📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Truyện ngắn 🔒

7 trả lời, 1.173 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-10 14:43:09Ct.Ly>
đã mang vào thư viện
Cảm ơn mssthuan nhiều nhé
Thân thương
 
BẾN BÌNH YÊN
Đào Phạm Thùy Trang
 
Khốn nạn nhất đời hắn là sáng sớm mắt nhắm mắt mở đã nghe tiếng chửi của vợ. Từng tiếng từng âm hắn nghe rát buốt như vuốt sắt nhọn hoắt cấu thật mạnh vào vết thương mới lên da non, đau thấu cả ruột gan.
 
Chuyện có đáng gì đâu: Bộ đui hay sao mà không thấy ca nước pha cho con nhỏ vậy?
Vậy đó, hắn còn chưa kịp cảm nhận hết sự sảng khoái của ca nước ấm đã bị tạt cả thùng nước đá vào mặt. Lùi lũi hắn lau vội bản mặt bèo nhèo như da mèo vào chiếc khăn hình như… không còn nhận ra là khăn hay nùi giẻ nữa.
Chuẩn bị cưỡi lên con ngựa sắt để bắt đầu một ngày vắt mồ hôi và sức lực ra cơm áo thì thằng con lớn học lớp hai nhỏ nhẻ:
- Ba, cho con hai ngàn ăn sáng đi ba, có một ngàn con ăn không no…
Hắn định bảo “Ráng đi con” như hàng trăm lần vẫn nói thế nhưng chợt thấy nét mặt thằng nhỏ in chần dần chữ “đói” nên cố lục lọi hai ba chiếc túi đã dày lên vì xi măng, vôi vữa mà lúc nào nhìn vô cũng tưởng có tiền xâm xấp, đưa thêm con trai một ngàn đồng trong giá “tài khoản” hai ngàn đang hiện hữu.
Vậy là hôm nay hắn chỉ được ăn xôi chứ không đủ tiền uống cà phê rồi. Thật ra, một ngày hắn làm cũng được bốn chục ngàn, nhà bốn người, ngoài cơm ăn còn thuốc uống, con nít mà, bệnh đau làm sao đoán trước được.
Mỗi ngày hắn chỉ cho phép mình xài hai ngàn thôi, đó là bữa “ăn sáng” và ly cà phê đen, cơm trưa thì “ký sổ” tới tuần trả. Hắn chỉ biết vắt sức ra áo cơm cho gia đình chứ không quan tâm nhiều tới chuyện vặt vãnh tỏi hành.
Cuối tuần lãnh tiền cứ đưa hết cho vợ, xong, xin lại đúng mười bốn ngàn và lời dặn phải cho con trai năm ngàn để nó đi học năm ngày trong tuần. Còn tất cả thuộc “quyền sinh sát” của vợ hắn.
Vợ hắn, người đàn bà cũng biết vén khéo nhưng phải tội dữ dằn nanh nọc quá. Nhiều khi hắn tự an ủi, đó là kết quả của những ngày cô ấy phải bôn ba giữa chốn sinh tồn, như hoa hồng có gai để bảo vệ cho nụ hồng xinh tươi thơm thắm.
Đời hắn khổ đã đành, sao đời vợ hắn còn khổ lắm vậy, mười hai tuổi đã phải đi phụ quán ăn, mười lăm tuổi đi phụ hồ; lứa tuổi của bao người còn mộng mơ trong tà áo trắng thướt tha còn cô ấy thì tay chai, mặt nám, áo quần dính cứng những bả vôi vữa.
Chỉ là anh “thợ ép” nhưng hắn đã biết “ăn gian” thời gian để làm việc nhiều hơn cho cô bạn cu li được rảnh tay mà nghe nốt bản nhạc mà cô thích.
Ấy là lần hắn đứng trên giàn giáo kêu mỏi miệng cũng không nghe cô cu li xách hồ vô, nhìn ra sân thì thấy cô ta đang nghểnh cổ, lúc lắc đầu theo bản nhạc đang phát ầm đùng bên hàng xóm.
Hắn lẳng lặng trèo xuống khỏi giàn giáo bốn mét, xúc đầy xô hồ, móc vô sợi dây rồi mới kêu lớn “hồ đi!” làm cô ta giật mình mặt méo xệch vì tiếc bản nhạc hay.
Hắn không cha mẹ, bởi một điều đơn giản ai cũng đi tìm hạnh phúc riêng sau khi cùng nhau tạo ra “cái của nợ” là hắn. Sống với ngoại mười mấy năm, ngoại già lưng còng như dấu hỏi, cái dấu hỏi theo suốt cuộc đời hắn mà không có câu trả lời: Tại sao con người phải sinh ra trong thế giới này?
Gọi là “được sinh ra” hay “bị sinh ra” cho đúng? Tại sao người ta cứ bảo là “đi tìm hạnh phúc” còn bỏ cái “không hạnh phúc” lại cho người khác? Hắn nhớ hoài hình ảnh bà ngoại thèm trầu cau nhưng không tiền mua, trầu có thể xin hàng xóm còn cau thì lượm những trái dừa non rụng gọt lấy phần cuống vừa mềm vừa chát để ăn, thay cho những quả cau xanh non thơm ngon…
Mà người đi lượm những quả dừa cho ngoại không ai khác, chính là hắn. Tuổi lên mười hắn chỉ có một ước mơ duy nhất: Sau này lớn lên, làm có tiền hắn sẽ mua những lá trầu tươi, những chùm cau xanh cho ngoại ăn thỏa thích!
Nhưng khi hắn làm được điều ấy thì ngoại không còn hôn lên mái đầu hoe vàng khét lẹt vì nắng của hắn mà nói “cháu của ngoại giỏi quá” nữa, di ảnh ngoại với ánh mắt xa xăm hình như rưng rưng lệ chỉ gật đầu với hắn trong mơ.
Cô cu li tính nết con trai trong dáng hình con gái ấy cuối cùng cũng đồng ý về sống chung nhà với hắn sau hai mâm cơm: một cúng ông bà, một mời vài người hàng xóm.
Hai mươi hai tuổi hắn làm cha, mười chín tuổi rưỡi cô ta cũng làm mẹ, nhưng tính dữ dằn vẫn không chừa, đố có khi nào cô ta ru được con những câu: “à… ơi… gió mùa thu…” như hàng trăm ngàn bà mẹ khác.
Cô ta cứ: “…giữa chúng ta có điều cần phải nói… là anh cưới vợ khi tôi…” rồi lại “…ngày xưa em như chim sáo…” hoặc “Không, tôi không còn, tôi không còn yêu anh nữa, không, tôi không còn…” đứa nhỏ khóc ngằn ngặt, đi làm thì thôi, chiều lê những bước chân tưởng chừng như muốn sụm xuống về được đến nhà mà nghe như vậy lại muốn bỏ đi phứt cho xong nhưng nhìn đứa con thì không thể nào bỏ được.
Cởi phăng cái áo, ôm thằng nhóc vào lòng, hắn đi qua đi lại với chất giọng khàn khàn ru con, những lời ru của gần hai mươi năm trước ngoại hắn đã ru, vậy mà thằng nhỏ ngủ ngon lành, định trao con cho vợ để còn tắm táp ai ngờ nhìn lại thì… mẹ ngủ trước con từ lúc nào!
- Bộ tưởng dỗ con cả ngày sung sướng lắm hay sao mà mới đặt lưng đã bị xốc đầu dậy? Vợ hắn đanh đá.
- Anh biết em mệt nhưng anh còn mệt hơn. Hắn dịu dàng.
- Vậy ở nhà dỗ con đi, tui đi làm cho!
Vợ hắn lẫy, dù biết không ai mướn đàn bà mới sinh ba bốn tháng nhưng hắn vẫn sợ tính gàn của vợ. Nếu cô ta bỏ đi làm thì con hắn sẽ thiếu mẹ – cảm giác thiếu hụt không có bất cứ thứ gì bù đắp được hắn đã trải qua rồi, nên không muốn con mình lặp lại – vậy là hắn lại cố làm ngày, làm đêm, cuối tuần vẫn làm, lễ lạt không hề nghỉ, chỉ để có thêm tiền mua sữa cho con, cho bữa cơm gia đình thêm tươm tất.
Ngày tháng cũng trôi đi, những người nghèo như hắn vẫn tin vào số mệnh bởi một điều đơn giản “trời sinh voi, sinh cỏ”. Thằng con lớn mới bớt ẵm bớt bồng thì vợ hắn báo tin nhà sắp có thêm thành viên kế tiếp! Trời đất, đúng là “đặng hào con…” mà.
Ừ, nhưng có vợ có chồng thì có con chứ có gì là lạ? Thế là đứa thứ hai ra đời, con gái nhé, đủ nếp đủ tẻ, hắn vui ra mặt, nhất là khi con bé bập bẹ nói và cứ bám theo hắn riết. Cha con coi bộ rất “tâm đầu” dù đứa nhỏ còn bé tí...
***
- Anh, kể từ mai tui đi làm! Vợ hắn nói một câu không nhằm mục đích xin ý kiến hay bàn bạc thảo luận mà là một “thông báo”, loại thông báo mà người nghe phải chấp nhận không được phản đối.
- Nhưng làm ở đâu, giờ giấc, còn con cái?
- Trời sanh voi sanh cỏ, ngồi ôm con để chết đói à? Sáng thằng anh đi học, chiều về giữ em, tui đi làm từ hai giờ tới mười giờ đêm!
- Làm gì mà khuya dữ vậy em?
- Quán ăn của nhỏ bạn cũ, hỏi nhiều làm gì? Việc anh anh làm, việc tui tui biết, tất cả tui chỉ lo cho cái nhà này!
Vậy là đi, đố hắn dám nói thêm câu nào nữa.
Những đêm đầu con bé vắng hơi mẹ khóc ngất lên ngất xuống, tiếng khóc như muối xát vào lòng người cha nghèo như hắn. Trời ơi… phải chi hắn giàu, phải chi hắn có cha mẹ, phải chi hắn lo được vẹn toàn cuộc cơm áo cho vợ con thì giờ này cả nhà đang ấm êm bên nhau chứ đâu phải khổ nhục như thế này?
Vợ hắn đang ở thì chín nhất của người phụ nữ, huống chi lại không phải là người nhan sắc “dưới mức trung bình”, chỉ tội cái nghèo làm cho con người ta bần cùng đi.
Bây giờ ăn mặc lên trông cũng khá lắm. Quán ăn sân vườn theo mô hình nông thôn, từ tiếp tân, tiếp viên tới phụ bếp đều mặc quần đen áo bà ba, có điều hơi “cách điệu” một chút: áo bà ba cổ tim khoét sâu có viền đăng ten, đinh áo xẻ cao phô làn da trắng muốt lồ lộ…
Một vị khách ngày nào cũng đến quán ăn, anh ta chỉ kêu độc một món: Cơm niêu (cơm đập) ăn với cá Sapa nướng, vài ngọn rau thơm nhưng phải có trộn khế chua, và người phục vụ phải là vợ hắn mới được! Nghe đâu ông ta là chủ một cửa hàng trang trí nội thất nào đó to lớn lắm.
- Tương lai thì dài mà đời người rất ngắn em có biết không? Em xinh xắn đảm đang như vầy phải làm bà này bà nọ mới xứng đáng… Em có nghĩ tại sao một người đàn ông không ăn cơm nhà mà phải “cơm hàng cháo chợ” như thế này không?
Vợ anh không yêu anh, ngày này sang tháng kia cô ta chỉ biết đi chùa chiền, rồi shop này shop nọ, thầy bói này thầy bói kia chứ không hề quan tâm tới bữa ăn cho anh…
Anh có tất cả, chỉ thiếu một người vợ đảm như em, anh có thể cho em mọi thứ chỉ mong chiều chiều được cùng nhau ngồi ăn cơm như thế này…
Những lần bưng thức ăn phục vụ, vợ hắn đều nghe người đàn ông lịch lãm ấy rót mật vào tai như thế.
- Cảm ơn anh, tôi đã có chồng con và phải có trách nhiệm với gia đình đó, anh quý mến tôi thì hãy là một người khách quen của quán để tôi được làm việc ở đây lâu hơn…
- Chính vì vậy mà anh càng yêu em nhiều hơn, em là người sống có trách nhiệm với gia đình, những người như thế như kim cương quý giá ẩn trong lòng núi sâu mà không phải ai cũng tìm được.
Chồng em có phước mới lấy được người vợ như em, nhưng em ạ… tình yêu không phải là tất cả, anh ta yêu em nhưng cho em được cái gì? Nhà đẹp? Không. Xe máy? Không.
Ngay cả những bộ quần áo đắt tiền xứng đáng với nhan sắc của em cũng không hề có, vậy tội gì…? Và ông ta kéo tay vợ hắn, một chiếc hôn sỗ sàng lướt qua đôi má ửng hồng.
- Xin lỗi anh, quán tôi cần khách hàng chứ không cần những người sàm sỡ!
Vợ hắn tạt gáo nước lạnh vào mặt gã đàn ông vô liêm sỉ ấy nhưng gã ta vẫn bám theo. Bẵng đi bốn năm hôm không thấy gã đến – hình như gã ngượng cho cái lần bị mắng – hôm nay lại bệ vệ, lịch lãm với áo sơ mi, cà vạt thắt gọn gàng xuất hiện, sau những lời chào hỏi khách sáo vẫn gọi cơm niêu và người phục vụ chính là vợ hắn.
Người phụ nữ đối diện với quá nhiều gió dông vẫn không gục ngã rất tự tin vào bản lĩnh của mình, vả chăng người ta không phải thì người ta thẹn chứ mình tội gì? Vợ hắn tiếp khách với khoảng cách cần thiết khiến gã đàn ông lịch lãm ấy kiêng nể nhiều hơn. Rồi gã lấy ra một gói quà to, bảo rằng cho các cháu và thoảng trong gió là lời xin lỗi muộn màng…
Lại bảo hôm nay buồn quá, mười hai năm chồng vợ thế là xong, chiều nay vợ gã đòi ký đơn ly hôn, tài sản bạc tỉ với biết bao mồ hôi của một mình gã phải chia đôi. Và xin vợ hắn hãy làm bạn của gã vài giờ…
Không biết vì cảm động trước một thói đời hay vì trước túi quà mà lần đầu tiên có được, hoặc ma xui quỷ khiến thế nào mà vợ hắn lại dấn thân và leo lên chiếc SH đồ sộ của gã để đi đến một quán nước nào đó.
Đường đêm, vùng ven thị xã như ẩn như hiện bởi những đoạn đường khi có đèn khi lại tối om om, vụt qua những cửa hàng cửa hiệu, những căn nhà cao tầng, những quán cóc tồi tàn…
Lần đầu tiên được ngồi lên xe máy, tiếng vù vù lạ lẫm, cảm giác lành lạnh rờn rợn cả da thịt, tiếng đồng vọng bên tai nghe như lời tỉ tê ai oán… Rồi lại “ma đưa lối, quỷ dẫn đường” thế nào đó mà vợ hắn lại theo chân gã đàn ông lịch lãm ấy vào nhà trọ chứ không vào quán cà phê.
Phòng trọ bình dân nhưng tinh tươm sạch sẽ thoảng mùi thơm chứ không như đống bùng nhùng hôi hám nhà hắn, vợ hắn mở gói quà theo lời gã đàn ông lịch lãm để no mắt với những áo quần đắt tiền, mỹ phẩm hảo hạng… và vợ hắn vào phòng tắm theo lời bảo của gã đàn ông ấy.
Người phụ nữ sau những cơ cực nhọc nhằn đã thay hình đổi xác ngay khi mặc trên người bộ đồ ngủ thơm nức, mỏng tang phơn phớt hồng, trong ánh đèn huyền ảo càng tô thêm nét gợi cảm phàm tục…
Gã đàn ông lịch lãm đang lột phăng nét hào hoa bệ vệ của mình ném xuống chân người ngọc thì tiếng cửa ầm ầm giục giã… Vợ gã hiện ra với lố nhố nhiều “cây thịt người” phía sau, tay bà ta cầm chiếc kéo sáng loáng:
- Đồ rẻ tiền, muốn giựt chồng tao à? Tao sẽ cho mày biết thế nào là lễ độ! Rồi mụ ta chồm tới, chiếc kéo loang loáng trên tay xướt qua gương mặt thất thần của vợ hắn, trượt tới mang tai, một nhúm tóc rơi xuống.
- Đi… đi… nhanh đi… còn đứng đó làm gì…
Vài nhân viên nhà trọ lao vô phòng lôi phắt vợ hắn ra khỏi chốn hỗn độn nhớp nhúa ấy, miệng họ liếng thoắng nài nỉ “Bà chị mình ơi, xin hãy bình tĩnh… đàn ông nào không phạm chút đỉnh sai lầm… làm to chuyện xấu chàng hổ thiếp chứ có ai…”.
***
Mười hai giờ đêm, những cơn mưa dai dẳng như âm giọng nhùng nhằng đều đều của những mụ đàn bà lắm lời vẫn không hẹn dứt. Hắn không tài nào chờ được nữa, đắp mền lại cho hai con, khép chặt cánh cửa gỗ không còn nhìn ra màu gì, hắn lao ra đường.
Vài chiếc xe đi về muộn quét những ánh sáng vội vàng xuống mặt đường nhoèn nhoẹt nước, một bóng người nằm co ro trong trang phục rất ư kỳ lạ. Đôi chân trần tận gối không giày dép, thân trên là chiếc áo dài tay thùng thình sẫm màu… Hắn bước tới. Trời ơi… vợ hắn đây mà!
Đôi cánh tay gầy guộc của hắn không hiểu sức mạnh từ đâu dồn lên, ẵm gọn vợ vào nhà, hắn nháo nhào tìm chai dầu gió xoa khắp người rồi lấy mền đắp kín, nấu vội chút nước nóng, may mà có cái vỏ quít hồi chiều thằng con ăn bỏ trên bàn…
Cũng may, khi ra khỏi chốn quỷ quái ấy, một anh xe ôm trong số nhiều tay xe ôm vẫn hay chờ khách trước nhà trọ đã chạy theo và mắc lên người vợ hắn chiếc áo khoác của anh ta. Vợ hắn chạy đi, đôi chân trần liêu xiêu vô định nhưng hình như tận cùng tâm tư vẫn nhớ đường về lại chốn bình yên.
Vợ hắn tỉnh lại, nằm khóc thút thít. Chưa khi nào hắn nghe tiếng khóc của người phụ nữ êm ái dễ thương như bây giờ, hắn không hỏi han cũng không cau có chỉ nhè nhẹ xoa lưng cho vợ, một sự im lặng khiến người ta lo sợ hơn trăm ngàn âm thanh khủng khiếp gầm gào.
- Anh… anh… tha lỗi cho em! Chỉ có anh là người yêu em duy nhất, chỉ có căn nhà chúng ta là bình yên nhất, đừng giận em nghe anh… đừng buồn em nghe anh, em xin lỗi…
Khóc đi em, nước mắt có thể rửa trôi tất cả những gì phù phiếm nhất của cuộc đời, để ngày mai khi mọi việc đã trở thành quá khứ, em sẽ biết giá trị hạnh phúc những người nghèo… Hắn muốn nói với vợ như vậy, nhưng đôi môi mở hoài không thành tiếng, ừ thôi, hắn nói trong lòng. Từng giọt nước mắt của vợ hắn vẫn chưa ngừng rơi.
 
(Theo Tiền Phong)
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
NGƯỜI CÙNG CHUNG CƯ
DiLi
 
(Di Li tên thật là Nguyễn Diệu Linh, sinh năm 1978 tại Hà Nội. Tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại ngữ HN, hiện là giáo viên Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch HN)
 

Một cái đầu màu hạt dẻ hiện ra sau cánh cửa gỗ sơn màu cánh gián vẻ hơi ngạc nhiên, theo sau là bộ ngực trần rám nắng với hình xăm mỏ neo màu đỏ và đen bên ngực trái: "Xin lỗi, làm ơn vặn nhỏ nhạc chút vì khuya quá rồi". Hàm răng sáng bóng kéo ra một độ dài vừa đủ lịch sự: "Xin lỗi chị, phiền hàng xóm quá".
 
