📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Cuộc đời của Pi- Yann Martel 🔒

71 trả lời, 14.456 lượt xem — Trang 2 / 3
CHƯƠNG 23


Than ôi, cái ý thức cộng đồng do có cùng một lòng tin mang lại cho con người đã gây rắc rối cho cho tôi. Chẳng chóng thì chầy, những việc tín ngưỡng của tôi đã bị người ta chú ý. Đầu tiên là người người không lấy đó làm điều mà chỉ thấy buồn cười vô hại. Nhưng sau thì đến những người coi đó là hệ trọng và chẳng thấy buồn cười chút nào.
Thầy cả Cơ đốc hỏi: “Con trai ông bà làm gì ở đền thờ Hinđu vậy?”
Thầy cả Hồi giáo hỏi: “Người ta thấy con trai ông bà làm dấu thánh giá trong nhà thờ đấy.”
Thầy cả Hinđu nói: “Con trai ông bà đã theo Hồi giáo rồi.”
Đúng vậy, cha mẹ tôi đã bắt buộc phải biết tất cả những điều đó, với một chút ngạc nhiên buồn cười. Trước đấy cha mẹ có biết gì đâu. Không biết là tôi đã đang thực hành cả đạo Hinđu, Cơ đốc, và đạo Hồi. Bọn choai choai đứa nào chả giấu bố mẹ một vài điều bí mật, có phải không nào? Bọn mười sáu tuổi đứa nào cũng có bí mật hết, tất cả, chẳng chừa đứa nào. Nhưng số phận đã quyết định là cha mẹ tôi, tôi, với ba nhà thông thái kia, như tôi gọi họ từ đó về sau, một ngày nào đấy sẽ phải gặp nhau tại hành lang ngoài trời Goubert Salai bên bờ biển và điều bí mật của tôi sẽ phải bị phanh phui. Đó là một chiều Chủ nhật nóng bức nhưng hây hẩy gió và tuyệt đẹp, vịnh Bengal lấp lánh dưới bầu trời xanh biếc, đám thị dân đua nhau đi tản bộ. Trẻ con la hét và cười nói ẫm ĩ. Bóng bay sặc sỡ lơ lửng trong không trung. Các hàng kem bán chạy như tôm tươi. Tại sao lại nói chuyện công việc vào một ngày như vậy, tôi tự hỏi. Sao mọi người không cứ chỉ đi dạo, gật đầu chào nhau và mỉm cười. Nhưng không kịp nữa rồi. Chúng tôi sắp phải gặp không phải chỉ một nhà thông thái mà là cả ba, mà không phải lần lượt từng ông mà cùng một lúc, và người nào cũng đã nghĩ rằng đó là cơ hội gặp được nhân vật nổi tiếng của Pondicherry, vị giám đốc vườn thú, cha đẻ của đứa con nhiệt thành mẫu mực. Lúc tôi thấy vị thứ nhất, tôi mỉm cười. Đến khi thấy vị thứ ba, nụ cười của tôi đông cứng lại thành cái mặt nạ hãi hùng. Khi đã rõ là cả ba vị sẽ cùng xúm lại vì chúng tôi, tim tôi nhảy thót lên một cái và bắt đầu chìm xuống rất thấp.
Các vị thông thái có vẻ khó chịu khi nhận ra rằng tất cả họ đều đã chỉ được một đối tượng mời đến gặp mà thôi. Chắc hẳn mỗi vị đã tưởng rằng chỉ có mình mới là người được mời đến về việc giáo hội, còn những người khác thì chắc chỉ tình cờ có mặt và đã xen vào chuyện này một cách không có ý từ gì cả. Những cái liếc khó chịu đan nhau chan chát.
Cha mẹ tôi có vẻ lúng túng vì cảm thấy không còn được thoải mái theo ý họ trước sự có mặt của ba giáo đồ lạ hoắc đang mỉm cười ngượng ngịu. Phải nói ngay rằng gia đình tôi không có tí tinh thần chính giáo nào. Cha coi mình là một phần của nước Ấn Độ Mới - giầu có, hiện đại và thông tục như một cái kem que. Cha không có tí tín ngưỡng nào trong xương cả. Cha là một người làm ăn, businessman, mà phải viết là busynessman mới đúng với ông, vì ông là một nhà chuyên môn thực tế và cần mẫn, lo chuyện giao phối cho nội bộ cho sư tử nhiều hơn bất cứ một vấn đề hiện sinh hoặc đạo đức cao vời nào. Đúng là cha có mời giáo sĩ đến ban phước cho tất cả những thú vật mới đem về vườn thú và có hai cái miếu nhỏ trong vườn, một thờ thần Ganesha và cái kia thờ thần Hanuman, những vị thần có chiều hướng có thể ban phước cho một ông giám đốc vườn thú, vì một thần thì có đầu voi còn thần kia thì mang đầu khỉ, nhưng cha tính đó là vì lợi ích của công việc kinh doanh chứ không phải vì linh hồn mình, là việc lấy lòng người xem chứ không phải để cứu rỗi bản ngã của ông. Nỗi khắc khoải tâm linh là hoàn toàn xa lạ với cha; chỉ có những khắc khoải tài chính mới làm rung động được con người cha. “Một vụ dịch bệnh thôi,” cha thường nói, “là chúng ta sẽ chỉ có đi đập đá rải đường mà kiếm miếng ăn.” Mẹ thì giữ mồm giữ miệng, ngán ngẩm và trung lập trong vấn đề này. Một nền giáo dưỡng Hinđu và một nhà trường Cơ đốc dòng Baptist đã chính xác triệt tiêu nhau trong vấn đề tín ngưỡng và biến mẹ thành người không ngoan đạo một cách bình thản. Tôi ngờ rằng mẹ đã đoán thấy tôi có khuynh hướng khác trong việc này, và mẹ không bao giờ nói gì khi hồi nhỏ tôi say mê ngốn ngấu cả cuốn truỵên tranh Ramayana và Mahabharata(1) cũng như những cuốn Thánh kinh có minh họa cho trẻ em và các sách thần thánh khác. Bản thân mẹ là người đọc rộng. Mẹ vui lòng thấy tôi gí mũi vào sách, bất kỳ là sách gì, miễn không bậy bạ. Còn với anh Ravi, nếu thần Krishna đã cầm một cái chày bóng chứ không phải cây sáo, nếu đấng Christ trông giản dị và giống một anh trọng tài, nếu nhà tiên tri Mohammad, xin ngài yên nghỉ, đã cho thấy có chút năng khiếu về môn bóng lăn, có thể anh đã ngước một mắt của mình lên, và cũng vì thế anh đã suốt đời mê ngủ.
Sau những tiếng chào xã giao là một sự im lặng ngượng ngịu. Thầy cả Cơ đốc phá vỡ sự im lặng đó khi ông lên tiếng, giọng tự hào, “Piscine là một cậu bé Cơ đốc ngoan ngoãn. Tôi hy vọng sắp tới cậu sẽ tham gia dàn đồng ca của chúng tôi.”
Cha mẹ tôi, thầy cả Hinđu và thầy cả đạo Hồi có vẻ ngạc nhiên.
“Chắc là ông nhầm rồi, cậu ấy là một tín đồ Hồi giáo tốt lành. Thứ Sáu nào cậu cũng đến cầu nguyện và kiến thức về kinh Koran của cậu đang tấn tới rõ rệt.” Đó là lời thầy cả đạo Hồi.
Thầy cả Hinđu lên tiếng. “Cả hai vị đều nhầm cả rồi. Cậu ấy là một người Hinđu tốt. Lần nào tôi cũng thấy cậu ấy trong đền thờ để chịu lễ lộc thánh và làm lễ puja.”
Cha mẹ tôi, thầy cả Cơ đốc và thầy cả đạo Hồi có vẻ thất thần.
“Không có nhầm lẫn gì cả,” thầy cả Cơ đốc nói, “tôi biết cậu bé này mà. Cậu ấy là Piscine Molitor Patel và cậu ấy là tín đồ Cơ đốc.”
“Tôi cũng biết cậu ấy, và tôi xin nói rằng cậu là một người Hồi giáo,” thầy cả đạo Hồi khăng khăng.
“Vô lý! Thầy cả Hinđu kêu lên. “Piscine sinh ra là người Hinđu, sống như một người Hinđu và sẽ chết là một người Hinđu!”
Bà nhà thông thái nhìn chòng chọc vào nhau, nín thở và kinh ngạc.
Lạy Chúa tôi, xin đừng để họ nhìn sang con, tôi thì thầm trong linh hồn mình.
Mọi cặp mắt đổ dồn vào tôi.
“Này Piscine, điều đó có thể là sự thực chăng?” Thầy cả đạo Hồi khẩn thiết. “Hinđu và Cơ đốc giáo là những người thờ thần tượng. Họ có nhiều thần thánh.”
“Còn người Hồi giáo thì có nhiều vợ.” Thầy cả Hinđu đốp lại.
Thầy cả Cơ đốc nhìn cả hai một cách dò hỏi. “Piscine,” thầy gần như thì thầm, “sự cứu rỗi chỉ có ở Jesus mà thôi.”
“Nói xạo! Người Cơ đốc không biết gì về tôn giáo cả,” thầy cả Hinđu nói.
“Thế Thượng đế của tôn giáo các vị thì ở đâu?” Thầy cả Cơ đốc vặc lại. “Các vị không có đến một phép lạ để cho người ta thấy. Tôn giáo gì lạ vậy, không có đến cả phép lạ nữa?”
“Nó không phải là một rạp xiếc với những người chết lúc nào cũng nhảy ra khỏi mồ, thế đấy! Người Hồi giáo chúng tôi gắn bó với phép lạ nguyên thuỷ của sinh tồn. Chim bay, mưa rơi, mùa màng tươi tốt – đó cũng đủ là những phép lạ của chúng tôi rồi.”
“Lông chim và mưa móc đều hay cả đấy, nhưng chúng tôi muốn biết chắc rằng Thượng đế thực sự ở bên chúng tôi.”
“Có phải vậy chăng? Có phải các vị thực lòng mong Thượng đế ở bên mình chăng? Quý vị đã tìm cách giết chết ngài! Quý vị đóng đanh ngài lên cây thập tự bằng những cái đinh to gộc. Đãi một nhà tiên tri như thế có phải là văn minh chăng? Tiên tri Mohammad – xin ngài được yên nghỉ - đã đem cho chúng tôi lời Thượng đế mà không cần đến tất cả những cái phi lý nhục nhã kia và đã qua đời khi trọn vẹn tuổi đời.”
“Lời Thượng đế ư? Cho cái anh buôn mù chữ ấy của quý vị ở giữa sa mạc hoang vu ấy ư? Đó chỉ là những lắp bắp trong cơn động kinh do lạc đà lắc lư nhiều quá mà thôi, nào phải những phát lộ thần thánh gì. Hoặc nếu không thì cũng chỉ vì mặt trời đã rán chín bộ óc của ông ta!”
“Nếu nhà tiên tri – “pi-bi-yu-ết-trờ(2) – còn sống, ngài sẽ có những lời được dành riêng cho ông, thầy cả đạo Hồi đáp lời, cặp mắt nhíu lại một cách đe dọa.
“Ô hô, ông ta chết rồi! Đấng Christ thì còn sống, còn ngài “pi-bi-yu-ết-trờ” của quý vị thì chết rồi, chết rồi, chết rồi!”
Thầy cả Hinđu ngắt lời hai vị kia một cách im ắng. Dùng tiếng Tamil, ông nói, “Vấn đền thực sự ở đây là, tại sao Piscine lại phải mất thì giờ chơi bời với những tôn giáo ngoại lai chứ?”
Mắt của hai thầy cả Cơ đốc và Hồi giáo như đang nhảy bật ra khỏi tròng. Cả hai vị đều là người Tamil bản địa.
“Thượng đế chỉ là một cho tất cả,” thầy cả Cơ đốc lắp bắp.
Thầy cả đạo Hồi hối hả gật đầu. “Chỉ có một Thượng đế mà thôi.”
“Và với Thượng đế của họ, người Hồi giáo không lúc nào ngớt gây chuyện rắc rối và bạo loạn. Đạo Hồi tồi tệ đến thế nào thì đã được chứng tỏ ở sự thiếu văn minh của người Hồi giáo,” thầy cả Hinđu tuyên bố.
“Thế còn chế độ đẳng cấp và nô lệ thì sao,” thầy cả đạo Hồi không chịu lép. “Người Hinđu bắt người làm nô lệ và thờ phụng những con búp bê áo quần sặc sỡ.”
“Họ là nhân tình của những con bê vàng. Họ quỳ lạy những con bò cái,” thầy cả Cơ đốc hùa theo.
“Còn người Cơ đốc thì quỳ mọp trước một người da trắng! Họ là tay sai của một Thượng đế ngoại lai. Là cơn ác mộng của tất cả những ai không phải da trắng!”
“Và họ ăn thịt lợn và cả ăn thịt người,” thầy cả đạo Hồi nói thêm vào cho nặng cân hơn.
“Điều quan trọng ở đây là,” thầy cả Cơ đốc lên tiếng với một vẻ giận dữ lạnh lùng, “cậu Piscine có muốn theo đuổi tín ngưỡng thật sự hay không – hay là những huyền thoại trong những tập truyện tranh biếm họa.”
“Thượng đế hay - là tượng gỗ,” thầy cả đạo Hồi đế theo, giọng nghiêm trang.
“Những vị thần của chúng ta – hay đám thánh thần thuộc địa,” thầy cả Hinđu rít giọng.
Khó phân biệt được lúc ấy mặt ai bừng bừng sát khí hơn. Trông họ có vẻ như sắp nổ tung lên cả.
Cha giơ hai tay lên trời. “Thưa quý vị, thưa quý vị, xin quý vị làm ơn! Cha nói xen vào. “Tôi mong quý vị nhớ đến quyền tự do hành đạo của nước chúng ta.”
Ba gương mặt tông đồ quay sang cả cha.
“Vâng! Hành một đạo thôi - động từ số ít ạ(3)!” Ba vị thông thái đồng thanh kêu lớn. Ba ngón tay trỏ, như những dấu chính tả, bật dậy đứng nghiêm trong không trung để chứng tỏ quan điểm ấy.
Họ không hài lòng với hiệu qủa đồng thanh không chủ đích ấy hoặc với những dáng điệu nhất trí không ghìm lại được của mình. Họ vội vàng bỏ tay xuống, và mỗi người thở dài rền rĩ theo cách riêng của mình. Cha với mẹ chỉ biết nhìn, chẳng biết nói gì.
Thầy cả Hinđu nói trước. “Thưa ông Patel, lòng ngoan đạo của cậu Piscine thật đáng khâm phục. Trong thời buổi nhiễu nhương này, thật may có một cậu thiếu niên tha thiết đến Thượng đế đến vậy. Tất cả chúng tôi đều nhất trí về điểm này.” Thầy cả đạo Hồi và thầy cả Cơ đốc gật đầu. “Nhưng cậu ấy không thể là một người Hinđu, một người Cơ đốc, và một người Hồi giáo. Không thể thế được. Cậu ấy phải lựa chọn.”
“Tôi nghĩ đó không phải là một tội lỗi, nhưng có lẽ quý vị có lý.” Cha đáp lời.
Cả ba vị thì thầm đồng tình và cùng ngước nhìn lên trời, cũng giống như cha lúc đó, chắc vì họ cảm thấy nhất định sẽ có một quyết định. Mẹ nhìn sang tôi.
Một sự im ắng đè nặng lên hai vai tôi.
“Này, Piscine?” Mẹ huých nhẹ vào tôi. “Con cảm thấy thế nào về việc này?”
“Bác Gandhi có dạy rằng mọi tín ngưỡng đến là chân lí. Con chỉ mong được yêu thương Thượng đế mà thôi,” tôi nói ngập ngừng, cúi gằm, đỏ hết cả mặt.
Sự lúng túng của tôi lây sang mọi người. Chẳng ai nói gì. Ngẫu nhiên chúng tôi ngồi không xa bức tượng Gandhi trong đoạn hành lang đó. Cây gậy chống trong tay, nụ cười dí dỏm trên môi, một ánh lấp lánh trong đôi mắt, vị Mahatma ấy bước đi. Tôi tưởng tượng viễn vông rằng ông đã nghe hết cuộc đối thoại của chúng tôi, nhưng ông quan tâm hơn cả đến những gì đang diễn ra trong lòng tôi. Cha đặng hắng rồi nói nhỏ như chỉ mình ông nghe, “Có lẽ đó là điều tất cả chúng ta đều đang cố gắng thực hiện – yêu thương Thượng đế.”
Tôi nghĩ thật là buồn cười là ông đã nói thế, cha tôi, người chưa từng đặt chân vào một ngôi đền nào với ý định nghiêm chỉnh kể từ thủa tôi bắt đầu biết nhớ. Nhưng có vẻ câu nói ấy đã giải quyết được mọi chuyện. Không thể trách mắng một thằng bé chỉ muốn yêu thương Thượng đế. Ba vị thông thái rút lui với những nụ cười cứng đơ đầy vẻ hờn dỗi.
Cha nhìn tôi một giây, như thể định nói gì, song rồi nghĩ lại và hỏi, “Có ai muốn ăn kem không nào?” Rồi cha đi luôn ra chỗ quầy kem trước khi chúng tôi kịp trả lời. Mẹ nhìn tôi chăm chú một lúc lâu hơn, vẻ mặt mẹ vừa dịu dàng, vừa bối rối.
Đó là bước nhập môn của tôi vào cuộc đối thoại liên tín ngưỡng. Cha mua ba cái kem có nhân kẹp. Chúng tôi ăn những cái kem ấy trong một sự im lặng bất thường khi tiếp tục cuộc dạo chơi Chủ nhật của mình.

Ghi chú:
(1) Ramayana và Mahabharata là hai trường ca vĩ đại của tín ngưỡng Hinđu. (ND)
(2) Nguyên bản là p.b.u.h, những âm tắt của câu cửa miệng của người Hồi giáo mỗi khi nhắc đến Mohammand: peace be upon him, nghĩa là “Xin ngài được yên nghỉ”. Chúng tôi nghĩ cách dịch tốt nhất là dùng các âm chữ cái như khi nhân vật nói ra bốn chữ này, là “pi-bi-yu-ết-trờ”, để giữ được phần nào cái hài của câu chuyện. (ND)
(3) Tôi nghĩ ở đây tác giả, hay người dịch đã nhầm, danh từ số ít mới hợp lý. (namphuong)

HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 24


Ravi có một ngày náo loạn khi anh phát hiện ra việc đó.
“Thế nào, thưa đức chúa Jesus theo đạo Hinđu, năm nay ngài có hành hương về thành Jesusalem không hử?” Anh nói, chắp hai tay trước mặt như muốn lễ sống tôi. “Thành Mecca có vẫy gọi ngài không ạ?” Anh làm dấu thánh giá. “Hay là ngài sẽ đi Lama thụ lễ tấn phong lên thay giáo hoàng Pius?” Anh vẽ lên không khí một chữ Hylạp, cố làm rõ cách đánh vần cái chữ bêu rếu của mình. “Ngài đã có thì giờ cắt cái đầu của con chim ngài để thành ra một người Do thái chưa hử? Với cái đà này, nếu ngài đến đền thờ ngày thứ Năm, đến thánh đường ngày thứ Sáu và nhà thờ ngày Chủ nhật, ngài chỉ cần cải thêm ba đạo nữa là ngài đã có bảy ngày lễ một tuần đến hết đời.”
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 25


Chưa phải thế là hết. Luôn có những người tự cho mình có nhiệm vụ bảo vệ Thượng đế, cứ như thể cái thực tại tối thượng ấy, cái khung chống đỡ sinh tồn ấy, là cái gì yếu ớt và đang lâm nguy không bằng. Những người này đi qua một quả phụ đã biến dạng vì bệnh phong đang xin bố thí, qua lũ trẻ rách rưới lang thang ngoài phố, và họ nghĩ, ”Còn lạ gì lối ăn xin chuyện nghiệp này.” Nhưng nếu họ tưởng đang có một hành vi chống lại Thượng đế, dù chỉ là nhỏ nhặt, thì lại là chuyện khác. Mặt họ đỏ bừng lên, ngực họ phập phồng dữ dội, họ phun ra những lời giận dữ. Mức độ bất bình của họ thật đáng kinh ngạc. Quyết tâm của họ thật đáng sợ.
Những người này không chịu nhận ra rằng Thượng đế phải được bảo vệ bên trong lòng chúng ta, không phải ở bên ngoài. Họ nên hướng cơn giận của họ vào chính bản thân. Bởi lẽ cái ác ở ngoài kia chỉ là cái ác ở bên trong đã được sổng ra ngoài. Bãi chiến trường để giành giật cái thiện không phải là quảng trường công cộng kia mà là khoảng rừng thưa nhỏ bé trong trái tim ta. Trong khi đó, số phận của những người quả phụ và những em bé vô gia cư thật đã phũ phàng làm sao, và chính là để bảo vệ họ, chứ không phải là Thượng đế, mà những người công chính phải khẩn trương lên.
Một buổi nọ, có một kẻ ngu ngốc to mồm đã đánh đuổi tôi ra khỏi thánh đường lớn Hồi giáo. Khi tôi đến nhà thờ, thầy cả Cơ đốc đã trợn mắt nhìn tôi đến nỗi tôi không thể nào cảm thấy được cõi yên bình của đấng Christ. Đôi khi một tăng lữ Brahman còn đuổi tôi không cho dự lễ hóa lộc. Người ta đã mách với cha mẹ tôi những hành vi tín ngưỡng của tôi với một giọng thì thào vội và như thể đang tiết lộ tội phản quốc vậy.
Cứ như thể Thượng đế sẽ được lợi lộc vì đầu óc của những hành vi nhỏ mọn ấy.
Với tôi, tôn giáo là nơi giúp chúng ta giữ được nhân phẩm của mình chứ không phải để hạ nhục nó.
Tôi không đến dự lễ Misa của nhà thờ Đức Mẹ Đồng trinh nữa, mà sang bên nhà thờ Đức mẹ của các Thiên thần. Tôi không còn ở lại lâu hơn sau buổi cầu nguyện ngày thứ Sáu với những đồng đạo của mình tôi chỉ vào đền thờ những lúc đông người để đám giáo sĩ Brahmin không để ý và xen vào giữa tôi và Thượng đế.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 26


Vài ngày sau cuộc gặp mặt ở con đường đi dạo ngoài bờ biển, tôi thu hết can đảm và đến gặp cha tại văn phòng của người.
“Thưa cha.”
“Có chuyện gì đấy, Piscine?”
“Con muốn thụ lễ đặt tên thánh và con muốn có một tấm thảm cầu nguyện.”
Lời tôi nói chậm chạp lọt vào tai cha. Sau vài giây, cha bỏ đống giấy tờ đang đọc và ngẩng lên.
“Một cái gì cơ? Cái gì?”
“Con muốn cầu nguyện ngoài trời mà không bị bẩn quần. Con đang học trường Cơ đốc mà chưa được chính thức mang tên thánh.”
“Tại sao con muốn cầu nguyện ngoài trời? Mà thực ra, tại sao con lại muốn cầu nguyện mới được chứ?”
“Vì con yêu Thượng đế.”
“A ha.” Cha có vẻ ngỡ ngàng vì câu trả lời của tôi, gần như bối rối. Một lúc im lặng. Tôi nghĩ có khi cha lại cho tôi ăn kem chưa chừng. “Thế này này, trường Petit Seminaire chỉ có cái tên là Cơ đốc thôi. Nhiều trẻ Hinđu học ở đó không phải tín đồ Cơ đốc giáo. Không có tên thánh thì con vẫn học hành tử tế bình thường. Cầu nguyện thánh Allah thì chẳng có gì khác đâu.”
“Nhưng con muốn cầu nguyện thánh Allah. Con muốn là một người Cơ đốc.”
“Con không thể là cả hai, con chỉ có thể theo một đạo mà thôi.”
“Sao con lại không thể là cả hai?”
“Đó là hai tôn giáo khác nhau! Chúng chẳng có gì chung cả.”
“Đâu phải thế. Cả hai đều nhận Abrahman là của mình. Người Hồi giáo nói Thượng đế của người Do thái giáo và Cơ đốc giáo cũng chính là Thượng đế của người Hồi giáo. Họ đều công nhận David, Moses và Jesus là những tiên tri của mình.”
“Nhưng mà những chuyện ấy thì có liên quan gì đến mình hả Piscine? Chúng ta là người Ấn Độ cơ mà.”
“Vẫn có người Cơ đốc và Hồi giáo ở Ấn Độ hằng bao nhiêu thế kỷ nay rồi! Có người còn nói Jesus được mai táng ở Kashmir.”
Cha không nói gì, chỉ nhìn tôi, chau mày. Đột nhiên có người gọi cha vì công việc.
“Con hãy thưa chuyện này với mẹ.”
Mẹ đang đọc sách.
“Mẹ ơi.”
“Có chuyện gì thế con yêu?”
“Con muốn được mang tên thánh và con muốn có một tấm thảm cầu nguyện.”
“Con hãy thưa chuyện với cha.”
“Thưa đã. Cha bảo con thưa chuyện này với mẹ.”
“Thật thế à?” Mẹ đặt cuốn sách xuống và nhìn về phía vườn thú. Tôi chắc lúc ấy cha phải cảm thấy một luồng khí lạnh toát thổi vào gáy mình. Mẹ quay sang phía tủ sách. “Mẹ có cuốn sách này chắc con sẽ thích.” Mẹ đã đưa tay ra lấy một cuốn sách dày của Robert Louis Stavenson. Đó là chiến thuật quen thuộc của mẹ.
“Con đọc cuốn đó rồi mẹ ạ. Ba lần rồi.”
“Ô, thế à?” Tay mẹ đưa sang phía bên trái.
“Cả Conan Doyle cũng vậy ạ.” Tôi nói.
Cánh tay mẹ vung sang phải. “Còn R. K. Narayan thì sao? Con chưa thể nào đã đọc hết các sách của Narayan.”
“Mẹ ơi, những việc này rất hệ trọng đối với con.”
“Con đọc Robin Crusoe nhé.”
“Mẹ!”
“Piscine ơi!” Mẹ nói. Mẹ ngồi xuống ghế, vẻ mặt biểu lộ một thái độ phản đối yếu ớt nhất, có nghĩ là tôi phải tấn công vào những điểm xác đáng nhất. Mẹ sửa lại một cái gối kê. “Cha mẹ đều thấy là lòng nhiệt thành tín ngưỡng củc con là một cái gì đó hơi thần bí.”
“Nó là một thần bí thật sự mẹ ạ.”
“Hừmm… Mẹ không định nói điều đó. Con hãy nghe mẹ đây, nếu con quả thật muốn theo một tín ngưỡng, con chỉ có thể là một tín đồ Hinđu, một người theo Cơ đốc giáo hoặc một người theo đạo Hồi. Con đã nghe họ nói ở chỗ đi dạo ngoài biển rồi đấy.”
“Con vẫn không hiểu tại sao con lại không thể là cả ba. Mamaji có hai hộ chiếu. Bác ấy vừa là Ấn Độ vừa là Pháp. Sao con lại không thể là Hinđu, Cơ đốc và Hồi giáo?”
“Chuyện ấy khác. Pháp và Ấn Độ là các dân tộc trên trái đất.”
“Thế có bao nhiêu các dân tộc ở trên trời.”
“Một. Đúng thế. Một dân tộc. Một hộ chiếu.”
“Một dân tộc ở trên trời.”
“Đúng thế. Hoặc chẳng có gì cả. Còn có cả trường hợp ấy nữa con ạ. Con đang bập vào những chuyện thật sự là lỗi thời đấy.”
“Nếu chỉ có một dân tộc ở trên trời, có phải tất cả các hộ chiếu đều có giá trị phải không mẹ?”
Một đám mây phân vân bao phủ gương mặt mẹ.
“Bác Gandhi đã nói…”
“Thôi được rồi, mẹ biết bác Gandhi nói gì rồi.” Mẹ đưa tay lên trán. Lúc ấy, mẹ có một vẻ rất mệt nhọc, quả thực vậy. Mẹ nói, “Sao mà đến nông nỗi này.”
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 27


