<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-13 00:03:34TTL>
To Ct Ly... ttl take care cuốn truyện này... Ly khỏi đánh máy.
I
Tên người đàn bà ấy là Sương, Ba Sương, đã chết rồi, chết rõ mười mươi ngay trước mắt tôi, chính tay tôi đã đào mồ chôn cất để rồi từ đó, đằng đẵng suốt mười mấy năm sau, cứ mỗi lần bất chợt nhớ đến, hình ảnh Sương lại xoáy buốt vào tôi những nuối tiếc khắckhoải và cả những day dứt ngọt ngào.Vậy mà Sương lại không chết, không hề chết! Trời ơi!… Nếu tôi không có chuyến đi vào Nam như cánh chim trốn rét muộn màng ấy,nếu như tôi không vô tình gặp lại, nếu như con người ấy đừng sống lại thì có lẽ cuộc đời tôi…
Đó là vào một đêm hè oi ả, dự báo những trận mưa triền miên buồn dứt sắp đổ xuống vùng rừng mới được phục sinh bên dòng sông Hậu.
Tôi vừa mới chân ướt chân ráo ở ngoài kia vào để thực hiện một hành vi ngang trái và tội tình: đi tìm việc làm, đi tìm nơi trú ngụ chót cùng của cuộc đời. Vâng! Đã ngót ngét bướcsang cái tuổi năm mươi rồi mà còn lận đận bỏ xứ xa quê để tìm công ăn việc làm thì thật là tội tình! Nhưng hỡi ôi, biết làm sao được! Cuộc đời vốn dĩ nó vẫn cứ hững hờ trôi chảynhư thế cũng như tự trong cái thâm tâm đã quá chán chường mệt mỏi của tôi, tôi đâu có tính ngồi viết lại những dòng này, một việc làm mà chỉ cần nhắc tới thôi là cũng đủ thấy rùng mình, quá đỗi dớ dẩn rồi. Viết Lại! Động từ ấy mới sáo rỗng làm sao! Viết Lại có nghĩa là Sống Lại, sống lại cái cuộc sống nửa sống nửa chết ấy thì coi như chết hai lần!Viết Lại! Chao ôi, cái hành vi ấy mới bốc mùi ngầy ngụa làm sao! Vậy mà tôi vẫn phải kể lại, phải viết lại như một thứ ma đưa lối, quỷ đưa đường, có cố tình lãng quên đi cũng chẳng được.
Tôi bốn chín tuổi và đang thất nghiệp, đúng hơn là vừa mới thất nghiệp. Tôi, một kẻ dư thừa vừa bị bắn ra khỏi lề đường. Cao một thước bảy mươi nhưng chỉ nặng có bốn mươi nhăm cân, hốc hác, bắt đầu có dấu hiệu thần kinh, tóc bạc nham nhở, ngực lép, bụng lép, mắt cá chày, da xám ngoét, môi thâm, răng rụng gần một phần ba, ít cười, ít nói, sợ ánh sáng, sợ tiếng động, sợ đô thị, sợ nơi đông người, dấu vết mặc cảm tự ti in hằn vào từng bước chân đi, từ trong cái nhếch mép rụt rè, nửa cười nửa khổ… Tóm lại, tôi là một con nộm rơm khốn khổ giữa cánh đồng đời đầy giông bão. Ấy vậy mà cái đống da thịt xương
xẩu lằng nhằng là tôi đó lại đã có một thời ngang dọc, tráng kiện chẳng kém chi ai. Cái thời gắn liền với những cánh rừng bom đạn bên dòng sông Sài Gòn, cái thời mà giá nhưtrái mìn Clâymơ màu xanh là cây cong vênh ấy đừng có nhằm giữa đỉnh đầu tôi lạnh lẽo giáng xuống thì có lẽ cho đến hôm nay, thể xác tôi, tâm hồn tôi chưa tới nỗi tồi tệ dường này. Tôi đã thành một lão già, lão già ốm o và sầu muộn. Mà, ô hay! Tôi đang lảm nhảm cái gì đây chứ? Tôi đang muốn kể về người đàn bà chết mười mươi mà đột nhiên sống lại kia mà. Chà!… Thì ra một khi đã già, đã đánh tuột hết lượng sinh khí ra phía sau đuôi,người ta đâm dở chứng ưa than thân trách phận.
