết bây giờ anh ta có giở qui chế, chế độ ra không?” – Xtêpan nghĩ bụng và bắt đầu bình tĩnh nói.
- Tôi đến gặp anh, Piốt Pêtrôvích ạ, để nhờ anh nhận tôi vào làm việc.
- Hừm!... Tất nhiên, Xtêpan ạ, thế là tốt… - Xamôrucốp đi đi lại lại trong phòng – Nhưng anh làm tôi khó nghĩ quá. Thế anh định làm gì?
Xôlôcốp cho xe lăn về chiếc lò sưởi kiểu Hà Lan đang đứng trong góc phòng như một chiếc cột đèn lớn.
- Vào phân xưởng dụng cụ… Lúc đầu có thể với tư cách là người học vịec, nếu anh chưa tin tôi…
- Khó đấy, - Piốt Pêtrôvích ngồi xuống chíêc ghế dài.
Xtêpan chờ đợi, căng thẳng đến nỗi cổ bác đỏ ửng
- Thôi được, Xtêpan ạ, - Xamôrucốp đặt tay xuống đầu gối của mình - Luật lao động không cho phép, nhưng tôi sẽ tìm cách thu xếp. Bây giờ thêm người nào làm việc, hay người ấy. Và rồi anh sẽ thấy mình như sống lại! Đúng thế không, Xtêpan?
- Cảm ơn anh, Piốt Pêtrôvích
- Anh cảm ơn tôi đã vi phạm luật lao động à? - đốc công cười lớn
- Không, cảm ơn anh đã hiểu tôi…
- Sao anh lại nói thế được, tôi mà không hiểu anh thì hiểu ai, - Xamôrucốp bối rối nói.
Ngày hôm sau bác đi làm. Trước bữa ăn trưa, bác làm quen với trách nhiệm công tác không lấy gì làm phức tạp lắm của người công nhân phân phát dụng cụ. Bác nhớ thuộc lòng dụng cụ nào để ở đâu, và hình dung trong đầu nên xếp nó thế nào để có thể làm việc mà không cần người khác giúp đỡ.
Giờ nghỉ trưa, bác lại cho xe lăn sang phân xưởng rèn. Bạn bè chuyện trò với bác như người ngang hàng, yêu cầu bác chú ý trong khi lắp các mũi khoan, giũa, vì chúng hay gẫy và chóng cùng quá…
Cuối ngày làm việc, Xtêpan cảm thấy rất mệt, nửa người phía dưới bị tụ máu phù lên. Qua ô cửa sổ mà bác vẫn giao dụng cụ cho phân xưởng nguội, bác gọi con trai và Giamin đến, bảo các cậu giải chiếc áo âm lên bàn làm việc và đặt bác nằm lên đó. Nằm nghỉ khoảng 15 phút, Xtêpan lại ngồi vào xe, làm việc một mạch đến tan tầm.
Tháng Mười sắp hết, tuyết phủ đầy khắp nơi. Trời hơi lạnh, làm tai và má buôn buốt, đầu óc tỉnh táo hẳn lên. Giữa buổi hoàng hôn, tuyết trắng ngả màu tím một cách kì lạ.
Xtêpan về nhà cùng các bạn của con trai và một số công nhân già. Những người kia cảm thấy ngượng ngùng bên chiếc xe chở người tàn phế, nhưng không để lộ ra mặt. Thậm chí cả những khi xe rơi xuống ổ gà, tuyết che không thấy, họ cũng làm ra vẻ không để ý, kéo xe lên, tiếp tục nói chuyện công việc, về nhà ăn của xưởng, về mùa thu đến sớm, về việc năm nay được mùa khoai tây… Vẫn những câu chuyện thường ngày. Không ai hỏi Xtêpan sức khoẻ thế nào, và bác ta rất cảm ơn về điều đó.
Ở nhà, người ta cũng không hỏi han làm phiền Xtêpan. Mấy đứa bé sung sướng chạy ra đón bố, leo lên xe ôm bố, cười nói ầm ĩ. Côlia nhanh chóng bảo bọn em im lặng trở lại. Xtêpan rửa ráy và ăn xong, lần đầu tiên trong thời gian gần đây, ngủ một giấc say như chết, thậm chí không nghe hết câu chuyện của con trai về những gì mới xảy ra trong đội cậu. Trong đội đã xảy ra một chuyện bất thường.
Đã ba ngày nay không thấy Lênca đi làm. Theo luật thời chiến, bỏ việc như thế, hắn phải bị đưa ra toà. Các cậu hỏi thì biết được Lênca không đến trạm y tế, không có giấy nghỉ của bác sĩ. Nhưng chuyện gì xảy ra, cậu ta ở đâu thì không ai biết. Hai ngày đầu, Giamin còn giấu chuyện Lênca bỏ việc, cả đội phải gánh phần việc của nó. Có ai hỏi về nó, khi thì các cậu bảo là nó đang mài đục, khi thì nói là đang đi nhặt các thanh ốp hỏng để sửa.
- Này Giamin, hai ngày qua đội các cậu thế nào mà vất vả lắm mới làm hết định mức? Có chuyện gì xảy ra à? – Xamôrucốp hỏi
- Chúng cháu vẫn cố đấy ạ. Mấy hôm nay không hiểu sao lại thế… Không đủ nguyên liệu, phải mất nhiều thời gian chọn thanh ốp…
- Xem đấy, đừng chán nản! - thấy Giamin lúng túng, Xamôrucốp nói – Làm lãnh đạo không dễ đâu, cháu biết đấy, - Ông vỗ vào lưng cậu - Chịu trách nhiệm không chỉ riêng về mình mà cả người khác nữa.
Nói chuyện với các bạn xong, Giamin quyết định sau giờ làm việc sẽ đến nhà Lênca.
Lênca cùng mẹ sống với một ông già ở đường Giao thông sau ngõ cụt đường sắt, nơi người ta vẫn rửa buồng đốt thông nồi hơi, đầu máy.
Giamin tìm đến nhà Lênca, đi vào cái sân ngập tuyết. Theo một đường mòn nhỏ, cậu bước lên bực thềm. Cửa đóng kín. Giamin cầm quả đấm, khẽ giật rồi đứng chờ. Không thấy ai trả lời. “Không lẽ lại ngủ sớm thế à?” - Cậu tự hỏi rồi lại gõ cửa. Phía nhà để đồ đạc từ sau đống cỏ, một con chó màu hung đỏ, cụt đuôi chạy ra, vươn mình cất tiếng sủa giận dữ. Thấy người lạ không định rút lui, nó lại càng sủa mạnh, và từ từ tiến lại gần ng, thỉnh thoảng lại nhe răng đe doạ. Giamin đã định bỏ chạy ra sân nhưng thầm ước lượng thấy chưa kịp vượt qua khoảng sân đầy tuyết đến cổng thì con chó cụt đuôi kia sẽ cắn vào người cậu rồi. Con chó có lẽ cũng chỉ chờ cậu bỏ chạy. Nó giận dữ sủa, nhưng vẫn đứng yên một chỗ.
- Thôi đi đi, ngoan nào… - Giamin bình tĩnh nói với nó
Hình như con chó đã cảm thấy ưu thế của mình, nó lại gần Giamin, cong người, sủa càng khoẻ hơn trước. Giamin lấy chân đạp không ngớt vào cánh cửa, miệng vẫn nói nhỏ nhẹ:
- Giỏi lắm, mày ngoan lắm, tao có phải là kẻ trộm đâu…
- Ai đấy? - từ trong nhà có một người phụ nữ giọng khàn khàn hỏi ra.
Con chó chồm lên sủa từng hồi như muốn để bà chủ thấy lòng tận tuỵ của mình
- Tôi đây… bà mở cửa hộ… Tôi là bạn của cậu Rỗ - Giamin đáp rồi vội nói chữa lại – Tôi là bạn cùng làm việc với Lênca…
- Thế thì mời vào. Mà sao con Giunbaxơ nó chưa xé xác cậu ra nhỉ? - người phụ nữ hé tấm cửa nặng ra.
Giamin bước vào phòng ngoài tối om, theo tiếng chân bà kia đi về phía trong.
Một chiếc đèn dầu, bóng ám khói, để trên bàn. Bên cạnh là chai rượu vốt ca. Mùi thịt và khoai tây rán dầu thực vật bay ra thơm ngậy.
Bà ta nom khoảng 40 tuổi.
- Lạnh lắm hở? Hay uống cốc rượu nhé?
- Không, tôi không uống. Tôi đến để gặp Lênca…
- Hoá ra cậu không phải từ chỗ nó lại đây à? Thế cậu là ai? – bà ta cầm chiếc đèn lại gần sát mặt Giamin – Lính mới à?
Lênca giống bà ta, có lẽ là mẹ cậu ấy
- Bà đang nói gì? Tôi cùng làm việc với con bà, nhưng đã ba hôm nay không thấy cậu ấy, - Giamin chậm rãi nói, cố cho bà ta hiểu cậu là ai
- Hắn không có nhà, - bà ta đặt cây đèn lên đít chiếc chảo bị lật sấp rồi ngồi xuống chiếc giường ọp ẹp
“Cậu con trai không ở nhà, bà mẹ thì say rượu” – Giamin nghĩ bụng rồi hỏi:
- Thế cậu ấy ở đâu?
- Thằng Lênca,… bị công an bắt rồi…
Có tiếng chân người bước trên sàn gỗ cọt ket. Từ sau tấm chắn làm bằng nhiều thanh gỗ ghép lại, một lão già đầu tóc rối bù, mặt gian xảo, mình mặc độc chiếc quần ngủ, bước ra.
- Bà đang nói chuyện với ai đấy? - hắn vươn vai đến nỗi xương kêu răng rắc
- À, có cậu bạn của con trai…
- Công nhân hả?
- Vâng…
- Đến một mình à? – Lão già xoi mói nhìn Giamin, hỏi rồi ngồi xuống chiếc ghế bẩn thỉu cạnh bàn.
- Có mấy người đang chờ ngoài kia, - Giamin nói dối. Cậu thấy sợ hắn.
- Mày không nói dối đấy chứ? - hắn đưa tay nhấc cằm Giamin, - Mày cũng biết là nói dối thường sẽ bị trừng phạt thế nào rồi chứ?
- Sao tôi phải nói dối? – Giamin hất mạnh tay hắn ra
- Để cậu ấy yên, Aphônia, quả cậu ấy không đến một mình thật. Ông không nghe con Giunbaxơ đang sủa đấy à? – bà kia uể oải nói
- Mày làm tao thích đấy, nhưng kể ra giết mày cũng không thừa, - lão già phá lên cười, cái cười của người say.
Giamin thấy lạnh khắp người
- Thôi đi, Aphônhia! - người phụ nữ nghiêm giọng bảo hắn - Nốc vào cho lắm, bây giờ nói lung tung. Còn cậu đi đi, kẻo bọn bạn chờ lâu rồi đấy… - bà ta đứng dậy, đẩy Giamin về phía cửa.
Giamin không nhớ trong phòng ngoài tối om cậu đã tìm ra cửa và đi tới cổng thế nào. Chỉ khi chiếc cổng đã khép lại sau lưng và tiếng sủa giận dữ của con chó đã xa, cậu mới tin là có thể về nhà an toàn đựơc. Suýt ngạt thở vì lạnh, cậu chạy một mạch không nghỉ, và như trêu cậu, suốt dọc đường cậu không hề gặp một người nào. Cậu chạy bổ vào nhà Côlia, mệt suýt chết. Mọi người đã đi ngủ, chỉ còn thím Grunhia đang ngồi cạnh bàn vá áo lót của một người nào đấy.
- Có chuyện gì thế? – thím Grunhia hỏi - Mẹ cháu vừa lại đây hỏi cháu
- Lênca bị bắt rồi! – Giamin vừa nói vừa thở hổn hển.
- Thật thế à?
- Cháu vừa ở đằng ấy… Mẹ cậu ta là một người say rượu… Một lão đàn ông đầu tóc bù xù… Sợ lắm bác Gru nhia ạ, - Giamin vô tình tự thú nhận như vậy và nói thêm: Hay báo cho bác Xtêpan biết?
- Bác ấy vừa mới ngủ. Đánh thức dậy bây giờ không nỡ. Thôi để sáng mai cũng được. Cháu về nhà đi. Bác không thích thằng Lênca của cháu đâu. Sao lại cho một thằng như thế và đội?
Giamin ra về. Cậu thấy bối rối và tự trách mình đã ba ngày giấu chuyện thằng Rỗ trốn việc. Cậu tưởng làm thế tốt hơn. Ai ngờ bây giờ lại phiền phức đến thế.
Ngày hôm sau thì mọi chi tiết đều đã rõ.
Người ta bắt thằng Rỗ khi hắn đang bán dầu thực vật có trộn sơn. Lần xảy ra tai nạn đổ tàu, tuy thế thằng Rỗ vẫn lấy được bốn thùng dầu. Hắn đem đổ vào một chiếc thùng sắt dùng đựng dầu xô-li-đon. Hắn giấu cả một ít thuốc nổ nữa. Lúc đầu hắn tin thật đó là bột trứng nhưng sau thấy đồng chí đại uý bảo là thuốc nổ, hắn chợt nghĩ là: “Phải lấy một ít, sau có thể dùng để đánh cá”.
Một hôm mẹ hắn dẫn Aphônhia từ chợ về. Lão già vẫn thích tự gọi mình như vậy. Hắn nói hắn bị thương ngoài mặt trận, cả gia đình đều bị giết ở Rôxtốp. Mẹ Lênca thương hại hắn. Lúc đầu hắn tìm mọi cách làm vừa lòng bà chủ nhà, giúp đỡ việc gia đình. Ở chưa được một tháng, hắn đã hiểu được tính tình của Lênca, thấy ngay được cái thói hay tắt mắt của nó, biết được nó giấu dầu và thuốc nổ. Anphônhia dạy hắn cách bán các hàng này.
Thằng Rỗ không đồng ý ngay vì nó còn nhớ lời của đồng chí đại uý.
- Thế cậu tưởng nếu biết cậu giấu thuốc nổ thì người ta sẽ xoa đầu cậu à? – Aphônhia bảo hắn, - Tốt hơn hết là phải bản ngay, tâm hồn thoải mái mà lại có tiền tiêu. Phải thông minh một chút, chú mày ạ… - Họ mua, lên toa ngồi - thế là xong. Họ sẽ cảm ơn cậu đã giúp họ khỏi chết đói, mà cậu thì cứ việc đứng mà vẫy tay theo.
Lần đầu bán dầu trót lọt, thằng Rỗ mừng lắm, thầm cám ơn lão già và lại càng thêm cởi mở với lão.
Thấy con trai thậm thụt với Aphônhia, một hôm nhân Lênca đi vắng, bà kia nói:
- Aphônhia, ông dạy cho con tôi những điều xấu… - rồi bà suýt khóc – Tôi cho ông đến ở nhờ như một người đồng hương, một người gặp nạn…
- Vâng, đúng thế, thưa bà. Con bà giỏi lắm và hoàn toàn không ngoan như bà nói đâu. Chính bà cũng biết giá trị của con bà. Thưa bà, cậu nhà bán lậu dầu hướng dương trộn lẫn dầu sơn. – đôi mắt màu vàng của lão già nheo nheo như muốn cười – Thế nào, bà không tin à?
Bà kia muốn đứng dậy khỏi ghế, nhưng lại khoát tay vẻ hoảng sợ.
- Không thể thế được…
Như bộ không nghe thấy gì, lão già nói tiếp:
- Và bà hãy nhớ cho một điều này nữa, là trong một thời gian dài bà đã che giấu một tên ăn cắp chuyên nghiệp. Bà cho hắn ăn, hắn uống… Thành ra bây giờ chúng ta là một bộ ba tuyệt đẹp…. Mỗi người đều có tội cả. Vâng, vâng, thưa bà, bà cũng có tội… Mà theo pháp luật, bà cũng khó hình dung nổi điều này có thể dẫn bà tới đâu. Cho nên, tốt hơn hết là bà hãy im lặng. Bà đừng nghĩ là tôi dạy nghề cho con trai bà. Lâu nay cậu nhà cũng đã hoạt động rồi, có điều chưa làm cái gì lớn lắm. Tôi chỉ giúp cậu ta thôi. Mà chính bà cũng biết là con bà giấu dầu, làm giả giấy phép nghỉ việc. Chính bà khuyên cậu ta làm thế… Rồi bà đã bày cho cậu ta làm thế nào để tăng nhiệt độ cơ thể lên… Chính cậu ta bảo tôi thế…
- Đồ khốn nạn, tao là mẹ của nó. Nó là con tao, còn mày, mày có quyền gì mà dám thế? – bà ta oà lên khóc.
- Thì tôi có cướp cậu ấy đi đâu, thưa bà. Tôi chỉ gọt giũa, làm cho cậu ấy trở nên đẹp hơn, tinh xảo hơn thôi, như gia công đồ trang sức ấy mà…
Sau lần ấy, thằng Rỗ công khai làm mọi việc Aphônhia giao. Còn mẹ hắn thì làm ngơ như không biết gì. Vốn trước đã quen nhấp nháp, bây giờ dần dần bà càng hay tìm đến chai rượu hơn.
Chỉ ngay trước khi con trai bị bắt, bà mới hỏi nó hai ngày vừa rồi đã cùng ông khách trọ đi đâu, và lấy đâu ra nhiều thịt thế.
- Lấy tiền bán dầu mua, - thằng Rỗ nói dối.
- Tao hỏi mày đã đi đâu hai ngày? - mẹ hắn nghiêm mặt hỏi lại
- Ở Nhigiơnheuđinxcơ. Ở đấy dễ bán hơn, - hắn lại nói dối.
Aphônhia bước vào, người đầy tuyết. Thời gian gần đây do ăn nhiều, đôi má trễ của hắn nhầy mỡ. Hắn xử sự như một ông chủ thực sự. Hắn đã làm bạn được với ông lão cho mẹ Lênca thuê nhà. Ông cụ mù, nặng tai, không ngớt cảm ơn Chúa đã gửi đến cho bà thuê nhà mình một người bạn tốt bụng như thế. Nốc rượu xong, ông cụ thường leo lên lò sưởi nằm, lè nhè nói xuống:
- Con là một người tốt. Aphônhia ạ. Bố chết sẽ để lại cho con tất cả. Nhà này, con Giunbaxơ này… Nào, lại đây con, bố muốn hôn con…
Bây giờ ông cụ đang nằm say ở đây, vừa ngủ vừa khịt khịt như trẻ con khóc.
- Hai mẹ con mày vắng tao vừa nói chuyện gì thế? – Aphônhia hỏi vẻ đe doạ, chủ yếu là Lênca.
- Mẹ tôi hỏi chúng ta đã đi đâu hai ngày và lấy đâu ra nhiều thịt thế?
- Và tao hi vọng là mày đã nói hết cả rồi, phải không? Bà ấy muốn giữ cho tâm hồn mày trong sạch mà! – lão già nghiến răng nói
- Vâng, cháu nói là ta đi Nhigiơnheuđinxcơ và lấy tiền bán dầu mua thịt…
- Thì các anh đi đâu, mua gì, tôi chẳng cần biết, - bà kia đang say rượu nói vọng vào.
- Đấy, tôi thích như thế! – Aphônhia cười khà khà – Đáng lẽ bà phải nói thế từ lâu rồi cơ - Hắn rót một cốc rượu lậu, chóp chép nhai mấy chiếc nấm dưới chân có mày xanh nhạt. Hắn lại gần mẹ Lênca, thô bạo đặt bàn tay nặng của hắn lên vai bà – Ê, em yêu, rồi tất cả sẽ theo ý anh.
- Này, Aphônhia, tốt hơn là ông đừng sờ vào người mẹ tôi - thằng Rỗ giận dữ nhìn hắn, hất tay lão ra khỏi vai mẹ.
Aphônhia hằn học nhìn thằng Rỗ từ đầu đến chân, suy nghĩ một lát rồi mỉm cười độc ác, nói:
- Còn mày thì ngang bướng, giỏi lắm…
Trưa hôm ấy, một đồng chí công an đến bắt thằng Rỗ đem đi, sau khi bảo mẹ hắn là người ta nghi ngờ con bà một vài việc.
Những ngày đầu Lênca còn tỏ vẻ cứng rắn, nói là chỉ bán dầu ở ga, ngoài ra không biết gì hơn. Nhưng khi người ta đem thúôc nổ tìm thấy trong khi khám nhà hắn đặt lên bàn, hắn buộc phải thú nhận. Lúc này người hỏi cung hỏi hắn:
- Thế ông già có râu người ta thấy đi cùng anh ở ga là ai? Nhìn bề ngoài ông ta không phải là người ở đây.
Lênca sợ không dám khai Aphônhia, nhún vai đáp:
- Tôi làm sao biết được! Ngoài ga thì thiếu gì người quanh tôi?
- Được.. Thế còn cái này anh biết không? – anh kia hỏi tiếp và đặt lên bàn một chiếc rìu dính máu.
Thằng Rỗ tái mặt, cúi đầu nói:
- Lần đầu tiên tôi thấy nó…
- Chúng tôi cũng cho là thế, vì khó mà tin nổi anh có thể làm được điều này, nhưng… vết tay lại là của anh. Kể ra ở đây còn có vết tay của người khác nữa… Hay là của người lạ mặt ở sân ga?
Thằng Rỗ khịt mũi, đưa nắm tay lên chùi nước mắt nói:
- Của ông ta…
- Nghĩa là các anh làm thịt bò ở Acunsét, rồi pha thịt bằng chiếc rìu này?
- Vâng…
- Nếu lúc ấy chủ bò đi ra thì sao?
… Aphônhia trốn ngay đêm Giamin đến. Người ta kết án Lênca Crítsốp ba năm tù. Mẹ hắn bị năm tù treo. Giamin cũng bị vạ lây. Cậu đã bị kiểm điểm ra trò trong cuộc họp đoàn. Người ta nghiêm khắc báo cho cậu biết là nhờ được chiếu cố làm việc tốt, chứ không, khó mà biết trước cậu sẽ bị rầy rà đến mức nào, vì cậu đã làm cho vụ án thêm phức tạp. Mà thời chiến, điều này cũng quan trọng như tội phạm.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
Chương VIII
Dao cạo của Viđônốp

