📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Harriet

1 trả lời, 1.163 lượt xem — Trang 1 / 1
Năm 25 tuổi, tôi một mình lang thang dọc theo bờ biển Normandy, với chiếc ba lô trên lưng, từ quán trọ này đến quán trọ khác, với cái cớ là nghiên cứu và phác hoạ phong cảnh. Lúc đó, tôi thấy không có gì thú vị hơn là cuộc sống lang thang đó. Tôi cảm thấy hoàn toàn tự do, không bị ràng buộc bởi bất cứ thứ gì, không có gì làm tôi phải bận tâm, phải suy nghĩ. Sống như vậy, người ta có thể đi theo bất cứ hướng nào mình thích, đến bất cứ nơi nào theo sự dẫn dắt của niềm đam mê, không bị lệ thuộc vào giới hạn nào, luật lệ nào. Người ta có thể dừng chân vì tiếng róc rách của một con suối, vì mùi thơm của khoai tây rán khi đi ngang một quán trọ, đôi khi là mùi hương hoa hoặc cái liếc mắt tinh nghịch của cô hầu gái trong quán rượu. Đừng coi thường những con người quê mùa đó. Họ là những cô gái có tâm hồn và cảm xúc, chưa nói đến những đôi má hây hây và cặp môi ngọt ngào; nụ hôn của họ thơm nồng hương của những loài hoa dại. Tình yêu là như vậy, nó chờ bạn ở bất cứ nơi nào. Một trái tim run rẩy vì bạn, một đôi mắt nhỏ lệ khi bạn ra đi, đó là những điều hiếm hoi, rất ngọt ngào, rất quý giá, và không được phép rẻ rúng.

Tôi đã có những cuộc hẹn hò bên những bờ hào đầy hoa anh thảo, sau những chuồng bò và nhà kho, giữa những rơm rạ còn vương chút hơi ấm mặt trời. Trong ký ức của tôi có những làn da mềm mại ẩn dưới những tấm áo xám thô kệch, những nụ hôn giản dị mà sự chân thành khiến chúng ngọt ngào hơn cả nụ hôn của những phụ nữ duyên dáng và sang trọng.

Nhưng bạn sẽ nhớ nhiều nhất là những làng quê, những cánh rừng, mặt trời mọc, cảnh bình minh, và ánh trăng. Đối với một hoạ sĩ, đó là những tuần trăng mật với Thiên nhiên. Bạn được ở một mình bên nàng rất lâu trong không gian yên tĩnh. Rồi bạn ngủ lại trên những cánh đồng, giữa muôn ngàn hoa macguerite và hoa anh túc; và khi choàng tỉnh dưới ánh mặt trời, bạn nhận thấy ở phía xa, một ngôi làng nhỏ với cái tháp chuông cao vút ngân vang, cho bạn biết đã 12 giờ trưa.

Bạn ngồi xuống bên bờ con suối chảy ra từ dưới gốc một cây sồi, giữa những thân cỏ cao và mảnh khảnh. Bạn quỳ gối, cúi xuống uống nước, dòng nước lạnh và trong vắt làm bạn ướt mũi; bạn uống nước với một sự vui thích, như đang hôn dòng suối, môi kề môi. Đôi khi, tìm ra một chỗ đủ sâu trong lòng suối, bạn cởi hết quần áo và ngâm mình vào đó. Bạn sẽ cảm thấy làn da được vuốt ve âu yếm, từ đầu đến chân và dòng suối khẽ run rẩy, mơn man trên da thịt.

Một hôm, tôi đến một ngôi làng nhỏ có tên Benouville, nằm trên sườn đồi giữa Yport và Etretat. Tôi đi từ Fecamp, dọc theo bờ biển dốc đứng như một bức tường, trên những thảm cỏ mềm mại. Vừa đi vừa hát, tôi bước những bước dài, chốc chốc dừng lại ngắm nhìn một đàn mòng biển bay thành vòng tròn trên không hoặc một cánh buồm nâu giữa mặt biển xanh. Tóm lại, đó là một ngày hạnh phúc, một ngày tự do, không có gì làm tôi bận tâm.
Người ta chỉ cho tôi một nông trang nhỏ nơi khách du lịch thường lui tới nghỉ trọ. Nông trang nằm ở trung tâm hạt Norman, có nhiều cây sồi già bao quanh. Chủ nhân của nó là một phụ nữ nông dân.

Rời bờ biển, tôi đi vào làng. Ngôi làng được bao bọc bởi rất nhiều cổ thụ. Tôi hỏi thăm nhà của bà Lecacheur.

Bà Lecacheur đã già. Gương mặt bà khắc khổ và lạnh lùng. Bà có vẻ không mấy hào hứng khi tiếp đón khách trọ.

Lúc đó là tháng 5. Hoa táo rắc như mưa trên các lối đi, trên tóc và trên cỏ. Tôi nói:

- Chào bà Lecacheur, bà còn phòng trống không ạ?

Thoáng chút ngạc nhiên khi nghe người lạ gọi tên mình, bà trả lời:

- Điều đó còn tuỳ; các phòng đều đã có người rồi. Nhưng không sao, anh cũng sẽ có một phòng thôi.

Sau 5 phút thoả thuận, tôi đặt ba lô trên sàn một căn phòng bụi bặm, có giường, bàn, hai chiếc ghế và bồn rửa mặt. Căn phòng nhìn sang một căn bếp lớn, sặc mùi khói. Đó là nơi khách trọ dùng bữa cùng với người làm của nông trại và bà chủ goá bụa.

Tôi rửa tay rồi đi ra ngoài. Bà chủ nhà đang làm món ragu gà cho bữa tối bên lò sưởi lớn. Phía trên đầu bà lủng lẳng một chiếc nồi sắt tây ám khói.

- Ở đây có nhiều khách du lịch thuê phòng không, thưa bà? Tôi hỏi.