Miên gặp Mỏ Neo lần đầu tiên trong một vụ nho nhỏ như thế. Miên vô thức click chuột vào cuốn album trong blog của Mỏ Neo, những tấm ảnh vô thức trôi, và sống động đến đáng sợ.
***
Miên sải những bước dài, chui tọt vào cầu thang máy và nhanh chóng nhấn số 10. Không may, một bàn tay đã chẹn lấy cửa và nhanh nhẹn bước vào trong, nụ cười sáng bóng làm thân "Chị chờ chút, mình ở cùng tầng mà". Miên vô cùng dị ứng khi đứng trong cầu thang máy với người khác. Trong một mét vuông với những người xa lạ, cô thấy nghẹt thở lắm. Những tấm vật liệu được vần vào trong, cùng vài anh công nhân mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Mỏ Neo cười cầu tài: "Sửa sai việc hôm qua đấy mà". Miên không hiểu. "Hôm qua chị phê bình nên em thuê thợ làm bộ phận cách âm". Miên càng ngơ ngác. Cô mới chuyển tới khu này được hơn nửa năm, còn Mỏ Neo, mới nửa tháng, một tháng, hoặc có thể hơn. Chính xác là từ khi bị tiếng nhạc đêm hành hạ, cô mới bắt đầu nhận thức được căn hộ kế duy nhất có người ở.
Trong số những khu chung cư kế cận, khu nhà Miên ở có giá thuê rẻ nhất và chủ hộ già nhất có lẽ cũng chỉ 40 tuổi. Những cầu thang toả lên các tầng với từng cặp hai hộ khép kín, âm u và bí bách. Những cánh cửa gỗ màu cánh gián giống hệt nhau, đóng im ỉm, đơn điệu đến phát điên. Từ hồi đến đây, Miên không quen ai trong số vài trăm nhân khẩu cùng khối nhà. Thảng hoặc cô đứng chung cầu thang máy với các cư dân của tầng trên hoặc tầng dưới. Họ đều trẻ, trẻ để cảm thấy hứng thú với những cánh cửa màu cánh gián khoanh vùng một thế giới riêng, trẻ để không thích chung đụng và chia sẻ.
Sau lần đối mặt thứ hai ở cầu thang máy, thứ nhạc cấp ba kia đã chấm dứt. Lần giáp mặt kế tiếp, Mỏ Neo sang gõ cửa phòng Miên hỏi xem bên này có bị mất điện không. Không. Rõ ràng là đường điện bên kia có vấn đề. "Chị sống một mình à. Tuyệt vời đấy. Sống tự do là một trong những sản phẩm văn minh nhất của thế giới văn minh!".
***
Miên nhìn phần Interest trên blog của Mỏ Neo. Chỉ một từ duy nhất Mỏ Neo viết một cách hài hước Mien.com. Miên kết bạn với Mỏ Neo một cách tự nhiên theo lẽ trái tự nhiên nhất. Hôm đó Mỏ Neo lại gõ cửa. "Bên này có mất điện không chị?" - Mỏ Neo hỏi rồi cười xoà, vì khuôn mặt Miên lấp loá trong ánh nến đầy bực bội. "Hôm nay đúng sinh nhật em, đang định ra quán, chị đi cùng nhé? Mất điện lâu đấy".
Lũ bạn của Mỏ Neo vừa lịch sự vừa nhố nhăng. Có khoảng hơn chục đứa, cả nam lẫn nữ, chui vào một quán bar có tên là Funky Girl. Mấy đứa choẽ hai ngón tay làm điệu bộ của các rapper đường phố, đọc một đoạn rap dài trong đó có từ Funky Girl đọc chệch đi thành một chữ bậy bạ rồi cười rú lên. Miên giữ vẻ thản nhiên, cho dù Mỏ Neo có ý gàn tụi kia sợ làm Miên phật lòng. Chả sao. Đề tài liên quan đến sex bao gồm những từ ám chỉ, vật tượng trưng và các câu chuyện hài hước là thứ dễ khiến người ta hứng khởi nhất. Ở cơ quan cũ của Miên, nơi mà Miên làm ngay sau khi về nước, người ta nói chuyện sex từ sáng đến tối. Càng nhiều thời gian, các câu chuyện càng được sáng tạo, thêm thắt, những từ ngữ úp mở chỉ có Miên là không hiểu.
Trên đường về. "Chị hỏi điều này buồn cười lắm, chị chưa biết tên của em". "Ừ nhỉ, em là Gia Lương, một cái tên chưởng bộ, còn nếu để tên không thì nghe rất ngố. Chị cứ gọi em là Ricky, hồi còn đi học tụi bạn em vẫn gọi vậy". "Trước em học bang nào?". "Trường Bowdoin, Massachusette, tốt nghiệp được ba năm rồi". "Nghĩa là năm nay 25?". "Đúng. Em đoán em kém chị 5 tuổi. Chị làm thạc sĩ xong sao không ở lại?". "Thế sao em không ở lại?". Mỏ Neo ngúc ngoắc đầu: "Em khác. Sao chị chưa lấy chồng?".
***
Album trên blog mang tên Ricky vẫn vô thức trôi. Những hình ảnh hiện ra rồi biến mất. Tấm ảnh chụp hôm sinh nhật Mỏ Neo có cả Miên, vài cậu bạn tóc vàng và một cô gái giơ ba ngón tay làm thành chữ Vi.
Có tiếng chuông điện thoại, song Miên không nghe, điện thoại ngừng một lúc rồi đổ hồi thứ hai, lần này Miên rút hết dây cắm và lục tìm một túi càphê tan. Miên có gặp Lam Vi vài lần. Lam Vi bấm chuông cửa nhà Miên, không chào, xấc xược: "Ricky bảo chị mở cửa cho em. Anh ấy có việc ở công ty không về được".
Có vài lần Mỏ Neo mời Miên sang chơi. Nhà Mỏ Neo đủ màu sắc như một phòng học mẫu giáo. Tạp chí, băng đĩa, quần áo, đầu mẩu thuốc lá, vỏ kẹo và chai lọ vắt vẻo mọi nơi tô điểm vào không khí kỳ cục của căn phòng. Mỏ Neo chả có vẻ gì là ngượng nghịu, trái lại còn vứt toẹt vỏ bao thuốc xuống đất ngang nhiên như chỗ công cộng. Miên đi đi lại lại và chân tay ngọ nguậy một cách đầy bản năng. "Em có muốn chị dọn dẹp giúp em đống này không?". "Chị dọn suốt đời được à. Dọn xong ngày mai lại thế". Tuy nhiên Mỏ Neo cũng đưa chìa khoá phòng cho Miên. "Chị có thể vào nhà bất kỳ lúc nào, và làm bất kỳ điều gì chị muốn". Nó ngoắc chiếc chìa khoá vào tay, lúc lắc người tiến lại phía Miên. Mỏ Neo ép sát Miên vào tường, và nắm chặt hai tay ra ý cảm ơn. Miên luống cuống khẽ ẩy nó ra xa rồi vội vã tiến về đống báo cũ. Mỏ Neo khẽ huýt sáo vui vẻ, người vẫn lúc lắc một cách kỳ lạ với vẻ hưng phấn rõ rệt. "Chị yên tâm, em coi chị như chị gái của em". Vẫn dáng đi lúc lắc ngớ ngẩn, Mỏ Neo tiến về chiếc salon, đổ người xuống và hát ông ổng một bài tiếng Anh mà Miên chưa nghe thấy bao giờ.
Miên thấy vui vì có một người tin tưởng, giao cho cô cả chìa khoá nhà. Và thường thì cuối tuần, là những ngày Mỏ Neo đi vắng suốt, Miên mở cửa căn hộ của người bạn hàng xóm để dọn dẹp, dẫu biết rằng chỉ đến sáng hôm sau, những thứ hổ lốn kia sẽ lại xuất hiện như cũ.
Lam Vi khiến bất kỳ người nào khó chịu ngay từ lần gặp đầu tiên. Trượt đại học, mồm nói không ngơi nghỉ trừ lúc nhai kẹo caosu và hút thuốc, toàn lời lẽ bậy bạ và ngớ ngẩn, quần cạp trễ, áo quai treo, tóc tỉa hai tầng sợi ghi sợi vàng, móng tay đính cườm lóng lánh.
Miên mở khoá cửa cho Vi. Cô bé ào vào nhà, rút lon bia trong tủ lạnh bật nắp và gác cả đôi giày 9 phân lên mặt bàn. Không khí trong phòng ngột ngạt. Mỏ Neo luôn đóng tịt các cửa sổ khiến căn phòng như một thứ hầm trú ẩn của các giáo phái tà đạo. "Sao Ricky lại thích chơi với chị nhỉ?". Lam Vi bắt đầu phả thuốc mù mịt khắp phòng, thản nhiên nhìn Miên. Cô không khó chịu vì câu hỏi thiếu tế nhị đó. Chẳng phải cô cũng có chung câu hỏi như thế với Lam Vi hay sao. Có lần Mỏ Neo bảo Miên: "Chị nhạt nhẽo thật đấy". Mỏ Neo cũng giống Lam Vi, luôn nói thẳng những câu rất thô lỗ. Nhiều người bảo Miên đẹp. Nhưng Mỏ Neo đã chứng minh ngược lại khi kéo Miên ra trước gương "Chị xem này, mọi đường nét của chị đều đẹp không chê vào đâu được, nhưng khi ghép chúng vào với nhau thì cứ nhạt nhẽo thế nào ấy".
30 tuổi, Miên gần như chưa có bạn trai. Vài lần, Miên loáng thoáng thấy một anh chàng nào đó thất bại sau vài chầu càphê bình luận: "Đẹp nhưng nhạt nhẽo thế nào ấy". Và bây giờ là Mỏ Neo, ngang nhiên lôi cô đến trước gương nói rằng cô nhạt nhẽo. "Chị sống nhạt lắm". Mỏ Neo lặp lại và bất thần ôm chặt lấy Miên xoay một vòng, miệng cười khanh khách.
Lần thứ ba Miên gặp Lam Vi khi cô bé đang cưỡi lên người Mỏ Neo. Đã một giờ sáng, và Miên ngủ được một giấc rồi. Cô chợt nhớ ra chiếc điện thoại để quên bên nhà Mỏ Neo lúc sang đó dọn dẹp. Nghĩ rằng người hàng xóm giờ này đã ngủ say, Miên lấy chìa khoá nhẹ nhàng mở cánh cửa màu cánh gián. Ngay khi cánh cửa vừa hé, những âm thanh chát chúa dội vào đầu óc đang mơ màng của Miên. Những tấm cách âm dày đã khiến tiếng nhạc bị nhốt an toàn cùng với ánh đèn xanh đỏ đang nhấp nháy.
Miên hoa mắt. Cô lờ mờ thấy những hình thù kỳ dị lổm ngổm trên sàn nhà, bám vào tường, lê lết khắp mọi nơi. Cả Lam Vi và Mỏ Neo gần như vẫn còn nguyên quần áo, đang rên rỉ những âm thanh man dại. Những khối đen khác quằn quại trên salon, dưới sàn nhà trong vũ điệu quái đản và gấp gáp đầy kích động của những con mèo hoang đêm trăng tròn, đều mang dáng vẻ quen thuộc mà Miên đã gặp một lần. Một cô bé trạc tuổi Lam Vi, với bộ ngực để trần, trên người lủng lẳng mỗi chiếc váy cộc gần như sắp rơi xuống đất đang mải miết tìm gì đó dưới sàn. Cô giờ đang thè lưỡi liếm những chiếc chân bàn một cách say mê. Đôi mắt ngây dại nhưng long lanh thích thú, cô bé bò lổm ngổm lại gần gian bếp và bắt đầu liếm láp chân tường. Trên bàn ăn, một cô bé khác đang ngồi chồm chỗm, tay bám chặt thành bàn, thỉnh thoảng lại gào rú một cách thảm thiết "Giữ chặt lấy em, em sắp lăn xuống bây giờ đấy". Căn phòng của Mỏ Neo ban ngày dễ thương như phòng học mẫu giáo giờ biến thành một hang động thuở hồng hoang, ẩm ướt thứ bản năng cuồng dại và ma quái.
***
"Bố mẹ em có hạnh phúc không?". "Rất hạnh phúc! Thậm chí sếp bố tặng sếp mẹ một chiếc lược thép cách đây 30 năm mà giờ sếp mẹ vẫn còn giữ". "Em có thấy mình được chiều quá đáng hay bị ngược đãi không?". "Hô hô! Nếu quá đáng thì đã không tiêu hoá nổi 16 năm học đâu". "Em quen những người bạn kia bao giờ?". Cách đây một năm, người nọ tập hợp được người kia. Một hôm Ricky lên tiếng. Sống chán phát mứa ra rồi. Anh em thử bàn xem có trò gì mới không. Vậy là go go go, toàn đứa thông minh mà. "Em đã bao giờ bị bỏ rơi chưa?". Mỏ Neo tiến lại phía Miên, làm động tác muốn ôm cô vào ngực, dáng người vẫn lúc lắc một cách vui vẻ: "Chị thử nhìn xem. Em có đẹp trai không. Gái bu xung quanh đấy". Mỏ Neo ngả người trên ghế sôpha, giả đò làm điệu bộ khêu gợi. Rồi nó gí sát mặt đối diện với Miên, chừng không thể gần hơn được nữa" "Em chán chị lắm. Chị hỏi những câu nhạt nhẽo ấy làm gì? Chị muốn thay đổi gì ở em. Tốt nhất là hãy thay đổi cái thứ giấy bồi tường gớm ghiếc kia đi và làm cho tấm ga giường nhàu nhĩ thêm một tí. Bố mẹ em có địa vị và giàu có, nhưng nhạt nhẽo y như chị ấy. Và rồi em thấy cần phải thay đổi. Vì vậy hãy đốt lửa lên nào!".
Mỏ Neo lắc lư người và mồm tự làm nhạc, nhảy một điệu kỳ dị. "Thôi đã Ricky! Vậy là em dùng ectasy một năm rồi?". "Sao chị nói văn hoa thế, gọi là lắc, là bay, là cắn, như thế ấn tượng hơn. Không nghiện đâu, đừng sợ em. Thuốc lá không hút còn thèm chứ thứ kẹo này chỉ để vui thôi. Nhưng chị vẫn giúp em dọn dẹp nhà cửa chứ?". Khuôn mặt Mỏ Neo thoắt biến đổi, đôi mắt trẻ thơ đầy biểu cảm và giọng nói có vẻ hơi lo lắng.
Miên vẫn sang dọn dẹp giúp Mỏ Neo. Cô như một bệnh nhân kinh niên nằm giữa bốn bức tường trắng toát, bỗng một ngày nọ phát hiện lối cửa sau có một khu vườn lạ, chứa đầy hoa dại và cả những bụi gai.
Cũng có lần Miên thuyết phục được người hàng xóm từ bỏ đám bạn. Đó là hai ngày nghỉ cuối tuần. Mỏ Neo khoá trái cửa, tắt điện thoại và sang nhà Miên. Ban đêm, Mỏ Neo ngủ trên chiếc salon màu ghi. Nhưng đôi mắt nó đã vô cảm, những mẩu chuyện của Miên như dội vào một bức tường đá. Không còn những câu pha trò vui nhộn và dáng đi lúc lắc kỳ dị. Có lần, Mỏ Neo giật phắt thân hình uể oải khỏi chiếc ghế, hoảng hốt mở tung các cánh cửa tủ và rối rít tìm thứ gì đó trong buồng tắm: "Em nghi rằng có ai đang nấp trong này. Có thể là thằng cha nào đó thích chị rồi muốn tìm cách thủ tiêu em". Những lời trấn an của Miên dường như vô ích. Trong giấc ngủ thảng thốt, Mỏ Neo luôn giật mình và gào rú thảm thiết: "Miên, có người muốn giết em!". Nhưng Miên vẫn kiên trì ngay cả khi nhìn thấy ánh mắt nghi ngờ của Mỏ Neo lúc nhận cốc sữa từ tay Miên: "Biết đâu đã có đứa nào lén bỏ thứ gì vào đây thì sao?". Những cơn trầm cảm và ảo giác đầy hoang tưởng của Mỏ Neo đã khiến cuối tuần của Miên không chỉ có màu ghi như mọi ngày. Sự bất an lây lan sang cả Miên. Thế rồi, Mỏ Neo quay trở lại với cái hang động hoang dã sau cánh cửa màu cánh gián. Nó hưng phấn trở lại. Ánh mắt lúc nào cũng lấp lánh một cách kỳ dị. "Miên này, em mới tìm được một đối tác cực sộp. Sẽ mời công ty em phân phối độc quyền phần mềm ở miền Bắc". Vẻ phấn chấn của Mỏ Neo bao trùm lên Miên.
***
Chiếc xe mui trần màu vàng chanh hiện ra choán hết màn hình. Miên click chuột cho hình ảnh đứng lại. Hôm đó là một chiều cuối thu, chỉ có gió và đám mây hanh hao chậm rãi. "Alô. Chị xuống đây đi. Em đang ở dưới sân". Miên thò đầu qua ô cửa sổ. Mỏ Neo đứng bên chiếc mui trần, vẫy tay hớn hở. "Khoản trợ cấp cuối cùng để làm ăn đây, nhưng bây giờ không cần dùng tới nữa vì sắp ký được một món khá rồi. À quên, chị lên nhà thử cái này đi, thay cho mấy thứ nhạt nhẽo của chị". Nó xiết chặt hai tay Miên: "Em cảm ơn chị vì thời gian vừa qua". Mỏ Neo đưa cho Miên một hộp quà bọc giấy màu đỏ boócđô. Màu đỏ tươi của chiếc váy lụa mỏng manh như kết theo nụ cười bừng sáng của Mỏ Neo. Nước da Mỏ Neo không còn màu rám nắng hấp dẫn, nó tái lại và bắt đầu lộ đường gân xanh trên cánh tay gầy gò. Mỏ Neo huýt sáo vui vẻ ngồi sau vôlăng, lòng mắt in hình bầu trời xanh thẳm. Em sẽ chở chị đi bất cứ nơi nào chị muốn.
Hôm sau thì mẹ Mỏ Neo tìm đến, trách mắng nó đã xài tiền vào cái việc mua sắm vô lý. Bà là một phụ nữ sang trọng, dịu dàng nhưng nghiêm khắc. Hôm ấy Mỏ Neo về sớm hơn thường lệ. Miên cảm thấy một cuộc tranh cãi căng thẳng giữa bà và người hàng xóm bướng bỉnh sau cánh cửa gỗ dày. Khi bà rời khỏi khu chung cư, bực đến nỗi quên cả chào Miên, thì cũng là lúc Mỏ Neo ập sang, rơi xuống chiếc salon màu ghi như quả táo nẫu. "Em thất bại rồi. Phía bên kia không ký nữa vì em thiếu một số giấy tờ pháp lý. Tưởng là chạy được nhưng...". Mỏ Neo phẩy tay, nhìn Miên như muốn khóc, như muốn tròng mắt bỗng dưng mù loà để khỏi phải nhìn thấy vạn vật xung quanh. Miên nói một câu nhạt nhẽo và hết sức vô nghĩa trong trường hợp này: "Thôi, thua keo này ta bày keo khác". "Không còn keo khác nữa. Để lấy uy tín với nhà cung cấp, em đã đầu tư quá nhiều cho các đại lý rồi. Đây là nước cờ sai lầm và thiếu thực tế. Em ngu lắm". "Không sao Ricky, kinh doanh là thế". "Miên ạ, em thất bại hết lần này đến lần khác, và bây giờ phá sản rồi. Cái xe kia cũng sắp phải cho đi ở đợ rồi".
Mỏ Neo bấm điện thoại: "Lam Vi, ở đâu đấy, anh cần em!". Miên biết rằng giờ phút này, Mỏ Neo cần Lam Vi. Lam Vi là thứ thuốc quên thực tại và dìu con người ta vào bầu chân không trong vũ trụ. Nơi đó có cái hốc đen ngòm tham lam sẵn sàng nuốt chửng cả ảo giác và tri giác, cả sự sống lẫn cái chết.
Chiếc xe màu vàng vẫn đứng đó, vui vẻ trên màn hình. Nó không còn nữa, không phải bị thanh lý để Mỏ Neo trả nợ mà vĩnh viễn nằm dưới vực sâu, nát vụn, cô độc, dưới một chỗ ngoặt hiểm. Tất cả đều không biết Mỏ Neo có việc gì phải đi qua vách núi đó vào đêm hôm khuya khoắt như vậy. Lúc ấy là hai giờ sáng, theo phỏng đoán thì có thể là do lái xe buồn ngủ, gặp một cơn choáng hay một chướng ngại vật ảo giác. Và cái vực sâu hun hút, tối tăm, lạnh lẽo, ranh ma chỉ chờ có vậy, hứng trọn vẹn những gì thuộc về nó như ánh đèn hứng cánh thiêu thân vậy.
Miên vẫn đi làm, đều đặn, vẫn chiều chiều nhai bánh mì gối và cà chua bi, tối đóng chặt cửa và mở máy vi tính. Những lúc này, màu sắc sặc sỡ trên blog của Mỏ Neo như đưa cô vào một thế giới khác, đầy ảo ảnh buồn thương và điên khùng.
Trên Friendlist của Mỏ Neo lấp lánh hàng trăm gương mặt trẻ tuổi, xinh đẹp, mẫn cảm, tự tin, tràn đầy sức sống. Miên click chuột vào chính ảnh mình. Trái với Friendlist hơn trăm người của Mỏ Neo, blog của Miên chỉ có một người bạn duy nhất. Cô mở to mắt khi nhìn thấy tin nhắn, bên cạnh là khuôn mặt rám nắng "Giờ này chắc chị ngủ say rồi. Có người bạn thân của em ở trên Lạng Sơn mời lên chơi. Anh này lập một công ty lớn trên đó, có ý muốn rủ em làm ăn chung. Em vẫn nuôi ý định làm lại từ đầu chứ không muốn đi làm thuê. Em biết chị giận em, nhưng lần này em sẽ từ bỏ "nó". Em hứa đấy. Bây giờ là 12h đêm, em sẽ đi luôn bây giờ mà không cần chờ trời sáng. Đừng lo cho em, lúc về em sẽ mua tặng chị một món quà đặc biệt ở chợ biên giới. Chị cứ ngủ đi nhé. Hẹn gặp lại chị ngày mai". Tin nhắn được gửi cách đây một tuần, đúng vào ngày chiếc xe màu vàng vĩnh viễn ngủ yên dưới vực thẳm.
 
(Theo Lao Động)
 
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
CHUYỆN KỂ TRONG THÀNH PHỐ
Ngân Hoa
 
Ba nhân vật khác nhau về lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp. Nhưng câu chuyện của họ đều là về một người con gái chết trẻ. Qua những câu chuyện ấy, chân dung hiện lên rõ nhất không phải là cô gái kia, mà là chính người kể. Và, mỗi câu chuyện ấy, giống như là một lỗ thủng, hay một ô cửa sổ để người đọc ghé mắt vào đó mà thấy vài chân dung tinh thần của một đời sống thị dân.
 
