Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh

3 trả lời, 1.071 lượt xem — Trang 1 / 1
Cuốn tiểu thuyết này sau này được sửa lại thành "thân phận của tình yêu" nhưng tôi vẫn thích cái tên cũ hơn

Mong các bạn hợp sức hiệu đính dùm !
Xin cám ơn ! [:D]


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
MÙA KHÔ ĐẦU TIÊN SAU CHIẾN TRANH ĐẾN với miền hậu cứ Cánh Bắc của mặt trận B3 êm ả nhưng muộn màng. Tháng 9 và tháng 10, rồi tháng 11 nữa đã trôi qua, vậy mà trên dọc dòng Ya-crông-pôcô làn nước mùa mưa xanh ngát vẫn tràn ắp đôi bờ. Thời tiết bấp bênh. Ngày nắng. Đêm mưa. Mưa nhỏ thôi, nhưng mưa... Mưa... Núi non nhạt nhòa, những nẻo xa mờ mịt. Cây rừng ướt át. Cảnh rừng lặng lẽ. Tối ngày
đất rừng ngùn ngút bốc hơi. Biển hơi màu lục, ngụt mùi lá mục.
Và, cho tới tận những ngày đầu tháng Chạp tất thảy những ngả đường trong rừng vẫn còn đang lầy lội khốn khổ, hư nát, bị hòa bình bỏ hoang, hầu như không thể
qua lại được, dần dần tụt chìm xuống, mất dấu tích giữa cây rừng cỏ tốt um tùm.
Hành trình trong điều kiện thời tiết như thế, đường sá như thế cực nhọc, vất vả không tả được. Chỉ có non năm chục cây số từ thung lũng hồ Cá Sấu ở đông Sa
Thầy ngang qua huyện 67 về ngã ba Đồi thánh giá trên bờ tây Pô cô mà một chiếc Zil ba cầu vâm váp máy khỏe nhường ấy cật lực chạy cả ngày không nghỉ vẫn để lỡ độ đường. Phải mãi tối mới tới cửa truông Gọi Hồn. Xe đậu lại bên bờ một con suối rộng phủ đầy củi mục.
Người lái ngủ trong ca bin, còn Kiên lên thùng xe mắc võng nằm một mình. Nửa đêm mưa xuống. Một màn mờ mỏng, dịu như sương, êm lặng rơi hầu như không thành tiếng. Tấm bạt xe cũ nát lấm tấm dột. Nước mưa rỉ xuống thong thả rỏ giọt lên những bọc ni lông ba gói hài cốt tử sĩ xếp lát trên sàn xe. Không khí ẩm sánh lại, quánh ướt, từ từ lùa những ngón tay dài ngoằng lạnh toát vào bên trong bọc võng. Chảy rào rào buồn buồn, miên man như là dòng thời gian trôi thành tiếng, nghe nửa tỉnh nửa mơ. Cả trong lẫn ngoài giấc ngủ đều một đêm tối như bưng và mịt mùng hơi ẩm. Gió ướt rượi thở dài. Tự nhiên có cảm giác là tuồng như chiếc xe bỗng dưng rời chỗ, im lìm lăn bánh, chạy êm ru, không cần động cơ, không người cầm lái, một mình
mộng du trên con đường rừng cô quạnh. Và âm thầm lẫn trong tiếng suối là tiếng thở dài của rừng sâu nghe vời vợi xa xôi và tuyệt mù hư ảo như là âm vang vọng lại từ một thời nào đó, nhuö là tiếng của làn lá vàng rơi trên thảm cỏ từ lâu lắm rồi...
Vùng này là vùng Kiên thông thuộc. Chính là ở đây vào cuối mùa khô năm 69, mùa khô cực kỳ cùng khốn của toàn cõi B3, tiểu đoàn 27 độc lập, cái tiểu đoàn bất
hạnh mà anh là một trong mười người may mắn còn được sống đã bị bao vây rồi bị tiêu diệt mất hoàn toàn phiên hiệu. Một trận đánh ghê rợn, độc ác bạo tàn...
Mùa khô ấy, nắng to gió lớn, rừng bị ướt đẫm xăng đặc, cuồn cuộn lửa luyện ngục. Các đại đội đã tan tác đang cố co cụm, lại bị đánh tan tác. Tất cả bị na-pan tróc
khỏi công sự, hóa cuồng, không lính không quan gì nữa rùng rùng lao chạy trong lưới đạn dày đặc, chết dúi ngã dụi vào biển lửa. Trên đầu trực thăng rà rạp các ngọn
cây và gần như thúc họng đại liên vào gáy từng người một mà bắn. Máu tung xối, chảy tóe, ồng ộc, nhoe nhoét. Trên cái trảng hình thoi ở giữa truông, cái trảng
mà nghe nói đến ngày nay cỏ cây vẫn chưa lại hồn để mọc lên nổi, thân thể giập vỡ, tanh bành, phùn phụt phì hơi nóng.
" Thà chết không hàng. . . Anh em , thà chết . . . ? " - tiểu đoàn trưởng gào to, như điên, mặt tái dại, hốt hoảng hoa súng ngắn lên, và ngay trước mắt Kiên anh ta tự
đọp vào đầu, phọt óc ra khỏi tai, Kiên líu lưỡi, kêu Oá Oá trong họng. Bọn Mỹ xông tới, tiểu liên kẹp bên sườn.
Đạn dày đặc tủa tới như đàn ong lửa. Kiên nấc to, buông súng ôm lấy một bên hông và khuỵu ngã; thong thả lăn từng vòng, từng vòng xuống lòng suối cạn, máu nóng hổi rưới đẫm bờ dốc thoải.
Những ngày sau đó quạ bay rợp trời, và sau khi bọn Mỹ rút thì mưa mùa ập xuống, lụt rừng. Bãi chiến trường biến thành đầm lầy, mặt nước màu nâu thẫm nổi váng đỏ lòm. Trên mặt nước lềnh bềnh xác người sấp ngửa, xác muông thú cháy thui, trương sình trôi lẫn với cành lá và những thân cây to nhỏ bị mảnh pháo băm. Khi lũ tan, mọi vật trồi ra dưới nắng lầy nhầy bọc trong lớp bùn đặc ghê tanh như thịt thối, Kiên lết dọc suối mồm và vết thương không ngừng nhỏ máu, thứ máu của xác chết, lạnh và nhớt. Rắn rết bò qua người anh. Thần chết sờ soạng.
Từ đó chẳng còn ai nhắc đến tiểu đoàn 27 nữa, mặc dù vô khối hồn ma ra đời trong trận bại vong ấy hiện vẫn lang thang khắp các xó xỉnh bụi bờ ven rừng, dọc suối chưa chịu chầu trời. Còn cái truông núi vô danh mịt mù lam chướng này thì từ bấy có tên là Gọi Hồn, cái tên nghe dựng cả tóc gáy. Đôi khi, có lẽ là vào những kỳ lễ lạt nào đó của giới các âm hồn, các toán quân đã chết của tiểu đoàn lại tụ họp trên trảng như là để điểm danh. Tiếng suối chảy, tiếng gió núi hú lên chính là tiếng nói của những hồn hoang binh lính mà người cõi dương ta thường nghe thấy và có thể thấu hiểu.
Kiên nghe kể đi đêm ở vùng này có thể nghe thấy chim chóc khóc than như người. Mà đúng là có loài chim như thế thật dù rằng chưa ai nhìn thấy chúng vì chúng chẳng hề bay mà chỉ một mực kêu thôi. Và tìm - khắp Tây Nguyên cũng không thể thấy ở đâu như ở đây các loại măng lại nhuốm một màu đỏ dễ sợ đến vậy, đỏ
au như những tảng thịt ròng ròng máu. Còn đom đóm thì to kinh dị. Đã có người nom thấy những quầng sáng đom đóm lớn tày cái mũ cối, có khi hơn.
ở đây khi trời tối cây cối hòa giọng với gió rên những bản nhạc ma. Và không một ai có thể quen được vì chẳng góc rừng nào giống góc rừng nào, chẳng tối nào như tối nào. Có lẽ là núi là rừng chứ không phải con người đã làm nảy sinh ra ở vùng này những huyền thoại rùng rợn, những truyền thuyết man rợ, nguyên thủy nhất về cuộc chiến tranh vừa qua. Nói chung những kẻ yếu bóng vía rất khó sống ở đây. Sống ở đây có thể điên lên hoặc chết rũ vì khiếp sợ. Chính vì thế nên vào mùa mưa năm 74 khi trung đoàn về náu quân ở vùng này, đám trinh sát bọn Kiên đã phải lo lập bàn
thờ và bí mật tổ chức cầu khấn, cúng giỗ cho các hồn tiểu đoàn 27 còn tồn đọng trong truông. Lửa nhang ngày đêm lập lòe. Mà cũng còn phải kể tới hồn ma của các dân thường nữa. ở gần ngay chỗ chiếc Zil này đêm nay đang đỗ trước có dấu tích của con đường mòn dẫn vào làng Hủi. Hồi trung đoàn 3 về đây làng đã hoang tàn, tuyệt không một bóng người còn sống. Bệnh tật khủng khiếp và đói khổ triền miên đã tận diệt cuộc sống nơi đây. Tuy nhiên những linh hồn lở loét không manh áo che mình thì thấy bảo là vẫn đầy rẫy và vẫn không ngừng làm bốc lên mùi hôi thối trong tưởng tượng của mọi người. Trung đoàn đã cho người rưới xăng rồi phóng hỏa đốt sạch làng đó để diệt trùng tẩy uế, song lính ta vẫn rất hãi, không dám bén mảng tới
gần vì sợ ma và sợ nhiễm hủi. Một hôm, Thịnh "con'! ở tiểu đoàn một đã liều mò tới đấy và giữa tro tàn của ngôi làng cậu ta đã bắn chết một con vượn rất to, phải bốn người kéo ra mới khiêng nổi con thú về chỗ lán của đội trinh sát. Nhưng, lạy Chúa tôi, đến khi ngả nó ra, cạo sạch được bộ lông thì ôi giời đất ôi, con vật hiện nguyên hình một mụ đàn bà béo xệ, da sùi lở nửa xám nửa trắng hếu, cặp mắt trợn ngược. Cả lũ bọn Kiên thất kinh, rú lên, ù té quẳng tiệt nồi niêu dao thớt. ở trung đoàn chẳng ai người ta tin chuyện đó, nhưng chuyện đó là có thật. Bọn Kiên đã chôn cất, đắp điếm tử tế mồ mả cho !'người ấy", nhưng sự báo oán vẫn chẳng tránh được. Một thời gian sau, Thịnh "con" bị giết Và lần lượt, kế tiếp nhau hầu hết trung đội đã bỏ
mình. Còn sót lại có mình Kiên, như vậy đấy...
Thời ấy... thực ra thì mới chỉ năm ngoái đó thôi.
Mùa mưa, trước ngày hành quân xuống cánh Nam Tiến đánh Buôn Ma Thuột, trung đoàn 3 của Kiên hiện đã có gần cả hai tháng trời thả neo ở đây. So với hồi đó cảnh vật bây giờ chưa chắc có gì thay đổi, số cây trong rừng chưa thể kịp ít đi hay là nhiều hơn lên, và các lối mòn mà bọn anh từng hàng ngày qua lại vẫn chưa hoàn toàn bị cỏ dại của đáy rừng nuốt chửng. Hồi đó trinh sát chọn chỗ dựng lán ở ngay trên bờ con suối này nhưng dịch sâu vào trong rừng kia chừng mười phút nữa, nơi triền suối đụng phải chân núi, tẽ đôi, chảy dốc xuống theo hai lòng khe. Bây giờ chưa chừng tại cái ngã ba suối ấy cái '!am cỏ" của bọn anh vẫn còn, lúp xúp mái gianh bên bờ nước giữa những vạt lau ướt lướt thướt. Hồi đó từ các cửa xanh, trung đoàn thu quân về hậu cứ để chỉnh huấn. Liên miên chính trị. Chính trị sáng, chính trị chiều, tối lại cũng chính trị... Ta thắng địch thua, miền Bắc được mùa, thế giới chia làm ba phe
rõ rệt. . . Tuy nhiên cánh trinh sát con cưng bao giờ cũng được nể vì, ít bị ốp học nên cũng có khối thì giờ để chơi bời, tranh thủ xả hơi trước khi trở lại vùng chiến. Đi
săn, đặt bẫy, tổ chức dốc cá và tối tối thì chơi bài. Cả đời Kiên chưa khi nào máu mê cờ bạc như là hồi đó ở đây Bài bạc lu bù. Thường là cứ chập tối cơm xong bắt đầu ngả chiếu bạc. Trong bầu không khí ẩm rượt, nồng ngạt mùi mồ hôi và khét lẹt khói xông muỗi, các con bạc châu quanh cỗ bài, tơi bời đỏ đen.
Tiền đặt cửa thường là những tàu thuốc !'đồng bào" hôi mù, cay cú hơn thì thuốc lào, đá lửa hoặc sợi hồng ma một thứ tiền ma túy - hoặc là lương khô và ảnh nữa, ảnh con gái các loại, bất kể gái tây hay gái ta, xấu hay đẹp, người yêu hay người dưng, dùng tuốt, dốc hết ra mà sát phạt. Chẳng còn gì ăn thua nữa thì quệt muội đèn, chơi trò bôi râu. Người đánh kẻ chầu rìa, vui vẻ, om sòm nhiều hôm thâu đêm. Tuồng như là một thời kỳ sung sướng, bình yên, nhàn cư, vô tư lự lắm vậy.
Mà quả là cũng sung sướng thật, những ngày ấy trong gần suốt mùa mưa chẳng phải đánh đấm gì, cả
trung đội mười ba đứa, vẫn còn đủ mặt. Kể cả Thịnh
!'con!' cũng phải sống ở đây đến hơn một tháng rồi mới
bị giết. Can chưa đào ngũ. Rồi Vĩnh, Thịnh '!nhớn", và
Cừ, Oanh rồi Tạc "voi" nữa còn sống cả. Vậy mà bây
giờ ngoài một cỗ bài sờn nát, quăn queo, lem nhem dấu
tay của những người đã chết, Kiên chẳng còn có thêm
một kỷ vật nào nữa về trung đội mình.
- Chín - Mười - Zi này ?
- Qui - Ka - át này!
Thỉnh thoảng anh vẫn mơ thấy chúng, những con
bài ấy. Xướng lên và một mình đỏ đen với mình. "Con
cơ này, con rô này, và đây con chuồn...". Bản hành khúc
trung đoàn ca được lính tráng hát chệch lời đi - "đằng
nào rồi cũng phăng teo, mạnh tay mạnh tay ta quật,
vui chơi xả láng cóc cần...". CỖ bài được trang lần cuối,
Kiên nhớ, khi trung đội chỉ còn lại bốn mống: Từ,
Thanh, Vân và Kiên.
ấy là buổi tinh mơ mờ đất, nửa giờ trước khi pháo
cấp tập mở màn chiến dịch công phá Sài Gòn. Bên kia
cánh đồng hoang ngập đầy cỏ Mỹ là tuyến phòng thủ
Củ Chi. Bọn ngụy đang khởi động, cắc đoành nã cối và
quờ quạng khua đại liên. Dưới các ngách hào và hố cá
nhân bộ binh vẫn đang cố tận hưởng những hớp cuối -
cùng của giấc ngủ. Nhưng bốn tay trinh sát trung đoàn
sắp sửa dẫn đầu phân đội mũi nhọn xung phong thì lại
đang mải miết "tiến lên".
Chơi tà tà nhé, - Kiên đề nghị - nếu dở ván thì trời
để cho cả bốn thằng sống qua trận này, để còn chơi
tiếp
- Khôn lỏi thế, - Thành nhăn răng cười - Trời có phải
thằng ngốc đâu mà bịp. CỐ tình đánh dở ván lão sẽ cho
cả bốn thằng !'chui xuống dưới đó" mà vặt lông nhau.
Xuống cả làm gì bốn thằng, - Từ bảo - một mình
tao ôm cỗ bài xuống là được. Sẽ đánh xì, hoặc sẽ tổ chức
bói bài tây cho bọn quỉ sứ gác vạc dầu. Vui chán!
Sương mù như đột nhiên loãng tuệch ra. Pháo hiệu
vụt lên không. BỘ binh rầm rập thức giấc. Xe tăng tiến
ra tuyến xuất kích, tháp pháo lắc lư, xích nghiến nảy
đất rung chuyển làn gió mai.
Thôi, dẹp? - Kiên quăng bài xuống, và không nén
nổi anh thốt lên dằn dỗi - đã bảo cố chơi chầm chậm
cầu may, mà thằng quái nào cũng háu ăn thua? - Ơ mà
này? - Vân còm vỗ đùi la, vẻ hứng chí - Thế đếch nào
mà mãi tới giờ tớ mới thấy khoái cái trò xì át cạc tê này
chứ lị. Phải tập chơi cho ra trò mới được. Tao chết
chúng mày nhớ liệng xuống hố cho nhau một cỗ bài
nhé?
- Có mỗi một bộ mà nó đòi cả, gớm thật là lỏi quá
đấy? - Thanh kêu lên giọng chìm đi trong tiếng đề pa
của hàng chục họng tầm xa vừa đồng loạt gầm.
Sau đấy chừng nửa giờ Vân chết cháy cùng với chiếc
T54 đầu đàn. Thân xác ra tro nên chẳng cần huyệt mộ.
Còn Thanh thì chết ở Cầu Bông, và cũng bị thiêu trong
quan tài thép cùng với tổ lái. Chỉ có Từ là đã cùng
Kiên đánh đến cửa số 5 sân bay Tân Sơn Nhất rồi mới
hy sinh.
Đêm 29 rạng ngày 30, khi hai thằng gặp nhau lần
chót trên nóc nhà phở Tàu bay, Từ móc cỗ bài dưới đáy
bồng ra trao cho Kiên.
- Thế nào tớ cũng ngỏm trận này. Vậy cậu giữ lấy.
Còn sống trở về thì dùng nó mà đánh bạc với đời... Các
quân hai, quân ba, quân bốn này chứa hồn thiêng của
cả trung đội đấy, bọn tớ sẽ phù hộ cho cậu trăm trận
trăm thắng. . .
Kiên lặng đi nhớ lại.
Đêm nay hồn ai gọi hồn ai. Tiếng hú cất lên từ đâu
đó trong rừng thẳm, âm u truyền dọc theo những gờ
núi lạnh lẽo của truông Gọi Hồn. CÔ đơn. Lạc lõng.
Núi vẫn thế, rừng vẫn thế, suối sông cũng vẫn thế
thôi, bởi có là bao một năm trời. Chỉ có điều hồi đó
đang chiến tranh còn bây giờ trái lại, đã hòa bình rồi.
Cùng là một trang cuộc đời nhưng mà là hai thế giới,
hai thời đại...
Hồi đó, vào độ cuối tháng Tám, ven các cánh rừng
dọc theo triền suối này hoa hồng ma nở rộ trong mưa,
đâm bông trắng xóa, thở hương thơm ngát. Nhất là về
đêm hương hoa như thể được cô đậm, ngọt, ngào ngạt,
thẩm thấu vào giấc ngủ làm thành bao nhiêu là giấc
ngủ mơ kỳ lạ gây những ám ảnh khoái lạc mê mẩn.
Buổi sáng thức dậy hương hoa dẫu nhạt nhiều rồi song
ai nấy vẫn cảm thấy âm ỉ trong lòng một nỗi đắm đuối
bí ẩn, vừa thích vừa rợn. Nhưng cũng phải khá lâu sau
mới khám phá được rằng nguyên nhân của những ảo
giác đêm khuya ở vùng này là hương thơm của hồng
ma, cái thứ hao quỉ hao ma này Kiên đã gặp ở các cánh
rừng trên sườn tây Ngọc Linh và cả xa xăm trong miền
Tà Rệt bên Miên nữa, nhưng không ở đâu mọc nhiều
như ở đây. Bông hồng ma nom từa tựa tầm xuân nhưng
nhỏ hơn, nở dày hơn, cây hoa thường mọc tràn sát các
mép suối. Loài cá mõm trâu ở vùng này vì thường
xuyên rỉa rê hồng ma nên thịt rất ngon nhưng dễ gây
say thậm chí có thể làm chết người. Chúng gây độc còn
có thể hơn cả loài cá ráu chuyên ăn mã tiền, người ta
còn bảo hồng ma thường đặc biệt mọc dày ở những vạt
đất từng có nhiều người thiệt mạng, tử khí tụ lại nhiều.
Có nghĩa hồng ma là loại hoa ưa máu, tuy nhiên thật
khó tin vì nó thơm như thế cơ mà.
Về sau chính đám trinh sát bọn Kiên ngồi rỗi rồi bày
trò phơi sấy, thái nhỏ hoa, lá và rễ hồng ma trộn với sợi
thuốc rê. Thật là đã hết sức đã. Chỉ sau vài hơi rất
mạnh là đã lặng lẽ xiêu lịm đi như tà khói mong manh
trước gió. Nhờ khói hồng ma người ta có thể tự chế ra
các ảo giác tùy sở thích, có thể định hướng được mộng
mị và hòa trộn các giấc mơ vào nhau như thể pha cốc-
tai. Có thể nhờ khói hồng ma mà quên mọi nông nỗi đời
lính, quên đói khổ, chết chóc, quên béng ngày mai. Bản
thân Kiên cứ mỗi bận thưởng thức thứ bả độc này thì
lại thêm được một lần nhập thân tràn ngập vào thế giới
của những giấc mơ bí ẩn và tráng lệ mà lúc bình
thường tâm hồn chẳng thể với tới. Trong những cơn
mưa đổ đốn ấy, không gian tưởng tượng thật trong
lành, bầu trời cao vọi, mây nắng tuyệt vời gần như là
tầng trời của những giấc chiêm bao thời thơ ấu. Và dưới
vòm trời sán lạn ấy, Kiên lại được thấy Hà Nội của
anh, Hồ Tây, chiều hạ, hàng phượng vĩ ven hồ, tiếng ve
sầu ran lên khi hoàng hôn xuống anh cũng nghe thấy,
và cảm thấy gió hồ lộng thổi, cảm thấy sóng vỗ mạn
thuyền. Anh mơ thấy Phương đang cùng ở trên thuyền
thoi với anh, tóc vờn trước gió, trẻ trung xinh đẹp,
không một nét sầu thương.
Đồng đội của anh thì cũng mỗi người mỗi kiểu say
sưa mơ màng trong khói hồng ma. Mỗi người mỗi lối đi
lạc khỏi thực cảnh chung. Như là Cừ thì rượu sắn hay
hồng ma đều chỉ khuấy lên độc một cảnh tượng ủy mị,
khó tin của ngày trở về với những sum họp đoàn tụ dễ
chịu đến nỗi nghe Cừ tả lại ai cũng phải rớt nước mắt
với hắn. Còn Vĩnh thì chỉ rặt mơ thấy đàn bà, và hắn
thường xuyên khoái trá tả thực cho anh em nghe về
những cuộc làm tình tưởng tượng vô cùng tham lam,
phức tạp rất ngóc ngách, đầy kỳ thú và sống sượng với
chị em huyền thoại của hắn. Còn Tạo "voi" lại đặc biệt
hay mơ sự ăn uống. Không chỉ mơ dược ăn no, Tạo còn
vẽ ra trong đầu những mâm cỗ ăm ắp các món ăn béo
bở do tâm thần mộng mị của hắn bịa tạc nên.
Trạng thái mụ mẫm do khói hồng ma đã từ lán trinh
sát lây lan khắp trung đoàn. Đến nỗi khi có lệnh của
chính ủy nghiêm cấm sử dụng hồng ma thì khắp Gọi
Hồn loài hoa này đã bị lính ta săn lùng, đào xới, nhổ
hái tới tiệt giống.
Cùng với thời kỳ bài bạc và hút xách ấy là thời kỳ
mà trung đoàn đầy rẫy những lời đồn đại, những sấm
truyền và những điều được tiên tri. Có thể là bởi những
cơn mê lú hồng ma chăng mà lính ta đã nhìn thấy tận
mắt vô khối sự hão huyền. Người ta đã trông thấy
nhiều quái vật lông lá có cả cánh lẫn vú với cái đuôi kỳ
nhông kéo lết và họ ngửi thấy mùi tanh máu từ chúng,
nghe thấy chúng gào rú và ca hát trong các hang động
tối om ở chân đèo Thăng Thiên bên kia truông Gọi
Hồn. Nhiều người đã chính mắt nom thấy những toán
lính da đen không đầu chơi trò rước đèn ở ven rừng.
Song đặc biệt rùng rợn là những tiếng rú man đại
thường cất lên vào những buổi tinh mơ mờ mịt mưa
giăng làm tái sạm mặt mày những ai chẳng may mà
nghe phải. Người ta ngờ rằng ấy là tiếng hú gọi đàn
của bầy vượn người thái cổ cuối cùng trên hành tinh
mà sự tồn tại của các tổ tiên này ở Tây Nguyên đã từng
được đồn đại từ nhiều năm trước.
Và tất nhiên tất cả những sự tai nghe mắt thấy đó
đều được quy thành điềm trời cảnh báo một thời tai
họa, thảm khốc và đẫm máu, có thể đẫm máu hơn cả
hồi Mậu Thân, đang kề tới với mỗi nhân mạng trên
chiến trường này. Những tay sính chuyện hoang đường
và những tay am tường tử vi lén lút mách bảo số phận
cho bạn bè. Bấy giờ ở khắp trung đoàn, trong lán của
các tiểu đội đều có bàn thờ cúng tế vong linh đồng đội.
Trong khói hương bài cay nồng, lính tráng rập đầu
khấn khứa 'I . . . Sống khổ chết đau, tử sinh đành nhẽ
chung phận lính... xin hồn thiêng phù hộ anh em vượt
vòng binh lửa đánh trận rửa thù...".
Trong trời thì cứ mưa, ngày này qua ngày khác.
Cuộc chiến có vẻ như bị vùi lấp trong biển mênh mông
mù mịt mùa mưa, thế nhưng nếu cứ để tâm lắng nghe
mãi tiếng mưa rơi trên mái rừng và ngước nhìn mãi
bầu trời thâm xám, thấp và tối như vòm hang thì người
ta chỉ có thể nghĩ tới chỉ duy nhất nó mà thôi: chiến
tranh, chiến tranh.
Bốn bề mìn mịt chỉ một màu mưa trĩu lòng, một
màu núi màu rừng ảm đạm và đói khổ. Khắp Tây
Nguyên, từ miền non cao Cánh Bắc tới Cánh Trung,
Cánh Nam thảo nguyên bao la vô định nơi thì im lìm
chết lặng nơi thì rền vang tiếng súng. Cuộc đời của bộ ~
binh B3 thời hiệp định vẫn đằng đẵng chuỗi ngày cùng
cực Sau những tháng ròng liên miên rút lui là những
đợt đại phản công dữ dội, rồi lại phải khiêng nhau mở
đường máu chạy. Rồi lại phản công. . . Hết trận thắng
này đến trận thắng khác nhưng đường chiến tranh vẫn
hun hút mịt mù, tuyệt vọng vô phương.
Trong mưa đại bác vang rền nặng nề thúc dội ra
ngoài trăm dặm điềm báo trước một mùa khô hung gở
đang áp tới bên trời. Con Rốc. Măng Đen. Rồi Măng
Bút. Vào tháng Chín ấy quân ta húc mạnh ở vành đai
phòng thủ thị xã Công Tum. Chiến sự lớn lao làm
chuyển rung như muốn lay bật từng thước vuông miền
Cánh Bắc. Tại trung đoàn 3 lúc bấy giờ vẫn đang náu ở
Gọi Hồn này, ai nấy nơm nớp một lệnh hành quân ứng
chiến, cấp tập quăng mình vào cõi một sống một chết.
"Chân trời chết chóc mở ra mênh mang, vô tận những
nấm mồ bộ đội mọc lên nhấp nhô tựa sóng cồn...!' bên
bếp lửa đàn ghi ta bập bùng, quân lính thời 74 hát, lời
ea khốc liệt làm ớn lạnh những đêm trường, "ôi chiến
trận không bến không bờ... ngày mai hay hôm nay, hôm
nay hay ngày mai, nói đi số mệnh ơi, bao giờ tôi sẽ...".
Cuối buổi chiều hôm Can bỏ trốn, một buổi chiều mùa
thu mưa dầm chán ngấy, Kiên đang ở bên suối ngồi
câu Mưa chiều hôm ấy không to mà đều đều, âm âm,
buồn thảm. Dòng lũ căng nhức sôi réo lên, ầm ầm lao
chảy như chực cuốn văng đi cả đôi bờ. Nhưng ngay tại
chỗ Kiên ngồi buông câu nước ngoạm sâu vào vách đất
làm trơ rễ những cây roi suối và tạo thành vũng lặng.
Kiên thu mình trong tấm tơi lá, bó gối nhìn làn nước
cuồn cuộn, không muốn gì và không nghĩ ngợi gì cả.
Dạo này hồng ma tiệt nọc rồi, tâm hồn chẳng còn víu
vào đâu được nữa, cứ như từ từ trôi lạc đi và hàng ngày
Kiên có thể ngồi im lìm bên suối hàng giờ, ảm đạm
buông mình theo dòng ưu tư buồn ngủ.
Mùa thu não nề, lê thê, mùa mưa ê ẩm. Khẩu phần
lương thực đang sụt xuống nhanh như thể nước trong
cái bình bị đập vỡ đáy. Khổ sở vì đói, vì sốt rét triền
miên, thối hết cả máu, vì áo quần bục nát tả tơi và vì
những lở loét cùng người như phong hủi, cả trung đội
chẳng còn ai trông ra hồn thằng trinh sát nữa. Mặt
mày ai nấy như lên rêu. Uû dột. Yếm thế. Đời sống mục
ra. Đôi khi để gượng lên, Kiên ép mình vào một suy
nghĩ nào đó. Anh cố khơi dòng ký ức, cố nhớ, cố hồi
tưởng để c tâm trí mình lên. Nhưng uổng công. Toàn
bộ cuộc đời, từ đầu, từ thùa ấu thời đến giờ cơ hồ đã
tách khỏi anh, trôi dạt, xa lắc xa lơ trong miền vô cảm.
Có lẽ chưa bao giờ cái biệt hiệu Thần Sầu phải mang từ
hồi mới nhập ngũ lại chí lý với hình ảnh con người Kiên
như vào những ngày mưa sầu thảm sống ở Gọi Hồn
này. Lãnh đạm và Ơ hờ với mọi người, với mọi sự xung
quanh, anh như đang âm thầm vĩnh biệt chính mình. _
Anh đón đợi cái chết, nhưng ngay cả nó, cái chết cũng
tầm thường và vô vị. Kiên thản nhiên nhìn nhận nó với
đôi chút ưu sầu, và đôi khi với cả niềm mỉa mai, kỳ cục
như thế đấy.
Tuần trước, khi đụng độ với bọn thám báo ở bên kia
núi, Kiên đã thực sự vờn mặt tử thần. Trong khi tất cả
ta và địch đang nhanh chóng tản khai, nhào núp vào
sau các thân cây và bắn loạn xạ thì Kiên cứ lừng lững
tiến thẳng lên. Khẩu AK của tên địch núp sau gốc cây
trước mặt dồn dập nã. Kiên chẳng buồn khom người
xuống, thong thả đi tới, vẻ khinh thị đầy uể oải. Tên
ngụy hấp tấp bắn. Hắn cuống. Đạn nổ inh tai. Song cả
ba chục viên đạn quạt căng rát kỳ thay không một viên
gãi vào Kiên. Anh không bắn trả, chỉ còn cách con mồi
vài bước nữa, vẫn không bắn. Tuồng như anh muốn
ban cho tên ngụy cơ hội để sống còn: kịp thay băng,
ngắm kỹ mà bắn gục anh. Nhưng chính sự chán
chường táo tợn của Kiên đã làm xiêu lạc hồn phách
hắn. Run bần bật, hắn đánh rớt khẩu tiểu liên.
- ĐỒ cứt đái? Kiên chửi gằn và xiết cò. Điểm xạ AK
bắn gần đến nỗi tên ngụy bật khỏi gốc cây như bị
búng đi.
Má... á á... - Kẻ bị giết a á rú lên thất thanh - Kiên
rùng mình nhảy xổ tới. Đạn từ các gốc cây quạt châu
lại Mặc, Kiên nghiến răng, đứng phơi ra chúc họng
súng xuống, điên cuồng nã từng phát, từng phát đóng
đanh lên cái thân xác còn nóng hổi sức sống đang oằn
oại đau đớn trong cơn rùng giật giãy chết. Máu phọt tóe
lên ướt ống quần Kiên. Rồi, hai bàn chân in dấu đỏ lòm
lên cỏ, anh lại từ từ đi thẳng đến những tên thám báo
khác đang núp bắn, súng kẹp bên sườn một cách hờ
hững, ngực áo phanh rộng. Không sợ hãi, không-nổi
hung lên. Mệt mỏi âm thầm, vậy đấy...
Vậy mà trưa hôm nay người ta lại triệu Kiên lên ban
quân lực trung đoàn để thông báo anh được xếp vào
danh sách đi học dài hạn. Trường sĩ quan lục quân và
hiện chỉ chờ quyết định của sư đoàn nữa là sẽ lên
đường ra Bắc.
Đánh nhau còn xơi, chả biết đến bao giờ mới mãn
cuộc, trưởng ban quân lực rầu rĩ nói khàn khàn - Phải
giữ giống không thì tiệt. Sau vụ thu hoạch thất bát dù
có đói nhăn vẫn phải chọn những hạt thóc tốt nhất cho
mùa sau... Khi các cậu học xong trở về thì bọn tớ, lớp
cán bộ chỉ huy hiện nay chả chắc còn sót mống nào.
Trung đoàn và nói chung chiến tranh là do chính các
cậu xoay vần.
Kiên làm thinh. Vài năm trước có lẽ anh đã lấy làm
hãnh diện và vui mừng coi đây là một hạnh vận nhưng
bây giờ thì không, bây giờ thì xin đủ. Chẳng những
không muốn mà chắc chắn chẳng bao giờ đi học, chịu
trở thành hạt giống cho những vụ mùa chiến tranh liên
miên. Anh chỉ muốn được yên thân, chết một cách yên
thân, yên với số phận con sâu cái kiến của chiến tranh.