Bà ta trả lời bằng giọng bực bội:

- Có một quý cô, một quý cô người Anh đã lớn tuổi. Cô ta thuê phòng còn lại.

Với 5 xu trả thêm mỗi ngày, tôi được ưu tiên dùng bữa tối một mình ở ngoài sân vào những lúc thời tiết cho phép.

Vào bữa tối, lúc tôi chuẩn bị thưởng thức những đùi gà Normandy, uống rượu táo và nhai món bánh mỳ trắng, dù đã được làm từ bốn ngày trước cũng vẫn còn ngon tuyệt, thì đột nhiên, cánh cổng gỗ hướng ra đường cái bật mở và một cô gái già kỳ lạ bước vào. Cô ta gầy, rất gầy, thân hình bó chặt trong chiếc áo choàng màu đỏ kiểu Scotch, đến nỗi người ta có cảm giác cô không có tay nếu không nhìn thấy một cánh tay dài phía bên hông nắm chặt một chiếc ô du lịch màu trắng. Khuôn mặt cô giống như một xác ướp với những lọn tóc xám bao bọc, đung đưa theo mỗi bước chân. Nhìn cô ta, tôi bỗng liên tưởng đến một con cá trích muối. Cô ta cụp mắt xuống, nhanh chóng lướt qua mặt tôi và đi vào nhà.
Sự chạm mặt bất ngờ đó làm tôi thấy vui vui. Không có gì phải nghi ngờ, cô ta là láng giềng của tôi, "quý cô người Anh" mà bà chủ nhà đã nói tới.

Tôi không gặp lại cô ta suốt ngày hôm đó. Hôm sau, khi tôi chuẩn bị giá vẽ ở cuối thung lũng xinh đẹp nơi mà các bạn cũng biết là nó trải dài tới tận Etretat, tôi chợt nhận thấy một cái gì đó trên đỉnh đồi mà người ta có thể lầm tưởng là một cái cột cờ. Đó là cô ta. Nhìn thấy tôi, cô ta đột nhiên biến mất. Khi mặt trời đứng bóng, tôi trở về nhà trọ để dùng bữa trưa. Tôi quyết định ngồi tại bàn ăn chung để làm quen với nhân vật kỳ lạ này. Nhưng cô ta không có phản ứng gì trước thiện chí của tôi và phớt lờ mọi sự quan tâm mà tôi dành cho. Tôi rót nước, chuyển món ăn cho cô ta với một sự hăng hái đáng ngạc nhiên. Để cảm ơn tôi, cô ta chỉ sẽ gật đầu và thốt ra rất khẽ một từ tiếng Anh mà tôi không hiểu.

Tôi quyết định không để mất thời gian vì cô ta nữa dù cô ta đã làm tôi bận tâm khá nhiều.
Đến hết ngày thứ ba thì tôi đã biết về cô ta nhiều như những gì bà Lecacheur biết.

Người ta gọi cô ta là cô Harriet. Khi tìm kiếm một ngôi làng yên tĩnh để nghỉ hè, Harriet đã đến Benouville từ sáu tháng trước và chưa có ý định rời đi. Cô ta không bao giờ trò chuyện trong bữa ăn. Cô ta ăn rất nhanh và trong khi ăn, đọc một cuốn sách nhỏ của Đạo Tin lành. Cô ta phân phát cho mỗi người một cuốn như vậy. Ngay bản thân cha sứ cũng nhận được bốn cuốn từ tay một thằng bé lang thang. Thằng bé này được cô ta trả cho 2 xu để đi phân phát những cuốn sách đó. Đôi lúc, không để bà chủ nhà có thời gian chuẩn bị, cô ta đột ngột tuyên bố:

- Tôi yêu Chúa cứu thế hơn hết thảy mọi thứ. Tôi ngưỡng mộ các tạo vật của Người; Người luôn ngự trị trong trái tim tôi.

Và ngay lập tức cô ta cho bà chủ xem các bài viết về việc biến đổi vũ trụ. Trong làng, người ta không ưa cô. Ông hiệu trưởng trường làng cho rằng cô là một kẻ vô thần. Cha sứ, người được Bà Lecacheur hỏi ý kiến, thì khẳng định:

- Cô ta là một kẻ dị giáo, nhưng Chúa không muốn cái chết đối với ngay cả những con chiên tội lỗi. Dù sao tôi cũng cho rằng cô ta không phải là người xấu.

Những từ "vô thần", "dị giáo" mà không ai có thể định nghĩa một cách chính xác đã làm không ít người nghi ngờ. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn rằng cô gái người Anh này là một người giàu có và cô ta đang lang thang khắp các nước trên thế giới bởi vì cô đã bị gia đình từ bỏ. Vì sao mà gia đình cô ta từ bỏ cô ta? Vì sự bất kính của cô ta trước Chúa, tất nhiên rồi!

Thực tế, cô ta là một trong những người có những nguyên tắc sống bất di bất dịch; một trong những người theo Thanh giáo có rất nhiều ở nước Anh; là một trong số rất nhiều những cô gái già thường xuyên lui tới các khách sạn tại châu Âu, những kẻ đã làm hư hỏng người Italy, đầu độc người Thụy Sĩ, làm "ô nhiễm" các thành phố xinh đẹp vùng Địa Trung Hải. Họ mang đến khắp nơi niềm say mê điên cuồng, phục trang kỳ dị và mùi cao su khiến người ta tưởng rằng ban đêm họ ngủ trong những cái túi bằng cao su.

Thường thì mỗi khi nhìn thấy một nhân vật như thế, tôi chuồn thẳng như con chim nhìn thấy bù nhìn coi dưa trên đồng. Tuy nhiên, người phụ nữ này có vẻ tội nghiệp đến nỗi cô ta không làm tôi khó chịu chút nào.

