Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tần Nhương Thư - Ưu Đàm Hoa

16 trả lời, 2.285 lượt xem — Trang 1 / 1
Hồi 1
Sơn Đông Hưu Tứ Phụng
Tế Nam Hiện Nhất Long

Thời Chiến Quốc, nước Tề trên bán đảo Sơn Đông, có một nhân vật rất nổi tiếng về lòng hiểu khách và hào phóng.
Tên tuổi của ông ta sau này đã trở thành danh từ để tượng trưng cho tính cách của bậc Đại Thiện Nhân. Người ấy chính là Mạnh Thường Quân, Quân Điền văn, em trai của quan tướng quốc Điền Ky!
Cùng thời với Mạnh Thường Quân còn có ba nhân vật nữa như Tín Lăng Quân Ngụy VÔ Ky nước Ngụy, Xuân Thân Quân Hoàng Yết nước Sở và Bình Nguyên Quân Triệu Thắng nước Triệu.
Ba người này cũng cư xử, hành động như Mạnh Thường Quân, nghĩa là trong nhà lúc nào cũng chứa hai ba ngàn khách cả văn lẫn võ Tuy nhiên, không hiểu sao hậu thế lại chỉ tôn sùng Mạnh Thường Quân?
Gương sáng cổ nhân được con cháu noi theo, nên giờ đây, ở đất Tế Nam tỉnh Sơn Đông, có một người xưng là võ lâm Mạnh Thường Quân!
Lão này có lê đúng là hậu duệ của Mạnh Thường vì cũng ở họ Điền, tên gọi Đông Giám, tuổi độ năm mươi hai. Do lão rất giỏi kiếm pháp nên đã thêu hai chữ võ lâm vào danh hiệu của tổ phụ.
Điền Đông Giám giàu nứt đố đổ vách, sở hữu mấy vạn mẫu ruộng tốt ở quanh thành Tế Nam, cùng hàng chục tiền trang ở khắp tỉnh Sơn Đông. Với gia tài cự vạn ấy, Điền Đông Giám thừa sức nuôi ngàn khách cho xứng với cái danh hiệu Mạnh Thường Quân !
Khách của nhà họ Điền đa số là hào
kiệt võ lâm, chỉ có vài chục mống học trò
nghèo đến ăn nhờ ở đậu, chờ ngày ứng
thi!
Gần ngàn hào kiệt đến làm khách của
Điền Gia Trang đều thuộc hạng áo vải,
mới xuất đạo thanh danh chưa nổi, nhưng
thỉnh thoảng cũng có những cao thủ lẫy
lừng ghé qua chơi vài ngày rồi đi.
Khi đọc sừ hoặc truyện võ hiệp, chúng
ta thường gặp lời tự khiêm là hai chữ "áo
vải" hoặc "bố y". BỐ y chính là quần áo
được dệt, may bằng vải gai dầu.
Gai dầu là loại thực vật thân thảo một
năm, thuộc họ dâu tằm, được trồng rộng
rãi ở Trung Hoa, từng là nguyên liệu chủ
yếu để may y phục. Sợi gai dầu dài mà
dai, khó mục, có thể dệt vải bạt, vải
buồm, vải chống thấm nước, thảm trải
nền nhà... Tất nhiên, người nghèo mới
mặc loại vải này. Còn lụa là, gấm vóc để
dành cho kẻ sang giầu!
Tóm lại, dù văn hay võ thì cũng vì
nghèo nên mới đến Điền Gia Trang mà ăn
chực , ở nhờ !
Tuy nhiên cũng có những trường hợp
ngoại lệ, vì trong số thực khách của nhà
họ Điền nổi bật lên mấy chục chàng thiểu
hiệp xuất thân đại phú, thế gia. Họ đến
đây không phải vì đói, mà vì nhan sắc
bốn cô con gái của Điền Đông Giám!
Điền phu nhân đẻ sàn sàn năm một,
cho ra đời bốn ả tố nga rồi từ trần. Họ đều
xinh đẹp như hoa, có tuổi từ mười chín
đến hai mươi hai. ước mơ của người
nghèo thường mãnh liệt hơn kẻ giàu, do
vậy, đám thanh niên áo vải chưa vợ kia
chắc cũng rắp ranh bắn sẻ, mong mỏi trở
thành rể họ Điền!
Hai năm qua, kẻ đến người đi cũng
nhiều, nhưng bốn cặp mắt xanh kia vẫn
chưa ghé vào ai. Và quan trọng nhất là
cặp mắt của đại tiểu thư Điền Ngọc
Trâm. Theo phong tục Trung Hoa thì
trưởng nữ phải xuất giá trước rồi mới đến
các em !
Khốn nỗi, Điền đại tiểu thư tuy đẹp
nhất nhà nhưng tính tình kiêu kỳ, ngạo
mạn, nóng nảy dữ dằn như Trương Phi,
xem nam nhân trong thiên hạ như cỏ rác!
Ngọc Trâm được chân truyền pho Tích
Lịch Kiếm Pháp của cha, võ nghệ cao
siêu, được giới võ lâm Sơn Đông đặt cho
danh hiệu HỔ Hồng Nhan (nàng hổ cái).
Họ Điền không có con trai nối dõi, nên
rể đầu sê là người hưởng thừa kể lớn
nhất Điều này đã khiến Ngọc Trâm trở
thành mục tiêu số một của các chàng trai.
Nhưng ngoài dung mạo, HỔ Hồng Nhan
còn ra điều kiện rằng ứng viên phải dưới
hai mươi lăm tuổi, và có võ công cao hơn
nàng! Võ lâm nhiều gã đẹp trai song
không ai trong lứa tuổi ấy đánh bại nổi
Ngọc Trâm.
Khoảng cách không hơn ba tuổi từ đâu
mà có trong đầu mỹ nhân thì chẳng ai
biết được, mọi người chỉ đoán rằng lão
thầy bói chết tiệt nào đấy đã nhét vào đầu
Ngọc Trâm ý niệm đáng ghét này!
chính Võ Lâm Mạnh Thường Quân
cha nàng, cũng bực mình tiếc rẻ khi thấy
con gái loại bỏ những chàng trai tuyệt
diệu, chỉ vì họ quá hăm lăm. ông từng
giận dữ mỉa mai:
- Trâm nhi ráng chờ đến năm tam thập
rồi lấy đại lão già góa vợ nào đấy! Lúc ấy
thì khỏi cần điều kiện gì hết!
Ngọc Trâm hung dữ với người ngoài
nhưng lại rất hiếu thuận, chỉ cười đáp:
- Sau này phụ thân sê biết Trâm nhi có
Điền lão thở dài:
- Tính tình ngươi như thế làm sao chọn
được bậc chính nhân? Chẳng qua thiên hạ
háo sắc, háo tài nên mới quy lụy ngươi đó
thôi!
Ngọc Trâm giận dỗi, ngoe nguẩy bỏ đi,
lo việc nhà Nàng chính là người quán
xuyến Điền Gia Trang, phụ trách tiếp đón
và nuôi nấng cả ngàn thực khách!
Sáng ngày Thất Tịch, mùng bẩy tháng
bảy, Điền Gia Trang có thêm khách mới,
người này là chàng trai độ quá hai mươi,
áo học trò bằng vài xấu, màu xanh bạc
phếch. Trên đầu chàng ta là chiếc nho cẩn
(khăn nhà nho) màu đen cũ kỹ, có dải dài
rũ xuống lưng.
Tuy y phục là của đám thư sinh, song
vai chàng lại mang trường kiếm, ra dáng
con nhà võ. Điều này sê khiến chủ nhân
phải phân vân, không biết để chàng ta ở
với bọn hào khách hay học trò.
Chàng ta xuống ngựa, được gã gia
nhân gác cổng Điền Gia Trang đưa vào
Nghênh Tân Đình gần đấy chờ đợi.
Lát sau, Điền đại tiểu thư ra đến, khách
vội đứng lên vòng tay kính cẩn nói:
- Tại hạ là Tần Nhương Thư, quê đất
Sơn Tây!
Điền Ngọc Trâm thản nhiên ngồi
xuống sau án thư, mở sổ, đổ chút nước
vào nghiên mực, chuẩn bị ghi chép. Nàng
lạnh lùng hỏi:
- Phiền Tần túc hạ cho xem thẻ đinh!
Thời xưa, thẻ đinh là loại giấy tờ tùy
thân duy nhất của Trung Hoa. Trong ấy
không có hình ảnh, dấu tay, chỉ ghi tên
họ, nguyên quán, trú quán và chiều cao
hoặc thêm vài đặc điểm như: răng hô,
mắt lé, cụt chân. . . do nội dung sơ sài vậy
nên những người có dung mạo, tầm vóc
tương tự có thể lấy của kẻ khác mà dùng!
Trong trường hợp này thì chẳng có gì
đáng ngại bởi vì đôi tai của Tần Nhương
Thư rất đặc biệt, chúng lớn và đầy đặn
như tai của những pho tượng Như Lai
trong các chúa chiền. Và gương mặt
chàng cũng mang nét đẹp nhân từ, phúc
hậu, khiến cho người đối diện yên tâm.
Ngay trong thẻ đinh cũng miêu tả diện
mục Nhương Thư bằng hai chữ: "Phật
Nhĩ"
Tuy nhiên, chẳng ai khen Phật tổ là
người anh tuấn như Phan An, Tống Ngọc,
nên nhan sắc của Nhương Thư không làm
cho trái tim các mỹ nhân rung động. Cái
đẹp và cái thiện chẳng phải bao giờ cũng
giống nhau!
Hơn nữa, Tần Nhương Thư sinh năm
Mậu Thìn, nay đã hai mươi sáu, vượt
ngoài tiêu chuẩn của Ngọc Trâm, nên
nàng không hề để tâm đến.
Điền đại tiểu thư ghi xong phần lai
lịch, liền hờ hững hỏi thêm:
- Tần túc hạ học nghệ môn phái nào?
Nhương Thư điềm đạm đáp:
- Bẩm tiểu thư! Tại hạ là đệ tử tục gia
của chùa Phật Quang, núi Ngũ Đài Sơn!
Ngọc Trâm bỡn cợt:
- Tướng mạo trang nghiêm như túc hạ
sao không xuất gia, còn lưu luyến hồng
trần làm gì nữa?
Nhương Thư thật thà đáp:
- Tại hạ vốn có ý nguyện ấy nhưng gia
sư không cho. Người bảo rằng tại hạ
mang nặng sát nghiệp và tình nghiệp,
không có duyên với cửa Phật!
HỔ Hồng Nhan che miệng cười khanh
khách và chế nhạo:
- Nực cười thực! Bổn cô nương cho
rằng lệnh sư đã quá lời rồi đấy! Chỉ có
đám ni cô mới ái mộ túc hạ mà thôi!
Câu nói của Ngọc Trâm xem ra cũng
chẳng có gì quá đáng, nhưng không hiểu
sao lại tác động mãnh liệt tới Nhương
Thư. Đôi mắt chàng trai hiền lành kia
bỗng lóe sáng những tia thù hận và tàn
nhẫn ánh mắt ấy sắc bén, lạnh lùng chụp
lấy gương mặt kiều diễm của Ngọc Trâm,
khiến nàng khiếp sợ đến nỗi toàn thân
đông cứng lại.
CÔ gái ngang tàng, ngược ngạo này rơi
vào trạng thái kinh hoàng, tựa kẻ lữ hành
bất ngờ đối diện mãnh hổ vậy!
Khi nét mặt Nhương Thư dịu đi nàng
mới hoàn hồn, phát hiện lòng bàn tay ướt
đẫm. Nàng líu ríu gọi ả tỳ nữ Tiểu Lan
đang quét dọn ngoài cửa Nghênh Tân
Đình, bảo cô bé đưa khách vào khu nhà
mé hữu. Lạ thay, nàng lại dặn Tiểu Lan
dành cho Nhương Thư tòa tiểu viện đẹp
nhất!
Khu nhà khách của Điền Gia Trang chỉ
đúng mười căn tiểu xá đặc biệt, dành để
đón tiếp những nhân vật lẫy lừng, hoặc
chưởng môn các phái. Nay Nhương Thư
được ở đấy cũng là một vinh dự rất lớn!
Khách đi rồi, Ngọc Trâm ngồi phịch
xuống ghế suy nghĩ miên man. Cơn sợ
hãi đã qua hoàn toàn, bản tánh ngang
ngạnh nổi lên, nàng hậm hực lẩm bẩm:
- Thực là xấu hổ! Bậc anh thư như ta
mà lại sợ một gã vô danh hay sao? Ngày
mai ta phải kiếm cớ đánh cho gã một trận
mới được !
Nhưng rồi một ý niệm khác lại nổi lên:
- Lạ thực! Tướng mạo y hiền lành
trưng hậu thế kia, sao lúc giận lại có cái
nhìn khủng khiếp như thế? Phải chăng
câu nói của ta đã vô tình chạm vào điều
đại ky của Nhương Thư? Hay mẹ y là ni
cô?
Con người đầy bí ẩn của Nhương Thư
đã khiêu gợi óc tò mò của Ngọc Trâm,
nàng quyết định phải tìm hiểu cho rõ. Vả
lại, nàng còn muốn đem nhan sắc khuynh
thành của mình chinh phục kẻ đã làm cho
HỔ Hồng Nhan phải chết khiếp! Khi gã
họ Tần chịu quỳ gối quy phục thì chính là
lúc nàng trả được mối nhục hôm nay!
Viễn cảnh độc ác ấy đã khiến Ngọc
Trâm vui vẻ hơn, quay về khuê phòng.
Nàng kể cho ba cô em gái nghe về
Nhương Thư và kế hoạch báo thù của
mình!
Ngọc Trâm không ngờ mình đã khích
động lòng hiếu kỳ của ba em, khiến nàng
nào cũng âm thầm tự nhủ rằng sê tiếp cận
Tần Nhương Thư. Chàng là người thế nào
mà lại dọa khiếp được bà chị cả Trương
Phi của họ?
Trước tiên, đám tỳ nữ thân tín của bốn
nàng được huy động giám sát Tần
Nhương Thư. Trong bốn ngày, họ đã báo
cáo lại toàn bộ hành vi, cử chỉ, thói quen
của họ Tần.
Chàng trai này ngày ngày đi dạo khắp
trang để ngắm cảnh và làm quen với
những người đến trước. Dường như
Nhương Thư đang hỏi han, tìm kiếm một
lão già họ Trác nào đó.
Ngọc Trâm hiểu ngay rằng Nhương
Thư đang ôm một mối huyết thù sâu
nặng, đến đây để điều tra tung tích cừu
nhân, chứ chẳng phải muốn ăn nhờ ở đậu
Điền Gia Trang!
HỔ Hồng Nhan bắt đầu lân la đến thăm
Nhương Thư, trong những bộ y phục đẹp
nhất, và ban phát những ánh mắt đổ nước
nghiêng thành. Nhưng Nhương Thư chỉ
hờ hững đối đáp, cung kính mà lạnh nhạt,
không hề tỏ ra xao xuyến trước nhan sắc
phi phàm của mỹ nhân.
Ngọc Trâm vô cùng tức giận và hổ
thẹn, song cố tự an ủi rằng thời gian còn
dài, trước sau gì đối phương cũng phải
say mê mình, y như tất cả những nam
nhân khác trong thiên hạ.
Tại sao nàng biết Nhương Thư sê còn
lưu lại nhiều ngày nữa? Đó là bởi tháng
tám hàng năm mới là thời điểm mà Điền
Gia Trang đông đảo nhất.
Hiện tượng này xảy ra suốt sáu năm, từ
lúc giới võ lâm nghe được tin đồn rằng
núi Thái Sơn là nơi tạo hóa của thiên hạ
đệ nhất kỳ nhân, Thần Quang Chân Quân
công Tôn Khuê. Và một ngày tháng tám
nào đó, khi đỉnh Thái Sơn rực cháy thì
đấy là lúc kẻ hữu duyên có thể tìm thấy
bảo kiếm và di học của ông ta.
Truyền thuyết này cực kỳ mơ hồ và vô
căn cứ, thế mà vẫn có nhiều người tin,
năm nào cũng đổ xô về Sơn Trang chờ
đợi!
Thực ra thì hành động này cũng chẳng
có gì là khờ dại, vì Thái Sơn là một trong
những ngọn núi đẹp nhất Trung Hoa, nhất
là vào buổi đầu thu! Hơn nữa, việc ăn ở
đã có Điền Gia Trang chu toàn, tội gì
không đi chơi một chuyến?
Thành Tế Nam nằm ở hướng Bắc rặng
Thái Sơn, cũng là địa phương có phong
cảnh tuyệt mỹ. Cái làm cho Tế Nam lừng
danh chính là những con suối nước ngầm.
Lãnh thổ Trung Hoa rộng lớn, số lượng
nước suối ngầm lớn nhỏ lên đến hàng
chục vạn, nổi tiếng nhất có hơn trăm cái,
và ở Tế Nam có con suối đứng đầu thiên
hạ.
Tế Nam nằm ở nơi giao nhau giữa
sườn Bắc núi Thái Sơn với đồng bằng
nên có rất nhiều suối ngầm, khả dĩ xưng
tụng rằng "Nhà nhà có suối".
Trong hàng ngàn dòng suối của Tế
Nam, có bảy mươi hai cái nổi danh, đứng
đầu là bốn suối: Báo Đột, Trân Châu, Hắc
Hổ, Kim Tuyến. Đến thời vua Càn Long
nhà Thanh sau này, suối Báo Đột đã được
phong làm "Thiên hạ đệ nhất tuyền".
Suối này nằm ở ngoài cửa phía Nam
thành Tế Nam. Địa thế phía Nam cao,
phía Bác thấp, ba mặt Đông Tây và Bắc
đều bị chặn bởi loại đá không thấm nước,
khiến dòng suối chịu sức nén mạnh, vọt
lên khỏi mặt đất. Miệng suối rộng gần
trượng, sâu hơn sải tay, có ba gióng nước
cuồn cuộn chảy ra tựa như ba vòi rồng,
cách vài trăm mét vẫn nghe được tiếng
nước chảy. Chất lượng nước suối cực kỳ
thanh khiết, vị ngon ngọt phi thường,
xứng đáng đứng đầu các suối trong thiên
hạ!
Do vậy, tháng tám nào, hào kiệt bốn
phương cũng kéo đến Tế Nam trước là du
ngoạn, sau là chờ đợi luồng ánh sáng thần
kỳ trên đỉnh Thái Sơn. Tất nhiên là họ ăn
sạch kho gạo của Điền Gia Trang!
Không ai chê Mạnh Thường Quân là
ngu, thì việc tự nguyện nuôi báo cô người
ngoài của Điền Gia Trang chủ cũng
không đáng trách!
Người Trung Hoa say mê kiếm tiền
nhưng lại luồn muốn chứng tỏ mình là kẻ
hào phóng, xem tiền tài như phấn thổ.
Điều này có lê xuất phát từ cái tật hiếu
danh!
Dạo chơi vài dặm cho vui, giờ chúng ta
quay lại với những nhân vật của mình!
Đến cuối tháng bảy thì Điền đại tiểu thư
phát hiện việc ba cô em gái thường đến
trò chuyện với Nhương Thư, tình cảm
ngày càng thắm thiết! Dường như cả ba
đều say đắm gã họ Tần chết tiệt kia!
Ngọc Trâm tá hỏa tam tinh khi nghe tỳ
nữ mật báo:
- Bẩm đại tiểu thư! Không hiểu gã họ
Tần kia có gì hay ho mà cả ba tiểu thư
nhà ta cứ quấn quít, cùng gã chuyện trò
đến tận cuối canh hai mới chịu thôi !
Ngọc Trâm nổi lôi đình, gọi ba em ra
hỏi. Tứ tiểu thư Điền Uyển Xuân tính
tình tinh quái, ranh mãnh nhất nhà đáp
rằng:
- Bọn tiểu muội thấy Tần công tử thờ Ơ
với đại thư, vì thành kiến ban đầu, nên
định giúp một tay, chàng mà mê ai là xem
như kế hoạch báo thù của đại thư đã
thành công!
Ngọc Trâm cứng họng và không hề tin
tưởng cô em út này, liền xoay qua hỏi
Điền Bạch Cúc. Tam muội của nàng nổi
danh là người không biết nói dối, tính
tình cương trực, thẳng thắn, Bạch Cúc
thản nhiên đáp:
- Nhương Thư nhân phẩm cao quí, trí
tuệ tuyệt luân, xứng đáng là bậc quân tử
để tiểu muội gởi thân. Đại thư chê chàng
lớn tuổi hơn qui định nhưng tiểu muội thì
không!
Ngọc Trâm đuối lý, cố gỡ gạc bằng
cách nói:
- Tam muội đã chấm họ Tần thì ta cũng
không cản. Nhưng vì sao cả nhị muội và
tứ muội cũng thân mật với Nhương Thư
làm gì?
vừa nói nàng vừa nhìn vào mặt nhị
tiểu thư Điền Mã Lan, người hiền lành,
thùy mị nhất bọn. Mã Lan thẹn đỏ mặt, ấp
úng đáp:
- Ti êu . . . muộ i . . . ti êu muộ i . . . chẳng dám
tranh giành với tam muội... nhưng không
gặp chàng không được !
Ngọc Trâm chết điếng người, hiểu rằng
Mã Lan cũng yêu say đắm Nhương Thư!
Nàng điên tiết hỏi Uyển Xuân:
- Còn ngươi thì sao?
Tứ tiểu thư cười khanh khách:
- Chị em thờ chung chồng là chuyện
thường! Bọn tiểu muội quyết không để
Nhương Thư lấy người ngoài!
Ngọc Trâm cơ hồ té xỉu, lắp bắp mắng:
- các ngươi điên rồi! Phải chăng gã họ
Tần kia đã dùng tà thuật để mê hoặc?
Nàng đùng đùng chạy vào thư phòng
giữa vườn hoa để bảo cho Điền Trang chủ
biết chuyện động trời này. Điền Đông
Giám cơ trí thâm trầm, vui buồn không
hề lộ ra trên sắc mặt. Nghe xong lời kể
của ái nữ, ông vuốt chòm râu cằm dài và
đen nhánh, cân nhắc rồi từ tốn nói:
- Ba em của con tính nết khác nhau mà
cùng để ý một nam nhân, tất Tần Nhương
Thư phải là người rất đặc biệt! Để ta gọi
hắn đến xem tính cách thế nào?
Ngọc Trâm hậm hực quay về thư
phòng, miệng lẩm bẩm chửi rủa Nhương
Thư, song trong lòng lại thấp thoáng nghi
van:
- Không lê chính ta mới là người ngu
ngốc, không nhìn ra chân tướng Nhương
Thư, bỏ lỡ mối lương duyên? Ba con quỉ
cái kia cũng khó tính, kén cá chọn canh
mãi, đâu dễ gì lầm lạc được?
Trong lúc ấy Điền Trang chủ đã gọi
Tổng Quảng Triệu Linh Vũ đến để hỏi
han về Nhương Thư.
Triệu lão tuổi đã sáu mươi lăm, trước
đây tung hoành miền Tây Bắc với danh
hiệu Hồ Tâm Đạo. Mười chín năm trước,
Triệu Linh Vũ bị Hạt Nhãn Thần Ma đả
thương và đuổi khỏi Lam Châu, lưu lạc
vào Trung Nguyên, rồi trở thành thủ hạ
đắc lực của Điền Gia Trang!
Họ Triệu tuy đã già nhưng đầu óc vẫn
còn tinh minh, sắc bén, được Điền Đông
Giám giao nhiệm vụ giám sát khách
khứa. Muốn mua tiếng Mạnh Thường
Quân, Điền Đông Giám phải chứa chấp
hàng ngàn cao thủ tứ xứ. Nếu không có
lực lượng ngầm để quản lý thì làm sao
biết ngay gian, mà giữ gìn tài sản khổng
lồ của họ Điền?
Do vậy, Triệu Tổng quản đã đào tạo,
chỉ huy bọn gia đinh, tỳ nữ trong trang,
nắm rõ hành vi của từng người khách. Hồ
Tâm Đạo nghe chủ nhân hỏi về chàng trai
họ Tần liền cau mày đáp:
- Bẩm trang chủ! Quả thực là nhân
phẩm, tính cách của Nhương Thư rất
tuyệt diệu! Gã ít nói nhưng luôn vui vẻ,
đối với ai cũng khiêm cung, chí thành
khiến người người yêu mến. Do việc
được các tiểu thư ái mộ, họ Tần cũng bị
nhiều chàng trai khác ganh ghét, buông
lời mỉa mai, khiêu khích, thậm chí khiêu
chiến nữa! Tuy nhiên, Nhương Thư
không hề biến sắc, chỉ nhẫn nhịn bỏ qua,
độ lượng ấy quả là hiếm có! Còn về võ
công thì lão phu không thể ước lượng
được, song có cảm giác rằng bản lãnh họ
Tần cao thâm đến mức tinh hoa nội liễm,
chẳng lộ ra ngoài!
Điền Trang chủ gật gù thích thú, và hỏi
thêm:
- Trâm nhi cho rằng Nhương Thư dùng
tà thuật, hay thủ đoạn đường mật quỉ quái
nên quyến rũ được cả ba ái nữ của ta! Yù
Triệu lão huynh thế nào?
Linh Vũ mỉm cười:
- Làm gì có việc ấy! Chẳng qua "hữu
xạ tự nhiên hương", hoa thơm thì ai cũng
biết, và say đắm! Nhương Thư không quá
anh tuấn, lại trầm lặng ít nói, song con
người lại toát ra vẻ trưng hậu, tôn quý,
vững chắc, khiến nữ nhân hoàn toàn tin
tưởng, muốn nương tựa. Nhưng lão phu
cho rằng chưa chắc Nhương Thư đã chịu
ở lại đây làm rể Điền Gia Trang. Gã nuôi
mối thù sâu với lão họ Trác nào đó, tất
không thể dừng chân được!
Điền trang chủ cười mát, nói đùa:
- Hình như Triệu tổng quản cũng bị
chàng trai ấy hấp dẫn nên đánh giá y rất
cao! Biết đâu ngoài dung mạo, y chỉ là kẻ
lục lục thường tài?
Triệu Linh Vũ gượng cười :
- Không phải lão phu nhẹ dạ, mà vì
Nhương Thư chính là ngọn lửa ấm áp
trong cuộc đời lạnh giá này!
Sáng mùng ba tháng tám, khách của
Điền Gia Trang đã lên đến số ba ngàn, và
có không ít những đại nhân cao thủ thành
danh của võ lâm. Điền trang chủ bận tíu
tít nên chưa thể nói chuyện với Nhương
Thư. ông chỉ nghe Triệu tổng quản báo
cáo rằng Nhương Thư vẫn kiên nhẫn hỏi
thăm từng người khách mới đến về một
lão cao gầy, tên Trác Thiên Lộc, sáu
mươi mốt tuổi, trên mặt có vết sẹo kéo
dài từ tai trái đến cằm! Đặc điểm thứ hai
là họ Trác quê đất Triều Châu!
Cuối giờ mùi hôm ấy, tai họa giáng
xuống Điền Gia Trang với hình dáng hiền
lành của một cỗ kiệu phủ sa đen, được
khiêng bởi bốn đạo sĩ áo trắng tuổi đôi
mươi. Khi dện cửa trang, bốn đạo nhân
này đồng thanh niệm ê a:
- Tứ. . . Phạn. . . Thiên Cung sứ giả giá
lâm!
Lời tự giới thiệu đơn giản, nhẹ nhàng
ấy đập vào tai mọi người, biến thành
tiếng sét dữ dội, không phải do cường độ
âm thanh mà bởi kỳ ức hãi hùng về thanh
danh của tổ chức Tứ Phạn Thiên.
Thực ra, Tứ Phạn Thiên là một ý niệm
trong đạo giáo Trung Hoa, để chỉ miền
tịnh độ, siêu thoát tam tai, luân hồi. Nơi
ấy dành cho những kẻ đã tu luyện thành
tiên, và được tiếp dẫn bởi Tây Vương
mẫu!
Quái ác thay, cách đây hơn ba chục
năm, có một cặp vợ chồng đã tự xưng là
Thanh Linh Thủy Lão và Kim Mâu (tức
Tây Vương Mâu, vợ cả của Ngọc Hoàng
đại đế) Họ dựng lên một bang hộ lấy tên
là Tứ Phạn Thiên Cung, khủng bố võ lâm
và đột nhiên biệt tăm hồi mười ba năm
trước!
Không ai biết Tiên Cảnh Tứ Phạn
Thiên kia ở chốn nào, vì tất cả những
người được họ mời đi làm "tiên" đều mất
tích!
Năm nào cũng có vài nhà đại phú được
vinh hạnh dạo chơi miền tiên cảnh, cả
nghĩa bóng lẫn nghĩa đen! Khi đi, họ còn
mang theo vàng để làm lễ vật cúng
dường. Số vàng này ít hay nhiều tùy theo
gia sản của nạn nhân, song tối thiểu cũng
phải ba ngàn lượng!
Tất nhiên có nhiều người không thích
thành tiên nên đã từ chối bằng cách
kháng cự, báo quan hoặc bỏ trốn. Nhưng
những kẻ cứng đầu ấy đều phải chịu cảnh
toàn gia lưu lạc, tài sản mất sạch!
các phái võ lâm dưới sự thống lãnh
của minh chủ, đã dốc hết sức điều tra và
chỉ biết được rằng cao thủ Tứ Phạn Thiên
Cung rất giỏi khinh công, kiếm pháp,
nhưng thường giết người bằng chất độc
vô hình, vừa nhanh vừa gọn. Để cảnh cáo
mọi người chớ quá tò mò, Tứ Phạn Thiên
Cung đã lần lượt sát hại bốn đời minh
chủ, khiến chẳng còn ai dám ra ứng cử,
tranh ngôi nữa!
Mười ba năm qua, Tứ Phạn Thiên
Cung không hề xuất hiện, khiến lòng
người nhẹ nhõm, tưởng tà hội quỉ quái
kia đã bị trời đánh chết! Võ lâm khởi sắc
và những kẻ giàu sang mới dám phô
trương của cải. Trong số đó có võ lâm
Mạnh Thường Quân Điền Đông Giám.
Nào ngờ, Tứ Phạn Thiên Cung lại hồi
sinh và chọn đúng họ Điền làm đối tượng
khai trương!
Bất cứ kẻ học võ nào cũng được nghe
kể về truyền thuyết Tứ Phạn Thiên nên
bốn ả tố nga xanh mặt, chạy đi tìm phụ
thân Điền Trang chủ buồn rầu bảo:
- Lão phu vì háo danh nên mang họa
vào thân, chỉ tự trách mình! Các con hãy
thương yêu, đùm bọc nhau, giữ gìn cơ
nghiệp họ Điền!
Ba nàng kia khóc vùi, nhưng Ngọc
Trân lại trợn mắt nói:
- Nhà ta lúc nào cũng có cả ngàn cao
thủ, lê nào lại phải sợ ai?
Điền Đông Giám lắc đầu, mỉm cười
thê lương:
- Với chất độc vô hình và thủ đoạn phi
thường của Tứ Phạn Thiên Cung thì dù
có cả vạn người cũng vô dụng! Hơn nữa,
chắc chắn là đối phương đã vì vài người
trong số hai ngàn hào khách mới đến!
ông quay sang nói với Hồ Tâm Đao:
- Xin Triệu lão huynh vì chút nghĩa tri
âm mà chu toàn cho bọn trẻ.
Triệu Linh Vũ ứa nước mắt gật đầu:
- Trang chủ cứ yên tâm ! Lão phu chịu
ơn cưu mang hai chục năm, quyết xả thân
hầu hạ các tiểu thư!
Điền Đông Giám cúi mình vái thật sâu
để cảm tạ rồi quay gót, đi ra đón tiếp tử
thần Bốn nữ nhân khóc sướt mướt, lão
đêo theo cha già. Tứ tiểu thư Uyển Xuân
bỗng hỏi Hồ Tâm Đạo:
- Triệu lão bá! Chẳng lê chúng ta
không thể bỏ cả gia tài này ra để mua
mạng phụ thân được sao?
Triệu lão trầm ngâm đáp:
- Đúng là có thể dùng vàng chữa cháy,
nhưng lại phải thêm một điều kiện nữa, là
có người chịu đi thay, và người này phải
đả bại được sứ giả của Tứ Phạn Thiên!
Uyển Xuân hớn hở reo lên:
- Tần Nhương Thư!
Ngọc Trâm cười nhạt:
- Dẫu gã ấy có đủ tài cũng chẳng dại gì
chết thay phụ thân !
Nàng nói quá chí lý nên chẳng ai dám
kỳ vọng vào Tần Nhương Thư nữa.
Gia đình họ Điền ra đến sân trước thì
ba ngàn hào kiệt đã tề tựu đông đủ. Có
thể họ sê vì đạo nghĩa mà nghe lời Điền
Đông Giám chống lại sứ giả của Tứ Phạn
Thiên Cung, nhưng chính bản thân họ
Điền lại không dám hành động! Lão
không muốn bốn ái nữ và hai trăm gia
nhân phải chết thảm vì sự trả thù của tổ
chức đáng sợ kia. Điền trang chủ vái cháo
quần hùng, đón nhận những ánh mắt nồng
nhiệt của họ, rồi lẳng lặng tới trước cỗ
kiệu. ông cố giữ vẻ ung dung mà nói:
- Lão phu là Điền Đông Giám, xin bái
kiến sứ giả!
Từ trong cỗ kiệu phủ sa kín mít kia
vọng ra tiếng nam nhân già nua:
- Bổn sứ giả thừa lệnh Kim Mẫu đến
mời Điền thí chủ về miền Tứ Phạn Thiên,
sống đời an lạc, thoát cảnh luân hồi! Thí
chủ hãy mang theo vạn lượng hoàng kim
để cúng dường Thủy Lão và Kim Mẫu!
Đúng giờ Tý đêm nay sê có tiên nhân đến
rước đi!
Điền Đông Giám đắm chìm trong tuyệt
vong, song cố níu kéo:
- Bẩm sứ giả, lão phu còn bốn ái nữ
chưa thành gia thất, chẳng nỡ bỏ đi ngay
lúc này! Lão phu xin dâng năm vạn lượng
hoàng kim để cúng đường chư tiên!
Người trong kiệu có vẻ hài lòng trước
số vàng lớn lao ấy, hòa hoãn nói:
- Điền thí chủ bận tâm chăm sóc cho
con cái nên bổn tiên cũng thể tất, nhưng
theo qui định của tiên giới thì phải có
người tài giỏi đi thay! Điều kiện này đã
được truyền bá rộng rãi khắp võ lâm suốt
ba chục năm qua, bổn tiên không thể tùy
tiện phế bỏ được!
Điền Đông Giám thiểu não van xin:
- Mong sứ giả thương tình nhận mười
vạn lượng mà hoãn cho mười năm!
Quần hùng chấn động, tự hỏi rằng Tứ
Phạn Thiên có vì số vàng khổng lồ kia mà
phá qui củ hay không?
Nhưng lão sứ già đã giận dữ quở trách:
- Bổn cung là tiên giới, xem vàng bạc
như vật vô dụng, chỉ là cách biểu lộ lòng
thành của người mới đến! Ngươi tưởng
có thể mang tài sản ra mà mặc cả được
sao? Bổn nhân thực hiện đúng qui củ, chỉ
nhận hai vân lượng nếu có người thay đủ
tư cách!
Trong đám người đông đảo đứng chung
quanh kia, có ai đó phẫn nộ chửi đổng:
- Mẹ kiếp! Lão ỷ mình già cả, luyện võ
mấy chục năm, ai mà địch lại, lão mà ở
tuổi bốn mươi thì Tào mỗ đánh chết tươi
ngay!
Người phát ngôn chính là Thiết Kình
Ngư Tào ưng, đệ tử phái Vương ốc, năm
nay tròn tứ thập, nổi tiếng ngang tàng,
chẳng biết sợ là gì! Ngoài tài bơi lội như
cá, Tào ưng còn giỏi kiếm pháp, đứng
đầu trong đám cao thủ trưng niên!
Nãy giờ quần hùng rất tức giận trước
hành vi bá đạo của Tứ Phạn Thiên Cung,
may được Thiết Kình Ngư khơi mào liền
xôn xao hẳn lên, thi nhau chửi rủa Tứ
Phạn Thiên Cung.
Lão sứ giả nổi lôi đình, quát vang:
- Câm ngay! Kẻ nào còn dám xúc
phạm đến Tứ Phạn Thiên Cung thì Điền
Gia Trang sê gánh hết hậu quả đấy!
Điền Đông Giám vội vái dài, xin mọi
người im lặng cho. Nhưng có một người
không nghe, vẫn mở miệng nói:
- Tại hạ xin được đi thay Điền Trang
chủ, mong sứ giả chỉ giáo cho vài chiêu!
Quần hùng Oà lên kinh ngạc khi thấy
chàng trai hiền lành họ Tần đủng đỉnh
bước ra. Họ đều biết chàng được sự sủng
ái của các cô gái nhà họ Điền, nhưng
phỏng có ích gì khi phải đi ngay đến Tứ
Phạn Thiên Cung nộp mạng?
Dâu sao, hành động dũng cảm này
cũng khiến mọi người ngưỡng mộ, vỗ tay
cổ vũ Ba nàng con gái của Điền Đông
Giám cảm kích trước sự hy sinh của Tần
Nhương Thư, chạy đến quì xuống đất lạy
chàng như tế sao và khóc nức nở.
Nhương Thư cúi xuống đỡ ba nàng lên,
hòa nhã nói:
- Tam vị tiểu thư chớ có bi lụy, mạng
của tại hạ rất lớn, dẫu có lọt vào Tứ Phạn
Thiên Cung cũng chẳng hề hấn gì !
Điền Bạch Cúc gạt lệ nói ngay:
- Tiểu muội sê cùng công tử đi đến Tứ
Phạn Thiên Cung, có chết thì chết chung!
Lời thổ lộ chân tình này đã khiến
Nhương Thư cảm động, vòng tay đáp:
- Tại hạ hổ thẹn vì không xứng đáng
với lòng ưu ái của tam tiểu thư!
Uyển Xuân phụng phịu xen vào:
- Tiểu muội cũng đi nữa!
Mã Lan không nói gì nhưng đôi mắt
nhung huyền kia đã thay lời. Thiết Kình
Ngư nóng ruột trước cảnh biệt ly ướt át,
lê thê, thét lớn lên:
- Này Tần lão đệ, ngươi có đánh hay
không thì bảo, bọn ta mỏi cổ rồi đấy!
Nhương Thư vội vã bước đến trước cỗ
kiệu, trước tiên vái chào Điền Đông
Giám:
- Vãn sinh Tần Nhương Thư bái kiến
Trang chủ !
Điền lão vái trả rồi buồn rầu nói:
- Công tử còn trẻ hà tất phải liều mạng!
Lão phu vô cùng cảm kích nhưng không
thể lãnh thụ mối ân tình này được !
Chợt lão nghe tiếng truyền âm:
- Trang chủ yên tâm ! Vãn sinh đã có
cách giải nguy mà chẳng ai phải đến Tứ
Phạn Thiên Cung!
Dù bán tình bán nghi nhưng chút hy
vọng đã bùng lên, Điền lão thở dài lui ra
sau, để mặc ân nhân hành động. Nhương
Thư quay sang nói với người trong kiệu:
- Mời tôn giá bước ra !
Màn kiệu vén lên, xuất hiện một lão
đạo sĩ áo đen, râu tóc pha sương, mang
mặt nạ bằng đồng mỏng rất tinh xảo.
Đồng diện kia chỉ che hết phần mũi, để lộ
cái miệng rộng với đôi môi mỏng thâm
sì Lão ta lặng lê quan sát Nhương Thư
rồi bảo:
- Cốt cách của Tần thí chủ rất khá, bổn
tiên nhân quả không nỡ giết đi !
Nhương Thư cười mát, hỏi lại:
- Tôn giá đứng hàng thứ mấy trong
mười hai vị HỘ Cung Chân Khanh của Tứ
Phạn Thiên?
Đạo sĩ kia giật mình đáp:
- Thứ tư, vì sao thí chủ lại biết rõ nội
tình của bổn cung như vậy?
Nhương Thư điềm đạm đáp:
- Tại hạ còn biết tọa lạc của Thiên
Cung nữa kì a !
Lão sứ giả choáng váng, còn Tào ưng
cười rộ và nó i :
- ở đâu? ở đâu? Chúng ta kéo đến đấy
xem các tiên có mặc quần hay không?
Mấy ngàn người cười vang như sấm,
càng khiến lão đạo sĩ áo đen bối rối! Bí
mật của căn cứ là yếu tố quan trọng số
một cho quyền lực đen tối của Tứ Phạn
Thiên Cung. Nếu để lộ ra, quân triều đình
vác đại pháo đến thì tiên thật cũng chết,
huống hồ gì tiên giả!
Đệ tứ chân Khanh cố trấn tĩnh, tìm
cách dò hỏi xem hư thực thế nào. Lão vờ
không tin, bĩu môi cười khinh miệt:
- Nói láo! Ngươi đừng rung cây nhát
khỉ uổng công.
Nhương Thư bỏ dở cuộc đối thoại, rút
kiếm ra. Hắc Y Đạo sĩ tuy ấm ức nhưng
vẫn phải vào trận. Lão quyết định giết
cho được gã tiểu tử đáng ngờ này để diệt
khẩu
Nhương Thư ôm kiếm vái rồi thủ thế.
Chàng trẻ tuổi hơn đối phương nên sê
được quyền xuất thủ trước . Nhương Thư
không tấn công ngay, mà dựng trường
kiếm trước mặt, mắt khép hờ như đang
buồn ngủ. Lão sứ giả Tứ Phạn Thiên
cung cũng chỉ xéo kiếm trân trời, tay tả
bắt kiếm ấn, tư thế trang nghiêm, trầm ổn
như núi Thái, lộ rõ một trình độ kiếm
thuật thượng thừa!
Kiếm của lão có nước thép xanh biếc,
ai cũng nhận ra là nó tốt hơn kiếm của
Nhương Thư. Chàng họ Tần kia sừ dụng
một cây kiếm tầm thường trị giá chỉ độ
vài lượng bạc. HỔ Hồng Nhan sợ chàng
kiếm thế, vô tình buột miệng trách móc:
- Sao y lại nghèo đến nỗi không mua
lấy một thanh kiếm cho ra hồn! Loại thép
mục ấy chỉ vài chiêu đã gãy, làm sao
thắng nổi đối phương?
Uyển Xuân nhanh nhảu tháo kiếm của
mình, định đưa cho Nhương Thư, thì
chàng đã ra tay.
Quần hùng nhất tề Oà lên thán phục khi
thấy chàng trai trẻ tuổi thi triển phép ngự
kiếm. Trong trăm năm trở lại đây, chưa
có kiếm thủ tuổi dưới năm mươi nào tinh
thông Ngự Kiếm thuật. Và ngay cả trong
đám cao thủ lão thành cũng chẳng mấy
người đạt đến trình độ thượng thừa này
của kiếm đạo.
Phép ngự kiếm đòi hỏi công lực thâm
hậu và nhất là căn cơ võ học bẩm sinh.
Có người luyện kiếm sáu chục năm mà
vẫn không sao hiểu ngộ được yếu quyết
Ngự Kiếm. Kiếm thuật thuộc về ý, còn
kiếm đạo được giác ngộ bằng cái tâm vô
nhiễm!
Thành tựu vượt bậc của Nhương Thư
phải có sự dìu dắt của bậc minh sư! Vậy
sư phụ của chàng là bậc kỳ nhân nào?
Chuyện ấy khoan bàn đến vì lão sứ giả
Tứ Phạn Thiên Cung đã tiếp đón chàng
bằng một màn kiếm quang xanh biêng
biếc, đầy những tia sáng dọc ngang như
ánh chớp. Đây chính là pho Hao Thiên
kiếm pháp lừng danh của Tứ Phạn Thiên
Cung, mấy mươi năm bất bại.
Hao Thiên là hai chữ đầu trong danh
hiệu của vị thần tối cao mà đạo giáo thờ
phụng. Nguyên cây ấy là Hao Thiên Kim
Thuyết Ngọc Hoàng Đại Đế. ông này còn
được gọi là Ngọc Thanh, đứng đầu Tam
Thanh. Chắc chắn Ngọc Hoàng chẳng
phải là người sáng tạo ra pho kiếm ác độc
ấy, song mức độ lợi hại của nó quả là
quán thế!