Anh chỉ có thể sống và chỉ có thể vui lòng chết trong
hàng ngũ những người lính thường mà một trong
những đặc trưng góp phần tạo lên sức mạnh vô địch
của họ ở mọi chiến trường là tính chất nghĩa quân nông
dân giản dị, dịu hiền có cách nhìn đời nhân hậu và rõ
ràng sẵn sàng chịu mọi tai họa của chiến tranh tuy
nhiên không bao giờ là những người chủ chiến...
Đằng sau có tiếng chân ai đó đang đi tới, nhưng
Kiên không ngoảnh lại. Người nọ bước đến bên anh,
lặng lẽ ngồi xuống. Lúc này ở rừng tre bên kia suối
bóng tối dường như đã ken dày. Hoàng hôn nhòa mịt.
Ngày mưa ngắn ngủi lụt chìm.
- Ngồi câu đấy à? - Người nọ lên tiếng - ừ! - Nhạt
nhẽo, Kiên nhìn sang. ấy là Can, A trưởng A2, một anh
chàng bé nhỏ, còm nhom, quê ở "cầu tõm". Can cầu tõm.
- Dùng mồi gì thế'
- Giun, với nước bọt - Kiên đáp uể oải, nhổ chắt qua
kẽ răng - thấy bảo đang sốt cơ mà, mò ra dầm mưa làm
gì vậy?
- Chưa được con nào à?
ờ, câu để mà câu ấy mà - Kiên lầm bầm. Quỉ thật,
anh nghĩ. Yù hẳn lại chực tâm sự chi đây. Anh chúa
ghét nghe ai bộc bạch sự tình riêng tư ngóc ngách. Nếu
cả trung đội vào những ngày toàn sự cực khổ này đều
đến tìm anh để bày tỏ nỗi nọ niềm kia thì chắc chắn
anh phải đâm đầu xuống thác thôi.
- Ngoài Bắc cũng đang mưa to lắm, - Can gợi chuyện
giọng ủ ê - Đài họ loan thế, bảo là to chưa từng thấy.
Quê tôi lại lụt mất.
Kiên ậm ừ. Mưa mau hơn. Không khí se lạnh. Sắp
tối hẳn tới nơi rồi.
Nghe nói anh sắp được ra Bắc học phải không? -
Can hỏi.
- ừ, - Kiên đáp, sa sầm - mà sao?
- Không. Hỏi thế thôi. Mừng cho anh.
- Mừng à? Kiên cười gằn, và rành rọt văng một câu
rõ tục.
- Không, đừng nghĩ là tôi ty Kiên. Thành thật đấy.
Anh không ưa tôi, nhưng chẳng lẽ không hiểu lòng dạ
tôi chút nào sao? Ai trong anh em mình được sống, ra
Bắc cũng là đáng mừng cả. Cứ ra đi rồi tính sau. Kệ.
Miễn là không ngỏm trong mùa khô tới. Trời cho thì cứ
nhận. Anh đã chịu đựng nhiều. Với lại anh là con nhà
trí thức, không đáng phải chết. Với lại, nói thực chẳng
ai muốn chết, đúng không?
- Ai mà muốn chết, thực thế. Nhưng chẳng tự ý
trách nó được, càng không thể trút nó lên vai người
khác. Tớ chả đi đâu mà cậu phải mừng hộ tớ.
- Còn tôi thì bấy lâu vẫn ngóng một cơ hội. Thú thực
là tôi vẫn mơ đợt học sĩ quan này. Chứ sao, tôi ít tuổi
hơn anh. Đã tốt nghiệp 10. Huân chương chiến công. ~
Tôi rất gắng tu dưỡng, chính anh cũng biết đấy. Tôi
hoàn thành nhiệm vụ, không cãi cấp trên, không rượu,
không hồng ma, không đánh bài, xúc gái, văng tục
cũng không. Hóa ra công cốc. Thành thật là không tỵ,
chỉ buồn. Thành thật là tôi rất muốn sống. Đã sống gì
đâu Nhưng tôi sẵn sàng mất tuốt chỉ để có một tuần ở
ngoài Bắc.
- Nếu thế để tớ bảo quân lực họ sang tên - Kiên mỉa
mai - Chứ đừng kêu cám rám nữa. Về lán mà nằm đi!
- Không, đừng nói vậy, Kiên? Tôi nói vậy là nói thực
tình chứ có ý gì đâu. Tôi sẽ tự cứu lấy mình. Chỉ thế
thôi. Tôi không sợ chết, nhưng cứ bắn mãi giết mãi thế
này thì chết hoại tình người. Dạo này đêm nào tôi cũng
mộng thấy mình chết và tôi bơi ra khỏi xác biến thành
con ma cà rồng đi hút máu người. Anh còn nhớ trận
Plây-cần năm 72 không. eo nhớ cảnh thây người la liệt
trong khu gia binh không? Máu tới bụng chân, lội lõm
bõm... Tôi vẫn tự nhủ là tránh giết người bằng dao và
lê, nhưng mà quen tay mất rồi. Thế mà hồi nhỏ tôi đã
suýt thi đỗ vào trường dòng đấy.
Kiên tò mò nhìn Can. Trong quân ngũ thỉnh thoảng
lại thấy tòi ra vài tay dị giáo kiểu này. Tâm hồn bấn
loạn, ngôn ngữ độc thoại rối mù, họ bị thực cảnh chiến
tranh đầy ải tàn nhẫn, làm cho suy sụp sâu sắc cả thể
xác lẫn tinh thần. Nhưng lạ lùng là bao nhiêu năm
chiến đấu bên nhau, Kiên chưa thấy Can dài dòng triết
lý, chỉ thấy ở Can một bản chất con nhà nông thích hợp
tuyệt đối với cảnh địa ngục chiến hào.
Đã mang thân làm thằng lính B3 mà lại hay kêu
rên và mau nước mắt thì khốn nạn càng thêm khốn nạn
Can ạ. Kiểu này, cậu phải ra khỏi làng trinh sát thôi.
- Tôi thường tự hỏi, - Can lại tiếp tục dòng tâm sự
não nề - Mình vào đây làm gì khi để mẹ già ở nhà cơ
cực không nơi nương tựa, ngày đêm than khóc nhớ
con... Hồi tôi vào lính, làng đang lụt, vất vả lắm tôi mới
dìu được mẹ tôi lên đê. Mẹ tôi cứ van tôi tìm cách mà
trốn đừng để người ta triệu tập. Nhưng lủi sao nổi cơ
chứ. Anh tôi đã đi rồi, đáng lẽ tôi được miễn coi như
con độc, mà ở xã họ không chịu. Bao thằng khốn nạn
ung dung hưởng lộc chiến tranh chỉ con cái nông dân là
phải dứt lòng ra đi bỏ lại đằng sau cảnh mẹ già màn
trời chiếu đất. . . cho nên, Kiên ạ , cho nên. . .
Bất đồ Can òa khóc, gục mặt xứng đầu gối, bả vai
và mảng lưng trần gầy guộc, ướt loáng bần bật run.
Kiên thu cần câu, đứng dậy, cau mày nhìn xuống
Can, nói:
Cậu ngửi truyền đơn của nó hơi nhiều đấy. VÔ phúc
mà có kẻ báo lên trên thì rồi đời. Tớ đang nghĩ, hay là
cậu đang rắp ranh "tút!'?
Không ngẩng lên, Can nói, giọng bị nuốt đi trong
tiếng mưa và tiếng suối:
- Thì thế chứ sao. Tôi đi... Tôi biết anh là người tốt,
sẽ hiểu, nên tôi tìm anh để qua anh xin có lời từ biệt
anh em...
- Mày điên rồi, Can! Một là mày không có quyền làm
thế, hai là tút làm sao nổi. Sẽ bị tóm. Rồi tòa án binh,
ăn đạn, càng vô phúc hơn. Nghe tao, bình tâm đi. Tao
sẽ kín miệng, sẽ không ai biết.
- Ba lô tôi ém sẵn trong rừng rồi.
- Tao không để mày đi dâu. Về lán ngay, cố chịu
đựng một thời gian nữa. Chẳng chóng thì chày cũng
phải hết chiến tranh chứ?
- Không. Tôi đi. Thắng hay thua, kết thúc mau hay
kết thúc chậm, với tôi chẳng nghĩa lý gì nữa. Để cho tôi
đi! - Can nấc lên - Đời tôi tàn rồi, nhưng dù thế nào tôi
cũng phải gặp lại mẹ, phải nhìn thấy làng tôi... Anh sẽ
không cản đâu, có phải không? Lẽ nào anh sẽ cản?
- Hãy nghe tao, Can! Đi thế này là tự sát và nhục
nhã lắm.
Sát, thì tôi đã sát quá nhiều rồi, có tự sát thì cũng
chẳng biết ghê tay đâu. Thành thật đấy. Còn nhục?
Can từ từ đứng dậy, đối diện, nhìn thẳng mắt Kiên -
Cả đời đi đánh nhau, thú nhật, tôi chả thấy cái trò này
là có gì vinh. Nhưng do hy vọng nên vẫn còn chịu đựng.
Về quê, càng khốn nạn, tôi biết. Người ta chẳng để cho
sống đâu. Nhưng mấy đêm vừa rồi tôi toàn mê thấy mẹ
tôi gọi tôi... Có nhẽ anh tôi đã chết mà mẹ tôi thì khổ
não lâm bệnh rồi chăng. Không thể nấn ná, vì suất học
sĩ quan là của anh... Tôi phải lần về quê. Chỉ mong
anh em trong trung đội thương tình, thông cảm. Sẽ
chẳng ai tóm nổi tôi lại nếu như chính anh em trinh sát
không truy đuổi. Nhất là anh, Kiên ạ, anh thả cho tôi
đi thì tôi sẽ đi được... Tôi đành mang tội lỗi với anh
em... Quê tôi thì anh biết rồi đấy... Hà Nam, Bình
Lục... mai sau mà có dịp...
Trong bóng tối, Can đưa bàn tay lạnh ngắt, móp nước
nắm cổ tay Kiên. Hồi lâu, Kiên gạt tay Can ra và quay
lưng bỏ đi không nói một lời. Can đứng ở lại bờ suối.
Về gần tới lán, Kiên như sực tỉnh, sững lại, vụt bỏ
cần câu giỏ cá anh lao người chạy trở lui.
- Can... an... an? - Kiên gọi, lắng nghe, rồi lại gọi gào
lên - Can ơi? ơi ơi ơi... Đợi với... ới... ới?
Suối lũ rền rĩ. Mưa tầm tã trong bóng đêm. Tối tăm,
ẩm ướt, hoang rợn, đất trời như bị bưng kín, bị đè
nghẹt. Kiên bật khóc. Anh không hiểu nổi lòng mình,
không tự chủ được, nước mắt cứ ứa ra mãi.
Bấy giờ, mặc dù nạn đào ngũ lan rộng khắp trung
đoàn, chẳng khác nào những cơn ói mửa làm ruỗng
nhiều trung đội, không thể chắn giữ, ngăn bắt nổi,
nhưng riêng trường hợp Can trên vẫn truy lùng ráo
riết. Người ta sợ rằng Can sẽ trốn sang vùng địch mang
theo những bí mật về hướng hành quân của toàn đoàn.
Sau nhiều ngày lội rừng sục sạo, vệ binh trung đoàn đã
tìm thấy kẻ đào tẩu. Chẳng ở đâu xa, họ tìm thấy Can
ở hẻm TÒ Vò, cách cụm lán của trung đội trinh sát
không đầy hai giờ băng rừng. Từ đấy về được Bình Lục
còn xa lắm, vời vợi cách trở...
Đến cuối tháng Chín, vài ngày trước khi trung đoàn
nhổ neo rời Gọi Hồn, lính tráng nhận được thư nhà, đợt
thư từ duy nhất của suốt cả mùa mưa. Riêng đội trinh
sát chỉ được độc một lá. Lại là gửi cho Can. Thư của bà
mẹ. "... cả xóm GÒ hôm nay chung vui cùng mẹ may
mắn bắt được thư con, mẹ liền biên ngay thư này mong
các bác quân bưu thương tình chuyển chóng tới con để
con hay rằng lẽ ra thì mẹ chết rồi mà nay còn sống là
nhờ nhận được thư con đấy con ơi - Bà mẹ viết - Con ơi,
từ ngày phải giấy của đơn vị anh con báo tử về rồi xã
làm truy điệu rồi giao bằng TỔ quốc, con ơi, mẹ ngày
đêm sản xuất tăng gia cày cấy, ngày đêm cẩu trời khấn
phật, cầu ông bà tổ tiên, cầu thầy, anh con phù hộ độ
trì cho con ở nơi linh lửa được cùng anh em tất cả
bình an...".
Kiên đọc đi đọc lại. Tờ thư run lật phật, nhòa trong
mắt anh. Can chết rồi còn đâu. Bữa đó vệ binh chỉ
lượm được cái xác. Cái xác lở loét, ốm o như xác nhái bị
dòng lũ xô tấp lên một bãi lau lầy lụa. Mặt của xác chết
quạ rỉa, miệng nhét đầy bùn và lá mục, nom cực kỳ
tởm. Và thối quá thể là thối, cái thằng bê quay chết tiệt
ấy, người lính vệ binh đã tự tay chôn Can kể lại với
đám trinh sát. "Hai cái hố mắt của nó trông như hai cái
tăng xê, mà chưa chó gì đã mọc rêu xanh lè, rõ ghê?'!,
nói rồi hắn nhổ toẹt. '
Từ đó chẳng ai nhắc tới Can nữa, chẳng ai tìm hiểu
vì sao Can chết: bị giết hay bị kiệt sức giữa luồng nước
lũ, hay là tự sát, mà cũng không ai thèm kết tội Can
làm gì nữa. Tên tuổi, hình hài một con người đã từng
vào sinh ra tử không kém cạnh ai và vốn hoàn toàn
không phải đồ tồi đã đột ngột chìm nghỉm đi. Chỉ riêng
Kiên là không sao gột hẳn được Can ra khỏi tâm trí.
Đêm đêm anh nghe thấy Can trở về thì thào ngay bên
võng, lặp đi lặp lại cuộc chuyện trò nhạt nhẽo ở bờ suối
chiều hôm nào. Tiếng thì thào chuyển dần thành tiếng
nức nở, thành tiếng nấc nghẹn y như là tiếng nước sặc
lên trong ~ họng kẻ sắp sửa chết chìm.
'! Hồn bơi ra khỏi xác biến thành con ma cà rồng...!'
Kiên rùng mình nhớ lại lời Can. Và cứ mỗi lần quỳ
xuống trước bàn thờ các liệt sĩ của trung đội giấu mọi
người, Kiên thầm thào khấn gọi linh hồn Can, người
anh em khốn khổ, bạc phước ra đi trong nhục nhã
chẳng được ai đoái hoài, hiểu đỡ cho chút ít nỗi niềm,
kể cả anh...
Trong suốt nhiều tháng trời a qua, cùng anh em ở
đội thu nhặt hài cốt tử sĩ Kiên đã đi qua hầu suất miền
Cánh Bắc, lần lượt trở về với vô vàn những trận đánh
lớn nhỏ và các anh đã lặng lẽ tìm thấy biết bao thành
viên bị quên lãng của đại gia đình những người tử trận.
Dưới lòng sâu đất ấm của đại ngàn họ chung nhau một
số phận. Không có người vinh kẻ nhục không người
hùng kẻ nhát, không có người đáng sống và kẻ đáng
chết. Chỉ người tên tuổi còn đó, người thì thời gian đã
xóa mất rồi, và người thì còn chút xương, người chỉ
đọng chút bùn lỏng.
Sau những nhát xẻng, đáy huyệt tối tăm lộ ra và lan
hơi thở cuối cùng của người đã khuất phủ lên, nhập vào
Kiên. Theo dần năm tháng những luồng sinh khí chết
ấy đã đậm lại trong lòng anh, hòa vào tiềm thức trở
thành bóng tối của tâm hồn anh. Dằng dặc trôi qua
trong hồi ức của Kiên vô vàn những hồn ma thân thiết,
lẳng lặng âm thầm kéo lê mãi trong đời anh nỗi đau
buồn chiến tranh.
Đêm, thật lạ lùng, một đêm có lẽ là kỳ ảo nhất trong
hằng hà bao nhiêu đêm tối của đời anh. Gần như toàn
bộ cuộc đời chiến đấu với cả một đạo quân những người
đã chết mà anh từng gặp gỡ trong chiến trận đã trở về
với anh qua những cánh cửa vòm cuốn mờ tối của giấc
mơ dài không dứt. âm vang của ngày tháng đã qua
như những chuỗi sấm nguồn xa tắp làm tâm hồn anh
từng lúc một hoặc sôi sục, hoặc nhói đau, hoặc ngưng
lặng đi.
Gần sáng, rùng mình Kiên chợt tỉnh và anh nghe
thấy từ đáy giấc chiêm bao vừa tắt một tiếng hú dài,
buồn đau, ghê rợn khoan xoay qua anh, ngân vọng lên
như tiếng vọng truyền giữa hai bờ núi. Định nhỏm dậy,
nhưng lập tức kìm mình, nằm yên trên võng, Kiên
nhắm mắt cố đưa tâm trí hút theo tiếng hú ấy. . .
Chuyện xảy ra cũng ở Gọi Hồn này, bên suối này
cũng vào mùa mưa năm ngoái, mùa mưa cuối cùng của
cuộc chiến tranh. Tiếng hú cất lên từ thung lũng bên
kia núi nhưng dội sang tận bên này. Tiếng hú của loài
ma núi, người ta bảo thế, nhưng Kiên thì Kiên biết ấy
là tiếng gọi của tình yêu. Hồi đó, phải, chính là ở đây,
trong mưa rơi buồn thảm, trung đội trinh sát "nông
trường 3" đã sống một thuở yêu đương say đắm lạ lùng.
Mối cuồng si bí ẩn, đầy tội lỗi và có một không hai bắt
đầu ra sao, nhen lên từ ai, đã ôm cuốn lấy những ai vào
vòng tay của nó, Kiên hầu như không biết. Chẳng may
anh đã ở vào số một vài người bị cuộc tình ấy xa lánh.
Kiên nhớ: đơn vị về dựng lán ở ngã ba suối dưới chân
núi được một đêm, hai đêm, đêm thứ ba thì đã linh cảm
thấy có sự khác thường lẩn lút diễn ra trong phân đội.
Thực ra không phải là linh cảm mà là Kiên đã nghe
thấy, và thoáng nhìn thấy.
Đêm ấy như thường tình, tháng tám, mưa to, và
chốc ánh chớp lại phá thinh không tăm tối và dữ dội
dựng đứng rừng lên trong khoảng khắc. Sau ba ngày li
bì sốt đến tối hôm ấy Kiên dứt cơn, mệt nhọc, bải hoải
và suốt đêm mất ngủ. Bứt rứt trong lòng, gần sáng anh
mặc áo tơi, xách súng đi kiểm tra một lượt các lán. Đất
rừng lầy lội, phù thũng. Kiên co người lại trong tấm áo
tơi lá, súng đeo thõng, bước dò dẫm.
Đến gần lán tiểu đội một, Kiên chững lại. Tiếng
cười RÕ ràng là anh vừa nghe thấy ai đó cười, tiếng
cười khanh khách. Ai ở trung đội có thể cười kiểu ấy cơ
chứ? không chừng thằng nào động hớn mà bắt chước
giọng đàn bà cũng nên, nghe ma quái quá, anh nghĩ và
hấp tấp anh bước vội tới cửa lán. Hội cờ bạc đã tan từ
lâu Bên trong tối mò. Nhưng không có tiếng ngáy. Im
lặng đáng ngờ. Không nén được Kiên sẵng giọng hỏi
chõ vào:
Ai trong ấy vừa cười thiếu
- Gì đấy, Kiên? - Giọng Thanh tỉnh khô ngay lập tức
cất lên - Ai cười đâu? Hay là trời cười?
- RÕ ràng mà lại. Đừng ỡm ờ. Con khỉ! - Kiên gắt -
tao không vì sốt mà ù tai đâu Thanh nhé.
- Thì đấy, trung đội trưởng vào kiểm tra xem đứa
nào cười?
Mẹ kiếp, chẳng lẽ ở Gọi Hồn này lại có ma thật?
Kiên cáu sườn bỏ đi. Tuy nhiên tiếng cười lúc nãy nghe
rất thật tiếng, lanh lảnh, trong vắt. Tiếng cười con gái
hẳn hoi. Không phải ma, không phải ai mê sảng.
Thình lình, Kiên cứng người, dừng phắt lại. Trong
một giây, tim ngừng đập. Dưới làn chớp làm quắc sáng
cả đám lau bà ven suối, Kiên nhìn thấy lồ lộ trong
nháy mắt một người con gái đang đi chếch qua trước
mặt anh. CÔ ta ở trần, Kiên nhớ rõ như thế, da dẻ
loáng sáng lên như nước sông, mái tóc xõa, quấn vào
lưng vào đùi.
- Ai, đứng lại? - Kiên thét và bước né sang bên, lên
súng - Năm? Không có tiếng trả lời. Mưa to át tiếng
chân bước. Đúng lúc này sấm sét câm tịt và bao nhiêu
làn chớp đều tắt lịm.
- đứng lại không tao bắn? - Kiên điên tiết - Năm?
- Cộng bống Tôi, Thịnh đây, anh Kiên?
- Cái gì? Kiên sững sờ - Sao lại Thịnh?
- Phiên tôi gác mà - Rành rành giọng Thịnh !'con'! -
có chuyện gì?
Mày vừa đi với đứa nào? Kiên sừng sộ.
- Không. . . Ai cơ?
- Thế vừa nãy không thấy gì à?
- Không... Mà sao thế Anh làm sao thế
Kiên chửi. Chó thật, anh nghiến răng. Như trêu
ngươi. Vòm trời lại liên tiếp bùng chớp. Chỉ có mưa
chăng, chỉ có dòng suối cuồn cuộn, chỉ có cây cối rũ
rượi. Rừng lầm lì cau có. Thịnh cởi trần, vận quần đùi,
co ro ướt át đứng trước mặt Kiên.
Khốn khổ rồi, khốn khổ rồi đây. . . ! - Kiên rên lên -
Chẳng biết là cái họa gì đây?
Kiên lê bước trở về lán, nằm vật lên võng. Linh cảm
về một tai họa khôn lường đang đến với cuộc đời trung
đội nặng nề bóp nghẹt trái tim anh. Không, anh không
nhìn nhầm, nghe nhầm, nhưng đấy là ma hay là người?
Sáng hôm sau, cả Thịnh cả Thanh chả đả động gì
đến chuyện hồi đêm. Những người khác thì càng có vẻ
như không hay biết có sự bất thường nào hết. Nhưng
Kiên cảm thấy rõ ràng một sự bí ẩn đồng lõa giữa họ
với nhau. Anh không tức, chỉ buồn. Lần đầu tiên anh bị
đồng đội cho ra rìa. Tuy nhiên anh im lặng, tuyệt đối
không đả động gì tới điều bí ẩn ấy của anh em. Trong
mọi cuộc họp hành kiểm điểm anh chẳng một lần nhắc
nhở chuyện đó. Thế nhưng tội lỗi vẫn tái diễn, Kiên
biết. Chỉ có điều từ khi anh bị phát hiện, những bóng
ma đàn bà không lẻn tới chỗ trung dội nữa mà chính
cánh trinh sát mò đến động của họ.
Về đêm... nửa đêm... lặng lẽ có những cái bóng den
trườn khỏi vọng, nhón bước ra khỏi lán, kín đáo đánh
tiếng thông đồng với người khác, rồi lẹ làng theo nhau
mất hút trên con đường mòn không dấu vết chạy men
một dòng suối nhánh dẫn sâu vào lòng núi tối tăm đắm
dưới mùa mưa như thác đổ. Và đêm nào cũng thế, vào
lúc mấy cái bóng nọ nhỏm dậy khỏi võng rục rịch với
nhau ở ngoài suối chuẩn bị lên đường là Kiên lại một
lần chợt tỉnh giấc. Anh nằm im. Tiếng thì thào... tiếng
chân giẫm lụp búp trên bùn... Giọng nói của người
gác. . . một ai đó trượt chân ngã . . . tiếng cười cố nén . . . Có
đêm những cái bóng ở lán bên cạnh, song có đêm là từ
lán của anh, từ chiếc võng mắc sát anh. Có đêm mưa
nặng nề xối dội, có đêm vội vã từng cơn rào rào, mà
cũng chẳng đêm nào là đêm chuyện đó chẳng diễn ra.
ướt át lầy lội nhơn khổ... Và nhiều giờ sau khi các gã
trai lần về, thở hổn hển, be bét bùn và run rẩy trong
cái mát lạnh của trận mưa phùn ban mai thì Kiên cũng
đã thức dậy, nhưng vẫn thế anh nằm im lặng nghe
ngóng đếm từng bước chân rón rén, để rốt cuộc được
trút một hơi thở phào mừng rằng may thay cả bọn đã
bình yên trở về. Chính vào những lúc đó Kiên nghe
thấy tiếng hú mà người ta bảo là của loài ma núi. Nghe
thật buồn, thê thảm, nhưng Kiên biết đấy là tiếng lòng,
người nam người nữ gọi truyền theo vách núi để tạm
biệt nhau và để hẹn ước.
Dĩ nhiên Kiên biết không phải là cả phân đội, cả
mười ba người, song anh thừa biết không phải chỉ có ba
cái bóng nhất định nào đấy trong bấy nhiêu đêm đã
thường xuyên đi và về trên con đường hiểm trở dẫn
sang bên kia núi, mặc dù ở bên đó, Kiên biết, dưới cái
lũng âm u, hoang vắng nọ, trong khu trại tăng gia của
huyện đội 67 đã nhiều năm bị bỏ quên trên bờ thác
nước ấy chỉ có mỗi ba cô gái, chỉ ba cô mà thôi đang
sống và đang hàng đêm chờ đợi, mong ngóng bước chân
người lai vãng.
Biết hết, và vì thế, lý ra là chỉ huy, anh cần ngăn
chặn hiện tượng vô kỷ luật quá quẩn này, cần phải,
như người ta thường nói, uốn nắn, chấn chỉnh, lập lại
nề nếp khuôn khổ, đạo đức tác phong, cẩn phải thẳng
tay kéo đội viên của mình thoát khỏi tình trạng mê
mẩn chẳng khác nào bị chài ếm, cần phải... Song trái
tim, trái tim của anh, trái tim thực thụ của người lính
chiến không đời nào cho phép anh ra tay hành động
như vậy. Không những nó năn nỉ anh mà trái tim anh
nó buộc anh phải im lặng, buộc anh phải hết lòng cảm
thông. Chứ còn biết làm thế nào khác được, thực thể
trước tiếng gọi man sơ, hoang dã ấy của tuổi thanh xuân?
Hồi đó chỉ trừ anh và Can, còn cả đội trinh sát đều ở
dưới tuổi đôi mươi, cho nên thử hỏi rằng... thực thể thử
hỏi rằng...
Vả chăng, chỉ anh về đêm . . . khi ngủ. . . những giấc
mơ đậm đặc cảm giác, nóng bỏng và ngọt lịm như mật
ứa ra trào lên lấp đầy cõi mộng mị. Trong những đêm
mưa ấy, từ giữa miền không gian xa xanh sâu thẳm
khuất chìm sâu sương mù ký ức, người con gái của
thành phố quê hương lại hiện lên và bước tới với anh
trong bóng hình tiên nữ mờ ảo. Cả người gai lên, xương
thịt chờn rợn, run rẩy, rung động trong nỗi khát khao
thèm muốn được hưởng tới độ tột cùng cảm giác xúc
tiếp êm ái, choáng ngợp, đáng kinh hãi với cái hình hài
yêu dấu, mong manh, mềm mại như cánh hồng ấy.
Hai đứa mình có khi chết đi vẫn còn trong trắng...
Vậy mà chúng mình yêu nhau biết là dường nào...",
những lời ấy của Phương văng vẳng làm tim anh thắt
đau. Mới mười bảy tuổi, thuở đó cả hai đứa còn biết
chừng nào là vụng dại. Giá như... "Nhưng hãy nghĩ
nhanh đến một cái gì khác đi, hãy nghĩ đến một cái gì
khác?" - Tâm tưởng anh thổn thức kêu lên.
Lúc anh tỉnh giấc và nghe tiếng chân của các bạn
mình từ bên kia núi trở về thì ngoài vòm rừng trời đã
ửng sáng. Trong lán của bọn anh, ngoài mùi thơm của
hồng ma còn thoang thoảng, là lạ một làn hương ngây
ngây, dìu dịu, không có thật và không đàn ông, không
lính tráng một chút nào, vương vấn mơ hồ, u uẩn trên
tóc, trên áo, trong gió...
Giấc mơ lay thức tâm hồn Kiên. Thì ra, anh, Kiên
cũng có một thời trẻ trung cái thời mà giờ đây khó lòng
mường tượng lại được nữa, cái thời mà toàn bộ con
người anh, nhân tính và nhân dạng, còn chưa bị bạo lực
tàn bạo của chiến tranh hủy hoại, cái thời anh cũng
ngập lòng ham muốn, cũng biết say sưa, si mê, cùng
trải những cơn bồng bột, và cũng ngốc nghếch ngẩn
ngơ, cũng từng tan nát cả cõi lòng vì tình yêu thương
đau khổ, vì ghen tuông tủi hờn và cũng đáng được ưu ái
như các bạn anh bây giờ. Chao ôi! Chiến tranh là cõi
không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu
bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế
giới bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của
dòng giống con người! Anh đã hoàn toàn không có cơ
may thoát khỏi sự hư hại của tâm hồn thì đồng đội trẻ
tuổi của anh phải thoát, phải vượt ra khỏi sự ràng buộc
và câu thúc của thói thường mà hưởng lấy những giọt
cuối cùng còn sót lại của tình người. Để đến ngày mai
thì chẳng còn gì.
Song le. tính phi lý và tội lỗi quá đậm trong mối
duyên tình chung đụng, dan díu san sẻ của những
người con gái, con trai mà nay tất cả đều đã khuất rồi
ấy, hồi đó thực ra vẫn làm Kiên đau đớn, vừa xót
thương. vừa giận, tủi. ngờ vực và lo sợ. Một nỗi kinh
hãi thường trực ngấm ngầm nung lửa trong ruột gan
anh. Có lẽ bởi vì bấy giờ là thời buổi chiến tranh thời
buổi ngược đời, cho nên những chuyện được coi như là
lớn lao, những mối nguy to tát đều là sự thường nhật,
còn những gì nhỏ nhoi, cỏn con nhưng niềm vui nỗi
buồn hàng ngày của kiếp người thì lại rất trái lẽ và họa
hoằn lắm, hãn hữu lắm mới có nổi. Hãn hữu tới độ
chúng trở nên gần như điềm gở. Mà quả thực thế.
Giờ đây, nhắm mắt dọi nhìn vào hồi ức, Kiên lại
lặng lẽ thấy lại mình, dường như vừa mới buổi trưa
ngày hôm qua đó thôi, đang đứng đấy, dưới làn mưa
trên mảnh sân loang nước giữa khu trại nhỏ bé, ướt át
mọc lên cô lẻ ở rìa thung lũng bên kia núi... áo quần
sũng nước, tóc, mặt ướt đầm, khẩu tiểu liên đeo bên vai
như chực rớt. Mưa rơi rào rào. Bụi nước tan thành
những vồng hơi dập dềnh trên mái nhà, mái kho. Mặc
dù mưa to bầu trời giữa trưa vẫn sáng hẳn lên. Vòm
mây trên thung lũng có phần thưa loãng ra và trong
thinh không như chập chờn một chút nắng.
- Hơ bia... ỉa - Kiên không kịp ngăn, đằng sau anh,
Thịnh con! đã cất tiếng hú gọi. Và ngay lập tức, bàng
hoàng, cả tốp trinh sát đi cùng Kiên tới đây, đang đứng
tản mát khắp khu trại đã đồng thanh kêu hú vang lên
tên ba cô gái:
- Hơ bia... Mây... Thơm... ơi ơi ơi...?
Không có cả tiếng vọng dội đáp lại. Từ cái thác cao
lừng lững trên vách núi trước mặt khối nước khổng lồ
trắng xóa ầm ầm lao thẳng đứng xuống đường đáy khe
của thung lũng tạo thành làn gió vĩnh cửu từng đợt,
từng đợt phả vào khu trại với tiếng rền động trầm trầm
không dứt.
Tiếng gió, tiếng mưa, tiếng thác rền ào lấp lên một
bầu không khí lặng lờ gần giống như sự bình yên...
Trong nhà, căn nhà nhỏ ba gian xinh xắn, mái lồ ô,
thơm ngát hương huê rừng, đồ đạc vẫn nguyên vẹn,
ngăn nắp... BỘ bàn ghế mây. LỌ hoa. ấm tách. Một
cuốn sách đọc dở... Giường chiếu. Gối chăn. Gương
lược Ngoài chái, quần áo giăng trên dây phơi cái đã
gần khô, cái vẫn ướt nguyên... Trong dãy sạp kho chạy
dài bên kia sân, thóc, gạo, ngô, sắn ăm ắp. Và mùi
măng sấy, mùi mộc nhĩ, nấm hương, mùi mật ong nữa
vẫn vít vào nhau hăng ngầy ngậy... Dưới bếp mâm cơm
bày trên chõng như vừa được bưng ra, còn đậy lồng
bàn. Ba cái bát. Ba dôi đũa. Đĩa rau giền luộc. Muối
riêng. Cá khô. Niêu cơm ghế trên chưa dỡ. Tro bếp còn
ấm... Sau bếp là sào vườn trồng lạc, trồng cà và rau
giền. Rồi đám dong riêng. Khóm chuối. Hàng dâm bụt.
Bên ngoài cánh cửa khép hờ là dốc bờ suối. Một lối đi
nhỏ xẻ bậc. Một cây cầu tre lắt lẻo nối khu trại với rừng
giang bên kia suối. Đằng xa, phía sau rừng lờ mờ hai
mỏm cao của quả đồi độc lập đánh dấu chính tâm
thung lũng. . .
Mặc dù mưa ngày mưa đêm, các nữ chủ nhân của
khu trại vẫn dùng nước suối. Nước trong giếng lọc
trong vắt. Miệng giếng có đậy nắp và quanh giếng có
đào rãnh để ngăn nước suối chưa được lọc dềnh vào.