Vâng, thưa bạn đọc! Thì tôi vẫn đang nói về người đàn bà đó đấy chứ. Ấy là vào một đêm hè oi ả… Chao! Lại lẩm cẩm rồi. Tội vạ gì mà thiên hạ động nhắc tới kỷ niệm lại nhất thiết cứ phải là đêm nhỉ? Có thể ngày, có thể sáng, có thể trưa thì đã chết chóc gì nào? Rõ thật… Dễ thường cứ phải là Đêm thì vùng ký ức mới có mùi vị thẳm sâu chắc? Lẩm cẩm! Chậc!… Mà thực ra không lẩm cẩm thì làm sao tôi có thể lạc được vào cái nhà hàng choáng ngợp cỡ đệ nhất, đệ nhị miền Tây đó. Còn tướt! Bạn bè một thuở kiêu dũng của tôi bây giờ gặp lại, cũng như tôi, sao mà ngán ngẩm quá thể! Hầu hết đã lui về vườn ăn theo vợ, núp váy vợ. Nếu còn có một người đàn bà chịu làm vợ. Đứa thì nhậu xỉn, tối ngày nằm trên võng nắng, đứa thì lụi hụi trổng tỉa ngoài bưng, mở mồm là càu cạu, thằng này đang thở dài phì phịt giữa một bên là bầy con nhem nhuốc, bên kia là thạp gạo chỉ còn cám mùn đọng quẩn ở dưới đáy, thằng kia sống trụi thùi lụi một mình, hỏi nhà cửa vợ con đâu, chỉ giơ cái chai đế lên cười xệch xẹo… Mỗi thằng một vẻ, trăm thằng trăm lối, không thăm thì nhớ, thăm rồi, trở ra, lại thấy buồn dứt ruột trong nỗi thương bạn. Đội hình đánh giặc ngang tàng năm xưa giờ đây, trừ vài thằng may mắn khôn ngoan, chẳng rõ nguyên cớ nào lại đều bị cuộc đời dồn chung vào một cục hẩm hui, méo mó. Chẳng may nhận ra nhau chỉ nhúc nhích chút xíu con ngươi đờ đẫn màu chì. Dĩ vãng… Kỷ niệm…Nhớ thương… Hết thảy đều chìm trong bụi thời gian mốc thếch. Càng buồn! Biết vậy chả nên gặp lại, chả nên tìm đến làm gì, chỉ tổ bẽ bàng, tan nát lòng dạ hơn. Cánh rừng năm nào đã không còn bóng dáng một loài cây cũ, mảnh đất năm nao đã phai lợt sắc màu, một lớp người xa lạ ở đâu đến hay vừa mới nhớn nhao lên đã nghiễm nhiên thay thế họ rồi. Trong số đó có một cậu giao liên bây giờ là phó chủ tịch huyện phụ trách tài mậu tên là Quân đã bất chợt nhận ra tôi. Còn tôi thì chịu. Mười sáu năm trời dằng dặc đã trôi qua, khi đó nó mới chừng mười ba, mười bốn tuổi, nay đã ngoài ba mươi rồi; khi đó nó bé lóc cóc như cái tẩy, nay đã thành ông phó chủ tịch đạo mạo phương phi, ngực nở bụng nở, mông nở và ngay cả cái miệng cười cũng hết sức nở nang thì thử hỏi làm sao tôi có thể nhận ra được?
Tuổi già dừng lại, tuổi trẻ vun vút đi lên, âu đó cũng là chuyện thường. Nó hỏi tôi vào đây hồi nào? Vào làm gì? Sao già thế? Dòm như ông cố nội của cái ông Hai Hùng đội trưởng ngày xưa. Biết tôi lơ vơ láo váo, nó bảo lên xe. Cho anh nếm mùi chiều chuộng của con gái miền Tây. Mấy ông Bắc Kỳ sống dại bỏ xừ, chỉ biết đạo mà không biết đời. Ừ thì đi! Thời buổi lòng người nhạt tựa nước lã ao bèo này, người quen cũ chịu nhận ra nhau đã quý, lại còn rủ đi nhậu, đi rong ruổi phương xa thì càng quý. Cậu độ này khá nhỉ? Đã ra vẻ một tay áp phe cỡ Đông Dương gớm! Dương gì đâu anh. Mệt thấy mẹ! Không mấy ngày là không lang thang như chó đạp lửa thế này dể móc hàng, kiếm hàng, để dò tìm, để tiêu thụ, đã quá đã… Chuyện trò lung tung, gà gà gật gật, định hỏi thằng này thế nào, thằng kia ra sao, cô kia ra sao nữa nhưng tiếng cassetse cứ đập thùng thùng vào mang tai, khiến chả nói được gì, cũng chả nghe được bao nhiêu. Chán. Và mệt. Và không muốn biết thêm gì nữa.
Sẩm tối thì xe đến nơi, nhọc nhằn để lại đằng sau hơn hai trăm cây số, hai con phà và hàng nghìn những cảnh đời trái ngang. Xà quầy xà quạng một lúc, xe dừng lại trước cửa một nhà hàng nằm sâu trong vườn dừa nước có vô số kinh rạch cắt tới cắt lui. Kỳ lạ!Ngay từ giây phút đầu tiên bước xuống xe, toàn mình ngợp choáng trong hàng trăm ngọn đèn các cỡ, trong muôn vàn âm thanh các loại, vừa gợi chất bồng lai vừa bảng lảng mùi địa ngục, tôi đã thấy trong người chộn rộn một cái gì đó khác thường lắm! Rất khác thường mà không thể đoán hiểu được đó là cái gì hết. Không ngờ…
Vâng! Chính tại cái nhà hàng sang trọng, nồng nã cái hương vị sông nước rất riêng của miền Tây này, tôi đã gặp lại cô ấy.
Khoan! Trước lúc gặp cô ấy, tôi đã gặp một cô gái khác trẻ hơn, trẻ chỉ bằng phân nửa tuổi tôi và lại đẹp nữa, rất đẹp. Trông nhang nhác một tài tử Hong Kong chuyên đóng những vai diễm lệ, trong trắng và u sầu trong những bộ phim thấm đẫm hồn Quỳnh Dao. Cô bé là gái bán bar trong biên chế nhà nước cho dễ gọi. Tức là cái thằng tôi đang ngồi lọt thỏm giữa một quán bia ôm bề thế trong bộ dạng nhàu nát, lôm nhôm và mùi mồ hôi trộn mùi bụi đường chua nặc, chua đến nỗi chính tôi cũng ngửi thấy.
