<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-06 04:48:47mssthuan>
CHUYỆN TÌNH TRISTAN & ISEUT
Chuyện Dân Gian Pháp
Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin – 1997
CHƯƠNG 1
Chuyện Dân Gian Pháp
Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin – 1997
CHƯƠNG 1
Ngày xưa, thời trung cổ bên Âu châu, vua Marc trị vì tại miền Cornouaille. Đất đai rộng lớn, nhiều đô thị, nhiều rừng tốt, nhiều mỏ quý và nhiều lông thú. Nhà vua ngự tại Tintagel, trong một tòa lâu đài với những cây tháp cao vời vợi. Thương thuyền tứ xứ đua nhau kéo tới bỏ neo dưới bến. Hiệp sĩ bốn phương đều ao ước tới triều đình vua Marc dự những cuộc đua tài đấu võ.
Rivalen, trị vì tại miền Loonois, cũng tới dự đua. Rivalen dòng dõi quý tộc và can trường, trước triều vua Marc có nhiều dịp biểu dương đức tính hiệp sĩ và chiếm được trái tim công chúa Blanchefleur, em gái của vua Marc. Cả hai cùng xinh đẹp và phong nhã, được cảm tình của hết thảy mọi người chung quanh. Nhà vua hoan hỷ chiều ý đôi bạn,cho phép kết hợp thành đôi vợ chồng.
Hôn lễ vừa xong, có tin từ Loonois tới cấp báo. Công tước Morgan cho quân tới đánh chiếm lãnh thổ của Rivalen. Dọc đường tiến quân lâu đài bị phá nát, chúng dân bị cướp bóc, quân lính của Rivalen bị hại rất nhiều. Rivalen vội vã xuống thuyền trở về, đưa theo công chúa Blanchefleur đã thụ thai.
Về tới đất nhà, Rivalen hối hả triệu tập binh sĩ, tung quân ngăn chặn xâm lăng. Trước khi lên đường, Rivalen trao cho người thân tín Roald, tức Foi-Tenant, nhiệm vụ bảo vệ và chu toàn công chúa Blanchefleur.
Trong một cuộc đấu nảy lửa, Rivalen bị hạ sát. Blanchefleur đợi mãi chồng chẳng thấy tin. Khắp miền Loonois, dân chúng kêu gào than khóc. Khi hay tin Rivanlen đã bị giết, Blanchefleur tái xanh, chết ngất.
“Phu quân ta chết đi làm sao ta sống được nữa. Ta là cuộc sống, là nguồn an ủi của chàng; chàng là niềm vui, là cả đời ta. Ta phải chết theo chàng. Nếu ta không mang thai trong bụng chắc ta phải chết tức khắc.”
Blanchefleur cho gọi Foi-Tenant.
“ Ta giao phó cho nhà ngươi đứa nhỏ trong bụng. Nhớ tới phu nhân ta, nhà ngươi hãy lo bao bọc đứa nhỏ, coi như con của nhà ngươi. Còn đây là chiếc nhẫn: tặng vật của vua Marc. Một ngày nào vua Marc trông thấy chiếc nhẫn sẽ nhìn nhận con của em gái nhà vua”
Một ngày một đêm công chúa Blanchefleur đau đớn, sáng hôm sau hạ sanh một trai. Nhờ ơn Thượng Đế, đứa nhỏ khỏe mạnh. Bồng con trên tay, công chúa Blanchefleur nhủ thầm với con:
“Con ơi, mang thai con mẹ mong đợi xiết bao, sanh con ra xinh đẹp như vậy nhưng mẹ không sao nguôi được nỗi buồn. Về đây khi giặc giã mẹ đã buồn, và sau đây mẹ sẽ chết vì buồn. Buồn thương bao vây con, mẹ cho con mang tên buồn, Tristan.”
Blanchefleur hôn con rồi chết.
Chàng hiệp sĩ Tristan ra đời bị buồng thương vây bọc, sau đây còn nhiều khổ lụy với cô gái đẹp Iseut.
Mời bạn đọc nghe chuyện tình đau khổ của Tristan và Iseut.
Công tước Morgan chiếm lãnh được miền Loonois bèn treo bảng an dân: dân chúng cứ yên ổn làm ăn, đất đai của ai vẫn lo canh tác như thường. Nhưng nếu Morgan hay tin con trai của Rovalen còn sống sót chắc chắn sẽ hạ lệnh bắt giết.
Road, Foi-Tenant bồng đứa nhỏ, tắm rửa rồi bí mật đưa về nhà. Road bảo vợ nằm yên trên giường như nằm cữ. Tristan được coi như con mới sinh của gia đình Road. Rồi Road nuôi nấng Tristan như con mình.
Bảy năm, Roald không để Tristan cho đám phụ nữ coi sóc nữa và đưa tới giao phó cho một ông thầy. Đó là Governal, một kỵ sĩ vừa đạo đức vừa thông thạo mọi môn thao luyện để trở thành hiệp sĩ. Governal dạy cho Tristan làm chủ con ngựa như thế nào, dạy điều khiển chim điêu, tập những cực nhọc của một cuộc săn thú, luyện công phu của một hiệp sĩ cầm gươm mặc giáp. Governal cũng dạy cho Tristan biết đánh cờ cao, biết những món giải trí ngồi bàn, cũng như gợi được từ cây thụ cầm buông ra những âm thanh như ý muốn. So sánh với những chàng trai cùng trang lứa, chẳng bao lâu Tristan đã vượt hẳn về diện mạo, đức độ cùng những sở trường của người hiệp sĩ. Trông thấy Tristan lớn lên và trở thành một chàng trai với đầy đủ bản lãnh, ai cũng phải ngợi khen. Chỉ riêng đám con trai của Roald lại ghen tị, cho rằng cha cưng một mình Tristan, muốn gì cũng được chiều ý. Lũ chúng đâu biết Tristan là con trai chủ tướng của Roald, và lớn lên sẽ là chủ tương lai của Roald nữa.