Khi đọc Tây Du Ký, chúng ta thấy rằng
Ngọc Hoàng kém xa Phật tổ Như Lai, thì
trong trường hợp này cũng vậy, luồng
kiếm ảnh mờ mờ, mềm mại mà chẳng
chút sát khí của Nhương Thư như bàn tay
Phật mở lớn ra, nuốt chửng đạo kiếm
quang rực rỡ và diêm dúa của đối thủ.
Hai thanh kiếm chạm nhau liên hồi, tiếng
trong trẻo của thép tốt hòa với tiếng đục
chát của thanh kiếm rẻ tiền, thành một
tiếng ngân kỳ quái.
song phương dội ra, rơi xuống đất, rồi
lập tức áp sát ngay. Lúc này, người xem
mới nhận ra một đoạn mũi kiếm dài nửa
gang nằm trên mặt cỏ. Nghĩa là thanh
kiếm rẻ tiền của Nhương Thư ngắn đi.
Mọi người Oà lên tiếc rẻ khi thấy ngực lão
sứ giả kia rách một đường dài, lộ rõ áo
trong màu trắng, đẫm máu. Nếu kiếm của
Nhương Thư không gãy thì lão khó mà
sống sót.
RÕ ràng đệ tứ HỘ Cung Chân Khanh sợ
hãi thuật Ngự Kiếm của Nhương Thư nên
chủ động bám riết lấy chàng, dùng kiếm
thuật thông thường mà áp đảo. Lão thi
triển pho khinh công Kim Khuyết thân
pháp, di chuyển nhanh như gió liên tiếp
ập vào giáng những đòn bão táp. ánh tà
dương mùa thu mỗi lúc mỗi nhuộm hồng
màn kiếm quang xanh biếc, khiến nó dần
tím lại! Kim Hao kiếm pháp vừa độc ác,
vừa diễm lệ phi thường!
Tuy chán ghét Tứ Phạn Thiên Cung
nhưng lòng hiếu võ đã khiến khách quan
chiến phải vỗ tay khen ngợi lão sứ giả.
Vả lại, kiếm pháp nào cũng mang mục
đích giống nhau, ác hay thiện là do lòng
dạ người học kiếm. Kẻ thì dùng sở học
giết đồng loại mà mưu lợi cầu danh, kẻ
chỉ mong tự vệ hoặc diệt ác cứu bách
tính
Song chẳng bao lâu sau, mọi người lại
tán thưởng Nhương Thư, vì với thanh
kiếm gầy mũi và đầy những vết sứt mẻ
nơi lưỡi, chàng vẫn kiên cường chống cự,
chẳng hề chịu kém.
Họ Tần dùng đấu pháp dĩ tịnh chế
động, di chuyển những bước ngắn, ung
dung giải phá những đợt sóng kiếm vũ
bão của đối phương, mắt sáng rực một
niềm phấn khởi. Có vẻ như chàng ta vui
mừng được tỷ kiếm với tay kiếm lão
luyện như lão sứ giả kia vậy! Tuy nhiên,
chàng phải trả giá bằng những vết rách
không sâu trên cơ thể. Các thương tích
này đã khiến lão đạo sĩ mang mặt nạ
đồng kia khoái trá, hăng hái tấn công
quyết liệt, chẳng ngờ việc có người mê
học kiếm đến nỗi đem thân ra chịu đòn.
Nhưng đến chiêu thứ sáu trăm, lão ta
thức ngộ được dụng ý của Nhương Thư,
vì phát hiện đối thủ đã bỏ qua nhiều cơ
hội để giết mình. Lão chột dạ nghĩ:
- Quỉ quái thực! Chẳng lê tiểu tử này
thông minh đến mức có thể học lỏm võ
công trong lúc giao đấu hay sao?
Lão liền dồn toàn lực, ra một loạt đòn
sấm sét, và sừ dụng cả tay áo đạo bào dài
thượt để hỗ trợ. Bề ngoài, chiến thuật này
chỉ có tác dụng làm rối mắt Nhương Thư,
nhưng bên trong, lão sứ giả âm thầm
phóng kỳ độc. Dường như họ Tần biết
được, tức khắc múa tít trường kiếm, tấn
công dồn dập như bão táp mưa sa, tiện
phăng tay áo và không để đối phương kịp
đổi hơi.
Lúc này quần hùng mới được chứng
kiến bản lãnh chân thực của chàng, tròn
mắt khâm phục trước những đạo kiếm
quang chập chờn, lung linh như ngọn lửa.
Lão sứ giả đã nhận ra lai lịch pho kiếm
này, than thầm:
- Phật Đăng kiếm pháp!
Vậy là đã rõ, Nhương Thư chính là học
trò Phật Đăng Thượng Nhân, cao thủ số
một của Phật Môn, vừa tọa hóa hồi cuối
năm ngoái ở tuổi chín mươi.
Khác với Thiếu Lâm Tự và Vạn Niên
Tự ở núi Nga Mi, các chùa trên núi Ngũ
Đài Sơn không hề thành lập võ phái,
không nhận đệ tử tục gia. Võ nghệ chỉ
truyền cho tăng chúng như phương tiện
rèn luyện thể lực, và bảo vệ chùa. Tuy
nhiên, Phật Đăng Thượng Nhân đã khiến
cho cả võ lâm phải nghiêng mình kính
phục trước nền võ học núi Ngũ Đài! Sau
khi Thần Quang Chân Quân công Tôn
Khuê tạ thế, Thượng Nhân được tôn là
thiên hạ đệ nhất cao thủ.
Phật Đăng Thượng Nhân rời chùa Phật
Quang năm bốn chục tuổi, vân du khắp
Trung Hoa. Suốt ba mươi năm, cải hóa
hoặc phế bỏ võ công của hàng trăm đại
ma đầu cái thế, mang lại thanh bình cho
võ lâm. Hai chục năm trước, ông quay lại
Ngũ Đài Sơn thiền định, được mười chín
xuân thì nhập niết bàn.
Chỉ vài cao tăng chùa Phật Quang và
Nhương Thư biết vì sao Tứ Phạn Thiên
Cung ẩn mặt mười ba năm. Chính Phật
Đăng Thượng Nhân đã tìm ra sào huyệt
Thiên Cung, một mình đột nhập, khống
chế Kim Mẫu, bắt Thanh Linh Thủy Lão
phải đóng cửa Thiên Cung, không được
tác oai tác quái nữa. Nay Thượng Nhân
tọa hóa, Tứ Phạn Thiên Cung mới dám
tái xuất giang hồ.
Nhưng xui xẻo cho họ, vừa khai trương
đã đụng phải đệ tử của khắc tinh, khiến
lão sứ giả vô cùng hoang mang sợ hãi,
nhất là khi đôi mắt Nhương Thư bốc lên
những tia tàn nhẫn và ác độc, kèm theo
giọng truyền âm lạnh lẽo:
- Chắc lão biết ta là ai? Nếu muốn sống
thì tuyên bố bãi bỏ việc mời Điền Trang
chủ đến tiên cảnh và quay về báo với
Thanh Linh Thủy Lão rằng Phật Đăng
Thượng Nhân đã có học trò kế nghiệp.
Tần mỗ lại tàn ác khác hẳn gia sư, đừng
để ta đến nơi hỏi tội!
Chàng vừa hăm dọa vừa xuất kỳ chiêu
đâm thủng áo đối thủ, làm cho lão đạo sĩ
khốn khổ kia chẳng còn chút dũng khí
nào cả. Lão rầu rĩ đáp:
- Bần đạo xin tuân mệnh! Mong thì chủ
dừng tay cho !
Nhương Thư khê gật đầu, dặn dò thêm
vài câu rồi tung mình nhẩy lùi bãi chiến.
Lão sứ giả đình thủ, tra kiếm vào vỏ,
hắng giọng nói lớn:
- Thì ra sư thừa của Tần thiếu hiệp đây
có chút uyên nguyên với bổn cung! Nể
mặt y, bổn cung hoãn việc triệu tập Điền
thí chủ, để đưa Nhương Thư về ra mắt
nhị vị cung chủ đại tiên. Xin cáo biệt.
Quần hùng ngơ ngác trước thái độ
nhũn nhặn của Tứ Phạn Thiên Cung, và
thắc mắc về lai lịch của Nhương Thư, sao
Ngũ Đài Sơn lại có liên quan với bọn tà
ma? Hay là chàng họ Tần đã khai man lý
lịch?
Riêng đối với cha con nhà họ Điền thì
dẫu chàng là ai cũng mặc, vì đã cứu
mạng Điền Đông Giám! Ba nữ nhân chạy
ra vừa khóc vừa cười níu áo Nhương
Thư, Uyển Xuân nói ngay:
- C ông tử không được đi ! Thăm người
quen thì lúc nào chẳng được ! Năm nay
không gặp thì sang năm, có gấp gáp gì?
Bạch Cúc thì thản nhiên nói:
- Công tử mà đi thì tiểu muội sê tháp
tùng!
Nhương Thư đang bối rối thì Mã Lan
thỏ thẻ:
- Tần công tử quên việc tìm lão Trác
Thiên Lộc rồi sao? Tháng tám này Tế
Nam tụ tập hàng vạn hảo hán bốn
phương, là cơ hội tốt nhất để chàng điều
tra!
Lúc đầu, Nhương Thư vì sợ đa mang
tình ái nên bảo Đệ Tứ Chân Khanh nói
như thế Nay ba nàng quá thiết tha, và
chàng cũng cần ở lại, nên đành phải thay
đổi kế hoạch, Nhương Thư vòng tay nói
với lão sứ giả:
- Tôn giá cứ về trước! Cuối năm nay
tại hạ sê đến bái kiến Thủy Lão và Kim
Mẫu!
Lão ta gật đầu, nói giả lả:
- Thế cũng được! Bổn tiên sê về báo lại
với Nhị vị cung chủ đại tiên! Mong thiếu
hiệp chớ lỗi hẹn!
Nói xong, lão lên kiệu chuồn thẳng,
được quần hùng tống tiễn bằng tràng cười
chết giễu! Mọi người quay sang tán
thưởng Nhương Thư, Tào ưng hỏi thẳng:
- Này Tần lão đệ! Chẳng hay nội tình
như thế nào?
Không ngờ Nhương Thư lảo đảo khuy
xuống, ngồi xếp bằng điều tức, mặt xám
đen, máu rỉ ra khóe miệng. Điền Trang
chủ vội quát thủ hạ lập thành vòng đai
dầy đặc quanh chỗ Nhương Thư ngồi, đề
phòng bất trắc. Trong lúc này, chỉ một
mũi ám khí nhỏ bé cũng đủ sức lấy mạng
họ Tần. May thay, hai khắc sau, Tần
Nhương Thư đã thoát hiểm, mở mắt lẩm
bẩm:
- VÔ Hình Chi Độc quả là lợi hại!
Quần hùng càng thêm thán phục khi
thấy chàng trục được chất độc lừng danh
kia. Uyển Xuân cười khanh khách:
- Tần đại ca mau vào trong thay y
phục, mùi hôi của đại ca thật là khó ngửi!


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi 2
Điếm Trung Kết Đệ Huynh
Lâu Thượng Phùng Cửu Tặc
Suốt tháng tám Nhương Thư ở lại Điền
Gia Trang bầu bạn với các tiểu thư và nỗ
lực xúc tiến việc truy tầm tung tích của
lão già mặt sẹo Trác Thiên Lộc. Bọn môn
khách trong trang cũng vì chàng mà lùng
sục khắp thành Tế Nam hỏi han hào kiệt
tứ xứ về họ Trác. Họ làm như thế phần vì
ngưỡng mộ Nhương Thư, phần vì giải
thưởng ngàn lượng vàng cho bất kỳ ai
cung cấp tin tức về kẻ thù của chàng.
Điền Đông Giám ngầm xem Nhương
Thư là rể nên đã treo giải thưởng ấy. Hơi
vàng sê khiến mọi người ra sức tìm tòi.
ông vô cùng cao hứng vì chọn được rể
đông sàng nhân phẩm xuất chúng võ nghệ
phi thường, và còn nuôi ý định gả cả
Ngọc Trâm cho họ Tần. Khổ thay, Ngọc
Trâm lại mang mặc cảm, tránh không gặp
Nhương Thư, dù lòng ngày càng say
đắm! Khi được cha hỏi ý kiến, nàng cay
đắng đáp :
- Chắc hài nhi và Nhương Thư chẳng
có duyên nợ. Thứ nhất là y quá số tuổi
mà BỐ Y Thần Toán đã bói. Thứ hai, ngay
lúc sơ ngộ, hài nhi đã lỡ lời khiến y giận
dữ.
Nhưng mọi việc chưa ngã ngũ thì đầu
tháng chín Nhương Thư lặng lê bỏ đi để
lại phong thư:
Điền trang chủ nhã giám!
Năm xưa, vãn sinh vô tinh ăn lầm loài
Nấm Quz, tuy nội lực bản thân tăng tiến
vượt bậc nhưng vãn sinh sẽ không thọ
quá ba năm nữa. Do vậy, kẻ hèn này đành
~l)hụ lòng yêu thương của trang chủ và
các tiểu thư.i Ngàn vạn lần cúi xin chư vị
lương thứ cho.
Nhương Thư bái bút! "
Ba mỹ nhân khóc vùi như cha chết, còn
Ngọc Trâm lén gạt lệ trở lại khuê phòng!
vài ngày sau, HỔ Hồng Nhan đến tìm
Thiết Kình Ngư Tào ưng, nghiêm nghị
noi:
- Tiểu muội muốn nhờ đại ca hộ tống
đi tìm Tần công tử!
Tào ưng trợn tròn đôi mắt, gãi đầu
đáp:
- Thế mà tại hạ tưởng cô nương chán
ghét gã họ Tần? Không ngờ chính đại
tiểu thư mới là người nặng tình nhất.
Ngọc Trâm hổ thẹn nhăn mặt:
- Tào đại ca có đi không thì bảo?
Tào ưng cười khà khà:
- Đi chứ! ăn chực mãi cũng có ngày
phải trả nợ!
Thế là mờ sáng mùng sáu, hai người
âm thầm rời trang. Đến trưa, Điền Uyển
Xuân sang thăm chị cả, phát hiện tờ hoa
tiên trên gối, liền chu tréo lên.
Ba nàng hậm hực trách móc Ngọc
Trâm chơi trò phỗng tay trên, nằng nặc
đòi đi cả! Điền trang chủ liền trấn an:
- Các con hãy cố chờ thêm một thời
gian nữa! Ta đã thỉnh giáo Sơn Đông đại
thần y, biết rằng Nhân sâm ngàn năm có
thể cứu mạng Nhương Thư. Đơn đặt hàng
đã được gửi đi Liêu Đông và Cao Ly, chỉ
vài tháng là có tin! Nay ba đứa ngươi đều
thân thiết với Nhương Thư, chỉ mình
Trâm nhi là còn xa cách. Nếu nó tìm
được Tần công tử, kề cận gây tình cảm,
sau này cùng chung thuyền chẳng vui hơn
sao? Vả lại chẳng lê các ngươi lại nhẫn
tâm bỏ lão phu cô quạnh một mình?
Ba nàng con gái đang yêu nghe hữu lý
nên đồng ý ở lại. Tuy nhiên, Uyển Xuân
đã giao hẹn:
- Sau ba tháng nữa, nếu không có
Thiên Niên Tuyết Sâm thì bọn hài nhi sê
đi tìm chàng đấy!
Điền lão phì cười mắng yêu:
- Đúng là nữ nhi ngoại tộc, vì trai mà
quên cả cha già.
Môn khách quá nhiều nên không ai để
ý rằng cùng mất tích một lượt với
Nhương Thư là một lão già gầy gò, trầm
lặng, tên gọi Quách Tàn Bôi. Họ Quách
tuổi độ năm mươi bốn, gương mặt thanh
tú, trán cao, mắt sáng nhưng sắc diện u
ám, sầu héo như mang trong lòng nỗi khổ
vời vợi Lão đến nương náu Điền Gia
Trang từ buổi đầu xuân, ăn ít uống nhiều,
ai chọc ghẹo cũng chỉ cười trừ.
Cuối canh tư sáng mùng hai tháng
chín, khi Nhương Thư bỏ lại con ngựa
gầy, vác hành lý vượt tường, thì đụng độ
Quách Tàn Bôi. Lão cũng mang theo tay
nải bằng vải cũ mèm, cứ như là đã được
Nhương Thư rủ theo vậy. Họ Quách mỉm
cười :
- Lão phu sợ công tử đi một mình buồn
chân nên tháp tùng cho vui !
Nhương Thư lấy làm lạ nhưng vẫn hiền
hòa đáp:
- cảm tạ Quách lão! Đúng là độc hành
thì buồn thực!
Hai người dở khinh công chạy một
mạch, đến bình minh thì đã rời xa cửa
Tây Thành Tế Nam được vài chục dặm.
Thấy bên đường có phạn điếm mở sớm,
Nhương Thư nói:
- Mời Quách lão vào quán dùng điểm
tâm!
ăn xong, Nhương Thư nghiêm nghị
hỏi:
- Tôn giá chủ tâm đi theo tại hạ chắc là
có điều muốn chỉ giáo?
Quách Tàn Bôi uống cạn chung rượn,
gật đầu xác nhận và hỏi lại:
- Phải chăng công tử là truyền nhân
của Phật Đăng Thượng Nhân chùa Phật
Quang?
Nhương Thư giật mình hoang mang,
không ngờ lão già vô danh này nhận ra
tuyệt học Ngũ Đài Sơn! Sư phụ của chàng
ít khi xuất thủ chốn đông người, chỉ âm
thầm tìm đến chỗ kẻ đại ác ma giáo huấn,
cho nên mấy ai được mục kích pho Phật
Đăng kiếm pháp, trừ những nạn nhân.
Chàng c au mày đáp :
- Vì sao tôn giá biết?
Sắc diện Quách Tàn Bôi tươi tắn lên,
cười khà khà đáp :
- Mười ba năm trước, khi lệnh sư trên
đường đi Tứ Xuyên thì gặp lão phu thọ
trọng thương nằm ở bìa rừng. Thượng
Nhân liền cho uống linh đan và truyền
công cứu mạng già này! Hôm đó công tử
cũng có mặt, sao lại vội quên?
Nhương Thư đã nhớ ra, mừng rỡ nói:
- Đúng rồi! Sau này gia sư kể rằng tôn
giá tung hoành đất Thục với biệt danh Dạ
Quân Tử! Ký ức tôn giá quả là đáng
khâm phục, nhận ra cả một đứa bé sau
mười mấy năm xa cách.
Quách Tàn Bôi cười mát:
- Nào có khó gì! Công tử có đôi tai
phật, trong vành tai lại điểm nốt ruồi son!
Nhương Thư ngượng ngùng hỏi lại:
- Tai nào vậy?
Họ Quách cười ngất:
- Không lê công tử chẳng hề để ý đến
dung nhan của mình?
Nhương Thư cười trừ:
- Quả đúng thế! Tại hạ rất ít khi soi
gương
Quách Tàn Bôi hỏi thăm về lễ mai táng
và nhập tháp của Phật Đăng Thượng
Nhân rồi tư lự nói:
- Lão phu tuy là người của Hắc Đạo
nhưng vẫn còn giữ được chút lương tâm,
lòng không hổ thẹn với đất trời . Mong
công tử cho phép lão phu đem chút sức
già theo hầu hạ!
Nhương Thư không đáp mà lại hỏi:
- Vì sao tôn giá lại rời đất Thục, lưu
lạc đến tận đây?
Quách Tàn Bôi biến sắc, thở dài thườn
thượt:
- Ba năm trước, lão phu đột nhập một
trang viện trong thành Quảng Nguyên,
cạnh bờ sông Giang Lăng, không ngờ đấy
lại là tư gia của vợ bé bang chủ Hồng Kỳ
Bang Vương Thiên Bảo. Khi lão phu vào
đến hậu viện thì thấy họ Vương đã bị
đâm chết, nằm trên giường. Sợ vạ lây, lão
phu chuồn ngay, nhưng lại bị bọn tuần tra
phát hiện, tuy đào thoát được nhưng tình
ngay lý gian nên bị Hồng Kỳ Bang truy
nã ráo riết, phải bỏ xứ mà đi!
Nhương Thư nhíu mày:
- Thế tôn giá có nghi ngờ ai là thủ
phạm hay không?
Quách Tàn Bôi quắc mắt đáp:
- Không phải chỉ nghi ngờ mà còn biết
chắc ả tiểu thiếp kia là hung thủ. Lão phu
thấy rõ ả lén lút rời khỏi hiện trường. Sau
này, lão phu đã điều tra ra thị trước đây
từng khét tiếng ở Hồ Nam với cái tên
Tống Phong mỹ nhân Chúc Miên Thu!
Nhương Thư là kẻ đọc sách tất phải
biết hai chữ Tống Phong kia ám chỉ tính
dâm loạn, lẳng lơ. Nó xuất phát từ hai
câu thơ:
Chỉ nghinh nam bắc đzểu
Diệp tống võng lai phong!
Dịch:
Cành đón chim nam bắc
Lá tiên gió lại qua!
chỉ có bọn kỹ nữ mới thường đón đưa
như thế!
Chàng đã rõ hoàn cảnh của Quách Tàn
Bôi, hiểu răng lão đã quá chán ngán cảnh
lẩn trốn, sợ sệt, muốn theo chàng ngang
dọc. Bản lãnh của chàng sê bảo vệ được
lão ta trước Hồng Kỳ Bang!
Bởi thế, Nhương Thư vui vẻ nói:
- Tôn giá muốn đồng hành với tại hạ
thì phải khuất tất nhận Thư tôi làm em
đấy!
Quách lão hoan hỉ đáp ứng:
- Có được gã tiểu đệ anh hùng cái thế
như công tử thì Quách mỗ chết ngay cũng
vẫn vui! Vả lại, lệnh sư tuổi tác còn cao
hơn gia sư, chúng ta xưng hô huynh đệ là
chí phải !
Lão hồ hởi nâng chén mời đứa em kết
nghĩa :
- Lê nghi chỉ là hình thức, chúng ta chỉ
cần một chung rượn để đất trời chứng
giám cho tình nghĩa gắn bó không rời,
sống chết có nhau!
Lão đổ một chút xuống đất, Nhương
Thư cũng làm theo. Hai người uống cạn,
nhìn nhau cười, ánh mắt ấm áp ân tình!
Dạ Quân Tử hỏi về ẩn tình trong cuộc
chiến với sứ giả Tứ Phạn Thiên Cung,
được Nhương Thư kể rõ. Nghe xong, lão
nghiêm giọng:
- Tần hiền đệ! Võ nghệ lão phu tuy
không bằng ngươi nhưng kinh nghiệm và
thủ đoạn thì có thừa. Mong hiền đệ hãy
chú ý đến những thiển kiến của già này!
Nhương Thư vội đáp:
- Tiểu đệ mới xuất đạo, còn rất non
nớt, xin đại ca tận tình dạy bảo cho !
Quách lão gật gù:
- Ta biết ngươi là bậc kỳ nam quân tử,
lòng dạ rộng rãi, khiêm tốn, tất không tự
ái vặt! Nay hiền đệ đã trở thành mục tiêu
số một của Tứ Phạn Thiên Cung, sê
không tránh khỏi những đòn ám toán. Tốt
nhất ngươi hãy nhẫn nhục cải trang mới
mong thảnh thơi mà truy tầm kẻ gia cừu!
Nhương Thư cười mát:
- Tiểu đệ là đệ tử Phật Môn, chẳng xem
danh lợi ra gì! Nhưng tiểu đệ nào biết
nghề dịch dung!
Quách lão đắc ý đáp :
- Ngươi quên lão phu là ai rồi sao? Dạ
Quân Tử nổi danh trong làng đạo chích
cũng là nhờ tài biến hóa đấy!
Hai người rời phạn điếm vào cánh rừng
già gần đấy mà hóa trang. Thì ra trong
tay nải của họ Quách có đủ đồ nghề, từ
thuốc vê cho đến râu tóc giả!
Xuất phát từ việc Tứ Phạn Thiên Cung
không hề ngờ rằng Nhương Thư lại sớm
cải dạng nên dung mạo chàng chỉ cần sửa
đổi chút đỉnh là đủ. Quách lão gắn cho
chàng đôi lông mày xếch, rậm rì và hàng
râu mép xanh đen. Sau đó, lão dùng keo
dán kéo hai vành tai ép sát xương đầu,
đúng như kiểu tướng đẹp "kiến diện bất
kiến nhĩ".
Bản thân Quách Tàn Bôi cũng cạo sạch
chòm râu đẹp của lão, điểm xuyết thành
một hán tử tứ tuần. Nhương Thư soi
gương, lòng rộn lên những cảm xúc vui
vui, lạ lẫm! Hai người đi thêm vài dặm,
vào đại trấn dưới chân núi Vương ốc để
mua ngựa.
Vương ốc sơn ở phía Tây Tế Nam, là
nơi phát nguyên của dòng sông Tế Thủy.
Do thành Tế Nam nằm trên bờ Nam sông
Tế nên mới có tên là Tế Nam. Tế Thủy
chỉ là dòng sông nhỏ, dài vài trăm dặm,
nhưng lại là một trong bốn con sông đổ
thẳng ra biển, gồm: Hoàng Hà, Trường
Giang, Hoài Hà và Tế Thủy. Người Trung
Hoa gọi chúng là Tứ Độc. Sông Tế chạy
song song với Hoàng Hà, xuyên qua tỉnh
Sơn Đông mà đến biển chứ không mượn
đường của ai cả!
Thời xưa, lừa ngựa là phương tiện đi
lại duy nhất nên địa phương nào cũng có
chỗ bán. Đến nơi, nhìn bầy tuấn mã lực
lưỡng, đẹp mã, Nhương Thư ngại ngùng
nói nhỏ:
- Quách đại ca! Tiểu đệ chỉ còn hơn
trăm lượng lộ phí, e rằng không đủ để
mua ngựa tốt !
Quách Tàn Bôi phì cười:
- Ngươi tưởng ta mặc áo vài thô, ăn
chực nhà họ Điền mà trong túi không có
vàng sao? Nghề của lão phu ở đâu cũng
dùng được cả! Hay ngươi tự xem mình là
bậc quân tử nên không dám xài của phi
nghĩa?
Nhương Thư lúng túng lắc đầu, lòng tự
nhủ:
"Lão này có cái miệng quả là sắc bén!
Ta đành phó thác mọi sự cho lão thôi ! "
Ngựa quí có giá trị rất lớn, nên cũng là
một trong những mục tiêu của đạo chích.
Dạ Quân Tử đã nhiều lần ăn trộm ngựa,
tất phải tinh thông phép xem tướng ngựa,
nếu không sê bể nồi cơm!
Người Trung Hoa cổ thuần dưỡng thú
rừng làm gia súc rất sớm. Có thể nói rằng
những chủng loại gia súc, gia cầm chủ
yếu sau này đều có từ đời Tam Đại! Điều
lý thú là vài ngàn năm trước, các cụ đã
xem chó như vật tế lễ và là loại ăn thịt
chính, cùng với trâu, lợn dê. Trâu thì cho
Vương Hợi, ông tổ thứ bảy của vua
Thang Thương thuần dưỡng được. Còn
việc ngựa trở thành vật kéo xe là nhờ
công lao của ngài Tương Thổ, tổ thứ
mười một nhà Thương.
Đã nuôi thi có kinh nghiệm về giống
tốt xấu, nên bá Nhạc nước Tần nổi tiếng
sành tướng ngựa, và Ninh Thích nước Vệ
giỏi xem tướng trâu mà thành danh!
Quách Tàn Bôi không phải là học trò
của Bá Nhạc, nhưng đã thuộc lài những
chương nói về ngựa trong bộ sách "xem
tướng lục súc" gồm ba mươi tám quyển
nên sở học cũng kha khá!
Đến gần trưa Quách lão mới chọn được
vài con ngựa tốt nhất, mỗi con xấp xỉ ba
trăm lượng bạc. Lão không hề kỳ kèo, vì
đó là tính cách chung của những tay trộm
cướp Chẳng phải đồng tiền mồ hôi nước
mắt thì hà tiện làm quái gì?
Sau ngựa nghẽo là đến y phục, kẻ
nghèo mạt mà đột nhiên mặc áo gấm
thượng hạng thì càng khác lạ! Kiếm thì
khỏi phải mua vì Tứ tiểu thư Điền Uyển
Xuân đã tặng Nhương Thư thanh kiếm tốt
của nàng. Trong bộ vó mới toanh, hai
người đủng đỉnh lên lầu của tòa Tế
Nguyên Đại Tửu Lâu dùng bữa trưa.
Nhương Thư nhìn qua khung cửa ngắm
cảnh thu trên núi Vương ốc. Mùa thu tuy
tiêu điều ảm đạm, nhưng lại có nét đẹp
riêng. Giờ đây, màu xanh của Tùng Bách
được điểm xuyết thêm màu lá đỏ, vàng
của những mảnh rừng phong, trở nên
diễm lệ. Nhương Thư lan man nhớ về
Ngũ Đài Sơn, nơi chàng gắn bó mười bảy
năm ròng. Phong cảnh chốn ấy đẹp hơn
núi Vương ốc rất nhiều!
ăn xong, hai người nhâm nhi chén trà
thơm trò chuyện. Quách Tàn Bôi cười
hỏi:
- Vì sao hiền đệ lại chạy trốn khỏi vòng
tay của ba vị tiểu thư sắc nước hương trời
kia vậy?
Nhương Thư ngập ngừng đáp:
- Thuở còn thơ ấu tiểu đệ lạc vào rừng
sâu, ăn phải loài Quỉ Nấm, thọ mạng
không quá ba mươi, đâu thể kết hôn
được !
Quách Tàn Bôi kinh hãi, nhăn tít cặp
chân mày rậm, ngón tay nhịp trên mặt
bàn như cân nhắc một điều gì. Lão tư lự
bảo:
- Theo lão phu được biết thì Quỉ Nấm
là con dao hai lưỡi, giúp cho con người
thụ hưởng có thêm mười hai năm chân
khí, nhưng khiến kinh mạch sớm khô
cứng lại. Tuy nhiên, trong bản thảo cương
mục của Trung Hoa Thần Y Lý cùng thời
Trân có chỉ ra rằng một số dược vật quí
như linh chi, sâm già, hà thủ ô... có thể
giải trừ hậu quả ấy. Lão phu biết một nơi
cất giữ nhánh thiên niên hà thủ ô, sê đến
đấy lấy tặng ngươi !
Nhương Thư cảm động trước mối quan
tâm của đối phương, tuy không nói ra
song ánh mắt tràn ngập vẻ biết ơn!
Quách Tàn Bôi hài lòng nói sang
chuyện khác. Lão hỏi:
- Thế hiền đệ định đi đâu để tìm Trác
Thiên Lộc?
Nhương Thư cười buồn:
- Trời đất mênh mông, biết lão ở chốn
nào? Tiểu đệ chỉ có cách lang thang khắp
nơi mà dò hỏi thôi!
Quách lão thận trọng nói:
- Lão phu mạo muội muốn biết tội lỗi
của lão ta?
Sắc mặt Nhương Thư lập tức tái xanh,
ánh mắt ngập tràn thống khổ và oán hận.
Chàng run gi ong đáp :
- Đương nhiên, lão cẩu tặc ấy đã dâm
sát gia mẫu là một ni cô ở chân Ngũ Đài
Sơn rồi bỏ chùa trốn mất tăm. Gia sư sợ
tiểu đệ không địch lại lão nên bắt phải
luyện xong Phật Đăng kiếm pháp mới
cho hạ sơn !
Quách Tàn Bôi thở dài:
- Lão khốn khiếp ấy là đại đệ tử của
Thượng Nhân, công lực lại thâm hậu hơn,
làm sao tiểu đệ giết được lão ta?
Nhương Thư cười lạnh:
- Tiểu đệ chỉ kém phần tu vi, vì họ
Trác không học được ba chiêu tuyệt kiếm
cuối cùng! Dù lão ấy giỏi nghề che dấu
dã tâm, nhưng không qua được phật nhãn
của gia sư!
Dạ Quân Tử yên tâm gật gù:
- Hay lắm! Thế thì lão phu sê giúp
ngươi tìm ra kẻ thù!
Nhương Thư mừng rỡ, nhưng chưa kịp
hỏi lão dùng cách nào thì đứa bé gái độ
bốn năm tuổi, của cặp vợ chồng ngồi bàn
gần đấy, chạy đến vung kiếm gỗ đâm vào
người chàng, rồi bật cười ròn rã. Cha nó
là một hán tử áo gấm xanh tuổi tam thập,
dung mạo thô lậu xấu xí, liền quát gọi:
- Li ên nhi !
Mẹ của Liên nhi vội rời bàn bước đến
nghiêng mình tạ lỗi:
- Liên nhi tính tình hiếu động nghịch
ngợm, lỡ mạo phạm đến công tử, xin
người lượng thứ cho!
Nhương Thư mỉm cười:
- Trẻ thơ vô tội! Tại hạ cũng từng là
một đứa trẻ bất trị, sao lại giận Liên nhi?
Đại tẩu chớ bận tâm!
Nữ nhân kia bồng con về bàn mắng mỏ
và dặn dò. Chỉ lát sau cô bé lại tuột ra
khỏi lòng mẹ, chạy tung tăng khắp nơi,
nhưng vũ khí đã bị tịch thu. Liên nhi lại
mon men đến gần bàn của Nhương Thư,
nhìn chàng bằng ánh mắt thích thú.
Nhương Thư đang định hỏi han đứa bé thì
tiếng dây cung bật lên tanh tách, và mười
mấy mũi trường tiễn bay qua các khung
cửa lớn nhỏ của tửu lâu, chạm vào vật
cản liền nổ lóc bóc, tỏa khói trắng mù
mịt.
Quách Tàn Bôi lão luyện giang hồ,
nhận ra ngay nguy hiểm, liền quát:
- Khói độc! Mau thoát ra!
Lão vơ lấy hai tay nải, lướt ra lan can
nhẩy xuống đất. Nhương Thư thì chụp
ngay Liên nhi, mang cô bé thoát khỏi
vòng nguy hiểm. Song thân Liên nhi
chậm hơn một bước, vì người mẹ không
biết võ công nên cha nó phải bồng nàng
mà chạy. Ba người vừa chạm đất đã phải
đối phó với một toán cao thủ đông độ
năm sáu chục, y phục không đồng nhất.
Lúc đầu Nhương Thư tưởng họ là người
của Tứ Phạn Thiên Cung, và chỉ hiểu ra
khi cha của Liên nhi phẫn nộ hét lên:
- Cưu Bang! Các ngươi quả là đốn
mạt!
Cưu Bang là một bang hội nhỏ ở núi
Cưu Sơn, ngọn núi này nằm ngày giữa
ranh giới giữa ba tỉnh Hà Bắc, Hà Nam,
Sơn Đông nên chẳng biết nó thuộc quyền
cai trị của ai? Tỉnh này đùn đẩy cho tỉnh
kia thành ra vùng Cưu Sơn chẳng hề có
quan quân Cưu nghĩa là chim tu hú! Có
lê cưu sơn đầy loài chim xảo quyệt này
nên mới mang tên ấy!
Hai năm trước, Cưu Bang được thành
lập, quy tụ toàn những tay vong mạng,
những kẻ đại ác bị triều đình truy nã.
Người võ lâm chỉ biết Cưu Bang sống
bằng nghề trộm cướp nhưng không có
chứng cớ. Dường như chúng hành nghề ở
xa sào huyệt để bảo toàn cho vỏ bọc của
mình!
Nhương Thư hạ sơn đã gần năm từng
nghe đến tà bang này song chưa từng
chạm trán. Giờ đây, thủ đoạn hèn hạ, độc
ác của họ đã khiến chàng chán ghét, dù
không hề quen biết cha mẹ của Liên nhi.
vả lại, chàng không thể cho đứa bé vô tội
kia chết được!
Phe Cưu Bang lên tiếng:
- Tất Cung Bảo, nếu ngươi muốn bản
thân và thê nhi được toàn mạng thì hãy
mau thực hiện yêu cầu của bổn bang!
Vậy là cha của Liên nhi họ Tất, gương
mặt rắn rỏi kia đanh lại, và Cung Bảo
kiên quyết đáp:
- Đừng hòng ! Ta thà chết c ả nhà chứ
không muốn nối giáo cho giặc!
Lão già áo trắng râu dài, đội nón rộng
vành kia giận dữ quát:
- B ắt sống gã cho ta !
Thủ hạ Cưu Bang lập tức ùa vào, thế
lực cực kỳ hung hãn !
Lúc này, phe Nhương Thư đã có thêm
hai trợ thủ. Họ là người của Tất Cung
Bảo, nãy giờ ở tầng dưới để nhậu cho
thoải mái, khi có biến mới chạy ra, mặt
đỏ gay!
Nhương Thư trao Liên nhi cho họ Tất
rồi vung kiếm mở đường máu.
Do dược tính của Quỉ Nấm nên một kẻ
hiền lành, quen chay tịnh, kinh kệ như
chàng có những cơn thịnh nộ cực kỳ đáng
sợ Nếu không luyện Nhiên Đăng tâm
pháp từ năm chín tuổi thì chàng đã biến
thành tên đồ tể, giết người không gớm
máu!
Phật Đăng Thượng Nhân từng nói:
- Con chính là sát tinh của bọn tà ma,
làm rạng rõ chính khí võ lâm. Nhưng nếu
con gây quá nhiều sát nghiệp thì phải tự
gánh lấy quả báo!
Nhương Thư quì xuống hứa rằng sê
không lạm sát, song chàng đã chẳng giữ
được lời! Khi nổi giận, tâm trí chàng
hừng hực ngọn lửa sát nhân.
Xui xẻo cho bọn Cưu Bang, chúng đã
vô tình trở thành vật tế cờ, khai trương
cho sự nghiệp giết chóc của Nhương
Thư! Ngay đường kiếm đầu tiên chàng đã
đâm thủng ngực ba gã, chặt tay gã thứ tư.
Những vòi máu và tiếng rên la càng kích
thích lòng hiếu sát của Nhương Thư. ánh
mắt chàng rực lên những tia oán độc,
hung ác, môi điểm nụ cười thản nhiên
thọc kiếm vào bọn Cưu Bang bằng những
thức kiếm ảo diệu và nhanh như ánh
chớp!
Không một tên nào đủ sức đỡ gạt hay
tránh né. Nhương Thư tiêu diệt tất cả
những ai dám cản đường, xác người đổ
xuống tới tấp và tiếng kêu rên bi thiết
vang dậy.
Chưa đầy nửa khắc chàng đã hạ sát hai
mươi mấy kẻ địch, đưa đoàn người ra đến
cổng tửu lâu.
Lão già Bạch y, đội nón rộng vành cố
nến kinh hoàng trước tài nghệ và lối giết
người mau lẹ của đối phương, cung đao
đón đường. Lão là đầu lĩnh của toán quân
Cưu Bang tất võ nghệ chẳng tầm thường,
đường đao mãnh liệt như sóng dữ, chặn
đứng Nhương Thư lại.
Điều này chỉ làm cơn giận dữ trong
lòng đại sát tinh họ Tần bốc cao thêm.
Nhương Thư nghiến răng xuất một loạt
chiêu thần tốc, kiếm ảnh hóa thành trăm
lưỡi lửa xanh chập chờn, len lỏi qua màn
dao quang, liếm vào ngực đối phương.
Nạn nhân rú lên thảm khốc, ngã ngửa ra
chết tốt, tâm thất đầy những lỗ thủng.
Như rắn mất đầu, bọn Cưu Bang còn
lòng dạ đâu mà đánh đấm, tháo chạy như
bầy vịt, biến mất trong những ngõ hẻm
gần đấy!
Mục tiêu không còn, lòng Nhương Thư
dịu lại, ngơ ngẩn nhìn những thi thể đẫm
máu trên sân gạch của tửu lâu, bàng
hoàng, sợ hãi! Chàng rùng mình lẩm
bẩm:
- Chẳng lê ta đã biến thành một ác ma
khát máu rồi sao? Ta còn mặt mũi nào mà
niệm phật nữa đây?
Quách Tàn Bôi nghe thấy thế, lên tiếng
an ul:
- Hiền đệ chớ tự kết tội mình! Cưu
Bang tập trưng toàn những tên độc ác
ngập đầu, có chết cũng là đáng lắm! Để
chúng sống chỉ khổ cho bách tình!
Nhương Thư chua xót đáp:
- Gia sư cũng diệt ác nhưng chưa từng
phải giết ai cả! Tiểu đệ đã phụ lòng giáo
huấn của người rồi!
Tất Cung Bảo bước đến, cắt ngang câu
chuyện, quỳ xuống lạy:
- Tất mỗ suốt đời ghi lòng tạc dạ đại ân
cứu mạng của đại hiệp ! Xin người cho
biết phương danh để nhà họ Tất phụng
thờ!
Vợ con của Cung Bảo cũng quỳ theo,
khiến Nhương Thư ngượng ngùng xua
tay:
- Xin đại huynh và đại tẩu chớ làm thế
mà tiểu đệ thêm hổ thẹn!
Liên nhi ngây thơ nói:
- Đại thúc không cho biết tên thì Liên
nhi chẳng đứng lên đâu. úi chà, đau đầu
gối quá!
Nhương Thư phì cười trước gương mặt
nhăn nhó rất dễ thương của cô bé, nói với
Cung Bảo:
- Tiểu đệ là Tần Nhương Thư, mong
đại huynh bình thân giùm cho !
Vợ chồng Cung Bảo dập đầu lạy ba lạy
rồi mới đứng lên. Họ Tất nghiêm giọng:
- Mời Tần ân công về tệ trang ở Tế
Châu để Tất mỗ tỏ chút lòng thành!
Quách Tàn Bôi nhắc nhở:
- Chúng ta nên đi chỗ khác bàn chuyện,
bách tính sắp vây chặt nơi này rồi !
Tất Cung Bảo vội vẫy chưởng quầy
tính tiền ăn uống. Cả bọn lấy xe, ngựa rời
khỏi trấn Phương tiện di chuyển của gia
đình họ Tất là một cỗ xe song mã rất đẹp.
Nhương Thư sợ họ lại gặp nạn nên quyết
định hộ tống về đến nhà. Năm ngày sau,
đoàn người có mặt tại Tất gia trang trong
thành Tế Châu.
Tế Châu nằm ở cực bắc Lương Sơn
Bạc, mang tên này từ thời nhà Nguyên,
sau đổi thành Tế Ninh. Tế Châu là một
địa phương sầm uất, trù phú, chỉ kém Tế
Nam một chút.
Nhương Thư và Quách Tàn Bôi chỉ ở
lại nghỉ ngơi hai ngày là đi ngay, dù Cung
Bảo hết lời lưu khách.
Trước lúc chia tay, Cung Bảo kính cẩn
tặng cho Nhương Thư một hộp gỗ cũ kỹ,
trong đựng quyển kinh Đại Bát Nhã cũng
già nua chẳng kém. Gã vui vẻ nói:
- Tần thiếu hiệp xuất thân từ cửa Phật
ắt sê vui lòng nhận bản kinh văn được in
từ thời nhà Đường này! Chút lòng thành
xin ân công đừng từ chối.
Tuy không xuất gia nhưng Nhương
Thư làu thông kinh điển, ngưỡng mộ Phật
pháp, nên rất hân hoan khi được tặng bản
kinh văn do chính Huyền Trang đại sư
(tức Tam Tạng) dịch và in ấn lần đầu.
Huyền Trang là nhà phiên dịch vĩ đại
nhất của lịch sừ phật giáo Trung Hoa.
Tuy không hề được Tôn Ngộ Không, Sa
Tăng, Bát Giới hộ tống như Tây Du Ký
đã kể, ông đã lên đường đến ấn ĐỘ để
cầu chân nghĩa, tìm hiểu nhiều chỗ nghi
ngờ, khó hiểu. Trong mười bảy năm, ông
đã đi năm vạn dặm, qua hơn một trăm
mười nước, khắc phục những khó khăn
mà người thường khó tưởng tượng nổi,
cuối cùng đem về Trường An năm trăm
hai mươi quyển kinh, sáu trăm ba mươi
bảy bộ sách Phật chữ Phạn.
Sau đó, Huyền Trang đại sư miệt mài
dịch thuật suốt hai mươi năm, xong được
phần kinh Đại Thừa, tổng cộng bảy mươi
lăm bộ, một ngàn ba trăm ba mươi lăm
quyển !