Khốn khổ! Từ ngày bước chân ra khỏi rừng không còn làm thằng lính tới giờ, tôi đã một lần được biết bia ôm là thế nào đâu. Cho nên mặt mày cứ duỗi dệt ra vì cảm động, vì ngơ ngác. Không cảm động, ngơ ngác sao được khi cô bé trắng nõn như một que kem và thơm cũng như một que kem sữa ấy e ấp, tỉ mẩn chăm chút cho tôi từng li từng tí. Bằng những động tác duyên dáng, uyển chuyển như sương khói, cô mở bia, rót bia, gắp mồi, bỏ đá, hỏi nhỏ, cười nhẹ, đặt vào tay, đưa lên miệng, nghiêng khẽ, châm thuốc, trao đũa, đổi thìa, ứ hự… Dòng nước men êm dịu chảy róc rách, chảy xối xả vào ngực, cuốn theo cả ánh mắt nai tơ có viền xanh màu lá mạ không rõ vì sao cứ rượi buồn. Tôi uống. Không phải là uống. Lâu quá mới được uống. Thần kinh phồng lên, mạch máu dốc ngược, các lỗ chân lông giãn nở… Những chiếc khăn rắc đá ướp lạnh rồi lại những chiếc khăn ướp nóng ngào ngạt như cả một vườn hoa úp lên mặt, lên mũi, lên trán, phủ vào cả cổ, cả ngực. Thơm và chua, chua và thơm nhào trộn đến chóng mặt, đến chung chiêng. Tôi cười nhạt. Nửa nhạt nửa mặn. Cười hị hị. Lại uống… Cô bé cũng uống. Uống không kém gì tôi. Uống hơn tôi. Uống giống tôi. Như uống nỗi niềm. Lon Heniken mở rôm rốp như đại liên, 555 xé roàn roạt như xé vải. Điếu này chưa hết đã quăng đi đốt điếu khác, các cục lửa thi nhau cháy đỏ trên những cái miệng cười, mếu, hát, nhầy mỡ và sủi bọt. Dường như tất cả sắp rơi vào cơn động kinh tàn độc và ngọt ngào.
- Anh Hai… Sao anh buồn thế?
Tôi không trả lời, không thể trả lời, chỉ khẽ rùng mình cho vị mặn từ câu hỏi im lìm đó chảy từ từ xuống đáy ruột. Giời ạ! Trong cả cuộc đời nhọc mệt, tôi nào đã có bao giờ được nghe một giọng hỏi dịu mềm đến thế, nhõng nhẽo đến thế, giọng hỏi đàn bà vừa là của mẹ, vừa là vợ, vừa là con. Gần năm mươi tuổi, hai lần phải lòng, một lần lấy vợ. Ăn ở với nhau chưa tròn hai cái tết thì băng giá, sấm chớp chui vào nhà. Tôi chán anh lắm! Tôi không chịu nổi anh nữa. Anh là một thằng đàn ông vất đi từ trong ra ngoài. Ngủ với anh cứ như người bị tra tấn ấy. Thà ngứa ngáy đi ngủ với thằng xích lô còn hơn… Mất vợ, tôi chả buồn chả đau, một con đàn bà nói năng như thế có còn ra vợ nữa đâu mà đau, chỉ bực mình tí chút trước những câu hỏi ác ý lẫn cả thiện ý của người đời. Cũng nhục thật! Chỉ có độc một việc là làm sao cho cái đó cong lên, hứng khoái mà cũng không xong thì tôi đáng vất đi thật. Đành vậy. Bao nhiêu xung lực, nội lực đã dồn hết trong chiến trận rồi, còn sức đâu nữa mà uốn cong người ả lên được.
- Uống đi anh! Nói một câu gì đó đi anh! Nói thiệt, anh Hai là người khách đầu tiên mà em biết khi tới đây lại mang cái vẻ mặt buồn buồn thế này. Tại em, em vô duyên, em kém cỏi, không làm anh Hai vui lên được sao?
Chao ôi! Giá như con vợ nặng hơn 60 kg của tôi cũng có một lần thử thỏ thẻ vào lỗ tai tôi một phần ngàn cái chất giọng hờn trách, yêu thương nghe đến rủn cả chân răng như thế thì có lẽ thân phận tôi sẽ khác đi đôi chút.
- Em tháo bớt khuy áo cho anh nghen! Vô nhà hàng bận quân phục trông kỳ nhưng mà… đẹp. Anh Ba Quân chủ tịch nói anh Hai ngày trước là sếp bự của ảnh, ảnh dặn tụi em phải đối xử với anh Hai thiệt đàng hoàng.
Anh… Em… Sếp bự… Đàng hoàng… Trời ơi, cái lão già hôi hám cóc cáy có mỗi bộ đồ lính kỷ niệm lấy từ hốc tủ ra mặc mà cũng còn được âu yếm gọi là Anh từ miệng một đứa con gái đẹp như sao sa. Tôi uống. Lại ngửa cổ uống. Mặc dù không thích uống, không thấy ngon, chỉ thấy những búng nước xà bông nhằng nhặng tràn vào cổ.
