📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Truyện ngắn của Đồng Sa Băng

9 trả lời, 1.634 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-10-12 22:13:11Ct.Ly>
Tản mạn với Tuyển tập truyện ngắn DẤU CHÂN NGÀY XƯA
Như vài dòng giới thiệu



Một ngày nọ, tạm gọi là tình cờ, tôi nhận được tuyển tập truyện ngắn DẤU CHÂN NGÀY XƯA của Đồng Sa Băng gởi đến từ bên kia bờ Thái Bình Dương. Tôi tham lam đọc ngấu nghiến lần lược theo thứ tự của mục lục lục mà khi thấy cay mắt thì đã 2 giờ sáng! Cũng chính vì sự tham lam này mà tập truyện đã "cao chạy xa bay" ngay buổi sáng hôm sau khi tôi rời khỏi nhà. Thằng bạn ngủ "quá giang" hôm đó nó đã rinh đi mất, sau đó nó còn bị người khác rinh tiếp nên tập truyện chỉ quay lại tôi sau gần ba tuần với nhiều cuộc điện thoại "đòi nợ"!

Toàn tập truyện như một cuốn hồi ký về quê hương. Tác giả không có ý định xây dựng một nhân vật chính nào cả, tất cả đều "kể" ra rất thật. Thật như đời sống thường nhật, thật như những con người bình dị nói bằng ngôn ngữ của quê hương ruộng đồng. Truyện ngắn của Đồng Sa Băng không hề thấy sự trau chuốc từ ngữ, thậm chí không sửa các từ địa phương mà chúng ta thường cho rằng khó biết, khó hiểu. Và cũng chính vì điều này ta lại cảm thấy hương vị của hoa đồng cỏ nội lại ngào ngạt lang tỏa khi đọc tập truyện. Đọc truyện của Đồng Sa Băng tôi liên tưởng đến "Thằng quỷ nhỏ", "Buổi chiều window"... của Nguyễn Nhật Ánh mà ngày xưa tôi thèm đọc như người nghiện thèm thuốc.

Xin chân thành cảm ơn tác giả đã vẽ lại bức tranh về đồng quê xứ Quảng bằng cả ký ức và tấm lòng của một người xa xứ. Trong bức tranh này có bóng dáng người mẹ, có em thơ, có tiếng gà sớm trưa, có tiếng bình yên mỗi buổi tinh mơ của học trò rủ nhau đi học, có tiếng khóc cười của buồn vui cuộc sống. Ai lớn lên từ quê hương có đồng ruộng, có núi đồi, có sông nước có lẽ cũng sẽ thấy ít nhiều dấu chân của chính mình trong số các DẤU CHÂN NGÀY XƯA đã in hằn trên quê hương yêu dấu!

Ngô Hữu Đoàn
Sàigòn, 09.10.2006

XIN TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU CÙNG CÁC BẠN
📎 hinhbiasac...jpg2234
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-22 12:54:19NuHiepDeThuong>
NGƯỜI XƯA

Rút trong tuyển tập "Dấu chân ngày xưa"

Tác giả: Đồng Sa Băng
Hình minh họa: Tác giả
Thể loại: Truyện ngắn
Nguồn:nghiathuc.com



Mới vừa năm giờ sáng chiếc xe khách đã len lỏi dưới ánh đèn mập mờ Saì Gòn, lách qua từng con đường lớn, con dường nhỏ, và âm thầm chạy đi trong giấc ngủ của người dân đô thị. Những bóng đèn vàng vọt, treo lẳng lơ trên đường phố, dường như đã mệt nhoài sau một đêm daì soi đường chỉ lối, bây giờ nhường lại cho ánh nắng bình minh để lui vào giấc ngủ. Chiếc xe đang chạy tự nhiên thắng lại kêu két két, bốn bánh xe vạch đường dài trên mặt lộ, và từ từ dừng lại trước một quán ăn bên lề đường. Trước khi nín thở nó lại xịt cho một tiếng thật to, rồi phun khói đen bay đầy trời. Người tài xế bước xuống đi vào quán ăn, tôi mở mắt nhìn ra ngoài, mặt trời mới vừa ló dạng và chiếc xe cũng mới vừa đến ngã ba Dầu Giây.

Con đường từ đây lên Ban Mê Thuột còn xa quá, tôi mới vừa ló đầu ra xe thì: “Bánh bao đây, bánh bao đây, bánh bao đi chú.” “Bán cho chú hai cái đi.” Tôi cũng chẳng buồn mở cái bánh ra, ngã mình trên ghế xe, tôi thèm giấc ngủ còn hơn đứa bé thèm cây cà lem của mẹ về chợ. Trong nháy mắt tôi lại nghe tiếng rao văng vẳng bên tai: “Miá ghimmm đây, mía ghimmmmm…” và bao nhiêu tiếng chân người bước đi trong gió.

Năm đó tôi vào lớp mười hai trường Văn Học, ngồi nghe Nguyên Sa nói về người Saì Gòn mà cười muốn bể bụng. Nhưng tôi đâu có phải người Saì Gòn đâu.

Ngày đó tôi cũng khăn gói, lất lư chạy theo cha mẹ tản cư nhiều lần lắm, chạy đi, chạy về, rồi lại chạy đi. Nhưng cuối cùng không còn chổ chạy về nữa nên tôi mới lọt vào cái trường Tư Chánh B nầy. Những ngày tháng tản cư ngắn ngũi sống ở trường Tư Chánh B tôi thấy vui lắm. Tôi thường lang thang phía sau trường, băng lên khu nhà thương và lên lò bánh mì Chí Thành ở thị xã Quảng Ngãi. Tôi thấy Quảng Ngãi rộng lớn quá, mà tấm thân tôi đến chiếc xe đạp cũng chưa biết cởi, nên suốt ngày chỉ biết lanh quanh ở khu Tư Chánh B nầy.

Chiều về, những đứa bé tạm cư kéo nhau ra đầy sân trường nô đùa chạy nhảy, con gái thì nhảy dây, con trai thì tạt lon. Nhưng rồi cuộc vui nào cũng tàn, những chiếc dép Nhật sức đai, những lon sửa bò móp méo, và những sợi dây thừng đứt tả tơi bây giờ nằm chơi vơi trên sân trường.

Những đứa trẻ theo gia đình mỗi người đi một ngã, còn tôi thì lại trôi dạt vào cái xứ Sài thành.

Mà một người tản cư thì tôi cũng như bao nhiêu người con xứ Quảng khác, phải biết đi làm để đóng tiền trường. Tôi phụ và học việc tại một tiệm sửa đồng hồ của một người cùng quê. Những giờ không có lớp học tôi thường đạp chiếc xe đạp cộc cạch đến tiệm sửa đồng hồ ở Tân Qui Ðông. Từ bến đò Long Kiển, Hương Lộ 24, chạy vào một khoảng đường bốn năm trăm thước là khu thương mại bỏ túi. Cái tiệm sửa đồng hồ của anh Ba nằm trong nhà bà Ðạt và bên cạnh là tiệm may của mấy người con gaí bà Ðạt.

Hôm nay có một người thợ may mới về trong tiệm, làm cho không khí tự nhiên ồn ào và náo nhiệt hơn.

Những chiều cuối tuần bến đò Long Kiển trở nên tấp nập hơn, người từ phương xa tay xách, nách mang, những bó hoa, những bộ quần áo thật màu sắc, đổ về ngôi mộ bà Ana trong Tân Qui để tặng bà, và xin một vài điều may mắn gì đó. Hay cầu xin bà cho một con số để chiều nay đánh số đề. Trong số những người đến viếng thăm mộ bà Ana có cả những chàng bạch diện thư sinh, và những tà áo nữ sinh bay phất phới trong gió. Họ về đây để xin bà Ana chứng kiến lòng thành của họ, và cầu xin bà cho thi đổ kỳ thi nầy. Nhìn những khuôn mặt khẩn trương, và hớn hở đi trên đường mới biết niềm tin thật là mảnh liệt! Tôi nguyện cầu cho họ.

Ở đâu có đám đông thì ở đó có chợ búa nổi lên. Cho nên bến đò Long Kiển bây giờ cũng mọc lên cái chợ chồm hổm. Cái chợ chồm hổm nhỏ chút vậy mà cũng đông người ghê.
Tôi xuống xe dắc bộ chen lấn đi vào cửa tiệm đồng hồ.
- Ðể xe đụng dơ quần tui rồi, dơ hết trơn rồi, mắt dịch.
- Em nói tui mắt dịch hả?
- Hổng lý tui nói tui mắt dịch. Thấy quần người ta bị dơ hông?
- À, xin lổi, đưa đây tui phủi cho.
- Thôi, thôi, đừng có dzô dziên.
- Lần sau em đừng nói qua mắt dịch nghe hông.
- Hí, lần sau, có lần sau nữa sao, thiệt là.
Người con gái có vẽ bực bội, xách cái giỏ đi chợ bước vào tiệm may, nàng không quên quay đầu lại liếc tôi một cái muốn loì con mắt ra ngoài.
Tôi dắt chiếc xe đến cửa tiêm, dựng ngoaì hiên rồi vào trong lấy mấy caí hoá đơn để lên Chợ Củ mua thêm ba đồ phụ tùng về sửa.
Từ đây lên Chợ Củ nếu không muốn đi bằng đò thì phải chạy xe dọc theo bờ kênh Tẻ để về cầu Tân Thuận Ðông, rồi bắt qua đường Trịnh Minh Thế đi lên. Ðường đi xa quá nên tôi thường lấy con đò Long Kiển qua cho lẹ.
Ðứng bên bờ sông, nhìn chiếc xuồng cập bến tôi lại nhớ con đò An Chỉ ngày xưa. Ngày đó quê tôi nằm bên đây bờ sông Vệ, bên kia bờ là làng An Chỉ. Dọc theo hai bên bờ sông là những cụm tre già ngỗn ngang. Từ làng tôi qua làng bên phải đi bằng một con đò, con đò An Chỉ. Từ sáng tinh sương cho đến chiều hôm, ngày nào ông Ðàn, ông lái đò, cũng đưa khách sang sông. Con đò ông Ðàn đan bằng nan tre, trét dầu rái đen bóng, và lớn gấp ba gấp bốn lần những con xuồng ở bến đò Long Kiển nầy. Những lúc vắng khách, đò ông Ðàn thường cập bến bên cạnh buị tre già. Rồi một tiếng “ông lái đoooò” từ bên kia sông, là đò ông lại khoan thai rẽ sóng với cây sào bằng tre, dài, từ từ chuyển mình rời bến.

Ngày đó tôi thường theo mẹ trên con đò An Chỉ qua sông cho kịp buổi chợ chiều.

Bây giờ nhìn những con đò chạy bằng máy đuôi tôm lướt mình trên sông, hình ảnh ông lái đò ngày xưa hình như đã chìm lỉm trong dòng sông.
Chiếc xuồng đã cập bến, tôi vội vã bước lên xuồng qua Khánh Hội để lên Chợ Củ.

Tôi vừa làm vừa học nghề ở tiệm sửa đồng hồ nầy cũng gần một năm nay. Anh Ba, người cùng quê tôi, sau ngày chiến tranh, mất làng mạc, anh cũng chạy tứ tung, rồi anh học được cái nghề sửa đồng hồ đâu ngoài Ðà Nẳng. Sau nầy anh vào Saì Gòn lập nên cái tiệm sửa đồng hồ nầy. Thật sự ảnh cũng không có vốn để lập nên cái tiệm nầy đâu, nhưng vì ảnh có tay nghề giỏi mà ông bà Ðạt thì có nhiều con gái lớn chưa có chồng con, nên ông bà Ðạt mới đồng ý cho anh Ba đặt cái tủ nhỏ trong tiệm tạp hoá ổng bả để sửa đồng hồ, và chỉ cho thằng Lượm con ổng bả làm nghề. Vì chổ cùng quê nên tôi cũng được anh Ba chỉ cho cái nghề nầy luôn.

