📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Truyện ngắn 🔒

11 trả lời, 1.460 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-20 22:25:07Ct.Ly>
Cơn giông
Đỗ Nhật Minh


Nóng hầm hập. Nóng như nung như nấu. Đến giông bão mất thôi. Cô gái đẩy cửa kính của tòa nhà bưu điện tỉnh, uể oải đi tới ngồi xuống chiếc ghế mềm đặt ở góc nhà.

Trong nhà mát lạnh vì lắp máy điều hòa nhiệt độ. Người đến mỗi lúc một đông, đa phần là tránh nóng. Cô gái nhìn ra ngoài. Phía trước là tòa báo tỉnh H, nơi cô sẽ xin vào làm, kề bên là Ban tổ chức chính quyền.
“Mày xin việc thì quá dễ. Đã xinh đẹp lại có hai bằng đại học”. Bạn cô bảo vậy. Cô mỉm cười, không đáp. Người ngoài đâu có hiểu nỗi éo le cay đắng của cô.
Sáng qua ông ta đến đây. Đây là lần thứ tư hay thứ năm gì đấy trong tháng này, ông đã tới. Cảm giác đó có thể do người mẹ truyền cho qua bao năm tháng và cũng có thể tại ông ta có đôi mắt ti hí với bộ mặt nhẵn nhụi và nụ cười nhạt nhẽo.
Người đàn ông ấy cô phải gọi là bố. Đã bao lần cô chứng kiến những cuộc cãi cọ om sòm giữa mẹ và ông ta. Cuộc cãi vã ấy diễn ra khoan nhặt đã trên chục năm.
Thời gian đầu ông ta khăng khăng với mẹ, cô không phải là con mình, về sau đã phải thừa nhận – mà một chứng lý không thể cãi là cô giống bố như lột - nhưng ông lại đổ cho mẹ cô nhăng nhít với nhiều gã đàn ông khi ông đi biệt phái công tác ở một nơi xa tít tắp những mấy chục năm trời.
Mới cách đây hai hôm vào tầm xế trưa, hai người lại ầm ĩ làm cô đang ngủ trên gác xép phải thức giấc. Mẹ cô sồn sồn:
- Bây giờ ông phải lo việc cho cái Phượng. Hai mươi lăm năm, ông đã bỏ rơi nó. Vậy lần này ông nên sám hối, làm việc lương thiện để sau này có nhắm mắt xuôi tay còn có người khóc.
- Không phải to mồm mà gào lên như thế. Bây giờ, tôi chả là gì cả, còn lo được cho ai.
- Tôi đã nói rồi, không nhờ cậy ông giúp việc to tát gì mà chỉ cần ông viết cho mấy chữ chứng thực là bố đẻ ra nó. Chuyển họ Trần của tôi sang họ Nguyễn của ông. Ông lo cho nó hộ tịch ở trên ấy để nó đi làm. Chỉ có vậy thôi. Nào, ông có làm được không?
Im lặng. Nghe rõ tiếng khóc thút thít, tiếng bước chân nặng trịch.
- Hồ sơ của nó đâu? Để tôi còn xem thế nào đã.
- Không phải xem xét gì nữa! Mai nó lên chỗ ông, và ông phải lo việc cho xong.
- Này, tôi không quen nghe lệnh của người khác.
- Đấy là ngày xưa còn bây giờ không thế đâu.
Phượng thừa nhận, mẹ cô là người ghê gớm, sắc sảo, ăn nói đâu ra đấy. Nhiều lần cô chứng kiến mẹ cô luôn chiến thắng trong các cuộc tranh luận tại cuộc họp dân phố và kể cả đấu khẩu trong chợ hay ngoài đường. Vậy mà người ta bảo ngày xưa mẹ là người đàn bà đẹp và rất dịu dàng.
Phải chăng cuộc đời mẹ cay đắng quá, bị đẩy vào thế cùng nên đã đổi thay tính nết? Chẳng lẽ đây là một cách tồn tại, một cách phòng vệ trong cuộc sống? Đôi lúc Phượng hoảng sợ khi thấy mình nhiều khi cũng giống tính mẹ.
Tiếng cười ồn ào của nhóm người vào lĩnh bưu phẩm làm cô trở về với thực tại. Một gã đàn ông to béo chừng bốn chục tuổi để ria mép rậm rì đặt thùng thư khoan thai đi đến, ngồi xuống bên cô, tay giở tờ báo ra miệng hỏi:
- Xin lỗi em, anh ngồi đây có được không?
Phượng điềm nhiên:
- Ghế chung, ai ngồi chả được.
Gã nhoẻn cười:
- Ghê gớm quá đấy. Dẫu sao cũng xin cảm ơn vì được ngồi cạnh người đẹp.
Phượng quay mặt ra phía cửa. Có nên đến nhà ông ấy không nhỉ?
Suốt từ tám giờ sáng đến giờ, Phượng đã lượn lờ mấy lượt ở ngã tư đường Cầu Mẻ nhưng vẫn phân vân có nên vào nhà ông bố mình không. Nhà ông ấy là một gian hẹp trong khu tập thể rộng của một cơ quan đang chờ sáp nhập.
Cô chẳng lạ gì cơ quan này vì đã vài ba lần tới chơi với người bạn cùng khoa. Ông ta ở một mình, không vợ con, không nhà cửa riêng. Đúng ra ông ấy có một gia đình ở làng quê, cách tỉnh lỵ trên chục cây số. Nhà ông rộng ba gian hai chái – lại có hơn một sào vườn với ao kề bên.
Vợ ông làm ruộng, vẫn ở quê cùng cô con gái út ngây ngô đã quá lứa nhỡ thì. Mấy đứa lớn con ông – cả trai lẫn gái – đều làm ăn phiêu bạt trong Nam ngoài Bắc. Vậy mà ông không về nhà, cứ ở lì trong khu tập thể hoang vắng này. Ai cũng lạ. Người ta bàn ra tán vào chuyện này.
Có người bảo: “Ông ta xấu hổ không dám vác mặt về quê. Mấy chục năm trời đằng đẵng mặc xác vợ con – kể cả khi biết tin vợ ốm, con què do tai nạn, cả nhà đói triền miên – trong khi mình đương quyền chức, có bồ bịch nơi nọ nơi kia”.
Lại có người quả quyết: “Ông là hiện thân của chủ nghĩa sống gấp. Suốt ngày ông ta lang thang các quán xá với em út. Lắm đêm còn chẳng về nhà ngủ”.
Nhà nước cho ông ta lương hưu, ông trời cho ông sức khỏe hơn người. Bạn xưa cho ông ta chiếc xe máy, bạn nay - một giám đốc Sở đầy quyền lực - cho ông mượn gian nhà ở khu tập thể vài ba năm. Những điều kiện vật chất thiết yếu đều có cả, tất ông được thỏa ý mình.
Gã đàn ông ngồi bên nhăn nhở:
- Em có điều gì phiền muộn mà rầu rĩ thế? Có thể ngỏ cùng anh cho vơi. Nỗi buồn nên san sẻ cho nhẹ gánh. Nào, em có cần gì không?
- Thưa ông, tôi đang cần yên lặng.
Gã cau có đứng dậy.
“Đến ư? Dứt khoát phải đến ư?”. “Cũng phải cắn răng mà chịu con ạ. Tao biết, ông ấy không xứng đáng là một người bố của con nhưng hoàn cảnh này biết cậy nhờ vào ai”. Mẹ cô rầu rĩ bảo vậy.
Bây giờ không có ông ta lo liệu hồ sơ, Phượng sẽ không xin vào làm được trong khi cơ quan báo sẵn sàng tiếp nhận. Giá không tách tỉnh chắc chắn cô chẳng khó khăn thế này. Ở tỉnh Y – nơi mà mẹ con cô sinh sống – rất hiếm việc làm cho một người tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ – tiếng Anh.
Thứ tiếng ấy ở đây đã bão hòa. Được người mách, mẹ cô biết ở tỉnh H – nơi trước đây mình công tác – cơ quan báo đang tuyển người biết tiếng Anh. Phượng đã qua sát hạch và trúng tuyển với điểm cao nhất. Nhưng ở đấy họ đòi hỏi phải có hộ khẩu của tỉnh.
Vậy là mẹ cô phải lên nhờ cậy ông Phong – cha đẻ của Phượng, người đã bỏ rơi mình suốt mấy chục năm trời. Chuyện về ông Phong, Phượng đã thuộc lòng vì mẹ cô rỉ rả suốt bao năm tháng. Hồi đó mẹ cô và ông Phong cùng cơ quan. Ông ấy là Phó giám đốc, trước kia gọi là Phó ty, mẹ cô là y sĩ phụ trách y tế của cơ quan.
“Tao đã quá dại khờ, bỏ vàng mà nhặt chì. Có một anh ở trạm khí tượng thủy văn theo đuổi tao suốt mấy năm trời. Anh ấy quê Thanh Hóa, rất hiền lành chăm chỉ, chỉ tội ít nói. Lão Phong ra sức phá. Cứ thấy anh ta đến là vặn vẹo đủ điều.
Có khi bắt tao làm việc này việc nọ để tránh gặp gỡ với anh ấy. Sau này tao được biết lão còn nói xấu tao trước mặt anh đó, vu cho là lẳng lơ, yêu mấy người một lúc. Khi anh ấy chán nản bỏ đi thì lão ta đêm ngày tán tỉnh tao. Lão kể về người vợ dở hơi, sống không hạnh phúc.
Lão ước mong tìm được người vợ mới để đến một nơi xa lắc, sống chết có nhau. Rồi một đêm vắng vẻ, tao trao thân cho lão. Khi tao có mang ba tháng, lão nhận quyết định vào Nam. Ông trưởng phòng tổ chức bảo, lão ta xung phong, lên tận Bộ để đề nghị.
Đó là năm 1978. Khi lão đi, có một cô dẫn con đến tận cơ quan chửi lão. Sau đó lại có cô nhận là vợ lão đến báo cáo với ông Trưởng ty. Tao đã viết hơn chục lá thư gửi lão, cho cả đứa cháu họ đang công tác ở Sài Gòn đến gặp để kể hết sự tình, nhưng lão cứ chối bai bải. Rồi tao bị kỷ luật, buộc thôi việc. Vậy là một mình vượt cạn nhẫn nhục nuôi con...”.
“Vào trong ấy, lão được đề bạt làm Trưởng ty. Công tác đâu độ hơn năm, lão bị giáng xuống Phó ty vì đến chung sống với vợ của một sĩ quan ngụy di tản sang Mỹ.
Rồi cô ta cũng tống khứ lão ra khỏi cửa khi biết lão chỉ biết đẽo túi mình trong khi vẫn cặp bồ với nhiều cô khác, dù đã sinh cho lão một đứa con trai bụ bẫm. Cơ quan cho lão nghỉ hưu trước tuổi. Không chốn nương thân, lão đành trở ra Bắc...”.
Gã đàn ông to béo quay lại:
- Anh biết em đang có điều gì đó chán nản, bực dọc. Anh cũng có một nỗi buồn, nên rất thông cảm với em. Anh có một gia đình tan vỡ. Vợ bị tù vì cờ bạc.
Đã thế lại còn chủ động làm đơn ly dị chồng. Cô ta chê anh cổ hủ, lạc hậu, không biết kiếm tiền. Có đứa con duy nhất lại bỏ nhà đi bụi hơn năm nay, vẫn chưa tìm thấy.
“Qua sông thì phải lụy đò. Con không lụy lão thì sẽ không có việc làm. Rồi sau này con cũng phải lấy chồng. Chẳng lẽ con là con hoang? Đừng có kiêu kỳ làm gì.
Dù trong lòng không trọng nhưng bên ngoài vẫn tỏ ra vui vẻ, tôn vinh. Này, ở trong Nam – vùng Đồng bằng sông Cửu Long – người ta phải sống chung với lũ vì năm nào cũng lũ thì ở đâu?”. Phượng bặm môi. “Phải đến với ông ấy thôi. Đành vậy”.
Bỗng nhiên gió ào ào dữ dội, những đám mây đen lê lết kéo tới. Mưa sầm sập. Mưa như trút. Những ngọn gió gào rú, quất ngang quất dọc xuống mặt đất.
- Mưa to thế này sẽ chóng tạnh – Gã to béo khoanh tay trước ngực, nói bâng quơ khe khẽ.
Mưa vẫn không ngớt, gió lùa vào trong nhà, khi lọt qua khe cửa. Nhà đông chật người. Tiếng nói cười ầm ĩ. Gã đàn ông lặng lẽ ngồi sát bên Phượng. Hẳn là vì nhiều người mới ngồi vào ghế. Phượng cố thu người vào một góc. Được thể, gã lại ngồi dịch vào.
- Nếu ông lấn nữa, tôi sẽ đứng dậy! – Cô xẵng giọng.
Mưa ngót dần rồi tạnh. Nắng yếu ớt lóe lên. Phượng vội vã chạy ra sân để đến nơi gửi xe. Một đứa bé chừng chục tuổi, mặc quần áo che mưa, từ ngoài đường phóng xe đạp tới. Vào tới sân, nó giơ tay hét toáng lên:
- Bố! Mẹ bảo con mang cho bố áo mưa.
Phượng ngoái cổ lại. Từ trong hiên, gã đàn ông to béo rậm rì ria mép tươi cười giơ tay đáp lại đứa bé gái.

(Theo Tiền Phong)
 
Đã mang vào thư viện, cảm ơn mssthuan nhiều nhé,
Tình thân
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
MÊNH MÔNG TÌNH
Nhụy Nguyên
 
Nàng tên Xíu. Nom vừa đủ để bất kỳ ai vào quá uống ly cà phê cảm thấy ngon. Hắn là người đầu tiên phát ngôn chân lý đó với một tay thợ chạm rặt hàng bia mộ, có cái đầu tựa quả dứa bị người ta bẻ cồi sớm.
Hắn vẫn đến quán thuộc hạng sớm nhất, ngồi lâu nhất và nghĩ về nàng nhiều nhất. Cha nàng đã đổ mồ hôi sôi nước mắt mới gây dựng lên quán từ ngày có nhà máy sợi chỉ trăm công nhân. Gần hai mươi năm, ngoài một việc lớn đã lo xong là nuôi con ăn học tử tế, ông còn vốn để dựng ngôi nhà có gác chưa được ở bao lâu thì lìa đời. Nàng khóc như mưa cuối đông và mi mắt ướt mãi cho tới bây chừ. Chưa bao giờ hắn thấy nàng dùng đến phấn son. Thượng đế đã kiến tạo nên một khuôn mặt không cần đến phấn son vẫn đẹp là nàng.
Thanh niên là lớp người tới quán nhiều nhất. Phần lớn đều ngắm nàng với ánh mắt chân tình. Cái đẹp và sự nghiêm túc nơi nàng luôn khiến cho kẻ xấc xược nhất cũng biết xử sự lịch lãm vậy. Hắn thích nhất nhìn những ngón tay búp măng của nàng rút từng điếu thuốc một đặt lên đĩa. Mỗi lần như thế nàng không quá khom lưng mà chỉ hơi chùn gối, trông rất thùy mị và con nhà lành. Đôi lúc hắn còn ước: giá nàng bận chiếc quần jean sít sịt, điểm chút phấn cho thế giới đàn ông có thêm một lần đảo lộn; chỉ một lần như thế thôi rồi xếp vào tráp vĩnh viễn. Kể từ đấy nàng là của hắn, không xê dịch.
Hay ngồi uống cà phê cùng bàn với hắn, ngoài gã chạm bia mộ ra còn có ông giáo dạy văn. Ban đầu thì đàm luận nghệ thuật, về sau thưa bớt chuyển qua thời sự, để rồi có những hôm ba người như ba cái ghế đá lạnh băng.
Sáng nay ông giáo nhổ đít sớm. Nàng dắt xe đi chợ lúc quán chỉ còn dăm người. Mình hắn ngồi lặng, nhìn theo đôi gót trắng mịn như đá thạch cao nhấp nhô dưới gấu chiếc quần tây hơi cũ. Gã chạm sao vắng bóng? Chiều qua hắn có làm mấy ly với gã, nhưng đâu đến nỗi dậy không nổi. Hắn bồn chồn. Từ sáng giờ uống cà phê, mọi bộ phận cấu tạo nên hắn đều bồn chồn. Bực gớm cái thằng ngồi cạnh bên mang cả bánh mì và nước đậu vào ăn uống, gọi cà phê sữa mà mắt thì tia nàng đến lồi cả ra. Cái đồ mặc quần lụa. Cái đồ... tương tư! Nàng nữa. Ai biểu nàng cười làm chi. Khuôn mặt nàng chỉ hợp với buồn thôi! Cứ để nó buồn rũ rục ra. Và nàng cứ đi qua đời hắn... Hắn bỏ mặc bài Đôi bờ ưa thích còn phát dở, ngược bước.
Trong nhà gã chạm, đáng chú ý nhất là cái máy photocopy giao cho vợ chạy rò rò cả ngày. Gã đang chạm. Cũng có ngày người ta tới đặt hàng giục gã làm gấp. Hắn bấm bụng bước vào. Gã nhìn hắn cười hì hì, tay vẫn múa trên bia những đường cong muôn thuở. Độ mươi phút gã mới chịu đi pha trà, rồi lại tiếp tục chạm.
- Có làm vài ly không?
Hắn khoát tay lấy lòng vợ gã chạm:
- Thôi, để khi khác. Làm đi cho xong kẻo có tội...
- Không sao cả.
Rồi thì gã chạm vào trong múc ra một cốc rượu như muốn chọc tức vợ. Chả biết gã ngâm loại gì mà có màu tươi xanh như rượu bìm bịp thượng hạng.
- Cứ uống đi! Không sao cả.
- Ờ, thì uống.
Hắn làm ngụm lớn.
- Ái chà, rượu nồng đến teo cả lưỡi!
- Teo lưỡi chứ không teo cái kia đâu mà sợ. Loại này có tên “Trường thọ cho thằng cu”. Cậu đã từng nghe chưa, có hiểu nghĩa của nó là gì không?
- Chả cần.
- Hà... Thế thì hỏi cậu: ông giáo nhà mình lâu lâu lại có bài thơ đăng báo, cậu thấy như thế có vui không?
- Tất nhiên rồi.
- Có đáng sống không?
- Anh hỏi lạ...
- Rất tiếc... Ông giáo nhà mình lại chẳng sống được bao lâu nữa!
- Anh thì cứ tam thiên chi địa!
Hắn chặn vặn luôn sau lời quở chồng của vợ gã chạm:
- Sao anh lại nói thế?!
- Này - gã chạm đâm đầu về phía hắn - chiều qua ổng tới đây chọn một cái bia trơn.
Thoáng một thiếu nữ qua đường, hắn ngó ra, tạt ngang lời gã chạm:
- Chao ôi, con bé... Con nhà ai mà xinh!
- Bình tĩnh. Cậu cứ ngồi đó, chốc lại có má hồng lướt qua thôi, tha hồ ngắm. Mà cậu nói con bé vừa mới đạp xe qua đây phải không? Con bé Xíu chỗ mình hay uống cà phê chứ ai.
- Không phải!- hắn đập đùi - Trời ơi, bác cứ lo chạm, có nhìn ngó gì đâu. Con Xíu chả nhẽ tôi lại nhầm.
Gã chạm phá lên cười:
- Tưởng chỉ ông giáo lẩm cẩm. Này cậu, giả thử con bé Xíu mai mốt nó thuộc về cậu, khi đó cậu uống ly cà phê có ngon nữa không? Cậu mang tiếng là một đứa con của nghệ thuật mà chẳng dễ thương chút nào cả. Bông tala chỉ đẹp giữa vùng đồi Ximlê - câu đó là của cậu đấy nha.
Hắn chùi mắt. Quả là rượu của gã chạm chỉ dùng để nhâm nhi chứ không nhậu được thật.
- Mà chẳng sao, cậu cứ tương tư đi. Cậu biết cây tương tư chứ?
- Biết. Hạt nó hình trái tim, đỏ như trái tim Đankô lỡ yêu.
- Đấy - gã chạm nấc ngược, nom thật xấu - như thế là cậu đã và đang nhận thức được sự yêu rồi đấy.
- Hư...
Gần hai năm qua, hắn chỉ biết đến cái quán bé tẹo của lão già cọm rọm có tới sáu ả vịt giời, chỉ dăm chục bước chân là tới. Mỗi sáng ông ta bán không quá hai chục ly cà phê và trà đá. Khách, xích lô xe thồ có, thợ xây có, nhà giáo có. Ông giáo hắn quen chuyên uống cà phê sáng ở quán nàng từ thời bao cấp cho tới khi cha nàng chết vì tai nạn trong một lần đi xay cà phê... Quán nàng nghỉ bán một thời gian, ông giáo tới uống cà phê chỗ hắn; rồi quen hắn, sáng nào cũng có thơ mới đưa hắn xem. Thơ ông giáo phần nhiều áp dụng phép tính nhẩm của các cháu lớp 1. Báo chí giờ kể ra cũng bình dân đối với thơ. Thành ra ông giáo mới có cớ để in thơ thành tập. In ra tức thì có kẻ chặn ngay ngưỡng nhà xuất bản mời vào dịch vụ điểm sách. Hắn đã được đọc bài bình tập thơ của ông giáo trên tờ Cuối tuần hẳn hoi. Xong hắn đưa cho gã chạm. Gã chạm mê tít thò lò, cái đầu quả dứa như hói đi một ít tóc, thắc mắc sao ông giáo không đề tặng gã một cuốn. Hắn phát tấu liền:
- Khỏi cần. Toàn bộ tập thơ của ông giáo chỉ được có mấy câu người ta trích ra trong bài đó thôi!
- Chà... - gã chạm chặc lưỡi - thế thì tay viết bài này tinh tường thật đấy, nhở.
Hắn thấy thương ông giáo. Hắn không trách thơ ông giáo dở, bởi năng lực thơ phú của ông giáo chỉ dừng lại trên mặt những tờ báo địa phương. Chỉ chừng đó thôi cũng đủ để ông hư hao mình đi gấp nhiều lần nếu so với hàng tháng trời ông thức khuya dậy sớm soạn giáo án, chấm bài thi cử. Đúng vậy, cả sáng ông giáo ngồi bên hắn nom già đi mấy tuổi. Ông mách với hắn là có bài thơ đăng ở số báo xuân của tỉnh sắp phát hành; ông hứa sẽ kiếm cho hắn một tờ. Hắn vui nhưng chỉ ậm ự khi thấy nàng. Ông giáo chỉ theo:
- Cha nó là bạn thân của mình.
- Thế à... - hắn có vẻ ngạc nhiên.
- Nó đến nhà mình chơi suốt đấy chứ. Nó học cùng với con bé nhà mình mà. Con bé nhà mình cũng được tính được nết lắm.
- À...
Hắn châm điếu thuốc vội vàng. Nếu chỉ có gã chạm ngồi cùng, dứt khoát hắn sẽ bình phẩm đôi câu về gái gú. Gã chạm nom thế chứ cũng tơ lơ mơ lắm. Uống vô vài ly là xách xe chạy tứ tung thành phố. Chắc chắn trong mươi lần gã chạm bảo với vợ tới nhà ông giáo chơi thì có ít nhất một vài lần gã tạt vào hiệu gội đầu - mát xa nào đấy. Nhà hắn nằm khoảng giữa nhà ông giáo và gã chạm theo chiều quốc lộ. Từ chỗ hắn xuống nhà gã chạm chỉ có một địa chỉ đáng chú ý là quán cà phê nàng. Còn từ nhà hắn tới ông giáo thì có khá nhiều địa chỉ. Tính sơ sơ cũng đã năm hiệu cắt tóc trá hình. Ban văn hóa xã kể cũng nhu nhược trong vấn đề quản lý bằng cách cắt điện tất cả các hiệu cắt tóc đó. Không có điện thì đã sao? Chúng nó thắp nến, nom vào lại lãng mạn, lại dễ bề bưng bít mọi chuyện. Gã chạm thì chả bàn làm gì; điều hắn băn khoăn là mỗi lần qua đoạn đường này, ông giáo có vào mấy bận để lấy cảm hứng yêu thơ?
Nhà ông giáo nằm trên khu đất thuê của nhà thờ họ Nguyễn Thanh từ trước giải phóng, mỗi tháng độ trăm ngàn. Đến nay giá đất đã tăng lên, nhưng họ muốn lấy lại cũng khó, muốn tăng giá cho thuê cũng khó nốt. Mà họ không thương lấy con cháu thì thương ai đây? Nhất là con cháu có hiếu đạo; nhất là ông giáo - người chuyên trách làm văn tế, thảo đề cương lễ lạt cho họ thường niên. Họ có trở mặt cũng phải đợi ngày ông giáo đi xa. Cứ nghĩ đến thế là hắn lại thương ông giáo. Đời người có hạn. Cứ cho ông giáo sống thêm vài chục năm nữa thì sau vài chục năm ấy, vợ và đứa con gái ông giáo vốn là bạn thân thiết của nàng vẫn ngay ngáy lo. Họ lấy lại lô đất đã lòi mặt tiền. Thất thế là chỗ đó: giá đứa con gái ông cũng biết chút văn vẻ để thảo đề cương lễ lạt cho họ. Chả trách dạo này ngồi uống cà phê với hắn, sáng nào ông giáo cũng dò số, mua số. Những hôm thấy ông giáo mua vài ba vé trở lên, hắn biết chắc ông có thơ đăng báo. Nhưng mà vé số chẳng như những bài thơ ông giáo gửi báo và hi vọng được đăng, thế nên mặt ông giáo cứ thế mà sọp đi theo từng ngày. Chưa khi nào hắn nhìn ông giáo dò số để khám phá những nét quằn quại trên khuôn mặt vốn dĩ đã âm u ấy, mà người trong cuộc cứ ngỡ hồn thơ của ông sắp chết!
Hắn đứng trước gương tủ, thử ướm mình bên một bóng giai nhân ảo. Hình như lần nào đó hắn có nghe nàng gọi hắn bằng chú thì phải. Ờ...
- Không sao đâu! - gã chạm tưởng khù khờ mà biết rành rành tâm lý của hắn - Già hay trẻ chỉ phụ thuộc vào sinh lực khí thôi. Mà cái đó thì chỉ vợ chồng mới biết được của nhau.
- Tào lao quá. Em thấy vợ anh cũng giỏi chịu đựng đấy.
- Chú nói thế là sai bét. Vợ ông giáo nhà mình biết chi đến thơ. Có dạo bà còn sai con lên tòa soạn chẹn tiền nhuận bút của chồng cơ đấy. Nhưng gia đình ông giáo vẫn sống êm thuận, có sao đâu. Hà... Đùa tí cho vui thế thôi, chứ thực tế ông giáo nhà mình tội thật đấy. Hôm trước ông tới mình chọn một cái bia trơ... À này, hay là cậu làm quách rể ông giáo đi. Đứa con gái ông giáo cũng khá ra phết đấy!
Mùa xuân rây mưa bụi giữa khoảng không, tưởng chừng như chẳng thể chạm tới mặt đất. Mưa tung tẩy vào thi ca những nốt nhạc tháng năm, gọi ngày xưa dạt về bến vắng. Quán cà phê nàng nhộn nhịp khách lạ. Bây giờ mới rõ, đa phần số khách vào uống cà phê mỗi sáng ở quán nàng là công nhân nhà máy sợi. Cuối năm, nhiều người đã khăn gói về quê cũ. Hắn thương người mẹ gầy khô mong ngóng con về ăn hột cơm từ bàn thờ hạ xuống chiều 30. Cũng vì chuyện về hay ở mà hắn đã nạt nộ thằng bạn. Nó giận, về từ chiều 25. Căn nhà càng trở nên lạnh lẽo, thâm u. Hắn nhớ hồi chưa biết tới quán nàng, sáng nào hai thằng cũng ra ngồi ở cái quán chỉ đặt hai bộ bàn ghế mà đến nay ông chủ của sáu ả vịt giời kia vẫn nhắn hắn hoài. Thế rồi từ ngày hắn theo ông giáo đến với nàng...
- Ừ thì mày về. Về gặp ai cứ bảo là mày với tao, hai đứa đã lâu không gặp nhau. Còn ai có hỏi đến việc làm thì phiền mày nói hộ rằng tao đã đi làm, lương đủ nuôi sống bản thân.
Thật tội, trước lúc về thằng bạn hắn có mua cho hắn hai lít rượu ngon, một mớ cá rô phi thả vào cái chậu lớn, một gói thuốc Jet. Hắn trở về chừng chập choạng, chân nam đá chân chiêu nhưng vẫn nhận ra mọi nhẽ. Mắt hắn bỗng đục ngầu như thú dữ...
Hắn buồn lắm. Đã tỉnh mà chẳng muốn dậy, chẳng muốn đi uống cà phê. Nghĩ đi nghĩ lại, nghĩ sao cũng thấy mình như người vừa phạm một sai lầm lớn. Nàng... Thì ra quán nàng ngồi vậy. Ngồi mà ngẫm sự đời, quên phiền muộn. Ai lại đi lệch hướng với mùa xuân bao giờ. Hắn tự ai ủi mình trong tư thế của kẻ vừa thực hiện xong nghĩa cử của một người chồng đối với vợ trẻ.
Gã chạm đã tới ngồi chỗ hắn thường khi. Gã cười tươi như một bông hồng đã nở xòe hết cánh.
- Hôm qua không thấy cậu, mình cứ tưởng cậu đã về quê. Thế cậu không định về à?
- Chưa.
- Vậy thì hơi liều đấy. Mình thấy chuyến xe nào cũng chật cứng người rồi.
Hắn tự dưng phát cáu:
- Không có xe thì ở lại!
Gã chạm nhìn hắn bằng con mắt ti hí, cứ như hắn đang tạm trú trong nhà của gã vậy.
- Xíu ơi, lấy cho chú mấy điếu thuốc.
Đấy, rõ ràng gã chạm không muốn mời hắn tới tất niên, và đương nhiên là không muốn đón hắn vào những ngày mùng...
Nàng bước ra. Tay trái cầm cái đĩa đựng năm điếu thuốc. Vẫn đôi mắt đen hun hút cõi tình. Mà sao như là có cái gì đó đang rung rinh, lã ngã trong bộ đồ quen thuộc. Hắn chuyển hướng sang gã chạm. Gã đang cười với nàng. Nụ cười sao mà lẳng lơ, sao mà coi thường khuôn mặt Thượng đế đã dày công kiến tạo. Ôi Trời, nếu như không có ông giáo lếch thếch trong bộ đồ ngủ bước vào thì hắn đã nhổm đít, và rất có thể là tếch lên chuyến tốc hành nào đó. Hắn sẽ quên mảnh đất này, quên gã chạm, quên nàng...
- Chiều đến chơi nghe! - ông giáo đặt ghế, mời hắn thân thiện.
- Dạ... có gì vui thế ạ?
- Ờ, thì ta làm vài ly, gọi là tất niên. Cả chú nữa - ông giáo chỉ tay qua gã chạm - đến nghe! Nhớ đến nghe!
Hắn thả khói thuốc đậm đặc, che khuất một phần cổng nhà máy sợi. Mắt hắn cứ chòng chọc về nơi đó, nơi mà công nhân đã ra vào thưa thớt. Nơi chân dung nàng hiện hữu với đầy đủ sự toàn bích thượng tầng. Đấy là khoảnh khắc mờ sáng một ngày cuối năm hai ngàn linh ba. Lúc đồng loạt có dăm bảy chiếc xe máy rồ ga vào quán, đèn còn đỏ rọi vào hàng ghế trong cùng.
(Theo Tuổi Trẻ Cuối Tuần)
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
KHUÔN MẶT TÌNH YÊU
Hoàng Lan Anh
 