Nhà tắm mái tôn ẩn trong lùm tre đằng ngà kề bên
mép suối. Đường từ giếng lọc tới nhà tắm được rẫy sạch
cỏ và trải sỏi.
Lúc đầu chỉ mình Kiên lần xuống suối. Anh đứng ở
bờ giếng lọc và đưa mắt nhìn ra phía lùm tre. Cửa
buồng tắm mở toang, và... trong một phản ứng tức
thời Kiên ngồi thụp xuống, giật súng ra khỏi vai. Có
người ! - Anh nghĩ nhanh nhưng. . .
Giờ đây tất cả còn cận cảnh rõ mồn một trong tâm
trí Kiên. Cửa buồng tắm không phải đang mở mà là bị
giật tung khỏi bản lề, nằm vật úp dưới đất. Bên trong,
ở góc có hai xô nhựa còn lưng nước, cái gáo dừa để
trong thau nhôm, đôi dép đúc, hộp xà phòng. Một bộ
quân phục.nữ bằng vải phin cùng một tấm khăn tắm
thêu hoa vắt trên dây. Một bộ khác ẩm ướt, lấm bùn
quàng lên tấm vách cạnh một cái áo mưa vải bạt màu
lá cây
Trên nền sỏi ướt, Kiên thấy, nằm rớt đấy từ bao giờ
một manh áo lót phụ nữ trắng muốt rợn lên trong vũng
sáng lờ mờ... như một bông hoa lạ, to, hai cánh mỏng
tang duỗi ra mềm mại, nõn nà y như một lượt da người.
Trên một cánh của bông hoa ấy in nguyên một vết bùn
máu hằn rõ những khấc hình răng khế của gót giầy cao
su giẫm đi lên.
Kiên rùng mình, choáng rợn như bất thần bị làn roi
vút thẳng vào tim. Và trong giây lát trước mắt anh
hiện hình những bóng ma màu lục, lướt đi không tiếng
động, di chuyển êm ru dưới tán rừng, lẳng lặng vượt
qua suối, xuất kỳ bất ý ập vào khu trại... Cả ba cô gái,
người trên nhà, người dưới bếp, người đang tắm, chẳng
ai kịp trở tay. Không một tiếng kêu, có lẽ thế, và không
một phát súng.
Bọn thám báo... Bọn thám báo..., đúng chúng rồi
anh Kiên ơi. . . - Thịnh bước tới bên Kiên thì thầm nói,
giọng run và khản đi.
Trên đầu họ mái tôn rền rĩ, bần bật rung, những
cánh tre đằng ngà cào vào vách liếp. Kiên nặng nề thở
dốc, môi mím chặt.
Sáng nay các cậu nghe thấy gì không?
Không, có nghe thấy gì đâu!
Thế nhưng, chuyện gì đã xảy ra? Và bằng cách nào
mà hồi sáng các bạn anh lại cảm thấy được tín hiệu của
một tai họa xảy ra âm thầm ở tận bên này núi? Hoàn
toàn không có triệu chứng nguy hiểm, tuyệt nhiên
không một điềm gở. Đêm qua các bạn anh đã vui thú ở
đây Vả chăng làm thế nào mà lường nổi. Bởi vì dù sao
cũng là giữa vùng hậu cứ xa cách tiền duyên hàng ngày
đường, dù sao cũng là nhà các cô gái, và dù sao cũng là
năm 1974, chứ phải đâu còn là thời xa xưa tăm tối của
chiến trường, thời sau Mậu Thân, những năm 68, 69 ấy
nữa?
Sao biết là thám báo?
- Có dấu giày ở khu sau nhà kho. Và đầu mẩu Ruổi.
Hồi sáng các cậu bị điều gì đánh động?
- Chả có gì. Nhưng vì tự dưng tất cả đều nóng ruột
không chịu được.
Mãi đến giờ các cậu mới hở chuyện cho tớ. Thật là
các chiến hữu quý hóa. Thế ai đã sục tìm ngoài rẫy chưa?
- Rồi. Chả thấy tăm dạng gì.
Tăm dạng đây này! - Kiên nói, chỉ xuống nền nhà
tắm.
Thịnh bước nhích lên phía trước Kiên và nặng nề
chậm chạp sụp gối, quỳ xuống. Khẩu AK rơi thịch trên
nền sỏi.
- Của Hơ bia... áo của Hơ bia đây mà... Thịnh lí nhí
trong họng, và hai tay run rẩy anh nâng cái áo lót lụa
rơi dính dưới đất lên, áp vào mặt.
- Em... Em ơi, Hơ bia... Chúng nó bắt đưa em đi đâu
rồi? Em? Sao thế này. Sao bỗng dưng lại thế này... làm
thế nào bây giờ... Em, Em Em ơi? - Thịnh nấc lên một
cách kỳ quặc, rền rĩ, van vỉ, cầu khẩn vô nghĩa bằng
một giọng thều thào nghẹt thở.
Về sau, rất nhiều năm về sau, khi đã là một người
cầm bút đứng tuổi, đã dấn thân khá sâu vào văn
nghiệp, viết đã nhiều truyện ngắn, truyện vừa về chiến
tranh, đã lục lọi, đảo xới hầu như toàn bộ cuộc đời lính
của mình lên để nạp vào trang bản thảo, một ngày nọ
rất bất ngờ, nhờ vào phép liên tưởng nhiệm màu của
hồi ức, khi đang xem một nghệ sĩ kịch câm uốn lượn
thân mình một cách quằn quại, gào thét một cách âm
thầm thống thiết nỗi đời tuyệt vọng, Kiên như choàng
tỉnh, chợt nhớ lại một cách rành rọt và không đúng lúc
nhưng sáng rõ như có đèn rọi câu chuyện tình bi thảm
và mông muội giữa các đội viên trinh sát của anh với
ba cô gái bị chiến tranh cầm tù giữa rừng sâu núi thẳm
năm xưa. Ngồi lặng đi mà lòng rung lên bởi quá mừng
vui và quá đau buồn, Kiên như muốn áp chặt vào tim
kỷ niệm vừa đột ngột sống lại ấy, một kỷ niệm sâu sắc
đến thế mà chẳng hiểu vì sao đã bị trí nhớ điêu luyện
của anh lược đi mất trong suốt bao nhiêu năm trời. Một
cốt chuyện tình tuyệt vời, Kiên nghĩ và anh hiểu đây sẽ
là truyện ngắn dành cho cả đời văn của anh . . . Anh nhớ
lại rằng, hôm ấy mãi chiều tối bọn anh mới lùng trúng
Oå của toán thám báo. Chúng không hạ sát ba cô gái
ngay trong khu trại mà điệu xa vào rừng sâu giữa lũng.
Mưa đã tẩy hết dấu vết. Hoàn toàn do tình cờ mà bọn
anh đã chạm trán với chúng ở dưới chân quả đồi độc
lập Bảy tên lính viễn thám. Ba tên bị hạ khi đọ súng.
Bốn tên bị bắt sống. Thịnh "con" hy sinh trong trận
chiến, đạn trúng tim, không kịp một tiếng kêu, ngã
sấp
- Đâu rồi? Họ đâu, ba cô gái ấy? - Kiên hỏi, giọng cực
kỳ ôn tồn. Bốn tên tù binh không phải trói, bị đánh
nhừ tử, áo quần rách bươm, be bét bùn và máu, đứng
lặng, làm thinh. Chúng uể oải đổi chân.
Nào, họ đâu rồi? Họ còn thì chúng mày còn. Tên
nom to con nhất bọn, mắt trái bị báng súng dộng lời ra,
máu hòa nước mưa nhuộm đỏ nửa mặt, đưa con mắt
nhìn Kiên, cười khẩy, và khàn khàn nói, nhe hàm răng
trắng ớn.
Ba nhỏ đó trình quí anh, tụi này làm thịt cúng hà
bá rồi . . . mấy nhỏ la khóc quá trời. . .
Cả tốp trinh sát soạt soạt rút dao găm. Kiên vội ngăn:
Đừng! ấy chớ... Bọn này chắc cũng muốn được la
khóc đã rồi mới chết. Chết ngay thì chúng không thích
đâu
- Đ má! Giết thì giết đi - Một thằng rống lên - ăn
thịt tụi tao đi. Giết liền đi? Tay tao nè, đỏ lòm máu ba
con nhỏ của tụi mày đó?
- Câm đi - Kiên nhẹ nhàng - Sẽ chiều mày thôi.
Nhưng tao hỏi mày: Tụi mày tới vùng này là để theo
gót chúng tao, quân chủ lực cơ mà, hả? Vậy vì sao lại
tấn công họ? Cớ gì tụi mày giết hại người ta tàn bạo
thế Vì sao mà tụi mày lại căm thù chúng tao hả? -
Chính Kiên cũng chẳng hiểu vì lẽ gì mà mình lại chịu
mất thì giờ và lại giữ một giọng trò chuyện nhẹ nhàng
như thế với chúng, một giọng tuồng như là trách móc
chúng vậy.
Bốn thằng đào chung một hố. Chúng đào tất bật,
hăm hở hì hục như thể thợ đấu làm khoán.
Không cần sâu lắm đâu. Nằm chứ có đứng đâu mà
lo, - Kiên khuyên - cốt rộng cho đủ chỗ không lại thòi
chân thòi tay ra. Và khẩn trương, tối rồi!
Mỗi thằng một xẻng. Những cái xẻng biệt kích nhiều
tác dụng, gấp lại được, sắc lém. Thằng nào nom cũng
vâm, thân xác rắn chắc, cuộn thịt và thằng nào trông
cũng lì. Chúng hùng hục đàc~ bới, xúc, hắt. HỐ rộng
hoác ra và đã khá sâu, đỏ lòm, õng nước.
- Đẹp rồi, lên...? Kiên ra lệnh và giải thích thêm -
Chúng mày phải lên để lẳng xác ba thằng kia xuống
trước đã chứ ai dọn hộ chúng mày, để đó cho thối rừng
ra à?
Bọn chúng xin phép được rửa ráy và hút thuốc.
Kiên gật.
Hoặc giải chúng về, hoặc tặng mỗi thằng một kẹo,
dây dưa làm gì thế anh Kiên ơi?
- Giải đi đâu? - Kiên phẩy tay - Nhưng tớ không chịu
nổi bốn thằng khốn nạn này. Chúng nó phải thành loài
chó khi chết.
Bốn thằng ra mép suối, kỹ lưỡng rửa sạch tay chân,
và cẩn thận gột hết những mảng bùn trộn máu rây
trên quân phục.
- l)ạ, kính quí anh xơi thuốc? - Tên trông trẻ nhất
bọn, mặt tròn, trắng trẻo, giọng Bắc ngọt xớt, lễ phép
nâng bao ruổi lên bằng cả hai tay, mời Kiên.
- Giữ lấy? - Kiên xua tay - lát nữa xuống đó mà mời
nhau.
Tên ngụy thở dài. Hắn uốn éo cặp vai, nhìn Kiên
thiết tha, rồi thấp giọng xuống:
- Thưa anh, cái thằng vừa nói hỗn khi rồi là chỉ huy.
Dạ, trung úy ạ.
- Thế à? ôi dào, trung úy hay trung tướng xuống đó
cũng ngang cấp với binh nhì thôi, không chỉ huy được
mày nữa đâu mà lo.
- Xin anh tha cho em - Thằng ngụy lầm rầm - Em
không hề dự vào hiếp các cô đó, em không đụng tới
người, không đâm một dao nào. Em là người có đạo.
Em xin thề?
- Mày không phải thề với tao? Lui về chỗi
Thằng lính ngụy cao lớn quỳ xụp dưới chân Kiên
nước mắt tuôn ròng:
- Anh thương tình em, anh! Em còn trẻ quá mà anh?
Em còn mẹ già... em sắp cưới vợ... chúng em thương
nhau... xin anh!
Hắn lập cập moi trong ngực áo ra một tấm ảnh màu,
nâng lên, giúi vào tay Kiên. Kiên cầm ảnh, nhìn. Một
thiếu nữ vận đồ tắm màu đen, mái tóc uốn ôm lấy bờ
vai, đứng xây lưng lại với biển xanh, cười rất tươi, một
tay cầm que kem, một tay đưa lên yểu điệu vẫy. Thân
hình cô cân đối mĩ miều có thể nhìn không chán. Kiên
phủi những hạt mưa rây lên ảnh và đưa trả.
- Đẹp Chụp khá đấy, - Anh khen - Cất đi không có ướt.
Thằng ngụy thở rốc, mồm há hốc, mắt sáng trưng:
Nghĩa là... Anh cho em sống? Anh cho chứ ạ, ôi
thiên thần. . .
- Về bên hố - Kiên quát - ĐỒ con ớ ? Châm thuốc mà
hút đi, không hết giờ. Bọn kia nữa, hút chóng lên!
Bọn thám báo ngồi xệp trên thành hố mới đào, chân
thõng xuống đung đưa trên ba cái xác đồng bọn đang
quắp nhau nằm dưới đáy bùn. Khói thuốc xanh nhạt,
nồng ngậy, chầm chậm tan vào bụi mưa. Bốn bề thung
lũng bọc kín núi non. Bóng tối cuồn cuộn trườn trên các
sườn dốc. Dòng suối trầm trầm rên rỉ.
- Nào? Kiên giật AK khỏi vai, hất hàm - Một hàng
ngang!
Bốn bộ mặt tái ngoét vụt ngửng lên. Bốn cái nhìn
trân trân ngây cứng.
Đứng dậy, xếp hàng ngang - Kiên uể oải nhắc lại,
và dùng ngón tay cái ấn chất hãm vào nấc liên thanh' -
Nào?
- Anh ơi, làm ơn cho hút xong điếu thuốc đã nào,
anh? - Tên giọng Bắc kêu.
Đứng dậy? - Kiên nạt.
- Thì cứ để cho chúng hút đã đi đã, anh Kiên! - Một
trinh sát viên hoang mang thều thào vào tai Kiên.
Bốn tên sắp bị hành quyết đứng lên, tựa vào nhau,
lảo đảo, xiêu đổ hầu như không còn trọng lượng. Nhưng
cái chết đã xua đi nỗi sợ hãi. Mặt chúng rắn lại. Lòng
căm thù bóp méo nhân dạng. Câm nín, chúng nghiến
răng. Kiên điên tiết. Một ý chí phũ phàng, mạnh hơn
bản thân anh không cho anh tỉnh lại.
Chúng mày muốn chết, tao chiều. Tao sẽ lần lượt
gọi thần chết cho từng thằng chúng mày! Chúng mày
sẽ được nhìn máu lần cuối cho đã thèm? - Anh nói ni
lên, cười gằn lùi chốt hãm về nấc phát một.
Đột nhiên tên giọng Bắc rống to và vùng dứt khỏi
đồng bọn, nhào xô tới quỳ xụp, ghé mặt xuống chân
Kiên. ư ừ rên lên, và ằng ặc nấc lên, hắn quằn quại
không thốt ra lời.
- Mày tình nguyện đi tiên phong à? - Kiên chọc mũi
súng vào trán hắn. '
ối giời ơi? Con van ông, con van các ông. . . cho con
sống! cắn rơm cắn cỏ con lạy . Lạy các ông. . . ông ơi . . .
Tiếng tru tréo như xóc vào óc Kiên. Anh thúc một
báng súng tống ngược tên ngụy ngã ngửa ra. Cú đánh
như làm hắn bừng tỉnh, ngừng bặt kêu la. Hắn nhổm
dậy, vẫn quỳ, lờ đờ nhìn Kiên, tay hướng tới anh. Từ
vết thương ở trán một dòng máu nhóng nhánh chạy dọc
xuống sống mũi.
- Em xin tình nguyện lấp huyệt. Các anh khỏi nhọc
sức Và em xin được tình nguyện được khai nhiều tin
với cấp chỉ huy của các anh. Chính sách của Đảng ta,
đánh kẻ chạy đi, tha người chạy lại. Các anh không có
quyền giết em... Không có quyền! ối giời ơi, em lạy các
anh rồi mà!
Lại có ai đó phía sau kéo kéo khuỷu tay Kiên, nói
lào thào giọng run rẩy:
- Kiên ơi, hay là tạm tha cho chúng... đưa về cho
trên xử trí . . .
Kiên ngoắt lại. Một nỗi điên giận hung tàn nóng như
thiêu ngút dậy trong lòng, đất cháy anh, xé anh ra.
- Câm? - Anh gầm lên, và thô bạo gí họng tiểu liên
vào sát miệng Cừ - Muốn tỏ tình với chúng thì đứng
vào một hàng với chúng. Tao sẽ hạ luôn cả mày. Cả
mày... áy?
Kiên! Kiên ơii Đếch gì mà la kinh thế - Bàn tay
nặng trịch của người lái xe thò vào bọc võng đập đập
lên vai Kiên - Dậy, dậy mau rồi còn phới, mau!
Kiên mở mắt. Nỗi mệt nhọc buông hết sức nặng giằn
lên anh và cảm giác đau đớn của giấc mơ vẫn đang đều
đều nện trên thái dương. Mãi anh mới vực người dậy
nổi. Chậm chạp rời khỏi võng, anh nặng nề leo qua
thành xe xuống đất.
Nhìn Kiên trệu trạo ăn, người lái xe thở dài bảo:
- Tại anh ngủ trên thùng xe đấy. Nằm chung chỗ với
non năm chục bộ xương chứ ít à. Mơ mộng kinh hãi
lắm hả?
- Ưø Mê mệt. Quái gở. Mụ cả đầu. Từ dạo về đội hài
cốt này đêm nào cũng loạn hoảng vì mộng nhưng chưa
bao giờ như đêm vừa rồi.
Truông Gọi Hồn mà lỵ. Trông hoang vu thế thôi
chứ dưới đất kia người nằm đã đông chật cả rồi. Mà nói
chung ở cả cái B3 này đâu chả nhiều ma quỷ. Tôi lái
cho đoàn gom xương nhặt cốt này từ hồi đầu 73 tới giờ
mà đã quen nổi với đám hành khách từ trong mồ hiện
ra kia đâu. Chẳng đêm nào mà họ không lay mình dậy
để chuyện gẫu. Phát khiếp lên được. Đủ loại. Lính cũ.
Lính mới. Lính sư 10, sư 2, quân tỉnh đội, quân cơ động
320, đoàn 559. Thỉnh thoảng có các "mộng" tóc dài...
Đôi khi chen vào vài anh ngụy.
- Có bao giờ gặp người quen không?
- Sao không. Bạn cùng đơn vị. Những người đồng
hương. Có đận còn gặp cả ông anh họ hy sinh từ hồi
cuối 65 kia.
- Thế trò chuyện gì được không?
Thì phải trò chuyện chứ, con chú con bác kia mà.
Cơ mà nói theo kiểu dưới âm. VÔ thanh. Không lời. Khó
tả lắm, rồi bao giờ mơ thấy anh sẽ hiểu.
Hay nhỉ!
- Hay đếch gì? Buồn lắm. Thương lắm. Ai oán. Dưới
mồ sâu người đâu còn là người. Nhìn nhau. Hiểu nhau
mà không làm gì được cho nhau.
- Giá có cách gì thông tin cho họ biết là đã thắng lợi
rồi cho họ an lòng nhỉ?
ôi giời Có nói được thì cũng nói làm gì cơ. Dưới âm
ty người ta chẳng nhớ chiến tranh là cái trò gì nữa đâu.
Chém giết là sự nghiệp của những thằng đang sống.
- Nhưng dù sao thì cũng đã hòa bình. Giá mà giờ
phút hòa bình là giờ phút phục sinh tất cả những người
đã chết trận nhỉ.
- Hừ, hòa-bình! Mẹ kiếp, hòa-bình chẳng qua là thứ
cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình, để chừa lại
chút xương. Mà những người được phân công nằm lại
gác rừng le là những người đáng sống nhất.
- Nói ghê thế. Người tốt còn khối. Và người tốt sẽ còn
được sinh ra ở các thế hệ sau. Còn những thằng sống
sót thì phải gắng sống tử tế, sống cho ra sống. Chứ
không thì chiến đấu làm gì? Hòa bình làm gì?
- Thế à! ờ, thì cũng phải hy vọng thôi, tất nhiên.
Nhưng chẳng biết tới khi mô con cháu ta mới đủ khôn.
Với lại chúng sẽ lớn khôn theo kiểu gì, ai mà biết. Chỉ
biết bao nhiêu cái tốt đẹp đã bị giết. Còn sót chút nào
thì chúng mang đi đổi chác nốt rồi. Đấy, cứ nhìn cảnh
chợ giời xô bồ !!miền Nam nhận họ miền Bắc nhận
hàng'! ở các thành phố thằng nào chẳng nản. Rồi lại
nhìn xương cốt mồ mả anh em mình đây, tủi hận lắm
ông ạ.
Nhưng hòa bình không là điều tốt hơn à?
- Nền hòa bình này... Hừ tôi thấy hình như các mặt
nạ người ta đeo trong những năm trước rơi hết. Mặt
thật bầy ra gớm chết. Bao nhiêu xương máu đã đổ ra...
Mẹ khỉ. ăn nói gì lạ thế Sơn?
Lạ chó gì mà lạ. Cái loại lính như ông ấy mà còn là
vỡ mộng đau đớn với đời. Nhưng ông ơi, thời đại của
cánh ta hết rồi. Mà nói thật chứ sau chiến thắng oai
hùng này những thằng lính chiến đấu như ông ấy mà
ông Kiên, chả trở lại thành người bình thường được nữa
đâu Ngay cả giọng người, mẹ kiếp, xin nói là còn chán
mới hòng có lại để giao tiếp với đời.
Anh triết lý kinh thật. Và đến là bi~
- Tôi là Trần-sơn, người lính, và vì thế tôi là triết
nhân. Chẳng nhẽ ông không thế chẳng lẽ ông thấy
lòng phơi phới lắm sao? Đêm rồi những người chết tiên
đoán điều gì với ông.
Chiếc JIN chuyển bánh gần như phải nhích dần
từng nửa vòng bánh. Đường sá lầy sụt, tồi tệ. Xe toàn
phải cài số một, gầm gào muốn vỡ máy, Kiên nhìn ra
cửa xe, cố xua đi những ý nghĩ nặng nề.
Trời tạnh mưa. Không khí vẫn ủ dột, ám màu chì.
Truông Gọi Hồn chầm chậm lùi xa. Khu rừng, dãy núi
triền suối đã khuất rồi. Thế nhưng từ phía đó vẫn có
một cái gì đấy dường như cố rướn lên nhìn theo anh .
Phải chăng đó là đoạn kết của giấc mơ đẫm mấu mà
sáng sớm này anh đã để sót?
- Kiên này, - Để át tiếng máy, Sơn nói như quát -
Chở xong chuyến xương này là anh vù luôn hả?
- cũng chưa biết. Còn phải làm khối thủ tục.
Về sẽ làm nghề gì~
- Định sẽ đi học nết phổ thông. Tức là bổ túc rồi thi
đại học. ehứ Chả Có nghề gì ngoài nghề nã tiểu hên.
Còn anh vẫn cầm lái chứ?
Xe đã bám vào được đoạn núi tương đối khô ráo. Sơn
tăng được tốc độ lên. Anh ta nói:
Giải ngũ tôi sẽ thôi lái. Tôi sẽ vác đàn đi hát rong.
Hát rong và kể chuyện. Các ông, các bà, các anh, các
chị xin hãy nghe tôi kể câu chuyện đau thương này, và
sau đó tôi sẽ hát để mọi người nghe bài ca kinh hoàng
về thời đại của chúng tôi.
- Cải lương lắm? - Kiên nói - Theo tôi, lẽ ra phải k~u
mọi người hãy quên đi.
- Nhưng làm thế nào mà quên nổi? Sẽ chẳng quên
nổi một cái gì?
Dĩ nhiên, Kiên nghĩ, quên thật là khó. Nói chung
chẳng biết đến bao giờ thì lòng mình mới có thể nguội
nổi, trái tim mình mới thoát khỏi gọng bàn tay xiết
chặt của những kỷ niệm chiến tranh. Những kỷ niệm
có thể là êm đềm, có thể là ác hại nhưng đều để lại
những vết thương mà tới bây giờ một năm đã qua, hay
mười năm, hay hai mươi năm nữa vẫn còn đau, đau mãi.
Có thể từ rày cuộc đời anh sẽ luôn luôn như thế này
chăng: tối tăm, đau khổ nhưng rạng ngời hạnh phúc?
Và có thể giữa mơ với tỉnh, như cheo leo trên bờ c mà
anh sẽ vượt nốt chặng đường đời còn lại. Dù sao thì mới
chỉ có hai mươi tám năm sống ở trên đời. Và dù cho đó
là khoảng thời gian bị mất, nhưng chẳng phải lỗi của
anh, chẳng phải lỗi của anh cả. Hẵng cứ biết rằng anh
sẽ còn được sống và từ đây sự sống ấy tùy thuộc anh.
Hẵng cứ biết rằng không chỉ là một cuộc đời mới mà
còn là cả một thời đại mới đang đến cùng anh phía
trước.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
NHƯNG MÀ TÂM HỒN TÔI THÌ ĐÃ NGƯNG
bước lại ở những ngày tháng ấy chứ không tài nào mà
đổi đời nổi như là bản thân đời sống của tôi. Một cách
trực giác tôi luôn nhận thấy quanh tôi quá khứ vẫn
đang lẩn khuất. Đêm đêm giữa chừng giấc ngủ tôi nghe
thấy tiếng chân tôi từ những thuở nào đó rất xa rồi
vang lên trên hè phố lát đá.
Đôi khi chỉ cần nhắm mắt lại là trong tôi lập tức ký
ức tự nó xoay mình lui về theo lối cũ, gạt toàn bộ cõi đời
thực hôm nay ra rìa cỏ. Biết bao kỷ niệm bi thảm, bao
nhiêu là nỗi đau mà từ lâu lòng đã nhủ lòng là phải
gắng cho qua đi, rốt cuộc đều dễ dàng bị lay thức bởi
những mối liên tưởng tuồng như là không đâu nảy sinh
một cách khôn lường từ muôn vàn những chi tiết tầm
thường, rời rạc và vô vị nhất có thể có trong chuỗi bất
tận ngày qua ngày nhạt thếch, buồn tẻ và êm đềm đến
phát ốm này.
Cách đây không lâu trong mơ tôi đã trở lại với
truông Gọi Hồn. Dòng suối, con đường mòn, những
tràng trống và những bìa rừng xưa lấp loáng nắng pha
mưa. Và xa xa ở trời Tây Nam bốn mỏm cao màu rêu
đá của Ngọc Bơ Rẫy sừng sững. Từ bức sơn thủy tĩnh
lặng ấv~ giấc mơ lần mở từng trang. Suốt đêm tôi sống
lại với cuộc đời của trung đội trinh sát, từng ngày một,
từng kỷ niệm một, từng người một, lần lượt từ từ rành
rọt như những thước phim quay chậm. Và cảnh chót là
cảnh ven suối, toàn trung đội tập hợp trước nấm mồ
của Thịnh "con!', vào buổi chiều trước lúc nhổ neo rời
Cánh Bắc.
'!- Thịnh ơi, nằm lại nhé với đại ngàn thân yêu? Bọn
mình ra đi để bước vào trận mới - văng vẳng tôi nghe
giọng nói của chính mình chiều hôm xưa ấy, thay mặt
toàn trung đội nói lời từ biệt hương hồn Thịnh - từ lòng
sâu đất ẩm xin bạn thân yêu hãy nghe thấu lời anh em
vĩnh biệt. Xin hãy chứng giám và phù hộ cho anh em
tung hoành trong đồn bốt quân địch hoàn thành nhiệm
vụ Xin hãy lắng nghe tiếng súng anh em rửa thù cho
bạn rồi đây sẽ rung chuyển đất trời...".
ôi năm tháng của tôi, thời đại của tôi, thế hệ của
tôi! Suốt đêm nước mắt tôi ướt đầm gối bởi nhớ nhung,
bởi thương tiếc và cay đắng ngậm ngùi.
Một đêm khác, cũng trong mơ, tôi nhìn thấy truông
Gọi Hồn và mơ thấy Hòa, cô giao liên xinh tươi, người
Hải Hậu đã hy sinh vào thuở tối tăm mù mịt năm 68,
và lần gặp gỡ trong mơ này hầu như là lần duy nhất
chúng tôi thoáng bóng nhau sau ngần ấy năm trời
người còn kẻ mất. Trong màn sương mù đặc của giấc
mơ, tôi chỉ thấy Hòa thấp thoáng, xa vời nhưng với một
tình yêu, một niềm đắm say và cảm giác gần gũi da
diết mà ngay hồi đó tôi không hề cảm thấy. Hồi đó chỉ
có nỗi sợ hãi, sự bất lực đầy nhục nhã, cảm giác chiến
bại và trạng thái rã rời tuyệt vọng. Suốt đêm tôi trôi
dạt trong bể khổ thời Mậu Thân. Khi tỉnh dậy thì ngoài
cửa sổ trời đã tảng sáng, và lưu ảnh cuối cùng đọng
trong tâm trí là cảnh tượng đau thương rùng rợn ấy:
Hòa gục ngã giữa tráng cỏ và đằng sau bọn Mỹ xô tới,
vây xúm lại, trần trùng trục, lông lá một bầy như
những con đười ươi, phì phò thở, giằng giật, nặng nề
hộc rống lên. . . Toàn thân tôi lạnh giá nhưng đẫm mồ
hôi, cổ họng đau rát vì mê hoảng la hét, môi rớm máu,
cúc áo ngủ đứt tung, ngực bị móng tay cào xoạc da. Và
trái tim tôi run rẩy nhói đau, hồi hộp đập dồn như treo
trên đầu sợi chỉ.
Trở về sau chiến tranh, cho đến tận bây giờ, tôi đã
phải chịu đựng hết hồi ức này đến hồi ức khác, ngày
này qua ngày khác, đêm thâu này thấu đêm thâu kia
thử hỏi đã bao năm ròng?
Nhiều hôm không đâu giữa phố xá đông người tôi đi
lạc vào một giấc mơ khi tỉnh. Mùi hôi hám pha tạp của
đường phố bị cảm giác nồng lên thành mùi thối rữa. Tôi
tưởng mình đang đi qua đồi "Xáo Thịt!! la liệt người
chết sau trận xáp lá cà tắm máu cuối tháng Chạp 72.
Tử khí xộc lên từ vỉa hè nồng nặc đến nỗi tôi phải vội
đưa tay lên bịt mũi như kẻ hóa rồ trước mắt người qua
đường. Có đêm tôi giật mình thức dậy nghe tiếng quạt
trần hóa thành tiếng rú rít rợn gáy của trực thăng vũ
trang. Thót người lại trên giường tôi nín thở đợi một
trái hỏa tiễn từ tàu rà phụt xuống. !!Chéo-éo-éo...
Đoành?" Và tôi không thể nào bình tâm nổi trước cảnh
bọn lính Mỹ mặc áo giáp đang gào lên xung trận trên
màn ảnh truyền hình. Tôi như sẵn sàng nhập thân trở
lại với cảnh lửa, cảnh máu, những cảnh chém giết
cuồng dại, méo xệch tâm hồn và nhân dạng. Thói hiếu
sát Máu hung tàn. Tâm lý thú rừng. Yù chí tối tăm và
lòng dạ gỗ đá. Tôi chóng mặt choáng hồn đi vì niềm
hưng phấn man rợ khi bật sống dậy trước mắt một trận
cận chiến bằng báng súng và lưỡi lê. Và trống ngực nện
thùm thùm, tôi nhìn chằm chằm vào các góc tối cầu
thang nơi các hồn ma rách nát thường vẫn hiện hình,
ôm theo những vết thương đỏ lòm, toác hoác.
Thì ra cuộc đời tôi kỳ thực có khác nào con thuyền
bơi ngược dòng sông không ngừng bị đẩy lui về dĩ vãng.
Đối với tôi tương lai đã nằm lại ở phía sau xa kia rồi.
Và không phải là cuộc sống mới, thời đại mới, không
phải là những hy vọng về tương lai tốt đẹp đã cứu giúp
tôi mà trái lại những tấn thảm kịch của quá khứ đã
nâng đỡ tâm hồn tôi, tạo sức mạnh tinh thần cho tôi
thoát khỏi vô tận những tấn trò đời hôm nay. Chút
lòng tin và lòng ham sống còn lại trong tôi không
phải do những ảo tưởng mà là nhờ sức mạnh của
những hồi tưởng.
truy nhiên, mặc dù rất đỗi mù quáng tôi vẫn không
thể không biết rằng không thể trông đợi gì vào những
điều nhớ lại, rằng từ lâu đã không còn gì nữa cả, tất cả
đã tắt hẳn và mất hút một cách không thương tiếc. Tôi
cũng không thể không hiểu rằng ngôi sao chiếu mệnh
của thời tôi đã vĩnh viễn lụi tắt. Vinh quang của cái
thời đã qua ấy dầu rằng tột đỉnh nhưng chỉ một sớm
một chiều. Hào quang choáng ngợp buổi đầu sau chiến
tranh đã chóng vánh mai một trong từng thân phận.
Những người đã chết đã chết cả rồi, người được sống
tiếp tục sống song những khát vọng nồng cháy từng là
cứu cánh của cả một thời, từng soi rọi cho chúng tôi nội
dung lịch sử, thiên chức và vận hội của thế hệ mình,
rủi thay đã không thể thành ngay hiện thực cùng với
thắng lợi của cuộc kháng chiến như chúng tôi hằng
tưởng. Đến bây giờ, đến lúc này đây, bạn hãy xem thực
chất quanh ta có gì khác hơn ngoài cuộc sống tầm
thường và thô bạo của thời hậu chiến?
Và như thế là đằng đẵng bao nhiêu năm trời rồi trôi ~
qua? Mười năm. Rồi mười một. Rồi mười hai, mười ba
năm. Ngay cả cái tuổi bốn mươi ngày nào xa lạ và khó
tin biết mấy cũng chỉ còn lại nốt mùa đông này.
Từ chân trời dĩ vãng ngọn gió buồn vô hạn của tình
yêu và tự do như là niềm tiếc nuối không nguôi cứ mãi
hoài thổi mãi qua thành phố, qua làng mạc, và trong
đời tôi
Kiên buông bút, đưa tay tắt ngọn đèn bàn khẽ ẩy
ghế ra đứng dậy, lặng lẽ đến bên cửa sổ. Trong phòng
rất lạnh nhưng anh thấy tức thở, oi bức, khó chịu như
thể đang trước một cơn giông giữa một đêm hè. Cảm
giác không toại nguyện đắng ngắt. Dường như cứ càng
nhích gần tới thì ngòi bút của anh càng chệch xa khỏi
cốt lõi của điều cần đạt tới trong tác phẩm.