Tóm lại, giá trị của món quà nhỏ bé
này vô cùng to lớn đối với Nhương Thư!
Phương trượng chùa Thiếu Lâm sê mất
ngủ khi biết chùa Phật Quang được báu
vật ấy!
Do quyển kinh cổ mà Nhương Thư
quay về Ngũ Đài Sơn, trước là dâng kinh
cho phương trượng sư huynh Chân
Không, sau dự lễ cầu siêu cho sư phụ!
Phật Đăng Thượng Nhân từ trần hôm rằm
tháng chạp năm ngoái!
Hai anh em đi về hướng Tây Bắc, vượt
qua Hoàng Hà, đến thành An Dương
chiều ngày mười sáu tháng mười. Họ
không vào khách điếm mà ghé nhà bà con
của Quách Tàn Bôi.
Chủ nhà là Quách Hưng, biểu đệ của
Dạ Quân Tử, lão ta hân hoan nói:
- Trời cao có mắt nên biểu huynh đã
ghé vào đây! Tiểu đệ vừa nhận thư ở quê,
nhắn rằng có gặp biểu huynh thì gọi về
gấp vì bá mẫu đang lâm bệnh nặng!
Quách Tàn Bôi tái mặt, rầu rĩ nói với
Nhương Thư:
- Tần hiền đệ! Gia mẫu tuổi đã tám ba,
nay người lâm bệnh thì rất nguy. Lão phu
phải về Tứ Xuyên ngay mới được !
Lão vì chữ hiếu mà đi nên dù lo lắng
Nhương Thư cũng không thể ngăn cản.
Quách lão hiểu lòng chàng, trấn an ngay:
- Hiền đệ yên tâm! Ta còn rất nhiều
bằng hữu chí cốt ở cố quận, và với tài hóa
trang, ta sê qua mắt được Hồng Kỳ Bang!
Nhương Thư gật đầu:
- Đại ca cứ lên đường, sang xuân tiểu
đệ sê đi Tứ Xuyên ngay!
Quách lão liền nói rõ nơi cư trú và
cách thức liên lạc sau này! Lão không lưu
lại thêm, tức tốc khởi hành.
Nhương Thư ở lại nhà Quách Hưng
một đêm, sáng sớm cũng tạ từ để đi Sơn
Tây.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi 3
Hồng Nhan Thiên Lý Tầm Phu
Tướng
Hạt Nhãn Ly Hương Ngộ Sát Tinh
Thời gian còn rất dư dặt, Nhương Thư
đủng đỉnh tìm nơi ăn sáng. Chàng luôn
chọn chỗ đông người với niềm hy vọng
mơ hồ sê tìm thấy kẻ thù, là lão sư phá
giới họ Trác, vốn có pháp danh là Chân
Từ.
Có những địa phương không bao giờ
đổi tên, An Dương là một trong số ấy,
mặc cho vật đổi sao dời. Ba ngàn năm
trước, An Dương là kinh đô nhà Thương,
và giữ mãi cái tên gắn liền với lịch sừ
khai quốc của Trung Hoa (tính đến nhà
Minh).
Trên con đường lót đá phẳng phiu,
rộng bốn mươi bước chân, người ngựa
qua lại tấp nập, gồm thương lái và du
khách. Nhương Thư dừng cương trước
tòa Duyệt Tân Lâu ba tầng, nơi bán cả
điểm tâm lẫn món nhậu!
Người xưa gọi rượn là thánh thủy
nhưng chỉ có những kẻ liều mạng hoặc
chán sống mới uống rượn vào sáng sớm.
Khách giang hồ không chán sống song
ỷ vào sức khỏe mà nhậu tì tì, bất kể thời
gian! Giờ đây, trên tầng hai của Duyệt
Tân Lâu có đến năm sáu bàn đang rộn rã
tiếng cười, tiếng cụng chén côm cốp!
Có lê do Nhương Thư mang kiếm mặc
võ phục, nên gã tiểu nhị đã tự động mang
ra một bình rượn nhỏ, kèm theo mấy món
ăn sáng. Gã tưởng chàng cũng giống đám
bợm kia.
Thực ra, Nhương Thư ky rượn, phần do
mười bảy năm trai giới, phần vì rượn sê
kích động nộ hỏa dễ bùng phát. Chàng
chỉ uống khi lòng thật vui, thật thanh thản
và chỉ vài chung.
ăn xong, Nhương Thư gọi bình trà
"Ngọc Dịch Trường Xuân", một trong
những loại trà nổi tiếng nhất, xuất hiện từ
thời Tống. Ngang hàng với Ngọc Dịch
Trường Xuân còn có: Long Đoàn Trà,
Long Phụng Trà, Thạch Nhũ Trà, Bạch
Nhũ Trà, Vạn Xuân Ngân Diệp. . .
Trung Hoa là quên hương của trà.
Thuật trồng trà, chế biến trà, uống trà đều
bắt nguồn từ Trung Hoa. Trong thư tịch
và truyền thuyết cổ, có nhiều nơi nhắc
đến trà. Thuần Nông Thuật Kinh viết:
"Uống trà lâu khiến người khỏe, trí tuệ
minh mẫn". Còn Hoa Đà, danh y thời
Đông Hán viết trong thực luận: "Trà đắng
uống lâu càng thấy sáng suốt! "
Thời Viễn Cổ, các cụ thường coi trà
như một thứ dược liệu, gọi là Đồ. Họ hái
lá non của những cây trà hoang dại nấu
lên, chẳng sao tẩm, chế biến gì cả, nên
nước trà có vị đắng chát như thuốc, bèn
gọi là "Khố Đồ"
Thời Tần Hán thì khá hơn, lá chè tươi
hái về được chế biến thành trà bánh, khi
uống bóp vụn bỏ vào bình, chế nước sôi,
rồi thêm các gia vị như hành, gừng,
quất
Đến tận thời Minh, người ta mới tìm ra
cách sao chè xanh, giữ được màu sắc,
hương vị của trà nguyên chất, không cần
bỏ hành, gừng, quất vào nữa!
Do vậy, bình trà của Nhương Thư tuy
mang cái tên đời Tống mà hương vị lại
thuần khiết và ngon ngọt hơn nhiều!
Cũng như hầu hết các nhà sư, Nhương
Thư cũng nghiện trà! Trà là thứ thức
uống gắn liền với lịch sừ Phật giáo Trung
Hoa! Trà chống buồn ngủ khi Thiền định,
giúp đầu óc tỉnh táo, minh mẫn, sáng suốt
hơn.
Các chùa chiền đua nhau trồng trà,
thúc đẩy sự phát triển của việc uống trà,
có thời người ta còn nói rằng: Trà phật là
một (Trà phật nhất vị)
Nhương Thư vừa thưởng thức trà ngon,
vừa suy nghĩ về cuộc chém giết ở chân
núi Vương ốc. Vì sao, lúc ở Điền Gia
Trang, chàng có thể bình thản trước
những lời khiêu chiến của bọn môn
khách, mà sau này lại nổi lôi đình trước
Cưu Bang?
chàng mường tượng rằng việc này có
liên quan đến một kỷ niệm mơ hồ thời
thơ ấu Ngày ấy, cha chàng, Trần Tử
Chính, trên đường đưa đứa con trai năm
tuổi về quê nội, đã bị một toán người bịt
mặt vây đánh. ông đã đưa Nhương Thư
thoát đi, rồi chết trong một cánh rừng
vắng, gần Nam Dương, vì những vết
thương quá nặng, bỏ chàng bơ vơ ở chốn
cách nhà ngàn dặm.
Phải chăng, chính vì thế mà chàng đã
phát điên lên khi bị bọn Cưu Bang vây
đánh?
Nhương Thư thở dài, tự nhủ sê luôn
miệng niệm Phật khi rơi vào hoàn cảnh
tương tự! Chàng hơi yên tâm, lắng nghe
câu chuyện của hào khách. Thì ra họ
đang trên đường đến Lã Gia Trang ở phía
tây nam thành An Dương, cách chừng sáu
bảy dặm!
Lã Gia Trang chính là nhà của cố minh
chủ võ lâm Lã Xuân Tốn, người đã bị Tứ
Phạn Thiên Cung giết hồi mười bốn năm
trước Hiện nay, bào đệ của Xuân Tốn là
Lã Tập Hiền, năm mươi mốt tuổi, dường
như đã luyện thành thần công tuyệt thế,
nên quyết định đổi tên Lã Gia Trang
thành Chính Khí Trang. ông ta hiệu triệu
võ lâm để tiêu diệt tất cả những thế lực
tàn ác mang lại thanh bình cho Trung
Nguyên.
Hùng tâm vạn trượng kia đã được các
phái Bạch đạo, cùng hiệp khác bốn
phương, nhiệt liệt hoan nghênh, đến tham
dự lễ khai đàn rất đông !
Tuy nhiên, sự tái xuất của Tứ Phạn
Thiên Cung ở Điền Gia Trang, đất Tế
Nam, đã khiến tình hình đổi khác. Chính
Khí Trang sê phải đương đầu ngay với
cường địch đáng sợ kia, trước vì việc
công, sau vì thù riêng. Mọi người còn đồn
đãi rằng không chừng Tứ Phạn Thiên
Cung sê chẳng để yên cho Lã Tập Hiền
múa may trong ngày lễ khai trương.
Nhương Thư vô cùng mừng rỡ vì đây
là cơ hội để chàng gặp gỡ nhiều người,
hỏi thăm kẻ thù. Dù biết hành động của
mình chỉ như "mò kim đáy biển" song
chàng chẳng còn cách nào khác cả!
Chàng chỉ tận lực cho tròn đạo hiếu
chứ không hy vọng tìm ra Trác Thiên Lộc
trong lãnh thổ mênh mông và đông đến
gần bảy trăm ức người.
Trung Hoa là nước có ngành thống kê
nhân khẩu, ruộng đất tốt nhất thế giới,
hoàn bị từ thời nhà Chu và được thực
hiện liên tục trong mấy ngàn năm. Tài
liệu để lại vô cùng phong phú, giúp hậu
thế nắm được tình hình dân số từng thời
kỳ. Ví dụ cuộc điều tra vào năn đầu Vịnh
Lạc, đời nhà Minh, cho biết rằng thuở ấy
nước Trung Hoa có độ hơn sáu mươi sáu
triệu người! Nhưng hơn hai trăm sau, đến
đầu triều nhà Thanh tổng nhân khẩu chỉ
còn một nửa (ba chục triệu).
Vậy Nhương Thư sê làm cách nào để
tìm cho ra họ Trác, khi chàng chỉ còn
sống được vài năm nửa thôi?
Thù của mẹ đã thế, thù giết cha còn
khó báo hơn, vì chàng không hề biết bọn
người bịt mặt năm xưa là ai cả.
Đôi lúc, Nhương Thư lâm vào tâm
trạng tuyệt vọng trước hai mối thâm thù
không có lối thoát này. Có lê đấy cũng là
một trong những lý do của những cuộc
chém giết điên cuồng!
Thường dân đã sớm rời Duyệt Tân Lâu
để lo sinh kế, song khách giang hồ lại
đông thêm, khiến khung cảnh càng náo
nhiệt
Nhương Thư muốn đi theo họ đến
Chính Khí Trang nên nán lại. Chẳng thể
ngồi uống trà mãi, chàng đành gọi thêm
món vịt quay để nhâm nhi với bình rượn
đã mang ra từ lúc đầu !
Hai người khách mới lên khiến
Nhương Thư giật mình kinh ngạc, họ
chính là HỔ Hồng Nhan Điền Ngọc Trâm
và Thiết Kình Ngư Tào ưng.
Ngọc Trâm đứng yên ở đầu câu thang,
quan sát khắp lượt tửu khách như muốn
tìm ai đó. Còn Tào ưng xăm xăm bước
đến bàn trống gần Nhương Thư để xí chỗ.
Gã quay lại cằn nhằn Ngọc Trâm:
- Đại tiểu thư cứ ngồi cái đã! Nếu Tần
công tử không ở đây tức là đã về Ngũ Đài
sơn, lo gì không tìm được?
Nhương Thư kinh ngạc, chẳng ngờ HỔ
Hồng Nhan lại lặn lội đi tìm mình! Chẳng
lê nàng hổ cái kia cũng đã nặng tình với
chàng!
Nhương Thư nghe ấm lòng, dạt dào
niềm cảm kích. Thật ra chàng cũng
không hề giận hờn gì Ngọc Trâm cả.
Phần do nàng tự mặc cảm nên ít gặp gỡ,
phần bởi Nhương Thư nghĩ mình sắp chết
nên chẳng mặn mà với ai làm gì!
Nay Ngọc Trâm dám bỏ nhà, bỏ cả tự
ái, vượt đường ngàn dặm đuổi theo, đã
biểu lộ một mối chân tình tha thiết, dù
biết rõ đối tượng chẳng còn sống được
bao lâu nữa.
Nhương Thư xúc động xong lại chua
xót vì hiểu rằng mình không có cách nào
để đền đáp mối ân tình ấy!
Ngọc Trâm uể oải bước lại, ngồi xuống
ghế, tay chống cằm nhìn bâng quơ về dãy
núi xa xa. Đôi mắt đen láy của nàng giờ
đây buồn vời vợi, khiến dung nhan ảm
đạm, hiền lành, khác hẳn lúc trước. Tào
ưng gọi liền một mâm cơm thịnh soạn và
vò rượn lan sinh lâu năm, giá đắt như
vàng. Gã đang hộ tống một trong những
mỹ nhân giàu có nhất Trung Nguyên, nên
có quyền tự chiêu đãi mình trọng hậu.
Họ Tào mời lơi một tiếng rồi động đũa,
ăn uống như rồng cuốn, trong khi HỔ
Hồng Nhan chỉ nhấm nháp chiếc bánh
hấp nhân tôm.
Dường như nỗi buồn lại khiến Ngọc
Trâm đẹp hơn, thu hút nhãn tuyến của
Nhương Thư. Nàng quay sang bắt gặp
ánh mắt say mê của chàng trai lạ mặt bàn
bên, không phát tác như thường lệ mà chỉ
quay đi.
Tào ưng đã lửng dạ, cảm thấy ngượng,
giả lả hỏi:
- Đại tiểu thư có nghĩ đến việc Nhương
Thư từ chối hay không?
Ngọc Trâm lắc đầu:
- Tiểu muội sê bám chặt lấy chàng, dẫu
bị xua đuổi cũng không đi, chẳng lê
chàng không động lòng?
Tào ưng nhún vai :
- Lòng dạ nữ nhân quả là khó hiểu! Tào
mỗ xin chịu thua!
Gã lại tiếp tục ăn nhưng chậm rãi hơn,
và Ngọc Trâm đã nghe được câu chuyện
về Chính Khí Trang, mà bọn hào khách
đang nói oang oang, liền bàn:
- Tào đại ca! Hay là chúng ta thử đến
Chính Khí Trang xem sao? Nhương Thư
chẳng bao giờ bỏ qua những chốn đông
đảo như vậy?
Tào ưng tán thành bằng cách gật đầu
vì miệng đang chứa đầy thức ăn.
Tửu lâu lại có khách mới, gồm một lão
nhân áo gấm lam nhạt, mặt đỏ như quan
công, râu tóc bạc phơ, và một chàng trai
tuổi quá hai mươi. Người có danh như
cây có bóng, bọn hào khách xôn xao thì
thầm:
- Hồng Diện Tôn Giả! Lão ta ở tận
vùng Bát Đạt Lĩnh, sao lại đến đây làm
gì?
Nhương Thư từng nghe sư phụ kể về
bậc kỳ nhân này. Lão ta tên gọi Hoàng
Huy Do, tuổi đã bảy mươi tám, xếp hàng
thứ tư trong Vũ nội tứ thần. Người đứng
đầu chính là Phật Đăng Thượng Nhân, sư
phụ Nhương Thư.
Hồng Diện Tôn Giả tính tình nóng như
lửa, cổ quái chứ không tàn ác, theo ý
riêng mà hành động, được xem là kẻ ở
giữa chính tà !
Nhương Thư thích thú ngắm nhìn
chàng trai võ phục trắng đứng cạnh Tôn
Giả. Gã anh tuấn đến nỗi hấp dẫn cả nam
nhân chứ đừng nói đàn bà con gái. Trên
gương mặt ngọc kia, mọi nét đều đẹp, và
quyến rũ nhất là đôi mắt sáng long lanh,
âm áp.
Gã nhìn thấy HỔ Hồng Nhan Điền
Ngọc Trâm, liền rảo bước đến, nở nụ
cười tình tứ rồi vòng tay nói bằng giọng
ngọt ngào như mật:
- Tại hạ là Vạn Lý Thần Điêu Bạch
Thúy Sơn, một kẻ quê mùa vùng quan tái
phía Bắc, lần này theo sư phụ vào Trung
Nguyên để mở mang tầm mắt. Nay được
diện kiến tiểu thư ở đây mới hiểu thế nào
là nét đẹp của tiên nữ chốn Thiên Cung!
Câu tán dương khéo léo với nghệ thuật
bậc thầy này của chàng trai trẻ đẹp như
Phan An, chắc chắn sê làm rụng rời trái
tim của mọi nữ nhân trong thiên hạ.
Nhưng khổ thay, HỔ Hồng Nhan kiêu kỳ
bậc nhất, tai quen nghe hàng vạn lời ca
tụng, nên chẳng hề xao xuyến. Bản chất
ngang ngạnh của nàng có dịp bộc lộ, liền
lạnh lùng nói:
- Các hạ mới đi được hơn ngàn dặm,
kiến văn kém cỏi nên không xứng là
người bình phẩm nhan sắc bổn cô nương!
Sau này các hạ gặp người đẹp hơn ta thì
sê dùng ngôn từ gì để ca ngợi?
Bạch Thúy Sơn chưa bao giờ thất bại,
nên đòn bất ngờ này đã khiến gã choáng
váng, mặt tái đi vì hổ thẹn, ngượng ngùng
biện bác:
- Tại hạ không tin là trong thiên hạ có
người đẹp hơn cô nương!
Khi say người ta can đảm hơn lúc tỉnh,
vì vậy, trong đám thực khách có vài
người phá lên cười chế giễu Thúy Sơn.
Cây cao gió cả! Gã quá đẹp trai nên đã
khiến bọn nam nhân đồng trang lứa ganh
ghét. Thiết Kình Ngư Tào ưng sợ Hồng
Diện Tôn Giả phát tác liền đứng lên vòng
tay nói:
- Mời lão tiền bối và công tử ngồi
chung cho vui !
Bạch Thúy Sơn mừng rỡ vòng tay vái
tạ rồi quay lại kéo sư phụ ngồi xuống.
Nãy giờ Hoàng Tôn Giả chỉ tủm tỉm cười
mà chẳng nói năng gì! Cứ như là lão hài
lòng khi thấy đồ đệ bị hố vậy! Tôn Giả
xua tay cười bảo:
- Lão phu chỉ sợ chưa ăn xong bữa đã
bị con bé lợi hại kia đuổi đi! Sơn nhi có
gan thì cứ ngồi, lão phu tìm chỗ khác
vậy!
Lão xăm xăm bước đến bàn Nhương
Thư và hò i :
- Tiểu oa nhi có vui lòng đối ẩm với
già này hay không?
Nhương Thư từng nghe ân sư nhận xét
rất tốt về Hồng Diện Tôn Giả nên vội
đứng lên, cung kính đáp:
- Kính thỉnh tiền bối an tọa! Vãn sinh
ngồi một mình cũng buồn!
Bên kia, Bạch Thúy Sơn đang giả lả
chuyện trò với Tào ưng, thỉnh thoảng hỏi
Ngọc Trâm một câu. Không nghe đối
phương giới thiệu danh tính theo đúng lễ
giang hồ, gã đành phải hỏi:
- Tại hạ mạo muội muốn biết phương
danh của tiểu thư?
Ngọc Trâm cười nhạt:
- Chúng ta bèo nước gặp nhau, các hạ
cần gì phải biết danh tánh của ta?
Bạch Thúy Sơn thẹn đỏ mặt nhưng
không giận, tủm tỉm hỏi:
- Vì sao tiểu thư lại có ác cảm với tại
hạ?
Ngọc Trâm nhìn thẳng vào mắt đối
phương, chậm rãi đáp:
- Cổ nhân có câu trai tài gái sắc, nay
các hạ xinh đẹp quá mức nên sê say đắm
bản thân mình, chú trọng vẻ ngoài mà
không nỗ lực củng cố tài năng bên trong.
Thứ hai, những gã đẹp trai thường như
bướm vờn hoa, đa mang khắp chốn mà
không thể mang lại hạnh phúc cho riêng
một nữ nhân nào !
Hồng Diện Tôn Giả vỗ đùi lớn tiếng
khen ngợi:
- Thực là cao luận! Không ngờ trong
đám quần thoa lại có người sáng suốt như
thế?
Nhương Thư cũng phục sát đất và hiểu
rõ bản chất của Ngọc Trâm hơn. Nàng
kiêu kỳ, khó khăn cũng vì đám nam nhân
chung quanh chỉ là những chú gà trống
tốt mã, bất tài! Được một bậc kỳ nữ yêu
thương, Nhương Thư thầm tự hào, hãnh
diện. VÔ tình, Nhương Thư nhìn HỔ Hồng
Nhan bằng ánh mắt trìu mến, thân
thương. Hồng Diện Tôn Giả nhận ra, cười
hỏi:
- Phải chăng ngươi biết ả cọp cái ấy?
Nhương Thư hãnh diện gật đầu:
- Bẩm tiền bối! Nàng ta là HỔ Hồng
Nhan Điền Ngọc Trâm, trưởng nữ của võ
lâm Mạnh Thường Quân đất Tế Nam.
Tôn giả nhíu đôi mày bạc, dài đến nỗi
rủ xuống đôi mắt:
- Lão phu nghe đồn họ Điền có đến bốn
nữ. Thế nhan sắc của ba ả còn lại sao?
Nhương Thư cười đáp:
- Họ cũng xinh đẹp chẳng kém chị cả,
mỗi người một vẻ riêng, bản tính cũng
vậy
Hoàng lão cười tinh quái:
- Sao ngươi lại tỏ tường gia sự họ Điền
như thế?
Nhương Thư bối rối đáp:
- Vãn sinh từng làm khách ở đấy hơn
tháng!
Tôn Giả quả là người lão luyện và
minh mẫn, nhận ra ngay ẩn tình:
- Lạ thực ! Vì sao họ không nhận ra
ngươi? Và nếu có việc ấy thì ngươi cũng
phải đến chào hỏi và ngồi chung bàn
chứ?
Bao năm giữ giới trọng ngữ nên
Nhương Thư không quen nói dối, chàng
lúng túng nghĩ cách trả lời. Khi định nói
rằng mình nghèo, không đủ tiền mời
Ngọc Trâm, thì chợt nhớ tấm ngân phiếu
mà Quách Tàn Bôi đã tặng, đành thôi !
Hồng Diện Tôn Giả biết ngay gã tiểu
tử này thật thà, không giỏi giảo ngôn, liền
giáng thêm một đòn, hạ giọng mỉa mai:
- Phải chăng ngươi đã cuỗm tài sản của
Điền Gia Trang trốn đi nên không dám
gặp họ?
Nhương Thư giật mình chối bai bải:
- MÔ phật ! Làm gì có chuyện ấy?
Hồng Diện Tôn Giả quắc mắt, gằn
giọng:
- Nếu ngươi không nói thực ra thì lão
phu sê la lên đấy!
Nhương Thư nhăn nhó, ngập ngừng thú
nhận:
- Bẩm tiền bối! Vãn sinh không dám
thọ lãnh tình cảm của các tiểu thư nhà họ
Điền nên phải bỏ đi. Không ngờ Nhương
Thư lại đuổi theo!
Hoàng lão kinh ngạc hỏi lại:
- Ngươi dùng chữ "các" phải chăng
hàm ý rằng có ít nhất hai ả đã say mê
ngươi?
Nhương Thư lỡ khai, chẳng giấu giếm
làm gì . Chàng ngượng ngùng đáp :
- Dạ bẩm tiền bối ! Cả bốn chị em họ !
Rồi chàng năn nỉ:
- Vãn sinh có hoàn cảnh rất đặc biệt,
không thể kết hôn được. Kính mong tiền
bối đừng để Ngọc Trâm biết tại hạ ở đây!
Hoàng lão cười khà khà:
- Té ra ngươi chính là gã Tần Nhương
Thư đã đuổi chạy Tứ Phạn Thiên Cung,
cứu mạng lão họ Điền. Vậy là ngươi đang
hóa trang chứ gì?
Cũng may là lão nói rất nhỏ, nếu không
thì bàn bên đã nghe thấy.
Rượn thịt được dọn ra, Tôn Giả róc
rượn, bắt Nhương Thư phải uống với
mình. Nhương Thư bị nắm gáy đành
chiều ý lão già tinh quái kia. Cảnh rù rì
tương đắc của hai người đã khiến Bạch
Thúy Sơn ngạc nhiên. Gã hỏi vọng sang:
- Sao hôm nay ân sư lại hạ cố thân mật
với hàng hậu bối như thế?
Tôn Giả cười khanh khách:
- Hôm nay lão phu cao hứng phi
thường vì đã gặp chàng trai tuyệt diệu
này! Y chính là rồng phượng chốn nhân
gian, đứng đầu lớp trẻ trong võ lâm
đương đại !
Lời khen ngợi này của một bậc kỳ
nhân khó tính đã khiến mọi người kinh
ngạc, chú mục nhìn về phía Nhương Thư.
Thúy Sơn chạm tự ái, hừ nhẹ:
- Chẳng lê y còn hơn cả đồ nhi?
Tôn Giả gật đầu:
- Đúng vậy ! Y xứng đáng để ngươi
theo hầu đấy!
Thúy Sơn hậm hực nói:
- ĐỒ nhi không tin!
Tôn Giả không thèm cãi, quay lại
nghiêm nghị nói với Nhương Thư:
- Từ việc ngươi dọa khiếp được Tứ
Phạn Thiên Cung, và tiếng "mô phật" lúc
nãy, lão phu có thể đoán được ngươi
chính là đồ đệ của Phật Đăng Thượng
Nhân Có đúng thế không?
Nhương Thư vô cùng khâm phục, bên
lên gật đầu. Hoàng lão đắc y vuốt râu nói
tiếp:
- Hai mươi hai năm trước, lệnh sư đã
đến núi Thái Sơn chơi vài ngày, đem
chánh pháp ra giác ngộ lão phu. Nhờ vậy
mà bản tính của Hồng Diện Tôn Giả đã
khác xưa rất nhiều. Lão phu vẫn coi lệnh
sư là huynh trưởng, vì vậy, ngươi phải gọi
ta là sư thúc.
Nhương Thư lại gật đầu, Tôn Giả lại
đổi giọng bùi ngùi:
- Này Tần sư điệt! Lão phu năm nay đã
gần bát thập, những vết thương thời trai
tráng đã phát tác trở lại, chắc sê sớm theo
lệnh sư về chốn niết bàn. Nay lão phu xin
phó thác đứa học trò khờ dại là Bạch
Thúy Sơn cho ngươi, rồi trở về núi tu
hành. Mong hiền diệt vì mối giao tình
giữa lão phu và lệnh sư mà chiếu cố cho
Thúy Sơn. Ngươi hãy hứa bảo bọc Sơn
nhi cho đến lúc y thành gia thất! Chút
nguyện vọng này, mong hiền diệt thành
toàn cho .
Nhương Thư thầm nghĩ: "Gã họ Bạch
kia anh tuấn phi phàm, chắc sê sớm tìm
được vợ Ta lo cho gã một, hai năm cũng
chẳng sao ! " . Nhưng nghĩ đến tử nạn của
mình, Nhương Thư rụt rè đáp:
- Tiểu diệt xin tuân lệnh sư thúc.
Nhưng có điều thân mang tuyệt chứng chỉ
sống được ba bốn năm nữa, e rằng không
đồng hành với Bạch sư đệ được lâu dài !
Hoàng lão kinh hãi hỏi dồn, được
Nhương Thư kể về Quỉ Nấm. Lão bấm
tay tính toán, nhìn Nhương Thư mỉm
cười :
- Tướng ngươi thọ đến trăm tuổi, đừng
quá bận tâm vì Quỉ Nấm. Lão phu đoán
chắc ngươi sê gặp thần y, hương dược,
thoát khỏi sát kiếp!
Nghe giọng cả quyết của Tôn Giả,
Nhương Thư nhẹ cả người, cảm kích
vòng tay nói:
- Lời của sư thúc đã phá tan mây mù
trong lòng tiểu diệt! Thư này nhận lời bảo
bọc Thúy Sơn!
Hồng Diện Tôn Giả khoan khoái nhắc
lại:
- Hay lắm! Đã hứa thì phải giữ lời đấy!
Lão phu sê vì ngươi mà sang Liêu Đông
tìm thuốc.
Nói xong, Tôn Giả đứng dậy, gọi Thúy
Sơn:
- Sơn nhi lại đây!
Chàng trai mặt ngọc vội bước đến, ngơ
ngác khi nghe sư phụ nói:
- Sơn nhi ! Sư phụ đã tìm được người
dìu dắt ngươi cho đến lúc thành ơi a thất !
Từ nay, ngươi phải đi theo gã tiểu tử này!
Vừa dứt lời, Tôn giả bay vút qua lan
can lầu, lên lưng ngựa phi mau.
Thúy Sơn bỡ ngỡ gọi vang:
- Sư phụ ! Sư phụ !
Gã chán nản ngồi phịch xuống ghế,
nhìn Nhương Thư, xem thử hán tử râu
mép rậm rì này có gì hay ho mà Tôn Giả
lại chọn mặt gửi vàng. Nhương Thư hiền
hòa nói:
- Ta là... Điền Tế, hai mươi sáu tuổi.
Theo vai vế giữa hai vị sư phụ thì ta là sư
huynh của đệ!
Thúy Sơn lạnh lùng hỏi:
- Thế lệnh sư là ai?
Nhương Thư thì thầm:
- Gia sư là Phật Đăng Thượng Nhân,
mong Bạch sư đệ giữ kín giùm cho !
Đôi mắt tuyệt đẹp của Thúy Sơn sáng
rực lên, gã đã hiểu vì sao sư phụ mình
chọn gã họ Điền này. Suốt những năm
học võ với Tôn giả, Thúy Sơn luôn được
nghe lão ca tụng võ công và đức độ của
vũ nội Đệ nhất thần. Thúy Sơn nghi hoặc,
vòng tay nói:
- Được Điền sư huynh hướng dẫn trong
bước hành hiệp, tiểu đệ vô cùng vinh dự!
Trong lúc ấy, Ngọc Trâm đã âm thầm
tính tiền cùng Tào ưng rời khỏi tửu lầu.
Thúy Sơn nhìn thấy nhưng không tiễn,
chỉ mỉm cười rồi tiếp tục trò chuyện cùng
Nhương Thư.
Gã cười hăng hắc :
- Cái tên sư huynh kỳ cục quá! Điền Tế
chẳng phải là rể nhà họ Điền sao?
Quả thực gã đoán đúng. Nhương Thư
sợ gã la toáng lên, khi Ngọc Trâm còn ở
đấy, nên nói đại như thế, dẫu sao hai chữ
Điền Tế cũng đúng sự thực! Nếu thoát
chết, chàng sê không phụ lòng bốn cô gái
họ Điền!
Nhương Thư tư lự hỏi:
- Phải chăng Bạch hiền đệ đã say đắm
vị cô nương lúc nãy?
Thúy Sơn cười khanh khách:
- Làm gì có! Tiểu đệ xem nữ nhân
trong thiên hạ như tượng gỗ, gặp thì bỡn
cợt cho vui đấy thôi!
Nhương Thư thở dài:
- Tính trăng hoa của hiền đệ sê khiến
nhiều người phải khổ đấy! Sao không
thận trọng tìm cho mình một đối tượng
tốt mà gá nghĩa?
Nói hết câu chàng mới nhớ ra mình đã
dan díu với cả bốn chị em họ Điền, tư
cách đâu mà bảo Thúy Sơn? Bị chạm
nọc, Thúy Sơn đanh mặt đáp:
- Việc riêng của ta, các hạ lấy quyền gì
mà xen vào. Phải chăng vì tướng mạo
tầm thường nên các hạ đố ky ta? Không
cùng chí hướng, xin miễn đồng hành!
Gã đùng đùng nổi giận, rời khỏi tửu
lâu Nhương Thư chán nản, không ngờ
Thúy Sơn lại ngang ngạnh, nóng nảy như
vậy Chàng thầm hổ thẹn vì thất hứa với
Hồng Diện Tôn Giả, nhưng cũng đành bất
lực Nhương Thư tự nhủ:
- Gã còn thông tuệ hơn ta, lê nào không
đủ tài chống chọi với đời. Hơn nữa, với
danh tiếng của Hồng Diện Tôn Giả, làm
gì có ai dám hại hắn?
Hơi yên tâm một chút, chàng gọi tiểu
nhị tính tiền rồi rời khỏi tửu lâu.
Giữa giờ mùi, Nhương Thư có mặt
trước cổng Chính Khí Trang. Cơ ngơi của
gióng họ Lã nằm trên đỉnh một ngọn đồi,
được che mát bởi những cây bách già
nua, cao vút và xúm xuê.
Bách là loài cây thân gỗ, cao đến gần
mười trượng, thường xuyên xanh thắm,
không trụi lá vào dịp thu động. Bách chứ
nhựa và sầu thơm phong phú, chất gỗ
cứng rắn, mịn phẳng, vân đẹp.
Họ Bách gồm nhiều loài như: Bách
Mộc, Biển Bách, Bách Gai, Hồng hội,
Bách Thơm....
Nhương Thư nhận ra rằng Chính Khí
Trang cũng trồng loài Bách Thơm như
chùa Phật Quang của chàng.
Sườn đồi thoai thoải, nên ky sĩ có thể
thúc ngựa đi lên. Cổng chính của trang
mở về hướng nam bằng đá núi, có dịch
lâu lợp ngói lưu ly xanh. Bức tường kiên
cố, cao đến hai trượng kia chắc là mới
được xây, cùng với tấm bảng son mang
ba chữ thiếp vàng chói lọi: Chính Khí
Trang. Mé tả đại môn có chiếc bàn gỗ
hình chữ nhật. Đấy là nơi khách đến ghi
danh, khai báo lai lịch. Nhương Thư
xuống ngựa, bước đến nói với lão già áo
đen ngồi sau bàn:
- Tại hạ Điền Tế, hai mươi sáu tuổi,
quê đất Sơn Tây!
Hắc y lão nhân lạnh lùng hỏi:
- Danh hiệu trên giang hồ là gì?
- Quỉ Tâm Kiếm!
Lão nhân nhếch mép cười nhạo, vì
chưa hề nghe danh hiệu này bao giờ!
Nhương Thư không cần gã xem trọng,
chỉ tự an ủi rằng mình đã không phạm
giới, chàng đúng là một trang kiếm có cái
tâm của quỷ dữ!
Một tên gia đinh áo xanh chỉ cho chàng
đường đến khu chuồng ngựa, Nhương
Thư thả ngựa xong, đủng đỉnh tiến vào
trong.
Lã Gia Trang chiếm một diện tích hàng
chục mẫu, khu trưng tâm là một đại lâu
hai tầng, với sân gạch rộng mênh mông ở
phía trước. Giờ đây, chậu kiểng trên sân
đã được dọn dẹp, giành chỗ cho bày mấy
trăm chiếc bàn đón tiếp quần hùng.
Sáng mốt mới là ngày khai đàn nên
lượng khách chỉ độ gần ngàn, đa số là đệ
tử các phái Bạch đạo, hoặc những người
tự nhận mình là chính phái !
Nhìn thấy Bạch Thúy Sơn ngồi một
mình, Nhương Thư mừng rõ bước đến,
tươi cười:
- Bạch hiền đệ! Ngu huynh có lỡ lời thì
mong hiền đệ tha lỗi!
Thúy Sơn làm mặt lạ, tỉnh bơ nói:
- Các hạ đừng thấy người sang bắt
quàng làm họ! Ta và các hạ có liên quan
gì mà xưng huynh gọi đệ?
chắc họ Bạch đã tự giới thiệu mình là
học trò chân truyền của Hồng Diện Tôn
Giả, nên được nhiều người xu phụ.
Những kẻ ấy cười rộ lên, mỉa mai:
- Thôi biến đi. Tướng mạo như ngươi
mà đòi làm huynh đệ với bậc quí nhân
như Bạch công tử sao?
Nhương Thư thẹn chín người nhưng
không nổi giận. Dường như chàng chỉ bị
khích động trước những gì liên quan đến
quá khứ mà thôi, còn dẫu có ai nhục mạ
cũng chẳng khiến chàng động tâm.
Nhương Thư phân vân, không biết có
nên níu kéo gã em trời ơi đất hỡi kia nữa
hay thôi?
Thúy Sơn cười nhạt:
- Ta đã nói đến thế mà các hạ cũng
chưa hiểu sao? Các hạ không xứng để
ngồi chung bàn với Bạch mỗ !
Mọi người chú mục nhìn, tưởng rằng
một kẻ mang gươm sê không bao giờ
chịu nhục, tất phải có đánh nhau.
Nhưng một giọng thánh thót vang lên:
- Trên đời này, có những kẻ mà cả
Khổng Phu Tử cũng chịu thua, không dạy
nổi! Túc hạ chớ phí lời nữa, hãy đến đây
để tiểu muội được hầu chuyện.
Người nói chính là HỔ Hồng Nhan
Điền Ngọc Trâm, kẻ được hâm mộ hơn
hẳn học trò của Hồng Diện Tôn Giả. Ai
chẳng nghĩ đến lúc mình du ngoạn Tế
Nam, vào làm khách của Điền Gia
Trang? Thế nên quần hùng sửng sốt khi
thấy Nhương Thư xem trọng gã râu rậm
vô danh kia!
Nhương Thư không thể tránh né, đành
bước đến, ngượng ngùng ngồi xuống.
Chàng chưa kịp nói gì thì Ngọc Trâm đã
kéo ghế sát vào, bùi ngùi nói:
- Chẳng lê Tần đại ca không muốn
nhìn mặt tiểu muội hay sao?
Nhương Thư bàng hoàng, chẳng ngờ
mình bị lộ quá dễ dàng! Chàng đáp:
- Ngu ca rất cảm kích mối chân tình
của hiền muội, nhưng thân này sống chết
chưa rõ , đâu dám . . .
Nhương Thư đỏ mặt trách:
- Té ra đại ca đã nghe lén cuộc nói
chuyện của tiểu muội với Tào ưng đó à?
Nhương Thư gật đầu, nhìn nàng âu
yếm rồi hỏi lại:
- Vì sao Trâm muội nhận ra ta?
HỔ Hồng Nhan cười khúc khích:
- Thanh kiếm của Tứ muội thì ai còn lạ
gì?
Nhương Thư nhớ ra, cười thầm sự bất
cẩn của mình. Chàng tủm tỉm hỏi:
- Thúy Sơn anh tuấn như tiên đồng, sao
Trâm muội lại lạnh nhạt với gã?
HỔ Hồng Nhan trợn mắt, cắm năm
móng tay nhọn vào sườn Nhương Thư
trách móc:
- Đại ca đã nghe hết mà còn trêu ghẹo
tiểu muội nữa sao?
Nhương Thư co rúm người, than thở:
- Nàng thật xứng danh HỔ Hồng Nhan,
ta đành bỏ chạy thôi !
Ngọc Trâm cười khanh khách, túm
chặt áo chàng :
- Tiểu muội đã bắt được cừu non tất
chẳng bao giờ chịu buông tha!
Thái độ thân mật này khiến mọi người
sửng sốt, kể cả gã Tào ưng vừa đi tiểu
tiện vào đến. Gã ngồi xuống, nhìn chàng
thật kỹ rồi vỗ trán bật thốt:
- Ta đúng là có mắt như mù!
Nhương Thư vội ra hiệu, bảo gã chớ
tiết lộ rồi hạ giọng dặn dò, Tào ưng vô
cùng ngưỡng mộ Nhương Thư nên gật
đầu lia lịa, miệng cười toe toét!
Bạch Thúy Sơn nhìn thấy hết, cau mày
suy nghĩ: "Phải chăng Điền Tế chẳng
phải là kẻ tầm thường như dung mạo bên
ngoài?".
Thúy Sơn được Hồng Diện Tôn Giả
cho ăn mười viên Thiên Niên Tuyết Linh
Chi nên giờ đây sở hữu đến ba mươi năm
chân khí, tự coi mình là đệ nhất cao thủ
trong hàng hậu bối. Chính vì vậy, gã
không tin rằng đệ tử của Phật Đăng
Thượng Nhân lại hơn được mình. Dù
Điền Tế luyện võ từ năm bốn tuổi thì
công lực cũng không bằng gã!
Thúy Sơn đã hiểu Điền Tế hóa trang
nên lúc đầu Ngọc Trâm và Tào ưng
không nhận ra. Tuy nhiên, mặt thực của
chàng chắc cũng tàm tạm vậy thôi !
Gã biết Ngọc Trâm không chuộng hình
thức tất sê coi trọng võ công. Vậy thì phải
chăng gã Điền Tế kia bản lãnh quán thế
nên nàng mới xem thường đồ đệ của
Hồng Diện Tôn Giả?
Thúy Sơn mãi trầm ngâm nên không
để ý có người tiến đến từ mé tả.
Có ai đó lo sợ cho Thúy Sơn thét lên
cảnh báo:
- Hạt Nhãn Thần Ma !
Thúy Sơn bừng tỉnh quay sang nhìn,
nhận ra kẻ tử thù của Hồng Diện Tôn Giả.
Cả võ lâm đều biết việc Hoàng lão đánh
trọng thương Thần Ma hồi tám năm
trước
Thúy Sơn rùng mình trước ánh mắt
lạnh lẽo tà mị bắn ra từ đôi mắt hí, như
hai sợi chỉ của lão áo trắng cao gầy kia.
Việc Thần Ma có mặt nơi này là điều
không ai ngờ! Chính Hoàng Tôn Giả đã
dặn dò đồ đệ đừng bao giờ vác mặt đến
miền Tây Bắc!
Thúy Sơn kinh hãi rời chỗ, đặt tay vào
chuôi kiếm phòng bị. Hạt Nhãn Thần Ma
Mộc Đức mỉm cười ghê rợn:
- Lão quỉ già Hoàng Duy Do đâu mà để
ngươi đến đây một mình?
Thúy Sơn run giọng:
- Ai a sư . . . cũng sắp . . . đến rồ i !
Mộc lão quỉ gật gù:
- Hay lắm! Để bần đạo bẻ gãy hai tay
ngươi trước rồi chờ lão tặc đến cũng vừa.
- Lão dám loạn động ở chốn này sao?
Hạt Nhãn Thần Ma ngửa cổ cười dài:
- Chẳng ai bênh vực ngươi đâu. Bần
đạo được mời đến đây để giữ chức quân
sư Chính Khí Trang đấy !
Câu này khiến toàn trường ngỡ ngàng,
vì Thần Ma chẳng được xem là người tốt,
sao lại có thể thành quân sư của Chính
Khí Trang, tổ chức tượng trưng cho tinh
thần nghĩa hiệp? Tuy không có chứng cớ
cụ thể nhưng võ lâm vẫn có lời đồn Hạt
Nhãn Thần Ma hàng tháng đều hút máu
một đồng nam! Do lão hành động cẩn
mật nên chưa bao giờ bị bắt quả tang hay
để lại dấu vết.
Phật Đăng Thượng Nhân đã tìm đến
Lan Châu cảnh cáo Thần Ma, song lão
chối bai bải, không hề nhận tội.
Hồng Diện Tôn Giả chẳng cần lý lê
hay bằng cớ, tình cờ gặp là đánh ngay.
Mộc lão quỉ bị đấm một quyền hộc máu
nhưng đã nhanh chân đào tẩu.
Giờ đây, Bạch Thúy Sơn phải gánh
chịu mối hận thù ấy, tình mạng khó bảo
toàn Trong đám quần hùng đã có người
lên tiếng mỉa mai họ Bạch:
- Sao Bạch công tử lại run như cầy sấy
thế kia? Thật nhục nhả cho Hồng Diện
Tôn Giả! Lúc nãy công tử oai phong lắm
mà?