Ở phân xưởng rèn suốt ngày đêm không bao giờ ngớt tiếng búa đập, lửa trong lò không tắt giờ nào. Hoạt động của đường sắt không thể dừng lại. Suốt ngày đêm cứ 15 phút lại có một đoàn tàu quân sự lao về phía Tây.
Từ lâu người ta đã bỏ nghỉ giải lao dài để lần lượt mời nhau những điếu thuốc “hảo hạng”.
Thường thì mọi người hay tụ tập quanh Viđônốp, một người không lấy gì làm xinh trai, lưng còng, vẻ mặt cau có. Viđônốp không già hơn người khác nhưng không hiểu sao vẫn được gọi là bác, bác Misa. Chỉ có một mình bác ta – bác Misa – là làm được những chi tiết phức tạp nhất, đòi hỏi phải có trình độ của một người thợ kim hoàn, mà làm đúng bản vẽ thiết kế. Những giờ nghỉ trưa, bác Misa tranh thủ ăn nhanh rồi ngồi vào làm những chiếc dao cạo râu.
Cán bộ phụ trách xưởng vẫn thường nhân nhượng và bỏ qua những cái kì cục của Viđônốp vì khâm phục và đánh giá cao nghệ thuật rèn của bác.
Nguyên liệu làm dao là những thanh nhíp toa tàu bị hỏng. Viđônốp kiên nhẫn hồi lâu nung nóng nó trong lòng, chặt lấy một mẩu cần thiết rồi cẩn thận đem cất phần còn lại vào chiếc hộp đồ nghề của mình. Có lúc nhiều anh đến xin sắt, bác ta ngoảnh mặt đi, bảo:
- Bác Misa có phải là nhà máy luyện thép đâu. Đi mà tìm lấy, nung đỏ, rồi cứ làm đi… Như thế thì sản phẩm sẽ tốt hơn.
Thấy tính tình Viđônốp như vậy, nhiều người xa lánh bác. Nhưng khi bác làm dao cạo thì bao giờ người ta cũng lại xem, rồi truyền tay nhau con dao, không ngớt lời khen ngợi. Họ hà hơi lên mặt dao, kiên nhẫn chờ khi nào hơi nước tan mới thôi, để tóc lên lưỡi dao, cạo cạo vào má mình. Những lúc ấy, bác Misa đi ra xa, lấy những ngón tay rung rung của mình vụng về cuốn thuốc hút. Thế nào cũng có người không kìm được phải rụt rè nài nỉ:
- Bác Misa, hay bán cho tôi được không?
- Cái gì, cái gì? - vẫn chăm chú cuốn thuốc Viđônốp nói.
- Tôi bảo bác có bán không?
- Không, làm theo đơn đặt hàng đấy, - Viđônốp ranh mãnh cười, cầm con dao, lấy mảnh dẻ cẩn thận bọc lại.
Nhiều người thợ rèn khác cũng bắt chước bác định làm những con dao như thế; chọn cùng một loại thép, tôi thép cùng theo một công thức, lúc đầu cho dầu xola, sau rắc một lớp bột xương có lẫn bột thuỷ tinh, nhưng đạt đến độ cứng, độ sắ của Viđônốp thì ai cũng chịu thua.
- Bác Misa này, tại sao dao cạo của bác cứ như là bôi mỡ lên má, mà dao của chúng tôi thì cào xước cả mặt mày thế này? một lần Phuát Acmétdianốp hỏi. Anh ta là thợ quai búa của Viđônốp, người Tacta, 20 tuổi, rất khoẻ mạnh, có đôi tay dài quá cỡ.
- Đúng đấy, Viđônốp, bí quyết nằm ở chỗ nào thế? - một số thợ khác đi lại nói thêm.
Bác Misa lấy áo tạp dề phủi mặt đe còn ấm rồi ngồi xuống, cắm chiếc que cời vào lò.
- Tôi nghĩ thế này, các cậu ạ, cái quan trọng là phải để cả tâm hồn vào đấy mới được, - Viđônốp không nói mà lúng búng trong miệng, đưa mắt nhìn mọi người như muốn xem họ có hiểu không - Chứ có người cứ nghĩ là đã làm việc với sắt thì người ta cũng có thể trở thành gang thép mất… - đôi môi mỏng của bác cong lại, làm thành một nụ cười hóm hỉnh.
- Thì chúng tôi cũng cố làm cho mình chứ, - một người thợ rèn tóc hung tên là Brukhanốp lên tiếng. Anh này vốn thích làm thêm những cái cào và lưỡi dao để cạo sàn nhà để bán, - Thử hỏi ai muốn vác cái mặt thế này đi ra đường? – anh ta chỉ những vết dao cắt trên má mình – Tôi cạo bằng dao tôi đấy.
- Cậu nói thế cũng đúng. – đôi môi của Viđônốp lại uốn thành một nụ cười nữa. – đúng thế. Nhưng cố gắng thì cũng có lắm cách. Cậu làm cào, đập đập mấy cái là xong, còn đây cần phải… Nói thế nào để cậu hiểu đựơc nhỉ? Thời gian gần đây cậu làm được mấy cái dao cạo? – Viđônốp nheo mắt hỏi.
- Ba chiếc, bác Misa ạ - Brukhanốp vội đáp – Nhưng có ra gì đâu, chỉ đem mổ gà là tốt.
- Đấy, đấy, vấn đề là ở chỗ ấy. Còn tôi thì mãi vẫn chưa xong một chiếc. Hay như thế này nhé. Hai bà nội trợ, một bà nấu ăn ngon, còn bà kia nấu thì không ai buồn đụng đũa. Tại sao?
- Rõ ràng là bà kia không muốn hay không biết nấu ăn ngon.
- Còn tôi thì nghĩ là do bà ta không để hết tâm hồn vào đó. Không biết tâm hồn là gì, không thấy nó. Nó không phải là muối, là hạt tiêu, nhưng tôi thì tôi lại nghĩ nó chính là muối, là hạt tiêu đấy. Tâm hồn là cái gì đấy rất tế nhị, khó hiểu. Cũng như độ sắc của dao cạo ấy mà. Không thể nhìn mà chỉ cảm thấy thôi…
Trước chiến tranh là thế đấy. Người ta nói với nhau về những việc bình thường, nhỏ nhặt nhất, thế mà lúc ấy họ tưởng không còn gì quan trọng hơn chúng.
Trong tất cả những chuyện ấy, có cái gì trần tục, thông minh, vĩnh cửu. Tất nhiên, con người không thể luôn luôn ở mãi trạng thái căng thẳng được. Và anh ta đã tích luỹ sức dẻo dai chịu đựng ngay từ thời bình. Như một tia chớp, chiến tranh đã ập vào tâm hồn mọi người làm họ lo lắng và buộc họ phải thay đổi cách nhìn đối với bản thân, với người khác, với những việc mình làm. Và người ta đã nhìn thấy trong cuộc sống nhiều cái quan trọng hơn, nghiêm túc hơn những cái mà trước kia họ không nhìn thấy. Chỉ sau giông tố, người ta mới thấy quí một ngày nắng đẹp…
Như nhiều nhân viên khác trong ngành đường sắt, công nhân rèn của xưởng cơ khí Taisét cũng có người vào diện “không thể rút đi được”, nhưng mặt trận vẫn ngày một cần thêm người.
Cả thợ quai búa của Viđônốp là Phuát Ácmétdianốp cũng được gọi ra mặt trận. Cạnh các tao tàu chở những người nhập ngũ là người tâhn và bạn bè của họ đi tiễn. Phụ nữ thút thít khóc, có lẽ vì theo thói quen thì nhiều hơn - lặng lẽ, bình tĩnh nhưng không khóc to và nức nở như hồi đầu chiến tranh. Đàn ông chỉ khịt khịt mũi, thỉnh thoảng mới dặng những người ra đi:
- Ngoài ấy nên cẩn thận… Chẳng còn bao lâu nữa.
- Nhớ chong chóng cho cái thằng Hítle chầu trời, không thì cái thằng trời tru đất diệt ấy cứ làm trận tuyến thẳng dần ra mãi.
Mẹ Phuát, một bà già đa cảm, dựa vào ngực rộng của con trai không sao nhấc nổi khuôn mặt đẫm nước mắt của mình khỏi đó nữa. Những ngón tay xương xẩu, trắng nhợt của bà lão cứ bám chặt lấy chiếc áo ấm của con trai. Phuát im lặng ngước mắt tìm Viđônốp. “Chẳng nhẽ bác ta không đến?” Có lẽ anh ta là người vui sướng nhất khi nghe lệnh: “Tất cả vào toa!”
- Thôi, tạm biệt mẹ! Mọi việc sẽ êm đẹp mẹ ạ! – Phuát nhấc bổng mẹ lên một cách nhẹ nhàng rồi đặt bà ra xa toa tàu. Vào ngồi trong toa, anh nghe người ta nói chuyện với nhau:
- Cái bác làm cùng với cậu ấy không đến tiễn…
- Lão ta thế đấy, bủn xỉn, không muốn mở ví bao giờ…
Phuát nghe nói thế về Viđônốp, thấy bực bội, khó chịu thay cho bác ta.
Bỗng Phuát nghe có giọng khàn khàn quen thuộc của Viđônốp:
- Này các cậu ơi, Phuát của tôi ở đâu?
- Tôi ở đây, bác Misa ơi! – Phuát thò đầu ra khỏi toa.
- Mình đến chậm một tí, cậu ạ - Viđônốp dúi vaà tay anh ta một cái hộp và một cái bọc nhỏ, hổn hển nói - Cậu thông cảm, mình làm cái gì cũng chậm, đựơc cái chắc chắn… Có thể chiến tranh sẽ chữa khỏi cái tật ấy cho mình… Trong hộp là rượu ngâm quả rừng, còn trong bọc là con dao cạo. Chú ý lấy thắt lưng da tốt mà miết! Mặt cậu rậm râu…
Viđônốp bước từng bước ngắn dọc theo đoàn tàu đang tăng dần tốc độ, miệng còn lẩm bẩm một điều gì đấy…
Giamin được cử đến thay Phuát. Sau ngày hôm sau, Xamôrucốp cho gọi người đội trưởng trẻ tuổi lên phòng họp, và vẫn không ngẩng đầu lên khỏi bàn, bác chậm rãi nói:
- Chúng tôi đang suy nghĩ nên chọn ai làm thợ phụ cho Viđônốp, và quyết định chọn cậu…
- Thế còn đội và các bạn?
- Tạm thời, Côlia Xôcôlốp làm đội trưởng, sau sẽ hay… - vẫn bằng giọng đều đều, thủ trưởng cơ khí nói tiếp - Cậu khoẻ, hơn nữa cũng chẳng còn ai. Đi đi, Samilíep, đi lại chỗ Viđônốp đi.
Tất cả đột ngột đến nỗi Giamin chẳng còn biết nói gì. Cậu không sợ công việc mới, nhưng chỉ nghĩ đến việc phải làm với Viđônốp cậu cũng đã thấy lạnh sống lưng rồi.
- Cậu làm gì ở đây? – Viđônốp cau có hỏi khi thấy Giamin lại gần chiếc đe của mình – Đáng lẽ phải làm việc thì cậu lại lang thang thế này. Không ai trị được các cậu…
- Cháu à? … Cháu được cử lại đây quai búa thay Phuát, bác Misa ạ - Giamin đáp
- Nhưng tôi biết làm ăn cái quái gì với cậu? – Viđônốp cáu kỉnh nói - Cậu tưởng đây là vườn trẻ à? Mà cũng chẳng phải là xưởng nguội đâu. Ngoài cái đầu ra, ở đây còn cần sức lực nữa.
Các lò khác bắt đầu làm việc, mặc dù họ cũng có thợ phụ quai búa là thiếu niên, còn Viđônốp vẫn chưa thôi càu nhàu văng tục chửi Hitle.
… Giamin không thể diễn tả bằng lời cái cảm giác khi cậu vào phân xưởng rèn.
Tiếng búa gõ liên tục, lanh lảnh của người thợ cả như đánh thức anh thợ phụ, đưa anh ta vào nhịp điệu công việc, ra hiệu cho anh ta khi nào thì phải thả sức quai búa thật mạnh, hay khẽ đập và rồi khi nào thì đập nghiêng, vừa đập vừa giữ, hay đập búa thật phẳng. Khi thợ cả gõ một tiếng giòn, vui ta là lúc thợ phụ phải chuẩn bị sức quai búa thật lực. Thanh sắt còn nằm trong lò nhưng anh ta đã hình dung trước cả quá trình công việc phải làm. Bây giờ thợ cả lôi từ lò ra như lôi từ miệng một núi lửa nhỏ thanh sắt rắc các bọt như bọt tuyết màu đỏ rồi đập khẽ xuống đe. Bụi tuyết đỏ bay tung khắp nơi, bắn cả vào mắt. Trong giây lát, mắt loá cảm thấy tối đi. Nhưng ngay lúc đó, người thợ quai búa đã hạ búa xuống đe, cẩn thận như hạ xuống mặt kính, và rồi tiếng đập vang lên khắp phân xưởng như tiếng một chiếc hạc cầm sai dây. Tiếng búa con của thợ cả phụ theo, như muốn yêu cầu anh ta giữ đúng nhịp của mình. Sau mỗi lần đập, từ dưới mặt búa tạ lại vang lên những tiếng, lúc đâầ nghe nặng nề, sau thanh hơn, gần giống tiếng búa con của thợ cả.
Miếng kim loại vặn vẹo dưới sức nặng của búa, đỏ bừng vì giận dữ, ùn lên mặt những vẩy nhỏ màu xanh đen. Sau đó, thợ cả nhúng các chi tiết đã hoàn thành vào một chiếc thùng đựng nước, nó kêu xèo xèo, sủi bọt rồi nằm im. Ngón tay người thợ quai búa luôn căng thẳng, vất vả bám chặt vào cán búa. Khuôn mặt mệt mỏi, mồ hôi nhễ nhại của thợ cả để lộ vẻ hài lòng. Lửa trong lò đã ngả sang màu hồng nhạt như màu hoàng hôn. Thợ cả nhanh nhẹn quấn một điếu thuốc, châm lửa rồi cắm vào miệng thợ quai búa. Anh này rít một hơi thật sâu, đưa những ngón tay run run đỡ lấy nó… Lần nào cũng thế…
- Có biết quai búa tạ không? - cuối cùng Viđônốp hỏi - Phải cho thêm tí nước vào lò. Nhiệt độ tăng, lửa tập trung hơn, nhiều ô xy hơn, lại đỡ tốn than. Tiết kiệm hơn. Ở nhà chắc cháu cũng tiết kiệm củi chứ?
- Cháu biết rồi, bác Misa ạ. Mấy anh thợ quai búa vẫn hay kể chuyện với cháu, - Giamin vội đáp
- Thôi được, để xem sao. Nhưng với cậu, chiếc búa này cán hơi dài đấy. Phải thay cán khác mới được. - vừa cho những chiếc đinh ray vào lò, Viđônốp vừa nói.
- Không sao bác ạ, cháu dùng cũng được.
- Thế à, nghĩa là cũng đã lớn, phải không?
Viđônốp từ từ lôi từ lò ra một chiếc đinh đã ngả màu sáng trắng, nóng bừng như trong nhà tắm ra, rồi vứt lên mặt đe.
- Nào, bắt đầu! – Viđônốp thét lên và lập tức bác ta trở nên sôi nỏi, linh lợi, người thẳng ra, giọng trẻ lại, vẻ mặt ảm đạm biến mất trong đôi mắt đang toả sáng. Giamin hăng hái quai búa tạ xuống chiếc định đang bắn các tia lửa như nện xuống kẻ tử thù của mình
- Đập gì mà như muốn phá búa thế? Khẽ thôi, - Viđônốp nói qua kẽ rằng rồi đặt nghiêng trên đe chiếc đinh bây giờ có hình lưỡi chó. Giamin không nghe bác nói. Chiếc búa tạ giáng mạnh xuống mép mỏng của chiếc đinh nhưng không trúng, đập mạnh vào mặt đe.. làm thành một tiếng chói tai, đắc thắng nổi hẳn lên trong tiếng ồn ào chung của toàn phân xưởng. Chiếc búa tạ gặp mặt đe bóng loáng, bật trở lại như một chiếclò xo…
Viđônốp và những người thợ rèn khác chạy tới đứng quanh Giamin đang nằm sõng xoài trên mặt đất.
- Thế này thì chẳng mấy chốc về chầu ông tổ…
- Kìa, sao xúm lại cả đây thế này? Cho cậu ấy thở nữa với chứ? – Viđônốp nói một cách vụng về nhưng đầy vẻ sốt sắng. bác ta lại trở nên già nua và còng lưng như cũ.
Giamin hé mắt, ngạc nhiên nhìn những người công nhân đứng quanh mình. Cậu định mỉm cười, nhưng trong đầu ù ù, rồi lại nhắm mắt. Tiếng ù ù biến mất, cậu nghe rõ tiếng Viđônốp đang nói:
- Có lẽ ổn cả, nằm chốc nữa sẽ khỏi…
Cách một ngày sau, Viđônốp đến thăm người thợ phụ của mình. Hồi lâu bác đứng ở phòng ngoài cẩn thận phủi tuyết khỏi đôi ủng. Bác vào nhà sau khi thím Samsura hé cửa, nói:
- Ai đấy? Mời vào!
Viđônốp vội nói ngay với vẻ của một người có lỗi:
- Rất tiếc là chuyện đã xảy ra như thế…
- Mời vào, mời vào… Công việc thì bao giờ chẳng vậy. Nó còn trẻ, dần sẽ khôn lên. Mời bác vào trong này.
Giamin nằm trên chiếc giường gỗ, trên chăn có đắp thêm một chiếc áo âm. Thấy thợ cả của mình đến, cậu định nhỏm dậy.
- Nằm yên, nằm yên, bác đến một chốc thôi. Thế nào, không sao chứ? – Viđônốp nói, tay vò nhàu chiếc mũ bịt tai
- Đầu cháu váng lắm… Nhỏm dậy một chút là tất cả quay tròn hết. Mời bác ngồi xuống, bác Misa – Giamin chỉ tay vào chiếc ghế.
- Bác cũng đã từng bị thế này. Phải nằm yên một thời gian…
Cả hai đều im lặng, Viđônốp quay chiếc cổ gầy gò, nổi gân xanh, nhìn các bức ảnh trên tường.
- Bác vội à, bác Misa?
- Không, vội gì đâu. Bác mang cho cháu cái này đây, - Viđônốp cho tay vào ngực, rút ra một chiếc hộp dao cạo tự làm – Cái này thì tha hồ dùng suốt đời. Bác rèn nó từ khi còn làm việc với thầy của bác là Curơghin. Bác có ba cái tất cả. Hai cái đã cho những người nhập ngũ… Chiến tranh thì chiến tranh nhưng chiến sĩ mà râu ria xồm xoàm kể cũng khó coi…
- Ôi, bác Misa, không… - Giamin ngắm con dao, nói - Một con dao quí thế này…
Mẹ Giamin đi lại:
- Bác cho cháu làm gì? – bà ngạc nhiên. Cháu đã có râu đâu mà dao với kéo. Hơn nữa, quí thế này. Mà bác cũng cần có cái mà dùng chứ.
Viđônốp đỏ mặt, thậm chí đôi má lâu nay ám khói và lửa lò rèn cũng ửng đỏ, nhưng rồi mặt bác trở lại ảm đạm ngay.
- Cầm lấy, Giamin, cầm lấy! Chúng ta sẽ làm cái khác cho những người nhập ngũ, để họ cạo râu mà nhớ đến chúng ta! - Rồi bác sôi nổi nói tiếp – Cháu biết không, người ta định để thằng Phêdia thay cháu. Cái thằng mặt đầy tàn nhang ấy mà. So với cháu thì hắn chẳng đáng một xu. Bác bảo đốc công thế này: “Không, nhất định không! Tôi phải làm việc giúp mặt trận mà anh định giao cho tôi một thợ phụ như thế này à? Rồi búa tạ cũng làm nó gãy cột sống mà chết thôi. Không, tôi sẽ giữ nguyên Giamin, cương quyết không cho ai thay cả!...”
- Cảm ơn bác, bác Misa, - Giamin định nhỏm dậy – Cháu sẽ cố gắng và làm việc không kém Phuát đâu… Cháu sắp khỏi rồi…
- Này, này… - Viđônốp bảo cậu – Nằm nghỉ đã…
Viđônốp ra về cũng bất ngờ như khi đến. Thím Samsura lặng lẽ nhìn theo ông khách và lắc đầu.
- Hoá ra thế đấy, con ạ. Mẹ biết bác ta hơn chục năm nay. Ai cũng bảo là người không chan hoà, cáu kỉnh, bủn xỉn… Và chính mẹ, của đáng tội, cũng vẫn cho là thế. Ấy vậy mà thực tế bác ta là một người hoàn toàn khác. Con tiếp xúc với một người tốt, dù người ấy suốt ngày chỉ tiếp xúc với gang, với sắt.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
Chương IX
Một nhân vật mới

Bác sĩ tạm thời cấm Giamin học tiếp: cậu bị chấn động não
Mấy ngày qua, hiệu trưởng Ruvim Ixacôvích đến thăm cậu
- Chào em, Giamin - đứng ở ngưỡng cửa, ông lau mắt kính rồi mỉm cười đặt kính lên mũi - Thầy lại thăm me xem có giúp em được gì không. Sức khoẻ thế nào?
Có tiếng khe khẽ của mẹ Giamin từ hầm nhà vọng lên:
- Giamin, hình như có ai đến thì phải…
- Vâng, thầy hiệu trưởng… - Giamin hoảng sợ đáp
- Thầy hiệu trưởng? Sao con không gọi mẹ một tiếng? Thế mà mẹ cứ ngồi nhặt khoai tây dưới này, không hay biết gì.
Một chốc sau đã thấy thím Samsura từ dưới bếp đi lên
- Chào thầy… Cảm ơn thầy đã đến thăm cháu. Để tôi đi đặt ấm nước…
- Ấy không, không cần đâu bác ạ. Tôi tới nói chuyện một tí rồi lại phải đi ngay thôi mà, - Ruvim Ixacôvích ngồi xuống chiếc ghế cạnh người ốm
Giamin cảm thấy lúng túng, cậu không bao giờ nghĩ là ông hiệu trưởng có thể tới thăm cậu.
Còn bối rối chưa đáp lại đầy đủ lời chào của thầy giáo. Giamin đã vội nói một mạch:
- Vâng, xin mời thầy ngồi… Không hiểu em có được thi lại một lúc cùng các bạn không? Em sẽ không tới trường nhưng em sẽ học ở nhà. Các bạn sẽ đưa bài học và bài kiểm tra cho em…
Sau khi ông hiệu trưởng tới xưởng cơ khí gặp đốc công Xamôrucốp và yêu cầu bác ta nói với các công nhân trẻ về việc tiếp tục học, nhiều cậu đã viết đơn, nhưng không phải ai cũng theo học đến cùng; một số học được một tuần đã thôi, số khác bỏ khá nhiều giờ, còn Giamin, tuy có lúc vắng mặt nhưng bài tập về nhà bao giờ cũng cố làm đủ.
- Biết làm thế nào được, năm nay có lẽ phải chịu thôi, đành phải chờ vậy – ông hiệu trưởng nói.
- Không, thưa thầy, không ạ! Phải mất một năm thì tiếc lắm! – Giamin nói to.
Ruvim Ixacôvích đứng dậy, chậm rãi đi đi lại lại trong phòng. Thím Samsura ngồi ở góc cố không quấy rầy hai người đang nghiêm túc nói chuyện với nhau.
- Giamin ạ, em biết đấy, sức khoẻ không phải là chuỵên thứ yếu. Em cần suy nghĩ cẩn thận, và hỏi ý kiến bác sĩ lần nữa. Nên chờ thu tới, khoẻ hẳn thì lúc đó mọi việc sẽ tốt đẹp.
- Thưa thầy không, chỉ cần thầy cho phép, các bạn sẽ giúp em… - Giamin khẩn khoản nhìn ông hiệu trưởng.
Ở Taisét, hiệu trưởng là người mới đến. Ông sơ tán từ Kíep tới. Trong lúc đi đường, một lần gặp máy bay địch oanh tạc, cả nhà ông đã chết, còn ông bị thương, tới Taisét và ở hẳn lại đấy, thay thầy hiệu trưởng cũ Caxépxki, một người còn trẻ và rất cương nghị.
Ruvim Ixacôvích có đôi vai hẹp, vẻ mặt ốm yếu. Đôi mắt màu ô-liu hơi lồi của ông đượm buồn. Cặp môi dày hoàn toàn không thích hợp với khuôn mặt nhỏ, hầu như trẻ con của ông.
- Người giúp em phải là người rất nghiêm chỉnh, - ông hiệu trưởng liếc nhìn Giamin qua cặp kính dày.
- Tamara Crưgianôva hứa sẽ giúp đỡ em, - Giamin buột miệng nói và lấy làm xấu hổ.
- Ừ, kể ra cũng biết chọn người đấy. Cô bé là một người nghiêm chỉnh, giỏi toán, và cái quan trọng nhất là biết độc lập suy nghĩ. Thế cô ta đã đồng ý chưa?
- Có lẽ… Chắc chắn là thế…
- Nếu vậy, theo tôi, em có thể dự thi với tư cách là thí sinh tự do được, - đôi mắt ông hiệu trưởng ánh lên - Tất nhiên, chúng tôi còn phải hỏi thêm ý kiến bác sĩ. Còn em thì phải chăm chỉ và kiên trì đấy. Tôi phải nói trước với em điều đó, mặc dù các thầy giáo đều nhận xét tốt về em. Em nên nhớ rằng sau lớp chín, chỉ còn một năm nữa là thi tốt nghiệp… À, mà sao tôi nói nhiều với em như thế làm gì nhỉ? – đôi mắt ông ta lại ánh lên qua cặp kính – Tôi nghe nói là chính em cũng chịu trách nhiệm về tính mạng người khác và em là đội trưởng ưu tú phải không?
- Bây giờ đội trưởng là Côlia Xôcôlốp. Họ sẽ bố trí em đi đâu, em chưa biết… Có điều em sẽ đi học….
- Được, chúng ta đồng ý với nhau như thế. Chắc bây giờ thế nào người ta cũng giao cho em một việc nào đó nhẹ nhàng hơn. – Ông hiệu trưởng tạm biệt Giamin và thím Samsura rồi bước ra cửa, nét mặt lại đượm buồn như cũ.
Hôm sau Giamin tới trường gặp Tamara. Cậu có thể tới thẳng nhà nhưng ngại gặp mẹ cô ấy. Bà là một phụ nữ người thấp, chắc, linh hoạt, và không hiểu sao lần nào gặp Giamin cũng có vẻ không niềm nở lắm. Hơn nữa, cậu cũng xấu hổ vì sợ người cậu bốc mùi dầu mỡ và than cháy. Và hơn nữa, cậu có cảm giác là thế nào mẹ Tamara cũng đoán biết được tình cảm của cậu, sẽ nổi giận và hoàn toàn cấm không cho con gái mình gặp cậu nữa. Đó mới là điều đáng sợ nhất.
Đứng chờ chuông báo giờ chơi cạnh phòng gửi áo ngoài. Giamin lên tầng hai, nơi học sinh các lớp trên học. Hai năm qua, cậu lớn hẳn lên. Bây giờ cậu lấy làm lạ khi thấy các học sinh nam dồng tuổi với cậu, mà sao không chín chắn, hời hợt, chạy đi chạy lại, xô đẩy nhau nói cười ầm ĩ, còn các cô bé thì chẳng hiểu vì sao lại kêu lên the thé. Ở chỗ cậu làm việc mà thế thì thế nào cũng bị người lớn khiển trách hay bị bạt tai nữa là khác.
Giamin hết sức ngạc nhiên khi thấy Tamara đi ngang cùng với một cậu lạ mặt điển trai nào đó mà không nhìn thấy cậu. Cậu này đang say sưa kể cho Tamara nghe một chuyện gì đấy, đầu hơi nghiêng về phía cô bé. Giamin chú ý thấy chốc chốc cậu ta lại sờ lên mái tóc xoăn của mình như muốn biết tóc có còn ở trên đầu hay không. Rồi như một chiếc máy, Giamin cũng vô tình sờ lên mái đầu bù xù như lông nhím của mình, và lần đầu tiên cậu lấy làm tiếc là đầu của cậu húi ngắn. Cậu không bao giờ nghĩ rằng mái tóc có thể tôn vẻ đẹp của một người đến như vậy…
Tamara chăm chú nghe và cũng vừa mỉm cười vừa nói chuyện với cậu ta, rồi cậu này cầm tay cô, kể một chuyện gì đó chắc vui lắm vì Tamara đã phá lên cười. Giamin không còn thấy các cậu con trai đang chạy đi chạy lại, không còn nghe người khác chào mình, hỏi mình những gì. Trước mắt cậu bây giờ chỉ có Tamara đang mỉm cười và cái cậu công tử bột đỏm dáng mới tới Taisét kia, rõ ràng là hắn cảm thấy nhiêề người đang chú ý tới mình, và vì thế tỏ ra rất kênh kiệu. Giamin muốn đến kéo Tamara khỏi cái cậu lạ mặt bụ sữa, đang đi đôi giày da bốc-can bóng lộn lên một cách khiêu khích kia. Giamin cảm thấy đôi chân mình như mọc rễ xuống đất, đôi chân đựơc bọc trong đôi giày chắp vá bằng những mảnh ủng da cũ có đế làm bằng lốp ô tô không hề biết mòn là gì. Cậu bực bội hết sức, và hình như quên cả việc đến đây làm gì nữa. Lần đầu tiên trong đời, Giamin cảm thấy ghen tị với những người mặc đẹp và sạch sẽ hơn mình.
Bỗng Tamara nhìn thấy Giamin. Cô đỏ mặt gỡ tay cậu kia, đi lại gần Giamin:
- Có chuyện gì xảy ra thế? Công việc thế nào? Sẽ học chứ? Khoẻ không? – cô bé dồn dập hỏi và giới thiệu cậu kia đang đi lại gần với Giamin – Các cậu làm quen với nhau đi. Đây là Daixép Valêra cũng là người Mátxcơva. Bố cậu ấy được cử xuống đây công tác…
Giamin ngắm Valêra, vất vả lắm mới tự kiềm chế nổi để không nói một câu gì đó thật đau, thật cay độc…
- Kìa, làm quen với nhau đi! – Tamara lại nhắc.
- Valêra, - cậu ta tự giới thiệu, chìa bàn tay trắng cho Giamin, chiếc đầu đẹp hơi ngả về phía sau.
- Giamin, - Giamin nói qua kẽ răng rồi chìa bàn tay ngả màu nâu vì khói và gỉ sắt, với những ngón tay ngắn.
Tiếng chuông réo cắt đứt câu chuyện của họ.
- Valêra vào trước đi, - Tamara nói rất âu yếm, Giamin cảm thấy như thế - mình cần phải nói chuyện với Giamin một lúc và sẽ vào ngay bây giờ - không hiểu sao mặt cô bé bỗng từ từ ửng đỏ.
Cậu kia đưa mắt nhìn Giamin từ đầu đến chân, khẽ uốn cong đôi môi mọng nước rồi bỏ đi vào lớp, tiếng đế giầy kêu rất rõ. Giamin không biết nên bắt đầu thế nào. Bỗng Giamin nói một mạch, nói rất nhanh:
- Tamara biết không, lúc đầu mình tưởng cậu ta đẹp trai. Sau trông kĩ ra thì chẳng thấy gì đặc biệt cả. Con trai ở đây khối đứa còn hơn thế. Kể ra cậu ta ăn mặc cũng khá diện và mái tóc…
- Cậu nói về ai thế? – Tamara ngắt lời
- Không đoán ra à? Về ông bạn người Mátxcơva của Tamara đấy. Người cầm tay Tamara dắt đi và kể một chuyện gì đấy vui vui ấy mà…
- Thì đã sao? Can gì đến cậu? – Tamara quay phắt người bỏ chạy vào lớp.
Trong giờ học, Tamara nhận được một mảnh giấy của Valêra: “Cái cậu quê kệch vừa đến kia là ai? Tên gì mà kì thế? Tay mình mãi bây giờ vẫn còn bốc mùi dầu hoả! D.V”
Tamara đọc xong, không thể tin được đấy là Valêra viết, một người bao giờ cũng được thầy giáo nêu gương cho người khác học tập: nào cậu ta lịch sự, quần áo lúc nào cũng gọn gàng, còn mái tóc thì đựơc chải chuốt cẩn thận, và không bao giờ đi học muộn…”
Không hiểu sao các thầy giáo cứ làm ra vẻ không biết là hàng ngày Valêra được người khác chở đến trường bằng chiếc xe có ngựa khoẻ và nhanh kéo.
“Hừ, đồ bám váy con gái! Lại dám nói: mãi bây giờ tay còn bốc mùi dầu hoả! Nếu Giamin là đồ quê kệch thì mày là một con thỏ ”. Tamara giận dữ nhìn về phía Valêra rồi đưa mảnh giấy cho Nhura.
- Hắn nói về ai đấy?
- Về Giamin…
- Giamin à? Cậu ta đến đây?
- Ừ, lúc ra chơi…
- Valêra có biết gì về cậu ấy đâu mà nói thế? Còn cậu trả lời thế nào? – Nhura không nhận thấy mình đã to tiếng từ lúc nào. Cô giáo quở trách hai cô bé. Họ im lặng trở lại. Nhưng một chốc sau, Nhura không nén nổi và lại thì thầm: - Mình nói cậu biết là Valêra của cậu không đáng xách dép cho Giamin đâu.
- Sao cậu bảo Valêra là của mình?
Cô giáo lại quở trách hai người lần nữa:
- Nhura, chú ý nghe giảng, kẻo chốc nữa lại bảo là không hiểu gì.
Nhura ngoan ngoãn gật đầu, nhưng ngay lúc ấy cô mở nắp bàn viết lên và nói thầm:
- Sao cậu có thể đi cùng với một thằng kênh kiệu như hắn trong giờ ra chơi được nhỉ?
- Thì chính cậu chẳng xuýt xoa khen cậu ta còn gì? “Chà, cậu ấy mới lịch sự làm sao, đẹp trai làm sao, mới trông cũng biết là người Mátxcơva”, - Tamara cãi lại
- Mình… mình nghĩ như vậy
Thì thầm với nhau một lúc, đôi bạn đã thảo được câu trả lời như sau: “V.D. Không ngờ cậu là một người xấu, độc ác như thế. Từ nay không được đến gần bọn mình. Còn lâu cậu mới bằng bọn con trai ở đây. Tay cậu không bốc mùi dầu hoả thật, nhưng toàn người cậu lại sặc mùi kênh kiệu, tự mãn. Một cậu công tử bột rất hợm hĩnh, không hơn không kém!” Nhura còn muốn viết thêm một câu gì đấy, nhưng Tamara ngăn lại:
- Thôi, thế cũng quá lắm rồi…
Một tuần sau, Nhura và Tamara đi quanh quẩn cạnh nhà Giamin chờ cậu đi làm về.
Trời tối dần, tuyết ngả màu xanh nhạt. Sao bắt đầu nhấp nháy trên bầu trời. Trăng đầu tháng treo lơ lửng như chiếc khuyên vàng. Lạnh như cắn vào da thịt mà mãi vẫn không thấy Giamin đâu.
- Chắc cậu ta đã về nhà rồi, - Tamara phá tan sự im lặng – Mà mình thì cứ đứng chờ thế này…
- Chẳng nhẽ về rồi mà mình không nhìn thấy?
Hai người lại im lặng:
- Mình nhớ Mátxcơva quá! – Tamara nói
- Cậu sướng thật đấy, được sống ở Mátxcơva – Nhura thở dài - Ở đấy nhà to xây bằng gạch, và xe điện, tàu điện ngầm… Còn mình thì chẳng biết gì ngoài Taisét này. Suốt đời chưa vào rạp hát… Cậu là người hạnh phúc…
- Ở Taisét cũng thích. Bênh cạnh là rừng, mùa hè rất nhiều hoa. Người ở đây tốt, các bạn chân thành…
- Thật thế à? Cậu cũng thích ở đây?
- Thích lắm, Nhura ạ. Về Mátxcơva mình sẽ rất nhớ đây. Chà, sau chiến tranh nếu cậu và các bạn trai của chúng mình tới Mátxcơva chơi thì hay quá. Mình sẽ dẫn các bạn đi xem hết mọi nơi trong thành phố: công viên, rạp hát, viện bảo tàng…
Mải nói chuyện, hai cô không nhận thấy Giamin đang lại gần. Cậu này muốn lánh mặt nhưng Nhura kịp ngăn lại:
- Xem kìa, người ta đứng chờ dễ đến một tiếng đồng hồ rồi mà cậu ta lại định… có ai xử sự như thế bao giờ không? Sao lặng thinh thế? Hay không nhận ra bọn mình?
- Không nhận ra…
- Sao cậu không tới trường? – Nhura hỏi và khoác tay Giamin.
- Thế này là thế nào? – Giamin lúng túng định gỡ tay Nhura.
Còn Nhura thì vẫn tiếp tục nói liến thoắng:
- Cậu biết không, Tamara đã cho Valêra một bài học nên thân, hai tai cứ tha hồ mà vểnh lên. Không tin à? Hỏi Tamara mà xem.
- Gì mà phải hỏi, chính mình đã nhìn thấy họ, - Giamin đáp, giọng bực bội, - Lúc ấy hai tai cậu ấy cũng vểnh lên rồi, nhưng Tamara làm ra vẻ không nhìn thấy… - Giamin quay sang Tamara – Thôi chào các bạn, mình về, ở nhà có việc…
- Khoan đã, khoan đã! – Nhura lại khoác tay Giamin – hai cậu nói chuyện với nhau đi. Để mình chạy về nhà, kẻo mẹ mình lại trách. Còn phải vắt sữa bò… - nói rồi cô bé ù té chạy.
- Nào, sao lại còn đứng lại? Chạy theo đi kẻo không một mình tớ ăn thịt mất bây giờ… - Giamin chua xót nói, nhưng trong thâm tâm cậu hoảng sợ nghĩ bụng: Bây giờ Tamara sẽ bỏ chạy mất, nếu vậy thì sao? Lâu lâu không thấy cô bé, cậu đã thấy buồn.
- Mình có việc muốn nói với cậu! – Tamara bỗng nói - Mặc dù cậu đang vội về nhà…
Tamara quay người bước đi. Cô bước chậm rãi như đang dạo chơi. Cô nghe có tiếng chân sau lưng. Cô ngoái đầu lại: Giamin đang vội vàng đuổi theo. Họ đi cạnh nhau, không ai nói một lời nhưng rất hiểu nhau. Cả hai đều thấy nhẹ nhàng, sung sướng, quên hết cả giận dữ. Tuyết lạo xạo dưới chân nghe thích đến nỗi muốn hát vang lên, muốn chạy, chạy thật xa, thật xa… Khó mà itn chỉ mấy phút trước đây, họ còn ngại ngùng không dám nhìn mặt nhau.
- Giamin có muốn khoác tay mình cùng đi không? – Tamara bỗng hỏi
- Mình sợ làm bẩn áo Tamara, - Giamin lúng túng nói – Bành tô của Tamara mới quá, mà của mình thì thế này…
- Thì đã sao? Mình muốn tn khoác tay mình cùng đi.
- Thật à? – Giamin vụng về khoác tay cô bé, khẽ nói: - Ấm quá!
- Ừ… - Tamara gật đầu, khẽ rùng mình vì lạnh.
Họ đi với nhau rất lâu và lấy làm sung sướng là trên đời này bây giờ chỉ có mình họ.
Tới nhà Tamara, họ dừng lại. Giamin hỏi Tamara có định giúp cậu học không. Cậu rất muốn trong năm nay cũng học xong lớp chín để không bị thua Tamara. Sau này họ sẽ cùng thi vào đại học, có thể cùng vào một trường nữa.
- Giamin lại chỗ mình, chúng ta cùng học với nhau – Tamara đồng ý ngay…
Thấy con về, thím Samsura càu nhàu;
- Thức ăn nguội hết cả rồi. Trời đã khuya mà con cứ ở đâu đâu, làm mẹ lo sợ không để đâu cho hết…
- Con ghé vào trường, mẹ ạ, hôm nay có dạ hội mà – Giamin ngập ngừng thanh minh.
- Thế mà người rét cóng lên như thế à, - bà mẹ cố giấu nụ cười trên môi
Giamin rửa ráy cẩn thận rồi đứng trước tấm gương nhỏ, tróc thuỷ ngân treo trên chiếc đinh, sờ vào mái tóc nham nhở của mình, nói:
- Mẹ à, từ nay con không cắt tóc ngắn nữa, được không? Cắt thế hai tai vểnh ra, và đầu thì trông cứ như là cái gì ấy…
- Chờ chiến tranh kết thúc, tha hồ con muốn cắt kiểu nào thì cắt. Để tóc dài thì phải chải luôn, gội luôn, và xà phòng phải tốt….
- Ở trường con thấy một cậu mới tới có mái tóc đẹp lắm! – Giamin nói rồi ngồi xuống bàn ăn.
Giamin học với Tamara chỉ vẻn vẹn được hai hôm. Cùng học có cả Nhura. Các cô bé thay nhau giúp đỡ cậu.
Nhura thích tự mình nói nhiều hơn và lấy làm hài lòng khi Giamin nói: “Mình hiểu cả rồi”. Còn Tamara thì giảng xong thế nào cũng bắt nhắc lại.
- Nhưng mình hiểu cả rồi cơ mà! – Giamin bướng bỉnh đáp
- Tốt lắm, giấy đây, chứng minh lại định lí xem nào.
Việc học của họ bị ngắt quãng một cách đột ngột. Một lần mẹ Tamara đi làm về, nói với cô con gái:
- Bây giờ thì tôi hiểu sao hôm qua cô bị điểm ba…
- Mẹ ơi, nhưng chúng con học với nhau. Con và Nhura phải giúp cậu ấy, - Tamara định cãi lại
- Con giúp cậu ấy, còn chính con thì học như thế nào? Chẳng bao lâu rồi đến lượt phải giúp con.
- Kìa, sao bác nói thế? – Nhura lên tiếng bênh vực bạn và bắt đầu xếp sách vào cặp
Mẹ Tamara không chú ý đến Nhura vẫn tiếp tục trách con gái:
- Cứ giúp đi, để rồi phải đúp lại năm nữa…
- Mẹ! – Tamara oà khóc, bỏ chạy ra khỏi phòng.
Giamin muốn lặng thinh, nhưng không nhịn được nữa, nói: - Sao bác lại làm phật lòng Tamara thế?
- À, ra còn thêm anh bênh cô ta! Tự tôi, tôi cũng biết phải làm gì? Bản thân mình thì thiếu giáo dục lại còn muốn bày vẽ cho người lớn.
- Ta đi thôi, Nhurơca! – Giamin nói và vì quá kích động, đã đội ngược mũ trước ra sau
- “Nhurơca, Tamarơca”. Đến cả xưng hô lịch sự cũng không biết.
Nhura và Giamin bước ra khỏi phòng.
Sau lần ấy có đến một tháng rưỡi Giamin không gặp Tamara. Không hiểu sao cậu cảm thấy hơi ngượng. Cậu học ở nhà một mình, buổi tối đến nhà ông hiệu trưởng nhờ ông giúp đỡ. Ruvim Ixacôvích không những chỉ bảo cho cậu phải học phần nào, mà còn giảng giải để cậu hiểu những địn lí phức tạp.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
Chương X
Chia tay