Mỗi buổi tối, trước khi ngồi vào bàn giở bản thảo ra
bao giờ Kiên cũng gắng chuẩn bị cho mình một tâm
trạng thích hợp - anh cố tách bạch từng cảm xúc, cố
định hình các vấn đề phức tạp như là phác sẵn ra trong
đầu từng trang và từng trường đoạn cần phải viết xong
trong thời gian nhất định. Đại để nhân vật của anh sẽ
làm gì, nói gì, sẽ gặp những cảnh huống nào đều phải
có tính trước. Thế nhưng thường thường đà viết đã
cuốn trôi đi hết mọi dự định hoặc xáo trộn lên làm mất
trình tự và mạch lạc mà Kiên mong muốn. Khi đọc lướt
lại bản thảo, anh ngỡ ngàng và kinh hãi thấy điều mà
mình vừa khẳng định ở trang trước đã bị phủ định ở
trang này. Và các nhân vật của anh không ngừng tự
mâu thuẫn. Tuồng như càng trăn trở anh càng trượt
nhanh khỏi vấn đề làm anh trăn trở.
Nhiều đêm ngồi bên bàn viết anh miệt mài theo đuổi
một ý tưởng nào đó, bám theo nó từng dòng, từng trang
vật vã với nó, dằn vặt đầu óc bởi nó, để rồi rốt cuộc chợt
nhận thấy rằng hóa ra là nói chung mình chẳng có một
ý tưởng nào cả, hoặc giả có thì ý tưởng ấy vẫn là một
cái gì hoàn toàn mờ mịt, vẫn nằm ở ngoài bản thảo, ở
ngoài tầm với của tâm hồn anh, tuồng như nó còn lạc
sâu trong miền bất khả trì của cõi lòng, miền của
những bí quyết và năng lực tinh thần có thể là bẩm
sinh song rất có thể chẳng bao giờ bộc lộ, mãi mãi chỉ là
tiềm ẩn.
Anh viết ra dường như chỉ để mà hủy. Nỗi xót xa
tiếc rẻ công sức và tâm lực bị phí hoài cùng nỗi lo sợ
mãi mãi giẫm chân tại chỗ không thắng nổi bệnh cầu
toàn đầy oan nghiệt. Gạch, xóa, gạch, xóa, và xé, xé
sạch, rồi lại cặm cụi viết, nhích dần từng chữ như thể
một gã i tờ đang học đánh vần. Nhưng dù sao Kiên
cũng chưa bao giờ sẵn sàng đón nhận cái khả năng là
mình chẳng hề có chút tài năng nào, thậm chí cả năng
khiếu cũng không. Anh tuyệt vọng nhưng không khi
nào là hoàn toàn tuyệt vọng. Anh viết, anh chờ đợi, rồi
lại viết, lại chờ đợi, nôn nóng, căng thẳng, đầy những
kích động thái quá của nội tâm, sống một mình với
những cảm xúc của mình, anh lao động, lao động không
ngừng và già đi trông thấy. eo lẽ Chỉ nhờ mềm tin kỳ
quái vào bản thân mà Kiên vẫn đứng ng sau chừng
ấy thất bại, vẫn kiên trì nuôi giữ cái linh cảm về những
thành quả sẽ tới với quá trình sáng tạo nghệ thuật
của mình.
Tuy nhiên từ khi bắt tay vào tiểu thuyết tâm trạng
Kiên như mấp mé bờ vực. Bên cạnh niềm hy vọng và
lòng tin vào thiên chức của mình, anh như luôn ngờ vực
sự sáng suốt của chính mình. Anh không còn dám chắc
vào bản ngã trong anh nữa. Mặc dù hết trang này sang
trang khác, chương này sang chương khác, song càng
viết Kiên càng âm thầm nhận thấy rằng, tuồng như
không phải là anh mà là một cái gì đấy đối lập, thậm
chí thù nghịch với anh đang viết, đang không ngừng vi
phạm, không ngừng lật ngược tất cả những giáo điều
cùng tất cả những tín niệm văn chương và nhân sinh
sâu bền nhất của anh. Và hoàn toàn không cưỡng nổi,
mỗi ngày Kiên một dấn mình thêm vào vòng xoáy của
nghịch lý hiểm nghèo ấy của bút pháp. Ngay từ chương
đẩu tiên cuốn tiểu thuyết của anh đã buông lơi cốt
truyện truyền thống, không gian và thời gian tự ý
khuấy đảo không kể gì đến tính hợp lý, bố cục bấn loạn,
dòng đời các nhân vật bị phó mặc cho ngẫu hứng.
Trong từng chương một Kiên viết về chiến tranh một
cách rất tùy ý như thể ấy là một cuộc chiến tranh chưa
từng được biết tới, như thể đó là cuộc chiến của riêng
anh. Và cứ thế, nửa điên rồ Kiên lao vào chiến đấu
lại cuộc chiến đấu của đời mình, một cách đơn độc,
phi hiện thực, một cách cay đắng, đầy rẫy va vấp và
lầm lạc.
Thế nhưng dẫu có biết mười mươi là rồi sẽ đại bại
Kiên cũng chẳng sao dừng được. Sau những truyện
ngắn và những truyện a, giờ đây cuốn tiểu thuyết
dầu tay cực kỳ bấp bênh và còn vô cùng dang dở này
như là một cuộc phiêu lưu cuối cùng trong cả cuộc đời
làm lính của anh, đồng thời cũng là một sự thách thức
nghiêm trọng nhất đối với sự sinh tồn của anh không
chỉ trên tư cách là một người cầm bút. Sự nghiệp bút
nghiên đã đưa thẳng Kiên tới bờ cao dốc đứng của cuộc
sống, không còn cách gì lẩn tránh hoặc lần lữa, cũng
không hề có một phép màu, một cứu cánh nào...
Nhưng trên tất cả mọi lý do, thú thật còn phải kể tới
một ý tưởng lạ lùng đã ăn vào Kiên từ nhiều năm.
Ngấm ngầm anh tin mình tồn tại ở đời này với một
thiên mệnh vô danh, thiêng liêng và cao cả, song tuyệt
đối bí ẩn. Chính bởi thiên mệnh ấy mà anh có một tuổi
thơ như thế, một tuổi hoa mền, một thời chiến trận
như thế và tóm lại một cuộc sống như đã sống suất bốn
chục năm qua với những đau khổ và hạnh phúc như
thế. Cũng vì mang trong đời một định mệnh huyền cơ
nào đấy nên anh mới có thể sống sót qua cuộc chiến
tranh với những hoàn cảnh mà bình thường ra không
thể có cơ hội thoát chết. ánh sáng trong suốt và hình
bóng vô hình của một thiên mệnh như thế thực ra đã
từng biểu hiện trong đời anh nhưng thoảng lướt và bất
chợt đến nỗi không bao giờ anh kịp hiểu, không bao giờ
kịp níu giữ. Nó nhói lên, lóe sáng và phụt tắt như ánh
sao băng. Lần đầu tiên Kiên cảm thấy sức mạnh bí ẩn
của mệnh trời soi rọi trong anh không phải là trong
chiến tranh mà vào những ngày mới hòa bình khi anh
tham gia đoàn thu nhặt hài cốt từ sĩ. Sức mạnh đó
từng nhói lên trong anh, thôi thúc anh vượt qua bao
hoàn cảnh tối tăm của đời sống thời bình, nó nuôi giữ
lòng tin, lòng ham sống, tình thương yêu. Anh chưa bao
giờ hiểu được, thậm chí chưa bao giờ cảm nhận nổi
thiên mệnh ấy, chỉ biết nó tồn tại trong anh âm thầm
bí ẩn êm ả và đau đớn một cách không thể nhận thức
được Tuy nhiên theo dần năm tháng tâm hồn anh càng
ngày càng chín muồi hơn cái khát vọng thể hiện thiên
chức thiêng liêng huyền bí của đời mình, chí li thì cũng
nắm bắt được nó, gọi được nó lên thành lời.
Vào một mùa hè cách đây đã dăm năm, trên
đường lãng du, Kiên tình cờ láng qua thị trấn Nhã
Nam, và cũng hoàn toàn do tình cờ thôi mà từ thị trấn
anh đã rẽ vào thăm Đồi Mơ, xóm nhỏ ngày xưa. Hai
mươi năm về trước, tiểu đoàn tân binh của anh đã chốt
ở vùng này ba tháng trời, huấn luyện và an dưỡng, chờ
ngày lên đường "đi Bê dài".
Tuy nhiên dường như chưa một ngày nào của hai
chục năm trường ấy đã trôi qua. Cảnh vật y nguyên
như thể bị thời gian bỏ sót. Những đồi thông, đồi sim
mua, đồi cỏ giành giành, cỏ đuôi chồn, những rừng dẻ,
rừng bạch đàn quạnh vắng, đìu hiu, nhà cửa thưa thớt,
mỗi đồi một nhà và vẫn buồn thảm không khác gì xưa.
Không định trước, Kiên rời đường cái rẽ vào đường rất
mỏng chìm trong cỏ vòng quanh Đồi Mơ tìm đến túp
nhà của mẹ Lành, mẹ nuôi của bọn anh, ba đứa trong
tổ tam tam ngày ấy.
Túp nhà vẫn đó và hệt như thuở ấy: tường đất, mái
gianh, với mảnh sân hẹp và khoảng vườn um tùm cỏ.
Bên thềm giữa những bụi cây hoang tàn cái giếng nước
với cái ròng rọc kêu ken két vẫn đấy. Mẹ nuôi của anh
đã qua đời. Bây giờ một mình một bóng sống trong túp
nhà xưa ấy là Lan, con gái út của bà cụ: Chị nhận ngay
ra Kiên, chị nhớ cả cái biệt hiệu "thần sầu' trứ danh
của anh hồi đó nữa. Vậy mà Kiên thậm chí không hề
nhớ là đã từng có một cô bé nào đó sống ở đây hồi ấy.
"Lúc ấy em mới chưa đầy mười ba, vẫn đang chú cháu
với các anh. . . mới lại con gái đồng rừng xấu xí nhút
nhát...", chị nói. Nhưng bây giờ trước mắt anh là một
thiếu phụ mảnh dẻ, cặp mắt to đượm buồn và vẻ quyến
rũ thầm lén.
Chị ứa nước mắt khi được Kiên cho hay rằng, Quang
và Hùng, hai người cùng tổ tam tam với anh đều đã
nằm lại trong chiến tranh. "Thời buổi ác nghiệt - Chị
nói - và dài quá là dài, cuốn đi mất biết bao nhiêu là
người... bao nhiêu là lượt tân binh đã về đóng ở nhà
em, gọi mẹ em là mẹ, coi em là em, thế mà chỉ mỗi anh
trở lại Hai anh trai của em, các bạn học của em và cả
anh ấy nhà em nữa đều lứa đàn em của các anh, đi bộ
đội sau các anh bao nhiêu năm, nhưng chẳng ai thoát
về được cả"
Chị đưa anh lên đồi viếng mộ bà mẹ. Sau trận mưa
chiều màu cỏ xanh mướt nước trên Đồi Mơ thắm hồng
ánh đỏ của ng ráng. Dưới đồi có con sông chảy lượn
qua và qua những đám cỏ rậm rạp từ trên đồi có thể
nhìn thấy loáng thoáng từng quãng sông uốn khúc lấp
lánh ánh phản quang. Kiên thắp nhang, cúi đầu hồi
lâu trước mồ bà mẹ nuôi, bất lực cố hình dung nét mặt
của bà.
- Giá kể hồi đó người ta hẵng gườm gượm, báo tử lần
lượt thưa ra thì có khi mẹ em vẫn còn sống được tới giờ.
Không may là bấy giờ lại hòa bình a xong nhưng
chuyện chết chóc họ muốn dứt khoát đâm thành ác
nghiệt. Nhè cũng một ngày, buổi sáng buổi chiều mà
gửi hai cái giấy báo hy sinh hai anh trai của em. Mẹ em
thật như là bị xô ngã, mê thiếp đi, bằn bặt suốt ba ngày
không một lần hồi tỉnh. Mẹ mất đi chẳng nói một lời,
anh ạ...
Bên mồ bà cụ là nấm mộ nhỏ nhoi của con trai Lan,
Lan kể, không khóc:
- Thằng cu nhà em đẻ ra nặng những gần bốn ký thế
mà chỉ sống được có hai ngày. Cháu tên Việt, họ Nông.
Anh ấy nhà em người Tày, quê tít đâu trên mạn ngược
Hà Giang. Về đóng ở đây được có non một tháng nên
chúng em nào đã kịp cưới xin, cả đến báo cáo cấp chỉ
huy cũng chưa. Đi được nửa năm thì có thư về cho em,
cơ mà không phải anh ấy viết, người cùng tiểu đội viết.
Báo tin rằng anh ấy đã hy sinh trên dọc đường qua
Lào... Thằng cu Việt con em còn trong bụng mẹ đã mồ
côi cha, có nhẽ vì thế nên cháu chẳng muốn sống. . . Đấy,
nông nỗi đời em như thế đấy anh ạ. Mỗi năm mỗi xiêu
đi Em cứ ở vậy. Quanh quẩn trong nhà ngoài đồi.
Chẳng để ý tới ai, chẳng ai để ý tới, mà cũng lạ từ sau
đợt đơn vị nhà em, Đồi Mơ này không có thêm đợt bộ
đội nào về nữa. Rồi thì hòa bình rồi tới hôm nay, bao
năm rồi...
Chị lưu anh lại tối hôm ấy. Suốt đêm. Đêm hè ngắn
ngủi. Văng vẳng tiếng cuốc kêu gọi ngoài xa, mé rừng.
Và rì rẩm bên kia đồi dòng sông trôi.
Hôm sau Kiên ra đi từ sáng sớm. Lan tiễn anh qua
đồi Họ đi bên nhau, lặng lẽ. Mặt trời đang lên, sương
vã dần. Sau một đêm gương mặt Lan gầy đi, thâm
quầng.
- Đã có lần em định đi kinh tế mới bỏ hẳn đất này vào
Nam sinh cơ lập nghiệp - Lan nói, giọng buồn buồn -
Nhưng không dứt lòng mà đi nổi. Trên kia, hai bà cháu
nằm đấy. . . với lại chẳng hiểu sao em lại cứ nán chờ, chờ
mãi, chẳng biết là chờ gì, chờ ai. Không lẽ là chờ đợi
chính anh?
Kiên không thốt nổi nên lời, mắt nhìn tránh đi.
Chả hiểu sao em lại nhận ngay ra anh. So với hồi
ấy nom anh khác hẳn... Mới lại hồi ấy em còn nhỏ oắt.
Hay, anh là tình đầu của em mà em không hay.
Kiên gượng cười, lòng thắt lại. Gần tới đường cái,
anh dừng bước. Nắm nhẹ một bàn tay của Lan anh
nâng lên, cúi xuống, áp môi, chầm chậm hôn rất lâu.
- Em ở lại, bình yên sống, đừng buồn nhé, em mến
thương! Đừng nghĩ xấu về anh.
âu yếm, Lan vuốt vuốt vai áo anh và hôn lên mái tóc
của anh đã điểm bạc.
Đừng bận về em. Đời anh rộng mở, hãy đi và hãy
sống cho thỏa... còn em, em sẽ nuôi con nuôi, sẽ sống
bình yên, Giá kể có được với anh... nhưng không, thì
cũng gì mà buồn. Coi như cả anh cả em, ta một lần
được trở về với hồi trước, khi tất cả người thân yêu còn
sống... Còn nói ví dụ, tức là em cũng cứ nói phòng thế,
bỗng dưng một ngày nào anh gặp cảnh ngộ không may,
thấy đã hết ngả để đi tiếp thì xin anh hãy nhớ ngay
rằng, dù sao cũng còn một nơi, cũng còn một người...
Đồi Mơ đây là nơi anh đã lên đường chiến đấu lập
nghiệp, mai sau nếu anh muốn cũng sẽ là một nơi, một
chốn anh về.
Kiên ôm lấy Lan, riết vào ngực.
- Thôi anh đi đi kẻo muộn. Em sẽ nhớ anh mãi. Còn
anh đừng quên hẳn em nhé, anh thân yêu tình cờ của
em!
Những bãi cỏ ven đường đã ngập nắng. Bóng Kiên
ngả dài. Anh bước đi, đẩu cúi xuống. Bầu trời mùa hạ
cao xanh, buồn bã. Khi anh ngoảnh lại, Lan còn đứng
đó trông theo. Nhưng một lần nữa, anh ngoái nhìn,
bóng Lan đã khuất sau đồi.
Mấy năm sau, một chiều nọ, cũng đang hè, trên
đường từ biên giới trở về Hà Nội, chiếc com măng ca
chở Kiên và nhóm phóng viên trong tòa soạn chạy chéo
qua ngả Bắc Giang, miền bán sơn địa nhấp nhô đồi gò,
khe lũng và những vạt rừng thưa. Trong xe dần dần chỉ
còn Kiên thức cùng người lái. Gió lướt dài mát rượi.
Hai bên đường từ các khe ngòi um tùm hơi đất mềm
mại lan ra, toàn bộ không gian đất trời tĩnh lặng một
khối lam chiều hoang vắng. Trong lòng Kiên chợt thấy
nao lên một nỗi buồn đơn giản, xót xa choáng ngợp.
Phải, chính là ở đây. "Vẫn còn một nơi, vẫn còn một
người!! - Lời ước hẹn buồn bã và vô vọng ngày nào vẳng
lên gợi cho anh nhớ rằng cuộc đời mình thế là đã hết
rồi, đã hết cả chút dư âm cuối cùng. Bao nhiêu quãng
đời yêu dấu với bao người thân yêu nay đều đã biệt tăm
tích mà anh chẳng hề lưu giữ được gì, đã để phí hoài
tất cả Có thể nói rằng trong nhiều năm qua anh đã
sống mà chẳng hề ngoái nhìn lại. Không có dịp và cũng
chẳng có nhu cầu, ngày tháng công việc cứ xô trào lên
che lấp hết. Giờ thì đã muộn mất rồi. Anh nhắm mắt
lại và một cảm giác nghén nghẹn lìm lịm lặng lẽ dìm
tim anh xuống. Tuy nhiên không phải là niềm tuyệt
vọng. . .
Chiều hôm Ấ~T, thật kỳ lạ, kỷ niệm về Đồi Mơ, về mối
tình đầu vô danh đêm ven đồi năm nào trỗi dậy trên
đường xa đã đồng thời làm tỉnh lại trong anh ý thức về
một thiên mệnh đầy thôi thúc. Thôi thúc một cách tha
thiết và u buồn. Đời anh rộng mở: hãy đi và hãy sống...
Đấy, cần phải viết về chiến tranh trong niềm thôi
thúc ấy, viết sao cho xao xuyến nổi lòng dạ, xúc động
nổi trái tim con người như thể viết về tình yêu, về nỗi
buồn, sao cho có thể truyền được vào cuộc sững đương
thời luồng điện của những cảm xúc chỉ có thể diễn đạt
bằng quá khứ của quá khứ, Kiên nghĩ. Mặc dù cố nhiên
chiến tranh không hề là như vậy. Chiến tranh...
Nhưng vì sao anh lại chọn đề tài chiến tranh và vì
sao nhất thiết phải là đề tài ấy? Trong chiến tranh,
cuộc sống của anh, của bao người khác thật kinh
khủng, thậm chí khó có thể bảo đấy là cuộc sống nói gì
đến sự tìm kiếm những sắc thái nghệ thuật trong cuộc
sống đó. Và chính anh chứ chẳng phải ai khác cho đến
tận ngày hôm nay vẫn không tài nào bước vào rạp
chiếu bóng để xem những bộ phim trong đó người ta
nhè đầu nhau mà khạc đạn. Không những thế văn
chương về chiến tranh, tất nhiên là văn chương của
người khác, anh hết sức tránh đọc. Thú thật là anh cực
kỳ khiếp hãi những thiên truyện ấy. Thế nhưng bản
thân anh thì lại thế, một mực sống chết viết mãi không
chán những súng nổ bom rơi, những mùa khô mùa
mưa, rồi quân địch, quân ta. Anh không thể viết khác,
mai sau ví dụ có viết khác đi thì cũng là bởi vì thâm
tâm luôn muốn viết về chiến tranh sao cho khác trước.
Đôi khi cũng toan một hướng mới nào đó nhưng ngòi
bút lại chẳng tuân theo. Như là khi bắt đẩu cuốn tiểu
thuyết đầu tay này Kiên đã dự định một cốt chuyện
hậu chiến và vì thế chương thứ nhất anh viết về những
người đi thu hài cốt tử sĩ, những người lính sắp giải
ngũ để trở về với đời thường. Song một cách không thể
cưỡng lại, các trang bản thảo dựng dậy hết cái chết này
qua cái chết khác, dần dần đi sâu mãi vào những cánh
rừng nguyên thủy của chiến tranh, lặng lẽ nhóm lên
mãi cái lò lửa tàn khốc ấy của ký ức. Vậy mà thực ra
anh có thể viết bao nhiêu chuyện có lẽ chẳng dính dấp
gì tới trận mạc, bởi vì cũng như mọi người ngày nay
anh nhìn cuộc đời đâu phải chỉ từ mặt Oâ cửa duy nhất
nào dó.
Chẳng hạn về thời thơ ấu, thời thơ ấu vô cùng hạnh
phúc và vô cùng buồn đau trước chiến tranh còn rất
nhiều kỷ niệm chưa phai nhòa, anh nghĩ là mình hoàn
toàn có thể viết với niềm tuyệt hứng "... Tôi sinh ra và
lớn lên... cha tôi mẹ tôi lúc sinh thời...'!, đại khái thế.
Mà tại sao không viết về cuộc đời của cha và cả về thế
hệ của Người nữa, một thế hệ vĩ đại và bi thảm, đầy
những hoài bão và đầy những không tưởng, mang nặng _
những phẩm chất và những tình cảm cao quý mà ngày
nay đã bị thế hệ của anh làm cho vĩnh viễn mai một.
Cứ mỗi lần nghĩ lại tuổi thơ, nhớ đến cha bao giờ Kiên
cũng cảm thấy ân hận, dường như anh đã yêu thương,
tôn kính cha chưa đủ mức một người con, anh đã biết
quá ít, hầu như không biết gì cả những năm tháng cuộc
đời cha. Anh đã chẳng nhớ gì mấy nữa về tấn bi kịch
gia đình, không biết vì sao cha mẹ lại chia tay, không
biết rằng cha mẹ đã đau khổ như thế nào. Về mẹ thì
anh càng ít hơn... Và lạ lùng là anh lại rất nhớ người
chồng sau của mẹ, một nhà thơ tiền chiến đã ẩn danh
và đã về già Kiên đã một lần và chỉ một lần duy nhất
đến thăm ông ở ngôi nhà nhỏ gần Chém có cửa sổ nhìn
ra đê sông Hồng. Mùa đông ấy anh vừa mười bảy tuổi,
cha thì mới qua đời, còn mẹ thì mất từ mấy năm trước
đấy hơn năm năm rồi. Trước ngày nhập ngũ, Kiên đến
để từ biệt dượng. ấn tượng thật khó quên. Ngôi nhà
xám xịt, cũ kỹ. Những ngọn gió lạnh lẽo vô định làm
nghiêng ngả ngọn phi lao nhô lên sau mái nhà nằm lọt
giữa khu vườn thê lương trơ trụi chiều đông. Cảnh sinh
hoạt trong nhà nghèo nàn lộ liễu. Bàn thờ bụi bặm,
tấm hình mẹ lồng trong khung kính rạn nứt. Chiếc
giường ọp ẹp. Bàn làm việc bừa bộn sách vở, ly chén.
Cuộc sống độc thân rời rã, đắp đổi qua ngày của dượng
làm anh mủi lòng. Nhưng bản thân dượng cố giữ một
phong độ trái ngược với tình cảnh. Tóc bạc trắng, lưng
hơi còng, rõ ràng là đang rộc đi vì một chứng bệnh nào
đó, tay run run, mắt mờ, trang phục tàn cũ nhưng
không luộm thuộm và ông cư xử với anh một cách thân
mật, hào hứng mà lịch thiệp. ông pha trà ngon mời
anh, dưa thuốc cho anh hút, nhìn anh với vẻ buồn
buồn, và nói với anh bằng giọng hết sức dịu dàng:
- Thế có nghĩa là con sẽ ra đi đánh trận? Không phải
là ta muốn cản con đâu, ta đã già mà con thì còn trẻ,
ngăn chí con làm sao nổi, chỉ muốn con thật thấu hiểu
lòng mình. Nghĩa vụ của một con người trước Trời Đất
là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời
một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ...
Không phải là ta khuyên con trọng mạng sống hơn cả
nhưng mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự
thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì
đấy Với lại, con ạ, mẹ con, cha con và cả ta nữa chỉ có
mình con ở lại trên đời nên ta mong con hãy sống và
hãy trở về. Cuộc đời còn rất dài với bao nhiêu hạnh
phúc và lạc thú phải hưởng của con kia có ai sống hộ
cho con được bây giờ?
Ngạc nhiên và không đồng tình nhưng Kiên cảm
thấy tin cậy những lời lẽ của dượng. Anh tự thấy gần
gũi với suy nghĩ của ông mặc dù không hoàn toàn hiểu.
Anh cảm nhận ở ông một trí tuệ sâu sắc, đa dạng với
một tâm hồn lãng mạn và nhiệt thành theo lối tình
cảm chủ nghĩa thời xưa, mơ mộng ngọt ngào, giàu nhạy
cảm nhưng dường như rất ngây thơ, thiếu thiết thực và
vô bổ, thậm chí lầm lạc. Và bất chợt anh hiểu được
rằng vì sao mẹ đã từ bỏ cha con anh để đến với người
đàn ông tâm tình yếu đuối này.
Suốt chiều anh ngồi bên ông trong căn phòng mà
trước đây mẹ đã từng sống và đã qua đời. Và buổi chiều
mùa đông ấy đã trở thành hầu như kỷ niệm duy nhất
của anh về người mẹ mặc dù trong kỷ niệm đó không
hề thoáng lên hình bóng của bà. Còn dượng, sau khi
đọc cho anh nghe mấy câu thơ về tình yêu ông đã sáng
tác từ thời trai trẻ, liền lấy đàn ghi ta treo trên tường
xuống rồi bắt đầu hát bằng giọng trầm một bài hát của
Văn Cao mà ông bảo ngày xưa mẹ anh hằng ưa thích.
Bài hát chầm chậm, buồn buồn gợi nhớ những người
thân yêu đã khuất, tiên cảm những ngày mai bất hạnh
song lại như khuyên nhủ đừng nên vô vọng, đừng mãi
mãi sầu thương, đừng nhiều lời than tiếc vì như thế
chẳng ích gì mà hãy sống, hãy sống...
Vào bộ đội, khi còn sống ở Nhã Nam, Kiên đã viết
thư cho dượng, nhưng không nhận được hồi âm. Mười
năm sau sống trở về anh đi tìm nhưng chỉ được biết
rằng dượng đã mất từ lâu. Còn ngôi nhà nọ thì không
ai nhớ đã bị san đi từ bao giờ.
Một con người như thế đấy và một câu chuyện như
thế và còn bao nhiêu chuyện khác, bao nhiêu người
khác nữa trong đời anh. Những người thân quen và
những người xa lạ, đã chết hoặc còn sống, những
chuyện cầm chắc là có thật lẫn những chuyện chẳng rõ
thực hư. Có lần, một người đàn ông lạ mặt và không
chịu xưng tên đã đến tìm Kiên ở tòa soạn đề nghị được
thông qua anh hiến cho văn học nước nhà mối tình của
hai vợ chồng ông ta, !'Chỉ cần đồng chí hư cấu một cái
tên cho tôi và một cái tên cho bà nó nhà tôi, còn xin là
cứ giữ nguyên tất cả. Vâng, xúc động và bi thảm lắm
ạ", ông ta bảo thế. Nhạt nhẽo, vớ vẩn và mất thì giờ, có
lẽ thế thật, song bản thân lòng tự tin của ông ta, nhất
là cái ước muốn có món quà phi thường để tặng bà vợ
đau yếu nhân kỷ mềm ba mươi năm lễ thành hôn
chẳng phải một chuyện tuyệt vời hay sao? Nói chung
bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào cũng có thể cảm nhận được
một điều gì đấy để viết một cái gì đấy về bất kỳ ai đấy
chẳng phải là như thế đó sao? Bởi vì, từ cuộc sững phức
tạp ẩn đằng sau vẻ bình thường dung dị, định hình cho
được một nét dù là cực nhỏ nhưng thực sự đáng ghi lại,
đấy quả là một trời những khả năng sáng tạo mở về
muôn hướng.
Chẳng hạn, Kiên nghĩ, tại sao lại không viết tiểu
thuyết về cái cộng đồng kỳ thú những người hàng xóm
ở tầng trên, tầng dưới và ở chung tầng với anh trong
ngôi nhà này? Có thể nói rằng, thật là một bản hòa tấu
của những khuôn mặt và những cuộc đời. Những
chuyện - tuyệt nực cười cũng có mà cũng có những nỗi
buồn đau xé lòng diễn ra hàng ngày, hàng ngày chung
đụng, chen chúc sống quần tụ trong ngôi nhà nhiều hộ
này. Nhất là vào những buổi tối mùa hè mất điện nóng
như hầm phải ra sân ngồi hóng gió tới khuya, hoặc
những khi cùng bà con chầu chực trước cái vòi máy
nước độc nhất cho cả ba tầng tứ mùa khốn khổ khốn
nạn tóc tách từng giọt, còn thiếu chuyện gì nữa về đời
sống trong nhà ngoài phường mà Kiên chưa được nghe.
Người ta kể chuyện rằng bà giáo Thủy ở tầng một góa
chồng từ ngoài dôi mươi, ở vậy nuôi con suốt bấy nhiêu
năm giời, nay sắp sửa về hưu và cũng sắp sửa có cháu
ngoại rồi, bỗng dưng phải lòng ông Tư bán sách ở đầu
phố, cả hai ông bà đều cố giấu nhưng giấu nổi ai bởi
giữa họ rõ ràng là tình yêu chứ có phải là tình gì mà
che giấu nổi, hẳn hoi là sẽ chuốc lấy khổ. Hay như
chuyện nhà cường ở tầng ba, bữa nọ anh chồng rượu
vào lên cơn hùng hổ toan dạy vợ, không ngờ trông gà
hóa cuốc nhè ngay đầu bà mẹ đẻ ra mình mà hạ đo ván.
Mới đây nhất là chuyện ông Tánh tầng hai, đại úy
quân nhu về vườn, do quá nghèo khổ, gia đình lại lục
đục băm bổ đay nghiến nhau từng bát cơm, sinh quẫn
ông toan tự tử một lần bằng thừng, một lần bằng thuốc
trừ sâu nhưng đều bị người ta phát giác cứu sống. ấy
vậy mà tình cảnh của ông đại úy vẫn còn khá so với
nông nỗi bà cụ Sen mù lòa góa bụa, mẹ của hai liệt sĩ bị
vợ chồng anh cháu họ lập mưu cướp mất nhà và đẩy cụ
vào nằm chết trong sở điên Trâu Quỳ. Mà anh cháu họ
của cụ không chỉ giàu có, anh còn thông minh tài cán,
tính tình xởi lởi, tốt nghiệp đại học kinh tài, hay đi
nước ngoài, biết hai ngoại ngữ. Mỗi khi đi làm về anh
thường ăn thật no, nghỉ ngơi thoải mái hơn người rồi
sau đó trên mình bận pizama anh ngồi trước cửa sổ Ơï
lên liên hồi và ngáp to để vơi sầu. Chị vợ anh làm gì đó
ở tòa án, một con người trang trọng, đuồn đuỗn, môi
luôn mím chặt, chưa hề ban cho ai một lời chào hỏi gọi
là Trong khi đó thì Bảo, con của ông bà Bình bác sĩ ở
tầng ba, vốn là một '!trừ!! có thâm niên cao ở Hỏa Lò,
mới vừa được ân xá hồi đầu năm, lại nhanh chóng được
bà con trong căn nhà cảm thông, thương mến. Phạm tội
giết người lãnh án tử hình, hạ xuống chung thân, ngồi
đã ngót hai chục năm rồi nhưng nom Bảo không có vẻ
gì là một phần tử như vậy, trái lại con đường zê-rô
dằng dặc suốt thời trai trẻ tạo ra cho Bảo một dáng dấp
chay tịnh như thể vẻ chay tịnh của một đời chân tu.
Chỉ một thời gian ngắn sau khi ra tù, con người nguy
hiểm này đã làm cho bà con dân phố phải ngạc nhiên
trước tâm tính dịu hiền, tấm lòng chân thực trong
sáng, ngây thơ và khắc khổ thể hiện ở từng cử chỉ, từng
lời ăn tiếng nói của anh. Chỉ có điều nom Bảo quá
buồn. Đôi mắt buồn. Nụ cười hiền hậu cũng buồn khôn
xiết, buồn đến nỗi mỗi khi bắt gặp nụ cười ấy ai nấy
không khỏi thấy lòng mình se lại.
Nghĩa là, chỉ riêng một khúc cực ngắn chảy qua một
ngôi nhà này mà dòng sông cuộc sống đá thác ghềnh đã
ngoắt ngạo và đã là muôn vẻ như vậy rồi. Bao nhiêu
chuyện đời. Bao nhiêu cuộc đời. Lũ trẻ sinh sôi ra như
nấm sau trận mưa, lớn lên và trưởng thành, người lớn
thì già đi, từng năm hao dần từng tuổi. Cuộc đời của
các thế bệ tựa hồ những đợt sóng.
Cuối mùa hạ vừa rồi, "cố" Dụ - người thợ cạo vĩ đại
của Hà thành đã qua đời, thọ chín mươi bảy tuổi. CỐ là
cụ già cuối cùng của thời trước chiến tranh, khi Kiên
còn bé, đã sống được tới ngày nay.