Bữa kia có một thương thuyền từ Norvège tới cập bến. Tristan đòi xuống thuyền coi những khách thương ngoại quốc. Nài nỉ quá, Roald phảIseut chiều lòng đưa Tristan cùng đi vớIseut lũ con mình.
Hàng hóa chấTristan đống trên thuyền: trân châu, vũ khí, lông thú, tơ lụa và mộTristan bầy chim điêu. Tristan nói được tiếng các thủy thủ ngoại quốc, trả giá mua bảy con chim điêu chia cho các anh em. Tình cờ Tristan ngó thấy một bàn cờ. Tristan đánh thức đám thủy thủ cùng đánh cờ. Hai bên thỏa thuận đặt cuộc và ngồi đánh. Roald bảo với Tristan:
“Cha đưa mọi người về trước, Tristan, con có thể ngồi lại”
Lũ thủy thủ thấy Tristan xinh trai và tài giỏi, chúng toan tính nếu bắt cóc Tristan đưa đi sẽ có lợi. Giữ Tristan dưới tàu sai phái được nhiều việc, nếu sau có bán đi cũng có nhiều tiền. Lẳng lặng, chúng cho thuyền rời bến.
Khi Tristan ngó lên thì chiếc thương thuyền đã ra khơi.
“Trời ơi, các người muốn gì? Tại sao các người bắt ta đi?”
Lũ thủy thủ đáp:
“Chú bé phải đi theo bọn ta. Không có ai bảo vệ chú bé nữa đâu”.
Tristan trút hết tức giận trên bàn cờ, nhưng có than trách đến đâu chiếc thương thuyền vẫn rẻ sóng lướt đi. Bỗng đâu có bão tố, cánh buồm đập mạnh, sóng biển dâng cao, mưa gió, chớp giật, sấm động. Thuyền bị nhồi dữ dội đến độ không ai có thể đứng vững. Tám ngày tám đêm trên chiếc thuyền bị trôi dạt theo sóng gió giữa biển khơi, không biết đâu là đất liền nữa. Lũ thủy thủ bàn với nhau:
“Thượng Đế trừng phạt chúng ta đó. Bão tố bất ngờ chỉ vì chúng ta bắt cóc thằng nhỏ. Chừng nào biển lặng thuyền ghé bến, chúng ta nhất định phải trả tự do cho nó.”
Lũ thủy thủ thề thốt nặng lời, nên trời bỗng quang đãng, sóng gió dịu dần và mặt trời ló dạng, chói lói. Buồm được giăng lên, chẳng bao lâu hiện ra ở chân trời một vùng đất liền. Lũ thủy thủ thả Tristan lên bờ với một ít lương thực. Chúng bảo với cậu bé:
“Nhờ ơn Thượng Đế phù hộ cho nhé.”
Không ai biết nơi Tristan được thả lên là chốn nào.
Tristan ngồi trên mỏm đá than thở:
“Lạy Chúa ba ngôi, xin Chúa che chở cho con. Con bị mất cha, mất mẹ, mất mọi người thân, bị bỏ rơi cô độc tại đây. Chung quanh chỉ rừng núi và rừng cây. Con sợ sư tử, sợ gấu.”
Ở Loonois Roald cũng than thở:
“Hỡi tiểu chủ Tristan, lũ khách thương kia bắt tiểu chủ đi mất đã lấy mất nguồn vui và sự bình an trong tim tôi.”
Roald trang bị một chiếc thuyền. Roald quyết không trở về nếu không tìm thấy Tristan.
* * *
Tristan không ở lại lâu nơi bờ biển, thử vào rừng sâu trong đất liền. Bước vào cánh rừng rậm, Tristan cởi bớt áo cho thoải mái. Đi mỏi chân trong rừng bỗng thấy một con nai nhảy ra, theo sau là một bầy chó săn hối hả. Con vật lao vào bụi rậm, nhào xuống một vũng nước, nhưng vẫn bị bầy chó sói bao vây chặt. Bọn thợ săn vừa tới, liền dùng dao nhọn đâm chết con nai, sắp sửa mổ thịt.
Tristan bước tới, cúi chào và la lên:
“Quý vị hãy ngừng tay. Mổ ruột con nai đâu có giống như mổ heo được!”
Người cầm đầu đám thợ săn biết phép lịch sự. Vẻ tuấn tú của Tristan đã khiến ông ta vị nể.
“Bạn ơi, ở đây chúng tôi quen hạ con vật săn được như vậy. Chúng tôi xả con nai thành bốn mảnh. Nếu bạn biết một hương thức nào khác, bạnh hãy chỉ cho chúng tôi đi.”
“Xin vâng. Ở xứ tôi, con vật săn phải được làm thịt”.
“Bạn nói sao? Làm thịt con vật? Bạn hãy chỉ cho chúng tôi làm thịt ra sao”.
Tristan mổ ruột con nai, lột da, lóc từng loại thịt, rồi chặt đầu, chặt đuôi.
“Xin mời chủ ông cùng quý bạn lại gần đây, đón nhận món nướng.”
Tristan kiếm một khúc cây dài, xiên lá gan, hai thỏi bắp đùi và miếng thịt bụng.
“Đây là món nướng. Còn lại là phần đám chó săn”.
“Chúng tôi ở đây không biết chia ra món nướng và phần dành cho chó săn. Bạn vui lòng chỉ cho chúng tôi, phương thức của xứ bạn rất hay.”
Tristan trải tấm da con nai, rồi bỏ trên đó những phần không dùng đến và gọi đám chó lại. Rồi Tristan chặt một cành cây cắm cái đầu con nai lên, đưa cho người cầm đầu đám thợ săn.
“Xin ngài nhận lấy. Đây là món tặng vật, thường dành cho bậc công tước hay nhà vua”
“Bạn ơi, chúng tôi rất quý cung cách làm thịt con vật săn của bạn. Bạn đã học được ở đâu thế”
Tristan thận trọng đáp:
“Thưa, tại miền Loonois. Cha tôi buôn bán tại đó. Nhiều du khách từ xa tới thường ghé lại nhà cha tôi, khiến cho tôi nảy ý thích tới thăm những xứ lạ, chuyến này tôi trốn đi muốn tới thăm những nơi xa”.