Mẹ gỡ tờ lịch đặt xuống mặt bàn, thốt lên như tiếng thở dài: “Trời, sao thời gian trôi nhanh quá vậy”. Tôi vẫn nằm yên trên giường, kéo chăn lên trùm đầu, tự hỏi tại sao lúc nào mẹ cũng thốt lên được một câu đầy ngạc nhiên như vậy.
 
Đã mấy năm nay rồi, lúc nào đối diện với thời gian mẹ cũng vậy. Cũng thấy ngày mới là một cái gì đó bất ngờ, cũng như muốn níu kéo một điều gì đó. Không bù cho tôi.
Tôi nằm trong chăn, thấy thời gian trôi như một bà già chậm chạp. Mẹ hỏi sáng nay Phương Anh không đi đâu à? Tôi lắc đầu, ngày nghỉ mà mẹ. Mẹ ừ nhỉ, lại thứ bảy rồi. Sao thời gian trôi nhanh thế không biết. Phương Anh có biết hôm nay là ngày bao nhiêu rồi không? Tôi cười, con chẳng để ý nữa, ngày tháng bây giờ có gì khác nhau đâu mà quan tâm hả mẹ.
Mẹ lắc đầu, hồi tưởng, ngày bằng tuổi Phương Anh, lúc nào mẹ cũng đầu tắt mặt tối kiếm tiền nuôi con, chẳng có thời gian mà nghỉ chứ đừng nói gì đến nằm dài ngao ngán. Thôi mà mẹ, cả tuần con đã phải đối phó với sếp rồi. Một tuần chỉ có hai ngày nghỉ mà mẹ. Tôi cười nịnh, ôm vai mẹ. Mẹ cười, Phương Anh nhà mình chỉ được cái nịnh mẹ là giỏi thôi.
Mà gần mười giờ rồi, mày có ăn gì để mẹ đi nấu? Tôi lắc đầu, thôi mẹ ơi. Mẹ cứ để con tự làm. À mà hôm nay chú Cường không sang hả mẹ? Mẹ cười, ông ấy đi thăm con gái, đến chiều mới đến. Tôi rụt cổ vào chăn, đùa, hóa ra sáng nay mẹ cô đơn nên con mới có ân huệ được mẹ phục vụ đồ ăn sáng. Mẹ nheo đôi mắt vẫn còn rất đẹp, đỏng đảnh đi vào nhà trong, không ăn thì thôi, kệ mày.
Tôi nhìn theo bóng mẹ khuất vào nhà trong, thở dài, từ khi cha đi, lúc nào mẹ cũng coi tôi như là trẻ con, lúc nào cũng muốn bao bọc cho tôi như vậy. Ngày cha quyết định cùng đi với cô Mười, tôi tưởng là mẹ không sống được. Cô Mười là bạn thân của mẹ, thế mà cuối cùng lại là dì hai của tôi. Tôi nhớ, chiều đó mưa rất to, mẹ gần như chết ngất sau cánh cửa cha khép lại cùng lá đơn ly hôn, tưởng như không còn gượng dậy được nữa. Tôi đã ngồi một mình, tự hỏi rất nhiều lần rằng tại sao cha lại ra đi, nhưng không tìm được câu trả lời. Hỏi mẹ thì chỉ nhận được lời giải thích ngắn gọn rằng mẹ đã sai lầm khi đến với cha. Thế là hết. Mọi sự đều được gói gọn trong hai chữ sai lầm. Sau này, khi chia tay với chú Nghị, mẹ cũng chỉ ngắn gọn rằng mẹ sai lầm hệt như vậy. Dì Huyền và bà ngoại đã hết sức phản đối khi chú Nghị mang trầu cau đến nhà bà. Lúc ấy mẹ ba mươi sáu tuổi, đã qua những tháng ngày buồn rầu không có cha, đôi mắt đã đong đầy niềm vui, long lanh lắm. Mẹ bỏ ngoài tai mọi lời nhận xét của bà. Không nói được con gái, bà bực mình lôi tôi về nhà bảo mẹ mày đến già rồi cũng vẫn còn dại. Thế rồi những ngày tháng hạnh phúc bên chú Nghị cũng chỉ được chưa đầy bốn năm là chấm dứt. Chú Nghị hình như có bồ mới, mẹ cũng chẳng còn thiết tha gì.
Bà ngoại thở ngắn than dài khi mối tình thứ hai của mẹ nát tan. Bà bảo Phương Anh phải tránh vết xe đổ của mẹ. Tôi ngồi nghĩ mông lung, không biết làm thế nào để tránh. Những ngày đầu, mẹ và chú Nghị thật hạnh phúc, ít nhất là bên ngoài như vậy. Nhưng sau đó cứ nhạt nhẽo đi, dù chẳng ai thèm gây sự cãi vã. Chú Nghị thưa dần không về ăn cơm, mẹ thì hay về nhà bà ngoại. Chú Nghị bảo Phương Anh biết không, mẹ Hương của Phương Anh cực đoan quá nên tự làm khổ mình. Chú không thể nào hiểu đến tận cùng của Hương để cứu vãn mọi thứ được. Tôi công nhận là chú Nghị nói đúng, mẹ làm mọi thứ theo cảm hứng, và đã ghét ai thì ghét đến cùng. Công bằng mà nhận xét, chú Nghị là người tốt, chỉ có điều đa tình quá nên mẹ không chịu được. Những lúc mẹ bỏ về nhà bà ngoại, chú Nghị hay ngồi nói chuyện với tôi. Tôi cũng đã có những ngày tháng cố gắng hàn gắn cuộc hôn nhân của mẹ nhưng không có kết quả. Mẹ đã quyết định chia tay với chú Nghị và coi đó là một sai lầm. Chú Nghị đa tình thế mà vẫn sốc.
Thỉnh thoảng chú Nghị vẫn gọi điện rủ tôi đi ăn cơm trưa. Lúc đó tôi đang học năm thứ ba đại học. Chú Nghị bảo chú thực sự mong Phương Anh sau này không giống mẹ. Tôi cười, con gái không giống mẹ thì giống ai? Mắt chú Nghị như xa xăm, giống mẹ Hương thì Phương Anh sẽ lại khổ. Chú Nghị là bố dượng nhưng không hẳn là dượng, đôi khi như một người bạn có thể chia sẻ những chuyện không đâu. Bạn bè nhìn vào không hiểu tại sao tôi và chú Nghị lại có thể nói chuyện với nhau được như vậy? Tôi cũng chẳng biết tại sao, có thể vì tôi đã quá quen với những cảnh như thế. Năm mười hai tuổi, cô Mười đã là dì hai của tôi. Tuy không thể tốt như mẹ, nhưng cô Mười là một phụ nữ dịu dàng. Tôi chấp nhận hằng tuần đến nhà cô Mười ăn cơm với bố vào bữa tối, lâu dần thành quen, không thấy cô Mười là người xấu như mẹ vẫn mắng. Chú Nghị cũng vậy. Chỉ có điều, tôi đặt ra nguyên tắc, bố mẹ chỉ có một và chỉ một người được gọi là bố là mẹ mà thôi.
Mẹ bây giờ đã gần năm mươi mà vẫn đẹp đến đáng phải ghen tị. Thụy đến nhà chơi thường đùa, em với mẹ giống hai chị em. Thụy là người hay đùa, nhưng điều ấy thì tôi công nhận anh nói thật, vì mọi người quanh tôi ai cũng nhận xét thế. Vẻ đẹp của mẹ quý phái mà không lạnh lùng, càng nhìn càng đậm đà. Sau chú Nghị, không ít người đến với mẹ, nhưng mẹ bảo mẹ không còn muốn tính đến chuyện hôn nhân. Tôi buồn cười, mẹ già rồi mà không muốn tính, còn tôi thì có muốn cũng không được. Những lần sau này gặp, câu đầu tiên mà chú Nghị quan tâm nhất là tình yêu tình báo gì chưa? Tôi lắc đầu, vẫn không đâu vào đâu hết. Chú Nghị cười ha hả, con gái chẳng giống mẹ chút nào. Mẹ đắt duyên thế mà con thì cứ như bà cô già. Mắt chú Nghị cười mà như có chút gì đó nuối tiếc. Tám năm rồi sau cuộc hôn nhân thất bại với mẹ, chú Nghị vẫn chưa có vợ mới, nhưng bồ bịch thì nhiều vô cùng. Tôi nghe chú kể mối tình gần đây nhất là với một cô làm chung phòng, kém gần mười lăm tuổi.
Đồng hồ đánh mười một tiếng, chậm chạp. Chiếc đồng hồ này là kỷ niệm chú Nghị mang từ Nga về, thứ duy nhất mẹ còn giữ lại. Bây giờ mẹ cần gì đã có chú Cường lo, mà nói chung là mẹ cũng chẳng cần gì, vì mọi thứ mẹ đã đầy đủ. Tôi vẫn nằm trong chăn, thấy chân tay mỏi rã rời. Cả tuần ngủ ít cứ ước mong có một ngày thứ bảy không phải dậy sớm, chỉ ngủ thôi. Thế mà ngủ nhiều quá thì cũng thấy người mình bải hoải như là làm sao vậy. Tôi với tay lấy điện thoại, bấm vào máy của Du, hỏi có muốn đi cà phê ở đâu không vậy? Du cười, từ sáng đến giờ đã hai cữ rồi, đang ngồi ở Phố Cũ, đến đi.
Tôi chồm dậy, với tay khoác chiếc áo len. Cái áo này Thụy đã mua cho tôi từ vài năm trước, đến tận giờ vẫn đẹp. Ngày Thụy đi học ở Anh, ai cũng bảo sao tôi lại “thả” người yêu như vậy. Thụy đẹp và đa tình, chú Nghị bảo sợ Phương Anh không giữ được nó đâu. Khi mới đi, gần như ngày nào Thụy cũng gửi email về, nhưng càng ngày tình cảm càng nhạt bớt. Đến tận bây giờ thì nhiều khi viết thư tôi còn phải ngồi nghĩ khá lâu xem mình định viết gì. Tất cả có vẻ chỉ còn chờ một lá thư chia tay mà chưa ai viết. Tôi thì không dám, còn Thụy, chắc không nỡ làm tôi đau.
Vì thế mà tôi đến giờ vẫn còn cô đơn. Không hẳn là mất Thụy nhưng tôi biết mình sẽ chẳng có anh được nữa. Hai mươi tám tuổi, đẹp, có học, có mối tình với một tiến sĩ đang ở nước ngoài, nhiều người nhìn vào tôi tưởng như hạnh phúc, thế mà lúc nào tôi cũng cảm thấy cô đơn. Du đón tôi bằng nụ cười rạng rỡ trên môi, hỏi sao đến muộn thế. Tôi kéo ghế, mới ngủ dậy, thứ bảy mà. Du ừ, cắn hạt dưa tí tách. Đến cả cách Du cắn hạt dưa cũng sành điệu. Du đẹp, một cách lộng lẫy khiến ai thấy cũng phải ngoái nhìn. Không ít lần đi với Du, tôi đã ghen tị vì vẻ đẹp ấy. Đàn ông nhìn thấy sự thành công của nhau thì đố kỵ, còn phụ nữ ghen tị vì sắc đẹp của người khác. Đôi khi, tôi tự an ủi mình Du đẹp nhưng nhạt nhẽo. Phải nhìn thấy điểm yếu của người khác thì mới chơi với người ta được, không thì lại suốt ngày ghen tức mất thôi.
Du hỏi, dạo này anh Thụy có hay gửi email về không? Tôi không ra gật cũng không ra lắc đầu, đáp lại ơ hờ thỉnh thoảng cũng có liên lạc. Du nhìn tôi như thương hại, hay là Phương Anh yêu người khác đi. Yêu ai và ai yêu, tôi thốt lên. Cảm thấy bực mình vì bao giờ gặp tôi Du cũng chỉ hỏi về chuyện đó. Tại sao Du không mang những câu chuyện khác ra để chuyện trò? Còn Du thì sao? Tôi nhăn nhó. Vẫn vậy, vẫn có mấy thằng dở hơi theo đuổi nhưng không duyệt ai hết. Trên đời này bọn đàn ông lịch thiệp chết hết rồi hay sao mà mình toàn gặp những thằng dở hơi? Du ôm đầu, có vẻ như thở than. Tôi chán nản vì lại phải nghe những điệp khúc đã quá quen thuộc của Du. Có quá nhiều người vây xung quanh Du nên lúc nào nó cũng coi thường người khác. Tôi cố gắng cười với Du, thôi đi mà, bà trẻ. Đừng trèo cao rồi ngã đau. Thấy bải hoải hết cả người, tự nhiên muốn về nhà kinh khủng.
Tôi về nhà khi anh Long Vũ đang hướng dẫn người chơi giải nốt những ô chữ cuối cùng của chiếc nón. Mẹ đang say sưa cùng ngồi giải với ba người chơi trên truyền hình. Mẹ thật lạ, càng nhiều tuổi mẹ càng là một người lạc quan, dường như chẳng có gì làm mẹ phải phiền lòng cả. Bao nhiêu nỗi buồn của mẹ, chỉ cần qua một trận khóc là theo nước mắt trôi đi hết. Mẹ thấy tôi mở cửa vào nhà, quay sang hỏi sao đi uống cà phê gì mà nhanh thế, hết chuyện để buôn à? Tôi cười vì ngôn ngữ trẻ trung của mẹ, nói vâng. Mẹ cười, tiếp tục say sưa với mấy ô chữ, hồi lâu bất ngờ bảo mẹ cũng có chuyện muốn nói với Phương Anh. Con còn hứng thú nói chuyện không vậy? Tôi bảo mẹ cứ nói đi, hứng thì không nhưng mẹ nói con vẫn nghe được. Mẹ nhìn tôi, gần như là thăm dò, rồi tắt máy truyền hình.
Đôi mắt mẹ dài, lóng lánh những niềm vui. Khi mẹ buồn hay vui, đôi mắt đều không giấu được. Mẹ hỏi, Phương Anh có biết hôm nay chú Cường đi thăm con gái vì chuyện gì không? Tôi lắc đầu, làm sao con biết được.
Để nói một chuyện quan trọng, mẹ và chú Cường sắp lấy nhau, con thấy thế nào? Tôi thở dài nhẹ nhõm, chẳng thấy thế nào hết. Đó là kết cục mà tôi nghĩ, đã phải đến từ cách đây hai năm trước chứ không phải bây giờ. Vợ chú Cường mất sáu năm rồi, chú cũng có một người con gái đã lấy chồng, và điều quan trọng là chú yêu mẹ. Mẹ cười, bẽn lẽn. Đáng nhẽ mẹ muốn chờ Phương Anh đi lấy chồng. Cả mẹ và chú Cường đều muốn lo cho con, mẹ sợ con buồn. Nhưng bây giờ thì không biết Thụy thế nào... Tôi vâng, cúi đầu. Không có gì phải lo cho con hết, con lớn rồi mà mẹ. Mẹ lại cười, hạnh phúc, như thể đó là mối tình đầu. Lần nào yêu ai và kết hôn mẹ cũng cười như vậy. Nụ cười của mẹ như thể quên hết ưu phiền. Tôi chịu không làm nổi. Cũng có lẽ như thế mà mẹ trẻ lâu, vì mẹ chẳng có gì phải suy nghĩ hết.
Đêm dài miên man, những đợt gió mùa Đông Bắc gõ vào cửa kính ào ạt. Tôi nằm, không thể chợp mắt được khi nghĩ đến đám cưới của mẹ. Không lẽ nào tôi lại để mẹ phải chờ đợi con gái đi lấy chồng rồi mới được cưới? Đó là niềm hạnh phúc mẹ đáng được hưởng. Ngày mẹ bằng tuổi tôi, mẹ đã có con gái được sáu tuổi, mà tôi thì đến tận bây giờ vẫn không biết tương lai tình yêu của mình thế nào, không dám làm gì để thay đổi. Bởi vì tôi không muốn phạm phải sai lầm của mẹ, vì tôi không thể vô tư làm lại và cả lý do là tôi không đủ sức hấp dẫn như mẹ. Rất lâu rồi tôi mới khóc, cho cuộc sống hai mẹ con của mình. Và cuối cùng, tôi quyết định bật đèn ngồi vào máy tính viết thư cho Thụy. “Thụy ơi...”.
 