Cả Ngọc hoàng lẫn Diêm vương nhất định không cho
ta rốn nốt ba năm cho tròn một thế kỷ của riêng ta -
Giọng đã mất âm sắc, hơi thở phều phào mà cố vẫn
gượng nói riêng khi Kiên vào thăm - Những chuyện đời
hay nhất ta còn chưa kể. . . nhưng anh cháu nhà văn
hãy gắng dựng lên vì ta một vở "người thợ cạo thành
Hà Nội" nhé... Từ dưới đó ta sẽ lần lên xem công diễn...
CỐ hành nghề tóc tai từ thuở người đàn ông Hà Nội
còn trĩu sau ót cái búi tóc cổ lỗ của tổ tiên, và cố tự hào
nói: dưới bàn tay của ta một vạn ba lượt mái đầu và bộ
mặt đã được mỹ hóa, từ xù xì, thô lậu thành đẹp đẽ,
thơm tho như tảng đá được điêu khắc thành con người.
Trước chiến tranh, con cháu và cả các chắt của cố đều
quây quần chật ních xung quanh cố, và dù không ai
theo nghề tông đơ dao kéo song tất cả đều nhiễm bệnh
thợ cạo, đều giống cố ở nét xởi lởi hay chuyện, hay tán
dóc pha trò, hay lam hay làm, lập thành một đại gia hiền
lành, vui vẻ và hơi buồn cười. Trong hồi ức tuổi thơ của
Kiên có lẽ không thể thiếu âm điệu giòn tan của chiếc
kéo diệu kỳ trong tay cố, không thể thiếu các giai thoại
cố kể và giai điệu ngang phè của La Mác-xây-e cố hát
bằng tiếng Tây bồi.
Đối với Kiên vang vọng lâu bền nhất của cuộc sống
đã qua là tiếng rì rầm của cuộc đời thường chứ tuyệt
nhiên không phải là tiếng rền động của các biến cố thời
chiến, mặc dù cái đời thường xa xưa ấy đã bị bão tố lật
trời của chiến tranh quét sạch. Như là gia đình cố Dụ
xưa đông vui thế mà sau chiến tranh cố như là người
đàn ông duy nhất. Như là gia đình ông Huynh có ba
con tử trận, như là Sinh, thương binh cột sống, bán
thân bất toại... Nhưng tất cả những gì bị chiến tranh
nghiền nát thì dư âm lại bền lâu, bền lâu hơn tất cả các
tàn tích của chiến tranh và chinh biến.
Bao bạn bè đồng lứa với Kiên trong chung cư đã ra
đi mà không trở về song ngôi nhà vẫn đây, hình bóng
của họ vẫn đấy. Đời sống của những người hy sinh còn
vương hình bóng trên gương mặt của các thế hệ sau.
Kiên nhớ tới Hạnh, người phụ nữ độc thân từng sống
trong căn phòng nhỏ sát chân cầu thang mà bây giờ
thuộc gia đình ông Sự. Chẳng hiểu vì sao giờ đây ở nhà
này ít người còn nhớ tới Hạnh, càng không mấy ai nhớ
nổi rằng Hạnh đã rời khỏi nhà này từ năm nào ' và đi
đâu vì sao mà đi.
Hạnh hơn tuổi Kiên, hơn chừng nào chẳng biết. Chỉ
biết khi anh còn oắt con thì đám đàn ông trong phố đã
nhiều tay bê bết cuộc đời vì Hạnh. Người ta ẩu đả nhau
vì cô Bọn trai bên số chẵn đánh nhau chí chết với bên
số lẻ để có thể tiếp cận cửa phòng Hạnh. Mỗi lần thấy
cô đi qua với dáng mềm mại trẻ trung đung đưa toàn
thân, õng ẹo uể oải thì các bậc nam nhi trong phố đều
nhất loạt đứng sững, dán mắt nhìn theo, người thì với
vẻ si ngốc, người thì cặp mắt rực lóe lên như sắp văng
ra những tàn lửa thèm khát. Các bà các chị thì vừa
ghét vừa sợ. "Đồ ớ ?" Họ chửi sau lưng Hạnh - ĐỒ giăng
há? Con ma chài! Song cả sự thù ghét lẫn cả lòng say
mê của mọi người đối với Hạnh, Kiên thấy đều phi lý.
Cậu thấy Hạnh là một người hàng xóm như những
người khác, "Chào chị ạ!', gặp Hạnh, Kiên lễ phép chào.
'!Chào chú em, ngoan quá?", Hạnh đáp, chỉ thiếu điều
xoa đẩu cậu. Ngày tết chị mừng tuổi Kiên như lì xì bất
cứ đứa bé nào trong chung cư. Những đồng năm hào
loạt soạt mới tinh với lời chúc học giỏi. !!Chúc cậu em
học hành tấn tới... Năm nay ra dáng lắm rồi. Nhưng coi
chừng chỉ giỏi giang cơ bắp thôi là thành đồ ngốc đấy
nhé, cậu em?!'.
Nhưng rồi cũng đến lúc Hạnh phải đổi cách xưng hô,
khi ấy Kiên đang học lớp mười, mười bảy tuổi. Thời
gian đó chiến tranh đã ngấp nghé. Thăng Long vẫn phi
chiến địa đạo song đã có sơ tán, có đào hầm, nghe còi
báo động và phải mặc áo sẫm màu. Hôm ấy, buổi trưa,
vừa đi học về, đang ngồi ăn cơm, Kiên thấy Hạnh hé
cửa ló đẩu vào nói:
- Này chú em, chiều nay xuống giúp chị một cái tăng
xê nhé. Chị muốn có sẵn một cái trong giường để đêm
có còi khỏi phải chạy ra đường. Có được không?
- Vâng, rồi em sẽ xuống.
Đấy là lần đầu tiên Kiên vào buồng của người đàn
bà trẻ tuổi độc thân ấy. Phòng nhỏ, bài trí giản dị
nhưng đẹp và gợi cảm. Kiên muốn khuyên chị không
nên phá mất vẻ hài hòa trong phòng nhưng cậu tặc
lưỡi ở góc buồng phía chân giường đơn của Hạnh, cậu
nạy lên chừng chục viên gạch hoa rồi dùng xà beng
chọc thủng móng nhà. Sau đó dùng cuốc chim và xẻng.
Từng tý đá, tý gạch một, moi dần lên.
Hạnh dọn một bữa cơm tối rất ngon có cả bia chai để
thết Kiên. Cơm xong, chẳng nói năng gì, cảm thấy lúng
túng lạ, Kiên hì hục đào tiếp ngay. Mất điện phải thắp
đèn dầu. Kiên đào, còn Hạnh thì xách các xô đất đá ra
đổ ở góc vườn sau. Hai chị em làm, im lặng, lầm lùi.
- Có lẽ được rồi chị ạ, - Kiên nói, thở dốc - Lút ngực
em thì có lẽ chị quá cằm rồi. Có khi là sâu quá cũng nên.
ừ, thôi thôi. Nhưng để chị xuống thử xem đã. Có
khi còn phải nhờ em xẻ hộ cho mấy bậc để lên xuống
cho nhanh.
Bình thường nhìn Hạnh không thấp hơn Kiên nhưng
khi cùng đứng dưới hố cá nhân trong căn phòng mập
mờ sáng tối để thử độ sâu thì chị chỉ cao đến cằm cậu
bé, vóc người mảnh mai của chị như lọt thỏm vào thân
hình chẳng ngờ lại cao lớn, vạm vỡ và đàn ông đến thế
của cậu. Cảm nhận được điều đó, vừa chạm chân xuống
đáy hố, Hạnh như bất giác rùng mình và hớt hải toan
co mình vọt trở lên miệng hố. Nhưng hố quá sâu, và
hơn nữa do lòng hố quá hẹp nên cái rùng mình của
Hạnh như luồng điện truyền vụt sang Kiên. Toàn thân
đột ngột sững sờ như thể điện giật, cứng lại trong một
nỗi tê dại mà trong đời cậu cho đến khi đó chưa từng
cảm thấy bao giờ, Kiên thở hực lên. Lần đầu tiên cậu
cảm thấy không phải bằng mắt mà bằng cả thính giác
sự sát kề bên mình một tấm thân phụ nữ, mùi da thịt
ngây ngây của đôi vai, của cặp vú mát rượi mồ hôi dưới
lần áo mỏng.
Ngờ nghệch và rối loạn, run lên vì choáng xốc Kiên
chụp lấy Hạnh, choàng ôm, hung dại hôn lên cổ, lên
vai. Hạnh âm thầm vùng quậy, chống tay vào ngực
Kiên cố ẩy ra. Vụng về, Kiên ấn hai vai Hạnh, ép vào
bờ đá.
Cúc áo đứt phựt, và vải bị rách xoạc ra như thể một
làn roi quất dọc lưng Kiên. Kinh hoàng cậu sực tỉnh,
lập tức thả Hạnh ra và đu người vọt lên miệng hố, toan
chạy. Chiếc đèn dầu đổ nghiêng vụt tắt.
- Kiên? - Hạnh gọi khẽ, hớt hải - Chạy đi đâu... Sao
lại thết Cho mình lên với.
Run rẩy, Kiên cúi xuống xốc vai Hạnh kéo nhấc lên.
Cái áo mỏng vừa bị rách toạc lại rách thêm. Hạnh
quàng tay lên cổ Kiên, thì thầm hổn hển:
- Hẵng lên trên nhà một lát... rồi trở xuống đây.
Mình sẽ . . . Mình cần nói với Kiên điều này. . .
Kiên trở lên phòng. Tắm táp, thay quần áo, nhưng
không dám xuống. Song không ngủ được, trằn trọc.
Tảng sáng bất ngờ cậu ra khỏi phòng, đi chân không,
rón rén bước xuống cầu thang, rón rén bước tới bên cửa
buồng Hạnh. áp mặt vào cánh cửa gỗ, cậu đứng lặng,
trống ngực nện thùm thùm, không dám gõ. Nhưng...
chợt cậu nghe thấy rất nhẹ tiếng chân bước trong
phòng, rồi dường như cái móc cài cửa được nhấc lên
thật khẽ. Nín thở. Kiên cảm nhận thân mình Hạnh
đang áp nhẹ vào bên kia lần cửa gỗ. Run run, cậu để
tay lên nắm đấm bằng sứ.
Nhưng nhiều giây, rồi có lẽ nhiều phút đã qua, vẫn
tịnh không một tiếng động cả ở bên trong lẫn bên ngoài
cánh cửa. Đột nhiên Kiên buông tay khỏi nắm đấm,
bước lùi một bước rồi ngoắt người vụt chạy lên cầu
thang, xô về phòng, vật xuống giường.
Nhưng, thế là từ đấy Kiên tránh giáp mặt Hạnh.
Khi chạm nhau không thể nào lánh mặt thì cúi gầm
xuống cậu lí nhí: "Chị..." Hạnh nhìn, khẽ đáp: "Chào
em", và luôn luôn như thể muốn nói thêm nữa một điều
gì mà rồi không bao giờ nói.
Một thời gian sau, khi Kiên nhập ngũ thì Hạnh đã
vào Thanh niên xung phong và đã đi sâu vào Khu Bốn
từ nhiều tuần trước. Ngày Kiên trở về, buồng chị đã có
người khác ở. Chiếc hố sâu đào ngày nọ tất nhiên chẳng
còn mảy may dấu vết trên nền gạch hoa. Bỗng dưng
một nỗi buồn làm Kiên chìm ngập vào trong thời thơ
au.
!! rồi trở xuống đây. Mình sẽ... Mình cần nói với
Kiên điều này . . . " .
Mãi mãi trong lòng Kiên lưu giữ thầm lặng một tình
cảm biết ơn đầy tha thiết và ngậm ngùi đối với chị. Mãi
mãi ấy là niềm nuối tiếc và là một nỗi đau mất mát lớn.
vậy mà tuyệt nhiên chưa bao giờ Kiên định rằng sẽ
viết một cái gì đấy về kỷ niệm này.
Và còn bao nhiêu kỷ niệm khác nữa, bao nhiêu con
người, bao nhiêu số phận suốt đời anh không thể quên
song cũng sẽ suốt đời anh không thể viết được lên
thành truyện. Không bao giờ có thể, thực thế, dù là
trong kiếp này hay là kiếp sau . . .
Thở dài, Kiên áp mặt vào tấm kính cửa lạnh ngắt,
nặng nề đưa mắt nhìn sâu vào ngoài đêm. Chẳng nhìn
thấy gì nhiều lắm. Cây bằng lăng trước nhà ngọn dâng
cao lên quá cửa sổ buồng anh, cành lá ướt nhóng nhánh
xòe che các Oâ kính.
Dưới đường, những ngọn đèn khuya sáng rải thành
một rẻo rời rạc nhòa mờ luồn trong lưới mưa đan, chạy
xa hút về khoảng trống của hồ nước ở cuối phố. Bên kia
lòng đường bóng đêm lay động theo những vòm cây tối
đen làm hiện lên dập dờn những mái nhà, nhọn và tù.
Suốt dọc phố hầu như không còn một khuôn cửa sáng
đèn, không một bóng xe cộ cũng tịnh không một bóng
bộ hành.
Vào lúc không giờ này thành phố yên ắng đến độ
tưởng chừng như có thể nghe thấy cả tiếng mây trôi và
tưởng chừng như cõi thực đã lui khỏi thế giới nhường
lại cõi trống không cho hằng hà miên man những ảo
giác
Hà Nội của anh mỗi giờ mỗi vẻ khác nhau nhưng Hà
Nội nhất vẫn là Hà Nội giờ khuya, Hà Nội mưa rơi, Hà
Nội như chính lúc này đây khi mà các đường phố trở
nên gần như hoang vu ướt át và cô quạnh, lạnh lẽo, da
diết buồn.
Hồi xưa, ngủ rừng với tiếng mưa sa trên vòm lá
nhiều tầng không hiểu sao Kiên đặc biệt hay nằm mơ
thấy Hà Nội mùa đông những đêm tối trời, suốt đêm
gió thổi, mưa rơi, lá rụng. Bây giờ như để đáp lời những
giấc mơ thùa ấy, khi đêm xuống đứng bên cửa sổ lặng
nhìn màn mưa giăng mờ mặt phố anh thường bất giác
mường tượng ra trước mắt cảnh rừng mưa. âm vang
mênh mang buồn của những đại ngàn năm xưa vươn
qua biển mái nhà nhấp nhô, tràn lên tiếng rì rầm của
phố xá canh khuya, dội tới triền miên như sóng vỗ, như
ký ức xô bờ . . .
Năm ấy, Kiên nhớ, ở Hà Nội xuất hiện một mùa
xuân giả. Ban ngày nắng hửng trời quang, không gian
thoáng đãng êm ả tựa như đã là trời của tháng tư,
tháng năm rồi vậy. Các hàng cây trụi lá mùa đông đã
xanh rì lá mới, không còn chút nào vẻ tiêu điều. Trong
công viên bừng rộ hoa nở và các loài chim di trú lại trở
về gây tổ dưới những mái nhà. Thế nhưng thời tiết thì
kì thực là còn lâu mới vượt qua nổi khúc quanh tăm tối
nhất trên con đường hầm. Và cứ khoảng xế chiều là da
trời lại xám ngăn ngắt. Gió lạnh lùa dọc phố, mưa
phùn lại bắt đầu rơi, lại nỗi nao buồn.
Phương đã bỏ ra đi từ đầu mùa đông. Không có tin
tức gì cả, chẳng thư từ gì hết như thể là nàng đã quyết
một đi không trở lại. Cửa giả bên buồng nàng im lìm
khóa trái, có vẻ như sẽ không bao giờ còn mở ra nữa.
ấy là lần đầu tiên kể từ ngày gặp lại nhau sau chiến
tranh Phương đã ha đứt khỏi anh mà đi theo kiểu như
thế, đột ngột, đau đớn và độc địa như thế.
Kiên rộc đi. Nhìn vào gương mà giật mình: tóc tai
râu na, hốc mắt, gò má, những nếp nhăn, vẻ suy tàn...
Ngay cả giọng nói cũng như lạc khác đi, như thể lại
một lần nữa vỡ giọng, nằng nặng buồn phiền. Cái nhìn
của anh làm nản lòng người. Một cái nhìn chằm chằm
mà chẳng nhìn gì cả, trống rỗng, vô cảm... mà vì sao cơ
chứ, diều gì đã xảy ra, duyên do nào?
Bấy giờ, tuồng như chán ngấy nền học vấn, Kiên
thôi không đến lớp nghe giảng nữa, lặng lẽ và vô cớ kết
liễu mất của mình cuộc đời sinh viên suôn sẻ. Sách vở
chẳng buồn đụng tới. Báo chí không đọc, mọi nhẽ đời
đều để buông xuôi, sống hoàn toàn là được không hay
chớ. Dửng dưng, Ơ hờ, thu mình trong vỏ, chẳng chơi
bời giao du, chẳng thiết tha tâm tình trò chuyện cùng
ai. Và mặc kệ rằng luôn luôn cạn tiền liên miên anh
cần rượu. Thuốc lá đốt không ngừng. Và dù hết sức
kém chịu rét, dạo đấy anh bắt đầu ham đi lang thang
trong khuya, rất ít ngủ. Những giấc ngủ nặng trịch
như bị đổ chì.
Trong mơ thi thoảng mới chợt thoáng thấy Phương
còn thường thì anh chỉ rặt mộng thấy những chuyện
điên rồ, những điều dễ sợ biến tướng của mềm cô đơn
và nỗi đa sầu. Đôi khi là những ác mộng rợn người,
kinh khủng như những liều thuốc độc. VÔ vàn những
ám ảnh từ những đời nảo đời nào trong chiến tranh
tưởng rằng đã phải yên ngủ từ lâu như thể được truyền
phép ma mà hùa theo nhau thức cả dậy. Tâm hồn mỗi
ngày một thêm hoang phế, tranh tối tranh sáng, vật vờ
toàn những hồn ma bóng quỷ. Vào những đêm xuân giá
rét ấy những cô hồn thân thuộc lên tiếng thì thầm trò
chuyện với anh, lên tiếng rên rỉ và thở dài. Các tử thần
xanh tái lỗ chỗ vết đạn cúi xuống như muốn soi bóng
vào giấc ngủ của anh.
Đã bao đêm như thế, Kiên choàng tỉnh bắt gặp mình
không phải đang ở trên giường mà vật vã, dụi do dưới
sàn nhà nước mắt ướt mặt, run lên vì lạnh, vì khiếp
đảm, vì tê dại trong lòng một mềm thương thân não
nùng và vô duyên cớ. ở ngoài cửa sổ gió bấc rít dài.
Mưa vỗ ràn rát trên mái hiên. Hơi ẩm trong phòng
quánh lại. Kiên quờ tay tìm công tắc điện nhưng những
đêm ấy thường là cả đến ngọn đèn cũng không còn tinh
lục mà sáng lên nổi.
Anh đã gắng quên Phương, đã cố hết sức. Chỉ dở là
không tài nào quên nổi và dở nhất là vẫn cứ âm thầm
mong ngóng. Tất nhiên, anh biết, tất cả rồi sẽ trôi qua,
không có gì có thể là vĩnh cửu trong thế giới ngày nay,
kể cả tình yêu và kể cả nỗi buồn trong lòng một người
đã đứng tuổi rồi như anh. Và anh cũng biết những giằn
vặt những khổ sở của mình là nhỏ bé xiết bao, vô
nghĩa nữa, chẳng khác nào tà khói mong manh trong
bầu trời cuộc sống. Song le...
Người ta kể rằng, trong mùa xuân năm ấy, một đêm
nọ, từ quán rượu ra Kiên đã dắt theo về phòng một ả
"cà phê xanh" một trong những hồ ly tinh nổi tiếng
nhất của suốt rẻo bờ Thuyền Quang và Bẩy Mẫu.
Nhưng suốt đêm anh ả chẳng ngủ nghê, họ bảo thế,
không làm tình, chỉ cùng nhau uống rượu, cùng nhau
trong sự hòa hợp đến mê mụ... Đêm ấy lạnh ngang đêm
đại hàn. Kiên đi bộ qua hồ Ha le. Trong bóng tối dưới
vòm cây gạo ở góc hồ, một cặp đang giằng co nhau. Gã
đàn ông thình lình rút từ lưng quần ra một con dao
găm lưỡi mỏng, sáng lạnh người. Không đâu hấp tấp
nhảy xô vào can thiệp, Kiên đấm gã nọ lộn úp mặt
xuống rãnh cùng, rồi chặn một chiếc xích lô lại, kéo đại
cô gái nhào lên xe với mình và thúc ông xế già phóng
tạt đi trước khi cảnh sát ập tới.
Anh giai biết em gái là đứa thế nào không mà dám
mời vào vòm?
Khi anh bật đèn trong phòng lên, cô bé nhoẻn cười
dọa. Mới mười chín tuổi là cùng, nhỏ nhắn, ngang tàng
nhưng xanh xao phờ phạc, cô ăn mặc phong phanh và
rõ ràng là bị đói.
Anh giai ra đòn siêu thật. Chưởng ấy phải mấy
ngàn tuy rằng đánh trộm. Đêm nay coi như anh khỏi
phải chi gì thêm...
CÔ không nói nổi hết câu. Dù sao thì cũng không thể
không nhận ra nhau. CÔ tái người đi, vai so lại run rẩy.
Cũng cả vì đói và rét quá nữa. Kiên lục chạn. Chỉ còn
nửa nồi cơm nguội với chút mỡ. Anh châm bếp dầu lên,
rang cơm.
ăn xong, cô bé uống trà, hút tàn một điếu thuốc rồi
lẳng lặng tới bên giường từ từ cởi quần áo, vừa cởi vừa
xo ro, cười gượng gạo, nửa hoang mang nửa như thẹn
thùng. Khi cô cúi xuống để lột manh áo lót qua đầu,
mảnh lưng ốm yếu trắng xanh của cô sởn gai ốc và trồi
lên từng đốt sống, nom rõ mồn một, có thể đếm được.
Liếc Kiên một cách e lệ, cười cười một cách nhợt nhạt
và nhút nhát, cô bé ruồi mình vào chăn bông, miệng
thốt rên trong khoái cảm ấm áp đê mê thư giãn. Đoạn
cô thiếp đi. Khi chợt mở mắt cô lạ lùng thấy Kiên vẫn
ngồi bên bàn hút thuốc.
- Em hút mấy, anh...!
Kiên châm một điếu đưa cô và ngồi xuống ở bên
giường. Thời gian tích tắc lặng trôi, cả hai cùng im
lặng, im lặng chịu dựng nỗi oái oăm bất hạnh. Kiên
chẳng nhớ nổi tên cô và cô, hẳn rằng cũng vậy. Mà
cũng chẳng biết nói gì, nói gì cũng chạm đau, cũng khía
vào lòng cái nhục nhã, cái ê chề và báng hổ của tình
cảnh này. Nhưng ký ức đã dần dần xích họ lại. Ký ức
chung về Vĩnh, người anh trai của cô bé và là người bạn
cùng trung đội trinh sát với Kiên thuở nào, đã nằm lại
ở chân đèo Ma Đơ Rắc. Ký ức về một buổi chiều mùa hè
sau chiến tranh khi Kiên mang một số di vật của Vĩnh
đến thăm gia đình cô. Cái xóm nhỏ ven thành phố
nhưng mà đói nghèo thảm hại nổi lên giữa một vùng dở
đầm lầy dở bãi rác. Lũ trẻ ốm o rách rưới. Đàn chó bẩn
thỉu chạy rông. Ruồi muỗi chuột bọ, mùi hôi thối kinh
hồn và những ngọn gió cực kỳ tanh tưởi. Dân xóm nửa
phần đi ăn mày, nửa phần chuyên nghiệp bới rác nhặt
giấy vụn và chạy đồ ăn cắp. Nhà của gia đình Vĩnh
cũng như mọi nhà khác trong xóm, nhếch nhác, tối
tăm, chằng đụp, vá víu, nhớt nhát. CÔ bé này khi đó
mới chừng mười lăm tuổi nước mắt lưng tròng, thút
thít, sụt sịt dỡ các thứ trong chiếc ba lô cóc bẹp dúm
của Vĩnh ra cho bà mẹ mù lòa rờ rẫm vuốt ve. Một bộ
quần áo lính tàng nát. Chiếc mũ tai bèo. Con dao xếp.
Cái bát sắt. Cây sáo trúc đã nứt toác. Cuốn sổ tay. Khi
Kiên cáo từ, bà cụ đưa tay khô gầy rờ rờ lên má anh và
nói như để an ủi anh:
- Biết làm sao được hả con... Mọi sự đều có "duy vật"
cả E in nó không về nhưng các con về. . . !
- Mẹ, mất ngay trong năm ấy. Em cũng bỏ đi, thôi
nghề rác từ năm ấy. Mà bây giờ cũng chẳng còn Xóm
Rác, chỉ còn bãi rác. . .
cô bé bắt đầu kể, và Kiên cũng bắt đầu kể. Những
kỷ mềm buồn ngắt.
Mãi đến tảng sáng thì như giật mình sực nhớ, cô
nàng giở hé chăn ra và kéo kéo tay Kiên, miệng cười
yếu ớt Đời ơi là đời!
- Không, - Kiên nói - Đừng...
- Nhưng... Anh đã đánh nhau vì em.
Kiên lắc đầu.
Hôm ấy có sẵn bao nhiêu tiền, Kiên dốc hết cho cô.
Anh cộng thêm vào món tiền một bộ năm vé xổ số mới
mua. CÔ bé bật cười, hì hì.
Anh tiễn cô đi một đoạn phố. Đến bên hồ Thuyền
Quang dừng lại, cô bảo: ~
- Thôi. Anh lặn đi. Em cũng lặn đây. Không đời nó
thấy nó lại chửi anh. Em sẽ nhớ anh mãi. Anh thật
buồn cười.
- ừ, Kiên bảo, nắm nhẹ tay cô - Em đi nhé!
Anh định nói thêm nữa nhưng chẳng biết nới gì. Chẳng
cần phải nhắc đến V anh. CÔ bé rút tay ra và quay đi.
Kiên nhìn theo, khô cằn, già nua, bất lực và tầm
thường biết bao cuộc đời anh những năm tháng này.
Anh chẳng biết dùng đời anh vào chuyện gì nữa.
Việc học hành, sự thành đạt, đường tiến thân tất tật
những gì mà khi từ chiến tranh trở về anh coi là trong
bỗng chốc trở thành bèo bọt cả. Nhưng một kế sinh
nhai tắm tạm anh cũng chẳng màng. Vẫn sống đấy, tồn
tại, vẫn có mặt nhưng sâu xa về mặt tinh thần thì Kiên
đã đầu hàng rồi trước cái không gì cả của cuộc đời và số
phận.
ấy vậy mà chính lúc bấy giờ, trong mùa xuân đấy,
đâu đâu cũng sôi sục bầu không khí hừng hực chủ
nghĩa anh hùng và nhiệt tình ái quốc. Chiến tranh đến
nơi rồi, sắp có những bước ngoặt và những đột biến cho
mọi cuộc đời. Những người tưởng rằng biết rõ Kiên đều
khuyên anh nên tái ngũ. Binh nghiệp ở Việt Nam mình
là muôn năm, người lính luôn luôn là có giá, họ bảo thế.
ở ngoài phố, trên tàu điện, trên xe buýt, trước các
quầy hàng, trong công sở, trong tiệm cắt tóc và cả
những nơi bàn trà, quán nhậu thiên hạ mê mải với rặt
những tin thời sự súng đạn. Có cảm giác là ngay cả
những cặp ôm nhau bên Hồ Tây trong gió mưa rét
mướt cũng không khỏi thủ thỉ sự tình hai biên giới.
Đêm đêm, trên tàu tốc hành quân lính không ngừng
trẩy qua thành phố. Xe tăng, đại bác nhiều cơ man xếp
dọc các toa sàn, còn trong các toa đen thì đầy nghẹt bộ
đội Từ các cửa toa mùi mồ hôi lính quen thuộc phả
xuống. Mùi của gian khổ, của tuổi trẻ trĩu nặng lửa ~
đạn, đói rét, sương gió. "Cảnh tượng y hệt mười lăm
năm về trước, thuở 64, 65 đầu thời đánh Mỹ - Những
ông thị dân sang trọng tấm tắc. Dĩ nhiên là so với thời
đó bây giờ ta mạnh hơn, hùng tráng và chắc thắng
hơn gấp bội lần" .
có lẽ là như thế thật. Kiên cũng chẳng biết nữa.
Anh do dự. Đã đành là đánh nhau thì phải đánh nhau
thôi một khi không còn cách nào khác, nhưng dù sao
thì... Trai đất Việt thực ra không ham chiến trận ìắm
đâu như người ta hay đồn, hăng chiến phải nói là mấy
ông trí thức tuổi sồn sồn bụng to chân ngắn. Còn với
dân chúng, cơn binh lửa vt~ rồi đã đủ đau thấu tới
ngàn năm. Tuy nhiên nói vậy chứ cũng chẳng biết là
thế nào. Có thể là bởi vì đối với Kiên muôn thuở chỉ có
duy nhất một cuộc chiến tranh kia, một cuộc chiến
tranh chẳng những mãi mãi đè nặng, mãi mãi ám ảnh
mà về thực chất nó còn là nguyên nhân của mọi khúc
đoạn và nông nỗi của đời anh, kể cả hạnh phúc, kể cả
đau khổ, niềm vui và nỗi buồn, tình yêu và oán hờn.
Với anh ấy là cuộc chiến tranh cuối cùng. Và dù sao
mặc lòng sự nghiệp thiêng liêng đau khổ của người lính
chống Mỹ sống mãi trong tâm hồn Kiên trước tiên là
như một lời trăn trối. Kiên hiểu rất rõ rằng sứ mệnh
của cuộc đời anh là đến một ngày nào đấy phải nói lên
được nội dung của lời trăn trối ấy, cho dù bản thân việc
nhận thức ra được lời trăn trối đó chẳng mang lại gì
nhiều nhặn cho đời sống hiện tại.
Có thể nói rằng chính trong mùa xuân năm ấy, khi
mà đất nước một lần nữa lại mấp mé bên bờ chiến
tranh, Kiên đã trải qua những ngày bể dâu của tâm
hồn mình. Một cái gì đấy vô cùng lớn lao và vô cùng
trọng đại mà anh chưa hoàn toàn hiểu, chưa đủ năng lực
dể gỏi đích danh tên điều ấy lên đã đồng thời a sụp đổ
vừa được tái sinh trong toàn bộ con người anh. Có thể
đó là tình yêu, là tin lành, là sự thú nhận chân lý?
Và chính trong mùa xuân chiến tranh ấy, một đêm
giá rét anh đã viết nên thiên truyện đầu tay.
Kiên nhớ, đêm ấy dưới tầng một. Trần Sinh, người
bạn học của anh và Phương, đang hấp hối. Sau một
thời gian dài nằm viện, Sinh được đưa về nhà để chờ
chết. Giờ chết đã điểm rồi: mà thần chết lại lần chần.
Đã hơn hai ngày hôn mê mà người bệnh chưa ngừng thở.
Đi bộ đội sau Kiên nhưng bị thương nên Sinh giải
ngũ trước. Thời gian đầu thấy nói Sinh chẳng có vẻ gì
là phế binh. Anh đã định cưới vợ. Nhưng dần dần từ
chân trái lan sang chân phải rồi nửa người Sinh bị liệt.
Dạo Kiên mới về, Sinh còn chống gậy nhúc nhắc được,
sau phải đành nằm bẹp. Các bác sĩ lấy làm lạ không
hiểu vì sao cái vết thương cột sống kinh khủng ấy
không lượm Sinh ngay trong chiến tranh mà nấn ná
lâu thế mới giáng họa. Y học bó tay, họ bảo thế, càng
chữa chạy càng khổ sở và người thân càng điêu linh vì
hầu hạ phục dịch. Ròng rã như thế đã bơn năm giời.
BỐ mẹ Sinh đã qua đời. Người anh trai có gia đình.
Phòng họ ở tầng một, sâu cuối hành lang, tối tăm, ẩm
thấp, cửa sổ hướng trực diện nhà vệ sinh. Kiên đẩy cửa
bước vào. Trong buồng mờ tối. Hai đứa bé và một người
đàn bà hom hem - chị dâu của Sinh, đang ngồi giữa
nền nhà hí húi cắt dán những hộp bìa các tông gia công
cho xí nghiệp bánh kẹo. Không ai ngẩng lên.
- Anh ấy thế nào rồi? - Kiên khẽ hỏi.
- Vẫn thế, còn thở - Bà chị dâu ngán ngẩm đáp - Ai
đến thăm cũng chịu chú ấy giỏi kéo dài.
Nói đoạn chị thở dài đánh sượt. Người ốm nằm trên
một chiếc chõng tre kê giúi trong xó. Kiên lại gần. Mùi
hôi thối lợm giọng. Chăn chiếu bẩn thỉu. Đầu Sinh trụi
hết tóc, đen sạm, quắt queo như cái gộc cây. Mũi dẹt lét
chỉ còn cái sống mảnh như lưỡi dao. Môi má chẳng
thấy, chỉ thấy hai hàm răng và hai hố mắt, không rõ
nhắm hay mở. Kiên cúi xuống, hỏi:
Nhận ra mình không Sinh?
Vẫn nhận ra đấy. Chị dâu nói chõ tới, cơ mà chả
nói nổi, còn hơi nữa đâu mà nói.
- Có ăn uống được gì không?
- Vẫn, nhưng lại tự tháo ra hết. Vậy mà vẫn cứ
gượng. Khổ lắm 'thay!
Kiên ngồi xuống chiếc ghế bên chõng. Chẳng biết nói
gì Ngồi mười lăm, hai mươi phút. Nhìn kỹ mới thấy
tấm chăn chiên nâng hạ chút ít theo một thứ nhịp thở
nào đó. Trong phòng im ắng. Thỉnh thoảng mới nghe
tiếng bà chị dâu lẩm bẩm gì đấy. Huấn, ông anh trai
của Sinh nằm ngáy trên gác xép, chếch bên trên chỗ
Sinh. Khổ thân Sinh, nhà thơ của lớp 10A, đáng thương
thay
Hồi hè, có lần Kiên vào bệnh viện thăm Sinh. Bấy
giờ hy vọng khỏi đã lụi hẳn nhưng Sinh còn cử động
được đôi chút, còn có thể ngồi xe đẩy và đầu óc hoàn
toàn tỉnh táo. Khác với nhiều người mắc phải nan y
cầm chắc sẽ chết, Sinh không tự dối mình về tình trạng
vô phương của bản thân, song anh không rên rỉ, than
thân trách phận, luôn luôn anh cố gắng để không làm
rầu lòng người đến thăm, không tìm cách trút sang bạn
nỗi bất hạnh của mình. Khuôn mặt xanh lướt cố rạng
rỡ, anh cố mỉm cười, và dịu dàng, .với giọng nói yếu ớt,
anh khơi mạch chuyện vãn, chủ động kéo Kiên vào
những mẩu hồi ức học trò, những kỷ niệm về các cô bạn
học, các thầy cô giáo, những ký ức lảng xa cảnh ngộ của
anh. Rồi với vẻ chăm chú hết mức, ngạc nhiên, say mê,
hiếu kỳ, đầy tin tưởng, anh làm như thể hoàn toàn bị
lôi cuốn vào những chuyện Kiên kể. Gật gù, phướn cao
cặp lông mày, anh thẩm thì: "Thế kia à? Tuyệt thật...