Chuyện kể của tên du đãng
 
Không ai tin nàng là một trinh nữ.
Họ cho rằng tôi là một thằng đểu và tôi nói vậy chẳng qua để trốn tội!
Các người cứ hỏi đi hỏi lại mãi rằng bằng cách nào mà tôi quen được nàng. Chẳng bằng cách nào hết. Hôm đó tôi vừa trúng mánh, bán được một con xe nát với giá hời cho một gã nhà quê. Tôi ngồi uống bia với mấy thằng bạn. Nàng đi qua và tôi gọi: "Này cô bé!". Tôi thấy nàng nom bắt mắt, hay hay thì gọi bừa cho vui thôi. Một kiểu ghẹo gái mà các người hẳn cũng biết thừa. Nàng quay lại và mỉm cười với tôi. Chắc nàng cũng nhận ra tôi không phải người quen nhưng cũng chẳng tỏ vẻ gì khó chịu. Điều đó làm tôi thấy mến nàng. Nàng không có cái kiểu tinh tướng của mấy đứa con gái ra vẻ bắc bậc kiêu kỳ nhưng mới liếc mắt đã sán lại ngay. Tụi bạn nhậu hỏi tôi: "Mày quen con bé ấy à?". Tôi gật đầu. Các người còn lạ gì tính sĩ diện của đàn ông. Thực ra tôi còn chưa biết tên nàng.
Lần thứ hai tôi gặp nàng cũng hết sức tình cờ. Tôi đang ngồi đợi khách trong một quán cóc ở cổng trường thì nàng bước vào mua một bịch cóc dầm rất to. Chẳng lẽ cô bé này có thể ăn hết chỗ cóc dầm ớt đỏ lòm ấy? Tôi thấy vui vui khi gặp lại nàng. Tôi xin được trả tiền cóc dầm cho nàng. Nàng từ chối nhưng bà hàng nước đã cầm tiền của tôi rồi. Tôi xua tay ra hiệu không phải trả lại. Bà ta tưởng chúng tôi quen thân nhau. Nàng cảm ơn tôi rồi chạy vội vào cổng trường vì trống đã báo giờ vào lớp. Sau giờ học tôi theo nàng về đến tận nhà. Từ đó ngày nào tôi cũng trồng cây si trước cổng trường. Lúc đầu nàng cũng có vẻ hơi sợ tôi.
Chúng tôi chỉ thân nhau từ vụ tôi giải cứu cho nàng khỏi mấy thằng nghiện trên đoạn đường qua cánh đồng sau xóm liều. Nàng thường đi học thêm tiếng Anh về trên đoạn đường đó. Các người có thể cho rằng đó chỉ là màn kịch do tôi dựng nên. Nói thật nhá đây không thèm giở cái trò tanh tưởi đó. Chuyện yêu đương là phải quân tử. Thích nhau thì O.K, không thích thì bái bai.
Một lần tôi thấy nàng có vẻ buồn lắm. Mắt đỏ hoe. Hỏi gặng mãi mới nói đang mết một thằng cha thơ thẩn giẻ rách gì đó. Nói thật tôi thì chỉ là thằng vô học nhưng ba cái thằng thi sĩ nửa mùa đó tôi khinh một mắt. Thơ của tụi nó rặt một giọng tán gái tanh không chịu nổi. Muốn chăn gối với người ta thì cứ nói mẹ nó ra, đằng này lại làm thơ đêm nay anh không ngủ được vì nhớ em rồi lại ra ngắm sao trời... Nàng có vẻ phật ý nên tôi cũng không dám bóc mẽ cái thằng cha thi sĩ bất đắc dĩ đó nữa. Nàng còn nhờ tôi đưa quà cho hắn nhân dịp ngày lễ Va lăng tanh va lăng tiếc gì gì đó. Tôi chiều hết. Thực ra tôi cũng thấy nàng dở hơi trong ba cái chuyện đó. Con gái mà không biết cành cao là chỉ có thiệt, nhưng vì đã coi nhau như anh em nên tôi luôn sẵn sàng làm vệ sĩ cho nàng.
Thằng cha nhà thơ của nàng chuối hết chỗ nói. Hắn hỏi tôi: "Ông là bồ của cô bé cóc dầm à?". Tôi bảo: "Nàng gửi cho ông cái này". Hắn cầm món đồ quẳng vào một xó rồi lôi chai rượu trắng mời tôi. Hắn bảo: "Cô bé cóc dầm của ông bám dai quá. Tôi chẳng biết phải làm thế nào. Bây giờ có lẽ chỉ còn kế tẩu vi thượng sách". Hắn lại còn lôi thơ ra đọc, bắt tôi phải nghe. Tôi thấy buồn nôn. Tôi bảo hắn: "Tôi đ. hiểu gì về thơ ca nhưng tôi biết ông là thằng đểu. Ông ngủ với nàng rồi bây giờ tính cắp quần chạy hả? Nói cho ông biết, ông mà giở cái trò chó má ấy là sẽ ăn đủ với thằng này đấy!". Tôi tính doạ chơi thôi ai ngờ thằng cha nghệt mặt ra như ngỗng ỉa. Mẹ kiếp! Thằng hèn! Tôi phủi đít ra về. Chuyện này tôi không kể ra vì sợ nàng buồn.
Chiều hôm ấy nàng ngồi lỳ trong quán ăn gần hết cả lọ cóc dầm. Tôi thấy xót ruột vì trông nàng ngơ ngác như người mất hồn. Tôi rủ nàng đi ăn miến lươn cho ấm bụng. Nàng bằng lòng ngay. Có vẻ nàng thích lang thang, không muốn về nhà. Trong lúc ăn miến lươn, nàng hỏi tôi: "Nếu anh vẫn yêu một người mà biết người ta không còn yêu mình nữa thì anh sẽ làm gì?". Tôi nghĩ cô bé này chắc đang thất tình rồi, nên bảo: "Thằng nào lừa em? Cứ để anh đến cho nó một bài học".
Nàng lắc đầu, không chịu nói. Rồi lại bảo: "Em chẳng muốn về nhà chút nào. Mẹ thì lúc nào cũng kể tội bố. Bố thì chỉ uống rượu rồi lại lầm bầm chửi mẹ là con đĩ. Hôm qua em cũng bị gọi là con đĩ. Đàn bà ai cũng là con đĩ hả anh?". "Đứa nào gọi em là con đĩ để anh đến đấm vỡ mõm nó ra. Đồ chó!".
Thấy tôi to tiếng, nàng sợ tôi nổi cáu mà đi đấm vỡ mõm cái thằng đã dám gọi nàng là con đĩ thật, nên vội nói: "Đứa nào mà chẳng có thể gọi như thế. Hôm qua em đi đường, vô ý chạm xe vào một người ăn mặc rất lịch sự, trông ra dáng trí thức lắm. Vâỵ mà hắn quay lại chửi em là đồ đĩ mắt mù à...". "Em đi đứng cho cẩn thận đấy. Cứ lơ nga lơ ngơ là có ngày chết oan chứ bị chửi là đồ đĩ thì đã nhằm nhò gì!". Ăn miến lươn xong nàng đạp xe về. Tôi đang có hẹn với một khách hàng nên cũng đi luôn, không đưa nàng về như mọi khi.
Ai ngờ đó là lần cuối cùng tôi gặp nàng. Sớm hôm nay khi đến cổng trường, vừa ngồi vào quán nước tôi đã nghe bà bán cóc dầm bảo: "Cậu không biết gì à? Con bé vẫn ngồi ăn cóc dầm với cậu ở đây chết rồi. Gia đình vừa cho người đến báo với nhà trường xong. Nghe đâu bị tai nạn nhưng có người lại nói là con bé uống thuốc ngủ tự tử... Mà này, nghe đâu con bé đã có thai ba tháng rồi. Không biết là có với thằng nào... Các cô bây giờ... Thời của chúng tôi mà như thế thì...". Cứ thế bà ta nói một thôi một hồi. Các người còn lạ gì câu chuyện của mấy con mẹ rỗi việc buôn dưa lê ấy. Cứ như thể cái tin mà bà ta vừa báo cho tôi là một tin mừng không bằng. Tôi vớ lấy xe lao ra đường. Tôi chẳng biết mình định đi đâu. Tôi chẳng định chạy trốn đi đâu hết. Tôi chẳng có tội gì. Tôi đã nói mãi mà các người không tin ư? Nàng là một trinh nữ! Giấy khám nghiệm tử thi à? Giấy khám nghiệm tử thi thì liên quan gì đến tôi? Tôi nhổ toẹt vào cái giấy khám nghiệm tử thi của các người! Các người mới chính là những cái xác chết đang bốc mùi, đang thối rữa ra. Mẹ kiếp! Tôi phải nói đi nói lại với các người đến bao giờ? Nàng là một trinh nữ!
 
Chuyện kể của một thi sĩ
 
Tôi có yêu nàng không? Tôi không thể trả lời điều đó theo cách hiểu của các ngài. Tôi yêu nàng như yêu tất cả những gì đẹp và mong manh ở cõi đời này. Nàng đẹp và phù phiếm. Nhưng nàng lại luôn đòi sự vĩnh cửu. Sự vĩnh cửu của tình yêu không hiện diện ở đời sống thế tục của chúng ta. Chỉ có tình yêu với Đấng Tối Cao là vĩnh cửu. Tình yêu với Đấng Hằng Sống trường tồn trong chúng ta và làm nên thơ ca. Tôi tôn thờ tình yêu ấy.
Tôi có ham muốn nàng không? Thân xác con người chỉ là phương tiện. Chúng ta bị cầm tù trong thân xác của chính mình. Tình yêu giúp chúng ta phá bỏ cái nhà tù đó. Trong cuộc ái ân của những thân xác, chúng ta đã vượt qua khoảng chết ngắn để đến với sự sống đích thực. Khi rời bỏ thân xác, chúng ta bay lên bằng đôi cánh của tinh thần. Lúc thân xác chúng ta nằm lại trong sa mạc của nỗi cô đơn thì tinh thần đưa chúng ta tới ánh sáng bất tử. Đó là một hành trình của số phận. Mỗi người chúng ta đều mang cỗ xe một bánh của mình trên con đường đó. Liên tục chết đi và tái sinh. Chúng ta đã để lại biết bao xác thân phù du trên con đường đi tới sự sống vĩnh hằng đó...
Khi nàng gõ cửa phòng tôi lần đầu tiên, tôi đã tự nhủ rằng thế là bánh xe số phận đã đưa nàng đến. Không! Tôi không mê hoặc nàng, không dụ dỗ nàng. Nàng đã tự đến như một tín đồ của tình yêu vĩnh cửu. Nàng đã chết cho tình yêu ấy. Xin đừng kết tội ai vì cái chết của nàng! Nàng giàu có hơn tất cả chúng ta, mãn nguyện hơn tất cả chúng ta...
Lần cuối cùng gặp tôi nàng nói: "Em chẳng còn gì để cho anh!". Tôi đã an ủi nàng: "Anh còn cần gì hơn nữa?". Nàng có vẻ hoảng hốt, bất an. Có lẽ nàng sợ hãi điều gì đó. Tôi biết có một gã du đãng đang theo đuổi nàng. Nàng thú nhận: "Em đang nghĩ đến một người khác...". Nàng khóc. Tôi ôm lấy nàng: "Lúc nào em cần cứ đến với anh. Anh luôn là của em". Nàng lắc đầu. Tôi linh cảm thấy rằng nàng sẽ chẳng bao giờ đến nữa. Nàng là thế, cố chấp và bướng bỉnh... Nàng khao khát tình yêu nhưng tình yêu lại là sự đầy đoạ đối với tâm hồn nông nổi và yếu đuối của nàng.
Xin lỗi, tôi đã trữ tình ngoại đề quá nhiều phải không? Tôi chưa trả lời câu hỏi của các ngài hay sao? Về chuyện cái thai trong bụng nàng ư? Ai là cha đứa bé ư? Điều đó có gì là quan trọng đâu. Khi một người đàn ông và một người đàn bà nhìn thấy nhau là đã có một ý chí muốn sống của một sinh thể mới thôi thúc họ. Cái sinh thể thứ ba này là nguyên nhân và động lực chủ yếu của tình yêu cuồng nhiệt. Nó đòi hỏi được hiện hữu. Nó làm cho bốn mắt nhìn nhau say đắm. Nhưng ở đây có một sự quá tải, một nghịch lý...
Người đàn ông luôn có khả năng sáng tạo vô hạn. Còn người đàn bà thì chỉ có thể hoài thai trong một giới hạn rất nhỏ. Để bù lại sự phí phạm đó, tạo hoá đã tạo ra tính phóng đãng của đàn ông và sự thuỷ chung của đàn bà. Cho nên một người đàn bà ngoại tình là trái quy luật, còn một người đàn ông là điều hiển nhiên. Cái thai là một vật tự nó. Nó ra đời hay không ra đời vì bất cứ lý do nào đều là do ý chí muốn sống của chính nó. Mọi hành động của chúng ta đều chỉ tuân theo cái ý chí bí ẩn đó một cách vô thức.
Tại sao các ngài cứ hỏi đi hỏi lại điều đó? Tôi đã nói nhưng các ngài không tin. Nếu như bây giờ nàng sống lại và nói rằng đó là đứa con của ai đó thì các ngài lập tức cho rằng nàng đã lừa dối vì muốn trói buộc người ấy. Nếu tôi từ chối đứa bé còn chưa thèm chấp nhận sự hiện hữu của chính nó trong cõi đời này thì các ngài lại bảo rằng tôi là một thằng đểu. Điều duy nhất làm các ngài đẹp lòng là sự xấu xa của kẻ khác. Cho nên câu trả lời sẽ là tôi chẳng biết gì về chuyện này. Đây là một điều bất khả tri. Nó không phải do ý chí của tôi. Tôi chẳng có quyền lực gì. Tôi chỉ là một kẻ thừa hành, không phải đấng sáng tạo. Tốt nhất các ngài hãy đến hỏi Chúa Trời. Ông ta mới là cha đích thực của đứa bé.
Buổi chiều trước khi nàng chết, chúng tôi có ở bên nhau, đến tận tối mịt. Tôi đọc thơ cho nàng nghe. Nàng khóc nức nở và nói: "Em thấy mình cứ ở mãi trong bóng tối. Em chìm trong bóng tối mênh mông. Em nhìn thấy anh nhưng không biết vì sao có một màn sương mù đặc ngăn cách hai ta. Em đi mãi đi mãi mà vẫn không đến được với anh". Tôi an ủi nàng: "Đó là vì em đang sống trong một thời gian khác, một không gian khác, một vận tốc khác. Hãy đến với anh trên đôi cánh của AÁnh Sáng. Đừng đến bằng đôi chân rời rã của mặt đất. Lúc đó em sẽ bước được vào thời gian và không gian của anh. Em sẽ ở bên anh mãi mãi". Bây giờ có lẽ nàng đã đến được nơi cần đến. Nàng đã bay trên đôi cánh của tình yêu bất tử.
 
Chuyện kể của bà bán cóc dầm
 
Có, tôi có biết con bé ấy. Ngày nào mà nó chẳng mua cóc dầm ở quán tôi. Sao, ngộ độc cóc dầm à? Làm gì có chuyện đó! Chưa có ai chết vì ăn cóc dầm bao giờ! Cóc dầm của tôi không tẩm đường hoá học, không trộn phẩm màu, không ướp phoócmôn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhưng mà con bé ấy ăn cóc dầm như người ăn dở. Nhìn nó ăn tôi đã nghi nghi. Lông mày thì cứ dựng đứng lên, da xanh mét, cổ phập phà phập phồng. Không phải là đàn bà chửa thì cứ đem đầu tôi ra mà chặt. Cái ngữ ấy thì chửa hoang là chuyện thường. Mấy thằng xe ôm ở đây, thằng nào chả ngủ với nó. Cả lão già bảy mươi tuổi chạy con xe tám mốt nát kia kìa, mới hôm qua cũng khoe được con bé mới mười sáu ấy cho không vì nó chán đời, hận bố mẹ. Lúc đầu lão sợ lắm nhưng sau lại nghĩ của trời cho, không ăn no cũng phải tội. Khốn nạn, lão đáng tuổi ông nó. Thế mà không biết dơ, lại còn đi đâu cũng khoe ông ổng, làm như hay hớm lắm. Đấy là tôi nghe mấy thằng xe ôm nói thế chứ tôi có phải chủ chứa nhà thổ đâu mà biết được ma ăn cỗ ở chỗ nào. Hỏi vớ hỏi vẩn! Đấy lão ấy đến kia kìa!
(Nói với ông xe ôm)
- Bác uống gì? Trà nóng à?... Có ngay đây! Dạo này làm ăn thế nào? Hôm nay chạy xe được mấy chục nghìn? Chiều hôm qua thấy chở con bé cóc dầm ở đây đi đâu thế? Nhất bác đấy! Già đâu mà già! Già được như bác thì ai chả muốn già! Con bé chết rồi, bác không biết à? Nghĩ cũng tội! Con gái con đứa bây giờ hư hỏng thế đấy! Đâu phải như thời chúng mình bác nhỉ? Cứ là gọt đầu bôi vôi, thả rọ trôi sông... Gớm, bác cứ nói thế! Em chả dám! Nhưng mà hôm nào mát trời mời bác cứ qua nhà. Bác làm chén rượu cho ấm bụng nhá! Trời rét quá bác nhỉ? Giời mưa giời gió thế này chỉ chui vào chăn là thích...
Nàng không nghe thấy bất cứ một câu chuyện nào trong thành phố.
 
(Theo Lao Động)
 
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
BÍ ĐỎ
Trần Quỳnh Nga
 
Tín đứng trên lưng chừng đồi cát, đôi mắt anh ôm trọn lấy ngôi làng sau bao năm xa cách. Thân thuộc quá, như từng gốc cây bụi cỏ này bàn chân vừa mới giẫm hôm qua vẫn đang còn dấu dép...
 