(Theo Người Lao Động) 
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
PHỐ KHÔNG SAO
Trần Nguyễn Hạnh Nguyên
 
Mãi đến gần ngày về Nghi mới chợt nhận ra mình chưa bao giờ thấy sao trên bầu trời Stockholm. Nghi không dám chắc đó là một đặc điểm kỳ thú của xứ sở phương Bắc lạnh lẽo này hay do mình quá lơ đãng trong suốt một năm sống ở đây.
Điều thắc mắc vẩn vơ cứ luẩn quẩn trong đầu. Và từ đó, đêm nào Nghi cũng dành vài phút dõi tìm một lời giải đáp.
Suốt mấy ngày liền, Nghi thấy trăng. Viên mãn. Huyền nhiệm. Sau lớp cửa kính càng lung linh đến nao lòng. Hơi đêm buốt giá những ngày cuối năm khiến ánh sáng thiên nhiên ấy trở nên tinh khiết tuyệt vời. Một cảm giác ấm áp dịu dàng lan tỏa, chạm đến góc sâu trái tim nhỏ bé của cô gái xa nhà. Những cảm xúc che giấu thành thói quen từ ngày qua đây được dịp cháy lên, lặng lẽ nhưng lay động tận cùng sâu thẳm...
*** 
Nghi đến đây một ngày tháng giêng. Ra khỏi sân bay, trong tầm mắt chỉ ngút ngàn tuyết trắng và những hàng xương cây trơ trụi lá. Chiếc taxi chạy vùn vụt qua những tòa nhà thưa thớt, lạnh lẽo màu bêtông và càng xám xịt hơn dưới tấm màn u ám vô tận của mùa tuyết rơi. Nhưng lúc này đây, sự bỡ ngỡ che mờ mọi xúc cảm khác. Nhờ đó, khung cảnh vùng ngoại ô buồn tẻ không làm vơi đi niềm háo hức cộng chút hồi hộp chờ đợi bao nhiêu điều mới mẻ. Chuyến đi này cũng là một điều bất ngờ mà chưa bao giờ cái đầu hay suy nghĩ lan man của Nghi từng hình dung.
Cuộc sống thường đưa đẩy Nghi vào những giai đoạn khác nhau trong đời khá đột ngột. Với Nghi, đó cũng là một điều tốt. Nó giữ cho cô niềm háo hức của một đứa trẻ tin tưởng mong chờ vào những điều tốt đẹp sẽ đến. Dẫu rằng cũng vì vậy mà cô hầu như chưa bao giờ chuẩn bị đủ hành trang cho những đổi thay lớn. Nhưng những khó khăn trúc trắc của đời sống chỉ làm cho mầm hi vọng trong cô nảy xanh hơn.
Niềm lạc quan ấy nghe có vẻ ngây ngô, nhưng Nghi đang học cách sống tự tin với bản chất của mình, không còn quá ngần ngại bày tỏ mình trước đám bạn (và người đời) sắc sảo và khôn ngoan. Sau này nhìn lại, Nghi nhận ra khoảng thời gian ở một mình, cách xa tất cả những mối quan hệ thân thuộc trong đời sống ấy có tác dụng rõ rệt trong chuyện này. Vì suốt thời gian đó Nghi không hề có mối liên hệ nào đủ gần gũi đến mức có thể tác động đến cô. Thời gian chủ yếu cô sống đến tận cùng những xúc cảm của bản thân, đối diện với tâm tư mình.
***
Đó là khoảng đời thật sự chỉ dành riêng cho bản thân Nghi, không chút vướng bận. Nhớ nhung, suy nghĩ về gia đình, bè bạn, quê nhà... cũng chỉ là cảm xúc cất trong tim. Ngoài phần việc đơn điệu lặp lại mỗi ngày, thời gian của cô dồn vào hết những sở thích cá nhân. Vác balô rong ruổi khám phá từng ngõ ngách Stockholm qua suốt bốn mùa, chìm đắm vào những trang sách và mơ màng trong thế giới âm nhạc mênh mông huyền diệu.
Tận hưởng cảm giác tự do vẫy vùng trong cõi riêng tuyệt đối mà cuộc sống chật chội xô bồ ở Sài Gòn chưa bao giờ mang đến. Và theo bước đi của thời gian, nỗi cô đơn cũng âm thầm nở ra như nụ hoa, rất khẽ. Đến một ngày nhìn lại đã thấy sự hiện diện của nó ở khắp nơi, vương víu từng phút, từng giây, như hương hoa len vào từng ngóc ngách thầm kín của tâm tư. Ký ức về sự đơn độc đến tận cùng đó đã khiến cô sau này khi trở về nhà suốt một thời gian dài chỉ chọn đọc và xem những cuốn sách, bộ phim nhẹ nhàng.
Cô không muốn tìm đến những xúc cảm nặng nề và ám ảnh nữa. Chỉ là một cách tâm lý tự tìm cân bằng, Nghi thường nghĩ vậy. Còn quãng đời đó, dẫu cô đơn, vẫn là thời gian tuyệt đẹp. Cái đẹp nguyên sơ và khoáng đạt, choáng ngợp lòng người của thiên nhiên hàn đới. Ấn tượng mạnh mẽ và sâu sắc đến mức xóa nhòa cảm giác đơn độc tủi buồn.
***
... Xuân, hạ nắng vàng, Stockholm khoác lên mình màu áo xanh bát ngát của cỏ cây, sông nước và bầu trời, thoắt hóa thành cô gái thanh xuân căng tràn sức sống nhưng rất mực nhu nhã. Những ngôi nhà kiến trúc đơn giản, tinh tế nằm hiền hòa sau rặng cây xanh mướt tốt tươi và muôn ngàn hoa dại bừng sáng từng lối đi, từng ngóc ngách. Tất cả hài hòa, thung dung gắn kết vào nhau, tưởng chừng có thể cảm thấy mạch sự sống trong lòng đất rạo rực chảy lên từng thân cây, ứ đọng lại nơi từng ngọn lá, nụ hoa và dạt dào theo dòng nước quanh co len lỏi khắp thành phố.
... Mùa đông, tấm áo choàng trắng xám lạnh lùng, cô độc của tuyết băng sương giá biến Stockholm thành cô gái mặt nghiêm u buồn - một vẻ đẹp xa cách, kiêu kỳ, kín đáo nhưng hút hồn, khiến người xa xứ vừa chạnh lòng vừa muốn đắm chìm thưởng thức mãi...
... Thu. Lá vàng rực những con đường nhỏ, tạo thành mái vòm dát vàng trên cao và tấm thảm dày tỏa sáng dưới chân đi. Người lữ khách đơn độc say sưa, mơ màng như lạc vào cõi lạ. Phong, tiêu huyền và những dây leo kín các bờ đá, mái hiên khắp thành phố thổn thức chuyển mình, thẫm đỏ, như khao khát sống hết mình trước khi mùa đông lướt bàn tay lạnh giá qua vạn vật. Gió xào xạc suốt buổi chiều, ngân nga trong thinh không khúc tiêu dao bất tử...
Mênh mang, mênh mang...
***
Dư âm của những rung động mãnh liệt suốt tháng ngày rong ruổi đủ tạo thành niềm xác tín để Nghi vượt qua nỗi sợ cô đơn, mơ ngày cô quay trở lại. Cùng H. Cùng nhau đi qua thời khắc tâm cảm giao hòa thiên nhiên, vụt bay mọi ràng buộc kéo trì con người xuống những lo toan vụn vặt cuộc đời. Nghi tin rằng khi hai người cùng trải qua những phút giây như thế, sự gắn kết tinh thần giữa họ sẽ là mãi mãi. Chia cắt địa lý hay thân phận chỉ là con cóc số phận xấu xa, vì ghen tức muốn giằng xé bông hoa tình yêu mong manh nhưng vĩnh cửu kết tinh từ những giá trị trong ngần và mãi mãi không bao giờ có thể chạm đến.
***
Gia đình Nghi ở thường chưng một loại hoa. Suốt những tháng dài thu, đông, cả căn nhà đóng kín luôn phảng phất một mùi hương. Mùi hương nồng nàn và gợi nhớ. Như kết tinh của một nỗi luyến tiếc, u hoài không rõ nguyên cớ đông đặc luẩn quẩn trong không gian. Không biết đó có phải là linh hồn loài hoa ấy tỏa ra tâm sự u buồn ẩn trong kiếp hoa, hay Nghi đã khoác cho rung cảm mình những vệt màu hoài niệm sau nhiều ngày tháng lặng lẽ sống, không sẻ chia?
Có những khuya tỉnh giấc, giữa căn nhà thênh thang, tĩnh mịch tuyệt đối và khí lạnh của màn đêm phương Bắc, hương hoa dường như nồng nàn hơn, tỏa ra như một tấm màn ảo diệu vây bọc lấy Nghi đang mơ màng. Hình ảnh miền đất phương Nam nắng chói quanh năm giờ này đang hối hả quay cuồng trong một guồng máy khác lại hiện về. Thao thức...
Nơi ấy...
Ba mẹ lại vất vả đi qua một ngày, làm nốt những công việc của đời mình, của một thế hệ nhiều trăn trở và dở dang, mong chờ đường đời suôn sẻ vẹn toàn hơn cho con...
Đứa em nhỏ yên lặng quán xuyến việc nhà...
Bạn bè bận rộn với công việc, tương lai và bao nhiêu mối quan hệ...
Bất chợt Nghi thấy mình muốn khóc.
Bao nhiêu mơ ước dự định ấp ủ bỗng dưng quá xa vời. Hai mươi mấy năm trong đời, Nghi đã làm được gì thật sự hữu ích? Những đêm cà phê, bạn bè, thơ nhạc... Tất cả chỉ là niềm vui mau chóng tan rời, nhường chỗ cho những lo lắng vụn vặt đời thường. Nỗi đau đớn trước sự mệt mỏi của mẹ, niềm trăn trở của cha, vẻ yên lặng bất cần trong ánh mắt của em... Tất cả vẫn còn đó, Nghi chưa làm được gì cụ thể để thay đổi thực tế ấy.
Niềm day dứt và lòng tri ân của Nghi chưa đủ mạnh mẽ để giúp cô vượt qua tính ham vui nông nổi của tuổi trẻ. Không bao giờ thuộc về đám trẻ ăn chơi phóng túng bất cần tương lai, nhưng Nghi cũng không thể ép mình vào khuôn khổ của một đứa cần mẫn, cày cụi đêm ngày, làm việc hết tốc lực để có thể đạt được điều gì xuất sắc nổi bật. Nghi loay hoay mắc kẹt giữa cảm giác bất lực buông xuôi và niềm tin mình sẽ đạt được điều gì đó. Giữa cuộc vui ồn ào hay trong hành trình ở một miền đất xa lạ, niềm khao khát sẻ chia với ba mẹ và em trọn vẹn một ngày không vướng bận, thanh thản tận hưởng cảm giác thăng hoa mới mẻ luôn luôn quay về, day dứt khôn nguôi...
Sau này khi đã trở về Việt Nam, mỗi khi tình cờ bắt gặp hương hoa ấy, dẫu đang ở đâu, trong phút chốc Nghi lại rơi vào một trạng thái bồi hồi khó tả, đầu óc váng vất quay trở lại những ngày mùa đông dài bất tận, từ trong nhà nhìn ra bạt ngàn trắng xóa, yên lặng đến vô cùng...
***
Những ngày trăng tròn rồi cũng qua đi. Bầu trời đêm cuối năm trở về với vẻ lạnh lẽo, đơn điệu một sắc tối nhờ nhờ. Nghi vẫn nhìn bâng quơ qua cửa sổ, nhưng lúc này cảm giác nôn nao sắp được về nhà đang lấp đầy tâm hồn cô. Thời tiết u ám và khung cảnh buồn bã của mùa đông phương Bắc không làm suy suyển niềm rạo rực trong tim. Những ngôi sao chưa xuất hiện vô hình trung giúp Nghi tập trung hơn vào hình dung thân thương về gia đình, người thân, bạn bè. Niềm lưu luyến cảnh vật và sự thanh bình ở vùng đất xinh đẹp này cũng bắt đầu nhen nhóm. Mấy cô bé Nghi hay chơi đùa quấn quít hơn khi biết cô sắp chia tay bọn chúng.
Một đêm, Annie xách gối xuống phòng ngủ với Nghi. Khoảng năm giờ sáng, có lẽ do lạ chỗ, cô bé cựa mình tỉnh giấc. Nghi cũng thức theo, vòng tay ôm cô bé con vào lòng. Không ai nói gì, dường như cả hai không muốn phá vỡ bầu không gian yên tĩnh sớm mai và cả cơn ngái ngủ êm ái. Annie chỉ tay qua cửa sổ. Nghi nhìn ra, bất ngờ thấy lần đầu tiên trên bầu trời Stockholm - một chòm sao. Những tia sáng bạc lấp lánh, sinh động một khoảng trời, thắp lên nỗi vui sướng mơ hồ nhè nhẹ trong Nghi.
Tia sáng bạc ấy cuốn mắt Nghi vào đó không thôi. Rồi nở xòe như bông pháo hoa thành muôn ngàn tia sáng nhấp nháy vui vầy bên nhau.
Cả một rừng sao. Lung linh, lung linh...
Như bầu trời đêm ở quê nhà...
 
(Theo Tuổi Trẻ Cuối Tuần)
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
GƯƠNG MẶT HOÀN HẢO
Hồ Ngạc Ngữ
 
Anh đứng trước tấm gương lớn đặt trong phòng ngủ, ngắm lại gương mặt mình. Cái hẹn với cô gái lúc 8 giờ tối, ở một quán cà phê vùng ngoại ô thành phố đã khiến anh phải sửa soạn đôi chút. Anh còn nửa tiếng nữa để chuẩn bị các thứ cho mình. Tắm, cạo râu, ủi quần áo, phóng xe ra phố mua món quà tặng gì đó và đi đến chỗ hẹn.
 
Khi xuống phố anh ghé quầy hàng bán tạp phẩm còn sáng choang ánh điện, mua một hộp sô-cô-la. Anh nháy mắt và cười với cô bé bán hàng khi nhận lại tiền thối. Khuôn mặt bụ bẫm của cô bé như một hình mẫu quảng cáo nổi lên giữa những hộp bánh kẹo.
Thành phố như người mất ngủ đang thao thức giấc mộng làm giàu. Những vùng sáng và tối kết nối nhau như trên một gương mặt đang chuyển động, háo hức lẫn lo âu.
“Người ta yêu nhau vì cái gì nhỉ? Ví dụ cô gái ấy, tại sao mình lại đến với cô ta?”. Anh vốn quen phân tích tâm trạng mình, như thói quen của công việc anh đang làm là thôi miên chữa bệnh.
“Nghĩ làm quái gì cho mệt! Những ý nghĩ sẽ làm con người mệt nhọc hơn là hành động. Những người sống sung sướng là những người sống không suy nghĩ...”.
Anh hiểu, những ý nghĩ ấy, như những lời phát biểu trong bóng tối ở nhiều góc khuất khác nhau, sẽ quấy nhiễu anh không ít, nếu anh bám víu vào chúng. Chúng sẽ như làn khói, nếu không cay mắt mình, sẽ tự chúng tan đi. Anh giao tiếp với nhiều bệnh nhân tìm đến, thấy phần đông họ là nạn nhân của chính những ý nghĩ giày vò, bế tắc.
Quán cà phê nằm trên khu đồi cát, trồng rải rác những cây thông đang cao vượt quá đầu người. Anh gởi xe rồi đi bộ lên những bậc cấp bằng đá. Ánh đèn vàng tạo ra những vệt sáng mờ ảo làm lung linh hình bóng từng đôi tình nhân ngồi trong rặng thông. Âm nhạc như tiếng suối thì thầm tan trong cơn gió nhẹ. Ở một góc tối, những đóm thuốc lập lòe, mùi bồ đà bay ra khét lẹt. Cái mùi báo hiệu của thần chết này làm anh đâm ra mất cảm tình với không khí yên tĩnh nơi đây. Anh đi đến cái bàn đặt nơi xa nhất, được dùng làm chỗ hẹn.
Cô gái đã ngồi đó. Mái tóc xõa trên áo sơ-mi trắng, nàng ngồi khép nép như một người tình mới đến chỗ hẹn lần đầu. Anh đặt hộp sô-cô-la lên bàn, nhấc ghế ngồi xuống bên cạnh. Anh cười:
- Xin lỗi, em đến lâu chưa? Uống gì để anh gọi?
Cô gái đổi thế ngồi, quay sang anh:
- Em đi lễ, tiện thể ghé đây luôn. Có lẽ em đến hơi sớm một chút, không sao đâu. Cho em một ly cam vắt.
Người thanh niên chạy bàn đến. Anh gọi:
- Một cà phê đá, một cam vắt, một gói con mèo và cho một bình trà thật nóng!
Đợi người chạy bàn đi khỏi, anh bóc hộp sô-cô-la, mời cô gái:
- Em ăn đi, loại này mới, ngon lắm!
Cô gái cầm thỏi sô-cô-la, bóc giấy, đưa cho anh. Giọng nàng dịu dàng:
- Mời anh. Đừng chiều em quá, kẻo mau tăng ký, khó coi lắm!
- Đừng lo! Để tăng được một ký, em phải ăn hết mười hộp!
Vị ngọt và béo tan trong miệng, cô gái nhấm nháp từ tốn như một con mèo.
Người thanh niên bưng thức uống đến. Anh ta đặt các thứ cẩn thận lên mặt bàn. Anh hỏi:
- Quán mấy giờ đóng cửa?
- Dạ, khi nào hết khách. Anh chị cứ ngồi tâm sự thoải mái. Như tên gọi, Uyên Ương là quán của tình yêu!
Anh mời người thanh niên hút thuốc lá nhưng anh ta từ chối và xin phép rút lui.
Một cảm giác hưng phấn bắt đầu len lỏi trong cơ thể anh. Anh nhìn cô gái đang hút nhỏ nhẹ từng ngụm cam vắt, trông chiếc mũi dọc dừa của nàng thật quen thuộc.
- Chứng nhức đầu của mẹ em thế nào rồi? Hay là để anh theo em đến nhà thăm bà cụ?
Anh hỏi và nhớ đến gương mặt nhăn nhó của bà cụ khi lên cơn đau đầu.
Chứng bệnh này không trị khỏi bằng các loại thuốc nên khi nghe có người quen giới thiệu, cô gái đã dẫn bà cụ tìm đến anh, nhờ thôi miên.
Căn phòng nhỏ tràn ngập ánh sáng màu lam. Người đàn bà nằm dài trên chiếc giường nệm, hai tay buông thõng như một xác chết. Anh đứng bên cạnh giường, đưa đôi tay phóng nhịp nhàng vào cặp mắt nhắm nghiền của người đàn bà rồi vuốt nhẹ xuống chớn thủy giữa hõm ngực. Anh không chạm tay vào người bệnh nhưng miệng lại thì thầm: “Bà đang đi sâu vào một giấc ngủ nhẹ nhàng. Đầu óc bà đang thư giãn thoải mái. Thân xác bà khỏe mạnh, tinh thần bà bình an...”. Cô gái ngồi phía dưới chân mẹ. Thời gian như đặc quánh lại, không gian như dãn nở ra theo tiếng gọi thì thầm từ cõi sâu thẳm nào đó vọng về. Người đàn bà chợt nở một nụ cười héo úa trên gương mặt đầy những nếp nhăn. Bà nói yếu ớt bên tai anh: “Ông tha lỗi cho tôi! Tất cả những hành động tôi làm chỉ vì tương lai của con cái! Đừng hành hạ tôi nữa!”. Anh nói rất khẽ chỉ đủ cho người đàn bà nghe: “Vâng, tôi đã tha thứ cho bà. Bà đừng tự giày vò mình nữa. Cuộc sống vẫn vui tươi và tốt đẹp như thuở ban đầu!”. Từ chớn thủy, anh vuốt xuôi xuống đàng chân cho người đàn bà tỉnh dậy sau giấc thôi miên. Anh nhớ vào lần cuối, anh gặp cô gái ngồi lặng lẽ khóc.
- Mẹ em đã khỏe hẳn. Bà ăn nhiều và ngủ được. Nhưng em vẫn chưa hiểu được nguyên nhân chứng đau đầu của bà, từ khi bố em đột ngột mất. Anh hiểu rõ, có thể giúp em giải thích không?
Cô gái hỏi anh với giọng nói nghiêm trang. Anh trả lời nghiêm túc:
- Anh chỉ giúp bà cụ tự giải tỏa những ẩn ức thuộc về tâm lý. Giống như người nào buộc, người ấy phải tự mở. Cái nút hơi khó, anh tạo điều kiện thoải mái để cho bà cụ dễ mở thôi. Có lẽ, em cũng đừng nên nghĩ ngợi sâu xa làm gì! Anh rất mừng là bà cụ đã phục hồi sức khỏe.
Anh nói và hiểu mình không thể tiết lộ những bí mật của bệnh nhân, dù đối với người nhà của họ. Nhưng chả lẽ cô ta hẹn gặp mình ở đây chỉ để hỏi chuyện ấy?
Khoảng thời gian sau đó, cô gái ngồi im lặng. Anh đốt thuốc và uống hết phần cà phê đá còn lại trong ly. Đột ngột, cô gái ôm lấy đầu.
- Em sao vậy?
- Không sao. Chỉ hơi bị choáng một chút. Từ khi bố em mất, nhà em xảy ra nhiều việc không hay. Mẹ em bị ám ảnh vì một tội lỗi nào đó. Gần đây, khi mẹ em khỏi bệnh, em lại bị những cơn ác mộng vào ban đêm. Không đêm nào em ngủ yên giấc. Anh có thể chữa giúp cho em được không?
- Trong mơ, em thường gặp gì?
- Có một người đàn ông đứng tuổi, gương mặt hung ác, đến giết mẹ em và muốn cưỡng hiếp em. Em đi lễ, đọc kinh cầu nguyện, nhưng hình như chỉ được vài đêm lại gặp ác mộng.
Cô gái lại lấy tay ôm đầu. Khi ngẩng lên, cô nói:
- Bây giờ nhờ anh về nhà gấp với em. Có lẽ ông ta đang cầm dao đến giết mẹ em...
Anh gọi người tính tiền rồi dìu cô gái ra khỏi chỗ gởi xe. Đối với anh, những trạng thái hoang tưởng như thế này thường phát sinh từ những con người muốn đạt đến mục đích nào đó một cách mau chóng, trong khi họ không đủ sức để làm điều họ mơ ước.
Ngôi biệt thự mới xây nằm trong một khu vực yên tĩnh ở vùng ngoại ô thành phố. Cổng không khóa, cô gái phóng xe vào sân. Anh dắt xe theo sau. Bóng cô gái mất hút trong nhà để xe. Anh khóa xe cẩn thận, bước lên thềm nhà chính. Trong ánh điện màu vàng dịu, anh nhìn thấy bóng mình đang phản chiếu trên những tấm kính màu lam tối. Anh đưa tay chải lại mái tóc và vuốt nếp quần áo thẳng thớm. Anh đi lại, nhìn vẩn vơ mấy chậu hoa kiểng, chờ cô gái mở cửa phòng khách. Đèn điện bỗng tắt, tiếng cô gái thét vang trong bóng tối mênh mông: “Không! Không! Ông đừng giết mẹ tôi? Có ai cứu mẹ tôi với!...”. Cửa phòng khách vẫn đóng kín. Anh chạy xuống thềm, vào nhà để xe. Anh bật quẹt gas, dò dẫm bước lên cánh cửa trống bên hông nhà để xe, vào nhà. Anh định hướng bằng tiếng khóc của cô gái đang van vỉ đâu đó. Bất chợt anh trông thấy một khúc nến trắng gắn cạnh bàn, anh thắp lên. Ngọn nến chao đảo trong từng bước đi, anh khum tay che gió. Căn phòng bày biện nhiều vật dụng đắt tiền, anh vừa đi vừa có cảm giác mình là một kẻ trộm. Anh ngơ ngác kêu lên: “Tôi đang đến đây? Cô ở đâu?”. Anh nghe tiếng mình âm vang lan truyền qua những gian phòng và mất hút trong bóng đêm.
Khi anh tìm đến được căn phòng có tiếng khóc thì người đàn bà đã bị giết bằng nhiều nhát dao đâm vào người. Cô gái ôm lấy xác người mẹ, khóc vật vã. Đèn điện bỗng bật sáng, có lẽ nhà đèn vừa thay pha. Cô gái không nhìn anh úp mặt vào ngực người mẹ, nắm tay phải đập yếu dần lên tấm nệm ngủ. Anh run giọng hỏi cô gái:
- Điện thoại ở đâu? Phải gọi xe cấp cứu và báo công an...
Cô gái ngẩng đầu lên, chỉ về phía sau lưng anh. Mặt cô vấy đầy máu.
Lời khai của các nhân chứng
Cô gái:
Lúc ngồi ở quán cà phê Uyên Ương, đột nhiên trong tâm trí tôi hiện lên hình ảnh mẹ tôi sắp bị giết vì những nhát dao đâm vào người. Tôi mời anh ấy đến nhà để ngăn chặn cái chết cho mẹ tôi nhưng không còn kịp nữa. Anh ấy là một người chữa bệnh giỏi bằng khoa thôi miên. Tôi quen anh ấy sau ba lần dẫn mẹ tôi đến chữa bệnh. Anh ấy là một người tốt, chữa lành bệnh đau đầu của mẹ tôi nhưng không nhận thù lao. Vì thế, tôi có cảm tình với anh ấy.
Khi đến nhà, tôi thấy cổng và cửa nhà để xe không khóa. Tôi ngỡ người giúp việc còn thức chờ tôi về nhưng bà ấy đã ngủ say. Tôi vào phòng mẹ tôi thì trông thấy có một bóng người đàn ông đang lởn vởn sau tấm màn gió, chỗ thay quần áo. Lúc ấy, đèn điện chưa bị cúp nên tôi trông thấy cái bóng mờ mờ của ông ta. Người tầm thước cao cỡ bố tôi, một mét sáu mươi gì đó. Tôi lo sợ, la lên khi bóng tối tràn ngập căn phòng. Nghe tiếng kêu cứu, anh ấy từ bên ngoài xông vào với ngọn đèn cầy sáng trên tay, mẹ tôi đã bị giết bằng con dao Thái. Con dao này mẹ tôi thường đặt trên đầu giường để phòng kẻ trộm. Nhưng không ngờ... Chúng tôi chỉ có hai mẹ con. Bố tôi mất vì cơn đau tim đột ngột. Toàn bộ tài sản này do bố tôi để lại sau mấy chục năm làm việc trong ngành kinh doanh. Mẹ tôi đã bị giết. Có lẽ do người đàn ông núp sau tấm màn gió ấy. Tôi không hiểu rõ những mối liên hệ của mẹ tôi lắm, vì đến năm 35 tuổi bà mới sinh ra tôi. Năm nay bà đã gần 60. Mong các ông điều tra giúp, sớm tìm ra kẻ sát nhân. Cần gì, các ông hỏi thêm, tôi sẽ trả lời đầy đủ...
Nhà thôi miên:
Tôi chữa được những bệnh thuộc dạng tâm lý phức tạp mà thuốc men bất lực. Khoa này, ở các nước có nền y học tiên tiến đã được dùng chính thức để chữa các bệnh tâm thần. Sau khi đưa bệnh nhân vào giấc ngủ dài bằng cách ám thị họ, các bác sĩ thôi miên sẽ giúp bệnh nhân điều chỉnh lại bộ máy ký ức cho khỏi bị trục trặc vì những ám ảnh bế tắc nào đó. Tôi đã chữa khỏi bệnh cho nhiều người. Bà cụ mẹ cô gái là người thứ 49. Vì chưa được chính thức công nhận, tôi chỉ chữa giúp qua đường dây giới thiệu. Tiền thù lao khi chữa khỏi, tôi chỉ nhận một cách tượng trưng. Tôi chỉ muốn giúp đỡ người khác, không phải vì tiền.
Về mối quan hệ giữa tôi và cô gái con bà cụ, đây là lần đầu chúng tôi hẹn nhau, qua điện thoại. Tôi có cảm tình với cô ấy, vì cô ấy dễ mến, hiền lành. Tôi đến nhà theo lời mời của cô gái. Hình như cô ấy có nói là mẹ cô đang gặp nguy hiểm vì một người đàn ông đứng tuổi nào đó mà cô thường gặp trong cơn ác mộng.
Tôi là người đứng ngoài hiên. Khi tôi vào nhà, bà cụ đã chết. Cô gái đang ôm xác mẹ khóc lóc. Tôi sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi chi tiết khác, khi cơ quan điều tra cần.
Biên bản pháp y
Hôm nay, vào lúc 22 giờ ngày... tại ngôi nhà số... do bà Nguyễn Thị X., 59 tuổi, là chủ hộ, đã xảy ra một vụ giết người hết sức dã man. Nạn nhân chính là bà Nguyễn Thị X., bị giết bằng hung khí là con dao Thái Lan mũi nhọn dài hai tấc mười lăm ly, rộng hai phân. Khám người nạn nhân, chúng tôi nhận thấy có hai vết dao sâu một tấc rưỡi và một tấc đâm vào vùng bụng phía bên phải và bên trái rốn, một vết đâm xuyên lồng ngực trái, trúng tim. Nạn nhân chết vì mất máu. Xét độ đông đặc của các vết máu, có khả năng nạn nhân chết chỉ trước lúc khám nghiệm nửa giờ đồng hồ. Cần giải phẫu tử thi để biết thêm các chi tiết...
Kết luận chính thức của cơ quan điều tra sau 30 ngày phá án
... Sau khi hội đủ các yếu tố cần thiết để xét đến nguyên nhân gây ra cái chết cho bà Nguyễn Thị X., chúng tôi kết luận: Bà X. tự tử vì bị ám ảnh bởi tội lỗi: Ngoại tình.
***
Anh đã lập gia đình với cô gái và đã có hai đứa con, một gái và một trai. Chúng khỏe mạnh và xinh đẹp. Theo dư luận xã hội, đó là một gia đình giàu có và hạnh phúc. Nhưng là người trong cuộc, anh biết vợ anh vẫn bị ám ảnh bởi cái chết của người mẹ. Cô vẫn không hiểu vì sao bà cụ lại tự tử, mặc dù đã có kết luận chính thức. Cô vẫn cho rằng mẹ cô bị giết bởi một người đàn ông đứng tuổi, một cái bóng mà cô đã gặp sau bức màn gió.
Đã có một thời gian người ta đồn ầm lên là cô đã giết mẹ cô để đoạt gia tài. Anh đã dùng nhiều cách để đánh tan dư luận không hay về vợ mình. Trong đó, anh đã nhờ rất nhiều vào năng lực của khoa thôi miên để ám thị công chúng. Và anh đã thành công nhờ nhiều phương tiện ám thị tuyệt vời. Cũng như anh đã thành công bằng cách ám thị về tội lỗi, về địa ngục, về những giấc mơ thiên đàng và định ngày giờ cho mẹ cô tự đâm những nhát dao trí mạng vào cơ thể mình, chọn lấy cái chết trong giấc thôi miên. Không ai hiểu thủ phạm chính là một nhà thôi miên có năng lực ru ngủ kẻ khác.
Anh đứng trước tấm gương lớn đặt trong phòng ngủ, ngắm lại gương mặt mình. Gương mặt hoàn hảo của tội ác.
 