Bà Lecacheur, vốn không ưa những gì không thô kệch, quê mùa, cảm thấy trong cái lòng dạ hẹp hòi của bà sự căm ghét đối với những lời tuyên bố bất ngờ của cô gái già. Bà dùng một từ đầy miệt thị để nói về cô ta, đó là "người bị quỷ ám". Cái tên gọi này, nếu được gán cho sinh vật khắc khổ và đa cảm đó, thì quả thật kỳ cục. Bản thân tôi chưa từng đặt cho cô ta bất cứ tên gọi nào thì cũng cảm thấy hay hay khi phát âm cái từ đó khi nói về cô ta.

Một hôm tôi hỏi bà Lecacheur:

- Ồ, người bị quỷ ám của chúng ta hôm nay thế nào nhỉ?

Người bạn quê mùa của tôi trả lời với vẻ khó chịu:

- Anh nghĩ sao khi cô ta mang một con cóc bị thương ở chân vào phòng, đặt nó vào trong chậu rửa mặt và băng bó cho nó, làm như nó là người vậy? Nếu đó không phải là sự báng bổ thì tôi không biết gọi là gì nữa!

Lần khác, khi đi dạo trên bờ biển, cô ta đã mua một con cá lớn chỉ đơn giản để thả nó xuống biển. Người thủy thủ bán con cá cho cô ta, mặc dù được cô ta trả rất hậu, đã nguyền rủa cô ta như thể cô ta móc túi lấy tiền của hắn. Hơn một tháng sau, khi nói về chuyện này, hắn ta vẫn còn nổi giận và coi đó như một sự sỉ nhục. Ồ, vâng, cô ta bị quỷ ám, cái cô Harriet này, và chắc hẳn đã có cái gì đó xui khiến bà Lecacheur đặt cho cô ta cái tên như vậy.

Sapeur, người đã từng phục vụ tại châu Phi, thì nhận xét với vẻ ma mãnh:

- Cô ta là một mụ phù thủy già đã trải nghiệm cuộc đời.

Celeste tốt bụng cũng không vui lòng phục vụ cô ta, nhưng tôi không hiểu được tại sao. Có lẽ, lý do duy nhất là do cô là người lạ, thuộc một dân tộc khác, nói một ngôn ngữ khác và theo một tôn giáo khác. Thực tế, cô ta là một người bị quỷ ám! Cả ngày cô ta lang thang khắp vùng quê, tôn thờ và tìm kiếm trong thiên nhiên sự hiện diện của Chúa. Một buổi tối, tôi bắt gặp cô ta quỳ trong một bụi rậm. Trước đó, tôi phát hiện một vật màu đỏ lẫn trong những đám lá và tò mò rẽ cành lá ra xem. Thấy tôi, Harriet đứng bật dậy, tỏ ra hết sức bối rối khi bị phát hiện trong tư thế như vậy. Cô nhìn tôi bằng đôi mắt hoảng sợ, giống như mắt của một con cú khi nhận ra trời đã sáng. Thỉnh thoảng, khi ngồi vẽ giữa những phiến đá, tôi chợt thấy cô ta đứng trên đỉnh đồi như một ngọn hải đăng. Cô ta say mê ngắm nhìn đại dương lấp lánh dưới ánh mặt trời và bầu trời bao la với những gam màu trong xanh. Đôi lúc, nhìn thấy cô ta ở cuối thung lũng, đang bước nhanh theo kiểu nhún nhảy của người Anh, không hiểu cái gì thôi thúc tôi tiến về phía đó, đơn giản chỉ để nhìn thấy gương mặt rạng rỡ của cô ta với những đường nét khô gầy ửng đỏ vì niềm hạnh phúc sâu sắc trong tim. Tôi cũng hay chạm trán cô ta trên cánh đồng. Cô ta ngồi trên thảm cỏ dưới một gốc táo, cuốn sách quen thuộc để mở trên đầu gối, và đôi mắt mơ màng nhìn về phía xa.

Tôi chưa thể rời bỏ vùng đất đó vì tôi rất yêu cái khung cảnh rộng lớn và thanh bình nơi đây. Tôi thấy hạnh phúc khi sống tại nông trang hẻo lánh này, xa tất cả mọi thứ, nhưng lại gần với thiên nhiên, thiên nhiên xinh đẹp và xanh tươi. Và, thêm nữa, tôi có cần phải thú nhận không nhỉ? - là sự tò mò đã giữ tôi lại nhà trọ của bà Lecacheur. Tôi muốn làm quen với cô Harriet kỳ lạ này và tìm hiểu tâm hồn cô đơn của những phụ nữ Anh bỏ gia đình đi lang thang.

Chúng tôi trở nên quen thân trong một trường hợp khá bất thường. Tôi vừa hoàn thành một tác phẩm mà tôi cho là đáng giá, và đúng như vậy, vì ít năm sau đó, tôi đã bán nó được mười lăm nghìn franc. Tác phẩm tưởng chừng đơn giản như hai thêm hai là bốn nhưng, trên thực tế, nó không tuân thủ các quy luật hình khối. Toàn bộ phía bên phải của bức tranh thể hiện một phiến đá, một phiến đá lớn bị tảo biển nâu, vàng và đỏ bao phủ, ánh sáng mặt trời chiếu xuống như một dòng thác. Ánh sáng như rơi trên phiến đá, khiến phiến đá như thể tự phát sáng mà không cần ánh mặt trời. Bên phải là biển cả, biển không xanh mà mang màu đá acđoa, màu ngọc bích, màu lục, màu sữa. Bên trên, bầu trời bao la được thể hiện bằng những gam màu sẫm. Quá hài lòng với tác phẩm của mình, tôi vui sướng vừa đi vừa nhảy trên đường mang nó về nhà trọ. Tôi muốn cả thế giới này chiêm ngưỡng tác phẩm của mình ngay bây giờ. Tôi nhớ lúc đó tôi còn cho cả một con bò đang gặm cỏ bên đường xem bức tranh và kêu lên:

- Nhìn này, người đẹp già nua; mày không có dịp xem bức tranh này lần thứ hai đâu.
Về đến nhà trọ, ngay lập tức, tôi rán hết sức gọi bà Lecacheur:

- Bà chủ ơi, ra mà xem này, nhanh lên nào.