Mùa xuân năm 1944 ở Taisét tuyết đồng loạt tan nhanh. Tháng tư, nước từ mái nhà tí tách từng giọt nhỏ xuống đọng thành những vũng băng nhỏ cạnh nền nhà. Mái nhà lởm chởm những que băng dài và nom giống như những chiếc lược khổng lồ, sặc sỡ đủ màu dưới ánh hoàng hôn. Những con bò sữa đứng sưởi hàng giờ liền dưới mặt trời, hai hông căng phồng, thỉnh thoảng lại rống lên như muốn gọi ai, không hề bận tâm tới mấy con gài mái đang đậu trên lưng.
Ngoài đường đã thấy ngỗng xuất hiện. Chúng chạy khắp nơi, đập đôi cánh to nhưng yếu, nhấc mình lên không một tí rồi lại rơi ngay xuống đất. Chúng ngửng đầu, vỗ cánh lia lịa như muốn ôm ai vào lòng, rồi lại dang rộng cánh, kêu lên quang quác.
Chim sẻ xù lông đứng sưởi ngoài nắng, mặt trời kích thích chúng, làm chúng vô cớ ẩu đả nhau chí tử.
Giữa tháng Tư, các đống tuyết bắt đầu tan, bốc hơi trắng. Hàng giờ liền, những chú mèo nằm duỗi người sưởi nắng trên các nền nhà vừa tan tuyết.
Vào một trong những ngày như thế, Nhura đã chạy tới xưởng cơ khí, gọi Côlia ra ngoài
- Hừ, cũng bí mật gớm! – Gôga nhìn theo bạn
- Chắc là cần phải thế! – Vichia phụ hoạ theo.
Nhura nói với Côlia một điều gì đấy rất nhanh rồi lại bỏ đi ngay.
- Nhura đến có chuyện gì thế? – Giamin tạm rời Viđônốp một chốc, hỏi.
- À, có tí việc – Côlia khoát tay nói, chăm chú đặt thanh ốp vào máy
Các công nhân khác cũng chú ý đến Nhura, bắt đầu trêu Côlia:
- Côlia nhà mình bắt đầu đã biết mùa xuân là thế nào rồi đấy, các cậu ạ…
- Cô bé thậm chí không thèm để ý là cậu chàng hơi bẩn một tí…
- Trông khá đấy chứ, có vẻ lanh lẹn lắm!
“Giá mà Tamara cũng đến đây nhỉ, dù một lần thôi, để xem mình làm việc thế nào! – Giamin nghĩ – Tamara sẽ biết được là đôi lúc phải dũng cảm bảo vệ đồng chí của mình khi họ bị người khác đối xử không công bằng. Trong những giây phút như thế mà mình có lúng túng, lo lắng một tí cũng không sao. Bác Viđônốp vẫn thường bảo: “Cái quan trọng, cháu ạ, là bao giờ cũng phải nói thẳng sự thật. Như cháu bây giờ chẳng hạn, vì cháu là người có lương tâm trong sạch, nên cháu dũng cảm. Thế là tốt!” Hay bọn con gái thích những thằng như Valêra hơn nhỉ? Bao giờ cũng sạch sẽ, chải chuốt, phẳng phiu, không chê vào đâu được. Không chừng mình cũng muốn được như thế. Nhưng lúc ấy ai sẽ làm việc cho mặt trận, ai nuôi mẹ?”
Biết bao nhiêu người tuổi cậu đang làm việc bên các cỗ máy? Tất nhiên, Giamin biết là còn nhiều bậc cha mẹ tìm mọi cách, chính đáng có, không chính đáng có, để che chở cho các cậu công tử bụ sữa của mình. Khi họp thì họ nói rất hay, là phải hi sinh tất cả cho tiền tuyến, ai nghe cũng phải tin. Ấy thế mà thực tế lại… Tại sao người lớn lại nhiều khi không làm đúng như lời mình nói nhỉ?
Mải suy nghĩ, Giamin không nhận thấy Côlia đang đứng sau lưng, vẻ như muốn nói một điều gì với cậu.
- Mình gọi mấy lần rồi, - Côlia lay vai bạn – Nghe này, Nhura đến đây, người ta trêu mình, nhưng chính là đến vì cậu đấy…
- Chỉ khéo bịa!
- Mình có bịa đâu… Nhura bảo ngày mai Tamara sẽ về Mátxcơva và nhắn cậu tối nay chín giừo ra chờ ở cổng nhà cậu. Tamara và Nhura sẽ tới, và bảo mình cùng đi với cậu nữa. Nhura bảo mình cùng đi…- mắt Côlia ánh lên, và mặc dù đang dính đầy muội than, Giamin vẫn thấy má bạn ửng đỏ.
- Về Mátxcơva à? – Giamin hoảng sợ nói
- Chứ sao! Nghe nói vé mua rồi, bố Tamara đánh điện gọi về.
Giamin nóng lòng chờ ngày làm việc kết thúc. Chưa bao giờ thời gian chậm chạp trôi qua như hôm ấy. Mấy lần cậu chạy vào xưởng dụng cụ xem đồng hồ. Vội vàng xếp gọn dụng cụ làm việc xong cậu yêu cầu đốc công tiếp nhận sản phẩm của mình trước, rồi ba chân bốn cẳng chạy bổ về nhà.
Cậu rửa ráy qua loa, ăn qua loa, rồi bảo với mẹ là đi xem chiếu bóng, mặc bộ comlê của anh và chiếc áo khoác còn sạch vào người rồi chạy ra đường.
Đêm xuân tối như mực. Mặc dù trời đầy sao, nhưng chỉ đứng cách nhau dăm bước là đã không trông thấy gì. Giamin nhìn xoáy vào những người qua lại, chăm chú đến chóng mặt. Cậu tưởng như đứng chờ ở đây đã lâu lắm rồi. Cậu đã thoáng lo: “Nhỡ Tamara ốm không đến được thì sao? Hay có thể bà mẹ không cho cô đi? Hay đáng sợ hơn cả là biết đâu Valêra đã đến nhà Tamara?”
Bỗng từ bóng tối, Côlia xuất hiện. Cậu ta bâng khuơ hỏi Giamin:
- Chờ lâu chưa?
- Mới ra thôi.. – Giamin nói dối bạn
- Thế là đúng. Ta đâu phải mất hàng giờ để chờ người khác.
Các cô gái xuất hiện. Nhura vui vẻ còn Tamara thì buồn và ít nói
- Ta đi thôi, Côlia – Nhura nói, không chút ngượng ngùng, khoác tay Côlia kéo đi.
- Đi đâu? Hai người? – Côlia lúng túng. Còn Giamin và Tamara không đi với bọn mình à?
- Đi thôi, đi thôi – Nhura kéo Côlia - Cậu không hiểu hay sao mà lại thế? Giamin và Tamara cần gặp riêng với nhau, - Nhura nói thầm thì, khi hai người đã đi đựơc một quãng.
- Lạnh quá! – Tamara bỗng phá tan im lặng.
Giamin bỏ chiếc áo khoác, cởi áo comlê đưa cho Tamara.
- Mặc vào, kẻo lạnh, ốm dọc đường… - Mùa này dễ ốm lắm.
Tamara ngoan ngoãn khoác chiếc áo lên chiếc bành tô mỏng của mình.
- À, cái áo hôm nọ! – cô sung sướng nói
- Đúng nó, duy có vạt áo phải xuống gấu. Mẹ mình bảo mùa đông vừa qua mình lớn lên nhiều lắm.
- Xem thử nào, - Tamara lại gần đứng đối diện với Giamin - Trước mình đứng cao hơn vai Giamin, bây giờ thấp hơn. Quả đúng Giamin lớn nhanh thật! Đây, nhìn xem.
- Gì mà phải nhìn, - Giamin lẩm bẩm quay mặt sang hướng khác. Cậu cảm thấy trái tim mình đang rạo rực trong lồng ngực, - Tamara cũng đã lớn hơn trước… Ta đi…
- Đi đâu? – Tamara hỏi - Tối hôm nay mình không ở lâu được. Giamin ạ. Phải chuẩn bị hành lí. Mình xin phép mẹ chỉ được một lúc, phải nói dối là tới nhà Nhura…
- Mình hiểu – Giamin nói - Thế Valêra có tới không?
- Giamin cũng biết là mình hoàn toàn không thích cậu ta. Mà nếu có tới mình cũng chẳng thèm để ý. Thật đấy! – Tamara đáp và vội hỏi ngay Giamin - Thế sau chiến tranh, Giamin có tới Mátxcơva không? Mình sẽ chờ. Rất chờ…
- Mình sẽ tới… - giọng Giamin run rung. Cũng may mà trời tối, nếu không Tamara đã nhìn thấy nước mắt cậu. Học xong lớp mười, mình sẽ thi vào đại học, nhất định sẽ tới Mátxcơva để được gần Tamara. – Giamin nói rất nhanh, như sợ bị ngắt lời.
Tamara bất ngờ hôn lên má cậu
- Nếu không ngày mai sẽ không được… Mẹ sẽ…
Giamin đứng bàng hoàng, không biết nên làm gì. Má cậu nóng bừng mà người thì lạnh. Cuối cùng, như chợt tỉnh, cậu rụt rè hon lên môi Tamara. Cậu thấy có vị mặn: cô bé đã khóc.
- Mình làm Tamara buồn à? – Giamin hoảng sợ nói
- Không… Mình cũng không hiểu tại sao lại khóc nữa…
Cô bé cởi chiếc áo comlê đưa cho Giamin.
- Thế nào cũng tới Mátxcơva nhé. Giamin nghe đấy chứ? – Tamara nói rồi quay phắt người, bỏ chạy dọc theo đường.
Giamin rất muốn đuổi theo nhưng hai chân cậu không chịu nhúc nhích. Trong đời cậu, một cái gì đó rất tươi sáng, rất đáng quí, khó nói thành lời đã vỡ tan. Ở gần, Tamara như một ngôi sao nhỏ luôn hấp dẫn cậu, bây giờ Tamara cũng sẽ thu hút Giamin về phía mình, như một ngôi sao xa, lớn nhất trong tất cả các vì sao.
Trong cuộc sống, ai chẳng có riêng một ngôi sao nhỏ của mình. Có điều phải biết nhìn nó, phát hiện ra nó và giữ gìn nó mãi mãi.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CuLong ơi, có rảnh sang xem lại phần 1 của tôi đang đánh, đếm lại số thứ tự của từng chương so với trong sách xem sao. Chẳng hiểu thế quái nào mà sách mình lại mất đi đâu một chương được nhỉ? Nội dung thì vẫn liền mạch nhưng số thứ tự thì bỗng nhiên nhảy lên 1 số.

Cảm ơn nhiều nhé.
0
Huytran à,

CuLong kiểm tra rồi. Không phải mình nhầm đâu mà người ta in sách bị nhầm đấy. Không có chương VI mà từ chương V sang chương VII luôn.

Cứ yên trí lớn.

Gõ nhanh lên để cho bà con đọc nhé.

Bye
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
Chương XI
Gútdencô “tham lam”

Năm nay, trong mỗi nhà cũng như toàn Taisét, người ta chuẩn bị đón ngày mồng một tháng Năm đặc biệt nhộn nhịp. Nhà ở, xưởng cơ khí, các trạm gác dọc đường sắt, xưởng sửa chữa toa xe được trang hoàng bằng những cành thông, cành liễu và những bông tuyết hoa. Một tháng rưỡi trước đây, công nhân đã giao ước lao động vượt mức, nhận mua công trái với số tiền nhiều gấp mấy lần lương tháng. Và người tham lam nhất trong xưởng là thợ nguội Tarax Gútdencô. Đùng một cái anh ta là người nhận mua nhiều hơn cả.
Tarax Gútdencô tới Taisét ngay từ đầu chiến tranh. Anh ta có tám con và chị vợ đang có thai đứa thứ chín.
Trưởng phòng tổ chức cán bộ phải bật cười khi Tarax tới gặp ông ở phòng làm việc, bảo anh ta là một người bố đông con, cần có việc làm gấp vì các con anh một ngày đòi ăn những ba lần. Ông trưởng phòng ngả người vào chiếc ghế tựa kiểu Viên, mở chiếc cửa sổ bé tí của văn phòng, gọi:
- Maria Ivanốpna, mời chị vào đây có việc.
Một người phụ nữ cao to, xinh đẹp, môi bôi son đỏ chói bước vào
- Có chuyện gì thế, Anđrây Côngxtăngtinôvích? – cô ta vừa nhí nhảnh nói vừa sửa sửa làn váy trên cặp đùi đẫy đà của mình.
- Ta có chỗ nào cần người làm trên các tuyến đường không nhỉ? – ông trưởng phòng oai vệ hỏi - Cần bố trí gấp việc làm cho anh Gútdencô đây, - rồi ông ta mỉm cười, mặt rạng rỡ - Anh ta bảo có tám đứa con tất cả, và chúng đòi ăn một ngày những ba lần…
- Đúng thế! – Gútdencô chân thật xác nhận.
Maria Ivanốpna không hiểu câu nói châm biếm của thủ trưởng và thông cảm một cách chân thành theo lối phụ nữ:
- Kể cũng tội… Tám con! – cô ta không che giấu sự tò mò của mình, nhìn chằm chằm vào Gútdencô, thốt lên: - Thật quá sức tưởng tượng!
Anh chàng Gútdencô gầy gỏ trở nên lúng túng, tìm cách chống chế lại:
- Nhưng vợ tôi không thua một tí nào đâu, bà cô ạ, và rất quí bọn nhóc…
Trong phòng mọi người im lặng, lúng túng:
- Cô có thể đi ra, Maria Ivanốpna ạ, - vẫn không ngẩng đầu, ông trưởng phòng nói, - Còn anh, Gútdencô, chúng tôi sẽ tìm việc cho anh…
Tarax Gútdencô cùng với gia đình đông đúng của mình đến ở một phòng trong túp lều dài nằm cạnh đường sắt. Anh ta làm công nhân kiểm tra đường ray chỉ một thời gian ngắn, có lẽ vì số lương tháng nghề này quá nhỏ đối với cái gia đình quá lớn của anh ta. Gútdencô quay sang xin làm xưởng cơ khí, thời gian đầu là lao công, vừa làm việc anh ta vừa tự học nghề nguội. Hàng ngày anh ta ở lì trong xưởng suốt 14-16 giờ liền. Mọi người về hết nhưng anh ta vẫn ngồi hàn chảo, hàn chậu, làm xẻng, làm cào.. Cặm cụi vất vả, nhưng anh ta không bao giờ kêu ca. Ở nhà ăn anh ta đòi lại bằng được và cẩn thận đếm lại từng xu tiền thối.
- Nhỏ nhen quá, anh Tarax ạ! - mọi người đã nói thẳng vào mặt anh ta như vậy - Một xu thì anh mua được cái gì bây giờ nào?
- Vấn đề không phải là một xu, mà là nguyên tắc – anh ta cau có trả lời. Dường như không tỏ ra bực bội, chỉ có cặp mắt sâu hoắm của anh ta lúc này hơi ướt. Anh im lặng quay đi và chăm chú đếm lại số tiền xu vừa được trả lại.
Còn việc làm thì ít người theo kịp anh ta. Giờ nghỉ giải lao, anh ta uống vội vài ngụm chè với cà rốt phơi khô và quả tường vi rồi lại bắt tay vào việc ngay. Anh ta làm quần quật chẳng biết mệt là gì.
- Này, cậu cũng phải nghỉ lấy hơi một tí chứ. Hãy trông vào người cậu mà xem, chỉ còn độc da với gân - mọi người ái ngại bảo anh ta – Như thế lương cậu cũng đã nhiều hơn mọi người rồi. Chẳng nhẽ cậu định làm giàu chắc?
Gútdencô vẫn có vẻ như không nghe mọi người xung quanh đang nói về mình. Anh ta giữ chặt từng hào từng xu kiếm được. Nếu những người kiểm tra kết quả công việc mà tính sai tiền lương của anh ta thì anh ta liền lấy ra một quyển vở đóng bằng những mẩu giấy cũ và đi gặp những người làm sai.
- Đây, anh ta đã phải dở đến sổ kế toán riêng của mình rồi. Chuyến này thì liệu hồn, cánh văn phòng chỉ có chết! - người ta đùa, sau lưng anh.
Ở phòng kế toán, Gútdencô không làm ầm ĩ, mà chỉ khẽ nói:
- Nhờ các đồng chí tính lại. Sổ ghi chép của tôi đây. Và xin kiểmt ra thêm sổ của đội trưởng. Tôi không thể chờ được, - rồi anh ta bỏ đi.
Người đúng bao giờ cũng là Gútdencô, người “bố anh hùng” như người ta vẫn gọi đùa anh.
Gútdencô không tham gia một công tác xã hội nào, họp không phát biểu, không bạn bè với ai. Và anh ta có vẻ như bàng quan cả với những gì xảy ra ở mặt trận nữa. Gútdencô lơ đãng nghe các tin tức thời sự, tay sờ hết giũa lại sờ búa.
- Thì hãy để cho chúng nghỉ một lát có được không?
- Còn kịp chán!
Thế mà những ngày trước mồng một tháng năm đã xảy ra cái điều hoàn toàn bất ngờ đối với mọi người.
Đến kì nhận mua công trái. Người ta cổ động nhận mua càng nhiều càng tốt. Một số người thì vất vả lắm mới thuyết phục được họ mua, số khác thì nói:
- Nên nhận mua bao nhiêu thì cứ ghi bấy nhiêu. Có gì mà sợ, một nghìn rúp đâu phải là nhiều?
Còn số thứ ba thì tuyên bố một cách rất ngoại giao là:
- Tôi ấy à? Thì cũng như mọi người thôi…
Trung bình người ta nhận mua bằng hai tháng tiền lương. Thế mà đùng một cái, Gútdencô làm ai cũng phải ngạc nhiên. Anh ta là người cuối cùng đi đến bàn, hai chân cong lần bước, anh cẩn thận đọc bản danh sách, suy nghĩ một lát rồi viết luôn: “12.000 rúp”, các ngón tay bẩn dây ra cả mép tờ giấy. Anh ta ngắm nghía con số rồi thong thả cầm bút nắn nót kí một cách chậm chạp, đàng hoàng từng chữ.
- Như thế là tiền lương mấy tháng đấy? - đồng chí Bí thư đẳng uỷ hỏi
- Bốn tháng lương của tôi, - Tarax cau có buông thõng một câu rồi đi tới chỗ bàn sắt làm việc.
- Cậu làm thế nghĩa là thế nào? - mọi người hỏi anh ta.
- Thế nào à? Người ta đã đuổi bọn Đức đến tận biên giới ròi, còn tôi là người dưng hay sao? – Tarax lúng túng trong miệng rồi giận dữ gõ chiếc búa xuống mặt bàn, ý muốn bảo câu chuyện đến đây chấm dứt, không nên hỏi thêm gì nữa.
Hai ngày sau, thủ trưởng tuyến đường sắt kí lệnh tặng Gútdencô một bộ đồng phục công nhân đường sắt, còn vợ anh ta thì, với tư cách là một bà mẹ đông con được cấp phiếu lĩnh năm bánh xà phòng, chín mét vải, ba gói chè và một cân đường.
Ếphơrôxinhia, vợ Gútdencô, đến cửa hàng, chìa tấm phiếu có in dấu đỏ ra. Người bán hàng xem kĩ tấm phiếu rồi yêu cầu cho xem chứng minh thư. Chị kia lục lọi hồi lâu các giấy tờ cần thiết trong chiếc bọc giấu trong ngực. Hai đứa bé con của chị đứng nhón chân cố nhìn vào trong quầy hàng, nơi có mùi bánh bốc ra thơm ngậy.
- Này bà chị ơi, - chị bán hàng nghiêm khắc nhìn Ếphơrôxinhia – Trong chứng minh thư chị là Páplưskô, sao phiếu lại ghi Gútdencô? Có phải chị bắt được phiếu này không?
- Không, phiếu này là của tôi, và chứng minh thư cũng là của tôi, hợp lệ cả…
- Không biết. Tôi sẽ không xuất gì hết, chừng nào chưa làm rõ chuyện này - người bán hàng ngắt lời, cầm tấm phiếu đi sang phòng khác. Từ đấy có thể nghe tiếng chị ta gọi địên tới ban cung cấp công nhân.
Một chốc sau, Gútdencô được gọi gấp lên phòng cán bộ.
- Anh đã bán phiếu cho ai? – ông trưởng phòng đỏ mặt hỏi - Người ta cho anh, anh biết đấy, là vì nhà anh đông con, nhân ngày lễ, thế mà, ai ngờ anh lại lợi dụng đem bán!
- Tôi không bán cho ai cả. Bây giờ tôi sẽ nói hết mọi chuyện – Gútdencô vò nhàu chiếc mũ lưỡi trai trong tay rồi bắt đầu ngượng ngùng nói - Ếphơrôxinhia là vợ tôi, vợ thực sự. Chồng cô ta chết trong một trận ném bom, gia đình của tôi cũng vậy, chỉ còn lạ độc thằng con… Và thế là chúng tôi sống với nhau. Cô ta là một người tốt… Chẳng còn lúc nào mà tới phòng đăng kí hôn nhân thay họ của cô ta nữa. Với lại, cũng chẳng cần thiết. Cứ để bọn trẻ mang tên bố chúng. Anh ta là người tốt. Bọn chúng lớn lên sẽ tự biết tất cả. Còn bây giờ tôi tạm thay anh ta làm bố chúng vậy…
- Hoá ra bẩy đứa là con người khác? – ông trưởng phòng vẻ không hiểu, đứng dậy bước ra khỏi bàn, ngạc nhiên nhìn Gútdencô.
- Sao lại là con người khác? Bây giờ chúng là con tôi tất cả… Trẻ con bao giờ chẳng cần có bố.
- À, ra thế… Thời buổi này mà tự gánh vào mình một gánh nặng như vậy!
- Bọn chúng còn nhỏ, cũng là người…
Tin này làm tất cả Taisét phải sửng sốt. Khi xếp hàng mua bánh mì, bên giếng nước, người ta trao đổi với nhau về anh chàng Gútdencô, một người lạ lùng, tốt bụng, hào phóng mà tham lam…
Chuyện này được nhắc đến không kém phần sôi nổi so với chuyện cái chết vô lí của cụ Xuđacốp, ông nội Gôga mấy năm trước đây.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
Chương XII
Hai lần chết