Ngồi trước tôi, hoàn toàn tương phản với tôi là khuôn mặt loà nhoà lúc trương phình ra, lúc teo quắt lại như rọi chiếu trong gương dị dạng của tay phó chủ tịch trẻ trai đỏ đắn.Hắn nháy mắt sang tôi. Cái nháy trăm ý. Vừa dễ thương vừa đểu đểu. Tôi chỉ hiểu được một ý: Đối với cái nhà hàng thuộc thứ xịn bậc nhất ở vùng ngã ba sông Hậu này, thưa anh Hai Bắc Kỳ, thằng em bao giờ cũng là thượng khách, là khách sộp, khách quen, là người nhà. Tôi gục gặc đầu. Đúng thôi. Chỉ cần nhìn cái dáng ậm ạch của bà cửa hàng trưởng te tái chạy ra: Ôi chú Ba… và cái cách mấy cô nhân viên nuột nà óng ả nhất bảo nhau dồn cả vào đây ngồi bâu quanh hắn, mớm nếm cho hắn, hờn giận trách móc hắn, cả cấu véo lẫn cắn vào cổ, vào vai, vào đôi môi láng nhẫy của hắn… Cũng đủ hiểu. Hắn là ông Hoàng. Và tôi lại là sếp bự của ông Hoàng. Oai đấy chứ? Khốn nạn…
- Anh cười gì thế? - Cô bé ngước cặp mắt mê hồn lên tôi, hỏi với vẻ lo lắng thật sự - Sao anh không nói chuyện gì với em? Anh mà cứ đăm chiêu hoài vậy, bà chủ bả…
- Bả làm sao? - Tôi buộc lòng phải mở miệng. Việc khách vào đây, nói ít hay nói nhiều, buồn hay vui, có liên quan gì đến bả?
- Bả… Bả sẽ nói em không biết chiều khách. Bả sẽ đuổi việc…
Vừa nói tới đó, cô bé dừng tắc lại, hai bàn tay lóng ngóng cầm lấy cái này rồi lại cầm lấy cái kia. Tôi nhìn ra: Ánh mắt nghiệt ngã của cửa hàng trưởng đang nhìn xoáy vào cô ta từ ngoài cửa. À, ra thế. Tôi bật cười khấc lên một tiếng và một lần nữa lại tránh nhìn vào cặp đùi trắng đến loá mắt đang tuồn ra khỏi viền chiếc váy mini dưới gậm bàn, ngay bên cạnh đôi ống quần lem nhem bọc cặp giò teo cơ của tôi. Tôi lại cười khấc lên tiếng nữa. Chắc tiếng cười rõ chán nên con bé xị má xuống nhưng đôi môi nhỏ xíu màu hoa bằng lăng lại uốn lên hờn tủi. Ánh mắt của bà trưởng cửa hàng, cặp môi của con bé đã mách bảo cho cái khối não quá ư cục mịch của tôi hay rằng: vị trí công việc nơi đây rất thơm, song cũng rất chi là tạm bợ. Muốn được biên chế dài dài, phải đốt làm sao cho khách nóng lên, vui, hứng, đến lần này rồi đến lần nữa, lần nữa, quên mình, quên luôn cả số lon bia bị quẳng xuống gầm bàn, số vỏ 555 được vất vào sọt rác, quên ráo trọi, chỉ còn bồng bềnh đùi non, môi hé. Càng bồng bềnh nhiều, càng quên nhiều, càng khẳng định năng lực công tác, trình độ nghiệp vụ để mở đường tiến sâu vào biên chế chính thức. Và con bé say. Say ra mặt. Thỉnh thoảng nấc lên một tiếng cụt ngẫng. Có lẽ giống như tôi, con bé không uống được nhưng phải cố mà uống. Đây là trận đánh giành giật chỗ đứng, đây là yếu tố tiên quyết để tạo nên tư cách của một nhân viên nhà hàng, nôn mửa cũng phải móc họng ra mà uống, chết cũng phải uống. Quả vậy, thi thoảng, tôi thấy cô ta đứng dậy đi đâu một lát, khi trở lại, mặt mày có vẻ nhẹ nhõm hơn. Cái nhẹ nhõm của một kẻ vừa hoàn tất xong việc toilet hay ói mửa. Tôi tội tình, cô cũng tội tình dìu nhau qua cái buổi tối cuồng mê này? Như một con mèo ốm, cô nép nhẹ vào tôi, dựa đầu vào vai tôi, thở dài cầm lấy ngón tay cái của tôi lên nhấm nhè nhẹ giữa hai chiếc răng cửa nhỏ xíu, lạnh buốt. Rồi lưỡi… như lưỡi rắn. Rợn mình, tôi vội rút ngón tay ra khỏi cái miệng tươi như hoa đang có chiều úa héo ấy. Nào, tôi chôn vùi cảm giác. Bật lon đi, bật nữa đi cô bé, nữa! Tôi ngửa cổ uống. Vừa uống vừa đồng loã với cô lén đổ xuống gầm bàn, vất cả lon nguyên vẹn vào sọt rác. Mỗi âm thanh óc ách hay cục kịch từ dưới đất dội lên lại gây cho tôi một khoái cảm ngây dại, khoái cảm được trả thù ngầm. Trả thù ai, trả thù cái gì thì chính tôi cũng không biết nữa.