Một năm sau khi anh Ba dọn về làm ở đây, ảnh cưới cô Bốn con gái ông bà Ðạt làm vợ. Ngày đám cưới tôi làm phụ rể cho anh Ba, tôi nói thôi, đám cưới nó vui tưng bừng, ông bà Ðạt mừng có được rể có tay nghề, dìu dắt đám con ổng cùng nhau làm ăn. Còn cô Bốn thì mở tiệm may sát nhà luôn. Tiểu hỷ, đại hỷ rồi tân gia hồng phát giống như rồng gặp nước vậy!
Tôi ghé mấy tiệm bán đồ phụ tùng đồng hồ ở gần Chợ Củ, mua ít đồ xong tôi đi thẳng đến trường học luôn.
Chiều về, tan trường tôi lấy xe chạy thẳng về bến đò Long Kiển để qua sông về tiệm sửa đồng hồ. Tôi dựng xe, bước vào tiệm và đưa cho anh Ba những gì ảnh nhờ tôi mua sáng nay. Tôi mới vừa ngồi xuống thì chợt thấy người con gái hồi sáng tôi làm dơ quần cổ, cổ cũng có mặt trong tiệm. Nàng đang nói chuyện với bà chủ nhà, và coi có vẽ thân thiện lắm. Bây giờ tôi mới có dịp nhìn nàng rõ hơn, nàng cũng bình thường như bao nhiêu người con gái khác. Chiếc áo bà ba với mái tóc dài xỏa ngang lưng.

Sáng nay tôi bị người ta xô đẩy đụng vào nàng, bây giờ thì gặp nàng ở đây, tôi muốn nhào vô làm quen với nàng ngay. Nhưng tôi không biết mình phải bắt đầu làm sao, nói cái gì? Tồi đành quay qua hỏi anh Ba:
- Cô kia là ai vậy anh Ba?
- Cháu bà chủ nhà đó.
- Có phải cô thợ may sáng nay mới vô đó không?
- Ừ, mà sao hôm nay chú hỏi tui chi kỷ vậy?
- Thì thấy lạ hỏi thôi, anh biết nhỏ tên gì hông?
- Nhị.
Anh Ba người thật thà, hiền lắm, nhưng có cái bịnh nặng tai, cũng vì vậy mà anh sinh ra cái tật nói lớn tiếng, cái gì cũng nói như la làng lên. Người con gái đang nói chuyện với bà Ðạt nghe tiếng Nhị liền quay qua chổ tôi đang ngồi, nàng liếc mắt nhìn tôi một thoáng rồi quay đi. Tôi quay qua nói nhỏ anh Ba:
- La gì to dữ vậy cha nội.
- Hả, chú hỏi tui cái gì?
Ổng lại la lên nữa. Khổ quá! Người con gái quay về phía tôi, xong đi thẳng ra về tiệm may luôn. Ông nầy ổng phá bể mánh tui rồi, nhưng tui đâu dám nói lớn nói nhỏ gì ổng được đâu, ổng là ông thầy của tui mà!
Tôi phụ anh Ba chùi dầu cái đồng hồ xong tôi lấy xe ra về. Khi ngang qua tiệm may, tôi liếc vô nhìn nhưng không thấy bóng dáng nàng đâu hết.

Ra tới bến đò Long Kiển trời đã ngã bóng về chiều. Nước sông đang lên, mang theo lục bình, rác rến đua nhau chạy về miệt cầu Rạch Ông. Cảnh người nhộn nhịp của chợ chồm hổm buổi sáng bây giờ đã vắng chỉ còn lại mấy con đò nằm trên bến đợi khách sang sông. Tôi bước xuống chiếc xuồng con. Cái máy đuôi tôm vừa nổ tạch tạch xong là chiếc xuồng cũng sắp đưa chúng tôi ra giữa dòng sông. Nhìn những đám lục bình trôi vội vàng trên sông sao tôi lại nhớ ánh mắt và mái tóc xỏa ngang lưng của Nhị.
Nhưng rồi những con tóan, và hình ảnh những bài vở của ngày mai lại xâm chiếm suy nghỉ của tôi.

Ở tuổi nầy tôi cũng biết mộng mơ rồi. Có những lúc đứng trước những bóng hồng, lòng tôi cũng biết bâng khuâng hồi hộp, ước mơ được dìu nhau đi dưới những hàng me xanh mát, hay nắm tay nhau đi bên cạnh bờ sông trong những buổi chiều tắt nắng. Nhưng mà thật tế vẫn là thật tế, những bài vở, những kỳ thi, và những lo toan của cuộc đời vẫn luôn hiện hữu trong tâm tư của người học sinh thời loạn.
Những tháng ngày cuối của năm lớp mười hai tôi ít xuống tiệm sửa đồng hồ anh Ba.

Mỗi ngày sau bửa ăn tối, tôi vào căn nhà nhỏ ôn bài cho kỳ thi sắp tới. Thỉnh thoảng tôi ghé tiệm anh Ba để mua đồ phụ tùng dùm ảnh. Mỗi lần ghé tiệm sửa đồng hồ tôi thường qua tiệm may của vợ anh Ba chơi. Ngày xưa ít khi tôi vào cái tiệm may nầy đâu, nhưng từ ngày có người thợ may mới tôi lại thường qua chơi. Riết rồi tôi cũng làm quen được với người thợ may mới nầy. Nhà Nhị ở tận ngã ba Cây Thị, Gò Vấp, xa quá nên Nhị ở ngụ tại tiệm may vợ chồng anh Ba.
- Sao mấy nay không thấy anh xuống sửa đồng hồ? Nhị hỏi.
- Anh đang học thi nên không có thì giờ nữa. Hôm nào Nhị về trên nhà cho anh đi theo với được không?
- Thôi, anh lo học thi đi, theo em về trên đó làm gì.
- Anh muốn biết chổ Nhị ở mà.
- Không được đâu, má em biết thì chết em đó.
Quen biết Nhị mấy tháng rồi mà tôi không dám hẹn hò rủ Nhị đi chơi, có lẽ tôi sợ gia đình bà Ðạt biết, rồi sẽ đến tai gia đình tôi, và nhất là mẹ tôi. Tôi sợ bao nhiêu công lao mẹ tôi dành cho tôi mà kỳ thi Tú Taì nầy không đậu thì chắc khổ lắm. Cho nên mối tình thầm kín của Nhị có lẽ chỉ có Nhị và tôi biết thôi.
Còn hai tháng nữa là ngày thi, lúc nầy tôi tự cắm trại một trăm phần trăm, không còn lên xuống tiệm sửa đồng hồ và cũng không có thì giờ gặp Nhị. Và kỳ thi đó tôi đã đỗ. Ngày đi coi kết quả tôi âm thầm ra đi một mình, khi biết đã đậu tôi vội vàng về báo cho mẹ, và anh chị biết, rồi chạy xuống tiệm may tìm Nhị. Trên đường đi tôi nghĩ chắc Nhị sẽ vui thật nhiều khi biết tôi đỗ kỳ nầy.
Có lần tôi nhớ Nhị nói: “Anh ráng thi đậu đi để khỏi bị xa em. Mấy người thi rớt đi lính hết, xa lắm, biết làm sao gặp.”

Mọi ngày con đò Long Kiển chạy lẹ lắm, sao hôm nay tôi thấy nó chậm quá. Qua bên kia bờ tôi liền chạy như bay vào tiệm may của vợ chồng anh Ba, mọi người vẫn còn đó nhưng sao không thấy Nhị. Tôi hỏi anh Ba thì biết nay Nhị không còn ở và may đây nữa.
Tôi dấu trong tâm tư một cảm giác thật buồn, những hớn hở vui mừng lúc trước bây giờ chợt bay mất.
Tôi hỏi nữa thì mới biết nhà của Nhị trên Gò Vấp bị hỏa hoạn cháy thành than rồi. Nhị phải về trên đó để giúp đỡ má Nhị, tôi nghe thấy buồn cho Nhị và cũng thấy đỡ lo.
Những tháng ngày mệt mỏi học thi bây giờ đã qua rồi, tôi thấy mình thật vui đời, không còn bận bịu gì nữa. Tôi đi tìm Nhị.
Gò Vấp thì rộng lớn, chứ ngã ba Cây Thị thì có là bao nhiêu, tôi nghĩ như vậy. Và tôi đã đến ngã ba Cây Thị. Vợ anh Ba nói Nhị may cho một tiệm may nào đó ở ngã ba Cây Thị. Tiệm nào tôi đâu có biết, vậy là tiệm may nào trên ngã ba Cây Thị tôi cũng thò đầu vào xem, cuối cùng tôi cũng tìm được Nhị. Nhị rất ngạc nhiên, và rất vui mừng khi biết tôi thi đỗ.
Từ buổi hôm đó tôi không còn sợ gia đình bà Ðạt biết nữa, và cũng từ buổi hôm đó tôi và Nhị thật vui bên nhau.

Sau ngày tôi vào đại học, những ngày cuối tuần tôi thường lên thăm Nhị. Nhị may cho tôi một bộ đồ bà ba màu nâu, cái áo có hai cái túi. Có những ngày đẹp trời tôi đưa Nhị dạo chơi trong Thảo Cầm Viên.
Mỗi lần lên thăm Nhị ít khi nào tôi gặp người gia đình Nhị lắm. Tôi hỏi:
- Ba em đâu?
- Ba đi bán muối rồi, nhà chỉ có má và em thôi.
Có những buổi chiều, tôi ngồi trên đi-vân nhìn Nhị may áo, những tiếng mưa rơi lách tách trên mái hiên, tôi thấy cuộc đời thật hạnh phúc. Rồi tôi lại ngồi bên em, những cánh tay cuộn tròn với nhau, tôi nghe mùi thơm của tóc và ngoài sân, hột mưa vẫn rơi.
Thời gian trôi qua, mỗi ngày thứ Sáu ra khỏi trường ÐH Khoa Học tôi chạy lên ngã ba Cây Thị thăm Nhị.

Nhưng rồi chiến tranh đến ngày gay cấn, khắp bốn vùng chiến thuật khói lữa điêu tàn. Và rồi tháng Tư cũng đến, Sài Gòn nằm trong hổn loạn, trường trại đều đóng cửa, mọi người nhôn nháo chạy tứ tung. Tôi cũng ham vui và nghĩ rằng cơ hội để con chim sổ lồng bay xa tìm hiểu và khám phá. Nhưng ra đi bỏ Nhị lại tôi thấy buồn lắm, cho nên vào giờ chót, hay là cái giờ thứ 25 tôi chạy lên ngã ba Cây Thị tìm Nhị.
- Anh đang tìm đường đi ra nước ngoài đó, em đi với anh nhe.
- Ý, không được đâu, còn má em bỏ lại đây một mình sao?
- Thì em nói má đi chung luôn.
- Không được, má em không đi đâu.
- Sao vậy, sao không đi. Người ta đi đầy trời có sao đâu.
- Nhưng má không đi được. Anh đi một mình đi nha.
- Ba chết rồi, chỉ còn có em và má thôi, anh sẽ dẫn em và má đi luôn.
- Em nói không được đâu mà, anh đi một mình đi.
- Nếu em không đi thì anh không đi đâu, em đi nhe.
Tôi năng nỉ và nói hết nước miếng nhưng cuối cùng Nhị vẫn nhất quyết ở lại.
Hôm đó trời tháng Tư, không nhiều mây. Tôi ngồi chơi với Nhị cả buổi sáng. Những ngôi làng xa xa ngoài Gò Vấp tiếng súng nỗ đì đùng. Nhà chỉ có hai mẹ con nhưng sao tôi không thấy má Nhị đâu hết, có lẽ bà còn đi làm chăng!

Những lời thắm thiết tôi đã trao cho Nhị, cuối cùng Nhị đi bộ cùng tôi qua một cái gò để ra bến xe Cây Thị. Tôi nói với Nhị nếu Nhị không đi tôi sẽ không đi, nhưng hình như trong lòng tôi đã quyết định. Tôi bước đi bên cạnh, những bước chân thật buồn, tôi sợ có lẽ từ đây sẽ cách xa ngàn dặm cho nên tôi không muốn đi mau. Tôi muốn níu kéo thời gian lại để được gần Nhị thêm vài giờ, nhưng rồi tôi sợ bị trể chuyến xe. Con đường từ nhà ra bến xe cỏ may ngập lối đi, những bông cỏ may đan đầy ống quần của tôi và Nhị, mà sao nó không đan hai tôi lại luôn!
Tôi lên chiếc xe đò trở về Saì Gòn. Nhị đứng đó nhìn tôi, vẫy tay chào. Rồi chiếc xe từ từ lăng bánh, hình bóng của Nhị xa dần, xa dần trong gió bụi.
Hai ngày sau tôi lên một chiếc tàu Hải Quân, rời Căn Cứ Chuyễn Vận Kho 18 lúc 20h10 ngày 29 tháng Tư.
Cũng từ buổi chiều hôm ấy tôi bôn ba bên xứ người. Gia đình và người yêu đã là xa xí.