Ở Taisét, người ta còn nhớ rất lâu về cái chết của cụ Xuđacốp, ông nộ Gôga, mặc dù ông cụ chết từ hồi chiến tranh chưa xảy ra. Thì dễ thường có ai chết hai lần đâu.
Ai cũng gọi ông cụ là Mirôn Ivanôvích. Thậm chí cả Prônca, con trai cụ, cũng không thể gọi khác ngoài “Mirôn Ivanôvích”, và Gôga cũng cố không chịu thua người lớn về mặt này.
Mirôn Ivanôvích Xuđacốp là một người có thân hình khoẻ mạnh. Ông cụ từ Bêlôruxia đến Xibêri từ hồi còn chiến tranh thế giới thứ nhất. Vì có nghề trong tay nên ông cụ nhanh chóng kiếm được việc làm ở ga Taisét, lúc ấy hãy còn bé tí. Bấy giờ ông cụ mua ngôi nhà của lão Crivôukhốp. Lão này cùng gai đình dọn đến ở trên một mảnh đất cạnh sông Biruxa. “Ồn quá, chật quá. Chỉ toàn mùi khói. Thật chẳng được yên thân chút nào”. - Crivôukhốp giải thích việc mình đột ngột dọn nhà đi chỗ khác như vậy.
Ở Taisét lúc ấy chưa có đường lớn, chỉ có mấy chục ngôi nhà làm bằng gỗ thông lâu năm ghép lại, chen chúc nhau dọc hai bên đường tàu như một tổ kiến. Những cây thông cổ thụ to lớn mọc sát nách nhà, mùa xuân vừa đến người ta đã hạ chúng xuống. Mùa hè cây sẽ khô, khi thu về người ta cưa ngắn từng đoạn, chẻ thành củi, chất đống dưới mái che. Vì thế mà nhiều gốc cây cụt cứ nhô lên giữa các nhà, và đường đi từ nhà này đến nhà nọ ngoằn nghèo như rắn bò.
Mirôn Ivanôvích làm nghề sửa chữa xe kiểm ray, biết hàn và mạ thiếc rất giỏi. Những người sống lâu năm ở đây thấy ngay ông cụ là một người cần thiết cho vùng. Mirôn Ivanôvích là người đầu tiên ở đây trồng cà chua và trồng dưa chuột trong nhà kính. Cuối tháng Tám, ông cụ hái cà chua xanh, cho vào ủng dạ, để lên lò sưởi hay cạnh đấy cho chín dần, rồi hào phóng đem chia cho người địa phương, cũng vì thế mà vợ cụ, Lukêria đay nghiến cụ suốt ngày đêm. Bất chấp những lời càu nhàu của bà vợ, Mirôn Ivanôvích vẫn dạy láng giềng mình cách trồng dưa chuột, lúc đầu để trong nhà, và sau khi cái lạnh mùa xuân đã qua, đem ra trồng trong nhà kính. Nhiều khi ông còn giúp họ làm nhà kính nữa. Những lúc như thế, bà vợ ông thật như ngồi trên lửa. Thỉnh thoảng bà lại sai cậu bé Prônca đi tìm bố và ra lệnh là không được về một mình. Cậu bé chạy bổ đi tìm bố (thời ấy vườn nhà cũng rất rộng, ngoài khoai tây, người ta còn trồng cả kiều mạch, đại mạch và kê nữa), từ xa cậu hổn hển gọi to:
- Mirôn Ivanôvích! Mirôn Ivanôvích! Mẹ gọi về. Mẹ bảo là con phải dẫn bố về, nếu không mẹ sẽ vặn cổ con.
- Bảo với mẹ là bố sẽ về ngay bây giờ!
- Không! Mirôn Ivanôvích, thế thì con sợ lắm, không dám về đâu – Prônca vẫn bướng bỉnh nói, đưa mắt tức giận nhìn người láng giềng, vì bác ta mà bố cậu không về được.
- Vâng, tôi hiểu. Mirôn Ivanôvích. Bác về đi. Cảm ơn bác đã giúp đỡ. Bây giờ tôi tự làm lấy nốt được rồi, - người láng giềng nói.
Ở nhà, bão táp đang chờ ông cụ. Lukêria xông vào chồng:
- Tôi với ông ở đây mấy năm rồi, thử hỏi đã cóp nhặt được những gì? Ông dạy không cho người ta, vì tiếng cảm ơn mà đem cây con cho họ, rồi ngày lễ lại bê bát dưa chuột và cà chua đi mời nữa! Chỉ có thằng ngốc mới không lấy tiền! Tất cả những thứ đo phải lấy tiền…
- Thôi đi, bà ơi – Mirôn Ivanôvích cất giọng ồ ồ nói, nhẹ nhàng gạt những ngón tay co quắp vì tức giận của bà vợ khỏi mặt mình – Kìa, đừng để thằng Prônca nó trông thấy…
- Thì đã sao? cứ cho nó thấy, cho nó nhìn vào cái mặt của kẻ phung phí! – Lukêria rít lên, hùng hổ định xông vào cấu mặt chồng.
Cứ thế nhiều năm trôi qua. Láng giềng biết vậy cố tránh không nhờ cụ giúp đỡ, sợ ông cụ khổ. Còn Mirôn Ivanôvích thì ngày một ít nói hơn, rồi dần dần hoàn toàn không tiếp xúc với ai nữa. Được mẹ khen, Prônca cũng tìm đủ trò trêu bố: khi thì giấu các thỏi thiếc, khi thì vất đồ nghề của cụ mỗi nơi một cái, thậm chí mâấ lần còn sang phá nhà kính của láng giềng nữa.
Ngay trước chiến tranh, Mirôn Ivanôvích làm thợ đốt lò hơi ở nhà tắm công cộng mới xây bằng gạch. Nhà tắm mới là một sự kiện lớn đối với dân Taisét, mặc dù nhà ai cũng đã có một buồng tắm riêng, rất tốt, và bất kì ông chủ nào cũng lấy làm hãnh diện nếu nhà mình có nhiều người đến tắm, và khách tắm xong hài lòng nói: “Chà, chỗ thay quần áo rộng quá! Hơi mới đặc, dày làm sao! Đá bốc nóng cứ như là lửa ấy! Còn chổi lá à? mềm, thơm, lá non như chồi mới nở…”
Người ta đào móng xây nhà tắm công cộng này từ mùa đông. Thời ấy chưa có máy xúc, tất cả phải làm bằng tay. Trên chỗ sẽ xây nhà tắm suốt ngày đêm từng đống thân cây to không ngớt bị đem ra đốt sưởi. Những người đào đất ngồi xung quanh thong thả hút thuốc, nói với nhau về tình hình thời sự quốc tế. Họ bảo thế nào Hítle cũng đánh Liên Xô, còn cánh trẻ thì có ý kiến ngược lại; chiến tranh sẽ không xảy ra, vì đã kí hiệp ước không tấn công rồi, mà có xảy ra đi nữa, chúng ta cũng sẽ cho Hítle biết tay. Xem đấy, chúng ta cũng đã có bao nhiêu tay súng cự phách rồi.
Giamin và các bạn thường hay đến chơi gần đây. Các cậu thích thúc đứng nhìn người lớn đào lớp đất đóng băng lâu đời.
Hai người thi nhau quai những chiếc búa tạ nặng xuống đầu những chiếc cọc sắt dài một mét. Tiếng kim loại va vào nhau chan chát, đập vào tai đến khó chịu, nhưng xem cái công việc khéo léo này. Những chiếc cọc chậm chạp cắm sâu vào lớp đất đóng băng chặt cứng. Có khi người ta đóng mấy cọc lại một chỗ làm thành một hàng rào thép rồi tiếp đến là cả một tảng đất to tướng sụp đổ lấp lánh như quặng.
Công việc tiến hành một cách chậm chạp. Đất được chuyển đi bằng những chiếc xe cút kít trên đường lát gỗ ọp ẹp. Giờ nghỉ trưa, thỉnh thoảng người lớn lại cho các cậu kéo xe, lần nào cũng không quên dặng: “Chở vừa thôi nhé”
Mirôn Ivanôvích làm việc trong nhà tắm hơi mới xây bằng gạch này. Những tưởng bây giờ thì không có gì có thể làm ông cụ lo lắng nữa. Ngay cả lúc áp suất trong lò hơi giảm, và người tắm lấy chậu gõ ầm ĩ vào ghế đá. Mirôn Ivanôvích cũng bình tĩnh nói:
- Không sao. Để lão cho thêm ít than, hơi sẽ bốc, và nứơc sẽ nóng ngay. Trong đời cái gì cũng phải có tuần tự của nó.
Cả những lúc ngoài đường máy nước bị đóng, ông cụ hoàn toàn không có lỗi, thế mà người tắm vẫn cứ gọi trách. Mirôn Ivanôvích hiểu được vì sao mọi người bực mình. Cụ lại gần tường, nơi treo chiếc máy địên thoại trông như một hộp thư bằng gỗ đóng vụng về, rồi cầm lấy tay quay, quay như xay thịt. Chiếc máy kêu ù ù, lọc cọc, từng tràng chuông ngắn thỉnh thoảng lại réo giật lên. Với cái giọng đều đều và hình như có vẻ còn thích thú nữa. Mirôn Ivanôvích nói:
- Alô, alô! Cho nói với nhà máy nước… Alô!
Có lúc người tắm còn lấy chổi lá hay chậu che người lom khom chạy sang phòng nồi hơi ầm ĩ lên. Ông cụ vẫn tiếp tục quay máy, bình tĩnh nói:
- Ngồi xuống, làm gì mà như cháy nhà thế? Chỉ tổ cản trở không cho người ta xin nước…
Một hôm, trước khi đóng cửa nhà tắm, ông cụ quan sát kĩ nồi hơi, leo lên gác kiểm tra những thùng nước trên ấy xong tụt xuống bảo bà coi nhà tắm đang lau nền và xếp các chậu không lại một chỗ, đi về, để phòng hơi và phòng tắm đấy cụ quét dọn cho. Bà kia vui mừng cảm ơn cụ, đi về nhà, còn ông cụ thì vào phòng hơi. Ông cụ thường tắm hơi rát nóng, cánh than niên trẻ ít có anh nào chịu nổi. Nhưng hôm nay cụ tắm uể oải. Khi chiếc chổi rụng gần hết lá, chỉ còn trơ trọi cành không đập vào cái thân già đang giãn ra của ông cụ, ông cụ mới leo xuống để đầu mình dưới vòi nước đang chảy…
Ông cụ kêu lên một tiếng, lấy hai bàn tay mệt mỏi đầy gân xanh che mặt rồi ngồi lên sàn xi măng. Những dòng nước nóng bỏng vẫn tiếp tục chảy trên trán, trên lưng và vai cụ. Vẫn nhắm mắt, cụ mò mẫm như một người mù lần sang phòng cạnh, vất vả lắm mới sờ thấy vòi nước lạnh, rồi mở khoá cho nước dội lên đầu… Ông cụ không kêu to, không nhảy tung vì đau đớn quá sức, mà vẫn như mọi khi, bình tĩnh, lặng lẽ làm những điều trên…
… Sáng hôm sau, bà coi nhà tắm là người đầu tiên nhìn thấy cụ. Cụ nằm bất tỉnh trên sàn nhà, hai tay ôm đầu. Vòi nước lạnh vẫn chảy.
Ở nhà cụ, người ta chẳng lấy làm băn khoăn vì sao hết giờ làm mà không thấy cụ về. Khi sắp ngủ, Gôga hỏi: “Sao mãi không thấy Mirôn Ivanôvích về?” – thì bà cậu bảo – “Ngủ đi cháu, không có chuyện gì xảy ra với Mirôn Ivanôvích đâu”.
Hôm sau người ta báo tin cho gia đình là ông cụ bị bỏng nặng phải đưa vào bệnh viện vào hầu như không còn hi vọng qua khỏi. Cùng ngày hôm ấy, vọ cụ và con trai đã bắt đầu lo chuyện chôn cất. Để khỏi tốn tiền, Prônca quyết định tự đóng lấy áo quan. Hắn nằm trên tấm ván, cộng thêm về phía đầu hai lòng bàn tay nữa rồi ra lệnh cho Gôga lấy bút chì đánh dấu. Đứng dậy, hán thành thạo ước lượng chiều dài tấm ván, khịt khịt mũi rồi rút ngắn thêm một tí.
- Có lẽ bây giờ thế là ổn… - hắn kết luận.
Mẹ hắn đi lại nói:
- Cao chừng này này…
Gôga và mẹ cậu định khóc nhưng bà nội cậu gạt phăng đi:
- Khóc gì mà khóc? Chúa đòi thì ông ấy phải trả hồn lại cho Chúa, thế thôi!
- Bố ơi, đừng làm hộp cho Mirôn Ivanôvích, ông có giường rồi, - cậu bé Gôga bảo Prônca
- Bác sĩ họ nói, con ạ, là Mirôn Ivanôvích không còn là người của thế giới này nữa, - Prônca an ủi con - Thế cũng đủ cho ông cụ rồi…
Nhưng, trước con mắt ngạc nhiên của mọi người, Mirôn Ivanôvích đã qua khỏi. Chính cụ cũng không lấy làm mừng như các bác sĩ điều trị cho cụ.
- Một trường hợp độc nhất vô nhị trong ngành y!
- Đã bị bỏng gần một nửa!
- Phải nói là cơ thể cụ khoẻ lắm, Mirôn Ivanôvích ạ! - các bác sĩ và y tác vừa tiễn cụ vừa nói.
Khi ông cụ về nhà thì mùa thu đã sắp qua. Tuyết bắt đầu rơi, trời dần dần trở lạnh. Tới cổng người y tá đánh xe ngựa dìu cụ xuống xe, phủi phủi các bụi cỏ trên quần áo cụ.
- Bây giờ để tôi tự đi cũng được, - Xin chân thành cảm ơn mọi người, - Mirôn Ivanôvích nói rồi tự tay mở chiếc cổng to, nặng.
Ông cụ bước vào phòng ngoài và rất ngạc nhiên khi nhìn thấy chiếc quan tài đang dựng cạnh tường. “Không lẽ bà già đã trả linh hồn cho Chúa rồi sao?” - cụ lo lắng nghĩ - Chắc vì thế mà không ai đến thăm mình” – Ông cụ lại càng ngạc nhiên hơn khi thấy con trai và vợ đang ngồi cạnh bàn trong nhà, ung dung uống trà…
- Kìa ông, Mirôn Ivanôvích! – Gôga ở trên giường sung sướng kêu to.
Cô con dâu từ phía trong bước ra rụt rè nói:
- Chúa đã phù hộ bố! - rồi thút thít khóc, lại đi vào phòng của mình.
- Người ta đã thả cho về rồi à? Mirôn Ivanôvích? - cả vợ và con trai cùng hỏi một lúc.
- Ừ… Không mừng hay sao? Chiếc áo quan là cho ai thế? – ông cụ lo lắng hỏi - Thế mà tôi, lạy Chúa, cứ sợ là ở nhà có ai đã…
- Bố đóng đấy ông ạ! – Gôga nói to – Bà bảo làm
- Im! Tao xoắn lưỡi bây giờ! Toàn những chuyện không đâu - Mụ Xuđacôva mắng cháu – Mirôn Ivanôvích mừng cho ông đã khỏi bệnh. Thấy không, chúa nhân đức lắm. Chúa vẫn tha thứ cho những người nô lệ lầm lỗi của mình.
- Và rõ ràng Chúa cũng nhân đức với bà, chứ không đã lôi ruột phanh gan bà ra rồi, - có lẽ đây là lần đầu tiên trong cuộc đời vợ chồng lâu dài của mình, Mirôn Ivanôvích đã nói với vợ gay gắt như vậy. Ông cụ thong thả cởi áo ngoài ra, - Bà nên cho tôi ăn một cái gì thì hơn là ngồi mà nhắc đến Chúa của bà như thế! Bà không thấy ăn cháo bệnh viện tôi chỉ còn xương với da đây à?
- Chẳng trách người ta vẫn nói bác sĩ và y tá; y tiếc gì đấy, cả lũ ăn hết phần của bệnh nhân, thật không sai - mụ già hiểu lời chồng theo ý mình.
- Tôi không bảo thế, - Mirôn Ivanôvích càng giận hơn trước - Họ lấy máu của họ cho tôi, mà bà thì nói “họ ăn hết phần”! Bà nghe chứ, Lukêria, họ lấy máu của họ cho tôi, họ là những người như thế đấy! Tôi gầy là vì tôi không ăn được một tí gì, hiểu không?
- Làm gì mà không hiểu, Mirôn Ivanôvích? – Lukêrai vội nói. Lần đầu tiên trong đời, mụ thấy ông già tức giận thực sự, và mụ thầm hiểu bây giờ không phải là lúc nên cãi lại, - Ông chờ tôi một tí, tôi đi nấu ăn bây giờ…
- Mirôn Ivanôvích, ông ơi, - từ trên giường Gôga nói vọng xuống, - thế mà ở nhà mọi người đã chuẩn bị đưa đám ông rồi đấy. Bà cháu đã nấu rượu và cứ phàn nàn luôn là ông có nhiều bạn quá…
- Có câm đi không, thằng khốn khiếp kia! – Prônca vừa chửi vừa bỏ ra phòng ngoài. Có tiếng thùng, đòn gánh va mạnh vào nhau, và tiếng một cái gì rơi mạnh xuống đất…
- Ít ra cũng để thằng bé yên chứ! - mẹ Gôga rụt rè nói và đi lại gần bố chồng, - Chào bố, Mirôn Ivanôvích, chúc mừng bố đã khỏi bệnh. Chuyện gì đã xảy ra trong nhà tắm thế?
- Để yên cho người ta ăn! Cô ngồi trong góc của mình có hơn không? – Lukêria không bằng lòng, nói.
- Chúng tôi có mấy khi được nói chuyện với nhau đâu, - ông cụ bênh con dâu, - Có lẽ trong nhà tắm bố bị chóng mặt. Già rồi.
Ăn xong, ông già nằm xuống chiếc phản cạnh cửa, rồi nhanh chóng thiếp đi. Nhưng rồi ông cụ cũng chẳng ngủ được. Láng giềng bắt đầu đến thăm cụ. Chẳng mấy chốc căn nhà đã chật ních người đến nỗi lớp băng mỏng trên mặt kính cửa sổ đầy hơi nước. Họ tranh nhau hỏi ông cụ tắm làm sao đến nỗi quên cả đâu là vòi nước nóng, đâu là vòi nước lạnh. Ông cụ nói nhiều về bác sĩ, những người cho cụ máu và da của mình.
- Nghĩa là máu cụ bây giờ là máu người khác, phải không Mirôn Ivanôvích?
- Thật quả có thế! - mụ già lúng túng trong miệng - Trước kia cứ như con cừu non, còn bây giờ thì đố ai dám cãi lại một câu.
- Bà nên dọn cái gì lên bàn thì hơn. Rượu bà nấu để chờ tôi “khỏi bệnh” ở đâu? Mụ già của tôi thế đấy!
Mụ vợ càu nhàu chui xuống hầm nhà lục lọi hồi lâu rồi cuối cùng cũng mang lên một ít việt quất muối, một bình rượu tự nấu và rượu ngâm phúc bồn tử.
- Nghĩa là, Mirôn Ivanôvích, người ta đã vá lại da cho bác, tôi hiểu thế có đúng không? - cụ láng giềng Mêphôdi hỏi.
- Đúng thế, chứ không bây giò tôi đâu còn được nói chuyện với bác ở đây.
- Mirôn Ivanôvích, cụ có thể cho chúng tôi xem người ta vá da người khác cho cụ ở đâu được không? Muốn xem tí thử nó ra làm sao? – một người đã ngà ngà say hỏi
- Ăn uống đi đã, tôi sẽ cho xem sau.
Uống xong hai ba cốc, khách nói chuyện càng hăng hơn trước, hoàn toàn quên hẳn việc ông cụ phải nghỉ. Mà Mirôn Ivanôvích cũng không bảo họ về vì biết những người này đến với ý tốt.
Khi khách ra về thì đêm đã khuya. Ông cụ ngủ thiếp trên phản, đầu gối lên chiếc áo ấm. Mụ già say rượu không ngớt chửi những người láng giềng đến ăn uống phá sản nhà mụ, rồi mụ lại quay sang mắng chị con dâu thu dọn bát đĩa chậm. Mụ đổ các chỗ rượu ngâm quả uống thừa vào một chiếc cốc, lấy màng phễu lọc lại một lần nữa, vứt xác quả ra sân rồi rót vào chai, để trong góc.
Cầu nguyện xong, lẩm bẩm chửi một lúc nữa, mụ đi nằm.
Chị con dâu lấy chiếc chăn đắp lên người Mirôn Ivanôvích, đứng cạnh cụ một lúc rồi lặng lẽ đi vào buồng mình, ở đấy Prônca đang say, khò khè ngáy.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, Prônca lại uống rượu nữa. Hắn choàng lên người chiếc áo ấm, bỏ đi lấy cỏ cho bò. Vợ hắn đun nước nấu cháo lỏng cho bò. Chị này còn đang chưa kịp quàng khăn lên đầu, đã thấy hắn chạy bổ vào nhà như một thằng điên.
- Ngỗng… ngỗng chết hết cả rồi…
- Chết là chết thế nào, mày nói gì thế? – bà mẹ hắng hoảng sợ nói
- Chết hết rồi, mẹ ạ, con lấy chân đá hai con, dựng thế nào lại ngã ra thế đấy.
Mụ già cuống lên, cho vội đôi chân không tất vào ủng, một tay xỏ vào ống áo ấm, tay kia đỡ chiếc khăn trên đầu chạy ra.
Một chốc sau, mụ quay vào, ngồi lên chiếc hòm có bịt sắt cạnh giừơng, hai tay để lên đầu gối, lẩm bẩm như người sắp chết:
- Sao Chúa trừng phạt con thế này? Có ba tá ngỗng đều bắt chết dịch cả…
Chị con dâu đứng cạnh lò sưởi, tay vẫn xách chiếc thùng, ngạc nhiên nhìnmẹ chồng. Thậm chí cả khi Mirôn Ivanôvích vào bệnh viện, trông mụ cũng không thảm hại như thế. Lúc ấymụ chỉ buồn rầu nói: “Thế là Mirôn Ivanôvích đã sống hết đời của mình… Chúa ban cho ông cuộc sống, bây giờ Chúa lấy lại… Mong cho ông được lên thiên đường!”
- Sao lại đứng thế hả? - mụ quát con dâu - Chạy ngay ra nhà để đồ đạc, tronglúc chúng còn ấm, thì phải nhổ lông chứ!
- Nhỡ ra chúng bị bệnh truyền nhiễm thì sao? - chị con dâu rụt rè lên tiếng.
- Truyền nhiễm, truyền nhiễm! - mụ già nhai lại - Đừng có làm như tiểu thư ấy. Đừng có để mất của - Rồi mụ lại bắt đầu than vãn ầm lên: - Tại mấy đứa hàng xóm ấy mà. Cho chúng ăn, cho chúng uống để thế này đây… Chúng thấy, chúng ghen tị mà. Đứa nào mắt cũng cứ xói vào đây nên mới nông nỗi này… Không biết rồi sẽ còn gì nữa… - Và cũng ngay liền đó, mụ quay sang ocn trai, dịu giọng nói – Còn con, Prônca, chạy giúp vợ con đi… Phải làm nhanh lên để không đứa nào thấy thế mà sung sướng được. Giấu thật nhanh, thật gọn để bịt miệng cái quân lắm mồm, lắm mép lại…
Khoảng 11 giờ thì cả đàn ngỗng đã được vặt trụi lông đem xa ra tận mép vườn chờ chiều đi làm về, Prônca sẽ đào hố chôn chúng.
Bực mình Lukêria quay sang chửi chồng, kể ra cũng không lấy gì làm hùng hổ và to tiếng lắm, rằng vì ông mà nhà mụ gặp tai nạn này. Ông cụ chỉ im lặng đi lại trong phòng, không để ý đến việc bà vợ đang cuống quít, đay nghiến mình. Thỉnh thoảng cụ đến gần chiếc cửa sổ, lấy lòng bàn tay to lớn của mình xoa xoa mặt kính mờ nước, nhìen ra ngoài tuyết trắng. “Mình sẽ ở nhà thêm một vài tuần gì đó rồi đi làm, - cụ nghĩ bụng, vẫn nhìn qua cửa sổ - Làm ở phòng hơi bây giờ cũng vất vả đấy, ban đầu làm anh trông nhà tắm vậy…À, mà cái gì thế kia?” – Mirôn Ivanôvích đưa tay áo lau kính, kêu to:
- Trông kìa, bà mày! Lại mà xem có lạ không? Ông cụ phá lên cười vang nhà.
- Không lẽ ông già điên rồi sao? – Lukêria lẩm bẩm rồi đi lại gần chồng – Nào, cái gì mà cười âm lên như thằng điên thế? Đâu? - Mụ ẩy ông cụ ra một bên dán mặt vào tấm kính - Lạy chúa, lạy chúa! - mụ làm dấu thánh – Hay đây là điềm báo của Chúa?
- Không nhận ra đàn ngỗng của bà à? – Mirôn Ivanôvích cười to đến nỗi Gôga và mẹ cậu hoảng sợ nhìn cụ
- Ông im đi! Ngỗng của tôi chết dịch rồi
Những con ngỗng bị vặt trụi lông trần truồng vừa kêu vừa chạy toán loạn trong sân. Một vài con ngã chúi xuống tuyết rồi lại vất vả cố gượng dậy…
- Không lẽ chúng sống lại? - mụ già sợ sệt hỏi
- Thì chúng có chết đâu, chỉ có bà vội vặt lông chúng, thành ra bây giờ chúng phải trần truồng như vậy, - Mirôn Ivanôvích lại phá lên cười – Mà này, thế hôm qua bà cho chúng ăn gì? – ông cụ quay về phía vợ hỏi
- Như mọi ngày - hạt mạch, bánh mì ngâm nước…
- Hôm qua còn lại bao nhiêu là xác quả ngâm rượu mẹ để ở đâu? - chị con dâu hỏi
- Vứt ra sân… Không lẽ vì chúng ăn phải quả?
Mirôn Ivanôvích lại phá lên cười
- Nghĩa là cả ngỗng chúng cũng uống rượu mừng tôi khỏi bệnh đấy! Thế này thì còn lâu tôi mới chết.
Mụ già vừa xuýt xoa kêu lên, vừa cầm chiếc rìu nặng vẫn dùng để chẻ củi, chạy ra sân, bắt đầu chém cổ những con ngỗng trụi lông đang nửa say nửa tỉnh.
Còn Mirôn Ivanôvích thì không được sống lâu như cụ nghĩ. Làm người coi nhà tắm được một tuần, một hôm cụ bỗng gặp Đunhia ở ngoài đường, bà này trước kia làm việc ở nhà tắm. Bà này chào cụ rồi trách:
- Đáng nhẽ cụ không nên chiếm mất việc của tôi, Mirôn Ivanôvích ạ, - bà cúi nhìn xuống đất, tay xoắn xoắn góc khăn - Ở nhà tắm khoẻ hơn, lại ấm, còn bây giờ phải làm việc trên tuyến đường sắt, đem xà beng ra mà cậy ray… vác tà vẹt… Sáng dậy không làm sao mà ra khỏi giường được, lưng đau nhừ.
- Đunhia, tôi có biết thế đâu?... Hơn nữa, kể cũng bất tiện; để mọt người như chị phải nhìn những người đàn ông trần truồng.
- Tôi quen rồi, và còn cảm thấy như mình là đàn ông ấy, chứ làm ở đây nặng quá… Mirôn Ivanôvích, cụ đừng giận tôi nhé.
Sau lần gặp ấy, về nhà ông cụ cảm thấy bối rối không yên. Cũng may là tối ấy cụ láng giềng Mêphôđi lại sang. Chưa tới cửa, ông cụ đã oang oang hỏi thăm sức khoẻ chủ nhà rồi đứng yên một chỗ, chiếc mũ không ngớt chuyền từ tay này sang tay kia.
“Ông lão làm sao thế nhỉ?” – Mirôn Ivanôvích cố đoán
- Mirôn Ivanôvích, thấy bác có chổi lá đập nóng lắm… Cho tôi một đôi đi. Con trai tôi, thằng út, Anđrây ấy mà, bác nghe chứ, nó vừa từ Mông Cổ về. Nó là cán bộ Hồng Quân, nghe nói đánh bọn Nhật cạnh một chiếc hồ nào đó bên ấy. Nó được thưởng một chiếc huy chương bằng bạc nguyên chất đấy, - cụ Mêđôphi nói một hơi.
- Có ngay, bác Mêđôphi ạ. Để tôi leo lên gác, chọn cho vị anh hùng của bác những chiếc tốt nhất.
- Thế thì cảm ơn bác lắm. Mirôn Ivanôvích ạ!
Mirôn Ivanôvích mặc áo ấm đi ra, một chốc sau nghe rõ tiếng cụ đặt chiếc thang lên gác. Còn cụ Mêđôphi thì vẫn tiếp tục kể về con trai mình cho Lukêra mặc dù mụ này không nghe cụ.
- Cái quân Nhật ấy mà, người bé nhưng đánh hăng lắm - Cụ ngồi lên chiếc hòm gỗ được che bằng một tấm thảm nhiều mảnh vải sặc sỡ may lại, rồi sôi nổi nói tiếp – Nghe nói bọn chúng được dạy tự mổ bụng mình ra đấy. Nếu ai khác mà kể thì có chém tôi cũng chẳng tin, chứ đằng này chính thằng Anđrây nhà tôi…
- Hừ,… không lẽ lại thật thế à? – Lukêra lên tiếng.
- Mà cái này có cái tên kì lắm… Kiarakhari gì đấy. Bác Cudia cũng đã kể cho tôi. Bác ta cũng đánh nhau với chúng mà. Có điều, ở ngoài biển, tất nhiên không vất vả như thằng nhà tôi.
Có lẽ ông cụ còn nói rất nhiều về thằng con trai anh hùng của mình nếu bà chủ nhà không thẳng thừng ngắt lời:
- Thôi, nói thế đủ rồi, chứ tai tôi đã mệt lắm. Mong sao Mirôn Ivanôvích chóng xuống. Mà ông ấy làm gì trên ấy mà lâu thế? Leo lên gác, gặp cái nào lấy cái ấy, gì mà phải chọn, tất cả đều như nhau. Hay bác lên xem thử, để tôi soi đèn cho.
Ông cụ miễn cưỡng đứng dậy, Likêria theo sau, tay cẩn thận cầm chiếc đèn.
Cụ Mêphôđi chưa leo lên gác, đã ngạc nhiên hỏi:
- Sao Mirôn của bà ngã nằm xoài như thế kia? Nào, xem nào… - ông cụ nhanh nhẹn leo lên rồi gọi to xuống.. – Đèn, đưa đèn đây. Hình như có chuyện gì xảy ra với Mirôn Ivanôvích thì phải.
Lukêria theo bậc thang nhẹ nhàng leo lên, khẽ nói:
- Lạy chúa, khéo cháy nhà thì khốn!
Ánh lửa soi rõ thân hình bé nhỏ của cụ Mêphôđi bên cạnh Mirôn Ivanôvích to lớn đang nằm xoài. Mặt cụ úp xuống gác sàn, nách cắp chặt mấy bó lá. Chiếc nắp quan tài nặng nề nằm nghiêng chổng vênh lên đầu cụ, che lấp nửa mặt. Một chiếc đinh lớn căm sâu vào thái dương. Dòng máu chảy trên mặt đã kịp đông lại
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CuLong ơi,

Chương 12 phần một tôi bị thiếu mấy trang (sách cũ nó tả tơi cả rồi.) Có rảnh đánh hết chương này giùm vậy. Thanks, có gì tôi đánh 1 chương bên phần 2 bù lại cho.
0
Huytran,

OK thôi! Giúp miễn phí, không cần "bánh ú trao qua, bánh đa trao lại" đâu!

CuLong xong phần của mình thì sẽ sang phần của bạn, được chứ?

Bye
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
Chương XIII
Đoàn khôi phục đường sắt