Thú vị nhỉ . . . Oà , cô ấy là như vậy đấy, đáng yêu thật . . . à ,
mình nhớ ra rồi, chà, chuyện đó mới thực là nhộn...".
Kiên đẩy chiếc xe lăn đưa Sinh ra vãn cảnh khu
vườn hoa của bệnh viện. Chiều hè yên ả, không khí
thoáng đãng. Những tia xiên khoai màu hồng chiếu dài
lên thảm cỏ xanh um. Kiên dừng xe dưới một cây bồ đề.
- Nắng chia nửa bãi chiều rồi... vườn hoang trinh nữ
khép đôi lá rầu... Đấy, thơ thế mới là thơ chứ, - Sinh
mỉm cười, mắt nheo nheo - vậy mà mình đây đã từng
ôm mộng thành nhà thơ cơ đấy. Đi lính ấy mà, mình
định bụng sẽ trở thành Lê Anh Xuân, tạc vào thế kỷ.
Đấy ước mơ thế đấy... Còn hồi trước nữa thì thú thực
mình đã làm khối thơ tình tặng Phương, chỉ hãi cậu
biết cậu đấm cho thì khốn.
Rồi cả hai cùng im lặng. Chẳng phải nói gì nữa. Hai
người bạn thân thời niên thiếu, sau những năm dài
trận mạc giờ đây trong hai cảnh ngộ ngồi bên nhau,
thầm lặng nói với nhau bằng nỗi lòng, cùng nhau trầm
tư nhớ lại những chuyện xa lắc, những ngày xưa kia.
Kiên đưa Sinh về giường rồi cáo từ. Anh ôm lấy vai
Sinh, hôn lên đôi má gầy hóp, hạnh như đồng của bạn.
- Thỉnh thoảng vào với mình nhé, Kiên ơi... thỉnh
thoảng nhé - Thương thân, bi thiết nín mãi trong lòng,
không còn gượng nổi nữa, Sinh bật nức lên, nghẹn
ngào - Lắm lúc nghĩ cay cực khôn cùng. ước gì có cách
nào tự chết ngay cho chóng cuộc đời. Thân phận những
thằng bị thương như mình bị chiến tranh đoạt mất tự
do có khác nào thân phận nô lệ...
Kiên đưa tay bưng mặt, và không chịu đựng nổi anh
bật đứng dậy bước vội ra khỏi căn buồng nửa nhà mồ,
không kịp chào cả bà chị dâu của Sinh.
Trở lên phòng không cởi áo bông, Kiên nằm ngửa
xuống giường, gác đôi giày đen lấm bùn lên chiếu. Vòng
tay dưới gáy anh trừng trừng nhìn lên trần nhà nẻ rạn,
vàng. Lặng lẽ nước mắt ứa ra, nóng rực và đau nhói.
Đi đâu bây giờ? Làm gì bây giờ?
Anh bật ho như thể buột rên lên nỗi day dứt giằn
vặt, khó hiểu, ám mãi trong lòng.
Kể ra thì sau chiến tranh anh đã từng có được cảm
giác hạnh phúc, chí ít thì cũng là ấn tượng hạnh phúc
của ngày trở về.
Hơn ba ngày đêm rong ruổi dọc đường sắt Xuyên
Việt vào cuối mùa thu năm 76 ấy có thể ví như là chút
niềm vui vớt vát cuối cùng của đời bộ đội. Tuy nhiên
nhớ lại cứ thấy đau đau trong lòng thế nào ấy.
Trên tàu Thống Nhất chuyến ấy toàn là thương phế
binh và lính về vườn. Ba lô ken dày trên giá, võng
chăng dọc ngang lòng toa biến đoàn tàu thành một bãi
khách. Thoạt đầu, tâm trạng chung phải nói là khá
chua chát. Không kèn, không trống, không khúc khải
hoàn thì đã đành rồi nhưng đến một chút đối xử có
trước có sau người ta cũng chẳng buồn giành cho bộ
đội Cảnh chợ chiều nhốn nháo, nháo nhào không khác
gì lại một thứ tùy nghi di tản. Đã thế lại còn kiểm tra
lên, kiểm tra xuống, lục lọi săm soi từng cái túi cóc ba
lô tuồng như người ta cho rằng một núi của cải ở miền
Nam sau giải phóng bị hư hao thất thoát, bị xâu xé,
tranh đoạt, bị hốt vơ cào xúc cho đến sạch sành sanh là
bởi anh bộ đội chứ không phải bởi bọn người nào khác...
Tại các ga mà đoàn tàu dừng bánh các loa phóng thanh
oang oang trút vào tai đám lính đui què mẻ sứt mắt
trắng môi thâm này hàng lô xích xông những lời dạy
'ảo trớ trêu nhất đời nào chống cầu an, chống đạn bọc
lường, chống thói đam mê các tàn tích của xã hội phồn
rinh giả tạo và nào là cần đặc biệt chống tư tưởng công
hấn?
Nhưng anh em công thần biết an ủi nhau, biết biến
ất cả những sự khó chịu thành chuyện đùa, thành lời
giễu cợt, thành chuyện tiếu lâm để cười. Và khi hai bên
đường sắt bắt đầu những quang cảnh thân yêu của
lồng bằng sông Hồng thì ai ai nấy như bơi trong niềm
lạnh phúc. Bao nhiêu ước mơ đã đào sâu chôn chặt giờ
đây thỏa sức cất lên thành lời. Mê mải trong lòng mỗi
người những dự định tươi hồng phi lý về cuộc sống bắt
~tầu từ đây của nền hòa bình vĩnh viễn.
Ngày cuối cùng trên tàu, Kiên làm thân được với
Hiền, chiến sĩ của mặt trận khu 9 đi B từ năm 66, quê
Nam Định, gái chợ Rồng nhưng giọng nói đã ăn đậm
chất Hà Tiên. Đêm, Kiên bế Hiền sang bên võng mình.
Và suốt đêm, trong nhịp tàu dồn dập lắc lư, mặc kệ
rằng xung quanh lính tráng đùa cợt trêu chọc, hai
người thoải mái ôm xiết lấy nhau mà ngủ, cùng nhau
nói mê, thỉnh thoảng thức dậy càng ôm chặt nhau, thỏa
sức hôn hít nhau, sống gấp lên với nhau những cây số
cuối cùng còn vương lại của tuổi thanh xuân chiến hào.
Khi tàu dừng ở Nam Định, Kiên dìu Hiền xuống sân
ga. Anh chực bỏ chuyến tàu để đưa Hiền về nhà. Hiền
cười gạt đi:
- Thôi mà.' Cho thành tro mọi chuyện đi. Vương vấn
làm gì. Mà anh cũng cần phải về gấp xem cửa nhà, xem
còn gì không cho ngày mai sống tiếp chứ. Với xem xem
liệu có còn ai đó chờ đợi mình không? Biết đâu đấy'
- Nhưng, sẽ gặp lại nhau chứ?
- Đời hòa bình biết nông sâu thế nào mà lường, anh.
Có phải là còn chiến tranh, còn trong bộ đội đâu mà
bảo rằng sẽ một điều gì. Thôi, mai rày có nhớ nhau thì
cứ cậy vào run rủi...
Một mình Hiền quay đi, khó nhọc lết tới cửa ga. Hai
vai cô tỳ lên hai chiếc nạng gỗ. Thân hình mềm mại hơi
lệch nghiêng, phướn lên, cô đu người tới trước từng
đoạn, bả vai nhô cao. Gần khuất sau cổng kiểm soát
đông nghịt người, Hiền chợt ngoái đầu lại chăm chú
nhìn Kiên lần cuối. Đôi mắt đen trong sáng nhưng sâu
thẳm nỗi buồn và tâm trạng tan hoang bi đát. CÔ loạng
choạng, lúng túng cất một bàn tay lên vẫy vẫy Kiên,
gượng một nụ cười, rồi quả quyết quay đi biến mất.
Từ đấy về tới Hà Nội đầu tàu như không ngừng hân
hoan thúc lên hồi còi reo vui lanh lảnh: Hạnh phúc,
hạnh phúc... Và các đầu dập nối toa rầm rầm nhắc lại:
Hạnh phúc, hạnh phúc... Càng về tới gần Hà Nội đầu
óc Kiên càng thêm choáng váng, đê mê một cơn sốt nhẹ
nhàng, tim đập rộn lên bởi bao dự cảm mơ hồ, dịu ngọt
và khó tin. Xúc cảm bình yên làm mắt anh mờ lệ.
Khi từ ga Hàng CỎ về đến nhà thì trời đã tối khuya.
Phố phường im ắng. Anh bước vào trong sân. Ngôi nhà
tối sẫm. Các gia đình có lẽ đã ngủ cả nhưng cánh cửa
đầu cầu thang không hiểu hôm ấy sao không cài then
như để hé đấy chờ anh về. Đúng là không ai chờ đợi
anh, không ai cả, Kiên biết... nhưng biết đâu đấy! Kiên
bước lên cầu thang lòng thắt lại trong linh cảm về một
sự bất ngờ đang lặng nín đón rình anh.
Dưới ánh sáng của ngọn đèn vàng vọt, hành lang mờ
tối cánh cửa căn phòng của cha con anh vẫn nguyên
màu nâu thùa xưa, vẫn tấm biển đồng nhỏ khắc tên
cha anh. Mờ mịt, chao đảo, Kiên đứng cơ hồ không
vững, hai tay mỗi lúc một run. Hạnh phúc và nước mắt
thầm lặng dào tuôn.
Chợt có tiếng cửa kẹt mở. Từ căn hộ giáp phòng anh
một người phụ nữ thân hình dong dỏng, bận chiếc áo
ngủ sáng màu bước nhẹ ra hành lang. Nàng nhìn anh.
Một tiếng kêu câm lặng trong ánh mắt. Kiên rùng
mình. Toàn thể cảm giác của anh như thể bị xô
nghiêng đi. Năm tháng rất dài lâu của đời người vụt
thu lại trong chớp mắt này.
Nàng bứt khỏi ngưỡng cửa, ngả người, bước lướt tới.
Kiên hơi cúi xuống. Rất nhanh, mềm mại, tuyệt trần,
hai cánh tay nàng choàng quấn lấy cổ anh.
Kiên?
- Phương... Em~
Mười năm trời ấy một cái hôn dài. Cái hôn bất tuyệt
thấu vào tim, cái hôn mà mãi mãi mỗi người trong họ
còn phải nhớ bởi chưa bao giờ và sẽ không bao giờ cả
hai còn được hưởng một cái gì tột đỉnh cuộc đời đến như
thế nữa. Nàng khẽ cọ má vào môi anh, rồi lặng lẽ áp
mặt vào ngực áo bộ đội thô ráp của anh.
- Phương ơi... Vậy mà, - Kiên thì thào - Mười năm
qua anh nghĩ em không còn sống.
- Vậy ra... chúng mình đã thành luồn ma trong
nhau. . . bởi e ai cũng nghĩ thế. . .
Nhưng, thôi thế là từ nay không bao giờ chúng
mình rời xa nhau nữa, phải không em?
Tuy nhiên không hiểu sao ngay lúc đó, anh đã cảm
thấy những xung động rối ren giữa niềm hạnh phúc vô
bờ lẫn cùng sự hoang mang bấn loạn từ tấm thân yêu
kiều trong vòng tay của mình. Anh cắn răng lại, anh
nghe dường như có những bước chân rón rén nào đó và
có một ai đó đang chứng kiến anh với Phương gặp gỡ
nhau.
Phương mở cúc áo. Chiếc chìa khóa của phòng anh
đính vào sợi dây chuyền, lấp lánh như một cây thập ác
nhỏ trên ngực nàng để hở.
Mắt mờ đi, Kiên mở khóa và đẩy cửa ra. Bầu không
khí trong căn phòng đã nhiều năm trời hầu như thường
xuyên khép kín ùa ra, bao bọc lấy anh như làn hơi thở
cuối cùng của cuộc đời yêu dấu xa xưa.
Đột nhiên, Kiên chộp lấy khuỷu tay Phương, như
thể chực dùng sức du nàng vào trong cửa. Anh đã thoáng
thấy một bóng người đứng ở bên trong cánh cửa phòng
Phương hé mở.
Gương mặt Phương trắng bệch, cái nhìn như lả đi.
Nàng bước theo anh. Nhưng chỉ một bước thôi, một giây
thôi, Kiên cảm thấy Phương đang trì ngón phân xuống
ngưỡng cửa. Anh buông nàng ra. Cúi xuống, anh nhặt
cái ba lô ở ngạch cửa rồi một mình bước vào phòng. Khép
cửa lại.
Chao ôi! Như vậy đấy: Hoà bình, hạnh phúc, ánh huy
hoàng của chiến thắng, ấn tượng êm dịu của ngày trở
về niềm tin đầy đắc thắng về tương lai... Tội nghiệp
thằng bé~ Mỗi lần nhớ lại đêm đầu tiên của cuộc đời mới
sau chiến tranh lòng dạ anh đau nhói, chua xót, không
thể rên lên.
Kiên vùng bật dậy, không ngừng đi đi lại lại trong
phòng. Cuộc chiến tranh thần thánh rốt cuộc đã bù đắp
những mất mát anh đã phải chịu bằng một thứ đời sống
như ngày hôm nay đây. Sau cuộc chiến tranh ấy chẳng
còn gì nữa cả trong đời anh. Chỉ còn những mộng mị
hao huyền. Sau cuộc chiến tranh ấy anh dường như
chẳng còn ở trong một "kênh" với mọi người. Càng ngày
Kiên càng có cảm giác rằng không phải mình đang sống
mà là đang bị mắc kẹt lại trên cõi đời này.
Thẫn thờ, anh ngồi xuống ghế. Bao nhiêu hình ảnh
dồn dập kế tiếp nhau.
Không. Cứ nói rằng số phận không cho một lời mách
bảo nào sau khi chiến tranh kết thúc, song, cái đêm
đầu tiên ấy chẳng là lời mách bảo hay sao? Nhưng cả
anh và cả Phương đều đã cưỡng lại. Để làm gì cơ chứ?
Ngay đêm hôm ấy, Phương sang lại với anh. Người
đàn ông mà nàng đang chung sống và đã định với nàng
một lễ cưới bỏ ra đi lập tức. Mù quáng biết chừng nào,
anh và Phương?
Dù đã dầm mình trong rượu, dù đã hàng trăm lần tự
cầu xin lòng mình hãy lặng yên đi cho, thì trong tâm
trí anh vẫn không ngừng nhói đau những hồi tưởng tan
nát về thời gian sống cùng nhau sau chiến tranh của
anh và Phương. Mảnh đời còn lại sau mười năm bị lửa
đạn của chiến tranh vằm xé lại bị móng vuốt của tình
yêu xéo nát.
Cuộc chung sống làm đổ bể tâm hồn nhau và cuộc
đời nhau mới chấm dứt cách đây không lâu. Trong một
cuộc xô xát ở quán rượu Kiên đã đánh trọng thương
một người tình cũ của Phương. Từ đồn công an, nơi mà
người ta tưởng anh là thằng điên, Kiên mò về gặp
Phương. Anh chẳng nói được gì hết, chỉ trào nước mắt.
Ký ức chẳng buông tha. Chúng mình đã lầm tưởng
rằng có thể vượt qua được một hạt sạn - Phương nói với
anh khi bỏ ra đi - Không phải là hạt sạn mà là một quả
núi. Lẽ ra lần ấy em nên chết đi... Như thế thì chí ít em
vẫn là cái gì tốt đẹp trong trắng đối với anh. Còn bây
giờ em sống, sống cạnh anh nhưng em là vực thẳm xấu
xa và đen tối của đời anh. Phải không Kiên?
Khi Phương bỏ đi, Kiên không cản. Anh cũng nghĩ là
nên như thế. Song có thái độ cứng rắn trong chốc lát là
chuyện dễ, duy trì được thái độ đó khó hơn nhiều. Một
tuần, hai tuần, rồi hàng tháng đã trôi qua. Anh không
thể đến nổi trường đại học. Không biết ngồi thế nào,
nằm thế nào, nhìn về đâu, đi về đâu. Một khi có tiếng
giầy cao gót lên cầu thang, tim anh ngừng đập. Giờ này
qua giờ khác anh đứng bên cửa sổ mắt nhìn đăm đăm
xuống đường. Đi dọc phố chốc chốc anh ngoái đầu nhìn
lại đằng sau với nỗi hồi hộp lốbịch nhất đời. Và đôi khi
giữa đêm, lòng tràn tuyệt vọng anh nấc lên, nước mắt
giàn giụa, phải thúc mặt vào gối cho đến kỳ ngạt thở...
Anh biết chỉ có biện pháp duy nhất để thoát khỏi tình
trạng yếm thế thê thảm này là Phương trở về, là anh
lại được nhìn thấy nàng, để lại cùng nhau lặp lại nỗi
thống khổ...
Trong phòng ẩm ướt, dường như càng lúc càng lạnh
hơn. Gió cào trên Oâ cửa. Trên bàn, một ấm trà đã pha
mà chẳng uống nguội lạnh, mấy cuốn sách, một tập
giấy, cây bút, lọ mực, cái gạt tàn và bình hoa với mấy
bông hồng đã nguội ngắt hương thơm. Và, chính một
đêm như thế vào mùa xuân năm ấy anh đã cảm nhận
được thiên mệnh của đời mình: sống ngược trở lại, lần
tìm trở lại con đường của mối tình xưa, chiến đấu lại
cuộc chiến đấu. Tất nhiên anh chưa nghĩ ngay rằng đấy
là một thiên mệnh, anh nghĩ đấy là một lối thoát. Kể
lại, viết lại làm sống lại những linh hồn đã mai một,
những tình yêu đã phai tàn, bừng sáng lại những giấc
mộng xưa. Đó là con đường cứu rỗi của anh. Kiên nghĩ.
Nhưng cho đến tận bây giờ và có thể là mãi mãi
Kiên cũng không thể cắt nghĩa được vì sao mà vào cái
đêm lạnh giá ấy, đứng trước cửa sổ nhìn màn mưa
mỏng đang chầm chậm tràn ngang qua bầu không khí
xanh xám run rẩy, uốn ngả theo chiều gió đông bắc,
lòng đăm đắm nhớ tới Phương, anh lại chợt nhìn thấy
mùa mưa Cánh Bắc, nhìn thấy Ngọc Bơ Rẫy, truông
Gọi Hồn. Vì sao? Lại gương mặt của từng anh em trong
trung đội hiện lên. Và phép mầu nào ngay sau đấy đã
đẩy lùi thời gian về xa hơn, dựng lại trước mắt anh
trận đánh ghê rợn đã xóa sổ tiểu đoàn 27 của anh?
Không khí trong căn phòng này khi đấy thật kỳ lạ, như
thể bị hút vào trường hấp dẫn của quá khứ: cũng rung
lên, xô giật, đập thình thình vì sóng xung kích của
hàng trăm trái đạn pháo dội cấp tập xuống lòng truông
Gọi Hồn. Và tường vách căn phòng rầm rầm rung lên
trong tiếng động cơ máy bay bổ nhào. Kiên giật mình
bật lùi khỏi cửa sổ.
Hồn phách xiêu lạc, ý thức mờ mịt, lú lẫn, mê mẩn
Kiên đi đi lại lại, ký ức lóe chớp. Loạng choạng ngồi
xuống bên bàn, một cách máy móc anh cầm lấy bút, và
thay vì viết thư, anh viết một cái gì hoàn toàn khác.
Suốt đêm ấy, đến sáng, giữa mớ đồ đạc và bàn ghế
tồi tàn, giữa bốn bức tường tróc lở, những sách những
báo chồng đống trên sàn nhà bụi bặm, nứt nẻ, những
vỏ chai lăn lóc, cái tủ đầy gián, chiếc giường xiên vẹo
bừa bãi chăn màn xơ xác anh đã viết một mạch trọn
vẹn với thần hứng không bao giờ còn có lại - thiên
truyện đầu tiên trong đời, làm sống dậy một cách đặc
biệt tàn nhẫn trận tử chiến truông Gọi Hồn với những
diễn biến nặng nề của nó và số phận bi thảm của tiểu
đoàn anh. Tay mỏi tê, run lên, tim như rách dần, cả hai
buồng phổi nghẹt khói thuốc, miệng khô đắng, cổ tắc
lại nấc, anh cắm đầu viết. Quanh anh, tiếng kêu, tiếng
la hét đau đớn, tiếng đạn ríu rít sát mang tai, tiếng
gầm giật dội của những chùm rốc két dọt từ trực thăng
xuống. Các nhân vật của anh cứ nối nhau gục ngã. Và
cho tới lúc nhân vật chính, một trong những người trụ
lại đoạn hậu cho cuộc rút lui đã hóa thành một đống
giẻ nát nhừ vắt mình trên bờ công sự mà chết thì ngày
xuân trên thành phố đã vào đến góc tối nhất trong phòng.
Tác giả đã cạn sức. Chếnh choáng, anh lần ra khỏi
nhà, lê bước trên vỉa hè, xiên đảo, mê tơi như thể một
cô hồn lang thang đi phơi nắng. Khối cảm giác nóng
bỏng căng nhức hồi đêm dẫu dịu dần nhưng tâm trạng
Kiên hình như không thể bình quân lại được nữa. Anh
có cảm giác giống như khi bị thương mất nhiều máu,
ngất đi, vừa hồi tỉnh lại ngay trên bãi chiến trường.
Thế giới trước mắt anh cơ hồ đã đổi khác. Chỉ sau một
đêm thôi nhưng là một đêm kỳ ảo chóng vánh dài dặc
mà giờ đây... đường Nguyễn Du sắc nét và trang nhã
của anh, hồ Thuyền Quang trong lành êm ả và thân
thuộc từ tấm bé không còn hẳn như ngày hôm qua nữa.
Cả tâm hồn của anh, anh cũng không còn nhận ra nổi.
Và bầu trời buổi sớm và những cụm mây lững thững
trôi từ miền đông bắc quang đều như nhuộm một sắc
màu khác biệt. Những nóc nhà vốn xám xỉn, lóng lánh
trong màn nắng mai nom như vừa được vớt lên từ
dưới nước.
Suốt cả ngày chủ nhật hôm ấy, như thành người
ngây, Kiên lang thang trong phố. Một niềm vui buồn
thảm tựa như một buổi bình minh pha trộn ánh hoàng
hôn soi chiếu những suy nghĩ của Kiên. Toàn bộ cuộc
sống bấy lâu nay được rọi sáng trong luồng tâm tưởng
ngược chiều thời gian. Những mối bận tâm, những
niềm đau khổ, những xót xa cay đắng trong lòng những
năm gần đây đã trở nên tầm thường, nhợt nhạt và lúc
đó Kiên nghĩ, chúng chẳng còn nghĩa lý gì đối với mình.
Kiên tin rằng anh đã phục sinh, nhưng là một sự phục
sinh lùi về sâu xa. Sẽ mỗi ngày một lùi xa hơn, sẽ
không ngừng phục sinh trong chuỗi dài tái hiện. Có vẻ
như anh đã tìm ra cuộc đời mới của mình: đấy chính là
cuộc đời đã qua, là tuổi trẻ đã mất đi trong nỗi đau
buồn chiến tranh.
Buổi chiều vào công viên, anh đi dọc theo những lối
sỏi hai bên um tùm cỏ và hoa, bước qua những bụi cây
đọng nước tìm tới một ghế đá bỏ trống gần nơi trai gái
đang tình tự, và ngồi im cả giờ nghe gió thầm thổi qua
hồ. Con người nội tâm trong anh cô quạnh, âu sầu
không hề cảm thấy gió lạnh chiều tà, lặng lẽ đưa mắt
nhìn vượt khỏi tầm mắt, vươn tới cõi xa xăm bên ngoài
biên giới của tư duy, đạt đến cõi hòa đồng người sống
và người chết, hạnh phúc và khổ đau, hồi ức và ước mơ.
Mênh mang trời nước. Mênh mang hương sặc mùa
xuân tươi sáng đượm sầu xao xuyến truyền lan theo
sóng hồ. Và, trên vùng không gian tinh thần ấy Kiên
thấy hiện lên rõ một cách bí ẩn, khó giải thích một
đoạn đời, một phong cảnh, một hình ảnh, một gương
mặt mà đã từ lâu rồi anh quên lãng. Và sau đó lại
những đoạn đời khác, những kỷ niệm khác, lần lượt kế
tiếp nhau, âm thầm chậm rãi duyệt lại quá khứ... ký ức
về một trưa mùa khô rực rỡ nắng, hoa nở đầy trong
những khoảnh rừng thưa... Ký ức một ngày mưa ỉu
gian truân bên bờ Sa Thầy vào rừng hái măng đào củ...
những bờ suối, bãi lau, buôn nhỏ hoang tàn... những
gương mặt đàn bà mến thương xa lạ gợi niềm nhớ
nhung âu yếm . . . mềm đau của mối tình . . . Ký ức xa vời,
trập trùng và lặng lẽ, khắc nghiệt và thẳm sâu như
rừng như núi trong lòng anh chiều ấy, một chiều xuân
lạnh lẽo sáng trong bên lề trống không của trời nước
một mầu làm cho tâm hồn từ đấy không còn có thể
dừng mắt ở điểm nào nữa trên cõi không cùng của
quá khứ.
NHIỀU THÁNG VÀ Có LẼ NHIỀU NĂM ĐÃ TRÔI
qua. Từng đêm lần hồi, cần mẫn và do dự, bản thảo
tiểu thuyết của Kiên đầy dần lên và dần đến đoạn kết,
song đồng thời cũng như thể mỗi ngày một thêm dang
dở. Những chương sau là những điệp khúc của các
chương trước. Những khung cảnh và những tình tiết đã
có tự phần đầu rốt cuộc lại đang chờ Kiên ở phần chót.
Tuy nhiên ấy là bởi dòng trôi của tiểu thuyết này nó
như thế, tự nó chứ không phải tự Kiên. Tác phẩm tự nó
cấu trúc nên thời gian của nó, tự định hướng, chọn
luồng và tự chọn lấy một bến bờ. Còn Kiên anh chỉ là
người viết, bền bỉ và lặng lẽ hòa nhập thân phận mình
vào cộng đồng số phận các nhân vật. Nói chung anh hết
sức thụ động, hầu như trở thành bất khả tri trước các
trang viết của chính mình. Mạch truyện nó thế nào thì
buông thẻo như thế, anh như hoàn toàn cam chịu cái
lô giốc bí ẩn của trí nhớ và trí tưởng tượng.
Bắt đầu vào tiểu thuyết, ánh đuốc hồi ức đã đưa
Kiên lạc sâu trong mê cung, vòng vo trong muôn ngóc
ngách rồi lại dẫn anh về với những rừng rậm hoang vu
của thì quá khứ. Lại sông Sa Thầy, đèo Thăng Thiên,
truông Gọi Hồn, hồ Cá Sấu... những địa danh tù mù
như tên tuổi sông núi của cõi âm. Rồi lại cuộc đời chiến


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
NHIỀU THÁNG VÀ Có LẼ NHIỀU NĂM ĐÃ TRÔI
qua. Từng đêm lần hồi, cần mẫn và do dự, bản thảo
tiểu thuyết của Kiên đầy dần lên và dần đến đoạn kết,
song đồng thời cũng như thể mỗi ngày một thêm dang
dở. Những chương sau là những điệp khúc của các
chương trước. Những khung cảnh và những tình tiết đã
có tự phần đầu rốt cuộc lại đang chờ Kiên ở phần chót.
Tuy nhiên ấy là bởi dòng trôi của tiểu thuyết này nó
như thế, tự nó chứ không phải tự Kiên. Tác phẩm tự nó
cấu trúc nên thời gian của nó, tự định hướng, chọn
luồng và tự chọn lấy một bến bờ. Còn Kiên anh chỉ là
người viết, bền bỉ và lặng lẽ hòa nhập thân phận mình
vào cộng đồng số phận các nhân vật. Nói chung anh hết
sức thụ động, hầu như trở thành bất khả tri trước các
trang viết của chính mình. Mạch truyện nó thế nào thì
buông thẻo như thế, anh như hoàn toàn cam chịu cái
lô giốc bí ẩn của trí nhớ và trí tưởng tượng.
Bắt đầu vào tiểu thuyết, ánh đuốc 'hồi ức đã đưa
Kiên lạc sâu trong mê cung, vòng vo trong muôn ngóc
ngách rồi lại dẫn anh về với những rừng rậm hoang vu
của thì quá khứ. Lại sông Sa Thầy, đèo Thăng Thiên,
truông Gọi Hồn, hồ Cá Sấu... những địa danh tù mù
như tên tuổi sông núi của cõi âm. Rồi lại cuộc đời chiến
đấu của trung đội trinh sát với những khúc buồn vui
tình đồng đội, những thống khổ thời trận mạc hòa cùng
bao lạc thú tuổi trẻ. Và theo dòng tiềm thức con đường
của tiểu thuyết lại nhập vào với chặng đường hành
hương sau chiến tranh của đội thu nhặt hài cốt tử sĩ,
chặng đường xa nối những nấm mồ bộ đội tản mát
vương rắc trên hầu hết khắp liền non cao Cánh Bắc
Tây Nguyên. Quá trình tập hợp lại những nhân vật đã
chết làm nên cuộc sống của từng trang bản thảo. Có
thể nói không khí truyện của Kiên là bầu không khí
của những khu rừng tăm tối, ngùn ngụt tử khí và lam
chướng, mờ mịt bóng yêu tà. Những di vật và những bộ
xương mủn nát được vớt lên từ đáy những rừng cây ấy.
Cũng từ bóng tối của rừng sinh ra những huyền thoại,
những truyền thuyết về cuộc đời của những người lính
thường, những người làm nên thi hứng, làm nên cốt
truyện, cho Kiên giọng văn, nhịp điệu câu chữ và cả
nhịp sống của từng từ. Có thể thấy trước là chẳng mấy
người trong số các nhân vật của cuốn tiểu thuyết được
như Kiên sống đến ngày thắng lợi. Ngay từ đầu họ đã
phải hành động quyết liệt để không lập tức' bị nhận
chìm tăm tích vào những huống cảnh chiến trận kinh
hoàng, những cảnh huống mà cầu trời cho đừng bao giờ
có ai đó trên đời này lại một lần nữa phải lâm vào. Họ
bị cái chết rình rập, săn đuổi, xô dồn vào thế mất còn
chỉ trong nháy mắt và trong tấc gang. Họ bị giết từng
người một hoặc là hàng loạt, bị bắn gục tại chỗ hay bị
thương mất máu chết dần, chưa kể tới bao nhiêu kiểu
đọa đày khác, chưa kể những cơn ác mộng hủy diệt tâm
hồn và lột trần nhân tính.
Có lẽ rất ít người cầm bút đương thời nào chứng kiến
nhiều cái chết và thấy phải nhiều xác chết đến như
Kiên. Vì thế sách anh đầy rẫy tử thi. Những xâu lính
Mỹ trẻ măng mình mẩy không chút sây sát, ngồi ngả
đẩu vào vai nhau thiu thiu giấc ngủ ngàn năm dưới
những ngách hầm ngầm bị tống thủ pháo. Những lính
dù trang phục vằn vện nằm phơi nắng trong các lùm
bụi lúp xúp ven rừng KỜ Leng, thản nhiên trương
phình lên, thản nhiên chịu đựng lũ ruồi, bầy Où và mùi
da thịt khắm lặm của mình. Và ai đã đọc Kiên thì đều
có dịp hình dung những trận mưa cẳng chân, bàn tay
rơi lịch bịch lẹt bẹt xuống đồng cỏ voi bên bờ sông Sa
Thầy vào lúc rạng mơ sau suốt một đêm B52 liên tục
chần. eo thể tận mắt ngắm sườn đồi Xáo Thịt sau ba
ngày huyết chiến nom y hệt một mái nhà lợp bằng thây
người. Có thể thậm chí giật bắn mình khi thấy một
người lính nọ đạp phải mìn nhẩy cẫng lên ngọn cây như
được chắp cánh... Những cái chết "của Kiên" đa dạng,
nhiều màu vẻ, giàu sắc khí và sinh động hơn người.
Anh như thể là một người lính không còn sống từ trong
lòng đất và từ trong các giấc mơ lên tiếng kể cho ta
nghe về sự sống chết; kể về phút lìa đời và thậm chí kể
về cuộc đời sau khi đã bị giết.
- Các bạn hãy tin tôi: trong lòng cái chết không phải
là dịa ngục khủng khiếp - một linh hồn trong truyện đã
nói như thế với những người sống - Trong lòng cái chết
vẫn là cuộc sống, dĩ nhiên là một kiểu khác của cuộc
sống kia. Trong lòng cái chết ta có được sự bình yên, sự
thanh thoát và tự do chân chính. . .
Đối với Kiên thì người chết vừa mơ hồ vừa sâu xa
hơn người sống. Họ cô đơn, trầm lắng và kỳ diệu, như
ảo ảnh. Và đôi khi hương hồn người chết trận hóa
thành những âm thanh chứ không phải là những hình
bóng. Bản thân Kiên thì chưa từng nhưng anh em khác
trong đội hài cốt thì đã từng nghe thấy người chết đàn
và hát. Chuyện xảy ra ở chân đèo Thăng Thiên họ bảo
thế... Khi bóng tối vùi kín rừng cây trong hẻm núi thì
từ đáy rừng phủ lá mục tiếng hát thì thào dâng lên, có
cả tiếng đàn ghi-ta hòa theo nữa hoàn toàn hư, hoàn
toàn thực "... Năm tháng vinh quang khổ đau bất
tận...", lời và giai điệu bài ca vô danh ấy giản dị và
huyền bí nên mỗi người nghe ra mỗi khác, song không
ai là không nghe thấy. Cuối cùng, sau mấy đêm lắng
nghe người ta đã định vị được chỗ đất có hồn' người.