Bà già quê mùa lại gần ngắm tác phẩm của tôi với cặp mắt ngu ngốc. Bà ta thậm chí không hiểu nổi bức tranh vẽ một con bò hay một ngôi nhà.

Harriet cũng vừa về đến, cô ta đi đến phía sau tôi ngay khi tôi giơ bức tranh lên trước mặt bà chủ nhà. Con người bị quỷ ám đó không thể không nhìn nó, bởi vì cái cách tôi khoe bức tranh đã thu hút sự chú ý của cô ta. Cô đột ngột dừng lại, đứng bất động và tỏ ra kinh ngạc. Bức tranh mô tả phiến đá của cô, nơi mà cô trèo lên mỗi ngày để mơ mộng vẩn vơ mà không sợ bị ai làm phiền.

- Ồ - cô ta thốt ra từ đó bằng tiếng Anh, một từ biểu lộ sự thán phục đến nỗi tôi ngay lập tức quay lại phía cô ta, mỉm cười và nói:

- Đây là tác phẩm mới nhất của tôi, thưa tiểu thư.

Cô ta thì thầm, giọng đầy xúc động:

- Ồ, vâng, thưa ông, ông đã nắm bắt được linh hồn của thiên nhiên.

Tôi đỏ bừng mặt vì xúc động như thể nhận được lời khen từ một nữ hoàng.

Bữa tối hôm đó, tôi lại ngồi cạnh cô tại bàn ăn như thường lệ. Lần đầu tiên cô nói chuyện:

- Ôi! Tôi yêu thiên nhiên biết bao.

Tôi đưa cho cô bánh mỳ, nước và rượu vang. Cô nhận lấy với nụ cười mỉm của một cái xác ướp. Chúng tôi bắt đầu trò chuyện về phong cảnh thiên nhiên.

Sau bữa ăn, chúng tôi rời bàn ăn và sánh vai thong thả dạo bước qua sân. Vẻ đẹp rạng rỡ của hoàng hôn trên biển khiến tôi mở cánh cổng dẫn lên vách đá, rồi chúng tôi sánh bước bên nhau như hai người tri kỷ.

Vào một buổi chiều, sự ấm áp, ôn hòa mang lại cảm giác thư giãn cho cả thể xác và tâm hồn. Thiên nhiên đẹp đến mê hoặc lòng người. Không gian thoảng mùi cỏ và tảo biển, khứu giác được vuốt ve bằng hương thơm hoang dã, vị giác được vuốt ve bằng vị mặn của biển, tâm hồn được vuốt ve bằng vị ngọt ngào của thiên nhiên. Chúng tôi thả bộ trên bờ vách đá, phía dưới là biển cả bao la cuộn sóng. Chúng tôi há to miệng để hít vào lồng ngực những làn gió nhẹ mang vị mặn của đại dương vì chúng vừa hôn lên những con sóng trước khi đến với chúng tôi.

Quấn mình trong chiếc áo choàng len, đôi mắt lấp lánh niềm vui đón nhận những cơn gió nhẹ, người phụ nữ Anh này đăm đắm nhìn vào quả cầu mặt trời vĩ đại đang chìm dần nơi chân trời. Phía xa ngoài khơi, một chiếc thuyền buồm no gió in trên nền trời đỏ rực. Gần hơn nữa là một chiếc tàu chạy bằng hơi nước đang chạy hết tốc lực, để lại một vệt khói dài phía chân trời. Quả cầu mặt trời xuống thấp dần, thấp dần đến khi chạm mặt nước phía sau chiếc thuyền buồm. Lúc này nó trở nên đỏ rực như được kết từ những ngọn lửa.

Trước mắt chúng tôi, nó chìm xuống nước, nhỏ dần rồi biến mất như bị đại dương nuốt chửng. Harriet mê mải ngắm những tia sáng cuối cùng của hoàng hôn, như muốn ôm trọn vào lòng mình cả bầu trời, cả đại dương và tất cả thiên nhiên.

Cô thì thầm:

- Ôi, tôi yêu, tôi yêu. Tôi thấy một giọt lệ long lanh trong mắt cô. Cô nói tiếp:

- Tôi ước mình là một con chim nhỏ, để có thể bay vút vào bầu trời.

Cô lại đứng với tư thế mà trước đây tôi vẫn nhìn thấy từ phía sau, trên vách đá, mặt cô đỏ như chiếc áo choàng cô đang mặc. Tôi rất tiếc đã không vẽ một bức phác họa chân dung cô ta lúc đó. Nếu có, đó hẳn sẽ là một bức biếm họa về cái trạng thái mà người ta gọi là ngất ngây.

Tôi phải quay đi để không bật cười. Rồi tôi nói với cô về hội họa như thể cô cũng là một họa sỹ vì tôi sử dụng các thuật ngữ chuyên ngành. Cô lắng nghe một cách chăm chú, hăng hái tìm cách hiểu nghĩa của các thuật ngữ nhằm hiểu được ý tôi. Thỉnh thoảng, cô thốt lên:

- Ồ! Tôi hiểu, tôi hiểu, rất thú vị! Chúng tôi trở về nhà. Hôm sau, khi thấy tôi, cô lại gần, chìa tay ra và chúng tôi trở thành đôi bạn thân thiết.

Cô là một kẻ có tâm hồn nhạy cảm và đam mê. Ở cô không có được sự cân bằng của một người phụ nữ không chồng khi ở độ tuổi gần bốn mươi. Trong mắt cô vẫn có vẻ dại khờ và trong tim cô là niềm đam mê trẻ trung cháy bỏng. Cô yêu cả thiên nhiên và động vật với một thứ tình yêu mà cô chưa bao giờ dành cho đàn ông. Cô có thể say mê hàng giờ trước hình ảnh một con sói cái nâng niu những con sói con, một con ngựa cái lang thang trên đồng, một tổ chim đầy chim non đang la hét đòi ăn với những cái miệng mở rộng và những cái đầu to quá khổ.