“Thật quý hóa, ở miền của bạn, đến nhà buôn cũng biết dạy con như vậy. Cha bạn đã đặt tên gì cho bạn vậy?
“Tên tôi là Tristan”
“Tại sao bạn lại mang cái tên buồn như vậy? Bạn hãy cùng về với chúng tôi. Về triều, chính tay bạn sẽ dâng món tặng vật này cho nhà vua.”
Thế rồi, Tristan dẫn đầu đám thợ săn xếp một hàng dài. Tristan dẫn đầu vì mang món tặng vật, người thứ hai cầm cây xiên những món nướng, người thứ ba bưng hai đùi trước. Ai nấy đều có mang một phần thịt nai. Đi chẳng bao lâu tới một tòa lâu đài lộng lẫy. Trên tường cẩn thạch ánh đỏ chói và lưu ly xanh biếc, trông như những ô trên bàn cờ.
Tristan hỏi:
“Thưa chủ ông, xin cho biết tên tòa lâu đài này”.
“Đó là lâu đài Tintagel, tòa lâu đài có phép lạ mỗi năm hai mùa đông hạ biến dạng. Đây là nơi ngự trị của đức vua Marc, chúa tể vùng Cornouaille.”
Nhà vua nghe tiếng kèn thợ săn, bèn xuống vườn đón đám thợ săn về.
Tristan dâng lên món tặng vật đầu con nai và các thợ săn tường trình với nhà vua phương thức làm thịt con vật, đồng thời giới thiệu Tristan với nhà vua.
Vua Marc nói:
“Hỡi bạn Tristan, trông bạn tuấn tú và phong nhã lắm. Ta muốn giữ bạn ở lại triều đình ta”.
Từ đó, Tristan cùng nhà vua đi săn thú. Tristan biểu diễn nghệ thuật của mình. Nhà vua rất quý mến Tristan vì chàng trai rất dễ thương. Một buổi tối, trong khi vua tôi đang đánh cờ có một người hát dạo tới mua vui, dạo đầu một bản thụ cầm. Vừa nghe mấy cung đầu Tristan đã nhận ra bản ca, nói với người hát dạo:
“ Bài ca này hay lắm. Người xứ Bretagne bày ra bài ca này để kể mối tình của công tước Goron với người yêu. Bạn hãy trổ hết ngón đàn diễn tả hết ý vị của bài ca.”
Người hát dạo dứt khúc ca bèn đưa cây thụ cầm mời Tristan cùng dạo một bản, nếu Tristan biết chơi đàn.
Tristan ôm lấy cây đàn, chợt nhớ lại những bài ca tuổi nhỏ. Nghe Tristan đờn ca, các vương tước hiện diện mê ly đến quên cả tên mình.
Vua Marc nói:
“Khanh thật là một nhạc sư kỳ tài. Từ nay, ban đêm khanh hãy ngủ trong phòng ta, nếu ta trằn trọc không ngủ được, khanh sẽ đờn cho ta bớt sầu.”
Càng gần Tristan, vua Marc càng yêu thương Tristan hơn. Không đi đâu vua Marc không dắt Tristan đi theo.
Trong thời gian đó Roald, tức Foi-Tenant đi cùng khắp thiên hạ. Ba năm trải sóng gió trên biển, cùng nỗi đau trong lòng. Sau cùng Roald ghé bến Tintagel, gặp lại Tristan bên vua Marc, giữa đám quần thần. Road không dám tiến tới e rằng một kẻ rách rưới lưu lạc sẽ bị xua đuổi. Road nhờ người lính canh đưa tin cho Tristan. Tristan đi ra, nhận rõ Roald trong bộ trang phục thảm hại, ôm lấy Roald, rồi dắt tay đưa tới trình diện với vua Marc.
“Tâu nhà vua, đây là cha sanh ra tôi, nuôi dưỡng tôi. Vì lưu lạc nhiều năm theo dấu vết của tôi, ông đã trở thành một người rách rưới. Xin nhà vua đón nhận cha tôi.”
Vua Marc là người đại độ, hạ lệnh ban cho Roald ăn no và thay quần áo tốt. Sau khi đã no đủ, Roald bèn kể lại đầu đuôi.
“Tâu nhà vua, đã ba năm nay, tôi bỏ vợ và con ra đi kiếm Tristan. Nhưng Tristan đâu phải con tôi”.
Vua Marc ngạc nhiên:
“Ngươi nói sao? Tristan không phải con của ngươi?”
“Tâu nhà vua, tôi chỉ là kẻ hầu của Tristan. Nhà vua còn nhớ công chúa Blanchefleur, gả cho công tước Rivalen. Rivalen bị công tước Morgan hạ sát. Công chúa Blanchefleur đã chết sau khi hạ sanh Tristan. Để giữ được Tristan, tôi phải nói dối là con tôi.”
Và Roald đưa ra chiếc nhẫn tặng vật của vua Marc cho công chúa Blanchefleur. Nhà vua ngắm chiếc nhẫn, hết hoài nghi, bèn ôm lấy Tristan, hôn người cháu ruột thịt. Người cháu quỳ xuống mặt vua Marc:
“Tâu nhà vua, xin nhà vua phong cho tôi chức hiệp sĩ. Tôi muốn trả thù cho cha và giành lại gia tài.”