Thế là ccó mấy trăm người cười rộ,
chế giễu Thúy Sơn. Nếu lúc nãy gã tỏ ra
khiêm tốn, không ỷ thế sư phụ thì giờ đây
đã được người ta thương xót! Đấy là bài
học cho những kê hợm hĩnh, cao ngạo!
Thúy Sơn vô cùng hỗ thẹn nhưng tứ
chi rũ liệt, lòng chàng chẳng còn chút
dũng khí nào trước ánh mắt tà quái của
Thần Ma.
Nước mắt gã trào ra như trẻ thơ bị đứa
lớn bức hiếp vậy! Gã sực nhớ đến Điền
Tế liền lấy can đảm, nói với Mộc lão quỉ:
- Ta mới học võ nên không địch lại lão.
Hãy chờ ta mời sư huynh ra đối phó !
Cả Thần Ma lẫn quần hùng đều ngạc
nhiên khi thấy Thúy Sơn chạy đến bàn
Ngọc Trâm, nhăn nhó vái lạy Điền Tế:
- sư huynh! Tiểu đệ không chống nổi
cặp mắt quỉ của Thần Ma, mất cả đởm
lược, xin sư huynh vì thanh danh của gia
sư mà xuất thủ cho !
Tào ưng nóng mặt quát:
- Ngươi còn khiếp nhược hơn cả đàn
bà nữa! Nhục ơi là nhục!
Nhưng Ngọc Trâm đã nói:
- Đúng là ánh mắt Thần Ma rất đáng
sợ Tiểu muội ngồi xa mà cũng rợn tóc
gáy, tim đập thình thịch!
Lúc này Mộc lão quỉ đang hiếu kỳ nhìn
về phía Ngọc Trâm nên nàng mới nhận ra
tác dụng của Quỉ Nhãn.
Nhương Thư thấy Thúy Sơn thực sự
khiếp sợ, tay chân run lẩy bẩy, hiểu rằng
chẳng phải gã bày trò đẩy mình chết thay.
Chàng trầm giọng bảo:
- Bạch hiền đệ yên tâm! Ngu huynh sê
đỡ đòn giùm ngươi !
Ngọc Trâm lo lắng hỏi:
- Liệu đại ca có địch lại lão Quỉ ấy
không?
Nhương Thư mỉm cười:
- Nếu thua ta sê bỏ chạy! Nàng hãy
chuẩn b ì nhé !
Chàng liền trao tay nải cho Ngọc
Trâm, rút kiếm tiến về mộc đài, nhảy lên
đứng chờ. Phong thái ung dung không
chút sợ hãi của chàng khiến quần hùng
thán phục, vỗ tay hoan hô vang dội. Họ
vốn chẳng ưa gì lão già mắt hí, hút máu
trẻ em kia.
Mộc Đức Nhuận cũng rút thanh bảo
đao có kích thước hơi khác với đao
thường, nó mỏng và nhỏ bản hơn.
Hạt Nhãn Thần Ma là đại hành gia
trong nghề khoái đao, lại có bàn tay tả
cứng như thép hỗ trợ, nên càng bội phần
đáng sợ.
Mộc lão quỉ thấy đối phương chỉ độ hai
mươi mấy, lòng rất khinh thường. Lão
cướp tinh thần gã trẻ tuổi bằng cách biểu
diện khinh công tuyệt thế. Thân hình họ
Mộc bốc lên không trưng, hai ống tay áo
đạo sĩ rộng thùng thình phồng lên, xòe ra,
giúp lão là đà bay chếch về phía mộc đài,
tư thế đẹp tựa tiên nhân giáng phàm.
Thần Ma chưa kịp thưởng thức tràng
vỗ tay tán thưởng của quần hùng thì phát
hiện đối thủ đã hóa thành kiếm quang đầy
những lưỡi lửa lung linh bay vút đến.
Lúc này, hai bàn chân Mộc lão quỉ còn
cách sàn mộc đài hai ba gang. nghĩa là
lão không điểm tựa để di chuyển, chỉ còn
cách tiếp tục hạ xuống và múa đao chống
đỡ
Nhương Thư đã tính toán rất kỷ, chọn
đúng thời điểm tối ưu mà dùng phép Ngự
Kiếm, đánh chiêu Phật Hỏa Chiếu U
Minh! Chàng biết công lực mình thua xa
đối phương, phải giành được thượng
phong ngay chiêu đầu mới mong thắng
được
Khi song phương chạm mặt nhau, đạo
kiếm quang của hòa thượng đột nhiên
sáng rực lên và kẻ địch của chàng nhận ra
hàng trăm kiếm ảnh hư hư thực thực, uy
hiếp toàn thân, chẳng chừa một chỗ nào.
Thần Ma kinh hãi, cắn răng vũ lộng
bảo đao, dệt lưới quanh thân, tả thủ
dương trào hộ vệ tâm thất.
Tuy lão có tu vi thâm hậu hơn, song
vừa tiếp đất, tấn không vững nên sau mấy
chục tiếng thép chát tai, lão bị đẩy lùi và
đao quang lộ sơ hở.
Mũi kiếm của Nhương Thư như có
mắt, len qua một khe hẹp ấy, không nhắm
vào ngực mà lại đâm thủng vai trái của
Thần Ma. Chàng hiểu rằng bàn tay thép
của lão bảo vệ tâm thất rất chu đáo, rất
khó xâm nhập nên mới chọn bả vai.
Nhát kiếm này đã biểu lộ được thiên
bẩm võ học của Nhương Thư, chàng luôn
tùy thời mà biến hóa, không lệ thuộc vào
chiêu thức gốc.
Hạt Nhãn Thần Ma đau đớn rú lên,
nhẩy lùi để tránh chiêu kế tiếp của đối
thủ. Mộc đài dài độ ba trượng, chỗ Thần
Ma đứng chỉ cách mép đài non trượng
nên lão lọt ngay xuống dưới, thoát khỏi
sự truy kích.
Thần Ma đứng sau chiếc bàn trống,
điểm huyệt chỉ huyết, ngoác miệng chửi:
- Mả mẹ ngươi ! B ẩn đạo sê phân thây
đồ đánh lén!
Lão không biết mình đã chạm vào điều
đại ky khi xúc phạm đến mẫu thân
Nhương Thư.
Trước mắt chàng lập tức hiện ra cảnh
một mỹ nhân trưng niên, thân xác lõa lồ,
cỗ họng bị cắt đứt, máu me vương vải
cùng những mảnh tăng bào rách nát.
Cơn thịnh nộ xâm chiếm tâm hồn
Nhương Thư, biến chàng thành ác quỉ,
Nhương Thư gầm lên man rợ, từ trên đài
bay xuống vị trí của Thần Ma.
Lão vung cước đá chiếc bàn gỗ để chặn
đường Nhương Thư rồi nương theo đấy
mà tấn công bằng một chiêu cực hiểm.
cơn giận đưa Nhương Thư vào trạng
thái say máu, thèm khát giết chóc, nhưng
lại không hề làm chàng mất cảnh giác
hoặc sơ suất.
Bản lãnh chàng vẫn thế, khả năng biến
hóa cũng vậy, chỉ có điều Nhương Thư
điều khiển thanh kiếm bằng trái tim ác
thú, lạnh lùng và tàn ác.
Nhương Thư mất đi nhân tính thì lại
càng xảo quyệt hơn bình thường. Chàng
chẳng dại dột va chạm với chiếc bàn gỗ
quý, cứng rắn, mà dùng mũi kiếm điểm
vào cạnh bàn, mượn sức bay chếch sang
Nhương Thư hạ thân xuống chiếc bàn
khác, nhún chân tung mình đuổi theo
Thần Ma. Lão ta đã theo chiếc bàn kia
nhẩy trở lại mộc đài, đổi vị trí với
Nhương Thư. Thần Ma lùi sát mé tây đài
tranh thủ nuốt vài viên linh đan màu đỏ
tươi, chờ đợi đối thủ.
Nhương Thư lên đến sàn đài, thấy lão
ma lướt về phía mình bằng một bộ pháp
quanh co, liền bỏ ý định thi triển Ngự
Kiếm, xông đến tấn công bằng kiếm
thuật .
Dường như mấy viên thuốc kia đã làm
tăng công lực Thần Ma nên nhãn quang
lão chói lọi hơn trước. Song lão chợt chột
dạ khi nhận ra ánh mắt đối thủ còn đáng
sợ hơn bội phần.
Nhương Thư nhếch mép cười độc ác,
liên tiếp tung ra những chiêu kiếm ảo
diệu tuyệt luân, lăm le lấy mạng Mộc
Đức Nhuận
Hạt Nhãn Thần Ma đã nhận ra Phật
Đăng kiếp pháp, rùng mình sợ hãi, nhưng
thanh danh mấy chục năm không cho lão
bỏ cuộc. Hơn nữa, lão tin vào đao pháp
và nội lực thâm hậu của mình. Ba viên
Huyết Đan kia là tinh chất của máu và
tủy xương đồng nam, có tác dụng trị
thương và bồi bổ công lực rất thần hiệu.
Chính vì vậy mà lão không ngán Hồng
Diện Tôn Giả.
Quả đúng như thế, đao của lão loang
loáng dưới nắng chiều, không chỉ đẹp
mắt mà còn mãnh liệt tựa sóng Hoàng
Hà, lớp lớp xô nhau công phá màn kiếm
quang của gã tiểu tử đáng ghét.
Nhương Thư chẳng hề nao núng,
trường kiếm đảo lộn, tốc độ như sao
băng, mỗi cái vung tay đã vê lên hàng
trăm lưỡi lửa xanh, chống đỡ kiên cường
và phản công quyết liệt.
Quần hùng nín thở, say mê theo dõi
cuộc chiến hấp dẫn, thỉnh thoảng Oà lên
khi một đấu thủ thoát chết trong gang tấc.
Dĩ nhiên lòng họ ủng hộ Nhương Thư
vì chàng còn quá trẻ so với lão đạo sĩ ác
độc kia.
Ngọc Trâm lo sợ cho tình quân, nước
mắt chảy dài trên gò má mịn màng,
miệng niệm phật liên hồi.
Hai khắc sau, nàng rú lên thất thanh
khi thấy Nhương Thư trứng một đao vào
tay trái. Nhưng Tào ưng lại hể hả nói:
- Lão cẩu tặc họ Mộc còn dính một
kiếm nặng hơn. Thực là thống khoái.
Nhưng trận đấu ngày càng khốc liệt
hon, song phương quấn quít lấy nhau, tan
hợp trong chớp mắt và máu của họ hóa
thành sương bay mịt mù đấu trường. Tốc
độ đổi đòn nhanh đến nỗi người ngoài
không thể biết ai trứng thương nhiều hơn
ai.
Thực ra, Nhương Thư đã vướng đến
sáu nhát đao, tuy không trí mạng nhưng
máu tuôn như suối. Thần Ma trứng tám
kiếm song sức lực vẫn dồi dào hơn chàng.
vì vậy Nhương Thư phải sớm kết thúc
cuộc chiến, trước khi kiệt lực. Chàng
nhẫn nại rình cơ hội vì chỉ có thể đắc thủ
với yếu tố bất ngờ.
Chợt có tiếng quát vang như sấm:
- Dừng... tay!
Công phu Sư Tử Hống của Thiếu Lâm
thật danh bất hư truyền, Hạt Nhãn Thần
Ma bị chấn động. Nhưng Nhương Thư thì
không! Chàng luyện thần công phật môn
Nhiên Đăng tâm pháp đến lớp thứ bảy,
núi sập trước mặt cũng chẳng động tâm.
Do vậy, Nhương Thư lập tức nhận ra sơ
hở của Thần Ma, thọc kiếm đâm thủng
sườn phải của lão.
Gan bị tổn thương nặng, Mộc lão quỉ
đau dớn rú lên, rồi lặng im vì yết hầu đã
bị nhát kiếm thứ hai tiện đứt.
Thầunma ngã vật xuống sàn đài, hai
tay cào cấu lồng ngực vì máu tràn vào khí
quản, bít kín hơi thở. CỈ lát sau, lão chầu
trời
Quần hùng vỗ tay nhẩy nhót, reo mừng
hoan hô Nhương Thư quá cỡ. Tào ưng
ngứa miệng hét lên:
- Hoan hô Tần công tử!
Thế là mọi người hô theo dù không
chắc kẻ chiến thắng kia có ở họ Tần
không? Ngọc Trâm và Thúy Sơn đã sớm
nhẩy lên mộc đài, vừa khóc vừa cởi áo
Nhương Thư để xem xét vết thương.
Tiếng khóc bi thiết của họ đã làm
Nhương Thư thoát khỏi tâm trạng quỉ
ám ! Chàng rùng mình ngơ ngác một lúc,
rồi mỉm cười:
- Sơn đệ là đàn ông mà cũng khóc
nhiều như thế ư?
Thúy Sơn giật mình, đưa tay áo lau lệ
rồi cắm cúi làm tiếp. Lúc này, Chính Khí
Trang chủ Lã Tập Hiền và năm vị chưởng
môn các phái Thiếu Lâm, Võ Đang, Hoa
Sơn, Nga Mi, Cái Bang đã lên đến trên
đài Lã Tập Hiền thở dài trước tử trạng
của Hạt Nhãn Thần Ma rồi cau mày trách
Nhương Thư:
- Khánh Hỉ đại sư đã bảo dừng tay sao
ngươi không nghe, lại cố tình giết chết
Mộc tiền bối?
Ngọc Trâm nổi tam bành, dựng ngược
đôi mày liễu cãi ngang:
- Kẻ đại ác như Hạt Nhãn Thần Ma có
chết thì thiên hạ ăn mừng! Còn như lão
muốn ngăn cản xung đột sao không xuất
hiện từ sớm?
Dưới này, Thiết Kình Ngư xách động
quần hùng:
- Thần Ma chết là đáng tội! Điền tiểu
thư nói rất phải !
Tất nhiên, quần hùng đều bênh vực mỹ
nhân, đồng thanh tán thành. Bạch Thúy
Sơn đã lấy lại phong thái hiên ngang,
cười nhạt bảo :
- Vì sao Lã trang chủ lại mời một kẻ
hút máu trẻ em về làm quân sư của Chính
Khí Trang? Tại hạ bắt đầu nghi ngờ đức
độ và mục tiêu của trang chủ rồi đấy!
Gã vận công mà nói nên ai cũng nghe
thấy, xôn xao chê bai Lã Tập Hiền.
Họ Lã lạnh lùng đáp:
- Dĩ độc công độc là kế sách của bậc
đại trí, bọn ấu trĩ như ngươi làm sao hiểu
nổi?
Thúy Sơn móc bình kim sang trao cho
Ngọc Trâm rồi ngửa cổ cười khanh
khách:
- Khiếp nhược như lão mà dám xưng là
đại trí thì thực nực cười! Tứ Phạn Thiên
Cung là cái quái gì mà phải khiến bậc
quân tử quy lụy bọn tà ma? Lão đã từng
nghe có người đuổi chạy sứ giả của Tứ
Phạn Thiên Cung ở Tế Nam hay chưa?
Lã Tập Hiền bị chửi, song cố nhẫn nhịn
ra vẻ cao cả hỏi lại:
- Chẳng lê bậc anh hùng ấy chính là
ngươi?
Nhương Thư vội cướp lời:
- S ơn đệ ! Chúng ta đi thô i ! Ngu huynh
kiệt sức rồi!
Nói xong, chàng lảo đảo, Thúy Sơn
hoảng hồn vội đỡ lấy, dìu đi.
Ngọc Trâm càu nhàu:
- BỘ ngươi không bồng nổi Tần đại ca
hay sao?
Thúy Sơn đảo mắt lia lịa, cúi người ẵm
Nhương Thư, nhảy xuống đất. Khánh Hỉ
đại sư nhìn theo hỏi các chưởng môn kia:
- vị Tần thí chủ ấy là ai mà mới quá
hai mươi đã đủ sức giết được họ Mộc
nhỉ? Lão nạp nhận ra y không bị ảnh
hưởng bởi công phu Sư Tử Hống, và còn
lợi dụng cơ hội đó mà hạ thủ. Nếu y sa
vào tà đạo thì sê thành đại họa của võ
lâm.
Bang chủ Cái bang VÔ ưu Cái Hầu MỘ
Thiên cười đáp :
- Y chính là người được giao sứ mạng
sát ma, khai trương sự nghiệp bằng cách
lấy mạng lão ác quỉ họ Mộc này! Ba năm
nữa y sê quét sạch rác vẩn trong võ lâm,
chẳng cần Chính Khí Trang hay Chính
Nghĩa Hội cũng thành công!
Lã Tập Hiền tái mặt:
- sao Hầu bang chủ lại dám đoan chắc
như thế?
Chưởng môn Võ Đang Triều Châu
Chân Nhân cũng hò i :
- Vị Tần thí chủ kia xuất thân thế nào?
VÔ ưu Cái đắc ý cười vang:
- Lão mũi trâu quả là kém mắt nên
không nhận ra Phật Đăng Kiếm Pháp,
đáng b ì phạt mười vò rượn !
Chân nhân hân hoan nói:
- Nếu Phật Đăng Thượng Nhân có
truyền nhân xuất sắc như vậy là đại phúc
cho võ lâm !
Lã Tập Hiền cười nhạt:
- Gã bị thương dưới tay Hạt Nhãn Thần
Quân thì làm sao địch lại Thanh Linh
Thủy Lão và Kim Mâu?
VÔ ưu Cái phang ngay một câu:
- Vậy phải chăng Lã trang chủ tự tin
mình thắng nổi?
Lã Tập Hiền cao ngạo đáp:
- Một chọi một thì tại hạ không sợ bất
cứ ai !


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi 4
An Dương Lã Thị Mưu Chung Đinh
Chính Khí Khai Trang Huyết Mãn
Môn
Sáng ngày mười tháng chín, lễ khai
đàn của Chính Khí Trang được cử hành.
Quần hùng đến tham dự đông đến gần ba
ngàn, sẽ nuốt của nhà họ Lã hơn vạn bạc
rượn thịt
Nhưng nhờ có mâm cỗ đầy mà không
khí vui vẻ và náo nhiệt phi thường. Tuy
nhiên, mới chỉ có trà, rượn và lạc rang
được dọn ra.
Bọn Ngọc Trâm cũng có mặt. Nàng ríu
rít nắm tay gã thư sinh mày thanh mắt
sáng, dung mạo đoan chính, đôn hậu, hai
vành tai lớn và dầy như tai phật.
Quần hùng thầm chê HỔ Hồng Nhan đa
tình, lãng mạn vì không thể ngờ rằng gã
thư sinh áo xanh kia lại chính là kẻ bị thọ
thương gần chết hai hôm trước.
Bạch Thúy Sơn đã tạ lỗi bằng cách
đem hết linh đan diệu dược ra chữa trị
cho Nhương Thư. Nhưng chủ yếu vì
thương tích không sâu, trong máu chàng
lại có dược chất của Quỉ Nấm, nên
Nhương Thư bình phục mau chóng đến
không tưởng.
Sáu vết thương đã liền miệng, được
băng chặt bằng vải sạch, nhìn bề ngoài
không ai có thể phát hiện!
HỔ Hồng Nhan đã thôi chán ghét Thúy
Sơn vì gã khôn ngoan gọi Nhương Thư là
đại ca, còn nàng là đại tẩu.
Nhương Thư không phản đối, chỉ cười
bảo:
- Đúng là lưỡi ngươi không có xương,
lúc đầu thì tán tỉnh, sau nhận là chị dâu!
Thúy Sơn cười khúc khích:
- Tiểu đệ không thể sánh với đại ca,
đành chịu thua mà tìm mối khác vậy!
Thiết Kình Ngư Tào ưng thì lại cảnh
giác, nghĩ thầm:
"Họ Bạch quá đẹp trai, không hiểu kề
cận lâu ngày, có cô ả nào xiêu lòng phản
bội Tần công tử hay không đây? Lòng dạ
mỹ nhân như biển khôn dò, tốt nhất là
đừng để họ có cơ hội sa ngã! Ta phải
cảnh tỉnh Nhương Thư mới được ! "
Từ lúc ấy, gã luôn để ý theo dõi thái độ
của Thúy Sơn.
Nhắc lại, bốn người ung dung tiến đến
dãy bàn mộc dài, vì bối phận Hồng Diện
Tôn Giả rất cao, Bạch Thúy Sơn có
quyền ngồi ngang hàng với các bọn trưng
niên. Đấy là chưa kể đến vai vế của
Nhương Thư, vì các chưởng môn đều
phải gọi Phật Đăng Thượng Nhân là sư
Nhãn quan của VÔ ưu Cái quả là đáng
sợ Lão nhìn Nhương Thư một lúc đã
nhận ra, nháy mắt với chàng. Nhương
Thư nhớ lại Phật Đăng Thượng Nhân
từng đưa chàng đến thăm lão ăn mày hay
cười kia. Dù năm ấy chàng mới mười hai,
song với lý ức phi thường của VÔ ưu Cái,
lão dễ dàng đoán ra chàng!
Nhương Thư khẽ cúi đầu đáp lễ và vận
c ông truyền âm :
- Tiểu đệ Tần Nhương Thư xin bái kiến
Hầu lão ca!
VÔ ưu Cái đáp ngay:
- Hiền đệ có đủ sức thượng đài hay
không? Lão phu e rằng Lã Tập Hiền đang
mưu đồ cưỡng đoạt ngôi vị minh chủ võ
lâm đấy! Lão phu rất nghi ngờ nhân phẩm
của họ Lã, không thể để y nắm cổ võ lâm
được !
Nhương Thư từng nghe sư phụ tán
dương cơ trí và nhiệt huyết vì chính
nghĩa của VÔ ưu Cái, nên khẳng khái
đáp:
- Nếu lão ca tìm được cách ấn định
thắng bại trong chỉ một chiêu thì tiểu đệ
tự tin có thể chém rách áo bất cứ ai !
VÔ ưu Cái mừng rỡ:
- Thế thì lão phu rất an tâm ! Khi ta ho
ra hiệu thì ngươi lên ngay nhé !
Nhương Thư kể cho bọn Ngọc Trâm
nghe, bảo họ hộ vệ cho chàng vận khí, cố
phục hồi thêm công lực để phá vỡ âm
mưu của Lã Tập Hiền!
Ngọc Trâm phụng phịu:
- Đại ca đang thọ thương, hà tất phải
quan tâm đến chuyện võ lâm làm gì?
Nàng quay sang bảo Thúy Sơn:
- Nay Bạch hiền đệ dửng ra gánh vác
giùm đại ca chuyện này đi !
Thúy Sơn lúng túng đáp! Tiểu đệ
chẳng dám từ chối nhưng chỉ sợ thua
thôi! Sơn này chỉ có ba mươi năm công
lực nhưng kiếm pháp không bằng một
nửa đại ca!
Gã áy náy móc một lọ sành, đổ ra viên
thuốc duy nhất có màu trắng như tuyết,
thơm phưng phức, đưa cho Nhương Thư.
- Đại ca! Viên Thiên Niên Tuyết Linh
Chi này sẽ giúp đại ca khôi phục ngay
mười thành c ông lực !
Ngọc Trâm nguýt gã:
- Sao hôm trước ngươi chẳng chịu đem
ra? Ngươi tiếc lắm phải không?
Thúy Sơn biện bạch:
- Thuốc quý khó tìm, chỉ dùng trong
trường hợp nguy cấp! Mong đại tẩu chớ
hiểu lầm tiểu đệ!
Ngọc Trâm hài lòng với lời giải thích,
nhét thuốc vào miệng Nhương Thư.
Chàng nhai thật kỹ, chiêu một ngụm rượn
rồi vận khí.
Không ai phát hiện ra vì mắt Nhương
Thư vẫn mở trừng trừng, môi điểm nụ
cười Còn Ngọc Trâm và Thúy Sơn ngồi
sát lại, kẹp hai bên, thò đầu chuyện trò,
phe phẩy quạt xếp.
Tào ưng thì ngồi nghiêng, giám sát
hậu tâm Nhương Thư.
Giữa giờ thìn, cuộc lễ khai mạc. Người
xuất hiện đầu tiên chính là lão già áo đen
ghi danh sách trước cổng. Lão tự giới
thiệu mình là Bành Đạo Nha, giữ chức
đại tổng quản Chính Khí Trang.
Cái tên này gợi cho quần hùng nhớ đến
một nhân vật có hành vi mờ ám ở vùng
phía bắc Cam Châu, danh hiệu Hắc Lang.
Thương lái di buôn qua lối Ngọc Môn
Quan đã mang về Trung Thổ lời đồn rằng
Hắc Lang dâm ác tuyệt luân, song lời đồn
chẳng phải là chứng cớ nên không ai dám
lên tiếng vạch mặt họ Bành.
Trước tiên, Bành tổng quản đọc danh
sách những bang hội tham gia, những nhà
quan thế trong võ lâm đã cử đại biểu dện
đây
Tổng cộng có đến gần trăm phái lớn
nhỏ, đủ tư cách đại diện cho võ lâm!
Nghe nói, Lã gia trang đã cho người lặn
lội hàng ngàn dặm, mang thiếp và lễ vật
hậu hĩnh đến tận nơi mời mọc, khiến các
phái không thể không đi.
Sau đó, Bành Đạo Nha giới thiệu các
nhân vật đầu não của Chính Khí Trang,
gồm năm chức danh: Trang chủ, phó
trang chủ, quân sư, đại tổng quản, chưởng
kỳ sứ.
Trang chủ dĩ nhiên là Lã Tập Hiền, Phó
trang chủ là một nữ nhân tuổi ba mươi,
tên gọi Bạch Ngọc Tiên Tử Lâm Đại
Ngọc, đồ đệ của vũ nội đệ tam thần Địch
Thánh Dư Minh Thiền!
Ngọc Trâm hừ lên bực bội, nhìn nữ
nhân có thân hình nảy lửa kia với cặp mắt
đố ky. Không phải vì Đại Ngọc đẹp hơn
nàng, mà bởi Bạch Ngọc chính là cái tên
khác của loài hoa Ngọc Trâm!
Bạch Ngọc Tiên Tử không có ác tính,
là học trò của bậc kỳ nhân, lại kiều diễm,
quyến rũ nên được quần hùng ái mộ, vỗ
tay hoan hô ầm ý!
Hạt Nhân Thần Ma đã chết nên chức
vụ quân sư dành cho Ngọa Long Tú Sĩ LÔ
Đăng Hân ở núi Cổ Gia Công, ngoại
thành Trường Sa đất Hồ Nam.
Họ LỖ đang tuổi sáu mươi, nổi tiếng đa
mưu túc trí, đầy bụng thao lược, nên tự
xưng là Ngọa Long, ví mình với Khổng
Minh.
Song lại có dư luận rằng LỖ Tú Sĩ
chuyên nghề thầy dùi cho các giới hắc
đạo phương Nam để chia chác số tài sản
cướp được !
Giờ đây, nhìn gương mặt tròn, sáng
như trăng rằm của họ Lỗ, quần hùng bỗng
nghi ngờ sự chính xác của những lời đồn
đãi kia!
chánh tổng quản là Bành Đạo Nha đã
nói qua, còn Chưởng Kỳ Sứ thì khá đặc
biệt. Người này được giới thiệu bằng cái
tên Hoàng Nghi Tuyệt, hai mươi tám
tuổi, quê đất Liêu Đông, không có danh
tiếng gì, nhưng lại là học trò của Đao Đế
Liêu Vân Nhạc, người đứng thứ hai trong
vũ nội tứ thần.
Nghi Tuyết không xấu xí song sắc diện
âm trầm, lạnh giá như lớp băng trên đỉnh
núi Trường Bạch, nhân thần thỉnh thoảng
lại lóe lên những tia sáng kỳ dị, làm xốn
xang lòng người đối diện.
Tóm lại, trong năm đại nhân vật ấy, chỉ
có mình Bạch Ngọc Tiên Tử Lâm Đại
Ngọc là dễ thương nhất.
Ngay Lã Tập Hiền cũng không được ưa
chuộng vì trong mấy ngày qua đã có tin
đồn xấu về lão. Chẳng hiểu kẽ độc mồm
độc miệng nào đã là người đầu tiên nói
rằng: Lã Tập Hiền đã bày kế giết chết chị
dâu và cháu trai, tức vợ con cố minh chủ
võ lâm Lã Xuân Tốn, để chiếm đoạt cơ
nghiệp họ Lã.
Tuy không có bằng cớ xác thực nhưng
ai cũng thầm công nhận điều này hữu lý!
Hoàng Kim Hắc Thế Nhân Tâm! Vàng
nhuộm đen lòng dạ người đời! Tập Hiền
nuôi mộng dương danh thiên hạ tất phải
cần rất nhiều tiền. Theo phong tục Trung
Hoa, Tập Hiền là thứ nam, chỉ được một
phần rất nhỏ, số còn lại thuộc về cháu
đích tôn!
Hết phần giới thiệu là đến nghi lễ tế
cáo thiên địa, ra mắt võ lâm. Tiếng đàn,
sáo, trống, kèn vang len inh ỏi, và bọn Lã
Tập Hiền sì sụp khấn vái.
Họ vừa cúng xong thì Nhương Thư xả
công, mắt sáng long lanh, mặt hồng hào
sung mãn. Chàng dịu giọng nói với Thúy
Sơn:
- Cảm tạ Bạch hiền đệ.
Thúy S ơn ngượng ngùng đáp :
- Chúng ta là huynh dê, tình thân nhu
thủ túc, sao đại ca lại nói thế?
Ngọc Trâm bĩu môi:
- sao lúc đầu ngươi lại xua đuổi và hạ
nhục Tần đại ca?
Thúy Sơn đỏ mặt vái dài :
- Trăm lạy đại tẩu! Xin đừng nhắc lại
chuyện cũ nữa ! Trước đây tiểu đệ ỷ mình
võ nghệ cao cường nên xem thường Tần
đại ca, sau mới biết mình chỉ là đom đóm
c ạnh ánh trăng rằm !
Bỗng gã tươi tỉnh lên, cười hề hề, ánh
mắt đầy vẻ giễu cợt:
- Dường như đại tẩu cũng có hơn gì
tiểu đệ? Sau này nghe Tào ưng kể rằng
đại tẩu đã từng lạnh nhạt với đại ca cơ
mà?
Ngọc Trâm xấu hổ, lườm gã và chữa
thẹn:
- Ta . . . ta và đại c a ngươi . . . chỉ c Où chút
hiểu lầm mà thôi!
Cơm rượn được dọn ra, cắt ngang cuộc
đối thoại Hàng trăm tiểu nhị của bốn
phạn điếm lớn nhất thành An Dương, tất
bật bưng ra năm món ăn nóng hổi và
thơm phức!
Lã trang chủ mời mọi người nâng
chén, động đũa, rồi cùng bộ sậu xuống
ngồi ở bàn riêng, cạnh bàn của các
chưởng môn !
Thịt béo, rượn nồng đã khiến quần
hùng cởi mở tâm tình, hết lời khen ngợi
lòng hiếu khách của chủ nhân. Gần giữa
giờ Ngọ, mọi người đều đã ngà say, hào
hứng vỗ tay khi Lã trang chủ theo thang
gỗ bước len đài. Lão hắng giọng, vòng
tay nói:
" Kính cáo chư vị chưởng môn, chư vị
võ lâm tiền bối, cùng đồng đạo! Lão phu
tuy tài hèn sức mọn, nhưng lòng nhiệt
tâm thì chẳng thiếu! Lão phu nguyện noi
gương gia huynh, đứng ra gánh vác võ
lâm, tiêu diệt tà ma nên mới bạo gan
thành lập Chính Khí Trang!
Nay Tứ Phạn Thiên Cung đột nhiên tái
xuất khiến cục diện giang hồ càng bội
phần nguy ngập! Do vậy, lão phu mạo
muội cúi xin võ lâm ngộ biến tùng quyết,
cho phép kẻ hèn này được thừa kế trọng
trách của gia huynh, đối phó với Thiên
Cung! Sau khi trừ được tai họa ấy, lão
phu xin từ chức ngay để chư vị chọn tân
minh chứ'.
Có cả ngàn người ủng hộ Tập Hiền,
hoan nghênh đến khản cổ! Song số còn
lại thì im lặng như thóc, e sợ lòng dạ của
họ Lã!
Tuy nhiên dù tán thành hay phản đối
cũng vô ích vì quyết định cuối cùng cũng
thuộc về hội đồng võ lâm, gồm năm vị
chưởng môn bạch đạo! Chính lịch sừ đã
trao cho họ cái đặc quyền ấy.
Nhưng hội đồng võ lâm chưa cho ý
kiến thì trong quần hùng đã có người phát
biểu. Đó chính là bang chủ Hán Bang ở
vùng Tây Bắc phủ Hồ Bắc.
Hán Bang thu lợi trên đoạn giữa sông
Hán Thủy, từ ranh giới Hồ Bắc, Thiểm
Tây xuống Chương Phàn, dài sáu trăm
dặm. Đương nhiên là gồm cả sanh ý của
các địa phương dọc hai bờ sông. Có thể
nói rằng thế lực Hán Bang ở Hồ Bắc chỉ
thua có mình phái Võ Đang trên Ngọc Nữ
Phong.
Đến tận hôm nay quần hào mới rõ
tướng mạo của bang chủ Hán Bang Liêu
Văn Chiêu. Họ Liễu tuổi độ sáu mươi
lăm, vóc người cao gầy, mặt xương xầu,
tóc hoa râm, mui thẳng, mắt sâu, miệng
rộng... trông rất uy nghiêm.
Lão là khách mời của Chính Khí Trang
thế mà giờ đây lại ngạo nghễ hỏi:
- Bản lãnh Lã bang chủ cỡ nào mà đòi
làm minh chủ, thống lãnh võ lâm? Nếu sở
học nhà họ Lã thực sự cao thâm, thì lệnh
huynh đâu đến nỗi chết thảm?
Quần hùng Oà lên công nhận lão nói có
lý! Liêu Văn Chiêu thừa cơ vòng tay nói
tiếp:
- Kính cáo võ lâm! Theo thiển ý của
lão phu thì chúng ta cứ xem hôm nay là
đại hội võ lâm, dùng cách tỷ võ để chọn
tân minh chủ. Nếu chọn dịp khác chưa
chắc đã đông đủ hào kiệt tứ xứ như bây
giờ.
Họ Liễu đánh trứng vào lòng hiếu võ,
hiếu sự của khách giang hồ nên được đa
số tán đồng.
Lã Tập Hiền cũng thản nhiên chấp
nhận, lão cao giọng:
- Yù kiến của Liễu bang chủ quả là tuyệt
diệu! Chính Khí Trang tình nguyện phục
vụ cơm rượn trong suốt những ngày đại
hội!
Họ Lã được hoan hô rất nhiệt tình vì
chẳng ai chê những bữa nhậu miễn phí,
trong lúc xem đấu võ.
Năm vị chưởng môn đã sớm bàn bạc,
thống nhất ý kiến. VÔ ưu Cái đại diện
phát biểu quyết định của hội đồng võ
lâm.
Lã Tập Hiền hạ đài, nhường cho Hầu
bang chủ. Họ Hầu cười rất tươi, vui vẻ
noi:
- Kính cáo đồng đạo! Yù kiến của Liễu
bang chủ không phải là dở, nhưng nếu
làm thế thì sai luật, và vị minh chủ được
bầu sẽ chẳng có thực quyền! Sau này
những hào kiệt không có mặt ở đây sẽ có
cớ không phục tùng minh chủ, khiến võ
lâm nổi loạn. Bởi thế, bọn lão phu quyết
định rằng cứ tổ chức đại hội, người giỏi
nhất sẽ trở thành đại diện của võ lâm,
thách đấu với Thanh Linh Thủy Lão. Khi
vị anh hùng đó giết xong Thủy Lão tất sẽ
danh chính ngôn thuận mà lên ngôi minh
chủ mà chẳng ai dám phàn nàn!
Quần hào chẳng cần biết làm trước,
làm sau, quí hồ có đánh nhau là được. Họ
phấn khởi đồng ý, trong lúc Lã Tập Hiền
đau như bị thiến, lòng rủa thầm lão ăn
mày xảo quyệt.
Bốn vị hòa thượng, đạo sĩ kia thì hiền
lành, dễ bị che mắt, chỉ mình VÔ ưu Cái
là lợi hại. Hầu MỘ Thiên chính là linh
hồn của hội đồng võ lâm. Lão được bốn
người còn lại khâm phục và tin tưởng
tuyệt đối!
Thế cờ đã bị lật ngược, Lã Tập Hiền vô
cùng chán nản, cố gỡ gạc :
- Hội đồng võ lâm sai rồi! Dù có giết
được Thanh Linh Thủy Lão thì vẫn còn
Kim Mẫu! Người đàn bà ấy lợi hại hơn
chồng mấy bậc !
VÔ ưu Cái cười khà:
- Trang chủ cứ yên tâm ! Mười ba năm
trước, Kim Mâu đã bị Phật Đang Thượng
Nhân phế võ công rồi! Nhờ vậy mà võ
lâm được thanh bình hơn chục năm, nay
Thượng Nhân nhập niết bàn nên Thủy
Lão mới dám ló mặt!
Bí mật này lộ ra khiến mọi người chấn
động, vô cùng biết ơn vị cao tăng núi Ngũ
Đài Sơn
Lã Tập Hiền chẳng còn cớ phản bác,
ngồi xuống bàn bạc với quân sư là Ngọa
Long Tú Sĩ.
Bang chủ Hán Bang là Văn Chiêu đứng
lên hỏi:
- Nhưng chúng ta không biết địa điểm
của Tứ Phạn Thiên Cung thì làm sao gửi
thư thách đấu?
vô ưu cái tủm tỉm đáp:
- Lão phu biết!
Mọi người tò mò, nhao nhao đốc thúc
họ Hầu nói ra! VÔ ưu Cái nghiêm giọng:
- Tứ Phạn Thiên Cung nằm trong ngọn
Càn Sơn, cạnh bờ Bắc sông Hoàng Hà,
ngay ranh của hai tỉnh Sơn Tây, Hà Nam.
Ai xuôi ngược Hoàng Hà cũng đều
nhìn thấy đỉnh ngọn Càn Sơn mà không
ngờ rằng nơi ấy là sào huyệt của tổ chức
khủng bố số một võ lâm. Cử tọa chấn
động, ồn ào như chợ vỡ.
VÔ ưu Cái xua tay, bảo quần hùng im
lặng rồi nói cụ thể:
- Càn Sơn được bao bọc bằng cánh
rừng rậm, trồng đầy loài Mông Hãn Hoa,
loại hoa màu tím này có năm phiến lá
nhỏ, mùi hoa không nồng thắm, nhưng
nếu ai ngửi phải thì sẽ ngủ mê man, vài
khắc sau mới tỉnh! Chính vì vậy mà mấy
chục năm qua sào huyệt của Tứ Phạn
Thiên Cung vẫn bảo toàn. Trong võ lâm,
chỉ có mình Phật Đăng Thượng Nhân,
luyện đến lớp chót của Nhiên Đăng Thần
Công nên mới không sợ Mông Hãn Hoa!
VÔ ưu Cái dừng lại lấy hơi rồi tiếp lời:
- Mười mấy năm nay, hội đồng võ lâm
đã tốn bao nhiêu vàng bạc, mời danh y
bào chế thước giải Mông Hãn Hoa, để
phòng ngày Tứ Phạn Thiên Cung tái xuất.
Nhưng rất tiếc rằng mọi nỗ lực đều thất
bại.
Thiết Kình Ngư phẫn nộ thét lên:
- Sao không chờ mùa nắng gắt, phóng
hỏa đốt quách khu rừng quái quỉ ấy đi?
Cử tọa đồng thanh khen phải! Song VÔ
ưu Cái lại lắc đầu:
- Không được ! C ác vị thần y Trung
Nguyên đã khẳng định rằng Mông Hãn
Hoa khi bị cháy sẽ biến thành chất tuyệt
độc, theo gió bay xa hàng chục dặm, sát
hại người và gia súc.
Một hảo hán khác thất vọng than:
- Thế thì chắc gì Thanh Linh Thủy Lão
đã chịu nhận lời thách đấu?
VÔ ưu Cái mỉm cười:
- Lão ta phải nhận lời vì bọn lão phu đã
tìm ra thời điểm Mông Hãn Hoa không có
độc tố Quan quân sẽ dùng đại pháo cày
nát rừng, mở đường tiến vào. Song đấy
chỉ là hạ sách nếu Thủy Lão từ chối phó
ước!
Lão tinh quái nói:
- Vị nào là người của Tứ Phạn Thiên
Cung đang có mặt chốn này, xin hãy về
báo lại rằng võ lâm mời Thanh Linh
Thủy Lão đến chân núi Thiếu Thất, đúng
giờ Thìn ngày rằm tháng hai sang năm.
Nếu lão không đến thì đừng trách hội
đồng võ lâm cầu viện đến triều đình!
Đương nhiên chẳng ai ứng tiếng nhận
mình là cha ăn cướp. Mọi người nhìn
nhau nghi hoặc, chẳng biết kẻ nào là gian
Lã Tập Hiền đã đứng dậy tuyên bố:
- Lê đài quá nhỏ, không thích hợp với
việc tỷ võ, cho nên, chiều nay chỉ tiến
hành việc đăng ký danh sách thượng đài.
Khoảng bốn ngày nữa lôi đài mới sẽ dựng
xong, sáng hai mươi bốn sẽ khai mạc đại
hội. Việc ăn ở của đồng dạo sẽ do bổn
trang đài thọ.
VÔ ưu Cái cười nhạt:
- Đăng ký trước sẽ gây cảnh tàn sát,
loại trừ nhau. Do vậy, sáng hai mươi bốn
làm luôn thể !
Lã Tập Hiền biến sắc, gượng cười:
- Hầu b ang chủ dạy chí phải !
Lảo thượng đài cảm tạ cử tọa rồi tuyên
bế bế mạc lễ khai đàn và mời mọc vào
sau trang nghĩ ngơi.
Chẳng phải ai cũng nhận lời, phần lớn
kéo về Thành An Dương tìm chỗ trọ,
trang thủ tham thú thắng cảnh cố đô xưa
nhất nước, hoặc hưởng lạc thanh lâu, tửu
quán, đỗ trường. Bọn Nhương Thư quay
lại nhà họ hàng Ngọc Trâm nghỉ ngơi. HỔ
Hồng Nhan đòi đi dạo và mua sắm,
Nhương Thư liền sai Thúy Sơn đi giùm.
Lát sau, dù không được nhờ vả, Thiết
Kình Ngư cũng ra phố, âm thầm theo dõi
hai người ấy, trước là bảo vệ, sau dò xét.
Gã linh cảm rằng Nhương Thư quá tin
người nên sẽ mất vợ!
Xế chiều, VÔ ưu Cái tìm đến, cùng
Nhương Thư trò chuyện. Lão thở dài bảo:
- Cục diện võ lâm đã đến hồi nguy cấp
lắm rồi! Lão phu sẽ cố gắng xoay xở
nhưng nếu không có sự hỗ trợ của Tần
hiền đệ thì không xong.
Nhương Thư cau mày:
- Theo thiên ý của tiểu đệ thì kế sách
của Hầu lão ca rất tuyệt diệu, dù Lã Tập
Hiền là kẻ ác cũng phải diệt xong Tứ
Phạn Thiên Cung rồi mới lên ngôi minh
chủ. Hơn nữa, Thủy Lão tuổi đã tám
mươi, bản lãnh thông thần, tất sẽ giết
được họ Lã.
VÔ ưu Cái rầu rĩ lắc đầu:
- Lão phu vừa nhận được tin của nội
gián ở Tứ Phạn Thiên Cung báo về rằng
Thanh Linh Thủy Lão âu Dương Phạn
mới từ trần cách nay bốn ngày. Con trai
lão tên gọi âu Dương Lăng lên thay, tuổi
mới bốn sáu, võ công thua xa Thủy Lão.
Nay Lã Tập Hiền chiêu mộ được cả Hạt
Nhãn Thần Ma, tất bản lãnh không thể
kém Thần Ma được. Như vậy, Lã Tập
Hiền thừa sức giết tân Thủy Lão và chính
thức trở thành minh chủ.
Nhương Thư bâng khuâng hỏi:
- Thế lão ca muốn tiểu đệ phải làm gì?
VÔ ưu Cái vuốt chùm râu hoa râm,
nhăn vầng trán cao rộng, cân nhắc một
hồi rồi bảo:
- Ta biết hiền đệ mới thọ thương, bản
lãnh sút đi vài bậc, chưa chắc đã địch lại
Lã Tập Hiền. Nhưng trinh sát của lão phu
đã nhìn thấy lá cờ của Huyết Tâm Giáo
trong thư phòng của họ Lã, cho nên bằng
mọi cách phải ngăn chặn Lã Tập Hiền trở
thành minh chủ.