Ôi, nỗi buồn, cô đơn và những kẻ lang thang. Tôi đã yêu các người kể từ khi tôi quen biết với cô Harriet.

Tôi nhanh chóng nhận ra rằng cô muốn nói với tôi một chuyện gì đó nhưng không đủ can đảm và tôi lấy làm vui thích trước sự rụt rè của cô. Mỗi sáng khi tôi ra ngoài với chiếc ba lô trên lưng, cô lặng lẽ đi theo tôi đến tận cuối làng. Rõ ràng là cô đang cố tìm từ để bắt đầu một cuộc nói chuyện. Đột nhiên, cô bỏ tôi và thoăn thoắt bước đi. Rồi một ngày cô cũng có đủ can đảm:

- Tôi muốn xem ông vẽ tranh như thế nào, nếu ông không phiền. Tôi rất tò mò.

Nói xong, mặt cô ửng đỏ như vừa thốt ra một câu nói rất đáng hổ thẹn.

Tôi dắt cô xuống dưới thung lũng, nơi tôi đang chuẩn bị vẽ một bức họa lớn.

Cô đứng sau lưng tôi, chăm chú theo dõi từng cử chỉ nhỏ. Rồi dường như sợ làm phiền tôi, cô đột ngột thốt lên hai từ: "Cảm ơn!", rồi bỏ đi.

Ít lâu sau, cô trở nên dễ gần hơn. Cô đi theo tôi suốt ngày, niềm vui thích hiện rõ trên nét mặt. Cô tự mang chiếc ghế xếp của mình chứ không chịu để tôi mang giúp. Cô sẽ ngồi đó bốn giờ liền, lặng lẽ và bất động, dõi theo từng nét bút của tôi. Đôi lúc, khi tôi tạo được một hiệu ứng mong muốn bằng một vệt màu, cô bất chợt ồ lên kinh ngạc, vui sướng và thán phục. Đó là người ngưỡng mộ tranh của tôi nhiều nhất, lòng ngưỡng mộ gần như của một tín đồ trước một tác phẩm không phải được tạo ra bởi người trần mặt thịt. Dường như đối với cô, tác phẩm của tôi là những bức họa của Chúa. Đôi lúc, cô nói về Chúa với mong muốn thay đổi suy nghĩ của tôi. Ôi, Chúa của cô là một người lập dị và tốt bụng, như một nhà triết gia vườn, không có nhiều tài năng cũng như sức mạnh. Trong trí tưởng tượng của cô, Chúa đang đau khổ tuyệt vọng vì bất lực trước những bất công ngang trái mà Người phải chứng kiến mà không đủ sức chống lại.

Cô cảm thấy mình rất gần gũi với Chúa, thậm chí cô luôn ở bên Chúa như một người bạn tâm tình, chia sẻ những bí mật và nỗi buồn của Người. Cô thường thêm vào câu nói của mình những cụm từ như "Chúa muốn" hoặc "Chúa không muốn", giống như một trung sĩ thông báo cho một binh nhì về mệnh lệnh của đại tá. Có lẽ cô rất thương hại cho sự ngu dốt của tôi về những mong muốn của Thượng đế, những điều mà cô luôn cố gắng nhồi nhét vào đầu tôi.

Gần như ngày nào tôi cũng tìm thấy trong túi, trong mũ, trong hộp vẽ và trong đôi giày bóng loáng của mình, các bài viết về lòng kính Chúa chắc hẳn đã được gửi từ Thiên đàng xuống cho cô.

Thời gian này, tôi nhận thấy sự thay đổi trong thái độ của cô nhưng tôi không mấy bận tâm vì trước sau, tôi luôn coi cô như một người bạn.

Mỗi khi tôi ngồi vẽ, bất kể trong thung lũng hay trên đường làng, cô bất ngờ xuất hiện trên những bước chân nhanh thoăn thoắt. Cô ngồi xuống cạnh tôi, thở gấp như đang cảm động sâu sắc. Mặt cô ửng đỏ theo kiểu riêng của người Anh; rồi chuyển sang tái xám như sắp ngất xỉu. Lát sau, sắc mặt cô trở lại bình thường và cô bắt đầu nói. Rồi, không hề báo trước, cô đột ngột bỏ dở câu nói, đứng bật dậy và bỏ đi rất nhanh khiến tôi không thể hiểu nổi mình đã làm gì khiến cô mếch lòng. Cuối cùng, tôi đi đến kết luận rằng đó là những hành động bình thường của cô, tất nhiên có khác ít nhiều so với ngày đầu chúng tôi quen biết nhau. Trước đây, khi trở về nông trang sau khi lang thang trên dải bờ biển lộng gió, mái tóc quăn của cô rũ xuống như những chiếc lò xo bị hỏng. Điều đó hiếm khi làm cô bận tâm, và thường thì cô sẽ ngồi vào bàn ăn tối không chút ngại ngần về mái tóc bị người chị em của cô là những cơn gió biển làm cho rối bời.

Nhưng bây giờ cô sẽ đi về phòng để chải lại mớ tóc bù xù. Và khi tôi nói câu nói quen thuộc để làm vui lòng cô "Tối nay cô đẹp như một vì sao ấy, Harriet ạ", má cô sẽ ửng đỏ như một cô gái mười lăm.

Thời gian sau đó, cô trở nên rất dè dặt và thôi không ngồi xem tôi vẽ nữa. Tôi cho rằng cô giận vì chuyện gì đó và sẽ nguôi ngay thôi. Nhưng cơn giận mãi chẳng thấy nguôi, và cô đáp lại những lời thăm hỏi của tôi bằng thái độ lạnh nhạt và bộ mặt cau có.