Tối hôm đó, tôi nghe lỏm được cha mẹ nói chuyện với nhau.
“Em đồng ý rồi à?” Cha hỏi.
“Em biết nó đã hỏi anh. Anh đã đùn nó sang cho em,” mẹ trả lời.
“Anh ấy à?”
“Đúng rồi.”
“Anh bận suốt cả ngày.”
“Bây giờ anh hết bận rồi, nhìn anh em biết là anh hoàn toàn đang rỗi và thoải mái. Nếu anh muốn xung phòng vào buồng nó, rút cái thảm cầu nguyện dưới chân nó và thảo luận về vấn đề thụ lễ phong tên thánh với nó, thì anh cứ đi đi. Em không phản đối.”
“Không, không.” Qua giọng cha tôi có thể hình dung ông đang ngồi sâu hơn vào chiếc ghế của ông. Một lúc im lặng.
“Nó có vẻ thu hút các tôn giáo như kiểu chó thu hút rận,” cha nói. “Anh không hiểu được. Mình là một gia đình Ấn Độ hiện đại; mình sống theo lối sống mới; Ấn Độ đang ở đỉnh điểm của quá trình trở thành một dân tộc thực sự tiên tiến và hiện đại - thế mà đúng lúc này mình lại sinh ra một thằng con trai đinh ninh nó là hậu thân của thần Ramasrishna.”
“Nếu bà Grandhi là đại diện của cái hiện đại và tiên tiến mà anh vừa nói đến, em cũng chẳng biết mình có ưa được những cái đó không đây,” mẹ nói.
“Bà Grandhi rồi sẽ qua đi chứ! Nhưng sự tiến bộ thì không thể dừng lại được. Nó là hồi trống mà tất cả chúng ta đều phải bước theo. Khoa học kỹ thuật là có ích và các ý tưởng hay sẽ truyền bá – đó là hai qui luật của tự nhiên. Nếu ta không để cho khoa học kỹ thuật giúp ích cho cuộc sống, nếu ta cưỡng lại các ý tưởng hay, ta sẽ tự kết án mình vào vòng mông muội với các loài khủng long mà thôi! Anh tuyệt đối tin tưởng vào điều này. Bà Grandhi và những cái ngớ ngẩn của bà sẽ qua đi. Một nước Ấn Độ mới sẽ đến.”
(Quả thực bà ấy sẽ qua đi. Và nước Ấn Độ Mới ấy, hoặc một gia đình của nó, sẽ quyết định di cư sang Canada.)
Cha nói tiếp: “Em có nghe lúc nó nói ‘Bác Gandhi từng dạy rằng hết thẩy các tôn giáo đều là chân lý’ không?”
“Có.”
“Bác Gandhi? Thằng bé này đang ngày một thân thích với Gandhi đến thế kia à? Sau bác với cha Gandhi sẽ còn là cái gì đây? Bác Jesus chắc? Mà lại còn cái rất phi lý nữa – có đúng là nó đã thành một tín đồ Hồi giáo không?”
“Có vẻ thế.”
“Một kẻ Hồi giáo! Nói thực, là một tín đồ Hinđu mê muội thì anh cũng còn hiểu được. Kể cả là một người Cơ đốc nữa, mặc dù có hơi lạ nhưng cũng vẫn còn có thể hiểu được. Người Cơ đốc đã ở đây từ lâu – Thánh Thomas, Thánh Francis Xavier, những nhà truyền giáo và vân vân. Nhờ họ mà ta có các trường tử tế.”
“Vâng.”
“Cho nên tất cả những cái đại loại thế anh có thể chấp nhận được. Nhưng mà Hồi giáo! Cái đó hoàn toàn ngoại lai với truyền thống của chúng ta. Tín đồ Hồi giáo là những kẻ xa lạ bên ngoài.”
“Họ cũng đã ở đây từ rất lâu rồi đấy chứ. Họ còn đông hơn dân Cơ đốc hàng trăm lần.”
“Cũng thế thôi. Họ là người ngoài.”
“Có thể thằng Piscine nhà mình đang bước đều theo một nhịp trống tiến bộ khác.”
“Em bênh nó hả, em cứ mặc cho nó tự huyễn mình thành một thằng Hồi giáo đấy hả?”
“Thì làm gì được bây giờ, hả anh Santosh? Nó đã ghi lòng rồi, mà rồi thì có hại gì đến ai đâu. Có thể cũng chỉ là một giai đoạn thôi. Cả cái đó nữa rồi cũng qua đi – như bà Gandhi vậy.”
“Sao nó không thể có những vui thú bình thường như bọn trẻ cùng lứa được nhỉ? Như thằng Ravi đấy. Nó chỉ biết nghĩ đến bóng chày, xinê và âm nhạc.”
“Anh nghĩ như vậy tốt hơn à?”
“Không, không. Ôi chao, anh cũng chẳng biết nên nghĩ thế nào nữa. Suốt cả ngày rồi.” Cha thở dài. “Chẳng biết rồi nó sẽ đi đến đâu với những cái đam mê ấy.”
Mẹ tặc lưỡi. “Tuần trước nó vừa đọc xong một cuốn nhan đề bắt chước Đấng Christ.”
“Bắt chước Đấng Christ! Còn nói gì được nữa! Chẳng biết rồi nó sẽ đi đến đâu với những đam mê ấy!” Cha kêu to.
Và cả hai đều cười.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 28


Tôi yêu tấm thảm cầu nguyện của mình. Cho dù chất lượng nó vào loại thường, nhưng nó thật ngời ngời đẹp đẽ trong mắt tôi. Rất tiếc là nó không còn nữa. Bất cứ tôi trải nó xuống đâu, mảnh đất bên dưới và ngay xung quanh nó cũng trờ thành đặc biệt thân thiết với tôi. Điều đó chúng tỏ nó là một thấm thảm cầu nguyện tốt vì nó biết nhắc nhở tôi rằng đất này chính là sáng tạo của Thượng đế và nơi nào cũng thiêng liêng như nhau. Hoa văn thảm, những đường nét như vàng ròng trên nền đỏ, có kiểu cách giản dị; một hình chữ nhật dài với một tam giác ở một đầu để chỉ hướng cầu nguyện, có những nét phẩy nho nhỏ rải rác xung quanh, như những vệt khói hoặc nét nhấn nhá của một ngôn ngữ xa lạ. Mặt thảm êm. Khi cầu nguyện, hàng rua ngắn không thắt nút ở hai bên mép đầu và cuối của nó chỉ cách đỉnh trán và các ngón chân tôi dăm bảy phân, vừa vặn ấm cúng khiến tôi cảm thấy an toàn như ở nhà mình bất kì nơi nào tôi cầu nguyện.
Tôi cầu nguyện ngoài trời bởi vì tôi thích thế. Tôi thường trải tấm thảm của tôi ở một góc sân đằng sau nhà. Đó là một chỗ kín đáo dưới bóng mát một cây bạch phụ tử, sát cạnh bức tường có giàn hoa giấy leo kín. Dọc chân tường có hàng chậu trồng cây trạng nguyên. Những dây hoa giấy cũng cả cây bạch phụ tử. Những dây leo nho tim tím của có tương phản với những đóa hoa đỏ của cái cây trông thật vui mắt. Khi cây ấy vào mùa ra hoa, nó là nơi lui tới thường xuyên của quạ, sáo sậu, chích choè, chào mào và vẹt. Bức tường thì ở phía tay trái tôi, theo một góc rộng. Trước mặt và về phía bên trái, qua khỏi dải bóng râm lung linh của cái cây, là khoảng sân lộ thiên đầy nắng. Cảnh vật không phải lúc nào cũng vậy, tất nhiên rồi, mà có thay đổi tuỳ thời tiết, tuỳ ngày và tuỳ giờ. Nhưng tất cả những gì tôi vừa tả ghi dấu thật rõ ràng trong ký ức tôi, như thể chúng chẳng bao giờ thay đổi. Để hướng về phía Mecca cho đúng, tôi vạch một đường đánh dấu xuống mặt đất vàng nhạt và cẩn thận duy trì nó.
Có nhiều lần, khi cầu nguyện xong, hễ quay lại là tôi thấy cha hoặc mẹ hoặc Ravi đang quan sát mình. Rồi thì mọi người cũng quen đi.
Lễ đặt tên thánh cho tôi thì hơi lúng túng một chút. Mẹ chịu làm theo các nghi thức một cách êm thấm, cha chỉ đứng nhìn nghiêm nghị lạnh lùng, còn Ravi thì thường tình vắng mặt nhờ có trận bóng chày, nhưng không phải vì thế mà không lải nhải bình phẩm suốt về sau này. Dòng nước chảy xuống mặt xuống cổ tôi; chỉ một bình nước nhỏ thôi, nhưng tác dụng của nó tươi mới như một trận mưa mùa
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 29


Tại sao người ta di cư? Cái gì khiến họ nhổ rễ và rời bỏ tất cả những gì quen thuộc để đến một nơi xa tận bên kia chân trời? Tại sao phải trèo qua dãy thái sơn của các thủ tục giấy tờ khiến ta cảm thấy mình như một kẻ ăn mày? Tại sao phải dấn bước vào khu rừng ngoại lai nơi tất cả mọi thứ đều lạ lẫm, khó khăn và chưa từng thấy?
Chỉ có một câu trả lời: người ta di cư vì hy vọng có một cuộc đời tốt đẹp hơn.
Giữa thập kỷ 1970 là một thời kỳ khó khăn của Ấn Độ. Tôi đoán biết điều đó từ những nếp nhăn trên trán cha mỗi khi cha đọc báo. Hoặc từ những mẩu đối thoại tôi nghe được giữa cha, mẹ, Mamaji và những người khác. Không phải là tôi không hiểu nổi những chuyển biến trong những vấn đề họ nói với nhau. Nhưng tôi không mấy quan tâm đến chúng. Bầy khỉ độc vẫn hau háu chờ món chapattis của chúng hằng ngày; lũ khỉ chẳng bao giờ hỏi tin tức New Dehli; tê giác và dê vẫn tiếp tục chung sống yên ổn; chim chóc vẫn hót líu lo; mây vẫn mang mưa, mặt trời vẫn nóng; trái đất vẫn thở đều; Thượng đế vẫn… chẳng có gì cấp cứu trong thế giới của tôi.
Cuối cùng thì bà Gandhi đã làm cho cha hết chịu đựng nổi. Tháng Hai 1976, Dehli giải tán chính quyền vùng Tamil Nadu. Chính quyền từng to mồm chỉ trích bà nhiều nhất. Vịêc chuyển giao chính quyền diễn ra êm thấm – chính phủ địa phương của thủ tướng Karunanidhi im lặng biến mất qua các vụ “từ chức” và quản thúc tại gia. Thực ra, việc một chính quyền địa phương bị giải tán thì có là cái gì so với việc bản Hiến pháp của cả quốc dân đã bị phế từ cả tám tháng trước đó? Nhưng với cha, đó là dấu hiệu cuối cùng của việc bà Gandhi đã lên ngôi độc tài và tiếm đoạt quốc gia. Con lạc đà trong vườn thú chẳng hề hấn gì, nhưng cái sợi rơm ấy đã bẻ gãy lưng cha.
Cha kêu lên, “Chẳng mấy chốc mụ sẽ đến vườn thú của chúng ta và bảo rằng các nhà tù của mụ đều đã chật ních cả, rằng mụ cần thêm chỗ, rằng liệu chúng ta có giam được ông Desai vào cùng một chuồng với sư tử được chăng?”
Morarji Desai là một chính khách đối lập. Không phải bạn với bà Ganhdi. Tôi thấy buồn vì nỗi lo không dứt của cha. Bà Gandhi có thể tự tay bỏ bom vườn thú, chuyện đó cũng chẳng có sao đối với tôi nếu cha cũng vui vẻ coi đó là việc bình thường. Giá mà cha đừng khổ sở dằn vặt đến thế. Thật khổ cho một đứa con trai phải thấy cha nó phát ốm vì lo lắng.
Cha lo lắm. Việc làm ăn nào cũng có rủi ro cả, nhưng không có rủi ro nào bằng một công việc làm ăn nhỏ, khi đã mất là mất cả chì lẫn chài. Vườn thú là một thiết chế văn hóa. Cũng như một thư viện công cộng, một nhà bảo tàng, nó phục vụ công chúng trong lĩnh vực giáo dục và khoa học. Trong quan điểm đó, nó không phải là một việc làm ăn vì mục đích kiếm tiền, vì Điều Thiện Lớn và Lời Lãi Lớn là những mục tiêu không tương thích nhau. Cha đã rất cáu vì thế. Sự thật là, chúng tôi không phải là một gia đình giàu có, nhất là theo tiêu chuẩn Canada. Chúng tôi là một gia đình nghèo tình cờ sở hữu một lũ thú vật, mặc dù không sở hữu được cái mái nhà trên đầu chúng, và cả trên đầu chúng tôi nữa, nhân tiện phải nói luôn thế. Cuộc sống của một vườn thú, cũng như cuộc sống của các cư dân trong hoang dã, là bấp bênh khôn lường. Nó không phải một doanh nghiệp đủ lớn để có thể đứng trên luật pháp, mà cũng không đủ nhỏ để sống sót được sau những mất mát. Để phồn thịnh, vườn thú cần đến quốc vụ viện, các cuộc bầu cử dân chủ, tự do ngôn luận, tư do báo chí, tự do hội họp, luật lệ pháp chế rõ ràng và đủ mọi thứ khác nữa mà người ta đã cam kết thiêng liêng là phải có trong bản Hiến Pháp Ấn Độ. Không thế thì không tài gì mà lo cho vườn thú được. Lâu dài mà nói, chính trị tồi là có hại cho doanh nghiệp.
Người ta di cư vì mệt mỏi quá rồi trong tình trạng lo âu. Vì cái cảm giác cắn rứt rằng dù mình có cố mấy đi nữa thì cũng chẳng ăn thua gì, rằng công sức cả năm rồi cũng bị người khác cướp mất chỉ trong một ngày. Vì cái ấn tượng rằng, tương lai thế là hết, rằng mình thì thế nào cũng xong nhưng con cháu mình thế là hết đường rồi. Vì cái cảm giác rằng chẳng có gì thay đổi nữa, rằng hạnh phúc và phồn vinh chỉ có thể có được ở một nơi nào khàc mà thôi.
Nước Ấn Độ Mới đã bị đập vỡ tan tành và sụp đổ trong ý nghĩa của cha. Mẹ nhượng bộ. Chúng tôi sẽ bùng đi nơi khác thôi.
Quyết định ấy được tuyên cáo trong một bữa ăn tối. Ravi và tôi ngồi chết lặng! Canada! Nếu như Andhra Pradesh, ngay phía bắc chúng tôi, đã là một viễn xứ; nếu Sri Lanka, chỉ cách chúng tôi một eo biển hẹp khỉ có thể nhảy qua, đã là cái phía tối của mặt trăng, thử tưởng tượng xem Canada sẽ là cái gì? Canada không là gì đối với chúng tôi cả. Nó giống như Timkubu(1), theo định nghĩa là một nơi mãi mãi xa vời.

Ghi chú:
(1) Timkubu, một thị trấn ở trung bộ Mali, Tây Phi, một nơi nổi tiếng hẻo lánh, nên cái tên Timkubu đã đồng nghĩa với một nơi rất xa vời.

HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 30


Anh đã có vợ. Tôi đang cúi cởi giầy thì nghe anh nói: Xin giới thiệu đây là nhà tôi. Tôi ngẩng lên và ngay ở đó, bên cạnh anh… là bà Patel. Xin chào, chị lên tiếng, giơ tay ra cho tôi bắt và mỉm cười. Piscine đã nói với tôi rất nhiều về anh. Tôi thì không thể nói với chị điều tương tự. Tôi đã chưa biết tí gì về chị. Chị đang sắp phải đi nên chúng tôi chỉ chuyện trò được đôi câu. Chị cũng là người Ấn Độ nhưng nói giọng Canada điển hình hơn. Chắc là thế hệ thứ hai. Chị trẻ hơn anh một chút, da hơn đen hơn một chút, tóc dài đen tết thành một bím nặng. Cặp mắt đen láy và sáng và hàm răng trắng thật đáng yêu. Chị mang trên tay một cái áo choàng phòng thí nghiệm trắng tinh vừa giặt khô vẫn còn để trong bao ni lông, chị làm nghề bào chế thuốc. Khi tôi chào: rất được hân hạnh, thưa bà Patell, chị đáp: Xin anh cứ gọi tôi là Meena. Vợ chồng hôn nhẹ nhau một cái, rồi chị ra khỏi nhà vì một phiên làm ngày thứ Bảy.
Căn nhà này không phải chỉ là cái hộp đầy các tượng thờ nữa. Tôi bắt đầu để ý thấy các dấu hiệu nho nhỏ của một cuộc sống lứa đôi. Chúng vẫn ở đó cả thôi, nhưng trước đây tôi đã không tìm kiếm chúng.
Anh là một người nhút nhát. Cuộc đời đã dạy anh chớ có khoe khoang những gì quý giá nhất của mình.
Chẳng nhẽ chị đã là thủ phạm của những vụ bụng da tôi ậm ạch sau những lần ăn uống tại nhà anh?
Tôi vừa làm món sốt chua ngọt đãi anh đấy, anh nói, miệng mỉm cười.
Thì ra không phải chị, mà chính là anh.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 31


Họ gặp nhau một lần, ông Kumar với ông Kumar, ông làm bánh với ông thầy giáo. Ông Kumar thứ nhất nói ông muốn đến thăm vườn thú. “Ngần ấy năm sống ở đây mà tôi chưa lần nào được xem. Mà thật là ngay gần đây. Cậu sẽ hướng dẫn tôi chứ?” Ông hỏi.
“Vâng, tất nhiên rồi,” tôi đáp. “Thật là một vinh dự cho cháu.”
Chúng tôi hẹn gặp nhau ở cổng chính sau giờ tan trường ngày hôm sau.
Tôi lo lắng suốt ngày hôm đó, bụng bảo dạ, “Mày thật ngốc nghếch! Sao lại hẹn ở cổng chính? Lúc nào chỗ đó cũng đông người. Mày quên là ông ấy chẳng có đặc điểm gì rồi à? Mày sẽ không khi nào nhận được ra ông ấy cho mà xem!” Nếu tôi đi ngay qua cạnh ông mà không nhận ra ông thì ông chắc sẽ tự ái lắm. Ông sẽ nghĩ tôi đã thay lòng đổi dạ và không còn muốn cặp kè với một người làm bánh Hồi giáo nghèo khổ nữa. Ông sẽ bỏ đi không thém nói một lời. Ông sẽ không giận dữ - ông sẽ chấp nhận lời biện bạch của tôi là tôi bị chói mắt không nhìn thấy ông – nhưng ông sẽ không còn muốn đến thăm vườn thú làm gì nữa. Tôi có thể thấy sự việc sẽ diễn ra như thế. Tôi bắt buộc phải nhận ra ông. Tôi sẽ nấp và đợi đến khi nào chắc chắn đó là ông, nhất định sẽ phải làm như vậy. Nhưng tôi đã từng nhận thấy rằng cứ khi nào tôi cố hết sứcđể nhận dạng ông thì lại là lúc khó khăn nhận ra ông nhất. Hình như càng cố thì càng khó là đằng khác.
Đến giờ hẹn, tôi đứng trực ngay trước cổng chính của vườn thú và bắt đầu dụi mắt bằng cả hai tay.
“Mày làm cái gì thế?”
Đó là Raj, một thằng bạn.
“Tao đang bận.”
“Mày bận dụi mắt à?”
“Cút đi.”
“Mình đi ra bờ biển đi.”
“Tao đang đợi một người.”
“Thế thì mày sẽ lỡ hẹn nếu cứ dụi mắt lia lịa như thế kia.”
“Cảm ơn mày đã nhắc. Mày đi chơi bờ biển cho vui nhé.”
“Hay là đi Vườn Nhà nước đi mày.”
“Tao không đi được, tao bảo rồi mà.”
“Thôi đi.”
“Tao xin mày, Raj, mày đi đi.”
Nó bỏ đi. Tôi lại dụi mắt.
“Mày giúp tao làm bài tập toán được không, Pi?”
Đó là Ajith, một thằng bạn khác.
“Để sau, mày đi chỗ khác đi.”
“Chào Piscine”
Đó là bà Radhakrishna, một người bạn của mẹ. Tôi xua được bà đi chỗ khác sau một vài câu nhẹ nhàng.
“Xin lỗi, đến phố Laporte đi lối nào?”
Một người lạ.
“Lối kia.”
“Vé vào vườn thú bao nhiêu tiền?”
Một người lạ khác.
“Năm rupi. Quầy bán vé ở ngay kia.”
“Câu bị chlorine vào mắt hay sao?”
Đó là Mamaji.
“Chào bác Mamaji, không phải đâu ạ.”
“Bố cháu có đây không?”
“Chắc có ạ.”
“Gặp cháu sáng mai nhé.”
“Thưa bác vâng ạ.”
“Tôi đây, cậu Piscine.”
Tôi đông cứng lại trước mắt mình. Cái giọng nói đó. Vừa lạ vừa quen. Tôi cảm thấy như trong lòng mở một nụ cười.
“Salaam alaykum, bác Kumar! Gặp bác cháu rất mừng.”
“Wa alaykum as-salaam(1). Mắt cậu làm sao thế?”
“Không, không sao đâu ạ. Chắc chỉ là một hạt bụi.”
“Đỏ hết cả rồi.”
“Không sao đâu ạ.”
Ông đi về phía quầy vé nhưng tôi gọi ông lại.
“Không, không. Thầy(2) không phải mua vé đâu ạ.”
Thật là vinh hạnh khi tôi xua tay về phía quầy vé và mở đường cho ông Kumar bước vào vườn thú.
Ông kinh ngạc trước tất cả mọi thứ, nào là vì cây cao mà sinh ra hươu cao cổ, rồi chuyện các loài ăn thịt thì được cấp thức ăn là loài ăn cỏ, rồi loài ăn cỏ thì có cỏ mà ăn, rồi thì chuyện có các loài ăn đêm và các loài ăn ngày, con nào cần có mỏ sắc thì có mỏ sắc, con nào cần có chân tay nhanh nhẹn thì có chân tay nhanh nhẹn. Tôi sung suớng thấy ông kinh ngạc đến như vậy.
Ông dẫn lời kinh Koran: “Có thông điệp của Thượng đế cho những ai biết dùng trí xét đoán của mình trong tất cả những điều này.”
Chúng tôi đến chỗ bọn ngựa vằn. Ông Kumar chưa từng nghe về những con vật này chứ đừng nói đến chuyện đã từng nhìn thấy một con. Ông đứng ngây người.
“Ngựa vằn đấy ạ.” Tôi bảo.
“Người ta sơn vẽ chúng bằng bút lông à?”
“Không, không. Trông thế thôi chứ là tự nhiên đấy ạ.”
“Trời mưa thì sao?”
“Chẳng sao ạ.”
“Những cái vạch lông kia không nhòe nhoẹt đi à?”
“Không ạ.”
Tôi có mang theo ít cà-rốt. Còn một củ to và cứng. Tôi lấy nó ra khỏi túi. Đúng lúc ấy tôi nghe thấy tiếng sỏi lạo xạo ở phía bên phải. Đó là ông Kumar, đang bước về phía hàng rào trong dáng điệu lắc lư khập khiễng quen thuộc.
“Chào thầy ạ.”
“Chào Pi.”
Ông làm bánh, bẽn lẽn nhưng đàng hoàng, gật đầu chào ông thầy giáo. Ông này lại gật đầu chào lại.
Một chú ngựa vằn tinh ý đã thấy củ cà-rốt của tôi và đã bước đến chỗ rào thấp. Nó vẫy tai và giậm chân nhè nhẹ. Tôi bẻ củ cà-rốt làm đôi, đưa cho mỗi ông Kumar một nửa. “Cám ơn Piscine,” một ông nói. “Cám ơn Pi” ông kia bảo. Ông Kumar làm trước, thò tay qua hàng rào. Cặp môi dày đen bóng và khoẻ mạnh của con ngựa vằn ngoạm ngay lấy củ cà-rốt. Ông Kumar không bỏ ra, con ngựa vằn đớp ngập răng vào mẩu cà-rốt và cắn nó ra làm hai. Nó nhai rau ráu trong vài giây, rồi ngoạm nốt nửa kia, môi nó phủ kín các đầu ngón tay ông Kumar. Ông buông miếng ca-rốt và vuốt ve cái mũi mềm mại của con ngựa vằn.
Đến lượt ông Kumar. Ông không làm khó cho con ngựa vằn như ông kia. Khi môi con ngựa đã ngoạm nửa miếng cà-rốt, ông buông tay. Cặp môi ấy vội vàng lùa miếng cà-rốt vào trong miệng.
Ông Kumar với ông Kumar có vẻ sung suớng.
“Cậu bảo gì nhỉ, ngựa vằn à?” Ông Kumar nói.
“Đúng thế ạ,” tôi trả lời. “Nó thuộc cùng một họ với lừa và ngựa.”
“Xe Rolls-Royce của các nhà kỵ sỹ” ông Kumar nói.
“Con này là một con ngựa vằn giống Grant,” tôi nói.
Ông Kumar nói, “Equus burchelli beohmi(3).”
Ông Kumar nói, “Allahu akbar(4).”
Tôi nói, “Nó rất đẹp.”
Chúng tôi tiếp tục nhìn.