Mãi đến hai năm sau tôi mới nhận lá thư đầu tiên của gia đình. Và tôi mới biết ba Nhị không đi “bán muối”, ngoài ra Nhị còn một người chị nữa, nay đã về đoàn tụ, Những thắc mắc tại sao trong những ngày bom đạn má Nhị không có ở nhà, và tại sao má Nhị quyết định không cho Nhị đi với tôi, bây giờ tôi mới hiểu. Và rồi những lá thư kế tiếp, tôi biết Nhị bây giờ đã lập gia đình với một cán bộ miền Bắc.
Vậy là không còn trông đợi gì nữa. Tôi vào trường và tìm quên lãng bên những thằng bạn “mồ côi” như tôi.
Ðến nay đã 25 năm qua rồi, 25 năm xa nhà, xa quê hương, hôm nay tôi trở lại. Tôi muốn tìm lại dấu chân ngày xưa, những kỷ niệm thật êm đềm mà tôi gói gắm mang theo.
Con đò Long Kiển ngày xưa đưa tôi đến chợ chồm hổm Tân Qui, và bến xe Cây Thị bây giờ vẫn còn đó, tuy có một ít nhiều thay đổi. Nhưng Nhị không còn ở ngã ba Cây Thị nữa.
Tôi theo đoàn xe du lịch đi Ban Mê Thuộc, du lịch cao nguyên.
Tôi đang mơ màng thì đoàn người trở lại xe sau khi ăn sáng. Những tiếng động đã đánh thức tôi dậy, tôi vừa nhìn ra cửa sổ xe thì: Mía ghimmm đây, mía ghimmm đây… rồi chiếc xe từ từ lăng bánh.

Hơn một tiếng đồng hồ sau xe đã đến Gia kiệm. Ngôi nhà thờ Thiên Chúa giáo ngày nào vẫn nằm sừng sững bên mặt đường. Hai bên đường là những líp thuốc lào được phơi ngay hàng thẳng lối. Những quần xanh áo trắng kéo nhau đến trường.

Từ đây xe chạy mãi về hướng cao nguyên, qua con sông La Ngà rồi Ðịnh Quán với ba hòn đá chồng. Xa xa lên nữa là ngã ba Bão Lộc, và rồi cuối cùng đoàn xe cũng vượt bao nhiêu đèo cao để đến Ban Mê Thuộc. Ở đây du khách đi chơi tứ phía, cởi voi, cởi ngựa, vân vân. Tôi đứng ngắm những cảnh hùng vĩ của núi đồi cao nguyên mà nhớ lại quê tôi.

Những ngày kế tiếp tôi vào thành phố để tìm người anh, anh Ty, ngày xưa người cùng làng tôi và sau này anh lên dạy học ở đây. Cũng mấy mươi năm rồi mới gặp lại, anh nói thao thao bất tuyệt về những này sống chung ở chợ Cây Quéo, Sài Gòn. Rồi anh Ty còn cho tôi biết nữa là anh Ba, người thầy dạy sửa đồng hồ cho tôi cũng ở Ban Mê Thuộc nầy. Vậy là không hẹn mà gặp, tôi tìm đến gặp anh Ba.
Lâu rồi ai mà không thay đổi, tôi gặp anh Ba trong ngỡ ngàng và nếu không giới thiệu có lẽ anh cũng không nhìn ra tôi. Anh Ba dẫn tôi đi thăm rừng cà phê của ảnh, và hỏi tôi rằng:
- Chú vê đây để tìm một người phải không?
- Tìm ai đâu, tui chỉ đi du lịch lên đây chơi, và biết anh Ty ở đây, tìm tới thăm rồi lòi ra anh đó chớ tìm ai.
- Thiệt không?
- Nữa, đã nói như vậy rồi mà.
- Ðược, nếu như vậy thì ngày mai chú trở lại đây gặp tui nghe hông.
- Cái anh nầy có cái bịnh nặng tai, sinh ra cái tật nói lớn tiếng, rồi mấy năm không gặp, lại sinh thêm cái tật ấp ấp mỡ mỡ nầy nữa. Có gì thì nói hụych tẹt mẹ nó ra đi.
- Không, bây giờ tối rồi, ngày mai chú trở lại đi. Anh cười khúc khích, đưa hai hàm răng khểnh ra trông như cái nạo dừa.
Ngày hôm sau tôi trở lại, anh Ba đẫn tôi đến một tiệm tạp hóa nọ. Ðến nơi anh Ba nói:
- Ðó, cái tiệm đó có người chú muốn gặp đó. Tui sẽ đợi chú ngoài đầu ngõ kia.
Thế rồi anh đi, bỏ một mình tôi đứng đó, đến đây rồi tôi phải vào cho biết.

Trời nắng quá ,tôi đeo đôi kiến râm và bước vào cửa tiệm tạp hóa. Một thiếu phụ đứng tuổi đang ngồi trông nôm cửa tiệm bên trong, bên ngoài là một thiếu nữ cỡ tuổi đôi mươi.

Mới vừa thoáng nhìn người thiếu nữ tôi giật mình và súyt la lên. Trước mắt tôi là Nhị của 25 năm về trước! Tôi không tin con mắt của tôi, Nhị không còn trẻ như vậy đâu. Nhưng sao giống qúa! Tôi hỏi người thiếu nữ:
- Cháu tên gì?
- Cháu tên Vân.
Tôi bước vào bên trong mua một ít đồ dùng, đứng trước người thiếu phụ, tôi hỏi:
- Chào cô, cô buôn bán đây lâu chưa?
- Từ năm 75 tới giờ anh. Anh người ở đâu, hình như không phải ở vùng nầy. Anh tên gì?
- Tui người nơi xa đến đây thăm chơi. Tên tui là Vân. Chị có quen ai tên Vân không?
- Vân. À có. Nhưng lâu rồi không biết ảnh ở đâu.
Người thiếu phụ nhìn tôi rồi quay qua người con gái:
- Vân, con vô gọi ba về ăn cơm đi con.
Ðúng rồi, đây là Nhị, giọng nói đó, khuôn mặt đó, tuy thay đổi nhiều nhưng làm sao tôi quên được!
Nhưng buồn thay, nàng không nhìn ra tôi!

Tôi bước ra ngoài mua năm ba viên kẹo, viết lên miếng giấy nhỏ vài lời và gọi người thiếu nữ lại. Trao cho cô tờ giấy gói một nửa viên kẹo, bảo cô trao dùm cho má cô, rồi tôi bước ra cửa tiệm.
Một lát sau, tôi đã đi gần khuất bóng, tôi quay lại thì thấy, người thiếu phụ đứng ngóng theo.
Người con gái hỏi: “Chú ấy nói cái gì với Má vậy?” Người thiếu phụ không trả lời mà chỉ đưa tờ giấy gói nửa viên kẹo cho người con gái:
“25 năm về trước, ngã ba Cây Thị, hai người hôn nhau và cắn vỡ viên kẹo cho mỗi người một nửa.”
“Tên của con là tên của người ấy.”

Người thiếu phụ nói nhỏ rồi bước vào bên trong.

***HẾT***
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-09 22:47:55Ct.Ly>
Truyện Ngày Xưa của tác giả : Đồng Sa Băng

Đã được mang vào thư viện

Cảm ơn Ngo Hưu Doan thật nhiều,

Truyện đọc thật cảm động

Chúc vui

📎 mưa rừng
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-10-11 02:46:44Ngo Huu Doan>
Oh, cảm ơn sis Ct.Ly đã đọc và đưa vào thư viện. Như NHĐ đã giới thiệu, tuyển tập truyện ngắn của Đồng Sa Băng như một cuốn hồi ký mang đậm tình quê của một người con xa xứ. Nếu rảnh rảnh Ct.Ly có thể đọc tiếp các truyện tôi đăng dưới đây nhé !

Chúc vui vẻ nghen !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-10-12 21:53:15Ct.Ly>
LY RƯỢU NGÀY CƯỚI
Rút trong tuyển tập "Dấu chân ngày xưa"
Tác giả: Đồng Sa Băng
Hình minh họa: Tác giả
Thể loại: Truyện ngắn
Nguồn:nghiathuc.com



Trời vừa sang canh năm, tiếng gà gáy bắt đầu nổi lên đó đây và nhà bà Chi cũng đã lên


Đã mang vào thư viện
Cảm ơn NHĐ đã góp sức cho thư viện

Chúc vui
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-10-13 05:19:38Ngo Huu Doan>
Đã mang vào thư viện
NHĐ đã góp sức cho thư viện

Chúc vui

&lt; Sửa đổi bởi: Ct.Ly -- 13.10.2006 2:53:15 &gt;


Cảm ơn sis Ct.Ly nhìu ! tác giả gởi tặng NHĐ và NHD cũng muốn share cùng mọi người đọc nữa, bên cạnh cũng góp thêm tác giả-tác phẩm cho VNthuquan !

Tác giả mới vừa gởi cho NHD tấm chân dung, nhờ sis mang vào để bên trên cái hình bìa ở thư viện với ?

Truyện ĐSB trong thư viện, chị rinh chữ "NGƯỜI XƯA" xuống dưới hình bìa và bài giới thiệu của NHD thì có vẻ hợp lý hơn như thế này

Đồng Sa Băng

Tập truyện ngắn Dấu chân ngày xưa


Người xưa


Luôn tiện nhờ sis sửa dùm mấy dòng này:

Tản mạn với Tuyển tập truyện ngắn DẤU CHÂN NGÀY XƯA
Như vài dòng giới thiệu

(Lý do sửa: Để hình thức dễ coi và dễ biết tên tuyển tập truyện DCNX)

Một ngày nọ, tạm gọi là tình cờ, tôi nhận được tuyển tập truyện ngắn DẤU CHÂN NGÀY XƯA của Đồng Sa Băng gởi...

(Lý do sửa: Do hôm trước NHD gõ thiếu chữ "tuyển tập" trong câu trên, sửa để tránh hiểu nhầm "tuyển tập DCNX" là "truyện ngắn DCNX")

Chị rinh hình chân dung tác giả vào TV luôn, không cần để ở đây.

Phiền chị wá, rất cảm ơn chị !




Đồng Sa Băng
📎 DongSaBang
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-10-13 22:37:35Ct.Ly>
BỜ SÔNG XƯA
Rút trong tuyển tập truyện ngắn "Dấu chân ngày xưa"
Tác giả: Đồng Sa Băng
Hình minh họa: Tác giả



Sông vệ, con sông ngoằn ngoèo bắt nguồn từ những con suối trong rặng Trường Sơn. Những con suối ăn sâu vào lòng núi thật xa trên quê hương làng mạc Quảng Ngãi của Trường An, Ðồng Kè, Ðồng Ú. Rồi những con suối họp lại thành sông. Sông chảy qua Vạn Xuân, Nghĩa Phú, Nghĩa Thuận, qua đồn Cộng Hòa, và nghiêng mình lách qua những vực thẳm cao vút của đèo Eo Gió, đèo Quán Thơm để đổ về đầu làng tại Bải Hà. Từ đây dòng sông không còn gập gềnh nữa. Lòng sông hiền hòa uốn mình quanh co qua từng làng mạc để cuối cùng đổ vào biền Ðông tại Cổ Lũy. Trước khi đến Bải Hà, lòng sông sâu, nhỏ và chảy xiết, một bên là sườn núi đèo Quán Thơm có dinh Bà, bên kia là chân núi Ðình Cương có dinh Ông. Hai dinh nằm đối diện nhau trên bờ sông, và cũng nơi đây người ta đã từng thấy cọp beo xuống sông uống nước trên hòn đá chải bên cạnh dinh Bà.

Những người đi buôn từ miền xuôi thường mua mắm, muối mang lên miền thượng du để đổi lấy lâm sản như quế, trà, vân vân. Dinh Bà trên đèo Quán Thơm là con đường duy nhất mà bạn hàng từ Thi Phổ, Mộ Ðức, Ðức Phổ phải đi qua.