Rồi cô trở nên cộc cằn, nôn nóng và bực dọc. Từ đó tôi không gặp cô trừ khi ngồi ăn tối và chúng tôi nói với nhau rất ít. Sau khi suy nghĩ, tôi đi đến kết luận rằng, bằng cách nào đó, tôi đã làm cô cảm thấy bị xúc phạm. Do vậy, vào một buổi tối, tôi hỏi cô:

- Cô Harriet, tại sao cô không còn thân thiết với tôi như trước kia nữa? Cô làm tôi buồn lắm!

Cô đáp lời tôi với giọng giận dữ:

- Tôi vẫn coi ông như xưa thôi mà. Không phải như ông nghĩ đâu, không đâu. Và cô chạy lên phòng mình khóa trái cửa lại.

Đôi khi cô nhìn tôi một cách khác thường. Lúc đó, tôi cảm thấy đó là đôi mặt của kẻ tử tội khi biết mình sắp phải từ giã cõi đời. Tôi thấy trong mắt cô sự man dại, bí ẩn và hung dữ vì bất lực trước nỗi khát khao ngày càng mãnh liệt, cháy bỏng mà không thể nào đạt tới.

Trong lòng cô, có một cuộc chiến đấu giữa trái tim cô và một thế lực siêu hình mà cô đang cố gắng làm chủ, và có lẽ, một cái gì khác nữa mà tôi không thể nào biết được. Thời gian này, tôi đang vẽ một bức họa có nội dung như sau:

"Một hẻm núi sâu bị cây bụi và dây leo bao phủ trải dài về phía xa, chìm dần trong những đám sưng mù lơ lửng khắp thung lũng lúc rạng đông. Ở tận cùng thung lũng, người ta thấy, nói đúng hơn là cảm thấy, hai con người - một chàng trai và một cô gái, tay họ đan vào nhau, đầu họ kề sát nhau, và môi họ quyện vào nhau”. Tôi ngồi làm việc trên con dốc dẫn đến Thung lũng Etretat. Trong cái buổi sáng đặc biệt đó, tôi tình cờ bắt được cái hình ảnh sương mù lơ lửng mà tôi mong muốn. Bỗng có một cái gì đó đột ngột trồi lên trước mắt tôi như một bóng ma, đó là Harriet. Thấy tôi, cô toan chạy trốn nhưng tôi gọi với lại:

- Lại đây, tiểu thư. Tôi có một bức họa dễ thương dành cho cô đây.

Cô quay lại, tuy có vẻ hơi miễn cưỡng. Tôi cho cô xem bức phác họa của mình. Cô ngắm bức tranh rất lâu, im lặng và bất động, rồi cô òa khóc, đứt đoạn như tiếng khóc của một người đàn ông, dù không thể nhưng vẫn cố gắng kiềm chế. Tôi đứng bật dậy trước nỗi đau mà tôi không hiểu nguyên nhân, nắm lấy tay cô với một sự thôi thúc mãnh liệt. Cô để yên tay mình trong tay tôi trong một vài giây. Tôi cảm thấy chúng run rẩy như thể toàn bộ hệ thần kinh của cô đang co giật. Bất thần, cô rút tay ra, hay nói đúng hơn là giật mạnh tay ra khỏi tay tôi.

Tôi nhận thấy sự rung động của cô, đúng hơn là tôi cảm thấy, và tôi tin chắc vào điều đó.
Người đàn bà trong cô đã trở nên yếu ớt, run rẩy và bị đánh bại. Tôi biết điều đó. Cô bỏ đi khi tôi chưa kịp nói với cô lời nào, để lại tôi ngỡ ngàng như vừa chứng kiến một phép màu và lòng tôi trĩu nặng như vừa phạm một tội ác.

Tôi không về nhà trọ ăn sáng mà rẽ lên vách đá, vừa muốn khóc to lên vừa muốn phá ra cười. Tôi chợt cảm thấy mình thật lố bịch vì tôi tin rằng sự đau buồn có thể làm cô phát điên.

Tôi tự hỏi mình nên làm gì. Có lẽ điều nên làm nhất đối với tôi lúc này là rời bỏ chốn này và, ngay lập tức, tôi quyết định như vậy. Tôi mang tâm trạng đau buồn và bối rối đó lang thang đến tận giờ ăn tối. Khi tôi trở về nhà trọ thì món súp đã sẵn sàng trên bàn ăn.

Tôi ngồi vào bàn như thường lệ. Harriet đang ngồi đó, ăn một cách chậm rãi và nghiêm nghị, không nói không rằng. Tất nhiên, cái cung cách của cô lúc đó thì cũng chẳng khác lúc bình thường là mấy.

Tôi kiên nhẫn chờ đến khi mọi người xong bữa mới quay sang nói với bà chủ nhà:

- Thưa bà Lecacheur, có lẽ không lâu nữa tôi sẽ phải từ biệt bà.

Người đàn bà tốt bụng thoáng chút ngạc nhiên và buồn rầu, trả lời bằng giọng lè nhè:

- Thưa ông, ông vừa nói gì vậy? Ông bỏ chúng tôi đi khi chúng tôi đã quá quen với sự có mặt của ông sao?

Tôi liếc Harriet. Sắc mặt cô không hề thay đổi. Chỉ có Celeste, cô hầu nhỏ, nhìn tôi. Đó là một cô gái đẫy đà, khoảng mười tám tuổi, hồng hào, tươi trẻ và khỏe như một con ngựa.
Tôi đã hôn cô ta vài lần tại những chỗ vắng và vào những lúc rảnh - tất cả chỉ có vậy.
Cuối cùng, bữa tối cũng kết thúc. Tôi vừa hút thuốc vừa đi đi lại lại bên những gốc táo, suy ngẫm lại những điều diễn ra lúc ban ngày, sự khám phá kỳ lạ lúc bình minh, sự quyến luyến mà những con người ở đây dành cho mình, ánh mắt của cô hầu gái khi nghe tin tôi sắp đi xa. Một cảm giác nhồn nhột như nụ hôn trên môi và một cái gì khác trong huyết quản thôi thúc tôi làm một việc điên rồ nào đó.