Ghi chú:
(1). Salaam alaykum là câu chào nhau của người Hồi giáo, có nghĩa tương tự như xin Thượng đế ở cùng bạn và Wa alaykum as-salaam là câu đáp lại, cũng có nghĩa đó (ND).
(2). Pi phải gọi ông Kumar này là “Bác” mới đúng, vì ông thầy Kumar dạy sinh vật lát sau mới đến. (namphuong)
(3) Tiếng Latin, có nghĩa: con ngựa rất đẹp. (ND)
(4) Nghĩa là: Vinh danh thánh Allah. (ND)
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 32


Có nhiều thí dụ về cách các thú vật thu xếp cuộc sống rất đáng ngạc nhiên. Tất cả đều giống như hiện tượng nhân dạng hoá (anthropomorphism), mà trong động vật học gọi là hiện tượng thú dạng hoá (zoomorphism) - hiện tượng một con thú coi một người hoặc một con thú khác loài như thể cúng loài với mình.
Nối tiếng nhất và cũng phổ biến nhất là trường hợp các con chó cảnh nuôi trong nhà. Chúng đã đồng hoá người vào thế giới chó sâu xa đến mức muốn cả giao phối với họ, một sự thực mà bất kỳ người chủ nào đã phải kéo con chó si tình của mình ra khỏi háng một vị khách sợ hết hồn cũng sẽ sẵn sàng khẳng định là có.
Con điêu thử lông vàng và con chuột lông chấm trắng của chúng tôi sống rất hoà thuận với nhau, quấn quít nhau và ngủ dúi dụi vào nhau cho tới lúc con điêu thử lông vàng bị người ta bắt trộm mất.
Tôi cũng đã nhắc đến tê giác với đàn dê, và trường hợp của sư tử trong rạp xiếc.
Có những câu chuyện được khẳng định hẳn hoi về những thuỷ thủ sắp chết đuối được cá heo đội lên khỏi mặt nước, là cách điển hình mà loài cá này vẫn dùng để cứu lẫn nhau.
Trong sách vở có nhắc đến trường hợp một con chồn trắng sống hòa thuận với con chuột nọ, trong khi vẫn lập tức nuốt chửng các con chuột khác theo đúng kiểu chồn trắng.
Vườn thú của chúng tôi đã thấy chuyện các con thú ăn thịt sống với con mồi của chúng rất lạ lùng. Chúng tôi có một con chuột đã sống với bầy rắn độc trong suốt nhiều tuần lễ. Trong khi các con chuột khác bỏ vào chuồng rắn đều bị toi mạng trong vòng một hai ngày, con chuột nhỏ màu nâu này nhởn nhơ tha rác làm một cái tổ xinh xinh, thu trữ các hạt ngũ cốc mà chúng tôi rắc cho nó vào những chỗ giấu khác nhau và chạy đi chạy lại ngay trước mắt các con rắn. Chúng tôi ngạc nhiên hết sức. Chúng tôi treo một cái biển để người xem để ý đến hiện tượng con chuột này. Sau rồi nó cũng không tránh được kết cục của số phận: nó bị một con rắn non cắn. Con rắn ấy không biết đến địa vị đặc biệt của con chuột sao? Hay nó cảm thấy không ưa và không muốn quan hệ với con chuột? Chẳng biết thế nào. Có điều con chuột ấy lập tức bị nuốt chửng. Nếu bầy rắn đã bị bỏ bùa thì con rắn non đã giải được cái bùa ấy. Mọi việc trở lại bình thường. Chuột lại bị lũ rắn nuốt chửng theo tốc độ như cũ.
Trong nghề nuôi thú, người ta hay dùng chó làm mẹ nuôi sư tử con. Mặc dù sư tử con lớn lên và to lớn hơn mẹ nuôi và cũng nguy hiểm hơn nhiều. Chúng không bao giờ làm rầy mẹ nuôi. Con chó cũng không bao giờ hết dịu dàng và cũng vẫn giữ được quyền làm mẹ của nó đối với lũ sư tử. Phải có biển giải thích cho công chúng đến xem rằng con chó trong chuồng kia không phải là thức ăn sống của bọn mãnh sư (cũng như chúng tôi đã phải có biển nói rằng tê giác là loài ăn cò và không ăn thịt dê).
Có thể lí giải hiện tượng thú dạng hoá như thế nào đây? Chẳng nhẽ tê giác không thể phân biệt được to với nhỏ, da cứng với lông mềm? Chẳng nhẽ cá heo không thể nhận ra nhau? Tôi tin rằng câu trả lời dành nằm trong cái mà tôi đã nhắc đến trước đây, trong cái liều lượng điên rồ vẫn thúc cho sự sống vận động theo những cung cách lạ lùng nhưng là cứu cánh. Con chuột lông vàng cũng như con tê giác, đều cần có bạn đồng hành. Bọn sư tử làm xiếc không cần biết vị thủ lãnh của chúng là một người yếu ớt; tinh thần hư cấu đảm bảo cuộc sống xã hội của chúng và ngăn chặn tình trạng bạo lực vô chính phủ. Còn đối với bọn sư tử con, chúng sẽ ngã ngửa ra vì sợ khi biết rằng mẹ chúng chỉ là một con chó, vì điều đó có nghĩa là chúng không có mẹ, một tình trạng tồi tệ nhất mà bất cứ sinh linh máu nóng nhỏ nhoi nào cũng có thể tưởng tượng ra. Tôi tin rằng ngay cả con rắn già, khi nuối chửng con chuột, chắc chắn phải cảm thấy ở một xó nào đó trong tâm trí chưa phát triển của nó một thoáng ân hận, một cảm giác rằng có cái gì đó lớn lao hơn vừa bị mất đi, một bước nhảy của trí tưởng tượng ra khỏi miền thực tại thô thiển và đơn côi của một con thú bò sát.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 33


Anh cho tôi xem những kỷ vật gia đình. Trước tiên là ảnh cưới, một đám cưới Ấn Độ trên nền Canada nổi bật ngoài rìa. Một anh trẻ hơn, một chị trẻ hơn. Họ đi trăng mật ở thác Niagara. Một chuyến đi thật đáng yêu. Những nụ cười khẳng định điều đó. Rồi ngược thời gian nữa, những tấm ảnh hồi anh còn là sinh viên ở đại học Toronto; với bạn bè; trước cửa nhà thờ thánh Micheal; trong phòng ở; trên đường phố; đang đọc sách ở nhà thờ thánh Basil trong bộ áo chùng màu trắng; đang vận một áo choàng trắng kiểu khác trong phòng thí nghiệm của khoa động vật học trong ngày tốt nghiệp. Một nụ cười trong mọi lúc, nhưng cặp mắt anh lại kể một câu chuyện khác.
Những bức ảnh ở Brazil, với rất nhiều các con cu li ba móng chụp tại chỗ.
Với một động tác giở trang, chúng tôi nhảy qua Thái Bình Dương; và hầu như chẳng có hình ảnh gì. Anh nói có chụp ảnh liên tục trong tất cả các dịp quan trọng, nhưng đã mất tất cả rồi. Vài bức ít ỏi là do Mamaji cóp nhặt gửi sang sau này.
Có một bức ảnh chụp ở vườn thú nhân dịp một quan chức cao cấp đến thăm. Một thế giới khác hiện ra đen trắng trước mắt tôi. Bức ảnh đầy người. Vị bộ trưởng trong nội các chính phủ liên hợp là trung tâm của bức ảnh. Đằng sau có một con hươu cao cổ. Gần bên rìa đám đông, tôi nhận ra ông Adirubasamy trẻ tuổi.
“Mamaji đây à?” Tôi hỏi, chỉ vào đó.
“Vâng,” anh nói.
Có một người đàn ông đứng cạnh ông bộ trưởng, đeo kính gọng sừng và mái tóc chải rất mượt. Rất có thể là ông Patel, mặt tròn hơn mặt con trai.
“Có phải đây là cha anh?” Tôi hỏi.
Anh lắc đầu. “Tôi không biết ông ta là ai.”
Im lặng vài giây, rồi anh nói, “chính cha tôi chụp bức ảnh này.”
Cũng trên trang đó còn có một bức ảnh chụp tập thể khác, phần lớn là học sinh. Anh gõ gõ ngón tay lên bức ảnh.
“Richard Parker đấy,” anh nói.
Tôi kinh ngạc. Tôi nhìn gần hơn, cố tách biệt nhân cách và hình thức bề ngoài. Không may là bức ảnh đen trắng lại không được nét. Kiểu ảnh chụp chơi lúc cuộc đời còn vô lo vô nghĩ. Richard Parker đang ngoảnh nhìn ra chỗ khác. Nó cũng chẳng biết là người ta đang chụp ảnh nó.
Trang đối diện là cả một bức ảnh màu chụp cái bể bơi ở Aurobindo Ashram. Một cái bể ngoài trời rộng và đẹp, nước trong vắt soi rõ đáy bể màu xanh lơ và một cái bể lặn bên cạnh.
Trang tiếp trưng một bức ảnh chụp trước cửa trường Petit Seminaire. Một cổng vòm có sơn dòng chữ tiêu biểu của trường: Nil magnum nisi bonum. Không có cái thiện thì cũng không có cái vĩ đại.
Anh có vẻ trầm ngâm.
“Chán nhất,” anh nói, “là tôi không còn nhớ lại được dung nhan của mẹ tôi. Tôi có thể tưởng tượng mẹ, nhưng chỉ trong một thoáng là mất. Mỗi khi tôi cố hình dung mẹ cho rõ ràng, mẹ lại mờ dần đi. Cả giọng nói mẹ cũng thế. Nếu tôi thấy mẹ ngoài phố bây giờ, chắc là mọi thứ sẽ trở lại rõ ràng. Nhưng chắc chẳng được nữa rồi. Thật buồn khi không thể nhớ được mẹ mình trông ra sao.”
Anh gập cuốn sổ lại.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 34


Cha nói: “Chúng ta sẽ đi tầu thủy như Columbus!”
“Ông ấy đã chỉ hy vọng tìm thấy được Ấn Độ,” tôi buồn rầu nói.
Chúng tôi bán vườn thú, trọn gói tuốt tuột. Đến một xứ sở mới, một cuộc đời mới. Ngoài việc đảm bảo cho bầy thú của chúng tôi có một tương lai hạnh phúc, việc bán chác này còn giúp chúng tôi có tiền di chuyển và một món kha khá để bắt đầu lại từ đầu ở Canada (bây giờ nghĩ lại cái món kha khá đó thật nực cười - quả thật chúng tôi mù tịt về chuyện tiền nong). Chúng tôi có thể bán bầy thú cho các vườn ở Ấn Độ, nhưng các vườn thú ở Mỹ chịu trả giá cao hơn. Lúc ấy, Hiệp định Quốc về buôn bán các loài thú quý hiếm vừa ra đời, và hành lang buôn bán thú hoang đã bị đóng của hoàn toàn. Tương lai các vườn thú từ nay nằm trong tay các vườn thú khác. Vườn thú Pondicherry đóng cửa vừa đúng lúc. Người ta tranh nhau mua bầy thú của chúng tôi. Những khách hàng cuối cùng là một số các vườn thú, chủ yếu là vườn thú Lincoln Park ở Chicago và vườn thú Minesota lúc ấy mới sắp mở cửa. Những con thú lẻ thì bán rải rác sang cho các vườn ở Los Angeles, Louisville, Oklahoma City và Cincinnati.
Và có hai con được chở bằng tàu thuỷ sang Vườn thú Canada. Đó là Ravi và tôi. Cả hai chúng tôi đều cùng một cảm nghĩ đấy. Chúng tôi không muốn đi. Không muốn sống ở xứ sở gió giật suốt ngày và với những mùa đông lạnh hai trăm độ âm(1). Canada không có trên bản đồ của môn cricket. Chỉ đến khi bắt tay vào chuẩn bị cuộc di cư chúng tôi mới dần quen với ý nghĩ sẽ phải đi. Việc chuẩn bị cũng hết hơn một năm trời. Không phải với chúng tôi, mà là với bầy thú kia. Nếu nghĩ rằng các con vật có phải lo gì đến quần áo, giầy dép, chăn màn, bàn ghế, đồ bếp núc và đồ vệ sinh; rồi quốc tịch cũng chẳng có ý nghĩa gì với chúng, không phải lo tí gì đến hộ chiếu, tiền nong, khả năng công ăn việc làm, trường học, nhà ở, y tế… Nghĩa là, nếu nghĩ rằng bầy thú thật là nhẹ nhàng trong tất cả những cái đó, thì mới ngạc nhiên là việc di chuyển chúng mới khó khăn làm sao. Di chuyển một vườn thú cũng giống như di chuyển một thành phố vậy.
Nguyên thủ tục giấy tờ đã hàng núi rồi. Tốn hàng lít nước để pha mực đóng dấu. Viết hàng trăm đơn từ kiểu “Kính thưa ngài Mỗ với ngài Mỗ”. Rao giá. Thở dài. Nghi ngờ. Bàn đi cãi lại. Trình lên trên xin quyết định. Ngã được giá cả. Ra được thỏa thuận. Kí tên vào những chỗ chấm chấm trong văn bản hợp đồng. Trao đổi những lời chúc mừng. Kiếm các chứng chỉ nguồn gốc. Kiếm các chứng chỉ sức khỏe. Kiếm các giấy phép xuất khẩu. Kiếm các giấy phép nhập khẩu. Làm rõ các điều lệ cách li. Tổ chức vận tải. Tiêu hàng cả gia tài vào tiền điện thoại. Có một câu nói đùa trong nghề vườn thú, một câu đùa mệt mỏi, rằng đống giấy tờ cần thiết để mua bán một con chuột mõm nhọn ăn sâu bọ thôi cũng nặng hơn cả một con voi, rằng giấy tờ mua bán một con voi thì nặng hơn cả một con cá voi, và rằng chớ bao giờ có ý định mua bán một con cá voi, chớ bao giờ. Hình như có một bọn quan liêu chuyên bới lông tìm vết ngồi xếp hàng một từ Pondicherry đến Minneapolis, qua Dehli và Washington, ai cũng nhăm nhăm các biểu mẫu, những vấn đề khó khăn và những nỗi hoài nghi của mình. Chở các con vật lên mặt trăng có thể còn đỡ phức tạp hơn. Cha đã giật đứt hầu hết tóc trên đầu và đã nhiều lần suýt tung hê hết cả.
Có những chuyện không lường được. Hầu hết chim chóc, bò sát, tê giác, khỉ độc, khỉ đuôi sư tử, hươu cao cổ, thú ăn kiến, hổ, báo hoa, báo cheetah, linh cẩu, ngựa vằn, gấu culi và gấu Hymalaya, voi Ấn Độ được hỏi mua tíu tít, nhưng lại có nhiều con không ai hỏi han gì đến, ví dụ như chú hà mã Elphie của chúng tôi. “Một cuộc giải phẫu nhân mắt!” Cha vừa kêu vừa lắc lắc một bức thư trong tay. “Họ sẽ mua nếu mình mổ nhân mắt bên trái cho nó. Cho một con hà mã! Còn gì nữa chứ? Sửa mũi cho tê giác chắc?” Một số con thú bị coi là “quá thường” ví dụ sư tử và khỉ đầu chó. Cha đã phải đổi các con vật này lấy một con khỉ độc từ vườn thú Mysore và một con đươi uơi từ vườn Manila. (Còn con hà mã Elphie thì sống đến hết đời tại vườn thú Trivandrum.) Một vườn thú hỏi mua một “con bò Bramin chính hiệu” để trưng trong khu dành cho trẻ em. Cha liền và khu rừng đô thị Pondecherry và mua một con bò cái có cặp mắt ướt đen tuyền, một cái bướu rõ to và cặp sừng thẳng băng mọc thật vuông góc với cái đầu như thể nó đã liếm phải một ổ điện. Cha cho sơn cặp sừng ấy mầu da cam thật tươi rồi gắn những cái chuông nhựa nhỏ xíu vào mũi sừng, cho nó thêm chính hiệu.
Một phái đoàn ba người Mỹ đến. Tôi rất tò mò. Tôi chưa từng thấy người Mỹ thật còn sống. Họ đến, hồng hào, béo tốt, rất thân thiện, thạo việc và cứ ra mồ hôi như tắm. Họ khám các con thú của chúng tôi. Họ cho chúng ngủ rồi nghe tim, kiểm tra nước giải và phân như thể xem tử vi, lấy máu vào ống tiêm rồi đem đi phân tích, xoa bóp các loại bướu, gõ thử răng, chiếu đèn pin vào mắt, cấu thử da, vuối và nhổ thử lông. Khổ thân các con thú. Chắc chúng tưởng người ta đang khám tuyển chúng vào quân đội Mỹ. Chúng tôi nhận được những nụ cười vui vẻ nhất của những người Mỹ này, và những cái bắt tay chặt tưởng gãy xương của họ.
Kết quả là bầy thú, cũng như chúng tôi, nhận được hết các giấy tờ cần thiết. Chúng sẽ thành những công dân Mỹ tương lai, còn chúng tôi, những công dân Canada tương lai.

Ghi chú:
(1) Tính theo độ PH. (ND)
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 35


Chúng tôi rời Madras ngày 21 tháng Sáu năm 1977, trên con tàu hàng Nhật Bản treo cờ Panama mang tên Tsimtsum. Các sỹ quan trên tàu là người Nhật, thủy thủ đoàn là người Đài Loan, và con tầu thật lớn, thật ấn tượng. Ngày cuối cùng của chúng tôi ở Pondicherry, tôi chào tạm biệt Mamaji, ông Kumar và ông Kumar, tạm biệt tất cả bạn bè và cả nhiều người chưa quen biết. Mẹ vận bộ sari đẹp nhất. Bím tóc dài của mẹ, gập lại một cách mỹ thuật và cài lại sau gáy, được trang điểm bằng một vòng hoa nhài tươi. Mẹ đẹp. Và buồn. Vì mẹ đang rời bỏ Ấn Độ, nước Ấn Độ nóng nực của những cơn mưa mùa, những cánh đồng lúa và dòng sông Cauvery, những bờ biển và đền miếu xây bằng đá tảng, những cỗ xe bò kéo và những chiếc xe tải sặc sỡ của bạn bè và những người chủ tiệm quen thuộc, con phố Nehru và phố Goubert Salai, của cái này cái nọ, nước Ấn Độ quen thuộc và yêu mến với mẹ đến thế. Trong khi những người đàn ông trong nhà – tôi tưởng mình là một trong số họ - mặc dù mới mười sáu tuổi – đang vội vàng để lên đường, tưởng mình đã là thị dân Winnipeg bên xứ Canada xa xôi kia, thì mẹ còn nán lại.
Hôm trước khi đi, mẹ chỉ một hàng bán thuốc lá và hỏi giọng khẩn khoản, “Ta có nên mua một vài bao không anh?”
Cha đáp, “Bên Canada cũng có thuốc lá, mà sao em muốn mua? Mình có ai hút đâu?”
Vâng, bên Canada cũng có thuốc lá – nhưng họ có thuốc lá Gold PHlake không? Họ có kem nhãn hiệu Arun không? Xe đạp của họ có phải xe đạp Hero không? Có tivi Onidas không? Có ô tô Ambassador không? Các hiệu sách có tên là Higginbothm không? Đó, tôi nghĩ, là những câu hỏi quay cuồng trong đầu mẹ khi mẹ đang tính mua mấy bao thuốc lá ấy.
Bầy thú đã được đánh thuốc ngủ, lùa hết vào lồng và khóa lại, đồ ăn thức uống đã trữ hết vào hầm tàu, dây neo đã tháo hết, và những hồi còi rúc lên. Khi con tàu len lỏi ra khỏi bến và tìm đường ra khơi, tôi cuống cuồng vẫy chào Ấn Độ. Mặt trời tỏa sáng, gió thổi đều, và bầy hải âu cất những tiếng kêu chói tai trên không trung. Lòng tôi rộn rã.
Mọi việc ở đời có bao giờ diễn ra như ta vẫn tưởng, nhưng biết làm sao. Cuộc đời đem cho ta cái gì thì ta phải nhận cái đó và chỉ còn cách làm cho chúng tốt đẹp nhất mà thôi.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 36


Những thành phố ở Ấn Độ đều rộng lớn và đông đúc không thể nào quên được, nhưng khi rời khỏi chúng, ta du hành qua những vùng quê mênh mông, nơi rất ít khi nhìn thấy một bóng người. Tôi còn nhớ cứ thắc mắc mãi không biết chín trăm năm mươi triệu người Ấn kia đang ẩn nấp ở đâu.
Cũng có thể nói như vậy về căn nhà của anh.
Tôi đến hơi sớm. Tôi vừa đặt chân lên các bậc thềm xi măng của lối vào thì đột nhiên một thiếu niên từ trong nhà chạy ào ra. Cậu mặc bộ đồng phục cầu thủ bóng chày và mang theo các dụng cụ bóng chày, và cậu đang vội lắm. Thấy tôi, cậu đứng sững, rồi quay lại gọi toáng lên vào trong nhà: “Cha ơi, ông nhà văn đến rồi.” Với tôi, cậu nói: “Chào bác,” rồi chạy ù đi.
Cha cậu ra cửa. “Xin chào,” anh nói.
“Con trai anh đấy ư?”, tôi hỏi, vẫn không biết có thật hay không.
“Vâng.” Công nhận sự thực ấy khiến môi anh nở một nụ cười. “Xin lỗi, hai bác cháu gặp nhau không được đúng phép. Cháu đang vội đi tập. Tên cháu là Nikhil. Thường gọi là Nick.”
Tôi vào đến tiền sảnh. “Tôi không biết anh có con trai,” tôi nói. Có tiếng chó sủa, một con chó lài lông đen khoang nâu chạy bổ đến tôi, hít ngửi hổn hển. Nó nhảy dựng lên hai chân trước bíu vào chân tôi. Tôi nói thêm, “lại có cả chó nữa.”
“Nó hiếu khách lắm, Tata, xuống!”
Tata phớt lờ. Tôi nghe tiếng “Chào bác” chỉ có điều không ngắn gọn và mạnh mẽ như tiếng chào của Nick. Nó kéo dài, đầy giọng mũi và ư ử nhẹ nhàng, âm “àooo…” đến tai tôi như một cái vỗ vai hoặc cái kéo quần nhè nhẹ.
Tôi quay lại. Đang dựa vào cái ghế sôpha trong phòng khách, ngước nhìn tôi với một vẻ e lệ bối rối, là một cô bé da nâu, rất xinh trong bộ áo mầu hồng, rõ ràng đang ở nhà mình. Cô ôm một con mèo màu da cam. Chỉ nhìn thấy hai chân trước dựng đứng và cái đầu thụt lủn của con mèo bên dưới hai cánh tay bắt chéo của cô bé. Phần còn lại của nó treo lửng lơ xuống tận sàn nhà. Con mèo có vẻ hoàn toàn thoải mái trong tư thế treo mắc áo như vậy.
“Còn đây là con gái anh?” Tôi hỏi.
“Vâng. Usha. Này Usha yêu quý của cha, liệu Moccasin như thế có dễ chịu không con?”
Usha buông Moccasin xuống. Nó phủ phục xuống sàn một cách thản nhiên.
“Chào Usha,” tôi nói.
Con bé đến bên cha và nhìn trộm tôi từ sau chân anh.
“Con làm gì vậy hả con?” Anh nói. “Sao con lại đi trốn thế?”
Con bé không trả lời, chỉ nhìn tôi với một nụ cười mỉm rồi che mặt.
“Cháu mấy tuổi rồi hả Usha?” Tôi hỏi.
Nó không đáp.
Rồi Piscine Molitor Patel, được tất cả mọi người biết đến với cái tên Pi Patel, cúi xuống nhấc đứa con gái của mình lên lòng.
“Con biết trả lời câu hỏi đó rồi mà, đúng không nào? Con lên bốn rồi. Một, hai, ba, bốn.”
Khi nói đến mỗi một con số, anh lại lấy ngón tay trỏ ấn nhẹ lên đầu mũi con bé. Nó thấy điều đó thật buồn cười. Nó khúc khích rồi dụi đầu vào cổ cha.
Đây thực là một câu chuyện có hậu.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-18 23:59:44Ct.Ly>
Phần 2
Thái Bình Dương
 