Một mũi giày thúc nhẹ vào cẳng chân tôi từ phía trước. Tôi ngẩng lên… Gã phó chủ tịch choai con vừa nháy nháy mắt với tôi vừa kín đáo lắc đầu. Vậy là gã biết tôi đang làm cái
Ăn mày dĩ vãng
-Chu Lai–
-Chu Lai–
I
Tên người đàn bà ấy là Sương, Ba Sương, đã chết rồi, chết rõ mười mươi ngay trước mắt tôi, chính tay tôi đã đào mồ chôn cất để rồi từ đó, đằng đẵng suốt mười mấy năm sau, cứ mỗi lần bất chợt nhớ đến, hình ảnh Sương lại xoáy buốt vào tôi những nuối tiếc khắckhoải và cả những day dứt ngọt ngào.Vậy mà Sương lại không chết, không hề chết! Trời ơi!… Nếu tôi không có chuyến đi vào Nam như cánh chim trốn rét muộn màng ấy,nếu như tôi không vô tình gặp lại, nếu như con người ấy đừng sống lại thì có lẽ cuộc đời tôi…
Đó là vào một đêm hè oi ả, dự báo những trận mưa triền miên buồn dứt sắp đổ xuống vùng rừng mới được phục sinh bên dòng sông Hậu.
Tôi vừa mới chân ướt chân ráo ở ngoài kia vào để thực hiện một hành vi ngang trái và tội tình: đi tìm việc làm, đi tìm nơi trú ngụ chót cùng của cuộc đời. Vâng! Đã ngót ngét bướcsang cái tuổi năm mươi rồi mà còn lận đận bỏ xứ xa quê để tìm công ăn việc làm thì thật là tội tình! Nhưng hỡi ôi, biết làm sao được! Cuộc đời vốn dĩ nó vẫn cứ hững hờ trôi chảynhư thế cũng như tự trong cái thâm tâm đã quá chán chường mệt mỏi của tôi, tôi đâu có tính ngồi viết lại những dòng này, một việc làm mà chỉ cần nhắc tới thôi là cũng đủ thấy rùng mình, quá đỗi dớ dẩn rồi. Viết Lại! Động từ ấy mới sáo rỗng làm sao! Viết Lại có nghĩa là Sống Lại, sống lại cái cuộc sống nửa sống nửa chết ấy thì coi như chết hai lần!Viết Lại! Chao ôi, cái hành vi ấy mới bốc mùi ngầy ngụa làm sao! Vậy mà tôi vẫn phải kể lại, phải viết lại như một thứ ma đưa lối, quỷ đưa đường, có cố tình lãng quên đi cũng chẳng được.
Tôi bốn chín tuổi và đang thất nghiệp, đúng hơn là vừa mới thất nghiệp. Tôi, một kẻ dư thừa vừa bị bắn ra khỏi lề đường. Cao một thước bảy mươi nhưng chỉ nặng có bốn mươi nhăm cân, hốc hác, bắt đầu có dấu hiệu thần kinh, tóc bạc nham nhở, ngực lép, bụng lép, mắt cá chày, da xám ngoét, môi thâm, răng rụng gần một phần ba, ít cười, ít nói, sợ ánh sáng, sợ tiếng động, sợ đô thị, sợ nơi đông người, dấu vết mặc cảm tự ti in hằn vào từng bước chân đi, từ trong cái nhếch mép rụt rè, nửa cười nửa khổ… Tóm lại, tôi là một con nộm rơm khốn khổ giữa cánh đồng đời đầy giông bão. Ấy vậy mà cái đống da thịt xương
xẩu lằng nhằng là tôi đó lại đã có một thời ngang dọc, tráng kiện chẳng kém chi ai. Cái thời gắn liền với những cánh rừng bom đạn bên dòng sông Sài Gòn, cái thời mà giá nhưtrái mìn Clâymơ màu xanh là cây cong vênh ấy đừng có nhằm giữa đỉnh đầu tôi lạnh lẽo giáng xuống thì có lẽ cho đến hôm nay, thể xác tôi, tâm hồn tôi chưa tới nỗi tồi tệ dường này. Tôi đã thành một lão già, lão già ốm o và sầu muộn. Mà, ô hay! Tôi đang lảm nhảm cái gì đây chứ? Tôi đang muốn kể về người đàn bà chết mười mươi mà đột nhiên sống lại kia mà. Chà!… Thì ra một khi đã già, đã đánh tuột hết lượng sinh khí ra phía sau đuôi,người ta đâm dở chứng ưa than thân trách phận.