Nhương Thư rúng động hỏi:
- Nhưng hai mươi bốn năm trước,
Huyết Tâm Đế Quân đã bị gia sư cùng
các chưởng môn vây đánh, dồn lão xuống
vực thẳm cạnh núi Vu Sơn rồi mà? Sào
huyệt của Huyết Giáo cũng bị quần hùng
thiêu rụi?
VÔ ưu Cái cười buồn:
- Tiếc rằng số giáo chúng đào thoát
được khá nhiều, nếu có kẻ tìm được
Huyết Tâm lệnh kỳ thì sẽ khống chế được
họ, hoặc thế hệ kế tiếp! Lão phu đoán
rằng Lã Tập Hiền có cả cờ lẫn bí kíp
Huyết Tâm, từ lâu khổ luyện, nên mới
dám mưu đồ bá chủ! Họ Lã từng tuyên bố
rằng nếu đơn đấu thì chẳng sợ bất cứ ai !
Nhương Thư quá rõ bản chất man rợ,
tàn ác của Huyết Tâm Giáo, liền nghiêm
giọng:
- Nếu thế thì tiểu đệ chỉ còn cách liều
chết, chẳng giết được Lã Tập Hiền thì
cũng làm lão trọng thương, không thể
thắng được âu Dương Lăng!
VÔ ưu Cái nhìn chàng trìu mến, khẽ
than:
- Hiền đệ tuổi tác chưa đến ba mươi
mà đã phải gánh cả võ lâm trên vai, thật
đáng thương ! Nhưng ngươi đã là đệ tử
của Phật Đăng Thượng Nhân thì không
thể thoái thác được!
Rồi lão cười khà khà trấn an:
- Hiền đệ cứ an tâm mà phù trì chánh
đạo Tướng của ngươi không thể chết non
được! Lão phu xin lấy đầu mình ra đặt
cược đấy !
Lão là người thứ hai nói như thế khiến
lòng Nhương Thư rất phấn khởi. Chàng
cười đáp :
- Nếu biết chắc không chết thì còn sợ
gì nữa? Hầu lão ca cứ về báo lại với hội
đồng võ lâm rằng Thư này sẽ tận lực quét
sạch tà ma.
VÔ ưu Cái hài lòng, trao cho chàng
một lọ sành và dặn dò:
- Trong này có bốn viên linh đan chí
bảo của bốn phái Thiếu Lâm, Võ Đang,
Nga Mi, Hoa Sơn. Hiền đệ hãy uống để
thương thế mau lành, có sức mà thượng
đài ! Cứ uống cả bốn viên một lúc vì dược
vị không xung khắc.
VÔ ưu Cái đi rồi thì Thiết Kình Ngư
về đến, kế đó là HỔ Hồng Nhan Điền
Ngọc Trâm và Vạn Lý Thần Điêu Bạch
Thúy Sơn.
Họ Bạch khệ nệ mang vác đủ thứ hàng
hóa, từ tơ lụa, phấn son cho đến gương
lược, giầy, nón. Gã nhăn như khỉ:
- Phận làm em quả là khốn khổ, cứ
phải lẽo đẽo theo chị dâu từ cửa hàng này
sang hiệu buôn khác, tay xách nách
mang, trông chẳng ra thể thống gì cả!
Ngọc Trâm cười duyên an ủi:
- Thôi mà, hiền đệ! Ngươi trả ơn cho
đại ca bằng cách theo hầu hạ ta là quá
phải đạo rồi! Đâu phải ai cũng có vinh dự
đi chung với HỔ Hồng Nhan?
Trong bữa cơm tối, Nhương Thư kể
cho mọi người nghe câu chuyện của VÔ
ưu Cái, Thúy Sơn lộ vẻ lo lắng:
- Đại ca! Tiểu đệ nghe gia sư kể rằng
công phu Huyết Tâm Giáo không có hình
thức đặc biệt, chỉ người phải đối phó mới
nhận biết sự lợi hại. Kiếm pháp nhanh
như chớp, tạo ra những sóng âm quái dị,
khiến đối phương bồi hồi khiếp sợ, không
tập trưng được chân khí. Đại ca phải thận
trọng đấy.
Nhương Thư điềm đạm đáp:
- Ngu huynh cũng biết việc ấy, và đã có
cách đối phó. Cảm tạ Sơn đệ đã quan
tâm.
Đêm ấy, chàng uống thuốc, điều khí,
ngủ một giấc rất sâu, sáng ra, bắt đầu khổ
luyện. Nhương Thư không muốn Ngọc
Trâm vì mình mà mất vui nên lại bảo
Thúy Sơn đưa nàng đi chơi. HỔ Hồng
Nhan chối đây đẩy, song cuối cùng cũng
đi Nàng là nữ nhân con nhà giàu nên
không thể bỏ lỡ cơ hội mua sắm khi đến
địa phương lạ.
Tào ưng lẳng lặng bám theo, đúng giờ
Ngọ trở về dùng cơm với Nhương Thư.
Gã bỗng hỏi:
- Công tử có được lệnh sư kể cho nghe
việc cứu mạng Vương ốc lão nhân hồi
mười bảy năm trước hay không?
Nhương Thư lắc đầu:
- Gia sư chỉ dặn tại hạ sau này xuất đạo
phải chú ý tương trợ phái Vương ốc !
Tào ưng cảm động nói:
- Không ngờ Thượng Nhân lại luôn
quan hoài đến tệ phái như vậy? Tại hạ chỉ
có cách theo phò công tử mới đền đáp
được ân nghĩa ấy mà thôi !
Nói là làm, gã quỳ một chân, bái liền
ba bái. Nhương Thư rời ghế, bước đến
nơi thì Tào ưng đã lạy xong. Chàng bối
rối nói:
- Sao túc hạ không xem ta như đứa em,
bày chi ngôi chủ tớ?
Tào ưng cười khì :
- Đâu được! Gia sư còn gọi Thượng
Nhân là sư thúc mà! Tại hạ đâu dám
phạm thượng?
Gã hân hoan róc rượn mời Nhương
Thư:
- Người ngoài không cần biết, nhưng
Tào mỗ đã thề suốt đời trưng thành với
công tử, dẫu chết chẳng thay lòng!
Việc đã lỡ, Nhương Thư đành chấp
nhận, hiền hòa nói:
- Tần mỗ và Tào túc hạ sống chết có
nhau, họa phúc cùng chung hưởng.
Hai người uống cạn, bàn chuyện thân
mật. Bỗng Tào ưng ấp úng:
- Tào mỗ có đôi lời thẳng thắn, cúi
mong công tử xem xét.
Nhương Thư nhíu mày không hiểu, chỉ
gật đầu. Tào ưng chậm rãi nói:
- Nữ nhân vốn nhẹ dạ, dễ xiêu lòng
trước cái đẹp và lời nói ngọt ngào! Nay
Thúy Sơn anh tuấn tuyệt thế, lại có cơ hội
gần gũi HỔ Hồng Nhan, e rằng hậu quả
khó lường. Mong công tử sớm tách rơm
và lửa xa nhau.
Nhương Thư lặng im một lúc rồi mỉm
cười thanh thản:
- Các hạ nói chí phải! Nhưng ta với
Điền đại tiểu thư chưa hề có hôn ước, nếu
nàng thực lòng yêu Thúy Sơn thì ta cũng
không thể ngăn cản. Hơn nữa, Thư này
vẫn mang nặng tử nan ba năm, lỡ không
thoát khỏi sẽ làm khổ người hôn phối !
Tào ưng gật gù:
- Công tử quả là người nhân hậu,
khoáng đạt, luôn nghĩ đến người khác
trước! Tào mỗ sẽ xử sự theo đúng ý công
tử
Nhương Thư biết gã chưa thực sự thoải
mái, liền rủ ra vườn luyện kiếm. Kiếm
pháp khắp thiên hạ đều qui về kiếm đạo.
Do vậy, Nhương Thư dễ dàng nhìn ra
khiếm khuyết trong sở học Tào ưng, tận
tình chỉ điểm cho gã. Họ Tào vui mừng
khôn xiết, hết sức rèn luyện, chỗ nào
không thông thì hỏi Nhương Thư.
Liên tiếp bốn ngày, Ngọc Trâm đều đi
phố, mua về hàng xe đặc sản của An
Dương. Tình thân với Bạch Thúy Sơn
càng thêm sâu đậm.
Người ngoài hiểu lầm, trầm trồ khen
ngợi họ là cặp tiên đồng, ngọc nữ, vô
cùng xứng đôi vừa lứa. Ngọc Trâm đỏ
mặt, bắt Thúy Sơn phải đi cách xa mình,
nhưng lòng nàng nghĩ gì thì có trời mới
biết được.
Tào ưng không đi theo nhưng mướn
một tên ăn mày theo dõi cặp nam thanh
nữ tú kia, nắm rõ mọi hành vi của họ. Lão
không nói ra nhưng lòng thầm chê HỔ
Hồng Nhan là hạng gái hời hợt! Nàng nói
thì rất hay nhưng lại không thực hiện
được
Sáng hai mươi bốn, bọn Nhương Thư
lên ngựa đi đến Chính Khí Trang. Đồng
hành với họ là hàng ngàn hào kiệt, người
ngựa xếp hàng dài thượt trên quan đạo.
Lê đài mới dựng xong, ngay vị trí của
lễ đài hôm trước. Giờ đây, nó vuông vức
mỗi bề sáu trượng, sàn lót ván dày và
bằng phẳng. Bàn của ban giám đài kê sát
mép phía Bắc, cao hơn mặt lễ đài gần sải
tay để tiện quan sát.
Đây là đại hội võ lâm đầu tiên mà quần
hùng được ngồi xem và có rượn thịt để
trợ hứng.
vô ưu cái thượng đài:
- Kính cáo võ lâm! Thanh Linh Thủy
Lão tuy không bằng Kim Mẫu nhưng võ
công cũng cao hơn Hạt Nhãn Thần Ma
vài bậc. Do vậy, mong chư vị tự lượng
sức mình rồi hãy đăng ký.
Hầu bang chủ không thể nói ra việc
Thủy Lão âu Dương mới chết vì sợ lộ vai
trò của nội gián đang tiềm phục trong Tứ
Phạn Thiên Cung.
Những kẻ từng vào sinh ra tử rất biết lẽ
tiến thoái nên rốt cuộc chỉ có năm người
đăng ký, gồm Chính Khí trang chủ Lã
Tập Hiền, bang chủ Hán Bang Liễu Văn
Chiêu, Võ Di Sơn Chủ Từ Bạch âu đất
Phúc Châu, Quảng Đông Thần Đao Cốc
Hậu Nhan và Tần Nhương Thư.
Khi VÔ ưu Cái đọc đến tên chàng và
giới thiệu sư thừa thì quần hùng ồn hẳn
lên, nhất là khi Hầu bang chủ nói rõ việc
chàng chính là kẻ giết Hạt Nhãn Thần Ma
mấy hôm trước !
Trong số những người mới đến có kẻ
từng làm môn khách Điền gia trang, nên
đã tự hào kể lại cuộc chiến giữa Nhương
Thư và đệ tử Châu Khanh Tứ Phạn Thiên
Cung. Thế là mọi người xem chàng là
ứng cử viên số một. Nhưng đại hội đã
phát sinh quái sự khi có người lên tiếng,
trong lúc năm đối thủ kia đứng lên lôi đài
ra mắt quần hùng:
- Tại hạ Hoàng Nghi Tuyệt, hai mươi
tám tuổi, đổ đệ của Đao Đế đất Liêu
Đông, xin ghi danh tranh tài !
Toàn trường sửng sốt vì họ Hoàng đang
là Chưởng Kỳ Sứ của Chính Khí Trang,
sao lại chơi trò gà nhà bôi mặt đá nhau?
Lã Tập Hiền giận dữ nạt:
- Hoàng lão đệ! Ngươi điên rồi sao?
Nghi Tuyệt phi thân lên đài, lãnh đạm
nói với họ Lã:
- Tại hạ luyện đao hai mươi năm, vào
Trung Nguyên để dương danh đất Liêu
Đông chứ không phải tìm miếng cơm
manh áo! Chức vụ Chưởng Kỳ Sứ kia xin
trang chủ giao cho người khác.
VÔ ưu Cái đã bàn bạc với ban giám
đài, tức hội đồng võ lâm, liền lên tiếng:
- Hoàng thiếu hiệp làm như thế là
không phải đạo! Tuy nhiên, nể mặt Đao
Đế, ban giám khảo chấp thuận! Song
thiếu hiệp và Lã trang chủ phải đấu trận
đầu, trong hai phải chọn một để dự thi.
Lã Tập Hiền tức ói máu mà không làm
sao được ! Lão nhìn Hoàng Nghi Tuyệt
với ánh mắt oán độc! Lão ăn mày già
chết bằm kia chẳng hề nể mặt Lã cố minh
chủ, luôn gây bất lợi cho Chính Khí
Trang.
VÔ ưu Cái sang sảng đọc điều lệ so tài
rồi tuyên bố:
- Cặp thứ hai sẽ gồm bang chủ Hán
Bang Liêm Văn Chiêu và VỎ Di Sơn Chủ
Từ Bạch âu. Cặp thứ ba là Quảng Đông
Thần Đao Cốc Hậu Nhan với Tần thiếu
hiệp!
Chẳng để ai có dịp phản đối, lão kết
thúc ngay:
- Mời Lã trang chủ và Hoàng thiếu
hiệp khai mạc đại hội.
Quần hùng reo hò như sấm, mừng vì
sắp được xem đấu võ và . . . cá cược ! Cờ
bạc là đặc tính không thể thiếu của khách
võ lâm! Nói rộng ra là dân tộc Trung Hoa
có máu đỏ đen. Họ đã sáng tạo ra biết bao
trò thắng thua từ lớn đến nhỏ: đá gà, đá
dế, đua ngựa, chọi trâu, tài xỉu, mạt
chược, bài cẩu, cá mưa nắng, cờ tướng,
cờ vây
(Những trò này đã lan đi khắp thế giờ
từ rất lâu, đến nỗi ít ai nhớ rằng những
viên xúc xắc và quân cờ domino là phát
minh của Trung Quốc)
Trong lúc quần hùng rộn ràng đặt cược
thì trên lễ đài, hai đấu thủ đã rút vũ khí
gườm nhau. Bảo kiếm, bảo đao sáng
quắc, tỏa sát khí dàn dua khiến kẻ từ bi là
Huệ Nghiêm thiền sư, chưởng môn phái
Nga Mi, vội nhắc nhở:
- A di đà phật ! Xin đừng gây đổ máu !
Ai chém rách áo đối thủ trong thời gian
nửa tuần nhang là đủ để thắng rồi.
Theo qui củ bao đời, cuộc chiến tranh
ngôi minh chủ chỉ kéo dài nửa tuần
nhang, tức hai khác là phải dừng lại để
ban giám khảo thẩm xét. Nếu chưa ai thọ
thương hoặc rách áo thì sẽ đấu tiếp hai
khắc nữa. Nhưng thực ra, hiếm khi có cặp
nào ngang tài ngang sức đến mức ấy!
Thường thì máu đã chảy ngay trong hiệp
đầu
Hoàng Nghi Tuyệt nhỏ tuổi hơn tất
được quyền xuất thủ trước . Nhưng gã vẫn
đứng im, đao dựng xéo trước mặt, bàn tay
tả bắt kiếm ấn, (hai ngón trỏ và giữa và
trỏ chỉ thẳng, ba ngón còn lại cụp xuống)
đặt hờ nơi tâm thất.
Đao Đế Liêu Vân Nhạc đứng thứ hai
trong vụ nội tứ thần, bản lãnh chỉ kém có
mình Phật Đăng Thượng Nhân. Bốn mươi
năm trước, lão xách đao vào Trung Thổ
tung hoành, tìm đến tất cả những nhân
vật nổi tiếng trong võ lâm mà tỷ thí.
Trong mười năm, Đao Đế lần lượt đả bại
hon trăm cao thủ thành danh. Dĩ nhiên,
không ít kẻ bị tàn phế dưới lưỡi đao của
họ Liêu.
Phật Đăng Thượng Nhân sợ tinh hoa
võ lâm bị hủy hoại hết, liền nhờ Cái Bang
gởi lời thách đấu với Đao Đế, ở chân núi
Tung Sơn. Sau hai ngàn chiêu, Liêu Vân
Nhạc bị chém đứt búi tóc, biết đối
phương nương tay, liền nhận bại, trở về
Liêu Đông.
Sau ba mươi năm ẩn cư, chắc chắn là
Tuyết Hoa Đao Pháp của ông ta đã đạt
đến mức tận thiện tận mỹ. Nhưng liệu
Hoàng Nghi Tuyệt tiếp thu được bao
nhiêu thành hỏa hầu?
Họ Hoàng biểu hiện bằng cách thi triển
phép Ngự Đao, ngay trong chiêu đầu. Đất
Liêu Đông nổi tiếng với rặng núi Trường
Bạch quanh năm tuyết phủ, đầy dấy nhân
sâm, có củ già đến vài trăm hoặc ngàn
nham tuổi! Hoàng Nghi Tuyệt đã được
Đao Đế cho ăn một đoạn Thiên Niên
Tuyết Sâm nên tu vi tăng thêm mười năm
khổ luyện, gã sở hữu tròn ba mươi năm
c ông lực .
VỌ học rất phổ biến trên lãnh thổ
Trung Hoa, ai cũng có thể luyện tập. Tuy
nhiên, chẳng phải tuổi càng cao thì nội
lực càng tăng! Nhân sinh đầy phiền
muộn, đắng cay, lại phải lo chuyện áo
cơm cho bản thân và gia đình hoặc bận
tâm vì danh vọng, do thế, việc luyện công
thường bị bỏ bê, gián đoạn. Rốt cuộc, có
những võ sĩ sáu bảy chục tuổi mà tu vi
thua kém kẻ ba mươi.
Chính vì vậy, những trang oai hùng của
lịch sừ võ lâm đều được viết nên bởi
những cao thủ có nghị lực phi thường,
hoặc may mắn ngộ kỳ trân.
Hoàng Nghi Tuyệt có đủ hai yếu tố ấy.
Gã miệt mài rèn luyện suốt hai chục năm,
không bỏ một ngày nào và lại được ban
sâm quý. Cho nên giờ đây, họ Hoàng đã
đạt đến trình độ Ngự Đao, hóa thành trái
cầu óng ánh những bông hoa thuyết.
Bên kia, Lã Tập Hiền cũng đã động
thân, kiếm quang mờ nhân ảnh, lấp loáng
dưới ánh dương.
Khoảng cách hai trượng được rút lại
nhanh chóng, song phương chạm trán,
đao kiếm ngân dài và bắn ra những tia
lửa nhỏ . Hàng trăm thể thức được đánh ra
trong chỉ vài cái chớp mắt, công thủ có
đủ, hơn thua bằng bản thân chiêu thức
chứ không còn kịp biến hóa. Trong võ
lâm, chỉ có mình Phật Đăng Thượng
Nhân và Nhương Thư đạt đến trình độ tùy
ngộ nghi an trong Ngự Kiếm thuật. Việc
chàng đâm thủng vai trái Hạt Nhãn Thần
Ma đã chứng minh khả năng ấy.
Song Lã Tập Hiền và Hoàng Nghi
Tuyệt không được như thế, tâm ý hòa vào
đao kiếm, chẳng còn tự chủ được nữa.
Sau khi va chạm bởi những thức tương
hợp, đao và kiếm có khoảng trống để
chạm cơ thể đối phương.
Tuy nhiên, do Huyết Tâm Kiếm Pháp
và Tuyết Hoa Đao Pháp đều là tuyệt học
hãn thế, chiêu thức hoàn bị, sơ hở rất ít,
nên mỗi người chỉ thọ thương hai vết, độ
nông sâu khác nhau.
Song phương dội ra, rời xa một trượng
rồi lại nhập vào đổi đòn, chiết chiêu bằng
lối đánh thông thường, vì phép Ngự
Kiếm, Ngự Đao rất hao tổn chân khí,
chẳng thể thi triển hai chiêu liên tiếp.
Quần hùng ồn ào hẳn lên vì nhận ra vi
tả và ngực trái Hoàng Nghi Tuyệt bị đâm
thủng, máu loang ướt đẫm lớp gấm màu
nguyệt bạch. Ngược lại, Lã Tập Hiền
cũng đổ máu bắp tay trái và đứt mất vạt
áo trường bào phía trước, vị trí ngay rốn.
Vậy là họ Lã đã nhinh hơn một chút
trong lần va chạm đầu tiên. Giờ đây, lão
vũ lộng thanh bảo kiếm cố áp đảo luồng
đao ảnh trắng muốt, gồm hàng vạn bông
hoa thuyết.
Bảo đao của Hoàng Nghi Tuyệt có màu
trắng, lấm tấm những chấm bạc óng ánh
như giọt sương, tạo nên đao quang đặc
trưng của võ học Liêu Đông.
Họ Hoàng biết công lực mình kém Lã
Tập Hiền hai bậc, song vẫn đặt niềm tin
vào đao pháp kỳ tuyệt của ân sư. Chiêu
thức ảo diệu là yếu tố quan trọng, bù đắp
cho sự chênh lệch tu vi.
Hoàng Nghi Tuyệt cũng là một nhân
tài võ học, căn cơ rất tốt, lại kiên nhẫn
hơn người, nên đã tiếp thu được gần hết
sở học của Đao Đế.
Gã quắc đôi mát sói, từ tốn đánh ra
những chiêu đao mãnh liệt và kín đáo.
Đao kình lạnh như ngọn bắc phong vì
Đao Đế sở trường pho nội công Huyền
Băng Chân Khí.
Khí lạnh sẽ ngày càng gia tăng và xâm
nhập vào cơ thể đối phương, trước tiên là
khiến tay chân kẻ ấy cóng lại, mất hẳn sự
linh hoạt.
Đao kiếm chạm nhau vang rền, bóng
người đảo lộn, chập chờn như đôi bướm
quyện lấy nhau, trọng vô cùng đẹp mắt.
Cây hương chỉ thời gian đã cháy được
phần tư, cho biết một khắc đã trôi qua mà
vẫn chưa phân thắng bại.
Song chỉ giây lát, Hoàng Nghi Tuyệt
đã lâm vào thế hạ phong, phải lùi dài. Gã
kinh hoàng vì đôi màng nhĩ liên tiếp nhói
đau khủng khiếp bởi sự công phá của loại
âm thanh rất nhỏ và cao vút. Kẻ bị đâm
vào màng tai thì sức lực đâu mà đánh
đấm, bởi vậy, họ Hoàng trứng thêm hai
kiếm vào đùi.
Gã định tuyên bố chịu thua thì nhìn
thấy nụ cười ác độc trên môi Lã Tập
Hiền. Biết đối phương quyết giết chết
mình, Nghi Tuyệt không dám mở miệng
hoặc nhẩy lùi, tạo cơ hội cho địch hạ độc
thủ.
Nghi Tuyệt còn cách mép đài đến hơn
hai trượng, chẳng thể nhảy ngược một cái
mà xuống đất được. Do thế, gã cắn răng
chống đỡ, vừa đánh vừa lùi dần.
Khổ thay, màn kiếm ảnh của Lã Tập
Hiền ngày càng mù mịt và âm thanh quỉ
quái kia cũng sắc bén hơn trước! Nghi
Tuyệt chẳng còn dám chần chờ, dùng hết
sức tàn phóng bảo đao vào người họ Lã
rồi tung mình thoái hậu, cố rời nơi hiểm
địa.
Hoàng Nghi Tuyệt hạ thân cách mép
đài nửa trượng, ngã quy xuống vì vết
thương nơi hai đùi rách toang ra. Và Lã
Tập Hiền đã né được thanh đao, lướt đến
nơi, hung hãn chụp lưới kiếm xuống thân
hình yếu ớt của chàng trai đất Liêu Đông.
Ban giám đài vội quát vang:
- Dừng i ay !
Nhưng đã quá muộn vì Lã Tập Hiền
không nuôi ý định ấy. Nào ngờ, từ dưới
đất có hai bóng đen bay vút lên đài, nhắm
thẳng vào họ Lã.
Bóng thứ nhất lao rất nhanh, xé gió vù
vù, chạm vào lưới kiếm của Lã Tập Hiền.
Lão nghe cổ tay chấn động, kinh hãi nhảy
lùi xa, nhận ra mình đã chém nát chiếc
đôn bằng gỗ quí của chính nhà mình!
còn bóng thứ hai chính là gã Tần
Nhương Thư, tay lăm lăm trường kiếm,
đứng che cho Hoàng Nghi Tuyệt.
Lã Tập Hiền giận điên người, tra kiếm
vào vỏ, rời khỏi lôi đài.
Trong lúc Khánh Hỉ đại sư tuyên bố Lã
Tập Hiền thắng thì Nhương Thư điểm
huyệt chỉ huyết cho Nghi Tuyệt, và xé vạt
áo trường bào băng bó.
Điền Ngọc Trâm và Thúy Sơn đã lên
đến, mở bọc lấy thuốc kim sang và băng
sạch. HỔ Hồng Nhan trách móc:
- Tiểu muội đã chuẩn bị rất nhiều vải
sạch, sao đại ca lại phải xé áo?
Nhương Thư mỉm cười:
- Vì cấp bách nên ta quên mất.
Nghi Tuyệt không hề nói tiếng nào,
mát nhắm nghiền, để mặc cho Nhương
Thư chăm sóc mình.
Khi nghe chàng nói:
- Ngoại thương không có vết nào nặng
nề, thực là may mắn! Dám hỏi bên trong
cơ thể Hoàng túc hạ có tổn hại gì chăng?
Gã mở mắt lắc đầu, đứng lên xuôi hai
tay dọc sườn, cúi xuống bái Nhương Thư
một bái, nhận lấy thanh Huyền Băng Đao
trong tay Thúy Sơn, rồi tập tễnh hạ đài,
rời khỏi đại hội.
Họ Hoàng đi khỏi là có nhiều người
mở miệng chê trách gã là kẻ bạc bẽo, thọ
ơn cứu mạng mà chàng nói lời cảm tạ.
Ngọc Trâm và Thúy Sơn không nói ra
nhưng mặt đầy vẻ bất mãn.
Nhương Thư hiểu lòng họ, vui vẻ nói:
- Nghi Tuyệt sinh trưởng nơi quanh
năm phủ tuyết, vắng bóng người, nên
quen ít lời, vả lại, gã là đại trượng phu
nên không phải lúc nào cũng thế thốt
hoặc cám ơn rối rít như đàn bà.
Ngọc Trâm xấu hổ lườm chàng:
- Đại ca xem thường tiểu muội quá
đấy! Nào phải nữ nhân mới nghĩ thế, cả
gã Thúy Sơn kia cũng vậy mà.
Bạch Thúy Sơn cười hăng hắc:
- Xin đại tẩu đừng gắp lửa bỏ tay người
khác! Tiểu đệ đâu hề có ý định chê trách
họ Hoàng!
Ngọc Trâm tức tối bất ngờ giáng vào
vai Thúy Sơn một quyền đau điếng. Gã
đau đớn ẹo người nhưng vẫn cười sặc
sụa.
Theo đúng lễ chị dâu em chồng dù kết
nghĩa, cũng không được làm thế. Thiết
Kình Ngư nóng mũi nói bâng quơ:
- Chốn đông người mong nhị vị cẩn
trọng để tránh hiểu lầm.
Ngọc Trâm tái mặt, lén liếc nhìn
Nhương Thư, thấy chàng vẫn thản nhiên
nhìn lên lôi đài, nàng mới yên tâm.
Thực ra, Nhương Thư đã nhìn thấy hết,
vì nghĩ rằng cặp uyên ương kia rất xứng
đôi Tuy hơi cay đắng nhưng lại hợp lý vì
chàng đã quyết liều thân với Lã Tập
Hiền.
Qua trận giao đấu lúc nảy, chàng tự
hiểu rằng mình khó thắng họ Lả, chỉ có
cách đổi mạng.
Song không phải hôm nay, vì cặp đấu
thứ hai là Hán Bang Liễu Văn Chiêu và
Võ Di Sơn Chủ Từ Bạch âu.
Sàn lôi đài đã được rửa sạch vết máu
và hai cao thủ sắp sữa ra tay.
Võ Di là một danh sơn ở đất Phúc
Kiến, Từ Bạch âu dựng nhà trên ấy, tự
xưng là Sơn Chủ! Cũng như bang chủ
Hán Bang, họ Từ ít khi xuất thủ nên võ
lâm không thể ước lượng được bản lãnh
của họ .
Đây là lần đầu hai người này biểu diễn
võ thuật trước mặt quần hùng.
Những người tham gia cá cược chỉ có
thể dựa vào tuổi tác mà đánh giá cao Từ
Sơn Chủ. Lão hơn họ Liễu hai tuổi, một
khoảng cách rất nhỏ bé không có ý nghĩa
quan tọng.
Võ Di Sơn Chủ có vóc người tròn trịa,
phương phi, mặt hồng hào phúc hậu, râu
năm chòm điểm bạc trông rất đẹp lão.
ông thấp hơn Liễu Văn Chiêu nửa xích
nhưng to ngang hơn.
Vũ khí của họ Từ là cây Tam Tiết Côn
bằng ống thép dầy, gồm ba đoạn được nối
vào nhau bằng những khoeo sắt. Mỗi
đoạn còn có chiều dài tương với trường
kiếm, thân to bằng cổ tay trẻ con mới
sinh
Tam Tiết Côn là vũ khí độc môn, xếp
hàng thứ tám trong binh khí phổ, ít được
làng võ ưa chuộng vì cồng kềnh, thô kệch
và khó học. Chỉ có Võ Di Sơn Chủ là
người giỏi nhất trong nghề đánh Tam Tiết
Côn.
Loại vũ khí này lợi hại ở chỗ có thể
vươn xa đến hơn trượng, khi cận chiến thì
trở thành đoản côn hoặc song đoản côn.
Quần hùng vô cùng cao hứng được
chứng kiến thần oai của một loại binh khí
hiếm hoi, reo hò thúc giục như chợ vỡ.
Nhưng kẻ được quyền xuất thủ trước
lại là bang chủ Hán Bang Liêu Văn
Chiêu, lão đã khiến cử tọa bàng hoàng
bằng một đòn Ngự Kiếm thượng thừa.
Lưỡi kiếm của lão mạ vàng nên kiếm
quang rực rỡ đến chói mắt, dường như
còn có tác dụng che dấu lộ số.
Chắc các vị đọc giả thắc mắc muốn
biết thời xưa người ta mạ vàng vào kim
loại bằng cách nào? Xin thưa rằng rất đơn
giản, họ mài vàng thành hạt nhỏ, ngâm
trong thủy ngân, là chất có thể hòa tan
được vàng. Sau đó họ quét thứ hỗn hợp
này lên mặt ngoài những vật cần mạ, rồi
dùng lửa hơ khiến thủy ngân bốc hơi, chỉ
còn lại vàng bám chặt. Cuối cùng, họ
dùng mã não mài ép, làm lớp vàng mỏng
kia thành sáng bóng.
Người Trung Hoa cổ xưa đã biết
phương pháp mạ vàng này từ thới Xuân
Thu - Chiến quốc, tồn tại qua các đời
không hề gián đoạn. Thủy ngân thì chẳng
thiếu vì ở đất Quý châu có rất nhiều hồ
lớn chứa đầy thứ kim loại lỏng ấy.
Giờ hãy quay lại với lôi đài để xem Võ
Di Sơn Chủ đối phó thế nào trước chiêu
kiếm óng ánh sắc hoàng kim kia.
Từ Bạch âu không hề lúng túng, song
thủ nắm chặt đoạn giữa, vũ hợp hai đoạn
ngoài, dựng nên bức tường thép cực kỳ
kiên cố và kín đáo như da trời.
Hai ống thép nặng nề xoay tít như
chong chóng, giáng những đòn nặng như
búa tạ vào lưới kiếm, đánh văng Liễu
Vân Chiêu ra xa!
Quần hùng hoan hô Từ lão nhiệt liệt,
xuýt xoa tán dương côn thuật núi Võ Di.
Từ Bạch âu phấn khởi, vũ lộng Tam
Tiết Côn phản kích bằng bốn chiêu liên
hoàn, đẩy lùi họ Liễu hơn trượng.
Lúc này cử tọa mới biết Võ Di Sơn
Chủ thần lực kinh nhân, dẫu tuổi đã gần
thất thập Lão xử dụng cây côn ba khúc,
nặng bốn chục cân rất nhẹ nhàng, thoải
mái.
Liễu Văn Chiêu cắn răng chống đỡ
những nhát côn như trời giáng, hoặc tận
dụng khinh công mà né tránh, dùng phép
du đấu, chờ cơ hội phản đòn.
Dưới này, Nhương Thư dần dần nhận
ra sự quen thuộc trong kiếm pháp của
Liễu Văn Chiêu. Nó rất giống với pho
Hao Thiên Kiếm Pháp mà Đệ Tứ Châu
Khanh của Tứ Phạn Thiên Cung đã thi
triển ở Điền gia trang.
Thì ra Liêu Văn Chiêu là người của
Thiên Cung. Lão mạ vàng trường kiếm để
che những vệt sáng đặc trưng trong Hao
Thiên Kiếm Pháp.
Nhương Thư là người duy nhất so kiếm
với cao thủ Thiên Cung, trong suốt mười
ba năm qua, chàng lại có ký ức rất tốt nên
mới khám phá ra quỷ kế .
Thấy bang chủ Hán Bang đang cố tìm
cách di chuyển về hướng Tây, chiếm vị
trí đầu ngọn gió, Nhương Thư vội vận
công nói lớn:
- Từ Sơn Chủ không được để cho họ
Liễu chiếm hướng gió! Lão ta sắp phóng
VÔ Hình Chi Độc đấy!
Từ lão hoảng hồn, liền mở rộng lưới
côn, quét văng Liêu Văn Chiêu trở lại
hướng Đông.
Quần hùng nghe nói đến VÔ Hình Chi
Độc sợ đến đứng cả lên, ồn ào khôn tả.
VÔ ưu Cái nói ngay:
- Tần thiếu hiệp! Chẳng lẽ Liễu Văn
Chiêu là người của Tứ Phạn Thiên Cung?
Nhương Thư nghiêm giọng đáp!
- Tại hạ đoan chắc như thế! Họ Liễu
đang thi triển Hao Thiên Kiếm Pháp !
Từ khi biết Nhương Thư là học trò của
vị thánh tăng núi Ngũ Đài Sơn, quần
hùng vô cùng ngưỡng mộ và tin tưởng.
Trong số họ có không ít người trực tiếp
hay gián tiếp mang ơn Phật Đăng Thượng
Nhân Vì thế, mọi người hô vang:
- Giết gian tế!
Rồi họ nhảy xổ vào mười ba gã tùy
tùng của Liễu Van Chiêu đang ngồi quanh
bàn tiệc.
Kể tiên phong chính là Bạch Thúy Sơn
và Tào ưng. Họ Bạch quả xứng danh Vạn
Lý Thần Điêu, từ bàn mình bốc lên cao,
bay chếch hai trượng, bủa lưới thép
xuống đầu kẻ địch. Trường kiếm của gã
quét ngang theo hình nan quạt, đâm thủng
đầu ba gã Hán Bang.
Thiết Kình Ngư Tào ưng chậm hơn
một bước nhưng cũng đâm thủng ngực
được một tên. Chín gã còn lại rút kiếm
chống cự nhưng rốt cuộc cũng chết sạch
dưới sự phẫn nộ của đám đông.
Cũng lúc ấy, có hai bóng người phi
thân lên lôi đài, nam mặc áo xanh thẫm,
nữ võ phục lam nhạt.
Nữ nhân áo lam nhạt ấy chính là Bạch
Ngọc Tiên Tử Lam Đại Ngọc, phó trang
chủ Chính Khí Trang. Nàng nhanh chân
hơn nên lên trước Nhương Thư, vung
Thiết Địch lướt đến tấn công hậu tâm
bang chủ Hán Bang.
Nhương Thư đành đứng một bên quan
chiến, đề phòng họ Liễu đào tẩu. Chàng
kinh ngạc khi nhận ra nét căm hờn trên
gương mặt của Tiên Tử. Dường như nàng
có mối thù sâu đậm với Thiên Cung vậy!
Cây Thiết Địch đen bóng có hoa văn
khảm chỉ vàng kia chính là vũ khí thành
danh của Địch Thánh Dư Minh Thiều, nó
không dầy nhưng được làm bằng huyền
thiết nên rất rắn chắc. Phải chăng Địch
Thánh đã tạ thế mới trao vật tùy thân cho
đệ tử?
Địch Thánh đứng hàng thứ ba trong vũ
nội tứ thần, nhưng do tính lão ôn nhu, văn
nhả, không hiếu tháng, nên khó biết bản
lãnh thực như thế nào? Họ Dư từng đánh
thắng Hồng Diện Tôn Giả, song lại tự
nhận mình kém Đao Đế và Phật Đăng
Thượng Nhân, dù không hề tỷ thí .
Nay Nhương Thư được tận mắt chứng
kiến chiêu sáo của Đại Ngọc, lòng tự nhủ
rằng chưa chắc Đao Đế xứng với vị trí
thứ hai.
Cây Huyền Thiết Địch kia rít lên, hóa
thành trăm bóng ảnh, uy hiếp từ đầu đến
đùi sau của họ Liêu.
Trước sau đều ngộ địch, bang chủ Hán
Bang chỉ còn cách mở đường máu đào
vong.
Lão nghiến răng đánh bạt cây côn của
Võ Di Sơn Chủ rồi quay ngoắt lại đối phó
với Bạch Ngọc Tiên Tử.
Chẳng cần phải giấu giếm võ công
nữa, họ Liễu xuất chiêu Mãn Thiên Tinh
Đẩu, kiếm quang hiện rõ những vệt sáng
dọc ngang như ngàn sao đang băng qua
bầu trời.
Nếu Hao Thiên Kiếm Pháp tầm thường
thì Tứ Phạn Thiên Cung đã chẳng nổi
danh, cộng với công lực thâm hậu, họ
Liêu đã giải phá được chiêu sáo của Bạch
Ngọc Tiên Tử. Kiếm chạm Thiết Địch
vang lên những âm thanh trong trẻo và
thọc mũi vào ngực Lâm Đại Ngọc.
Tiên Tử thất kinh, đảo bộ lùi xa để né
tránh Liễu Văn Chiêu như hổ dữ cùng
đường, lập tức tung mình xông đến, toan
hạ thủ để rộng đường thoát thân.
Nhương Thư thấy lão cụp năm ngón
tay của bàn tay tả lại, đặt dưới rốn, liền
nhớ ra rằng Đệ Tứ Châu Khanh cũng
từng có động tác ấy, và sau đó chàng
trứng độc. Chàng vội vung kiếm, xuất
chiêu Minh Đăng Thất Hiện, lao vào mé
hữu của lão.
Khi kiếm của Liễu Văn Chiêu vừa
chạm lưới sáo của Lâm Đại Ngọc thì lão
kín đáo vung tả thủ lên. Nhưng Nhương
Thư đã đến nơi, trường kiếm vẽ nên bảy
bóng ảnh sáng trắng, lung linh như ngọn
lửa.
Liễu Văn Chiêu vội xoay kiếm chống
trả, điểm liền mười tám thức, nhưng
không sao giải phá được tuyệt học Ngũ
Đài Sơn
Lão rú lên thảm thiết, ngã ngửa ra sàn
đày dấy dua, máu từ hai vết thương nơi
ngực tuôn như suối.
Quần hùng hân hoan reo cười, không
để ý rằng Bạch Ngọc Tiên Tử đã quy
xuống vì trứng độc. Nhương Thư đã can
thiệp kịp thời nên nàng chỉ hít phải có
một ít, song cũng không đứng vững nổi,
phải ngồi xuống vận công trục ra ngay.
Nhương Thư cau mày bước đến nói:
- CÔ nương hãy dồn chân khí vào kinh
Thủ Thái âm Phế, tại hạ sẽ giúp một tay.
Nói xong, chàng ngồi xuống sau lưng
nạn nhân, hữu thủ áp vào Mệnh Môn, tả
thủ đặt lên vai trái, ngón trỏ bấm vào
huyệt Vân Môn, ở bờ dưới đầu ngoài
xương đòn.
Luồng chân nguyên hùng hậu của
Nhương Thư trút vào người Tiên Tử như
thác lũ, giúp nàng nhanh chóng trục hết
dư độc ra ngoài cơ thể theo mồ hôi.
HỔ Hồng Nhan Điền Ngọc Trâm đã lên
đến, cầm kiếm đứng cạnh hai người, tư
thế thì như hết lòng bảo vệ, mà lòng thì
hậm hực, chỉ muốn đâm cho Bạch Ngọc
Tiên Tử một nhát chết toi. Nàng trẻ đẹp
thế này mà còn mê chàng, huống hồ gì cô
ả gái già kia?
Ngọc Trâm ghen cũng phải vì nhan sắc
của Lâm Đại Ngọc cũng thuộc hàng nhất
lưu và thân thể đương nhiên nẩy nở, hấp
dẫn hơn HỔ Hồng Nhan.
Thời gian sao trôi qua quá chậm, phải
chăng ả họ Lâm kia đã khoẻ mà cố tình
ngồi lì để được kề cận Nhương Thư?
Đúng khắc sau, Nhương Thư mới thu
tay về, nhắm mắt điều tức, tái tạo lại số
chân nguyên hao hụt.
Bạch Ngọc Tiên Tử thoát chết, quỳ lên
bò ra xa một chút rồi quay lại, lạy tạ ân
nhân Nhưng nàng không bỏ đi mà cứ quỳ
như thế để chờ đợi, mắt dán vào gương
mặt nhân từ đôn hậu của chàng trai có đôi
tai Phật.
Ngọc Trâm nghe máu ghen dồn lên óc,
cười nhạt bảo :
- Thuyết phu thi ân bất cầu báo, cô
nương bất tất phải chờ đợi! Hơn nữa, y
phục của cô nương đã ướt đẫm và hôi
hám, cần phải thay rồi đấy.
Bạch Ngọc Tiên Tử ngửi được mùi
dấm chua của ghen tuông, tủm tỉm trả
đũa:
- ồi chà! Té ra Tần công tử đây là
trượng phu của Điền đại tiểu thư đấy sao?
Thế mà mấy hôm nay ta cứ tưởng Bạch
Thúy Sơn mới là rể của họ Điền! Không
phải mình ta mà nhiều người cũng hiểu
lẩm như thế đấy !
Đòn đau điếng này khiến mặt Ngọc
Trâm lúc đỏ lúc tái xanh. Nàng giận dữ
nạt:
- Tiện tỳ chớ nói càn!
Bị mạt sát, Tiên Tử đứng phắt dậy, chỉ
mặt HỔ Hồng Nhan gằn giọng:
- Thân nhi nữ dù học võ cũng giữ lễ!
Nay nàng buông tuồng nhởn nhơ dạo phố
với trai tơ, còn dám mắng người nữa sao?
Nếu không nể Tần công tử thì ta đã xé
rách miệng nàng ra rồi!
Ngọc Trâm thẹn quá hóa giận, rút kiếm
định chém Tiên Tử thì Tào ưng nhảy vào
giữa hai người. Gã lạnh lùng bảo:
- Lâm cô nương nói rất chí lý, sao tiểu
thư lại phát tác?
Ngọc Trâm chết điếng khóc lóc:
- Đến Tào ưng đại ca mà cũng nghi
ngờ tiểu muội nữa sao? Chẳng qua tiểu
muội muốn thử lòng Thúy Sơn để phòng
sau này y gặp mặt ba đứa em gái của tiểu
muội. Nếu họ Bạch có chút tà ý là tiểu
muội sẽ có cớ đuổi đi ngay! Vẻ anh tuấn
của Thúy Sơn chính là tai họa cho
Nhương Thư đấy!
Tào ưng nghe cũng có lý, gãi đầu nói:
- Sao nàng không nói trước? Hơn nữa,
có những việc phải mà vẫn chẳng được
phép làm, đi qua ruộng dưa thì chớ cúi
xuống sửa giày, để lâm vào cảnh tình
ngay lý gian.