CHƯƠNG 37


Tầu đắm. Nó chìm trong một tiếng động giống như một tiếng ợ kim loại ma quái. Mọi vật sủi bong bóng trêm mặt nước, rồi tất cả biến mất. Cái gì cũng đang gào thét: biển, gió, cõi lòng tôi. Từ trên xuồng cứu nạn, tôi thấy có cái gì trên mặt nước.
Tôi kêu, “Richard Parker, có phải mày đấy không? Khó nhìn quá. Ôi giá mà tạnh được mưa! Richard Parker? Richard Parker? Đúng mày rồi!”
Tôi có thể nhìn thấy cái đầu. Nó đang vùng vẫy để khỏi chìm.
“Ôi hay quá, đúng là mày rồi, Richard Parker! Con xin đội ơn tất cả các ngài Jesus, Mary, Muhammad và Vishnu! Nào cố lên, đừng bỏ cuộc. Đến đây với tao. Mày có nghe thấy tiếng còi này hay không? Tuýyyyt! Tuýyyyt! Tuýyyyy! Mày nghe thấy chứ hả? Bơi đi, bơi! Mày bơi khỏe lắm mà. Chưa đến ba mươi mét đâu.”
Nó thấy tôi rồi. Trông nó hoảng hốt cực độ. Nó bắt đầu bơi về phía tôi. Mặt nước xung quanh nó dạt từ bên này sang bên nọ. Trông nó bé nhỏ và tuyệt vọng.
“Richard Parker, mày có tin được những gì vừa xảy ra với chúng ta không? Hãy nói đây chỉ là cơn ác mộng. Hãy nói đây không phải là sự thực. Hãy nói tao đang nằm trong cái giường tầng ấy trên tàu Tsimtsum, trằn trọc bên này bên kia và sắp tỉnh dậy khỏi cơn các mộng này. Hãy nói tao vẫn đang hạnh phúc. Mẹ, vị thiên thần thông sáng bảo hộ dịu dàng của con, mẹ đâu rồi? Còn cha nữa, cha ơi, cha lúc nào cũng lo lắng vì chúng con? Anh nữa, anh Ravi, người hùng chói lọi thủơ thiếu thời của em? Xin thần Vishnu phù hộ cho con, xin đấng Allah hãy bảo vệ con, xin đấng Christ hãy cứu rỗi con, con không thể chịu đựng được nữa rồi. Tuýyyyyt! Tuýyyyyt Tuýyyyyt!”
Không có thương tích gì trên mình tôi, nhưng chưa bao giờ tôi thấy đau đớn đến cực điểm như thế, một cảm giác bị cắn xé tơi bời cả trong tâm trí và cõi lòng đến mức như thế.
Nó không thoát được mất. Nó sẽ chết chìm mất. Nó không bơi lên được tí nào và các động tác của nó thật yếu ớt. Mũi mồm nó cứ chìm lên chìm xuống. Chỉ có cặp mắt nó luôn gắn chặt vào tôi.
“Richard Parker, mày làm cái gì thế? Mà không muốn sống nữa sao? Bơi đi, bơi tiếp đi! Tuýyyt! Tuýyyyt! Tuýyyyt! Đạp chân đi! Đạp! Đạp! Đạp!”
Nó khuấy nước và bắt đầu bơi.
“Còn cả gia đình lớn của ta thì sao – chim chóc, thú vật và bò sát? Chúng chết đuối hết rồi sao? Tất cả những gì quý giá nhất trên đời đều bị huỷ diệt cả rồi. Và ta không được phép có một lời giải thích nào ư? Ta phải chịu hỏa ngục mà không có lời kết tội nào của thiên đường hay sao? Nếu quả như vậy, thì trí xét đoán còn ích gì, phải không hả Richard Parker? Nó chỉ soi sáng những thực tế nôm na – giúp ta kiếm đồ ăn áo mặc và một nơi trú ẩn thôi sao? Tại sao trí xét đoán không trả lời được những điều lớn lao hơn? Tại sao chúng ta không thể quăng một câu hỏi ra xa hơn nơi chúng ta có thể kéo về được một câu trả lời? Cần gì phải có một cái lưới rộng đến thế nếu như chỉ có vài con cá quanh quẩn cho ta bắt?”
Đầu nó chìm lỉm hết rồi. Nó rướn lên, ngước mắt nhìn như thu tóm cả bầu trời vào mình một lần cuối cùng. Có một cái phao buộc dây trên xuồng. Tôi túm lấy nó và huơ huơ lên trên không.
“Mày có thấy cái phao này không hả Richard Parker? Có nhìn thấy không? Bắt lấy nó! Um! Ta sẽ ném lại lần nữa. Um!”
Nó ở xa quá. Nhưng thấy cái phao bay về phía mình khiến nó hy vọng trở lại. Nó lấy lại sức và bắt đầu quẫy đạp rất mạnh.
“Đúng rồi! Một, hai. Một, hai. Thở được là thở nhé. Cẩn thận các ngọn sóng đấy. Tuýyyt! Tuýyyyt! Tuýyyyt!”
Lòng tôi cũng lạnh băng mất rồi. Tôi như ốm nặng vì đau buồn. Nhưng không thể để mình rơi vào một cơn choáng cóng lạnh như vậy. Chỉ được phép choáng trong hành động mà thôi. Có cái gì đó trong tôi không muốn tôi nằm im chịu chết, không được bỏ cuộc, phải chiến đấu đến cùng. Tôi lấy đâu ra cái đó, tôi cũng không biết nữa.
“Thật nực cười, phải không hả Richard Parker? Ta đã rơi vào địa ngục rồi mà sao vẫn còn sợ chết. Mày đã gần rồi đấy! Tuýyyt! Tuýyyyt! Tuýyyyt! Hoan hô, hoan hô! Được rồi đấy, Richard Parker, được rồi đấy. Bắt lấy này! Um!”
Tôi lấy hết sức quăng cái phao. Nó rơi xuống nước ngay trước mặt Richard Parker. Với chút sức lực cuối cùng, nó rướn lên và quặp lấy cái phao.
“Giữ chặt lấy! Ta sẽ kéo mày lên. Đừng bỏ ra. Nhìn ta đây này trong khi ta kéo mày. Ta kéo bằng tay, mày bằng mắt. Tí nữa thôi mày sẽ lên xuống cùng với ta. Gượm đã! Cùng với ta à? Ta với mày sẽ cùng nhau ở một chỗ à? Mình điên rồi hay sao?”
Tôi tỉnh ngộ về việc mình đang làm. Tôi giật cái dây một cái.
“Bỏ cái phao ra, Richard Parker! Ta bảo mày. Bỏ cái phao ra! Ta không muốn mày lên dây, hiểu chưa? Đi chỗ khác. Để mặc ta. Biến đi. Chết đuối đi! Chết đuối đi!”
Nó đang điên cuồng đạp nước bằng cả bốn chân. Tôi với lấy cái chèo. Tôi chọc mạnh vào nó, muốn đẩy nó ra. Tôi trượt và để rơi mất mái chèo.
Tôi vớ lấy cái chèo còn lại. Tôi lắp nó vào móc chèo và dồn sức khua nó xuống nước, muốn chèo cái xuồng đi chỗ khác. Tất cả nỗ lực của tôi chi đủ làm cho cái xuồng quay một chút, một đầu xuồng vào gần Richard Parker hơn.
Tôi sẽ phải đánh vào đầu nó! Tôi giơ cái chèo lên cao.
Nó nhanh quá. Nó vươn lên và trèo vào xuồng.
“Ôi, lạy chúa tôi.”
Ravi có lý. Quả thực tôi đã thành con dê tiếp theo. Tôi đã có con hổ Bengal ba tuổi trưởng thành, ướt đẩm, run rẩy, vừa thoát khỏi chết đuối, đang thở hồng hộc và ho sù sụ trên cái xuồng cứu nạn cùng với tôi. Richard Parker loạng choạng đứng lên, chân giẫm lên tấm bạt, mắt rực lửa khi gặp luồng mắt của tôi, hai tai cụp sát vào đầu, bao nhiêu vũ khí trút hết ra khỏi vỏ. Cái đầu nó to bằng và cùng màu với cái phao, đầy răng nhọn.
Tôi quay quắt ra đằng sau, bước qua con ngựa vằn rồi nhẩy ào xuống biển.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 38


Tôi không hiểu được. Trong bao nhiêu ngày con tàu đã tuần tự nhi tiến, ngạo nghễ phớt lờ mọi thứ xung quanh nó. Mặt trời chói lọi, mưa rơi, gió thổi, nước dòng, sóng cao, vực sâu - con tầu Tsimtsum đều mặc kệ. Nó chạy với một sự tự tin, chậm chạp và khổng lồ của một châu lục.
Tôi đã mua một tấm bản đồ thế giới cho chuyến đi; tôi treo nó lên một cái bảng nút chai trong cabin của chúng tôi. Sáng sáng, tôi hỏi vị trí của tầu ở cầu chỉ huy và đánh dấu lên tấm bản đồ bằng một cái đinh ghim đầu tròn màu da cam. Chúng tôi đi từ Madras, ngang qua Vịnh Bengal, xuống dọc eo biển Malacca, vòng Singapore rồi ngược lên Manila. Tôi không thấy chán một chút nào trong suốt lộ trình ấy. Chúng tôi rất bận vì phải chăm sóc bầy thú. Đến đêm, lên giường ngủ thì ai nấy đều ê ẩm tận xương. Chúng tôi dừng lại ở Manila hai hôm, vì chuyện thức ăn tươi cho bầy thú, lấy thêm hàng, và như chúng tôi được thông báo, còn để kiểm tra bảo dưỡng máy tàu nữa. Tôi chỉ để ý đến hai việc trước. Thức ăn tươi cho bầy thú có hàng tấn chuối, còn hàng mới là một con đười ươi cái Congo, một phần kết quả của những chạy vạy cho công việc của cha. Một tấn chuối và hai, ba kí lô những con nhện to tướng đen xì. Một con đười ươi cũng giống như một con khỉ độc, nhỏ hơn, gầy hơn, nhưng trông lưu manh hơn, ít vẻ u buồn hơn. Một con đười ươi rùng mình nhăn mặt khi nó chạm vào một con nhện đen, cũng như anh và tôi, nhưng khác một cái là ngay sau đó nó sẽ giận dữ nghiền nát con nhện bằng các khớp ngón tay của nó. Tôi thấy chuối và một con đười ươi thú vị hơn nhiều cái cỗ máy cơ khí bẩn thỉu dưới lòng tầu. Ravi thì suốt ngày này qua ngày khác ở dưới đó, xem người ta chạy máy. Máy móc có cái gì đó không ổn, anh bảo vậy. Hay là việc bảo dưỡng đã chữa lợn lành thành lợn què? Tôi không biết. Chắc cũng chẳng ai biết. Câu trả lời là một bí ẩn đang nằm dưới hàng nghìn thước nước.
Chúng tôi rời Manila và tiến vào Thái Bình Dương. Đến ngày thứ tư, mới nửa đường đến Midway, thì tàu đắm. Con tàu biến mất tăm vào cái lỗ đinh ghim của tôi trên bản đồ. Một trái núi sụp đổ trước mắt tôi và mất dạng dưới chân tôi. Khắp xung quanh tôi là bãi nôn mửa của con tàu chết vì rối loạn tiêu hóa. Tôi nôn mửa. Tôi choáng. Tôi thấy trống rỗng lớn lao ở trong mình, rồi cái trống rỗng ấy lại bị sự im lặng lấp đầy. Trong nhiều ngày sau đó, một nỗi đau đớn và sợ hãi luôn đè chặt lên ngực tôi.
Hình như đã có một tiếng nổ. Nhưng tôi không chắc. Lúc đó tôi đang ngủ. Và đã bật dậy. Con tàu không phải là một tàu khách hạng sang. Nó là một tàu chở hàng hạng nặng thiết kế không phải để phục vụ khách có tiền và đòi hỏi tiện nghi. Lúc nào và chỗ nào trên tàu cũng ầm ĩ các loại tiếng động. Cũng chính vì mức độ ồn ào và ổn định ấy mà chúng tôi ngủ ngon như hài nhi. Đấy là một dạng im lặng không có gì phá vỡ được, kể cả tiếng ngáy của Ravi hay những lời mê ngủ của tôi. Cho nên tiếng nổ ấy, nếu có, cũng không phải là một tiếng động mới mẻ gì. Nó chỉ là một tiếng động bất thường. Tôi giật mình tỉnh dậy, như thể Ravi vừa bóp nổ một quả bóng hơi ngay tai tôi. Tôi nhìn đồng hồ. Mới quá bốn rưỡi sáng một tí. Tôi cúi xuống giường bên dưới. Ravi vẫn ngủ.
Tôi mặc quần áo và trèo xuống. Thường thì tôi ngủ rất say. Thường thì tôi sẽ nằm lại và ngủ tiếp. Không biết tại sao đêm đó tôi lại thức dậy như thế. Chính ra Ravi mới là người sẽ làm như vậy. Anh thích từ ''vẫy gọi''. Trong trường hợp ấy, Ravi sẽ bảo ''Phiêu lưu đang vẫy gọi,'' và sẽ chạy ra thám thính khắp các nơi trên tàu. Mức độ tiếng ồn lại trở lại như thường, nhưng hình như có khác về chất, có lẽ hơi nghèn nghẹt khác trước.
Tôi lay Ravi. Tôi gọi, ''Ravi ! Có tiếng gì lạ lắm. Mình ra xem sao đi.''
Anh ngái ngủ nhìn tôi. Anh lắc đầu và trở mình, kéo chăn lên tận má. Ôi, Ravi !
Tôi mở cửa cabin.
Tôi còn nhớ mình đi dọc hành lang, nơi cảnh vật lúc nào cũng thế cả ngày lẫn đêm. Nhưng tôi cảm thấy đêm tối ở trong mình lúc đó. Tôi dừng lại trước cabin của cha mẹ và đã định gõ cửa. Tôi nhớ mình có nhìn đồng hồ và quyết định thôi không gõ cửa nữa. Cha thích giấc ngủ của cha lắm. Tôi quyết định sẽ lên boong đón bình minh. Có thể tôi sẽ thấy một ngôi sao đổi ngôi.Tôi đã nghĩ đến điều đó, đến các ngôi sao đổi ngôi, khi trèo lên thang. Cabin của chúng tôi ở cách boong hai tầng. Tôi quên hẳn cái tiếng động lạ kia rồi.
Chỉ khi đẩy mở cánh cửa nặng dẫn lên boong, tôi mới nhận thấy thời tiết lúc ấy ra sao. Đã gọi được là bão chưa nhỉ? Đúng là đang mưa, nhưng không đến nỗi to lắm. Rõ ràng chưa phải là mưa giật như trong những trận bão gió mùa. Có gió. Những cơn gió giật cũng đủ mạnh để lật ô. Nhưng tôi vẫn đi trong gió ấy không mấy khó khăn. Còn biển, trông dữ dội thật, nhưng với một kẻ sống trong đất liền thì biển cả bao giờ chẳng ghê gớm, hùng vĩ và đầy nguy hiểm. Những con sóng trào lên, và bọt trắng bị gió thổi quật tơi bời vào thành tàu. Nhưng tôi đã từng thấy cảnh đấy và có con tàu nào đắm. Một con tàu hàng là một cấu trúc bền vững khổng lồ, một chiến công của kỹ thuật. Nó được thiết kế để nổi trên mặt nước trong những điều kiện tồi tệ nhất. Thời tiết kiểu này chắc sẽ không thể làm đắm tàu được, có phải vậy không nhỉ? Lạ thật, chỉ cần đóng cánh cửa và sẽ không thấy gió bão gì nữa. Tôi tiến hẳn lên boong. Tôi bíu chắc lấy lan can và ngửa mặt đón bão. Thích thật, đây mới là phiêu lưu mạo hiểm.
''Hỡi Canada, ta đã đến đây!'' Tôi gào lên, ướt sũng và lạnh cóng. Tôi thấy mình thật can đảm. Vẫn còn tối, nhưng cũng đả đủ sáng để nhìn thấy xung quanh. Sáng để thấy hết cảnh thiên nhiên gào thét. Một sân khấu khổng lồ, với ánh sáng thật kịch tính, với vô vàn những phụ kiện, và một ngân sách không hạn chế cho những hiệu quả đặc biệt. Trước mắt tôi là một khung cảnh hoành tráng của gió và nước, một trận động đất của các giác quan mà ngay cả Hollywood cũng không thể bầy đặt ra được. Nhưng trận động đất ấy ngưng lại ngay dưới chân tôi. Tôi đang đứng trên một nền tảng vững chãi. Tôi như một khán giả ngồi yên ổn trong ghế của mình.
Chỉ đến khi nhìn lên chỗ cái xuồng cứu nạn trên cầu tàu, tôi mới bắt đầu thấy lo lắng. Cái xuồng không nằm ngay ngắn trong vị trí treo lơ lửng của nó. Nó nghiêng hẳn vào phía trong của hai vòng giá treo. Các khớp ngón tay tôi trắng bệch. Hóa ra, tôi phải bíu chặt lấy lan can như vậy không phải vì gió bão, mà là nếu không thì tôi đã ngã về phía trong con tàu, lúc đó đang nghiêng dần sang phía sườn bên trái. Chưa nghiêng nhiều lắm, nhưng đủ để tôi kinh ngạc. Khi tôi nhìn sang phía bên kia, cảnh vật không còn bình thường nữa. Tôi nhìn thấy cả sườn tàu đen sì.
Tôi run bắn lạnh hết cả người. Tôi nhất định nghĩ rằng chỉ vì cơn bão mà thôi. Đã đến lúc về cabin. Tôi bỏ tay, bước vội về phía vách, rướn người mở cửa.
Bên trong tàu có nhiều tiếng động. Những tiếng rền rĩ trầm đặc của cấu trúc. Tôi vấp ngã. Không sao. Tôi vùng dậy. Vịn vào tay cầu thang, tôi chạy xuống từng bốn bậc một. Mới xuống đến tầng thứ nhất ở dưới tôi đã thấy nước. Nước tràn lan. Ngập hết lối đi. Nước dâng lên ào ạt từ bên dưới như một đám đông nổi loạn, giận dữ, ngầu bọt và sôi sùng sục. Tôi không thể tin vào mắt mình. Tại sao lại có nước ở đây? Nó ở đâu ra? Tôi đứng đóng đanh tại chỗ, hốt hoảng, hoang mang, không biết phải làm gì tiếp. Cả gia đình tôi đang ở dưới kia.
Tôi chạy trở lên boong. Thời tiết không còn làm trò mua vui như trước nữa. Tôi sợ hãi lắm. Bây giờ thì rõ ràng quá rồi: con tàu đang lật nghiêng một cách trầm trọng. Mà không phải chỉ về một phía. Nó đang nghiêng cả từ phía mũi xuống phía đuôi tàu. Nhìn sang phía bên kia boong, tôi thấy nước biển có vẻ cách mình chưa đến hai mươi mét. Tàu đang chìm. Tôi không thể chấp nhận ý nghĩ đó. Nó khó tin như chuyện mặt trăng bốc cháy vậy.
Sỹ quan và thủy thủ đâu cả rồi? Họ đang làm gì vậy? Về phía mũi tàu, tôi thấy lờ mờ có mấy bóng người đang chạy. Hình như tôi thấy cả mấy con thú nhưng tôi gạt những hình ảnh ấy đi, coi chúng chỉ là ảo ảnh do mưa và bóng tối gây ra. Chúng tôi có mở then các cửa khoang thú vật khi thời tiết tốt, nhưng chúng luôn luôn được nhốt kín trong cách chuồng riêng. Chúng tôi đang chở các con thú hoang nguy hiểm chứ đâu phải gia súc. Phía trên cầu tàu, tôi nghĩ tôi nghe thấy có tiếng người đang hò hét.
Con tàu lắc mạnh một cái rồi đến cái tiếng động ấy, cái tiếng ợ kim loại ma quái. Cái gì vậy? Có phải là một tiếng thét tập thể của người và thú phản kháng cái chết đang đến với họ? Hay là tiếng thở dốc của chính con tàu khi trút bỏ linh hồn? Tôi ngã lộn nhào. Tôi vùng đứng dậy. Tôi lại nhìn ngang boong tàu và thấy biển dâng lên. Sóng gần lắm rồi. Chúng tôi đang chìm rất nhanh.
Tôi nghe thấy rõ ràng tiếng khỉ kêu thét. Có cái gì đang làm rung cả sàn tàu. một con bò tót Ấn Độ chạy đâm bổ từ trong mưa về phía tôi, ầm ầm chạy qua tôi, hoảng sợ đến phát rồ. Tôi chỉ biết chết lặng nhìn nó. Lạy Chúa tôi, không biết ai lại thả nó ra như thế?
Tôi chạy ra cầu thang dẫn lên cầu tàu. Trên đó sẽ có các sỹ quan, những người nói được tiếng Anh duy nhất trên tàu, trong tay họ là vận mệnh của chúng tôi, họ sẽ chỉnh đốn được tình hình. Họ sẽ giải thích mọi chuyện. Họ sẽ bảo vệ được gia đình tôi và tôi. Tôi trèo lên cầu tàu giữa. Không thấy có ai bên này, tôi chạy sang phía bên kia, thấy có hai người trong thuỷ thủ đoàn. Tôi ngã. Tôi vùng dậy. Họ đang nhìn cả ra biển. Tôi hét lên. Họ quay lại. Họ nhìn tôi rồi nhìn nhau. Họ nói cái gì đó. Họ chạy ù về phía tôi. Tôi lập tức thấy yên tâm. Tôi nói: ''Ơn Chúa, tôi đã tìm thấy các anh. Có chuyện gì vậy? Tôi sợ lắm. Dưới đáy tàu toàn là nước. Tôi lo cho gia đình tôi quá. Tôi không thể xuống dưới tầng có cabin của chúng tôi. Bình thường có chuyện này không? Các anh nghĩ...''
Một người trong bọn họ ngắt lời tôi bằng cách ấn vào tay tôi một cái áo phao cấp cứu và quát cái gì đó bằng tiếng Trung Quốc. Tôi để ý thấy một cái còi màu da cam lủng lẳng ở cái túi phao. họ đều gật đầu lia lịa về phía tôi. Khi họ túm lấy tôi và nhấc bổng tôi lên, tôi chẳng phật ý gì hết. Tôi nghĩ họ đang giúp tôi. Tôi thấy tin họ đến mức còn cảm thấy biết ơn họ khi họ nhấc bổng tôi lên như vậy. Chỉ khi họ ném tôi xuống biển, tôi mới bắt đầu thấy nghi ngờ.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 39


Tôi rơi xuống, nảy bần bật trên tấm vải bạt căng che bọc một cái xuồng cứu nạn, mới được tháo ra một nửa, hàng chục mét bên dưới cầu tàu. Rất lạ là tôi không đau đớn gì. Cái áo phao rơi đâu mất, trong tay tôi còn lại cái còi. Cái xuồng đã được hạ xuống nửa chừng, vẫn còn đang lơ lửng. Nó nghiêng khỏi hai cái đà treo, đung đưa trong gió bão, cách mặt biển chừng sáu thước. Tôi nhìn lên. Hai người trong bọn họ đang nhìn xuống tôi, lấy tay chỉ cuống quýt vào cái xuồng và hò hét loạn xị. Tôi không hiểu họ muốn tôi làm gì. Tôi tưởng họ sắp nhảy xuống cùng với tôi. Nhưng họ quay đi, trông rất hoảng sợ, rồi một con vật bất thần nhảy vọt ra không trung với dáng điệu duyên dáng của một con ngựa đua. Con ngựa vằn không rơi trúng tấm vải bạt. Nó là một con đực giống Grant, nặng trên hai tạ rưỡi. Nó rơi ầm xuống cái ghế dài cuối xuồng, làm vỡ tan cái ghế và khiến cả cái xuồng run lên bần bật. Con vật kêu lên. Nhẽ ra phải là một tiếng hí rền rĩ như một con la hoặc con ngựa. Nhưng hoàn toàn không phải. Chỉ có thể gọi đó là một tiếng sủa the thé đau đớn vô cùng; khônga-ha-ha, khônga-ha-ha, khônga-ha-ha... Cặp môi nó vén hết lên, run bần bật, để lộ những cái răng vàng và hàng lợi màu hồng sẫm. Cái xuồng và chúng tôi cùng rơi xuống mặt nước đang sủi sùng sục.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 40


Richard Parker không nhảy xuống nước theo tôi. Cái chèo tôi định dùng để đánh nó nổi bập bềnh. Tôi vớ lấy nó khi bơi về cái phao mà con hổ vừa bỏ ra. Dưới nước thật khủng khiếp. Tôi có cảm tưởng như đang ở dưới đáy một cái giếng đang sụt lở. Nước sôi lên giận dữ, đen ngòm, lạnh buốt. Các con sông liên tiếp nhào xuống tôi. Chọc vào mắt tôi. Dìm tôi xuống. Khiến tôi ngạt thở. Nếu không có cái phao, chắc chắn tôi đã không thể sống lấy một phút.
Tôi thấy một hình tam giác rẽ nước đi cách tôi khoảng 5 thước. Vây cá mập. Một nỗi sợ hãi rần rật chạy lên chạy xuống dọc sống lưng tôi như một dòng nước lạnh toát. Tôi hết sức bơi thật nhanh về một đầu xuồng, phía vẫn còn có tấm bạt che phủ. Tôi chống tay nghển lên xuống. Không nhìn thấy Richard Parker đâu cả. Không ở trên tấm bạt, cùng không trên cái ghế dài nào. Nó đang ở dưới đáy xuồng. Tôi rướn lên tí nữa. Tôi chỉ thoáng thấy ở đầu xuồng đàng kia cái đầu con ngựa vằn vật vã tứ phía. Tôi để người ngã xuống nước trở lại. Ngay trước mắt tôi, một cái vây cá mập lẳng lặng lướt qua.
Tấm bạt màu da cam sáng được buộc bằng dây nilông chắc luồn qua các lỗ khuyết kim loại tán dọc mép bạt và những cái móc tròn bên mạn xuồng. Tình cờ, tôi đang bơi ở phía mũi xuồng. Đoạn bạt phủ trên phần mũi - một cái mũi rất ngắn, nếu ở trên mặt người thì là một cái mũi tẹt - không được buộc chắc như ở các đoạn xung quanh xuồng. Đoạn dây luồn từ cái móc bên này sang cái móc bên kia của mũi xuồng không được chặt lắm, khiến cho tấm bạt được phủ lỏng ra một chút. Tôi lấy cán mái chèo chọc vào cái khe hở chỗ bạt lỏng ấy và hết sức đẩy nó vào thật sâu, đến hết cỡ mới thôi. Cái mũi xuồng thế là mọc ra thêm được một đoạn, cho dù hơi vẹo vọ một chút. Tôi đu lên cái chèo, hai chân quặp lấy nó. Cán chèo thúc lên tấm bạt, nhưng cả bạt, dầy chằng và cái chèo đều nguyên vị. Tôi không phải ngâm mình dưới nước nữa, mặc dù vẫn lửng lơ lắc lư cách mặt nước chỉ hơn một thước. Những ngọn sóng lớn vẫn quất vào người tôi.
Chỉ còn mình tôi, côi cút, giữa Thái Bình Dương, bám lửng lơ vào một mái chèo, hổ dữ trước mặt, cá mập dưới lưng, xung quanh là bão tố. Nếu tôi nhìn nhận tình trạng ấy của mình bằng lí trí tỉnh táo, chắc hẳn tôi đã bỏ cuộc và buông khỏi mái chèo đó với hy vọng sẽ được chết chìm trước khi bị ăn thịt. Nhưng tôi không thể nhớ mình có chút ý nghĩ gì trong vài phút đầu tương đối an toàn đó. Tôi còn không thể thấy là trời đang rạng sáng. Tôi chỉ biết bám chặt lấy mái chèo, chỉ vậy thôi, chỉ có Thượng đế mới biết tại sao.
Một lúc sau, tôi bắt đầu tận dụng được cái phao. Tôi nhấc nó lên khỏi mặt nước và luồn nó vào cái chèo. Tôi dịch nó xuống dần cho đến khi vòng phao quặp lấy cái chèo thôi. Nếu Richard Parker xuất hiện, nhẩy ra khỏi mái chèo trong tư thế đó sẽ khó khăn hơn, nhưng hãy cứ lo từng thứ một, Thái Bình Dương trước, hổ dữ sau.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 41