Làng Tín nằm trong thung lũng, trước mặt là đồi cát, sau lưng là núi trọc đầy trảng cây bụi. Con đường đất độc đạo dẫn vào làng đầy bụi đỏ và những trảng cây bụi ăn lan ra cả mặt đường lẹm như phải tay người thợ cạo tóc vụng. Được gọi là làng ven biển nhưng muốn ra biển, người làng Tín phải vòng qua đồi cát trước mặt, dọc theo con đường đầy cỏ tranh và những cây mai biển còi cọc rực vàng vào độ cuối đông lành lạnh.
Làng nghèo, trẻ con ít học, suốt ngày bám mặt ngoài những ruộng đất cát trồng hoa màu và ra bờ biển cào lá phi lao rụng về đun bếp. Phi lao mọc thành rừng chắn gió ven biển, bọn trẻ chỉ cần cào một lúc đã đầy sọt. Chúng gối đầu lên cát, nằm san sát nhau như những quả bí đỏ tháng tám. Mặt đỏ bừng vì nắng.
Làng Tín nổi tiếng vì giống bí đỏ, từ thời mở đất đã lưu truyền câu chuyện nửa hư nửa thực về sự tích loài cây này. Thuở đó, có một người con gái Thuỷ thần vì quá yêu chàng trai miền biển mà đã trái luật cha, cùng chàng trai lên ở đất liền. Thuỷ thần giận dữ, năm ấy biến tất cả nguồn nước trong làng thành nước mặn. Chàng trai đi lên núi cao để tìm nước ngọt về cho dân làng, đi miết mà không tìm được. Nàng thương chàng, hoá phép thành dòng suối mát chảy ngầm trong đá. Đến khi chàng về thì không còn kịp nữa, chàng trai thương nhớ người yêu, khóc mãi rồi gục xuống trên bờ cát nóng. Mùa thu năm ấy, chỗ chàng trai nằm mọc lên một loài cây lạ. Hoa vàng rực, thân dây leo và có quả khi chín màu vàng, ngọt và mát. Người làng nói hương vị của loài bí đỏ này kết tinh từ vị ngọt của nước suối, có vị đậm đà của biển, của nước mắt đôi trai gái ấy mà thành. Bí trồng đất làng Tín, ngon không làng nào bì được.
Tín không về làng vội. Anh đi theo đường mòn ra phía biển. Tháng ba, biển lạnh đến u buồn. Trời vừa ngả chiều mà sương đã chùng xuống, rịn từng giọt trên lá như người đàn bà mau nước mắt. Tín bốc một nắm cát, cát trắng ẩm ướt, anh thấy mặn nơi đầu lưỡi. Chỗ gốc cây anh ngồi, nơi cao quá đầu người một chút, vết khắc vẫn còn, trăng trắng trên vỏ cây xù xì, thâm xỉn. Cái cây này quá thân thiết với Tín, thân thiết như bàn tay người con gái hồi nào mềm ấm, run rẩy trong tay anh...
***
Miên đang tưới nước cho ruộng bí đỏ đang độ sung sức nhất. Hoa vàng rực khắp cả cánh đồng và những ngọn non dài vươn lên trong nắng. Miên gánh hai thùng nước, nước từ cái roa nhỏ tơi như mưa nhảy trên lá, trên hoa rồi lẩn nhanh xuống cát. Chân Miên trắng lẳn như củ sắn vừa mới bóc thoăn thoắt bước giữa hai vồng bí nhịp nhàng, mỗi bước chân Miên làm những tay leo như chiếc lòxo xanh non rung lên nhè nhẹ.
Trời sâm sẩm tối, khi đom đóm đã bắt đầu túa ra từ các bụi cây, bay lập loè, Tín mới thấy Miên tấp tểnh đi về trên triền cát hâm hấp nóng. Cát lẫn vào các kẽ chân, bám vào lai quần còn có cả những bông cỏ may khô roong vì nắng. Lửa bắt đầu lật đật cháy, bóng hai mẹ con Miên đổ vào vách nhà. Mặt nàng ánh đỏ cô đơn. Chồng Miên chết biển đã ba năm rồi, khi con bé Mai vừa chớm ngậm dây rau của mẹ. Tín còn nhớ lần ấy, Miên xấp xoã chạy, chân lẫn trong cát, cỏ tranh cào bắp chân toé máu. Nàng không khóc được. Mắt lạnh băng không chớp. Tín thương lắm, Miên như cánh chuồn ngủ đông đến mụ mị cả người rồi sang xuân không còn đủ sức để tung cánh bay lên được nữa.
Thực ra, Tín đã thương Miên từ lâu lắm rồi, thương từ khi Miên còn son rỗi. Cả hai đã đôi lần hẹn hò nhau bên giếng Cát đầu làng, nơi dòng nước chảy từ khe đá ngọt lành tụ lại trên cát mà không bao giờ vơi cạn. Đó là vùng đất thiêng, là nơi hò hẹn của những đôi lứa yêu nhau, đã vốc nước uống trên tay nhau thì suốt đời không thể nào quên được. Ngày trước, Miên đã uống nước trên tay Tín. Hôm ấy, lần đầu tiên trong đời, Tín được cầm tay một người con gái. Bàn tay anh run run lồng vào áo, chạm vào vú nàng. Cặp vú tròn vổng, căng và ấm như ức con bồ câu chợt chấp chới vụt khỏi tay anh...
Miên phủ phục trên người anh, đôi mắt đen nhưng nhức, bàn tay bối rối hết gỡ ra rồi lại tết vào bím tóc lấm cỏ. Miên không muốn về nhà, về nhà bây giờ là đồng nghĩa với việc mất anh mãi mãi. Ngày mai đây, Miên phải lấy chồng. Hai gia đình đã có giao ước. Chồng Miên là thợ lặn. Anh khoẻ mạnh và rắn chắc như cây gỗ lim..., chỉ tiếc một điều, vẻ đẹp đó không làm Miên thổn thức. Tâm hồn Miên, trái tim Miên đã quá thân thuộc với mùi mồ hôi của Tín, thân thuộc đến mức có cảm tưởng như đã lẫn vào nhau...
Miên lấy chồng đúng vào ngày lập thu. Suốt đêm ấy, trời lắc rắc mưa nhưng sáng ra lại hưng hửng nắng. Miên ngồi như phỗng, chẳng buồn quan tâm cô thợ trang điểm vẽ những gì trên mặt mình... Miên nghĩ rồi đây, làm cách nào cô có thể trở thành người xa lạ với Tín. Tín sẽ không hiểu được vì sao người con gái đã uống nước suối trên bàn tay ram ráp to bè của mình rồi mà vẫn có thể thương được người khác. Nghĩ thế, thương Tín quá, Miên lại khóc. Lũ trẻ hàng xóm thích thú đu đưa nơi cửa sổ mà ngó vào ngưỡng mộ cô dâu đẹp. Đưa con ra đến cổng, bố mẹ Miên cười giòn, mặt đỏ như tô son vì ăn trầu, uống rượu. Chỉ có Miên là cứ vừa đi vừa khóc. Bao nhiêu nước mắt đã chảy từ đêm qua đến giờ, mắt húp lại, bàn chân bước trên ruộng bí đỏ hàng trăm lần, quen như da thịt mình mà sao Miên cứ vấp hoài, suýt ngã.
Riết rồi cũng quen, ngón tay Miên đã đeo nhẫn cưới lấp lánh rồi thì làm sao còn có thể gỡ ra được. Mà dẫu có thể gỡ bỏ được thì dù Miên có lặn sâu xuống đáy giếng Cát cũng không thể nào gột nổi vết ngấn nó để lại... Làm sao có thể là Miên như ngày xưa nữa. Biết vậy, Miên yên phận. Thôi không muốn giẫm chân lên lối cỏ quen, thôi không ra đồng trồng bí đỏ nữa, chỉ sợ tâm hồn như chiếc chăn mỏng có thể bị thổi lật tung. Miên ngồi nhà vá lưới thay chồng. Bàn tay khéo léo thắt từng nút cước trắng. Từng cụm, từng cụm treo đầy sân trông như mây vậy.
Từ hôm trời bắt đầu ngả rét, chiều nào Tín cũng ra ngồi trên bãi đá trước biển. Anh sợ những buổi chiều chập choạng trong nhà mình, cái khoảng thời gian tranh tối tranh sáng làm cho căn nhà vách đất bỗng nhiên rộng mênh mông. Sống một mình từ lâu rồi, nhưng không hiểu sao từ đợt Miên đi lấy chồng, Tín không muốn trở về nhà nữa. Mỗi lần đỏ lửa là mỗi lần Tín thấy bóng Miên rung rinh trên vách. Miên ngồi khâu áo, mắt nhìn anh, Miên vừa cười vừa cắn chỉ may, trông hiền như một người vợ thảo. Nghĩ thế, mặt Tín đỏ bừng, không phải vì hơi rượu nồng, không phải vì ánh lửa. Anh cảm thấy hơi nóng toát ra từ ngực, từ mắt, từ tóc. Người Tín đột nhiên ướt rịn mồ hôi, rân rân như kiến bò. Anh nằm ngửa trên nền gạch, mái hiên thủng lỗ chỗ lấp lánh ánh trăng đan qua kẽ lá rọi xuống người làm anh bừng tỉnh, miếng vá cồm cộm trên vai anh nhưng nhức. Từ trên mỏm đá này, anh có thể thấy Miên mỗi chiều vác lưới ướt, nước chảy xuống chân nàng từng dòng, lặng lẽ đi sau chồng một quãng. Đôi mắt u tối, sâu như biển, mọng nước.
Nhà Miên dọn ra cuối làng, chỗ con đường mòn ra biển. Chỗ con đường mọc đầy cỏ tranh và hàng rào trồng toàn xương rồng trổ bông trắng. Chồng Miên hiền lắm, thương vợ lắm. Hiền đến nỗi dù không yêu anh, Miên vẫn thấy thương thương lạ, nên mỗi lần vào trong xóm vô tình gặp Tín là Miên lại che nón đi thẳng.
Nhưng tránh mãi rồi cũng có lúc phải gặp nhau. Nào có ghét bỏ gì nhau mà quay lưng cho đành. Miên đã uống nước trên tay Tín rồi, dẫu không muốn, hình ảnh anh cũng không thể nào bay đi như bông gòn tháng sáu vậy. Đó là một buổi chiều, khi những con dơi đã bắt đầu rời tổ, chấp chới bay vạch nét đen giữa bầu trời. Miên ngồi ở mỏm đá, bó gối chờ chồng. Còn Tín, chờ ai, anh cũng không biết nữa. Hai người ngồi lặng bên nhau. Được một lúc, Miên thở dài "Từ mai, đừng ra đây ngồi nữa nhé!".
Tín nghe lời Miên nhưng cũng tối hôm ấy chồng Miên lỡ hẹn. Anh đã không trở về. Bàn tay Miên cào trên cát rớm máu. Miên không khóc, lặng im như đá suốt đêm cho đến khi thấy bụng quặn đau và cơn buồn nôn ập đến, Miên mới bừng tỉnh bước về nhà. Bàn tay đặt xuống vùng bụng đã bắt đầu tròn lẳn.
Ngày Miên sinh con bé Mai, bí đỏ chín vàng ngoài đồng. Cơ man nào là quả, chen chúc nhau dưới ruộng, bò lên cả mặt đường vụng về. Dây bí khô, xù như sợi dây thừng bở. Lũ em Miên, đứa lớn 17, đứa nhỏ lên 6 đang hì hục làm, mồ hôi vã ra như tắm. Tín cũng ra làm. Anh xếp những quả bí lên xe rồi chở về nhà, Tín đi ngược nắng, cả khuôn mặt lấp lánh đỏ. Bố mẹ Miên đang ngồi nghỉ trước hiên, anh lặng lẽ gật đầu chào rồi xếp những quả bí xuống nền đất phía tây cạnh phòng Miên đang nằm. Không hiểu sao, lúc ấy Tín lại ghé chân nhìn qua cửa sổ. Con bé đang bú, bàn tay Miên vỗ nhẹ lên lưng con. Đôi mắt nó đen nháy, anh nhìn không chớp mắt, cứ nghĩ con bé như vừa bước ra khỏi bức tranh thánh trong nhà thờ xứ nào đấy. Nhìn thấy cảnh ấy, mẹ Miên thở dài, tiếng thở nóng, nặng nhọc như người sắp cảm. Anh không nói gì, bàn chân chần chừ, định nói một câu đùa tếu táo nào đó với cụ nhưng lại không nghĩ ra câu gì. Anh vội ra ngõ.
***
Sang tháng này, con bé Mai đã ba tuổi. Hết mùa lạnh rồi sang mùa nắng, Miên cứ gửi con ở nhà mà đi tìm chồng. Lũ em Miên thay nhau trông con cho chị. Miên lặn lội hết làng biển này đến làng biển khác để hỏi tin chồng. Trước lúc đi, anh chẳng để lại cho mẹ con nàng cái gì cả. Không một lời nhắn, không một miếng áo dạt vào. Đi là đi, quay lưng dứt tình như không vương vấn gì với nhau cả. Nước mắt Miên đã khô rồi, như lòng suối mùa cạn. Miên lại trồng bí đỏ. Mùa này, bí tràn xanh cả vùng cát trắng. Những trái non đang căng sữa, da chớm những vạch vàng bổ dọc trên vỏ quả xanh non. Bé Mai chỉ biết cười, đôi mắt ướt như mắt thỏ con. Miên ôm lấy con mà lắc: "Mai, con yêu mẹ không?". Con bé im lặng, chớp đôi mắt ướt, gật đầu. "Không được gật như thế - Miên oà khóc - Con phải gọi mẹ, gọi mẹ đi!". Không có tiếng trả lời, chỉ có gió thổi u ơ vào những bụi cây. Miên ngồi xoài giữa đất, đấm vào ngực mình. Trong suốt thời gian mang thai con, Miên đã không nói một lời. Có lẽ trời bắt tội Miên, bắt tội kẻ đã lấy chồng rồi mà vẫn nghĩ đến người đàn ông khác.
Hôm ấy, hai mẹ con Miên đang làm ở ruộng bí. Mùa thu hoạch, bí đỏ nằm lăn trên bờ vàng ruộm. Miên đang xếp bí lên xe bò. Con bò vàng đứng im, miệng nhểu nhảo nhai cỏ rối. Mai ngồi trong nón mẹ, hai tay cầm hai nhánh cỏ gà đánh vào nhau. Thấy Tín, đôi mắt thỏ ánh lên. Anh bế thốc con bé hôn lấy hôn để rồi đặt con bé ngồi lên lưng bò, lặng lẽ xếp bí cùng Miên. Miên không nhìn anh, nói như thở: "Anh làm thế, mẹ con tôi sẽ bỏ đi".
Miên tuột khỏi tay anh. Tín thấy mình trở nên thừa thãi. Anh bước chậm sau mẹ con Miên. Miên đi trước, bước chân thình thịch như trút xuống đất cả nghìn đá tảng. Anh bứt một đám cỏ lông chông thả lên trời. Anh biết, nếu anh không ra đi, nếu anh cứ mãi thế này, mẹ con Miên sẽ bỏ làng mà đi mất. Phiên chợ sẽ không còn người bán ngọn bí đỏ, sẽ không còn con bé mắt thỏ nhìn như hút hồn anh nữa... Miên thoáng vấp ngã rồi vội vàng bước tiếp. Bóng tối duềnh lên nhanh như nồi cơm đang sôi chưa kịp mở vung.
Tín không về nhà, anh cứ thế bước đi. Sau lưng anh là mẹ con Miên và bóng tối dâng đầy.
***
Tín ngồi trên mỏm đá khi đêm xuống. Sóng dập vào đá, bục, oàm oạp, rào rào từng đợt. Anh di chân vào đám vỏ hà bám chặt trên đá. Chắc ai đó vừa mới cạy hà lúc sáng sớm, vỏ trắng lấp lánh xà cừ. Nước dâng đến chân xâm xấp, anh mới trở về làng. Ngang qua ruộng bí đỏ. Bí còn non, lác đác hoa, dây chưa vươn ra khỏi luống còn trơ đất trống. Anh vào làng, ngay con đường mọc đầy cỏ tranh, lấp lánh sau hàng rào xương rồng có bóng một người con gái. Tín cảm thấy tim mình bị bóp chặt đến nghẹt thở. Đêm tối không rõ mặt người. Người đó đang rút quần áo đã khô trên dây phơi ngoài sân, trông thấy anh chợt sững lại, chân bước giật lùi rồi bất ngờ lao lại ôm chầm lấy anh. Tín chỉ kịp nghe: "Chú ơi, mẹ con đã...". Đó là con bé Mai ngày nào. Không có tiếng khóc, chỉ bờ vai mảnh như một nhành liễu run rẩy tựa vào anh...
Tín theo chân Mai vào nhà. Nhà tối thui, chỉ một ngọn nến nhỏ leo lét cháy ngay bàn lớn làm anh sững người. Bức ảnh của Miên đang cười. Anh gục ngã. Anh đã qua bao nhiêu đêm tối, sống trong bao nhiêu mộng tưởng mà kỷ niệm về đôi mắt đó, nụ cười đó không chút phai mờ, vậy mà giờ đây, tất cả ngay trước mắt anh mà lại nhoè đi. Anh ôm con bé vào lòng, nước mắt xót rát gương mặt sạm nắng...
Tín đi ra ruộng bí, mấy lần suýt ngã. Tín đi ra giếng làng vục nước uống đến căng người mà không thấy đôi chim bồ câu nào bay lên. Tín đi ra phía biển, thấy đầy vỏ hà trắng xoá. Anh nằm ngả xuống cát, bứt một bông cỏ ngậm lên miệng mà không thấy thần nông, chỉ thấy Miên đang tưới nước. Những quả bí to tròn. Miên đi giữa hai vồng bí, bàn chân Miên trắng lẳn như củ sắn vừa mới bóc...
 
(Theo Lao Động)
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
YÊU SỐNG
Nguyễn Văn Thọ
 
Sang tháng ba giá rét, một đêm mưa xuân về. Sớm ra vạn vật bừng thức. Nước ở các lạch nhỏ quanh vườn ấm, trong vắt lạ thường...
 