Bạch Ngọc Tiên Tử mỉa mai:
- Bắt cá hai tay mà còn giả đò chính
chuyên, thúi thực !
HỔ Hồng Nhan chưa kịp nổi tam bành
thì Nhương Thư đã đứng lên, ôm nàng vỗ
- Ta đã hiểu tấm lòng của hiền muội.
Ngọc Trâm gục vào ngực chàng khóc
rấm rức, lòng vô cùng hối hận. Nàng
quen thói ngang ngạnh, nghĩ mình đúng
là cứ làm nên mới có cảnh này.
Bạch Ngọc Tiên Tử nghiêng mình bái
rối nói:
- ơn cứu mạng hôm nay thiếp chẳng
dám quên.
Dứt lời nàng nhảy xuống đất đi mất.
Bọn Nhương Thư cũng đã hạ đài được
quần hùng xúm lại tán dương.
VÔ ưu Cái khám xác Liễu Văn Chiêu,
phát hiện lão có mang mặt nạ, và trong cổ
tay tả có dấu một túi the mỏng chứa độc
phấn cực mịn.
ông rất hân hoan trước chiến lợi phẩm
này, dùng đũa gắp bỏ lọ sành mang về
cho các danh y nghiên cứu cách giải độc.
Đã cuối giờ Tỷ nên Hầu bang chủ
tuyên bố nghĩ trưa, đầu giờ Thân sẽ đấu
trận của Nhương Thư và Quảng Đông
Thần Đao Cốc Hậu Nhan.
Cơn trưa được dọn ra, dĩ nhiên không
ngon lành bằng tiệc của Chính Khí Trang
ngày khai đàn.
Người võ lâm chỉ cần nhiều rượn là đủ
nên chẳng hề phàn nàn. Họ vừa ăn uống
vừa tranh luận về diễn biến bất ngờ lúc
nãy. Dĩ nhiên là họ hết lời ca tụng Tần
Nhương Thư, người đã phát hiện ra âm
mưu của Tứ Phạn Thiên Cung. Từ nay,
thanh danh của chàng lẫy lừng tứ hải, dù
có trở thành quyền minh chủ hay không.
Nhưng Nhương Thư đã sớm rời khỏi
Lã gia trang, quay lại thành An Dương
nghĩ ngơi, thời gian hai canh giờ quá dài
để ngồi nghe người khác tán tụng mình.
Bạch Thúy Sơn đã nghe được lời bộc
bạch của Ngọc Trâm nên xấu hổn rủ Tào
ưng ở lại.
Về đến chỗ trọ, tắm táp và ăn uống
xong, HỔ Hồng Nhan chui vào phòng
đóng cửa lại, nằm khóc tỷ tê !
Khu phòng dành cho khách nam giới ở
khá xa nên Nhương Thư không nghe thấy
tiếng khóc, thản nhiên cởi áo ngả lưng
cho khó e .
Chẳng lẽ la làng lên để bị dám gia
nhân trong nhà biểu huynh cười, Ngọc
Trâm nín khóc, cắn môi suy nghĩ một lúc
lâu rồi sang phòng Nhương Thư.
Cửa không đóng, HỔ Hồng Nhan bước
vào, gài then cẩn thận, đi qua bức bình
phong, đến trước giường của tình lang.
Nhương Thư đã ngồi lên, cười hỏi:
- Sao mắt của hiền muội đẫm lệ thế
kia?
Điền Ngọc Trâm quị xuống, gục mặt
vào gối Nhương Thư mà khóc thút thít.
Nàng mới gội đầu nên mái tóc huyền còn
ẩm, buông xõa trên lưng và thoang
thoảng mùi hương thơm của hoa lài.
Người ta đã tẩm tinh dầu hoa lài vài
những viên bồ kết để thân thể và tóc được
thơm tho. Chỉ có những giàu mới dám
dùng loại này.
Trễ lắm là vào thời nhà Đường, người
Trung Hoa đã biết dùng bồ kết để tắm
gội. cách chế biến viên bồ kết rất đơn
giản, còn được ghi lại trong bản thảo
cương mục của danh y lý thời Trân Triều
Minh: "Tháng mười hái bồ kết về, đun
chín, giã nát, hòa với bột mì trắng và
hương liệu rồi viên lại ! "
Nhương Thư vuốt tóc nàng rồi đỡ lên,
đặt ngồi vào lòng. Thân hình mềm mại,
ấm nóng và ngát hương của Ngọc Trâm
đã khiến tâm hồn chàng lâng lâng một
cảm giác hạnh phúc diệu kỳ.
Chàng ở trần để lộ thân trên săn chắc,
bắp thịt không nở nang nhưng nắm lại
thành múi rất rõ. Người học võ, ngoài
việc luyện nội công còn phải nâng cao
sức chịu đựng của cơ bắp và khung
xương. Ví như kẻ bẩy đá, dù khỏe mạnh
mà dùng đòn bằng gỗ nhỏ, yếu thì thất
bại vì đòn bị gậy.
Tóm lại, các đại cao thủ đều kiêm
thông nội công và ngoại công! Nhương
Thư cũng vậy nên cơ thể rất đẹp, khiến
cho Ngọc Trâm bị quyến rũ, dù đầy
những vết thương chưa liền miệng. Nàng
chìm dần vào trạng thái say đắm, run rẩy
vuốt ve bờ ngực trái của chàng.
Nhương Thư có định lực rất thâm hậu,
nhờ trai giới suốt mười mấy năm ròng,
tuy xao xuyến nhưng vẫn không nổi tà
tâm.
HỔ Hồng Nhan mỗi lúc thêm háo hức,
nhìn chàng đắm đuối và đỏ mặt thì thầm:
- Đại ca! Tiểu muội xin dâng hiến để
chứng tỏ lòng mình.
Nhương Thư mỉm cười:
- Nàng chứng tỏ tình yêu bằng cách ấy
chỉ tổ khiến ta kiệt lực, tứ chi bải hoải,
làm sao chiều nay có sức mà thượng đài?
Ngọc Trâm thẹn chín người, nhe răng
cắn vào vai Nhương Thư rồi hờn dỗi bỏ
về phòng mình.
Giữa giờ Mùi, hai người lên ngựa đi
đến Lã gia trang. Được vài dặm, đường
quan đạo nhỏ xuyên qua cánh rừng
Hoàng Đàn già nua, vươn ra đến gần giữa
lộ, tỉa mùi thơm thoang thoảng.
Hoàng Đàn thuộc họ long não, là loài
thân gỗ lớn, thường xanh, thu về không
rụng lá như ngô đồng. Chính vì thế, lữ
khách khó có thể nhận ra những tên thích
khách mặc y phục xanh lục ẩn mình trên
cây
May thay, do giận dỗi nên HỔ Hồng
Nhan chẳng thèm chuyện trò với Nhương
Thư, giả đò ngắm nghía phong cảnh.
Nàng tức tối và hổ thẹn vì đã lở miệng
hiến thân cho gã ngốc kia, để bẽ mặt vì bị
chỗ i từ ! . . . Dù rằng, lòng nàng rất khâm
phục nhân phẩm của Nhương Thư, nếu là
nam nhân khác thì chẳng mèo nào chê
mỡ! Là nàng chợt nghĩ đến cảnh bụng
mình to ra khi chưa cưới hỏi liền bật cười
khúc khích! Rồi ánh mắt nàng chạm phải
một đống lù lù trên tán cây bên đường,
kinh hãi thét lên:
- Đại ca! Coi chừng mai phục!
Cả hai gò cương, rút kiếm phòng thân.
Thấy đã bị lộ, bọn thích khách đành nhảy
xuống, chạy đến tấn công. Chúng đông độ
hai chục tên, toàn thân phủ kín bàng vải
màu xanh lá, chỉ chừa hai lỗ mắt, tay lăm
lăm kiếm tuốt trần, chẳng hiệu thuộc
bang hội nào?
Nhương Thư quắt mắt nói mau:
- Trâm muội cứ tìm cách thoát đi
trước, để ta đoạn hậu cho.
HỔ Hồng Nhan lắc đầu:
- Không ! Uyên ương sống chết c Où đô i !
Dứt lời, nàng thúc gót giầy vào bụng
ngựa, tuấn mã chồm lên, lao vào hàng
ngũ đối phương. Nhương Thư cũng phải
bám theo ngay.
Đôi ngựa phi song song nên mỗi người
chỉ phải đề phòng một phía, và trước mặt.
Nhương Thư nhoài người vung kiếm
chém vào một tên vừa áp sát. Gã cử
gươm đỡ đòn, nào ngờ nhát kiếm kia
nặng tựa nghìn cân, lại từ trên cao giáng
xuống, đã đánh văng vũ khí của gã, tên
sát thủ chưa kịp thoái hậu thì mũi kiếm
đối phương đã biến thế đâm thủng trán.
Bên kia, HỔ Hồng Nhan cũng đả
thương được một gã, hứng chí tiến lên.
Nhưng bọn phục binh đã vung tay phóng
ám khí như mưa, khiến Nhương Thư và
Ngọc Trâm phải loang kiếm bảo vệ châu
thân Họ không thọ thương nhưng đôi
ngựa hí lên não ruột, khuỵu xuống vì
chân cắm đầy những mũi phi tiêu tẩm
độc
Phi tiêu là loại ám khí rất phổ biến, chế
tạo dễ dàng và thủ pháp phóng cũng
không khó. Nó cấu tạo bởi một đoạn thép
dẹp, nhọn, dài nửa gang, đuôi cột chùm
tơ để luôn bay thẳng. Chùm tơ ấy có tác
dụng như những cái cánh ở đuôi trường
tiễn. Nhờ thế, bất cứ ai cũng có thể phóng
phi tiêu sau hơn tháng luyện tập.
Tiếng ngựa hí bi thương kia dường như
đã đánh thức một kỷ niệm đẫm máu trong
quá khứ của Nhương Thư! Ngày ấy, bọn
bịt mặt cũng đã dùng ám khí đánh đòn
phũ đầu, giết chết tuấn mã của cha chàng,
khiến ông phải cõng chàng mà phá vây.
Sau này, khi điều tra ra lai lịch của
Nhương Thư, Phật Đăng Thượng Nhân đã
đến Trường Sa rước thân mẫu chàng đi
Ngũ Đài Sơn sum họp. Chính bà cũng
không biết vì sao có kẻ lại muốn giết một
kiếm sĩ chưa thành danh như Tần Tử
Chính?
Cái chết oan uổng, đầy nghi vấn của
ông đã khiến kỷ niệm xưa càng hằn sâu
tâm hồn Nhương Thư. Giờ đây, sát khí
phủ mờ gương mặt nhân hậu và mắt
chàng lập lòe những tia oán độc.
Nhương Thư lại biến thành kẻ say
máu, phóng tay chém giết. Nhưng trong
phe đối phương có đến sáu, bảy cao thủ,
bản lãnh tương đương hoặc hơn Thiết
Kình Ngư.
Chỉ sau vài chiêu, chàng đã nhận ra
gốc tích phe địch. Những sóng âm quái dị
đang công phá màng nhĩ chàng chính là
đặc tính của Huyết Tâm Kiếm Pháp.
Vậy là Lã Tập Hiền quả thật đã trở
thành giáo chủ Huyết Tâm Giáo. Lão e
ngại Nhương Thư nên cho thủ hạ diệt trừ,
hoặc để tìm hiểu xem chàng có kháng cự
nổi ma thanh như Phật Đăng Thượng
Nhân hay không?
Năm xưa, Huyết Tâm Đế Quân vong
mạng, tan nát cơ đồ cũng vì có kẻ giỏi
nghề giả điếc như Phật Đăng!
Tuy tận mắt chứng kiến Nhương Thư
phải lấy máu đổi mạng Hạt Nhãn Thần
Ma, tức bản lãnh kém xa mình, song họ
Lã vân chưa yên tâm! Trong võ lâm,
không ai biết chắc pho kiếm pháp Phật
Đăng có bao nhiêu chiêu, dường như cứ
mỗi lần đụng phải đi thủ cao cường hơn
là Thượng Nhân lại ló ra một chiêu ảo
diệu hơn.
Phật Đăng là bậc kỳ tài trong võ học,
đã dựa trên sở học Ngũ Đài Sơn mà sáng
tạo ra Phật Đăng Kiếm Pháp và Nhiên
Đăng Kiếm Pháp, khiến cả võ lâm đê đầu
bái phục!
Nhiên Đăng Chân Khí màu nhiệm vô
song, giải trừ bách độc và các thứ tà pháp
trên đời. Nhơ thiên bẩm và Quỷ Nấm,
Nhương Thư đã luyện xong lớp thứ bảy
của thần công, nên không chết bởi VÔ
Hình Chi Độc và xem thường ma âm của
Huyết Tâm Giáo.
Chàng dồn công lực tạo thành màn
cương khí bảo vệ toàn thân, nhảy xổ vào
gã sát thủ đối diện. Gã không ngờ đối
phương chẳng hề hấn gì trước sáu đạo ma
âm, kinh hãi cử kiếm đón chiêu.
Có thể nói rằng khi rơi vào trạng thái
khát máu, đường kiếm của Nhương Thư
lợi hại hơn bình thường. Những chiêu
kiếm nhu hòa đã biến hóa theo hướng
hiểm độc, không chừa một vị trí nào!
ánh mắt dã thú của Nhương Thư đã
khiến đối thủ rợn mình, song mũi kiếm
của chàng mới mang đến sự chết chóc.
Chiêu Nghiệp Chướng Nan Đào chỉ có
mười tám thức, đơn giản nên nhanh như
chớp giật, trổ một lỗ lẻ loi trên ngực trái
nạn nhân.
Đồng đảng của gã đâu chịu đứng im,
ba tên liên thủ uy hiếp hậu tâm và tả hữu
của Nhương Thư. Đối với kiếm thủ
thượng thừa, vũ khí chẳng bao giờ lưu lại
trong xác chết quá lâu, nên kiếm của
Nhương Thư đã sớm rút về, hóa thành
chiếc tán che thân.
Không chỉ đơn giản là dỡ đòn, mà là
chiêu Dạ Xoa Tán Hoa, rải muôn nghìn
đóa kiếm ảnh chặn đứng ba lưỡi kiếm kia
và trùm lấy tên mé hữu. Gã cắn răng giữ
tấn trụ lại chứ không lùi, loang kiếm tự
vệ, hy vọng hai đồng bọn giải vây.
Lòng dũng cảm của gã đã thành vô ích
vì Nhương Thư vừa thọc kiếm vào bụng
dưới của gã xong là đề khí bốc lên cao
ngay. Lưng chàng vướng kiếm đau rát
nhưng không sâu, vẫn hung hãn sà xuống
tấn công hai đối thủ của HỔ Hồng Nhan ở
gần đấy
Hành động bất ngờ này đã thu được lãi
to, Nhương Thư dễ dàng rạch đứt gáy hai
gã xấu số, giải tỏa bớt áp lực cho Ngọc
Trâm.
HỔ Hồng Nhan nãy giờ chiến đấu kiên
cường, tóc tai rũ rượi, y phục vương đầy
máu của ba gã áo lục thuộc hàng tốt đen,
và bờ mông trái mơn mởn của nàng đã bị
phe đối phương đâm thủng.
Vết thương ở phần thịt mềm nên không
đau đớn lắm, chỉ chảy máu nhiều và
khiến HỔ Hồng Nhan tức giận, lo lắng.
Đối với nàng, một vết sẹo dù ở chỗ nào
cũng làm giảm đi nhan sắc khuynh thành.
Do vậy, khi được Nhương Thư sát
cánh, nàng hùng hổ lao vào hàng ngũ
địch để trút hận.
Tuy nhiên, có lẽ vì quá khiếp đảm
kiếm pháp của Nhương Thư nên mười hai
tên còn sống sót thay đổi đấu pháp.
Chúng vây chặt lấy hai người, khi kẻ nào
bị tấn công thì hai gã bên cạnh lập tức
liên thủ chống chọi, và cùng lùi lại. Nhờ
vậy, chúng giảm thiểu được thương vong,
cầm chân đối thủ.
Ngọc Trâm thức ngộ ra, la lên:
- Đại ca! Chúng không muốn ta đến đại
hội kịp giờ!
Nhương Thư gật đầu:
- Nàng hãy bám sát ta mà phá vây!
Dứt lời, chàng dũng mãnh xông lên,
tiếng kình rít lên như tiếng xé lụa, kiếm
quang loang loáng dưới ánh nàng gắt làm
hoa mắt người.
Nhương Thư đã dồn hết công lực thi
triển phép khoái kiếm đến độ chót để mở
đường máu. Chàng giết liến hai gã dại
dột cản đường, đả thương thêm hai gã
nữa, phá thủng vòng vây, dẫn htr đào
thoát
Bọn sát thủ kinh tâm táng đởm không
dám có ý định duỗi theo, rút cả vào rừng.
Chạy được hai dặm, Ngọc Trâm nói:
- Đại ca! Chúng ta ghé vào rừng băng
bó vết thương chứ! Chẳng lẽ để thế này
mà chường mặt trước mấy ngàn người?
Nhương Thư gật đầu, cùng nàng rẽ
phải vào rừng Hoàng Đàn, đến chỗ có
suối nước liền dừng lại, chàng nóng ruột
vì sợ trễ nên nói ngay:
- Nhanh tay lên, không thì trễ mất !
Ngọc Trâm thẹn thùng:
- Đại ca nhắm mắt lại đi!
Nhương Thư bật cười:
- Nhắm mắt làm sao thấy đường chăm
sóc vết thương? Lúc trưa thì nồng nhiệt
mà giờ thì bẽn lẽn, thực là khó hiểu!
HỔ Hồng Nhan đỏ mặt càng bội phần
xinh đẹp Nhương Thư động lòng, bước
đến cởi giải thắt lưng hộ nàng. Ngọc
Trâm chỉ còn cách nhắm mắt để mặc
chàng hành động, giọt lệ thẹn thùng ứa
ra.
Đứng phơi trên bờ e không tiện,
Nhương Thư bồng nàng mà đi xuống
dòng suối, chọn chỗ nước xâm xấp đến
mông, đặt Ngọc Trâm đứng xuống.
Thấy vết thương chẳng đáng gì, chàng
cười bảo :
- Vết rách không sâu, tắm xong băng
cũng được ! Nàng tự cởi áo hay nhờ ta?
Một liều ba bảy cũng liều, Ngọc Trâm
mở mắt, cởi bỏ chiếc áo đầy máu, chỉ còn
lại yếm đào.
Dường như, sau mỗi lần bị kích động
bởi cơn say máu, định lực của Nhương
Thư giảm đi. Chàng say đắm bước đến
hôn hít, vuốt ve gương mặt và thân hình
ngà ngọc của mỹ nhân! Yếm đào cũng
sớm trôi theo gióng nước suối!
HỔ Hồng Nhan rạo rực, ngất ngây ôm
lấy tình lang, lát sau nàng sực tỉnh, khẽ
nhắc:
- Đại ca! Sắp đến giờ Thân rồi!
Nhương Thư chỉ gật đầu mà chẳng
chịu buông, định gầy cuộc ái ân. Ngọc
Trâm bắt đầu sợ, nhắc thêm:
- Tiểu muội không tiếc thân nhưng
chiều nay chàng còn thượng đài nữa!
Nhương Thư cười mát:
- Dầu có hai lão Quảng Đông Thần
Đao ta cũng chấp!
Tuy nói thế nhưng chàng đã kiềm chế
được dục vọng, bồng nàng lên. Hai người
xức thuốc kim sang cho nhau, mặc lại y
phục ướt rồi lên đường. May mà họ đã
ném chúng lên bờ.
Trong lúc ấy, đại hội võ lâm xôn xao vì
sự vắng mặt của Nhương Thư. VÔ ưu Cái
nhấp nhổm như ngồi trên bàn chông.
Qua đầu giờ Thân chừng nửa khắc, Lã
Tập Hiền lên tiếng:
- Có lẽ Tần công tử đã bỏ cuộc! Xin
hội đồng võ lâm tuyên bố Quảng Đông
Thần Đao thắng trận này!
Bạch Thúy Sơn vội lên tiếng bênh vực:
- Lã trang chủ sợ y hay sao mà lại gấp
thế? ít ra cũng phải chờ đúng một khắc
rồi sẽ tính!
Quần hùng yêu mến Nhương Thư nên
lên tiếng tán thành! Thời gian nặng nề
trôi qua theo làn gió nhẹ của cây hương
trên bàn giám đài. Nó vừa cháy đến vạch
một khắc thì Quảng Đông Thần Đao Cốc
Hậu Nhan lạnh lùng nói:
- Mong ban giám đài giữ đạo công
bằng cho! Nếu không, Cốc mỗ chẳng để
yên đâu!
VÔ ưu Cái rầu rĩ rời bàn, đi ra giữa
đài, chuẩn bị tuyên cáo. Nào ngờ, từ phía
ngoài cổng trang vọng vào tiếng quát trầm
hùng:
- Khoan đã!
Hầu bang chủ thở phào, mặt tươi tỉnh
hẳn lên. Nhương Thư và Ngọc Trâm vào
đến nơi, y phục rách rưới và ẩm ướt,
khiến mọi người ngỡ ngàng.
có kẻ nói đùa:
- Chắc đôi uyên ương này mãi mê quần
thảo với nhau nên quên cả giờ giấc!
Cử tọa phát lên cường hô hố, khiến
Ngọc Trâm đỏ mặt ngượng ngùng. Họ đã
nói đúng một phần sự thật nên nàng
không thể cãi! Nếu hai người không ôm
ấp nhau dưới suối thì đâu đến nỗi trễ!
Nhương Thư phi thân lên đài, vòng tay
nghiêm giọng:
- Kính cáo ban giám đài và chư vị đồng
đạo! Tại hạ gặp mai phục ở cánh rừng
Hoàng Đàn nên mới chậm chân!
Toàn trường sửng sốt Oà lên phẫn nộ khi
Nhương Thư cởi áo để lộ vết thương dài
sau lưng.
Một tay có lòng thương hương tiếc
ngọc nào đó đã tỏ dạ quan tâm:
- Tần công tử mà còn thọ thương thì
chắc Điền tiểu thư khó toàn vẹn.
Ai đó mừng rỡ thét lên:
- Ta thấy rồi! Quần của nàng bị rách ở
mông !
HỔ Hồng Nhan vội quấn chặt áo
choàng, ngồi gục đầu xuống bàn, chẳng
dám ngẩn lên, chết lịm vì tiếng cười diễu
cợt của mấy ngàn gã nam nhân khả Oá !
VÔ ưu Cái ra hiệu cho họ im rồi hỏi:
- Tần công tử có nhận ra lai lịch của họ
hay không?
Nhương Thư gật đầu, chậm rãi đáp,
nhấn mạnh từng chữ:
- Huyết... Tâm.. Giáo...!
Bọn thanh niên không biết nhưng đám
võ sĩ già đều tái mặt, xầm xì bàn tán.
Ngọc Trâm giật mình ngẩng lên vì
nghe giọng thánh thót ngọt ngào của
Bạch Ngọc Tiên Tử Lâm Đại Ngọc:
- Công tử có chắc không? Và vì sao họ
lại chặn đường chàng?
Đây cũng là thắc mắc chung nên toàn
trường im lặng lắng nghe. Nhương Thư
điềm đạm đáp:
- Quyết Tâm Kiếm Pháp phát ra tà
âm công phá não bộ đối phương qua
đường thính giác, đặc điểm này thì ai
cũng biết! Còn về lý do khiến họ muốn
giết tại hạ chính là vì chức danh quyền
minh chủ võ lâm!
Chàng không thể chỉ mặt tố cáo Lã Tập
Hiền vì nhân chứng duy nhất là Hoàng
Nghi Tuyệt đã bỏ đi. Gã bị hại bởi ma âm
mà không biết đấy là sở học của Huyết
Tâm Giáo. Nếu gã có mặt, tất sẽ làm
chứng rằng Lã Tập Hiền đã đả bại mình
bằng một thứ âm thanh quái dị.
Song như thế cũng đủ để quần hùng
nghi ngờ họ Lã và hai ứng cử viên còn lại
là Quảng Đông Thần Đao và Võ Di Sơn
Chủ!
Lã Tập Hiền phá lên cười khanh
khách:
- Ngươi quả là khéo ngậm máu phun
người! Huyết Tâm Đế Quân đã chết và
biệt tích gần ba mươi năm, làm gì còn
nữa?
Nhương Thư không phải là người giỏi
khẩu chiến liền im tiếng, quay sang vái
Quảng Đông Thần Đao:
- Tại hạ đã khiến Cốc đại hiệp phải chờ
lâu, thật đắc tội!
Họ Cốc tươi cười hỏi:
- Tần thiếu hiệp đã thọ thương, liệu có
giao đấu được không?
Nhương Thư gật đầu, rút kiếm chào rồi
thủ thế. Cốc Hậu Nhan cũng rút bảo đao
chờ đợi, vì đối phương được quyền xuất
chi êu trước .
Không thù, không oán, Nhương Thư
chậm rãi lướt đến tấn công, bằng một
chiêu rất ôn hòa. Họ Cốc giải phá dễ
dàng, đáp lễ bằng những đường đao đơn
giản, dường như muốn thăm dò sở học
của đối phương.
Lát sau, vết thương nơi lưng Nhương
Thư bật máu khiến chàng phải dấy nhanh
tốc dộ trận đánh, kết liễu sớm để còn
băng lại.
Quảng Đông Thần Đao Cốc Hậu Nhan
đang ở tuổi tứ thập, tướng mạo mập mạp,
mặt phúng phính phúc hậu. Gã mở trường
dạy võ ở Các Châu, đệ tử đông đến gần
ngàn, tính tình hào sảng được xem là bậc
hiệp sĩ.
Do vậy, Nhương Thư không có ý định
máu lan nhanh. Dĩ nhiên, chân khí chàng
giảm sút mau chóng, đường gươm mất uy
lực, lúc này Cốc Hậu Nhan bắt đầu phản
công quyết liệt, giáng những đòn như sấm
sét Nụ cười vẫn nở trên môi, song ánh
mắt gã thấp thoáng những tia ác độc.
Nhương Thư thức ngộ rằng mình đã
trứng độc của Quảng Đông Thần Đao,
một kẻ phật diện xà tâm! Chàng cố nén
phẫn nộ, đứng im vận khí trục độc, điều
khiển trường kiếm bằng sức mạnh của cơ
bắp.
Nhiên Đăng Tâm Pháp mầu nhiệm ở
chỗ có thể điều tức bằng mọi tư thế, dù
đứng, nằm hay đang bước .
Quần hào kinh ngạc khi thấy cục diện
trận đấu đã hoàn toàn đảo ngược. Giờ
đây, Nhương Thư yếu ớt như cây liễu ngả
nghiêng trước gió, di chuyển những bước
thật ngắn, cố chống chọi với cơn bão thép
của đối phương.
Nhưng cũng chính lúc này mới thấy
được hết trình độ kiếm thuật siêu phàm
của Nhương Thư. Đường kiếm của chàng
không nhanh, không mạnh nhưng cực kỳ
chuẩn xác, mỗi nhát kiếm đều nhắm đúng
sơ hở trong nước đao, khiến họ Cốc khiếp
vía phải bỏ lỡ chiêu công mà chống đỡ.
Kỳ diệu ở chỗ là kiếm của chàng chẳng
hề chạm vào đao, nếu không đã bị đánh
văng ra.
Tuy nhiên, Nhương Thư cũng chẳng
phải là hoàn toàn lành lặn. Lưỡi đao của
họ Cốc đã rạch mười mấy đường trên vai,
ngực bụng, đùi Nhương Thư, dẫu chỉ rách
da nhưng cũng đủ khiến chàng tả tơi, thê
thảm, y phục đứt nát.
Ngọc Trâm đau lòng khóc ngất và gọi
vang:
- Đại ca chịu thua đi!
Quần hùng và các chưởng môn ngơ
ngác, không hiểu điều gì đang xảy ra. Khi
cây nhang cháy gần đến giới hạn hai khắc
thì VÔ ưu Cái mới thức ngộ được ẩn tình,
thất thanh:
- Nhương Thư trứng độ c !
Khánh Hỉ đại sư liền vận thần công Sư
Tử Hống quát vang như sấm :
- Dừng i ay !
Quảng Đông Thần Đao Cốc Hậu Nhan
còn kém xa Hạt Nhãn Thần Ma nên giật
bắn mình, tay chân bủn rủn. Đúng lúc
này, Nhương Thư ập đến xuất chiêu Tu
La Hiến Bảo, mũi kiếm hóa thành chín
đốm sáng, rực rỡ như châu ngọc.
Họ Cốc cố gượng lùi lại và cử đao đỡ
gạt nhưng không còn kịp nữa. Gã rú lên
thê thiết, buông đao ôm ngực, lảo đảo
quy xuống.
Nhương Thư cũng buông gươm ngồi
xuống sàn lôi đài, xếp bằng trục nốt dư
độc Dầu sao thì ngồi kiết già vẫn hơn.
Phổ Chứng thiền sư, chưởng môn phái
Nga Mi, vội rời bàn, bước đến ngồi
xuống sau lưng chàng, truyền công hỗ
trợ
Người thân của Nhương Thư đã nhảy
lên vây quanh, gồm Ngọc Trâm, Tào
ưng, Thúy Sơn và... Bạch Ngọc Tiên Tử.
VÔ ưu Cái thì cùng ba vị chưởng môn
kia đến cạnh xác Cốc Hậu Nham khám
xét Quảng Đông Thần Đao không mang
mặt nạ nhưng trong chùm tơ xanh ở chuôi
đao lại có giấu một túi the nhỏ chứa chất
độc, còn trong thắt lưng lại giấu mảnh
ngọc bội hình trái tim bằng mã não đỏ,
trên khắc bốn chữ: Nam Đường đường
chủ!
VÔ ưu Cái thở dài nói nhỏ:
- Có thể là Huyết Tâm Giáo và Tứ
Phạn Thiên Cung đã liên kết với nhau!
Dã tâm của Lã Tập Hiền thật đáng sợ!
Nhưng không có cách gì để chứng
minh, bốn vị chưởng môn đành trở về bàn
giám đài để thương lượng, tính toán.
Ba khác sau Nhương Thư mới thoát
hiểm hoàn toàn. Chàng nghiêng mình vái
tạ Phổ Chứng thiền sư:
- Đệ từ đội ơn thiền sư đã ra tay tế độ !
Phổ Chứng cười hiền:
- Sao lại xưng hô như thế? Ngươi phải
gọi ta là sư huynh mới đúng chứ!
Nga Mi, Thiếu Lâm, Phật Quang đều là
chùa thiền tông, có quan hệ rất mật thiết,
thường qua lại thăm hỏi và bàn luận bàn
luận kinh điển. Nhương Thư là sư đệ của
trụ trì chùa Phật Quang, vì Phật Đăng
Thượng Nhân là sư thúc của Chân Không
đại sư! Mà Phổ Chứng thì ngang hàng với
Chân Không, ở vai sư huynh của Nhương
Thư là phải.
Nhương Thư mỉm cười:
- Phật huynh để râu dài bạc trắng nên
tiểu đệ ngượng miệng.
Quần hùng chưa rõ sự việc nên nhao
nhao hỏi han:
- Tần công tử! Phải chăng lão họ Cốc
kia đã phóng độc?
Nhương Thư quay xuống, vòng tay
đáp:
- Thưa phải ! Lão ta dùng chất độc đặc
biệt, ngửi thì không sao nhưng gặp vết
thương là theo máu mà xâm nhập.
Trong cử tọa cũng có người trí giả,
người này đưa ra cao luận:
- Lão phu cho rằng đây là bước tiếp
theo của trận mai phục mà công tử đã
gặp! Đối phương không hy vọng giết
được công tử, chỉ mong cầm chân, hoặc
gây thương tích để Quảng Đông Thần
Đao hoàn tất âm mưu!
Mọi người rất khâm phục suy luận ấy,
và có kẻ đã nhận ra lai lịch bậc cao nhân,
mừng rỡ gọi vang:
- Bất Trí Thư Sinh!
Tuy mang danh Bất Trí nhưng Cao
Trườngtoản lại là người thông minh
tuyệt thế, kình địch số một của Ngọa
Long Tú Sĩ.
Họ Cao năm mươi lăm tuổi, trước giờ
ẩn cư ở núi Tử Kim, đất Tứ Xuyên. Lão
mang tướng ngũ bộ, xấu xí, thô kệch,
dung mạo kém xa Ngọa Long Tú Sĩ,
nhưng tài cán thì chưa biết ai hơn ai?
Bất Trí Thư Sinh tinh thông tam giáo,
mặc áo học trò nhưng thông hiểu cả Đạo
Tạng lẫn kinh điển nhà Phật. Lão thường
đến những chùa lớn, cùng các bậc cao
tăng đàm đạo về phật pháp, biểu lộ một
trí tuệ siêu phàm, khiến ai cũng phải kính
phục.
Cao Trường Toàn cũng tìm đến các
phái đạo giáo như Võ Đang, Hoa Sơn,
Thiên Sư, Toàn Chân. . . mà học hỏi tư
tưởng Lão Trang. Thực ra, họ Cao còn
giỏi hơn bọn đạo sĩ, làm họ kinh ngạc, lắc
đầu
Cao Trường Toàn còn là bạn vong niên
của bang chủ Cái Bang, xưng hô là huynh
đệ mà kính nhau như bằng hữu! Nay họ
Cao đột nhiên xuất hiện chốn này, Hầu
MỘ Thiên mừng rỡ gọi:
- Cao hiền đệ! Ngươi mau lên đây ngồi
với bọn ta!
Bốn chưởng môn kia cũng mời mọc
nên Bất Trí Thư Sinh đành tuân mệnh.
Trong lúc ấy, bọn gia nhân Lã gia trang
dọn dẹp lôi đài, mang xác Quảng Đông
Thần Đao ra phía sau. Phần Nhương Thư
thì được đưa vào chỗ kín đáo để chăm
sóc vết thương.
Thiết Kình Ngư Tào ưng cau mày bảo:
- Điền tiểu thư hãy tránh mặt để ta và
Thúy Sơn làm được rồi! Nàng là gái ở
đây không tiện.
Chẳng lẽ khai ra rằng mình và Nhương
Thư đã từng lõa thể ôm ấp nhau, Ngọc
Trâm đành b Où di .
Bạch Thúy Sơn cứ đứng im như phỗng
khiến Tào ưng bực bội nạt:
- Sao không phụ ta cởi y phục của công
tử?
Thúy Sơn vội bước đến, dùng kiếm cắt
quần, gỡ những mảnh vải tang thương ra
khỏi các vết thương.
Lát sau, cơ thể của Nhương Thư chẳng
còn chút gì che đậy, lồ lộ trước ánh mắt
ngượng ngùng của Vạn Lý Thần Điêu. Gã
đỏ mặt, hổ thẹn đến nỗi run tay. Tào ưng
phì cười:
- Nam nhân với nhau có gì mà ngươi
phải xấu hổ! Sẽ có ngày đến lượt ngươi
phải thọ thương thì cơ thể cũng phơi ra
thôi
Họ Tào xách vò rượn năm cân lấy từ
bàn tiệc, mở nắp rồi nói tiếp:
- Ta sẽ rưới rượn lên thương tích, còn
ngươi dùng vải sạch lau hết máu me đi.
Thúy Sơn líu ríu tuân lệnh, nhưng run
như cầy sấy Gã cắn răng lau chùi huyết
tích, không dám nhìn vào dương vật của
Nhương Thư.
Tào ưng còn cười khà khà, tấm tắc
khen:
- Tần công tử có thân hình rắn chắc và
thần thương thật dễ nề! Ai mà làm vợ
công tử thì phúc bảy mươi đời!
Nhương Thư cũng hơi ngượng ngùng
nhưng không để lộ ra. Chàng chỉ cười
đáp:
- Ai mà chả thế, chúng ta là võ sĩ mà!
Tào ưng bác ngay:
- Không phải ! Như gã họ B ạch này tuy
là đệ tử danh gia, có đến ba mươi năm
công lực mà thân hình gầy ốm, mảnh
khảnh, cơ bắp nhỏ xíu, có gì đẹp đâu.
Bạch Thúy Sơn lí nhí biện bạch:
- Ta ghét vẻ vai u thịt bắp nên không
luyện ngoại công.
Tào ưng mỉa mai:
- Ngươi lười biếng thì có! Sau này khi
lâm vào hoàn cảnh tương tự như Tần
công tử, làm sao có đủ sức cầm vững
kiếm mà chống chọi.
Thúy Sơn lặng im không dám cãi,
chăm chú làm việc! Thấy các vết thương
phía trên đã sạch máu và rượn bẩn còn
dính đầy hạ thể của Nhương Thư, Tào
ưng nói:
- Gi Ơø rửa đến phần dưới !
Thúy Sơn run bắn người, ấp úng:
- Ta không làm được đâu !
Nhương Thư cũng thấy kỳ:
- Để ta tự rửa cũng được !
Tào ưng liền trao vò rượn cho Thúy
Sơn:
- Ngươi hãy đổ rượn để c ông tử rửa ! Ta
đi tìm chưởng môn phái Hoa Sơn xin
thuốc kim sang! Sinh nhục tán của họ tốt
nhất võ lâm!
Thúy Sơn máy móc đưa tay nhận lấy
vò rượn, ngẩn ngơ như người trong mộng,
nhìn theo bước chân của họ Tào.
Luật âm dương chi phối vạn vật, trong
dương có âm và ngược lại. Do vậy, một
số nam nhân lại giàu nữ tính, không đến
mức đồng tình luyến ái nhưng rất hay xấu
hổ trước người cùng phái.
Nhương Thư hiểu điều ấy nên an ủi
Thúy Sơn:
- Bạch hiền đệ chớ quá mềm yếu như
thế! Đã dấn thân vào giang hồ là phải
cứng cỏi, dầy dạn. Người không bỏ được
tính cả thẹn thì sẽ mất dần tính nam nhi
đấy! Chúng ta là huynh đệ chứ đâu phải
xa lạ.
Thúy Sơn thở dài, hít một hơi lấy dũng
khí, nâng và đổ rượn vào chỗ kín của
Nhương Thư. Họ Bạch cúi gầm mặt nên
chàng không thể nhìn thấy ánh mắt kỳ
quái của gã.
Tào người đã trở lại, hớn hở vì xin
được thuốc quý. Gã cẩn trọng rắc loại
thuốc bột màu xám kia lên thương tích
của Nhương Thư.
Chư vị độc giả đọc truyện võ hiệp sẽ
thường thấy nhắc đến linh đan trị nội
thương và thuốc kim sang dùng ngoài da
của bọn khách giang hồ. Thực ra, loại này
đều có chung một dược vị chính, đó là
sâm tam thất !
Tam thất cùng họ với ngũ gia bì, là loài
thân thảo, sống nhiều năm, tác dụng dược
lý của nó và nhân sâm không hoàn toàn
giống nhau, nhưng hình thái thì tương tự,
nên gọi là sâm tam thất.
Tam thất có thân rễ thịt bò ngang, đầu
thân có lá hẹp hình bàn tay xòe mọc rộng,
mùa hạ ra hoa nhỏ màu vàng lục nhạt.
Loài dược thảo quý này mọc ở Vân Nam,
Quảng Đông, Tứ Xuyên, Tây Tạng của
Trung Hoa, và có cả ở việt Nam và miền
Bắc ấn Độ!
Tam thất rút ngắn thời gian đông máu,
tăng thêm tiểu cầu, làm liền vết thương,
giảm đau, tan chỗ bầm sưng nên trở thành
thuốc kim sang.
Ngoài ra, bột tam thất còn có tác dụng
làm tan hòa khối trong máu, chủ trị té
ngã, dập thương và các chứng xuất huyết
nội. Người té ngã từ trên cao xuống, cả
người bầm tím, sưng vù đau đớn, hoặc bị
đánh hộc máu tươi, dùng bột tam thất mà
trong uống ngoài thoa là thoát hiểm.
Tóm lại, người học võ đã dùng bột tam
thất làm dược vị chủ yếu trong thuốc trị
nội, ngoại thương. Tùy theo trình độ y
thuật của từng phái, người ta thêm vào
một ít những dược vị khác để làm tăng
công dụng.
Sinh Nhục Tán của Hoa Sơn cũng bào
chế bằng bột tam thất, song nhờ phối hợp
chung trong một toa bí truyền, nên diệu
dụng như thần, nổi tiếng võ lâm.
Nhương Thư khoan khoái nghe vết
thương mát rượi và chẳng còn đau đớn,
và Thúy Sơn dùng những dải vải sạch
quấn chặt thân thể chàng, Nhương Thư
hỏi:
- Trận so tài giữa Lã Tập Hiền và Võ
Di Sơn Chủ sao rồi?
Ĩ ào ưng đáp :
- Lúc Tào mỗ vào đến thì họ vừa nhập
cuộ c !
Nhương Thư lộ vẻ lo lắng:
- Tội nghiệp cho Võ Di Sơn Chủ, ta sợ
rằng ông ta không thoát khỏi độc thủ của
họ Lã! Tập Hiền nhất định sẽ giết lão để
diệt khẩu, để che giấu việc thi triển ma
am.
Quả đúng như chàng dự đoán, tiếng
thét lìa đời thảm khốc của Từ Bạch âu đã
vọng đến, ngay lúc Nhương Thư vừa mặc
xong y phục. Chàng đã phải mượn áo
quần của Thiết Kình Ngư.
Ba người rời khỏi vườn hoa, phi thân
trở lại khu lôi đài, đau lòng nhận ra Võ Di
sơn chủ đã toi mạng. Nhương Thư phẫn
nộ nhảy lên lôi đài, nhận ra đôi mắt họ
Từ trợn trừng, đầy vẻ oan khuất.
Chàng vuốt mắt cho lão rồi thầm khấn:
- Tại hạ thề sẽ báo thù cho lão bá!
Chàng đứng lên, chỉ vào mặt Lã Tập
Hiền và mắng:
- Quân cẩu tặc! Lão lấy được Huyết
Tâm Lệnh Kỳ, luyện thành Huyết Tâm
Kiếm Pháp, âm mưu đoạt ngôi minh chủ,
dùng tàn dư Huyết Tâm Giáo để thống trị
võ lâm! âm mưu ấy đã bị lộ rồi, khôn
hồn thì bẻ kiếm qui ẩn đi, ta không để lão
đắc ý đâu !
Tuy không có bằng chứng song cũng
đủ để lòng người chấn động, nghi ngờ và
chán ghét Lã Tập Hiền. Vả lại, họ đâu có
mù mà không thấy việc Võ Di Sơn Chủ
đột nhiên xuống sức trong lúc giữ thế
quân bình?
Toàn trường xôn xao, nói lên nhận xét
của mình. Riêng Bạch Ngọc Tiên Tử thì
phản ứng rất gay gắt. Nàng nhảy lên lôi
đài, vòng tay nói:
- Kính cáo võ lâm! Kể từ nay Lâm Đại
Ngọc không còn là người của Chính Khí
Trang nữa !
Quần hùng liền vỗ tay hoan hô sự thức
tỉnh của nàng. Lã Tập Hiền giận run,
không ngờ sự có mặt của Nhương Thư lại
khiến cơ đồ của lão sắp tan tành. Khi
chuẩn bị khởi nghiệp, lão không hề tính
đến gã đồ đệ của Phật Đăng Thượng
Nhân!
Lã Tập Hiền chưa kịp quạt lại Nhương
Thư thì VÔ ưu Cái đã đứng lên, lạnh lùng
tuyên bố:
- Hội đồng võ lâm cảm thấy rằng cái
chết của Võ Di Sơn Chủ có điều khuất
tất Vì vậy hội đồng quyết định giải tán
đại hội và sẽ tiến hành điều tra! Nếu quả
thực Lã trang chủ có tội đúng như lời tố
cáo của Tần Nhương Thư thì vụ việc sẽ
được đưa ra công đường phủ Hà Bắc!
Cử tọa đồng thanh tán thành nên Lã
Tập Hiền cứng họng. Lão trút hận lên đầu
Nhương Thư, gằn giọng bảo:
- Ngươi vu oan giá họa, làm nhục lão
phu và tông môn họ Lã. Thù này không
thể bỏ qua, lão phu chính thức hẹn ngươi
tử đấu vào đúng giờ Tỵ ngày đầu tháng
hai tại đỉnh Sáp Vân, gần Nam Dương!
Quần hùng có dịp la hét, đốc thúc
Nhương Thư nhận lời! Chàng điềm tỉnh
gật đầu:
- Được! Tại hạ cũng đang muốn diệt
trừ tai họa cho võ lâm!