Trời đất đã để tôi sống. Cái xuồng không chìm. Richard Parker không thấy đâu. Bầy cá mập lượn lờ nhưng không tấn công. Sóng đánh vào tôi tơi bời nhưng không cuốn tôi đi.
Tôi nhìn mãi con tàu lúc nó chìm xuống khối nước sủi sùng sục. Những ánh đèn nhập nhoạng rồi tắt ngấm. Tôi cố tìm gia đình tôi, những ai còn sống sót, một cái xuồng cứu nạn khác, bất cứ gì có thể làm tôi hy vọng. Nhưng không có gì cả. Chỉ có mưa, những cơn sóng dữ dội của đại dương đen ngòm và dư vị thảm họa.
Bóng tối đã tan đi trên bầu trời. Mưa đã tạnh.
Tôi không thể ở trong tư thế của mình mãi. Tôi rét. Cổ tôi đau nhừ vì phải giữ cái đầu và phải nghển lên nghển xuống mãi cho đến lúc đó. Lưng cũng đau vì dựa mãi vào cái phao. Và tôi cần phải ở cao hơn nữa mới có thể quan sát xem có cái xuồng cứu nạn nào nữa không.
Tôi dịch xuống dọc cái chèo cho đến lúc hai bàn chân đặc lên được mũi xuồng. Phải rất thận trọng. Tôi đoán Richard Parker đang nằm dưới tấm bạt, quay lưng về phía tôi, quay mặt ra chỗ con ngựa vằn mà chắc chắn là nó đã thịt mất rồi. Trong năm giác quan, hổ dùng nhiều đến mắt nhất. Nhãn lực của chúng mạnh, nhất là phát hiện các chuyển động. Tai chúng cũng thính. Mũi chúng thì thường. Tất nhiên tôi muốn nói là nếu so với các loài vật khác. Bên cạnh Richard Parker thì tôi là thằng điếc, mù và tịt mũi đặc. Nhưng lúc ấy nó không thể nhìn thấy tôi, và tôi ướt sũng như vậy thì nó cũng có thể không ngửi thấy, còn với tiếng gió gào biển thét khi đó, nếu tôi cẩn thận thì chắc nó không thể nghe thấy tôi. Một khi nó còn chưa biết đến tôi thì còn có cơ hội sống. Nếu biết, nó sẽ giết tôi lập tức. Tôi băn khoăn không biết nó có thể vọt lên qua tấm bạt không.
Sợ hãi và lí trí tranh nhau trả lời. Sợ hãi bảo được chứ, nó là một con thú ăn thịt hung dữ và mạnh mẽ, nặng tới hơn hai tạ. Móng nào của nó cũng sắc như dao. Lí trí lại nói không được đâu, tấm bạt rất chắc, không phải là vách giấy Nhật Bản. Tôi đã từ tít trên cao rơi xuống nó. Richard Parker có thể dùng móng cào xé tấm bạt dễ dàng và nhanh chóng, nhưng không thể nhảy chui qua tấm bạt đến bóp một cái như thằng hề trong hộp đồ chơi. Và nó con chưa thấy tôi. Chưa thấy tôi thì nó chẳng có lí do gì phải cào xé tấm bạt để chui qua cả.
Tôi trườn dọc cái chèo. Tôi để cả hai chân sang một phía và đặt chân lên mạn xuồng, cái mép trên của sườn xuồng, hay gọi là cái gọng trên cũng được. Tôi dịch thêm chút nữa cho đến khi hai chân ở trong xuồng. Tôi không rời mắt khỏi cái mép bên kia của tấm bạt. Bất kì giây phút nào Richard Parker cũng có thể trỗi dậy nhào đến tôi. Người tôi phát ra nhưng cơn sợ run bần bật rất nhiều lần. Đúng cái chỗ cần phải im nhất là đôi chân thì tôi lại là chỗ tôi bị run mạnh nhất. Hai chân tôi run đùng đùng như gõ trống trên tấm bạt, đến gõ cửa gọi Richard Parker thì cũng chỉ thế là cùng. Cơn run lan từ chân lên tay và tôi chẳng thể nào cản nổi chúng. Rồi từng cơn run sợ cũng qua đi.
Khi người tôi đã phần lớn vào trong xuồng, tôi gượng đứng dậy. Tôi nhìn sang qua tấm mép bạt, và ngạc nhiên thấy con ngựa vằn vẫn còn sống. Nó nằm gần đuôi xuồng, chỗ nó đã rơi xuống, bất động, nhưng bụng vẫn phập phồng thở dốc và mắt vẫn đáo điên đầy hoảng hốt. Nó nằm nghiêng, quay mặt về phía tôi, đầu và cổ nghẹo trên cái ghế băng bên mạn xuồng một cách vụng về. Một chân sau nó đã gãy thảm hại. Cái góc gập hoàn toàn không tự nhiên. Xương lòi khỏi da và có máu chảy. Chỉ hai chân trước thanh mảnh là có vẻ vẫn còn trong tư thế tự nhiên. Chúng gập lại và thu gọn xuống bên dưới phần thân thể đã vặn vẹo. Thỉnh thoảng, con ngựa vằn lại ngúc ngắc đầu, kêu nấc lên và thở phì phò. Còn thì nó nằm bất động.
Một con vật đáng yêu. Những cái vằn của nó ánh lên, sáng trắng và đen tuyền. Đang cơn khắc khoải chết người, tôi không để ý nhiều, nhưng vẫn kinh ngạc nhận thấy, dù chỉ thoáng qua, cái kiểu dáng thật lạ, thật sạch và thật đẹp, cũng như cái đầu thanh tú của nó. Cái hệ trong lớn hơn đối với tôi là điều hiển nhiên lạ lùng rằng Richard Parker đã không giết nó. Các loài thú ăn thịt chỉ biết: chúng phải giết con mồi. Trong hoàn cảnh lúc ấy, Richard Parker, căng thẳng và sợ hãi đến thế, chắc chắn sẽ càng hung dữ hơn nhiều. Nhẽ ra con ngựa vằn phải bị ăn thịt rồi mới phải.
Nguyên nhân của việc tha chết đó chỉ một lúc sau hiển hiện ra trước mặt tôi. Nó làm máu tôi đông lại, rồi cũng làm cho tôi có một chút yên tâm. Một cái đầu xuất hiện ở cuối tấm bạt. Nó nhìn thẳng vào tôi một cách sợ hãi, thụt xuống, ngẩng lên, lại thụt xuống, lại ngẩng lên, rồi biến hẳn. Một cái đầu hói hao hao giống gấu của một con linh cẩu lông chấm. Vườn thú của chúng tôi có một bộ lạc linh cẩu gồm 6 con, hai con cái chỉ huy và 4 con đực lâu la. Chúng đang trên đường đến Minesota. Con này là một con đực. Tôi nhận ra nó vì cái tai bên phải, bị rách bươm và vết sẹo lởm chởm vẫn làm chứng cho những vụ bạo hành ngày trước của nó. Bây giờ thì tôi hiểu tại sao Richard Parker đã không giết con ngựa vằn: nó không còn ở trên xuồng nữa. Không thể có một con linh cẩu và một con hổ trong cùng một nơi chật hẹp như vậy. Chắc hẳn nó đã lăn từ tấm bạt xuống dưới biển và chết đuối rồi.
Thế còn tại sao lại có con linh cẩu này ở trên xuồng? Tôi không tin linh cẩu có thể bơi ngoài biển khơi. Chỉ có thể kết luận rằng nó đã ở trên xuồng từ trước, trốn lên tấm bạt, và tôi đã không thấy nó lúc rơi xuống xuồng. Tôi nhận ra một điều nữa: con linh cẩu là lí do những thuỷ thủ kia đã ném tôi xuông xuồng. Không phải họ định cứu tôi. May ra đó chỉ là ý định cuối cùng của họ. Họ muốn dùng tôi làm vật thí mạng. Họ hy vọng con linh cẩu sẽ tấn công tôi và may ra tôi sẽ trừ khử được nó và làm cho cái xuống được an toàn để họ xuống, tôi có chết cũng chẳng sao. Bây giờ thì tôi hiểu họ đã chỉ tay lia lịa vào cái gì dưới xuồng trước khi con ngựa vằn xuất hiện.
Tôi không bao giờ nghĩ rằng việc mình bị nhốt cùng với một con linh cẩu ở một nơi chật hẹp như thế lại là một tin lành, nhưng biết làm sao được. Mà thực ra tôi có những hai cái tin lành: nếu không có con linh cẩu thì đám thủy thủ đã chẳng ném tôi xuống xuồng và nhất định tôi đã chết chìm theo con tàu; còn việc phải chung cư với một con thú thì thà là với con chó dữ còn hơn là con hổ hung bạo và nhanh như cắt kia. Để cho an toàn, tôi dịch trở lại lên cái chèo. Dạng chân sang hai bên, tôi ngồi lên mép cái phao, bàn chân trái đặt trên mỏm mũi xuồng, chân phải trên mép xuồng. Cũng đủ đễ chịu và cho phép tôi quay mặt vào xuồng.
Tôi nhìn quanh. Chẳng có gì ngoài biển và trời. Giống hệt như khi ta ở trên một đỉnh cao nào đó. Mặt biển thấp thoáng nhại lại các nét đặc trưng của đất liền - những ngọn đồi, những thung lũng, những cánh đồng. Những biến động địa chất được tăng tốc. Vòng quanh thế giới trong 80 ngọn sóng. Nhưng tôi chẳng tìm thấy gia đình tôi ở nơi nào trong cái thế giới ấy. Có những vật nổi bập bềnh trên mặt nước nhưng chẳng có cái nào mang lại chút hy vọng. Tôi không thể tìm thấy một xuồng cứu nạn nào khác.
Thời tiết thay đổi nhanh chóng. Mặt biển, mênh mông là thế, đến mức ngạt cả thở, đang dần dần trở lại ổn định trong một chuyển động đều đặn và mượt mà, với những con sóng đuổi theo nhau. Gió đang dịu lại thành một làn mơn man đầy âm hưởng. Những đám mây trắng lúp xúp tỏa sáng đang bắt đầu sáng lên trên nền xanh nhạt tinh tế của vòm trời vô biên sâu thẳm. Đó là bình minh của một ngày đẹp trời trên Thái Bình Dương. Chiếc áo trên người tôi đã bắt đầu khô. Đêm tối biến đi nhanh chóng chẳng kém gì con tàu.
Tôi bắt đầu chờ đợi. Tâm trí tôi đảo điên. Hết tập trung vào những chi tiết thực tế của việc sống còn trước mắt rồi lại ngây dại trong đau đớn, khóc chẳng ra lời, miệng há, hai tay ôm đầu.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-18 23:58:04Ct.Ly>
CHƯƠNG 42


Nó tới, bập bềnh trên một hòn đảo chuối và trong một vầng hào quang, đẹp không khác gì Mary Đồng Trinh. Mặt trời đang mọc lên sau lưng nó. Lông tóc nó như bốc lửa trông thật sướng mắt.
Tôi kêu lên: ''Ôi chao! Hỡi Mẹ vĩ đại đầy ân điển, hỡi nữ thần sinh thực của vùng Pondicherry, người mang lại sữa và tình yêu, vòng tay an ủi tuyệt với, nỗi khủng khiếp của chấy rận, người ẳm bế những kẻ khóc lóc, chẳng nhẽ người cũng phải chứng kiến tấn thảm kịch này ư? Dịu dàng phải gặp khủng khiếp là không phải lẽ rồi. Sao người không chết ngay có hơn chăng? Gặp người thế này thật vui mừng và cay đắng biết bao. Người đem lại phần đau đớn và vui mừng ngang nhau. Vui mừng vì có người bên ta, nhưng đau đớn vì sẽ chẳng được mấy chốc. Người biết gì về biển cả? Không biết gì hết. Ta biết gì về biển cả? Cũng không biết gì hết. Không có tài xế, chiếc xe buýt này sẽ lạc mất thôi. Chúng ta thế là hết đời rồi. Hãy lên xuồng nếu số phận người vẫn còn mờ mịt - ta hãy cứ biết bến này đã. Ta có thể ngồi bên nhau. Người có thể lấy chỗ cạnh cửa sổ, nếu người thích. Nhưng quang cảnh sẽ buồn đấy. Ôi chao, lẩm cẩm thế đủ rồi. Để ta nói thẳng ra nhé: ta yêu n gười, ta yêu người, ta yêu người. Ta yêu người, ta yêu người, ta yêu người. Nhưng mà không được có bọn nhện đâu nhé.''
Đó là con Nước Cam - gọi nó thế vì nó hay rớt rãi lòng thòng - con khỉ độc cái vùng Borneo quí giá, minh tinh của vườn thú và mẹ của hai thằng con xinh xắn, xung quanh là cả một đám nhện đen lổm ngổm bò như một đám tín đồ hắc ám. Những quả chuối mà con khỉ độc ngồi lên trên được ràng với nhau bởi cái lưới nylông đựng chúng mà người ta đã cứ thế ròng xuống tàu. Khi con khỉ bước sang xuồng, đám chuối dập dềnh rồi lộn ngửa. Cái lưới tuột ra. Không suy nghĩ gì, chỉ vì thấy nó ngay gần và sắp chìm mất, tôi với tay túm lấy cái lưới và kéo lên xuồng, một việc ngẫu nhiên sau này đã cứu sống tôi nhiều lần. Cái lưới sẽ trở thành một trong những sở hữu quý giá nhất của tôi.
Những quả chuối tản ra. Bầy nhện bò như điên, nhưng tình thế của chúng là tuyệt vọng. Hòn đảo chuối tan rã dưới chân chúng. Chúng chết đuối hết cả. Trong giây lát, cái xuồng như trôi trên một biển chuối.
Tôi đã nhặt lên cái lưới mà tôi nghĩ là vô tích sự, nhưng lại không nghĩ đến việc nhặt những quả chuối kia. Thật vậy. Không một quả nào. Đó là một cuộc chia chác chuối theo nghĩa sai lầm nhất: biển cũng giải tán đám chuối ấy. Sự phí phạm khổng lồ ấy sau này khiến lòng tôi nặng trĩu. Tôi đã phải vật vã sầu muộn vì sự ngu ngốc của mình.
Nước Cam còn đang mù mịt như trong sương. Dáng điệu nó chậm chạp và dò dẫm. Mắt nó phản chiếu nỗi hoang mang tinh thần ghê gớm. Nó đang trong cơn choáng rất mạnh. Nó nằm thẳng đờ trên tấm bạt trong nhiều phút, im lìm, lặng lẽ, rồi rướn người lăn xuống lòng thuyền. Tôi nghe thấy con linh cẩu kêu thét lên một tiếng.
 

CHƯƠNG 43
Dấu vết cuối cùng mà tôi nhìn thấy của con tàu là một vệt dầu loang lấp lánh trên mặt nước.
Tôi tin không phải chỉ có mình tôi. Không thể tưởng tượng được rằng con tàu Tsimtsum bị đắm mà không gây nên một chút quan tâm nào. Ngay lúc bấy giờ tại Tokyo, tại Panama City, Madras, Honolulu, và sao nữa, ngay cả ở Winnipeg, đèn đỏ đang reo, những cặp mắt trợn trừng sợ hãi, những cái miệng hổn hển thốt lên: ''Lạy Chúa! Tàu Tsimtsum đắm rồi!'', và những bàn tay chộp vội lấy ống nghe điện thoại. Thêm nhiều nữa đèn đỏ nhấp nháy và thêm nhiều nữa chuông báo động réo lên. Phi công đang chạy đến máy bay, vội vã đến mức chưa kịp cả buộc dây giày. Sỹ quan trên các con tàu thủy thủ vặn tay lái đến chóng mặt. Cả những con tàu ngầm cũng lượn vòng dưới nước để tham gia cuộc cứu nạn. Chúng tôi sắp được cứu. Một con tàu sẽ xuất hiện trên đường chân trời. Một khẩu súng sẽ giết con linh cẩu và đưa con ngựa vằn thoát khỏi tình trạng khốn khổ của nó. Có thể con Nước Cam cũng sẽ được cứu thoát. Tôi sẽ trèo lên tàu và gặp lại gia đình tôi. Họ đã được người ta vớt lên từ một cái xuồng khác. Chỉ cần tôi làm sao sống sót được vài giờ nữa là tàu cứu nạn sẽ đến.
Tôi với xuống nhặt cái lưới, cuộn nó lại rồi ném nó xuống giữa tấm bạt để làm vật cản, cho dù thật cỏn con. Nước Cam hình như liệt hoàn toàn. Tôi đoán nó vẫn còn choáng. Chỉ có con linh cẩu làm tôi lo. Tôi có thể nghe tiếng nó rên rỉ. Tôi bám lấy hy vọng rằng một con ngựa vằn, vốn là mồi quen thuộc của nó, và một con khỉ độc, cũng có thể ăn được dù chưa quen, sẽ làm cho nó không nghĩ nhiều đến tôi.
Tôi để một mắt về phía chân trời, mắt kia về phía đuôi xuồng. Ngoài tiếng rền rĩ của con linh cẩu, tôi không nghe thấy gì nhiều từ phía mấy con thú, chỉ có vài tiếng móng cào lên một cái gì cứng và thảng hoặc có vài tiếng rên và tiếng kêu tắc nghẹn. Hình như không có đánh nhau gì giữa bọn chúng.
Giữa buổi sáng thì con linh cẩu lại xuất hiện. Mấy phút trước đó riếng rền rĩ của nó đã to hẳn lên thành một tiếng kêu thét thật sự. Nó nhảy qua con ngựa vằn lên đuôi xuồng, nơi hai mặt ghế ở hai bên sườn xuồng liền với nhau thành một hình tam giác. Đó là một vị trí khá lộ liễu, khoảng cách giữa mặt ghế và mép xuồng chỉ độ 30 phân. Con vật lo lắng nhìn ra ngoài xuồng. Nước biển mênh mông lên xuống có vẻ khiến nó khiếp đảm, vì nó lập tức thụt đầu nhảy tọt xuống lòng xuồng ngay sau con ngựa vằn. Chỗ ấy rất hẹp, ép giữa cái lưng rộng bè của con ngựa vằn và sườn các thùng phao chạy suốt quanh xuồng dưới gầm ghế, cho nên con linh cẩu không thể nằm được. Nó vật vã một lúc rồi lại trèo lên đuôi xuồng, nhẩy qua con ngựa vằn vào giữa xuồng, biến xuống dưới tấm bạt. Những việc đó diễn ra chưa đến mười giây đồng hồ. Con linh cẩu đã chỉ cách tôi chưa đầy 5 mét. Phản ứng duy nhất của tôi là cứng người lại vì sợ. Con ngựa vằn thì vội nghển đầu lên và sủa ầm ĩ.
Tôi hy vọng con linh cẩu sẽ ở lại dưới tấm bạt. Nhưng nào có được. Gần như ngay lập tức, nó lại nhảy qua con ngựa vằn lên cái ghế ở đuôi tàu. Nó đứng quay tròn trên mặt ghế, kêu ư ử, có vẻ chần chừ cái gì đó. Tôi đang đoán nó sẽ giở trò gì tiếp theo thì nhoáng một cái, nó chúi đầu chạy vòng quanh con ngựa vằn, biến cái ghế dài đuôi xuồng, ghế hai bên mạn và cái chạy ngang xuồng ngay sát tấm bạt thành một vòng đua dài khoảng 6 mét. Nó chạy một vòng - hai - ba - bốn - năm - và cứ thế chạy tiếp, không nghỉ, cho đến khi tôi không đếm được nữa. Và trong suốt thời gian ấy, vòng này qua vòng khác, nó kêu liên tục bằng một giọng the thé: yip yip yip yip yip. Một lần nữa, tôi phản ứng rất chậm chạp. Tôi sững người vì sợ và chỉ có thể ngó trân trân con thú. Nó chạy rất khỏe và đều. Nó chẳng bé nhỏ chút nào, nó đã là một con đực trưởng thành, trông phải nặng đến 70 cân. Chân nó dậm trên mặt ghế làm cả xuồng rung động, móng đập canh cách. Mỗi lần nó chạy khỏi phía đuôi xuồng là tôi lại căng thẳng. Nhìn con thú chạy về phía mình đủ làm tôi dựng tóc gáy, nghĩ đến cảnh nó cứ thế lao vào mình thì sợ vô cùng. Rõ ràng, Nước Cam, ở đâu thì ở, không thể cản đường nó được. Còn tấm bạt đã quấn lên một chút và cái cuộn lưới tôi đã ném lên đó thì còn là các vật phòng thủ thảm hại hơn. Nếu muốn là con thú có thể vọt lên mũi xuồng ngay sát chân tôi. Nhưng có vẻ nó không có ý định ấy. Lần nào chạy đến cái ghế ngang, nó cũng rẽ theo đó và tôi lại thấy cái lưng nó nhấp nhô rất nhanh dọc theo mép tấm bạt. Tuy nhiên, trong tình trạng này, hành động của con linh cẩu là không thể lường được và bất kì lúc nào nó cũng có thể bất ngờ tấn công tôi.
Sau nhiều vòng chạy, nó đột ngột dừng lại trên mặt ghế đuôi và phủ phục, đưa mắt nhìn chăm chăm xuống dưới gầm tấm bạt. Rồi nó ngước lên nhìn thẳng vào tôi. Vẻ nhìn gần như điển hình của loài linh cẩu - trống rỗng và thẳng thắn, rõ ràng là tò mò mà lại không để lộ một tâm trạng gì, hàm dưới trễ, đôi tai to dựng đứng, mắt sáng và đen tuyền - một vẻ căn thẳng ứa ra từ từng tế bào trên cơ thể, một nỗi khắc khoải khiến cho con thú bừng bừng lên như đang cơn sốt. Tôi chuẩn bị cho kết cục của mình. Nhưng chẳng có gì cả. Nó lại bắt đầu chạy vòng quanh.
Khi một con thú quyết định làm cái gì, nó có thể làm việc đó rất lâu. Suốt sáng, con linh cẩu chạy vòng tròn và kêu yip yip yip yip yip. Thỉnh thoáng nó dừng lại một tí trên cái ghế đuôi xuồng, còn thì vòng nào cũng hệt như nhau, không có thay đổi gì trong cách chạy, tốc độ, cao độ và âm lượng của những tiếng yip yip, hướng chạy ngược chiều kim đồng hồ. Tiếng yip yip của nó chói tai và khó chịu vô cùng. Nhìn nó chạy như thế mãi cũng phát chán và mệt mỏi, đến nỗi tôi phải quay đầu sang bên, chỉ hơi để mắt một chút đề phòng mà thôi. Ngay con ngựa vằn, lúc đầu cứ khịt lên ầm ĩ mỗi lần con linh cẩu chạy qua đầu, sau cũng nằm im lìm.
Thế mà cứ mỗi lần con linh cẩu dừng lại ở cái ghế đuôi xuồng, tôi lại thót tim. Cho dù đã cố chỉ để mắt về phía chân trời với hy vọng nhìn thấy một con tàu cứu nạn, tôi vẫn không thể ngừng để ý đến con vật điên khùng kia.
Tôi không có thành kiến với bất kỳ một con thú nào, nhưng rõ ràng con linh cẩu lông chấm này đã không được chăm sóc cẩn thận. Trông nó xấu đến mức không thể thương được. Cái cổ to và đôi vai so lại, chạy xuôi xuống thân sau của nó trông như mẫu một con hươu cao cổ mà tạo hóa đã phải bỏ đi, còn bộ lông thì tơi tả như chấp vá từ những phế thải của tạo vật. Mầu nó là một hỗn tạp vàng xỉn, đen, vàng chanh, xám, với những cái chấm không có chút gì như vẻ phô trương quý phái của bộ lông chấm xếp thành hình hoa hồng ở loài báo; chúng giống như triệu chứng của một căn bệnh ngoài da thì đúng hơn, như một chứng ghẻ lở ác tính của động vật. Cái đầu rộng bè và quá khổ, cái trán cao như trán gấu nhưng lại bị một đường chân tóc thụt lùi làm xấu mã, đôi tai giống tai chuột một cách nực cười, vừa to vừa tròn, mõm lúc nào cũng há thở phì phò. Lỗ mũi quá to. Đuôi thì xơ xác và chẳng ve vẩy lúc nào. Dáng điệu vụng về. Tất cả các bộ phận ấy lắp vào thành ra giống như chó, nhưng là một con chó không ai muốn nuôi làm bạn.
Song tôi vẫn không quên lời cha tôi. Đây không phải là những con thú hèn nhát chuyên ăn thịt chết. Nếu tạp chí National Geographic đã mô tả chúng như vậy thì đó là họ chỉ quay phim chúng vào ban ngày. Còn khi trăng lên thì ngày mới thực sự bắt đầu đối với linh cẩu, và chúng đã chứng tỏ là những con thú săn mồi đáng sợ. Linh cẩu tấn công theo bầy, bất kì con thú gì chúng có thể đuổi kịp, và xé xác con mồi ngay khi còn đang chạy. Chúng săn ngựa vằn, sơn dương, trâu nước, không phải chỉ những con già yếu, mà cả những con cường tráng trong bầy. Chúng tấn công dữ dội, luôn vùng dậy lập tức nếu bị con mồi đè hoặc đá ngã, không bao giờ bỏ cuộc vì thoái chí. Và chúng tinh khôn, thích săn những con thú vừa lọt lòng mẹ. Một con sơn dương mới được 10 phút tuổi là món ăn ưa thích nhất của chúng. Nhưng linh cẩu cũng ăn cả sư tử và tê giác non. Chúng chu đáo hết sức khi đã bắt được con mồi. Chỉ sau mười phút là cả một con ngựa vằn sẽ chỉ còn lại cái đầu lâu, cũng sẽ lại được lôi về hang để lũ con yên tâm gậm gạp. Không có gì bỏ phí; chúng ăn cả những đám cỏ đã dây máu của con mồi. Bụng linh cẩu phình ra rõ rệt khi chúng nuốt chửng những miếng mồi lớn. Nếu may mắn, chúng sẽ ăn nó đến độ lặc lè. Khi đã tiêu hóa, chúng ho ra những cục lông đặc sệt, liếm láp sạch những gì còn sót lại trên đó, rồi lăn người ra trên những cục lông ấy. Linh cẩu lỡ ăn thịt lẫn nhau khi mải mê cắn xé con mồi là chuyện thường. Khi chen vào ăn một con ngựa vằn chẳng hạn, một con linh cẩu có thể ngoạm đứt tai hoặc mũi một bạn bầy của nó, không hề có ý thù hằn gì. Linh cẩu không ghê tởm một lầm lỡ như vậy. Chúng có quá nhiều vui thú, không còn chỗ cho một cảm giác ghê tởm về bất cứ điều gì.
Trong thực tế, tính phóng khoáng trong thị hiếu ăn uống của linh cẩu là bất chi kì vị đến độ gần như bắt buộc người ta phải khâm phục. Một con linh cẩu sẽ uống ngay nước mà chính nó vừa đái vào. Nó còn dùng nước đái một cách rất đặc biệt: khi trời khô nóng, nó tự làm mát bằng cách đái xuống đất, lấy chân bới trộn thành một đám bùn rồi lăn mình nằm xuống đó. Linh cẩu ăn phân của các loài ăn cỏ với những tiếng chép miệng ngon lành. Vấn đề ở đây là linh cẩu sẽ tha không ăn cái gì? Chúng ăn thịt đồng loại (ăn nốt phần còn lại của những con mà chúng đã khai vị bằng các mẩu tai và mũi) khi con kia đã chết và để đó được một ngày. Chúng tấn công cả các loại xe cộ - đèn pha, ống xả, gương chiếu hậu. Bụng dạ tiêu hóa không phải là hạn chế của chúng, mà là vấn đề hàm răng chúng khỏe đến đâu mà thôi. Mà răng chúng thì thật đáng sợ.
Đó là con thú đang chạy vòng tròn ngay trước mặt tôi. Một con thú khiến tôi đau mắt và lạnh ruột.
Mọi thứ kết thúc theo kiểu linh cẩu điển hình. Nó dừng lại ở đuôi xuồng và bắt đầu phát ra những tiếng rên rỉ trầm đặc xen lẫn những cơn thở dốc nặng nề. Tôi dịch người mãi lên cho đến lúc chỉ còn đầu ngón chân là chạm vào xuồng. Con thú sặc sụa và ho khan. Rồi đột nhiên nôn thốc. Một bãi nôn rơi toẹt xuống đằng sau con ngựa vằn. Con linh cẩu ngã người xuống bãi nôn của mình. Nó ở đó, run bần bật, rên ư ử, xoay tròn tại chỗ, như khám phá cho hết các ngõ ngách của cơn đau khổ thú vật của mình. Nó không ra khỏi cái chỗ chật hẹp ấy nữa. Thỉnh thoảng, con ngựa vằn lại làm ầm lên một lúc vì con linh cẩu ở ngay sau nó, còn phần lớn thời gian ngựa vằn chỉ tuyệt vọng nằm im thin thít.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CHƯƠNG 44