Vua Marc làm y lời cháu. Vua Marc mặc binh giáp cho Tristan, trao quyền điều khiển một trăm hiệp sĩ và một chiến thuyền. Tristan giương buồm thẳng tới miền Loonois. Công lý được Tristan thi hành mau lẹ: Morgan bị đâm chết tại trận và lãnh thổ của cha được Tristan giải phóng. Thù nhà đã trả. Tristan triệu tập các vương tước:
“Hỡi các bạn, ta đây mới đích thực là chủ tướng của các bạn. Nhưng vua Marc là cậu ruột của ta, chỉ có một mình ta là người thân. Ta muốn quay về phụng sự ở bên vua Marc cho tròn nghĩa khí. Lãnh thổ đây, ta nhường lại cho Roald là người đau khổ nhiều vì ta. Lãnh thổ này là của roald, sẽ truyền thụ lại về sau cho con cháu. Các bạn hãy trung thành với roald và để cho ta đi.”
Các vương tước khóc ôm lấy Tristan. Rồi Tristan cùng với Governal theo các hiệp sĩ miền Cornouaille ra khơi.
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"






Ấn Độ có cái Taj Mahal đấy. Nhắc lại trong ba thế kỉ (từ 1526 đến 1857) triều đại trị vì Ấn Độ là triều đại Moghols, mà người sáng lập là hoàng đế shah Baber (còn gọi là Babur). Ông này tự nhận mình là dòng dõi của Timur Leng phía cha (cháu 5 đời) và dòng dõi Thành-cát-tư hãn phía mẹ (không biết có phải thực thế không, hay là thấy sang bắt quàng làm họ), nhưng tóm lại là ông ta người gốc Thổ Nhĩ Kỳ, theo đạo Hồi, chiếm được phần lớn Ấn Độ. Tiếp đó vào thế kỉ 17, hoàng đế shah Djahan (1628-1657) có bà vợ là Arjumand Banu, được rất yêu, gọi là Mumtaz Mahal. Năm 1631, Mumtaz Mahal chết khi đẻ người con thứ 14. Tương truyền rằng hoàng đế Djahan đau buồn, không ra khỏi phòng trong tám ngày; khi ra triều trở lại thì râu tóc đều đã bạc phơ. Để tưởng nhớ người vợ yêu, ông ra lệnh xây một cái lăng ở gần kinh đô Agra : đó là Taj Mahal, một công trình kiến trúc đồ sộ bằng đá cẩm thạch trắng, mà cái vòm của phần trung tâm cao 56m, giữa 17 hec-ta vườn hoa cây cỏ và các công trình phụ. Có nguồn ghi là phải huy động tới hai vạn thợ và hơn một nghìn súc vật như voi, ngựa, trâu, lạc đà, để xây cất trong 10 năm mới xong (có nguồn nói là
xây cất lâu khoảng 16 năm). Từ lâu đài-đồn lũy đá đỏ (tiếng Pháp gọi là « Fort rouge ») nơi ngự của hoàng đế, có thể nhìn thấy Taj Mahal. Người ta tán dương cái đẹp và vẻ nên thơ của công trình này, biểu hiện của tình yêu, thương nhớ ; nhà thi sĩ Ấn Độ Rabindranath Tagore (giải thưởng Nobel văn học 1913) ví Taj Mahal như « một giọt nước mắt trên má của thời gian ». Tôi không muốn phụ họa. Cách đây gần 30 năm, nhân một chuyến đi dự hội nghị khoa học ở New Delhi, vợ chồng tôi có « lẻn » vắng mặt một ngày, tránh không đi chung với những người khác, thuê một chiếc xe hơi riêng đi thăm Taj Mahal. Từ cung điện trong Fort rouge ở Agra nhìn sang, do phong cảnh không hữu tình, cũng không có « ấn tượng » lắm. Nhưng đến tận nơi, mới thấy hết sự đồ sộ, sự cầu kỳ, tinh vi của Taj Mahal này. Ba ý nghĩ ập đến với tôi lúc đó : 1/ Phải yêu lắm – (sắc đẹp có lẽ không phải lý do chính trong trường hợp này, khi yêu một người phụ nữ đã đẻ 14 lần) – mới cho xây cất một công trình như vậy. 2/ Sao ở khắp xứ sở này, người ta đã thực hiện biết bao nhiêu công trình cho người chết, mà lại nghĩ ít thế đến tình cảnh của người sống ? (Tôi còn nhớ thuở ấy đi ngoài đường, có một người đàn bà giắt một bé gái nhỏ chừng 3 tuổi – hay là nhiều tuổi hơn nhưng trông như đứa bé lên 3 – thấy vợ chồng tôi, đứa bé buông tay mẹ, đến quì hôn chân vợ tôi rồi chìa tay xin tiền. Tôi nghĩ sắt đá cỏ cây cũng phải động lòng, vậy mà sao có những người cầm quyền vẫn có thể thản nhiên ?). 3/ Đã bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và máu đã chảy ở hàng vạn người, để thỏa mãn tình yêu của một người ? (Theo một nguồn kể, shah Djahan vời nhà kiến trúc sư Ba-tư nổi tiếng nhất thời đó là Usad Ahmad đến, nhưng sai người giết vợ ông ta để ông ta cảm thấy nỗi đau khổ mất vợ như thế nào, để đổ tất cả tình cảm và tâm trí vào việc thực hiện công trình này. Thực hay bịa ?). Cũng có lời đồn rằng hoàng đế shah Djahan cũng có ý định cho xây cất một lăng mộ tương tự cho chính mình, nhưng bằng cẩm thạch đen. Nhưng ý định đó không bao giờ được thực hiện. Lý do là shah Djahan có ý định truyền ngôi cho người con cả là Dara Shikok (còn gọi là Shekuh), nhưng người con thứ ba là Aurengzeb không chịu như vậy. Aurengzeb liên kết với các người anh em khác để loại người anh cả, gây ra cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn, và sau khi giết được Dara Shikok rồi thì lại loại các anh em khác, rồi tiến vào kinh đô Agra, truất ngôi của cha, tự lập mình làm hoàng đế năm 1658, giam cha ở trong cung trong 8 năm đến lúc chết. Trong 8 năm đó, shah Djahan cũng còn có thể, từ cung điện trong Fort rouge, nhìn thấy Taj Mahal phía xa để tưởng nhớ đến người vợ yêu. Hoàng đế Aurengzeb là người ngoan đạo, sùng tín, không khoan dung như những vua trước, bắt ép dân chúng phải theo đạo Hồi, gây nên nhiều cuộc chống đối, nên sau hơn 50 năm trị vì, triều đại này dẫn đến suy thoái, các hoàng đế nối nghiệp kém cỏi, sau dần dần đưa đến sự có mặt của Pháp, rồi nhất là của Anh trên lãnh thổ này. Nên nghĩ gì về tình yêu trong khung cảnh đó? 