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi 5
Thủy Thượng Tróc Xà Vương
Hồ Biến Kiến Đại Cừu
Ba ngàn hào kiệt hớn hở rời Lã gia
trang, hẹn sang xuân sẽ đến xem cuộc
phó ước! Bọn Nhương Thư cũng quay về
thành An Dương. Trong bữa cơm tối,
Nhương Thư bàn rằng:
- Nay ta nhận lời phó ước với Lã Tập
Hiền, phải về núi khổ luyện thêm để
chuẩn bị. Ngọc Trâm là gái, không tiện ở
trong chùa, hãy quay lại Tế Nam cho
Điền Trang Chủ yên tâm. Chúng ta sẽ gặp
nhau ở Nam Dương trước ngày đầu tháng
hai, Tào ưng và Thúy Sơn sẽ hộ tống
nàng về nhà!
Ngọc Trâm phụng phịu giận hờn, nằng
nặc đòi theo Nhương Thư, nhưng chàng
kiên quyết không chịu. Thúy Sơn phục
lăn trước bản lãnh đàn ông của Nhương
Thư, vui vẻ nó i :
- Đại tẩu nên nghe lời đại ca! Hai bên
chưa có hôn ước, đại tẩu lấy tư cách gì để
về ra mắt tăng lữ chùa Phật Quang?
Tào ưng thì bảo Nhương Thư:
- Tại hạ đưa Điền tiểu thư về đến Tế
Nam là đi Ngũ Đài Sơn ngay!
Canh ba đêm hôm ấy, HỔ Hồng Nhan
mò vào phòng Nhương Thư, nối lại cuộc
ân ái chưa thành lúc chịu. Song lạ thay,
chàng lại hiền như bụt, ôm mỹ nhân ngủ
một mạch đến sáng. Ngọc Trâm tức tối,
hậm hực chia tay, lòng thầm rủa tình lang
là kẻ quái đản!
Ba người kia đi rồi, Nhương Thư cũng
rời An Dương. Trên đường đi ra cửa Bắc
thành, Nhương Thư gặp rất nhiều hảo hán
phương Bắc. Họ xúm lại chào hỏi và tán
dương chàng đến tận mây xanh. Nhương
Thư nghe nhột nhạt khó chịu, vội mượn
cớ để quên đồ, quay lại nhà người anh cô
cậu của Ngọc Trâm. Hàn Xuân ngạc
nhiên hỏi lý do, nghe chàng kể gã bật
cười :
- Người khác muốn nổi danh mà không
được, còn công tử thì sợ!
Nhương Thư hỏi mượn gương đồng,
mang chiếc mặt nạ mà Dạ Quân Tử
Quách Tàn Bôi đã tặng, chàng hài lòng
khi thấy mình biến thành xa lạ, vơi gương
mặt của một hán tử tam tuần, xấu xí, đầy
nốt ruồi và mụn cóc! Nhương Thư khoác
thêm áo lông cừu mỏng yên tâm lên
đường, quả nhiên lần này không ai thèm
nhìn đến!
Chàng hòa vào dòng người ngược Bắc,
nghe bọn hào khách nói về Tần Nhương
Thư, cả khen lẫn chê, lòng cũng vui vui.
Riết cũng chán, Nhương Thư chậm lại, đi
một mình cho đỡ rát tai, và có dịp ngắm
cảnh thu dọc đường.
Chàng chợt nóng mặt khi nhớ đến thân
hình nõn nà, kỳ diệu của HỔ Hồng Nhan,
và trận động tình dưới suối. Chàng biết
rằng trong tâm mình ẩn chứa ác căn, phát
lộ dưới hình thức những cơn thịnh nộ.
Không chỉ lòng hiếu sát mà cả dục tính
cũng không buông lung !
Phải chăng đó là tác dụng của Quỷ
Nấm, hoặc hậu quả của quãng đời thơ ấu
bi thảm, hoặc do di truyền? Cả mẫu thân
chàng cũng không biết rõ lắm về lai lịch
của cha chàng! Bà chỉ biết quê chồng ở
Trường An nhưng không rõ địa điểm!
Nhương Thư thở dài, cố xua đi những
mặc cảm và nghi vấn, nghĩ về Lã Tập
Hiền. Chàng còn kém Hạt Nhãn Thần
Ma, tất không địch lại họ Lã! Vậy thì sao
chàng dám đại ngôn trước mặt VÔ ưu
Cái?
Việc này xuất phát từ ba chiêu cuối
cùng trong Phật Đăng Kiếm Pháp! Với
chúng, Nhương Thư có thể đổi mạng với
những cao thủ có bản lĩnh cao hơn chàng
vài bậc! Song đấy chỉ là chuyện bất khả
kháng! Chàng hy vọng không phải dùng
đến hạ sách ấy, vì thức ngộ rằng cứ sau
mỗi lần chạm cường địch, kiếm thuật
mình tinh xảo hơn trước !
Dòng suy tưởng bị cắt ngang bởi tiếng
vó ngựa phía sau dồn dập. Ky sĩ kia đã
bắt kịp Nhương Thư, nhìn mặt chàng,
thấy không quen nên thất vọng bỏ đi.
Người ấy chính là Bạch Ngọc Tiên Tử
Lâm Đại Ngọc, học trò của Địch Thánh.
Có lẽ nàng nhận ra vóc dáng Nhương Thư
nên định đến chào hỏi, nào ngờ lại là một
hán tử xa lạ! Nhương Thư hơi áy náy
nhưng không dám lên tiếng gọi. Vướng
vào bốn chị em nhà họ Điền là đã quá
khổ sở rồi, chàng không muốn quen biết
thêm một nữ nhân nào khác nữa!
Hai người đi cách nhau vài chục
trượng, cùng đơn độc mà không hề có ý
đồng hành ! Nhưng trưa hôm ấy, kẻ trước
người sau nghé vào phạn điếm duy nhất
bên đường. Bạch Ngọc Tiên Tử không hề
để ý rằng gã áo cừu kia đang ngắm mình
qua vành nón tre lụp xụp, từ một bàn gần
đấy Nhương Thư sợ lộ đôi tai đặc biệt
nên không bỏ nón ra. Người ngoài tưởng
rằng chàng hổ thẹn vì gương mặt xấu xí.
Nữ nhân ăn nhỏ nhẹ như mèo nên
Nhương Thư đã ăn xong bữa mà Lâm Đại
Ngọc vẫn còn dang dở. Chẳng biết làm
gì, chàng bèn nhìn quanh và bị thu hút
bởi gương mặt trái xoan kiều diễm và đôi
mắt nâu sâu thẳm ẩn chứa một nỗi buồn
mênh mang vô tận.
Bạch Ngọc Tiên Tử có dung mạo trẻ
hơn số tuổi ba mươi. Địch Thánh ẩn cư
trên dãy Lã Lương Sơn, thuộc vùng Tây
Bắc tỉnh Sơn Tây, nên Lâm Đại Ngọc
cũng nổi danh ở đất ấy! Nghe nói, năm
hai mươi bốn tuổi, Tiên Tử định kết hôn
với Thiểm Bắc Thần Long Lạc Nhất Lôi,
do Địch Thánh từ trần nên việc cưới hỏi
phải hoãn lại ba năm để cư tang. Nhưng
chỉ một năm sau, Lạc Nhất Lôi đã mất
kiên nhẫn, bỏ nàng lấy con gái của bá chủ
vùng Tây Hạ! Có lẽ đấy chính là vết
thương lòng, khiến Lâm Đại Ngọc luôn
sầu muộn !
Trong phạn điếm lúc này có mặt cả
toán người khách mà Nhương Thư đã
tách ra. Họ đến trước, quen tật ăn nhậu cà
kê dê ngỗng nên vẫn còn ngồi. Trong đám
ấy có khá nhiều người trẻ tuổi, song họ
chỉ dám lén nhìn say đắm chứ không dám
bước đến tán tỉnh hay làm quen với Bạch
Ngọc Tiên Tử.
Trước là vì võ nghệ nàng cao hơn họ,
sau vì bối phận của Lâm Đại Ngọc. Võ
lâm cũng có tôn ti trật tự, nghiêm ngặt
hay không là do ý của người trên trước.
Nếu vui, Tiên Tử có thể gọi một gã tam
tứ tuần là đại huynh, khi buồn nàng có
thể xem gã ấy như con cháu!
Đó là do Địch Thánh đã tám mươi sáu
tuổi, nếu còn sống, ngang hàng với sư tổ
của đám thanh niên trong võ lâm!
Nhương Thư cũng rơi vào cảnh ngộ ấy,
nên thường xưng tại hạ với những kẻ hơn
mình đến hai ba chục tuổi !
Mới cuối giừ ngọ mà mây đã kéo xám
xịt cả trời, hứa hẹn một cơn mưa tầm tã.
Lữ khách vội lên đường cho kịp chuyến
đò qua sông Phồn Thủy, cách đấy mười
dặm! Khi mưa to, gió rất mạnh, đò ngang
sẽ chẳng dám vượt sông ! Nhương Thư
cũng biết thế nên bám theo đoàn nhân mã
phía trước mà phi nước đại, chạy song
song với Bạch Ngọc Tiên Tử.
Được một vài dặm, đoàn người ngựa
đến một ngã ba, nghĩa là quan đạo có
thêm nhánh nhỏ bên hữu, trổ xéo vào
rừng tùng. Đấy chỉ là một con đường mòn
lớn dành cho những cỗ xe trâu kéo gỗ ra.
Cây lớn đã bị chặt trụi nên việc khai thác
gỗ đình chỉ hơn năm nay, cỏ lại có dịp
mọc đầy, chiếm lại đất đai của mình.
Đương nhiên, chẳng có ky sĩ nào có ý
định rẽ vào hướng ấy, song trên đoạn
quan đạo trước mặt họ lại xuất hiện một
đoàn trâu đông độ bốn, năm chục con. Và
điều đáng nói là chúng đột nhiên nổi điên
lên, phóng rầm rập về phía ngã ba, sừng
chĩa ra đe do ạ !
Chẳng lẽ thúc ngựa nhảy xuống thửa
ruộng trừng, đầy nước mưa ở hai bên
đường, mấy gã đi tiên phong rẽ vào
đường mòn, những người đi sau cũng
phải nối gót. Khổ thay, đàn trâu điên lại
không chạy chẳng mà rẽ trái, tiếp tục truy
đuổi đám khách giang hồ. Nhương Thư
và Lâm Đại Ngọc giờ đây trở thành mục
tiêu gần nhất của những cặp sừng trâu!
Bọn hào khách vừa quất ngựa túi bụi
vừa chửi thề ỏm tỏi, lôi tổ tông mười tám
đời của chủ đàn trâu ra mà nguyền rủa,
song chẳng có ai nghe vì lũ trâu kia
không có người chăn dắt! Các ky sĩ có đủ
sức phi thân lên những cành cây cạnh
đường mòn, nhưng lại chẳng nỡ bỏ mặc
ngựa của mình. Tuấn mã luôn là người
bạn đường thân thiết của khách giang hồ,
nhiều con thông minh hiểu được từng dấu
hiệu nhỏ của chủ nhân.
Ngựa vốn chạy nhanh hơn trâu, nhưng
trên con đường mòn gập ghềnh đầy bụi
rậm này thì tốc độ của chúng giảm sút rất
nhiều Người kỹ sĩ không thể liều mạng
chạy càn, vì biết đâu sau lớp cỏ kia là
một tảng đá hay một Oå gà sâu hoắm!
Đoàn người đã chạy được hơn hai dặm
mà đàn trâu vẫn chưa chịu buông tha, và
khổ thay, tuấn mã Lâm Đại Ngọc bất ngờ
trật khớp vó trước, bên tả, và khuy xuống.
Tình huống bất ngờ này đã khiến một
cao thủ như Lâm Đại Ngọc cũng phải
lúng túng. Theo quán tính, nàng cũng
chúi theo, đè lên đầu ngựa và sắp sửa
cắm xuống đất. May thay, Nhương Thư
đã nghiêng người, vươn hữu thủ, nắm lấy
bắp tay nàng nhấc bổng lên, đặt vào lòng.
Ngựa của chàng vẫn tiếp tục phóng đi,
còn tuấn mã của Lâm Đại Ngọc bị đàn
trâu hất tung và dầy xéo, hí lên những
tiếng não nùng!
Bạch Ngọc Tiên Tử đã hoàn hồn, thẹn
thùng cựa quậy, định rời vòng tay vững
chắc của ân nhân, ra đứng sau mông
ngựa, tài khinh công của nàng thừa sức
để làm điều ấy. Nhưng ánh mắt Tiên Tử
chợt pháp hiện một đường ngửidưới cằm
hán tử áo cừu, hiểu ngay rằng gã mang
mặt nạ! Và vành tai luân cách phân minh,
thùy châu đầy đặn, có chấm son đỏ kia
chính là của Nhương Thư!
Hồi sáng, Lâm Đại Ngọc đã nhận ra
tấm lưng quen thuộc, giờ thì hoàn toàn có
thể khẳng định đối phương là Tần
Nhương Thư hóa trang. Sáu năm trôi qua,
hình bóng của người tình phụ bạc, Thiểm
Bắc Thần Long đã phai mờ từ lâu, song
Tiên Tử vân chưa yêu ai khác, vì không
tìm được nam nhân xứng đáng!
Sau khi được Nhương Thư cứu mạng,
trái tim của Lâm Đại Ngọc đã rộn rã nhịp
hân hoan. Phần vì ân nghĩa, phần vì tài
mạo, nhân phẩm của họ Tần, chàng
không anh tuấn như Thiểm Bắc Thần
Long, song bản lãnh và tâm địa thì hơn
hắn. Tiên Tử hiểu rằng mình đã gặp được
nam nhân lý tưởng, đáng để nàng trao
thân gởi phận. tình yêu đã đâm chồi nảy
lộc chẳng cần thời gian, bất chấp tuổi tác,
nhưng lại gặp sự cản trở của HỔ Hồng
Nhan!
Giờ đây, tình cờ gặp lại nhau, chịu
thêm ơn cứu tử lần nữa, Lâm Đại Ngọc
càng thêm bội phần luyến ái Nhương
Thư. Nàng lặng người trong cảm giác
hạnh phúc, úp mặt vào bờ vai rắn chắc
của người trong mộng, hít lấy mùi da thịt
nồng nàn, tay hữu quàng chặt lưng
Nhương Thư.
Do tư thế này, gò ngọc phong trinh
nguyên, đầy đặn của Lâm Đại Ngọc áp
sát ngực trái Nhương Thư. Nhịp rung
động của vó câu đã khiến nàng nhận thấy
rõ sự cọ xát giữa hai cơ thể, thẹn thùng vì
cảm giác nhột nhạt nơi đầu vú làm thịt da
rạo rực!
Năm xưa, khi quen biết với Thiểm Bắc
Thần Long, nàng và gã chỉ dám nắm tay
nhau chứ chưa hề ôm ấp, gần gũi thế này!
Tiên Tử lén liếc Nhương Thư thấy mắt
chàng vẫn trong veo, chẳng hề có chút
xuân tình, lòng cũng đỡ ngượng. Chẳng
lẽ im lặng mãi, Lâm Đại Ngọc liền thỏ
thẻ:
- Tiện thiếp hai lần chịu ơn cứu mạng,
biết lấy gì đền đáp đại ân của Tần công tử
đây!
Nhương Thư cười gượng:
- Nhãn lực của Tiên Tử quả là sắc bén!
Thế mà tại hạ tưởng cô nương không
nhận ra!
Và chàng nói thêm:
- Tiên Tử hãy dùng ám khí hạ sát
những con trâu đầu đàn để cản chân cả
đàn! Nếu không chúng sẽ rượt chúng ta
đến tối mất!
Lâm Đại Ngọc dạ rất ngoan, luồn ra
phía sau lưng Nhương Thư, ngồi quay
ngược lại, mở tay nải nhỏ vẫn khoác trên
vai, lấy ra những thỏi bạc năm lượng.
Nàng vận công, liên tiếp ném mạnh
những ám khí đắt tiền ấy vào đầu của bốn
con trâu. Chúng không chết nhưng
choáng váng, lăn kềnh ra ngay, cản đường
lũ phía sau. Cả đàn dồn lại, té ngã, nghé Oï
vang trời và thôi không chạy nữa!
Toán ky sĩ phóng thêm nửa dặm mới
dừng lại. Họ nhìn nhau phá lên cười vì
cảnh ngộ khôi hài lúc nãy. Mang danh là
võ sĩ mà bị trâu rượt chạy có cờ thì quả là
nực cười. Một gã trưng niên hậm hực
thoá mạ:
- TỔ bà đứa nào nuôi trâu mà không
biết dạy, để bọn lão gia phải chạy đến
tháo mồ hôi hột!
Giọng gã oang oang làm chấn động cả
cùng rừng tĩnh mịch. Cảng vật nơi đây
khá xinh đẹp vì hai bên là rừng thông non
thoai thoải, rì rào tiếng gió thổi qua kẽ lá.
Nhưng khi hai chục ky sĩ quay đầu ngựa
chuẩn bị trở ra đường quan đạo Bắc Nam
thì từ trong rừng ùa ra hàng trăm kiếm
thủ áo xanh bịt mặt. Chúng bịt chặt hai
đầu đường và tràn ngập đồi thông, vây
kín đám hào khách.
Nhương Thư hiểu ngay đối phương là
người của Huyết Tâm Giáo. Lã Tập Hiền
quyết lấy mạng chàng nên đã bố trí mai
phục ở đây, dùng đàn trâu dồn chàng vào
bẫy. Người của lão luôn bám sát chàng
nên phát hiện việc chàng quay trở lại Hàn
gia trang và trở ra với mặt giả. Bọn hào
khách đồng hành vô tình đã bị vạ lây mà
không biết!
Nhương Thư phẫn nộ gầm vang, rời
lưng ngựa lao vào hàng ngũ bọn lục y, mở
đường máu. Bạch Ngọc Tiên Tử thấy thế
cũng rút Huyền Thiết Địch chạy theo
chàng. Hướng Nam của đường mòn được
trấn giữ bởi hơn ba chục gã áo xanh.
Chúng đón tiếp Nhương Thư và Lâm Đại
Ngọc bằng những ngọn phi tiêu tẩm dốc,
nhưng đã bị hai người đánh bật ra.
Nhương Thư động sát cơ, thi triển ngay
phép ngự kiếm, thân hình rời mặt đất,
nương theo kiếm quang bay vút đi. Bọn
lục y hung hãn vung kiếm liên thủ đỡ
đòn, song không sao cản nổi trái cầu thép
lấp loáng như gương kia. Vũ khí của
chúng văng khỏi tay và có đến bốn tên
kêu rên đau đớn.
Nhương Thư lọt vào giữa hàng ngũ đối
phương, gieo rắc cái chết bằng những
đường kiếm tàn nhẫn và nhanh như thiểm
điện. Bạch Ngọc Tiên Tử cũng đã giết
được hai tên, vào với Nhương Thư sát
cánh tiến lên. Ma âm không làm gì được
Nhương Thư nhưng vẫn có tác dụng dối
với Bạch Ngọc Tiên Tử. Nàng vội thò tay
vào thắt lưng lấy ra một chiếc lục lạc lớn
cỡ quả chanh, bằng ngọc trắng, có núm
nhỏ để xỏ tơ qua. Lâm Đại Ngọc đeo lục
lạc nơi cổ tay hữu rung lên, tạo ra những
âm thanh trong vắt hóa giải Ma âm của
bọn Huyết Tâm Giáo. Thì ra, Địch Thánh
tinh thông âm luật nên đã tạo ra vật khắc
chế tà pháp của Huyết Tâm Đế Quân, để
lại cho học trò.
Nhờ vậy, giờ đây Bạch Ngọc Tiên Tử
ung dung chiến đấu, thi thố hết sở học,
biểu diễn cho Nhương Thư thưởng lãm.
Nàng thuận tay trái nên có thể đi song
song với chàng mà không sợ vũ khí của
họ vướng nhau. Thỉnh thoảng hai người
lại bị đối phương dồn ép, vai lưng kề cận
truyền cho nhau chút hơi ấm của tình
đồng độ i .
Nhương Thư giết hai tên thì Lâm Đại
Ngọc cũng làm thịt được một, tiến lên rất
nhanh. Những tiếng ngựa hí, tiếng quát
tháo phía sau đã im lặng, vì mười tám gã
hảo hán yểu mệnh kia đã gục ngã. Phe
đối phương rảnh tay kéo cả đến để bao
vây hai con mồi cuối cùng.
Chúng tập trưng nhiều ở hướng Nam
đường mòn vì sợ bọn Nhương Thư thoát
ra quan đạo, Những tên đứng ngoài vòng
liên tiếp phóng những mũi phi tiêu tẩm
độc khiến đôi nam nữ kia phải phân tâm
đối phó, bước tiến chậm dần. Lâm Đại
Ngọc giàu kinh nghiệm hơn Nhương Thư,
nhận ra hiểm cảnh liền đề nghị:
- Công tử! Chúng ta chạy vào rừng
thôi!
Quả đúng như vậy, cây cối sẽ chắn cho
họ trước những ngọn phi tiêu, và với
khinh công của hai người, việc thoát đi sẽ
dễ dàng hơn. Nhương Thư gật đầu, cùng
nàng đổi hướng, đánh thốc về phía đồi
thông hướng Tây, chàng múa tít bảo kiếm
mở đường, còn Lâm Đại Ngọc thì đoạn
hậu.
Nhương Thư trợn mắt đánh những đòn
hiểm ác nhất, giết liền mười hai gã lục y,
phá thủng vòng vây, tiến lên đồi cây. Phe
đối phương cuống cuồng đuổi theo sát
nút, quyết không tha. Dường như chúng
được lệnh phải giết được chàng bằng bất
cứ giá nào.
Tiếng chân người thình thịch và tiếng
chửi rủa cứ bám theo nên đôi nam thanh
nữ tú vẫn phải cắm đầu mà chạy. Phía sau
đồi thông là một cánh rừng nguyên sinh
rậm rạp, ngoài tùng bách còn có cả những
loài cây phương Bắc khác, thảm thực vật
phía dưới phong phú và rậm rạp.
Nhương Thư và Lâm Đại Ngọc không
còn cách nào khác là chui vào đấy. Chàng
vung kiếm chặt những cành ngang để mở
đường, cùng Lâm Đại Ngọc vào sâu vài
dặm thì không còn nghe tiếng đối phương
nữa. Hai người dừng bước thở hổn hển,
nhìn nhau cười, mừng vì thoát nạn.
Họ ngồi xuống hai tảng đá, nghỉ ngơi
và quán sát nơi mình đến. Khu vực này
cây cối khá thưa thớt, mặt đất bằng
phẳng, ít bụi rậm, lại có cả một hồ nước
trong xanh, đường kính rộng độ bốn năm
trượng. Trời đã xế chiều, ánh tà dương
không xuyên qua nổi rừng cây rậm rạp
chung quanh, khiến quang cảnh có phần
âm u. Tuy nhiên, bầu trời phía trên đầu
hai người đã trong sáng lại chứ không đe
doạ đổ mưa như lúc trưa nữa.
Nhìn gương mặt lem luốc và y phục
rách nát đẫm mồ hôi của Lâm Đại Ngọc,
Nhương Thư cười bảo:
- Tiên Tử hãy xuống ao tắm rửa, tại hạ
quay lại xem phe địch đã rút hết chưa?
Lâm Đại Ngọc thẹn thùng gật đầu, yểu
điệu đi về phía hồ nước. Tay nải vẫn còn
trên vai nên giờ đây nàng mới có quần áo
sạch mà thay! Nhương Thư đi khuất, Lâm
Đại Ngọc nhanh tay thoát y, nhảy xống
hồ, khẽ run lên vì nước lạnh toát. Đáy hồ
rất sâu nên chân nàng không chạm đáy,
đứng lửng lơ mà kỳ cọ, tắm gội. Nàng
vuốt ve đôi gò nhũ phong săn chắc, tròn
trịa và tự nhủ rằng mình vẫn còn trẻ
trưng, dù tuổi đã ba mươi. Điều này giúp
nàng thêm can đảm để dám mơ mộng đến
Nhương Thư.
Thực ra, Bạch Ngọc Tiên Tử xinh đẹp
chẳng kém HỔ Hồng Nhan. Nhan sắc của
nữ nhân vốn là cái khó thẩm định, so sánh
nhất trên đời! Mỹ nhân là vật sống chứ
chẳng phải là tượng đá, nụ cười, ánh mắt,
nét mặt, ngôn từ của họ là một phần trong
nhan sắc
Ngọc Trâm tươi tắn, hoạt bát như hoa
Xuân, còn Đại Ngọc u sầu, đằm thắm như
Cúc thu, mỗi người một vẻ mười phân
vẹn mười. Bạch Ngọc Tiên Tử thích thú
vẫy vùng. Bơi quanh hồ, thân hình trắng
phau, thon dài cứ thấp thoáng dưới làn
nước bạc, trông quyến rũ lạ lùng. Nhưng
khi đến giữa hồ, nàng chợt phát hiện
mình đã rơi vào vùng xoáy nước rất
mạnh, hung hãn lôi nàng xuống đáy. Lâm
Đại Ngọc kinh hoàng rú thất thanh, chân
tay quạt nước cố bơi ra khỏi vũng xáy
chết người .
Nhương Thư đã nghe thấy, vội quay
lại, lướt nhanh như tên bắn, và tung mình
vượt khoảng cách hai trượng rưởi, tả thủ
nắm tay nàng lôi đi. Công lực của
Nhương Thư rất thâm hậu, bàn tay như
mái chèo quay tít, nên đã thắng được sức
hút của guồng xoáy, đưa Đại Ngọc thoát
ra.
Tiên Tử ngợp nước nên đã ngất xỉu,
Nhương Thư vội đưa nàng lên bờ, đặt
tạm xuống bãi cỏ, trải nhanh áo choàng
rồi bồng nàng để lên. Sau những động
tác cần thết, Lâm Đại Ngọc hồi tỉnh, hổ
thẹn nằm xấp xuống mà khóc rưng rức !
Nhương Thư lấy y phục sạch trải lên
người nàng rồi xuống hồ tắm gội. Dĩ
nhiên chàng không dám ra giữa hồ, chỉ
nhìn về phía ấy mà thắc mắc, vì nước ao
tù làm gì có xoáy?
Quay lại vẫn thấy Lâm Đại Ngọc nằm
im thút thít, Nhương Thư thở dài, lên bờ
lau khô người, thay y phục rồi nằm xuống
cạnh nàng. áo choàng của khách giang
hồ thường rộng đến gần sải tay, đủ chỗ
cho hai người. Chàng nằm nghiêng, vuốt
ve thân hình mượt mà của Đại Ngọc.
Nàng thôi khóc trở mình ôm lấy chàng,
lát sau mạnh dạn lần cởi áo Nhương Thư.
Cuộc ái ân khởi đầu lặng lẽ, đầu chàng
rộn rã những âm thanh hoan lạc. Mãi đến
sẫm tối, Nhương Thư mới chịu rời tấm
thân nồng nàn, khêu gợi của Bạch Ngọc
Tiên Tử, đi tìm củi nhóm lửa.
Đêm ấy, tuy bụng đói nhưng hai người
vẫn đủ sức mây mưa, sau khi nuốt vài
viên linh đan dỡ dạ. Sáng ra, Nhương
Thư bị đánh thức bởi tiếng chim rừng ríu
rít, tỉnh dậy trước, nhẹ nhàng gỡ vòng tay
người ngọc mà ngồi lên. Sương thu ướt
đẫm tấm chăn, là chiếc áo choàng thứ
hai, nhưng không làm lạnh giá nổi da thịt
của những kể có nội công thâm hậu như
Nhương Thư và Đại Ngọc!
Nhương Thư bước xuống ngâm mình
và rửa mặt, nghe tâm hồn sảng khoái, thư
thái, minh mẫn phi thường! Phải chăng
những trận ái ân đêm qua đã như ánh
dương xua bớt mây mù trong tiềm thức u
ám của chàng? Hoặc đấy chính là diệu
dụng của việc quân bình âm dương?
Nhương Thư không rõ, chỉ biết giờ đây
lòng mình thanh thản, bao dung hơn
trước bội phần. Dường như, kỷ niệm đầy
máu và nước mắt của một quãng đời thơ
ấu đày đọa đã nhạt mờ đi, không còn ám
ảnh tâm hồn chàng nữa !
Sau khi cha chàng Tần Tử Chính chết
giữa rừng vắng. Nhương Thư thư đã lưu
lạc nơi đầu đường xó chợ, ăn xin để sống
qua ngày, chịu vô vàn tủi nhục. Trời cao
có mắt nên một đứa bé năm tuổi mới tồn
tại được ba năm, sống sót đến lúc được
Phật đăng thượng Nhân cứu vớt.
Mặc xong y phục, Nhương Thư phát
hiện Bạch Ngọc Tiên Tử khẽ rên lên vì
lạnh Cái đói đã làm giảm sút khả năng
đề kháng của cơ thể nàng. Nhương Thư
thì khác, chàng luyện thần công Phật
môn, thường phải tịnh cốc sáu bảy ngày
nên đã quen. Nhương Thư mỉm cười khi
thấy mặt hoa nhăn nhó trông rất đáng
yêu, liền nằm xuống chui vào áo choàng,
ôm nàng để sưởi ấm cho cơ thể mỹ nhân
yếu đuối
Đại Ngọc ngái ngủ nép sát vào người
tình lang rồi ngủ thiếp đi. Hai khắc sau,
bình minh đã le lói xuyên qua tàn cây, rọi
đến chỗ họ . Nhương Thư đánh thức người
đẹp lười biếng bằng cách kéo mép áo
choàng xuống, để gió thu ve vuốt đồi
ngực mịn màng, ngồn ngộn kia!
Nhương Thư ngắm không chán mắt,
lòng nổi sóng tình, đưa tay mơn man đôi
tạo vật diệu kỳ. Bạch Ngọc Tiên Tử rùng
mình mở mắt, tình tứ trách móc:
- Tướng công không đói sao? Thiếp đã
rã ruột, sức đâu mà hầu hạ chàng nữa?
Nhương Thư ngượng ngùng ngồi lên,
gượng cười chữa thẹn:
- Mỗi lần đến giai đoạn luyện công
quan trọng, ta thường phải nhịn đói vài
ngày nên quen!
Bạch Ngọc Tiên Tử vệ sinh, thay y
phục rất nhanh. Hai người nắm tay nhau
rời khỏi khu rừng, nhưng lạ thay, họ đi
một hồi lâu lại trở về bên hồ nước!
Nhương Thư cười khổ:
- Té ra chiều qua chúng ta vô tình đâm
vào một trận kỳ môn vây quanh hồ nước!
Không ra được thì chắc là chết đói mất!
Đại Ngọc đang đắm chìm trong hạnh
phúc nên rất lạc quan, bật cười khúc
khích nói đùa:
- Thiếp sẽ ăn thịt tướng công như loài
Đường Lang vậy?
Đường Lang chính là bọ ngựa, con mái
thường ăn thịt con trống sau khi giao
hợp! Nhương Thư trưng hậu, ít lời, chỉ
cười thôi! Chàng dựa vào hướng mặt trời,
kéo Đại Ngọc tìm cách phá trận lần nữa,
song chỉ hoài công!
Hai người đều đói ruột, nghĩ đến
chuyện kiếm thực phẩm trước đã. Bụng
rỗng thì chẳng thể là được gì! Khổ thay,
trong phạm vi trận pháp chẳng hề có thú
rừng, và dưới hồ cũng vắng bóng cá tôm!
Nhương Thư đã lặn xuống tìm kiếm mà
không thấy một sinh vật nào, dù là một
c on tép nhỏ !
Đôi uyên ương lại phải nuối những
viên thuốc trị thương cuối cùng để chống
đói Ngoài tam thất, trong ấy có cả những
dược vị bổ dưỡng như sâm nhung, hà thủ
Oâ nên khá nhi êu năng lượng .
Nhương Thư đã trèo lên ngọn cây cao
nhất, nhìn ra ngoài, song chỉ thấy khói
sương mù mịt, cả vầng dương cũng biết
mất, dù lúc chàng ở dưới đất nó vẫn còn
rực rỡ. Tuy chán nản nhưng chàng cũng
phải khâm phục tài trí của kẻ bày ra trận
pháp này! Nhương Thư chợt nhớ lời sư
phụ kể về một bậc kỳ nhân là Trại Tôn
Tấn Vệ Hồng.
Họ Vệ là người giỏi trận đồ nhất thiên
hạ, biệt tích chục năm, nếu còn sống thì
tuổi đã bảy mươi sáu. Nhương Thư xúc
động linh cơ, vận công nói lớn:
- Vệ tiền bối! Kẻ hậu sinh bị truy đuổi
nên mới lạc vào cấm địa! Mong tiền bối
nể mặt gia sư là Phật đăng thượng Nhân
mà tha thứ cho !
chàng chỉ hành động cầu may, nào ngờ
lại có tác dụng. Một giọng già nua vọng
đến:
- Té ra tiểu tử ngươi là đệ tử của lão
Đinh Doãn đấy ư?
Đinh Doãn chính là thực danh của
Thượng Nhân, chỉ những người rất thân
mới biết được! Bạch Ngọc Tiên Tử chết
điếng vì hổ thẹn, tự hỏi lão già chết toi
kia có rình xem cảnh mây mưa của nàng
và Nhương Thư hay không?
Trên kia, Nhương Thư phấn khởi đáp :
- Vãn bối là Tần Nhương Thư và
thuyết thê Lâm Đại Ngọc xin bái kiến Vệ
tiền bối!
Trại Tôn Tân lặng im một lúc lâu mới
hỏi:
- Sư phụ ngươi còn tráng kiện hay đã
ngỏm rồi?
Nhương Thư nghiêm trang đáp:
- Bẩm tiền bối! Gia sư đã nhập niết bàn
hồi cuối năm ngoái!
Vệ Hồng thở dài thương tiếc, âm thanh
rất rõ, cứ như lão đang đối diện với
Nhương Thư. Vài con ong vo ve quanh
đầu đe doạ, khiến chàng họ Tần sợ hãi,
chuồn mau xuống đất. Đại Ngọc ân cần
phủi bụi, gỡ mạnh nhện trên tóc và y
phục của tình quân, âu yếm nói:
- May quá ! Không ngờ lại gặp người
quen! Thiếp ăn ít nhưng không thể nhịn
đó i được !
Vẻ hí hửng của nàng có chút ngây thơ
của trẻ con, khiến Nhương Thư bật cười:
- Ta mới là kẻ gặp may vì không bị
nàng ăn thịt!
Đại Ngọc thẹn thùng định trả đũa thì
Trại Tôn Tần lên tiếng:
- Này Tần hiền diệt! Nể mặt Thượng
Nhân, lão phu sẽ phá lệ tha cho hai
ngươi. Nhưng hiền diệt phải là giúp ta
một việc!
Nhương Thư vội đáp:
- Xin tiền bối cứ dạy!
Vệ Hồng chậm rãi nói:
- Mười năm trước lão phu luyện công
sai đường, Nhâm Mạch bị tổn thương, thị
lực giảm dần. Lão phu tinh thông y thuật
nên biết rằng mật của loài Bạch Thủy Xà
Vương có thể chữa lành, liền ra sức truy
tầm. Khi đến đây lão phu phát hiện có
một con dưới hồ nước, nhưng mắt đã quá
kém nên không sao bắt được. Đúng giờ
Ngọ, phiền Tần hiền diệt hãy xuống hồ
mang Bạch Thủy Xà Vương lên giùm,
sống hay chết gì cũng được !
Bạch Ngọc Tiên Tử cướp lời Nhương
Thư:
- Bọn vãn bối đang đói đến bủn rủn tứ
chi, mong Vệ tiền bối ban cho ít thực
phẩm! Có no bụng mới đủ sức thu phục
Bạch Thủy Xà Vương!
Trại Tôn Tấn đáp:
- Lão phu sẽ sai thần ưng mang đến
cho c ác ngươi ít thịt !
Chỉ lát sau, một con chim ưng lông
vàng to lớn, sải rộng đến hơn trượng bay
đến, thả xuống một đùi dê hun khói,
nguội và cứng ngắc. Nhương Thư rạng rỡ
nhặt thêm cành khô bỏ vào đống than
đêm qua còn sót, thổi bùng lên rồi nướng
lại đùi dê ấy!
Đại Ngọc chứng tỏ sự đảm đang chu
đáo của mình bằng cách mở tay nảy lấy
ra một lọ muối trắng ! Dĩ nhiên nàng được
Nhương Thư khen ngợi. Nàng còn giành
thanh trường kiếm, cắt từng miếng thịt
trao cho tình lang, dù chẳng ngon lành gì
nhưng đang đói nên họ ăn sạch chiếc đùi
dê , chỉ trừ xương !
Còn mấy khắc nữa mới đến chính ngọ,
Nhương Thư và Đại Ngọc ngồi nghỉ dưới
bóng cây. Bạch Ngọc Tiên Tử bỗng cau
mày nghĩ ngợi, lát sau chủ động xà vào
người Nhương Thư, lả lơi hôn cổ chàng,
song lại thì thầm với giọng là lạ:
- Tướng công! Tiên sư đã từng kể về
loài Bạch Thủy Xà Vương này! Nó có
tuổi thọ rất cao, khi sống đủ ba trăm năm
sẽ có lớp da trắng như tuyết, vảy óng ánh
bạc, thân dài đến hai trượng và to bằng
bắp tay người lớn! Lúc ấy, trên đầu Bạch
Thủy Xà Vương mọc ra một nhánh sừng
đỏ, giống như nhung lươn vậy! Trong
sừng chứa tinh huyết mấy trăm năm của
Xà Vương nên rất thần diệu, quý hơn cả
mật, giúp cho người luyện võ tăng tiến
chân nguyên! Nay Vệ lão chỉ cần mật,
tướng công hãy hút lấy giác huyết của
Bạch Thủy Xà Vương, coi như tự thưởng
công vậy! Và đấy là cách giết nó nhanh
chóng nhất !
Nhương Thư vốn chẳng có lòng tham
nên phân vân, vì dẫu sao con vật kia cũng
thuộc về Trại Tôn Tấn. Đại Ngọc hiểu ý
xuống giọng buồn rầu:
- Nếu chàng không thèm công lực thì
làm sao thoát chết dưới tay Lã Tập Hiền?
Chẳng lẽ tướng công không thương thiếp
và con của chúng ta hay sao?
Nhương Thư rợn tóc gáy, ngơ ngác hỏi:
- Mới gần gũi có một đêm, sao lại
mang thai nhanh thế?
Biết Nhương Thư khờ khạo trong việc
trai gái, Đại Ngọc giả đò bẽn lẽn:
- Tướng công biết gì mà nói! Việc thụ
thai nào có khó khăn! Khi hôm qua chàng
liên tục phá thành đoạt lũy khiến thiếp
nhiều phen bay bổng? Thiếp linh cảm
việc có con là chắc chắn đến chín phần!
Nhương Thư tưởng thật, tư lự nói:
- Nếu vậy thì ta không thể thí mạng
được nữa! Con thơ nào có tội tình gì mà
phải sớm chịu cảnh mồ côi?
Đại Ngọc giấu nụ cười đắc ý bằng cách
hôn lên má chàng thắm thiết, rồi dặn
luôn:
- Chóp sừng rất mềm, chàng chỉ cần
cắn mạnh là đứt ngay. Trại Tôn Tấn có
nhìn bên ngoài cũng chẳng phát hiện
được !
Nhương Thư gật đầu, bất giác đặt tay
lên bụng Đại Ngọc như nghe ngóng thai
nhi Nàng bật cười ngặt nghẽo:
- Phải bốn năm tháng nữa con chúng ta
mới cựa quậy! Tướng công thực là ngốc!
Nhương Thư cũng tự cười mình, hôn
nàng tới tấp. Hai người âu yếm nhau đến
lúc vầng thái dương chiếu thẳng xuống
mặt hồ. Và Trại Tôn Tấn cũng lên tiếng
nhắc nhở:
- Nhương Thư! Đã đến lúc rồi đấy!
Bạch Thủy Xà Vương sẽ rời hang lên tắm
nắng!
Nhương Thư liền cởi áo và giày vải,
chỉ mặc quần dài, cầm kiếm trầm mình
xuống nước, nhổ bụi cỏ ven hồ che đầu,
bơi ra giữa. Lúc này, vùng trưng tâm hồ
bỗng xao động xoáy tít, bọt nước bắn
tung toé chứ không lặng lẽ như hôm qua.
Sau đó, một con rắn to lớn, dài ngoằng,
vẩy trắng bạc, nổi lên, bơi thành vòng
tròn. Thì ra chính nó đã tạo nên xoáy
nước bằng lối đùa giỡn kỳ lạ kia.
Nhương Thư lặn sâu xuống, lao đến
nhanh như cá kình, trồi lên ngay phía
dưới quái vật, thọc kiếm đâm vào bụng
nó. Nào ngờ, da Bạch Thủy Xà Vương
cực kỳ bền chắc, cứ như lớp vẩy hóa
sừng, đẩy mũi kiếm trượt đi. Bạch Thủy
Xà Vương lập tức quấn lấy thân hình gã
hỗn láo kia, và há rộng cái miệng gớm
ghiếc táp vào đầu con mồi.
Trên bờ Bạch Ngọc Tiên Tử sợ hãi thét
vang trước cảnh ngộ hiểm nghèo của
Nhương Thư, nàng đâu ngờ con vật ấy lại
lợi hại đến thế! Song Nhương Thư đã kịp
vung kiếm thọc xuống họng quái xà, nó
đau đớn ngậm miệng lại, rút đầu về, giật
mất vũ khí của chàng.
Bạch Thủy Xà Vương lắc đầu mấy cái,
cố nhả thanh thép kia ra, rồi há họng tiếp
tục đớp Nhương Thư. Lâm nguy bất loạn,
chàng trai họ Tần nghiêng đầu né tránh,
dùng hai tay chụp lấy cổ Bạch Thủy Xà
Vương bóp mạnh và kéo ghì xuống. Nhờ
dày công luyện tập cả nội ngoại công bàn
tay Nhương Thư cứng như thép, lực đạo
mạnh đến mấy trăm cân, khiến con vật vô
cùng đau đớn. Thân nó hơi lỏng ra,
Nhương Thư liền trườn lên, cố cắn vào
mũi nhọn của chiếc sừng đỏ rực. Nếu
Bạch Ngọc Tiên Tử không dặn trước thì
lúc này chàng đã chẳng biết làm thế nào
để giết Bạch Thủy Xà Vương. Nó mà kịp
lặn xuống đáy là chàng tiêu đời!
Giờ thì chẳng phải vì tham lam mà vì
tính mạng của mình, Nhương Thư hút lấy
hút để chất dịch tanh hôi trong chiếc sừng
rắn. Dường như dòng tinh huyết ấy thông
với não rắn, nên khi mất đi, rắn nước
khổng lồ liền mê man, không cựa quậy
được nữa !
Nhương Thư mừng rỡ lôi nó vào bờ.
Đại Ngọc cười mà nước mắt nhạt nhòa:
- Tướng công là thiếp sợ muốn chết
được !
Nhương Thư cười đáp:
- Không ngờ da nó cứng rắn đến nỗi
kiếm đâm không thủng!
Đại Ngọc lộ vẻ ăn năn:
- Tiên sư không hề nói đến việc ấy nên
thiếp chẳng thể cảnh báo tướng công!
Và nàng chợt biến sắc lẩm bẩm:
- Lạ thực! Vì sao Trại Tôn Tân đã
nhiều phen bắt hụt Bạch Thủy Xà Vương
lại chẳng nói cho tướng công biết rằng da
nó không sợ gươm đao?
Nhương Thư biện minh dúm họ Vệ:
- Có lẽ Vệ tiền bối chưa lần nào đâm
trứng quái xà cho nên không biết!
Chàng vận công cao giọng:
- Vệ tiền bối! Tiểu diệt đã giết được
Bạch Thủy Xà Vương!
Giọng nói già nua của Trại Tôn Tân
chẳng c Où chút vui mừng :
- Tốt lắm! Ngươi hãy mang nó đi về
hướng Đông, khi đến gốc cây bách lớn
nhất thì đi theo thứ tự sau: tả ba bước,
tiến năm bước, rồi sang hữu hai bước, sau
đó lại tiến năm bước !