Mỗi lần đến dinh Bà, những người bạn hàng thường ngã nón, vào dinh thắp cây nhan (vì sợ sự linh thiên huyền bí của cái dinh) rồi mới đi.

Sau ngày “giải phóng” dinh Ông và dinh Bà cũng bị đập phá đi, nhưng ngày nay người dân đã tái lập và thờ cúng hằng ngày.

Khúc sông chạy thẳng từ đèo Quán Thơm đến bãi Phù Sa. Nơi đây nó bẻ khúc quanh 90 độ để đổ về Ðề An, và chảy ra cầu Lá Hai (Ðá Hai), có đến bốn bờ xe nước. Bờ xe Chán Thủy đổ vào ruộng Rộc Máng bên An Chỉ; Bờ xe Xuân Ðình và Ba Bình đổ vào cánh đồng Sa Băng và bờ xe Mễ Hưng đổ vào cánh đồng An Ba.

Ngày đó, ngày còn được chút thanh bình, nó đã lớn lên bên bờ con sông nầy.
Những buổi chiều oi ả mùa Hè nó thường đem bầy trâu ra trầm mình dưới sông. Hôm nay, bắp đã ra hoa, cà đà ra nụ và ruộng đồng cũng đã lên bông, những con trâu chỉ có biết ăn chơi nên thân hình chúng mập nâng ra, da bóng loáng. Mới vừa thấy con nước là nó chạy như điên như khùng làm anh em nó bị ngã nhào xuống bãi cát. Những con trâu đen sì giờ đây chỉ còn thấy những cặp sừng nhấp nhô trong dòng sông, mũi thở phì phèo làm tung bay bụi nước. Trong chốc lát dòng sông yên tịnh giờ rộn ràng với bầy trâu và đám con nít la hò ầm ỷ bên tiếng reo của bờ xe nước. Xa xa trên bãi cát Ba Bình, người thiếu nữ đang giăng chiếc máy quay tơ.

Trời vào tháng Bảy cái nóng càng ngày càng thêm ra. Bầy trâu đang ăn ở gò mã Cây Sanh, nóng qúa một vài con trâu chun vào vũng trâu lăn, lăn qua lăn lại làm bùn sình dính đầy mình. Nó đang đi lùng bắt mấy con châu chấu bào cào cho con chim Chà Chiện, vô tình bị con trâu quật cái đuôi sình bay lên dính đầy mặt, nó bực bội nhảy lùi ra xa vũng sình, rồi mắng “Mã cha mầy, mới tắm rửa hôm qua sạch bách mà bầy giờ lăn sình dơ hết trơn rồi, đồ ở dơ như trâu!” Con trâu cũng chẳng buồn nhìn nó nói những gì. Nó chợt nhớ không biết con chim Chà Chiện hôm nọ cho Mõ Làng nay lớn đến đâu rồi.
Mặt trời xuống qúa xế chều, mấy con trâu mới ăn được lưng lững. Ngày nào cha nó cũng nhắc là phải cho trâu ăn no rồi tắm rửa sạch sẽ thì trâu nó mới mau lớn. Nhưng gò mã Cây Sanh ngày nào trâu bò cũng ra gặm nên lúc nào cũng láng cón như bãi cỏ sân cù, trâu ăn sao no được.

Ánh nắng mặt trời sắp dịu lại rồi, anh em nó muốn lừa trâu ra sông tắm khi ánh nắng còn chút ấm áp trên bờ sông; Trâu còn đói thì tối về nó sẽ rút rơm cho ăn. Nó lấy giỏ bịt mồm (đan bằng nan tre hay giây giang bức từ trong núi) bịt mồm trâu lại để khỏi ăn lúa người ta. Rồi anh em nó trèo lên lưng trâu cho đi vào làng để ra sông.

Những thửa ruộng lúa đang trổ đồng đồng, trải một màu xanh biết xa ngoài tầm mắt, chỉ một vài ngọn gió nho nhỏ cũng đủ làm những bông lúa non uốn mình đùa giởn trên khắp cánh đồng. Ngày đó nó cũng không biết thế nào là mùi thơm của lúa, nhưng nó thích bức bông lúa đồng đồng chứa đầy bộng sửa cắn ăn.

Có lẽ từ ngày sinh ra nó chỉ biết vui chơi và lớn lên bên cánh đồng lúa, nên những lời ca tụng mùi thơm của lúa trong thi văn dường như không để ý đến và thấy nhạt nhoài, xa lạ.
Những lúc ra đồng nó thường bức những hột bông é khô, nhỏ bằng hột lúa chín, bỏ vào lòng bàn tay rồi nhổ một giọt nước miếng lên đó. Nó chăm chăm nhình vào một lúc thì hột é khô nỗ kêu cái tách. Nó lấy làm lạ, vì sao một hột é khô khi bỏ vào nước miếng thì nó lại nỗ lên?

Bầy trâu qua khỏi cổng bờ rào vi, nhìn lại thấy quần áo dính đầy bông cỏ may, nó đưa tay lên gỡ.

Thân hình nhỏ bé, nó ngồi trên lưng trâu trông như con thằng lằn bu cột đình. Qua khỏi chòi canh nó đi ngang ngôi trường làng, ngôi trường bây giờ vắng lặng, cái vắng lặng của lớp học trong những tháng ngày mùa Hè! Và cô giào làng có lẽ giờ nầy cũng đang cặm cụi trên những luốn khoai.

Hôm nay dòng sông thật hiền hòa, nước trôi nhịp nhàng êm ả. Anh em nó cùng một đám con nít vội vàng chạy trên bãi cát nóng bỏng. Ðến bờ nước nó nhảy ùm xuống sông. Dưới cái nóng rực như thiêu như đốt lòng bàn chân, nó mới thấy cái mát êm dịu của con nước dòng sông quê hương là thiên đàng.

Quê hương nó trải dài trên bờ sông nầy. Dòng sông rất hiền hòa nhưng cũng có những lúc mưa gió bão bùng làm điêu đứng dân làng. Những tháng trời không mưa gió, lòng sông chứa đầy những sỏi cát nên con nước lúc nào cũng trong veo. Dưới những hạt sỏi, cát đó, có biết bao nhiêu là sò, ốc, hến và cũng không thiếu một loại đặc sản của quê hương xứ Quảng: cá bóng. Những con cá bóng dồ to bằng cổ tay thì chui trốn trong bờ độn xe, còn những con cá bóng găm thì bơi lững lờ trong dòng nước, với một tiếng động là nó găm mình trong cát.

Dường như ngày nào nó cũng bơi lội trong dòng sông nầy. Nó nhớ ngày đó, cái ngày mà nó bắt đầu chập chửng theo cha ra tắm sông. Nó sợ sệt mỗi lần cha nó ôm xuống nước, nó bám vào cổ cha như con đỉa đói, rồi cha nó hụp xuống nước một hồi thật lâu, ngóc đầu lên, nó thở hổn hển. “Ôm cổ tao cho cứng nghe hông.” Cha nó dặn. Rồi ổng lại hụp xuống nước. Một hồi hụp lên hụp xuống, bây giờ cha nó đặt lòng bàn tay dưới bụng rồi đưa người nó một vòng trong dòng nước, thả tay ra, nó đập hai tay tứ tung, hớp nước sông đầy bụng!

Vậy là từ đó nó bắt đầu làm quen với nước!

Những ngày sau đó nó theo anh ra tắm sông, nhưng nó chỉ dám bò bên bờ nước cạn. Rồi có những hôm đám con nít, những đứa biết bơi, bảo nó phải cho chuồn chuồn cắn rún mới biết bơi được. Vậy là nó bắt một con chuồn chuồn bầu, đưa rún ra và nhắc cái đầu con chuồn chuồn vào rún, nó cắn một cái! Ðau chết bà. Nó nhảy ra sông, với sự hổ trợ của anh nó, từ đó nó biết bơi!

Bây giờ nó bơi thật hay, không những biết bơi mà nó còn biết lặn thật lâu dưới nước. Con sông nơi đây có nhiều cát và sỏi, nó hụp xuống nước rồi cắm mình lủi đến tận đáy sông, lấy hai chân đạp vào sỏi cát và lướt mình về phía trước. Cứ thế làm mãi, nó có thể lặn và di chuyển dưới nước thật xa.

Những người thợ xe chuyên môn lặn hụp dưới nước để xây đắp bờ xe, nên họ là những người thợ lặn chì nhất trên khúc sông nầy.

Hôm nay bên bờ xe nước nầy nó chia phe nhau chơi trò đá tôm. Mỗi bên năm ba đứa, hụp lặn dưới lòng sông, khi đến gần đối thủ thì phóng người lên mặt nước, và búng bàn chân đập lên người đối thủ rồi lặn xuống nước trốn ra xa. Bên nào bị đá trúng nhiều hơn thi bị thua. Có nhiều khi nó bị bên kia đá trúng vào vai vào đầu đau điếng người!

Mặt nước phía trước những bánh xe trông rất bình thản, nhưng khi đến gần bờ xe thì nước chảy xiết và thường tạo nên những lổ bún, nguy hiểm cho con nít. Ngược lại phía sau bờ xe, nước chảy ào ào, xoi đất cát tạo thành những lường sâu và bọt nước tung bay mịt mù.
Ðám con nít nó thường tắm phía sau bờ xe nước và mỗi lần ra đó nó hay đu lên bánh xe để kéo lên nửa chừng thì thả tay ra cho rớt xuống cái ùm. Có hôm nó đu lên bờ xe khi lên cao nó sợ quá không dám thả tay ra và bánh xe đưa nó lên tận trên đỉnh, nó với tay chụp cái máng và nằm trên đó sợ tái mặt. Ông thợ xe phải trèo lên cỏng nó xuống. Nó biết thế nào nó cũng bị một trận đòn nhớ đời mà nó vẫn bám cứng vào người ổng. Khi xưống đến mặt nước nó cố vùng vẫy lặn trốn nhưng ổng chụp nó lại không cho chạy đi, và mang nó lên bãi cát quất cho nó mấy roi đau chết người, xong rồi cột vào gốc bờ máng xe cho đến khi chiều về mới thả nó về.

Hôm đó nó đau và sợ lắm, nhưng những ngày kế tiếp ra tắm bờ xe nó vẫn bu lên bánh xe, mặt cho ông thợ xe rập rình trong chòi.

Bờ xe nước Ba Bình có dòng sông cạn nên phải làm bờ độn ngăn con nước lại để đủ sức đẩy bánh xe chạy đều. Những ngày đầu mùa của tháng Ba, trương cử, những người có phần hùn trong bờ xe đóng góp tre, lá mía và công sức xây dựng nên bờ độn. Khi những hàng cọc và phên tre cắm xuống giăng ngang qua con sông, và những lá mía khô được tấn lên hàng phên tre là từng cặp trâu bò được mang ra kéo cát tấp lên thành bờ độn như một con đê bắt ngang dòng sông.

Người thợ xe trổ hai lổ cổng trên bờ độn gọi là lổ cổng gió để điều hòa mực nước.
Có những lúc những chiếc thuyền, ghe từ dưới Vạn và những miền hạ lưu sông Vệ chuyên chở hàng hóa đem về miền thượng du buôn bán. Hoặc những chiếc thuyền xuôi mái chèo về miền biển là người thợ xe lại ra mở cổng gió cho thuyền lướt qua. Những lúc mưa to gió lớn, mực nước sông dâng cao thì hai lổ cổng gió cũng được mở ra để nước thoát giảm sức ép lên bờ xe.

Bờ sông sau làng là một bãi cát trắng, rộng, trải dài từ bãi Hà đến bãi Phù Sa. Có những buổi chiều nó lội bộ dọc theo bờ sông lên tận Bải Hà và xuống tận đến bãi Phù Sa. Bải cát rộng hàng trăm mét trải từ mé nước đến bìa làng, nơi những lũy tre xanh, cao ngạo nghễ, đứng đón những ngọn gió chiều thổi rì rào. Trên bãi cát là những đám bắp, đậu phụng, đậu xanh, dưa hấu, v.v… và hàng hàng những đám dâu tằm được trồng ngay hàng thẳng lối.