Thời gian gần đây, mỗi lần giao công việc cho mỗi người xong, Piốt Pêtrôvích Xamôrucốp thường nói câu mà gần đây ông hay dùng:
- Có hỏi gì không? Không à? Thế thì ai về chỗ nấy
Trong bụng, ông biết là không nên cư xử với công nhân xưởng ông như thế. Ông sống với họ không phải mới chỉ một ngày, hai ngày, ông biết. Chỉ tại cái lão béo trục béo tròn nọ từ cục tuyến đường sắt xuống, một lần có mặt trong một cuộc họp đã trách nhẹ ông như sau:
- Này đồng chí Xamôrucốp, đồng chí là cán bộ lãnh đạo ngành giao thông, mà giao thông quan trọng thế nào đối với tiền tuyến thì khỏi phải nói. Trên một cương vị như vậy, mà xem cung cách làm ăn của đồng chí chẳng khác gì một đội trưởng sản xuất loại tồi ở nông trang. Thậm chí đến giọng nói cũng chẳng có gì có vẻ là thủ trưởng nữa. Thành ra đồng chí không phải ra lệnh mà nói chuyện bình thường như trong gia đình vậy.
- Sao phải ra lệnh với công nhân làm gì? - Piốt Pêtrôvích hỏi lại, vừa rít mạnh điếu thuốc tự quấn đã tắt từ lâu – Thì tất cả họ cũng như tôi và anh đây, thừa hiểu họ đang phải gánh một trách nhiệm lớn thế nào. Ngay cả các em thiếu niên mà hiện nay chiếm 60 phần trăm lực lượng lao động của tôi cũng hiểu được nữa là. – ông dè dặt phát biểu ý kiến của mình.
- Đấy, đấy, tôi biết mà – ông béo nọ đỏ mặt – Tôi khuyên là khuyên cái hay, cái đúng cho anh mà anh lại tìm cách bào chữa. Thôi, khỏi dài dòng – ông ta đập mạnh lòng bàn tay to béo múp của mình lên mặt bàn - Từ hôm nay trở đi, mỗi lần giao xong việc, anh phải hỏi: “Có hỏi gì không?”. Có thể có người còn chưa hiểu một điều gì đó. Phải bảo đảm dân chủ, và cái quan trọng nhất là điều này sẽ giúp anh tránh khỏi những phiền phức không cần thiết sau này. Trong công tác, ai biết được cái gì có thể xảy ra. Hơn nữa, bằng cách này, anh sẽ tạo cho người dưới quyền điều kiện có thể phát biểu ý kiến của mình - Thấy các nốt sần đã bắt đầu nổi trên khuôn mặt kiểu Mông Cổ của bác đốc công, đại diện cục tuyến nói thêm: - Tôi chỉ khuyên anh điều tốt thôi mà. Nên tin vào kinh nghiệm của tôi.
Và thế là từ đó Piốt Pêtrôvích bắt đầu “bảo hiểm” mình, như bác vẫn hay nói về chuyện này như vậy.
Khi hầu như trong phòng chẳng còn ai, Xamôrucốp yêu cầu Giamin ở lại
- Cháu mở giùm bác cửa thông khí, - bác đốc công nói - Việc học thế nào? Anh cháu viết thư về nói gì?
Đám khói thuốc màu xanh lẫn mùi mồ hôi bay qua chiếc cửa sổ hình vuông có song sắt như bay vào một chiếc ống hút khí.
- Sắp tới kì thi… Anh cháu ít viết thư, - tay vẫn giữ quả đấm cánh cửa, Giamin đáp
- Cháu ngồi xuống…
- Cháu rất vội, Piốt Pêtrôvích ạ. Nguyên liệu bây giờ thì xấu mà định mức, bác biết đấy, cứ ngày một tăng…
- Cháu nói đúng, nhưng hôm nay có chuyện cần bàn. Cháu biết không, hiện nay người ta đang thành lập một đoàn khôi phục các tuyến đường sắt. Cần chữa lại các cầu bị gãy, các đoạn đường hỏng. Cháu biết đấy, giao thông hết sức quan trọng đối với tiền tuyến. Không có chúng ta, Giamin ạ, quân đội sẽ không tiến lên được.
- Cháu hiểu, Piốt Pêtrôvích ạ. Bác định cử cháu đi làm tuyên truyền viên ở đâu hay sao? – Giamin nhếch mép cười
- Không, đâu có! À, Giamin này, phòng tổ chức cán bộ cho gọi cháu đấy… Đi đi, sau về báo lại với bác.
Giamin tự tìm hiểu câu trả lời về việc tại sao trưởng phòng tổ chức cán bộ lại đích thân muốn gặp cậu.
Giamin vừa đi vừa nhảy từng bước với tay hái những hoa non dãy cây dương bên đường. Lối đi được ghép bằng gỗ từ thời chiến tranh mới bắt đầu, tới nay chưa được sửa chữa lại lần nào, thỉnh thoảng vài thanh bị hỏng để trơ những chiếc đinh gỉ. Đang nhảy thế, Giamin bỗng sa chân vào một lỗ hổng. Để rút câhn ra, cậu phải bẻ hẳn cả thanh gỗ mục.
- Có chuyện gì thế, anh? – Giamin bỗng nghe có tiếng thỏ thẻ của một phụ nữ.
Cậu ngẩng đầu và thấy một cô gái Xưgan còn trẻ, quàng khăn san hoa sặc sỡ, có đôi tua dài.
“Bây giờ thế nào cô ả cũng bám riết lấy mình và lại giở trò bói toán. Kệ thây ả! Trưởng phòng cán bộ đang chờ mình”. – Giamin nghĩ bụng và rảo bước nhanh hơn.
- Anh thân yêu, đi đâu mà vội thế? Hạnh phúc đang theo anh đây mà anh chẳng thấy gì. Ấy, đấy! Đưa tay cho em xem nào, em sẽ chỉ cho anh hạnh phúc ở đâu. Sau này mới biết là em nói đúng. J-cơ này ! Và sẽ cảm ơn em suốt đời! – Cô gái Xưgan bước nhanh theo Giamin.
- Cô buông tôi ra! Sao cứ bám lấy người ta thế? Không thấy chân tôi đang đau đây à? - vừa khập khễnh, Giamin vừa đáp, Liền đấy, cậu thấy một đám đông trẻ con Xưgan bẩn thỉu, quần áo sặc sỡ đủ các màu xanh, đỏ, vàng, đang hò hét cạnh bờ giậu…
Những người Xưgan lớn khác ngồi dưới gốc dương, phần đông là phụ nữ và người già. Còn cô kia thì vẫn cứ bám chặt lấy Giamin:
- Nào, ông anh, để em đoán cho nào! Chỉ cần cho em một mẩu bánh mì thôi, em sẽ rất cảm ơn, và cho em một phiếu ăn nữa, em sẽ nhớ anh suốt đời…
Những em bé Xưgan chìa những cánh tay tí hon màu nâu qua các lỗ hổng bờ giậu rồi kêu lên như một bầy quạ con.
Giamin mà hàng tháng không được tắm rửa, và tóc cũng rối bời lên như thế thì có lẽ cũng có thể bị xem là Xưgan được. Áo quần cậu cũng vá chằng chịt, người cũng gầy, đôi mắt cũng to và đen như thế.
- Tôi không có bánh mì, - Giamin nói
- Thế thì xem có tiền không?
Đây không còn là những người Xưgan trước chiến tranh thường từng toán lớn tụ tạp bên kia bờ sông Taisétca, cạnh máy nước hay trên bãi rộng gần xưởng tà vẹt. Cậu còn nhớ rõ những năm ấy, người Xưgan thường toả đi khắp đường, ồn ào rẽ vào các ngõ. Họ đoán số táo bạo lắm và bao giờ cũng đoán đúng cho nhà nọ hoặc nhà kia đã có một tai họa nào đó. Nếu lúc đầu chủ nhà rụt rè và nhìn xem người khách dai dẳng này có lấy cắp cái gì không, thì chỉ cần nghe xong câu đoán thứ nhất, các bà (đàn ông thường cau có đứng cạnh) đã kêu lên một cách chân thành, thậm chí còn có vẻ sung sướng nữa.
- Đoán đúng lắm, đúng lắm! Giỏi thật! Gì thì gì chứ cô ta nói cứ như là đi guốc vào bụng ấy.
Một chốc sau, chính bà chủ nhà lại yêu cầu những người Xưgan dùng quân bài bói, và hêế sức chăm chú nhìn những ngón tay thon đeo đầy nhẫn đang sờ vuốt những quân bài như sờ vuốt những vật sống.
- Đúng lắm! Quỉ tha ma bắt nhà cô! Đúng thật! – bà chủ nhà sung sướng nói rồi tự mình dẫn thầy bói sang nhà bên cạnh
Bây giờ thì cô Xưgan không vội nữa. Vẫn ngồi yên trên ghế, cô lấy giọng đường bệ nói:
- Quân bài của tôi, bà chị xem, khôngbao giờ nói dối đâu. Những gì chúng nói đều là sự thật, hoàn toàn sự thật và thế nào cũng sẽ xảy ra đúng như tôi nói. Có lẽ bà chị nên đãi tôi một cái gì đấy thì hơn, không nên kiết quá. Quân bài của tôi không ưa những người bủn xỉn.
- Vâng, vâng, có ngay! Ấy, đến tên cô tôi cũng chẳng biết nữa là, - bà chủ nhà tất tưở chạy ra chạy vào và một lúc sau mang ra một lọ sữa đầy.
Ở nhà bên cạnh, cô Xưgan lạ icàng ra vẻ đoàng hoàng hơn. Bây giờ cô ta hãnh diện ngồi xuống, đặt những ngón tay đầy nhẫn lên những nếp gấp của chiếc váy. Chiếc khăn san hoa sặc sỡ buộc túm sau gáy, bao quanh khuôn mặt ngăm đen đầy vẻ bí ẩn với đôi mắt đẹp xếp rộng. Cô ta nghe phía trong nhà đang có tiếng phụ nữ thì thầm với nhau, tiếng chủ nhà từ chối vẻ nghi ngờ nghe bà láng giềng của mình đang say sưa kể.
- Nào, thì đoán. Thử xem cô nói dối giỏi đến đâu! - chủ nhà nói vẻ thờ ơ, như hoàn toàn không quan tâm gì cả.
- Cho tiền đi, bà chị - cô Xưgan nói, mỉm cười dịu dàng - Những điều tôi sắp nói với bà chị sẽ không bao giờ có ai nói được… Tôi sẽ nói cho bà chị biết cái gì đã làm trái tim hiền hậu của bà chị phải lo lắng lâu nay.
Chủ nhà chìa ra một rúp
- Ấy, ấy, ấy, bà chị, có ai nói hết sự thật cho người khác mà chỉ lấy có mấy xu không? – cô ta cầm đồng tiền vội cho vào chiếc bọc lận trong váy – bà bạn của bà chị vừa đưa cho tôi ba rúp đấy – Cô Xưgan dịu dàng nhìn về phía nạn nhân thứ nhất của mình.
Bà chủ nhà đưa thêm hai rúp nữa. Cô ta vội cầm ngay và cũng khéo léo nhanh nhẹn như lần trước, lại cho vào bọc
- Bàn tay bà chị, bà chị thân mến, đẹp và trắng lắm. Bà chị cũng đã phải chịu nhiều đau khổ, đáng lẽ bà chị phải được sống như một bà hoàng mới phải. Thử nhìn xem đờưng này nó chạy mãi tới đâu này? Đi xa lắm đấy… Nào, để tôi xem đường này nữa. Ôi, có một nỗi buồn như tảng đá đang đè nặng trái tim bà chị. Nó không để bà chị yên. Bà chị có kẻ thù, kẻ thù nham hiểm, độc ác. Còn cái này thì tôi chưa rõ lắm. Không hiểu là J hay Q đây. Vì nỗi buồn mà đường này bị mờ và không muốn chỉ rõ cho tôi biết sự thật… - cô ta đưa những ngón tay nhẹ nhàng ve vuốt lòng bàn tay đang run run của bà chủ nhà. Bà này nín thở chăm chú nghe những lời đang tuôn ra từ miệng cô Xưgan, thỉnh thoảng lại tròn đôi mắt nhìn phía bà bạn láng giềng: thấy không, cô ta nói đúng lắm – và thế là tiếp đến, tự bà ta thổ lộ nỗi buồn thầm kín rất phụ nữ của mình.
Khi các bà Xưgan thường cùng đi với lũ trẻ con suốt ngày lang thang từ nhà này sang nhà khác, thì cánh đàn ông của họ nằm ở nhà, trong các lều vải, trên nệm bông, chân vẫn mang ủng, người mặc áo gi-lê nhung. Một số thì ngủ dưới các cỗ xe, số khác ngồi bên đống lửa, miệng không ngừng rít tẩu, còn bọn trẻ con thì chơi với bầy chó, hễ có dịp là chui vào hái trộm quả trong vườn người khác. Còn những đứa khoảng 12-13 tuổi thì đứng đầy sân ga, hầu như có tàu khách hay người nào đi qua cũng bám chặt như đỉa đói:
- Bác ơi cho cháu một xu. Cháu sẽ nhảy bằng bụng, bằng đầu, nhảy 12 lần…
- Thì cứ nhảy đi!
- Không, bác lừa cháu. Đưa tiền trước đã! Cháu có thể nhảy thế này! – và cậu bé Xưgan nhanh nhẹn đạp đập đầu bàn chân trần xuống đất, lẩm bẩm hát một điệu gì đấy, rồi ngã sấp xuống đất rồi lại bật dậy - Đấy, cháu làm được thế đấy. Nào đưa cháu một xu đi, - cánh tay bẩn của cậu chìa về phía người xem đòi hỏi.
Nếu người ta cho cậu một đồng 20 xu, thì cậu nhảy đến kiệt sức mới thôi. Không hiểu sao người ta hay bảo bọn trẻ Xưgan trồng chuối ngược, hai chân đạp vào không khí.
Một lần từ bờ sông về nhà, Giamin đã thuyết phục các bạn mình lại gần hơn để xem trại của người Xưgan. Các cậu rụt rè bước về phía những chiếc lều vải. Lập tức những bầy chó tai to bao vây các cậu, sủa ầm ĩ, thực ra thì không có vẻ hung dữ.
Một cậu bé tóc quăn, thò đầu ra từ chiếc lều ngoài cùng, và tiếp đến là một người đàn ông Xưgan có râu quai nón đứng dậy, vươn mình, xương kêu răng rắc:
- Các chú đi đâu? Hay là đến gặp tôi? – anh ta cười phá lên
- Chúng cháu muốn xem… - Giamin rụt rè đáp. Các cậu đứng tụm lại với nhau. Dù sao vẫn còn hơi sợ
- Ta đi lại đống lửa, - anh chàng Xưgan nói và dẫn các cậu tới giữa đám trại
Bầy chó ve vẩy những chiếc đuôi xù lông chạy về phía trước, thỉnh thoảng lại quay nhìn các cậu. Cũng ở đấy, có những con ngựa đang gặm cỏ, trên cổ chúng treo lủng lẳng những lục lạc đồng. Khịt khịt những con ngựa cũng nhìn về phía các cậu. Cạnh hai con ngựa cái là hai con ngựa con đang bú sữa, trông thật buồn cười, chiếc đuôi ngắn cũn cỡn luôn phe phẩy như quạt.
Cạnh đống lửa mà trên đó có treo một chiếc chảo và một ấm đun nước, khoảng 12 người đang ngồi, gồm người già, nam nữ thanh niên, các bà đứng tuổi và trẻ con.
Anh chàng Xưgan nói một câu gì đó với mấy người kia và họ ngồi sát lại, dành chỗ cho các cậu. Hai cậu bé Xưgan, nói tiếng Nga rất tồi, đi lại, mỉm cười chìa tay bắt, nhưng liền bị một người lớn bạt tai ngay. Những người lớn khác thì kêu lên, quát chúng, làm chúng phát khóc, vội lủi vào đám đông.
- Bọn tớ sống thế đấy, các cậu ạ, - anh chàng Xưgan vui vẻ nói - Lại đây với chúng tớ, người Xưgan sống như ngọn gió giữa đồng…
Các cậu đứng im
- Thế thì mùa đông các bác ở đâu? – Giamin hỏi
- Mùa đông đến, các cậu ạ, là bọn tớ ra đi. Đi tìm mùa xuân. Bọn tớ chỉ biết mùa đông khi nào đến thôi, chưa bao giờ thấy nó cả! – anh ta nói tiếp, hai lỗ mũi dớn rộng, trông thật buồn cười.
- Thế thì khỏi phải nói – Gôga nhận xét đầy ý nghĩa và cảm phục nhìn anh chàng Xưgan kia.
Các cậu ở lại với người Xưgan đến chiều tối. Ở đây họ không quá vui ầm ĩ, không nhảy múa. Ngược lại, họ thường hát những bài hát buồn, nói chuyện với nhau một cách uể oải, như thấm mệt sau khi làm việc nặng. Ai trong ngày kiếm được cái gì, đều mang vào một chiếc lều không lớn lắm. Và rồi từ căn lều đó, vọng ra những giọng nói xúc động, nhiều khi có cả tiếng nức nở.
Mải ngắm nghía tất cả những cảnh này, các cậu quên cả thời gian. Anh chàng Xưgan kia bảo:
- Đến giờ về nhà rồi, kẻo bố mẹ các cậu lại mắng. Bọn tớ sống thế đấy… - giọng anh ta đượm một nét buồn khó tả - Nhưng đựơc cái hoàn toàn tự do
… Trước kia họ sống như vậy. Thế mà bây giờ, họ gần giống những người ăn xin.
- Quả thật, tôi không có bánh mì, chỉ có ba rúp đây – Giamin móc tiền từ túi ra.
Cô Xưgan giật lấy tờ ba rúp, vội vàng nhét vào ngực rồi cầm lấy bàn tay Giamin liến thoắng nói một mạch:
- Thế nào cậu cũng sẽ gặp may! J-cơ này. Cậu sẽ còn đi xa. Cậu sẽ thấy hạnh phúc ở một thành phố lớn, trong một ngôi nhà của nhà nước.
- Đây có rõ đường nào là đường nào đâu, chỉ độc giỏi tán – Giamin giật tay mình khỏi những ngón tay đang giữ chặt của cô ả rồi bước đi nhanh.
- Nếu muốn thấy, cậu sẽ thấy, chỉ cần muốn là được, - cô ả ngân giọng nói theo - Những điều tôi nói với cậu là sự thật. J-cơ đấy, thế nào cậu cũng gặp may trong đường đời…
- Hơi muộn đấy, đồng chí Samiliép ạ, - trưởng phòng cán bộ tổ chức trách khi Giamin bước vào phòng - Ngồi xuống, công việc thế nào?
- Bình thường ạ!
- Có muốn xem đây, xem đó không? - vừa lục lại trong đống giấy, ông trưởng phòng vừa hỏi.
- Ai mà không thích được xem đây, xem đó, - Giamin đáp, vẫn không hiểu ông ta định nói gì.
- Đúng thế, nếu vậy thì lệnh điều động của cậu đây. Từ ngày mai, cậu sẽ thuộc quyền điều khiển của trưởng đoàn khôi phục đường sắt.
- Không, cháu không thể quyết định ngay như vậy được… - Giamin bối rối - Sắp tới cháu phải thi ở trường, hơn nữa, còn phải bàn với mẹ cháu đã, mẹ cháu ở nhà một mình…
- Cần người có học, làm việc tốt, trẻ… Tât cả những điều ấy cậu có cả. Mà rồi cũng không còn ai cử nữa; người thì ốm, người thì đông con, người thì, nói thật ra, không thể cử được…
- Học thì cháu còn kịp… Có điều với mẹ cháu thì thế nào đây? Để cháu về thuyết phục xem…
- Đấy, đấy, ý bác cũng định nói thế. Không học bây giờ thì sau này, đi đâu mà sợ, - ông trưởng phòng vội nói, sung sướng vì đã tìm thêm được “một thợ nguội vào biên chế đoàn”. “Kể ra cái anh chàng thợ nguội này chưa đến 18 tuổi, mình không có quyền cử. Nhưng biết làm thế nào! Trong lệnh phải ghi là anh ta tình nguyện thôi”, - ông trưởng phòng nghĩ.
Được phân công về chỗ mới làm việc, Giamin thấy thích, tuy cậu không muốn bỏ học và để mẹ ở nhà một mình. Cậu bỗng nhớ lời cô gái Xưgan nọ: “Cậu sẽ còn đi xa…”
Cậu quyết định chưa nói ngay cho mẹ biết.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
(tiếp chương XIII)
Trụ sở của đoàn khôi phục chỉ là một toa chở hàng đứng ở một đoạn đường ray cụt. Chiếc toa khuất sau một gò đất cao có những thanh tà vẹt kẻ sọc và chiếc đèn pha hình vuông ở phía trên, còn phía bên kia, các bánh xe của toa được giữ chặt bởi những chiếc má phanh bằng thép. Một chiếc cầu thang gỗ chưa kịp ngả màu đen bẩn, dẫn vào phía trong toa.
Sau chiêc bàn làm bằng tấm gỗ rộng đóng sơ sài, có một người cao lớn, mặt ốm yếu đang ngồi. Chiếc mũ lưỡi trai đường sắt, không hiểu có phép gì mà vẫn không rơi khỏi gáy anh ta. Anh ta nhanh nhẹn ghe tên tất cả những người đến đây, giao nhiệm vụ và cho về. Anh ta là đoàn trưởng đoàn khôi phục, Vaxili Xécgâyêvích Xưrômiachin. Cạnh đấy là một người đàn ông mặt rỗ, mũi nhọn, mồm nhỏ. Mỗi lần đồng ý với đoàn trưởng, anh ta lại gật đầu, thỉnh thoảng dùng chiếc móng tay cong, chỉ trỏ nên xếp ai vào danh sách này. Đó là đốc công Ladarơ Xêmiônôvích Tabacốp.
Giamin chờ đến lượt mình, đưa giấy điều động
- Tốt lắm, đang cần thợ nguội, - vẫn không ngẩng đầu, đồng chí đoàn trưởng nói.
Trong thời gian chiến tranh, ở Taisét mực được làm từ vỏ hành nên rất mờ và dễ nhoè. Anh ta phải tô đi tô lại họ tên Giamin ba lần, nét chữ mới hiện lên như trên giấy ảnh.
- Đi lại đằng kia, anh bạn – anh đốc công nói và chỉ về phía có một toán gồm phụ nữ, nam thanh niên và những người đàn ông lớn tuổi đang đứng.
Giamin ra khỏi toa, đi lại nhập bọn với những người mà cậu sẽ cùng làm việc.
- Này cậu, cậu là người địa phương à? - một cậu lớn hơn Giamin một chút hỏi Giamin.
- Người địa phương, thì sao?
- Tớ cũng nghĩ vậy. Có thuốc không? Muốn rít một hơi quá
- Tôi không có… - Giamin lúng túng đáp
- Thế cậu có kiếm được ở đâu không?
- Không, ở nhà không ai hút…
- Còn cậu?
- Không…
- Thế cái gì trong túi xách? - rồi hắn bỗng giật chiếc túi khỏi tay Giamin dốc ngược xuống đất, làm bánh mì, khoai tây và chai sữa toé ra.
Lúc đầu Giamin còn bối rối, chưa biết làm gì, nhưng cậu liền nghĩ: phải quật lại ngay. Xung quanh sẽ không có ai can thiệp, mà chỉ đứng xem “hai chú gà trống đá nhau” và sẽ không bênh vực ai cả.
Giamin nhìn xuống đất, nhặt vội chai sữa rồi xông vào cậu kia.
Thấy đối thủ của mình cầm chai, cậu kia vội vớ lấy đinh móc.
- Thôi, thôi! - một chị tóc vàng kêu giật lên, đi lại gần hai cậu – Đi đi, không còn việc gì làm nữa hay sao mà đánh nhau! - Chị ta đẩy vai cậu kia quay sang hỏi Giamin – Tên chú là gì?
Giamin nhặt khoai tây cho vào túi, thổi bụi khỏi chiếc bánh, đưa mắt dè dặt nhìn chị tóc vàng nọ
- Giamin…
- Còn tôi là Raia Alếchxâyêva… Chú từ đâu đến?
Giamin kể cho mọi người xung quanh nghe là cậu làm ở xưởng cơ khí, và sống ở đây, ở Taisét. Cậu có mẹ và các anh cậu đang ở ngoài mặt trận…
Tabacốp ra khỏi toa:
- Sao không làm gì cả thế này? Người ta phát phiếu thực phẩm cho các anh để đứng chơi à? Tại sao mãi bây giờ các toa vẫn đứng nguyên một chỗ?
- Này, không được quát như thế! Cần giải thích rõ ràng phải làm gì và làm thế nào, - Raia Alếchxâyêva mạnh dạn bước lên phía trước.
- Cô biết đang nói với ai không? - Tabacốp nổi nóng
Xưrômachin hiện ra ở trước cửa toa.
- Có gì mà ầm lên thế, các đồng chí? – anh ta điềm tĩnh nói
Toán công nhân tranh nhau nói nhao nhao
- Trật tự nào, các đồng chí! Từng người một, - Xưrômachin ngắt lời, bước xuống đất, - chúng ta phải làm việc ở một nơi quan trọng nhất. Các đồng chí là lực lượng nòng cốt của đoàn. Ở miền tây đất nước mọi người đang chờ chúng ta. Trong vòng ba tháng thôi, chúng ta phải lập xong đoàn khôi phục đường sắt. Tạm thời chưa có gì. Đoàn tàu của chúng ta cần người chưa đủ tất cả các ngành nghề giao thông đường sắt. Tôi nghĩ ai cũng hiểu điều đó…
- Vaxili Xégâyêvích, từ sáng đến giờ họ chẳng đẩy được một cặp bánh xe nào, - anh đốc công xen vào - Thế mà anh còn nói đến danh dự và trách nhiệm với họ. Họ thì có trời sụp xuống đấy cũng chẳng sao.
Toán công nhân lại sôi nổi, có người thậm chí còn chửi thẳng vào đốc công.
- Tabacốp, anh vào toa đi! Rõ ràng là anh đã không cho họ cụ thể phải làm những gì, - Xưrômachin nói – Đi đi, ta sẽ nói chuyện sau… À, mà phải cử mọt người nào đấy làm đội trưởng ở đây, ít ra cũng tạm thời.
Đốc công lúng búng nói gì trong miệng rồi miễn cưỡng bước vào toa.
- Đáng lẽ chúng tôi đã dỡ toa này ra từng bộ phận một từ lâu, nhưng nào có biết làm thế nào đâu. Ở đây không ai biết nghề ấy – Raia Alếchxâyêva lại lên tiếng.
- Có ai là thợ nguội toa xe không? – Xưrômachin hỏi.
- Tôi là thợ nguội nhưng về đường sắt,… - Giamin phá tan im lặng.
- Anh đã bao giờ thấy người ta tháo toa xe ra rồi lắp lại chưa?
- Ba bốn lần gì đó…
- Tạm thời thế là đủ. Họ tên là gì?
- Samiliép
- Thế thì bây giờ đồng chí sẽ là đội trưởng, đồng chí Samiliép ạ - Xưrômachin nói với giọng cương quyết không ai cãi lại được - Đồng chí hãy cố gắng hướng dẫn mọi người những cái mình biết. Ngày mai, các đồng chí ạ, tôi sẽ cố xin bên cánh phụ trách toa xe một hai thợ nguội nữa. Rồi công việc của ta sẽ đâu vào đấy – Xưrômachin mỉm cười khoan khoái rồi đi vào toa, đóng chặt cửa lại sau lưng.
- Con người mới tốt làm sao!
- Chúng ta là lực lượng chủ chốt anh bảo vậy!
- Thủ trưởng thế mới gọi là thủ trưởng! – có tiếng người hào hứng nói xung quanh.
Giamin bắt đầu giảng giải cho mọi người những điều cơ bản nhất của nghề nguội. Cậu dạy phụ nữ cách cầm búa, cầm đục, cách chặt đinh ốc thế nào để các ren ốc không bị dập. Tạm thời cả đoàn khôi phục chưa có một máy làm đinh ốc nào, nên bây giờ phải quí từng chiếc đinh nhỏ…
Đoàn cũng chưa có cả toa xe để làm xưởng nguội, xưởng dụng cụ và nơi ở. Phải chữa lại các toa xe bị chiến tranh tàn phá đang đứng trong các đường cụt mà những toa này đoàn trưởng cũng phải vất vả lắm mới xin được.
Giamin gọi những người thợ đang học nghề này lại một chiếc toa bị cháy sém, bày cho họ phải tháo dỡ nó ra sao và tên gọi từng bộ phận là gì.
Tháo những đầu đấm bị uốn cong ra. Công nhân đứng nhìn chiếc lò xo ghép thanh và chiếc trục vặn vẹo.
- Cái này thì dùng để làm gì? - người ta hỏi Giamin
- Làm gì à? Cho vào rèn tôi lại, sau cho lên máy tiện, tiện đường ốc - đội trưởng giải thích
- Đơn giản thôi mà, - cậu thanh niên cao người mà sáng nay định bắt nạt Giamin lên tiếng.
- Nghe và nhìn thì đơn giản – Giamin nói, Khi bắt tay vào làm mới thấy là không dễ
- Ừ, mà Xécgây này, cậu vẫn chẳng thích một việc gì đấy cho ra việc, phải không? Việc này chắc hợp với cậu lắm - một người nào đấy chêm vào, làm mọi người cùng cười ồ lên.
- Không sao, để rồi xem ai thích cái gì! – Xécgây chống đỡ
Hồi lâu, cả toán không sao tháo được một chiếc chốt nối giữa trục chính trong toa xe. Giá có hai ba thợ nguội loại khá thì việc chứa toa này chắc sẽ đơn giản và nhanh hơn nhiều. Đằng này ở đây, người thì bảo thế này, kẻ thì nói thế nọ, ai cũng chui xuống hầm xe lấy búa gõ lung tung một lúc rồi chui ra, văng tục bỏ đi. Không biết mọi người còn loay hoay vất vả bao lâu nếu lúc ấy đoàn trưởng không lại. Xưrômachin cởi áo khoác, bò xuống gầm xe. Công nhân tò mò đứng chờ kết quả, trong khi thủ trưởng họ vẫn gõ búa đều đều vào chiếc đục.
Một chốc sau đã thấy anh bò ra, người đầy gỉ sắt và dầu ma dút:
- Đấy, cái chốt tai hại của các anh đây
Một người đưa cho anh chiếc giẻ sạch:
- Vaxili Xécgâyêvích, anh chùi tay kẻo lại dây ra áo quần
- Cám ơn – Xưrômachin lau tay rồi trả lại chiếc giẻ.
Anh giảng cách tháo bầu dầu và sử dụng cái kích xe ra sao, nhắc mọi người thế nào cũng phải lót ụ kích, nếu không tàu có thể chạy và dễ xảy ra tai nạn.
Mọi người ăn trưa ngay chỗ làm việc. Họ còn chưa được vào ăn ở nhà ăn, mặc dù ai cũng có phiếu công nhân. Nước sôi được nấu trong các ấm chè treo trên ngọn lửa, mỗi người một cốc, rắc muối lên bánh mì, bắt đầu ăn. Giamin ngượng ngùng mời các bạn mới của mình lấy sữa cho vào nước chè, và đem chia mỗi người một củ khoai nướng.
- Cậu sẽ đói đấy, - Raia Alếchxâyêva nói
- Không sao, cầm lấy, tôi đủ rồi – Giamin đáp
- Thế thì đưa đây! – Raia cầm lấy chai sữa, nói to với mọi người, - Này, lại đây, anh em ơi. Đội trưởng chiêu đãi sữa đây.
Cậu hồi sáng suýt đánh nhau với Giamin vẫn ngồi yên trên thanh tà vẹt, ra vẻ không nghe gì. Raia trả lại Giamin chiêc chai với một ít sữa còn lại
- Còn anh kia? – Giamin chỉ về phía Xécgây
- Xécgây, đưa cốc lại đây! Và các cậu sẽ trở thành anh em sữa, - Raia cười to - Đừng giận nhau nữa. Đội trưởng mời chân thành đấy.
- Đi lại kìa, - người ta ẩy vai cậu
Xécgây đi lại, dáng uể oải như muốn tỏ cho mọi người biết là nếu không vì người khác thì cậu chẳng bao giờ thèm cần đến sữa của Giamin. Xécgây đưa cốc, Giamin quá tay dốc hết cho Xécgây nhưng vẫn giữ vẻ như không có chuyện gì xảy ra, rồi lại ngồi điềm tĩnh ăn như trước. Cậu kia thấy vậy bỗng hỏi:
- Nếu sáng nay mình xông vào, cậu có lấy chai đập vào đầu mình không?
- Có, - Giamin cương quyết đáp
- Cậu khá lắm, - nghĩ ngợi một lúc, Xécgây lại nói
Từ hôm ấy, Giamin hầu như bắt đầu một cuộc sống hoàn toàn mới. Người cậu mến nhất là Xưrômachin.
Chẳng bao lâu trong đoàn khôi phục đường sắt người ta đã biết là toàn gia đình của trưởng đoàn đã chết trong năm đầu tiên của chiến tranh. Và từ đấy, những người mà bề ngoài trông có vẻ thô kệch, và số mệnh không chiều chuộng họ, đối xử hết sức ân cần với Xưrômachin. Mọi chỉ thị của anh ta đều được thực hiện đầy đủ và chính xác. Công nhân quí Xưrômachin còn là vì anh ta tối tối thường tới chỗ ở của họ, ngồi nói chuyện lâu với họ, không từ chối kiểu cách chén nước hay bữa cơm nghèo nàn họ mời anh, kể rất hay về cấu tạo các toa xe cho họ nghe, về hệ thống chắp toa tự động, về công tác quản lí đường sắt…
- Tất cả những điều này, các đồng chí cần biết, các đồng chí ạ, - Vaxili Xécgâyêvích nói, - vì chúng ta là những người khôi phục đường sắt.
Anh bao giờ cũng nghiêm khắc, đòi hỏi nhiều nhưng công bằng
Một lần, Lukianốp, một người trầm lặng hỏi anh:
- Vaxili Xécgâyêvích, tại sao anh gọi tất cả chúng tôi bằng “anh”, trong khi nhiều thủ trưởng khác chỉ gọi chúng tôi cộc lốc là “cậu”, “mày”
Đôi má trễ vàng ệch của Xưrômachin bỗng ửng đỏ. Anh lấy từ chiếc hộp ra ít thuốc sợi, quấn một điếu. Mọi người xung quanh nhìn, chờ đợi xem anh sẽ trả lời thế nào câu hỏi hắc búa này của Lukianốp. Mà Lukianốp hỏi câu này cũng không phải là ngẫu nhiêu. Vài ngày trước đây, bác đã đập lại đốc công Tabacốp khi anh này quát bác:
- Lukianốp, tôi sẽ bắt cậu chịu trách nhiệm về việc này. Vào cái tuổi 50 như cậu đáng lẽ phải làm gương cho người khác theo mới phải. Thế mà cậu?!
- Còn cậu, đốc công ạ, không phải doạ người khác! Trên đầu tôi đã hai thứ tóc, và cậu cũng chỉ đáng vào hàng con của tôi thôi…
- Các đồng chí ạ, thật ra tôi cũng không hiểu tại sao người khác có thể xưng hô với cấp dưới của mình như vậy. Tôi nghĩ đây không phải là vì tình cảm thân mật, - Xưrômachin nhếch mép cười - Những người làm thế, họ tự hạ giá trị của mình bằng cách lợi dụng chức vụ, đặt mình cao hơn người khác… Đảng vẫn dạy chúng ta là phải quí trọng mọi người. Các đồng chí cũng biết một người cộng sản mà chúng ta phải luôn luôn học tập, một người không bao giờ nhấn mạnh những ưu điểm và sự vĩ đại của mình, mặc dù bản thân là một thiên tài.
- Lênin - một người nào đó lên tiếng.
- Đúng, Lênin. Người chỉ gọi “cậu” với những người thân thiết nhất
Trên đường về, Xưrômachin quyết định phải nói chuyện nghiêm khắc với đốc công Tabacốp. Tabacốp có thể kể một truyện tiếu lâu hay, có thể vỗ vai công nhân, nhưng mọi người vẫn cảm thấy có cái gì giả dối trong anh ta; và hiểu rằng trong bụng, anh ta tự cho mình hơn hẳn người khác. Anh đốc công này thích tìm một khuyết điểm nào đấy của người khác và nói:
- Làm ăn như thế này thì có thể vào tù chứ chẳng chơi. Thời chiến bây giờ thế đấy! - rồi nhăn nhở cười, nói tiếp: - Nhưng tôi vốn thương người, tôi sẽ ngơ đi cho…
Xưrômachin đi tắt qua nhà ga, về toa xe nơi anh ngủ, và cũng là trụ sở của đoàn, hi vọng gặp người bổ sung cho đoàn. Nhiều lần anh đã gặp họ như thế. Dáng người cao, với quân hàm hai sọc với những ngôi sao to, anh nổi bật giữa người khác. Ai mới đến thế nào cũng tìm gặp anh. Nhưng hôm nay Xưrômachin không gặp ai. Người ta ngủ trong vườn ha cạnh nhà ga, trên những tấm gỗ lát đường chờ tàu. Họ là quân nhân, các gia đình sơ tán, hay những chú bé mồ côi bẩn như ma lem. Cuộc đời của họ bị chiến tranh đảo lộn. Nhưng có thể nhận thấy là chẳng bao lâu nữa chiến tranh sẽ kết thúc; mọi người ngủ say sưa như vừa làm xong một việc lâu dài và khó khăn. Không có cái vẻ hoảng hốt, hỗn loạn, không còn tiếng khóc, tiếng reen mà Xưrômachin đã chứng kiến trên các sân ga những năm 41, 42 nữa.
Vào toa, Xưrômachin đốt nến, cởi quần áo và nằm xuống chiếc giường gỗ cứng, xiêu vẹo của mình. Vừa đọc được mấy trang trong cuốn “Sông Đông êm đềm” anh đã tắt nến. Thiu thiu ngủ, anh sung sướng nghĩ tới việc đoàn khôi phục sẽ lên đường đúng hạn. Thiết bị đang được gửi đến, cán bộ chuyên môn đang được phái đến. Nhiều người lên đường lòng nhẹ nhõng, nhưng cũng có người sau nhiều buổi nói chuyện căng thẳng ở đảng uỷ mới chịu đi. Xưrômachin rất hiểu là ban lãnh đạo đường sắt phải vượt rất nhiều khó khăn, phải rất khéo léo mới cử được người tới làm việc ở đoàn anh. Nơi nào cử người đi thì những người còn lại phải gánh vác hết mọi khó khăn.
Xưrômachin thiếp đi vào khoảng hai giờ gì đó, nhưng sáu giờ sáng anh đã dậy. Chỉ có những người đứng tuổi mới ngủ ít như vậy, nhưng Xưrômachin mới 37 tuổi.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
Chương XIV
Giamin ở lại Taisét