(Theo Người Lao Động)
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
ÁNH MẮT
Trầm Nguyên Ý Anh
 
Ông Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh.
 
Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình. Bây giờ thì khác rồi.
Theo quy định chung thì mỗi khi ra vô, cánh cửa rào bằng sắt dày năm ly kia phải được đóng lại và ổ khóa tự động sẽ thay thế con người, chốt chặt. Muốn mở cửa phải bấm chuông, mà cái chuông thì được đặt ở vị trí cao hơn tầm tay mấy đứa con nít hay nghịch phá trong xóm. Khi nghe tiếng chuông, người trong nhà sẽ mở cửa. Đó là cái mới nhất trong số những cái mới mà đám con ông tạo ra để chứng tỏ cho mọi người biết căn nhà của tụi nó là căn nhà hiện đại nhất xóm.
Ngày xưa, lúc chân ướt chân ráo lên thành, ông cùng người vợ hiền tấm mẳn và đứa con gái lên năm phải ở đậu trong chùa. Tay trắng, ông bắt đầu bằng chiếc xe lôi đạp. Bà Nhâm vợ ông lại là người phụ nữ quá thật thà chất phác. Không bươn chải giúp chồng bằng việc bán buôn, bà phải đi giúp việc cho những nhà khá giả. Chỉ mấy tháng sau, ông bà mướn được một chỗ ở. Căn nhà của một cặp vợ chồng không con. Họ cho ông bà mướn để có thêm tiền cá mắm.
Tuy là nhà mướn, có trả tiền đàng hoàng mỗi tháng nhưng vợ chồng người chủ nhà cũng lên mặt ta đây, ức hiếp đủ điều. Vợ chồng ông cố mà nhịn. Nhịn để được yên thân mà sống. Một bữa, ông Nhâm vừa kéo xe vô nhà (cái xe lôi đạp cũng mướn luôn, chớ ông chưa có tiền mua lại) đã thấy con Lục Bình ngồi khóc tức tưởi. Ông tra hỏi, nó vừa mếu máo vừa nói: “Bác Tư (chủ nhà) nói con lấy tiền của bác, con hổng có lấy...”. Ông Nhâm nhìn mặt con, thấy có mấy vệt bầm, ông hỏi: “Sao mặt con lại như vầy?”. Con bé vừa khóc, vừa đáp: “Bác Tư véo con, con hổng có lấy!”. Ông Nhâm đau đớn nhìn con. Vừa lúc đó, người chủ nhà bước vô. Mặt y hơi tái lại khi thấy thái độ ông Nhâm. Ông gằn từng tiếng:
- Anh có thấy con nhỏ lấy tiền không? Ai véo mặt con tôi tới như vầy?
Tay chủ nhà còn ậm ờ chưa trả lời đã nhận một quả đấm như trời giáng vào giữa mặt. Máu từ mũi y chảy ra, y lảo đảo ngã ngửa vô vách nhà. Ông Nhâm vẫn gằn từng tiếng một:
- Vợ chồng tôi phải nhịn anh để sống tạm sống nhờ nuôi con. Anh đối xử với tụi tôi sao tôi cũng nhịn. Nhưng nếu anh còn đụng đến con tôi, anh liệu hồn.
Tay chủ nhà lần đầu thấy ông Nhâm nổi giận, y biết đã gặp tay chẳng vừa, chẳng thể ăn hiếp được. Từ đó về sau, gia đình ông Nhâm được sống yên lành. Hai năm sau, y kêu ông bán lại căn nhà rồi dắt vợ về Sài Gòn sinh sống. Bà Nhâm sanh thêm thằng Vạn Thọ và thằng Hồng Điệp lúc ông Nhâm đã mua được chiếc xe lôi gắn máy thay cho chiếc xe lôi đạp cũ kỹ ngày nào. Con Lục Bình được đi học và học rất giỏi. Nhưng khi bị mấy đứa bạn trong lớp chế nhạo cái tên quê mùa, nó lại giận hờn:
- Sao ba má đặt tên con kỳ vậy? Ở trong lớp, mấy đứa bạn con tên rất đẹp nào là Nguyệt, là Thu, Ngọc Lan, Hoàng Cúc... chớ ai đâu lại tên Lục Bình.
Ông Nhâm cười huề với con rồi giải thích:
- Tại con lớn lên ở thành nên không biết bông lục bình nó đẹp tới chừng nào. Mấy thứ Cúc, Huệ, Hồng gì đó, làm sao đẹp bằng nó.
- Thiệt hả ba? Chừng nào về quê, ba chỉ bông lục bình cho con coi nó đẹp tới đâu, nghe ba?
Vậy là Tết năm đó, ông Nhâm về lại quê hương sau gần sáu năm xa cách. Con Lục Bình cứ ngẩn người ra trước màu tím phơn phớt và vẻ đẹp mộc mạc mà vẫn không kém phần quyến rũ của loài hoa đồng nội này:
- Ba ơi! Bẻ bông đi ba, để con đem về cho cô cắm trên bàn giáo viên.
- Nó lên khỏi nước chút xíu là héo liền. Có đâu mà đem về tới thành phố.
Con Lục Bình tiu nghỉu. Từ đó, nó không còn thắc mắc về cái tên Lục Bình quê mùa kia, mà nó còn lên giọng nữa là:
- Tụi mày mà thấy bông lục bình tao dám chắc tụi mày cũng mê luôn.
Năm đó, con Lục Bình đang học lớp năm. Nó đã sớm chứng tỏ mình là đứa con gái bản lĩnh.
Nhờ chiếc xe lôi gắn máy, nhờ tánh siêng năng cần mẫn của vợ chồng ông Nhâm nên ba đứa con cũng được ăn no mặc ấm và được đi học đàng hoàng.
***
Bà Nhâm qua đời lúc con Lục Bình vừa lên lớp mười hai. Bà bị ung thư ruột nhưng vì quen chịu đựng, chuyện gì cũng cố chịu một mình nên khi phát hiện, bà chỉ còn sống được bốn tháng. Không còn mẹ, Lục Bình lại là người quán xuyến gia đình. Càng lớn, nó càng lộ rõ bản tính cứng cỏi và quyết đoán của mình. Nó mà muốn làm gì có trời mới cản được. Nó thương ông Nhâm chớ chẳng không, nhưng lại thích làm theo ý nó. Nó càng lớn, càng học cao, ông Nhâm càng nhượng bộ. Ông muốn nó làm cô giáo, nó lại học kinh tế. Ra trường với thứ hạng cao, nó vào làm việc cho một công ty lớn. Việc đầu tiên, nó bắt ông thôi chạy xe.
- Ba nghỉ chạy đi, con nuôi ba được mà!
Ông Nhâm thấy mình vẫn còn lao động được nên không muốn ở nhà. Tưởng con thương mình, sợ cực khổ, ông giải thích:
- Ba mới năm mấy tuổi, già cả gì đâu ! Để ba chạy thêm vài năm nữa cũng được mà!
Không dè, con Lục Bình đã thẳng thừng:
- Con đi làm cũng có mặt mũi trong xã hội. Ba chạy xe lôi, rồi người ta coi con ra gì nữa!
Ông Nhâm như từ trời cao rơi xuống. Ông không dè đứa con ông đã nuôi bằng những đồng tiền mồ hôi nước mắt từ chiếc xe lôi cà khổ kia để nó được vào đại học, được bằng này bằng nọ với người ta, bây giờ chính nó lại rẻ rúng khinh khi cái nghề của ông. Rồi ông nhớ lại hồi còn ở quê, có ông người Hoa giàu nhất xã. Ông có mấy nhà máy xay lúa, ruộng đất hàng trăm công, nhà cao cửa rộng vậy mà khi bước vào nhà, người ta thấy trên bàn thờ ba ông có treo cây đòn gánh. Ông thường giải thích: “Ba ngộ lúc ở bên Tàu qua cũng nhờ cây đòn gánh này đi mua đầu chợ bán cuối chợ nuôi con. Sau này giàu có rồi, ông vẫn nhớ ơn cây đòn gánh đã một thời cực khổ với ông. Ngày sắp chết, ông trối lại phải thờ cây đòn gánh với ông, như hai người bạn”. Người ta thì như vậy đó, có nghĩa, có tình... đâu như con ông: đặng cá quên nôm, đặng chim quên ná.
Cuối cùng, không vượt qua được “quyền lực” của đứa con gái bản lĩnh, ông Nhâm kêu người bán chiếc xe lôi. Lục Bình nuôi ba chu đáo lắm: từ cái ăn, cái mặc ông không thiếu gì hết mà dường như chỉ thiếu... chút tình. Căn nhà lúc nào cũng sạch sẽ, ngăn nắp. Nhưng ông Nhâm thì như ở tù. Suốt ngày, ông không mấy khi được ra khỏi nhà. Sáng ăn uống rồi mở tivi, canh điện thoại cho nó. Ai gọi, ghi tên hoặc lời nhắn. Chờ mở cửa cho tụi nó vô nhà. Có lần, ông khóa ngoài cửa và lang thang ra quán cà phê đầu hẻm nói chuyện cùng ông bạn già ngày xưa cũng chạy xe lôi. Con Lục Bình về ngang có vẻ không bằng lòng. Ông vào nhà, nó nói một hơi:
- Bây giờ, ba khác xưa rồi. Lang thang ra cái chỗ bát nháo đó làm gì! Nhà mình, mình ở. Ba cứ tiếp xúc với mấy người đó chỉ thêm phiền phức. Mà ba tuyệt đối không mời mấy người đó vô nhà mình nghe! Lỡ xảy ra mất mát, ba không gánh nổi đâu.
Vậy là từ bữa đó, ông Nhâm cũng không còn chỗ để xả hơi. Lục Bình mua cho ông mấy băng dĩa cải lương để ông coi đỡ buồn. Thỉnh thoảng, nó đưa ông đi ăn ở những nhà hàng sang trọng. Hai thằng con trai, đứa năm đầu, đứa năm cuối đại học. Tụi nó vẫn là những đứa con xứng đáng và ông vẫn là một “con chim già” được nuôi kỹ càng trong cái lồng son. Chỉ riêng bữa nay ông được đi đám giỗ nhà ông trưởng khu phố. Lục Bình đưa ông tận nơi và dặn ông chờ nó đón về. Ông ngồi hoài thấy ngại nên thả bộ chầm chậm về nhà. Giờ này chắc nó đang nghỉ trưa. Ông với tay bấm chuông. Thằng Vạn Thọ ra mở cửa. Nó thấy mặt ông Nhâm có vẻ nhợt nhạt. Ông chầm chậm ngồi xuống băng đá đặt ngoài hàng ba. Thằng Vạn Thọ rót cho ông ly nước:
- Sao ba không chờ chị đi rước?
- Ba ngồi lâu quá thấy kỳ nên đi bộ. Bây giờ hơi mệt.
Lục Bình từ trong bước ra. Nhìn thấy ông Nhâm, nó có vẻ không bằng lòng.
- Đã nói cứ ở đó, con đi rước. Đi như vậy hàng xóm người ta quở trách tụi con. Nhà mình đâu phải không có xe.
Ông Nhâm nghe đau nhói trong lòng. Thì ra, nó chỉ sợ người ta cười, sợ người ta tưởng nhà không có xe chớ nó đâu nhìn thấy ba nó mệt muốn đứt hơi. Lục Bình thay đồ đi làm. Nó cũng hoài nghi về sức khỏe ông Nhâm. Vừa dắt xe ra đến cổng, nó quay lại:
- Chiều nay con đưa ba đi bác sĩ, ba lên lầu nghỉ đi!
***
Sự thật thì ông Nhâm không có bệnh, chỉ vì thiếu vận động nên ông không thích nghi được môi trường bên ngoài. Bác sĩ khám và hỏi qua về hoàn cảnh sống của ông rồi kết luận:
- Cô phải để bác có thì giờ vận động cơ thể, ở hoài trong nhà không tốt đâu. Tốt nhất là ông phải sinh hoạt trong một câu lạc bộ dưỡng sinh. Người già mà sống cô đơn dễ sinh bệnh lắm.
Lục Bình đưa ông Nhâm về và vẫn không đồng quan điểm với bác sĩ. Nó cho là ba nó không cô đơn. Nó vẫn lo ăn lo mặc và quan tâm tới ông mà. Tuy vậy, nó cũng đề nghị:
- Hay là mỗi sáng ba đi tập thể dục cho cơ thể có vận động. Nhưng đừng ra đường vào buổi trưa, cũng đừng la cà ngoài xóm, không tốt đâu.
Vậy là ông Nhâm được thư thả mỗi sáng. Ông dậy lúc năm giờ, nấu nước châm trà, uống vài ly rồi ông mở cửa ra đi lúc cả nhà còn ngủ. Ông thấy vui.
Buổi sáng mờ sương làm ông nhớ lại cái thuở còn chạy xe lôi. Ông được hít thở không khí trong lành, được chuyện trò với ông bạn già ngày nào. Đi tập được gần một tháng, ông Nhâm có thêm một người bạn đó là bà Năm bán xôi nhà trong hẻm đối diện. Bà Năm đã ngoài sáu mươi và vừa qua một cơn tai biến mạch máu não. Bà đi đứng vẫn còn khó khăn và mỗi ngày, đứa con trai út vẫn cùng đi tập với bà. Nhìn cảnh hai mẹ con đi lại nói cười, ông Nhâm cũng vui lây. Qua người bạn, ông biết bà Năm nghèo lắm. Mấy đứa con lớn có gia đình đã ở riêng. Chỉ còn bà với thằng Út, nó đang học nghề điện ở một trung tâm. Buổi tối còn tranh thủ đi bán hàng ở một siêu thị mãi đến khuya mới về. Sáng nào nó cũng dậy sớm đưa mẹ đi tập thể dục. Ông Nhâm nghe thèm hạnh phúc của bà Năm. Mấy đứa con ông giờ này chắc còn ngủ. Tụi nó có những việc chỉ tụi nó mới biết. Ông nhớ lại lúc nhà vừa cất xong. Ông đề nghị đặt bàn thờ ở nhà dưới đúng như xưa giờ vẫn vậy. Bước vào nhà, phải nhìn thấy cái bàn thờ ông bà, căn nhà mới ấm cúng. Lục Bình phản ứng như ông vừa chạm phải điều nó kiêng kỵ nhất:
- Bàn thờ đặt trên lầu. Phòng này là phòng khách, ai lại bày chương ướng cái bàn thờ như ở quê, coi sao được?
Ông Nhâm đành phải nghe theo nó, mấy tấm ảnh thờ cũ đã vàng ố, nhưng đó là cái gì còn sót lại của quá khứ nghèo nàn của ông. Mấy ngày sau, con Lục Bình đem từ đâu về ba tấm ảnh mới tinh. Ông bà nội nó với những bộ đồ Tây, áo dài thêu nhìn lạ hoắc. Còn bà Nhâm, ngồi chễm chệ trong salon, cổ và tay đầy những vòng vàng. Ông Nhâm chưa mở miệng, Lục Bình đã “ra lệnh”:
- Ba đem mấy cái hình cũ xuống đi! Con đã đặt người ta làm “vi tính” mấy tấm hình này. Cái nhà đẹp, bàn thờ đẹp mà để mấy cái hình xấu hoắc đó, coi làm sao được. Mà ba cũng không được đốt nhang, khói bay đen trần nhà hết. Con mua ba cây nhang điện cắm vào thì tiện lợi hết chỗ nói.
Cái bàn thờ với những tấm hình xa lạ như chẳng phải người thân của mình làm ông Nhâm buồn rầu mấy bữa nhưng rồi phải ráng làm quen, ông gói ba tấm hình cũ lại. Những lúc không có con Lục Bình ở nhà, ông lại mở ra coi.
***
Vừa đi làm về, chưa kịp thay đồ, Lục Bình đã chạy quáng quàng lên lầu:
- Ba đâu rồi? Con hỏi ba chuyện này coi!
Ông Nhâm đang lau bàn thờ, ngạc nhiên quay lại, chưa kịp hỏi, Lục Bình đã nói một hơi:
- Có phải ba quen thân với bà bán xôi ở hẻm bên kia phải không? Người ta đồn ầm lên cả xóm. Sao ba lại “sanh tật” vậy?
Ông Nhâm ngạc nhiên nhìn chăm chăm Lục Bình rồi từ tốn:
- Ai nói với con kỳ vậy? Ba đi tập thể dục, bà Năm cũng đi tập thể dục. Nói vài ba câu là chuyện bình thường, có gì đâu.
Lục Bình nhìn ông khó chịu:
- Mấy người “bá vơ” đó, ba cũng thân mật, hèn gì người ta không nói sao được!
- Con lấy tư cách gì nói người ta “bá vơ”? Người ta nghèo nhưng tư cách chưa chắc ai bằng. Đừng đánh giá con người qua hình thức bên ngoài nghe con.
Lục Bình tức nghẹn. Chỉ vì người đàn bà đó mà ba “lên lớp” nó. Nó dùng dằng bỏ xuống nhà. Ông Năm cũng buồn. Đứa con gái ông thương yêu nhất và cũng lớn lên từ trong cái nghèo. Bây giờ, nó lại khinh khi những người đã từng nghèo như ba má nó.
Lục Bình không phải là đứa dễ nghe ai. Nó tìm đến nhà bà Năm vào một tối. Căn nhà nhỏ, có rào và trông rất sạch đẹp đã làm hạ bớt cái kiêu căng trong lòng đứa con gái lúc nào cũng thấy chẳng ai bằng mình. Bà Năm đang ngồi trong cái ghế dựa, hai chân ngâm trong thau nước thuốc. Thằng Út ngồi bẹp dưới gạch đang xoa bóp bắp chân cho mẹ. Mẹ con nói cười với nhau vui vẻ lắm. Lục Bình vẫn đứng quan sát. Nó bỗng nhớ lại hình ảnh má nó trong một lần bị trặc chân. Lúc đó, nó cũng ngồi bẹp xuống nền đất, ôm lấy chân má mà bóp thuốc rượu. Hình ảnh gia đình này đã khiến nó nhớ tới ba. Đã bao lâu rồi, nó không còn ngồi nói chuyện và cười vui với ba. Mỗi lời nói nó chỉ là “lịnh”. Có bao giờ nó để ý coi ba thích cái gì đâu. Tiền bạc cả đời dành dụm của ba, nó chỉ thêm vào một ít và căn nhà đã trở thành của nó. Ba không được quyền góp ý. Nó bỗng nghe một nỗi ân hận dâng lên trong lòng. Thằng Út đứng dậy, bước qua bàn bưng lấy tô cháo và cũng trong tư thế ngồi dưới đất, cậu đút từng muỗng cho mẹ. Lục Bình quay đi, nó chạy qua con hẻm dài, cố kìm để nước mắt không rơi. Nó bấm chuông, thằng em ra mở cửa. Nó bước vội lên lầu. Ông Nhâm đang cầm tấm ảnh cũ mèm của bà Nhâm đưa lên ngắm. Lục Bình khẽ khàng ngồi xuống bên ông:
- Ba ơi! Tha lỗi cho con nghe ba! Con vẫn là con Lục Bình của ba mà!
Ông Nhâm quay lại. Ông chợt nhớ như in cái ngày ông đấm chúi nhủi thằng chủ nhà, ông cũng thấy con Lục Bình nhìn ông như vậy.
 
(Theo Người Lao Động)
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
ĐIỆP KHÚC
Cấn Vân Khánh
 
Mỗi buổi sáng thức dậy, có ai ngờ, điều kinh hãi nhất, ám ảnh nhất đối với em lại là một bát mì tôm. Chẳng ai bắt em phải ăn nó.
 