Vâng, thưa bạn đọc! Thì tôi vẫn đang nói về người đàn bà đó đấy chứ. Ấy là vào một đêm hè oi ả… Chao! Lại lẩm cẩm rồi. Tội vạ gì mà thiên hạ động nhắc tới kỷ niệm lại nhất thiết cứ phải là đêm nhỉ? Có thể ngày, có thể sáng, có thể trưa thì đã chết chóc gì nào? Rõ thật… Dễ thường cứ phải là Đêm thì vùng ký ức mới có mùi vị thẳm sâu chắc? Lẩm cẩm! Chậc!… Mà thực ra không lẩm cẩm thì làm sao tôi có thể lạc được vào cái nhà hàng choáng ngợp cỡ đệ nhất, đệ nhị miền Tây đó. Còn tướt! Bạn bè một thuở kiêu dũng của tôi bây giờ gặp lại, cũng như tôi, sao mà ngán ngẩm quá thể! Hầu hết đã lui về vườn ăn theo vợ, núp váy vợ. Nếu còn có một người đàn bà chịu làm vợ. Đứa thì nhậu xỉn, tối ngày nằm trên võng nắng, đứa thì lụi hụi trổng tỉa ngoài bưng, mở mồm là càu cạu, thằng này đang thở dài phì phịt giữa một bên là bầy con nhem nhuốc, bên kia là thạp gạo chỉ còn cám mùn đọng quẩn ở dưới đáy, thằng kia sống trụi thùi lụi một mình, hỏi nhà cửa vợ con đâu, chỉ giơ cái chai đế lên cười xệch xẹo… Mỗi thằng một vẻ, trăm thằng trăm lối, không thăm thì nhớ, thăm rồi, trở ra, lại thấy buồn dứt ruột trong nỗi thương bạn. Đội hình đánh giặc ngang tàng năm xưa giờ đây, trừ vài thằng may mắn khôn ngoan, chẳng rõ nguyên cớ nào lại đều bị cuộc đời dồn chung vào một cục hẩm hui, méo mó. Chẳng may nhận ra nhau chỉ nhúc nhích chút xíu con ngươi đờ đẫn màu chì. Dĩ vãng… Kỷ niệm…Nhớ thương… Hết thảy đều chìm trong bụi thời gian mốc thếch. Càng buồn! Biết vậy chả nên gặp lại, chả nên tìm đến làm gì, chỉ tổ bẽ bàng, tan nát lòng dạ hơn. Cánh rừng năm nào đã không còn bóng dáng một loài cây cũ, mảnh đất năm nao đã phai lợt sắc màu, một lớp người xa lạ ở đâu đến hay vừa mới nhớn nhao lên đã nghiễm nhiên thay thế họ rồi. Trong số đó có một cậu giao liên bây giờ là phó chủ tịch huyện phụ trách tài mậu tên là Quân đã bất chợt nhận ra tôi. Còn tôi thì chịu. Mười sáu năm trời dằng dặc đã trôi qua, khi đó nó mới chừng mười ba, mười bốn tuổi, nay đã ngoài ba mươi rồi; khi đó nó bé lóc cóc như cái tẩy, nay đã thành ông phó chủ tịch đạo mạo phương phi, ngực nở bụng nở, mông nở và ngay cả cái miệng cười cũng hết sức nở nang thì thử hỏi làm sao tôi có thể nhận ra được?
Tuổi già dừng lại, tuổi trẻ vun vút đi lên, âu đó cũng là chuyện thường. Nó hỏi tôi vào đây hồi nào? Vào làm gì? Sao già thế? Dòm như ông cố nội của cái ông Hai Hùng đội trưởng ngày xưa. Biết tôi lơ vơ láo váo, nó bảo lên xe. Cho anh nếm mùi chiều chuộng của con gái miền Tây. Mấy ông Bắc Kỳ sống dại bỏ xừ, chỉ biết đạo mà không biết đời. Ừ thì đi! Thời buổi lòng người nhạt tựa nước lã ao bèo này, người quen cũ chịu nhận ra nhau đã quý, lại còn rủ đi nhậu, đi rong ruổi phương xa thì càng quý. Cậu độ này khá nhỉ? Đã ra vẻ một tay áp phe cỡ Đông Dương gớm! Dương gì đâu anh. Mệt thấy mẹ! Không mấy ngày là không lang thang như chó đạp lửa thế này dể móc hàng, kiếm hàng, để dò tìm, để tiêu thụ, đã quá đã… Chuyện trò lung tung, gà gà gật gật, định hỏi thằng này thế nào, thằng kia ra sao, cô kia ra sao nữa nhưng tiếng cassetse cứ đập thùng thùng vào mang tai, khiến chả nói được gì, cũng chả nghe được bao nhiêu. Chán. Và mệt. Và không muốn biết thêm gì nữa.
Sẩm tối thì xe đến nơi, nhọc nhằn để lại đằng sau hơn hai trăm cây số, hai con phà và hàng nghìn những cảnh đời trái ngang. Xà quầy xà quạng một lúc, xe dừng lại trước cửa một nhà hàng nằm sâu trong vườn dừa nước có vô số kinh rạch cắt tới cắt lui. Kỳ lạ!Ngay từ giây phút đầu tiên bước xuống xe, toàn mình ngợp choáng trong hàng trăm ngọn đèn các cỡ, trong muôn vàn âm thanh các loại, vừa gợi chất bồng lai vừa bảng lảng mùi địa ngục, tôi đã thấy trong người chộn rộn một cái gì đó khác thường lắm! Rất khác thường mà không thể đoán hiểu được đó là cái gì hết. Không ngờ…
Vâng! Chính tại cái nhà hàng sang trọng, nồng nã cái hương vị sông nước rất riêng của miền Tây này, tôi đã gặp lại cô ấy.
Khoan! Trước lúc gặp cô ấy, tôi đã gặp một cô gái khác trẻ hơn, trẻ chỉ bằng phân nửa tuổi tôi và lại đẹp nữa, rất đẹp. Trông nhang nhác một tài tử Hong Kong chuyên đóng những vai diễm lệ, trong trắng và u sầu trong những bộ phim thấm đẫm hồn Quỳnh Dao. Cô bé là gái bán bar trong biên chế nhà nước cho dễ gọi. Tức là cái thằng tôi đang ngồi lọt thỏm giữa một quán bia ôm bề thế trong bộ dạng nhàu nát, lôm nhôm và mùi mồ hôi trộn mùi bụi đường chua nặc, chua đến nỗi chính tôi cũng ngửi thấy.