Nhiều loài cây, hoa, cỏ bất ngờ mươn mướt, mởn mởn những mầm non. Khắp nơi phơi phới, lên đầy xuân sắc. Gió cũng hây hây mới. Gió mang theo mùi hương ngan ngát, da diết và rất đỗi thân thương của những nụ hoa tinh khôi, những chùm hoa bưởi chớm nở, hoa ngâu, hoa sói lấm tấm, kịp chín sau đêm mưa, hoa cau rắc trắng mặt đất… cả không gian quanh khu vườn tràn ngập sự dịu dàng, đằm thắm của mùa xuân.
Xuân về đẹp vậy, mà ông Thiều không vui. Ông đang bên con chó già nhệch nhạc, xơ xác, im lìm. Trong tiếng lộp bộp rớt xuống giữa nhiều tàn lá của những giọt mưa sót đọng lại từ đêm, nghe tiếng người thở dài và tiếng rên nhè nhẹ của con vật ốm.
Vâng, ba tháng nay, con Luca của cha con ông Thiều ốm. Bắt đầu, chân trái nó cà nhắc. Ông sờ nắn, xoa bóp, tưởng nó bị sai khớp. Nửa tháng sau, nó liệt một chân, kế đó liệt tiếp chân còn lại. Đôi mắt tự nhiên chảy nhựa liên tục.
Hai tháng nữa trôi qua, nó lòa hẳn. “Luca đã mười lăm tuổi. Loại chó Đức về già, đa phần đều rất yếu hai chân sau…”. Một bác sĩ từ Hà Nội về đã tới khám nó và phán vậy. Loài vật cũng sinh, lão, bệnh, tử! Mệnh đã đến rồi!
Nghĩ thế, nhưng ông Thiều vẫn hy vọng. Ông không thể cầm lòng khi mỗi sớm, nhìn nó thảm hại hơn. Nhất là khi ông an ủi, con vật nghển lên nghiêng đôi tai to, xưa luôn giương cao, giờ đã rủ xuống, chăm chú nghe và để đáp lại, nó thè lưỡi liếm láp bàn tay người.
Thứ bẩy. Mọi lần con trai ông đã tới khu vườn thăm bố và ở đó qua chủ nhật trò chuyện với ông, chơi với Luca. Vậy mà hôm nay, chiều về, con ông vẫn không đến. Gọi điện, nó bảo, con bận quá. Bận lắm! Chúng nó hôm nay, các vụ làm ăn để tiền đẻ ra tiền gối nhau, quay như chong chóng.
Ông tới bên con chó, hôm nay bạn mày không về thăm đâu. Không biết mày có qua nổi tuần này không? Ba ngày chỉ liếm cháo, con chó già lết tới cạnh ông già và dừng lại. Ông Thiều vuốt lưng nó, cù nhẹ vào đám lông dưới cổ.
Con chó nằm đổ ệch ra, thở. Nó dúi mõm vào bàn tay đầy gân xanh của ông, để lại những vệt ướt âm ấm. “Thôi, cố dậy mà ăn cho tao đỡ lo. Cứ nằm thế là chết thôi. Mày đau lắm hả? Tao chẳng thể giúp gì mày được. Có thằng bạn chết tiệt giúp mày được thì tuần này chắc không lại. Tao cũng già rồi, mọi thứ chán hết, mà vẫn cố sống đấy. Phải cố lên chứ, ai lại cứ nằm bệt mãi thế này? Dậy đi Luca!”.
Con chó ngước mắt. Trong chiều dần tắt, mặt trời là một khối đỏ ối chậm chậm chìm sau những trảng lá màu đen, những tia sáng yếu ớt, mong manh hồng chầm chậm soi vào đôi mắt chó. Đôi mắt không có hai tròng đen tuyền và long lanh nữa! Hai hốc mờ, đục luôn luôn nhễu ra một dòng nhựa, ướt bết cả những đám lông ở cổ. Và, từ đám nhựa sền sệt, đùng đục trong đôi mắt kia, ở chiều tàn ấy ứa tràn ra một dòng nước trong vắt. Luca khóc!
Ông Thiều thở thượt.
Con người ta, ai chẳng có thời tráng niên để vùng vẫy mà yêu sống. Luca của ông cũng và đã một thời, thời ấy gắn bó với ông, với khu vườn này. Hơn chục năm trước, con ông mua mảnh đất này. Đất ven sông, nghe nói xưa là dự án nuôi cỏ giống nước ngoài cho bò của nông trường. Chuyên gia rút hết, máy móc gỉ hết, để lại toàn cỏ tranh cao ngang thắt lưng người.
Khi ấy ông đã sáu ba tuổi, hai ngày ốm, ba ngày khỏe. “Bố về đấy trông thợ làm vườn hộ con. Không cần làm gì cả. Không khí trong lành, không như ở Hà Nội chật hẹp, ô nhiễm”. Thế là ông tạm xa Hà Nội, vào trang trại. Hoang toàng, cô liêu. Một người bạn già tới thăm ông, nhìn khu vườn mênh mông, mang tới con chó ba bốn tháng tuổi.
Giống chó nòi, khôn. Đúng rồi, ra trận không thể đơn độc, phải có đồng đội, phải có bạn. Bao nhiêu năm, Luca trưởng thành, thực sự là một chàng chó dũng mãnh. Khu vườn cũng dần thực sự là vườn, đầy cây trái. Luca tia chớp, cường tráng, phi như gió, là chiến binh cần mẫn và là bạn.
Chiến công thì nhiều, ông Thiều nhớ nhất chuyện đêm ấy từ phố qua đường mòn trong vườn về nhà. Ông đã bị con rắn hổ dài hơn hai mét, nặng tới ba cân nằm chắn ngang đường mòn phục kích.
“Mổ nhẹ một phát là đi toong! Luca từ phía sau, bất ngờ xông tới trước, phát hiện ra kẻ thù gầm gừ đôi mắt long lên đầy lửa. Mươi phút gì đó, cắn vòng, tránh né, hăm dọa, nó lừa miếng, ngoạm ngang cổ địch thủ luôn phì phì thổi nọc đe dọa. Kẻ chiến thắng chồm hai chân lên đối thủ nguy hiểm đã chết, uy quyền, kiêu hãnh, không một tiếng sủa! Thế đấy, thời tráng niên của Luca qua đi, mười lăm năm. Giờ là lúc nó chờ trời tới rước đi!…
Hai tuần sau, Luca vẫn sống. Nó ít động cựa, biếng ăn hơn. Sớm thứ bảy tiếng xe máy quen thuộc êm êm từ đầu khu vườn vọng tới. Luca nhỏm dậy. Mọi khi, nó đứng lên, vẫy đuôi, lao vút ra. Song giờ đây, Luca không đứng lên chạy ra đón chủ được nữa.
Cậu chủ tới. Anh bê trên xe xuống hai chiếc thùng cát tông đầy ngộn thức ăn, bánh trái, vài cuốn sách mới: “Bố thông cảm cho con. Tại đây, bố muốn tiêu gì thì tiêu. Thiếu gì, ngại đi thì gửi bác Tư hàng xóm ra phố mà mua. Bố thuê phim về mà xem. Hai tuần nay công việc ngập cổ. Dự án bắt đầu triển khai, xểnh ra là mất tiền tỉ như chơi!”. “Tiên sư anh! Tôi chả tha thiết cái gì hết. Tôi ngủ sớm, dậy sớm, thở hít dưỡng sinh… đủ rồi. Còn Luca? Anh nhìn nó xem, ai lại mặc nó thế kia. Phải có cách gì chứ?” “Cách gì, già là phải chết. Bạn con là bác sĩ thú y giỏi bậc nhất Hà Nội mà bó tay thì còn biện pháp gì nữa”. Thế anh để nó sống đau đớn quằn quại thế kia hả! Anh xem, khi cái trại của anh còn là đống đất chó ỉa, nó đã cùng thằng già này… bữa nào vào, anh chả quấn quýt với nó. Giờ, anh chê nó hôi thối, lê lết, vô dụng! Bận gì cũng phải vào mà xem nó ra sao chứ. Hỏng! May mà tôi còn cụng cựa được, chứ nằm liệt, chắc anh cũng mặc cha thằng già này. Đứa con quay lại nhìn ông, xin bố đừng nói vậy, đừng suy diễn. “Không, tôi nói thế thôi, để anh có biện pháp ngay với nó!”.
Người đàn ông trẻ tới bên Luca: “Đứng dậy!”. Con chó rướn lên, theo mệnh lệnh cậu chủ mà không được. “Liệt rồi, đến giai đoạn này vài tuần là tiêu thôi!”. Đứa con ngồi xuống bên con chó. Thực ra, anh là người yêu súc vật. Nhưng quả thực công việc làm ăn cạnh tranh đầy bất trắc bây giờ buộc anh quan tâm hơn con chó này. Giờ anh thấy nó tội nghiệp.
Chợt lóe lên một ý nghĩ. “Bố này!”. “Cái gì?”. “Nó đằng nào cũng chết. Hay là…”. Anh định thế nào? Cho nó uống thuốc ngủ hả? Có mang theo không? “Không! Cần gì thuốc ngủ!”. Đứa con kéo cái dây da, lôi con chó đi. Luca lồm cồm bới hai chân trước, hai chân bất động để lại vệt kéo lết trên mặt đất. Không được làm thế! Ông Thiều quát. Anh định đi đâu và làm gì? “Bố cứ mang hộ nó ra kia”. đứa con chỉ khoảnh đất trước nhà, bên bờ ao mới đào. Ông cúi xuống, bế Luca lên. Nó nhìn ông đăm đăm, hàm ơn, chưa hiểu điều gì sẽ diễn ra sau đó.
Thằng con đến bên xe máy, lôi ra cái túi bạt dài buộc sau xe. Khẩu súng săn, báng nâu được gập lại, giờ đây mở chốt hãm, duỗi hai nòng bóng đen nước thép. Đạn ghém chì trong cat– tut giấy nện màu đỏ lắp vào nòng. Đứa con tới bên bố.
Ông Thiều không kịp phản ứng gì. Đứa con trao súng “Bố bắn đi. Quen súng, quen đạn”. Ông nhíu mày, gạt khẩu súng. Đứa con ngần ngừ một lát rồi lại gí súng vào tay ông, nghiêm túc. “Bố giúp con và Luca. Con không quen. Ngoài mặt trận, bố từng giết bao nhiêu người? Bây giờ, một mạng chó!”.
Ông Thiều giật bắn mình. Câu nói vô tình như cái roi quất một đòn lạnh lùng chí tử vào trái tim ông. Ông bàng hoàng. Ngớ ra trong tích tắc, bất ngờ phang thẳng bàn tay đầy gân xanh, tát vào mặt thằng con trai. Tao đã nuôi mày, dạy mày, cho mày ăn học và về khu vườn cô quạnh này vì mày, cố sống quãng đời còn lại vì mày! Vậy mà”... Cái tát trượt, thằng con trẻ nhanh hơn, tránh được.
Con Luca không hiểu gì cả. Nó nằm nghiêng đầu cố nghe, sao hai con người lại đánh nhau thế kia?
- Biến ! Biến ngay cho khuất mắt tao! Ông già hơn bẩy chục tuổi nổi giận với cái máu của người chỉ huy năm nào. Ông quay lại nhà, bất ngờ rút ra cái cán cuốc như sẵn sàng nện cho đứa con mất dạy kia. Tất nhiên, chỉ hăng vậy thôi, ông không phải là loại người dễ kích động tới mức quên cả tình cha con, dù trong đời chưa bao giờ bị xúc phạm như vậy. Giận quá! Nó lại là con mình đẻ ra chứ đâu phải người dưng. Bàn tay ông già run rẩy.
Ông vứt cái cuốc xuống đất. Cắn chặt đôi môi, muốn bật khóc. Ông vào nhà. Đứa con lặng lẽ theo sau và đứng bên hiên. Sự thể không ngờ khiến cả hai không muốn nói gì nữa. Lời nói bay ra, sẩy rồi, khó có thể giữ lại. Đứa con chợt cảm thấy tẽn tò, vô duyên. Nó hấp háy chào ông, hấp tấp dắt xe, nổ máy, vút đi.
Mưa lại lắc cắc rơi. Không biết mưa nhòe nhẹt trên đôi má nhăn nheo hay nước mắt ông Thiều. Trời ơi, ai ngờ nó đã hiểu cuộc sống ngày xưa của các ông giản đơn như vậy! Nhiều người ở thế hệ mới đã chẳng biết gì về cuộc chiến đằng đẵng mà các ông đã đi qua. Chiến tranh chết chóc, tàn nhẫn, và đau khổ, nhưng ông và biết bao người đâu muốn thế! Ông muốn yên hàn để yêu và sống. Ai muốn cả tuổi xanh mình bị tước đoạt, bỏ quên, đánh mất trong những khu rừng nhiệt đới? Suốt đêm ấy ông thức trắng. Cái võng kẽo ca kẽo cọt, đong đưa, nhẩn nha vang đều nhịp buồn trong khu vườn yên tĩnh.
Tiếng chim rộn rã đón bình minh làm ông bừng thức. Giấc ngủ hơn hai tiếng giúp ông Thiều nguôi ngoai đi việc tối qua. Như mọi sớm, ông nhìn ngay tới chỗ Luca nằm. Không thấy Luca. Trên đất để lại vệt lết của con chó. Nó đâu! Ông Thiều chồm dậy.
Khi ấy mưa chợt dầy hơn, rơi nhanh trong những luồng nắng, tựa hồ như ức triệu hạt thủy tinh lung linh, lấp loáng rắc trên cây cỏ, mặt đất. Con Luca trườn lùi trong mưa và, cách nó chừng sáu mét, có con chó cái vàng tơ, cũng kệ mưa sũng sĩnh, ròng ròng rỏ từ khắp thân, trân trân, xói mắt cảnh giác nhìn ông.
Ê! Bọn mày rủ rê nhau, mò ra đây lúc nào vậy? Vốn tinh nhậy, ông Thiều đã hiểu. Con Luca đã đẩy đĩa thức ăn sau bao nhiêu lâu, từ hiên nhà ra tận nơi con chó cái lạc loài run rẩy, không dám tới bên nhà kia? Thôi chúng mày cứ ở đây nhé. Ông Thiều quay lại, lên nhà sàn, sát tấm liếp phòng trong, ghé mắt xuống quan sát.
Hai con vật, một cái, một đực, một già sắp chết, một non tơ sáp lại gần nhau. Tất nhiên, loài vật cũng có những phút ban đầu bỡ ngỡ, thận trọng. Nhưng con chó vàng tơ rất đói, và có thể chính điều đó làm nó liều lĩnh hơn. Nó liếm rất nhanh đĩa cháo, vừa lấm lét nhìn con chó già tàn tật đang nằm, ngỏng đầu lên nghiêng nghiêng tai.
Cả tuần sau, sớm nào ông cũng đứng sau bức tường ngăn cách giữa ông và hai con vật. Tất nhiên khẩu phần ăn đã thay đổi. Ông nấu cơm nát, trộn thịt cho cả hai ăn chung. Quan sát, ông mới thấy sự ghê gớm, khó hiểu của tạo hóa. Điều gì đã giúp Luca khỏe lên trước con chó lạc kia? Thương lắm, khi Luca bên con chó, liếm láp bạn mới khắp nơi. Và, ngày lại ngày, lông con vàng mượt ra, đẫy lên. Đúng là một con chó cái tơ đẹp mã! Nó lạc từ đâu tới? Không cần biết! Ông vui, vì nó chứ không phải ông, đã làm Luca hồi sức.
Sau ba tuần, con chó vàng đã quen hơi với người, tự nguyện ngủ bên con Luca ngay bên thềm nhà, sát nơi ông ngủ. Sau đó, vàng tơ không hề chạy trốn khi ông tới gần để ve vuốt. “Ta sẽ huấn luyện mi như Luca dũng cảm. ở lại đây với ta nhé, nàng vàng!”. Ông tủm tỉm, hóm hỉnh nhìn, khi con Luca điềm nhiên liếm bộ lông của bạn gái để vàng tơ đứng yên phăng phắc.
Có một buổi, hai con chó dìu nhau ra sau nhà. Luca muốn chồm lên lưng cô “bạn gái” mà không được. Bản năng Luca bất tử, nhưng hai chân sau Luca bất lực. Con chó vàng lại thản nhiên đứng, xoay xoay mông. Không được! Luca tẽn tò mãi, để cuối cùng chừng mệt nhoài, nó ngửa ra trên mặt đất, rít lên rất thảm thiết. Ông bật cười. Những tia nắng mong manh của chiều úa tàn, trên ngàn lá, trong gió lấp láy như giễu cợt.
“Về đây mà xem Luca khỏe lên. Tôi tha cho anh!”. Ông Thiều không tắt máy hay im lặng nữa, vui vẻ trả lời điện thoại con. Bố ơi! Con không về được, xin bố tha thứ cho con. Con đang ở miền Nam. Hai ba tháng nữa con ra… Ông Thiều đặt máy. Vui và buồn. Hai trạng thái đan xen ở một tâm hồn vốn cả nghĩ.
Hai tháng trôi qua, hè tới. Nhãn, vải, bưởi, hồng… kết trái. Con ông vẫn chưa ra. Trời chuyển nắng, có ngày cực oi ả. Vợ nó nghe lời chồng dặn, mang hai đứa cháu nội vào thăm ông dầy hơn. Mỗi lần chúng vào, khu vườn như dịu nắng, rộn lên.
Chiều buông, bọn trẻ về Hà Nội, vườn lại đầy tiếng côn trùng và yên tĩnh lạ lùng. Nhưng trong lòng ông đã vơi đi nỗi buồn. Ông nằm chao võng, cảm thấy khu vườn như còn đọng lại đâu đây tiếng cười khanh khách, ròn tan của hai đứa trẻ.
Rồi nắng dữ dội. Đất hầm hập đất bốc hơi trên nơi không có tàn cây che phủ. Sương, mưa, oi, nắng! Đôi khi giông bão. Một sớm, ông thấy con vàng không ở bên con Luca nữa. Ông bật dậy. Linh cảm có chuyện chẳng lành. Ông đi tìm quanh, thấy nó bên lạch nước. Con vàng tơ đang nằm. Ông tới, nó chẳng buồn nhẩy cẫng lên như mọi lần. Vàng làm sao?
Con chó, mắt đờ đẫn, trước mõm đang thở dốc có một đám nhớt nhãi lổn nhổn, bốc mùi lộn mửa. Mày làm sao thế? Lại ăn bậy ăn bạ oặt ra như cái dẻ khoai nướng thế này. Ông Thiều hốt hoảng bế nó quay về nhà và đặt bên Luca. Con chó đực lết sát vào bạn mình và hít khắp con vàng tơ. Dường như Luca phát hiện ra điều gì và nó rít lên cuống cuồng. Đêm, con chó cái không ăn một chút nào, đờ ra.
Ông Thiều hấp tấp tra số máy gọi cho bác sĩ, bạn của con. “Nó bị dịch! Hà Nội và vùng ngoại vi đang có dịch triệu chứng như hiện tượng bác nêu. Chúng cháu chưa có biện pháp điều trị… Ông Thiều bỏ máy, tới bên hai con chó. Mới có nửa giờ trôi qua mà con chó cái dường như trút hết sinh lực. Mắt nhắm nghiền. Nằm nghiêng, chân co quắp, như một cái xác không hồn thi thoảng oằn mình như muốn trỗi dậy mà chẳng được. Đúng khi ấy, chuông điện thoại réo. Tiếng con trai ông từ phi trường gọi về.
“Con đã ra Hà Nội. Bố có khỏe không?”. “Sớm mai vào đây. Con vàng bị ốm. Chắc chết”. Còn Luca? Nghe tiếng con, ông hình dung ra khuôn mặt lo lắng của nó. Vâng, sáng mai con sẽ vào thăm bố. Được, anh vào đây, tôi có chuyện muốn nói. Máy tắt. Ông nhìn đôi chó, tim nhói lên.
Suốt đêm ông Thiều luôn trở giấc. Trăng đêm tròn, vàng, trong, rực rỡ tỏa sáng khắp khu vườn. Suốt đêm con Luca lục sục. Nghe rõ tiếng nó thở, tiếng loạt soạt của miếng xốp ông kê cho hai con vật bữa nào. Gần sáng, con Luca bỗng tru lên thảm thiết. Ông Thiều choàng thức, bật đèn, quên cả xỏ dép chạy ra.
Con vàng đã chết. Vàng tơ, bạn gái của Luca, đã chết. Chân duỗi thẳng, cứng queo. Mép rỉ ra một dòng máu tím sẫm. Luca nằm bên buồn rầu liếm láp bộ lông đã xơ xác của vàng tơ. Những con đực thường không khóc khi đau thương quá. Luca chúi mõm rúc vào bụng bạn tìm cái gì đó, không ai hiểu và chính nó không bao giờ còn có thể tìm thấy.
Chôn con vàng bên gốc hồng cách nhà hơn trăm mét, ông Thiều vội đón mấy người nông dân quanh vùng vào thu hái đu đủ, bọc giấy và đóng sọt, thu hái bí ngô xanh khắp xó xỉnh trong vườn. Tới quá trưa, mọi việc mới van vãn. Chuyến xe cuối cùng vừa rời khỏi vườn thì con ông tới. Luca chẳng thèm mừng cậu chủ. Nó hơi ngước lên, và gục ngay mõm xuống đất, khép hốc mắt lòa.
Đó là một tối, lâu lắm hai cha con mới trò chuyện bên nhau. Thằng con kể về đồng bằng phía nam, về mấy người bạn ông khi nó tới thăm Sài Gòn. Nó kể về dự định của công ty chúng nó, những việc mà ông Thiều không mấy quan tâm. Ngoài thềm, Luca khò khè thở. 9 giờ tối. Như lệ thường, ông vặn nhỏ âm thanh tivi cho con ông xem tiếp. Tắt đèn. Ông ngủ sớm, dậy sớm.
Song thực ra, ông đi nằm mà chưa ngủ. Ông muốn nói với con ông nhiều lắm mà không thể. Trong đêm, ông hình dung ra khuôn mặt của nó. Ông nhớ ra cả hồi nó còn nhỏ dại. Ông nhớ tới bao bạn bè đã gục xuống, những người không biết một ngày của hoà bình.
Ông nghĩ, bây giờ chúng nó đã trưởng thành. Phải lựa lời. Thế hệ chúng nó bây giờ ghét nói dài. Sẽ bắt đầu, trở lại câu chuyện khẩu súng và cuộc sống thế nào cho nó hiểu? Sẽ nói về sự yêu sống của ông, thế hệ ông ra sao cho đủ ý, ngắn gọn? Gần sáng ông chợp mắt.
Tới khi bừng thức thì mặt trời đã le lói sau những trảng lá thấp phía đông. Như mọi lần, ông xuống giường và bước tới bàn pha trà gần nơi Luca nằm. Ông giật mình. Không thấy Luca đâu nữa. Dậy! Dậy! Luca đâu? đứa con ông choàng tỉnh. Nó vội vã xỏ dép, vội vã nhìn theo tay bố chỉ.
Một vết trượt kéo dài trên mặt đất rời khỏi ổ ấm của con vật. Trời ơi. Không thể tin được, Luca loà và liệt đã vượt qua hơn ba trăm mét. Qua đêm, qua sương, qua những bụi gai dứa… tới bên mộ vàng tơ. Sao mày lại tới đây? Ông chạy thốc lại bế con vật lên: Luca! Luca! Tiếng người già khàn khàn thoảng thốt đau đớn thầm âm trong khu vườn vắng.
Luca mãi thinh lặng. Luca mãi không trả lời. Luca mãi mãi không vẫy đuôi, thè lưỡi liếm, để trên tay ông già những vệt ướt âm ấm. Cứng queo và lạnh toát, đôi mắt loà đục, trợn ngược…
Sớm ấy, những người cắt cỏ vườn, thấy hai cha con ông già đắp một nắm đất và trồng cỏ. Chẳng ai biết, tại đó, chôn hai con vật sống hồn nhiên, chết không ngờ. Hai người đàn ông câm lặng làm việc bên nhau. Chẳng ai nói một lời và họ quay lại ngôi nhà sàn đẹp, tới bên cái ổ ấm mà hôm nào thôi còn có đôi chó bên nhau…
 
(Theo Tiền Phong)
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
PHÉP LẠ
Châu Thổ
 
Bạn tôi gọi điện, giọng nghiêm trọng: Kiếm gấp giùm một người giúp việc nữ đứng tuổi, có năng khiếu săn sóc người già. Cho ai? Cho ông bà già, ông già bị ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn cuối, đau đớn lắm, bao nhiêu người giúp việc thuê làm chỉ vài tuần là hoặc ông già đuổi, hoặc người ta bỏ việc vì tính khí cáu bẳn của ông già.
 
Giới thiệu đến người thứ 41 bạn tôi mới ưng ý. Vâng, siêu sao ôsin mà tôi giới thiệu là một người phụ nữ đẫy đà, có đủ các tiêu chuẩn đặt ra. Nàng khoảng 40 xuân xanh, chưa từng lấy chồng.
Một tuần sau khi đưa nàng vào chăm sóc ông già bạn tôi, tôi nhận được điện thoại của bạn gọi đến, giọng vui như chim sáo. Này nhé, tuyệt vời! Cả mấy tháng nay đêm nào ông già cũng đau đớn không ngủ được, các loại thuốc giảm đau gần như không còn tác dụng.
Vậy mà từ khi có nàng, ông già vừa rên lên khe khẽ, lập tức nàng đến đỡ đầu ông già lên, áp sát vào lòng mình, nơi có đôi gò bồng đảo phốp pháp mềm hơn gối lông ngỗng, ấm áp hơn nắng ban mai, lại thêm những tiếng đập thổn thức đều đặn của trái tim tràn nhựa sống, bàn tay nàng mềm mại vừa xoa nhẹ hai bên thái dương ông vừa hỏi giọng du dương:
- Ông ơi, ông nhìn lên bức tranh kia kìa, có đẹp không ông? Con hát ru cho ông dễ ngủ nghe!
- Ừ! Khẽ thôi!
Và thế là nàng hát, hát thật khẽ, thật nhẹ, thật hay. Và ông già ngủ thiếp đi một mạch cho đến sáng.
Này nhé, bấy lâu nay, lúc nào ông cũng gắt gỏng chuyện người ta cứ ép ông ăn ăn uống uống. Cuộc sống đối với ông như vậy là đã quá đủ rồi. Vậy mà nàng cứ bưng chén xúp đến, nhoẻn một nụ cười thật mộc mạc dễ thương với ông, lấy cái khăn ướt lau khắp mặt cho ông, đưa bàn tay mềm mại xoa nhẹ lên khắp bụng ông nói thì thầm:
- Ông ơi, bụng lại xẹp hết cả rồi, cho vào tí xúp ông nhá!
Ông lại nhìn nàng như muốn bật cười vì tính hay dụ dỗ ông của nàng:
- Ừ!
- Tí thôi í mà, con nấu cho ông đấy, ngon lắm!
Và cứ thế, đút cho ông một muỗng, nàng lại nói một câu, vuốt lên bụng ông mấy cái. Ăn xong nàng lại còn nghiêng tai áp sát xuống bụng ông, nói thì thầm:
- Bụng ơi, đủ chưa? Cố mà nghiền kỹ cho ông nha! Cố mà đánh nhau với mấy thằng ma cô cho nó chết hết đi cho ông mau hết bệnh nha!
Thế là ông lại cười, cười to nữa là đằng khác.
Này nhé! Mỗi lần lau rửa chỗ vết mổ, lau rửa cái của quí của ông, bàn tay nàng cứ như diễn viên múa chèo ấy, nâng nhẹ lên, lấy bông gòn nhúng nước ấm, lau cẩn thận như sợ chạm phải kíp mìn nổ, vừa lau vừa nhìn ông cười duyên hỏi:
- Ông ơi, con lau cho ông, ông có thấy dễ chịu không? Lau cho nó sạch sẽ, thoáng mát ông nha!
Ông lại nhìn nàng, ánh nhìn đầy vẻ biết ơn, ánh nhìn tràn ngập niềm vui sướng, thích thú. Trong đáy mắt ông có điều gì đó mới mẻ.
Phải nói, nghe chuyện của nàng, mũi tôi phình to hết cỡ.
Không đầy một tháng sau, bạn tôi lại gọi điện thoại lúc nửa đêm, giọng hốt hoảng, cầu cứu, hỏi địa chỉ và điện thoại liên lạc với nàng. Tôi ngơ ngác: nàng đang chăm sóc ông bà già mà? Không! Bà già đuổi nàng đi cả tuần nay rồi. Tại sao? Bà già ghen! Này nhé, không ghen sao được! Lúc đầu tìm được người chăm ông tuyệt vời thế bà mừng lắm, giao khoán trắng cho nàng chăm ông, bà lên lầu ngủ thẳng giấc.
Sau vài ngày, bà mới để ý thấy ông dạo này là lạ thế nào ấy. Này nhé, lâu lắm rồi không thấy ông cười, vậy mà mấy tuần nay cứ thấy ông cười nói vui vẻ! Này nhé, da dẻ ông cứ như là có sắc hồng ấy! Này nhé, chẳng thấy ông rên la đau đớn vật vã nữa!
Bà giành chén xúp trên tay nàng để ngồi xuống cạnh giường ông, cũng nhẹ nhàng đưa muỗng xúp vào miệng ông. Khó nhọc lắm ông mới há miệng ra, thức ăn chưa kịp đụng lưỡi ông đã nhăn mặt, nhè ra cả gối, mắng bà là cho cả ký muối vô chén xúp hả? Này nhé, tối đến, bà bảo nàng lên gác vào giường bà mà ngủ cho ngon giấc, để bà ngủ trong phòng nàng. Nàng tròn xoe mắt ngạc nhiên thưa cả tuần nay nàng có ngủ trong cái phòng dành riêng cho nàng đâu! Thế mày ngủ ở đâu? Dạ con ngủ luôn bên cạnh ông cho tiện, để ông trở mình là con xoa cho ông ngay. Thế là ba máu sáu cơn, bà đuổi nàng cuốn xéo khỏi nhà ngay lập tức.
Khổ nỗi, suốt một tuần rồi, không có nàng, ông cứ nằm yên, mắt mở trừng trừng nhìn lên trần nhà, thực hiện khẩu hiệu ba không: không nói! không ăn! không ngủ!
Cuộc họp đại gia đình ngay lập tức được tổ chức để biểu quyết áp đảo bà già là phải chiều lòng ông già trong những ngày cuối cùng sống trên cõi đời này. Bà già ấm ức lắm, nhưng đành gọi các con lại để nói rằng mẹ nghĩ kỹ rồi. Thôi thì cứ gọi cái con đó lại đi, để ba con được nhẹ nhàng sung sướng trước khi ra đi!
Tôi đã phải vất vả mới truy tìm lại được nàng. Tôi tất tả, háo hức, đưa nàng trở lại nhà ông bà già bạn tôi. Tôi có cảm giác như mình đang thay Chúa Trời đưa nước thánh diệu kỳ đến ban cho một người đàn ông đang đau đớn vì bệnh tật trong những ngày cuối cùng, bớt đau đớn vật vã.
Nhưng không, muộn rồi, ông già vừa ra đi. Người ta phải vuốt mắt ông mãi ông mới chịu thôi không nhìn trân trân lên trần nhà để tìm kiếm phép lạ nữa.
 