Em có thể nhịn, em có thể chỉ uống một ly nước lọc rồi bỏ qua khâu tập thể dục và xuống bể nước với bàn chân nhón khẽ để đỡ tiêu hao năng lượng. Nhưng, cuối cùng, thì em, vẫn phải ăn mì.
Vì em không có tiền để ăn món ăn khác. Và vì em gầy quá.
Hồi mới nhập trường, em còn có thể được gọi là mảnh mai, còn có thể vênh mặt mà kiêu hãnh khi đi qua hoặc đứng cạnh những cô nàng béo tốt mà cánh sinh viên nam vẫn gọi họ là xe lu ấy. Nhưng bây giờ thay vì mảnh mai, em trở thành cây sậy, bộ xương khô… hay gì gì đó.
Em đọc được sự xót xa trong đôi mắt những người đối diện mình. Thuở ban đầu em cực kỳ hãi sợ, nhưng về sau em cũng chai đi. Có ai hiểu, chỉ một mình Hân - đứa bạn cùng phòng hiểu và có thể còn một nhân vật nữa.
Những sợi mì dài loằng ngoằng, xoăn tít, váng mỡ nổi lềnh bềnh những cọng hành khô. Ti vi quảng cáo rầm trời mì tôm thơm ngon bổ dưỡng, nhưng sao em thấy mình vô cảm khi nuốt nó. ẩm thực là một cái thú khi người ta ăn bất kỳ một món ăn gì, người ta cảm thấy vô cùng hạnh phúc ngay từ khi đầu lưỡi mới chạm vào.
Còn em thì ngược lại, em liên tưởng đến những con bò khi nhai rơm, chắc nó cũng như em, nhai, nuốt, chứ không phải là ăn. Người ta gọi là gì nhỉ? Ăn cho đỡ đói.
Ngày còn ở nhà, mẹ vẫn hay luộc khoai cho em ăn. Mẹ bảo: “Ăn cho đỡ đói”. Nhưng mà sao em thấy nó ngọt ngào đến thế. Những củ khoai căng mẩy tứa mật ngoài lớp vỏ, cắn một miếng khoai mềm và thơm nức, thấy ấm cả lòng.
Mà thôi nhỉ, nghĩ đến khoai rồi thì sẽ lại nghĩ đến bún ốc, bún chả, miến ngan, xôi thịt, bánh mì patê… người Hà Nội ăn ngon lắm. Trước đây, em cũng tập làm người Hà Nội, chính xác hơn là người ấy rất hay dắt em đi sục sạo khắp hang cùng ngõ hẻm để thưởng thức những món ăn ngon mà một con bé nhà quê như em chưa bao giờ được biết.
Cho đến khi, em đã gần như có cảm giác thèm thuồng thì người ấy lại thôi. Vì sinh viên xa nhà, chỉ có thể là bạn đồng hành với túng thiếu, nợ nần. Em thì chỉ túng thiếu, chứ không nợ nần. Còn người ấy thì em không thể nào biết được. Bởi vì…
Em không thể không nhớ như in ngày ấy, một ngày chớm đông se lạnh, em mặc áo len hồng qua phòng người ấy. Em muốn đi chơi vườn bách thú.
Mỗi lần em than em nhớ con mèo nhà em quá thì người ấy lại bảo với em rằng: “Mèo chỉ là tiểu hổ, rồi anh sẽ dắt em đi xem hổ thực sự”. “Nhưng em đâu thể bế hổ được, vuốt ve hổ được”. Em cong môi cãi. Người ấy cười nhăn nhở khoe mấy chiếc răng sún đến là duyên.
Rồi em cũng toại nguyện và no con mắt. Chúng em ăn kem, dạo bước trên thảm cỏ xanh mướt. Xung quanh em, trên đầu em, toàn lá là lá thôi, lãng mạn không tả xiết. Em thích thú ngắm nhìn tất cả những con vật nằm ngồi trong cũi.
Dĩ nhiên ấn tượng nhất là con hổ. Đường về em hát líu lo vì ngây ngất. Người ấy hăng hái đạp xe chở em, huýt sáo vang trời. Người ta vẫn hỏi nhau hạnh phúc là gì, hạnh phúc của em chính là như thế này đây. Chứ không phải điều gì cao xa cả.
Về đến ký túc xá, người ấy và em đứng bên nhau ngoài hành lang tầng ba. Trời sẩm tối nhưng đã thấp thoáng những vì sao xanh lung linh hiện lên giữa màn trời nhung sâu thăm thẳm.
“Anh ơi, anh có thấy giống một bức tranh thủy mặc không?”. Em chỉ tay về phía trước thốt lên. Người ấy ừ hử. Em hân hoan, tay trong tay với người con trai em vô cùng yêu mến. Trái tim em rung lên nhịp đập bồi hồi của luồng xúc cảm ngây thơ non trẻ nhưng đầy ắp khát khao.
“Minh này”. Người ấy ngập ngừng. Em vẫn mải mê với trời đất trăng sao nên không để ý lắm lời người ấy đang thầm thì bên tai. Đến khi người ấy giằng tay em ra, bực bội: “Em có nghe anh nói không? Hay là anh đi về cho em thoải mái một mình ngắm trăng sao?” thì em mới giật mình hãi sợ: “Có, em có nghe!”.
Người ấy rất ít khi cáu với em. Tình hình trở nên nghiêm trọng mất rồi. Nhưng rất may là người ấy đã dịu dàng trở lại: “Em à, anh không biết phải nói sao, tháng này mẹ anh chưa kịp gửi tiền, mà anh thì đang cần mua một số tài liệu…”. “Anh cần tiền à?”. Em vào đề luôn.
Em không phải là người thích vòng vo. “à, ừ”. Tiền ư? Từ bé đến lớn em chưa biết cho ai tiền bao giờ, trừ phi thi thoảng đi chợ thừa mấy trăm đồng em dành cho những người hành khất.
Có lẽ trông gương mặt em khi ấy có vẻ đăm chiêu lắm nên người ấy đưa tay lên miệng em, suỵt: “Anh tâm sự với em vậy thôi, còn em giúp được anh hay không, điều đó không quan trọng, cái chính là tình cảm của chúng mình”. “Vâng”.
Em đưa tay vào túi, rút ví ra, cái ví hồng thêu những bông mai vàng yểu điệu: “Đây, mẹ mới gửi cho em, anh cầm một nửa mà mua sách”. “Cảm ơn em, em thật tốt! Nhất định khi bố gửi lên anh sẽ hoàn trả lại cho em”.
Em sung sướng khi người ấy hạnh phúc, em soi mình trong đáy mắt long lanh của người ấy. Chúng em âu yếm nhìn nhau. Khoảnh khắc này, người ấy có muốn cả trời, cả đất em cũng dâng tặng, sá chi mấy trăm nghìn.
Em vẫn sống khá yên ổn trong hai tuần kế tiếp. Em không có nhu cầu may sắm nhiều, mỗi tháng mẹ cho em một số dư nhỏ ngoài tiền ăn để em có thể mua những vật dụng cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày. Với em, thế là toại nguyện. Nhưng đến tuần thứ ba, em đã bắt đầu cảm thấy sợ. Một nỗi sợ mơ hồ.
Em gần như đã hết tiền. Nếu tính toán một cách kỹ lưỡng thì em chỉ còn sống được năm ngày nữa. Em âm thầm chịu đựng, không nói với ai, kể cả người ấy. Hân bắt đầu dò xét, khi có nhiều trưa em ngủ luôn, không ăn cơm. Nó đi ra đi vào, nhìn em: “Mày làm sao thế, định thành con mắm đấy à? Hay là tao phải cõng mày xuống căng tin?”.
Sự quan tâm của Hân khiến em chột dạ, em nhắm nghiền mắt. Mặc kệ. Đến khi nó hậm hực đóng sầm cánh cửa phòng vì phải đi ăn một mình, em mới lồm cồm bò dậy tu nước lọc. Nước lọc cũng làm cho õng bụng, cũng làm em no.
Một cái no giả tạo. Nhưng có hôm, huyết áp tụt, hoa mắt, chóng mặt gần như muốn xỉu, em đã nghĩ đến chuyện đi vay tiền, nhưng nếu có vay được tiền thì em biết lấy đâu ra mà trả lại? Hơn nữa, điều làm em hãi nhất đó là mấy đứa bạn cùng quê mỗi lần có dịp gặp em lại than nghèo than khổ, trong khi những lời than ấy lại tỉ lệ nghịch với bộ quần áo trên người chúng. Ở thành phố rộng lớn này, sẽ chẳng có ai đâu, giúp được em.
Chỉ có người ấy là thân thiết nhất, nhưng người ấy cũng đang gặp khó khăn. Tối thứ Bảy hàng tuần, chúng em ngồi uống trà đá bên quán nước ven đường khoảng mười lăm phút rồi sau đó lên tầng ba hành lang ký túc xá hóng gió đếm sao trời.
Tình yêu sinh viên lãng mạn vô cùng. Sự lãng mạn ấy khiến em quên đi bao toan tính đời thường, để trở về đúng với con người thật của mình, một cô gái quê ngây thơ và trong sáng.
Cuối cùng thì em cũng vượt qua được hai tuần thiếu thốn ấy, cho đến khi nhận được tiền mẹ gửi cho tháng sau. Thôi thế giã từ những ngày nhịn ăn nhé. Em kêu người ấy chở em ra bưu điện lĩnh tiền. Chúng em đi ăn miến ngan, người ấy đi cùng em nhưng mặt buồn rười rượi.
Là người nhạy cảm nên em nhận ra ngay. Em gặng hỏi nhưng người ấy không nói, đến khi về đến cổng kí túc, người ấy nắm lấy tay em, dịu dàng: “Ngày mai, anh về quê, ông ngoại anh bệnh nặng… Ông là người quý và thương anh nhất, lỡ ông có mệnh hệ gì anh làm sao sống được”.
“Vậy sao?”. Em thảng thốt kêu lên. Người ấy đang gặp chuyện buồn, và người ấy đang cần sự sẻ chia. “Vậy anh về quê ngay đi!”. “Nhưng…”. “Nhưng sao anh?”. “Anh hết tiền rồi…”.
“Trời ơi!” Em kêu lên, nhưng em không thắc mắc. Em hiểu người ấy đang cần gì, yêu nhau là phải hiểu nhau. Ai đó đã nói thế. Em không biết mình đang làm gì, nhưng em thấy tay mình lại đang đút sâu vào túi, những ngón tay lần khẽ vào xấp tiền mỏng em vừa lĩnh mà chưa kịp cất vào ví. “Đây, anh cầm lấy mai mà về quê…”.
Người ấy nhìn em, mắt rưng rưng vì quá xúc động. Có lẽ thế. Chúng em chia tay nhau sớm hơn dự tính vì người ấy phải về sửa soạn đồ đạc. Em cảm thấy mệt, vừa về đến phòng em đã ngã ra giường. “Mình không tiếc đấy chứ?”.
Em tự vấn mình. Như thế thì nhỏ mọn và hẹp hòi quá. Mình yêu anh thực sự, và mình sẵn sàng hy sinh vì tình yêu ấy”. Em hạ quyết tâm, cố gắng xóa đi cái ám ảnh đói khát đang chờ trực ở phía trước.
Hân đi siêu thị, em nhờ nó mua cho em ba chục gói mì tôm. Nó trợn mắt nhìn em. Em làm ra vẻ bình thản: “Tao lười đi lắm, ăn mì cho thuận tiện”. Hân kéo tay em lôi sềnh sệch ra khỏi phòng: “Mày không bị điên đấy chứ?”. “Không”.
Em quay đi tránh ánh mắt sắc lém của Hân khi nhìn thẳng vào mắt em: “Mày nói đi, sự thật là thế nào? Trước đây mày không như thế này…”. Em nhìn Hân bủn rủn. Và em đã không thể giấu nó. Em kể hết. Hân vừa nghe vừa nghiến răng kèn kẹt.
Nhưng nó không phản ứng gì hơn. Một lúc sau, nó đi ra ngoài, lúc về nó bảo em: “Chàng của mày hôm nay về quê à?”. “Ừ”. “Sao tao thấy hắn đang ngồi dưới căng tin với lũ bạn hắn”. “Mày có nhìn nhầm không?”. “Không tin xuống đó mà xem”.
Giọng Hân tưng tửng. Không lẽ người ấy dối em? Em chạy xuống căng tin, sửng sốt khi nhìn thấy người ấy đang ngồi giữa đám đông, bên cạnh những người bạn của người ấy. Họ đang ăn sáng và nói cười vui vẻ. Người ấy không nhìn thấy em. Mà em cũng không muốn điều đó xảy ra. Sẽ chẳng làm gì cả.
Em lủi thủi về phòng.
Hân liếc bộ mặt buồn như đưa đám của em và không bình luận gì. Có lẽ, nó muốn khơi dậy sự tự ý thức trong em. Em muốn ngủ. Em nằm nghiêng, mắt nhìn lên bức tường xanh, em nhìn lên những vết nứt.
Không hiểu tình yêu của em và người ấy có những vết nứt như thế hay không? Em không giận hờn, trách cứ, tuyệt nhiên không có chút gì cảm giác đó. Mà em chỉ thấy mình đang đau khổ.
Những chuỗi ngày tiếp theo em bắt cái dạ dày tội nghiệp của em chiến đấu với mì tôm. Quen đi chứ, cái gì lặp đi lặp lại nhiều lần mà chả trở thành thói quen. Bữa sáng. Mì tôm. Bữa trưa. Mì tôm. Bữa tối. Em mới được ăn cơm.
Tối thứ Bảy, người ấy cử một anh bạn vàng sang phòng em thẽ thọt: “Quân nó nhờ anh nhắn với em là nó đang bận ôn thi, không qua em được”.
“Vâng ạ”. Em cúi đầu. Xong nhiệm vụ, người bạn thân của người ấy hỏi dăm ba câu nhạt thếch rồi lủi nhanh sau cánh cửa gỗ màu xanh. Em những muốn lao đầu theo, nhưng chân em tê cứng lại. Em ngồi chênh vênh, ngơ ngác không biết mình đang nghĩ gì.
“Mày xem thế nào đi chứ? Thật xấu hổ khi tao lại có đứa bạn hèn hạ và đáng thương như mày”. Hân dường như quá bức xúc, bắt đầu sỉ vả em. “Thế tao phải làm gì?”.
Em chống chế: “Tao không biết giận ai cả”. “Tao không cần mày giận, nhưng phải làm một cái gì đó. Mày không thể nhịn ăn như thế mãi được”. “Vậy tao phải làm thế nào đây?”. “Mày phải qua gặp hắn, nói với hắn là mày hết tiền, hắn cần phải lo cho mày”. “Tao không làm thế được”. Em gần như hét lên. “Tại sao lại không khi hắn làm được điều đó với mày”.
Ừ nhỉ! Người ấy nói được, tại sao em lại không thể nói ra, rằng em cần tiền lắm, em không thể sống khổ sống sở mãi thế này được. Trong một giây phút hăng máu, em thay đồ qua khu kí túc xá nam.
Đây là một căn phòng bé nhỏ và quen thuộc. Em vẫn lui đi lui lại nhiều lần. Vẫn cánh cửa gỗ nâu sờn mỗi lần cơn gió thốc ngang qua là va đập liên hồi tạo nên những thanh âm hoảng hốt. Chưa bao giờ, căn phòng này lại gây cho em một cảm giác hoang mang hãi sợ thế này.
“Minh uống nước đi…”. “Cảm ơn anh”. Em đón cốc nước lọc từ tay người ấy. Hôm nay người ấy mặc quần tây áo sơ mi trắng là thẳng nếp, có lẽ người ấy vừa đi đâu chơi về. “Em biết đấy, dạo này anh bận bịu quá.”. “Dạ”. “Em dạo này thế nào”. “Em bình thường”. “Tốt”.
Mấy anh chàng ở chung phòng người ấy nhấm nháy nhau cười rồi leo tót lên giường trùm chăn kín mít. Em uống hết ly nước lọc, xoay xoay miệng cốc. Người ấy với tay lấy tập giáo trình, lật đi lật lại từng trang.
Tất cả diễn biến đều không theo ý em, không một chút nào. Đáng lẽ, khi người ấy hỏi em sống ra sao thì em phải nói là em thiếu thốn và mỏi mệt đến nỗi sức khỏe em sa sút lắm rồi, nhưng em lại nói là em bình thường. Trời ơi. Thế mà là bình thường hay sao?
“Em đợi anh một chút!”. Người ấy đi ra khỏi phòng. Em ngước lên tường. Đồng hồ chỉ mười giờ đêm. Giờ này, chắc Hân đã đi ngủ. Em và Hân nếu không phải kỳ thi thì thường đi ngủ vào giờ này.
Nhưng em lại ngồi đây, chơ vơ, như một vị khách bất đắc dĩ. Dường như em đọc được sự miễn cưỡng trong đáy mắt của người ấy khi tiếp em. Nhưng chỉ là dường như thôi, vì cho dù có nhạy cảm đến đâu em cũng không dám tin đó lại là sự thật.
 
(Theo Tiền Phong)
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
CÁI CỚ
Đỗ Thanh Vân
 
Nhìn bó hoa. Lần này, trong ánh nắng xiên từng sợi vàng óng ánh li ti bụi mờ, Trung dường như cảm nhận được mùi hương dịu nhẹ theo gió lan tỏa vào đầu giường. Làn hương ấy hoang hoải quen thuộc khiến Trung thấy nhớ lại những ngày đã qua.
 
Thi thoảng người ta cần một cái cớ
Để tự an ủi rằng mình không cô đơn...
 
Trung thức dậy và nhìn thấy trên mé bàn làm việc gần cửa sổ một bó hoa hồng. Những bông hoa đỏ mịn màng ánh nhung lên trong vạt nắng xế ngày.
Bó hoa đấy là của ai?
Nếu là của Trung, thì ai là người đặt nó lên bàn?
Nếu chị Ba giúp việc là người đặt nó lên bàn, thì ai là người đã ghé qua nhà tặng bó hoa ấy?
Hay cũng có thể, chính người con gái ấy đã xin phép được lên tận phòng Trung, lựa ngay lúc Trung đang ngủ lu bù sau trận nhậu tất niên, lặng lẽ để lại đóa hoa trên bàn, và cũng như lúc đến, lại lặng lẽ ra về.
Trung đăm đăm nhìn. Có lẽ chỉ là dư âm còn sót lại của giấc mơ nhòe nhoẹt đêm qua, nhắm mắt vào lần nữa và mở ra lần nữa, sẽ chẳng còn thấy hoa đâu. Trung nhắm mắt thiếp đi, rồi mở mắt ra. Bó hoa vẫn còn nằm đó, nghiêng nghiêng mềm mại, ánh dưới nắng. Có lẽ là hoa ai đó tặng anh bạn phòng bên, nhưng đưa nhầm sang phòng Trung. Nhưng rõ ràng Trung nằm ngay đó, nếu cô gái nào đó, có vào nhầm phòng, thì ngay lập tức có thể nhận ra và sửa chữa sai lầm ấy.
Hôm nay đâu phải ngày gì đặc biệt? Một ngày cuối năm bình thường hơn cả bình thường. Không phải ngày lễ. Không phải sinh nhật. Mà dù cho có phải đi nữa, chưa ai trong số các cô gái Trung từng quen biết có thói quen tặng hoa cho đàn ông. Hay là của một thằng bạn nào rỗi việc, muốn trêu đùa Trung? Cuối năm thằng nào thằng nấy bận bù đầu, nếu có rảnh thật, có lẽ chúng nó sẽ mua hoa đi tặng bạn gái, thay vì mất thời gian vô bổ với Trung như thế này.
Trung miên man nhìn bó hoa, trong tư thế nằm nghiêng vùi nửa mặt vào gối - chiếc gối mềm nồng mùi rượu và hơi đàn ông rất-riêng-tư, đến độ, chưa có cô gái nào trong đời Trung được phép ngả đầu lên. Toàn thân uể oải dễ chịu, hoàn toàn thả lỏng, có cảm giác rượu đã làm cho máu huyết trong người chảy ngược chảy xuôi dễ dàng hơn. “Anh uống rượu cho nhiều vào. Rồi chết sớm đi cho em nhờ!”, Thanh đã nói với Trung như thế, khi Trung gục đầu xuống bàn, khóc âm thầm đúng kiểu bất lực khi biết chẳng thể níu kéo nổi một thứ tựa tình yêu kéo dài ba năm. Phụ nữ luôn như thế, sâu sắc trong sự giản đơn, Thanh nhìn Trung đầy chán chường, vì thất vọng một người đàn ông đã từng rất mạnh mẽ, lại trở nên say sưa vô độ. Cho đến bây giờ, chẳng còn dịp nào, mà cũng chẳng có lý do nào để Trung nói với Thanh rằng: rượu, cũng như nước mắt, chỉ là một cái cớ để người ta trở nên yếu mềm hơn. Một cái cớ.
Hay là Thanh?
Trung bật cười trước chính suy nghĩ của mình. Thanh có lẽ đã quên Trung lâu rồi. Chưa kể nàng đang sống ở Đà Lạt. Không cô gái nào lặn lội một quãng đường xa chỉ để tặng một bó hồng cho anh chàng người yêu cũ, bây giờ vẫn đang cần mẫn bóc từng ngày lịch của đời độc thân vô lo.
Hay là Thảo? Cô thư ký của văn phòng làm việc ngay ở lầu dưới? Mỗi lần Trung đi ngang qua để lên phòng, Thảo vẫn nhìn Trung cười rất tươi. Hai đứa có đi cà phê đôi ba lần. Song chẳng đâu vào đâu. Nhưng, trong tâm tưởng miên man của mình, Trung tin rằng, chỉ có Thảo là cô gái duy nhất dễ dàng vượt qua được sự “kiểm soát” gắt gao của chị Ba giúp việc vốn tính thẳng ruột ngựa, chẳng nể nang ai bao giờ, để lên phòng Trung mà đặt bó hoa.
Biết đâu cô ấy đã nhìn mình một lúc lâu trước khi rời phòng? Trung thoáng đỏ mặt, thói quen rất phụ nữ ấy, lại khiến bao nhiêu phụ nữ xiêu lòng. Trung chưa bao giờ được nhìn thấy chính mình trong lúc ngủ say, ở một tư thế không thể che giấu sự thiếu thốn tình cảm và thèm khát một thân người nóng ấm, mềm mại, dịu dàng kề bên. Thảo đã nhìn mình như thế thật sao? Trung thấy mặt mình nóng thêm. Từ trước đến giờ, đối với mọi người, Trung bao giờ cũng cố chứng tỏ sự thoải mái phóng khoáng hết sức của cuộc sống đàn ông độc thân, chưa muốn bị ràng dây, cắt cánh; cho đến lúc cô gái nào đó, nhìn thẳng vào Trung trong cơn ngủ mê, thẳng thắn và trơ lộ ra mọi sự yếu đuối bình thường của con người, của tâm hồn, của những ước ao.
Nhưng Thảo không thích hoa hồng. Đã có lần cô nói với Trung: “Hoa hồng chỉ là thứ phù du bên ngoài của tình yêu. Mau tàn và còn hay bị cưỡng ép đông lạnh đến rũ cả cuống!”. Trung chưa bao giờ tranh cãi điều này, với bản tính nhường nhịn vốn có, Trung chỉ cho phép mình tranh cãi về những vấn đề Trung xem là quan trọng, và chỉ với người Trung thương mến.
Nhìn bó hoa. Lần này, trong ánh nắng xiên từng sợi vàng óng ánh li ti bụi mờ, Trung dường như cảm nhận được mùi hương dịu nhẹ theo gió lan tỏa vào đầu giường. Làn hương ấy hoang hoải quen thuộc khiến Trung thấy nhớ lại những ngày đã qua. Cuộc tình ba năm, Trung đã bao lần tặng hoa cho Thanh – bó hoa kết bằng hồng và lan, xen lẫn với lưu ly và lá thủy tùng – tràn ngập yêu thương và lãng đãng giữa một xứ sở lạnh đầy hoa. Những nụ hôn vụng trộm đâu đó bên chái nhà, men bên rừng thông, tan vào trong hơi ấm của sương non. Những khoảnh khắc ôm nhau thật chặt trong tay, tưởng như đôi lứa là điểm ấm áp duy nhất giữa Đà Lạt lạnh và buồn. Lúc ấy, Thanh nói: “Đời em chỉ cần có mình anh!”.
Rời khỏi không gian yêu đương giá lạnh, xuống thành phố phẳng lì trơ trụi toàn cao ốc, “Đời em chỉ cần có mình anh” trở nên lạc lõng và ngại ngần. Ở đây, người ta không yêu nhau vụng trộm bằng những nụ hôn đầy sương và những đóa hoa còn rỉ nhựa đầu cành. Đến khi Trung hoàn toàn ổn định và dứt khoát, nắm chặt đôi tay mềm bé nhỏ của Thanh trong tay mình, nói được lời nói sâu tận cùng của người đàn ông cần tình yêu, và thèm khát một mái ấm thực sự: “Đời anh chỉ cần có mình em!”; thì Thanh, bằng một cử chỉ nhẹ nhàng kiên quyết, rút tay ra: “Đây không phải là Đà Lạt anh biết không?”.
Trung chưa bao giờ thấy hối tiếc vì mình đã xa rời thành phố buồn lặng và thơ mộng đến lạnh lẽo ấy, nhất là, nhờ chuyến đi xa đó, Trung nhìn lại rõ hơn một mối tình quá yểu chẳng đủ sức tồn tại, như gốc cây non, đưa sang nơi khác, lập tức tàn lụi đi ngay. Nhưng thi thoảng, trong cuộc sống bộn bề, hay giữa phố ngày cuối tuần các đôi lứa tay trong tay, Trung vẫn da diết nhớ Thanh. Dù sao, đôi bàn tay của em rất mềm, và đôi môi em rất ấm. Đã có ai nói với em như thế chưa?
Nếu có Thanh ở đây lúc này, nàng sẽ bình thản cười: “Anh thử nhớ xem có cô bé nào thầm thương trộm nhớ anh không?”. Trung dụi đầu lần nữa vào gối chăn, hít thở hương thơm ngan ngát cả căn phòng. Những khuôn mặt con gái lần lượt điểm qua trong trí nhớ. Cái đầu trống hoác đến lạ lẫm. Cô văn thư ở cơ quan, hay cô bé cộng tác viên của nhà xuất bản? Cô bạn học chung lớp tiếng Hoa buổi tối, hay cô bé nào trong câu lạc bộ thơ văn vẫn gặp nhau dăm bữa nửa tháng một lần? Không ấn tượng. Không kỷ niệm. Chỉ là mơ hồ hoài nghi.
Hơi rượu còn nồng váng vất. Trung dứt khoát trở mình đứng dậy, xuống nhà dưới, đem theo đóa hoa, bỏ lại sau lưng cả một gian phòng đang bề bộn xô xệch chăn gối, sách vở.
Chị Ba đang ngồi nhặt rau, nhìn Trung đầy thương cảm: “Hôm qua tưởng chú chết ngoài đường rồi chớ! Về đến nhà là quăng xe lăn đùng ra, chị với thằng Hải phải lôi mãi mới lên được tới phòng”. Trung gượng cười, tay giơ bó hoa ra: “Chị ơi, ai đặt bó hoa này lên phòng em?”. Chị có tật đãng trí, gục gặc đầu: “Chị chớ ai!”. “Vậy ai đến đưa hoa cho em?”. Chị lại gục gặc thêm lúc nữa, điệu bộ khổ sở: “Hình như là một ông chạy xe ôm, đến đưa hoa rồi đi liền hà!”. Trung ngớ người. Chẳng còn thiết ăn uống gì nữa. Trung quay trở lên phòng, mặc kệ chị Ba hớt hải gọi sau lưng: “Không ăn cơm thì chết làm sao. Thằng kia!”.
Nằm trên giường, vắt tay ngang trán, Trung tự rủa mình. Có lẽ độc thân lâu quá nên mắc chứng hoang tưởng về sự đào hoa của mình cũng nên. Trời! Chỉ trong một quãng nằm ườn trên giường, với cảm hứng từ bó hồng chẳng biết nguồn cơn, Trung có thể nhớ đến bao nhiêu cô gái, phần lớn là đã từng quan trọng, hoặc chẳng quan trọng gì trong đời. Một duyên cớ vô nghĩa lý hết sức!
Điện thoại rung nhẹ báo tin nhắn. Hay là... Trung tự dưng thấy mình ngớ ngẩn hết sức khi hồi hộp lần mở tin nhắn. Tin của một thằng bạn ở quê: “Bọn khốn. Hôm nay sinh nhật ta mà chẳng thằng nào thèm nhớ. Chán đời quá!”. Nghĩ thế nào, Trung lại nhảy phốc xuống giường.
“Chị ơi, chị chịu khó nhớ kỹ lại giùm em người đem tặng bó hoa có dặn gì không?”. Chị Ba, vẫn với cung cách gục gặc đến sốt ruột, hết lắc đầu, lại ậm ừ. Độ chừng mươi phút sau, ra chiều vận dụng hết khả năng trí nhớ, chị nói vẻ dè dặt: “Không nhớ chắc, nhưng hình như có nghe người ta nói loáng thoáng... ơ... sinh nhật... hay là du lịch gì đó...”. Mặc chị Ba ngơ ngác, căn vặn: “Có chuyện chi mà chú hỏi rát vậy?”. Trung thử xâu chuỗi lại: thằng bạn, sinh nhật, du lịch, bó hoa... Cũng sau khoảng mươi phút đăm đăm, Trung chợt nhớ ra, trong một lần thằng bạn từ quê lên thành phố chơi, hai đứa đã cùng đăng ký đi tour ở một công ty dịch vụ lữ hành, đăng ký ngày tháng năm sinh, và địa chỉ tại chỗ Trung ở bây giờ. Hôm nay là ngày sinh nhật của nó, công ty áp dụng chiêu bài gửi tặng hoa lấy lòng khách hàng.
Trung ngồi thơ thẩn bên bàn làm việc. Trời đã xế chiều. Nắng và gió nhẹ. Bó hồng dịu dàng lan tỏa mùi hương ngai ngái cuối mùa. Chẳng hít sâu, mà sao bất chợt Trung thèm được thở dài. Phải. Một hơi thật dài. Một cái cớ để tự cười buồn cho kẻ giàu trí tưởng tượng thiếu vắng tình yêu.
 