Khốn khổ! Từ ngày bước chân ra khỏi rừng không còn làm thằng lính tới giờ, tôi đã một lần được biết bia ôm là thế nào đâu. Cho nên mặt mày cứ duỗi dệt ra vì cảm động, vì ngơ ngác. Không cảm động, ngơ ngác sao được khi cô bé trắng nõn như một que kem và thơm cũng như một que kem sữa ấy e ấp, tỉ mẩn chăm chút cho tôi từng li từng tí. Bằng những động tác duyên dáng, uyển chuyển như sương khói, cô mở bia, rót bia, gắp mồi, bỏ đá, hỏi nhỏ, cười nhẹ, đặt vào tay, đưa lên miệng, nghiêng khẽ, châm thuốc, trao đũa, đổi thìa, ứ hự… Dòng nước men êm dịu chảy róc rách, chảy xối xả vào ngực, cuốn theo cả ánh mắt nai tơ có viền xanh màu lá mạ không rõ vì sao cứ rượi buồn. Tôi uống. Không phải là uống. Lâu quá mới được uống. Thần kinh phồng lên, mạch máu dốc ngược, các lỗ chân lông giãn nở… Những chiếc khăn rắc đá ướp lạnh rồi lại những chiếc khăn ướp nóng ngào ngạt như cả một vườn hoa úp lên mặt, lên mũi, lên trán, phủ vào cả cổ, cả ngực. Thơm và chua, chua và thơm nhào trộn đến chóng mặt, đến chung chiêng. Tôi cười nhạt. Nửa nhạt nửa mặn. Cười hị hị. Lại uống… Cô bé cũng uống. Uống không kém gì tôi. Uống hơn tôi. Uống giống tôi. Như uống nỗi niềm. Lon Heniken mở rôm rốp như đại liên, 555 xé roàn roạt như xé vải. Điếu này chưa hết đã quăng đi đốt điếu khác, các cục lửa thi nhau cháy đỏ trên những cái miệng cười, mếu, hát, nhầy mỡ và sủi bọt. Dường như tất cả sắp rơi vào cơn động kinh tàn độc và ngọt ngào.
- Anh Hai… Sao anh buồn thế?
Tôi không trả lời, không thể trả lời, chỉ khẽ rùng mình cho vị mặn từ câu hỏi im lìm đó chảy từ từ xuống đáy ruột. Giời ạ! Trong cả cuộc đời nhọc mệt, tôi nào đã có bao giờ được nghe một giọng hỏi dịu mềm đến thế, nhõng nhẽo đến thế, giọng hỏi đàn bà vừa là của mẹ, vừa là vợ, vừa là con. Gần năm mươi tuổi, hai lần phải lòng, một lần lấy vợ. Ăn ở với nhau chưa tròn hai cái tết thì băng giá, sấm chớp chui vào nhà. Tôi chán anh lắm! Tôi không chịu nổi anh nữa. Anh là một thằng đàn ông vất đi từ trong ra ngoài. Ngủ với anh cứ như người bị tra tấn ấy. Thà ngứa ngáy đi ngủ với thằng xích lô còn hơn… Mất vợ, tôi chả buồn chả đau, một con đàn bà nói năng như thế có còn ra vợ nữa đâu mà đau, chỉ bực mình tí chút trước những câu hỏi ác ý lẫn cả thiện ý của người đời. Cũng nhục thật! Chỉ có độc một việc là làm sao cho cái đó cong lên, hứng khoái mà cũng không xong thì tôi đáng vất đi thật. Đành vậy. Bao nhiêu xung lực, nội lực đã dồn hết trong chiến trận rồi, còn sức đâu nữa mà uốn cong người ả lên được.
- Uống đi anh! Nói một câu gì đó đi anh! Nói thiệt, anh Hai là người khách đầu tiên mà em biết khi tới đây lại mang cái vẻ mặt buồn buồn thế này. Tại em, em vô duyên, em kém cỏi, không làm anh Hai vui lên được sao?
Chao ôi! Giá như con vợ nặng hơn 60 kg của tôi cũng có một lần thử thỏ thẻ vào lỗ tai tôi một phần ngàn cái chất giọng hờn trách, yêu thương nghe đến rủn cả chân răng như thế thì có lẽ thân phận tôi sẽ khác đi đôi chút.
- Em tháo bớt khuy áo cho anh nghen! Vô nhà hàng bận quân phục trông kỳ nhưng mà… đẹp. Anh Ba Quân chủ tịch nói anh Hai ngày trước là sếp bự của ảnh, ảnh dặn tụi em phải đối xử với anh Hai thiệt đàng hoàng.
Anh… Em… Sếp bự… Đàng hoàng… Trời ơi, cái lão già hôi hám cóc cáy có mỗi bộ đồ lính kỷ niệm lấy từ hốc tủ ra mặc mà cũng còn được âu yếm gọi là Anh từ miệng một đứa con gái đẹp như sao sa. Tôi uống. Lại ngửa cổ uống. Mặc dù không thích uống, không thấy ngon, chỉ thấy những búng nước xà bông nhằng nhặng tràn vào cổ.