Xa hơn về phía Tây, có chuyện tình «Romeo và Juliet » đó. Hai nhân vật này xuất hiện lần đầu tiên trong một truyện ngắn của một nhà văn Ý, thế kỉ 15., nhưng chỉ thực sự được thiên hạ biết đến qua tác phầm viết khoảng năm 1595) của William Shakespeare (thi hào người Anh 1564-1616). Nội dung câu chuyện tóm tắt như sau. Ở thành phố Verona (Ý) thưở xưa có hai gia đình thù địch : Montaigu và Capulet. Gia đình Capulet tổ chức một buổi khiêu vũ giả trang (bal masqué) để con gái là Juliet gặp hầu tước Paris, người đã hỏi xin cưới Juliet làm vợ. Romeo và hai người bạn, vì một lý do tìm người quen, lẻn vào dự buổi này. Và do sự tình cờ Romeo và Juliet gặp nhau, và mê nhau thắm thiết, mà cũng thảm thiết khi phát hiện rằng mình thuộc hai gia đình thù địch nhau. Nhưng Tybalt, một người anh họ của Juliet, nhận ra Romeo. Quá yêu Juliet, hôm sau Romeo năn nỉ nhờ sự giúp đỡ của cố đạo Laurent. Ông này nhận giúp cặp uyên ương. Cũng vào lúc đó,
Tybalt đi tìm Romeo để đòi đấu kiếm tay đôi để rửa nhục (duel); Romeo từ chối ; nhưng Mercutio bạn của Romeo thấy bị khiêu khích, nhảy vào đấu thay và bị Tybalt đâm chết. Romeo đau đớn vì bạn, rút kiếm đấu và giết Tybalt. Hai gia đình kiện lên ông hoàng xứ này, ông này tha tội chết cho Romeo nhưng xử đày đi xa. Romeo than vãn, cho rằng xa Juliet thì thà chết còn hơn. Bố Juliet, vì thấy con gái sầu thảm, nên ép phải nhanh chóng tiến hành đám cưới với hầu tước Paris. Juliet lẻn trốn đến nhà cố Laurent. Trước sự tuyệt vọng của Juliet, ông này đề nghị một giải pháp: cho Juliet uống một liều thuốc, có hiệu quả là làm cho nàng này giống như người chết trong một thời gian, để rồi khi đem « chôn » nàng ta trong mộ xây của của gia đình, sẽ báo cho chàng Romeo đến đón khi nàng tỉnh dậy. Juliet uống liều thuốc rồi, sự việc diễn biến đúng như dự định, trừ khâu chót. Bị đày ở xa, Romeo không được báo trước tình tiết bí mật ; khi được tin Juliet « chết », chàng lẻn về viếng mộ Juliet, tình cờ gặp hầu tước Paris mang hoa đến viếng mộ Juliet . Đôi bên đấu kiếm, Paris bị thương và trước khi chết, yêu cầu Romeo mang mình đến gần thây Juliet. Chàng Romeo nhận lời; và trước « xác » của Juliet, thấy vẻ đẹp yêu kiều của nàng, hôn nàng rồi uống thuốc độc thật tự tử. Khi cố đạo Laurent tìm đến mả Juliet, thì phát hiện ra xác Paris rồi xác Romeo. Khi Juliet tỉnh dạy, nàng đau đớn than vãn, và tự tử bằng dao găm của chàng Romeo. Cố Laurent đem sự tình kể lại với ông hoàng và gia đình đôi bên. Trước thảm kịch đó, hai ông bố nguyền rủa sự thù nghịch vô nghĩa của hai dòng họ, và quyết định hòa hảo với nhau, và hứa đúc hai pho tuợng vàng cho « cặp tình nhân của thành Verona ». Câu chuyện lỉnh kỉnh có vậy, nhưng nổi tiếng khắp năm châu bốn biển có lẽ vì do tác giả là William Shakespeare. Tôi : Có danh tiếng nên mới có người hưởng ứng : nhà soạn nhạc Berlioz cũng từ đó mà viết bản nhạc giao hưởng (symphonie dramatique, 1839), Nhà soạn nhạc Gounod viết bản nhạc kịch (opéra, 1867), nhà soạn nhạc Prokofiev bản nhạc kịch múa (partition de ballet, 1938) trên đề tài này. Tôi nói tiếp : Xa hơn nữa về phía Tây cũng lại có « Tristan et Iseult », mà câu chuyện tình này xem ra cũng phức tạp lắm, vì có nhiều bản / dị bản. Thoạt đầu là truyền khẩu, và vài di tích như một hòn đá khoảng thế kỉ thứ V trên có ghi chữ « Drvstanvs » (Tristan). Có bản viết của Chrétien de Troyes và bản viết của de la Chièvre (đầu thế kỉ 12) nay đã thất lạc. Còn lại hai bản cổ nhất là : bản của Béroul (viết khoảng giữa 1150 và 1190), mất đầu mất đuôi, chỉ còn quãng giữa khoảng 4 ngàn câu thơ; một bản của Thomas viết năm 1173, với nhiều dị bản, đôi khi trái ngược với bản của Béroul. Câu chuyện kể ngày nay là từ hai bản đó mà ra, được thêm thắt bởi những mẩu của nhiều tác giả khuyết danh. Chuyện đại khái như sau: Vua Rivalen xứ Loonois giúp vua Marc xứ Cornwall (tây nam nước Anh, tiếng Pháp là Cornouailles, không phải là Cornouaille ở Pháp) đánh giặc, do đó có dịp gặp Blanchefleur, em gái vua Marc. Đôi bên yêu nhau, rồi cưới nhau. Nhưng Rivalen phải về nước mình dẹp loạn, mang theo vợ đã có mang. Chẳng may, vua Rivalen tử trận ; ba ngày sau, Blanchefleur đau buồn, cũng chết theo sau khi đẻ một đứa con trai, đặt tên là Tristan (tiếng Pháp, « triste» nghĩa