(Theo Người Lao Động)
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
MÂY RỪNG GIÓ BIỂN
 
Phùng Phương Quý
 
Em ngửa mặt nhìn lên, Thác Bạc như dải lụa trắng lấp lóa thả từ trời cao xuống, nước ào ạt ôm lấy tấm thân con gái mảnh mai. Cuồng nhiệt, dữ dội.
 
Em nghĩ đến vòng tay rắn chắc, bờ ngực vạm vỡ của anh trong lần gặp đầu tiên, làm em suýt ngất vì ấn tượng. Hai bên là núi cao thăm thẳm, đằng sau là vách đá cao vút, vững chắc.
Em dựa lưng vào đá, hai bàn tay nhỏ như tay trẻ lên mười vò nhàu mái tóc mềm của anh. Nụ hôn mát lem như nước đá, quá dài làm em ngộp thở. “Tham thế?”. Em hét to nhưng giọng bị chìm đi bởi tiếng thác nước ầm ầm.
“Em thấy sao?” “Thích lắm! Biết thế này em bỏ biển lên rừng với lão từ lâu rồi”. Cứ phải ghé sát vào tai nhau những lời tâm sự. Em lọt thỏm trong vòng tay anh, cả hai ôm chặt lấy nhau, mặc cho nước từ trên trời xối xả dội xuống. Hai tấm thân nóng dần lên, hầm hập như bị sốt.
Chủ nhật tuần trước, em gọi điện lên rừng. “Rừng thế nào rồi?” “Biển thế nào?” anh chất chưởng hỏi lại. “Biển vẫn sóng gió thế, nhưng mấy hôm nay bị cắt điện, nóng không chịu được”.
“Người bé như cái kẹo nóng gì mà nóng?” “Nóng ở bên trong ấy. Hiểu chưa? Lão tưởng nặng hơn em hai chục kilô mà ghê lắm à? Thường thôi!” “Em bắt chước câu cửa miệng của một nhân vật trong chương trình hài.
Tiếng cười con gái biển phóng khoáng, ào ạt. Hồi đầu mùa hè anh trốn việc xuống biển tìm em. Đây là lần đầu hai đứa hò hẹn. Qua điện thoại thấy giọng em vỡ òa vì mừng, run run vì bất ngờ”. “Lão nói thậy đấy chứ?” “Thật! Anh trốn đi với em đấy”.
“Cố lo tiền xe đò, còn xuống đây đã có em”. “Cô coi thường nhà báo quá. Chẳng lẽ không có quỹ đen?”. “Cả hai nói vậy là tránh nhắc đến một người. Không phải vì sợ mà đều nể phục. Người đàn bà ấy quá hiền lành, chân thật. Đó là vợ anh.
Biển không xanh ngắt, phẳng lặng như hồi cuối năm ngoái. Những con sóng màu trắng đục hăm hở lao vào bờ, xô vào lưng nhau nhảy vọt lên. Em cũng ào đến như một con sóng, đánh đu trên cổ anh.
“Thế nào cô bé. Vẫn nhẹ như sợi bấc thế này à?” “Đúng thế! Đang chết khô, chết héo vì chờ đợi lão đấy!”. Em vẫn gọi anh là lão, có lần anh cự nự, em cười khanh khách. “Gọi lão cho có vẻ người nhà. Lão già! Ha ha ha…! Với lại hơn người ta hai chục tuổi, gọi lão còn oan ức gì?”.
Em kiễng hai bàn chân, cọ cái mũi hếch vào cằm anh. “Ngứa quá! Như là bàn chải giặt”. Vừa dắt tay anh lôi đi em vừa hỏi: “Thích ăn gì em chiêu đãi!” “Rau dưa thôi! Còn để đòi cái khác”. “Giời ơi! Lão đòi ăn rau là chết người rồi đấy.
Hai nghìn một bó rau muống bằng chét tay, đắt hơn cả mực tươi”. “Thế thì ăn cá, tôm gì cũng được. Sao lông mày lại cắt đi thế này?”. Em nhíu mắt nhìn anh, cặp lông mày ngắn không đen rậm như trước nữa. “Tại con Uyên đấy. Nó rủ đi săm lông mày, đau quá nên em bỏ dở”.
“Lông mày để tự nhiên mới đẹp. Sao lại săm?”. Nghe anh hỏi như quát, bàn tay trẻ con che vội cái trán dô bướng bỉnh “Nó bảo phải tỉa bớt, săm cho dài một tí mới đẹp. Em muốn lão nhà báo mê mình hơn”. Anh tát yêu lên má em.
“Dở hơi! Cứ để tự nhiên thế, cấm son phấn tỉa tót gì cả. Lúc nào anh cũng thấy em đẹp!”. “Điêu!”. Em đỏ mặt. Biết mình không đẹp, nhưng nhiều người bảo nhìn lâu thấy em có duyên. Riêng anh, ở với em thời gian mới phát hiện đằng sau cái tính thẳng băng như “mực tàu kẻ chỉ” là tính hay thương người, biết chiều chuộng và khéo lo toan.
Em tự trách mình đã xấu còn hay kén, nên hai lăm, hai sáu tuổi đầu chưa có chồng. Kể ra cũng có mấy đám đến cặp kè, nhưng chỉ dăm bữa, nửa tháng là em bỏ của chạy lấy người. Số em gặp toàn những đám dở hơi hoặc tiểu nhân, không chịu nổi.
Em gặp anh như một định mệnh. Trong hội nghị tổng kết trao giải cho cuộc vận động viết về du lịch biển, anh “tên đàn ông ở rừng” lại đoạt giải nhất. Nghe đọc tên anh, em giật mình vì đã gặp khá nhiều lần trên các trang báo. Đọc những bài phóng sự hấp dẫn ấy, em vẫn khen con mẹ nhà báo nào mà sắc sảo thế. Hóa ra là anh, một đàn ông trung niên.
Khi anh bước lên nhận giải, em bị choáng vì bất ngờ gặp lại một khuôn mặt rất thân thương. Anh cao lớn, chắc đậm. Mái tóc lòa xòa trước trán, cái miệng rộng với nụ cười “chết người”, hai cánh mũi to, cặp mắt trũng sâu mơ ngủ.
Tất cả đều giống in mẹ em. Nếu mẹ là bố, em đã nghi ngờ ngày xưa ông có mối tình nào đó trên rừng. Em cuống lên đến không tự chủ nổi mình, vội giật phắt bó hoa trên tay người ngồi cạnh, chạy lên tặng anh, hấp tấp vướng chân vào dây micro, suýt ngã chúi về phía trước.
Cả hội trường cười ồ. Anh kịp đưa tay ra đỡ. “Bình tĩnh cô bé. Tặng hoa tôi? Cám ơn!”. Lúc tan cuộc em cố chen đi tìm gặp anh. “Xin lỗi anh, em cứ tưởng anh là con gái. Em biết anh từ lâu…
Qua các bài báo ấy mà!”. Câu nhận xét này anh đã nghe nhiều lần. Rất nhiều người đọc báo, tưởng anh là phụ nữ, đến khi gặp mới ngạc nhiên. Đàn ông gì mà tên như tên con gái? Anh chỉ cười “Cha mẹ đặt tên thế mà…”.
Em chẳng biết giải thích thế nào. Chỉ biết sau khi tặng hoa cho anh, em đinh ninh đã gặp được người đàn ông của đời mình và quyết chiếm bằng được. Tính em cực đoan và bảo thủ, muốn làm gì là làm bằng được, không ai ngăn cản nổi.
Trong nhà bố còn ngại đối đầu với em cơ mà. Các anh chị thì gọi em là “công nông đầu ngang”. Em hợp với mẹ hơn bởi mẹ biết an ủi, chiều chuộng mà tính em lại thích được chiều. Mẹ bị bệnh ung thư mất ba năm nay.
Lúc sắp đi, mẹ còn cố giơ bàn tay khô gầy vuốt mái tóc ngắn ngủ của em. “Thương… quá! Mãi… con chẳng… lấy chồng”. Mẹ mất, em như phát điên, đến không nhỏ nổi một giọt nước mắt. Nên nhìn thấy anh là lòng em nhói lên nỗi nhớ mẹ.
Ba tháng sau lần gặp ấy, em liên tục điện cho anh. Cả hai trò chuyện, tâm sự và quyết định yêu nhau trên máy điện thoại. Con gái miền biển “ăn sóng, nói gió”, lúc nào cũng ào ào, nên làm anh ngại. Lần ấy qua điện thoại giọng em chợt mềm như gió thu: “Anh! Đừng lẩn tránh nữa. Em yêu anh!”.
Đầu dây phía rừng lặng đi một lúc, làm em hốt hoảng, gào lên: “Anh còn nghe em nói không đấy?”. Tiếng anh luống cuống: “Còn… còn! Sao em liều thế? Em đã hiểu gì anh đâu…”.
“Hiểu rồi! Một vợ hai con. Vợ trước là công nhân dệt, không hợp nhau nên ly dị, vợ hai là giáo viên. Hồi còn ở lính anh hay lý sự với cấp trên nên bị kỷ luật hạ hai cấp liền. Đủ chưa?”.
Anh cáu: “Biết thế còn đâm mặt vào?”. “Này nhà báo ăn nói hơi mất lịch sự đấy. Em chấp nhận vì thấy chẳng tên đàn ông nào bằng anh. Tiếc rằng gặp anh muộn quá, không anh đã là của riêng em rồi!”. “Đừng liên thiên cô ạ. Lúc tôi lấy vợ, khéo cô còn chưa đẻ!”.
“Thì bây giờ em lớn rồi. Anh! Thế nào?”. Lúc làm nũng em hay kéo dài tiếng gọi anh, thật dễ mềm lòng. “Anh rất quý em, nhưng yêu thì tuổi tác chênh lệch quá”. “Mặc kệ! Không yêu em nhảy xuống biển chết luôn đây này”. “Được rồi, không phải liều thế. Đã yêu, khổ cố mà chịu”. Em reo lên như hát: Ô kê!
Bố em sắp về hưu, nghe đâu cụ còn định lấy vợ. Em chẳng có ý kiến gì, còn các anh chị thì làm loạn cả nhà lên. Bố buồn, em biết thế nên rất thương ông, nhưng tính em khắc bố, ngồi nói chuyện ba câu, sáu điều là hai bố con lại vùng vằng.
Em lo bố và anh khó tiếp xúc, hòa hợp. Dễ ai chấp nhận cho con gái mình yêu một người đàn ông đã có vợ và lớn gấp đôi tuổi. Nhưng em mừng vì hai người đàn ông của mình thân thiện với nhau đến không ngờ.
Bố nói với anh: “Con bé này tính ngang bướng, nhưng đã yêu quý ai thì tin tưởng người ấy lắm. Anh cố giúp em trong mọi việc sao cho thuận tình, hợp lý”.
Anh là người từng trải, nghe thế là biết bố dặn dò bên trong rất nhiều. Em rủ anh ra thăm mẹ. Hàng dương vi vút gió, cát trắng rắc lấp lánh trên mộ mẹ như dát bạc. Chiều nhuộm vàng rực chân trời biển, phản quang lên bó hoa cúc vàng anh đặt lên nấm mộ nhỏ.
Khói hương bay quẩn lên làm cay khóe mắt. Anh nghĩ gì? Chắc chỉ vong linh mẹ hiểu. Trong căn nhà nhỏ của em trên bàn chỉ có chiếc máy vi tính và điện thoại, phía trên treo ảnh nhỏ lồng khung gỗ thông.
Mẹ để lại nhiều di ảnh nhưng em chỉ chọn tấm ảnh này. mẹ đứng trước biển, vai khoác túi nhỏ, mắt đăm đăm nhìn về phía bờ. Lần xem ảnh đầu tiên, anh đã có cảm giác đôi mắt trong ảnh đầy yêu thương, lưu luyến của một người sắp từ giã cõi đời để bước xuống, đi sâu vào lòng biển.
Em xin bố căn nhà nhỏ này vì thích tự lập không muốn ở chung với các anh chị. Em là kẻ lập dị phải không? Em muốn được tự do. Anh đã sống trong căn nhà ấy ba ngày, hai đêm và được em chăm sóc như ông hoàng.
Mỗi ngày một lần gội đầu, mỗi lần cả nửa giờ, hai bàn tay trẻ con cào gãi mãi sắp bật máu da đầu anh. Ba ngày hai lần sửa móng tay, cắt móng chân. Ba ngày ba lần giặt quần áo, là ủi, kể cả quần áo lót. Hết việc em đè ngửa anh ra nhổ râu.
Ngày thứ ba em bỗng ngồi thừ, rồi bật khóc. Anh sạch sẽ nhẵn nhụi từ đầu đến chân em chẳng biết làm gì để chăm sóc anh nữa. Anh hiền lành “Thì ôm anh mà ngủ” em lăn vào anh, nhạt nhòa nước mắt “Anh! Yêu em đi”.
Lúc đưa anh chiếc ba lô, em dặn đi dặn lại. “Về nhớ giữ gìn sức khỏe. Không được tệ bạc với vợ con”. Có lần anh đã nói với em rằng anh rất yêu vợ con. Vợ anh là người đàn bà tuyệt vời thượng đế đã ban tặng cho anh. Anh yêu em nhưng không thể bỏ gia đình. Em đỏ hoe mắt.
“Thế mới là người đàn ông chân chính anh ạ. Em càng yêu anh hơn. Anh còn hơn khối thằng đàn ông, cứ gặp gái là nhem nhẻm chê bai vợ. Nghề du lịch của em tiếp xúc với bao nhiêu hạng người, loại người, nên em quý trọng tính thật thà, hơi quê mùa của anh”.
Không phải tại sự cố mất điện một tuần mà em đòi lên rừng. Biển vẫn lồng lộng gió, nhưng lòng em thì khô khát vì nhớ. Nên khi anh nói đùa: “Mất điện lên rừng mà ở”. Em vồ ngay lấy. “Thứ 6 em lên!”. Máy phía biển cúp luôn làm anh không kịp dặn dò, hỏi han.
Em không kìm lòng được, ôm choàng lấy anh ở ngay bến xe, phì cười vì một bà già ca cẩm. “Hai người này lãng mạn quá”. Mấy tháng không gặp, thấy anh đen hơn, râu tóc lởm chởm. “Sao lão ăn mặc nhếch nhác thế này?”. Em nhăn nhó.
Anh cười trừ. Từ đầu tháng tới giờ suốt ngày lông nhông xe máy ngoài trời, chạy bài cho kịp ngày Nhà báo Việt Nam 21/6, chẳng nhếch nhác mới là cái lạ. Về nhà anh đã nhé? Em cũng muốn biết nhà anh nhưng ngại quá, biết nói với chị ấy thế nào? Anh trấn an.
“Cánh nhà báo nữ tuần nào chả ăn chực cơm nhà anh”. Em ngỡ ngàng trước khung cảnh rừng núi quê anh. Rừng vây xung quanh xanh thẫm bàng bạc. Em như chim chích lạc giữa đại ngàn, lạc giữa cảnh đầm ấm gia đình anh. Những đứa con anh đứa nào cũng ngoan, cũng xinh, làm em ao ước.
Đúng như anh đã kể, vợ anh hiền và thông minh. Anh giới thiệu: “Cô Huệ mới ở báo N về công tác”. ánh mắt người đàn bà thật bao dung: “Tôi cũng đoán thế. Các cô nhà báo tỉnh tôi đều biết mặt”.
Bữa cơm nhà anh lúc đầu thì vui, sau em cảm thấy bức bối, ngẹn đắng vì mình không phải là người được chăm sóc anh. Ôi! Lòng dạ đàn bà, ghen tuông là vốn dĩ. Em kẻ đến sau mà còn ghen ngược. Cảm giác ấy làm máu dồn lên mặt, em muốn vùng dậy bỏ đi.
Chiều ấy, mãi khi đến khu thác Bạc, ở với anh trong nhà nghỉ xuyềnh xoàng, lòng em mới nhẹ đi phần nào. Em lại cuốn vào anh, ngấu nghiến như trả thù. Cảm giác ở rừng như được che chở, bao bọc, còn ở biển, đêm đêm tiếng sóng rì rầm, thúc giục.
Biển lúc nào cũng lộng gió mằn mặn. Rừng phảng phất mây phủ và ngan ngát hương cây lá. Nửa đêm em choàng dậy bởi tiếng chim lạc bầy. “Anh! Mình ở rừng hay ở biển?”.
Em dán mắt vào khuôn mặt mệt mỏi của anh qua ánh đèn ngủ nhợt nhạt. “Thế em thích ở đâu?”. “Em thích ở rừng!”. “Còn anh lại thích biển”. Em thở dài: “Khỉ ạ! Thế thì mùa hè lão xuống biển với em. Mùa đông em lên rừng với lão. Đêm rừng có bếp củi gỗ cháy rừng rực, thích lắm”.
“Em có buồn không?”. “Chẳng việc gì phải buồn! Có anh là em hạnh phúc. Trời cho đến đâu em nhận đến đấy. Có thể lúc nào đấy, em sẽ lấy chồng, lấy ai cũng được, cho xong trách nhiệm với gia đình”.
Anh đau nhói trong lòng. “Anh thương em lắm. Hay là chúng mình…”. “Không! Thế là đủ rồi anh ạ! Em muốn có một đứa con với anh, nhưng… thôi! Trời ơi! Cái lão này! Sao em lại yêu anh cơ chứ?”.
Mấy ngày cuối tháng, anh vươn vai thở phào. Tờ giấy ghi chi chít những đề mục đã bị gạch bỏ hết. Một tuần làm việc hiệu quả. Nỗi nhớ biển bất thần ập đến như cơn sóng thần. Anh quyết định vượt hơn ba trăm cây số xuống biển.
Náo nức, bồn chồn, mới đi được hơn trăm cây số mà gió đã mang vị mặn của biển, thoang thoảng lùa vào xe. Hôm nào trên bãi biển môi em cũng có vị mặn chát, sau thì mặn ngọt giống vị kẹo bimbim. Vị mặn ngọt ấy thấm lâu, đến khi em nhắm mắt, môi dưới trễ xuống như sắp khóc.
Đó là lúc sóng lòng em cuồn cuộn đòi yêu. Lần này sẽ là sự bất ngờ. Anh tưởng tượng khi anh gõ cửa, em hiện ra với bộ mặt hoảng hốt, hay ngơ ngác? Từ bến xe đến nhà em những 8 cây số, đành phải đi xe ôm thôi. Không nén được sự sốt ruột, anh bấm máy.
Có giọng đàn ông trả lời ở đầu dây: “Xin lỗi! Có phải số máy nhà cô Huệ, công ty du lịch?”. “Đúng rồi! Anh là ai?”. Anh vội tắt máy, mắt tối sầm. Tạt vào một quán nước, anh ngửa cổ tu một hơi chai bia lạnh vỏ màu xanh, không kịp nhìn xem là hãng bia nào.
Bia lạnh làm anh trấn tĩnh lại. Nếu đó là bố em? Hay anh trai? Thế thì vào đó không tiện chút nào. Gọi vào số di động, tiếng em như hát: “Lão gia à? Có khỏe không? Nhớ biển à! Thì xuống đây, em đang bận không lên rừng được. Sao? Xuống rồi à?
Anh đang ở đâu? Giời ạ! Sao không báo trước. Em đang dẫn khách ra đảo mai mới về được. Anh về nhà trước đi, chờ em”. Anh dè dặt: “Có ai đó đang ở trong nhà”. “à! Quên mất. Anh bạn em mới ở Thanh Hóa ra. Hai anh em làm quen với nhau trước đi nhé! Anh ấy cũng hay lắm”.
Anh tắt máy, quay ra hỏi một người xe ôm “Chiều nay có xe ngược không?”. “Có sếp ạ! 3 giờ xe chạy, sếp có ra bến em chở”. Nhìn đồng hồ còn nửa giờ nữa, anh ngồi lên yên xe, không hỏi giá.
Hôm sau, em gọi điện lên rừng. Giọng gay gắt “Tại sao anh không chờ em?”. “Điều đó cô còn phải hỏi”. Em kêu lên. “Đàn ông các người ích kỷ quá. Đấy là anh bạn thân hồi đại học mới lên ở nhờ nửa tháng nay, gia đình có chuyện chẳng hợp nhau, anh ấy ra tìm việc làm. Anh ghen à?”.
Lại một câu hỏi xóc óc. Anh càng giận sôi lên khi em tỉnh queo rằng nửa tháng nay anh bạn ăn nghỉ tại nhà cùng em. Hai người bạn thân khác giới lại ở chung dưới một mái nhà. Không nói thì ai cũng có thể nghĩ ra đủ thứ chuyện. “Anh đừng nghĩ linh tinh, bọn em chỉ là bạn.
Ngày trước cũng định yêu nhưng không hợp. Bây giờ người ta hoạn nạn em phải giúp chứ?”. Thật là… đến nói dối cũng không biết nữa, cứ tông tốc thế “Giúp đỡ gì? Em có là kẻ bệnh hoạn không đấy?”. Máy phía biển dập mạnh, như lời nguyền rủa đập vào màng nhĩ.
Chuyện không đâu vào đâu làm cả hai mất ăn mất ngủ. Anh cảm thấy mình bị xỏ mũi, những bức thư qua điện thoại di động gửi cho em toàn những lời ngoa ngoắt, thậm tệ như một mụ đàn bà lắm lời, lăng loàn. Em sinh ra bẳn gắt, nặng tay, nặng chân làm anh bạn ở nhờ hốt hoảng, không dám nói to.
Một tháng tự hành hạ và tra tấn tinh thần lẫn nhau, anh lăn ra ốm. Thôi. Cắt đứt. Ai bảo ham gái trẻ, nó cho leo cây nhục chưa? Em đột ngột xuất hiện, một túi quà và thuốc bổ. Em biết anh ốm qua một người bạn.
Bàn tay nhỏ bé mát rượi xoa nhẹ trên trán anh đang nóng hầm hập “Anh! Đừng giận em nữa. Em biết mình sai rồi”. Anh nắm bàn tay trẻ con khóe mắt rớm ướt. Một tuần sau anh khỏi ốm. Cú điện thoại sau hơn một tháng giận dỗi.
“Dạ”, “Anh bạn của em có việc làm chưa?” “Cũng sắp rồi anh ạ. Em chạy đôn, chạy đáo mãi mới tìm được công việc thích hợp cho anh ấy”. “Thế hai người vẫn ở chung à?” “Vâng!”. Anh phũ phàng dập máy. Thôi không cố đấm ăn xôi nữa. Cô ấy có quyền như thế. Mình đi lạc vào thế giới của cô ấy bấy nhiêu đủ rồi.
Lại mất mấy ngày buồn bực, thơ thẩn. Vợ anh ý tứ “Khéo lại nhớ cô em gái dưới biển rồi. Không phải nhà báo hả, chẳng thấy nói chuyện bài vở như các cô nhà báo trên này, chỉ chăm chăm nhìn anh… Nhớ thì đi thăm!”. Anh phát cáu, ném vèo điếu thuốc ra sân.
Nửa đêm điện thoại rung bần bật, màn hình hiện lên tên Huệ. Anh tắt máy. Nửa phút sau điện thoại lại rung. Lại tắt. Chiếc máy còn vật vã rung lên mấy lần nữa. Cuối cùng là hai tiếng tít tít mệt mỏi của tin nhắn. Anh cũng không chịu đựng nổi nữa, mở máy đọc tin.
Từng dòng chữ điện tử chạy ròng như nước mắt em. “Bao nhiêu thời gian bên nhau anh không hiểu em sao? Chưa ai dám sỉ nhục, hành hạ em như thế. Em tha thứ vì vẫn yêu anh, nhưng em biết mình không giữ được anh. Vĩnh biệt anh yêu. Nếu nhớ biển anh cứ về nhé, dù không có em”.
 