Trong tấm tăng bó xác xương cốt đã hóa mùn cả, riêng
cây đàn ghi ta tự tạo của người chết thì còn nguyên vẹn.
Chẳng biết có phải là do hư cấu thêm không mà
người ta kể rằng khi vốc xương mủn và cây đàn vừa
được đưa lên từ đáy huyệt thì tất cả những ai có mặt
đều nghe thấy vang lên trong lòng rừng những âm điệu
bi tráng của bài ca ấy. Sau đó thì vĩnh viễn tắt bặt. Bài
ca chắc là đã mãi mãi lìa bỏ khu rừng.
Tất nhiên đấy là một huyền thoại. Hình như có bao
nhiêu nấm mồ vô danh và bộ xương đã mất lai lịch thì
có bấy nhiêu huyền thoại cùng với hằng hà dị bản hợp
lại thành kho tàng những truyện truyền kỳ về sự
nghiệp thiêng liêng đau khổ của người lính chống Mỹ,
một sự nghiệp vừa được ghi nhớ vĩnh hằng vừa không
ngừng bị lãng quên.
Kiên nhớ: ở thung lũng Mo Rai bên bờ sông Sa Thầy
một hôm tổ của anh đào trúng một ngôi mộ kết. MỘ nổi
lên như một đụn mối lớn trên vuông đất cao gần dốc bờ
sông. Chỗ này ngay giữa mùa mưa lũ cũng không bị
ngập. Thế nhưng thật khó lòng mà hiểu nổi nguyên
nhân vì sao mặc dù chẳng trong quan ngoài quách,
chẳng ướp thuốc tẩm dầu, thi thể người chết lại sống
như thế. Nằm trong một cái túi nilông dày giống bao
đựng xác của quân Mỹ nhưng trong suốt, người chiến sĩ
như là vẫn còn đang thở, mắt nhắm lại ngủ say, khuôn
mặt đẹp đẽ trẻ trung vẻ trang nghiêm trầm mặc, da
thịt tuồng như còn ấm, bộ đồ tô châu thậm chí còn
nguyên độ bóng và nếp là. Nhưng chỉ phút chốc cái túi
đã đục trắng, mù mịt như dây khói, rồi sau đó như chói
lên một đạo hào quang và một cái gì đấy vô hình đã
siêu thoát. Màu trắng đục tan nhanh, cái túi xẹp xuống
và trong đó bày ra trọn vẹn một bộ hài cốt màu vàng
sạm. Kiên và mọi người sững lặng, xúc động đến bàng
hoàng. Không ai bảo ai tất cả đều quì xuống, đưa cao
tay lên với theo bóng hồn thiêng liêng người đồng đội
đã về thân. Đúng lúc bấy giờ trên vòm trời bao la, cuồn
cuộn gió mây miền cánh Bắc, một đàn thiên đường
cánh đen vừa từ hướng biển lên, đội hình chữ V đều
tăm tắp, nhịp nhàng vỗ cánh, thong thả và trang trọng
bay vượt qua miền núi non trùng điệp.
- Nhưng mà nếu không lần ra được tên tuổi của họ
thì cuộc đời chúng ta sẽ mãi mãi bị cái chết của họ đè ~
nặng.
Đội trưởng thu nhặt hài cốt của sư đoàn, một trợ lý
chính sách đã lâu niên, trọn cả binh nghiệp chôn chặt
vào độc một nhiệm vụ lo khâm liệm và mai táng, vẫn
thường nói thế như là đưa ra một lời nguyền cho anh
em trong đội.
Nhưng chẳng cần đến lời nguyền ấy thì cũng như
Kiên hầu hết anh em ở đội hài cất đã ra khỏi chiến
tranh với một tâm hồn tràn ngập bóng tối tang thương,
oan khốc của bao nhiêu là cuộc đời còn hoặc đã mất
sạch tên tuổi.
"- Tên tuổi anh ta tôi không biết, chỉ biết anh ta là
lính của liên đoàn 6 biệt động quân; người Nam hay
Bắc hay Trung cũng chả biết vì anh ta chỉ rên, rên thì
dân xứ nào cũng một giọng như nhau. Tay Phán, một
trinh sát của trung .đoàn 24, quê ở Hải Phòng, kể cho
Kiên nghe - Bấy giờ là cuối mùa mưa đầu mùa khô
năm 69, một mùa mưa ra sao chả cần phải nói, anh
cũng biết rồi đấy. Đại đội của anh ta và đại đội của tôi
sống mái với nhau một trận mưa hòa máu ở đầu lối lên
đèo Thăng Thiên. Chẳng thắng chẳng thua, cả hai đều
tan nát nhừ tử. Và bất chấp trong tầm pháo có cả đồng
minh, tụi Mỹ từ trên đèo nã đại bác xuống suốt hai giờ
liên tục. Ngớt pháo, Con ma ào tới bỏ bom. Tôi nhào
vào một hố 155, kịp thoát lượt bom phát quang. Rồi
bom bi nổ xay nổ nghiến. Tôi nằm chết dí. Và chính lúc
đó thì anh ta lộn sấp xuống uỵch đè lên tôi như súc gỗ.
Điên lên vì sợ tôi rút dao thí liền hai nhát vào ngực áo
rằn ri, vào bụng một nhát nữa, rồi vào cổ. Anh ta kêu
ằng ặc, giãy đành đạch, mắt trợn lên. Bấy giờ tôi mới
biết là anh ta bị thương từ trước lúc ăn dao. Mảnh bom
chém lìa một bàn chân, người đầm đìa máu, miệng anh
cũng ứa máu, hai tay run bần bật ôm lấy chỗ ruột đang
phòi ra nghi ngút hơi nóng. Tôi chẳng biết làm thế nào,
nom khủng khiếp quá và thương tâm quá. Tôi nhét
ruột vào bụng cho anh ta, rồi xé áo để băng. Nhưng
toàn những vết thương tàn bạo. Máu chẳng cầm được
bao nhiêu. Phải nói là anh ta khỏe như voi, người khác
thì hết ngáp rồi nhưng anh ta càng lúc càng to miệng
rên rỉ, nước mắt tuôn ròng ròng. Tôi run sợ đến thấu
tim, và xót thương nữa. Khi đó trận oanh tạc đã dứt.
Không còn tiếng súng cá nhân, chỉ còn tiếng mưa mỗi
lúc một mau "- Mày nằm đây một lát nhé" - Tôi lay vai
anh ta bảo - "Tao lên tìm ít vải và bông băng. Sẽ quay
lại ngay". Anh ta ngừng rên và chớp chớp mắt nhìn tôi,
mặt ướt ròng ròng nước mưa, nước mắt với máu, tôi leo
lên khỏi hố. Khu rừng nát bét. Ta địch đều đã dạt ra
khỏi vùng bị bắn phá. Tìm quanh tìm quẩn mãi, tôi
nhặt được một túi cứu thương còn đầy bông băng. Lập
tức quay trở lại với anh ta... Nhưng, tôi ngu quá! - Phát
rên lên. Lắc đầu. Im lặng một lúc rồi lại rầu rĩ kể - Tôi
ngu quá? Trời đã tối sập. Mưa lụt trời. Rừng thì sụp đổ,
ngổn ngang cây cối bị đốn hạ và đáy rừng tanh bành
hàng trăm hố bom, hố pháo. Cái hố của tôi với thằng
ngụy ở dưới đó đâu rồi? Trời thì mưa kinh khủng là
mưa. Nước tràn từ núi xuống réo Oà ồ. Rừng tối đen lại
rất mau. Ngụy ơi! Ngụy ơi! - Tôi gọi, lồng lên chạy tìm
cuống quít. Ngã òm xuống một hố, thấy rằng nước đã
qua đầu gối, nghĩa là nếu ngồi thì ngập ngực... Mưa
ngất trời. Nghĩ đến cảnh ngộ của anh ta lòng tôi đau
đớn cuồng thắt. Suốt đêm tôi mò mẫm lăn lộn lần tìm.
Càng lúc càng hụt hơi, kiệt sức, bất lực. Sáng ra, mưa .
có phần ngớt, những cảnh tượng bày ra trước mắt làm
tôi sầm tối mặt mày. Tất cả các hố bom, hố pháo đều là
những huyệt nước đầy phè. Kinh hoàng, tôi lao đầu
chạy, có nhẽ khi ấy tôi đã phát rồ. Cứ tưởng tượng cái
chết từ từ man rợ không kém cái chết của người bị sa
hố lầy đã đến với anh ta: nước ngập bụng dâng lên vai,
tới cổ, chấm cằm, chạm vành môi, rồi nhân trung, kề
ngang hai lỗ mũi... Và bắt đầu sặc. Anh ta hẳn là hy
vọng kinh khủng tôi sẽ hiện lên ở giây chót... Nhưng
thậm chí. . . Và rốt cuộc thì anh ta đã ngồi chết như thế
ở cái hố nào? Bao năm qua, cứ nhìn cảnh mưa lũ là tim
tôi lại như bị thọc dùi. Tôi nhớ tới con người ấy, nhớ tới
sự ngu ngốc bạo tàn của tôi. Thà rằng tôi giết phứt ngay
anh ta. Đằng này. . . là người thì không ai đáng phải
chịu một nhục hình như tôi đã bắt anh ta phải chịu'.
Không biết rằng đến nay, sau bấy nhiêu năm sống
bình yên, lòng Phán đã nguôi được hay chưa nỗi dằn
vặt? Cái người ngồi chết trong hố nước có còn ngoi ngóp
nổi lên trong tâm trí anh không? - Kiên vẫn thường hỏi
vậy như là tự hỏi mình.
Nỗi buồn chiến tranh trong lòng người lính có cái gì
tựa như nỗi buồn của tình yêu, như nỗi nhớ nhung quê
nhà, như biển sầu lúc chiều buông trên bến sông bát
ngát. Nghĩa là buồn, là nhớ, là niềm đau êm dịu, có thể
làm cho người ta bay bổng lên trong thời gian quá khứ,
tuy nhiên với điều kiện không được dừng nỗi buồn
chiến trận lại ở cụ thể một điểm nào, một sự việc nào,
một con người nào, bởi vì khi dừng ~lắt lại thì không
còn là nỗi buồn nữa mà là sự xé đau trong lòng, và
nhất là đừng có nhớ chạm tới những cái chết.
Cho đến mãn đời Kiên còn nhớ tới Quảng, người tiểu
đội trưởng đầu tiên của mình. Bấy giờ là mùa khô năm
66, chiến dịch Đông Sa Thầy, và Kiên còn là lính mới,
lần đầu dự trận. Suốt ba ngày đêm ác liệt quần nhau
ới bọn Ngựa bay, Kiên theo sát Quảng, được Quảng
lẫn dắt, kèm cặp và thực chất là che chắn cho. Đứng,
1ằm, lăn, bắn, vọt tiến, chạy, nhất nhất Kiên theo
quảng. Nhưng rồi Quảng bị đốn ngã trên đường vận
động chiến, khi toàn đại đội đang băng qua vùng rừng
e dưới đồi 300 để áp sát bọn Mỹ a từ trực thăng đổ
quang. Một trái cối 106 nổ tung gần như dưới chân,
nhấc Quảng lên, quăng bổng theo đường vòng cung rồi
giáng quật xuống. Kiên quỳ cạnh anh, luống cuống
không biết băng thế nào. Bụng rách trào ruột. Nhưng
tiều đáng sợ là xương xầu dường như gãy hết, mạng
ườn lõm vào, tay lủng liểng, và hai đùi tím ngắt. Thế
~nà Quảng chỉ lịm đi một lúc. Có lẽ vì quá đau đớn nên
lỉnh lại ngay. Vốn là một dân chài quê Móng Cái,
quảng cực khỏe, to cao, thô thiển và tốt bụng, tính tình
liều lĩnh, trẩm lặng, giờ đây anh rống lên:
- Đừng chạm vào tao . . . đừng băng nữa . . . Oâ ô. . . đừng. . .
~ a...
Kiên vẫn loay hoay tìm cách bó nẹp hai đùi của
quảng. .
Thôi ôi thôi. . . Giời ơi . . . ? Quảng nấc, mép ứa in áu .
~ịm đi một lát, Quảng cựa cựa đầu và lại mở mắt. -
Kiên... Kiên... -lên? Bắn anh đi em... - Quảng khóc khe
khẽ và gầm lên hung tợn - Bắn?
- Kiên, tao hạ lệnh cho mày giết tao mau! Trời ơi? Trời
ơi bắn đi mà em, bắn? bắn! Mẹ mày chứ, bắn đi, giời?!
Trận đánh rung chuyển rừng cây. Kình? Kình! Kình! '
Cối nã dồn dập. Tiếng reo hò dội tới qua màn khói.
Kiên run cầm cập nhưng vẫn cố băng bó cho Quảng.
Vừa gắng gượng nhẹ tới quá mức có thể Kiên a âm
thầm hy vọng có thể là tiểu đội trưởng sẽ ngất đi mà
nhãng khỏi cái đau rùng rợn đang dày xéo cả lên chính
cả bản thân Kiên. Nhưng cái chết như muốn nhất định
bắt Quảng phải tỉnh để chịu đến cùng sự hành hạ
cua no.
Lát sau lại một trận pháo nữa dập tới cấp tập trong
vài phút, xé toang vạt rừng thưa và lấp đầy đất lên hai
người. Mãi sau Kiên mới moi được Quảng lên: Vẫn
sống, vẫn tỉnh, mồm ứa máu nhưng còn thở, sủi bong
bóng đỏ, mắt mở trừng như muốn mà không nhắm lại
được Và môi vẫn mấp máy gượng nói.
Kiên cúi sát xuống, nghe:
Thương anh đừng bắt lê lết mãi... Anh khổ quá rồi,
xương gãy hết cả, ruột nữa... đứt hết... - Cái giọng lào
thào lí nhí như thể tiếng của loài kiến mà đầy vẻ tâm
tình của Quảng làm Kiên rùng rợn, ớn lạnh - Cho anh
được chết đi... một phát thôi mà... là xong... nào?
Kiên giật mình. Bất ngờ, cực lẹ thu hết tàn lực,
Quảng đưa cánh tay chưa gãy lên rút thoắt quả u-ét
Kiên cài bên hông.
Nào . . . ! - Quảng cao giọng hầu như đắc thắng, hoan
hỉ và cả cười lên nữa, ha ha, khàn khàn dễ sợ - Ha hà...
nào, lùi mau! Kiên, lùi xa ra, nào! Hà hà... ha ha ha
ha. . . Kiên nhỏm dậy lùi, lùi, lùi, mắt dán vào cái mỏ
vịt và vụt quay lưng, lao đầu chạy, chạy lướt qua cái
lùm le gãy nát ngút khói. Ha ha ha... Tiếng cười cuồng
loạn nức nở rượt sát sau lưng... ha ha ha ha...
Tôi nghĩ, có lẽ là loài quỷ rừng hay cười mà người
Triêng gọi là ma ỏm. Hay là quỷ cùi? Nhưng không
phải người cười là cái chắc. Rũ rượi. Sằng sặc. Vọng ra
dưới đồi 300.
Chín năm sau, một người trong tổ hài cốt, khi nghe
thấy tiếng cười điên rồ vọng lên từ phía đồi 300 bên bờ
sông Sa Thầy, vào buổi chiều tối đã ngỡ rằng mình
nghe thấy yêu quái. Anh ta hồi hộp kể. Mọi người xúm
quanh, sa sầm.
- Chỉ cất lên trong chốc lát, nhưng tiếng cười làm tôi
lạnh hết người. Nhưng mà tôi cứ thử liều lần về hướng
phát ra tiếng cười. Chợt gặp một cái tràng hẹp khoanh
một khoang giữa rừng. Mẹ kiếp, và tôi thấy gì... một
túp lều Thoảng gió qua tôi ngửi thấy mùi khét và mùi
sắn nướng. Nghĩa là người. Nhưng... Các cậu hiểu
không, trước cửa lều trong ánh nhá nhem tôi thấy một
hình thù lồm xồm lông lá, đúng hơn là râu tóc quá dài,
cởi trần, trần truồng đang ngồi trên một thân cây đổ
nhìn thẳng về chỗ bụi cây tôi đang núp. Và tôi thấy,
một quả lựu đạn các bạn ạ ở trong tay hắn. Tôi bò lui.
Hình như có làm động cành cây nên con ma để ý hơn,
nó đứng lên, chăm chú nhìn, và đi tới. Tôi bật lên vùng
chạy. Lập tức tiếng cười kinh dị khi nãy lại cất lên đuổi
theo tôi.
Hay là !'xà niên"? - Một người phỏng đoán.
- Nhưng xà niên sao lại có vũ khí, với lại họ đâu có ở
lều cũng không phải tàn tích của một bản làng nào vì
chẳng hề có vết tích nương rẫy nào ngoài cái rẫy tự giác
của lính ta. Mà nhất là người không ai cười như thế.
- Hay là thằng Tùng, anh Kiên?
Tùng nào?
Tùng điên chứ Tùng nào, ở vệ binh trung đoàn ấ~v,
anh quên à. Nó hóa điên và bỏ vào rừng khi trung đoàn
mình về chốt gần ngã ba đường 90 hồi năm 71 ấy. Rất
gần khu vực này.
à, Tùng. . . nhớ rồi . Cũng chả biết chừng, thằng đó
lên cơn toàn cười. Nghe rất ớn.
Người ta bảo rằng trong rừng có những mạch suối
ma, uống phải nước của những mạch đó có thể mắc đủ
thứ bệnh, kể cả bệnh điên. Nhưng Tùng thì điên do bị
một viên bom bi lọt vào não, bác sĩ trung đoàn bảo thế.
Kiên nhớ là lần ấy trung đoàn bộ bị oanh tạc. Nhiều
người chết và bị thương. Riêng Tùng hoàn toàn lành
lặn. Chỉ có điều là Tùng kêu đau đầu lắm. Y tá cho
thuốc cảm, chẳng thuyên giảm, càng đau. Rồi một buổi
đêm các lán của cả trung đoàn bộ bị lay thức vì tiếng
cười của Tùng. Phải rồi, chuyện đó xảy ra ở vùng này
đây Mọi người tổ chức vây lùng để đưa Tùng về cứu
chữa. Nhưng người bệnh lẩn tránh rất tài. Thỉnh
thoảng từ một lùm cây anh ta bật cười như để chọc dờn
mọi người, nhưng mà tiếng cười ảo não và thương tâm
vô cùng. Vờn đuổi, truy sục cả tháng trời rồi đơn vị đế
mất dấu tích của Tùng. Cậu ta mất hút vào rừng thẳm.
Người ta bảo rằng, viên bi đã không chịu nằm yên ở
một góc não mà trườn chạy, luồn lách đưa cơn điên vào
tất cả những ngõ ngách trong đầu óc Tùng. . .
Tuy nhiên bây giờ nghe kể về tiếng cười ma quỷ ở
góc đồi 300, Kiên ít nghĩ đến Tùng. Anh nhớ lại cái chết
của Quảng. cũng ở khoảng rừng này đây 9 năm về
trước. Sự đau đớn như thế có thể từ thân xác ăn vào
đất mọc lên thành cây thành rừng, gây lên những vang
âm và những ảo hình không tan đi được về tấm thảm
kịch. Nói chung thời gian này Kiên đã bắt đầu tin
tưởng vào những bóng ma, tin vào những ngọn gió âm
hồn và những lời lẽ thần bí vọng lên từ đáy rừng âm u.
Khi anh và những người trong tổ tiến tới gần túp lều
thì bóng ma đã lên tiếng cười để ngăn lại. Tiếng cười
dằn dữ như thể lời cảnh cáo.
- Anh là ai? - Kiên hỏi to - Hãy ra với chúng tôi.
Chúng tôi là bạn. Chúng tôi tìm anh, chúng tôi đã tìm
anh bấy lâu nay, khắp nơi.
Im lặng lan xa. Túp lều hoang, bãi trống, vùng cỏ
xanh, rừng cây. Tiếng suối từ đồi 300 vọng tới nghe rì
rầm như tiếng cầu nguyện.
- Chúng tôi muốn nói để anh hay rằng đã hòa bình
rồi - Kiên lại lên tiếng, anh cảm thấy luồng mắt của cô
hồn đang xói qua kẽ hở ở vách lều rọi vào mình - Hãy
để chúng tôi đưa anh rời bỏ nơi hoang vu này.
Đáp lời Kiên là một chuỗi kinh khủng tiếng cười
sởn tóc gáy. Có phải tiếng cười hay không, hay là
khóc than, kêu gào, hay chỉ đơn thuần là tiếng hô hú
điên loạn mất trí? Rền rĩ, rùng rợn, man rợ... Và, dường
như không phải chỉ có một giọng cười. Bên dưới cái
giọng khàn khàn là một giọng run run nho nhỏ cười
nương theo.
Chờ, không biết là đã chờ bao lâu cho tới lúc tiếng
cười kiệt hơi, Kiên bước tới, đi thong thả tới túp lều.
Cái lều ọp ẹp rùng mình, Kiên và mọi người không
ai kịp thấy rõ một cái gì. Từ trong lều băng ra phía sau,
' ' họ" - nghĩa là không phải chỉ một cái bóng, vút lao đi
bay biến và vô hình vào triền cỏ tranh cao lút đầu.
Thảng.thốt một tiếng chim kêu lên. Vệt cỏ gianh rẽ giạt
trườn lướt đi.
Kìa! - Một người thốt lên đờ đẫn.
ở nơi bãi gianh tiếp giáp rừng le, hiện thoáng lên
chỉ trong tích tắc một bóng ma rách bươm, uyển
chuyển và huyền bí, lướt ngang luồng ánh sáng rồi mất
hút đi với mái tóc đen dài xõa bay. Còn một bóng ma
lữa nhưng do rạp cúi xuống chạy nên chỉ lộ cho mọi
người vụt thấy một cái sống lưng đen cháy như lưng
vượn. ảo giác và cảnh thực đan xen lẫn vào nhau như
hai vòng sóng giao thoa trên nền xanh thẫm tối của
thảm rừng.
Thẫn thờ, rời khỏi khoảng rừng trống, bọn Kiên để
lại trước cửa lều một hòm lương khô chứa ít gạo, muối
và thuốc men. Nhưng, mấy bữa sau trở lại đó thì buồn
thay chỗ quà vẫn nguyên đấy chẳng được ai đụng tới.
Họ nghi có cạm bẫy - Một người nói - Họ sợ.
Họ ư? Có nghĩa là người à?
Qua lỗ hổng hẹp dùng làm cửa ra vào mọi người luồn
vào bên trong lều. Chỗ nằm trải những giát lồ Oâ có phủ
bên trên một lượt cỏ Mỹ làm đệm. Ba tảng đá kê lên
thành một chiếc bếp ở góc lều. Vương rắc xung quanh
bếp, vỏ sắn và lõi ngô. Bầu không khí hăng hắc mùi
khói và lờ lợ một thứ mùi người.
- Đây này... - Kiên nói, gần như thành kính nhặt ở
đệm lên một cái lược làm bằng nhôm máy bay. Kẽ lược
giắt những sợi tóc rất dài và mềm.
- Nghĩa là không phải ma. Không phải xà niên.
- Nhưng là ai? - Một người thì thào - Là ngụy hay là
lính mình đào ngũ sống ẩn trong rừng?
Không ai trả lời.
Và trong một thời gian khá lâu sau đó cả tổ đã cố
công tìm kiếm. Nhưng cặp uyên ương mất trí ấy đã
được rừng che chắn trong vòng huyền hoặc. Mặc dù
thỉnh thoảng trong gió hình như vẫn nghe văng vẳng
họ cười song chẳng thể nào định hướng được để tìm
đến. Một lần một người trong tổ nói là đã nom thấy
chính người đàn bà nọ ở bờ sông dưới bóng chiều chạng
vạng, đang tắm. Khi anh ta tiến gần lại thì người ấy
bật lên cười, vẫn chuỗi cười rất rợn ấy và lập tức biến
mất, không biết là biến vào các lùm cây ven bờ nước
hay là biến vào trong sóng.
- Hình như chị ta còn lại có một mình. Người kia có
thể là đã lưu lạc ra xa khỏi vùng này. Nhưng có lẽ chị
ta không hoàn toàn có lẻ. Tôi ngờ là chị ta có mang.
Chắc là do tưởng tượng ra thế thôi. Chắc anh ta cho
rằng có thêm một đứa bé, một hài nhi tham gia vào thì
câu chuyện tối tăm điên dở mịt mờ không lối thoát này
sẽ đỡ thương tâm, sẽ có hương vị hy vọng và sẽ thành
ra một chuyện có hậu. Bởi vậy anh ta nói thêm:
- Bệnh điên sẽ không nhiễm sang đứa bé. Và nó sẽ
lớn lên. Người ta sẽ tìm ra, hoặc là chính nó sẽ tìm
thấy mọi người.
Thì cũng đành hy vọng thế - Một người khác nói -
Phải có một lối thoát chứ. Cảnh ngộ này và những cảnh
ngộ tương tự. Chưa nói tới những cảnh ngộ kinh khủng
hơn.
Những người chết chăng hạn.
Phải rồi. Cả những người chết. Họ cũng phải được
cứu rỗi bằng một cánh nào đó.
Phải rồi. Kiên ngh~ Mình, chính mình, sau từng ấy
năm trời đã trở nên hoàn toàn sa đọa, đã trở nên thác
loạn, đã ngập chìm trong tủi nhục, oán hờn và lú lẫn.
Nhưng là người thì không thể thế mãi. Phải có được
một con đường nào đấy để tự giải thoát chứ. Nhưng là
con đường nào và đến bao giờ thì mình tìm được con
đường ấy?
Còn chuyện này thì không phải ở Tây Nguyên mà là
ở Sài Gòn. ấy là vào buổi đầu chiều ngày 30 tháng Tư.
Cuộc chiến tranh trong cuốn tiểu thuyết dang dở và bị
xếp xó của Kiên mặc dù rã ra thành nhiều mẩu vụn rời
rạc, những tàn tích, những dấu vết, cùng những bằng
chứng, những sự kiện của ảo giác, nhưng cuộc chiến ấy
cũng đi tới ngày thắng lợi.
Trời đổ mưa. Phải, trong cái ngày hùng tráng ấy -
Ngày toàn thắng - ở Sài Gòn sau buổi trưa khốc liệt
bốc lửa giời đổ tắm một cơn mưa rào. Chừng nửa giờ thì
tạnh, mặt trời xua tan mây và hiện ra sau màn khói.
Các Oå đề kháng cuối cùng của biệt kích dù trong phi
trường Tân Sơn Nhất đã bị dứt điểm. Kiên từ mé bên
đường băng chính lê bước trở về nhà ga sân bay để tìm
trung đoàn của mình. Đội trinh sát thế là chỉ còn một
thân anh sống sót.
ở mạn trung tâm thành phố tiếng súng chỉ thiên
bắn lên như hóa rồ, nhưng ở đây, trong sân bay yên
ắng lạ lùng. Những đám cháy vẫn nhả khói song không
khí được trận mưa làm dịu như nhuốm một vẻ mơ mơ
màng màng. Khắp sân bay lính tráng vạ vật, lăn lóc
ngủ. Chiến quả đầu tiên của binh sĩ là thế, là ngủ.
Kiên thất thểu bước qua một dấy xác quân thù ướt
mèm nước mưa rồi uể oải leo lên mấy bậc tam cấp bước
lên thềm nhà ga lát đá hoa đen bóng lộn như sơn mài.
Đâu cũng chỉ thấy lính đang say sưa giấc nồng. Nằm
trên bàn, trên quầy rượu, quầy bán vé, trên ghế băng,
trên bậu cửa sổ, ngủ vùi trong xa lông. Tiếng ngáy như
đồng ca làm Kiên thêm díp mắt. Anh ngồi phệt xuống
bên ngưỡng cửa phòng Hải quan châm một điếu thuốc.
Chưa được hai hơi, điếu thuốc hẫng rời khỏi tay. Kiên
dài người nằm ra nền đá hoa và tức thì ngủ ngay.
Nhưng hình như mộng mơ chẳng được lâu, tiếng ồn
ào, hơi lửa nóng và mùi thức ăn đã thổi Kiên dậy.
Chống tay, anh nặng nhọc ngồi lên. Ngay cạnh chỗ anh
' nằm một tốp lính tăng đang chầu quanh một bếp lửa
đùng đùng cháy bằng đệm mút và những lát gỗ đánh
véc ni. Họ đun một món gì đó thơm ngậy trong chiếc
nồi to bự.
- ái dà, thính mũi gớm! - Một tay trong bọn liếc Kiên
- Mà cũng phải, thơm kinh khủng hả? I)ậy khớp đi.
Món này đáng khớp lắm. Tụi ngụy gọi là mì ăn liền hay
ăn hếu gì đấy.
- Mẹ kiếp, đã là gì. Khớp mau rồi còn đi kiếm. Đ.mẹ,
,,đồ cổ" mà không )me nhanh thì nhẵn như chùi với tụi
bộ binh! Aø quên, xin lỗi bạn bộ binh nhá. Mà bạn ơi,
bạn biết kho bưu phẩm nằm ở mô không?
- Biết!
- Tuyệt? án xong hướng đạo cho bọn tớ nhé. Xe tớ
bao lâu rỗng tuếch, không xơ múi được chiến lợi phẩm
nào. Mà kia, ới giời, cái cậu này. Nằm cạnh xác chết, lại
xác đàn bà cũng ngủ nổi. Không thấy tanh à?
Kiên hờ hững ngó ra sau. à, một cái xác. Một cái xác
đàn bà trắng hếu, ngực ưỡn dựng lên, chân dạng ra
như hai lưỡi kéo, mái tóc đổ xõa che lấp nửa khuôn
mặt, nằm gần như chắn ngang trước cửa phòng Hải
quan. Còn trẻ, mắt nhắm hờ. Dưới lưng không thấy
vũng máu.
- Lúc nãy buồn ngủ quá đếch để ý, - Kiên nói. - Để
kéo dịch ra xa cho đỡ chướng vậy.
- Thôi, sắp khớp rồi, động tay vào làm gì. Kệ nó,
trước cửa hòa bình mà rờ mó xác chết xúi quẩy cả đời.
- Mà sao nó lại truồng ra thế nhỉ?
- Chả hiểu. Hồi trưa xe tớ sục vào đây hạ chết mấy
thằng dù đang nằm chết ngoài sân kia, tớ đã ngó thấy
bà nàng nằm thế này rồi.
Mà lạ nhỉ. Mấy thằng dù thì đã inh mùi ngay lên
rồi mà ả này vẫn tươi tỉnh thế. Có lẽ đàn bà họ sạch
nên lâu rữa.
Im đi mày, cái thằng, ăn uống mà cứ nói thiu nói
thối. Bất nhã quá thể.
Chợt có tiếng xô đổ, tiếng kéo lê, rồi tiếng chân
huỳnh huỵch. Một gã hộ pháp, đội mũ sắt, có lẽ là lính
cao xạ, từ trong phòng Hải quan đi ra, khệ nệ khuân
trên tay hai két bia 33. Bước qua ngưỡng cửa, mắt
nghếch lên, gã vấp phải cái xác, bị xô chúi tới, ngã sấp.
Cả đống bia giáng sầm xuống, loảng choảng chai vỡ
tan, bia óng ánh vàng tuôn lênh láng. Đám lính tăng
cười rộ. Kiên nhếch mép.
Sượng sùng, gã sục "đồ cổ!' nhỏm dậy, tức tối vò hai
nắm đấm gườm gườm nhìn những kẻ đang cười nhạo
mình. Rồi nhổ toẹt, hầm hầm cái mặt, hắn sấn lại đá
tới tấp vào vật vừa ngáng chân hắn. Vừa đá, a rống
lên:
- Đ mẹ mày, con ớ ? Mày ưỡn của nợ ra đây cho
chúng nó ngắm à. Mày gài mìn bố mày? TỔ sư mày, cười
cái cắc củ? Đứa nào thích ngắm nghía mày thì kệ bố
mày, bố mày cứ dọn phắt mày đi?
Chửi đoạn, thằng cha "Chí phèo" túm lấy một chân
người chết xềnh xệch kéo lết đi.
Tất cả những người đang ăn và đang cười đều như bị
vút một roi, đờ hết ra. Không chút nương tay, thằng
nhơn nọ lôi xác cô gái xuống bậc tam cấp. Tóc tai xõa
tung, gáy và sọ xác chết này bình bịch như trái banh.
Trời ơi? Ai đó nấc lên.
Thằng chó má dã man kéo sền sệt cái xác khốn khổ
qua mặt sân bê tông loáng sáng nước mưa và nắng
chói, rồi hù, hắn choãi chân vặn lưng lấy đà, quăng
mạnh, liệng bổng người ta lên.
Xoay ìộn một vòng trong nắng, cái xác trắng rợn bay
chênh chếch, rơi thịch xuống cạnh mấy cái thây lính dù
chưa ai dọn. Lưng vừa chạm đất, người đàn bà chết
ngồi bật dậy, hai tay đưa vung lên, cái miệng tuồng
như há ra chực kêu rồi ngã vật nghiêng, đập đầu
xuống. Tên súc sinh khệnh khạng bỏ đi, tay khuỳnh
khuỳnh ra dáng người hùng.
Mấy người lính tăng vụt đứng cả dậy chạy xô hết
xuống sân. Kiên bối rối, lập cập chạy theo họ.
- ĐỒ súc vật đểu cáng! - Người trưởng xe cao lớn, đầu
quấn băng rít lên, giật phăng khẩu AK khỏi vai. Kiên
xốc nhanh lại, chộp cái ốp che đẩy ngược súng lên. Vừa
vặn đạn tuốt khỏi nòng. Toàn đạn vạch đường, trọn cả
băng xả chếch lên trời. Các tút nóng rẫy tạt tới tấp vào
mặt Kiên.
Lúc này khắp phi trường tiếng súng ăn mừng đã
loạn lên. Lính quan rầm rập, nườm nượp. Người chạy
tới' người chạy lui khiêng dỡ, đập phá ầm ầm ào ào,
nhốn nháo như chợ. Thành thử chẳng ai để ý sự cố xảy
ra. Ngay cả tên đội mũ sắt cũng không hề hay biết là
vừa bị cái chết mười mươi sờ gáy.