là buồn). Mồ côi, Tristan được một người tên là Gouvernal nuôi dạy. Tristan bị bọn lái buôn Na-uy bắt cóc rồi bỏ rơi ở xứ Cornwall . Nhờ có tài đàn hay, đánh kiếm giỏi, chàng được vua Marc chú ý. Gouvernal đi tìm, thấy chàng ở Cornwall, kể cho vua Marc biết chàng chính là con em gái vua. Vì vậy mà vua yêu dùng Tristan. Thuở ấy, xứ này hàng năm phải cống một món tiền lớn cho Morholt, một khổng lồ. Tốn kém, nhưng không ai dám cưỡng, chỉ có Tristan tình nguyện đấu với Morholt, giết được hắn, nhưng bị thương nặng chắc chết, vì gươm của Morholt có tẩm thuốc độc. Tristan một mình mang đàn mang gươm, lên một chiếc thuyền không buồm không lái, mặc cho thuyền trôi trên biển để đợi chết. Số phận run rủi chiếc thuyền trôi đến xứ Ái-nhĩ-lan. Bà hoàng xứ này nghe thấy đàn hay, rất thích, hứa sẽ chữa cho chàng khỏi với điều kiện là chàng phải dạy đàn cho con gái bà là Iseult. Biết bà hoàng này chính là em gái của Morholt mà mình đã giết, Tristan phải giấu tông tích thật của mình. Được chữa khỏi, chàng trở về xứ Cornwall. Những quần thần của vua Marc vốn ghét Tristan e rằng vua một ngày kia sẽ chọn Tristan nối ngôi ; họ xúi vua nên cưới vợ để có con nối dõi. Vua Marc đồng ý, nhưng muốn lấy cô gái đẹp nhất thế gian, cô gái tóc vàng mà một con chim én đã đặt một sợi tóc bên cửa sổ nhà vua. Để đẩy chàng đi xa, quần thần xui vua trao sứ mạng cho Tristan đi tìm cô gái tóc vàng kia. Tristan nhận ra cái tóc kia là của Iseult, nên nhận lời. Giả làm một lái buôn, chàng trở lại xứ Ái-nhĩ-lan và được biết là có một con quái (con « rồng tây » , dragon !) mỗi ngày cướp đi một cô gái. Bà hoàng xứ này hứa ai giết được con quái này thì sẽ gả Iseult cho. Tristan tình nguyện đi, và giết được con quái, cắt lưỡi nó để mang về làm bằng chứng. Nhưng lưỡi con quái phát ra khí độc làm chàng ngất đi. Khi đó một chàng trai khác mê Iseult, lẻn đi theo, lợi dụng lúc Tristan bị ngất, cắt đầu con quái mang về nhận công. Nhưng chàng này vốn mang tiếng là người nhát, nên triều thần không ai tin. Để biết rõ sự thật, Iseult cùng thị nữ là Brangien quyết định đến tận nơi để xem thực hư thế nào, và tìm thấy Tristan đang ngất. Nàng cứu chàng khỏi, nhưng khi lau gươm của chàng, nàng phát hiện ra rằng cái vết mẻ của gươm phù hợp với vết tử thương ở đầu Morholt, cậu nàng. Nàng cầm gươm định giết chàng, nhưng chàng thuyết được nàng rằng chàng giết cậu nàng trong một cuộc đấu đàng hoàng chính trực. Nàng do dự, và rốt cục nàng sợ phải lấy cái anh chàng nhát cắt đầu con quái, nên nàng ưng thuận để Tristan sống. Nhờ cái lưỡi rồng làm bằng chứng, vua Ái-nhĩ-lan nhận gả Iseult cho Tristan. Lúc đó chàng mới thổ lộ sự thật rằng chàng có sứ mạng đi hỏi cưới Iseult cho vua Marc, và qua sự thông gia này hai xứ sẽ chuyển từ thù địch thành thân thiện. Nàng Iseult thì phiền lòng vì chàng hỏi cưới mình cho người khác. Mẹ nàng lo ngại cho tương lai của nàng, mới trao cho thị nữ Brangien một liều thuốc bùa yêu, dặn để kín đáo cho vua Marc và Iseult uống : liều thuốc sẽ làm cho cặp vợ chồng gắn bó yêu nhau suốt đời. Trên thuyền trở về Cornwall, Tristan và Iseult khát nước, thị nữ Brangien dâng nhầm liều thuốc bùa yêu cho hai người. Trót uống rồi, hiệu quả bắt đầu. Brangien đành thú sự thật với hai người. Tristan cố cưỡng, vì lòng trung thực với vua Marc, nhưng cả chàng và nàng đều không cưỡng nổi bùa yêu, và sau ba ngày thì sự gì phải đến đã đến, hai người trở thành tình nhân. Về đến Cornwall, vua Marc tiếp đón Iseult, lễ cưới nhà vua và nàng được tổ chức linh đình. Nàng này mưu mô tính toán khá nhiều : nàng thuyết được thị nữ Brangien lẻn vào giường vua đêm tân hôn để « thế thân » cho nàng, nên nhà vua ngỡ nàng còn trinh. Vua và triều thần chẳng ai biết gì, nhưng Iseult vẫn sợ Brangien tiết lộ bí mật, mới giả vờ sai thị nữ này vào rừng hái lá thuốc đồng thời lén sai hai đầy tớ đi theo để giết cô này. Nhưng hai người này hiểu lòng tốt của cô ta, nên tha không giết. Rồi rốt cục hai nàng lại hòa với nhau, thề thốt thủy chung mãi mãi ! Trong mấy tháng, Tristan và Iseult lén lút với nhau mà vua không biết. Nhưng những người cận thần nói mãi, vua cũng nghi, mới tạm đày chàng xa kinh đô. Để thử cặp này, vua giả vờ đi săn vắng vài ngày. Chàng và nàng hẹn gặp nhau trong rừng ; vua rình