(Theo Tiền Phong)
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
NGÀY NGẮN
Nguyên Hương
 
Tối thứ tư nào cũng đầy tiếng thì thầm và âm thanh lào xào tới khuya. Khiếm thị đã đành, cả với khiếm thính cũng vậy, cô Huyên quản lý bất chợt bật điện sáng choang, những cánh tay cẳng chân đang thò qua thò lại giữa hai cái giường gần nhau vội rụt về.
 
Còn khiếm thị thì vụt ngậm miệng không phải vì tiếng “cắc” cáu kỉnh của cái công tắc mà là ngạc nhiên trước sự im bặt đột ngột của những lào xào gây nên bởi khiếm thính.
Cô Huyên đặt tên cho tối thứ tư là Vô Kỷ Luật. Để rồi tối kế tiếp có tên là Câm Như Hến vì bọn nhỏ ngủ say như chết, những đứa có thói quen đi tiểu đêm cũng nằm ngay đơ một mạch tới sáng bạch và không ai khác là cô Huyên phải kiêm thêm việc giặt giũ phơi phóng mền chiếu, tất nhiên, cả việc lau gầm giường.
Thầy Dương phản đối hai cái tên xấu xí lồ lộ sự phê phán bằng giải thích lý do cho tối thứ tư là cảm giác tuyệt vời của chờ đợi bồn chồn, là nôn nao sợ mất (lỡ mà mưa)... Còn giấc ngủ ngon lành của tối thứ năm là cảm giác bình yên tuyệt đối của niềm hân hoan được toại nguyện.
Khả năng diễn đạt những câu văn vẻ bằng giọng tiếu lâm của thầy Dương trong tình huống này không làm cho cô Huyên phì cười, ngược lại, cô Huyên hăm dọa là nếu cứ tình trạng này tái diễn hoài thì sẽ đề nghị hiệu trưởng cho học môn định hướng tại trường.
Lời hăm dọa hiệu nghiệm ngay lập tức, không phải với thầy Dương mà là với bọn nhỏ. Tối thứ tư kế tiếp, tất cả nằm im phăng phắc như mỗi đứa là một khúc gỗ. Điều đáng kể ra đây là cô Huyên cũng không hài lòng trước sự im phăng phắc này! Cô cảm thấy không ổn! Và vậy là cô bỗng bật điện sáng choang, nhìn quanh. Những cánh tay những cẳng chân song song xuôi theo thân người thẳng tưng, những cái miệng mím chặt cứng. Có nhúc nhích chăng là mi mắt hơi rung rung nhưng có thể thấy rõ sự cố gắng hết mức để chỉ giữ cho mi mắt ở độ rung đó thôi chứ không mở bùng ra.
- Có muốn nói cái gì thì nói quách ra đi - Cô Huyên la lên – Cho phép nói năng mười lăm phút.
Kết quả là sáng hôm sau ông bảo vệ kể lại cho mọi người nghe thành ra “Nửa đêm tự nhiên nghe cô Huyên la lên cho phép mười lăm phút”. Cả trường được một mẻ cười nắc nẻ.
* * *
Quảng trường rộng mênh mông. Thầy Dương vui vẻ thông báo sau tiếng huýt gió lảnh lót “Không có chướng ngại vật nào cả”. Vậy là vừa đi vừa chạy vừa dang thẳng hai tay ngửa mặt hứng gió lộng tưởng tượng mình là con diều sắp bay bổng lên trời. Rồi “bùm” một cái – hai con diều húc vào nhau lăn uỳnh ra cỏ. Tiếng cười của thầy Dương hì hì vang lên “Gãy cái răng nào chưa?”. Những ngón tay rờ mó vô miệng “ Chưa chưa chưa thầy ơi”... Những cái miệng nhe răng khoe đủ rồi lại tiếp tục, lần này là làm máy bay.
Tiếng rú động cơ làm những cơ quan lân cận thò đầu nhìn qua cửa kính. Thầy Dương nhìn quanh, tư thế chờ đợi một ông bảo vệ mặt mũi hầm hừ xuất hiện. Tất nhiên khiếm thị không hề hay biết nỗi lo lắng của thầy, ngay cả những đứa câm điếc tò mò quan sát ánh mắt đảo quanh chờ đợi của thầy cũng với một suy luận không dính dáng gì tới an ninh trật tự, chúng há miệng vui vẻ chỉ tay khi xe kem leng keng xuất hiện, làm như là thừa biết sự đảo quanh của thầy Dương chỉ là chờ đợi xe kem này.
Những cái máy bay mồ hôi mồ kê nhễ nhại hét vang “Được ăn kem hả thầy?”. Ông bán kem tươi hẳn nét mặt khi nhìn số lượng con nít hùng hậu trên bãi cỏ. Rồi khi đến gần, nét mặt ông chuyển qua thương cảm. Và khi tính tiền, ông nói “Tôi lấy một nửa thôi”. Thầy Dương khoát tay, móc hết túi trên túi dưới cương quyết bắt ông bán kem nhận đủ. Muốn làm từ thiện xin mời tới trường gặp cô quản lý, còn đây, đã gọi mua thì phải trả. Bọn học trò chia làm hai phe, bên này tiếc hùi hụi nếu thầy... thì mỗi đứa đã được ăn thêm một ly kem nữa, cái ly bằng bánh nướng le lưỡi liếm sạch kem rồi mới gặm tới mà vẫn còn giòn rụm. Phe kia thì chợt ngẩng cao đầu ưỡn ngực, cảm giác của sự kiêu hãnh cũng làm mát lòng chẳng kém gì kem.
Hết buổi, thầy dắt trò về lại trường. Cô Huyên đứng trước cổng, cái mũ trên đầu cô nhấp nhỏm. Cô đếm từng đứa đi qua cổng, ánh mắt cô xuyên qua lớp vải áo quần lấm lem như xem có trầy trụa thương tích nào không, tới đứa cuối cùng vẫn hùng dũng thẳng người giậm mạnh chân bước cô mới thở phào nhẹ nhõm cùng với cái liếc đủ cho thầy Dương hiểu là từ lúc thầy dắt bọn nhỏ đi là trái tim cô đập bum bum cho tới bây giờ mới trở lại bình thường được. Ánh mắt cô Huyên nhìn thầy Dương là như với cái tính liều mạng của thầy thì ai biết điều gì sẽ xảy ra? (Có khi là đã xảy ra rồi cũng nên!)
Tối, cô Huyên thoáng thoáng thấy mùi dầu cù là trong không khí. Bật điện lên, định là bắt quả tang một vết bầm tím đang được xức dầu, nhưng cô chỉ thấy những thân hình đang trong giấc ngủ ngon lành, có cái miệng còn hé cười. Cô nhìn quanh, mùi dầu cù là ở đâu ra? Ở sau cửa sổ! Khuôn mặt thầy Dương nhô lên, ngón tay trỏ đang quệt qua mũi và cái cười toét miệng khiến cô Huyên định làm mặt nghiêm mà lại là chợt bật cười theo.
Nhưng có lúc không thể cười nổi. Như thứ năm tuần trước theo lịch là đi hoa viên. Cái hồ phun nước nằm chình ình ngay chính giữa. Nguy hiểm sát sườn. Đã dặn dò là chia đôi hoa viên ra, cho bọn nhỏ chơi hẳn một bên thôi, bên nào cũng được, miễn là đừng có đi qua đi lại ngang cái hồ. Vậy mà rồi bài tập làm văn tả hoa viên đầy những câu “... Em rất thích tượng đài nằm giữa hồ, sờ tay thấy lạnh như kem...”, rùng rợn hơn còn có câu “Chúng em chia thành từng đôi, bạn khiếm thính cầm tay bạn khiếm thị dắt đi trên những cây cầu bắc ngang mặt hồ, thầy bảo chúng em thả dép ra đi chân không để biết cảm giác cái cầu bằng đá ra làm sao. Nước phun ướt chân rất thích...”. Chưa đọc hết, cô Huyên đã muốn tụt huyết áp luôn.
Thế nào cũng có ngày trường mình bị mắng vốn, nếu không phải là người ngoài thì cũng là chính phụ huynh học sinh. Đề nghị hiệu trưởng giao môn học định hướng cho người khác thì mới yên tâm được.
Có điều, không phải ai cũng đủ sức nhận dạy môn học này. Dắt các em từ lớp đi ra cổng trường là chuyện cô thầy nào cũng làm được. Còn từ cổng trường bước ra vỉa hè là bắt đầu cuộc phiêu lưu. Đường sá thay đổi từng ngày, xe cộ tăng theo cấp số nhân, bàn ghế quán xá bày đầy vỉa hè, những cậu học trò nghịch ngợm thả hai tay cho chiếc xe đạp lao như xiếc... Nhưng mài giũa lòng can đảm còn nằm ở chỗ khác - ánh mắt nhìn của mọi người, những câu hỏi tò mò thốt lên bằng giọng thương cảm hồn nhiên luôn bắt đầu và kết thúc ở hai tiếng “tội nghiệp”.
Và động tác móc tiền ra... Cái động tác này quen thuộc đến nỗi mà mỗi khi nghe thầy Dương nói: “Dạ cám ơn bác, dạ không... bác đừng...” là bọn nhỏ đồng loạt tặc lưỡi. Thầy Dương nói: “Nào, các vận động viên thân mến, chúng ta bắt đầu cuộc thi ma-ra-tông”. Những cặp chân yếu ớt vì thiếu hoạt động chợt mạnh mẽ hẳn lên, khiếm thính cầm tay khiếm thị, từng cặp dìu nhau chạy lúp xúp nhanh dần, những cửa hàng bánh kẹo lùi lại, những quầy hàng đồ chơi lùi lại, trước mặt là gió mát rượi mơn man.
Người trên đường khoan dung nhường đường, lúng túng dừng lại, cau mày chậm lại... Không đứa khiếm thính nào tỏ ra là có chú ý tới đèn đỏ. Thầy Dương hét lên: “Dừng lại”. Khiếm thị níu tay khiếm thính, nhưng theo quán tính, những cặp chân quá đà thêm mấy bước rồi mới hổn hển dừng lại. Chú công an thổi còi “roét”. Bọn nhỏ cười khoái trá trong nỗi sợ hãi thích thú thấy mình cũng bình đẳng như ai.
Không ai thay thế được. Nên thầy Dương tiếp tục dạy môn định hướng vào sáng thứ năm. Và lũ trẻ vẫn thích môn học này nhất trong tất cả.
Cô Huyên ngạc nhiên cực độ trước sự im lặng đáng gọi bất thường của tối Vô Kỷ Luật. Ngay cả những đứa luôn tìm ra lý do chính đáng để gây mất trật tự kiểu như “Cô ơi em bị muỗi cắn, cho em xức dầu”, rồi chứng minh lời mình nói là hoàn toàn đúng bằng cách ra sức gãi rột rột khiến cơn ngứa ngay lập tức lây lan từ giường này qua giường kia và khắp phòng.
Cô Huyên không bật điện vì tiếng “cắc” của cái công tắc sẽ đánh động làm mất hiện trường. Cô thả dép, đi như lướt, chăm chú lắng nghe. Im lìm. Không cả sột soạt trở mình. Cô Huyên lo lắng sờ tay lên trán từng đứa, không dấu hiệu của đau ốm. Là cái quái gì đây? Hay đoàn từ thiện đến thăm chiều nay nói năng hớ hênh gì đó khiến tủi thân? Tủi thân thường kèm theo nước mắt. Không có nước mắt, rờ má, cô không thấy điều này. Vậy thì vì cái gì?
Sáng ra, càng ngạc nhiên hơn. Mọi hôm thì cái tên của địa điểm thực hành môn định hướng sẽ được nhắc tới như một câu thần chú nở ra vô số niềm hứng khởi. Nhưng hôm nay, tuyệt nhiên không.
Cô Huyên nhìn lên lịch, là quảng trường. Bọn nhỏ đã chán nơi này rồi? Những bài tập làm văn giống nhau “Quảng trường rất rộng và cỏ dày êm nên chúng em té lăn không bị đau...”, thêm được một câu “... Em chụp được con dế gáy rét rét...”... và “Em rất thích ăn kem”.
Như thường lệ, cô Huyên nhắc nhở bọn nhỏ đội mũ và đưa thầy Dương hộp dầu cù là chuyên trị hậu quả của côn trùng ẩn nấp trong cỏ. Rồi với niềm thông hiểu sâu xa, cô dịu dàng xoa đầu những đứa gần nhất “Đi chơi vui vẻ nha”. Kín đáo, cô nhét vô tay thầy Dương mấy tờ giấy bạc “Để mua kẹo”. Lẽ ra phải là nụ cười rộng miệng, nhưng không, thầy Dương vừa đủ lịch sự “Cám ơn cô”.
Cô Huyên nhìn theo đoàn rồng rắn hàng hai một câm điếc một mù cầm tay nhau từ từ đi ra cổng trường. Mọi hôm thì vừa đi vừa nhảy. Hôm nay, cả thầy lẫn trò?
Chiều, thầy trò dắt nhau về, vẫn sự lặng lẽ khuôn phép khiến cô Huyên thấy bất an kinh khủng. Cho tới giờ ngủ thì cô Huyên không chịu nổi nữa.
- Các em ngủ yên, cô lên văn phòng có việc đây.
Cô bước mạnh, biết tiếng chân mình sẽ được những vành tai vểnh lên lắng nghe. Rồi cô cởi dép ra, êm ru ngược lại.
Y như rằng, tiếng rúc rích to dần và rồi thì nhao nhao.
- Hội chợ vui dễ sợ.
- Ừ. Quay hướng nào cũng đụng người là người. Một ông mang giày đạp chân tớ đau điếng luôn. Cái ông đó chắc là mập lắm, tớ tưởng như trời sụp.
- Tớ cũng bị, nhưng là một bà. Bà đó đã hôi nách mà còn hung dữ nữa.
- May mà thầy Dương chụp tay bà đó kịp chứ không thì tớ lủng đầu rồi.
- Nhưng sau đó thì bà cho tiền, tớ nghe sột soạt đếm nhiều tờ.
- Mà tại thầy Dương không lấy...
- Cái chỗ ẩm thực nhiều mùi thơm ơi là thơm.
- Mà hội chợ giăng nhiều dây quá, tớ bị vấp mấy sợi luôn.
- Tớ cũng vấp.
- Tớ cũng vậy.
- Tớ vấp ngay cái cọc, tí nữa thì lủng bụng.
- Tớ gọi thầy Dương mà thầy không nghe, đến khi tớ bị té thầy mới nhìn thấy mà xức dầu cho tớ.
- Bọn câm điếc phóng phi tiêu được giải gì vậy?
- Mấy lon nước tăng lực.
- Tưởng gì. Nước tăng lực cũng được uống miễn phí mà.
- Cậu có uống cà phê không?
- Có. Nhưng mà đắng quá, chẳng thích.
- Tớ thích cà phê đá.
 - Ờ, tớ uống hai ly luôn.
Mà sao người ta chỉ miễn phí đồ uống chứ không miễn phí thức ăn há?
Cô Huyên đứng như trời trồng ngay ngoài cửa. Hóa ra là hội chợ. Mấy hôm nay ti vi liên tục đưa tin ngày khai mạc bán rẻ từ mười đến hai mươi lăm phần trăm và miễn phí hoàn toàn các loại nước giải khát. Hội chợ, cái nơi mà người bình thường cũng chen lấn mướt mồ hôi mới khỏi bị chết ngộp và âm thanh hết công suất của những cái loa quảng cáo dụ dỗ xài tiền, chưa kể vô số dây nhợ dựng lều lán giăng dọc ngang mặt đất và lưng chừng trời.
Ra vậy, cái sự nín thin thít là vì dắt nhau đi tới chỗ biết chắc sẽ bị nghiêm cấm. Ứ lên trong cô Huyên nỗi tức tối của người bị lừa phỉnh. Cô nhớ lại mình đã mềm lòng, thậm chí là tối qua ngủ không được, đã tưởng tượng đủ điều, đã dúi tiền vô tay thầy Dương để mua kẹo dù cho con nít ăn kẹo chỉ tổ hư răng. Bừng bừng phẫn nộ, cô đi qua phòng nam. Thầy giáo trực ngáp dài “Sao tối này tụi nó không đứa nào chịu ngủ, cứ lăn qua lăn lại rồi xin đi tè hoài à”. May mà chỉ miễn phí nước thôi đó! Thầy giáo trực ngạc nhiên, nhất thời chưa kịp hiểu cô Huyên nói gì. Cà phê và nước tăng lực dành cho tài xế chạy đường trường ban đêm. Trời ơi là trời. Ai xếp hai thứ này vào danh mục nước giải khát?
Cô Huyên hầm hầm đi lên văn phòng, nhấn số điện thoại bằng những ngón tay giận dữ. Bên kia đầu dây là giọng ồ ồ nghèn nghẹt “Dương không có nhà. Cô tên gì để sáng mai Dương về tôi sẽ nói lại?”. Cô Huyên dằn ống nghe xuống kêu “cốp”, cơn giận là không thể tả. Cô chắc chắn chính là thầy Dương vừa cầm ống nghe vừa bịt mũi trả lời. Phải chi mà độp ngay mấy câu. Biết chắc chắn đó là kẻ mình đang tìm mà không dám độp, càng tức thêm. Được rồi. Lần này là lần cuối cùng. Đừng hòng nữa.
Suốt đêm, cô Huyên không ngủ được. Vì vậy, và vì bọn nhỏ thay nhau đi tè. Giường của cô ngoài cùng, mỗi đứa đi ngang đá vô chân giường một cái. Khiếm thính sợ ma, cố tình khua chốt cửa. Khiếm thị không thấy ma nên không sợ, thì sự mò mẫm cũng làm chốt cửa lách cách. Lẽ ra là Câm Như Hến thì liên tục lách cách đi ra và lách cách đi vô. Không kìm nổi nữa, cô Huyên quát lên “Hội chợ có cái gì mà đi hoài vậy hả?”.
Phạm nhân trong cơn nửa ngủ nửa thức, buột miệng:
- Dạ mới đi lần đầu tiên à cô.
Trả lời xong, giật mình, tỉnh ngủ hẳn.
***
Sáng hôm sau, cô Huyên ngủ gục trên lớp. Thật không thể tin. Giờ giải lao, cô gục xuống bàn, mười lăm phút trôi qua, bọn nhỏ vô lớp và nghe tiếng thở đều đều của cô giáo khét tiếng nguyên tắc.
Cũng phải thôi, mất ngủ liền hai đêm và tinh thần rơi từ cực này qua cực khác, gỗ đá cũng phải mềm. Nhưng điều này thì về sau mọi người mới hiểu. Còn ngay lúc đó, việc cần làm ngay là gọi điện thoại thầy Dương đến dạy thay cho cô Huyên bị nhức đầu.
Nghe nói gọi thầy Dương đến, cô Huyên tỉnh hẳn. Cứ như cô ngủ gục là để thầy Dương phải có mặt ngay sáng hôm nay. Cô vuốt mặt, cột lại tóc, sẵn sàng tư thế công tố viên.
Thầy Dương xuất hiện, tóc rối, thở phò phò... Dáng vẻ cho biết thầy vội vàng phóng đi ngay khi nhận điện. Túi áo thò ra tuýp thuốc sủi, tay ôm trái bưởi to tướng.
- Huyên uống C sủi, rồi ăn bưởi. May là ngày mai cuối tuần rồi. Nghỉ ngơi hai ngày Huyên sẽ khỏe thôi mà.
Cô Huyên rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Biết phạm nhân đang chớp cơn mệt mỏi của mình như một cơ hội để chuộc lỗi, nhưng dù sao thì...
Cô Huyên bặm miệng, ngay lập tức, thầy Dương toét miệng cười, cướp lời:
- Người ta nói ăn bưởi còn đẹp da nữa đó.
Cô Huyên phì cười.
 
(Theo Người Lao Động)
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
CHOPIN VÀ CON MÈO
Nguyễn Lan Anh
 
Trưa hôm đó, khi Hà Nội bắt đầu những ngày dở chứng, sáng nắng, chiều mưa, ngày dài, đêm ngắn, tôi trễ hẹn nửa tiếng trong chuyến đi từ thiện cho trẻ em bị bỏ rơi và khuyết tật.
 