(Theo Tuổi Trẻ
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-28 03:33:27mssthuan>
NGÀY CỦA GIÓ
Phạm Thanh Thúy
 


Một buổi sáng, còn chưa ngủ dậy, tôi đã nghe gió thổi ào ào ngoài cửa sổ. Có lẽ vì có gió nên không gian trở nên lành lạnh, kéo giấc ngủ sâu hơn.
 
Gió vẫn thổi ào ào như thúc giục, như mời gọi. Chợt nhớ sáng phải đưa bố đến thăm người bạn thân của ông, tôi trở dậy. Mở toang cửa sổ, như chỉ chờ có thế, gió ào vào phòng, chạm vào tất cả mọi thứ. Sao hôm nay gió lớn vậy trời!
Bước xuống nhà, đã thấy bố tôi đang ngồi nhìn đăm đăm ra ngoài sân. Sân ngập tràn gió và lá vàng của cây dâu da xoan lớn cuộn thành đống ở góc sân. Lá vàng rụng nhiều nghĩa là thu đã đến. Mùa thu đã đến rồi sao? Lại một mùa thu nữa đến rồi sao?
- Bố! Hôm nay nhiều gió quá bố nhỉ?
- Ừ! Hôm nay không đến nhà bác Mậu nữa. Ta ra đồng đi.
- Ơ, ngoài đồng gió to lắm bố ạ. Bố đang yếu mà.
- Không sao. Ra đồng câu con cá về nấu canh chua. Câu cho vui ấy mà.
Nhớ lời dặn của bác sĩ: “Bố cháu muốn gì thì cố chiều lòng”. Tôi khịt khịt mũi, cố xua đuổi một giọt nước mắt đang sắp trào ra. Lui cui chọn cho bố bộ quần áo có thể giảm bớt cái lạnh của ngày gió lớn. Mẹ xuýt xoa:
- Gió to thế này, hay là ông quàng thêm cái khăn mỏng này vào.
- Ô hay, bà này lạ nhỉ? Trời hôm nay dự báo nóng 30 độ C mà bà bắt tôi quàng khăn.
- Nhưng ngoài đồng gió to lắm. Nhỡ sao thì…
Bố mỉm cười, tỏ vẻ cảm thông cho nỗi lo lắng của người bạn đã 30 năm chung sống.
- Được rồi. Bà đưa đây nào.
Tôi chở bố ra cánh đồng. Vừa qua cơn lũ. Những ruộng lúa đã mượt xanh, sắp trổ đòng. Giữa cánh đồng là ao cá hơn một mẫu của bác tôi. Mặt ao đang nổi sóng. Sóng vỗ bờ oàm oạp. Bác lật đật chạy ra đỡ lấy bàn tay gầy yếu của bố tôi mà xuýt xoa:
- Chết, chết. Gió to thế này, cậu ra đây làm gì chứ?
- Em ra xin chị con cá.
- Cậu muốn, tôi mang vào cho cậu, chứ ra đây làm gì.
Tôi đứng trên chiếc cầu tre nhỏ bắc từ bờ ra chòi cá giữa ao, nghe bác tâm tình với người em trai đau yếu. Bác rầy la vậy thôi, chứ bác biết bố tôi nhớ gió. Nhớ tiếng sóng nước vỗ bờ cỏ, nhớ cái thênh thang của đất trời.
… Nồi canh cá dọn ngay trên chiếc lều ven bờ ao. Bố quay sang tôi cười mủm mỉm:
- Ly rót cho bố chén rượu đi.
Tôi hơi nhăn mặt, không đồng tình.
- Bố còn sống được bao lâu nữa, mày tiếc gì bố chén rượu. Tôi nhìn bác. Thấy mắt bác đã rơm rớm nước.
- Cậu có chết cũng không bỏ được rượu – Rồi như không thể kìm lòng hơn nữa bác khóc tu tu. Bố đỡ chén rượu từ tay tôi rồi thủng thẳng: - “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử. Chị buồn làm gì. Ly, con cũng uống một chén đi”.
Tôi rót cho mình một chén, cho bác một chén rồi cụng ly. Rượu cay nồng trong miệng. Sống mũi cay xè, tôi chống chế – rượu đắng quá bố ạ.
Bố lại cười tủm tỉm, mắt lại nhìn xa xăm…
Tôi biết uống rượu đã lâu rồi. Từ khi tôi hai mươi tuổi. Nhưng ngụm rượu đầu tiên tôi uống chính là bố đã dạy. Thực ra, hôm đó bố say rượu, bảo tôi và em trai uống.
Sợ bố mắng, hai chị em nhắm mắt nhắm mũi uống một chút thứ nước cay nồng mà bố và mọi người ai cũng đã uống. Vì chuyện đó mà mẹ tôi giận bố cả tháng trời. Tôi không giận.
Dù sao thì chỉ lúc bố say mới dữ dằn như vậy. Cũng may, tâm hồn tôi mạnh mẽ, chẳng dễ gì bị tổn thương. Tôi lại luôn biết tìm cách cảm thông cho những việc làm của người khác.
Tôi nhớ lần đầu tiên cắt tóc con trai, mặc quần áo giống con trai. Lần đầu uống rượu cùng các bạn không có kinh nghiệm, say lử đử… Tất cả những lần đầu tiên ấy tôi đều ngỡ sẽ bị bố đánh đòn, hay chửi cho một trận. Hóa ra lại không phải.
Bố chẳng đánh mắng. Chỉ cười như ngầm đưa ra một thông điệp: “Con cứ làm những gì con muốn”. Mẹ tôi thì phản đối quyết liệt. Mẹ bảo tôi sinh ra là con gái sao tôi không cam lòng, cứ muốn làm con trai làm gì. Và dù tôi có mặc quần áo của em trai, đi đôi Sandal to oành như cái thuyền, tóc ngắn tun hủn thì tôi cũng đâu thể là một đứa con trai.
Dù cho mẹ có mắng mỏ, tôi vẫn cứ là đứa ẩm ương như tôi muốn. Mẹ lại quay sang bố “Ông không sợ nó hư sao?”. Bố lại chỉ cười nửa đùa, nửa thật “Hư làm sao được. Bà đẻ nó ra mà không biết nó sao. Có đánh chết nó cũng không hư hỏng, mai này biết yêu, lại chẳng điệu bằng mấy”.
Có lẽ bởi sự dung túng của bố mà tôi đã gặp Mắt Lạnh. Để tôi trở thành một cô gái khác hẳn với cả nửa nghìn nữ công nhân ở xưởng may không vì xinh đẹp. Và yêu anh, và được yêu anh. Hôm đá cầu cùng tôi ở sân phân xưởng, anh nhìn tôi chưng hửng:
- Con gái hả?
Và dù tôi có cố làm ra vẻ bề ngoài là một đứa con gái ẩm ương, cá tính, có tham vọng trở thành một chàng trai thì trái tim tôi vẫn đập nhịp đập của trái tim con gái. Tôi và Mắt Lạnh yêu nhau suốt hai năm trời. Cũng hò hẹn, cũng giận hờn, cũng dạo bước dưới trăng sao.
Nhưng chưa bao giờ Mắt Lạnh hôn tôi. Môi tôi - đôi môi thanh xuân tươi trẻ chưa một lần hôn ấy cũng khát khao biết bao nụ hôn đầu đời. Nhưng sao anh lại không hôn tôi? Vì sao?
Vì sao anh không nhận ra mỗi lần gặp anh, môi tôi cũng hồng tươi sức sống vì nắng, vì gió và vì cả thỏi Lipice màu nhiệm. Mỗi lần chúng tôi đối diện nhau, khi hai ánh mắt hòa tan trong nhau. Tôi đã thầm nói, rồi như muốn gào lên: “Hãy hôn em đi. Hãy hôn em”. Nhưng không…
Lũ con gái trong xưởng coi anh là thần tượng. Là hoàng tử lạc lối vào vương quốc những thiếu nữ đồng trinh vì thế. Chúng chẳng thú vị gì với tôi. Một dạo, chúng kháo nhau: “Anh Vũ yêu cái Ly, khác gì yêu một thằng em trai. Nó như đàn ông thế ai mà chịu được”.
Tôi về nằm khóc một đêm trên gác trọ. Hóa ra tôi là một đứa con trai trong mắt mọi người cơ mà cũng tại tôi tự rũ bỏ đứa con gái trong mình đấy chứ. Lĩnh lương tôi ra chợ khuân về mấy cái áo chiết ly và rộng cổ. Mua thêm một thỏi Lipice. Tháng đó, tôi không cắt tóc.
Bỏ đôi giày thể thao vào xó. Tôi đi giày cao gót đến xưởng. Mắt Lạnh nhìn tôi kinh ngạc “Em sao vậy? Sao lại như thế?”. “Anh không thích em nữ tính sao?”. Mắt Lạnh ngập ngừng: “Không phải… nhưng… em thay đổi thế có khác gì hàng trăm nữ công nhân khác.
Anh làm sao tìm thấy em nếu em lẫn vào họ…”. “Anh làm sao thế? Rút cuộc thì anh có vấn đề gì ở não phải không?” – Tôi đã muốn gào lên với anh như thế. Tôi đã muốn khóc. Mà tôi lại không khóc. Tôi cũng im lặng.
Khi tôi đã trở lại là một cô gái như tôi sinh ra vốn thế. Tóc tôi dài mượt, má tôi ửng hồng, đi đứng nhẹ nhàng thì Mắt Lạnh bị bắt, bị kết án tù vì tội tổ chức gây rối.
Hóa ra Mắt Lạnh là dân xã hội đen mà tôi không hề hay biết. Anh hư hỏng, anh ngông cuồng. ừ thì là như thế? Nhưng sao anh lại buông tha tôi? Sao anh không biến tôi thành tay chân của anh, ngông cuồng phá phách. Cầm dao búa đi đòi nợ thuê?
- Anh có yêu em không?
Mắt Lạnh quay đi, tránh cái nhìn đầy tuyệt vọng của tôi.
- Ly, anh xin lỗi. Anh rất quý em, nhưng…
- Vì sao anh lại không yêu em? Vì sao?
- Vì em là một cô gái ngoan.
Ơ hay! Sao người đời lại lạ vậy kìa? Có tin được hay không nhỉ? Một cô gái bị từ chối tình yêu chỉ vì cô ấy không hư.
- Nếu em là cô gái hư thì anh có yêu em không?
- Ly ạ, em quên anh đi. Hãy tìm một người ngoan như em để yêu.
Hôm đó trời cũng rất nhiều gió. Hôm đó cũng là một ngày chớm thu.
Tôi biết uống rượu thực sự từ khi ấy. Thú thực, là tôi rất muốn mình hư hỏng, đua đòi, biết rượu chè, cờ bạc, biết mặc những thứ quần áo mà đứa con gái ngoan không bao giờ dám chạm tới.
Bố mẹ nhận ra tất cả bằng linh cảm thiên phú dành cho các bậc sinh thành và bố mẹ chắc sẽ cười ngất mất nếu biết tôi thất tình chỉ vì ngoan ngoãn, sáng trong, dù vẻ bề ngoài cũng không thể thay đổi bản chất. Bố nói đúng. Cuối cùng thì tôi cũng không trở thành một cô gái hư, không dám hư.
Tôi vẫn ngày ngày đi làm sau khi đã chải mái tóc dài mượt, mặc những bộ quần áo dịu dàng nữ tính, tôi chỉ biết uống rượu thôi, nhưng cũng không bao giờ dám uống đến say không biết trời biết đất. Năm tháng cứ qua đi, nhưng hình như tôi luôn nhớ về Mắt Lạnh.
Một lần bố bảo tôi: “Mối tình đầu đẹp, nhưng cũng dễ đi qua. Như ngày xưa ấy. Ngày xưa bố cũng yêu một người. Nhưng không hiểu sao lại tan vỡ. Bố lại gặp một vài người nữa cho đến một hôm mẹ con tay xách hai thùng đi lấy nước.
Nhảy chân sáo xuống các bậc thềm và hát vang: “Em ơi vút lên một tiếng đàn” thì bố ló đầu ra khỏi phòng và tự hỏi: Ai thế nhỉ? Ai mà xinh xắn và có giọng hát trong trẻo thế kia. Và thế là yêu nhau, và ăn đời ở kiếp. Chỉ tiếc là bố không thể cùng sống đến khi mẹ con cũng đầu bạc răng long”.
Bố bị ung thư phổi, gan, dạ dày… tất cả các bệnh như chỉ chờ cùng lúc xuất hiện khi cơ thể suy yếu. Bác sĩ ái ngại hỏi: “Trước đây bác có chiến đấu ở vùng nhiễm chất độc da cam không?”.
Bố thở dài: “Có hành quân qua”. Bác sĩ lại bảo: “Sao bác không làm hồ sơ xin hưởng chế độ?”. Có chứ sao không, bố có làm hồ sơ, mà làm đi làm lại, làm tái làm hồi. Nhưng người ta cứ lắc đầu quầy quậy, bảo: “Bác thiếu cái này, bác thiếu thứ kia”.
Mà tất cả những năm tháng chiến đấu người lính chỉ được công nhận trong những tờ giấy nhỏ, toen hoẻn như bàn tay đứa trẻ lên ba. Đã úa màu theo năm tháng. Chỉ một lần bị tên bất lương móc trộm cả tiền lẫn giấy tờ trên xe đò.
Thế là mất tất cả: Quá khứ, chiến công, hy sinh. Tất cả như biến vào sương mù. Không ít người ngứa miệng kháo nhau: “Có da cam da kiếc gì đâu. Mấy đứa con, đứa nào cũng lành lặn, hồng hào, đẹp đẽ, dị tật gì đâu. Chẳng qua là chạy giấy tờ để hưởng chế độ”.
Bố không phải là không nghe thấy. Nhưng bố cũng chẳng buồn. Mỗi lần tôi đem giấy tờ chạy lên chạy xuống phòng Thương binh xã hội, bố lại động viên: “Thôi, con cứ làm đi, được thì được, chả được thì thôi.
Dù sao bố cũng đã sống gần hết đời người rồi. Đắng cay ngọt bùi trên đời cũng từng nếm trải. Bố chẳng tiếc gì, chỉ thương con vẫn lận đận tình duyên… Con gái mà mạnh mẽ quá cũng không tốt”.
Bố chẳng hy vọng gì ở sự bù đắp mong manh mà cái chất độc da cam thảm khốc năm nào đã gieo xuống từng tấc đất, từng khe nước của Trường Sơn hùng vĩ. Mà suy cho cùng, có sự bù đắp nào cho vơi đi được những mất mát cơ chứ. Mẹ tôi khóc quá trời. Bố an ủi: “Bà đừng sợ, tôi không bị da cam đâu, già rồi sinh bệnh đấy chứ?”.
Bố vẫn đòi uống rượu. Bố bảo cả cuộc đời bố chưa từng làm gì xấu, chưa từng cờ bạc, trai gái, chưa từng buôn gian bán lận, lừa dối ai. Chỉ duy có rượu là không bỏ được. Rượu như ngấm vào máu vào thịt, cứ như không có nó, bố không thể duy trì sự sống.
Tôi cũng thường hay ngồi tiếp rượu bố vào những khi cả hai bố con đều có nhiều tâm sự trong lòng. Một hôm, bố hỏi “Giả sử bây giờ thằng Vũ có quay lại tìm con, con có tha thứ cho nó không?”.
“Bố à, chuyện cũ đã qua lâu rồi. Con đâu còn nhớ nữa, tha thứ hay không liệu có ích gì đâu ạ”. Phải rồi, tôi không còn nhớ Mắt Lạnh dù tôi đã từng yêu anh. Mối tình đầu đã đi qua 8 năm rồi. Tôi đã yêu người khác. Người ấy đã hôn tôi.
Tôi không còn khao khát nụ hôn như ngày xưa tôi đã từng khao khát, mà nhiều khi, nụ hôn còn làm tôi cảm thấy chán ngắt vô cảm. Nhưng mà có thật là tôi đã quên anh không nhỉ khi mà mỗi lúc nhớ đến anh, lòng tôi chỉ một nỗi buồn tê tái? Đến khi tôi xem phim Fan Fan tôi mới biết vì sao ngày xưa Mắt Lạnh không bao giờ hôn tôi.
Có phải anh đã nghĩ như Alexander: “Chỉ yêu ở trong tim, không có nụ hôn, không va chạm. Vì như thế tình yêu mới là vĩnh viễn. Tại sao khi người ta yêu lại cứ phải hôn nhau, để rồi tất cả lại kết thúc như bao cuộc tình khác?”. Tôi không phải là Fan Fan và anh cũng không phải là Alexander. Vậy tại sao anh lại làm như thế? Tôi đã khóc.
 Nước mắt của tôi mãi sau nhiều năm mới tuôn chảy, kể từ khi tôi nhận được bức thư mà Mắt Lạnh viết khi còn ở trong tù: “Ly ơi, em có tin không? Em là cô gái duy nhất trên đời anh không thể làm tổn thương. Bởi vì anh yêu em hơn tất cả trên đời…”.
Ngày ấy. Sao tôi lại không tin anh nhỉ? Sao tôi lại không khóc, sao tôi lại không tự hỏi vì sao? Và vì sao tôi lại đốt bức thư ấy đi, để nó trở nên một nhúm tro tàn? Đến khi tôi có thể khóc, đến khi tôi muốn nhào đến ôm lấy anh và hôn anh, nụ hôn đầu đời.
Nhưng đã muộn mất rồi. Tôi đã hôn người khác. Tôi đã nhận nụ hôn chẳng thiêng liêng, chẳng ngọt ngào thi vị như tôi đã từng tưởng tượng. Bao nhiêu năm qua, tôi cũng từng nghe nói về Mắt Lạnh. Nghe nói anh đã ra tù, rồi lại vào tù. Rồi lại ra tù. Bây giờ anh đang ở nơi đâu? Tôi đã chờ đợi anh mà sao anh không quay trở lại?
Bố tôi mất vào một ngày lặng gió. Gió đã biến đi như thể chúng đã thổi hết mình cho một ngày đã qua. Tôi không khóc được nhiều. Trước mặt thiên hạ, tôi không thể gào lên, lăn lộn, vật vã như biết bao đám ma khác.
Người ta chạy đến hét vào mặt tôi: “Em gọi bố đi. Gọi bố em đi”. Nhưng tôi không gào lên được. Nước mắt đã chảy sâu vào trong tim. Tôi lặng ngắm gương mặt bố tôi lần cuối cùng. Gương mặt bố hiền lành, nhân hậu biết bao. “Bố ạ, con gái của bố rất can đảm và mạnh mẽ phải không bố?”…
Đêm ấy. Trời đầy sao. Cả một bầu trời sao cùng lấp lánh, lấp lánh… Có lẽ linh hồn của bố tôi đã là một trong vô vàn vì sao ấy. “Đêm nay sao nháy. Ngày mai trời trở gió… Sẽ lại có một ngày gió lồng lộng thổi”.
 
(Theo Tiền Phong)
 
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-28 04:04:53mssthuan>
MIỀN ĐẤT HOA VÀNG
Dương Bình Nguyên

Lúc ấy đã vào cuối mùa khô, những con đường không thể bụi hơn nữa. Lối vào xã chỉ là một lát cắt giữa hai bên là những cánh rẫy vừa mới phát. Đâu đó có những đám khói xám xịt, bay luẩn quẩn cùng hơi nóng hừng hực.
 