nơi hẹn, nhưng chàng và nàng đoán trước nên giả bộ chỉ nói những chuyện tào lao ; vua ngỡ lòng họ ngay thật, nên lại cho phép Tristan trở về triều. Chàng và nàng lại lén lút yêu nhau. Nhóm cận thần vẫn không chịu thua ; họ bày kế cho vua : vua sai Tristan đi xa thực hiện một sứ mạng ; trước khi đi, thế nào chàng cũng tìm cách gặp nàng ; vậy nên rắc bột trên giường và quanh giường của nàng, nếu chàng mò đến, tất để lại giấu vết. Quả vậy, đêm chàng mò vào, nhảy phốc lên giường nàng, chẳng may một vết thương cũ rách ra, để lại vết máu. Sáng ra, vua và cận thần vào soát, chàng không còn đấy, nhưng vết tích rành rành, chàng và nàng bị kết án tử hình. Khi quân dẫn Tristan tới đàn hỏa thiêu, chàng tán được mấy người lính này cho chàng ghé vào cầu Chúa Trời một lần chót ở một nhà thờ trên đỉnh núi ; rồi lợi dụng cơ hội nhảy qua cửa sổ xuống biển trốn thoát. Còn nàng thì được một nhóm người hủi thuyết vua rằng có một hình phạt nặng hơn tội bị thiêu : đó là bắt nàng sống chung với họ (thuở ấy, người ta sợ bệnh hủi đến mức người hủi phải sống trong trại biệt lập). Vua nghe lời, trao nàng cho họ. Nhưng chàng Tristan, với sự đồng lõa của người thày cũ Gouvernal, cứu được nàng ra ; và hai người sống lén lút trong rừng. Một bữa, có người hầu của vua bắt gặp chàng và nàng đang ngủ trong rừng, về báo với vua ; vua vội tới kiểm thì thấy họ đang ngủ, nhưng giữa họ có để thanh gươm của chàng, « chứng tỏ » rằng họ « trong trắng ». Nhưng vua cũng muốn cho họ biết rằng vua có tới ngó, nên vua thay cái gươm của vua với cái gươm của chàng, và cái nhẫn của vua với cái nhẫn của nàng. Khi tỉnh dậy, chàng và nàng cũng cảm động trước thái độ khoan dung của vua. Chàng thì cầu Chúa Trời cho mình có đủ can đảm để trả nàng cho vua, còn nàng thì cũng tiếc cuộc sống êm ái trong triều. Họ tâm sự và hỏi ý một ẩn sĩ, vị này khuyên nàng nên về triều và ông ta thuyết được vua là nàng vẫn « trong trắng ». Thế là nàng được về với vua, nhưng để « chứng minh » rằng nàng không tội lỗi, nàng phải lội qua một cái vũng hiểm. Nàng lén nhắn chàng giả dạng làm người hủi, chàng giúp nàng lội qua nổi cái vũng hiểm đó bằng cách công kênh nàng trên vai mình, và sau đó nàng có thể thề thốt với vua và triều đình rằng trừ vua và « người hủi » đó, không ai mó đến người nàng. Nàng này thật lắm mưu : thực vậy mà không phải vậy ! Tiếp đó, Tristan lại được về triều. Chàng và nàng lại lén lút yêu nhau. Nhóm cận thần vẫn mách với vua ; chàng thù nên giết một số. Nhưng rồi một lần, vua cũng phát hiện ra chàng và nàng ngủ trong một vườn quả, nhưng không có thanh gươm ngăn ở giữa. Lần này, vua hoàn toàn tin rằng chàng và nàng quả thật là tình nhân, và đuổi chàng đi xa. Tristan lang thang từ xứ nọ sang xứ kia, rồi đến xứ Bretagne (tây bắc nước Pháp) giúp vua Hoel và hoàng tử Kaherdin dẹp giặc. Để cảm ơn chàng, vua định gả con gái cho chàng. Chàng nhận lời vì nàng này xinh đẹp và vì nàng cũng mang tên là Iseult. Nhưng cưới rồi thì đêm tân hôn, chàng lại hối hận khi nhớ tới mối tình cũ, và từ chối không chịu giao hợp. Nàng giận ; chàng kiếm cớ thoái thác rằng để cảm ơn Đức Bà đồng trinh giúp chàng thắng trận, chàng có lời thề giữ mình « trong trắng » trong một năm. Nhưng sau đó Kaherdin phát hiện ra là đám cưới của em gái mình chỉ là đám cưới « suông », nên nổi giận định giết Tristan. Chàng này đem sự thật ra kể cho Kaherdin nghe : mối tình của chàng với « Iseult tóc vàng » (gọi như vậy để phân biệt với em Kaherdin là « Iseult tay trắng » (Iseult aux Blanches mains). Cảm động, Kaherdin thông cảm với Tristan, giúp chàng này trở lại Cornwall, lại lén lút với nàng « Iseult tóc vàng ». Nhưng chỉ một thời gian sau, sợ tiết lộ, lại phải trốn đi. Trở về Bretagne, Tristan lại có dịp giúp Kaherdin dẹp loạn ; nhưng lần này chàng bị thương nặng bởi một vết giáo tẩm thuốc độc. Biết rằng chỉ có « Iseult tóc vàng » mới biết cách chữa, chàng nhờ Kaherdin sang Cornwall tìm cách đón nàng, và qui ước rằng : khi trở về, nếu đón được nàng, thì thuyền dương buồm trắng ; nếu không đón được nàng thì thuyền dương buồm đen – (tích này bắt chước cái tích trong chuyện chàng Thésée và con quái Minotaure của Hy-lạp). Không ngờ là nàng « Iseult tay trắng » nghe lỏm được và biết sự thật vì sao chàng Tristan