Mặt trời leo lên đỉnh ngày rồi lại bắt đầu xuống. Suốt hôm đó tôi vắt vẻo trên cái chèo, chỉ động cựa đủ để giữ thăng bằng. Toàn bộ con người tôi chăm chú đợi một cái chấm sẽ xuất hiện ở chân trời và đến cứu tôi. Một trạng thái chán chường căng thẳng, ngạt thở. Những giờ phút đầu tiên ấy trong kí ức tôi gắn liền với một tiếng động, không phải như bạn đoán đâu, không phải tiếng yip yip của con linh cẩu hoặc tiếng sóng biển gầm thét, mà là tiếng ruồi bay vo ve. Có ruồi trên xuồng thật. Chúng chui ra và bay quanh quẩn theo kiểu ruồi, nghĩa là thành từng quĩ đạo rộng lười nhác, trừ những khi chúng gặp nhau và xoắn xuýt đến chóng mặt theo các đường xoáy trôn ốc với tiếng vù vù phát thành từng cơn. Có những con ruồi dám bay cả về phía tôi. Chúng bay thành vòng xung quanh tôi, nghe như tiếng máy bay một động cơ quay vè vè, rồi lại ù té bay ra chỗ khác. Không biết chúng vẫn ở sẵn trên xuồng hay đã bám theo một con thú nào tới, có thể nhất chỉ là con linh cẩu. Dù ở đâu ra, chúng cũng không tồn tại lâu; chỉ hai ngày sau là không thấy con ruồi nào nữa. Con linh cẩu ở đằng sau con ngựa vằn đã đớp và nuốt chửng một số. Những con khác có thể đã bị gió thổi xuống biển. Biết đâu chẳng có một số ít may mắn được chết vì đã hưởng trọn tuổi đời.
Càng gần đến tối tôi càng khắc khoải lo âu. Cái gì liên quan đến đoạn ngày tàn cũng làm tôi sợ hãi. Một con tàu sẽ khó lòng nhìn thấy tôi trong bóng tối. Đêm đến, con linh cẩu có thể hoạt bát trở lại và có khi cả con Nước Cam nữa.
Màn đêm buông xuống. Không trăng. Mây che hết sao. Mọi vật đều không phân biệt được rõ ràng nữa. tất cả đều biến mất, biển cả, chiếc xuồng, cả đến thân thể tôi. Biển lặng và hầu như không có gió, nên tôi cũng không thể neo mình vào âm thanh. Dường như tôi đang nổi trôi trong một vòm đen ngòm tinh khiết và trừu tượng. Tôi đăm đắm nhìn về nơi mà tôi nghĩ là chân trời, trong khi dỏng tai cảm giác dấu hiệu của các con thú. Tôi không thể tưởng tượng đã sống qua được đêm đó.
Có những lần trong đêm, con linh cẩu bắt đầu gầm gừ và con ngựa vằn vừa sủa vừa rên ư ử, rồi tôi nghe có tiếng gõ cành cạch liên hồi. Tôi lẩy bẩy - và chẳng dám giấu nữa - vãi đái dầm dề cả ra quần. Nhưng những tiếng động ấy là ở phía đằng kia của xuồng. tôi không thấy có tí lắc lư nào do chuyển động gây nên. Con thú kinh hoàng kia rõ ràng có vẻ không mon men về phía tôi. Gần hơn trong bóng tối, tôi bắt đầu nghe những tiếng thở hắt, rên rỉ, gầm gừ và tiếng chép miệng nhoen nhoét. Tôi không dám nghĩ đến chuyện con Nước Cam đang động cựa. Chỉ đành lờ nó đi. Cũng có cả những tiếng động phát ra từ bên dưới tôi, ở dưới nước. Những tiếng đập nước và rẽ nước thoắt đến thoắt đi. Cuộc đấu tranh sinh tồn diễn ra cả dưới đó nữa.
Từng phút giây chậm chạp, đêm đó rồi cũng qua.
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
CuLong xin phép được đính chính một số thông tin sau:
Nguồn: ttvnol
Người đánh máy:
- Pathetique (từ chương 1 đến giữa chương 5)
- Senorita_86 (từ chương 5 đến giữa chương 8 và từ chương 38 đến chương 44)
- Namphuong3010 (từ chương 8 đến chương 37)
Các bạn mới chỉ gõ đến vậy. CuLong đã soát lại chính tả và post hết những phần đã được đánh máy lên đây.
Truyện hình như còn dài nữa, phải nhờ Ct.Ly gõ tiếp thôi.
Thân!
HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI HAI CHỮ BÌNH YÊN
0
Chương 45

Tôi rét. Đó chỉ là một quan sát lạc đề, như thể nó chẳng can hệ gì tới tôi. Ngày rạng. Nó diễn ra nhanh chóng, nhưng vẫn theo từng mức độ không nhận ra được. Một góc trời chuyển màu. Không trung bắt đầu tràn ngập ánh sáng. Biển cả bình thản mở ra xung quanh tôi như một cuốn sách lớn lao. Nhưng vẫn cảm thấy như còn trong đêm. Thế rồi thình lình ngày tới.
Cảm giác ấm áp chỉ đến khi mặt trời trông như một trái cam có thắp đèn điện, nhô lên khỏi chân trời, nhưng tôi đã không phải chờ đến lúc ấy mới cảm thấy được. Nó đã sống dậy cùng vớ những tia sáng đầu tiên: hy vọng. Khi mọi vật dần hiện ra với đường viền và mầu sắc của chúng, niềm hy vọng đã dâng lên cho đến lúc thành một bài ca ấy mới kỳ diệu làm sao! Mọi thứ rồi sẽ đâu vào đấy. Cái tệ hại nhất đã qua rồi. Tôi đã sống được qua đêm. Hôm nay người ta sẽ cứu tôi. Nghĩ như thế, xâu từng chữ ấy vào nhau trong đầu, đã là một nguồn hy vọng. Hy vọng sinh hy vọng. Khi chân trời đã thành một đường thẳng gọn gàng sắc nét, tôi háo hức nhìn dọc theo nó. Ngày trong vắt và tầm nhìn hoàn hảo. Tôi tưởng tượng Ravi sẽ là người đầu tiên gọi chào tôi với một câu trêu ngươi. “Cái gì thế này?” Anh ấy sẽ nói. “Mày tìm được một cái xuồng vĩ đại và chất đầy thú vật lên đó ư? Mày tưởng mày là thánh Noah hay cái gì chứ?” Cha sẽ râu ria không cạo và trông rất chán đời. Mẹ sẽ ngước nhìn trời và kéo tôi vào lòng. Tôi điểm qua hàng trục cảnh khác nhau của những gì có thể sẽ diễn ra khi tôi đã ở trên tàu cứu nạn, các biến tấu của chủ đề đoàn tụ ngọt ngào. Sáng hôm đó, chân trời có thể cong theo một chiều, còn môi tôi thì cương quyết cong theo chiều của một nụ cười.
Nghe thì lạ đấy, nhưng đúng là mãi về sau tôi mới bắt đầu để mắt nhìn xem cái gì đang xảy ra trên xuồng. Con linh cẩu đã bắt đầu tấn công con ngựa vằn. Mồm nó đỏ chói và bắt đầu đang nhai một mẩu da ngựa. Mắt tôi tự động tìm kiếm vết thương, chỗ con ngựa bị tấn công. Tôi há hốc mồm vì khủng khiếp.
Cái chân gãy của con ngựa vằn không còn nữa. Con linh cẩu đã cắn nó rời ra và tha về cuối xuồng, ngay sau con ngựa. Một mảng da lủng lẳng dính trên cái mõm cụt vẫn còn chảy máu ròng ròng. Nạn nhân chịu nạn một cách kiên nhẫn, không có vật vã bộ tịch gì. Dấu hiệu đau đớn duy nhất của nó là hai hàm răng cứ chậm chạp đều đặn nghiến vào nhau liên tục. Một cảm giác choáng, quằn quại và căm giận tròa lên trong tôi. Tôi cảm thấy căm thù con linh cẩu đén cao độ. Tôi đã nghĩ cách giết nó bằng cách nào đó. Nhưng tôi chẳng làm gì được. Và nỗi căm giận của tôi cũng chẳng được là mấy. Tôi phải trung thực trong chuyện này. Tôi không đủ lòng thương xót con ngựa vằn được lâu. Khi chính cuộc sống của ta bị đe dọa, ý thức thương cảm bị cùn đi bởi một thèm khát sống đầy ích kỷ. Thật buồn là nó phải đau đớn đến thế - một sinh linh gặp tử nạn mà chưa được giải thoát – nhưng tôi đâu có làm được gì. Tôi thấy thương cảm, rồi lại lo việc mình. Tôi không thể tự hào về chuyện đó. Tôi phiền lòng vì mình đã ghẻ lạnh như vậy. Thực ra tôi nào có quên được con ngựa vằn khốn khổ ấy và những gì nó phải trải qua. Không có lần cầu kinh nào mà tôi không nghĩ đến nó.
Vẫn không thấy có dấu hiệu gì của con Nước Cam. Tôi lại đưa mắt về phía chân trời.
Chiều hôm đó gió có mạnh lên đôi chút và tôi để ý thấy một cái diều: cái xuống trôi nổi trên mặt nước rất nhẹ nhàng, rõ ràng vì chở nhẹ hơn tải trọng của nó. Còn nhiều chỗ trống trên xuồng, và khoảng cách giữa mặt nước và mép xuồng rất lớn, biển phải dữ dội lắm mới có thể đánh chìm được xuồng, nhưng cũng chính vì nhẹ tải như vậy mà xuồng cứ bị xoay ngang khi có gió, khiến cho mạn xuồng luôn luôn phải hứng các con sóng đập vào. Sóng nhỏ thì như thể có ai nắm tay liên tục đấm vào mạn xuồng, còn sóng lớn thì làm xuồng bập bềnh rất mệt khi nó bị lắc liên tục từ mạn này sang mạn kia. Chuyển động lắc liên tục ấy làm tôi say sóng.
Có lẽ tôi sẽ thấy đỡ hơn trong một tư thế khác. Tôi trườn xuống và dịch chỗ trở lại mũi xuồng. Tôi ngồi quay mặt đón sóng, toàn bộ phần còn lại của xuồng ở phía tay trái tôi. Tôi gần con linh cẩu hơn nhưng không thấy nó động cựa gì.
Đang khi hít thở thật sâu và tập trung vào việc ngăn chặn cơn say sóng thì tôi thấy Nước Cam. Tôi đã tưởng nó chọn một chỗ khuất dưới tấm bạt và gần mũi xuồng, càng xa con linh cẩu càng tốt. Nhưng không phải thế. Nó ở ngay bên một cái ghế bên sườn xuồng, sát cạnh con đường chạy vòng tròn của con linh cẩu và ngay sau chỗ tấm bạt được cuốn lên. Nó chỉ nhấc đầu lên độ hai phân gì đó thôi và ngay lập tức tôi nhìn thấy nó.
Không cưỡng nổi tò mò, tôi muốn nhìn nó rõ ràng hơn. Mặc dù xuồng lắc lư, tôi vẫn cố gượng quỳ được lên. Con linh cẩu nhìn tôi, nhưng không nhúc nhích. Nước Cam hiện ra. Nó nằm chúi và bám hặt lấy mép xuồng bằng cả hai tay, đầu gục hẳn xuống. Mõm nó há hốc, lưỡi thè lè. Rõ ràng nó đang thở dốc. Dù đang trong thảm trạng và đang mệt mỏi đến thế, tôi vẫn không nhịn được cười. Tất cả mọi thứ của con Nước Cam lúc bấy giờ chỉ đánh vần lên một chữ: say sóng. Trong đầu tôi vụt hiện lên hình ảnh một loài thú mới: loài đười ươi màu xanh lá cây hiếm hoi và thọa đi biển. Tôi trở lại tư thế ngồi của mình. Con thú đáng thương trông ốm yếu một cách rất người. Nhìn thấy đặc tính của người trong các con thú là một điều đặc biệt buồn cười, nhất là ở các loài khỉ vượn, là những tấm gương soi rõ rết nhất của chúng ta trong thế giới động vật. Chính vì thế mà chúng được ưa thích nhất trong các vườn thú. Tôi lại bật cười. Tô đưa tay lên ngực, ngạc nhiên về những cảm giác của mình. Lạ thật. Trận cưới ấy như một núi lửa hạnh phúc phụt lên trong tôi. Con nước cam không những làm tôi vui lên mà con lấy hết cả cơn say sóng của tôi về nó. Tôi thấy sảng khoái hẳn.
Tôi trở lại quan sát tỉ mỉ phía chân trời, hy vọng chứa chan.
Ngoài việc bị say sóng thảm hại, có một cái khác rất đáng chú ý ở con đười ươi Nước Cam: nó không bị thương tích gì. Và nó vẫn quay lưng ề phía con linh cẩu như thể cảm thấy có thể an toàn phớt lờ con này. Cái hệ sinh thái trên chiếc xuồng này quả là lung tung. Trong các điều kiện tự nhiên thì một con linh cẩu lông chấm và một con đười ươi không bao giờ có thể gặp nhau, vì linh cẩu thì không có ở Borneo mà đười ươi thì không có ở Châu Phi, nên không thể biết chúng sẽ ra sao khi chạm trán nhau. Nhưng với tôi thì dường như không thể có chuyện những con ăn quả ở cây và lũ ăn thịt ở đồng cỏ lại có thể chỉ biết ai ở chỗ người nấy và không thèm để ý gì đến nhau. Chắc chắn con linh cẩu sẽ ngửi thấy một con mồi ở con đười ươi, cho dù lạ miệng, một con mồi đáng nhớ vì các cục lông khổng lồ sẽ phải khạc ra sau đó, dù sao thì cũng ngon miệng hơn một cái ống xả của xe ô tô và đáng để mắt đến khi vào gần rừng cây. Đồng thời con linh cẩu chắc cũng cảm thấy có thể bị đười ươi ăn thịt và sẽ rất cảnh giác khi thấy một miếng sầu riêng bị ném từ trên cây xuống. Nhưng thiên nhiên lúc nào cũng đầy bất ngờ. Chưa chắc đã phải như vậy. Nếu dê có thể sống thân ái với tê giác, tại sao đười ươi và linh cẩu lại không thể? Đó sẽ là một tuyệt phẩm trong vườn thú. Sẽ phải có biển giới thiệu đàng hoàng. Tôi có thể thấy nó rõ ràng: “Công chúng thân mến, đừng lo gì cho những con dười ươi kia! Chúng ở trên cây vì chúng sống ở đó, không phải vì chúng sợ bầy linh cẩu lông chấm nọ. Hãy trở lại vào giờ ăn của chúng, hoặc lúc ác lặn khi chúng khát nước, các vị sẽ thấy chúng trèo từ trên cây xuống và đi lại dưới đất, tuyệt đối không bị linh cẩu quấy nhiều” Cha tôi sẽ ngạc nhiên phải biết.
Đâu đó vào buổi chiều, tôi thấy một đại biểu đầu tiên của loài vật sau này sẽ thành người bạn trung thành và thân thiết của tôi. Có tiếng va chạm và cọ sát vào vỏ xuồng. Rồi vài giây sau, gần ngay xuồng đến nỗi tôi có thể cúi xuống và bắt lấy được, thấy xuất hiện một chú rùa biển lớn, loại rùa mỏ diều, đang lười nhác quạt nước, đầu thò hẳn lên khỏi mặt nước. Nó có một vẻ gì đó có thể gọi là xấu tính nhưng lại thật hoành tráng. Một cái mai xù xì màu nâu vàng dài gần một thước với những đám tảo bám lỗ chỗ: bộ mặt mầu xanh lá cây sắn với cái mỏ quặp sắc nhọn, mắt đen xoáy chặt vào tôi. Vẻ nhìn của nó ngạo mạn và soi mói, giống một lão già khó tính đang có điều gì phiền muội trong lòng. Cái lạ nhất về con bò sát dưới nước chẳng hợp chút nào so với các con cá được thiết kế thon thả và trơn tru. Nhưng rõ ràng nó vẫn hoàn toàn hòa hợp với môi trường và chỉ có tôi mới cộc lệch chẳng ăn nhập được vào đâu. Nó quanh quẩn gần xuồng trong nhiều phút đồng hồ.
Tôi bảo con rùa, “ Hãy đi và nói với một con tàu rằng tao đang ở đây. Đi đi.” Nó quay đi và lặn mât tăm, cặp chân sau thay nhau đạp nước.
0
Chương 46

Nơi hy vọng có những con tàu xuất hiện thì chỉ thấy những đám mây tụ lại, và ngày càng trôi thì nụ cười càng héo dần trong lòng tôi. Đêm đó là khủng khiếp nhất đời, hay là đêm nay? Nghĩ vậy có nghĩa gì đâu. Tôi đã có quá nhiều đêm khủng khiếp đến nỗi chẳng buồn chọn ra đêm nào là vô địch nữa. Dù sao, trong kí ức tôi, cái đêm thứ hai trên biển cả ấy là một đêm đau khổ ngoại hạng. Khác với nỗi khắc khoải lo âu đến lạnh người của đêm thứ nhất, nỗi đau khổ của đêm đó có vẻ điển hình hơn, một dạng đổ vỡ tinh thần với khóc lóc, buồn nản và tâm khảm đớn đau. Mà nó cũng khác với những đêm đau khổ sau này ở chỗ lúc bấy giờ tôi vẫn còn đủ sức để hiểu hết được chính những cảm xúc của mình. Cái đêm ghê gớm ấy lại còn được mở màn bằng một buổi chiều tà cũng ghê gớm chẳng kém.
Tôi đã để ý thấy sự có mặt của cá mập xung quanh xuồng. Mặt trời sắp bắt đầu hạ màn cho ngày hôm đó. Một màn trình diễn rực rỡ các mầu da cam và đỏ, một bản giao hưởng đa sắc vĩ đại, một bức tranh siêu nhiên, thực sự là một buổi hoàng hôn Thái Bình Dương hoành tráng, mà đâu có tác dụng gì đối với tôi. Bầy cá mập thuộc loài Isurus Oxyrinchus, thường gọi là mập makô – những con cá ăn thịt nhanh như cắt, mũi nhọn, với những cái răng dài chết người thò hẳn ra ngoài miệng. Chúng dài khoảng tám hai thước, có một con còn to hơn thế nữa. Tôi nhìn chúng, lo ngay ngáy. Con to nhất lao nhanh về phía xuồng như thể muốn tấn công, vây lưng nhô lên khỏi mặt nước hàng mấy trục phân, nhưng nó lại nhào xuống dưới và lướt qua gầm xuồng với một vẻ duyên dáng đáng sợ. Nó quay lại, lần này không đến gần như lần trước, rồi biến mất. Các con khác trong bầy lẩn quẩn lâu hơn, đến rồi đi ở những độ sâu khác nhau, có con lộ hẳn ra đến nỗi có thể với tay được, những con khác thì sâu hơn. Có cả loài cá khác, to có nhỏ có, đủ các màu, đủ các hình dáng khác nhau. Tôi đã có thể quan sát chúng kỹ hơn nếu không bị đánh động vì một chuyện khác: con Nước Cam đã nghển đầu lên.
Nó quay người và đưa hai cánh tay đặt lên trên tấm bạt với một động tác hệt như tôi và bạn sẽ làm khi khoác tay lên lưng một chiếc ghế bên cạnh mình để được thoải mái hơn. Nhưng rõ ràng đó không phải là mục đích của nó. Với một vẻ mặt buồn thăm thẳm và đầy than khóc, nó bắt đầu nhìn quanh, chậm chạp quay đầu bên này bên kia. Lập tức, sự giống nhau giữa người và vượn không còn đáng buồn cười nữa. Nó đã đẻ con trong hai vườn thú, hai con đực nay đã lên năm và lên tám và chúng là niềm tự hào của cả nó và chúng tôi. Rõ ràng là nó đang nghĩ đến hai đứa con khi đưa mắt tìm kiếm trên mặt biển, vô hình chung đang làm đúng những gì tôi đã làm trong suốt ba mươi sáu giờ qua. Nó nhìn thấy tôi và chẳng biểu lộ gì. Tôi chỉ là một con thú đã mất tất cả và chỉ còn lời hẹn với tử thần. Tâm trạng tôi suy sụp hẳn.
Thế rồi, với chỉ một tiếng gừ trong cổ họng để báo hiệu, con linh cẩu bắt đầu làm loạn. Nó đã không ra khỏi chỗ nằm chật chội của nó suốt cả một ngày. Nó đã đặt hai chân trước lên hông con ngựa vằn, rướn lên và đưa mõm ngoạm lấy một nếp da rách nhăn nheo. Nó giật thật mạnh. Một mảng da toạc ra khỏi bụng con ngựa vằn như giấy gói quà bị người ta bóc ra kêu soàn soạt, chỉ có điều kêu nhẹ hơn, vì là da và khó rách hơn. Máu lập tức phụt ra như suối. Vừa hí, vừa khịt mũi kêu rền rĩ, con ngựa vằn tỉnh lại để tự vệ. Nó rướn người lên trên hai chân trước và vươn cổ định cắn con linh cẩu, nhưng không với tới được. Nó lắc cái chân sau còn lại, chỉ có tác dụng làm tôi hiểu ra cái tiếng gõ cành cạch đêm hôm trước chính là tiếng cái móng cái chân này gõ vào mạn xuồng. Những cố gắng tự vệ của con ngựa vằn chỉ tổ làm cho con linh cẩu gầm gào cắn xé điên cuồng hơn. Nó đã gây một vết thương toang hoác ở sườn con này. Khi nó không còn thỏa mãn với những miếng đớp với từ sau lưng, con linh cẩu trèo hẳn lên lưng con ngựa vằn. Nó bắt đầu lôi ra từng khúc ruột và các phủ tạng khác. Không có thứ tự gì hết. Nó cắn chỗ này, nuốt chỗ kia, có vẻ ngợp vì bữa tiệc ê hề trước mõm. Sau khi nuốt chửng hết nửa bộ gan, nó bắt đầu kéo co cái dạ dày trăng trắng căng phồng như một trái bóng bơm hơi. Nhưng nặng quá, vả lại hông con ngựa nhô cao hơn bụng nó, rồi máu me nhầy nhụa trơn chân, con linh cẩu trượt hẳn vào bên trong thân thể nạn nhân của nó. Nó ngụp hẳn đầu và vai vào đám ruột gan con ngựa vằn, hai trân trước ngập đến tận gối. Nó rút người ra, rồi lại chúi vào. Cuối cùng thì nó đứng yên trong tư thế nửa trong nửa ngoài như vậy. Con ngựa vằn bị ăn sống từ bên trong. Nó phản kháng một cách gắng gỏi đang lịm dần. Máu bắt đầu ộc ra từ đằng mũi. Một đôi lần nó vươn cổ ngẩng đầu về phía trời xanh, như thể kêu xin thượng giới – một hình ảnh diễn đạt hoàn hảo nỗi khủng khiếp của giây phút ấy.
Nước Cam không thờ ơ trước cảnh đó. Nó đứng thẳng hết người lên mặt ghế. Đôi chân nhỏ không tương xứng tí nào với thân hình đồ sộ, nó như một cái tủ lạnh có những cái bánh xe bị vẹo. Nhưng với đôi cánh tay khổng lồ giơ lên không trung, trông nó thật ấn tượng. Sải tay nó lớn hơn cả chiều dài thân thể. Một bàn tay thõng trên mặt nước ở mép xuồng bên này, bàn kia vươn sang tận mép xuồng bên kia. Nó nhe răng, môi vén lên, những chiếc răng nhọn khổng lồ, và bắt đầu gầm rú. Một tiếng rú sâu thẳm, mãnh liệt, đầy ắp, đáng kinh ngạc ở một con thú vốn im lìm như hiêu cao cổ. Cả con linh cẩu và tôi đều giật bắn vì tiếng rú đó. Con linh cẩu khựng người lùi một bước. Nhưng không được lâu. Nó trân trân xoáy vào con Nước Cam một lúc, lông trên cổ và vai dựng ngược hết lên, và cái đuôi cũng dựng thẳng đứng lên trời. Nó lại trèo vào trong con ngựa vằn đăng hấp hối. Và ở đó, mõm ròng ròng những máu, nó đáp lại con Nước Cam bẳng một tiếng rú chói tai. Hai con thú chỉ cách nhau chưa đầy một thước, mõm há hốc đối mặt nhau. Chúng dồn hết sức lực vào tiếng hú của mình, thân thể run lên bần bật. Tôi có thể nhìn thấy cả tận sâu trong cổ họng con linh cẩu. Bầu khí quyển Thái Bình Dương, mới một phút trước còn đem lại những âm thanh rì rào thì thầm của biển cả, một giai điệu tự nhiên mà tôi sẽ gọi là êm dịu nếu được nghe trong những hoàn cảnh hạnh phúc hơn, lập tức tràn ngập cái âm thanh ghê gớm kia, giống như tiếng gào rú căm hờn của một trận quyết chiến, với những tràng đạn xé màng nhĩ của súng và đại bác và những loạt bom nổ như sấm sét. Tiếng rú của con linh cẩu lấp đầy các thang bậc trên mà tai tôi có thể nghe thấy. Tiếng rú trầm hùng của con Nước Cam lấp kín các thang bậc dưới, và đâu đó ở khoảng giữa là tiếng kêu của con ngựa vằn tuyệt vọng. Tai tôi đầy ắp. Không thể thêm gì vào đó. Không có một tiếng động nào có thể chen vào và được ghi nhận nữa.
Tôi bắt đầu run bắn lên không thể kiềm chế được. Tôi tin chắc con linh cẩu sắp nhào con Nước Cam.
Tôi không thể tưởng tượng sự việc có thể tồi tệ hơn, nhưng nó đã như vậy. Con ngựa vằn vằn sặc và phun cả máu xuống biển. Vài giây sau đã thấy những tiếng va đập vào thành xuồng. Nước biển bắt đầu sủi sùng sục vì cá mập xung quanh xuồng. Chúng đang tìm xem máu đó ở đâu ra, nguồn thức ăn rất gần với chúng. Đuôi chúng đập lên mặt nước, đầu chúng vọt hẳn lên. Cái xuồng bị tấn công liên tiếp. Tôi không sợ bị lật xuồng – tôi nghĩ bầy cá mập sẽ chọc thủng vỏ xuồng kim loại và đánh chìm chúng tôi.
Hai con thú giật nảy người và có vẻ hốt hoảng mỗi khi xuồng bị đâm mạnh, nhưng chúng không chịu bỏ công việc chính của mình là gầm rú vào mặt nhau. Tôi tin chắc màn võ mồm này sẽ biến thành cắn xé nhau thực sự. Nhưng nó lại đột ngột chấm dứt sau vài phút. Nước Cam, với những tiếng chép miệng và hục hặc trong cổ, quay đi chỗ khác, còn con linh cổ thì cúi đầu lui gót về đằng sau tấm thân đã bị băm vằm của con ngựa vằn. Bọn cá mập, không tìm thấy gì, thôi không đâm vào xuồng nữa và cuối cùng bỏ đi. Im lặng lại bao phủ tất cả.
Một mùi hôi thối khăn khẳn, trộn lẫn mùi đất, rỉ sắt và cứt đái, lơ lửng trong không khí. Chỗ nào cũng có máu, đọng dần thành một lớp vỏ đỏ sậm. Một con ruồi duy nhất vo ve quanh quẩn, nghe như hồi chuông báo hiệu mất trí. Không một con tàu nào, không có gì hết, xuất hiện ở chân trời ngày hôm đó, và bây giờ thì ngày đã tàn chiều rồi đây. Khi vần dương lẻn xuống khỏi chân trời, không phải chỉ là ngày ấy và con ngựa vằn đáng thương ấy đã chết, mà cả gia đình tôi nữa. Với hoàng hôn lần thứ hai, lòng không muốn tin vào sự thật đã bị thay thế bằng đau đớn và thương xót. Họ chết cả rồi; tôi không thể dối lòng nhau hơn nữa. Công nhận một điều như vậy thật mới ghê gớm làm sao! Mất anh là mất một người ta có thể san sẻ những kinh qua của cuộc đời, người sẽ đem cho ta chị dâu và cháu trai và cháu gái, những sinh linh sẽ khiến cho cây phả hệ của ta đâm nhánh sum suê. Mất cha là mất người chỉ bảo giúp đỡ ta, người nâng đỡ ta như thân đỡ cảnh. Mất mẹ, trời ơi, cũng giống như mất mặt trời trên đầu ta. Nó giống như – nhưng thôi, xin lỗi, tôi chẳng nên nói nữa. Tôi nằm vật xuống tấm bạt và khóc lóc đắng cay suốt đêm, vùi mặt vào hai cánh tay. Con linh cẩu thì gần như suốt đêm đó vẫn mải mê nhai, nuốt.
0
CHƯƠNG 47