Đêm xuống dần, phủ bóng tối dày đặc lên những tán cây. Nhận thấy Celeste đang tất tả chạy sang sân nuôi gia cầm phía bên kia rào, tôi lao theo cô ta. Và khi cô ta vừa đóng xong cửa chuồng để nhốt lũ gà lại, tôi đã ghì chặt cô ta trong lòng mình và hôn như mưa lên gương mặt to và rám nắng của cô ta. Cô ta vùng ra, cười khanh khách vì chẳng lạ gì những trường hợp như thế này. Tại sao tôi buông cô ta ra? Tại sao lúc đó tôi thấy mình choáng váng? Tôi đã cảm thấy cái gì ở đằng sau? Đó là Harriet, cô đứng đó nhìn chúng tôi, bất động như một bóng ma. Lát sau, cô biến mất trong bóng tối. Lúc đó, tôi cảm thấy thật hổ thẹn, thà bị cô bắt quả tang đang phạm một tội ác còn hơn là bị cô bắt gặp trong tư thế như thế này.

Đêm đó, tôi gần như không ngủ được vì bị ám ảnh bởi những ý nghĩ u ám. Dường như tôi nghe thấy tiếng khóc của ai đó, nhưng không chắc lắm. Có điều, tôi chắc chắn đã nghe thấy tiếng chân của một người nào đó đi đi lại lại trong nhà và mở toang cửa chính.

Đến sáng, tôi mệt lử và thiếp đi. Tôi dậy muộn nhưng không xuống nhà cho đến khi bữa sáng sắp kết thúc. Tôi vẫn đang ở trong tình trạng bối rối, không biết nên xử trí ra sao.
Không có ai nhìn thấy Harriet. Chúng tôi chờ cô ở bàn ăn, nhưng cô không xuất hiện. Sau đó, bà Lecacheur lên phòng cô. Người phụ nữ Anh này đã biến mất. Có lẽ cô khởi hành từ lúc bình minh. Chắc cô chủ tâm ra đi vào lúc đó để kịp ngắm mặt trời mọc.

Không ai ngạc nhiên trước tin này, chúng tôi lặng lẽ ăn. Lúc đó trời nóng, rất nóng, một ngày nóng như thiêu đốt, không có lấy một cơn gió làm lay động nổi một chiếc lá. Chúng tôi dọn bàn ăn ở ngoài trời, dưới gốc táo. Chốc chốc Sapeur lại phải chạy đi lấy một bình rượu mới vì ai cũng khát khô cả cổ. Celeste mang các món ăn từ nhà bếp ra, món ragu cừu ăn kèm với khoai tây, thịt thỏ nguội và salát. Sau cùng, cô ta đặt trước mặt chúng tôi một đĩa dâu tây đầu mùa.

Tôi muốn rửa dâu cho sạch nên đề nghị cô ta lấy cho tôi một bình nước lạnh.

Ít phút sau cô ta trở lại, thông báo rằng giếng đã cạn vì khi cô ta ròng dây xuống giếng, mặc dù bình đã chạm đáy mà khi kéo lên vẫn không hề có nước. Bà Lecacheur lo lắng chạy ra giếng. Khi trở lại, bà cho biết có một cái gì đó trong lòng giếng, một thứ hoàn toàn không bình thường, chắc là một đụn rơm mà một người hàng xóm, do ghen ghét, đã ném vào.

Tôi cũng muốn ngó xuống lòng giếng, với hy vọng làm sáng tỏ được điều bí ẩn. Cúi người qua thành giếng, tôi phát hiện thấy một vật màu trắng. Vật ấy có thể là cái gì nhỉ? Tôi nảy ra ý kiến buộc một ngọn đuốc vào đầu một sợi thừng rồi đưa vào lòng giếng. Ngọn lửa vàng nhảy nhót giữa các lớp đá và soi tỏ mọi vật. Cả bốn chúng tôi, tính cả Sapeur và Celeste vừa mới tới, đang chụm đầu trên miệng giếng. Ngọn đuốc dừng lại bên trên một khối mờ mờ, kỳ dị, có màu trắng và đen. Sapeur kêu lên:

- Đó là một con ngựa, tôi thấy những cái móng guốc của nó. Chắc hẳn nó đã rời khỏi đồng cỏ vào ban đêm và đâm đầu xuống đó.

Bất chợt, tôi tái mặt vì một cảm giác lạnh buốt đến tận xương. Tôi thấy một bàn chân, rồi một cẳng chân nhô lên; toàn bộ thân thể và chân kia chìm trong nước. Tôi lắp bắp bằng một giọng khàn đặc, run rẩy đến nỗi ngọn đuốc buộc ở đầu sợi dây nhảy loạn xạ:

- Đó là một phụ nữ! Ai-ai-vậy? Có phải cô Harriet không?

Sapeur không tỏ ra hốt hoảng vì anh ta đã chứng kiến nhiều lần những cảnh tượng như thế này ở châu Phi.

Bà Lecacheur và Celeste bắt đầu la hét ầm ĩ và bỏ chạy.

Nhưng người ta không thể bỏ mặc thi thể của một con người. Tôi quấn quanh thắt lưng Sapeur một đầu thừng có ròng rọc và thả anh ta xuống rất sâu, đến khi anh ta mất hút trong bóng tối. Một tay anh ta cầm đuốc, còn tay kia cầm dây thừng. Tôi nghe tiếng anh ta, như vọng lên từ trung tâm trái đất:

- Dừng lại!