Ngồi trước tôi, hoàn toàn tương phản với tôi là khuôn mặt loà nhoà lúc trương phình ra, lúc teo quắt lại như rọi chiếu trong gương dị dạng của tay phó chủ tịch trẻ trai đỏ đắn.Hắn nháy mắt sang tôi. Cái nháy trăm ý. Vừa dễ thương vừa đểu đểu. Tôi chỉ hiểu được một ý: Đối với cái nhà hàng thuộc thứ xịn bậc nhất ở vùng ngã ba sông Hậu này, thưa anh Hai Bắc Kỳ, thằng em bao giờ cũng là thượng khách, là khách sộp, khách quen, là người nhà. Tôi gục gặc đầu. Đúng thôi. Chỉ cần nhìn cái dáng ậm ạch của bà cửa hàng trưởng te tái chạy ra: Ôi chú Ba… và cái cách mấy cô nhân viên nuột nà óng ả nhất bảo nhau dồn cả vào đây ngồi bâu quanh hắn, mớm nếm cho hắn, hờn giận trách móc hắn, cả cấu véo lẫn cắn vào cổ, vào vai, vào đôi môi láng nhẫy của hắn… Cũng đủ hiểu. Hắn là ông Hoàng. Và tôi lại là sếp bự của ông Hoàng. Oai đấy chứ? Khốn nạn…
- Anh cười gì thế? - Cô bé ngước cặp mắt mê hồn lên tôi, hỏi với vẻ lo lắng thật sự - Sao anh không nói chuyện gì với em? Anh mà cứ đăm chiêu hoài vậy, bà chủ bả…
- Bả làm sao? - Tôi buộc lòng phải mở miệng. Việc khách vào đây, nói ít hay nói nhiều, buồn hay vui, có liên quan gì đến bả?
- Bả… Bả sẽ nói em không biết chiều khách. Bả sẽ đuổi việc…
Vừa nói tới đó, cô bé dừng tắc lại, hai bàn tay lóng ngóng cầm lấy cái này rồi lại cầm lấy cái kia. Tôi nhìn ra: Ánh mắt nghiệt ngã của cửa hàng trưởng đang nhìn xoáy vào cô ta từ ngoài cửa. À, ra thế. Tôi bật cười khấc lên một tiếng và một lần nữa lại tránh nhìn vào cặp đùi trắng đến loá mắt đang tuồn ra khỏi viền chiếc váy mini dưới gậm bàn, ngay bên cạnh đôi ống quần lem nhem bọc cặp giò teo cơ của tôi. Tôi lại cười khấc lên tiếng nữa. Chắc tiếng cười rõ chán nên con bé xị má xuống nhưng đôi môi nhỏ xíu màu hoa bằng lăng lại uốn lên hờn tủi. Ánh mắt của bà trưởng cửa hàng, cặp môi của con bé đã mách bảo cho cái khối não quá ư cục mịch của tôi hay rằng: vị trí công việc nơi đây rất thơm, song cũng rất chi là tạm bợ. Muốn được biên chế dài dài, phải đốt làm sao cho khách nóng lên, vui, hứng, đến lần này rồi đến lần nữa, lần nữa, quên mình, quên luôn cả số lon bia bị quẳng xuống gầm bàn, số vỏ 555 được vất vào sọt rác, quên ráo trọi, chỉ còn bồng bềnh đùi non, môi hé. Càng bồng bềnh nhiều, càng quên nhiều, càng khẳng định năng lực công tác, trình độ nghiệp vụ để mở đường tiến sâu vào biên chế chính thức. Và con bé say. Say ra mặt. Thỉnh thoảng nấc lên một tiếng cụt ngẫng. Có lẽ giống như tôi, con bé không uống được nhưng phải cố mà uống. Đây là trận đánh giành giật chỗ đứng, đây là yếu tố tiên quyết để tạo nên tư cách của một nhân viên nhà hàng, nôn mửa cũng phải móc họng ra mà uống, chết cũng phải uống. Quả vậy, thi thoảng, tôi thấy cô ta đứng dậy đi đâu một lát, khi trở lại, mặt mày có vẻ nhẹ nhõm hơn. Cái nhẹ nhõm của một kẻ vừa hoàn tất xong việc toilet hay ói mửa. Tôi tội tình, cô cũng tội tình dìu nhau qua cái buổi tối cuồng mê này? Như một con mèo ốm, cô nép nhẹ vào tôi, dựa đầu vào vai tôi, thở dài cầm lấy ngón tay cái của tôi lên nhấm nhè nhẹ giữa hai chiếc răng cửa nhỏ xíu, lạnh buốt. Rồi lưỡi… như lưỡi rắn. Rợn mình, tôi vội rút ngón tay ra khỏi cái miệng tươi như hoa đang có chiều úa héo ấy. Nào, tôi chôn vùi cảm giác. Bật lon đi, bật nữa đi cô bé, nữa! Tôi ngửa cổ uống. Vừa uống vừa đồng loã với cô lén đổ xuống gầm bàn, vất cả lon nguyên vẹn vào sọt rác. Mỗi âm thanh óc ách hay cục kịch từ dưới đất dội lên lại gây cho tôi một khoái cảm ngây dại, khoái cảm được trả thù ngầm. Trả thù ai, trả thù cái gì thì chính tôi cũng không biết nữa.
Một mũi giày thúc nhẹ vào cẳng chân tôi từ phía trước. Tôi ngẩng lên… Gã phó chủ tịch choai con vừa nháy nháy mắt với tôi vừa kín đáo lắc đầu. Vậy là gã biết tôi đang làm cái
)