Ngày lại rạng, ẩm ướt và âm u, với gió ấm và một bầu trời phủ đầy những đám mây xám đặc trông như những tấm chăn vải bông bẩn thỉu nhàu nhĩ. Biển không thay đổi. Nó đều đặn xô chiếc xuồng dập dềnh lên xuống.
Con ngựa vằn vẫn còn sống. Tôi không thể tin được. Nó có một lỗ thủng rộng năm sáu mươi phân trên người, huếch hoác như một núi lửa và phun lên nhầy nhụa các bộ phận ruột gan đã bị ăn nham nhở hoặc lóng lánh hoặc mờ mờ dưới ánh sáng ban ngày, ấy thế mà trong những bộ phận cốt yếu nhất của cơ thể, sự sống vẫn tiếp tục phập phồng, cho dù yếu ớt. Toàn bộ cử động của nó chỉ có thể thấy ở cái chân sau run rẩy và cặp mắt thỉnh thoảng hấp háy mà thôi. Tôi khiếp đảm. Tôi không ngờ một sinh vật có thể bị nhiều thương tích đến thế mà vẫn tiếp tục sống.
Con linh cẩu căng thẳng. Sáng rồi mà nó vẫn không chịu yên để nghỉ ngơi như lẽ thường lấy ngày làm đêm của nó. Có lẽ vì nó ăn quá nhiều; bụng nó phình ra bóng nhẫy. Nước Cam cũng trong tâm trạng nguy hiểm. Nó đang nhấp nha nhấp nhổm và nhe răng liên hồi.
Tôi ở nguyên vị, co quắp gần mũi xuồng. Tôi yếu cả thân thể lẫn linh hồn. Tôi sợ mình sẽ ngã xuống nước nếu loay hoay giữ thăng bằng trên cái chèo.
Đến trưa thì con ngựa vằn chết. Mắt kéo màng như thủy tinh và đã hoàn toàn vô cảm đối với những đợt tấn công của con linh cẩu.
Đến chiều thì nổ ra bạo hành. Căng thẳng đã lên đến hết mức chịu đựng. Con linh cẩu yip yip. Nước Cam chép miệng và gầm gừ ầm ĩ. Rồi đùng một cái, tâm trạng khó chịu của chúng nổ cầu trì và vọt lên cao độ. Con linh cẩu nhẩy vọt qua xác con ngựa vằn và nhào vào Nước Cam.
Chắc tôi đã nói rõ về mối đe dọa khủng khiếp của linh cẩu. Tôi tin điều này đến nỗi chắc mẩm rằng con Nước Cam sẽ chết trước khi kịp làm một cái gì đó để tự vệ. Tôi đã đánh giá nó quá thấp. Tôi đã đánh giá thấp tinh thần quật cường của nó.
Nước Cam giã một cú đấm xuống đầu con thú kia. Một cái gì đó thật choáng, khiến tim tôi phải tan ra vì yêu, vì khâm phục và hãi hùng. Tôi đã nhắc chuyện nó là một con vật nuôi làm cảnh và đã bị những người chủ Indonesia ruồng bỏ chưa nhỉ? Chuyện nó giống như chuyện của tất cả các con vật cảnh miễn cưỡng. Đại loại thế này: Con vật được người ta mua về khi nó còn nhỏ và xinh xắn. Rồi nó lớn lên về cả thể xác và dịch vị. Nó tỏ ra không thể thuần hóa được ở trong nhà. Sức mạnh gia tăng của nó ngày càng khó điều khiển. Một hôm, cô hầu gái kéo màn che chỗ ở của nó để đi giặt, hoặc một cậu con trai đùa giỡn véo một miếng thức ăn trên tay nó – một cái gì đó rất vặt vãnh như thế, và con thú nhe răng làm cả nhà hoảng sợ. Ngay hôm sau nó thấy mình nẩy lên nẩy xuống trong khoang sau chiếc xe jeep của gia đình, có cả các anh chị người của nó cùng đi. Người ta vào một khu rừng. Ai trên xe cũng thấy đó là một nơi lạ lẫm và đáng sợ. Người ta vào một quãng rừng thưa và ngó nghiêng đây đó một lúc. Bất thình lình chiếc xe rú lên và bánh xe quay hất bụi mù mịt, và con vật thấy những người mà nó đã biết và yêu nhìn lại nó từ cửa sau khi chiếc xe tăng tốc độ chạy đi. Nó đã bị bỏ lại, con vật không hiểu. Cũng như các anh chị em của nó, con vật chẳng biết gì về rừng. Nó chờ quanh đợi quẩn chờ cho họ quay lại. Mặt trời lặn, nó nhanh chóng mất hết tinh thần và không thiết sống nữa. Mấy ngày sau nó chết vì đói và không nơi trú ẩn. Hoặc bị chó tấn công.
Nước Cam đã có thể trở thành một trong những con vật bị bỏ rơi như thế. Nhưng nó đã về được vườn thú Pondicherry. Nó luôn luôn hiền lành và dịu dàng. Tôi vẫn nhớ những kỷ niệm từ khi còn bé được nó ôm ấp trong hai cánh tay dài tưởng như vô tận, những ngón tay nó, từng ngón đã dài bằng cả bàn tay tôi, bới trên tóc tôi. Lúc ấy nó còn là một con cái đang tập các kỹ xảo làm mẹ của mình. Rồi khi nó trưởng thành với đầy đủ bản ngã hoang dại của nó, tôi vẫn thích quan sát nó từ xa. Tôi đã tưởng mình hiểu nó đến mức có thể đoán trước mọi hành vi của nó. Tôi nghĩ mình đã biết mọi thói quen và hạn chế của nó. Nhưng nhìn nó dữ dội và can đảm hoang dã như thế này, tôi biết mình đã nhầm. Tôi đã chỉ biết một phần bản tính của nó.
Nó giã một quả đấm xuống đầu con thú kia. Một cú đấm thực ra trò. Con linh cẩu bị đấm dập đầu xuống mặt ghế mà nó vừa nhảy đến, phát ra một tiếng động sắc lạnh và chói tai đến nỗi, khi thấy cả hai chân nó cũng sóng xoài sang hai bên, tôi đã tưởng nó đã phải vỡ sọ rồi, hoặc cái ghế đã gãy rồi, hoặc cả hai đều tan tành. Nhưng con linh cẩu lập tức vùng dậy lông nó dựng ngược hệt như tóc tôi lúc bấy giờ, nhưng điệu bộ tàn bạo của nó không còn sống động như trước. Nó rút lui. Tôi sướng run người. Hành động tự vệ mạnh mẽ của Nước Cam khiến tôi cảm thấy ấm áp trong lòng.
Điều đó chẳng được mấy chốc
Một con đười ươi cái không thể đánh được một con linh cẩu đực cùng tuổi trưởng thành như mình. Đó là một sự thật đã được kiểm nhiệm. Các nhà động vật học hãy biết rõ sự thực này. Giá như nước cam là một con đực, giá như nó to lớn như tôi mong ước cho nó thì lại là chuyện khác. Nhưng nó chỉ nặng chưa đầy năm mươi cân mặc dù được ăn thừa thãi trong điều kiện thoải mái của vườn thú. Đười ươi cái chỉ to bằng nửa đười ươi đực. Mà không phải chỉ đơn giản là vấn đề cân nặng và sức khỏe. Nước Cam không phải là không biết tự vệ. Cái quan trọng cuối cùng là thái độ và và kiến thức của nó trong việc này. Một con thú ăn quả thì biết gì về chuyện chết chóc? Nó biết học ở đâu kỹ năng cắn xé, cắn chỗ nào, mạnh đến đâu, trong bao lâu? Một con đười ươi có thể cao lớn hơn, có thể có đôi tay nhanh nhẹn rất khỏe và những cái răng nhọn dài, nhưng nếu nó không biết và sử dụng những vũ khí ấy ra sao thì cũng vô ích mà thôi. Con linh cẩu, chỉ có hai hàm răng, sẽ áp đảo được con đười ươi vì nó biết rõ nó muốn gì và làm cách nào để đạt được mục đích.
Con linh cẩu quay lại. Nó nhẩy lên ghế và ngoạm ngay lấy cổ con Nước Cam trước khi con này kịp xoay sở. Nước Cam đánh vào đầu con linh cẩu bằng tay kia, nhưng cú đánh chỉ khiến con thú gầm gừ một cách đểu cáng. Nó định cắn, nhưng con linh cẩu cắn được. Than ôi, những động tác tự vệ của Nước Cam không chính xác và thiếu phối hợp. Nỗi sợ hãi của nó không khiến nó nhanh nhẹn hơn, mà làm nó chậm chạp đi. Con linh cẩu nhả cổ tay nó và thành thạo ngoạm lên cổ.
Ngây dại vì đau đớn và khủng khiếp. Tôi nhìn con Nước Cam vừa đánh vừa túm lông con linh cẩu một cách vô vọng khi con này ngoạm chặt lấy cổ mình. Cho đến lúc chết, nó làm tôi liên tưởng đến chúng ta, mắt nó sợ hãi một cách rất người, và cả tiếng rền rĩ của nó cũng vậy. Nó định cố trèo lên tấm bạt. Con linh cẩu lắc nó dữ dội. Nó ngã khỏi mặt ghế xuống lòng xuồng, kéo theo con linh cẩu. Tôi nghe thấy chúng, nhưng không còn thấy gì nữa.
Đến lượt tôi rồi. Điều đó thật rõ ràng. Tôi cố gắng đứng lên. Nước mắt giàn giụa làm tôi chẳng nhìn thấy gì rõ ràng. Tôi không còn khóc vì gia đình hoặc cái chết đang chờ đợi mình nữa. Tôi đã quá đờ đẫn để xem xét những cái đó. Tôi khóc vì đã quá mệt mỏi và đã đến lúc phải được yên nghỉ. Tôi đi lên tấm bạt. Mặc dù nó được buộc rất căng, tấm bạt vẫn hơi chùng xuống ở quãng giữa, và phải mất ba bốn bước loạng choạng gắng sức tôi mới đến được đó. Và tôi phải đến, trèo qua chỗ cái lưới cùng đoạn bạt đã quấn lên. Và phải làm được việc này trên cái xuồng lắc lư bệp bềnh liên tục. Trong hoàn cảnh của tôi lúc ấy, mấy bước đó là cả một quãng đường leo trèo hiểm trở. Khi tôi đặt được chân kia lên ghế và tận hưởng cảm giác cũng chãi ấy. Tôi thấy chóng mặt, nhưng vì giây phút trọng đại ấy đã đến, cái chóng mặt ấy chỉ làm tăng thêm cảm giác thăng hoa hãi hùng trong lòng tôi. Tôi đưa hai tay lên ngang ngực, vũ khí duy nhất của tôi để chống lại con linh cẩu. Nó ngước nhìn tôi. Mõm nó đỏ loét. Nước Cam nằm cạnh nó, sát với xác con ngựa vằn, hai tay dang rộng, hai chân ngắn ngủn gập lại với nhau và hơi quay về một bên. Trông nó như một đấng Christ của loài nhân hầu trên thập giá. Chỉ trừ cái đầu. Nó đã mất đầu. Cái cổ đẫm máu. Cảnh tượng thật khủng khiếp trong mắt ta và giết chết linh hồn ta. Ngay trước lúc lao mình vào con linh cẩu, để thu hút sức lực cho trận quyết tử, tôi đưa mắt nhìn xuống.
Tôi nhìn thấy ngay giữa hai chân tôi, dưới gầm ghế, cái đầu của Richard Parker. Cái đầu khổng lồ. To như sao Thổ trong cảm giác ngây dại của tôi lúc ấy. Hai bàn chân đầy móng vuốt của nó thì to như các tập bách khoa toàn thư Britanica.
Tôi tìm đường về chỗ mũi xuồng và gục xuống đó.
Suốt đêm tôi như trong trạng thái mất trí. Lúc nào tôi cũng tưởng là mình vừa ngủ và tỉnh dậy chỉ vì nằm mơ thấy một con hổ.
0
CHƯƠNG 48


Richard Parker được đặt tên như vậy là do một nhầm lẫn về thủ tục giấy tờ. Một con báo đen lúc ấy đang hoành hành trong huyện Khulna ở Bànladesh, ngay bên ngoài địa phận Sundarbans. Nó vừa bắt đi một bé con. Người ta chỉ tìm thấy một bàn tay nhỏ xíu của bé con vẫn còn dấu son trong lòng với vài cái hạt cườm bằng nhựa. Bé con là người thứ bảy bị ăn thịt trong vòng hai tháng. Và con thú ngày một liều lĩnh hơn. Nạn nhân trước đó là một người đàn ông đã bị nó tấn công ngay giữa ban ngày ngoài cánh đồng. Con thú tha ông ta vào rừng ăn gần hết cái đầu, gần hết thịt bên chân phải, và toàn bộ ruột gan. Xác ông ta treo trên một chạc cây. Dân làng đã rình suốt đêm ở gần đó, hy vọng làm cho con báo bị bất ngờ và giết nó, nhưng nó không xuất hiện. Bộ Lâm nghiệp thuê một tay súng săn chuyên nghiệp. Anh ta dựng một cái sàn nhỏ để nấp rình trên một cái cây gần song, nơi đã xảy ra hai vụ tấn công của con báo, và buộc một con dê vào một cái cọc cắm ở bờ sông. Người thợ săn rình trong nhiều đêm. Anh ta cho rằng con báo chỉ là một con thú đực già nua với hàm răng đã mòn, không còn khẳ năng bắt con mồi nào khó hơn là người. Nhưng anh ta gặp phải một con hổ khỏe, nhanh nhẹn. Một con hổ cái với một đứa con duy nhất. Con dê kêu be be. Lạ một điều là con hổ con, chỉ chừng ba tháng tuổi, chẳng để ý gì đến con dê. Nó chạy ù ra mép nước và uống lấy uống để. Mẹ nó theo sau. Đói và khát thì bao giờ khát cũng cấp bách hơn. Chỉ sau khi đã khát, con hổ mới quay sang con dê. Tay thợ săn có hai khẩu súng trường: Một lắp đạn thật, một lắp phi tiêu có thuốc gây liệt. Con hổ không phải là thủ phạm các vụ ăn thịt người, nhưng nó ở gần nơi cư trú của người quá và có thể sẽ đe dọa tính mạng của dân làng, nhất là vì nó có con nhỏ. Tay săn nhặt khẩu súng phi tiêu của mình lên. Anh ta kéo cò khi con hổ sắp vồ con dê. Con hổ dựng người lên, gầm gừ bỏ chạy. Phi tiêu gây liệt không có tác dụng êm ái như một tách nước trà, chúng nốc ao nạn nhân như một kiểu dốc một hơi cạn chai rượu mạnh. Con hổ lồng lộn cuống cuồng bỏ chạy. Tay săn dùng bộ đàm gọi phụ tá. Họ tìm thấy con hổ cách bờ sông chừng hai trăm thước. Nó vẫn còn tỉnh và hai chân sau đã liệt và không thể đứng vững trên hai chân trước được nữa. Nó không thể chạy khi hai thợ săn đến gần. Nó quay lại và giương móng lên, nhưng chỉ tổ mất thăng bằng và ngã xuống tại chỗ. Thế là vườn thú Pondicherry có thêm hai con hổ mới. Con hổ con bị tóm ngay gần đó, đang meo meo sợ hãi. Người thợ săn có tên là Richard Parker, hai tay bế nó lên rồi nhớ lại cảnh nó chạy ù ra mép nước uống lấy uống để, liền đặt tên nó là khát. Nhưng viên thư ký ở nhà ga tàu hỏa Howrah lại là một tay vừa cẩn thận vừa lẫn lộn. Anh ta làm tất cả giấy tờ chuyên chở hai mẹ con con hổ, chỗ nào cũng ghi rõ tên con hổ con là Richard Parker, còn người thợ săn bắt được nó thì có tên là Khát, và họ là Không Ghi Rõ. Cha tôi đã chặc lưỡi vui vẻ khi thấy sự nhầm lẫn này và thế là con hổ mang tên Richard Parker suốt đời.
Tôi không biết sau này anh chàng Khát Không Ghi Rõ có săn được con báo đen ăn thịt người hay không.
0
CHƯƠNG 49

Đến sáng thì tôi không thể động cựa gì được nữa. Tôi kiệt sức nằm bẹp dí trên tấm bạt. Ngay cả nghĩ thôi cũng mệt bã người. Tôi cố không nghĩ mông lung. Dần dần chậm chạp như một đoàn lạc đà đi qua sa mạc, một vài ý nghĩ bắt đầu hiện ra có đầu có đuôi.
Ngày vẫn như hôm trước, ấm và âm u, mây thấp gió nhẹ. Đó là một ý nghĩ. Cái xuồng vẫn lắc lư nhè nhẹ, đó là ý nghĩa nữa.
Lần đầu tiên tôi nghĩ đến việc làm sao để sống được đây. Tôi đã không được một giọt nước uống, một miếng đồ ăn, một phút ngủ yên nào trong ba ngày liền. Vỡ nhẽ ra rằng hoá ra chỉ vì thế mà mình kiệt sức, tôi thấy khỏe lại một chút.
Richard Parker vẫn ở trên xuồng. Mà nó ở ngay bên dưới tôi. Khó có thể tin được rằng một điều hiển nhiên như vậy lại phải tôi bằng lòng tin thì mới là sự thật. Nhưng đúng là chỉ sau khi đã suy xét mãi, kiểm tra mãi các yếu tố tâm thần và quan điểm của chính mình, tôi mới dám kết luận rằng đó không phải là nằm mơ hoặc ảo giác hoặc trí nhớ lẫn lộn hoặc tưởng tượng linh tinh hay bất kỳ một sự ngộ nhận nào khác, mà là một sự thật sờ sờ đã được chứng kiến trong trạng thái tinh thần mệt mỏi và bị kích động cao độ.
Làm sao mà tôi đã không thấy được một con hổ Bengal nặng hơn 2 tạ trên một chiếc xuồng dài có độ sáu thước trong suốt hai ngày rưỡi liền? Đó là một bí ẩn mà tôi sẽ phải được khám phá sau này, khi đã khỏe khoắn hơn. Trong lịch sử hàng hải, Richard Parker chắc hẳn đã là món hàng lớn nhất từng được chuyên trở, tính theo tỉ lệ hàng/tầu. Từ đầu mũi nó đến mỏm cuối đuôi, con hổ dài hơn một phần ba của chiếc xuồng chở nó.
Đúng là tôi đã mất hết hy vọng ở thời điểm đó. Nhưng cũng chính vì vậy mà tôi tỉnh táo lại và cảm thấy khá hẳn lên. Ta thấy hiện tượngnày thường xuyên trong thể thao, đúng không nào? Tay quần vợt tranh chức vô địch bắt đầu chơi rất hay nhưng chẳng mấy chốc đã mất hết tự tin. Nhà quán quân giành hết thế chủ động. Nhưng ở ván cuối cùng, khi tay vợt tranh chức kia không còn gì để mất nữa, hắn bắt đầu thư giãn trở lại, bất cần, dám chơi hết mình. Thế là thình lình hắn chơi như quỉ sứ và nhà quán quân phải vất vả lắm mới giữ lại được những điểm cuối cùng. Tôi cũng trong tình trạng ấy. Đối phó với một con linh cẩu có vẻ còn khả dĩ mặc dù thật xa xôi, nhưng với Richard Parker thì hiển nhiên tôi không phải là đối thủ rồi, chẳng cần phải lo lắng làm gì. Với một con hổ ở cùng trên xuồng, đời tôi thế là đi đứt. Yên tâm thế rồi, thì tội gì không tìm cách làm sao cho khỏi khát khô cả cổ thế này?
Tôi tin chính điều đó đã cứu sống tôi vào buổi sáng ngày hôm ấy. Nghĩa là cái việc tôi thực sự đang chết khát. Lúc bấy giờ, một khi đã hiện lên cái ý nghĩ như vậy, tôi không thể nghĩ đến cái gì khác được nữa, cứ như thể bản thân cái ý nghĩa đó mặn chat và càng nghĩ đến nó thì càng khát nước hơn. Tôi có nghe thiếu không khí còn kinh khủng hơn khát. Nhưng chắc chỉ trong vài phút thôi, vì ta sẽ chết luôn và cái khó chịu vì thiếu ôxy cũng chẳng còn nữa. Nhưng khát là một cực hình dai dẳng. Cứ xem đấng Chirst thì biết, ngài chết trên cây thập giá vì ngạt, nhưng chỉ thấy ngài kêu khát mà thôi. Nếu đến bậc hóa thân của thượng đế mà còn khổ vì khát như thế thì người thường còn khổ đến đâu. Nó khổ đến mức làm tôi phát điên phát rồ. Tôi chưa bao giờ biết một địa ngục thân xác nào kinh khủng hơn cái vị ôi ai và cảm giác như bột dính trong miệng, cái áp lực không thể chịu nổi tận cổ họng, cái cảm giác rõ ràng là máu đã biến thành một thứ siro đặc quánh không thể chảy được nữa. Thực sự là nếu so sánh thì một con hổ chẳng là cái gì hết.
Và thế là tôi gạt hết các ý nghĩ vể Richard Parker sang một bên và bắt đầu tỉnh bơ lục lọi kiếm nước uống.
Cây gậy thương tìm nước trong trí óc tôi trĩu hẳn xuống và một cái giếng nước phụt lên khi tôi nhớ ra mình đang ở trên một cái xuồng cứu nạn chính cống và một cái xuồng như vậy chắc chắn có những đồ dùng cần thiết. Có vẻ đó là một giả định hoàn toàn có lý. Thuyền trưởng nào lại có thể quên một thủ tục cơ bản về an toàn như vậy? Nhà thầu thực phẩm nào chẳng nghĩ đến việc đòi thêm ít tiền, ngụy trang bằng một lý do cứu mạng cao qúi? Xong rồi. Có nước uống trên thuyền, chỉ việc tìm mà thôi.
Nghĩa là tôi phải dịch chuyển.
Tôi vào giữa xuồng, đến mép bạt. Bò lê kéo càng rất vất vả. Tôi cảm thấy như đang trèo lên sườn một ngọn núi lửa và sắp ngó xuống một khối nham thạch sôi sùng sục màu da cam. Tôi nằm dán người, rồi thận trọng nghển đầu lên. Tôi chỉ nghển vừa đủ. Không thấy Richard Parker. Nhưng con linh cẩu thì lù xù ngay sau xác con ngựa vằn. Nó đang nhìn tôi.
Tôi không còn sợ nữa. Nó cách tôi chưa đầy ba thước, nhưng tim tôi vẫn đều nhịp. Sự có mặt của Richard Parker ít nhất cũng có cái hữu ích như như vậy. Sợ một con chó vớ vẩn kia trong khi quanh quẩn ngay bên có một con hổ thì cũng là sợ gãy cành trong khi cây đang đổ. Tôi thấy rất ghét con chó. “Mày! Con vật xấu xa bẩn thỉu!” tôi lẩm bẩm. Tôi đã không vùng dậy lấy gậy đánh bật nó ra khỏi xuồng chỉ vì thiếu sức và gậy thôi, không phải là không dám.
Liệu con linh cẩu có cảm thấy vai trò ông chủ của tôi không? Liệu nó có bụng bảo dạ, “ Con đầu đàn siêu việt kia đang nhìn – ta không nên động đậy”? Tôii không biết. Gì thì gì, nó không động cựa gì hết. Mà thực sự thì bộ tịch nó thụt đầu xuống thế kia có vẻ muốn trốn tôi thật. Nhưng trốn sao được. Rồi đến bữa tráng miệng nó sẽ ăn đòn xứng đáng, chẳng lâu nữa đâu.
Richard Parker cũng giải thích hành vi lạ lung của con linh cẩu. Bây giờ thì đã rõ tại sao con chó kia tự giam mình trong cái xó chật hẹp đằng sau con ngựa vằn và tại sao mãi nó mới dám giết con ngựa. Nó sợ con thú to hơn, sợ động vào đồ ăn của con thú to hơn. Sự yên bình tạm thời và căng thẳng giữa Nước Cam và con linh cẩu, và về việc chúng không động đến tôi, cũng có cùng một nguyên nhân: trước mặt một con thú ăn thịt bề trên, tất cả chúng tôi đều là con mồi, và thế là không ai dám săn mồi theo kiểu bình thường của mình nữa. Có vẻ sự có mặt của con hổ đã cứu tôi khỏi hàm răng của con linh cẩu – nhưng cũng chỉ là một ví dụ điển hình về hiện tượng thoát khỏi chảo thì lại rơi thẳng vào bếp lửa mà thôi.
Nhưng con thú lớn đã không hành xử như một con thú lớn chút nào, đến nỗi con linh cẩu đã dám tự tiện. Tình trạng thụ động của con Richard Parker, kéo dài những ba ngày, cần phải được giải thích. Tôi thấy chỉ có thể có hai nguyên nhân: thuốc ngủ và say sóng. Cha thường dùng thuốc ngủ để an thần một số con thú. Có lẽ cha đã làm thế đối với Richard Parker ngay trước khi tàu đắm chăng? Có thể bị choáng váng vì đắm tàu – những tiếng động, cú ngã xuống biển, cuộc vật lộn khủng khiếp để bơi đến xuồng – đã tăng cường hiệu quả của thuốc ngủ? Rồi khi giã thuốc thì lại bị say sóng? Tôi chỉ có thể nghĩ được những nguyên nhân như vậy.
Tôi không còn quan tâm đến câu hỏi đó nữa. Chỉ nghĩ đến nước uống mà thôi.
Tôi kiểm tra cái xuồng.
0
CHƯƠNG 50