Tôi thấy anh nhấc một vật gì lên khỏi mặt nước. Đó là cái cẳng chân còn lại. Anh ta buộc hai chân vào nhau và kêu to:

- Kéo lên!

Tôi bắt đầu quay ròng rọc, cảm thấy tay mình như sắp đứt lìa, các bắp thịt co giật. Tôi sợ sẽ làm anh ta rơi trở lại đáy giếng. Khi thấy đầu anh ta nhô lên khỏi miệng giếng, tôi hỏi:

- Thế nào?, như thể anh ta mang theo một thông điệp từ người phụ nữ chết đuối.

Chúng tôi đứng bên thành giếng ở hai phía đối diện nhau và bắt đầu kéo thi thể lên.
Bà Lecacheur và Celeste trốn sau những bức tường, ghé mắt quan sát chúng tôi từ phía xa. Khi nhác thấy đôi dép đen và đôi tất trắng của người chết, họ chạy biến.
Sapeur nắm mắt cá chân, và chúng tôi nâng thi thể của người xấu số lên. Đầu người chết trông thật đáng sợ, thâm tím và bầm dập. Mái tóc dài màu tro không bao giờ kết thành lọn được nữa dính bết và rũ rượi.

- Nhân danh các vị thánh thần! Cô ấy gầy quá, Sapeur nhận xét với giọng khinh bỉ.

Chúng tôi mang cô vào phòng. Những người phụ nữ vẫn chưa xuất hiện. Với sự hỗ trợ của người đàn ông điềm tĩnh, tôi khâm liệm thi hài để đem chôn.

Tôi rửa sạch gương mặt bị biến dạng của người chết. Những tác động của ngón tay tôi làm mắt người chết hé mở, nhìn tôi với cái nhìn nhợt nhạt, lạnh lùng. Tôi cố gắng tết lại mái tóc rối bù của người chết, bàn tay vụng về của tôi tạo thành một kiểu tóc mới lạ và kỳ dị. Tôi cởi hết bộ đồ sũng nước của cô không chút ngại ngùng. Đôi vai cô, ngực cô và cả đôi tay dài của cô khẳng khiu như những cành cây.

Tôi trải hoa anh túc, hoa cúc, hoa hồng và cỏ thơm quanh cô. Chỉ có một mình nên tôi buộc phải bỏ qua những nghi lễ thông thường. Tôi tìm thấy trong túi cô một bức thư, trong đó cô yêu cầu người ta chôn cô ở trong làng, nơi mà cô đã sống những ngày cuối cùng của cuộc đời. Một mối hoài nghi làm lòng tôi trĩu nặng, có phải vì tôi mà cô muốn được yên nghỉ vĩnh hằng tại chốn này?

Gần đến tối, những người đàn bà ngồi lê đôi mách trong làng đến xem xác người quá cố. Nhưng tôi không cho ai vào hết, tôi muốn được ở một mình, và tôi ở cạnh cô suốt đêm hôm đó.

Tôi quan sát cô dưới ánh sáng bập bùng của những ngọn nến. Người phụ nữ bất hạnh, không ai biết cô cả. Cô thầm lặng ra đi ở một nơi cách xa gia đình, không bạn bè, không người thân thích. Thời tuổi trẻ của cô như thế nào? Cuộc sống của cô trước đây như thế nào? Từ khi nào cô sống kiếp lang thang, như một con chó bị chủ đuổi khỏi nhà? Những bí mật của nỗi đau và sự tuyệt vọng được chôn kín trong cái hình hài không bắt mắt kia, cái hình hài tội nghiệp mà vẻ bề ngoài khiến chủ nhân của nó không được ai cảm mến, yêu thương.

Có bao nhiêu người bất hạnh như cô mà những bất công của tạo hoá để lại dấu ấn nặng nề trên con người họ. Với cô, tất cả đã chấm dứt, không còn cả khao khát được yêu thương của một kẻ bơ vơ. Tại sao cô cố thu mình lại và chạy trốn mọi người? Tại sao cô yêu say mê tất cả mọi vật, mọi sinh vật sống mà không dành tình yêu cho một người đàn ông nào cả?

Tôi nhận ra rằng cô tin vào Chúa với hy vọng được Người bù đắp cho những nỗi thiệt thòi mà cô phải gánh chịu. Từ đây, cô sẽ hòa vào thiên nhiên và biến thành cây cỏ. Cô sẽ nở hoa trong nắng, gia súc sẽ gặm cành lá của cô, chim chóc sẽ mang hạt của cô đi khắp nơi. Và qua biết bao thay đổi, cô sẽ trở lại thành người. Nhưng linh hồn của cô đã tiêu tan nơi đáy giếng tối tăm. Cô sẽ không còn phải chịu đựng thêm nỗi đau nào nữa. Cô đã hiến dâng sự sống của mình cho những sự sống khác của tương lai tươi đẹp hơn.

Nhiều giờ trôi qua bên thi thể người quá cố, một ánh sáng yếu ớt báo hiệu buổi bình minh của một ngày mới; rồi một tia sáng màu đỏ rọi vào phòng, in một vệt sáng trên khăn phủ giường và bàn tay người chết. Sinh thời cô rất thích những khoảnh khắc như thế này.

Ngoài kia, những con chim dậy sớm ca hát líu lo.

Tôi mở rộng cửa sổ và kéo rèm ra để lộ cả khoảng trời, cúi xuống thi thể lạnh giá của cô, ôm lấy cái đầu bị biến dạng và chậm rãi đặt lên đôi môi khô héo, chưa một lần được hôn, một nụ hôn dài.
Đăng nhập để trả lời
0
Bạn Dogwood quên đọc Thông Báo rồi.[:(]

Cảm phiền bạn ghi tên Tác giả và Dịch giả cho truyện Harriet.

Nếu như NH nhớ không lầm thì truyện Miss Harriet của Guy de Maupassant thì phải.

Mong DW làm ơn bổ sung giúp. Thành thật cảm ơn bạn.[:)]
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0