Chiếc xe khựng lại, ông tài xế có một vẻ mặt rất phong trần nhìn hai đứa, tội nghiệp: “Ngồi đây đi, chút có mấy đứa công an xã tới rước. Nó dặn bây rồi hả?”. Thực ra không phải là dặn, chỉ là lời nói hôm trước đi giao ban công an huyện, ông phó công an xã bảo sẽ đón trong chiều nay. Còn vào lúc nào thì không thấy nói tới. Chúng tôi chui vào chiếc quán độc nhất, những món đồ hàng cũ xỉn và lầm lên màu đỏ quạch.
Bà chủ hàng ái ngại: “Uống nước không? Nhà tôi có “bò húc””. Khương bảo: “Anh có xem quảng cáo trên tivi không? Là nước tăng lực đó mà. Dì cho con xin hai lon bò húc, thật nhiều đá”. Tôi ngồi ngó lơ ra những tàng cây trứng cá, tàn lá của chúng cũng mang cái màu chật vật. Trong nhà, chiếc tivi chết lặng trên bàn. Cái bình ắc quy không đủ điện để phát sáng màn hình.
Bà chủ vừa quạt vừa bảo: “Trong này cực lắm. Cô cậu vô đây công tác hay đi làm gì?”. Khương cười: “Tụi con đi sưu tầm dân ca”. “Ờ, bi giờ lại có cái thứ công việc tùm lum đó sao. Sưu tầm dân ca, ngộ thiệt đó. Nhưng... là sao?”. “Là đi coi người ta hát cái gì hay thì mình ghi vào sổ, mai mốt về hát cho người khác nghe”. “Trời, con nhỏ này, giỡn hoài. Tưởng bà già này không biết gì sao?”. Khương cười. Lon bò húc ngọt đến dị người, tôi không sao uống hết. Khương bảo, có lẽ anh không biết, trong này đàn ông pha rượu để uống chơi thôi. Đúng lúc đó có tiếng xe máy rè rè tới. Khương đứng lên, hỏi thân thiết: “Sao lâu vậy?” Cậu thanh niên lúng túng, quệt hai tay bê bết dầu mỡ vào quần, chiếc quần cố gắng chỉn chu lại vần lên những vết tay màu đỏ vàng kì cục: “Tại ruột xe bị lủng”. Rồi nhìn qua tôi, anh ta chào: “Chú Chin nói tôi qua đón anh”. Khương nhìn tôi: “Thôi, anh vào trong đó đi, tuần sau Khương lên thăm. Khó khăn chung mà”. Người thanh niên nhìn Khương, ánh mắt buồn buồn: “Về luôn sao?”. Khương mím môi: “Công việc nhiều lắm”. Rồi cô lôi ra một chiếc bàn cạo râu và tá dao lam: “Xài đi, dạo này trông để râu... dữ dội quá”. Khương về. Người thanh niên không nói gì, tay vân vê chiếc bàn cạo. Chiếc bàn cạo đen, nhẵn bóng. Được một chặp, Khương quay lại bảo tôi: “Thôi, anh vào đi, trong đó có điện thoại, anh gọi cho Khương là được rồi”. Tôi khẽ gật, nhìn màu chói gắt đang đổ ập xuống đầu mình. “Về!”- chiếc xe bất thần rung bần bật và anh ta đang chờ tôi leo lên.
Bụi mù mịt. Chừng như không còn chút không khí nào để thở cả. Chỉ là một màu bung phát, tơi tả. Xe phăm phăm lao đi như một chàng ngựa dũng mãnh. Tôi không mở được mắt, tất cả đập vào tôi quá mạnh, quá hối hả, kể cả sự im lặng đến bạo liệt của anh chàng tài xế bất đắc dĩ này. Đến đầu suối, anh ta đột ngột dừng lại: “Xuống rửa mặt đi”. Một không gian khác, yên lành bất ngờ đến bên cạnh tôi. Con suối nhỏ nhưng trong vắt, đâu đó là tiếng cười trẻ nhỏ. Kề bên là những bờ cây lá, những bóng cây hồn nhiên trôi trên mặt nước hiền lành. Tôi thả chân xuống suối. Mát lạnh. Mà không dám tắm. Tôi nghe nhiều đến những chuyện như người ta bị ngã nước rụng trọc cả đầu. Trong khi đó anh ta đang dần trút bỏ quần áo: “Sắp tới anh sẽ phải tắm ở đây, như thế này”. Dứt câu, anh ta nhoài mình xuống đáy nước như một con rái cá. “Anh tên gì ?” - tôi hỏi. “ Cứ gọi là Yơng”. Yơng – thực tình nó không gợi cho tôi bất cứ cảm giác gì, nếu có thì là sự ngạc nhiên, hoá ra mỗi vùng đất đều có thể xuất hiện những cái tên khá kỳ lạ mà đôi khi người gọi ra nó cũng không hiểu vì sao lại thế. Hay giả chăng giữa những ngọn đồi này, giữa những mênh mông cỏ xanh và thung lũng này, có một huyền tích, một câu chuyện, một mối tình mà nhân vật chính mang tràn đầy khát vọng tên Yơng?
Đưa tôi về tới ủy ban xã, Yơng lặn không tăm hơi, bỏ mặc chiếc xe cà khổ nằm phất phơ giữa nắng chiều bỏng rát. Ông chủ tịch xã là người bản địa, một thời rước quân giải phóng qua sông Pôkô. “Cậu từng nghe tới đất này bao giờ chưa? Cực dữ lắm, nhưng không thể quên được. Mà người ta giao cho cậu làm những gì?”- ông chủ tịch hỏi. Tôi ngồi nhìn những đốm hoa bông gòn nở xoá trắng mặt sân nhà rông. Chúng nở bung và bay la đà trong những làn gió hiếm muộn. Tôi chưa từng nghĩ có một ngày mình sẽ phải đến đây, làm cái công việc rất chi là trừu tượng, giải đáp thắc mắc của nhân dân về chính sách. Tiếng Việt thì đồng bào không biết, làm sao tôi nói được tiếng dân tộc? Tôi cười: “Là một chút việc giúp đồng bào mình thôi, chú”. “Ờ, là hỏi vậy. Để nói với Yơng. Ơi Yơng, đưa cán bộ đi tắm. Nắng dữ lắm. Nhưng suối thì mát thiệt mát”. Hoá ra anh ta làm một chân “loong toong” ở xã, cái người đảm lược nhiều khâu đoạn trong một miền rừng mịt mù.
Và về sau tôi mới nhận thấy rằng, nếu không có Yơng thì mọi việc từ giản đơn nhất như đăng ký khai sinh cho một đứa trẻ đến những công việc lung tung beng khác ở cái xã này sẽ rối lên như canh hẹ. Nhưng đó phải là nửa năm sau, khi kỳ thực tập của tôi kết thúc. Còn khi đó, Yơng hiện ra ngay khung cửa, hàm râu cạo vội vẫn còn vương lại màu xanh ánh thép. Không để râu, trông anh ta hiền lành và có gì như thu bé mình lại. Tôi lôi ra chiếc khăn bông, chai dầu gội cùng hộp xà bông mới. Tất cả như một luồng điện nhanh chóng đập vào mắt Yơng. Anh ta nói: “Mấy chai lọ này đúng là thứ chiếu trên tivi?”. Tôi nhìn Yơng, có gì đó thật bất nhẫn: “Đúng vậy. Chúng chẳng đáng gì”. Yơng nhìn tôi: “Anh đi tắm đi. Anh chưa quen, có thể bị sốt rét như thường. Ba tháng rồi, xứ này không một giọt mưa”. Đến vậy sao? Tôi chưa nghĩ tới cái cảnh người ta có thể khoả thân trầm mình trong rừng như một câu chuyện khá mọi rợ mà tôi đọc được từ đâu đó. Nó rất xa với suy nghĩ của tôi. Vừa đi xuống suối, tôi hỏi: “Ở đây có gì đáng kể không?”. “Là sao?”. “Là những chuyện động trời một chút, những câu chuyện đánh nhau, bắn rơi máy bay Mỹ chẳng hạn”. “Nhiều, kể sao hết. Nhưng mà phải nói với già làng. Chuyện mười năm, chuyện trăm năm già đều biết”. Nước lạnh làm tôi rùng mình. Dường như lâu lắm rồi, tôi không có được cái cảm giác thoải mái và tự do thế này. Những cánh rừng phấp phới nắng. Và loài chim gì có những chiếc lông cánh màu đỏ rực đang ngồi vắt vẻo trên thân bằng lăng trắng, chúng tụ tập nhau để gẫu chuyện. Yơng đang ngồi trên bờ, tay vấn điếu thuốc sâu kèn to bản. Rồi hơi thuốc khét lẹt phả ra xung quanh. Cái cần cổ Yơng bạnh ra, rướn lên như làm một việc nặng nhọc rút kiệt sức lực. Tôi ngoái đầu lại, cảm giác như để chống chọi với cái buồn tẻ và u ám của xứ này, anh ta đã phải gồng lên với tất cả nghị lực phi thường, hệt như anh phải vươn cần cổ rít từng mẩu thuốc sâu kèn khét lẹt và không mấy ngon lành kia. Tắm xong, tôi leo lên bờ ngồi cạnh Yơng.
Chìa cho tôi bản thuốc lớn được quấn trong tấm vải nhựa, Yơng bảo tôi, giọng nhuốm một màu huyền thoại : “Dùng thử đi, mới đầu không chịu nổi, miết rồi lại không thể xa được. Thuốc này được trồng trên đỉnh núi Chư Pru, ba năm mới nở hoa, ba năm lá mới kịp rụng”. Tôi nhìn Yơng quấn bản thuốc lớn, nghĩ có thể lịm đi vài giờ liền vì độ nặng của nó với vòm họng bé nhỏ của mình. Tôi hỏi: “Nhà anh ở làng nào?”. “Làng Klong. Cái làng đẹp, những cô gái đẹp. Làng của người Campuchia”. “Sao lại vậy?”. “Họ qua đây lâu lắm rồi, giờ thành người Việt đến nơi. Họ muốn ở lại”. “Cả gia đình anh ở đó chứ?”. Yơng không trả lời, châm thuốc và đưa cho tôi: “Bắt vợ chưa?”. Tôi chưa nghĩ được tới điều này. Tôi cười: “Tôi còn nhiều thứ phải lo quá”. “Ờ, người thành phố thường vậy. Nhưng xứ này không có cái gì hay cả, nên bắt vợ là chuyện lớn. Người lớn nghĩ hộ bọn trẻ khi chúng bước vào tuổi mười lăm”.
Giọng Yơng như trôi đi về một góc rừng nào đó, phiêu diêu và ngậm ngùi. Yơng giục tôi đi về. Phía đầu dốc Khẩu Súng mặt trời sắp rụng xuống. Những tàng cây kơ nia hai bên đường ánh lên sắc đỏ đầy bỡ ngỡ. Đám trẻ con lúc lắc rong đàn bò về nhà. Ngập trong tiếng leng keng mõ, tiếng ậm ò của bầy đoàn no đủ là một cảm giác thật bình ổn, thật mê say. Những cô gái quấn xà rông ướt lượt thượt đi phía sau. Họ nói với Yơng bằng tiếng Giarai. Rồi tất cả cùng cười rũ. Dường như rất nhiều cô gái biết trước sự kiện này. Phải gọi là sự kiện vì năm sáu năm rồi mới có một “cán bộ” người Kinh về đây công tác tương đối lâu như vậy. Tôi nhìn thấy ánh mắt những cô gái lấp lánh. Những ánh mắt đẹp. Vừa khát cháy vừa mênh mang.
Đêm trong buôn nghe tiếng mõ bò lộc cộc buồn nôn nao buồn. Chỉ có thể coi hết thời sự, màn hình tivi bỗng tối om bởi nút nhấn trên tay ông chủ tịch: “ Thôi, đi ngủ đi. Yơng, mai bàn kỹ với cán bộ, coi làm những thứ gì. Ô, nhớ đi nhấc lưới thiệt sớm”. Rồi ông mang chiếc võng dù cũ sờn ra ngoài hiên mắc nằm, mắt ngước lên những chòm sao dày đặc. Trời trong veo, không gợn u ám mây. Thoảng qua gió và tiếng mang tác tìm bạn, tiếng bầy chim chập choạng gọi ăn đêm là một khúc dân ca nào đó trôi về. Tôi và Yơng nằm chung trên tấm bạt pháo sáng đã cũ. Dường như Yơng cũng như tôi, không ngủ được. Bữa cơm chiều với món muối giã ớt thật đậm khiến tôi cay xè con mắt. Rất lâu trong mông lung, Yơng lén ngồi dậy, ra ngoài cầu thang, ngó chơi vơi lên những bóng kơnia đổ rậm một vùng đen thẫm trước sân nhà. Tôi cũng ngồi dậy. Yơng hút thuốc, điếu thuốc sâu kèn đỏ rực trên khoé môi. “Ngủ đi. Đường xa mệt nhiều chứ? Đi thẳng từ Hà Nội vô đây?” “Vâng. Thực tập mà”. “Ngày mai thì làm gì?”. “Tôi muốn xem lại sơ đồ của toàn xã. Rồi đi tới từng làng buôn. Này, đi lên biên giới chắc là xa?”. “Chỉ một đoạn đường. Đó là sông Pôkô. Đẹp miệt mài”. “Sao anh không về làng?”. “Trong này dường như cả ủy ban xã thức đêm. Lâu thành quen”. “Khi nào anh về làng?” “Mai mốt. Vợ mình mới sinh con. Một đứa con gái”.
“Điều đó rất thiêng liêng mà” – tôi gần như thốt lên. Yơng cười, hàm răng loá buốt dưới trăng: “Vợ mình sinh con gái cho người khác”. Yơng nói thật bình thản, cảm giác mọi nỗi buồn đau đã đi qua trong ngày hôm trước, để sớm nay trở dậy anh đã rất đỗi bình tâm, đến ủy ban làm việc một cách bình thường. Tôi im lặng. Tôi sinh ra, lớn lên ở vào một khoảng khác biệt quá lớn để có thể hiểu những gì đang đến với Yơng. Nhưng đêm nay ngồi đây, tôi thấy Yơng thật cô độc, cái dáng chùi chũi xuống, cái dáng cắm cúi lao lư như một bức tượng nhà mồ đôi chân im lìm nằm trong khoang đất bí ẩn. Tôi bảo: “Anh cùng đi ngủ đi. Đêm nay có rất nhiều sương”. Yơng vịn vai tôi, đứng dậy: “Chừng nào anh về ngoài Bắc?”. “Còn rất lâu nữa, hình như phải đi qua mùa mưa” - tôi nói phỏng chừng. Nói phỏng chừng để chờ đợi và kiếm tìm những gì đang cất giấu như men rượu lâu ngày trong tâm hồn kia. Và sau câu nói ấy, tôi thấy mình thật tàn nhẫn.
***
Một cuốn sổ cáu bẩn, chỉ là rất tình cờ thôi, tôi tìm ra nó trong đống hồ sơ cũ kỹ, những sơ đồ, đường làng, những ký hiệu ám định những ngôi nhà, con suối... Bên cạnh cuốn sổ bìa cứng ghi khai sinh là cuốn sổ này, nó được ghép lại bằng nhiều loại giấy nham nhở nhưng những con chữ lại khá đẹp. Trong cái nét nghiêng đều đưa trên mặt giấy thấp thoáng sự tài hoa. Thoạt tiên, tôi cho là cuốn sổ nhỏ mà một ai đó, như mấy cô giáo tiểu học chẳng hạn, ghép lại lúc rỗi việc để chép bài ca. Tôi bỏ qua một bên, lẫn cùng với những giấy tờ lem nhem màu đất đỏ. Có thể thấy rõ dấu vân tay ông chủ tịch in lên mỗi trang sổ ấy. Ông có thói quen chấm nước bọt trước khi giở sách. Và đất đỏ cũng theo đó mà lưu hằn lên giấy. Nhem nhuốc – phải nói cho đúng là như vậy. Hồ sơ ghi về dân số, về đất nông nghiệp, sản lượng... khá mờ nhạt và không cập nhật, có khi đó là kết quả của mấy năm trước, mà người chép vô thức tỉ mẩn ngồi sao y bản chính. Phải bằng nhiều chắp nối, tôi mới tạm hình dung được thực trạng của một xã biên giới heo hút và khó khăn chồng vai gối đầu lên nhau như thế này. Những lúc ấy, Yơng thường quanh quẩn đâu đó. Rồi anh lại mang con dao rẫy lên vai, qua bên rừng vạt những đám cây nhỏ, chăm chỉ dọn đám rẫy mới. Xung quanh khu nhà ủy ban, Yơng đã phát khá nhiều. Anh bảo: “ Để cho ủy ban nấu cơm khi có cán bộ lên công tác. Mình không biết làm gì đâu, làm thế này cũng thấy tốt hơn”. Chặp thoảng, anh lại chạy về, mang cho tôi ly nước, hoặc một bao thuốc ERA, một thứ thuốc bao cứng đồng hạng, không quá đắt nhưng vượt trội thứ thuốc Mai cuốn điếu không có đầu lọc khét lẹt. Thực tình, tôi hút không bao lăm, chỉ để lúc rảnh ngồi chơi bài tú lơ khơ lại đem ra làm vật nhạy cảm hấp dẫn mọi người vào cuộc. Có lẽ mọi thứ ở đây diễn ra quá tẻ nhạt khiến người ta chóng thấy nhàm. Tôi đã đọc hết tất cả những cuốn sách có thể mang theo. Và tôi nghĩ đến cuốn sổ ấy, biết đâu giống như lời Khương nói, nó sẽ có một cái gì đó hay ho, một bài dân ca là lạ chẳng hạn. Tôi ngồi tỉ mẩn soi lại những đường chỉ khâu gáy cuốn sổ. Gần như mục cả rồi. Mới thấy mưa nắng xứ này nghiệt ngã thật, có thể làm tơi mục mọi thứ, xoá phủ đi mọi thứ. Những con chữ nghiêng nghiêng, đẹp và lượn đều đặn. Nó không bao giờ là sổ chép bài ca.

Ngày...
Mình vào bộ đội. Giấc mơ của mẹ đây mà. Mẹ bảo, chân cứng đá mềm nhé. Con đi con đường của bố. Bạn bảo, thôi, chúng ta mỗi người một hướng đi. Nhưng hẹn gặp lại. Mình chẳng cản bạn bao giờ.
Mình vào bộ đội. Mẹ sẽ không bao giờ biết mình đang đi trong những khu rừng ướt đẫm nước mưa thế này đâu. Và ngay bên kia, con sông sóng dữ ầm ào chảy. Mình đi gác đêm. Bên cạnh mình, anh Trung bảo: “Tao nhớ nhà quá, còn mày?”. Tự dưng mình cũng thấy nhớ nhà cồn cào. Mình muốn khóc. ừ, nhưng con trai mà khóc ư? Khóc lúc này thật là ủy mị và lãng xẹt. Mình bảo: “Em quen rồi. Em nghĩ anh cũng đã quen”. Làm sao mà quen được. Nói cho nhau ấm lòng thế thôi. Anh Trung bảo: “Mày có người yêu chưa?”. Mình bảo: “Chưa kịp yêu”. Mình nói dối. Anh Trung bảo: “Sang năm tao nghỉ phép về nhà cưới. Không cưới nó đi lấy chồng mất. Người yêu tao xinh gái nhất làng. Mà mày cũng chẳng hình dung được làng tao như thế nào đâu. Nó rộng và đông đúc, phải gần bằng cái thành phố Plêiku”. Mình cười: “Em chẳng được đi đâu nhiều. Học xong, em vào lính luôn”. “Thế mày đã biết thế nào là nụ hôn đầu đời chưa? Nó... buồn cười lắm, ngòn ngọt mà lại ... hay hay. Nói chung là nên yêu đi ông em ạ. Đời lính chúng ta phải yêu ngay cho nó đỡ sầu”.
Cứ cuối tuần, bưu tá ở ngoài đơn vị mới đưa thư báo vào phà tám, nơi tiểu đội mình đóng quân. Lúc ấy mình không làm được gì. Phấp phỏng, lo lắng và nhiều lần thất vọng. Nhưng một buổi sáng mình nhận được thư bạn. Mình phải ngồi im một lúc lâu rồi mới len lén ra bờ sông đọc. Bạn kể đã khóc và thương mình. Không nên thế, đồng chí ạ. Mình tự nhủ vậy mà sao nước mắt lại trào ra.
Mình hối hả viết thư cho bạn, nghĩ đến những ngày phép. Những ngày ấy chúng ta sẽ làm gì nhỉ. Chẳng biết sẽ làm gì nhưng chắc chắn sẽ rất hạnh phúc. Có thể mình sẽ chở bạn đi lang thang ngoài phố, đi suốt đêm bên nhau, ngó lên những khung cửa kín bưng le lói những ánh đèn. Ngày trước mẹ mình thường mắng hai đứa trẻ con quái gở, thích thú khỉ gió gì như thế chứ. Nhưng mà chúng mình thích thế, không hiểu vì sao lại thế. ừ, thành phố, hiện diện trong tâm trí mình luôn là một thành thố với những khung cửa le lói, những quầng sáng chấp chới màu hy vọng. Mình nhìn những thân bằng lăng trắng bóng trong chiều nắng, thấy nơi này sao mà rộng mà dài, thấy nỗi nhớ bạn rất nhiều mà đường lại rất xa…