Đoàn đã đi gần đến nơi. Không thể đuổi theo, tôi đành bỏ chuyến đi, và tiện đường lang thang, trở lại quán cũ. Thời gian là cái quái gì mà đáng sợ đến vậy, dễ mấy năm trời tôi mới trở lại nơi này.
Tôi bắt đầu ngủ gà ngủ gật trong quán cà phê vắng vẻ. Quán mở nhạc Chopin. Tôi lạy thầm đừng có thêm Chopin nữa. Nhạc Chopin khiến tôi lại hình dung trong căn phòng nhỏ 9 m2 trong công sở, sếp tôi, một người đàn ông tóc bạc ngồi sau bàn giấy. Trong giờ làm việc, ông chỉ để ngọn đèn bàn soi đủ nét chữ. Đôi khi ông tắt đèn, ánh sáng vàng vọt heo hắt trong căn phòng vụt biến mất, chỉ còn tràn ngập nhạc Chopin. Trong số những người thầm theo dõi ông, có tôi. Ông thường kể chuyện chỉ vì miếng ăn mà ông đi làm báo, thêm việc trước đó ông từng phải nuôi lợn để kiếm sống. Tôi cảm thấy ông vừa gần gũi, vừa xa lạ.
Tôi cũng như ông, đi làm báo để kiếm sống và thích nghe nhạc trong bóng tối. Nếu không có bóng tối, tôi tự tạo ra bóng tối, một khoảng không gian, sắc màu cho âm nhạc. Và đôi mắt sẽ không còn nhìn vào khoảng ánh sáng trắng chói lòa của ngọn đèn, bởi màn hình máy tính hay mặt trời. Phải rồi. Nhắm mắt lại, tay có thể vòng lên sau gáy. Chân có thể gác lên đâu đó, mặt bàn chẳng hạn. Nhất định là phải chân đất, không bị vướng bận giày dép, bất cứ vật cản nào. Lúc đó, đôi mắt tạm thời được thư giãn. Tiếng piano làm tôi nhớ những ngón tay xương mảnh, thon dài lạ kỳ của nhân vật đóng trong phim The Pianist. Anh ta chơi, trong câm lặng. Để tôi nhớ lại những ngón piano “dã man”, xoáy vào đầu, đập phá, nhắc nhở sự ì trệ của chính tôi.
Tôi nhớ anh, người đàn ông tôi đã từng yêu, quá khứ của tôi. Anh có cô đơn không? Tôi đã gọi quá khứ của tôi là bạn- anh bạn- một điển hình của người nghệ sĩ đa cảm nhưng cơ bản là người tốt. Ừ, anh ta là người tốt. Người tốt, người xấu, chơi được tuốt. Tôi đã trò chuyện, đùa giỡn, nhả nhớt như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Tôi thấy tôi là người hùng. Kiên nhẫn mà đóng kịch trước người đàn ông hồn nhiên đến vãi lúa. Anh nói, nếu có điều kiện, anh sẽ đưa thật nhiều tiền cho một người con gái bị tình phụ anh mới quen. Nhưng công nhận là cô ấy đẹp, chân dài. Nhìn sướng lắm. Phụ nữ khốn khổ thật. Anh thương cô ấy quá. Anh than phiền, rồi cảm động kể với tôi: Mẹ, cái thằng đàn ông, khốn nạn thật. Làm cho con nhà người ta có chửa rồi, lại bỏ mặc. Đểu đến thế là cùng.
Tôi gật gù. Rồi anh kể, còn cô M., cô ấy không hợp với chồng, nhưng rất thật với anh. Đến lượt cái cô Y. hay nhắn tin thơ phú cho anh, nói thật với em, thơ thì tạm được, văn thì vất đi. Cô ấy thích anh lắm. Tôi tẻ nhạt: “Ờ, cô í thích anh à? Tội gì mà anh không thích lại?” Hình như hồi xưa, tôi cũng đã từng ngậm ngùi mà trách anh rằng: Anh đã lấy đi hết sự hồn nhiên của tôi. Anh dạy tôi biết thế nào là đau khổ vì yêu. Thôi. Có khi anh cũng chưa biết, vì tình, mà tôi đã mắc căn bệnh hết muốn yêu, căn bệnh của sự hờ hững và hoài nghi. Tôi đã trở thành cái thùng rác để chứa đựng những nỗi u buồn hay vui sướng của anh. Anh tống chúng sang tôi, rồi tôi đổ rác đi đâu thì đổ. Nếu không, chúng cứ việc ứ đầy, làm nghẹn ngào con tim tôi mỗi khi nằm một mình mà ngẫm nghĩ mà chiêm nghiệm rằng đã hết yêu thì đến là bạn cũng đừng. Tôi hỏi: “À, anh! Cô Y., cô M. có ai nuôi mèo không?” - “ Không, cô Y. phải nuôi đứa con bị bỏ rơi, cô M. chưa có con nhưng cũng không thấy nói gì về mèo. Thế em định cho mèo à?” - “Không. Em không cần nuôi mèo!”.
Tôi đi tìm sách trong quán cà phê và thấy cuốn Viết dưới ánh đèn dầu của họa sĩ Bùi Xuân Phái nằm phía dưới chồng sách. Những nét chữ viết tay của ông giống như nét chữ một đứa trẻ đang tập viết. Đó là những tâm sự, nhận định của họa sĩ mỗi khi ông không vẽ. Và trong tranh tối tranh sáng của một chiều tháng 5, tôi đã ghi lại được những dòng như sau: Sao lại không thích vẽ? Không sửa chữa nổi, cùn mòn rồi chăng? Bất tài chăng và không nhích được chút nào cả, chán đời chăng? Vì cuộc sống bần hàn phải mưu sinh chăng? Nêu lý do cũng có thể đúng đấy, nhưng vẫn cứ đáng trách: “Anh không vẽ là vì anh không có lý tưởng và mất lòng tin”... Cánh đồng chữ nghĩa quả thực gian nan. Viết thì hoài nghi, không viết được thì vừa khổ, vừa hoài nghi. Trên bàn có đặt sẵn một bộ cờ vua quân đen quân ngà. Hồi xưa, tôi cũng có một bộ cờ vua bé xíu, bằng nam châm. Cũng tập tọe đánh đấm một thời gian. Cái gì vốn chặt chẽ, tính toán, đều gây mệt. Quán lại đổi nhạc. Nhạc khe khẽ, chậm rãi. Tôi ngả người, nhắm mắt lại. Quán vắng bao giờ cũng có cái thú riêng của nó, bất kể quán nào. Tôi trốn thời gian sôi động ngoài kia, để ẩn nấp trong này. Thời gian chậm rãi, yên tĩnh. Những tiếng rao đơn độc bên kia bờ tường, sát với cửa sổ của quán cà phê: “Ai đổi dép không?” Khung cảnh tĩnh đến nỗi, có thể làm thơ được.
Quán cà phê Highland hôm đó có chứng kiến những kiểu tâm trạng thất thường - cười khùng khục rồi tranh luận đủ thứ trên giời dưới biển. Giờ, chỉ mình tôi uống cà phê, đọc sách, nghe nhạc và thiu thiu nhưng vẫn khùng. Tôi đôi lúc cũng muốn tự xóa bỏ tôi.
Tiếng điện thoại. Cô nhà báo đồng nghiệp liến thoắng: “Đoàn đi từ thiện đã về đến nơi. Quay lại lấy thông tin đi”. “Thôi khỏi”, tôi nói: “Mày đọc luôn cho tao, tao ghi lại” - “Sao vậy?” - “Không, đọc cho tao đi”.- “Ok. Ghi lại nhé. 188 phần quà cho 188 trẻ mồ côi khuyết tật và bị bỏ rơi. Một tivi, 3 quạt trần, 200 m vải, quần áo, bánh kẹo. Tổng trị giá gần 20 triệu, giá trị nhân đạo... Cơ bản là vậy, mày tự dựng thành bài nha!”.- “Ok, cảm ơn mày nhiều. Tao nợ, tính sau đi”.
Theo đúng tiến trình của tự nhiên, đã gần 5 giờ. Tính ra, đã là chiều, gần hết giờ làm việc. Vậy là tôi đã tiêu lãng một buổi chiều của cuộc đời trong một quán cà phê, và đần thối với những suy nghĩ nực cười. Những suy nghĩ của sự yếu đuối. Cần phải về trình diện người đàn ông đang bị dìm trong bể công việc và bơi trong nhạc Chopin. Tòa soạn mini kiêm gia đình trị mới có yêu cầu, toàn thể phóng viên (năm người) phải viết công việc trong ngày lên bảng mica treo trên tường. Đi đâu, làm gì, thời gian, kết quả. Lúc trưa, tôi đã viết lên đó rằng đi theo đoàn từ thiện. Tôi tin, lúc nào ông đi toilet, đi bàn bạc với nhân viên đánh máy, tóm lại đi ra khỏi căn phòng Chopin ấy, thế nào ông cũng liếc nhìn lên bảng lịch công việc.
5 giờ 15. Tòa soạn đã về hết. Chỉ còn lại sếp. Dĩ nhiên, phòng làm việc của ông đã tắt hết đèn và tràn ngập tiếng piano. Tôi lặng lẽ vào phòng máy bên trong, sợ mình sẽ gây lên tiếng động đánh thức ông bởi những lời chào rỗng tuếch. Tôi ngồi vào bàn máy. Trong thâm tâm, lúc nào tôi cũng muốn làm việc thật yên tĩnh khi viết bài. Con người, chẳng phải luôn nên trải qua, chiến thắng với các trở ngại đặt ra trong cuộc đời hay sao? Dù sao tiếng piano còn dễ chịu hơn ngàn vạn những âm thanh khác. Nhưng có thật thế không? Tiếng piano không êm đềm. Nó điêu luyện, nghệ thuật, công phu, hoàn hảo. Nhưng nó đang réo rắt, xoáy sâu vào tâm trạng bất an của tôi.
6 giờ. Tôi không muốn ở trong phòng máy của tòa soạn thêm một phút nào nữa. Tôi tiến lại gần, nhìn vào bóng tối, không cần biết ông đang ngồi ở vị trí nào, tôi nói: “Chào sếp, em về trước đây!” Bước chân khỏi tòa soạn, những ánh nắng mùa hè vẫn chói chang, oi bức. Hà Nội vẫn những ngày dở chứng, sáng nắng, chiều mưa, ngày dài, đêm ngắn. Nhưng đó là ánh sáng của mặt trời, nó khác với ánh mờ hắt lên từ gương mặt người đàn ông ngồi nấp trong bóng tối, đối chọi cái bóng tối của sự sắp đặt. Hãy thở đi, thở đi nào. Lộn xộn. Đọc bài kệ này đi: “Tỉnh dậy miệng mỉm cười, 24 giờ tinh khôi, xin nguyện sống trọn vẹn, mắt thương nhìn cuộc đời”. Thôi, nẫu. Tự mình làm trò cho mình cười. Chúng chỉ nhất thời. Tôi lại nghĩ đến chuyện bài vở công việc. Tôi buồn bực, hay mình không có khả năng? Chỉ đến ngưỡng đó thôi ư? Sếp vẫn cười buồn, hoặc không nói gì cả. Đôi lông mày ông nhíu lại.
Trước kia, viết về văn hóa xã hội, theo yêu cầu của mảng thông tin giải trí thị trường, tôi thường phải làm những việc phỏng vấn các sao, ca sĩ, người mẫu, tóm lại là người của công chúng. Và cũng đã có một thời gian, tôi bị bệnh ngán, bệnh chán. Tôi thấy muốn ọe. Bạn tôi nói đúng, “Sao oánh một phát rắm, mình cũng cần phải quan tâm. Sao nào càng quậy, càng có vấn đề để viết. Sao nào hiền quá, đù đụt quá, có gì mà viết? Nghe chưa, oánh một phát rắm, cũng phải biết và viết nhé. Thế mới có chuyện, một tháng, một sao xuất hiện liên tục trên vài chục tờ báo. Mày ọe nữa đi, mày kêu thế có gì mới mà viết à? Phải moi ra, rồi xào nấu, rồi tâng lên, vuốt ve hoặc mỉa mai, hoặc châm chích, thế nó mới thành bài của riêng mình. Mày không phải nhìn đâu xa. Một người làm báo chuyên nghiệp, từ một vấn đề, một sự việc, một chi tiết cụ thể, có thể viết được 7 bài, cho 7 tờ báo như tao đây này.” Nó nói xong, rồi cười ha hả. “Thế mới sống được nghe cưng.” Tôi chưa bao giờ làm được như lời cô bạn dạy. Một bài, giỏi lắm tôi chế đến bài thứ 2. Bài “phẩy”, bài “bóng” của bài kia để gửi cho báo khác, chứ chưa bao giờ có can đảm và tài năng để tạo ra 7 bài như mong muốn.
Bài tiến sĩ khoa học trẻ lần này, tôi đã viết lại tỉ lệ thuận theo những cái lắc đầu của sếp: “Cô đang viết về tiến sĩ khoa học, tại sao lại kể thêm nuôi mèo làm gì, không phải trò trẻ con.” - “Dạ nhưng, cô này tuổi còn trẻ, sống xa nhà, không làm bạn với ai ngoài một con mèo. Nên cô mới có thể dành hết thời gian cho nghiên cứu khoa học, cho phòng thí nghiệm và đạt kết quả tốt...”. - “Viết lại đi. Nghiêm túc vào, đừng nhắc đến mèo và cũng đừng nhắc đi nhắc lại cái luận điệu cũ rích là vì yêu nước mà cô ta không ở lại nước ngoài, nhỡ cô ta về nước vì lý do khác thì sao?”. Ông sếp buông bút, đưa lại cho tôi bản viết. Tôi nhìn ông, chỉ muốn nói rằng: Con mèo, là một chi tiết khá thú vị. Cô ta không có người tình, sếp biết không? Không đàn ông. Cô ta cô đơn ở một nơi xứ tuyết. Cô ta khô lắm. Cao ngạo nữa, nhưng nhìn cô, tôi biết, đó chỉ là bề ngoài. Trong thể xác gầy gò, ánh mắt hờ hững đến khắc nghiệt, cô ta cô đơn. Tôi cũng thế. Tôi cô đơn ngay ở đây, ở nơi chốn đông người. Ở căn phòng ngập tràn nhạc Chopin. Cũng như ông. Có một lần, tòa soạn tổ chức một buổi ăn uống mừng sếp phó lên chức. Ông ngồi ngoài cùng. Mái tóc điểm bạc, ông dường như cách xa mọi người, trầm lặng, ít nói. Nhìn vào đôi mắt ông, cũng không thể biết ông đang nghĩ gì. Tôi nghĩ, nếu không phải tự ông tạo khoảng cách, thì ông lại là một người cô đơn. Anh cô đơn. Cô ta cô đơn. Tôi cô đơn. Chúng ta cô đơn. Đột nhiên tôi hỏi ông: “Sếp có nuôi mèo không?” - ông nhún vai.
Anh nói, sau một việc gì đã hoàn thành, anh thấy trống rỗng và mệt mỏi. Tôi cười “Thế anh cũng bị empty (trống rỗng) à? Em thấy nhà anh nhiều chuột thật. Nhưng có lẽ, đàn ông không cần đến mèo nhỉ?” Lạ thật, lúc nào tôi cũng chỉ cười mỉm. Liệu tôi có ác độc không nhỉ?
Tôi đã muốn tuyệt giao với anh. Không còn muốn biết có người đàn bà nào đến với anh hay chưa. Hay việc anh sẽ làm gì để lấp chỗ trống đó. Hờ hờ, cao thượng và anh hùng: anh cần gì, em sẵn lòng giúp! Ngày hôm đó, anh đặt tay vuốt ve ngực tôi. Kéo tôi dựa vào người anh. Dĩ nhiên, tôi xao động nhưng vội tạo cảm giác lạnh lùng. Dưới ngăn kéo của anh, vẫn còn một bài thơ đầy xúc cảm về một nụ hôn của em Họa Mi. Tôi bỗng chốc hóa thành thô bỉ, vì tôi muốn cười hô hố thật to để giấu sự chua xót. Nghệ sĩ. Chúng ta là nghệ sĩ. Cần biết thông cảm với nghệ sĩ. Tôi nói với anh: “Anh còn nhớ em và anh đã từng đi ăn phở trên một con phố mà ban đêm, chỉ có toàn “bươm bướm” lượn lờ không? Cô tiến sĩ nhân vật của em đang sống ở đó. Trong một căn nhà 3 tầng, nhìn ra đường cái, giữa bóng tối và những lùm cây. Cô không nuôi mèo nữa. Thật lạ, sao cô ta không tìm chỗ ở nào khác nhỉ? Cô đơn như vậy, mà tối nào cô cũng phải thấy đầy “bươm bướm” lả lơi với trai. Chịu sao nổi? Hay em giới thiệu anh cho cô ta nhé?” Anh bỏ tay ra, không nói gì. Nghe chừng có vẻ buồn. Tôi cũng buồn và bảo anh: “Em cũng ghét nuôi mèo”. Nhưng, có lẽ anh không biết tôi buồn.
Mọi chuyện, không nên để nó làm chủ, hoành hành khống chế cảm xúc đau buồn, thất vọng, hoài nghi, cô độc, trống rỗng trong vòng 24 giờ. Hãy nhớ. Đó là một lời răn dạy của một nhà sư. Tôi cũng biết điều đó. Còn làm chủ nó đến đâu, lại là chuyện khác, có lẽ cuộc đời là vậy. Tôi đặt bút viết. “...Cô tiến sĩ nhỏ bé hợp tác với các nhà nghiên cứu khoa học nước ngoài, đã nghiên cứu thành công một loại thuốc chống virus TISH.8...”.
Ngày hôm sau, tôi trình sếp bài viết về cô tiến sĩ trẻ. Trong ánh đèn vàng vọt, lần đầu tiên thiếu tiếng piano, đôi mắt sếp lướt thật nhanh những con chữ. Ông tạm thời hài lòng. Trong bài, không có chữ nào dành cho con mèo của cô tiến sĩ.
 
(Theo Người Lao Động)
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
NGƯỜI MẸ
Nguyễn Trung Thu
 
Đau đáu nhìn con lần nữa, bà quay ra. Lụi cụi bước được mấy bước, bà dừng ngoái lại. Cánh cửa nhà bà người con đã đóng sập. Bà chả thấy đứa con trai đâu, chỉ còn hằn hiện cánh tay nó chỉ thẳng ra cửa và vang bên tai bà tiếng gầm của nó...
 
Người con trai sừng sộ sấn sổ bước tới trước mặt mẹ, chỉ thẳng tay ra cửa: -Tôi không chịu được bà nữa rồi. Bà cút ngay khỏi cái nhà này, cút ngay khỏi cái nhà này! C...ú...t !
Bà mẹ lặng nhìn đứa con. Cái nhà này... cái nhà này... có phải của nó đâu? Của nó trong cái nhà này có chăng là cái nhau thai nó, đặt trong chiếc nồi đất chôn ở góc sân sau, bên gốc cây hồng xiêm kia, buổi tối bà đẻ ra nó cách đây đã 28 năm...
Đêm đông năm ấy, bụng nhâm nhẩm đau, bà cảm thấy có lẽ đã chuyển dạ đẻ nhưng nghĩ nó báo động vậy thôi, dần dà rồi cũng phải đến sáng mai, nên bà còn cố bóc nốt rổ lạc bóc thuê để kịp trả gọn cho người ta trước ngày sinh nở. Bà sắp vượt cạn chỉ có một thân một mình. Khi bà có mang ba tháng, chồng bà bị một cơn đột quị qua đời. Càng thương nhớ chồng, bà càng ráng sức làm lụng, chăm chút cái thai, ngong ngóng đứa con. Cái nhà tranh vách đất rộng rãi mà tuềnh toàng lúc này, chỉ có mỗi thân bà và đứa con đang cựa mình trong bụng. Dưới ngọn đèn dầu leo lét, trong lúc bụng dạ mỗi lúc một quặn đau hơn, bàn tay bà vẫn gắng xiết bóp cái kẹp tre cho những củ lạc khô cứng vỡ ra những nhân lạc... Đâu ngờ, đột nhiên bụng bà đau dữ dội như đang rách từng khúc ruột. Bà oằn oại bò quanh nhà rên la. Bác hàng xóm nghe động chạy sang, cập rập sửa soạn thu xếp giúp đưa bà đi nhà hộ sinh, nhưng không kịp. Bác đã tháo vát thay nhà hộ sinh làm tất cả mọi việc để thằng bé được cất tiếng chào đời.
Từ ngày có thằng con, bà mau nguôi ngoai nỗi đau góa bụa. Niềm vui và hy vọng đời bà cứ lớn dần lên theo sự lớn lên của đứa con trai kháu khỉnh. Bà tần tảo quần quật làm lụng, hết phụ hồ lại trông trẻ, hết dọn lau nhà cửa cho các gia đình lại buôn thúng bán bưng, đêm đêm còn nhận làm thuê gia công vót mây, bóc lạc, dán hộp để nuôi con. Trọn mười năm, bà chắt bóp dành dụm mua được cái nhà của chính người chủ nhà cho vợ chồng bà thuê, rồi sau đấy lại xây được lên ba gian nhà cấp 4. Cái nhà cấp 4 mặt phố trên mảnh đất sáu chục mét vuông này bây giờ đáng bạc tỉ, lúc bà mua, nó chỉ là cái nhà tranh vách đất sơ sài xiêu vẹo nơi heo hút. Dưới mái nhà này bà đã tần tảo nuôi thằng con lớn khôn, trưởng thành, lo cưới vợ cho nó chu tất, đàng hoàng. Mấy năm rồi vợ chồng nó làm ăn sinh sống yên ổn trong cái nhà này. Tất cả, tất cả do bàn tay bà gây dựng. Cái nhà này... cái nhà này... có phải của nó đâu... Của nó trong cái nhà này có chăng là cái nhau thai nó, đặt trong chiếc nồi đất chôn ở góc sân sau, bên gốc cây hồng xiêm kia, buổi tối bà đẻ ra nó cách đây đã 28 năm rồi...
Mặc dầu bà biết thằng con trai độc nhất của bà còn lắm dại dột nhưng suốt bấy nay nó luôn là niềm an ủi, niềm vui, niềm hy vọng và lẽ sống đời bà.
Tiếng quát đuổi của nó sáng nay, bà không bất ngờ lắm mà bà vẫn đứng sựng như trời trồng, đôi mắt đờ dại nhìn con...
Người con trai thấy bà chần chừ, lại một lần nữa trừng mắt, chỉ thẳng tay ra cửa gầm lên:
- Bà cút ngay khỏi cái nhà này, cút ngay khỏi cái nhà này! C...ú..t!
Bà mẹ biết, đến nước này thì không thể nấn ná được nữa rồi. Đăm đăm đau đáu ngước nhìn con, bao nhiêu nước mắt bà chảy cả vào trong, dồn tụ nơi trái tim bà:
- Thôi thì mẹ đi...
Đau đáu nhìn con lần nữa, bà quay ra. Lụi cụi bước được mấy bước, bà dừng ngoái lại. Cánh cửa nhà bà người con đã đóng sập. Bà chả thấy đứa con trai đâu, chỉ còn hằn hiện cánh tay nó chỉ thẳng ra cửa và vang bên tai bà tiếng gầm của nó... Chính cánh tay này đây, hồi nó hai ba tuổi cũng chỉ thẳng ra đường như thế đòi bà bế đi mua kem, bế ra xem rước đèn Trung thu, xem bắn pháo hoa đêm hội...
Bà lụi cụi gầm mặt bước, bước... vô cảm, không biết đi đâu biết về đâu. Bà cứ đi, cứ đi, đến một lúc bà thấy xung quanh vắng vẻ, ngẩng lên bà nhận ra bên bà là một vườn hoa. Bà rẽ vào, rón rén ngồi xuống chiếc ghế đá, tựa lưng vào thành ghế nhìn trời nhìn đất, đầu óc luơ quơ trống rỗng.
Chiều xuống, bà định thần lại, thấy loáng thoáng những cặp vợ chồng đưa con dạo vườn hoa. Đứa được bế ẵm, đứa được công kênh, đứa thì dắt díu.
Ờ, thằng con bà hồi bằng tuổi thằng bé này, đêm khuya bỗng sốt cao co giật, bà đã ôm nó trong lòng hốt hoảng chạy như ngựa vía đến bệnh viện cấp cứu...
Ờ, thằng con bà hồi bằng tuổi thằng bé này, bà may cho nó chiếc quần kaki xanh, chiếc áo pôpơlin trắng, sắm cho nó cái cặp mới dán hình con thỏ để nó đi khai giảng năm học tiểu học đầu tiên. Nó mặc quần áo mới, đeo cặp sách hớn hở, tung tăng chạy ra chạy vào, gọi mẹ rối rít. Bà cho nó chiếc bánh dẻo, nó ăn ngon lành quá, miệng bà đến bây giờ vẫn còn thấy ngọt lừ...
Ờ, thằng con bà hồi bằng tuổi thằng bé này, nô đùa bị ngã sai khớp, cổ chân sưng húp, ngày lại ngày bà cõng nó đến xin thầy lang nắn bóp, dán cao. Đôi bàn tay nó ôm cổ bà, cái má nó ấp bên má bà, đến bây giờ bà còn thấy mềm mại, ấm nóng...
Ờ, thằng con bà hồi bằng tuổi thằng bé này...
Ờ, thằng con bà hồi bằng tuổi thằng bé này...
Bao nhiêu cặp bố mẹ bồng bế dắt díu con đi qua là bấy nhiêu lần bà nhớ về thằng con bà từ độ nó còn bé bỏng cho đến lúc nó lớn khôn.
Đêm xuống. Vườn hoa vắng lạnh. Bà vẫn cứ ngồi như tượng hoài niệm về đứa con bà. Bỗng bà hoảng hồn, toát mồ hôi khi bà nhớ lại lời Phật dạy, tội lớn nhất đối với một con người là tội bất hiếu. Thằng con yêu thương nhất mực của bà rõ là mắc tội này rồi. Bà lại nghe nói, những đứa con can tội bất hiếu sẽ bị trừng phạt rất nặng nề. Kiếp này bị trừng phạt, kiếp sau vẫn còn bị trừng phạt nữa, có thể bị cả voi giày ngựa xé... Thằng con bà chắc chắn bị trừng phạt rồi. Trời ơi, bà trút hết tâm sức cho nó, những mong đời nó sung sướng thì rồi chả nhẽ nó chịu khốn khổ như thế a? Bà hãi hùng lo cho thằng con của bà quá! Nước mắt bà tuôn chảy xuống miệng chát mặn... Giờ này chắc nó ngủ rồi, hẳn nó chả biết mà lo cho cái thân nó sao bớt đi nỗi khốn khổ bị trừng phạt đâu. Mà đêm nay, không biết nó có nhớ vào giường ngủ không hay lại nằm xem truyền hình trên cái ghế xếp, rồi ngủ quên đi để cho muỗi nó bu đốt mẩn đỏ khắp người...
Bà ngước nhìn bầu trời. Bầu trời đầy sao lung linh. Bà nhìn xuống mặt hồ. Mặt hồ đầy sao nhấp nhánh. Thần Phật có ở chốn này không? Thần Phật linh thiêng có ở chốn này không? Bà chắp tay vái lạy các vì sao trên trời, dưới đất, khấn cầu... Bà khấn cầu Thần Phật hãy tha thứ cho đứa con bà, nó nông nổi dại dột, quá nghe vợ mà cư xử tệ với bà. Đúng là nó tệ thật, nhưng bà cầu xin Thần Phật nhẹ tay trừng phạt, cho đời nó bớt khốn nạn, thân nó bớt khốn khổ. Cái thân bà đau khổ bà chịu được chứ thân nó mà đau đớn, khốn khổ thì lòng bà không thể nào yên.
Bà cứ ngồi lẩm bẩm cầu nguyện như thế cho đến lúc vòm sao đã thưa dần, mặt hồ đen sẫm, trời chuyển lạnh. Xung quanh bà chỉ còn âm i tiếng côn trùng như cùng hòa với lời bà khẩn cầu. Mỏi mệt quá, bà ngả lưng trên ghế đá. Sương khuya thấm ướt mái đầu hoa râm khổ nạn. Bà thiếp đi, lời nguyện cầu của bà vẫn thầm ngân trong sâu thẳm cõi hồn...
Cho đến trưa hôm sau bà vẫn ngồi nguyên trên chiếc ghế đá ấy. Hơn một ngày đêm không hạt cơm, giọt nước. Bà không thấy đói, thấy khát. Lặng ngồi, đầu óc bà vẫn chỉ vấn vít những ý nghĩ đêm qua.
Bà bạn phụ hồ hồi nào tình cờ đi ngang qua nhận ra bà ngồi thất thần tiều tụy, ghé hỏi han. Bà bạn quá rõ nỗi niềm, sự tình, gia cảnh của bà, khuyên mách bà thôi thì nên xin vào nương nhờ cửa Phật. Bà lắng nghe, nét mặt tỉnh khô mà nước mắt bà cứ tuôn dòng. Bà thấy thế cũng phải, nhưng e sợ nhà chùa chẳng nhận cho. Bà bạn phụ hồ vốn là chỗ thân quen sư cụ trụ trì chùa An Nhiên hứa sẽ có lời xin thưa nhờ cậy giùm. Bà bạn phụ hồ nắm tay bà kéo bà đứng dậy, đưa về nhà mình nghỉ qua đêm.
Sáng hôm sau bà theo chân bà bạn tới chùa An Nhiên gặp sư cụ trụ trì bày tỏ gia cảnh, nguyện vọng của người mẹ bất hạnh. Lắng nghe, hỏi han mọi nhẽ, sư cụ vui vẻ tiếp nhận cho bà nương cửa Phật.
Từ đấy, bà âm thầm lầm lũi chăm chỉ lo việc hương khói, quét dọn, chăm nom vườn tược nhà chùa. Đêm đêm, không bỏ một đêm nào, xong mọi công việc, bà quỳ phục trước Phật đài thầm thì cầu nguyện. Bà cầu nguyện cho đứa con tội lỗi của bà được Trời Phật rủ lòng nhẹ tay trừng phạt.
- Con cắn rơm cắn cỏ lạy Trời, lạy Phật hãy rộng lòng nhẹ tay trừng phạt thằng con của con. Nó nông nổi dại dột quá, nó nông nổi dại dột quá... Con cắn rơm cắn cỏ lạy Trời, lạy Phật... Con cắn rơm cắn cỏ...
Không biết bao nhiêu lần, qua bao nhiêu đêm bà quỳ phục lầm rầm tụng niệm trước Phật đài chỉ một lời cầu nguyện ấy... Tâm nguyện da diết của bà có thấu đến Trời Phật chăng? 
 
(Theo Văn Nghệ Công An)
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0