Không biết từ thời nào mà người dân trong làng nó bắt đầu trồng dâu nuôi tằm và dệt lên những tấm lụa làm đẹp cho đời. Những bãi dâu cao quá đầu người, già nua, được chặt xuống để làm thành những tấm vĩ, mành mành làm tổ cho tằm nhả tơ. Rồi trên những đám dâu già nua ấy lại nhảy chồi đâm nhánh thành những bãi dâu non, xanh biết, làm thức ăn cho tằm.

Những buổi trưa, chiều, người thiếu nữ đeo gùi trên lưng ra hái những lá dâu (mulberry) về nuôi tằm.

Cuộc đời con tằm bắt đầu như thế nầy: Những con ngài (moth) được nuôi dưỡng trong cái mâm, ngài sẽ đẻ trứng vào mùa Ðông, trứng sẽ được “ấp” theo nhiệt độ thích hợp và sẽ nở thành tằm (silkworm) vào mùa Xuân. Những con tằm sẽ được rải trong những tấm vĩ, đan chi chít bằng nhánh dâu khô, xếp dựng đứng từng hàng, và suốt ngày đêm tằm ăn dâu để lớn, và lớn rất lẹ. Khoảng một tháng sau (18- 28 ngày) tằm đủ lớn để vương tơ tạo thành kén (cocoon). Những sợi tơ óng ánh, dài có thể đến hàng ngàng mét, quấn tròn lấy con tằm nhiều nuột. Sau năm ba ngày con tằm nằm bên trong con kén sẽ biến thành con nhộng (pupa), nhộng sẽ bị luột chết đi để lấy tơ từ con kén, và một số được giữ lại để thành ngài làm giống cho lứa sau. Và cứ thế, cưộc đời con tằm lại xoai vần.

Nhộng sau khi luột chết đi, sẽ được tách ròi khỏi kén và bán cho người dân dùng để ăn. Phần kén còn lại sẽ được bỏ vào một chậu nước âm ấm, rồi người ta tìm ra cái mối cuối cùng của sợi tơ, buột vào trục quay, và từ đó những sợi tơ rối bù từ kén được gở ra và quay vào trục.

Chiều hôm nao trời nắng ấm, bên cạnh bờ xe nước, với tiếng nước reo rào rạt, là một bãi cát trắng với những bãi khoai lan, khoai mì được xét mỏng đem ra phơi khô. Trên bến sông tiếng gọi đò của bà mẹ già vội vàng qua sông cho kịp buổi chợ chiều, và đây đó một đàn con nít nô đùa trên bãi cát. Cũng trên bãi cát nầy người thiếu nữ giăng máy quay tơ để quay những sợi tơ tằm thành chỉ. Tơ được căng ra ở hai đầu máy và bàn tay thon thon của người thiếu nữ quay đều chiếc máy thủ công, tiếng máy kêu ro ro thật đều như cuộc sống êm đềm của người dân làng. Những sợi tơ óng ả sẽ được mang đi bốn phương để tô thắm cuộc đời cho kẻ giàu sang. Nhưng biết bao giờ người thiếu nữ đó mới thoát cảnh nghèo, hay suốt đời chỉ là con tằm vương tơ.

Và chiều hôm nay, sau bao năm xa cách nó trở về ngôi làng cũ, đứng bên bờ sông xưa. Con sông hiền hòa ngày nào bây giờ khô cạn nước, bãi cát trắng nay thành màu vàng nằm im lìm bên bìa làng. Nhưng tiếng reo của bờ xe nước và lũ con nít nô đùa bên bờ xe đã vắng bóng lâu rồi. Nước không còn sâu nên ông lái đò cũng không còn nữa và hình bóng người thiếu nữ quay tơ cũng đã xóa mờ theo đám dâu tằm, và đâu đây nó nghe tiếng hò: “Em như tấm vải lụa đào, gió đưa, gió đẩy, biết vào tay ai.”

Nó quay bước trở vào làng, miệng ngâm nga mấy câu thơ của bà Huyện Thanh Quan:

Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường.

***HẾT***


Nguồn: nghiathuc.com

Đã mang vào thư viện
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-10-18 21:23:29Ct.Ly>
ĐẠI BÀNG GÃY CÁNH
Rút trong tuyển tập truyện ngắn "Dấu chân ngày xưa"
Tác giả: Đồng Sa Băng
Hình minh họa: Tác giả




Trời vào mùa Đông, cảnh núi đồi trở nên trơ trụi, đó đây một vài cánh chim bay lượn. Dưới cánh đồng lộng gió, những ngọn cỏ chết khô vì giá buốt, đang rạp mình dưới chân con mèo hoang rình mồi. Và trên sườn núi, cánh chim đại bàng đang na cành về làm tổ.

Mùa Đông đang về với núi rừng Phi Châu. Những cánh đồi xanh tươi, tràn đầy nhựa sống, bây giờ xơ xác, thiếu cả tiếng xào xạc của rừng lá trông đến vắng lặng. Những thân cây cổ thụ bày cành trơ trụi trước gió đông, và nơi đây, chỉ có những ngọn gió thổi rì rào trên bải cỏ hoang tàn. Trên không là một cặp trống mái đại bàng, đang nhào lộn, lách mình xuyên qua những cành cây khô trụi lá, để lùng bắt những con mồi xấu số. Gió thổi càng mạnh đại bàng càng thích thú. Cặp mắt sáng quắt, đại bàng vươn đôi cánh trên cành cây khô, và cơn gió từ từ bốc người bay lên. Rồi nhào một cái là cả đám côn trùng lẫn chuột, thỏ đều kinh hồn chạy tán loạn.

Sự sống và cái chết trên triền núi này chỉ là gang tấc.

Mùa Đông đến mang theo cái lạnh về với rừng núi. Cũng là lúc đại bàng xây tổ uyên ương. Có những chiều gió lạnh, cặp đại bàng trống mái cùng nhau đi săn mồi mang về tổ ấm. Cái tổ ấm đơn sơ, chỉ có chổ nằm nhưng không có chổ che nắng che mưa, được xây lên bên cạnh vách đá. Rồi những cuộc tình mây mưa giữa gió trời lồng lộng, trống mái cuộn tròn trong nhau, cho rơi tự do với tốc độ ái ân. Rồi đùng một cái chàng đưa nàng bay bỗng lên trời cao, như đã đến tột đỉnh của tình yêu, nàng xòe đôi cánh thả mình lơ lửng trong bầu trời xanh lơ. Một thoáng qua đi, rồi cơn gió đưa nàng trở về bên tổ ấm. Tình yêu thật màu nhiệm, để bây giờ trong nàng, cuộc sống mới bắt đầu chớm nở.

Dưới thời tiếc khô khan và giá buốt, những ngọn cỏ trên cánh đồng hoang càng ngày càng già úa. Sức sống cỏ cây ở đây cũng tàn lụi dần theo cái lạnh của mùa đông. Và cánh đồng bây giờ lại càng rõ nét, nên bầy thỏ, chuột lại mất đi tấm màn bảo vệ. Những con mồi béo bõng hằng ngày vẫn lồ lộ trước mắt nên đại bàng suốt ngày no nê, chỉ một mình đại bàng trống cũng có thể tìm được bửa ăn hằng ngày cho “gia đình.”

Có lẽ vì thế mà đại bàng chỉ sinh nở vào mùa đông.

Từ trên vách đá cheo leo đại bàng cất cánh. Hắn xòe đôi cánh ra để đón gió, trong một cái liếc mắt, những ngọn gió luồng dưới đôi cánh khũng lồ, và nghiêng người đi một cái, hắn đã đưa thân hình bay bỗng lên không trung. Gió vẫn thổi, và cũng hai đôi cánh, hắn đứng yên trong vòm trời. Với hai con mắt tò vọ, hắn đão nhìn xuống phía dưới. Bóng dáng con thỏ vừa xoai mình nhảy ra khỏi buội rậm là hắn xếp cánh, như một chiến đấu cơ, đại bàng cắm xuống, rà phía sau con thỏ xấu số. Rồi nhanh như chớp những vuốt chân xòe ra rồi chụp lại. Hai đôi cánh lại quạt liên hồi, và trong nháy mắt hắn đã kẹp con mồi bay về tổ ấm.

Hắn ân cần xé từng miếng mồi nhỏ cho nàng, rỉa từng sợi lông trên đôi cánh của nàng như một cử chỉ yêu đương triều mến.

Gió mùa đông càng về sau càng lạnh, nàng dùng đôi cánh và những sợi lông mềm mại đẻ ấp ủ trứng. Rồi ngày tháng cũng đến, trứng vỡ ra, một cuộc sống mới lại chào đời. Như mừng rỡ nhìn thấy giọt máu của mình, hắn lại cất cánh bay đi, nhặt một cành cây khô thật lớn, bay vút lên không trung. Hắn thả cành cây cho rơi tự do, rồi lao mình bay theo chụp lại. Rồi lại thả cho rơi tan tành trên vách đá.

Có lẽ chỉ có nàng mới hiểu nỗi sự vui mừng của hắn!

Bên cạnh hai chiếc áo giáp màu đen với thân hình khổng lồ lại là một đứa bé nhỏ xíu với bộ lông trắng nõn. Chào đời giữa mùa đông, nhưng đứa bé luôn được ấp ủ bởi đôi cánh ấm áp. Đại bàng con ăn nhiều chóng lớn. Màu lông trắng từ từ chuyển qua màu vàng nâu, và những móng chân sắc bén bắt đầu thực tập trên những miếng mồi.

Và mùa đông cũng đã đi qua.

Trên sườn núi, và cánh đồng dưới chân, đang mang dấu mùa xuân trở lại. Bầy chuột và thỏ bây giờ cũng đông hơn. Trống mái thay phiên nhau đi săn mồi đem về cho đại bàng con. Trên vách đá đại bàng con suốt ngày lẫn quẩn trong ổ. Nhìn xuống cánh đồng những hoa, quả và màu xanh từ từ trở lại, nó cũng muốn tung đôi cánh theo bố mẹ nhào lượn dưới đó. Để sửa soạn cho ngày đó, ngày mà cả ba trong gia đình dìu nhau rong chơi trên cánh đồng hoang trước mặt, bố đang tập cho nó từng bước di chuyển và cách xử dụng đôi cánh. Đôi cánh vụng về đang đập bành bạch trong gió, đôi khi làm nó chúi nhũi.

Gia đình, cái không khí gia đình thật là ấm cúng. Hằng ngày trống mái đại bàng vẫn quanh quẩn tìm mồi về nuôi con. Cũng như như bao nhiêu cặp đại bàng khác, nó chỉ sinh ra một đứa con vào mùa đông, bảo vệ và nuôi nấng cho lớn. Khi vào mùa hè thì đại bàng con sẽ được huấn luyện đầy đủ để một thân một mình bay vào cuộc sống.

Nhưng lần này thì khác.

Cái ấm cúng gia đình đang chớm nỡ thì đại bàng mái lại đi xây tổ ấm khác. Mỗi ngày sau khi cho đại bàng con ăn xong, nàng lại đi na cành vè xây một tổ ấm bên sườn núi phía dưới. Rồi những cuộc tình mây mưa giữa bầu trời lại tái diễn.

Mùa xuân chóng qua, mùa hè lại đến, đại bàng lại đến ngày sinh nở. Nàng cho ra đời hai quả trứng. Rồi một cảnh hai quê, nàng vừa ấp ủ trứng vừa phụ chàng nuôi nấng đại bàng con.

Rừng hoang nào lại không có thú dữ! Và mèo hoang vẫn luôn rình mò đi tìm miếng mồi béo mỡ.

Mùa hè càng ngày càng gay gắt, màu xanh cây cỏ cũng từ từ biến thành màu nâu vàng úa. Côn trùng, chim chuột cũng hao mòn và lẫn trốn xa dần cánh đồng hoang.

Cuộc sống ở đây ai cũng là thợ săn mà cũng là con mồi.

Ðại bàng ngự trị trên không, tung hoành khắp đó đây với đôi cánh khỏe mạnh và đôi chân sắc bén. Dưới ánh nắng hừng hựt của mùa hè, đại bàng xòe đôi cánh, in hình trên thảm cỏ khô là cả bầy chim, chuột khíp cả hồn vía. Nhưng ở đây không những chỉ có đại bàng mà còn ác thú khác nữa là mèo hoang. Ngày và đêm, trong từng bụi rậm mèo hoang vẫn luôn rình mồi. Với bước chân nhẹ như tơ hồng, mèo hoang thụt thùi bên bụi cỏ. Rồi cơn gió thoảng đi qua, mang theo mùi hôi da thịt mèo hoang làm cánh nhạn cất cánh bay lên. Nhanh như chớp, mèo hoang phóng mình nhảy lên rồi chụp xuống. Thế là những sợi lông chim lại bay phất phơ trong gió, để tiếc thương cho một linh hồn vừa rời khỏi xác.