Nó sâu hơn một thước, rộng hơn hai thước rưỡi và dài tám thước, chính xác. Tôi biết vì các kích thước đó được in bằng chữ màu đen trên một cái ghế bên sườn. Còn in rõ là chiếc xuồng được thiết kế chở tối đa đến ba mươi hai người. Liệu chung xuồng với từng ấy người có vui thú không đây? Chúng tôi mới chỉ có ba mà đã chật đến thế. Cái xuồng có hình đối xứng, hai đầu đều tròn tròn khó phân biệt đầu đuôi. Nhận ra rằng đuôi vì có một cái bánh lái lắp cố định ở đó, chỉ như cái sống xuồng chạy nhô ra một tí. Còn đằng mũi thì, ngoài tôi ra, có một đoạn kéo dài thêm và kết thúc bằng một cái mũi có hình dáng buồn rầu, tẹt gí nhất trong lịch sử đóng tàu. Vỏ xuồng bằng nhôm đầy đinh tán và sơn màu trắng.
Đó là bên ngoài. Bên trong, nó không rộng như người ta tưởng vì có các hàng ghế hai bên các thùng phao. Ghế bên chạy dọc xuốt chiều dài xuồng, nối với nhau ở hai đầu thành các đoạn ghế mũi và đuôi có hình gần như tam giác. Các mặt ghế này chính là mặt chính của các thùng phao gắn kín. Ghế chạy hai bên rộng chừng bốn mươi lăm phân, còn ở hai đầu thì quãng chính mươi phân. Vì vậy, khoảng trống lộ thiên của xuồng chỉ dài hơn sáu thước và rộng khoảng thước rưỡi. Nó tạo lên một lãnh thổ chừng mưới thước vuông cho Richard Parker. Bắc ngang qua cái không gian đó là ba chiếc ghế dài nữa, kể cả cái đã bị con ngựa vằn đè gãy. Cái ghế ngang này rộng sáu mươi phân và cách đều nhau. Mặt ghế cách sàn xuồng sáu mươi phân. Nếu Richard Parker nằm dưới gầm ghế, nó chỉ có khoảng sáu mươi phân đó để xoay sở. Bên dưới tấm bạt thì nó có thêm khoảng ba mươi phân nữa, là khoảng cách giữa mui xuồng phủ bạt và mặt ghế, và như vậy có cả thẩy độ một thước không gian, may ra vừa vặn cho nó có thể đứng lên. Sàn xuồng phẳng phiu, lát các thanh gỗ hẹp có thể xử lý chống nước, và mặt bên các thùng phao thì vuông góc với sàn. Vì vậy, cái xuồng tròn tròn ở cả hai bên sườn và hai đầu, nhưng bên trong thì lại là một khối vuông hình chữ nhật, trông cũng là lạ.
Có vẻ như màu da cam – một màu hindu tốt lành – là màu của cuộc sống vì toàn bộ bên trong xuồng, tấm bạt và các áo phao, cái phao, mái chèo và hầu hết các thứ trên xuồng đều màu da cam cả. Cả cái còi bằng nhựa không có bi cũng thế.
Hai bên mũi xuồng có kẻ chữ Tsimtsum và Panama, chữ hoa kiểu La Mã đen nhánh và trần trụi.
Tấm bạt là loại vải bố cục rất chắc có phủ nhựa chống thấm, chạm phải một lúc là ráp ra. Nó được cuộn lại vừa qua khỏi cái ghế ngang giữa xuồng. Cho nên một cái ghế ngang thì vẫn được phủ dưới tấm bạt, trong chỗ ẩn nấp của Richard Parker; cái ghế ngang giữa thì lộ thiên nhưng ngay sát mép bạt; còn cái thứ ba thì gẫy gục dưới con ngựa vằn đã chết.
Có sáu cái lõng đón chèo, là những lỗ khoét hình chữ U trên mép xuồng, và năm mái chèo, vì tôi đã để rơi một cái khi cố đẩy Richard Parker ra khỏi xuồng. Ba cái chèo nằm trên một cái ghế bên, một cái nữa trên cái ghế đối diện, và một cái đang là cái mũi xuồng cứu nạn của tôi. Tôi không tin là có thể dùng chúng để chèo xuồng đi được. Cái xuồng này không phải là xuồng đua. Nó là một cấu trúc nặng và chắc nịch được thiết kế để nổi cho vững chứ không phải để vi hành. Giả dụ có ba mươi người cùng chèo thì may ra còn đi được chút đỉnh.
Tôi không thấy hết các chi tiết đó – và nhiều thứ nữa – ngay lập tức như vừa kể. Tôi đã thấy chúng dần dần, cần cái gì thì lại phát hiện thêm ra cái nấy. Cứ khi tôi rơi vào tình trạng thật khó khăn, không thấy tương lai đâu nữa, thì mộtc ái gì đó, nhỏ thôi, lại hiện ra trong óc tôi dưới một ánh sáng mới mẻ. Nó không còn là thứ nhỏ bé ấy nữa, mà là một thứ quan trọng nhất trên thế giới sẽ cứu sống tôi. Điều đó lặp lại nhiều lần. Quả thực người ta bảo cái khó ló cái khôn, quả thực là vậy.
0
Chương 51
 
Nhưng lần đầu tiên quan sát kĩ cái xuồng thì tôi chưa nhìn ra chi tiết mình cần cả. Mặt ghế chạy liên tục từ đuôi sang hai bên xuồng, cũng như cái vách đứng của các thùng phao. Mặt sàn nằm phẳng phiu sát đáy xuồng; không thể có khoang giấu đồ bên dưới, chắc hẳn không có một hộc tủ, một cái thùng hay bất kỳ thứ gì đựng đồ ở chỗ nào trên xuồng. Chỉ thấy các bề mặt nhẵn thin liền  liền nhau mầu da cam.
Tôi đâm ra nghi ngờ khả năng của các thuyền trưởng và đám nhà thầu. Hy vọng sống sót của tôi lụi dần. Chỉ có cơn khát là y nguyên.
Nhưng biết đâu đồ dự trữ họ để ở mũi xuồng, bên dưới tấm bạt thì sao? Tôi quay người bò trở lại, cảm thấy mình là một con thằn lằn đang chết khô. Tôi dúi mạnh tấm bạt. Nó rất căng. Nếu cuộn được nó lên, tôi sẽ với được đồ dự trữ có thể cất ở phía dưới. Nhưng có nghĩa là sẽ tạo ra một cái cửa xuống sào huyệt của Richchard Parker.
Thây kệ. Cơn khát thúc giục tôi. Tôi rút nhẹ cái chèo ra khỏi bên dưới tấm bạt. Tôi quàng cái phao vào người. Tôi đặt cái chèo nằm ngang trên mũi xuồng. Tôi tì lên mui xuồng và dùng ngón tay cái cố ấn cho cái dây chằng bạt tuột ra khỏi một cái móc. Thật khó khăn. Nhưng sau cái móc đầu, cái thứ hai đã dễ dàng hơn và cái thứ ba còn dễ nữa. Tôi làm như vậy ở phía bên kia mũi xuồng. Tấm bạt chùng xuống dưới khuỷu tay tôi. Tôi nằm bẹp ở trên, hai chân chĩa về phía đuôi xuồng.
Tôi cuốn tấm bạt lên một chút. Ngay lập tức được đền bù công sức đã bỏ ra. Cũng như đằng đuôi, mũi xuồng cũng có ghế. Và trên mặt ghế, chí cách mũi xuồng độ dăm bảy phân, là một cái chốt cửa sáng óng ánh như kim cương. Nhìn rõ đường viền của một cái nắp đậy. Tim tôi bắt đầu đập thình thịch. Tôi cuốn tấm bạt thêm một chút nữa. Tôi ghé xuống nhìn. Cái nắp hình chữ nhật có bốn cạnh lượn tròn, rộng chín mươi phân và sâu tám mươi phân. Đúng lúc đó tôi nhận ra một khối to màu da cam. Tôi thụt ngay đầu lên trên. Nhưng cái đám da cam ấy không động đậy, và trông nó không ra sao. Tôi lại thò đấu xuống. Không phải đó là con hổ mà là một cái áo phao cấp cứu. Có  một lô áo phao ở sau sào huyệt của Richard Parker.
Một cơn ớn lạnh chạy khắp người tôi. Giữa các áo phao đó, như thế giữa một đám lá cây, tôi nhìn thấy rõ ràng lần đầu tiên hình ảnh thấp thoáng của Richard Parker. Tôi thấy rõ hai cái vai nhô lên và một phần lưng của nó. Vằn vện nổi bật và kềnh càng trước mắt. Nó nằm sấp, quay mặt về phía đuôi xuồng. Nó nắm im, chỉ thấy hai bên sườn phập phồng theo nhịp thở. Tôi hấp háy mắt, không thể tin rằng nó gần tôi đến thế. Nó ngay kia, dưới tôi chỉ năm sáu mươi phân. Tôi có thể với tay cấu đít nó được. Giữa chúng tôi chỉ là một tấm bạt mỏng.
“Thượng đế hãy thương lấy con!” Không có lời  nguyện nào lại thống thiết mà nhỏ nhẹ như vậy trong hơi thở của tôi. Tôi nằm bất động tuyệt đối.
Tôi phải có nước uống. Tôi đưa tay xuống và lẳng lặng gỡ cái chốt. Tôi kéo cái nắp lên. Thì là một cái tủ hẳn hoi.
Tôi đã nhắc đến chuyện nhận ra những chi tiết cứu mạng. Đây là một: bản lề của cái nắp tủ chỉ cách mép ghế vài phân – có nghĩa là khi mở lên, nó sẽ thành một cái vách ngăn kín hết khoảng trống ba chục phân giữa mặt ghế và mui xuồng che bạt, chắn giữa tôi với đống áo phao rồi đến chỗ Richard Parkẻ. Tôi mở cái nắp lên cho đến khi nó dựa được vào cái chèo bắc ngang mui và mép bạt. Tôi chuyển mình lên trên sống mũi xuồng, quay mặt vào trong, một chân đặt lên mép cái tủ đã mở nắp, chân kia lên cái nắp đã mở. Nếu  Richard Parker định tấn công tôi từ phía dưới, nó sẽ phải đẩy cái nắp. Tôi sẽ biết ngay và đủ thời gian rút lên và nhào ngửa người xuống biển với cái phao. Nếu nó đi đường khác, trèo lên trên tấm bạt từ phía đuôi xuồng, tôi sẽ nhìn thấy nó ngay từ sớm và cũng kịp nhào xuống biển. Tôi nhìn quanh xuồng. Không thấy có cá mập.
Tôi ngó xuống giữa hai chân. Tôi tưởng mình sẽ ngất đi vì sung sướng. Cái tủ lấp lánh toàn những thứ mới tinh, bóng nhoáng. Chao ôi, niềm khoái lạc của sản phẩm công nghiệp, những vật dụng do chính con người làm ra, những sáng tạo phẩm! Cái giây phút phát ngộ vật chất ấy đem lại một khoái cảm mãnh liệt – một trộn lộn chóng mặt của hy vọng, ngạc nhiên, ngỡ ngàng, ngây ngất, và lòng biết ơn, tất cả nghiền vào một món quà – hay hơn bất kì món quà nào khác mà cả đời tôi đã được nhận trong các dịp giáng sinh, sinh nhật, cưới xin, và các kì lễ lạt khác. Tôi thực sự hoa mắt chóng mặt vì hạnh phúc.
Mắt tôi  lập tức nhìn thấy cái đang tìm. Cho dù đóng chai, đóng hộp kim  loại hay hộp giấy, bao bì nước uống không có thể nhầm lẫn được. Trên cái xuồng cứu nạn ấy, món rượu vang của sự sống được cung phụng trong các hộp kim loại mầu vàng nhạt nằm vừa khít tay. Nhãn hiệu bằng chữ đen để rõ Nước uống. Tên công ty sản xuất: HP Foods Ltd. 500 mili lít một hộp. Có hàng dãy hộp như thế. Nhiều quá không thể liếc một cái mà đếm hết ngay được.
Tay run lẩy bẩy, tôi với xuống nhặt lên một hộp. Vừa sờ vào đã mát lạnh và nặng trĩu tay. Tôi lắc nó. Các bọt khí bên trong phát ra tiếng kêu ọc ọc ọc. Tôi sắp sửa được cứu thoát khỏi cơn khát hỏa ngục này. Mạch tôi rộn lên với ý nghĩ đó. Tôi chỉ việc mở cái hộp nước.
Tôi dừng lại. Mở nó thế nào đây?
Tôi có một cái hộp – chắc tôi phải mở được nó chứ? Tôi nhìn vào tủ. Có biết bao nhiêu là thứ. Tôi lục lọi. Tôi mất bình tĩnh. Kì vọng lắm tất thất vọng nhiều. Tôi phải uống ngay bây giờ, nếu không tôi sẽ chết. Tôi không thể tìm thấy cái dụng cụ mình muốn. Nhưng không thể mất thời giờ buồn bực. Cần phải hành động. Dùng móng tay được chăng? Tôi thử. Không thể được. Dùng răng chăng? Thử cũng vô ích thôi. Tôi nhìn lên mép xuồng. Những cái móc bao bạt. Ngắn, cùn, chắc chắn. Tôi quì lên mặt ghế và nghiêng người ra ngoài. Giữ cái hộp bằng cả hai tay, tôi thúc mạnh nó lên vào một cái móc. Một vết lõm kha khá. Tôi thúc cái nữa. Thêm một vết lõm nữa. Cứ thế tôi làm thủng cái hộp. Một hạt châu nước xuất hiện. Tôi liếm nó luôn. Tôi quay cái hộp và thúc đầu kia lên móc. Tôi thúc như quỉ. Tôi đục được một cái lỗ to hơn. Tôi ngồi lại xuống mũi xuồng. Tôi giơ cái hộp lên trên mặt. Tôi há miệng. Tôi nghiêng hộp.
Có thể tưởng tượng ra những cảm giác của tôi lúc đó, nhưng khó có thể mô tả chúng. Theo nhịp ừng ực của cổ họng tham lam, dòng nước tinh khiết, ngon lành, đẹp đẽ và trong vắt như pha lê chảy vào cơ thể tôi. Nước của sự sống, đúng thế. Tôi dốc cạn cái chén vàng ấy cho đến giọt cuối cùng, mút mát cái lỗ thủng cho thật hết cả những ẩm ướt còn lại. Tôi thốt lên “Aaaaaaaa!”, ném cái hộp xuống biển và lấy một hộp nữa. Tôi mở nó cũng như cái hộp kia và nốc cạn nó cũng nhanh chẳng kém. Rồi lại quẳng nó xuống biển và mở một hộp khác. Cũng lại nhanh chóng bị ném xuống biển. Rồi lại thêm một hộp nữa. Tôi uống hết bốn hộp, hai lít thuốc trường sinh tuyệt vời nhất, rồi mới chịu thôi. Người ta sẽ nghĩ uống vội vàng sau khi đã chịu khát kéo dài như thế có thể sẽ làm đảo  lộn cơ thể. Nhảm nhí cả! Tôi chưa bao giờ thấy dễ chịu như vậy. Cứ sờ lông mày tôi thì thấy! Trán tôi ướt đẫm những giọt mồ hôi tươi mới, sạch sẽ và mát lạnh. Mọi thứ trong tôi, đến tận các lỗ chân lông, đều biểu lộ vui mừng.
Cảm giác khỏe khoắn nhanh chóng đến với tôi. Mồm miệng tôi ẩm và mềm mại. Quên sạch cả cái cổ họng. Da cũng mềm đi, các khớp cử động dễ dàng. Tim tôi bắt đầu đập như một cái trống vui mừng và máu bắt đầu chảy qua huyết mạch như đoàn xe đám cưới inh ỏi bóp còi chạy qua các thành phố. Sức lực và phản xạ nhanh nhạy trở lại trong cơ bắp tôi. Đầu óc tôi sáng suốt hẳn ra. Quả thực, tôi vừa từ cõi chết trở về. Vinh hiển thay! Để tôi nói bạn nghe, say rượu là một điều xấu hổ, nhưng say nước là một niềm si cuồng đáng quí. Trong nhiều phút đồng hồ, tôi đắm mình tận hưởng đến cùng.
Rồi tôi cảm thấy một cái gì đó trống rỗng. Tôi sờ bụng. Một cái hõm sâu cứng nhắc. Có cái gì ăn thì tốt. Một đĩa chả chay mềm có rưới nước sốt dừa! Một đĩa cary rau đậu! Ôi chao! Tôi đưa cả hai tay lên miệng – hoặc giá được một đĩa bánh bột lọc mẹ vẫn làm! Nghĩ đến đó, hai hàm răng tôi bỗng đau lên và nước bọt ứa ra xối xả. Bàn tay phải tôi bắt đầu xoay xoay. Nó cứ thế bốc những miếng bánh tròn bèn bẹt làm bằng bột lọc trong trí tưởng tượng. Nó để các ngón tay tha hồ bấm sâu vào làn bột mềm nóng hổi… Nó nắn, vê một cái bánh thấm đẫm nước sốt… Nó đưa cái bánh ấy lên miệng… Tôi nhai… Ôi chao, thật đau đớn mà cũng thật tuyệt diệu.
Tôi sục vào cái tủ. Tôi tìm thấy nhiều hộp giấy đựng các suất đồ ăn cấp cứu tiêu chuẩn của hãng Seven Seas, làm tận Bergen, Na Uy. Mỗi suất đề là có thể bù cho chín bữa chưa được ăn gì, từng gói nửa ký, chắc nịch, đóng gói chân không trong giấy nhựa mầu bạc có in chi chit các hướng dẫn sử dụng bằng mười hai thứ tiếng. Bằng tiếng Anh, hướng dẫn nói suất ăn này có mười tám cái bánh quy làm bằng bột mì nướng, mỡ động vật và đường glucô, không được ăn quá sáu cái trong vòng hai mươi bốn giờ. Khổ nhất là nó cả mỡ động vật. Nhưng trong hoàn cảnh đặc biệt như thế, cái phần chay tịnh trong con người tôi chỉ có cách bịt mũi mà ăn đại đi thôi.
Trên gói có chỗ đề: Bóc ở chỗ này để mở, với một cái mũi tên đen chỉ vào mép nhựa. Tôi xé toạc chỗ đó ra. Chín cái gói vuông vắn bọc gói nên rơi ra. Nó tự động tách làm đôi. Hai cái bánh quy gần như vuông vắn, màu nhạt, mùi thơm. Tôi cắn một cái. Lạy Chúa tôi, ai mà biết được. Tôi không tưởng tượng nổi. Tôi vừa khám phá một bí mật: đồ ăn Na Uy là ngon nhất thế giới! Những cái bánh quy ấy ngon một cách kỳ lạ lùng. Chúng vừa đậm đà thơm ngon vừa tinh tế, không ngọt quá cũng không mặn quá. Chúng vỡ ra giữa hai hàm răng với một tiếng động giòn tan. Trộn với nước bọt, chúng thành một thứ bột bánh vẫn còn độ rất vừa vặn. Và khi tôi nuốt, bụng tôi chỉ còn biết reo lên một chữ: Hallelujuah! ( 1 )
Cả hộp hết veo trong vòng vài phút, giấy gói tơi tả bay theo gió. Tôi định mở một hộp nữa, nhưng lại thôi. Kiềm chế một chút bao giờ cũng tốt. Hơn nữa, với nửa ký thức ăn cấp cứu trong bụng, tôi thấy no thực sự.
Tôi quyết định phải biết rõ có những thứ gì trong cái hòm châu báu của mình. Đó là một cái tủ to, trong lòng rộng hơn phạm vi cái nắp nhiều, vào hẳn đến vỏ xuồng và lan ra đến quá vị trí của hai cái ghế bên một chút. Tôi thò cả hai chân xuống lòng tủ và ngồi trên mép nó, lưng dựa vào cái sống nhô ra của mũi xuồng. Tôi đếm các hộp Seven Seas. Tôi đã ăn mất một, vẫn còn ba mươi hộp nữa. Theo như hướng dẫn, mỗi hộp 500 gram là đủ dinh dưỡng cho một người sống được ba ngày. Có nghĩa là tôi có đủ thức ăn dự trữ để sống trong 31 nhân 3 là chín mươi ba ngày! Hướng dẫn cũng khuyên chỉ nên uống nửa lít nước một ngày. Tôi đếm các hộp nước. Có một trăm hai mươi tư hộp. Mỗi hộp nửa lít. Vậy là tôi có đủ nước uống trong một trăm hai mươi tư ngày. Chưa bao giờ những phép tính số học đơn giản lại đem đến cho tôi một niềm hỉ hả như vậy.
Còn những gì nữa nào? Tôi hăm hở khoắng tủ và mang ra hết thứ này đến thứ khác, cái gì cũng kì diệu cả. Tôi them bạn đồng hành và cảm giác được an ủi đến xót xa và mỗi khi chăm chú nâng một món đồ ấy trên tay, chúng không còn là hàng hóa được sản xuất hàng loạt nữa mà trở thành một cái gì đó thật đặc biệt và chỉ cho riêng tôi. Tôi lẩm bẩm luôn mồm: “Cám ơn! Cám ơn! Cám ơn!”

Ghi chú
( 1 ) Hallelujuah: Câu ngợi ca Chúa của người Cơ đốc giáo ( ND )

0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-19 00:11:08Ct.Ly>
Chương 52
Sau khi đã điều tra kỹ lưỡng, tôi làm một danh mục đầy đủ:
* 192 viên thuốc chống say
* 124 hộp nước uống bằng thiếc, mỗi hộp 500 mili – lít, vị tri là 62 lít tất cả.
* 32 túi nôn bằng nylon
* 31 hộp thức ăn cấp cứu, mỗi hộp 500 gram, tất cả 15 ký rưỡi
* 16 cái chăn len
* 12 cái cất nước dùng ánh nắng mặt trời
* Một chục cái áo phao cấp cứu màu da cam buộc ở áo
* 6 ống tiêm chứa morphine
* 6 quả pháo sáng cầm tay
* 5 mái chèo không chìm
* 4 quả pháo sáng thăng thiêng có dù
* 3 túi nilon trong suốt rất chắc, mỗi cái có dung tích khoảng 50 lít
* 3 cái mở hộp
* 3 cái cốc có thang vạch dung tích và miệng rót để đong nước uống
* 2 hộp diêm cháy được trong nước
* 2 thùng bằng nhựa cỡ trung bình màu da cam
* 2 cái gáo múc nước bằng nhựa không chìm màu da cam
* 2 thùng chứa đa năng bằng nhựa có nắp kín khí
* 2 miếng bọt biển hình chữ nhật mầu vàng
* 2 cuộn dây sợi tổng hợp không chìm,  mỗi cuộn 50 mét
* 2 cuộn dây tổng hợp không nổi được trong nước, không thấy đề  dài bao nhiêu nhưng có lẽ mỗi cuộn khoảng 30 mét
* 2 bộ đồ câu cá với đủ các loại lưỡi câu, dây và hạt chì
* 2 cái lao móc cá có lưỡi kiểu dây thép gai rất sắc
* 2 cái neo biển
* 2 cái hứng nước mưa
* 2 cái bút bi mực đen
* 1 cái lưới đựng đồ bằng nylon
* 1 cái phao cứu nạn đặc, đường kính trong 40 phân và đường kính ngoài 80 phân, có dây nối liền. * 1 con dao săn lớn có cán liền, lưỡi nhọn, một cạnh sắc và một cạnh răng cưa, có dây buộc vào một cái vòng sắc trong tủ
* 1bộ đồ khâu với kim khâu thẳng và cong cùng với chỉ trắng rất chắc
* 1 bộ đồ cấp cứu đựng trong hộp nhựa kín nước
* 1 cái gương dùng để ra tín hiệu
* 1 gói thuốc lá Trung Quốc có đầu lọc
* 1 thỏi sôcôla to
* 1 cuốn cẩm nang cho người gặp nạn đắm tàu
* 1 cái la bàn
* 1 cuốn vở ghi chép với các trang giấy có chín mươi tám dòng kẻ
* 1 thằng bé còn đủ một bộ quần áo mỏng trên người nhưng đã mất một chiếc giầy
* 1 con linh cẩu lông chấm
* 1 con hổ Bengal
* 1 cái xuồng cứu nạn
* 1 thượng đế
Tôi ăn một phần tư thỏi sôcôla to. Tôi xem xét kỹ một cái hứng nước mưa. Đó là một thứ dụng cụ trông giống một cái ô lật ngược, gồm một túi hứng nước rộng nối với một cái ống cao su.
   Tôi khoanh tay trên cái phao choàng khít quanh người, gục đầu xuống và ngủ say sưa
0