Ba tháng sau, đoàn đã thay đổi đến mức không nhận nổi. Bây giờ là cả một xưởng lớn di động được trang bị nhiều loại máy, xe kiểm ray, cần cẩu.
Trụ sở của đoàn được đặt trong một toa khách loại sang có điện chiếu sáng. Lập tức chính quyền địa phương đối với đoàn trở nên kính trọng hơn. Còn câu lạc bộ của đoàn thì đặt trong một chiếc toa nhỏ cũ kĩ. Ở đấy người ta có thể tổ chức các buổi nói chuyện chính trị, các buổi diễn thuyết, hội họp và chơi cờ sau giờ làm việc
Mọi người ai cũng nhớ ngày đẩy chiếc toa xe mới đầu tiên từ đề-pô ra. Lúc đầu công nhân đứng im ngắm “tác phẩm” của mình còn đang sặc mùi sơn, lắng nghe tiếng lăn nhẹ, đều đều của bánh xe. Người nào cũng muốn sờ, muốn thử lại chiếc đinh ốc mình đã vặn.
- Không lẽ đây là chiếc toa cháy đen dạo nọ? - họ hỏi nhau - Thật khó mà tin được.
- Cậu có nhớ là cậu nói phải vứt nó vào đống sắt vụn không? – Giamin ẩy vai Xécgây – Và không muốn mài lại.
- À, lúc ấy là chuyện khác, còn bây giờ… - Xécgây trông thấy đoàn trưởng kêu to như một chú bé: - Hoan hô Vaxili Xécgâyêvích! Hoan hô tất cả chúng ta! Những lúc thế này phải có rượu sâm banh mà đập tung ra mới phải, như người ta vẫn làm khi hạ thuỷ một chiếc tàu mới đóng…
- Đấy là một ý kiến tốt – Xưrômachin tán thành. Khẽ mỉm cười, anh quay sang những người công nhân đang lắng nghe anh, và nói với Xécgây, không còn vẻ đùa nữa – Không sao, Xécgây ạ, thắng lợi rồi, ta sẽ làm điều đó.
- Còn cái này có được không, Vaxili Xécgâyêvích? – Giamin nói và rú trong túi xách ra một chai sữa.
Xưrômachin chưa kịp nói thì cậu đã kêu lên: “Thì sữa đã thua gì sâm banh nào?” rồi vung tay, đập mạnh chai sữa vào đầu đấm bằng thép. Chiếc chai màu sẫm vỡ tung, sữa chảy ra trắng như bọt sâm banh.
- Hoan hô! Hoan hô! – Xécgây kêu to - Tuyệt!
- Thế này thì quá lắm! – từ phía sau trưởng đoàn, đốc công Tabacốp nhảy ra – Ai cho phép các anh đập chai thế này? - rồi anh ta mắng Giamin – Và mọi người xung quanh thì lấy làm thích thúc. Đáng lẽ phải can ngăn mới phải, thế mà còn cười được!
- Đấy là chúng tôi theo tục lệ hạ thuỷ tàu mới đấy – Xécgây nói
- Mày đừng hỏng xỏ mũi tao! Thằng ngốc nào nghĩ ra cái lệ này? Tư sản hay sao mà đổ phí sữa như thế?
Mọi người đứng im, lúng túng và bất bình nhìn anh ta.
Vaxili Xécgâyêvích đã chấm dứt tình trạng này. Anh bước lại gần Xécgây để tay lên vai cậu:
- Chúng ta có kém gì những người đóng tàu thuỷ, Xécgây nhỉ. Tôi nói đúng không các đồng chí?
Gần đúng một tháng trước đaâ, mọi người đã đón chiếc toa xe đầu tiên được sửa chữa lại như vậy. Bây giờ thì đã có mấy toa như thế được sửa chữa xong.
Người ta vẫn kính trọng gọi Giamin là “đội trưởng” như trước, dù bây giờ cậu chỉ là một thợ nguội bình thường. Cậu lấy thế làm tự hào và cố hết sức để không mất sự tín nhiệm của mọi người. Thậm chí cậu còn bỏ cả học. Cậu nghĩ bây giờ không phải là lúc học, nếu không anh em sẽ cho mình là “con mọt sách”.
Nhưng rồi một buổi sáng, Giamin được trưởng đoàn cho gọi lên gấp. Ở đây thầy hiệu trưởng Ruvin Ixacôvích đang chờ cậu. Ông mỉm cười để lộ những chiếc răng to và thưa.
- Đây, cậu ta đây. Hơn một tháng không đi học. Mọi người cứ tưởng là cậu ta ốm, hoá ra ở đây, lại có ảnh treo ngoài bảng danh dự nữa… Tất nhiên, tôi hoàn toàn không có gì phản đối, và rất mừng là cậu ta làm việc tốt như vậy…
- Ngồi xuống, - Vaxili Xécgâyêvích mời Giamin - Thế nào, Samiliép, sao anh không nói gì với tôi về việc học?
- Em không biết.. Em xấu hổ…
- Xấu hổ à? Có ai xấu hổ hiểu biết không? – Xưrômachin đặt cái chặn giấy sang một bên – ông hịêu trưởng cho tôi biết là ở các lớp trên chỉ có tám cậu học thôi, và anh là người thứ chín. Chiến tranh kết thúc sẽ cần nhiều kĩ sư, bác học thế hệ các anh. Thế mà anh còn “xấu hổ”! Xin lỗi, Giamin ạ, tôi cứ tưởng anh là một người đứng đắn cơ đấy. Từ ngày mai nhất thiết anh phải đến trường. Tôi cần những công nhân có học, có kiến thức, anh hiểu chứ?
- Vâng, em hiểu – Giamin rụt rè đáp
- Thôi, anh có thể đi. Tôi sẽ nói chuyện với đốc công sau. Khi chúng tôi trở về, anh sẽ phải học hết trường phổ thông.
… Thật ra mà nói, Giamin học cũng không lấy gì làm xuất sắc lắm. Mỗi lần bị điểm ba, cậu lại cúi đầu, mặt nóng bừng.
Một lần, trong hành lang. Nhura vẻ sung sướng, đi lại gần cậu. Mà cô ta vui vẻ cũng không phải là vô cớ vì điểm của cô bao giờ cũng là năm – và nói lia lịa
- Tốt lắm. Ba chứ có phải hai đâu, rồi đâu sẽ vào đấy…
- Còn cậu, toàn là điểm năm…
- Giamin, đừng so sánh. Mình khác, chỉ ăn học thôi, còn cậu là công nhân! - rồi Nhura chuyển ngay sang đề tài khác, mỉm cười bí mật: - Mình vừa nhận được thư của Tamara. Nó viết nhiều về Mátxcơva. Giá bọn mình được tới đấy nhỉ… Tamara bảo nhớ Taisét, nhớ rừng taiga, và luôn nhớ tới bọn mình. Nó hỏi cậu đang làm gì, có học không?
Giamin nghe Nhura không chăm chú lắm. Không hiểu sao cậu cứ nghĩ là Tamara vẫn chưa tới Mátxcơva, hoá ra cô ta đã ở đấy từ lâu.
- Cậu đang ngủ à? – Nhura hỏi, vẻ không bằng lòng.
Giamin nghĩ là Tamara đã quên cậu. Cô hứa sẽ viết thư cho cậu. Cậu đã gây được thói quen nói chuyện thầm với cô. Giamin rất hi vọng là đoàn khôi phục sẽ đi qua Mátxcơva và cậu sẽ gặp Tamara ở đó.
Nhura đứng im. Đôi má tròn lúm đồng tiền của cô ửng hồng. Hình như cô còn mừng vì Giamin có vẻ như thờ ơ với những điều cô nói về Tamara.
- Không có lẽ cậu quên nó rồi sao? – cô hỏi
Tim Nhura lúc này đập mạnh như muốn nhảy khỏi lồng ngực. Cô rất muốn nghe Giamin nói: “Ừ, quên rồi”. Lúc ấy, có lẽ cô sẽ thú thật là cô thích Giamin ngay từ lớp một, khi hai đứa ngồi chung bàn.
- Cậu biết không, đoàn của mình sẽ qua Mátxcơva để tới những vùng vừa mới giải phóng. Ở đấy thế nào mình cũng gặp Tamara! – Giamin nói sôi nổi – Mình sẽ điện cho Tamara ra đón
- Cần biết trước các cậu sẽ đến ga nào, vì tàu các cậu không phải là tàu khách, - Nhura khô khan nói
Giamin không nhận thấy tâm trạng của Nhura đã đột ngột thay đổi. Cậu nói thêm một cách cương quyết:
- Thế nào mình cũng gặp Tamara ở đấy.
Rồi cậu bỏ đi.
Còn Nhura thì chạy vào một phòng học trống, đóng chặt cửa và ngồi khóc rất lâu ở đấy.
Đã mấy ngày nay đoàn tàu khôi phục sẵn sàng chờ lệnh lên đường đi xa làm nhiệm vụ khó khăn.
Những ngày này, kể ra đoàn trưởng có thể ngồi yên nghỉ ngơi trong toa khách của mình chờ xuất phát. Thế nhưng khó mà tìm thấy anh ta ở đấy. Anh chạy, quả đúng là chạy thật, dọc theo đoàn tàu, kiểm tra đến hàng chục lần xem các thanh ray, tà vẹt, xe kiểm ray đẩy tay, động cơ và các cỗ máy được xếp trên toa sàn chắc chắn chưa, các cần cẩu làm việc thế nào, phụ tùng để đâu.
- Các đồng chí phải nhớ là chúng ta sẽ đi tới một nơi không có cả một chiếc đinh ốc, một chiếc búa, một chiếc đinh. Tất cả đều chờ chúng ta giúp đỡ. Và vậy, hãy kiểm tra lại một lần nữa và một lần nữa tất cả mọi thứ!
Mọi người đều có cảm giác là hình như đoàn trưởng không bao giờ ngủ. Anh ta có thể xuất hiện vào bất cứ giờ nào trong ngày đêm. Một lần, Giamin nghe anh nói với chính trị viên của mình:
- Chúng ta cần tạp việc làm thích hợp và bổ ích cho anh em. Nhàn cư vi bất thiện mà. Một số thì uống rượu, số khác thì đánh bạc. Trong việc này, người có lỗi là anh và tôi đấy.
“Mình cũng sẽ vào Đảng để trở thành một người như Vaxili Xécgâyêvích” – Giamin thường nghĩ như vậy.
Giamin nghĩ là khi tàu chạy, chắc Xưrômachin thế nào cũng nghỉ ngơi, lúc ấy anh sẽ ngồi yên mà ngắm qua cửa sổ, nhìn những cột điện thoại vùn vụt chạy trở lại. Cậu không ngờ là ngay trên đường, Xưrômachin vẫn chạy như trước, không biết mệt là gì, từ đầu tàu đến cuối tàu để xem mọi người có khỏe không, đòi các ga phải cho tàu anh xuất phát sớm nhất, đánh điện cho các ga sắp tới yêu cầu chuẩn bị trước thực phẩm và than đá…
Nhưng tất cả những điều này Giamin không được chứng kiến. Một ngày trước khi lên đường, cậu bỗng thấy đau nhói phía bên phải bụng.
- Cậu làm sao thế? – Xécgây đứng bên cạnh, hỏi
- Không sao. Bụng mình thế nào ấy…
- Chắc ăn phải cái gì. Cũng chóng khỏi thôi. Mình vẫn hay bị thế.
Giamin thử đếm từ một đến một nghìn để thời gian trôi nhanh hơn và quên đau. Áo ướt đẫm mồ hôi, môi nóng bừng, nhưng cậu vẫn ngại không muốn nói với đốc công.
- Hay cậu xin nghỉ đi? – Xécgây lại nói
- Không, mình sẽ cố chịu tới lúc tan tầm…
Lúc ấy, Raia Alếchxâyêva đi lại. Chị liền bảo Xécgây chạy tìm y sĩ của đoàn. Trong lúc Xécgây đi hỏi có ai thấy y sĩ ở đâu không thì Giamin lại càng cảm thấy hết sức khó chịu. Cậu trả lời các câu hỏi một cách khó nhọc. Miệng cậu khô, luôn mở để hớp khong khí. Thấy vậy, Raia chạy ra đường, chặn một chiếc xe ngựa, khẩn khoản nói với người đánh xe nhờ chở một người bệnh nặng vào bệnh viện.
- Xe tôi có phải xe cứu thương đâu? – anh ta cáu kỉnh đáp - Người ta còn đang khối việc chưa làm…
- Vâng, vâng, nhưng anh ốm sắp chết!
- Thì can gì đến tôi? Tôi cũng còn việc của tôi chứ… - anh ta chưa dứt lời, Raia xông tới nắm lấy cương ngựa.
- Nào đi! – cô hét lên – Anh không có tim à?
- Cô kìa, muốn kêu gì thì kêu, nhưng đừng có sờ tay vào đấy, kẻo tôi lại quật cho mấy roi bây giờ, - người đánh xe doạ
- Đồ keo bẩn, đáng nguyền rủa! – và Raia còn tuôn ra một tràng những lời không lấy gì làm dễ nghe nữa – lúc ấy mấy người dìu Giamin mặt tái nhợt đi ra.
Raia cởi chiếc áo ấm của mình rải lên sàn xe, một người trong đám công nhân đưa thêm chiếc nữa, và đặt Giamin nằm lên đấy.
- Này bác ơi, bác làm ơn cho xe chạy nhanh vào bệnh viện nhé, - tay đỡ đầu Giamin, Raia dịu giọng nói.
- Nào, Xécco đi đi, người đánh xe thúc ngựa và lúng búng: Lúc thì “bác ơi, làm ơn”, lúc thì như muốn nuốt sống người ta. Thật chẳng hiểu cô là ai. Còn tôi? Tôi có đồng ý không à? Được… Đây là ngựa nhà nước, nó đã chạy suốt ngày hôm nay. Lưỡi của cô, cô gái ạ, thật chẳng khác gì miệng súng máy…
- Bác nói nhiều quá đấy, bác ạ. Cho xe chạy thôi. – Raia ngắt lòi người đánh xe rồi cúi xuống người ốm, dịu dàng nói: - Gắng chịu tí nhé, đến nơi bây giờ.
… ngay ngày hôm ấy, người ta đã mổ cho Giamin. Thì ra cậu bị đau ruột thừa cấp tính. Nếu để chậm nửa giờ nữa, việc cứu chữa sẽ rất khó khăn.
Ba ngày sau, Raia Alếchxâyêva và Xécgây đến thăm Giamin. Họ mang theo đường, kẹo làm bằng bột hoa quả và một bức thư ngán từ biệt của anh em trong đoàn.
Đọc xong, Giamin lo lắng hỏi:
- Đoàn sắp lên đường à?
- Vâng, ba giờ nữa…
- Còn tôi thì sao?
- Biết làm thế nào, đội trưởng. Một khi không may phải thế, -Raia đáp - Bọn mình ai cũng lấy làm tiếc. Sống với cậu quen rồi… Nhưng không sao, cậu sẽ ở nhà… Cậu khá lắm! Đoàn trưởng cứ tiếc mãi… Anh ấy nói rồi cậu sẽ trở thành một cán bộ lãnh đạo tốt. Đường và kẹo đây là do anh ta gửi đến, không hiểu kiếm đâu ở một nhà ăn đặc biệt. Anh ta bận chạy việc không thể đến thăm được.
- Cậu biết không, đoàn trưởng không cho đốc công Tabacốp cùng đi – Xécgây nói - Bảo ở đấy công việc phức tạp, sợ anh ta không đương nổi, vì anh ta không biết làm việc với mọi người. Thay Tabacốp, người ta cử đến một anh chàng rất trẻ, từ mặt trận mới về. Trước chiến tranh, anh này học ở Trường đại học giao thông đường sắt Mátxcơva. Anh ta vừa điều trị ở quân y viện Ircútxơ, ngực đầy huân chương! – Xécgây đưa tay xoa khắp ngực, cười như chính mình được tặng những huân chương ấy.
Giamin lắng nghe, hồi hộp quá không nói được gì. Cậu không sao hình dung nổi là cả đoàn lên đường mà cậu lại ở nhà. Vì với đoàn tàu khôi phục này, cậu còn có một ước mơ lớn nữa, là dưới làn đạn, trong khói bom, cậu sẽ không ngại hi sinh, xông lên sửa chữa những đoạn đường sắt bị hỏng và những chiếc cầu bị đánh sập… Và lúc ấy, thế nào cậu cũng sẽ đựơc kết nạp vào Đảng.
- Các đồng chí, đã hết giờ thăm bệnh nhân. Người bệnh cần được yên tĩnh, - chị y tá đã đứng tuổi nghiêm khắc nói và mở cửa phòng bệnh.
Giamin kéo lại chiếc chăn bị tuột không cầm được nước mắt, hỏi:
- Đã đi rồi à?
- Cậu thấy đấy, người ta đuổi… Ở đây đầy đủ tịên nghi và sạch quá. Mình có nằm đây suốt đời cũng được – Xécgây khẽ nói.
- Thôi bọn mình đi, đội trưởng nhé. Đừng buồn. – Raia đặt môi mình lên má nóng của Giamin - Thiếu cậu bọn mình cũng sẽ buồn… - Cô khẽ vỗ vai Giamin và đưa tay vuốt mái tóc cứng của cậu – Ta đi thôi. Xécgây.
Xécgây bước hai bước về phía cửa, chạy nhào lại ôm Giamin rồi chạy ra khỏi phòng.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
Chương XV
Trở lại xưởng cơ khí

Ra viện, Giamin trở lại xưởng cơ khí. Các bạn sung sướng đón cậu. Những bác công nhân lớn tuổi bắt tay, hỏi han về tình hình sức khoẻ và hầu như người nào cũng nói:
- Nghĩa là cậu đã trở lại với bọn mình? Tốt lắm. Chứ không, bây giờ đàn ông còn lại ít lắm, chỉ độc có đàn bà và trẻ con…
Giamin sung sướng nhận thấy mình là người cần thiết đối với xưởng. Cậu lúng túng đáp lại như thanh minh:
- Cháu bị ốm nên người ta để lại…
Giờ giải lao, các cậu khác vây quanh Giamin, tranh nhau kể cho cậu nghe chuyện xưởng. Giamin biết được là bây giờ thợ nguội Nunhikianốp ít khi ở xưởng mà thường đi đây đi đó dạy nghề cho người khác. Anh ta không thích việc này, mà để mất người như thế đốc công Xamôrucốp cũng không lấy làm mừng.
Các cậu rất khoái chiếc xe tải một tấn rưỡi chạy bằng củi và kể về chiếc “Xamôva” tự hành này một cách say sưa với đủ các chi tiết. Người lái nó là Tôlia Xidốp, 16 tuổi, trước đấy lái xe kiểm ray. Cậu thanh niên không lấy gì làm bảnh trai, tóc vàng hoe này đã mấy tháng liền loay hoay với chiếc xe mà người ta đã bỏ đi từ hồi trước chiến tranh, đứng gỉ sau sân xưởng. Để chữa nói, Tôlia đã khéo léo tranh thủ sự giúp đỡ của một số thợ cơ khí, thợ hàn và thợ nguội có kinh nghiệm. Họ làm tất cả những gì Tôlia yêu cầu, nhưng trong bụng có lẽ ít người tin là đống sắt này một ngày nào đó có thể chạy được. Khi chiếc xe được chữa xong thì một vấn đề mới nảy ra: kiếm đâu ra bánh xe? Tôlia đã hỏi tất cả các lái xe, lùng hết mọi ga-ra, nhưng ở đâu người ta cũng bảo cậu: “Thì bọn mình cũng không có!”. Thủ trưởng tuyến đường sắt mà cậu yêu cầu giúp đỡ, đã gửi giấy đi khắp nơi, cho tới khi từ Ircútxcơ người ta gửi đến môộ bộ bánh xe cũ kĩ, phẳng lì như đầu một anh hói. Nhưng cái đó không hề làm Tôlia buồn. Cậu mỉm cười sung sướng, đưa tay xoa mặt bánh sáng loáng nói:
- Không sao, móc xích vào, chạy cứ gọi là như máy kéo!
Và rồi một hôm, chiếc xe kì lạ kia đã từ ga-ra bò ra, phụt khói vàng sặc sụa. Nhiều người bỏ cả việc chạy ra xem sản phẩm của Xidốp. Còn Xamôrucốp, một người luôn nghiêm khắc, thì đang giấu nụ cười trong bộ ria ám khói của mình, báo cáo bằng điện thoại lên thủ trưởng tuyến đường sắt:
- Xidốp, Tôlia Xidốp đấy, ma lanh thật. Cậu ta đang cho xe chạy trong sân! Có ngộ không?
Mỗi ngày Tôlia ngồi sau tay lái từ 12 đến 14 giờ, nhiều khi còn ngủ ngay ở đấy. Cậu chở than, các thanh ốp cũ, đinh ray cho phân xưởng rèn. Lúc rỗi cậu còn chở cả khoai tây cho công nhân, chở cỏ khô mà cậu đã trực tiếp giúp chất lên xe. Người lớn lấy làm ngạc nhiên trước sức chịu đựng và tính kiên nhẫn của cậu.
Thỉnh thoảng thủ trưởng tuyến đường sắt lại mời Tôlia vào phòng mình. Đầu tiên, ông nói xa xôi như: thế nào, đồng chí Xidốp, khỏe mạnh chứ và không làm việc quá sức đấy chứ, có mua được gì bằng phiếu lương thực không, có chuyện gì cứ trực tiếp gặp tôi… Và cái xe vẫn chạy đấy chứ? Tôlia gật đầu, nói là xe chạy bình thường, mọi việc đều tốt đẹp. Tiếp đó, giọng thủ trưởng trở nên cứng rắn hơn, và ông yêu cầu Tôlia đánh xe đến nơi khó khăn nhất lúc ấy
- Vâng, - Tôlia nói
- Tôi nghĩ, ba ngày về được chứ?
- Vâng, cháu đã đến đấy – Tôlia bình tĩnh đáp
Tôlia được Xtêpan Xôcôlốp đưa vào xưởng cơ khí. Trước đấy, suốt mấy tháng cậu chuyên đi tàu lậu vé tìm mẹ và các em cậu bị lạc ở Kirốp
Xtêpan nhìn thấy Tôlia khi cậu đang đứng cạnh cửa nhà ăn, mắt dán chặt vào những đĩa xúp tầm ma
- Này cậu bé, con ai và từ đâu đến? – Xtêpan cho xe của mình lăn lại gần, hỏi.
- Cháu từ Lêningrat…
- Đi xa đấy… Bố mẹ đâu?
- Bố là dân quân, còn mẹ và các em cháu thì lạc ở Kirốp…
- Thì ra tình cảnh của anh bạn cũng gay nhỉ?
- Vâng…
- Bao nhiêu tuổi rồi?
- Đã 16 rồi ạ…
- Trông bề ngoài có vẻ ít hơn… Có muốn ăn không?
- Ai bây giờ không muốn ăn?
- Cậu nói đúng. Nếu vậy thì đi…
Tôlia kiên nhẫn đứng chờ cô bán hàng dùng kéo cắt ô phiếu của Xtêpan.
- Cô ta không ăn lận của bác chứ? – Tôlia hỏi khi hai người ngồi xuống bàn.
- Không! Sao lại thế?
- Sao cô ta cắt có vẻ nhiều thế?
- À, vì bác đặt cho cháu một lúc hai suất mà.
- Ra thế, cảm ơn bác…
Trong khi ăn, Xtêpan biết được là Tôlia biết lái ô tô; trước kia cậu trong nhóm học nghề.
- À này, cạnh xưởng cơ khí có chiếc xe “Xamôva”, cháu có chữa cho nó chạy được không? Nếu được thì hoan hô giai cấp công nhân Lêningrat!
- Cần xem đã… - Tôlia nói vẻ người lớn.
Người ta ghi tên cậu là học nghề thợ nguội và cho lái máy kiểm ray. Bốn tháng sau cậu đã đi trên chiếc “Xamôva” của mình.
Tất cả những điều này mãi sau Giamin mới biết, khi cậu tiếp xúc nhiều hơn với Tôlia. Còn bây giờ, cậu hơi lơ đãng nghe các bạn tranh nhau kể về những gì đã xảy ra trong khi cậu đi vắng.
- Samiliép, Piốt Pêtrôvích cho gọi cậu đấy, - vừa đổ rác vào thùng, thím lao công Dina bảo Giamin – Mà sao lâu nay không thấy cậu đâu cả?
- Cháu đi công tác…
Khuôn mặt đầy râu xanh đen của Piốt Pêtrôvích có vẻ lo lắng
- Cháu đã thấy người ta gửi kèm cho bác bao nhiêu là chàng trai và cô gái rồi chứ? Cấp trên họ cứ nghĩ là “Xamôrucốp sẽ đảm nhận được. Anh ta khỏe lắm”. Thế mà bác đã bắt đầu thấy sức khoẻ đang suy sụp dần. Kìa, ngồi xúông. Cháu biết đấy, trong bọn họ chưa ai bao giờ biết cầm búa trong tay là gì. Xtêpan Xôcôlốp chuẩn bị dụng cụ cho họ… Công việc thế đấy. Còn cháu thế nào? Vừa rồi làm mẹ cháu cuống lên. Khi cháu vào viện, mẹ cháu chạy lại đây. May mà không sao. Bố trí cháu vào đâu bây giờ nhỉ?
- Đâu cũng được… - Giamin nhún vai, cảm thấy lúng túng, khi thấy đốc công nói về việc của xưởng với cậu một cách tin tưởng như vậy. Cậu rụt rè đặt giấy phép nghỉ việc của bác sĩ lên bàn.
- Đi đâu cũng được… tốt, tốt. Đội cháu bây giờ do Côlia phụ trách – ông vân vê tờ giấy trong tay - Được, hay cháu sang làm bên phân xưởng dụng cụ một hai tháng, giúp Xtêpan. Khi nào khoẻ hẳn ta sẽ xem sau, được không?
- Vâng
- Hôm nay còn nghỉ, mai đi làm. Có điều là không được mất tinh thần đấy.
Ở phòng Xamôrucốp ra, Giamin lại tạt vào chỗ các bạn.
Côlia mải nhặt một thanh ốp đường ray nên không nhận ngay ra bạn. Thanh ốp thuộc cỡ lớn, vụn sắt tuôn ra từ mũi đục, nóng đến nỗi làm sôi cả dầu mỡ. Côlia làm việc nhịp nhàng, say sưa, mỗi lần đóng búa lại khẽ “ự” lên trong cuống họng. Tóc cậu đẫm mồ hôi, bện lại với nhau. Trên tường, bên cạnh có treo một chiếc cờ nhỏ ba góc với dòng chữ vàng in nền đỏ: “Đội thanh niên tiên tiến”.
Côlia ngừng chặt, để chiếc búa sang bên cạnh, lấy tay lau những giọt mồ hôi lớn trên trán, và chỉ lúc này cậu mới nhìn thấy Giamin.
- Đến lâu chưa? - cậu hỏi - Thậm chí bọn tớ không vào bệnh viện thăm cậu được. Suốt cả tháng ở trên mặt đường. Thay ray mà. Hầu như làm suốt ngày đêm. Thế nào, đốc công bố trí cậu ở đâu?
- Tạm thời làm việc với bố cậu, sau sẽ hay, bác ấy bảo thế.
Gôga và Vichia đi lại. Mỗi cậu vác trên vai bảy thanh ốp. Hai cậu ném chúng xuống đất đánh ầm một cái.
Các cô gái làm việc bên những máy khoan và máy tiện tò mò nhìn sang cánh thợ nguội. Khi Giamin sang phân xưởng dụng cụ, một cô hỏi Côlia:
- Ai vừa nói chuyện với cậu đấy? Sao mặt cậu ta xanh như vậy?
- Đội trưởng cũ của bọn mình đấy, Samiliép. Còn da xanh à? Cậu mà bị người ta rạch bụng ra thì da cũng thế. Bây giờ cậu ta sẽ làm việc ở đây.
Hôm ấy Giamin tới trường. Người đầu tiên cậu gặp là Valêra. Vừa chữa lại áo dạ phần dưới dây nịt, cậu ta cười mỉa:
- Nghe nói cậu đã đi cùng đoàn khôi phục rồi cơ mà…
- Mình cũng nghe nói là toàn lớp mười đang làm việc ở nông trang mà cậu thì nhở nhơ ăn diện ở đây, - Giamin đập lại
- Nhưng mình có giấy nghỉ…. Mình ốm… Vừa mới đưa cho hiệu trưởng xong…
- Cứ trông đấy thì biết cậu ốm hay không. Béo mượt như một con lợn con. Có bắt đi kéo cày thì cũng đáng…
- Thì việc gì đến cậu? – hai má Valêra bừng đỏ - Cậu có làm thì cứ việc làm, còn chuyện học tập ở trường thì đừng xỏ mũi vào. Việc của cậu là nhặt cho nhiều, ném cho xa….
- Để bây giờ tao cho mày xe thế nào là “nhặt nhiều ném xa” này! Mọi người đang phải làm thay mày – Giamin nắm chặt nắm đấm, xông lại Valêra.
Cậu căm phẫn đến tột độ, mắt như mờ hẳn đi. Sự bất công được hợp pháp hoá bằng giấy phép của bác sĩ là một lời thách thức, một sự nhạo báng đối với cậu và các bạn!
- Đấy, giấy phép của mày đây! – Giamin tát mạnh vào cái mặt của Valêra – Cho chừa cái thói nhạo người!
Valêra cũng xông vào đối thủ của mình
- Bây giờ tao sẽ cho mày biết tay!
- Về nhà học đấm đi đã! – Giamin khoá trái tay cậu ta lại, đè đập đầu xuống đất.
- Ái! Đau! Buông ra! – Valêra kêu thét lên
Bỗng một giọng nói nghiêm khắc vang lên sau lưng hai cậu:
- Không được đánh nhau nữa ! Valêra, em ốm kia mà? Có chuyện gì thế? – Ruvim Ixacôvích nghiêm khắc hỏi
Cả hai đứng im
- Thế nào, không nghe tôi hỏi gì à? Nếu vậy để tôi nhắc lại; chuyện gì đã xảy ra? - Giọng ông hiệu trưởng vang lên trong hành lang. Ông bực mình nhấc kính khỏi mắt, hấp háy đôi mắt cận thị.
- Dạ, chúng em chỉ… thế thôi ạ - Giamin rụt rè nói
- Cậu ấy đánh em trước, - Valêra cũng lên tiếng.
- Các em thật chẳng khác gì trẻ con. Còn em, Daixép hay đấy… Đã ốm, phải về nhà.
- Thế thầy nghĩ người ta cho em giấy này là không đúng hay sao? Nghĩa là bác sĩ nói dối? – Valêra trâng tráo nhìn ông.
- Tôi đã cho em nghỉ việc ở nông trường theo giấy ấy. Người ốm phải nằm trên giường chứ không phải gây sự đánh nhau.
- Không phải em gây sự mà cậu ấy đánh em trước…
- Tôi không hỏi anh đánh trước, ai đánh sau. Người ốm, một khi được phép nghỉ lao động chân tay, phải có một chế độ thích hợp. Em hiểu tôi chứ? - giọng ông run lên – Thôi, về nghỉ! Còn em, Samiliép, theo tôi.
Valêra khinh khỉnh mỉm cười, như muốn tỏ ra cậu có thể không nghe lời, nhưng rồi cũng miễn cưỡng bỏ đi.
- Em không xấu hổ à, Giamin? – Ruvim Ixacôvích nói khi hai người đến phòng ông - Một công nhân, một người tự lập mà hành động như một đứa trẻ - Ông đi đi lại lại trong phòng, luôn xoa xoa mấy đầu ngón tay thon, nhỏ như muốn giật chúng ra khỏi bàn tay – Thế nào, định ngồi im mãi hay sao?
- Thưa không, Ruvim Ixacôvích ạ, em tiếc là chưa kịp nện cho hắn một trận nên thân!
- Cái gì? - cặp kính của ông tụt xuống gần đầu mũi.
- Vâng, em lấy làm tiếc. Hắn trâng tráo lắm. Thầy cũng biết là hắn khoẻ như vâm, vẫn cho nghỉ theo chế độ nằm giường. Chỗ em làm việc ít khi có ai nghỉ, mặc dù được phép nghỉ, ngay cả khi sốt cũng vậy. Chỉ trừ lúc không thể dậy được mới thôi… Không lẽ thầy lại tin là hắn ốm thật?
- Ngồi xuống… Cậu ấy có giấy chứng nhận là đang ốm… Thôi, không cần nói thêm về chuyện này nữa. – ông gõ gõ đầu ngón tay xuống bàn – Công việc của em ra sao? Việc học hành sẽ ra sao đây?
- Em ốm… Bây giờ khỏi rồi. Ngày mai em sẽ đi làm, - Giamin lơ đãng nói, cố tránh nhìn vào mặt ông hiệu trưởng - Thậm chí tất cả các cô gái cũng đi nông trang, - cậu bỗng nói - Chẳng nhẽ thầy lại chịu thế được, Ruvim Ixacôvích?
- Tôi đã yêu cầu Daixép phải lập tức tới nôgn trang nhưng cậu ta mang giấy phép bác sĩ lại. Thành ra đành chịu.
- Thế thì còn sự thật thì sao? Chính nghĩa thì sao?
- Sao à, phải đấu tranh, em ạ…
Giamin cảm thấy mình không nên nói tiếp về chuyện này nữa.
Ruvim Ixacôvích phá tan sự im lặng kéo dài:
- Không nên bỏ học, Giamin à. Mà chỉ còn có một năm nữa thôi. Hãy cố lên. Em có nhớ là em đã hứa với Xưrômiachin rồi không?
- Em sẽ học, thưa thầy Ruvim Ixacôvích ạ. Bây giờ đỡ vất vả hơn. Em sẽ làm một ca… Sau này thế nào em cũng sẽ tới Mátxcơva, sẽ thi vào đại học…
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
Chương XVI
Chuyến tàu đặc biệt