Càng vào mừa hạ thức ăn càng khan hiếm. Ðại bàng hằng ngày phải đi săn lùng liên tục may ra mới có đủ bửa ăn gia đình. Những con mồi càng ngày càng quen thuột với thói quen của kẻ đi săn, nên đại bàng phải làm việc cực nhọc hơn và phải đi xa để kiếm ăn. Ánh nắng vẫn hừng hựt nun đốt cỏ cây trên triền núi. Rồi một ngày nóng cháy hai trứng kia cũng đến lúc vỡ ra chào đời.

Ðại bàng lần đầu tiên phá thông lệ sinh ra hai lần trong một mùa.

Ðứa anh cả suốt ngày trông đợi bố mang mồi về, nhưng thức ăn lúc này bửa đầy bửa vơi. Nó năng tập tành đôi cánh để sớm vươn chải nuôi lấy bản thân. Cuộc sống càng khó, trống mái đại bàng sợ một ngày nào đó không đủ thức ăn, đại bàng anh có thể cắn chết hai đứa em. Nên nó đã xô đuổi đứa con lớn đi thật xa, xa khỏi tầm nguy hiểm của hai đại bàng mới sinh. Vậy là từ đó một mình đại bàng con tìm đường sinh sống nơi vách đá xa xôi. Với đôi cánh thiếu kinh nghiệm, đại bàng con nhiều lần đành ngó con mồi vuột đi trong nổi hối tiếc.

Ðêm xuống vùng đất sa mạc càng giá lạnh, đại bàng con co ro một mình trên vách đá. Những miếng ăn tiếp tế từ đại bàng trống càng ngày càng thưa dần, đại bàng con càng ốm yếu. Và xa xa bên kia hai đứa em bắt đầu thấy đói. Ðứa chào đời trước lớn hơn, dành giực thức ăn của đứa ra sau. Nên sự chênh lệch về thể xác đã trở thành rõ rệt. Những con mồi bây giờ trở nên khôn ngoan, một mình đại bàng trống không còn đủ sức bắt mồi cho cả gia đình, vậy là trống mái phải cùng nhau đi săn chung. Hai đại bàng con không còn đôi cánh của mẹ chăm sóc, và vì đói khác, đứa lớn đã cắn chết đứa nhỏ.

Tiếc trời sa mạc, cái nóng bang ngày vẫn tiệp tục dâng lên và cái lạnh về đêm vẫn tiếp tục hạ xuống.


Trống mái đại bàng lại càng quẩn trí khi miếng ăn cho hai đứa con không còn đều đặng. Trống mái thường rời khỏi tổ ấm, bỏ đại bàng con mới sinh ra một mình để đi săn. Dưới ánh nắng như thiêu như đốt, không có đôi cánh của đại bàng mẹ che chở, đứa con như nằm trong cơn lửa. Ðại bàng anh bất lực săn mồi, và ngơ ngác như một con nai tơ bên cạnh những móng vuốt tử thần hằng đêm rình rập. Nhưng vì sự sống của gia đình, trống mái đại bàng phải cùng nhau đi săn.

Hôm nay không tìm được con mồi, dù chỉ là con chuột nhỏ bé. Trống mái đại bàng đành phải làm một cuộc phiêu lưu. Hai đôi cánh vẫn rông rũi từ cánh đồng hoang này đến cánh đồng hoang khác tìm mồi về cho con. Trong cuộc săn lùng nó đã đi quá xa và trời đã tối. Bỏ lại hai con một mình trong đêm vắng. Ðến ngày hôm sau, trống mái na về một con thỏ béo mỡ. Nó bay thật nhanh đem về cho đứa con nhỏ. Nhưng khi về đến tổ ấm, dưới cái nắng như thiêu như đốt của sa mạc, đứa con nhỏ đã chết.

Nhìn thân xác đứa con nhỏ nằm chết co ro dưới cái nắng, đại bàng lại mang con mồi béo mỡ đi tìm đứa con lớn. Trên triền núi, bên cạnh những vách đá cheo leo, đại bàng phát hiện đứa con chỉ còn lại hai đôi chân sắc bén nằm chơi vơi trên tảng đá. Và bên bụi cây, mèo hoang đang liếm những vết máu trên từng vuốt chân.

Nó thả con mồi nằm bên cạnh đôi chân lạnh buốt, đưa mắt nhìn về phương trời xa xăm, cất tiếng kêu oan oát, rồi bay đi. Và tiếng gió, vẫn thổi rì rào qua cánh đồng hoang.

***HẾT***

Nguồn: quangngai.net

Đã mang vào thư viện
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-09 22:53:25Ct.Ly>
MƯA RỪNG
Rút trong tuyển tập truyện ngắn "Dấu chân ngày xưa"
Tác giả: Đồng Sa Băng
Hình minh họa: Tác giả



“Úi chu choa ơi, hôm nay trông lớn quá hả. Ời ời, còn đói hả, để con mẹ mầy đem đồ ăn về nó cho ăn nghen. Dể thương quá, hôm nào tao đem về tao nuôi, tao cho ăn đầy đủ khỏi sợ đói. Thôi nằm đó, tao phải đi đây.”

Trời tháng Ba, nắng, nóng, như thiêu như đốt, những thửa ruộng khô nức nẽ, lộ ra những lằn ngang lằn dọc, như làn da con trâu già dưới ống kính hiển vi. Những con Chà Chiện, Manh Manh đi săn, lùng, những con bào cào, châu chấu bay về đậu gần ổ, nhìn trước nhìn sau như sợ ai thấy cái ổ của mình. Vèo một cái, nó bay lại, nhả con mồi cho đàn con nằm chi chít trong cái ổ chật hẹp, đang há mòm đỏ lỏm trên luống đất cày. Rồi vội vàng bay đi, như cố tình dấu dím, không cho ai biết cái ổ chim con.

Dưới ánh nắng chói chang, mặt mày đỏ lưởng, nó dẫn đứa em trai đi hết đám đất cày nầy đến đám đất cày khác để xem chừng mấy ổ chim Chà Chiện. Nó đợi đến ngày chim con mọc đủ lông đủ cánh nó sẽ mang về nuôi. Nhìn đứa em, nó hỏi:

- Em ưng con nào?

- Con nầy nề.

- À, được rồi, mà nhớ sau nầy đừng có đổi lại nhe.

- Vậy thì tui lấy con kia.

- Hứ, sao mầy nhiều chuyện quá vậy. Cũng được, để con nầy anh đem cho Mõ Làng.

Rồi nó lấy lọ mực bôi lên đầu con chim vừa được chọn.

Từ ngày 23 Tết, trâu đem cầm trên Gành Vườn. Me nó may cho thằng Lái một bộ đồ mới, đưa cho nó một thúng nếp, một ít đường mía và năm ba lon đậu đen. Những thứ nầy là quà Tết để nó về quê ăn Tết. Tội nghiệp thằng Lái, tuổi nó lớn mà thân hình nhỏ chút, người ta kêu là đất điết, nên đi đâu cũng bị mấy đám con nít chọc ghẹo. Nó xa gia đình cũng gần một năm nay rồi. Ừ, Tết nhứt rồi, ai cũng về quê ăn Tết, nó cũng về quê ăn Tết như ai vậy chứ. Nó cõng tè tè trên vai những món quà đi ra đường Cái Quan, rồi nó theo hướng Ðông mà đi. Chiều nay nó sẽ trở lại Cà Ðó, Nông Nông, nơi đó chỉ có mẹ nó và mấy đứa em, cha nó đã bỏ đi đâu rồi, đi hồi nó còn nhỏ hoẻn. Nhà nghèo nên nó phải đi chăn trâu. Cái xứ gì mà nghèo khô nghèo khan, nghèo cháy mồng tơi, nghèo rơi đom đóm, nghèo đến nỗi không còn lấy một giọt mồ hôi. Vậy đó, cho nên người ta mới nói: “Ai về Cà Ðó chịu khó xách ky, tay cầm đôi đủa, chân đi lòm khòm.”

Thằng Lái nó đi một mạch về hướng mặt trời mọc, không thèm nhìn lại, chắc là nó nhớ mẹ và em lắm. Lâu lắm rồi nó mới được về thăm.

Qua ba ngày xuân, anh em nó tha hồ đi chơi. Suốt ngày mặt quần áo mới, nó đi chặt tre làm ống thụt. Có khi nó vác rựa dẫn em vào hóc Tre tìm chặc mấy cây trảu, có khi lùng trong vườn sau, tìm những ngọn tre nho nhỏ, hai anh em nó hoèn xuống, chặt ngọn để làm ống thụt.

Rồi suốt cả buổi anh em nó ngồi ngoài bụi tre cạnh nhà ông Sĩ, mà đẻo mà đục, khoét. Hể nghe tiếng cha nó réo lên là nó dẫn đứa em nó đi xuống lùm tre bên nhà ông Phước, rồi đục, đẽo, quên cả cơm nước luôn. Xong ống thụt bời lời thì nó lại đi làm ống thụt nước, không biết sức lực đâu mà sao thấy nó như con vụ suốt ngày. Vậy mà nó làm ống thụt cũng hay lắm, nó phải biết xem cây tre, cây trảu có cái ống vừa trái sưng hay trái bời lời, mắt dài, cắt ra. Nó chặt khúc đuôi, gần mắt cây khoảng một phần ba gang tay, gắn chiếc đủa con vào làm cán thụt, vậy là xong. Cuối cùng nó lấy lá dừa quấn trên đầu ống thụt cho loa ra, mỗi lần thụt kêu bốc bốc, nó thấy tê tê làm sao!

Ống thụt trái sưng thì tiếng kêu thanh hơn, và mỗi lần thụt trúng ai là thôi, đau chết người.

Nhưng nó khoái nhất là ống thụt liên thanh. Ống thụt liên thanh đốt tre phải dài hơn ống thụt chiếc. Ở gần cán nó khoét một cái lổ, rồi lấy một đốt tre khác lớn hơn gắn vào lỗ khoét làm băng đạn. Trên băng đạn nó cột một chiếc đủa con bằng giây thun, để giây thun rút chiếc đủa đẩy từng trái bời lời xuống. Nó làm cho em nó một cái giống như cái của nó. Nó nhét vào năm, sáu chục trái bời lời trong băng đạn.

“Anh nạp bời lời chi nhiều vậy?”

“Anh đi kiếm Anmota và Chị Hai Ba Lê anh bén!”

Rồi nó dẫn em nó đi thụt điếc lỗ tai làng xóm!

Ra giêng, Tết nhứt qua rồi, hương vị của bánh chưng, bánh tét, những buổi tiệc tùng, bánh trái, và những buổi cờ bạc mua vui cũng phai dần theo ngày tháng. Nhưng người ta nói: “Tháng Giêng là tháng ăn chơi”, nên cái hương vị của ba ngày Tết hình như vẫn còn lưu luyến, giống như cái buổi ban đầu.

Nó theo Cha lên Gành Vườn lừa trâu về. Lúc nầy lối đi nhẳn hơn, đoàn người trong làng cũng bắt đầu từ dốc Mồng Công mà lên. Khi đến Gành Vườn, trâu ăn khắp nơi. Ðến trưa thì những người chủ trâu đều có mặt, họ chia nhau ai nấy đi tìm trâu của mình. Bầy trâu thấy chủ đến nó cũng mừng. Sau một hồi đi tìm kiếm, la hò, những con trâu được gom lại và chia ra thành từng bầy. May mắn là năm nay không con nào bị cọp chụp, nhưng nghe đâu bầy trâu Nghĩa Phú có một con thất lạc, nó đã theo trâu rừng. Làng nào lừa trâu về làng nấy.

Trong chốc lát Gành Vườn bây giờ trở thành hoang vắng, cái hoang vắng của rừng núi.