***
… Tôi bắt đầu chuyến đi vào từng buôn. Yơng đi cùng tôi, anh đưa cho tôi một chiếc khăn bịt mặt. Còn Yơng vẫn để đầu trần, mái tóc Yơng khô xác như râu ngô được nắng. Và chiếc áo Yơng đang mặc, giống rất nhiều người đàn ông khác, đó là một chiếc áo bộ đội đã cũ. Không biết nó đã gắn bó với Yơng từ bao giờ, nhưng những sợi vải đã nhão nhừ và mỏng tang. Yơng bảo: “Vô làng anh nhớ phải nhiệt tình uống rượu nghe. Rượu ghè, thiệt ngọt và thiệt mát. Anh là khách qúy, hôm qua mình đã bảo với già làng rồi”. Dù chiều đã tàn muộn, tôi vẫn kịp nhận ra ngôi làng Klong của Yơng nằm trên mảnh đất bằng phẳng, có cảm giác mấy chục nóc nhà khuôn tròn lại với nhau, ở giữa là cây pơ lang hoa đỏ thắp rực rỡ. Bên cạnh, vẫn còn cây nêu của lễ đâm trâu. Chiếc xe chạy vào giữa sân, lũ trẻ con lập tức nhào đến: “Yơng về rồi, chị Hnơl, Yơng về rồi”. Thấp thoáng từ bóng nhà dài một vạt thổ cẩm nhàu nhĩ và có tiếng trẻ khóc ré lên. Yơng bảo: “Vợ mình đấy. Còn con người khác”. Cha vợ Yơng đã rụng răng phóm phém, miệng ngậm tẩu thuốc: “Cán bộ về chơi sao?”.
Yơng bảo: “Nguyên vô làng mời mọi người ra ủy ban làm việc”. Nhà Yơng nghèo thật nghèo, quanh cái bếp cháy xém đen đúa chỉ một đôi cái nồi sứt quai. Ông già vẫn không rời tẩu thuốc khỏi miệng, chỉ thấy từng hơi khói mệt nhọc trôi qua phía đỉnh đầu. Yơng lặng lẽ ra ngoài, từ trong những ngôi nhà bắt đầu tiếng chân lịch bịch, tiếng người í ới gọi nhau. Yơng về lại làng. Yơng đem cán bộ đến giới thiệu với dân làng. Thế thì đàn ông phải đến, đàn bà phải đến. Những ghè rượu được đặt giữa nhà Yơng. Tôi như lịm đi trong thứ nước cay dịu, say dịu và ngọt mềm như những vòng tay người. Người ta hỏi han, chúc tụng Yơng. Tôi nhìn thấy ánh mắt Yơng chợt như đờ dại, chợt như hằn lên những nỗi buồn âm u như men rượu. Yơng uống rất nhiều, Yơng hát những bài ca mang mang buồn, bài ca tình gần, bài ca tình xa. Yơng không say rượu. Giữa lơ mơ thức tỉnh, giữa những lần vít cần và những khói thuốc chờn vờn, tôi vẫn thấy Yơng ngồi hát. Hát mê mải. Nước mắt Yơng lặng lẽ chảy. Trong vắt. Không giống nước sông Pôkô.
Tôi bắt đầu buổi nói chuyện, kế hoạch tuần đầu thực tập là tôi phải gặp gỡ bà con, trò chuyện và lắng nghe ý kiến từ mỗi buôn làng. Tôi nói chuyện, những kiến thức ngờ nghệch qua những lát cắt vụn vặt từ vài tài liệu, vài đoạn báo khiến những câu nói khá rời rạc và ngập ngừng. Yơng đứng dậy. Anh dịch ra tiếng Ja- rai, khiến những gương mặt ngơ ngác sáng bừng lên. Rồi mọi người quay qua tôi, hỏi đủ thứ chuyện. Đại loại là những thắc mắc về chế độ dây thép gai, tại sao nói cho để rào vườn trồng cà phê mà chưa có? Tại sao nhà Puih Năm được hai chục ký gạo nhà tôi chỉ được mười lăm ký... Trong số ấy có cả những kẻ vượt biên, bị nhốt thành tù binh trong cải ảo vọng của đất lạ, rồi lại quay về. Khá mệt mỏi, mắt họ cắm cúi xuống sàn nhà. Tôi nói với Yơng, cần phải nói cho họ hiểu tất cả. Yơng kêu mọi người im lặng. Lúc này tôi nhìn thấy Yơng trong một trạng thái mê say kỳ lạ. Anh đã thành thục với cách nói chuyện thế này từ rất lâu rồi. Mọi người ồ lên, có ai đó vít cổ Yơng xuống, những cái ôm hôn rất chặt. Và lại uống. Trong góc nhà, vợ Yơng đang ôm con ngủ. Chị nhìn Yơng, ánh mắt ấp ủ như lửa nhỏ. Tôi nhìn đứa bé trên tay chị, nó không mang bóng dáng nỗi buồn Yơng.
***
Ngày…
Hôm nay lớp học về sớm. Mình biết bọn trẻ sẽ rất khó chịu khi trong buôn đang có lễ Pơthi. Nghỉ sớm. Nói chung là mình cố hoàn thành bài giảng cho tốt. Mình chẳng có kinh nghiệm gì, biết sao nói cho chúng dễ hiểu là xong. Cô bé áo xám lớn nhất lớp nhưng học khá nhất lớp. Giá có một trường học ở đây, giá như cô bé được đến trường sớm hơn. Hay là mai mình vào nhà mình vận động. Biết đâu bố mẹ cô bé lại ưng bụng cho về huyện học tiếp. Mình biết cô bé rất mê Toán. Nếu về đó, cô sẽ rất khá. Mình thương cô bé, cuộc sống vất vả khiến cô bé già đi rất nhiều so với tuổi. Những đốt tay chai sần, những tuổi đời vụn đi theo những mùa lên rẫy. Nhưng mình chẳng làm được gì. Chỉ một tháng nữa, trường học sẽ mở ở đây. Mình sẽ về. Ra quân mình sẽ làm gì? Mẹ viết thư bảo, cứ về với mẹ, mọi thứ đã xong xuôi cả. Xong xuôi – với mẹ thì mọi thứ đều có thể dễ dàng xong xuôi.
Ngày…
Cô bé áo xám bảo, thầy ơi, có thể chị gái em sẽ chết trong đêm nay. Làm sao mà chị lại chết ? Thầy không biết được đâu. Ba tháng trước chị ấy đã bị đuổi vô rừng rồi. Chị ấy mang bầu. Làng bảo đó là con ma lai. Làng không có đất cho chị ấy nữa. Chị ấy chết thôi, sắp sinh rồi… Mình chạy theo cô bé áo xám. Chạy gần hết chiều mới tới con suối ấy, con suối lạnh tanh không người. Tiếng vo ve dài, tiếng trái rụng lẫn vào tiếng gió rớt qua những vòm lá. Tràn vào đó là tiếng réo ma quái của rừng già. Hun hút, âm u và đầy bất trắc. Cô bé hú dài, tiếng hú xa vời. Đáp lại là một tiếng hú gấp gáp nhưng yếu ớt ở phía sau ghềnh đá. Mình lao đến. Dường như người phụ nữ ấy cực kỳ hoảng loạn. Cô ta định vùng dậy chạy. Đúng lúc đó có tiếng trẻ nhỏ. Mình giật thót. Một cảm giác quái lạ ập đến. Có cái gì như sự ớn lạnh. Mình đã nghe tiếng trẻ nhỏ bao giờ nhỉ ? Cái tiếng khóc rạch trời lảnh lót. Mình giật áo ra, bọc lấy cái mầm sống đang quẫy đạp bên ghềnh đá, cắt riêng cho nó một cuộc đời. Oe oe khóc, nó gợi nên trong ánh mắt người mẹ một nỗi thèm khát về một mái làng. Phải, giá mà cô ta có một mái làng, một vuông sàn để sinh nở, một bầu nước để lau rửa cho con. Mình hỏi cô bé áo xám: “Có cách gì đưa chị em về nhà được không”.  Áo xám khóc: “Em không biết. Làng đã đuổi đi rồi mà. Nó sẽ chết thôi”. Mình rất sợ, mình chưa bao giờ phải trực diện với cái chết. Mình vốn được cuộc đời hào phóng ban phát một đời sống bằng phẳng và lành sạch. Mẹ vẫn bảo mình, đi bộ đội cho nó cứng cáp lên. Thì cứng cáp. Nhưng đối diện với những khoảnh khắc mong manh thế này…
Ngày…
Từng đám lửa đỏ rực, cái màu hừng hực hằn lên trên mỗi ngọn đuốc. Sân nhà rông như một vầng lửa khổng lồ, sẵn sàng thiêu rụi mọi ý chí phản kháng. Mình nhìn những ánh mắt dò xét. Những đứa trẻ ngày ngày lên lớp gọi mình trìu mến “thầy ơi” giờ đây đang chằm chằm chờ lời phán xét của già làng. Tiếng chiêng gõ, tiếng trống dồn. Những đôi mắt mở lớn. Và những điếu thuốc sâu kèn thật lớn.
Mình nhìn thấy cô ta với ánh mắt kinh hoảng và da mặt xanh nhợt. Cô ta không dám ngẩng đầu, ôm khư khư đứa bé. Và tiếng khóc của nó đã bật tung mọi ý nghĩ. Dân làng bắt đầu hỏi tội. Lại khóc. Lại cúi mặt. Và bỏ chạy. Có ai đó hét lớn: “Giữ nó lại! Giữ lại”. Không thể chạy. Cô ta lại ngồi xụp xuống gốc pơ lang ngập tràn màu hoa đỏ rớt. Một khoảng lặng nghẹt thở giữa hừng hực kìm nén. “Ai?Đứa nào?” - có đôi tay thô bạo giật tung đứa bé trong tay người mẹ yếu ớt đến thảm hại. Tiếng trẻ nhỏ la hét không ngớt. Và đầu óc mình như bị sét đánh. Mình nhìn trân trối vào đám người đang huơ cao ngọn đuốc. Cô ta đã ngất lịm. Bố cô ta cũng ngất lịm. Mình không thể nào làm khác được.
***
Tôi đã trở thành thân quen với các buôn làng. Những cụ già, em nhỏ, những cô gái xà rông thổ cẩm ánh mắt như nắng lấp lánh cười. Cuộc sống từ mỗi buôn làng phả lên cái mùi hoang sơ và dân dã. ở xứ này người ta chưa nghĩ tới việc phải lao lư kiếm thật nhiều tiền và chờ đợi quá nhiều vào những ước vọng xa xôi. Mỗi đứa trẻ ở đây sinh ra được gội dưới dọt nước nguồn, được khóc giữa trời cao đất rộng, giữa bạt ngàn rừng đồi và được lớn lên bằng một mạch nguồn của đất. Chúng mang màu da vàng au như mật và khoẻ mạnh như những chàng Đam San với những cánh cung vút tên bạt gió.
Khương lên thăm tôi. Một tháng ròng với những món ăn đặc quánh của mùa khô khiến tôi thèm một bữa cơm của mẹ với món canh dưa truyền thống. Khương mang lên rất nhiều thứ, rau quả và những đồ vặt lỉnh kỉnh khác. Vẫn là một tá dao cạo râu cho Yơng. Và Yơng lại lặng lẽ nhận lấy. Không vui và không buồn. Khương ở lại ủy ban, bắc bếp nấu cơm. ủy ban ngày chủ nhật mọi người rủ nhau vào rừng săn thú, chỉ còn tôi và Yơng đang ngập đầu trong những con số mà phải mất khá nhiều ngày tôi mới tính toán lại được. Đó là một phần công việc trong chuyến thực tập. Tôi hỏi Yơng: “Xưa anh học lớp bao nhiêu?”. Yơng nhìn tôi, rồi lại hút thuốc: “Biết cộng trừ là được rồi, học nhiều cũng chẳng làm được gì”. Tôi bảo: “Có bao giờ anh đi qua thành phố?”. “Ở đó chẳng có gì vui. Tôi ở đây lâu, đã quen”. Người ta quen đi khi cuộc sống vốn được bắt đầu như thế này, từ lúc đứa trẻ biết hình thành ý nghĩ.
***
Ngày…
Luôn là bộn bề những suy nghĩ trong những ngày tháng đầu tiên ở lại với làng. Mình hoảng sợ khi nghe ai đó gọi tên mình, nghe tiếng bước chân lạ bậm bịch nơi cầu thang. Mình ngồi đó, bây giờ thì mình có thể hút mấy điều sâu kèn mà không choáng váng. Mình đã vậy rồi, bộn bề râu tóc. Tay áo mình rách toạc khi đi rẫy. Bàn chân mình chai mốc khi đánh lưới ngoài sông. Thơ ấu của mình đi mất. Cuộc đời là cái gì mà mình lại hậm hực sống thế này?
Lại một đêm mình không ngủ. Thành phố vẫn còn le lói trong những nỗi nhớ không tắt được. Và những tháng ngày ồn ã đơn vị với bè bạn và những lá thư. Cả bạn nữa. Từ khi rời quân đội mình không liên lạc với bạn. Phải chi một phần trí nhớ được biến mất, mình sẽ sống trơn tru, sống như cây kơnia yên lặng trên những lối về làng.
Mình gục đầu bên bếp. Những gốc lửa đã vạc dần, gió hắt lại lay phay những đốm đỏ nhè nhẹ. Đêm trong làng tĩnh lặng, tiếng chim đêm tác vọng nghe xa xăm buồn. Có tiếng trở mình khe khẽ. Và một cái gì rất nhẹ, ấm mềm khẽ rủ xuống vai mình. Đừng khóc nữa. Phải sống, thế thôi. Từ sâu thẳm trong lồng ngực, mình nén lặng một tiếng thở dài...
***
Trong tôi vẫn thường trực những ý nghĩ về Yơng, về cuộc sống kỳ lạ của những đứa trẻ xứ này. Chúng được sinh ra, lăn lóc lớn lên, rồi lại vội vã ngụp mặt vào đời sống vợ chồng và bề bộn sống, sinh đẻ trong lam lũ. Vậy mà, khi họ hát, họ nhảy múa, cuộc sống bỗng trở nên rộn rã và đầy khát khao…Yơng đã lặng lẽ bỏ đi từ khi nào. Khương đang quạt bếp, khói hoay hoả đỏ gay con mắt. Khương bảo: “Trong này buồn lắm, phải không?” Tôi cười: “Dần dà rồi cũng quen”. “Khi nào ra ngoài Bắc, anh cho Khương gửi chút quà về nhé. Hà Nội mùa này có gì nhỉ? Em thèm được một buổi chiều đi xe đạp bên hồ Gươm. Ngày xưa…”. Khương nói lửng vậy rồi thôi, khói làm cay xè con mắt. Tôi nhìn quanh, thấy trên hiên nhà rông, Yơng im lặng làm việc, anh cộng trừ những con số một cách tỉ mỉ và kỹ lưỡng. Không có chút gì đặc biệt từ Yơng. Tôi nhìn Khương. Cô như đang bị một góc phố hay một con đường nào đó cuốn lấy. “Quà cho bồ à?” – tôi hỏi. “Không, mẹ em vẫn còn ở đó. Nhà em ở tập thể Thanh Xuân Bắc”. “Ờ, cũng gần”. “Ngày xưa Khương học trường nào?” “Quang Trung. Ông thầy em dạy Toán phát buồn ngủ. Nhưng mà kể chuyện tiếu lâm lại vui. Ngày ấy buồn cười, em cứ nhất mực thi vào trường anh đấy, trượt vỏ chuối, may lại đỗ vớt vào trung cấp cảnh sát”. “Vào đây mình thấy Khương có vẻ hợp đấy”. Bỏ lại những con số, Yơng nằm võng hút thuốc sâu kèn. Mùi thuốc khét lẹt. Tôi và Khương đi dạo. Đã bắt đầu cạn mùa khô. Từng đám khói đốt rẫy bốc cao ngất. Khương bảo, anh thấy nơi này thế nào? Tôi bảo, cũng chẳng có gì đặc biệt. Mình chỉ đi thực tập. Khương lại hỏi, thế nếu vì một ai đó, một cô gái chẳng hạn, anh có định tình nguyện ở lại không? Tôi chưa nghĩ tới tình huống này. Lũ chúng tôi bị thành thị cuốn hút đến mức, mọi ngõ ngách của phố xá cũng đã là những kỷ niệm sâu đậm. Và tiện nghi. Và những thói quen…
Nhưng Khương là một người can đảm. Có cảm tưởng như sức sống của cô đã khuất phục được cái thời tiết nghiệt ngã mưa nắng của vùng đất này. Nắng đỏ au. Mưa dầm dề. Cô vẫn phơi phới sống. Đi cùng tôi trong rừng bằng lăng trắng, cảm giác như Khương đã thuộc về miền đất này. Cô say sưa nói về công việc của mình, những dự định sẽ làm. Cái xã biên giới này làm cho cô phải lặn lội khổ sở nhiều. Nhưng chính cô lại bị mê hoặc. Cô có thể say sưa hát những bài dân ca mà cô đã nghe, đã thuộc. Cô lôi bọn trẻ trong làng ra suối, lột vỏ bánh xà bông và chà sát tới thơm tho những cái đầu râu ngô cháy nắng… Khương chỉ cho tôi một đỉnh rừng đầy những đốm hoa rất lạ, nở trong những ngày khốc liệt của thần lửa. Những đốm hoa rực rỡ, càng nắng lớn càng khoe sắc tươi. Tôi tìm lối bẻ hoa cho Khương. Những cánh hoa rất dày, thơm khắc khoải. Chúng tôi ngồi lại trên một thảm cỏ nhỏ, giữa rừng. Ngồi rất gần Khương, tôi chợt nhận ra cô có một vẻ đẹp kỳ lạ, lặng lẽ và nền nã. Tôi nhìn Khương. Chúng tôi nhìn nhau. “Khương đẹp thật” – tôi buột miệng. Khương ngỡ ngàng: “Anh cũng biết tán gái rồi đấy à?”. Tôi không nói được. Có một cảm giác lạ đột ngột xuất hiện. Khương bối rối thực sự. Tôi cầm tay cô, rất nhẹ, kéo Khương về phía mình. Loài hoa lạ lùng, khắc khoải thơm.
***
Ngày…
Biết nói với bạn thế nào nhỉ? Thành phố, đường về sao mà dài. Mình có buồn không nhỉ? Bạn là bạn. Bạn đã sống khác mình. Rất khác.
Mình có khao khát bữa cơm của mẹ không nhỉ?Chắc mẹ vẫn ngồi đó mất, nắng chiếu dài qua khung cửa. Phố chắc là vẫn dài như cũ. Anh em trong đơn vị hầu như đã ra quân cả. Hôm khoác ba lô lên vai cho anh Trung, anh Trung khóc mà bảo: “Tiếc cho mày lắm, nhưng mà thôi, cố lên”. Mình có tiếc không nhỉ? Tiếc thì bỏ về đi, chẳng ai đi tìm được mình đâu. Mình chả đã từng vậy rồi sao? Tại sao cô ấy lại im lặng? Tại sao nó lại oà khóc đúng lúc mình dợm bước xuống cầu thang. Mình nhìn ông già vợ, ông ngồi trên nhà dài mái tóc bạc xóa và nỗi buồn nêm kín cả khuôn mặt. Ông bảo, muốn đi phải không? Đi nhanh lên, không thì làng sẽ phạt đấy. Mình đi ra đầu làng, thấy mái nhà rông cao vút. Mái nhà rông mang khát vọng của những người đàn ông dũng mãnh, kiên cường. Mình bỏ cái nhà này, nhà chỉ toàn đàn bà thôi. Mình quay lại, ngồi bệt trên cầu thang. Tại sao mà mình lại khóc?…
***
Rồi thì cũng đên bữa cơm muộn màng. Tôi cảm thấy thật ngon lành. Chúng tôi ngồi ăn, nói chuyện về những cơn mưa sắp tới. Khương bảo, cố gắng ăn đi, bù đắp những ngày chịu cực và đói. Tôi cười, lúc nào cũng như thế này thì thích thật. Yơng lầm lũi ăn, hệt mọi lần. Rất hiếm khi tôi thấy những dấu ấn khác lạ trên mặt Yơng. Anh có một vẻ ngoài phẳng lặng đến mức, đôi khi tôi ngỡ anh thờ ơ với tất cả. Và những gì anh làm, anh cần mẫn giống như một thói quen. Đến chiều thì Khương xuôi. Tôi đưa cô ra ngoài ngã tư. Chiếc xe máy vẫn lao nhanh và đường chưa hết bụi. Đến ngã tư, xe dừng lại. Khương đặt tay lên vai tôi, cười: “Anh chẳng thể hiểu được đâu”.
Tối đến trời bức bối. Không một đọt gió thoảng. Chúng tôi ngồi ngoài sân nhìn những đám sao dày đặc. Yơng hút thuốc liên tục. Rồi như không kìm được, Yơng nói như quát lên: “Mày yêu Khương thật lòng không?”. Tôi giật mình: “Thật ra là có chuyện gì vậy?”. “Mẹ kiếp! Chuyện gì? Mày yêu thật không?”. Tôi không nói, dợm bước bỏ đi. Yơng là ai, là cái gì để can thiệp vào chuyện của tôi, chuyện của những người con gái con trai chưa bị những vòng xoáy hôn nhân ràng buộc? Yơng ở một khoảng rất xa kia mà. Yơng kéo giật tay tôi lại, quỳ gục xuống: “Tao xin mày đấy, thằng khốn. Tao biết mày chỉ tạm bợ, thoáng qua. Đồ tồi!”. Yơng khóc rống lên như một đứa trẻ. Còn tôi thấy mặt mình rát lên như vừa bị táp lửa. Cũng không biết vì sao đến mãi về sau khi viết những dòng này tôi vẫn trĩu buồn.
***
Ngày…
Mình đã thành cây của đất này. Mình sẽ chẳng ghi nhật ký nữa. Buồn lắm. Mình biết, cần phải quên đi. Nhưng mình cũng biết, dẫu có thế nào, thì đó cũng là tình yêu.
***
Mùa mưa đến thật bất ngờ. Sau khi đốt rẫy chừng nửa tháng, trời vần vũ mây mang nặng trĩu hơi ẩm. Và đến khi không khí như đặc quánh đến nghẹt thở thì ầm ào sấm mang đến những cơn mưa. Mưa vắt qua những triền rừng, lấp đầy những kẽ đất nở toác vì khô hạn. Buôn làng nhìn mưa, vui như hội. Chờ cho mưa thấm, người người đi rọn rẫy và bắt đầu vào vụ mới. Tôi vẫn phải hoay hoả với những phần cuối của chương trình thực tập. Những đối tượng trốn chạy qua biên giới lặng lẽ trở về, ra trình diện với chính quyền. Lại phát gạo, cho muối, đưa thuốc diệt sốt rét vào làng. Lại tiếp tục đi vận động bà con dọn làng, trồng rẫy mới. Yơng vẫn cùng tôi giải quyết mọi chuyện, lặng lẽ như người giúp việc. Tôi im lặng rất nhiều và những cuộc viếng thăm của Khương cũng thưa đi. Những dòng cuối cùng ấy tôi đọc vụng trộm khi sắp xếp tài liệu, chuẩn bị rời Tây Nguyên, kết thúc đợt thực tập. Yơng có vẻ như hơi buồn khi tôi nói tôi sắp trở ra. Anh đưa cho tôi bó thịt nai khô: “Có tính trở lại đây không?” Tôi nhìn sững Yơng. Tôi giống như con chim trong lồng chuẩn bị được thả tung vào trời gió, biết bao là ao ước, biết bao là dự định, mà nào đã dám chắc điều gì. Tôi bảo: “Tôi sẽ rất nhớ nơi này”. Yơng nhìn tôi lâu lắm: “Cậu đã đọc tất cả, nhưng tôi chẳng giận. Xứ này chẳng có gì vui thú. Những ngày qua thật buồn chán, phải không?”…
Sau những cơn mưa đầu tiên, một sớm mai tỉnh dậy mới thấy sự kì diệu mà thiên nhiên đã tạo dựng cho cuộc sống ở nơi này. Những vạt đất trơ trọi hôm nào, chỉ mới sau vài ngày cỏ đã mọc xanh mướt mát. Và những loài cây lớn bé như chỉ chờ đợi hết cơn khát là vội vã vươn lên. Mảnh đất này thật kỳ lạ, đến khi sắp rời xa tôi mới chợt nhận ra nó vẫn là một khoảng bí mật. Lẫn vào trong sự đẹp xinh của đất và cây là sự bạo liệt và giản đơn đến không ngờ. Hệt như Khương…
 
Gia Lai 2001
Hà Nội 4/2003
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương"
0