Giamin làm ở xưởng dụng cụ đã được ba tuần. Bao giờ cậu cũng có cái cảm giác bất tiện, như thể người nào cũng dí ngón tay vào lưng cậu và nghĩ: “Khéo kiếm cho mình một chỗ ấm quá đấy chứ!”. Vâng, ở đây quá ấm, dễ chịu và yên tĩnh thật. Những chiếc dụng cụ mới toả mùi như mùi rong biển. Lúc còn sống, cụ Cudia vẫn bảo là trong nhà không hiểu sao sắt có mùi rong biển. Ở xưởng cơ khí chưa ai thấy biển bao giờ và mọi người tin ở lời bác thuỷ thủ già. Thật ra không phải không có người cho ông cụ là kì quặc.
Nhiều lần, khi thấy các bạn bới từng tấn sắt vụn, tìm chặt các thanh ốp ngoài trời lạnh, Giamin đỏ mặt bảo Xtêpan là cậu sẽ không làm việc ở phân xưởng dụng cụ nữa.
Khi ấy ở phân xưởng rèn và nguội, có những chiếc cửa sổ chiếu sáng đặc biệt thuận lợi. Những người đục lỗ ngoài trời thường ghen tị với những người làm việc ở nơi ấm.
- Không sao, cháu ạ - Xtêpan nói – Cháu tưởng bác không nghĩ gì khi thấy các cháu còn bé mà phải khuân những thanh sắt nặng thế à? Trước kia bác có bao giờ để cô Grunhia khuân cái gì nặng đâu. Thế mà, bây giờ bác chỉ ngồi trên xe này và nhìn thôi – bác nói rồi vỗ mạnh bàn tay to của mình xuống bánh xe – Cháu ở đây cho khoẻ hẳn đã. Người ta mổ bụng cháu chứ có phải xước tí tay tí chân gì… Còn việc cháu thấy khó coi, thế là tốt. Thằng Côlia nhà bác đi làm về mệt là như thế mà vẫn lại gần mẹ: “Để đấy, con xách nước, lấy củi cho…”
Không biết Giamin còn phải làm ở phân xưởng dụng cụ bao lâu nữa, nếu một sáng tháng Giêng trời xanh, đốc công không cho triệu tập tất cả mọi người tới phân xưởng nguội. Người hơi cúi xuống, hai tay chắp sau lưng, đốc công đi lại trước công nhân. Sau ông là người đại diện tuyến đường sắt, mặt nhợt nhạt, mặc chiếc áo ấm có đeo phù hiệu.
Không ngẩng đầu, Xamôrucốp nói lúng túng:
- Ở tuyến đường sắt đang thiếu người. Ai được miễn lao động nặng, có thể ở lại xưởng.
Cả xưởng hầu như phải đóng cửa mấy ngày, nhưng kế hoạch sản xuất vẫn giữ nguyên. Ngược lại càng ngày càng cần nhiều đinh và thanh ốp hơn…
Công nhân nhìn nhau thở dài, nhưng vẫn giữ im lặng. Đốc công nhắc lại:
- Ai được miễn lao động nặng có thể ở lại xưởng… - rồi quay sang nhìn ông đại diện tuyến đường sắt đang vò nhàu chiếc mũ lông chó trong tay - Việc rất gấp, các đồng chí ạ.
- Bây giờ ở đâu mà chẳng gấp? – Xêmiôn Tôcarép cất giọng ồ ồ nói. Anh là thợ làm đinh ốc, tròng trắng mắt hơi vàng. Nghe nói đau gan. Một lần anh ta mắc bệnh vàng da và cứ thế phải chịu khổ sở từ đó tới nay, và cũng vì thế mà không phải bị động viên vào bộ đội. Như đọc được ý nghĩ của đốc công, anh ta nói:
- Thế kế hoạch cũ phải giữ nguyên chứ? Quí này đã bốn lần phải lên tuyến đường sắt làm việc rồi. Mà chúng ta có được ai giúp đỡ để hoàn thành kế hoạch của mình đâu?
Ông đại diện đội chiếc mũ lên đầu nói to, giọng hồi hộp:
- Đã là lệnh thì không được bàn ra bàn vào! Đây không phải là mít tinh! - Rồi sau như chợt tỉnh, hạ giọng nói tiếp: - Kế hoạch không giảm, không ai giúp các đồng chí… Cái thời bây giờ thế đấy. Chúng tôi sẵn sàng giúp các đồng chí, nhưng có phải ai cũng vào đứng máy ngay được đâu. Đúng thế chứ? Các đồng chí nhất định sẽ không cho…
- Hẳn là thế, - giọng ồ ồ của Tôcarép lại vang lên – Tôi thì đến chiếc búa tôi cũng chẳng muốn giao cho ai…
- Chúng mình biết cậu tham lam lắm, Xêmiôn ạ. Mùa đông cũng chẳng xin được cậu cho nắm tuyết! - một người nào đó nói chen vào.
- Thôi, các đồng chí tranh cãi nhau thế đủ rồi, - đốc công giận dữ ngắt lời - Nếu tất cả đều khoẻ thì xin mời mặc quần áo vào. Xe kiểm ray kéo toa sàn đang chờ chở các đồng chí đi.
- Piốt Pêtrôvích – Giamin nói với Xamôrucốp – Bác cho cháu đi cùng với đội.
Đốc công vân vê bộ ria lốm đốm trắng của mình, lẩm bẩm một điều gì đó không ai hiểu, rồi hỏi:
- Thế Xtêpan thì sao? Bác ấy còn cần cậu ở đây. Hơn nữa bây giờ cậu không được làm việc nặng…
- Không, cháu khoẻ lắm, thật mà. Cho cháu đi đi, Piốt Pêtrôvích ạ! Thiếu cháu bác Xtêpan vẫn làm hết việc…
- Nếu thế thì đi, - Xamôrucốp nói vẻ cau có – Các bạn cậu sẽ vui hơn. Rồi như tự nói với mình, ông nói thêm - Gặp hoàn cảnh ấy rồi mình cũng làm thế…
- Thế là ông tướng vẫn cứ xin đi cho được, - Xtêpan nhìn qua cửa sổ nói. Thời gian gần đây bác hay suy nghĩ thành tiếng như vậy – Mà cậu ấy làm thế là đúng. Đã quyết, xin bằng được!
Trong xưởng trở nên vắng vẻ. Lăn trên chiếc xe của mình (mà vẫn gọi là đi) Xtêpan lúc thì nhặt chiếc cờ lê do một người nào đó bỏ quên, lúc thì nhặt chiếc búa rồi cẩn thận xếp chúng vào chỗ. Bác dập tắt ngọn lửa còn cháy không trong lò, lấy xẻng đập đập vào mẻ than nóng đỏ, dùng chổi khéo léo phủi sạch bụi trên thành cỗ máy, xong xuôi mới có hai phụ nữ đang hàn các thanh ốp. Chiếc máy biến áp kêu rè rè, căng thẳng. Que hàn điện mòn dần, nổ lách tách như những cây nến loại tồi. Không muốn làm người khác phải ngừng việc vì mình, Xtêpan lặng lẽ cho xe đi xa: “Chẳng khác gì sau một trận đánh! – bác nghĩ – Cũng yên tĩnh như thế…. Con người kể cũng lạ. Khi trong xưởng ầm ĩ tiếng máy thì muốn yên tĩnh, bây giờ được yên tĩnh, cũng chẳng lấy thế làm sung sướng…”
Công nhân xưởng cơ khí được đưa đến một ga xép. Chiếc toa sàn giật mạnh đánh sầm một cái khi vượt qua đường nối. Mọi người ngồi khít bên nhau, giống như những con quạ lớn xù lông, nói về tình hình chiến sự, về mặt trận thứ hai.
Chiếc xe kiểm ray chạy bằng lò khí kéo toa sàn không lấy gì làm nhanh lắm, nhả khói mù mịt đến nỗi công nhân phải văng tục và nguyền rủa cả công nhân viên hoả xa lẫn thời tiết, cả đường sắt lẫn những người đã nghĩ ra “lò hun khói” kia.
Cái lạnh luồn qua áo, chui vào người, ngón tay cứng đờ. Mọi người có lẽ bị rét cóng nếu không thay nhau lại ngồi sưởi trong xe kiểm ray.
Chiếc xe kiểm ray dừng lại cạnh một tốp công nhân hoả xa gồm chủ yếu là phụ nữ và thiếu niên. Họ đổ sỏi, lấy những chiếc cuốc chim, thẳng, tù, đập chèn đá dưới tà vẹt. Cách đó không xa, tám công nhân đang sửa chữa những chỗ nối ray bị hở. Họ vừa làm vừa hò: “một, hai, nào!” để phối nhịp. Vì lạnh, nên đường ray có lại làm thành những khe hở lớn. Xa hơn chút nữa, một số người đang nắn thẳng đường ray, thỉnh thoảng lại đặt que gạt ướm thử. Đặt xà beng và đòn kê dưới đường ray, theo tiếng hô chỉ huy, công nhân nhất loạt kéo về phía mình, người ngả ra sau. Gặp một lực kéo mạnh, thanh ray miễn cưỡng chịu trở lại vị trí cần thiết. Cách họ khoảng mười mét là một người mặc áo khoác ngắn, cổ áo dính đầy những giọt băng nhỏ, hai tay để sát miệng như muốn dùng hơi sưởi ấm chúng, cất giọng khàn khàn kêu to:
- Kéo về phía mình! Tí nữa… Thế, - rồi anh ta ngồi xuống chăm chú quan sát chỗ cong của đường ray, rồi lại kêu to - Đẩy ra!
Nhảy từ toa sàn xuống, những người mới đến mệt nhọc lê đôi chân cứng đờ, đôi môi buốt không muốn động đậy. Một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi, có thân hình lực sĩ, đôi gò má nhô cao, mặc chiếc áo ấm đi lại gần họh. Đôi mắt nhỏ, sâu của bác ta nhìn như dán vào từng người.
- Ai phụ trách ở đây? – bác ta lí nhí hỏi. Giọng hoàn toàn không cân xứng với thân hình đồ sộ của bác làm mọi người bất giác cười.
- Tôi, Macar ạ, - Piốt Pêtrôvích đáp
- Bác cũng đích thân đến à? Tốt lắm!
- Tôi chẳng sung sướng gì mà nhận cái “tốt lắm” của anh – Xamôrucốp lẩm bẩm nói - Kế hoạch của mình thì gác lại để giúp anh. Rồi sau, anh lại còn viết báo cáo lên trên nào là không cung cấp đủ đinh, thanh ốp, sửa chữa đường chậm… Tôi chẳng lạ gì anh.
- Có thể thế, Piốt Pêtrôvích ạ, tôi vẫn còn cái nhược điểm ấy – Macar cười xoà
- Thôi được, nhưng nên nhớ là cánh này cũng chẳng phải tay vừa đâu. Tốt hơn là nên bảo chúng tôi bây giờ phải làm gì - rồi Xamôrucốp quay sang phía công nhân mình – Đây là đốc công hoả xa Muxatốp. Anh ta là ông vua ở đây, là tỉnh trưởng, là ban chấp hành công đoàn… Ai có ý kiến gì cứ gặp anh ta.
- Vua với quan gì? – ông đốc công hoả xa khiêm tốn đáp. Nhưng nhìn đôi mắt bác ta cũng biết là lời nói của Xamôrucốp đã làm bác hài lòng.
Ông đại diện tuyến đường sắt đi lại, tay che miệng, ho rũ rượi.
- Chào đồng chí Muxatốp. Dụng cụ và chỗ làm việc đã sẵn sàng rồi chứ? - rồi không đợi trả lời, vẫn ho, ông nói tiếp – Chúng tôi phải điều động người xưởng cơ khí lại đây giúp anh. Làm thế nào để mọi người không phải đứng không một phút nào.
Ông đốc công hoả xa gật đầu liên tục
- Sẽ không có ai phải đứng không đâu. Tôi sẽ trực tiếp theo dõi. Đáng lẽ tôi không nhờ ai giúp đỡ, nhưng đoạn này hỏng nặng quá. Hơi lạnh một tí là đường ray lại cong, hết chỗ này đến chỗ nọ. Trước mùa lạnh chúng tôi đã nắn thẳng tất cả, lựa chọn thanh tà vẹt, thay gần hết các bộ phận chống xô, làm mới lại ba-lát… Nhưng gặp cái đợt rét này, đường ray lại giở chứng… Tôi phải để hai người luôn kiểm tra cái đoạn đường xuống tấm tà vẹt làm như nó là nguyên nhân của mọi khó khăn trên.
- Chúng tôi biết tất cả những điều ấy, Macar ạ. Nào, anh giao việc đi – Piốt Pêtrôvích ngắt lời bác ta. Khi mọi người đi nhận dụng cụ, bác trách Muxatốp: - Macar ạ, khi nào tôi cũng thấy anh phàn nàn là làm sao? Với anh, tôi thấy cái gì cũng tốt. Đáng lẽ anh pảhi dạy tôi mới phải.
- Thế anh cho là tôi nói dối à, Piốt Pêtrôvích? Tôi tự phịa ra chuyện đường xấu hay sao?
- Không, tất cả những điều ấy là đúng sự thật. Nhưng anh nói trông thảm hại quá, đến nỗi tôi cũng muốn oà lên mà khóc với anh.
- Cuộc sống đã dạy tôi, Piốt Pêtrôvích ạ, là càng khóc nhiều thì người ta càng ít chửi mà lại càng giúp thêm - Muxatốp cười không thành tiếng.
- Còn tôi, Macar ạ, không làm sao học được điều ấy… Khi người khác khó khăn, tôi không thể chảy nước mắt: làm ra vẻ mình khổ hơn người khác.
- Thì mỗi người một tính. Anh là người thông minh, sĩ diện nhiều. Anh là người sĩ diện đối với tôi thì không là cái gì cả. Tôi là thằng chất phác, cởi mở - Muxatốp quay đôi mắt ti hí nhìn sang bên – Mà tôi, Piốt Pêtrôvích, cố gắng đấy cũng có phải cho mình đâu… Quân của tôi chỉ có đàn bà, con gái thôi mà tàu vẫn cứ phải chạy. Biết làm thế nào?
- Thôi được, mặc thây anh. Ta đi.
Giamin được cử sang toán thay đường ray. Cùng làm việc cới cậu là một phụ nữ khoảng bốn mươi tuổi, người không cao, có đôi tay như đàn ông. Chị ta mặc chiếc áo ấm ngắn màu đen cột chặt bằng chiếc thắt lưng da (có lẽ là của chồng để lại, - Giamin nghĩ) và một chiếc quần bông dày, trông chị ta như một con gấu. Chị làm việc khéo léo, chậm rãi và im lặng. Chiếc cuốc lưỡi hình móng bò thoắt đi thoắt lại trong tay chị gọn gàng như chiếc que cời bếp, móc vào đầu đinh ray. Chị đu người lên cán, chiếc đinh miễn cưỡng, chậm chạp nổi lên. Vì đã được chữa đi chữa lại nhiều lần, đầu đinh không chịu bám vào lưỡi cuốc. Lúc đầu Giamin rất lúng túng: khi thì đầu đinh tuột, khi thì cán cuốc cứ nhảy lên. Nhưng cậu quen dần, như răng của chiếc cào cũ, chiếc đinh ray bắt đầu chịu chui ra khỏi ổ của mình.
- Giỏi lắm, - chị kia lên tiếng, giọng khàn khàn - Thế mà tôi cứ nghĩ là người ta đã cho tôi một cậu công tử. Giỏi lắm. Có điều đừng quăng đinh như thế. Có biết quai búa không? Chúng ta phải thay ray đấy.
- Biết. Em từng làm thợ quai búa…
- Thế thì hay lắm. Chẳng mấy chốc cậu sẽ học được nghề bọn mình.
Giamin chờ chị ta hỏi tên cậu là gì, nhưng chị ta vẫn cứ gọi “cậu” mãi.
Công việc nặng nhọc chẳng mấy chốc đã làm nóng những người công nhân bị tê cứng vì lạnh. Hơi bốc lên từ người họ. Ông đốc công hoả xa đi lại
- Marơpha, người giúp việc của cô xem chừng làm được đấy. Nhanh nhẹn lắm.
- Vâng, Macar ạ, cậu ấy khá lắm. Bây giờ chúng tôi nghỉ một chốc rồi sẽ thay ray.
Marơpha và Giamin nhổ chiếc đinh cuối cùng xong, đi lại ngồi cạnh đống lửa. Hầu như mọi người đã đến ngồi ở đấy. Nhiều người hút những điếu thuốc quấn to, một lần rít lại cháy bùng lên. Có tiếng càu nhàu:
- Thuốc với men gì mà nổ như mìn ấy! Không phải giấy quấn nữa mà là thuốc nổ! Thế này thì mù mắt có ngày.
Mùi giấy cháy, mùi thuốc khét át cả mùi thơm của củi thông, mùi dưa hấu của tuyết đang tan cạnh đống lửa rực cháy. Củi nổ lách tách, bắn các đốm đỏ lên bầu trời lạnh, rơi thành những bụi tro màu xám xuống tuyết, xuống vai mọi người. Nhựa cây gặp lửa ngả màu đỏ, chảy thành từng dòng đặc quánh, sủi bọt lên than.
Như đã được quyết định từ lâu, người ta ngồi nói về việc chiến tranh sắp kết thúc và việc các đồng minh sẽ làm gì với nước Đức bại trận.
Muxatốp đi lại, cởi găng, hơ tay lên ngọn lửa, nhìn mọi người rồi cất giọng khàn nói:
- Đi làm đi, các đồng chí. Tàu tốc hành sắp chạy rồi. Phải nhanh lên mới kịp.
Những thanh ray bị thay được xếp thành hàng ra một bên, nhường chỗ cho những thanh mới màu xanh đen, vừa được chở từ nhà máy đến. Vừa đếm từng chiếc một, Muxatốp vừa giao đinh, thanh ốp, ray mới, thỉnh thoảng lại nhắc:
- Nhanh tay lên, sắp có tàu chạy rồi, một đoàn tàu tốc hành…
Mọi người lại bắt tay vào việc. Tiếng búa nện xuống sắt chan chát vang lên bầu trời lạnh lẽo. Tiếng vang dài, khô, như chạy dọc theo ngọn các cây thông già.
Marơpha thận trọng để thanh ốp dưới đường ray, cho chiếc đinh vào lỗ hổng hình vuông, lấy tay giữ rồi khẽ đập chiếc búa nặng lên dầu đinh như vừa đập vừa miết. Theo thói quen, chị nhổ nước bọt vào lòng bàn tay đang mang găng vải nhựa, chính xác quai búa xuống đầu đinh như đâm kim và một chiếc áo cũ. Giamin cũng quai búa theo không kém.
- Cậu khá lắm, - đứng tựa vào chiếc cán búa dài, Marơpha khen – Không chịu thua chút nào.
- Việc này em làm quen rồi, -Giamin bẽn lẽn đáp.
Giamin lắng nghe tiếng nhạc đứt quãng của từng nhát búa đập xuống. Vâng, đúng là nhạc thật! Nếu cậu là nhạc sĩ… Nghe Marơpha đóng đinh, cậu thấy tiếng thứ nhất vang hơi khô, tiếng thứ hai nghe chắc hơn, sung sướng xuyên qua bầu trời, còn tiếng thứ ba thì phá lên cười vui vẻ, đuổi theo hai tiếng trươớ, hoà lẫn với chúng rồi đột nhiên biến mất giữa nốt cao nhất.
Con chim gõ kiến bắt đầu làm việc. Như múôn thi với người, chiếc mỏ của nó liên tiếp tõ vào thân cây rồi dừng lại, ngoảnh cổ lắng nghe tiếng búa của người. Nó bay sang cây khác, lấy mỏ gõ thử xem cây ‘đàn” mới kêu thế nào, rồi vừa lắng nghe, vừa nhìn xuống đoàn người. Đối thủ của nó nhiều, làm nó lo lắng, vội vã, gõ loạn xạ, bực mình bỏ sang cây khác, cuối cùng, có lẽ vì mệt, đã bay mất.
Ở một nơi nào đấy xa xa, khuất sau dãy núi, có tiếng còi tàu vang lại, càng làm mọi người thêm vội vã. Tiếng búa đập nhanh hơn, đá dăm đổ nhiều hơn… Muxatốp chạy hết chỗ này đến chỗ nọ giục:
- Nào, nhanh lên tí nữa. Tàu tốc hành đang đến, - rồi liền đó, vớ vội chiếc xẻng hay chiếc búa bên cạnh, làm giúp mọi người và lại giục: - Nhanh lên, không nghe à? Tàu tốc hành đang đến đấy!
Đã nghe tiếng xình xịch của đầu máy hơi nước từ phía sau rừng taiga vọng lại.
Có một người trong đám công nhân xưởng cơ khí không chịu nổi, càu nhàu:
- Làm đến không kịp thở lại còn giục với chẳng giục.
Khi mọi người túm tụm làm cản trở việc đặt chiếc thanh ốp vào đoạn nối cuối cùng thì từ chỗ đường ngoặt, nơi rừng taiga bị chia đôi, chiếc đầu máy đã xuất hiện. Những con lăn báh xe dẫn màu đỏ như những chiếc bánh xe đồ chơi trẻ con chạy phía trước. Hối hả theo sau là những vòng bánh sắt lớn, vừa chạy vừa như kêu lên: “Đuổi kịp bây giờ, đuổi kịp bây giờ”.
Lần đầu tiên, Giamin được thấy một đầu máy lộng lẫy như vậy. Các bộ phận bằng đồng của nó ánh lên, vàng choé. Thậm chí cậu không tin là tàu hoả có thể sạch và đẹp đến thế.
Đoàn tàu miễn cưỡng giảm tốc độ, thở phì phì như muốn nói: “Sao lại dừng thế này?” rồi đỏng đảnh đánh huýt còi như một anh thổi kèn đồng trong dàn nhạc, thổi một nốt thật thấp, hổn hển thở rồi dừng lại hẳn cách công nhân khoảng ba mươi mét.
- Chà, đẹp quá!
- Hết chỗ nói
- Sao các anh như trẻ con cả thế này? - đốc công là người đầu tiên chợt tỉnh – Tàu tốc hành phải dừng lại mà các anh thì há mồm ra thế! Lần đầu tiên thấy đầu máy à?
- Đúng là lần đầu tiên mới được thấymột đầu máy thế này. Đẹp như đồ chơi ấy! Tiếc là vì bọn mình mà nó phải dừng lại.
Tiếng búa đập lại vang lên, tiếng xẻng xúc đá ào ào. Bây giờ chỉ còn khoảng mười người làm việc. Những người còn lại dùng xẻng và cào sắt vén gọn và nện chặt lớp đá hai bên sườn đường sắt như những người làm vườn thực sự.
Giamin và các bạn lại gần đoàn tàu. Từ những toa đỏ có các tay vịn bằng đồng, hai vị tướng đầu đội mũ lông cừu xám bước ra. Thong thả đi dọc đờng tàu, họ vừa nói chuyện với nhau, vừa hất đầu chỉ về những người công nhân đang làm việc. Vị tướng người cao khoác chiếc áo trên vai, ngực đầy cuống huân chương lấp lánh đến loá mắt.
- Trông kìa, người Nhật! – Gôga kêu to
Các cậu quên ngay hai vị tướng kia, quay sang nhìn toa cạnh, nơi có người mặc áo lông xù xì, từ toa nhảy xuống như những quả bóng. Họ khe khẽ nói chuyện với nhau, giọng đứt quãng, nghe như từ cuống họng.
Ở cửa ra vào của toa khách chở các vị tướng, một người mặc áo ấm kẻ sọc, dọc hai ống quần có hai sọc đỏ bước ra, hỏi:
- Có chuyện gì thế các cậu? Sao tàu phải dừng lại?
- Dạ, thay đường ray…
- À… Thế các cậu làm gì ở đây?
- Sao lại làm gì? – Côlia ngạc nhiên hỏi lại – Chúng cháu làm việc, sửa chữa đường ray. Tàu các bác là tàu tốc hành mà - Cậu nói vẻ vững tin, như muốn khoe bây giờ tàu có chạy được hay không là nhờ cậu. Mắt cậu đảo liên tục, lúc nhìn những sọc đỏ trên quần, đôi ủng bóng lộn hay bộ tóc bạc cắt ngắn của vị tướng, lúc nhìn chiếc thảm nhỏ màu sặc sỡ giải ở lối ra vào, vị tướng mỉm cười hỏi:
- Nghĩa là các cậu đang chữa đường cho chúng tôi?
- Tất nhiên…
- Các cậu làm việc lâu chưa?
- Từ đầu chiến tranh… - Côlia đáp như một người lớn, hai cậu kia thì huých tay nhau, không giấu vẻ tò mò đứng nhìn ông ta.
- Nào, giai cấp công nhân, xin mời vào toa…
Các cậu nhìn nhau rồi lại nhìn vị tướng, vẻ không tin, tưởng ông bày trò trêu các cậu.
- Kìa, sao đứng thế? - vị tướng lại mời - Thời gian ít. Lên đây một chốc cho ấm.
Các cậu còn chần chừ một lúc, chủ yếu là để giữ lịch sự rồi lấy găng tay phủi sạch tuyết ở ủng, bước lên toa. Trong toa ấm và dễ chịu.
- Mời vào, giai cấp công nhân, mời vào, - vị tướng nói rồi đi lên trước.
Các cậu rón rén bước như đi trên mặt kính. Dãy thảm đỏ, mềm và những tấm gương sáng loáng làm các cậu lúng túng. Bây giờ các cậu hối hận là đã vào. Thảm màu gỗ và kim loại óng ánh, cộng với sự yên tĩnh và sạch sẽ đến lạ lùng làm các cậu thấy sợ.
- Thời gian ít lắm, các cậu ạ - vào buồng mình, vị tướngnói, cho tay vào chiếc cặp màu vàng – vì vậy, cái gì cũng phải làm nhanh chóng, theo tinh thần thời chiến mới được. Đúng thế không, giai cấp công nhân? – khuôn mặt tròn, rạng rỡ của ông nở một nụ cười hiền hậu.
“Giai cấp công nhân” đứng im. Toát mồ hôi vì căng thẳng và gò bó, các cậu cựa quậy những chiếc cổ gầy gò của mình, tay bóp chặt mũ, nhìn chăm chú quanh căn phòng. Gôga lập tức để ý đến bao thuốc “Cadơbếch” nằm trên chiếc bàn nhỏ (cậu ta thỉnh thoảng vẫn lén lút hút thuốc), Côlia thì thấy ngay chiếc dao nhíp nhiều công dụng, còn Giamin đưa mắt nhìn qua ô cửa sổ nhìn những người công nhân hoả xa đang làm việc, cậu muốn họ cũng được lên toa ấm dễ chịu này. Vẫn còn đang lúng túng, cậu bí mật ra hiệu giục các bạn đi xuống. Hai cậu kia thích ở đây, làm như không nghe gì. Vị tướng lẩm bẩm bài hát Cachiusa, đang cố tìm một cái gì đấy trong cặp.
- Các cậu có ba mà đây chỉ có hai… Chờ tí nhé, - vị tướng đi ra, lần này huýt sáo bài “Ba anh lính xe tăng”
- Thế này mới đáng gọi là toa chứ! – Côlia nói, tay cầm chiếc dao đưa lên ngắm nghía cẩn thận – Xem này, có cả dùi và kéo nữa.
- Ở đây người ta hút “Cadơbếch” nhé! – Gôga ngắt lời Côlia
- Được đi trong toa này thì khoái nhỉ? Giamin dí nắm đấm xúông chiếc đi văng.
- Ấm, mềm… - Côlia mơ màng nói rồi đặt chiếc dao lại chỗ cũ.
Vị tướng đã quay lại
- Này các cậu, - ông lúng túng nói rồi chìa cho mỗi cậu một thanh kẹo sôcôla – Tôi có cái này cho các cậu đây…
Như đã hẹn trước với nhau, các cậu dấu tay sau lưng, đứng im lắc đầu như những người dũng cảm.
- Cầm lấy, cầm lấy…
- Không, chúng cháu chỉ vào xem toa thôi, - Giamin nói thay cả bọn, người cậu toát mồ hôi hột.
- Cầm lấy, - vị tướng lại nói, rồi nhét thanh kẹo vào tay Côlia – Các cậu là khách của tôi mà…
- Không – Côlia lẩm bẩm đáp, mắt không rời thanh kẹo.
Hiểu được tâm lí các cậu, vị tướng nhét cả ba thanh kẹo vào túi Giamin cười nói:
- Bây giờ thì các cậu tự giải quyết lấy… Mà thôi, ra cửa đi… Có lẽ bắt đầu đi rồi. Rất vui mừng được làm quen với các cậu, với giai cấp công nhâ. Cám ơn các cậu đã chữa đường! – rồi ông vỗ vai từng cậu một.
Các cậu nhảy xuống đường khi tàu bắt đầu chạy, thấy như ấm hơn trước. Tuyết ngả màu hồng dưới ánh mặt trời. Xa xa, rừng taiga hùng vĩ trải dài nhấp nhô như những đợt sóng màu xanh. Chiếc toa chở đại diệt Nhật đi Mátxcơva đàm phán từ từ đi ngang trước mắt các cậu. Hai người Nhật đứng ở cửa ra vào, đang sôi nổi nói chuyện với nhau, chỉ về phía những người công nhân hoả xa đang mệt mỏi đứng bên vệ đường. Những mắt kính dày và những chiếc răng trắng, chắc, ánh lên dưới mặt trời, làm người ta có cảm giác như người Nhật bao giờ cũng cười.
Chiếc đầu máy tuyệt đẹp tăng nhanh dần tốc độ lao vào khe hở cắt đôi rừng taiga, kéo theo một dải khói màu xám. Các cậu say mê nhìn theo đoàn tàu quân sự khác thường này. Đưa cho Côlia và Gôga mỗi cậu một thanh sôcôla, Giamin nói:
- Mình sẽ không ăn… Mang về cho mẹ…
- Mình cũng thế, - Côlia ngắm nghía tờ giấy bọc xinh đẹp nói - ở nhà chắc mừng lắm…
- Mình cũng mang về cho mẹ… Bà mình mà biết thì thế nào cũng tước mất… - Gôga thở dài cho thanh kẹo vào túi.
Các cậu cảm thấy miếng kẹo rất ngon, mùi thơm thoảng bay vào mũi. Cả ba liếm môi rồi chạy lại chiếc xe kiểm ray, ở đấy công nhân đang đứng tụm nhau sôi nổi bàn tán về đoàn tàu tốc hành.
- Rõ ràng là chúng ta đang thắng lớn! – Gôga tự hào nói, rồi vỗ vào vai các bạn như vị tướng vừa làm lúc nãy.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
Chương XVII
Ước mơ thành sự thật