- Thế nào, chẳng lẽ chỉ vì thế mà cậu định giết nó à?
- Kiên sửng sốt.
Chẳng nói chẳng rằng người a bắn giật thân súng
khỏi tay Kiên và trừng trừng nhìn anh một cách hung
hãn và thù địch. Hắn làm sao vậy nhỉ, Kiên lạ lùng
nghĩ. Anh nói:
- Con ấy chắc chả phải dân thường. Có lẽ là lính
thông tin hay không quân gì đấy.
Cậu câm đi?
Cái gì?
- Cậu nói ngu lắm? Nên im đi thì hơn
Kiên vằn mắt, nắm tay lại, điên tiết muốn quại.
- ôi thôi, thôi mà. Chín bỏ làm mười, ngày vui thắng
lợi các bố ơi~ - Anh em nhà tăng can.
Bây giờ bỏ "đồ cổ" đấy đã, - Một người đề nghị - Ta
xúm tay vào dọn dẹp chỗ xác này đi cho nó mỹ quan là
hơn chứ can gì mà nổi khùng vì cái thằng ôn dịch ấy.
Nhé, dọn họ đi nhé. Nói chung họ cũng là người. Lấy ri
đô và rèm cửa liệm qua cho họ. Còn cô gái thì ta phải
lấy vải bận vào cho cô ấy. . . Khối quần áo đàn bà ở va li
đằng kia. Để tớ đi lấy. Cậu nào biết búi tóc thì búi vào
cho cô ta.
Kiên nén giận ở lại dọn dẹp cùng với họ. Gần tối mới
xong. Tất cả các xác chết đều được khâm liệm và được
khiêng ra nằm thành dãy ở rìa đường băng để đợi ôtô
tới rước. CÔ gái được mặc quần áo đẹp, tóc được búi và
mặt mày được rửa.
- Thế là xong! Mẹ nó chứ, vĩnh biệt một thời?
Một người lính tăng chửi thề một cách trang trọng.
Mọi người cũng cất mũ.
- BỎ quá cho tớ nhé, - Người lính đầu quấn băng ban
nãy đã sừng sộ với Kiên bây giờ xin lỗi - Bọn tăng
chúng tớ nói thật là rất ngợp xác chết. Xích xe còn kẹt
khối những mẩu người, phải có sông suối mà lội hẳn
xuống thì vỏ xe mới hết thối. Thế nhưng thấy cái thằng
khốn nạn nó hành hạ thân thể một con người như thế
không chịu nổi. Lại là một người phụ nữ. Giết nó đi là
may cho đời. Cơ mà... nếu không có cậu thì tớ đã gây án
mạng biến mình thành sát nhân. Vì dù sao thì cũng
hòa bình mất rồi. Với lại cho thằng ấy ăn đạn thì cũng
vô lý lắm. chúng mình mà lại chẳng gỗ đá thế hay sao?
ăn uống ngủ nghê ngay cạnh một thi thể con người mà
cứ như không. Lại còn biện luận lính hay dân...
- Thôi đủ rồi?
- Không, mình nói thật lòng đấy. Chính cái thằng
cục súc hồi chiều nó đã cảnh tỉnh cho chúng ta: Hãy coi
chừng mà xem lại nhân tính.
Kiên cau mặt, quay ngoắt, bỏ đi. Nhân tính! Một trò
lạ đấy nhỉ. Anh nhớ lại cái chết của Oanh cách đây hơn
một tháng, vào buổi sáng hôm trung đoàn đánh vào Ty
cảnh sát Buôn Ma Thuộc. Nhân tính! Mẹ kiếp?
Bọn cảnh sát văn phòng chống cự hăng không kém
bọn lính chiến. Bắn nhau gần một tiếng đồng hồ quân
ta mới thọc được vào tòa nhà chính. "eứ áo trắng mà
giết áo vàng có thể tha?". Truyền miệng như thế,
chẳng biết lệnh ban đầu ai hô lên. Nháy cò mỏi tay mà
áo trắng vẫn túa ra từ các phòng như cò loạn tổ. Kiên
và Oanh, hai thằng trị xong được Oå trung liên trấn đầu
cầu thang tầng ba, cùng nhau vọt lên. Dọc hành lang,
cứ mỗi phòng tống cho một quả u-ét. Bọn cảnh sát dùng
súng lục đáp lại tiểu liên và lựu đạn chứ không chịu
hàng. Kiên nhớ đấy là căn phòng cuối cùng hành lang
dài suốt dọc tầng ba. Cánh cửa bọc da màu nâu bật mở
trước khi Oanh và anh xông tới. Ba cái bóng bận quân
phục màu trắng lao ra như ba làn chớp liều mạng bổ
tới cầu thang lên gác tư.
- Đàn bà? Đừng bắn...! Oanh rú lên.
Họng AK của Kiên vẫn kịp quất một loạt ngắn. Pầm
pầm, pắm. Ngừng bắn. Kiên thét to một cách máy móc:
"Hàng thì sống chống thì chết!". Ba người đàn bà vận
váy áo cảnh sát khuỵu xuống hành lang trải thảm
xanh. Những búng máu màu mận chín vọt lên như vòi
phun. Nhưng chỉ hai người dính đạn chết tươi, người
thứ ba ngã ngồi vào chân tường. Kiên và Oanh nhảy
một bước xáp tới.
Không khí sặc mùi khói đạn và mùi máu mà vẫn
không át hơi nước hoa. Mái tóc uốn của cô gái xõa
~lống mặt nhưng cô vẫn đưa tay lên che mắt. Đôi môi
~ chót son méo xệch mếu máo. Cả tòa nhà lúc này inh
ti nhức óc tiếng súng, tiếng lựu đạn, tiếng hò hét,
ếng chạy sầm sầm. Kiên tiến vội đến đầu cầu thang.
anh nói rất nhanh với cô gái trẻ đang từ từ đứng dậy:
~i xuống sân, đưa hai tay lên cao, sẽ không ai bắn!"
à vội vã xách cái ba lô cóc lộn ngược nhét đầy lựu đạn
lò vịt như cái túi ổi chạy nhào theo, bám sát Kiên.
Thực ra, Kiên không nghe thấy tiếng súng lục giữa
~ bề đinh tai tiếng súng máy, cũng không nghe tiếng
êu trúng đạn của Oanh, tai anh ù đặc. Và có lẽ Kiên
~loát chết vì khẩu P38 trong tay cô gái đã bắn hết kẹp
án hoặc đột nhiên bị kẹt... Anh hơi nép vào tường
ngoái lại chỉ định bảo Oanh đừng vội xông thẳng lên
ẩu thang ngay, phải dùng lựu đạn áp đảo ở bên trên
Où đã Nhưng...
Ijưng của Oanh đã hứng trọn cả mấy viên đạn mà kẻ
'ăn lén kia đã kịp bắn. CÔ ta cầm súng bằng cả hai bàn
ay, đứng khom khom chĩa nòng vào thẳng mặt Kiên.
khoảng cách mười thước, khoảng cách chắc chắn Kiên
,hải chết. CÔ ta bóp cò. Họng súng chiếu tướng Kiên
ồi Không ngờ lại nín thinh. Kiên bắn. Nhưng điều
kinh khủng là anh đã tiến tới gần rồi mới bắn. Mặt đối
nặc. Bắn trả thù. Và kinh khủng hơn thế là khi bị cả
hừng nửa băng đạn xô vật ra, cô ta vẫn còn thúc cùi
ay xuống sàn và ngóc đầu lên, như toan ngồi dậy, Kiên
bắn bồi luôn. không phải một phát mà là trọn nửa băng
nữa. Những đầu đạn cỡ 7,6 ly quật đôm đốp vào nền đá
hoa dưới lưng tấm thân vận bộ đồ trắng đã đỏ lòm.
Kiên ôm bụng ngồi thụp xuống cạnh bốn cái xác và run
bần bật ọe khan. Mười năm đánh nhau, từ thuở là tân
binh tới giờ anh mới bị một lần như thế...
Nhân tính! Tình người...? Kiên cười gằn vung tay
liệng chai Brandy vào tường. Suốt đêm anh lang thang
trong phi cảng xem lính tráng vét !!đồ cổ" nhập hội ăn
nhậu đập phá. Cuộc hoan lạc Oà ạt song ít vui, đúng hơn
là tuyệt nhiên chẳng vui một chút nào. Bàn ghế bị xô
đổ, đập nát, chẻ băm ra, ngổn ngang, lổng chổng. Giấy
má tiền bạc tung tóe bay. Ly cốc bình tách bằng sứ
bằng thủy tinh bị đập vụn. Chai vỡ từng két xối tràn
suối rượu xuống tưới đẫm các tấm thảm. Và tiểu liên,
súng lục đua nhau nã vung vít lên trần bắn rụng các
đèn chùm. Ai nấy thả sức uống. Say khướt. Phần đông
dở khóc dở cười. Có tay rống lên rồi nức nở và sặc nấc
như dậy cơn tâm thần. Hòa bình ập tới phũ phàng,
choáng váng đất trời và xiêu đảo lòng người, gây bàng
hoàng, gây đau đớn nhiều hơn là mừng vui.
Kiên ngồi trong căng tin của hàng không Pháp, gác
chân lên mặt bàn lặng lẽ uống. Ly này tiếp ly khác, ực
một hơi cạn mà mặt chẳng nhăn. Kiểu uống man di.
Kiểu uống chửi cha cuộc đời. Nhiều người đã đổ kềnh
anh thì mặc kệ vẫn tì tì thả phanh. Đêm lạnh lùng.
Đêm kinh khủng. Khắp phi trường, từ ngoài đường
băng vào đến trong nhà ga, tiếng súng rầm rộ quay
lồng tràn lên trên mọi tiếng ầm à khác. Pháo hiệu
ình, đỏ, vàng, tím, cùng những loạt đạn vạch đường
~m ửng hồng vòm trời. Dường như một trận động đất,
~lờng như một cuộc đại náo thiên cung. Không thể nào
hông rùng mình cảm thấy rằng ra đi cùng với ba chục
ăm trường chiến trận là cả một thời, là cả một thế giới
~i biết bao nhiêu là cuộc đời và số phận, là sự sụp đổ
ỉa cả một góc trời cùng đất đai và sông núi.
Còn Kiên, trong bầu không khí càng gần về sáng
ing huyên náo anh cảm thấy sâu sắc cái lặng yên ghê
~m của ban mai hòa bình đang ruổi tới ngược chiều
~i bóng đêm. Và anh đột nhiên thấy tràn ngập trong
)ng cảm giác cô đơn trơ trọi. Trơ trọi hơn bao giờ hết, '
Ơ trọi từ đây.
Về sau, mỗi khi được nghe người ta kể hoặc được
em phim, được thấy cảnh ngày 30 tháng Tư ở Sài Gòn
ên màn ảnh: cười reo, cờ hoa, bộ đội, nhân dân, nườm
ướp, bừng bừng, hân hoan, hạnh phúc... tự nhiên
ong Kiên cứ nhói lên nỗi buồn pha cả niềm ghen ty.
úng như họ, cũng trải qua những cảnh tượng không
lể nào quên của chiến thắng, mà đám lính chiến tụi
anh lại không có được tâm trạng sáng choang, bay
ổng, ào ào sướng vui như họ là cớ làm sao? Tại sao
~m giác ngột ngạt lại đến với bọn anh quá sớm như
lễ, hầu như là chưa nhấc kịp chân ra khỏi chiến hào
ứa kia?
Bữa đó anh uống suốt đêm nhưng mãi đến sáng đầu
óc anh mới bắt đầu sóng sánh. Những bức tường kính
như tan thành khói, nền nhà uốn sóng, dập dềnh. Thốt
nhiên, Kiên sững người. CÔ gái hôm qua nằm chết trần
truồng ở ngưỡng cửa Hải quan, giờ đây đã dứt bỏ tấm
vải liệm bằng rèm cửa sổ, và cả bộ đồ người ta mặc vào
cho cô trước lúc đem đi chôn cô cũng rũ tuột, lõa lồ
khủng khiếp bơi tới với anh. BỘ ngực trắng bệch, mái
tóc xòa rối rũ rượi, cặp mắt huyền đầy kiến, đôi môi
méo mó nở nụ cười vàng ệch kinh khủng. Song Kiên
không thấy sợ, không thấy ghê tởm trước cái ảo giác
lạnh cứng này, trái lại. Thương xót não nề, tim anh
thắt đau. Đây là một con người đã bị giết hại và bị lăng
nhục, một thân phận bị chính Kiên coi rẻ và xổ toẹt.
Không được quên, không được quên tất cả những gì đã
xảy ra trong cuộc chiến tranh này, số phận chung của
chúng ta, cả người sống lẫn người chết!
Như bị roi quất vào lòng, đau đớn và mê loạn, chới
với Kiên những muốn ôm lấy bóng ma người đàn bà vô
thừa nhận ấy. Và nghẹn ngào say, anh thiết tha an ủi
vong hồn bất hạnh bằng những lời tối tăm mù mịt vì
đau khổ.
Và nói ra thật khó lòng ai tin nổi: theo năm tháng
dần dần nỗi ám ảnh và mềm oan khốc cuối cùng ấy của
chiến tranh đã thành ra như là niềm thương nhớ
tuồng như cô gái Tân Sơn Nhất ấy đối với Kiên vốn dĩ
không phải là một tử thi mà thật sự là một người đàn
bà anh được gặp một lần duy nhất trong đời vào thời
trong lòng những cái gì đã chứng kiến, đã nghe thấy về
người chủ của những bản thảo chứa nặng điềm gở ấy,
cũng như sẽ giữ mãi niềm hy vọng còn gặp lại anh.
Chị mới dọn đến ngôi nhà được vài năm nay. Cái
tầng thượng của ngôi nhà ba tầng cũ nát, bao nhiêu
năm bỏ không cho chuột bọ, người ta sang sửa gọi là để
chị ở. Mỗi mình phòng chị trên tầng đó. Trên đấy có
ma, nghe người ta kháo thế nhưng chị chẳng hãi vì
chính chị cũng mang dáng dấp một bóng ma. Chơ vơ cô
lẻ Một mình một bóng, sáng đi tối về, nhẹ chân kín
tiếng, và mặc dù còn trẻ nhưng do một mực nín thinh
nên hầu như chẳng tiếp xúc với ai, chẳng ai rõ lai lịch
hoàn cảnh.
Trước khi trở nên đậm tình nghĩa với Kiên chị cũng
đã đôi lần gặp anh trên cầu thang hẹp. Một cách uể
oải, anh khẽ nhếch mép cười và gật đầu với chị. ấy là
những khi có hơi men. Còn khi tỉnh táo thì hoặc ậm ừ
trong họng một lời chào hoặc cụp mắt xuống, không
nhìn, thậm chí chẳng buồn nhường lối cho chị. Người
anh cao, vai rộng, nhưng gầy,' nước da xấu, cổ lộ hầu,
khuôn mặt nhìn nghiêng nhìn thẳng đều không đẹp,
thô cứng, sớm dày nếp nhăn, thần thái mệt mỏi, rượi
buồn. Loáng thoáng chị biết anh đã tứ tuần nhưng vẫn
sống độc thân và người đàn bà anh hằng yêu vốn là
người bạn học từ thời thơ ấu, hiện vẫn ở sát buồng anh,
là một phụ nữ tài sắc tuyệt vời. Chị cũng nghe nói anh
là một nhà văn?
Tay nhà văn của phường chúng tôi kia kìa!
Vẫn nghe dân phố này họ nói thế nhưng chẳng hiểu
ói như vậy là họ tự hào hay họ cười cợt, họ thương hại.
hí thì chị thấy cái tánh danh "nhà văn'! ấy nó làm sao
ý, như thể là một thứ tai tiếng. Lại nghe mấy ông bộ
ôi cũ trong phố gọi anh là Thần Sầu chị ngỡ Thần Sầu
~ một bút danh.
Nghĩa là... do một linh cảm nào đó, không phải là
~lị đã không sớm có vài ba nghĩ ngợi và nhận xét về
anh, đồng thời chị cũng có cảm giác mơ hồ là anh để ý
~i chị, vì sao thì không biết, nhưng có để ý. Dĩ nhiên có
~ể hoàn toàn đơn giản là anh tò mò như mọi người
tôi trước một người câm.
Rồi, một tối nọ, mùa hè, anh lên, gõ cửa, cạch một
ông và cạch tiếng nữa. Đã muộn, lại ngửi thấy mùi
tàu, chị ngần ngại nhưng rồi cũng mở cửa. Tính chị
lễ rụt rè, nhút nhát nhưng chẳng ngán sợ bất cứ sự
~ ở đời, nghĩa là luôn gan góc một cách đầy cam chịu.
- Tôi... Kiên lúng búng, không rõ là lên tiếng chào
ay muốn phân bua về sự đường đột, nhưng chị đã mở
)ng cửa và né sang bên, tỏ nhã ý xin mời vào.
Loạng quạng, Kiên làm đổ chiếc ghế tựa.
- Không sao... Anh nói và ngồi phịch xuống giường
lị Dựng ghế dậy, chị ra hiệu cho anh lại ngồi ở ghế
~n bàn.
- à, vâng, xin lỗi... - Anh ấp úng, đứng dậy, bước đến -
Chị đừng sợ...
Khuôn mặt Kiên biến dạng vì ngấm say, môi run
run, mắt mờ dại, đùng đục, nhưng ấy thế mà nom hiền
và dễ gần. Chị róc một cốc nhân trần đưa mời. Anh
uống cạn và như phần nào tỉnh ra, dịu hơn, ngồi thẳng
lên đưa mắt nhìn chầm chậm quanh căn phòng nhỏ
hẹp, nghèo nàn, rỗng trống của chị.
- Trên này... - Kiên nhả tiếng, gắng không vấp lưỡi -
Hè nóng, sang đông thì lạnh. Gió lùa. Tôi biết... Xưa,
đây là xưởng vẽ của cha tôi. ông vẽ... và nhiều chuyện
khác nữa . . . chị hiểu không?
Gật đầu, rồi lắc đầu, chị mỉm cười và với vẻ tin cậy
hơn, ngồi xuống chiếc ghế cạnh ghế anh.
- Họ bảo trên này nhiều ma. Không phải đâu. Họ
đấy Những người trong tranh... Trước khi mất cha tôi
làm lễ phóng thích cho họ ra khỏi mặt vải. ông đốt.
Một nghi lễ cuồng tín man rợ. Dấy loạn. Chẳng bức nào
con . . . .
Im lặng, anh gõ ngón tay vào trán, cố nhớ ra một cái
gì đấy rồi lại nói:
- Khi cha mất, tôi đi biệt mười năm. Trở về, tôi nghĩ:
hay là dọn lên trên này? Nhưng tôi sợ, không phải sợ
ma quỷ. Ma thì tôi có đủ dùng rồi. Tôi sợ thấy lại cái
đêm cha tôi ngồi đốt tất cả sự nghiệp của ông. Và tôi sợ
phải nhớ lại từ đầu. Nhớ từ đầu, rồi phải nhớ lại tất cả.
Mặc dù chẳng hiểu gì, nhìn cái bóng Kiên in trên ~
tường, tự nhiên chị hình dung một ông già ngồi nhóm
lửa bằng những bức họa của ông, hai mươi năm về trước.
- Thế rồi chị tới. Chị không sợ. Chị là ai? - Lưỡi Kiên
líu lại các ý nghĩ như sắp lộn ngược - eh;. Trừ phi là
nhầm, tôi nhớ ra chị là ai. Tôi... một là muốn chị đổi
phòng. Tôi lên, còn chị xuống đó. Hai là, chúng ta làm
quen nhau. Nhớ lại nhau. Tóm lại...
Chị lờ mờ hiểu rằng, lúc này ít nhất là do say anh
đang lẫn chị với một ai đó, nhưng chị là người không có
khả năng cải chính.
Anh đặt bàn tay to và nặng, thô như bàn tay thợ lên
bàn tay chị, khẽ bóp lại, và nói với giọng dậm dọa:
- Trong tiểu thuyết tôi đang viết có chị. Hiểu không?
Chị có hiểu không? Cho nên chị giúp tôi nhớ lại Bây
giờ tôi rất cần nhớ lại từ đầu. Nhớ lại tất cả. Nhớ bắt
đầu từ cái sân thượng này...
Chị cứ để mặc cho anh nói, anh kể. Những người say
cần được tự do. Và chị cứ để bàn tay cho anh nắm, xiết,
vầy vò đến đau nhói, đỏ tấy lên. Tới khi Kiên rũ gục
xuống mặt bàn, ngủ thiếp đi thì chị cũng đã mệt lả.
Chật vật mãi mới gỡ được tay ra...
Bẵng đi một thời gian lâu. Chị không nom thấy anh
mặc dù đêm đêm cửa sổ phòng anh vẫn sáng đèn. Rồi
một bựa chị gặp anh ngoài cổng. Tuồng như Kiên vừa
đi xa về, gầy hơn, già hơn, lầm lì. Chị mỉm cười, gật
đầu chào anh trước. Kiên ậm ừ gì đó, nhìn chị vẻ ngạc
nhiên lạ hoắc. Chị thấy nhói trong lòng. Hiển nhiên là
anh đã quên bẵng, lững lờ, gạt chị về với sự câm lặng
của chị.
Song, thình lình, một tối nọ lại có tiếng gõ cửa cạch
cạch. Lại mùi rượu. Lại một ma men. Còn chị thì lại
nhẫn nhịn ngồi hầu chuyện, tay trong tay như thế và
vẫn hoàn toàn chẳng hiểu thế giới ngôn từ của con
người quái nhân này. Và rồi lại một thời gian bặt bóng
anh.
Sau đó, lại bỗng một đêm... lặp đi, lặp lại. Nhưng rõ
ràng là chỉ lúc say Kiên mới nhớ tới chị. Chỉ khi đã tự
phục rượu cho mình tới một mức đủ điên rồ nào đó anh
mới cần tới chị. Anh lần lên cầu thang như trí nhớ~mò
mẫm theo một rãnh mờ trong não. Và lại chuỗi dài
những câu chuyện vừa kinh khủng a mù mờ. Trong
khoảng thời gian trước khi kềnh nghiêng xuống mặt
bàn thiếp đi, anh ngồi kể. Mặt sa sầm. Giọng khàn
khàn, độc thoại.
Có thể là chậm hiểu nhưng rồi mãi chị cũng hiểu ra,
những chuyện lòng thòng anh kể hằng đêm là những gì
anh đang viết. Do một nhu cầu mới nảy sinh, kỳ quặc
và tham lam, anh cần chị ngồi thu âm các ý nghĩ, các
trường đoạn của anh. Với cái thói ích kỷ cố hữu của đàn
ông, cộng với lối ích kỷ đặc thù của dân làng văn, cùng
cái lối ích kỷ ngây ngô của làng say anh ta độc đoán
hiếm hữu chị về mặt tinh thần còn thì bỏ lơi chị về
nói mặt, biến chị thành một thứ bản nháp.
Đôi khi đau đớn, oán hận chị định thét lên, đuổi cổ
inh đi, nhưng rồi ngay đến cả ú Ơù cũng không. Câm
lên, cam chịu và thực sự đam mê, chị như một loài dây
eo quấn lấy cơn khủng hoảng của anh. Chị cần những
)uổi tối hiếm hoi đó, cần những cơn say bét của anh,
:ẩn được ngồi im lìm bên anh, bị anh xoay trái, xoay
)hải bàn tay, cần nghe anh khùng khùng kể lể và miêu
ả Chẳng hiểu gì mấy, đúng hơn là chẳng hiểu một tí
rì, song tất cả những lời lẽ rối mù ấy của anh đối với
hỉ mỗi ngày một thêm quyến rũ, như là bùa ngải, như
à phép chài êm.
Tất nhiên là dân tình bắt đầu xì xầm.
- Một mối tình buồn cười đấy nhỉ!
- Y không ngốc đâu. Con bé tuy câm và hơi hơi dở
thưng kháu ra trò.
Họ thỏa thuận thế nào với nhau, một câm một
khùng?
- Họ sẽ lấy nhau chứ?
Các bà thì thào. Cánh đàn ông phá lên cười. Song có
nghe thấy thì chị cũng chả giận họ. Chỉ tủi, bởi vì giá
mà như họ nói. Đằng này...
Chị chẳng là một cái gì cụ thể đối với Kiên. Anh lẫn
chị với hết người này sang người nọ, cả những người
chết với những hồn ma. Và anh chẳng biết gì cái sự
tình rằng chị là đàn bà. Chị thừa biết là anh lên đây
trong những cơn say không phải đơn thuần vì rượu mà
còn vì mê lú bởi yêu mê mệt người đàn bà nọ, bởi khổ
sở, tuyệt vọng trong mối tình ấy.
Đến bây giờ thỉnh thoảng chị vẫn phải sống lại trong
lòng cảm giác kinh hoàng tủi hổ đã phải trải qua vào
cái đêm vì không cưỡng được bản thân, chị đã hôn anh.
Đêm ấy là đêm duy nhất Kiên lên thăm chị mà gần
như không say. Chỉ một chút lơ mơ thôi. Anh rụt rè,
ngồi 'im. Dường như anh muốn nhường lời cho chị tối
ấy Và thận trọng anh hỏi là chị có thể bút đàm không?
Chị lắc đầu, chị nghĩ là nên thế. Anh nói là anh đã viết
gần xong cuốn tiểu thuyết. Rồi anh bảo, anh chẳng biết
làm gì với núi giấy ấy. Đây là lẩn đầu anh thổ lộ với chị
chuyện đó. Lời lẽ của anh giản dị, mạch lạc và rõ tiếng.
Anh như một người hoàn toàn khác. Anh nói anh có thể
sẽ đi xa, anh sẽ nhớ chị, nhớ căn phòng này.
- Phải, căn phòng này, xưởng vẽ của cha tôi. Và là
nơi của nhiều chuyện khác nữa... - Anh nói.
Bất giác, anh xoay sang kể những câu chuyện của
thời thơ ấu. Những kỷ niệm buồn buồn vui vui, sâu xa
niềm nuối tiếc. Chị hiểu được tất cả những điều đó. Tự
nhiên, theo giọng kể của anh chị đưa mắt ra cửa sổ
nhìn vòm trời đầy sao, lắng nghe tiếng gió vuốt nhẹ
mái tóc các hàng cây, và tiếng còi tàu tàu hỏa từ đâu xa
xăm gọi về. . .
Tuy vậy vẫn phải có cái gì ma quái trong những cảm
giác lâng lâng trong lành đêm mùa xuân ấy chứ nếu
không chị đã không để bị xô đẩy tới chỗ buông thả như
vậy Thình lình cắt ngang lời anh, chị chồm mình tới,
[bàng tay ôm lấy cổ anh, riết miệng vào môi anh hôn
nốt cái hôn xoắn riết, nóng rực và ươn ướt. Chị du anh
uống giường.
Kiên hét lên một tiếng rất trầm và vùng đứng dậy,
~ô bắn chị xuống sàn. Chị hơi né mặt, mình run cả vì sợ
ả với niềm hưng phấn liều lĩnh, đợi một trận đòn hay
nốt hành động nào đó cuồng dại nhất. Song Kiên đã
ập tức chùng xuống, cặp mắt mờ hẳn đi. Anh bước giật
úi ra khỏi phòng và lần mò trong bóng đêm mất điện
ìể xuống cầu thang. Lo lắng, buồn rầu át nỗi tủi hổ và
liềm oán giận, chị theo sau anh, trông chừng anh cho
ới lúc anh vào được buồng anh ở tầng hai, đóng cửa lại.
lúc ấy tình cảnh của Kiên làm chị nhớ tới một cảnh
ương đã thấy hồi nhỏ khi người hàng xóm mắc chứng
nông du bị người ta đột ngột kéo giằng ra khỏi giấc
ngủ đang đều nhịp bước để ném quăng vào vực thẳm
)ừng tỉnh.
Từ đấy Kiên không lên chỗ chị nữa. Chị bàng hoàng,
ngơ ngẩn, buồn nhớ và thất vọng. Chị biết anh chưa đi
sâu xa, như anh nói. Chị nghĩ hay là anh đã chừa rượu
và sẽ chẳng bao giờ còn say nữa.
Một đêm, mất điện, chị rón rén xuống cầu thang tới
bên phòng anh. Anh vẫn đang thức. ánh đèn dầu vờn
qua khe cửa. Biết phòng anh không khóa bao giờ, lấy
hết can đảm, chỉ xoay nắm đấm, rồi lén lút mở hé cánh
cửa. Ngạt thở. Mùi rượu, mùi khói thuốc và muội đèn.
Chị như nghe thấy tiếng rên rỉ, nhưng chị không dám
lách vào. Kiên ngồi bên bàn cắm cúi viết dưới ánh đèn
dầu. Mê man. Cặm cụi. Tuyệt nhiên không cảm thấy
ánh mắt của chị, không nghe thấy tiếng kẹt cửa. Không
gì có thể làm anh sao nhãng những dòng chữ trên các
trang của anh vào lúc này. Chị buột lên một tiếng thở
dài nhưng mà anh cũng chẳng nghe thấy nổi. Và chị cứ
đứng mãi như thế bên cánh cửa hé mở, cho đến lúc đêm
tàn, dần dần một buổi rạng mơ.
Thời gian trôi qua, nhiều tháng. Cuốn tiểu thuyết
của anh hóa ra vẫn chưa thể kết thúc. Anh như bị nhốt
trong lồng sắt của cuốn sách ấy. Và đương nhiên là chị
thì anh đã quên bẵng rồi. Mùa hè. Mùa thu. Rồi mùa
đông. . . Chị vẫn nhân những đêm bị cúp điện để được
thấy anh qua khe cửa hẹp. âm thầm thành kính chị
ngắm anh đang làm công việc bí ẩn và điên rồ của anh
trong quầng sáng tối tăm, tóc dài ra, râu dài ra, rộc
rạc, già đi từng giờ trong đêm.
Nhưng cũng có một lần chị bước vào trong phòng và
khép cửa lại. ấy là một đêm cuối mùa đông điện mất từ
đầu tối, nửa đêm bỗng có lại. Hành lang chợt sáng
bừng vừa trúng khi có bước chân ai đó lên cầu thang.
Chị lách nhanh vào buồng. Khép cửa lại, chị đứng dựa
~ng vào đấy thở dồn, tim đập mạnh. Phòng im phắc,
~í câm song không phải là Kiên đã đi ngủ. Cây đèn
oa kỳ đã cạn dầu, bấc nhô cao cháy đỏ như mẩu thép
ung. Kiên không ở bên bàn mà quỳ cạnh cái lò sưởi
ấy trong góc. Lửa trong lò cháy không đều, bùng bùng
~n rồi nhỏ lụi xuống rồi lại bùng lên, cứ thế mãi. Chị
ghe tiếng giấy bị xé ra chầm chậm. Lẳng lặng chị đi
ấn cạnh anh và cũng quỳ xuống. Một chồng giấy chất
lên sàn giữa hai người. Không nhìn chị, không biết có
hí, anh giật tờ trên cùng ra khỏi tập, xé đôi, nhúng
~ng nửa một vào ngọn lửa trong lò.
Chuyện này cũng như xưa nay mọi chuyện anh làm
êu bí ẩn dối với chị và chị chẳng muốn biết, chẳng cần
giết làm gì. Cho nên có lẽ chỉ là tình cờ thôi mà chị nhớ
~i câu chuyện về những bức tranh của cha anh vào
úng lúc này. "Một nghi lễ cuồng tín, man dại, dấy
)án". Những bức họa bị thiêu... những người trong
anh được phóng thích . . . Chính anh đã kể thế đêm
ào. Và bây giờ chị như nghe thấy những tiếng xèo xèo,
hững tiếng kêu than trong lửa. Nén sợ, chị nhẹ nhàng
ẵm lấy bàn tay của Kiên đang đưa tới chồng giấy để
giật tiếp một tờ nữa. Giật mình, anh vụt ngẩng lên,
ánh mắt lóe nhanh một tiếng rít âm thầm, ngạc nhiên
à hung dữ. Ngọn lửa trong lò ngốn toàn giấy lập tức
~t lụi Các tàn giấy xào xạc tơi vụn ra và bay từ miệng
) vào khắp căn phòng tối đen lạnh lẽo. Và, đêm ấy, còn
im lặng hơn cả chị, anh chiếm đoạt chị một cách
cuồng bạo, khốc liệt, giằng xé, thẳng thừng tàn phá,
đâm vào chị nỗi đơn độc bí ẩn, sắc như dao, đầy hiểm
nghèo của anh...
Ngay sau đêm ấy chị không thấy anh nữa. Sáng ra
chị hiểu ngay rằng anh đã bỏ lại căn phòng đấy cho chị
và đi rồi. Cánh cửa bật tung ra, đóng sầm lại. Gió lạnh
lùa dọc hành lang, ni lên. Trên sàn nhà giấy tung xòa
rơi và những vỏ chai lăn lóc.
Chị dọn dẹp căn phòng rồi khóa lại. Giấy, chị thu
dồn thành bó, khuân cả lên phòng của chị trên tầng áp
mái. Chị có đọc lướt nhưng không hiểu gì hết. Không tờ
nào có đánh số trang. Một tập hợp nhàu nát, so le, xô
lệch, như rừng vậy với ngàn cây đủ loại, khoảnh này
xen trong khoảnh kia. Còn anh thì biền biệt. Không ai
hỏi chị mà chị cũng không thể hỏi ai. Dần dần chị cũng
chẳng biết có phải là mình đang chờ đợi một ai đó không.
Ngày lại ngày. Nhiều tháng. Và hàng năm trời rồi sẽ
trôi qua. Đống bản thảo phủ bụi và biến dần thành một
' cái gì giống như một tập tài liệu cổ. Có lẽ số phận của
nó sẽ thế, sẽ không tránh được... '
Tuy nhiên tất cả những chuyện trên đều sẽ chỉ xảy
ra về sau, vào một mùa đông xa vời phía trước. Còn lúc
này vẫn là đang trong thời quá khứ. Còn Kiên, theo
như cách anh tự biểu tượng, vẫn đang hằng đêm hóa
thân thành ngọn nến leo lét cháy lên trong bầu không
khí tù đọng, trong cảm giác ngột ngạt và trong những
buồn đau say khướt không tài nào ai hiểu nổi của anh.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0