Rồi những ngày kế tiếp cánh đồng trở nên nhộn nhịp, những người nông dân vác cày đi trên bờ đê, lòng hớn hở: “Trâu ơi, ta bảo trâu nầy, trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta …”

Trời sau Tết càng ngày càng nóng, cái nóng chói chang làm nức nẽ ruộng đồng, nắng như nắng tháng Ba. Những luống đất cày giờ cứng như đá. Cánh đồng vào tháng Ba như một bãi sa mạc, không một ngọn cỏ, và từ trên xuống dưới, ánh nắng hừng hực của ảo ảnh sa mạc cũng đủ làm con mắt nheo lại. Vậy mà anh em nó cũng đi lùng từng ổ chim Chà Chiện, vì, chỉ còn mấy tuần nữa thôi, là, nước từ những bờ xe ngoài sông Vệ sẽ đổ lên cánh đồng nầy. Mấy ổ Chà Chiện cũng sẽ lớn lên, và sẽ bay đi.

Nắng, nóng quá, người ta chỉ trông một giọt mưa, một giọt mưa đầu mùa để cho ngọn cỏ đổi màu, và con mắt không còn nhíu lại.

Hình như con nít lớn lên ở miền quê đứa nào cũng thích nuôi chim. Bắt con chim từ lúc còn nhỏ xíu, nhai gạo nát ra rồi cho chim ăn, nuôi từ lúc thật nhỏ con chim nó mới trung thành và không bỏ đi. Rồi đi đâu cũng để con chim đậu trên bờ vai, lâu lâu nó làm cái bẹt cũng phải ráng mà chịu! Nó để con chim đậu ở một cành cây rồi bước đi năm ba bước xong huýt sáo, đưa tay ra, thế là con chim bay về đậu, nó lấy làm thích thú.

Nó hay tháy máy và thích chơi với súng đạn. Mỗi lần nó lừa trâu vào gò Ðồn ăn, nó nghịch ngợm, hay nghịch ngợm lắm.

Những năm đầu thập niên 60, Gò Ðồn có nhiều rẩy trồng khoai lan, khoai mì và đậu phụng. Khi chiều tối về heo rừng hay xuống ủi phá rẩy nên người ta làm bẩy để gài heo rừng. Ðúng ra là cái súng gài heo rừng.

Người ta dùng một khúc gỗ cở bằng bắp chân và dài cở một thước, đẻo một đầu hình vuông và đầu kia nhọn để dể cắm xuống đất. Ở đầu vuông người ta khoét hai cái lỗ tròn. Một lổ lớn cở bằng đường kính của viên đạn ca-lip, xong gắn một ống sắt dài chừng vài gang tay làm nòng súng. Và một lổ nhỏ bằng đầu chiếc đủa con. Ðối diện với nòng súng người ta gắn cái bẩy đập sao cho cần đập đập ngay vào trung tâm ổ nòng súng.

Chiều lại, khi mọi người đi làm trong núi đã ra về, người chủ súng lắp viên đạn ca-lip, loại có 9 đầu banh nhỏ vào nòng súng. Gài bẩy đập lên và giăng một sợi cước dọc theo chiều dài của đám rau lan, một đầu dây cước cột vào chốt bẩy đập qua lổ nhỏ trên súng. Khi heo rừng về phá phách, đi ngang vướn dây cước, giựt chốt bẩy đập và đập vào hột nổ viên đạn, đạn sẽ bắn ngay vào đầu heo.

Khi trời sáng, trước khi mọi người vô núi, người chủ bẩy phải đi gở đạn ra.

Mỗi lần vào gò Ðồn, lần nào nó cũng đến cái bẩy gài heo rừng mà phá. Nó gài dây lại, và làm con heo rừng ủi đám rau lan chun qua, mắt sợi dây giựt cái bẩy, cái bẩy đập cái cạch, nó cười khanh khách.

Hôm đó nó cũng làm y chang, gài sợi dây lên. Nhưng nó không làm con heo rừng chun qua như mọi lần, mà nó đứng trước sợi dây, lấy cây roi kẹp giửa háng, búng sợi dây, một cái, không sập bẩy, hai cái, không sập bẩy, ba cái, RẦMMMM. Chết rồi … Cái bẩy đập vào hột nổ viên đạn ca-lip, nỗ …vang rền khu núi, xém một chút là lấy mạng con trâu nghé ăn bên đồi. Thì ra ông Sáu Hào sáng hôm đó chỉ gở cái chốt bẩy đập mà không lấy viên đạn ra. Thằng nhỏ sợ xanh mặt. Một lát anh nó vào thế coi trâu, nó không dám băng qua đồng Sa Băng mà vòng lên đường Cái Cát đi về. Ông Sáu Hào vô gặp anh nó lại quất cho mấy roi, nói là tội phá phách! Anh nó lảnh đạn cho nó một cách oan uổng!

Trong làng nghe tiếng sung nỗ lớn, chắc là có chuyện gì rồi. Cha nó lật đật chạy vào gò Ðồn và xạc cho ông Sáu Hào một trận vì bất cẩn và vô trách nhiệm mà còn đánh đứa nhỏ nữa.

Tháng Ba qua rồi, tháng Tư đến, những bờ xe nước bây giờ đang hoạt động. Suốt ngày đêm những bánh xe vẫn chạy không ngừng.

Cái buổi ban đầu rất vui, nó dẫn đứa em ra tận đầu đường mương nước. Nơi mà những giọt nước được mang lên từ sông Vệ, đổ lên máng, chảy róc rách qua một cái máng thật dài qua bãi cát, rồi cuối cùng trút vào bờ mương. Anh em nó và một đám con nít nằm sẳn dưới bờ mương để chờ. Nước trên máng chảy xuống trắng xoá và đổ lên đầu những đứa trẻ, nó vui mừng, reo hò ầm ỷ. Xong rồi nó đứng lên chạy theo con nước, chạy mãi ra cánh đồng.

Mương nước mấy tháng nay khô ráo, rác rến đầy dơ bẩn, bây giờ được tẩy sạch bởi dòng nước. Những gì dơ bẩn thì người ta lấy nước rửa cho sạch, nhưng nước dơ bẩn thì lấy gì rửa đây! Máu. Có người nói, nước dơ bẩn thì lấy máu để rữa sạch!

Thế là cánh đồng lại trổi dậy sức sống. Những người nông dân lại mang trâu, bò, ra cày, bừa, xong rồi những đám mạ nỗi lên xanh rì. Người ta đi nhổ mạ mang ra ruộng để cấy, cánh đồng bây giờ là một rừng nón lá trắng phếu, nón lá của những người đi cấy lấy công. Màu cỏ khô, vàng cháy trên cánh đồng lại từ từ chuyển thành màu xanh tươi, đầy nhựa sống, như những cô gái xuân thì.

Lúa đang lên, và gió mùa tháng Tư trở lại, từng cơn gió ướp lên ngọn lúa và cánh đồng như một dãy lụa phất phơi.

Tháng Sáu tiển tháng Năm đi, rồi tháng Bảy đến. Cái tháng Bảy mà suốt đời anh em nó không bao giờ quên.

Năm đó, Cha nó phải phá cái chuồng trâu để dời nhà anh Hai vào khu đất trong vườn. Chỉ vì miếng đất làng không hợp với tuổi vợ chồng anh Hai, tuổi Tuất, 1934, nên sinh ra đứa con nào mất đứa nấy. Vậy là trâu không có chuồng để ở. Cha nó phải mang trâu cầm trên Sân Ruộng, núi Ngang, đợi khi nào làm xong chuồng sẽ lừa về.

Một hôm, nó dẫn em nó vào bìa cấm Ông Thi chơi. Ði đến ruộng Nhôm ở bìa cấm thì chị nó, người chị mới vừa lập gia đình cách đó không lâu, gọi anh em nó lại, hái dưa hấu, bẻ mía cho ăn, và bảo:

- Hai đứa lên Sân Ruộng lừa trâu về dùm cho chị nhe.

- Chi vẩy chị Năm?

- Thì để cày chứ chi.

- Chị mà cày cái gì, sao không nói anh Năm ảnh cày cho.

- Cái thằng mắt dịch nầy nói lải nhải gì nữa đây!

- Nhưng mà chuồng trâu làm chưa xong mà.

- Cha nói xong rồi, hai đứa ăn xong rồi đi dùm cho tui đi.

Hai anh em nó bổ dưa ra ăn, xong rồi ôm mấy cây mía ra đi, chị nó nói theo:

“Nhớ nghe hông, lên lừa trâu về cho chị đó.”

Nó không trả lời mà cũng không ngó lại mhìn khuôn mặt lo lắng của chị nó lúc đó như thế nào. Nó dẫn đứa em đi, vừa đi vừa xước mía, nó cũng định lên Sân Ruộng lừa trâu về để trả nợ mấy khúc mía và trái dưa hấu mà chị nó “hối lộ” cho hai anh em nó.

Khi tới ngã ba con suối, một nhánh chảy xuống từ hố Trầu, một nhánh chảy xuống từ hóc Tre, và một nhánh chảy vào đập Làng. Nó lấy nón lá đến bên cái mạch, dòng nước trong veo đang nhoi lên từ trong lòng đất, nó múc lên cụm nước để uống. Nhìn lên, nó thấy con đường lên núi sao mà rậm rạp, âm u qúa.

Trời sắp mưa, mà mỗi lần lên Sân Ruộng nó phải đi qua con đường âm u nầy, lần nào nó cũng sợ nhất là khúc đường núi ngắn ngũi nầy. Tự nhiên lòng nó sợ, nó bèn dẫn em đi thẳng vào hóc Tre chơi.

Hóc Tre lúc nào cũng vậy, có con suối nước chảy róc rách, có những lùm tre già ngổn ngang, và xoài núi. Những cây xoài cơm thật lớn, vào mùa trái ra xum xê, nó thường leo lên hái ăn. Hóc Tre có hòn đá bạc bên cạnh cây xoài mà ngày nào đến đó nó cũng trèo lên hòn đá bạc to khổng lồ. Bên cạnh hóc Tre là một cánh đồng lúa gieo, với những hình người nộm dựng bên những cái mõ, gõ suốt ngày đuổi chim. Khi gió thổi, những chong chóng của cái mõ quay tít trên cái trục mõ, và cứ thế, hai cục gõ thay phiên nhau gõ trên mõ lóc cóc lóc cóc, đuỗi chim lúa bay đi.

Nhưng nó thích đi vào hóc ông Thuần để nằm trên những tảng đá to, và bằng riếng dưới hàng cây cau xanh rì. Trời buổi trưa gió hiu hiu thổi, anh em nó nằm ngủ trên tảng đá bên cạnh cánh cánh rừng.

Những người con ông Thuần lúc nào cũng có trong rẩy, thân hình họ bậm trợn với bắp tay cuồn cuộn, có lẽ lúc nào cũng lao động nên mới được như vậy. Có điều là mỗi lần cần nấu ăn, hay đốt cái gì là mấy người thanh niên lực lưỡng đó đi kéo lửa hay lắm. Họ chỉ dùng hai thanh tre khô, một thanh gắn chặt lên mặt đất hay cái bàn, thanh kia đặt nằm ngang với góc 90 độ. Rồi lấy hai tay kéo lên kéo xuống thật lẹ, một hồi thì hai thanh tre nóng lên vì cọ xát, lấy buì nhùi để vào là sẽ bật cháy ngay.

Luồn mây đen lúc nảy kéo đến càng lúc lại càng đen hơn, rồi gió thổi, mây di chuyển, bầu trời đen tối. Giọt mưa bắt đầu rơi.

Những giọt mưa đổ xuống, và gió mang đi tạt lên cánh rừng nghe rào rạt. Dường như tất cả sinh hoạt nơi đây đều dừng lại, chỉ trừ hạt mưa, vẫn rơi.

Không biết từ đâu, nhưng mỗi lần mưa rừng về sao nó thấy buồn ơi là buồn. Ðối với nó chỉ có sự linh động, sự linh động của con người, của chim chóc và của những cái như thằng mõ mới tạo nên sự sống của những người sống miền sơn cước. Nhưng dưới cơn mưa những linh động đó coi như đã bị tê liệt, và cuộc sống nơi đây cũng trở thành buồn tẻ.

Nó cùng đứa em đứng trú mưa trong một căn chòi lợp bằng lá, mưa không lớn hơn nhưng cũng không chịu ngừng lại, nó đành phải dẫn em ra về dưới cơn mưa.