Đối với Giamin và các bạn, mùa đông 1945 trôi qua rất nhanh. Các cậu làm việc mỗi ngày mười hai giờ, hầu như không có ngày nghỉ.
Các đợt tấn công của quân ta ở mặt trận đã tiếp thêm sinh lực cho hậu phương đã hầu như kiệt quệ. Tất cả đem hết sức ra làm việc, ai cũng biết ở mặt trận nào quân ta đang đánh mạnh, và ai là người chỉ huy. Mọi người tranh nhau nhổ đi cắm lại những chiếc cờ nhỏ tí hon trên tấm bản đồ đem sạm vì bụi và bồ hóng. Những người khác đứng xung quanh, ồn ào tán thưởng và bông đùa.
- Cắm ngay vào Béclanh thử nào!
- Thì thế nào mà ta chẳng tới đấy!
- Ấy không được, Gơben không bằng lòng đâu!
- Đúng thế, vì lão ta cứ kêu là quân ta đánh không theo một chiến thuật nào cả!
Một vài người nghe bản tin cuối cùng của phòng thông tin, đi tới chỗ làm việc sớm hơn ngày thường, viết lên bản tin số lượng quân địch bị ta diệt, bị bắt làm tù binh và số phương tiện kỹ thuật ta thu được…
Những ngày này đội thanh niên cộng sản tình nguyện tăng chỉ tiêu sản xuất. Các cuộc họp hay hội ý chớp nhoáng được tiến hành ngay ở chỗ làm việc.
Đốc công Xamôrucốp thường nói với những công nhân hay kêu chỉ tiêu quá cao và không có đủ nguyên liệu:
- Khó khăn hết chỗ nói. Nhưng anh hãy nhìn mấy cậu kia xem…
- Gì mà phải nhìn, lại không thấy hay sao? Các cậu ấy bây giờ thì đâu mà chẳng có!
- Có cái để mà nhìn đấy, các đồng chí ạ. Lứa tuổi này, đáng lẽ còn đang chơi đùa mà đã ba năm nay các cậu ấy lăn lộn trong khói và bụi của xưởng, làm việc như người lớn, mà không hề kêu ca. Có ai nghe các cậu ấy kêu ca bao giờ chưa? Chưa! Đấy, đấy… Trông chúng như những ông già bé nhỏ… Chúng làm ra một nửa sản phẩm của xưởng ta đấy. Thế mà có cậu còn tranh thủ đi học được.
- Đấy là việc của các cậu ấy…
- Không, các đồng chí, đấy là việc của chúng ta, của tôi, của anh, của Nhà nước!
Rồi liếc nhìn những đôi mắt thiếu ngủ của các cậu, Piốt Pêtrôvích nhai nhai những sợi ria nói giọng khản đặc:
- Phải thế, các cháu ạ… Tiền tuyến yêu cầu phải thế. Các cháu hiểu điều đó, - Rồi ông bỏ vào phòng mình, lần lượt gọi địên thoại hết phòng kế hoạch đến đảng uỷ, thủ trưởng tuyến đường sắt. Với ai ông cũng hỏi họ nghĩ gì khi giao cho ông những chỉ tiêu lớn như vậy, và họ quên là xưởng ông hầu như chỉ độc trẻ con làm việc, phải không? Và lúc nào ông cũng đựơc trả lời một câu giống nhau:
- Chúng tôi hiểu, Piốt Pêtrôvích ạ. Chúng tôi hiểu anh lo cho các cậu bé, nhưng bọn phát xít có hiểu thế không, mặt trận có chờ không…
Mặc dù mùa đông năm 1945, Giamin gặp rất nhiều khó khăn - thời tiết lạnh, hay có bão tuyết, luôn phải lưu động, lúc thì vào rừng lấy củi, lúc thì giúp công nhân đường sắt, lúc bốc xếp tà vẹt… cậu vẫn tiếp tục học. Nhiều lần mẹ cậu đã bảo cậu thôi đừng giày vò mình bằng những quyển sách ấy nữa, và nên như người khác tranh thủ ngủ thêm một vài giờ, nghỉ lấy sức, chứ dạo này trông người chẳng ra người, hồn chẳng ra hồn. Hết chiến tranh, các anh cậu trở về, sẽ cáng đáng mọi việc, lúc ấy tha hồ học bao nhiêu thì học.
- Không, con sẽ học xong trường phổ thông năm nay, - kiên nhẫn ngồi nghe mẹ xong, Giamin bướng bỉnh đáp - Mẹ có biết anh Xưrômachin nói gì không? Sau chiến tranh sẽ rất cần người có học! Ông hiệu trưởng cũng bảo vậy, và cả Piốt Pêtrôvích nữa… Họ hiểu hơn mẹ và con!
- Thôi, tuỳ con. Họ là những người thông minh, họ nói đúng. Có điều thấy con thế, mẹ không nỡ.
Bà mẹ không biết gì về ước mơ thầm kín của con trai, về tình yêu của cậu. Còn Giamin thì quyết định là hết lớp mừơi cậu sẽ tới Mátxcơva, sẽ vào đại học. Vì điều này, cậu sẽ sẵn sàng chịu đựng tất cả mọi khó khăn thiếu thốn…
… Tin nước Đức phát xít đầu hàng vô điều kiện đến Taisét vào ban đêm. Thị trấn yên tĩnh, đang sống trong nhịp địêu thời chiến, bỗng như bùng nổ. Tất cả các cửa được mở toang. Người ta chạy ùa ra ngoài trời lạnh. Bầu trời xanh đen đầy sao lấp lánh ánh bạc. Họ kêu đến rát cổ: “Thắng lợi rồi”. Họ khóc, họ vừa nhảy vừa chạy như bay tới những nhà đang ngủ, đấm thình thình vào cửa rồi kêu to: “Thắng lợi rồi”
Khi đã bình tĩnh trở lại một chút, người dân Taisét mới nhận thấy là trong toàn thị trấn hầu như không có đàn ông khoẻ mạnh, chỉ còn độc trẻ em, thiếu niên, phụ nữ, thương binh và một ít ông già. Phụ nữ ôm chầm lấy nhau, khóc nức nở, thương tiếc những người đã hi sinh, những người dũng cảm, xinh đẹp đã hiến cả cuộc đời mình vì họ, vì một tương lại tốt đẹp.
Cái giờ phút ấy, người ta đã chờ suốt bốn năm trời đằng đẵng.
…. Giamin tốt nghiệp trường phổ thông vào loại khá và gửi hồ sơ lên Mátxcơva. Chỉ có Côlia Xôcôlốp biết điều này. Khi có giấy gọi học, có lẽ thím Samsura là người ngạc nhiên nhất.
- Sao phải đi học xa thế? Học ở Ixcrutxcơ không được à? Gần nhà. Để mẹ còn có thể gửi khoai cho, và hè con còn về thăm nhà nữa chứ…
- Con phải tới Mátxcơva mẹ ạ, phải tới! - cậu con trai nhất quyết nói.
Thấy vậy thím Samsura quyết định nhờ Xtêpan Xôcôlốp bàn với Giamin. Ở nhà Xtêpan, thím thấy Grunhia đang phơi quần áo vừa giặt.
- Thì thằng nhà tôi cũng đang định bỏ đi học xa đấy, - Grunhia buồn rầu nói – Đi đâu cơ chứ? Ông nhà tôi làm sao mà nuôi nổi cả gia đình này? Thế nhưng nó có chịu hiểu cho như vậy đâu. Và một phần cũng tại bố nó nữa. Cứ bảo là để nó đi. Thế đấy… Thím vào trong nhà, có thể con mình không khuyên được, nhưng biết đâu nhà tôi khuyên được thằng Giamin cũng nên.
Hồi lâu thím Samsura kể về đời mình và con trai cho Xtêpan nghe. Xtêpan nói, vẻ thông cảm:
- Tất nhiên Mátxcơva xa thật, nhưng chúng ta làm sao mà biết được cái gì đã lôi cậu ấy tới đấy? Mà bây giờ ta khuyên nên đi nơi này nơi nọ liệu có đúng không? Giamin là một thanh niên có tinh thần tự lập, ba năm vừa học, vừa làm việc mà đã chịu đựng đợc. Có phải ai cũng làm đựơc như cậy ấy đâu. Như thằng Côlia nhà tôi đấy, học được năm rưỡi đã bỏ. Bây giờ mới lao vào học tiếp. Nó bảo sẽ thi vào trường trung cấp kỹ thuật. Thằng Gôga cũng thế. Bà nhà tôi không muốn. Sự việc là thế đấy, thím Samsura ạ. Bây giờ mà không có kiến thức thì không làm được gì đâu. Xa thì xa nhưng không sao.
- Ừ, thế cũng được.. – thím Samsura đồng ý.
…Tàu Vlađivôxtốc – Mátxcơva đã chậm bốn tiếng. Ra tiễn Giamin có tất cả những người trong đội cũ của cậu, những người hàng xóm và một số học sinh nam nữ cùng lớp. Những người ra tiễn nói với nhau đủ mọi chuyện trên đời, có điều là họ tránh nói đến chuyến đi xa của Giamin. Họ nói đùa, họ cười song cũng như bất kì một cuộc chia li nào, buổi tiễn hôm nay cũng đượm buồn.
Mặc dù chiến tranh kết thúc đã hai tháng, song không khí chiến tranh vẫn còn cảm thấy khắp nơi, sân ga đầy người mặc quân phục. Từ các đường gần đấy, vẫn có thể nghe tiếng ồn ào vọng lại, nhất là khi có các đoàn tàu quân sự vào ga, anh em bộ đội từ cac toa ùa ra Họ vui vẻ, sôi động, mặc áo lính, ngực đầy huân chương và huy chương. Không khí ngày lễ vẫn chưa rời khỏi họ, những người vừa từ lò chiến tranh ra, vừa làm nên chiến thắng. Anh em bộ đội nói đùa, mời nhau hút thuốc.
Cuối cùng, đoàn tàu đã đến, sau khi chậm bảy tiếng. Đám đông ùa chạy tới các toa. Các nhân viên hoả xa không cho ai lên tàu, luôn tay vẫy cờ hiệu và kêu to đến lạc cả giọng:
- Đi đâu, đi đâu thế? Không thấy người ta ngồi cả ở cửa vào đấy à? Định ngồi lên đầu người ta chắc?
Nhưng hành khách không chịu nghe vẫn tiếp tục tấn công vào những toa xe đã chật ních người. Họ luôn các tay nải các vali vào cửa sổ rồi qua vai bạn bè chui người vào theo.
- Đóng cửa sổ lại! Đóng cửa sổ lại! – các nhân viên hoả xa thét lên.
- Ngột lắm! Không thở được – có người đáp lại
- Không chết đâu! Đóng lại, đóng lại!
Giamin chạy đến toa số tám, dí chiếc vé vào tay một cô béo, mặt đỏ như gấc.
- Cái gì thế này? À, giấy thế này thì ai muốn mà chẳng có hàng đống! Tránh ra cho người ta xuống.!
- Cô ơi, đây là vé tàu, có phải giấy gì đâu! – Giamin kêu to, vẫn tiếp tục dí chiếc vé vào lòng bàn tay bẩn của cô nhân viên.
- Tôi có mù đâu. Tránh ra, đã bảo là tránh ra mà. Kẻo tôi đánh vào mặt!
- Thôi, con ạ, thế càng hay, ở nhà cũng được.. Xem đấy, đi thế nào được? – thím Samsura vừa khóc vừa nói, vất vả lắm mới không bị người khác chen ngã.
Nghe mẹ nói, Giamin càng nóng rụôt:
- Này cô ơi, cô không phải doạ cháu. Cháu cần tới Mátxcơva, tới trường đại học…
- Thì có ai đến ga tới xuống đâu. Tất cả đều đi Mátxcơva. Thôi, tránh ra, đừng quấy rầy nữa. Tại sao nhất thiết phải lên toa này? Tới toa khác mà lên. Hay cậu mê tôi hơn. Ha, ha, ha! – thân hình to lớn của cô ta rung lên.
- Cháu có vé tới đấy… - Giamin nói, vẻ lo lắng không còn tự chủ như trước nữa.
- Ha, ha, vé à? Bây giờ ai mà chẳng có vé? – cô nhân viên nói to, tay vẫn xô hành khách không cho vào.
- Thôi kệ mụ ấy. Trèo qua cửa sổ mà vào! – Côlia nói
- Đứng lên vai mình đây, kẻo không vào được đâu, thật mà! – Gôga nói thêm vào và đưa mắt nhìn xem có cửa sổ nào mở không.
Giamin định làm thế thì bỗng nghe sau lưng giọng nói khàn khàn của Xamôrucốp:
- Giamin, sao bây giờ còn loay hoay ở đây? Tàu sắp chạy mà cậu còn đứng thế?
- Vì cô nhân viên không cho vào?
- Cô ta định gây sự đánh nhau
- Không phải nhân viên mà là một mụ ba que! – các cô gái tranh nhau nói nhao nhao.
- Khoan, bình tĩnh nào. Piốt Pêtrôvích chen lại gần cô nhân viên đang nổi giận – Này đồng chí, sao làm ầm ĩ lên thế? Sao người của mình, nhân viên đường sắt mà không cho đi? Chúng tôi chữa đường cho các cô mà các cô không thèm biết. Thế là không tốt. Trưởng tàu đâu?
Thấy trên vai Xamôrucốp có mang phù hiệu đường sắt, cô nhân viên dịu giọng hỏi:
- Thế ai đi?
- Người này chứ còn ai nữa! – chen được lên phía trước, Côlia chỉ vào bạn
- Sao không nói ngay từ đầu là nhân viên đường sắt? – cô ta nhìn Giamin vẫn không lấy gì làm thiện cảm lắm, rồi nói như ra lệnh – Trèo lên nhanh, tàu chạy bây giờ đấy. Có còi hiệu rồi.
Nhưng đến lúc này thì thím Samsura lại ôm chặt lấy con, không muốn rời ra nữa. Cô nhân viên cộc cằn nói;
- Thôi, đừng quấn quít nhau nữa! Có pảhi đi chết đâu. Này cậu kia, trèo lên nếu không cho ở lại bây giờ!
- Lên đi, lên đi – Xamôrucốp ẩy vai Giamin - viết thứ về nhé, đừng quên bọn mình đấy - Rồi ông ôm vai thím Samsura đang khóc nói – Không sao, bác ạ, đâu sẽ vào đấy…
- Này, Giamin! – Gôga ném chiếc va li đen một nửa chất đầy sách giáo khoa lên tàu.
Giamin định chen ra cửa, nói vài lời từ biệt, nhưng không được vì cậu luôn bị những người chạy theo tàu nhảy lên xô vào trong. Thân hình đáng sợ của cô nhân viên đứng che hết cả lối ra vào. Tiếng kêu và chửi xung quanh làm cậu không nghe rõ lời chào tiễn biệt của những người đi tiễn.
Mẹ cậu buồn rầu đứng nhìn theo đoàn tàu đang chở đứa con út của bà đi xa, cho đến khi khuất hẳn mới thôi. Đứng xa hơn một tí là các bạn cậu và đốc công Xamôrucốp. Lần về nghỉ hè đầu tiên, chắc bác ta sẽ không còn sống nữa: “Những năm chiến tranh đã rút hết sức lực bác ấy…” - mọi người bảo vậy.
Ở đầu ga, phía kia, ông hiệu trưởng đứng một mình, thong thả lau cặp kính dày. Qua khe hở, Giamin đã nhìn thấy ông. Cậu cố chen ra cửa, kêu to:
- Thầy Ruvim Ixacôvích! Tạm biệt! Cám ơn thầy!
Ruvim Ixacôvích đưa kính lên mắt giơ tay vẫy theo:
- Tạm biệt, Giamin, tạm biệt…
Trong toa thật là ngột ngạt, phải đến năm, sáu người ngồi một ghế tầng dưới. Tầng hai và tầng ba cũng chật cứng người. Đâu cũng thấy vali, ba lô, túi xách. Trẻ con khóc inh ỏi, người lớn thì như thi nhau xem ai kêu to hơn.
Giamin không dám vào trong toa, đặt chiếc va li cạnh tường, ngồi lên đấy, một chốc sau cậu ngủ thiếp đi.
Rồi có người lay vai làm cậu tỉnh dậy.
- Cậu này, dậy… Gì mà xỉu ngay thế? Đi Mátxcơva phải không? Định ngồi ở đây mãi chắc? Sao không vào trong toa?
- Trong ấy có còn chỗ nào mà len chân nữa đâu… - Giamin đáp, vẫn chưa biết rõ mình đang ở đâu – không sao, cô ạ. Cháu ở đây cũng được…
- Hừ, thế mới phiền! Cầm va li theo tôi! - rồi cô ta dẫn cậu vào phòng dành riêng cho nhân viên phục vụ, nếu như có thể gọi nó là phòng được, vì ở đấy chỉ có hai tấm ván nằm được che bằng những chiếc chăn lính.
Trên tầng hai, một cô nhân viên khác đang ngủ say.
- Đấy, cậu nghỉ đây…
- Thế cô ở đâu? – Giamin hơi lùi lại
- Hành lí của cậu chẳng lấy gì làm nhiều. Ở đây bao giờ cũngcó một giường trống. Tên cô là Cơxênhia, còn cô kia là Valia. Cô ta hất hàm chỉ lên giường trên.
Giamin hoàn toàn lúng túng trước dịp may hiếm có này, đến nỗi cậu không biết nên nói gì, làm gì với cô nhân viên mà vài giờ trước đây đã doạ cho cậu ăn đấm này.
- Sao đứng im như phỗng thế? Đặt va li xuống, ngồi nghỉ đi. Cùng cánh đường sắt với nhau cả mà. Nếu không có bố cháu thì nhất định cô không cho lên đâu. Bố cháu làm gì thế?
- Ông ta không phải là bố cháu… Đấy là đốc công Xamôrucốp… Bố cháu chết rồi…
- Người dưng mà như bố con vậy
- Piốt Pêtrôvích của chúng cháu thế đấy! bên ngoài thì trông có vẻ khắc khổ nhưng bác ta là người tốt. Chính cháu cũng là nhân viên đường sắt. Thì cô cũng vậy, mới đầu chỉ trông cũng đủ sợ, thế mà…
- Tên cháu là gì?
- Giamin…
- Tên gì nghe đến lạ.. Cháu xem, Giamin, cô mà không làm ghê gớm thế thì cái toa này đã nổ tung ra từ lâu, và người ta đã giẫm nát cô ra… Nằm nghỉ nhé, để cô lại đi chiến đấu nữa. Sắp tới ga mới.
Càng đi xa Taisét, Giamin càng hồi hộp
Tiếng ồn ào, cảnh chen chúc nhau trên sân ga, các đoàn tàu quân sự, tiếng rao hàng của những người bán sữa chua, khoai tây luộc bọc trong những chiếc lá rộng, hoa quả, tất cả những cái ấy hình như di chuyển theo đoàn tàu từ ga này đến ga khác. Những chú bé lang thang không ai chăm sóc nhanh nhẹn chui hết chỗ này đến chỗ nọ để kiếm ăn. Người ta chen nhau mua bán áo sơ mi, áo khoác ngoài, ủng lính, thường thường thì họ đổi những thứ đó để lấy bánh mì, xà phòng và thuốc lá.
Lúc đầu, rừng taiga còn như trùm lấy đường sắt và con tàu như mũi tên xuyên qua nó, nhưng tới gần Nôvôxibiếcxcơ thì rừng taiga đã lùi đến tận chân trời, còn thảo nguyên với những cây cối xác xơ và vô số các hồ nước nhỏ hiện ra trước mặt. Lần đầu tiên, Giamin được nhìn thấy một vùng rộng lớn thế này mà không có rừng, và điều này làm cậu hết sức ngạc nhiên. Chân trời cũng chạy nhanh như đoàn tàu vội vã.
Ba ngày đầu, Giamin còn chưa hỏi bao giờ thì tới Mátxcơva, nhưng sang ngày thứ tư thì sáng nào cậu cũng hỏi:
- Cô Cơxênhia, sắp tới chưa?
- Sắp tới rồi, sắp rồi, cậu bé ạ. Chúng ta ngày một tới gần Mátxcơva đấy…
Đoàn tàu đi qua Craxnôiácxcơ, Nôvôxibiếcxcơ, Xvécđlốpxcơ. Qua mỗi thành phố, Giamin lại nói:
- Chẳng nhẽ Mátxcơva còn to hơn à?
- To hơn chứ, to hơn. Giamin ạ. Tới nơi, cậu sẽ thấy.
Rồi một sáng, mọi người bỗng nhiên nhốn nháo hẳn lên như đang thiu ngủ bỗng chợt tỉnh dậy và bắt đầu sửa sang lại mình. Bảy ngày đêm liền các cửa sổ tàu luôn mở đã hút vào một lượng bụi và chất bẩn đủ biến hành khách thành những người đốt lò. Người ta cột lại túi, xếp lại va li, nhắc đến các tên phố, ga tàu điện ngầm, những người Mátxcơva nói đến thành phố thân yêu của mình như nhắc đến một người sống.
- Thôi, chúc cháu mọi sự tốt lành, Giamin! Đã đến Mátxcơva của cháu rồi đấy! – Cô Cơxênhia nói, dịu dàng như một người mẹ, khi đoàn tàu giảm tốc độ chạy vào ga - Cứ bình tĩnh. Từ đây đi thẳng tới trường. Có xe địên tới đấy. Hình như xe “B” thì phải. Chúc cháu may mắn…
- Cảm ơn cô, cô Cơxênhia! Thế nào cháu cũng sẽ tới nơi thôi, - Giamin mỉm cười, bối rối đáp.
Ga Iarôxlápxki đầy tiếng ồn ào đến nhức tai và tiếng người nói khác nhau. Dòng người đủ màu sắc đang tuôn vào các cửa ga. Đã vao đây thì không thể dừng lại được. Giamin mấy lần hỏi bến xe điện đâu nhưng mọi người đang vất vả vì những túi xách và va li chỉ lặng lẽ gật đầu chỉ đâu đấy về phía trước rồi lại đi tiếp.
Theo đám đông, Giamin đã đến được bến xe điện. Xe điện thì chiếc nào cũng giống chiếc nào, và chật ních người. Ngồi nghỉ trên vali, cậu cảm thấy gần nửa giờ qua đã làm cậu mệt mỏi hơn cả một ca làm ở xưởng cơ khí. Lưng cậu đẫm mồ hôi, đầu choáng váng.
Mặt trời tháng bảy rực lửa đã tụt xuống đằng sau những dãy nhà cao, hắt những chiếc bóng dài, quái dị trên mặt đường nhựa bị cày nham nhở trong những năm chiến tranh. Ở bến người thưa dần mà xe điện “B” vẫn không thấy đâu.
Rồi đèn bật sáng khắp nơi. Hàng nghìn ngọn đèn đã chiếu sáng thành phố. “Thế này thì tốn biết bao nhiêu là điện nhỉ” – Giamin nghĩ bụng và nhớ tới Piốt Pêtrôvích, một người mà ai vô cớ bật một ngọn đèn nhỏ nào đấy sẽ bị ông quở mắng thậm tệ, “Bác ấy mà ở đây thì phải biết!” - cậu thoáng nghĩ.
Giamin chở năm tiến liền mà xe “B” có thể chở cậu về trường vẫn không thấy. “Hay cô Cơxênhia nhớ nhầm?” Bỗng nhiên cậu cảm thấy mình rất nhỏ bé. Hàng nghìn người đang đi qua trước mặt cậu, người nào cũng bận việc của mình, chẳng ai để ý đến cậu bé chân đi ủng với những ống gập lại, đang buồn bã ngồi trên chiếc vali gỗ. Xe điện hết chiếc này đến chiếc khác, đèn sáng trưng ầm ầm đi qua trước mặt cậu.
Hoàn toàn mệt mỏi và váng đầu vì tiếng ồn của một thành phố lớn, Giamin đang lơ đãng nhìn những gì xảy ra xung quanh thì một anh công an đi lại, nghiêm khắc hỏi cậu đang làm gì ở đây.
- Cháu chờ xe điện… - Giamin uể oải đáp
- Đã hàng chục chiếc xe đi qua mà sao cậu còn ngồi ở đây? Xem chừng đừng giở trò với tôi đấy nhé! Giấy tờ đâu? Đưa xem!
- Thật mà, cháu chờ xe “B”. Cháu tới đây để học…
- Đưa giấy tờ đây đã, sau hẵng nói tới cái xe điện mà cậu chờ. Bọ vẫn chẳng chạy luôn đấy là gì?
- Bọ nào cơ ạ? Đây, giấy thông hành và giấy gọi học của cháu đây.
- Xe “B” chứ còn “B” nào nữa, - anh công an đáp, đã thân mật hơn trước vẫn chăm chú xem giấy tờ của Giamin - Giấy tờ ổn cả. Đúng là cậu phải đi xe “B” thật, cậu bé Xibêri ạ. Kia, nó đến kia rồi.
- Đâu?
- Không nhìn thấy hay sao mà còn hỏi “đâu”? Có hai đèn tím và xanh trên đầu, và ở giữa là chữ “B”, thấy chưa?
- Ừ nhỉ, đúng rồi. Thế mà cháu cứ nhìn phía dưới, nơi có ghi các con số. Cháu cứ nhìn xem tàu này mang số 3434…
Anh công an cười to, vỗ vai Giamin:
- Thế thì có chờ đến sáng mai, cậu bé ạ. Đó là số toa xe chứ không phải số tuyến xe chạy. Có phải lần đầu tiên thấy xe điện không?
- Vâng…
- Không sao… Sẽ quen dần. Mátxcơva rất mến khách, mặc dù lúc đầu có thể làm người ta sợ. Rồi đâu sẽ vào đấy. Thôi lên đi, kẻo không lại bảo không thấy xe “B” đâu cả.
- Không, cháu không bảo thế nữa đâu. Bây giờ cháu biết rồi. Cảm ơn chú!
- Nhanh lên, nhanh lên, đêm đã khuya rồi…
“Giá vé bao nhiêu nhỉ?” – Giamin nghĩ bụng khi bước vào toa xe trống gần một nửa – Đáng lẽ phải hỏi anh công an lúc nãy” Tự cho mình là người thành phố và không muốn bị hố nữa, cậu tiếp tục nghĩ: “Tất nhiên, đi càng xa thì vé càng đắt. Vé đường sắt cũng vậy. Mình cứ đưa một tờ 30 rúp, nếu không đủ sẽ đưa thêm”. Cậu rụt rè đưa tờ giấy bạc đỏ cho cô bán vé đang thản nhiên nhìn cậu. Chị này mệt mỏi đưa mắt nhìn người khách lạ lùng từ đầu đến chân rồi cho đồng 30 rúp vào chiếc cặp da trông như một chiếc ví lớn, bắt đầu đếm tiền lẻ trả lại cho Giamin. Chị ta đếm rất lâu, vẫn không quên giật chuông mỗi khi xe đến bến. Và theo tiếng chuông của chị, xe lại đi tiếp. Cuối cùng, chị ta đưa lại cho cậu một đống tiền thối lại gồm giấy 3 rúp và một rúp, với rất nhiều tiền xu lẻ. Xong chị đưa vé cho Giamin.
- Cám ơn chị, - Giamin nói với chị bán hàng đang ngạc nhiên nhìn cậu – Còn lâu nữa không thì đến quảng trường “Đấu tranh” ạ?
Quay về phía cửa sổ, Giamin đưa mắt liếc nhanh tấm vé và suýt nữa thì phá lên cười; trên mảnh giấy nhỏ màu xám xé không đều có dòng chữ in màu nâu: “Giá vé 30 côpếch”
Xe đi đã khá lâu, vòng theo các phố vắng đèn chiếu lù mù, rung chuông inh ỏi mỗi khi qua các ngả đường. Mặc dù trong xe hầu như chẳng có ai, khi đến bến, chị bán vé vẫn cất giọng đều đều nói to tên bến. Cuối cùng, chị ta quay về phía người khách duy nhất của mình:
- Đến nơi rồi đấy. Trường của cậu đây, - con mắt kinh nghiệm của chị ta không bao giờ đoán sai ai là sinh viên tương lai
Giamin bước ra khỏi xe điện, đi về phía ngôi nhà năm tầng có những chiếc cửa sổ rất lớn. Hai cánh cửa to, nặng bằng sắt đã được cột bằng một dây xích. Giamin rụt rè đưa tay đẩy rồi lách mình qua khe hở giữa hai cánh cửa. Sân trường tối om, có trồng nhiều cây, đón cậu một cách lặng lẽ và huyền bí. Cậu bước tới chiếc cửa được chiếu sáng bằng một đèn nhỏ lờ mờ. Tim cậu đập to đến nỗi cả tiếng cá sắt của giày cậu đang khua trên mặt đường nhựa cũng không át nổi. Bỗng nhiên cánh cửa lớn hé mở và như trong truyện cổ tích tốt lành và đẹp đẽ, trước mặt cậu là Tamara Crưgianôva với vẻ mặt thất vọng hiện ra. Sau Tamara là cô gái mặc áo xanh. Cô ta nói rất nhanh với Tamara:
- Đừng buồn, Tamara ạ, chắc là cậu ta chưa đến. Hay có thể cô Nhura của cậu nhầm số tàu cũng nên. Người ta bảo đã gửi giấy gọi rồi. Không đến hôm nay thì mai chứ đi đâu mà sợ…
- Tamara! – Giamin nói như thì thầm vừa bước lại phía hai cô gái: - Chào Tamara… Sao Tamara lại ở đây?
- Giamin, cậu đấy à? Valia! Valia! cậu ấy đây rồi! – Tamara quay lại phía bạn - Cậu tới bằng cách nào đấy? Sao muộn thế này? Sao cậu không đánh điện cho mình? Đi đường thế nào?
Giamin đặt va li xuống đất, mỉm cười sung sướng nói:
- Hãy từ từ, một lúc nói hết thế nào được. Để mình trả lời từng câu một.
- Cậu ấy nói nghe buồn cười thật… - Valia nói nhỏ vào tai bạn. Cứ như là hát ấy. Và trông người cũng buồn cười thật…
Tamara phật ý nhưng không để lộ ra ngoài.
Còn Giamin thì sung sướng kể việc mình chờ xe điện thế nào. Hai cô gái cười to vui vẻ:
- Tamara, chính cô nhân viên đường sắt đã bảo mình tới Mátxcơva sẽ gặp may đấy!
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
Ôi, quên mất chữ THE END
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0