không chịu giao hoan với mình. Kaherdin sang Cornwall, lẻn đón được « Iseult tóc vàng » về, nhưng khi thuyền sắp đến bến, nàng « Iseult tay trắng » nổi ghen vào báo với Tristan rằng thuyền mang buồm đen. Chàng tuyệt vọng, tắt thở chết. « Iseult tóc vàng » tới nơi, nghe tin Tristan đã chết, tìm đến, nằm cạnh xác chàng, rồi cũng tắt thở chết theo chàng. Ít lâu sau, vua Marc cho đưa thi hài của cặp tình nhân về xứ Cornwall, và cho chôn hai người trong một nhà thờ – (tục lệ phương Tây hay chôn người quyền quí trong nhà thờ). Rồi một đêm, từ mộ chàng, mọc ra một cây leo, cây này mọc sang chui vào mộ nàng. Dân trong vùng cắt cây này đi, nhưng cây lại mọc như vậy, ba lần cắt, ba lần lại mọc sang mộ nàng. Dân lấy làm lạ tâu lên vua ; vua truyền từ nay đừng cắt nữa. Tình sử này đã gợi hứng cho nhà soạn nhạc Wagner viết vở nhạc kịch ba màn « Tristan và Isolde » (1865). Y : Tôi xem có vẻ như « vị » kể chuyện tình này, nhưng không thích thú chăng, vì tuy cốt chuyện đầy yêu thương gắn bó nhưng rắc rối, xen lẫn cả gian dối, lừa đảo, mưu mô, giết chóc, mối tình gắn bó lại do bùa yêu. Có lẽ tình yêu thành thật, nếu có là ở phía vua Marc chăng ? Có người cho là thế vậy mới là ham mê, say đắm. Và biết bao tác giả đã luận về tình sử này : nào là lỗi hay không lỗi, tha tội hay không tha tội theo tiêu chuẩn của đạo Ki-tô ; nhóm cận thần mách vua là do ganh tị chứ không phải là do đạo lý ; thái độ của vua Marc là do yếu đuối, chứ không phải vì khoan dung vì dân chúng rất quí Tristan đã cứu dân thoát khỏi sự áp chế của Morholt, vv. Nhưng thôi, ta bỏ qua những lỉnh kỉnh đó. « Vị » có chuyện tình nào êm ái hơn thì kể cho nghe. Tôi : Tình yêu của « Orphée và Eurydice » có lẽ là một tình sử thần thoại đẹp. Tôi chỉ giữ phần chính của câu chuyện, mà loại bỏ những chi tiết khác. Ở một vùng nước Hy-lạp xưa, có một chàng tên là Orphée đàn giỏi hát hay, có vợ là Eurydice. Vợ chồng yêu nhau thắm thiết. Một bữa chẳng may nàng bị rắn độc cắn chết. Orphée đau đớn khôn nguôi, và quyết định xuống tận âm phủ tìm vợ. Chàng lang thang khắp nơi để tìm đường xuống cõi này, nơi thuộc lãnh vực của « Diêm vương » Hadès và « Diêm vương hậu » Perséphone, hai thần cai quản cõi chết. Tìm mãi không thấy, chàng hát lên nỗi đau khổ tuyệt vọng của mình ; tiếng đàn tiếng hát hay đến mức làm cây cỏ cũng cảm động, rạp xuống để chỉ đường cho chàng xuống cõi âm. Chàng tiến vào không chút nao núng, và trong bóng tối âm u, chợt thấy hiện ra ba cặp mắt sáng rực cản đường : đó là ba cặp mắt của con Chó ngao ba đầu Cerbère gác cổng vào âm phủ. Tiếng đàn tiếng hát của chàng làm dịu Cerbère, nó nhường lối cho chàng tiến vào. Chàng tới bờ sông Styx, con sông của cõi âm. Để qua đựoc sông này, tiếng đàn tiếng hát của chàng làm mủi lòng Charon, người lái đò cõi chết và thuyết phục được vị này chở chàng qua bờ bên kia. Chàng đi qua vùng những linh hồn người xấu đang vĩnh viễn bị hình phạt ; qua vùng những người không xấu không tốt ; rồi qua vùng của những linh hồn người tốt đang được hưởng cự lạc. Cuối cùng, chàng tới trước nơi ngự của hai thần Hadès và Perséphone ; chàng đàn và hát lên nỗi đau khổ của mình, mất đi người vợ còn đang ở tuổi thanh xuân mơn mởn ; chàng van xin cho vợ trở về dương thế ; chàng viện lẽ rồi một ngày kia, đằng nào vợ chồng chàng cũng trở lại cõi âm. Nếu không, cùng lắm, chàng tình nguyện ở lại ngay cõi âm bây giờ để khỏi xa vợ. Mối tình của chàng làm xiêu lòng hai vị thần, và chàng được phép mang vợ trở về cõi sống, nhưng với một điều kiện : trước khi hoàn toàn rời khỏi cõi âm, chàng không được quay đầu lại nhìn vợ. Orphée sung sướng cảm ơn. Theo lệnh của thần Hadès, hồn Eurydice được phép theo chàng. Chồng trước vợ sau lần theo đường trở về dương thế. Ông lái đò Charon chở họ qua sông Styx, con Chó ngao Cerbère nhường lối cho họ đi ; họ đi qua một vùng yên lặng ; gần đến cõi sống rồi, mà sao không có tiếng động nào. Orphée chợt lo lắng, không biết Eurydice có theo kịp mình không, nàng có lạc đường không, và trong cơn hoảng hốt chàng quay đầu lại nhìn xem nàng đâu. Thì chỉ thấy thoáng bóng nàng lướt qua má mình như một cái hôn, rồi tan mất trong bóng tối. Cũng vì yêu, Orphée đã quên lời hứa hẹn với hai vị thần cõi chết, và vĩnh viễn bị mất Eurydice. 