Hôm sau anh em nó trở lại ruộng Nhôm, lại gặp chị nó:

- Trâu đâu?

- Hôm qua trời mưa em không lên đó được.

- Vậy thì hôm nay trời không mưa hai đứa đi cho chị nhe. Ðây nề, dưa hấu và mía chị cho hai đứa nề, ăn rồi đi lừa trâu về dùm chị.

Nó lại ngồi xuống mổ dưa ra ăn, trái dưa hấu chín đỏ, ngọt lịm. Ăn xong nó lại xách mía dẫn đứa em ra đi.

Hôm nay trời còn sớm, mới mười hai giờ trưa mà anh em nó đã đến ngã ba con suối. Nó nhìn em và hỏi:

- Ði hông?

- Ăn mía, ăn dưa hai ngày rồi, không đi sao được. Em nó nói.

Vậy là anh em nó thui thủi bước vào con đường rậm rạp âm u bắt đầu lên núi. Nó đi trước và em nó lủi thủi theo sau. Khúc đường chưa được 500 thước mà nó sợ tái mặt, vì hai bên là những bụi sưng, bời lời cao lớn và đan nhau chằng chịt phủ đầu. Lên khỏi khúc đường nầy thì con đường trở nên quang đảng sáng sủa. Hai bên lối đi chỉ có những bụi chà là, sim, và những bụi cây rừng mọc lòi còi. Ít ra nó cũng nhìn thấy được ánh mặt trời. Nó dẫn em nó lại hòn đá bàn, bằng riếng như cái bàn, trèo lên ngồi chơi. Nó nhìn xuống tháy cấm Ông Thi và ruộng Nhôm bên cạnh.

Lúc nầy em nó cũng ít nói. Hai anh em đi giữa rừng núi hoang vu, không một bóng người, chỉ có cây rừng và rừng. Nó vác cái rựa đi trước, một hồi em nó nói:

- Thôi, đi xuống anh Long, tui sợ quá.

Từ đây đến Sân Ruộng khỏang hơn một cây số nữa. Nó nói:

- Ði tới đây rồi, xuống sao được, em ráng đi một chút nữa đi, sắp đến chỗ trâu ăn rồi, gì đâu mà sợ.

Có lẽ cảnh rừng núi hoang vu làm em nó sợ. Và cái sợ trở thành giây chuyền, nhưng nó nghĩ làm lớn nó phải cứng rắn lên. Rồi hai anh em nó tiếp tục đi tới. Cảnh rừng núi bao la mà anh em nó lại nhỏ bé, vừa đi nó vừa nhìn láo liên chung quanh.

Qua khỏi hòn đá bàn một khúc là tới đầu hố Gà. Con đường xuống hố thật là dốc, và càng vô sâu trong hố thì càng âm u. Ỏ đây thỉnh thoảng có những con nai, mang, đi ăn, vừa thoáng thấy bóng người là nó nhảy vọt qua bụi chà là, coi như biến mất. Cũng tại đầu hố nầy nó phải lựa chọn: nếu đi thẳng thì sẽ lên Sân Ruộng trong, nếu quẹo trái đi về hướng hố Sâu thì sẽ đến Sân Ruộng ngoaì. Sân Ruộng trong và ngoài chỉ cách nhau một cái gò nhỏ, gò ông Phụng, trâu có thể đi qua đi lại dể dàng. Sân Ruộng trong cỏ tốt hơn và có nhiều nước trâu lăn, nên nó quyết định đi thẳng.

Nó dẫn em đi gần đến chân hố Sâu. Từ chân hố Sâu đến Sân Ruộng trong không qúa 400 thước, nhưng con đường đi rất rậm rạp. Những bước chân anh em nó bắt đầu chậm lại, cảnh vật chung quanh dường như bao trùm một bầu không khí khó thở. Nhìn lên trời nó thấy mây đen bay về, ánh nắng yếu ớt soi qua áng mây xám, in bóng cây lên nền đất về hướng Ðông, dường như mưa rừng sắp đổ.

Nó nhìn lại sau lưng thấy bước chân em nó dừng lại, với khuôn mặt đầy cương quyết, em nó nói:

“Thôi, anh muốn đi thì đi một mình đi, tui không đi nữa.”

Nó cũng đứng lại, muốn nói em ráng đi một chút nữa là đến chỗ trâu ăn, nhưng tự nhiên sao nó cũng thấy sợ, sợ cái cảnh hoang vắng của rừng núi.

Ngày xưa nó thường lên Sân Ruộng với anh chị lớn nên nó không sợ, nhưng hôm nay, hôm nay có cái gì là lạ! Rồi không ép buộc em nó nữa:

“Thôi, xuống thì xuống.”

Vậy là anh em nó quay đầu lại đi xuống núi một mạch không dám ngó lại. Em nó đi trước nó đi sau, hai đứa chạy lúp xúp.

Khi vào khúc rừng rậm thì mưa cũng bắt đầu nhỏ hột. Những hột mưa rừng càng làm nó sợ thêm. Hai đứa lật đật chạy xuống cho lẹ. Khi đến ngã ba con suối nó mới hoàn hồn và hết sợ.

Vậy là chuyến đi không thành, nó dẫn em nó trở về tay không.

Chạn vạng hôm đó anh em nó ngồi ăn cơm với gia đình, cha nó hỏi:

“Hai đứa có lên Sân ruộng lừa trâu về cho chị không?”

Nó thuật lại câu chuyện đến nửa đường bỏ về, cha nó không tin:

“Hai đứa đi vào hóc Tre bắt chim bắt chuột chơi phải không?”

Ăn tối xong, cha nó ra bờ rào vi canh gác với những người dân làng.

Khi trời chập choạng tối, những người trong chòi canh phát hiện những bóng đen chạy thình thịch trên cánh đồng và càng lúc những bóng đen đó càng gần bờ rào vi hơn. Những người canh gác đã mỡ chốt lựu đạn chờ sẳn. Những bóng đen càng lúc càng gần bìa làng, và chỉ còn vài chục thước nữa là sát bờ rào vi.

Cha nó phát hiện những bóng đen đó là đàn trâu, và la lên, nên lựu đạn được cất vào!

Những con trâu đem xám bây giờ đã đứng ngay cổng bờ rào vi, cha nó ra mở cổng nhưng cổng đã khóa chặt. Rồi anh Hai nó phải dùng búa đập bể ổ khóa, những con trâu lật đật chạy vào làng, nó vẫn còn sợ, rất sợ. Bầy trâu chạy một mạch về chuồng. Khi thấy chuồng mới, lạ nó không dám vào, nhưng rồi chúng nó cũng phải vào. Không biết đến bao giờ nó mới hoàn hồn. Cha nó đếm thì thấy mất hai con trâu nghé!

Vậy là hai con trâu nghé kia bị làm mồi cho cọp!

Bầy trâu bị cọp chận trên Sân Ruộng từ hồi chiều, chờ đến tối mới chụp. Những con lớn khoẻ mạnh, chạy lẹ nên mới khỏi nanh móng của cọp. Hai con trâu con chạy không khỏi nên đành bỏ mạng!

Cha nó vào nhà ôm hai đứa con mà lòng thổn thức, không nói một lời.

Sáng ngày hôm sau một đoàn người lên núi tìm xác hai con trâu. Khi đến Sân Ruộng ngoài thì thấy xác một con trâu vẫn cò nguyên, con kia chỉ còn lại hai cái sừng. Rồi anh nó đem hai quả lựu đạn, dùng thịt trâu còn lại để giữa hai bụi cây cách nhau vài thước, mở chấu lựu đạn, đặt trong hai cái ống tre trong bụi rồi mắc vào sợi dây, cột vào đống thịt.

Tối đêm hôm đó, khi mặt trời vừa lặn khỏi chân núi thì người dân trong làng nghe một tiếng nổ rền trời. Một tiếng nổ của hai trái lựu đạn.

Ngày hôm sau đoàn người lại lên Sân Ruộng để tìm xác cọp! Hai quả lượu đạn nổ dội con cọp ra xa mười thước, mười thước mới thấy vết máu. Vậy mà không thấy xác con cọp! Rồi từ đó nó đi lên dông núi qua phía Nghiã Phú, nó vòng lên Gành Vườn, qua Mễ Sơn. Và một tháng sau, những người đi cắt tranh bên Mễ Sơn lượm được xác con cọp!

Những năm 63, 64 núi rừng bị động, cọp nó về nhiều hơn, và quấy nhiểu dân làng.

Ngày hôm sau anh em nó ra đường Cái Quan, nhìn vào khu rừng trước mặt, nó vẫn còn sợ. Rồi cơn mưa lại đổ, mưa trên đồng và mưa trong rừng. Giọt mưa nào buồn, và, giọt mưa nào cứu mạng anh em nó!

Mưa rừng ơi! Mưa rừng!

*** HẾT ***



Sưu tầm: Ngô Hữu Đoàn (đã xin ý kiến tác giả)
Nguồn: nghiathuc.com


Đã mang vàon thư viện
Cảm ơn Ngô Hữu Đoàn nhiều nhé
Tình thân
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: Ngo Huu Doan

Tản mạn với Tuyển tập truyện ngắn DẤU CHÂN NGÀY XƯA
Như vài dòng giới thiệu



Một ngày nọ, tạm gọi là tình cờ, tôi nhận được tuyển tập truyện ngắn DẤU CHÂN NGÀY XƯA của Đồng Sa Băng gởi đến từ bên kia bờ Thái Bình Dương. Tôi tham lam đọc ngấu nghiến lần lược theo thứ tự của mục lục lục mà khi thấy cay mắt thì đã 2 giờ sáng! Cũng chính vì sự tham lam này mà tập truyện đã "cao chạy xa bay" ngay buổi sáng hôm sau khi tôi rời khỏi nhà. Thằng bạn ngủ "quá giang" hôm đó nó đã rinh đi mất, sau đó nó còn bị người khác rinh tiếp nên tập truyện chỉ quay lại tôi sau gần ba tuần với nhiều cuộc điện thoại "đòi nợ"!

Toàn tập truyện như một cuốn hồi ký về quê hương. Tác giả không có ý định xây dựng một nhân vật chính nào cả, tất cả đều "kể" ra rất thật. Thật như đời sống thường nhật, thật như những con người bình dị nói bằng ngôn ngữ của quê hương ruộng đồng. Truyện ngắn của Đồng Sa Băng không hề thấy sự trau chuốc từ ngữ, thậm chí không sửa các từ địa phương mà chúng ta thường cho rằng khó biết, khó hiểu. Và cũng chính vì điều này ta lại cảm thấy hương vị của hoa đồng cỏ nội lại ngào ngạt lang tỏa khi đọc tập truyện. Đọc truyện của Đồng Sa Băng tôi liên tưởng đến "Thằng quỷ nhỏ", "Buổi chiều window"... của Nguyễn Nhật Ánh mà ngày xưa tôi thèm đọc như người nghiện thèm thuốc.

Xin chân thành cảm ơn tác giả đã vẽ lại bức tranh về đồng quê xứ Quảng bằng cả ký ức và tấm lòng của một người xa xứ. Trong bức tranh này có bóng dáng người mẹ, có em thơ, có tiếng gà sớm trưa, có tiếng bình yên mỗi buổi tinh mơ của học trò rủ nhau đi học, có tiếng khóc cười của buồn vui cuộc sống. Ai lớn lên từ quê hương có đồng ruộng, có núi đồi, có sông nước có lẽ cũng sẽ thấy ít nhiều dấu chân của chính mình trong số các DẤU CHÂN NGÀY XƯA đã in hằn trên quê hương yêu dấu!

Ngô Hữu Đoàn
Sàigòn, 09.10.2006

XIN TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU CÙNG CÁC BẠN

Cám ơn lòng ưu ái của Ngô Hữu Đoàn dành cho tuyển tập truyện ngắn Dấu Chân Ngày Xưa. Những lời cảm nghĩ của bạn đã cho tôi một niềm vui rất lớn. Hôm nay ĐSB đã vào đây được qua sự giới thiệu của bạn, rất vui mừng tham gia đóng góp cùng các bạn. Và ĐSB cũng hy vọng những mẫu chuyện nho nhỏ của ĐSB sẽ đưa các bạn về một quá khứ an bình.
 
Mến chào Diễn Đàn.
ĐSB
Đăng nhập để trả lời
0