Nhương Thư vác phần đầu, Đại Ngọc
nắm chóp đuôi Bạch Thủy Xà Vương, đi
về hướng Đông, theo đúng chỉ dẫn của
Vệ Hồng mà vượt trận. Gần khắc sau,
trước mặt họ xuất hiện một tòa nhà lục
giác xây bằng đá núi, mái ngói đầy lá
mục và những loại cây ký sinh! Trên
tường cũng chi chít dây leo, như màn treo
cửa.
Tòa thạch ốc quái dị kia nằm dưới một
vòm cây rậm rạp, đến nỗi ánh dương
quang không xuyên qua nổi. Do vậy,
không gian trong nhà cực kỳ tăm tối dù
cửa chính rộng mở. Nhương Thư ngỡ
ngàng dừng bước, lên tiếng gọi:
- Vệ tiền bối!
Lão ta đáp ngay:
- Ta đây! Hai ngươi cứ đi thẳng vào
nhà!
Hai kẻ hậu sinh vội tuân mệnh tiến
vào Và một mùi hương hăng hắc xông
vào mũi họ, khiến Nhương Thư và Đại
Ngọc ngã lăn ra bất tỉnh. Lát sau, Nhương
Thư mở mắt, bàng hoàng nhận ra mình bị
trói chặt chân tay, treo lơ lửng cách mặt
đất vài gang. Cách chàng không xa là
Bạch Ngọc Tiên Tử, cũng lâm vào tình
trạng như thế, nhưng thân thể lõa lồ,
chẳng còn một mảnh vải.
Không gian trước thạch thất đã sáng
sủa hơn vì năm khung cửa sổ đều đã được
mở toang. Nhờ vậy, Nhương Thư nhìn
thấy gương mặt của lão già áo xanh đang
ngồi uống rượn, ngắm nghía thân hình
nõn nà của Đại Ngọc, chàng chết điếng
người, thét lên lạc giọng:
- Trác Thiên Lộc!
Bao ngày tìm kiếm kẻ thù, nào ngờ
hôm nay lại rơi vào tay lão! Nhương Thư
điên cuồng vùng vẫy nhưng huyệt đạo đã
bị phong tỏa, chân khí bế tắc và tứ chi
mềm rũ!
Trác Thiên Lộc cười khanh khách,
bước đến vuốt ve những đường cong trên
cơ thể Đại Ngọc, mắt loé lên những tia
dâm đãng và khoái trá. May mà Đại Ngọc
công lực yếu kém nên vẫn chưa tỉnh lại
mà cảm nhận được nỗi nhục nhã thống
khổ
Nhương Thư đau lòng vô hạn khi thấy
họ Trác mạnh tay dày vò da thịt người
yêu, chàng phẫn nộ mắng:
- Trác Thiên Lộc! Vì sao một bậc cao
tăng như lão mà lại trở nên đốn mạt đến
mức ấy? Mẹ con ta nào có thù oán già với
lão?
Họ Trác cười ghê rợn:
- Mẹ con ngươi không có tội nhưng cha
ngươi thì đáng bị lão phu băm vằm muôn
mảnh! Nay Tần Tử Chính đã chết, lão
phu đành phải trút hận lên đầu vợ con của
hắn!
Nhương Thư kinh ngạc hỏi:
- Nói láo! Lão và phụ thân ta nào có
quen biết nhau? Ta về Ngũ Đài Sơn học
nghệ khi gia phụ qua đời đã ba bốn năm!
Trác Thiên Lộc lắc đầu, đưa tay sờ vết
thẹo trên mặt, mắt chói lọi hận thù, nói
bằng giọng oán hờn:
- Ba mươi năm trước, lão phu và tên
khốn khiếp Tần Tử Chính có chân trong
một tổ chức giết mướn có tên gọi Báo
ứng Hội. Ngày ấy, ta và hắn được cử đến
Hán Trung hạ sát Tứ Xuyên Thần Kích
Mao Tâm ương, để chiếm tấm họa đồ
dẫn đến lăng mộ của Thần Quang Chân
Nhân Lão phu định mang về dâng lên hội
chủ, nào ngờ giữa đường bị Tần Tử
Chính ám toán rồi cướp lấy!
May mà sư phụ đi ngang qua, cứu
mạng lão phu. Ta biết mình không thể
quay lại với Báo ứng Hội nên dấu nhem
sự việc, chỉ nói rằng mình bị kẻ cướp, rồi
khẩn cầu Thượng Nhân thu nạp. Thù xưa
tưởng chừng đã bị xoá nhòa bởi kệ kinh,
nào ngờ mẹ con ngươi lại dẫn xác đến
Ngũ Đài Sơn. Cách nay ba mươi năm, lão
phu tình cờ được nghe sư phụ tiết lộ tên
cha ngươi là Tần Tử Chính, cộng với đôi
vành tai của ngươi, ta biết chẳng thể lầm!
Thế là lửa hờn bùng cháy. Trác mỗ liền
dâm sát con mụ ni cô hơ hớ là mẹ mi !
Nhương Thư cố dằn cơn giận điên
cuồng vì nhận ra Lâm Đại Ngọc đã tỉnh
lại và nháy mắt ra hiệu. Hình như nàng
đang toan tính việc thoát thân? Như đã
nói ở đoạn trên, sau khi ân ái với Tiên
Tử, tâm hồn Nhương Thư bớt cuồng nộ
hơn xưa, nên giờ đây mới nhẫn nhục
được Chàng run rẩy nó i :
- Nhưng vì sao lão lại có mặt nơi này?
Trác Thiên Lộc đắc ý đáp:
- Trại Tôn Tần đã từng gởi thư cầu
viện sư phụ, đúng lúc ta đang định giết
mẹ ngươi rồi bỏ trốn! Vì thế, ta bóc thư
xem rồi hủy đi. Sau khi rời Ngũ Đài Sơn,
ta đến thẳng đây, giả vờ nói rằng được sư
phụ cử đi. Nhân lúc Vệ Hồng sơ ý. Ta
giết lão, đoạt lấy chỗ này!
Nhương Thư lại nhận thêm cái nháy
mắt của Đại Ngọc nên tìm cách kéo dài
thời gian:
- Vậy sao trong ba năm qua lão không
hề xuống hồ bắt Bạch Thủy Xà Vương
thu lấy mật?
Trác Thiên Lộc cười hăng hắc nói:
- Ngươi không nhớ rằng lão phu suốt
đời sợ rắn hay sao? Vả lại lão phu đâu có
kém mắt mà cần đến mật của Bạch Thủy
Xà Vương? Khi ngươi lên tiếng, ta mới
nghĩ ra độc kế, vừa có mật rắn vừa diệt
được mầm họa!
Chợt lão cau mày:
- Nhương Thư! Ta đã lục soát khắp ni
am mà không thấy tấm bản đồ ! Mẹ ngươi
không giữ thì chẳng lẽ là ngươi?
Nhương Thư cười nhạt:
- Lúc ta về chùa Phật Quang nào có
mang theo vật gì đâu?
Tuy nói thế nhưng lòng chàng lại nhớ
đến mảnh đồng tiền khắc đầy những nét
kỳ lạ mà mình đeo nơi cổ hồi nhỏ để lấy
phước, kỷ vật được chàng giữ gìn suốt ba
năm lưu lạc, đến tuổi mười lăm mới tháo
ra, hiện cất trong tăng xá ở chùa Phật
Quang ! Phải chăng cha chàng đã thu nhỏ
họa đồ lại, khắc lại trên một mặt của
đồng tiền?
Bạch Ngọc Tiên Tử đã giải được huyệt
đạo, cong người lên đạp vào Trác Thiên
Lộc. Nếu trứng chiêu này thì lão không
chết cũng trọng thương! Đáng tiếc thay
họ Trác võ nghệ cao cường, vừa nghe
tiếng dây chão kẽo kẹt là quay lại đỡ đòn
ngay. Song thủ của lão đánh bạt đôi chân,
rồi điểm nhanh những huyệt trên đùi và
sườn đối phương.
Đại Ngọc tức tối và tiếc nuối cơ hội
ngàn vàng này, bật khóc nức nở. Nhưng
Nhương Thư thì lại thở dài thườn thượt.
Trác Thiên Lộc cười đanh ác:
- Nhương Thư! Lão phu sẽ cho ngươi
được chứng kiến cảnh phong lưu hoan lạc
lần cuối cùng! Ngươi càng đau khổ thì
lão phu càng thấy khoái!
Nói xong, lão vươn tay khóa hàm Bạch
Ngọc Tiên Tử, đề phòng nàng cắn lưỡi tự
sát Lão tháo dây trói, đặt thân hình mềm
rũ của Đại Ngọc xuống sàn nhà, rồi cởi y
phục, chuẩn bị cưỡng bức nàng!
Dòng lệ tuyệt vọng, đau đớn tràn ra
khỏi đôi mắt bi thương của nữ nhân.
Cảnh tượng này đã gợi lại cái chết thảm
của mẹ hiền, khiến cơn giận sôi sục trong
lòng Nhương Thư, song không có cách
phát tiết, uất khí công tâm làm chàng thét
lên một tiếng rồi hộc máu thành vòi.
Tình cờ, dòng máu nóng kia bay vào
mặt Trác Thiên Lộc, chạm trứng mắt
phải. Lão giận dữ, nhặt áo lau mặt, và
kinh hãi vì cảm giác đau rát nơi tròng
mắt, cứ như bị sát muối.
Đồng thời, sau khi hộc máu, Nhương
Thư phát hiện một luồng chân khí nóng
hổi từ đan điền cuồn cuộc lưu chuyển
khắp người, giải tỏa những huyệt đạo bị
phong bế. Công lực phục hồi, chàng
mừng rỡ uốn người, phóng song cước vào
ngực lão họ Trác. Lão đang khổ sở vì con
mắt mờ đi và đau nhức khôn tả nên
không tránh kịp chỉ đưa tay đỡ. Thân thể
Trác Thiên Lộc văng vào vách tường. Lão
hộc máu, nhưng vẫn còn đủ sức khập
khiễng bỏ chạy.
Nhương Thư giật đứt dây trói tay, hạ
xuống đất, lao ra ngoài để truy đuổi kẻ
đại thù, nhưng lão ác ôn đã biệt tăm trong
rừng cây rậm rạp. Lo cho Đại Ngọc,
Nhương Thư bỏ cuộc quay lại dược thất.
Được giải huyệt xong, nàng ôm chàng
khóc ngất. Nữ nhân dẫu thùy mị cũng có
lúc nổi tam bành, Đại Ngọc vừa khóc vừa
chửi:
- TỔ bà lão chết tiệt họ Trác! Thiếp mà
bắt được lão thì sẽ móc mắt, chặt tay rồi
mới giết!
Nhương Thư phì cười:
- Sao lại dã man thế?
Đại Ngọc hậm hực:
- Lão quỷ ấy làm gì thiếp bộ chàng
không thấy sao?
Biết chắc Trác Thiên Lộc thọ trọng
thương, không dám quay lại. Hai người
quyết định ở lại đây thêm một đêm.
Giường chiếu đầy đủ, thực phẩm dồi dào.
Thạch ốc quả là một tổ ấm lý tưởng.
Mặc xong y phục, Lâm Đại Ngọc tò
mò hỏi:
- Chẳng lẽ tướng công giỏi đến mức có
thể phun máu mà đánh mù mắt Trác lão
quỷ?
Nhương Thư đã suy nghĩ nhiều về điều
này nên cười khổ:
- Không phải đâu! Hình như trong máu
của ta có độc nên mắt lão Trác mới bị
đau đớn như vậy !
Đại Ngọc kinh hãi lẩm bẩm:
- Hay là tinh huyết của Bạch Thủy Xà
Vương mang độc tính?
Nàng vội bước đến kệ sách trên vách
lục lọi, tìm được quyển Sơn Hải Kinh, lật
ra xem. Đến trang nói về Bạch Thủy Xà
vương nàng thấy có đoạn viết rằng "Tinh
huyết lỏng chứa trong sừng Bạch Thủy
Xà Vương ba trăm tuổi có lẽ là dược vị
rất trân quý, song nó lại tuyệt độc nên
dược tính chưa được nghiên cứu chu
đáo!"
Bạch Ngọc Tiên Tử rụng rời tay chân,
mếu máo nói:
- Thiếp đã hại tướng công rồi!
Nhương Thư cũng đứng bên cùng đọc
liền vỗ về:
- Ta thấy cơ thể vẫn khoẻ mạnh chứ
đâu có hiện tượng gì khác! Có lẽ Quỷ
Nấm ăn được năm xưa đã giúp ta kháng
cự lại chất độc của máu sừng rắn!
Và chàng tươi cười:
- Hơn nữa, nến không nhờ máu chứa
độc thì giờ đây ta cùng nàng đã sống dở
chết dở dưới tay Trác Thiên Lộc rồi!
Đại Ngọc đỏ mặt, bắt Nhương Thư
phải tĩnh tọa kiểm tra kinh mạch, trong
lúc này nàng lôi xác Bạch Thủy Xà
Vương ra phía sau mổ bụng. Nhương Thư
tọa công thấy công lực tăng chút ít, kinh
mạch thông suốt, có điều da thịt chàng
dường như hơi bị căng cứng hơn bình
thường! Nhương Thư biết là chuyện lạ
nhưng không nói cho Đại Ngọc nghe làm
gì Nữ nhân vốn hay lo lắng vu vơ, nhỏ xé
ra to!
Mùi xào nấu từ căn bếp nhỏ phía động
thạch ốc bay vào mũi Nhương Thư khiến
con tỳ vị của chàng sôi sục. Lát sau, Đại
Ngọc bưng mâm cơm lên đến, ríu rít nói:
- Tướng công! Nơi đây có cả loại gạo
ngon của phương nam, gia vị, thịt khô
đầy đủ, chúng ta ở lại đây cả tháng cũng
không lo đói!
Nhương Thư ngỡ ngàng:
- Sao lại thế!? Sáng mai chúng ta sẽ rời
đây rồi mà?
Bạch Ngọc Tiên Tử xụ mặt:
- Luyện võ ở đây cũng được, thiếp còn
có điều kiện hầu hạ tướng công! Về chùa
rồi gần nhau sao tiện?
Nhương Thư thực thà đáp:
- Nhưng máu của ta rất độc, đâu thể ân
ái với nàng được?
Đại Ngọc hổ thẹn nguýt chàng:
- Tướng công kỳ cục quá! Thiếp nào
phải vì chuyện ấy?
Rồi nàng đánh trống lảng, bới cơm,
gắp thịt rắn cho Nhương Thư, rồi thúc
g!ục :
- Tướng công ăn nhiều vào! Tim gan
của Bạch Thủy Xà Vương chắc là rất bổ
dưỡng!
Chợt nhớ đến túi mật, nàng tất tả chạy
xuống bếp lấy lên, thuận tay sách luôn vò
rượn Đại Ngọc cười bảo:
- Thiếp quả là đãng trí! Suýt nữa thì
quên mất vật báu này! Tướng công hãy
nuốt nó đi!
Biết nàng hối hận nên tìm đủ mọi cách
để đền bù, Nhương Thư đành phải chiều
ý, không hề phản bác, dù chẳng rõ hậu
quả ra sao?
ăn xong, Đại Ngọc lo quét dọn tổ ấm,
Nhương Thư thì đi một vòng quan sát địa
thế, rồi quay lại xem tủ sách của Trại Tôn
Tần. Chàng vốn là kẻ ham đọc nên
thường mặc áo thư sinh. Nay nhìn thấy
hàng trăm cuốn sách vở, liền háo hức lật
xem.
Ngoài binh thư và sách kỳ môn trận
pháp còn hiện diện vài chục quyển kinh
phật. Trong đó có một quyển Đại Bát
Nhã, bản in đời Tống. Nhương Thư tò mò
muốn biết nó có khác bản in đầu tiên hay
không, nên lục tay nải, lấy hộp gỗ đựng
kinh mà Tất Cung Bảo đã tặng chàng ra
so sánh!
Nhờ vậy chàng phát hiện một tờ rời
kẹp trong quyển kinh đời Đường chi chít
mấy trăm nét chữ rất nhỏ. Vẻ mặt kinh
ngạc của Nhương Thư đã khiến Đại Ngọc
chạy đến. Nghe chàng giải thích xong,
Đại Ngọc căng mắt đọc thử. Nhận ra toàn
là tên huyệt đạo và kinh lạc, nàng cau
mày bảo:
- Tướng công! Có lẽ đây là một loại
thần công thất truyền mà tất trang chủ
muốn tặng chàng để đền ơn cứu mạng.
Giấy này không được tốt, Oá vàng và sắp
mủn ra, chàng hãy cố học thuộc, sau này
sẽ nghiên cứu!
Nhương Thư nghe lời nàng, cầm lấy
lẩm nhẩm ghi vào óc. Thơ văn có câu cú
mạch lạc nên dễ dàng nhớ, nhưng khẩu
quyết võ công thì lủng củng, trúc trắc, chỉ
nhớ sai thứ tự một huyệt là đủ vong
mạng! Nửa canh giờ sau, Nhương Thư
mới tự tin đã thuộc lòng, và mảnh giấy
trên tay cũng rách nát. Chàng cẩn thận
nâng niu, định ghép nó lại, bỏ vào quyển
kinh thì Đại Ngọc hỏi:
- Tướng công thuộc chưa, đọc thử cho
thiếp kiểm tra?
Nhương Thư liền đưa mảnh giấy cho
nàng, đọc lại chẳng sai một chữ, Đại
Ngọc mỉm cười, xoa tay biến tờ giấy kia
thành bột và nói:
- Nó là của riêng tướng công đấy!
Nhương Thư bật cười:
- Đúng là đàn bà! Lúc nào cũng chỉ
muốn trượng phu của mình hơn thiên hạ!
Bạch Ngọc Tiên Tử tủm tỉm đáp:
- Trung hậu như tướng công thì làm
sao hiểu rõ lòng dạ nữ nhân?
Vũ khí đã rơi xuống đáy hồ. Nhương
Thư bèn lấy thanh kiếm cũ treo trên vách
xuống dùng. Có lẽ đây là di vật của Trại
Tôn Tấn? Chàng luyện kiếm đến khi
hoàng hôn tím lịm mới thôi. Cơm nước
đã sẵn sàng, ngoài thịt Bạch Thủy Xà
Vương kho còn có tô canh rau dại.Cảnh
ấm cúng và hạnh phúc này đã khiến
Nhương Thư thêm yêu mến Bạch Ngọc
Tiên Tử. Tình cảm càng nồng thắm, sâu
đậm hơn những gì chàng dành cho chị em
nhà họ Điền. Tình yêu vốn là điều kỳ
diệu nhất thế gian, không có quy luật và
vượt ngoài yếu tố thời gian.
Tối hôm ấy, trò chuyện mãi mà chẳng
thấy tướng công phất cờ khởi nghĩa, Đại
Ngọc tấm tức bật khóc:
- Phải chăng tướng công chê thân thể
thiếp đã Oâ uế dưới tay họ Trác nên không
thèm đụng đến nữa?
Nhương Thư thở dài:
- Nào phải vậy! Ta chi sợ di hại đến
nàng đấy thôi!
Đại Ngọc phụng phịu nói:
- Thiếp có cắn chàng chảy máu đâu mà
ngộ độc?
Rồi nàng chủ động thoát y dâng hiến
thân hình rũ mềm, gợi cảm cho Nhương
Thư. Nàng nồng nhiệt gấp bội đêm qua,
như muốn xóa tan nỗi ám ảnh của cuộc
cưỡng bức lúc trưa? Lòng dạ Nhương
Thư trong sáng, quảng đại nên không tỳ
vết bởi tai nạn ấy, hào hứng đáp ứng, làm
nguôi ngoại nỗi hổ thẹn và mặc cảm thất
tiết của ái thê!
Lễ giáo thời xưa rất nghiêm khắc, khi
nữ nhân có chồng mà bị gã đàn ông khác
lột xiêm y, sờ mó cơ thể, thì cũng xem
như bị hiếp. Nhiều người tự vẫn vì nhục
nhã, dù trượng phu không hề bắt lỗi! Có
lẽ Nhương Thư hiểu điều ấy nên nâng niu
mãi người ngọc, mây mưa đến tận nửa
đêm.
Đại Ngọc liên tiếp chơi vơi trên đỉnh
sóng tình, hiểu rằng Nhương Thư vãn yêu
mình như trước, mãn nguyện thiếp đi!
Nhương Thư không hề thấy mệt mỏi, biết
ngay đấy là tác dụng của tinh huyết Bạch
Thủy Xà Vương.
Cuối tháng mười đôi tình nhân mới rời
tổ ấm, đi về Ngũ Đài Sơn, có mặt ở chân
núi lúc trưa hôm mười bốn tháng mười
một. Theo kế hoạch đã bàn, hai người
chia tay nhau ở chốn này, Bạch Ngọc
Tiên Tử về Lã Lương Sơn ăn tết với cha
già, sang xuân sẽ đến chùa Phật Quang
cùng Nhương Thư đi Nam Dương phó
hội!


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi 6
Danh Chính Tâm Bất Chính
Biên Thước Phục Lương Ma
Lâm Đại Ngọc đi khuất, Nhương Thư
vác bọc sách quý của Trại Tôn Tấn để lại,
nhanh chóng thượng sơn. Đông về, tuyết
phủ trắng những bậc thang của sơn đạo,
chẳng hề làm chậm bước chân của một
kẻ quen lên xuống! Xa chùa gần năm, nay
trở lại, Nhương Thư nghe lòng rộn rã, bồi
hồi như đứa con phiêu lãng hồi gia!
Chùa Phật Quang là một trong mười
ngôi chùa lớn nổi tiếng ở Ngũ Đài Sơn,
được xây dựng từ thời Hiến Văn Đế nhà
Bắc Ngụy. Chùa quay mặt về hướng
Đông, các công trình lần lượt nằm trên ba
tầng bình đài. Đại điện nằm trên bình đài
thứ ba, xây năm Đại Trưng thứ mười một
nhà Đường (857), sau cùng là vách đá
dựng đứng.
Cổng tam quan nằm ở tầng bình đài
thấp nhất, gồm ba cửa, giữa lớn, hai bên
nhỏ hơn, tượng trưng cho ba cửa giải
thoát là Không Môn, VÔ Tướng Môn và
VÔ Tác Môn.
ở hai bên cửa, có hai pho tượng Kim
Cương lớn, tức Dạ Xoa, cầm binh khí bảo
vệ chùa, cũng gọi là "Chấp Kim Cương".
Người đời sau, căn cứ vào truyện Phong
Thần Diễn Nghĩa gọi hai pho tượng ấy là
"Hanh Cáp Nhị Tướng!". Kỳ thực trong
kinh Phật không có tên gọi đó !
Nhương Thư qua cổng tam quan, được
bọn tiểu tăng quét tuyết trên sơn đạo
mừng rỡ đón chào. Một gã trẻ tuổi mau
miệng nói:
- Sư thúc làm gì giờ này mới hồi sơn,
khiến cả chùa lo lắng vô cùng? Có bang
chủ Cái Bang và Bất Trí Thư Sinh đến
chờ đã mấy ngày nay rồi !
Và gã cười hì hì:
- Phen này sư thúc nguy rồi! Có ba vị
nữ thí chủ họ Điền vì sư thúc mà đến đây
ăn vạ!
Nhương Thư bối rối hỏi lại:
- Huệ Nghi ! Thế họ đang ở đâu?
Gã trợn mắt ra vẻ hào hứng:
- Tám ngày trước ba vị tiểu thư ấy
thượng sơn, đòi bái kiến phương trượng.
Trước tiên, họ cúng đường cho chùa ta
ngàn lượng vàng công đức. Sau đó mới
thú nhận mình là vị hôn thê của sư thúc,
xin phép được ở lại để đợi chờ! Phương
trượng há miệng mắc quai, đành phải cho
họ ngụ ở tiểu xá của sư thúc !
- Hèn gì sư thúc tổ Phật Đăng Thượng
Nhân không cho sư thúc xuất gia! Sư thúc
mới rời chùa chẳng bao lâu đã mang về
đến b a vị hôn thê !
Nhương Thư rầu rĩ đáp:
- sai rồi! Năm chứ không phải chỉ ba
đâu!
Trong lúc đám tiểu tăng trợn mắt kinh
ngạc, chàng lướt nhanh lên bình đài thứ
hai. Kiến trúc trên bình đài này là Thiên
Vương Điện, trong thờ tượng Phật Di Lặc
ở giữa, chung quanh phật là tượng thần
hộ pháp - Vi Đà BỒ Tát và Tứ Thiên
Vương. Trước Thiên Vương Điện có hai
gác chuông !
Cơ ngơi quan trọng nhất và nổi tiếng
nhất của Phật Quang Tự chính là Đại
Hùng Bảo Điện, nằm trên bình đài cao
nhất Đại điện này là công trình hiếm có
trong nền kiến trúc cổ đại Trung Hoa. Nó
gồm bảy gian, dài mười trượng, rộng hơn
năm trượng. Mái điện trái đào, góc nhà
cất cong lên.
Trong điện có ba mươi chín pho tượng
đời Đường. Trên cột và xà có đề từ, trên
tường có bích họa. Có thể nói là bốn loại
hình nghệ thuật đời Đường đều tập trưng
ở đây: kiến trúc, điêu khắc, thư pháp, hội
họa! Sau đại điện là các công trình khác
như thiền đường, pháp đường, tổ sư
đường, phòng phương trượng, tàng kinh
các
Sơ lược vài nét thế thôi, vì Nhương
Thư đã bị ba ả họ Điền túm lấy. Họ đang
xúng xính áo cừu dạo trước sân ngắm
cảnh thì phát hiện mục tiêu, liền xúm lại
níu áo ! Nhương Thư ngượng ngùng gắt:
- Đây là Phật địa, các nàng phải giữ ý!
Điền Uyển Xuân nũng nịu nói:
- Công tử chớ lo! Phương trượng sư
huynh rất mến bọn tiểu muội, chẳng la
rầy gì đâu!
Bạch Cúc thản nhiên nói:
- Phật tổ ngày xưa cũng có vợ mà?
Mã Lan e ấp hỏi:
- Công tử có gặp gia tỷ hay không?
Nhương Thư giật mình:
- Có! Nhưng ta đã nhờ lão Tào ưng và
một người nữa đưa Ngọc Trâm về Tế
Nam hồi cuối tháng chín rồi mà!
Uyển Xuân tủm tỉm cười:
- Lúc ấy bọn tiểu muội đã rời nhà, tất
nhiên không gặp!
Trong tri khách xá có người gọi vang:
- Tần hiền đệ! Ngươi còn chưa chịu
vào nữa hay sao?
Đấy là giọng của VÔ ưu Cái Hầu MỘ
Thiên! Thế là ba nàng lúp xúp theo
Nhương Thư vào ra mắt các trưởng bối !
Chân Không phương trượng đang hầu
trà hai khách quý, hiền hòa nói:
- Sư đệ về trễ vài ngày chắc lão nạp
đến chết với ba nữ thí thủ đây! Ngày nào
họ cũng đến hỏi han, khiến lão nạp rối cả
óc!
Nhương Thư thẹn đỏ mặt, đền bù cho
lão bằng quyển kinh quý đời Đường và
mấy chục quyển sách khác cũng khá xưa!
Chân Không phương trượng tuổi bẩy
mươi, chẳng giỏi võ công, chỉ chuyên về
Phật pháp. Nay được tặng kinh báu, ông
hoan hỉ phi thường, mang cả về phòng
xem ngay cho thỏa.
Còn lại số sách về y học và thuật kỳ
môn, Nhương Thư tặng luôn cho Bất Trí
Thư Sinh! Cao Trường Toán cũng vui
mừng khôn xiết, hết lời cảm tạ chàng. VÔ
ưu Cái tinh quái hỏi:
- Lão phu nghe đồn hiền đệ và Bạch
Ngọc Tiên Tử gặp phục binh, chạy thoát
vào rừng, tao ngộ thế nào hãy kể thử
xem?
Nhương Thư ngạc nhiên:
- Sao thiên hạ lại biết chuyện ấy mà
đồn đãi?
vô ưu cái cười đáp:
- Trong mười tám hảo hán hôm ấy có
không ít những kẻ lão luyện giang hồ,
vừa bị thương đã giả chết thoát nạn, về kể
lại!
Ba ả họ Điền nghe nhắc đến Bạch
Ngọc Tiên Tử, lửa ghen sôi sục, đốc thúc
Nhương Thư kể rõ ngọn ngành. Chàng
không quen nói dối, đành phải thuật lại,
nhưng giấu giếm những tình tiết gay cấn,
những trận ân ái mùi mẫn. Tuy nhiên, chỉ
cần ghe giọng ngập ngừng và ánh mắt
ngượng ngùng, ai cũng biết chàng chưa
nói hết sự thực!
VÔ ưu Cái cười, đỡ đòn cho Nhương
Thư:
- việc hiền đệ thu dụng máu sừng của
Bạch Thủy Xà Vương rất đáng ngại! May
mà có Bất Trí Thư Sinh ở đây, lão ta sẽ
xem thử thế nào?
Cao Trường Toàn gật đầu bảo:
- Lão phu đã nghĩ đến chuyện ấy! Giờ
chúng ta đưa Tần công tử vào phòng kín
để khám kỹ toàn thân mới được !
Tam tiểu thư Điền Bạch Cúc là người
nói thật lòng mình, chẳng biết sợ là gì:
- Tần đại ca hôi hám quá! Để bọn tiểu
nữ tắm cho y xong đã!
Thế là ba ả tố nga lôi Nhương Thư về
tòa tiểu viện ở sườn núi hướng Đông Bắc,
nới ẩn cư của thầy trò Nhương Thư, cách
khá xa đại điện. Giờ đây, nó đã trở thành
chỗ trú chân của ba chị em họ Điền.
Nhương Thư ngán sợ nhất là Bạch
Cúc, nên chẳng dám cãi, Thực ra, lòng
chàng lại rất tôn trọng bản chất thẳng
thắn, cương liệt của nàng. Bạch Cúc đã
yêu thì không thay đổi, sẵn sàng chết vì
người mình yêu.
Đến nơi, Nhương Thư nhăn mặt khi
thấy chốn thân yêu thay đổi diện mạo. Ba
nàng tiểu thư thiên kim kia đã trang trí
chỗ đơn sơ của chàng bằng màn trướng
sặc sỡ, vật dụng đắc tiền và thơm ngát
mùi son phấn! Trong nhà, bàn ghế,
giường chiếu, bình phong, tủ kệ đều là
thứ gỗ quý đắt tiền, thay thế những đồ cũ
kỹ của chàng.
Nhương Thư rợn tóc gáy hỏi:
- Chẳng lẽ ba nàng định ở đây lâu dài?
Uyển Xuân cười nắc nẻ:
- Xuất giá tòng phu! Trước sau gì bọn
tiểu muội cũng phải về ở Ngũ Đài Sơn
này! Đây chỉ là chỗ tạm, nhà của chúng
ta sẽ là trang viện của lão phú hộ dưới
chân núi ! Chị em thiếp đã mua xong,
đang cho sửa chữa, sơn phết lại, chắc
chắn sẽ xong trước tết !
Mã Lan tiếp lời:
- Chân Không phương trượng sư huynh
nổi tiếng giỏi thư pháp, đã đích thân viết
tặng ba chữ Tần gia trang trên bảng gỗ ở
đại môn.
Nhương Thư biến sắc, thở dài:
- Té ra Tần mỗ là kẻ nhờ vợ mà được
giàu sang phú quý ư?
Câu nói chua chát này khiến ba nàng
sợ hãi nhìn nhau. Nhưng họ lại thức ngộ
rằng đây là lần đầu tiên Nhương Thư mở
miệng chính thức công nhận thê thiếp!
Uyển Xuân láu lỉnh nháy mắt với hai chị,
cùng nhau nghiêng mình bái:
- Cảm tạ tướng công đã thừa nhận mối
lương duyên với bọn thiếp !
Nhương Thư cười khổ:
- Có nói ra cũng thế thôi! Tần mỗ nào
phải là kẻ vô tình! Tuy nhiên, các nàng
đừng đưa ta vào thế khó xử!
Điền Mã Lan chớp đôi mắt huyền u
uẩn, dịu dàng phân giải:
- Tướng công vốn là bậc chân nhân
thông đạt ý nghĩa nhân sinh, sao lại bận
tâm vì chút tiểu tiết? Của cải trên đời như
phù vân, chỉ có tình nghĩa là trường tồn,
nhà cửa dẫu mang tên ai thì có quan trọng
gì? Cuộc đời của chị em thiếp còn dâng
cả cho tướng công, xá gì tài sản?
Nhương Thư cứng họng chịu thua:
- Thôi được! Ba nàng muốn làm gì thì
làm!
Ba ả đắc ý cười khúc khích, xúm lại lôi
kéo tình quân vào phòng tắm! Vài khắc
sau, Nhương Thư sạch sẽ, tươi tỉnh tìm
đến khách xá của VÔ ưu Cái! Bất Trí
Thư Sinh lập tức tiến hành việc chẩn
bệnh. Lão thăm mạnh hỏi han và trích lấy
máu để nếm thử! Cao lão cau mày tư lự:
- Đúng là Quỷ Nấm đã trưng hòa được
độc tính của tinh huyết Bạch Thủy Xà
Vương. Hiện nay, trong máu của Nhương
Thư không hề có độc. Tuy nhiên, chẳng
hiểu vì sao mà dược lực chẳng thể phát
tán để làm tăng tiến chân khí như y kinh
đã nói?
Nhương Thư mỉm cười:
- Không biến thành độc nhân là may
lắm rồi ! Tại hạ chẳng cần thu lợi !
Cao Trường Toàn lắc đầu:
- Có thu lợi rồi đấy chứ! Giờ đây,
không có chất độc nào trên đời có thể làm
hại ngươi được nữa!
VÔ ưu Cái hoan hỉ vỗ đùi:
- Hay lắm! Quả là trời đã giúp chúng
ta!
Thấy Nhương Thư ngơ ngác, Hầu bang
chủ giải thích:
- Số là thế này! Lão phu và Cao
Trường Toàn đến đây tìm Tần hiền đệ vì
một việc có liên quan đến ân oán của
Phật Đăng sư bá, cũng là an nguy của võ
lâm! Hơn hai mươi năm trước, Độc Biển
Thước Tả Nho Quan đất Tứ Xuyên, một
cao thủ độc môn khét tiếng tàn ác, đã bị
Thượng Nhân và hai vị tiền bối võ lâm
nữa khống chế, bắt lão ta suốt đời quy ẩn
ở Thái Hoàng Sơn. Cái Bang có tránh
nhiệm giám sát Độc Biển Thước suốt
mấy chục năm qua, hơn nửa tháng trước
đã phát hiện người của Tứ Phạn Thiên
Cung và Chính Khí Trang đến tìm kiếm
họ Tả. Dường như hai phe này đã phong
thanh biết Tả Nho Quan ẩn cư ở tại núi
Thái Hoàng, nhưng chưa rõ vị trí chính
xác Nếu để họ lôi kéo được Độc Biển
Thước thì võ lâm nguy mất. Vì vậy, Tần
hiền đệ phải đi ngay đến đấy ngăn chặn!
Nhương Thư lấy làm lạ:
- Tại sao phải là tiểu đệ?
VÔ ưu Cái mỉm cười:
- Vì họ Tả chỉ khâm phục có mình sư
phụ ngươi, tất sẽ nể mặt ngươi mà nghe
lời khuyến cáo! Kỳ dư, bất cứ cao thủ
bạch đạo nào vào Hắc ưng Cốc cũng đều
bị giết!
Nhương Thư trầm tư hỏi lại:
- Nhưng nếu lỡ Độc Biển Thước quyết
tâm tái xuất để hành ác thì sao?
VÔ ưu Cái nghiêm giọng:
- Lúc ấy, hiền đệ phải vì đại cục giang
hồ mà trừ khủ họ Tả. Nếu không nỡ giết
chết thì hãy phế võ công của lão ta!
Nhương Thư chấn động:
- Chẳng lẽ Độc Biển Thước lại đáng sợ
đến thế sao?
Bất Trí Thư Sinh lên tiếng:
- Công tử không biết đấy thôi! Năm
xưa, chỉ trong ba ngày, họ Tả đã phóng
độc giết sạch hơn sáu trăm nhân thủ của
Môn Sơn Trại. May mà đám nạn nhân
đều là cường đạo nên võ lâm mới nương
tay với Độc Biển Thước!
Lão rùng mình nói tiếp:
- Ngày ấy, bách tính gần đấy phải di
tản vì mùi hôi thối của xác chết bốc lên
c ả tháng trời vẫn chưa hết !
Nhương Thư nổi da gà nhăn mặt:
- Nghe kể sơ sơ cũng đã biết sự lợi hại
của họ Tả! Tiểu đệ nối chí ân sư tất phải
lĩnh tránh nhiệm này!
VÔ ưu Cái mừng rỡ nói:
- Hay lắm! Bọn lão phu sẽ đưa hiền đệ
đến Hắc ưng Cốc!
Bàn bạc thêm một hồi lâu, Nhương
Thư trở lại tiểu viện. Ba nàng nghe kể
liền nằng nặc đòi theo! Chẳng lẽ mới gặp
lại bắt họ phải xa, Nhương Thư đành
nhượng bộ, nhưng chỉ cho phép ba nàng
đi đến An Dương, rồi ở đấy chờ đợi, để
mình chàng nhập cốc!
Gần cuối tháng mười một, bọn Nhương
Thư tiến vào thành An Dương từ của Bắc,
họ ngạc nhiên khi nhìn thấy nơi đây tràn
ngập khách giang hồ, hắc bạch đều có đủ.
VÔ ưu Cái liền ngoắc một gã ăn mày lại
để hỏi. Tên này báo cáo:
- Bẩm bang chủ! Gần đây xuất hiện
một tin đồn rằng Thần Quang Chân Nhân
Công Tôn Khuê thực ra đã tọa hóa ở Thái
Hoàng Sơn chứ chẳng phải Thái Sơn! Có
kẻ còn khẳng định rằng đã nhìn thấy con
lươn lông trắng, chấm đỏ của Chân Nhân
gặm cỏ tại bìa rừng chân núi Mộc Sơn!
Thế là bao hào kiệt các phủ lân cận đổ về
như thác lũ! Các phái bạch đạo cũng
không dám không tin!
VÔ ưu Cái bứt râu than trời:
- Thôi chết rồi! Độc Biển Thước hiện
nay ở Mộc Sơn, quần hùng mà đến đấy
xâm phạm Hắc ưng Cốc thì khó mà toàn
mạng!
Bất Trí Thư Sinh tư lự:
- Có le Tứ Phạn Thiên Cung hoặc
Chính Khí Trang đã bày ra chuyện này.
Tuy nhiên, thật là khó đoán dụng ý của
họ!
Điền Uyển Xuân hồ hởi nói:
- Trăm nghe không bằng một thấy!
Chúng ta cứ đến đấy xem sê rõ ! Nhương Thư nhíu mày:
- Chốn thị phi, nguy hiểm ấy đâu phải
chỗ của các nàng?
Uyển Xuân nũng nịu:
- Công tử! Tình thế đã đổi khác, giờ
nơi ấy có cả ngàn người, lẽ nào bọn tiểu
muội không thể đến?
Điền Bạch Cúc mỉm cười:
- Công tử không cho tháp tùng thì bọn
tiểu muội đi riêng cũng được!
Nhương Thư ngao ngán:
- Thôi được ! Ta chịu thua các nàng rồi !
Ba ả mừng rỡ cười khanh khách, thúc
giục đám nam nhân đi vào phạn điếm gần
đấy để dùng cơm trưa! Hồng Xương Đại
Tửu Điếm nổi danh với những món ăn
Quảng Đông, tuy chỉ có một tầng nhưng
lại rộng mênh mông, bày được cỡ trăm
bàn!
Giờ đây, hào khách võ lâm ngồi chật
cứng khiến kẻ mới vào ngại chẳng có
bàn. Quần hào xôn xao khi thấy có bóng
hồng xuất hiện, và xuýt xoa ganh ty với
diễm phúc của Nhương Thư, có kẻ thì nói
bâng quơ:
- Gã họ Tần này tốt số thật! Song làm
thân kiếm khách mà lúc nào cũng kè kè
mỹ nữ thì còn gì chí khí trượng phu nữa?
Hắn nói rất lớn nên ai cũng nghe thấy,
chú mục nhìn về phía ấy. Thì ra là một
hán tử tuổi độ ba mươi sáu, tướng mạo
nghiêm trang, oai võ và đoan chính. Có
người nhận ra lai lịch vội nói lớn lên để
khoe khoang:
- Chính Tâm Kiếm Khách Đường Khả
Toại!
Đường Khả Toại là con út của Đường
Gia Tứ Xuyên, nổi danh quân tử đất
Thục, thường trừ gian giết bạo, xem kẻ ác
như cừu nhân! Võ công của gã rất lợi hại,
nhờ có ám khí tuyệt độc của Đường Môn.
Nhương Thư không biết gã là ai, và
cũng chẳng hề giận, thản nhiên cùng năm
người kia an tọa. Nhưng Uyển Xuân thì
không nhịn nổi, hậm hực nghe người
xung quanh xầm xì. Có kẻ khen Nhương
Thư rộng lượng, người bảo chàng sợ ám
khí nhà họ Đường. Nàng ghé tai Bất Trí
Thư Sinh hỏi nhỏ:
- Cao tiền bối! Chẳng hay gã Đường
Khả Toại kia đã lập gia thất hay chưa
vậy?
Cao Trường Toàn cười đáp:
- Chưa ! Thực ra, gã chỉ là kẻ nguy
quân tử, cố che dấu bản chất tiểu nhân
bằng những hành động anh hùng hiệp
nghĩa! Đường Khả Toại vốn hiếu sắc, trác
táng từ năm mười sáu, đến tuổi hai mươi
ngoài thì bị liệt dương, vì thế mới đóng
vai đạo mạo!
Uyển Xuân cười khúc khích:
- Vì sao tiền bối lại kể rõ nhược điểm
của gã như thế, phải chăng người muốn
xuân Nhi trát bùn lên mặt họ Đường?
Bất Trí Thư Sinh gật đầu:
- Phong hóa suy đồi cũng bởi những
tên đạo đức giả! Chúng còn đáng sợ hơn
những kẻ ác thực thụ! Tuy nhiên, gây oán
với lũ tiểu nhân là việc chẳng nên!
Đường Môn mà trở thành kẻ thù của
Nhương Thư thì rất tai hại, Xuân Nhi hãy
bỏ qua việc này!
Điền Mã Lan ngồi sát bên em gái nghe
được liền nhỏ nhẹ:
- Cao tiền bối dạy rất phải! Tứ muội
hãy vì tướng công mà nhẫn nhục !
Uyển Xuân giận dỗi:
- Tiểu muội xin nghe lời, nhưng nếu gã
chó chết ấy còn mở miệng ra lần nữa thì
tiểu muội sẽ ra tay đấy!
Cơm rượn được dọn lên, sáu người ăn
uống vui vẻ vì ba nữ nhân tranh nhau gắp
cho Nhương Thư. Tiếng cười rúc rích của
họ khiến đám lão hán xao xuyến, thầm
trách tổ tiên mình ăn ở kém đức nên con
cháu không được như Tần Nhương Thư!
Có vài người vì ngưỡng mộ mà đứng
lên nâng chung mời Nhương Thư cạn
chén ! Chàng ngượng ngùng đáp :
- Cảm tạ túc hạ ! Thư này không quen
uống rượn, xin được phép nhấp môi!
Như thế cũng đủ vui, đám hào khách
nhao nhao mời rượn chàng hiệp sĩ lừng
danh và luôn khiêm tốn. Chính Tâm
Kiếm Khách cũng làm thế, nhưng lại kèm
theo một câu nói đùa:
- Tại hạ ghen với cảnh "chuột sa hũ
nếp" của công tử đấy!
Đường Khả Toại cười khanh khách
song toàn trường lại lạnh gáy, chờ đợi
phản ứng của Nhương Thư! Nào ngờ,
chàng trai họ Tần chẳng hề có sắc giận,
ngượng ngùng cười đáp:
- Có lẽ nhờ kiếp trước dày công tu
hành nên kiếp này Tần mỗ mới được thế
này!
Uyển Xuân giận dỗi đỏ mặt, định phát
tác thì bị Mã Lan giữ lại. Nhưng tiểu thơ
Điền Bạch Cúc đã đứng dậy, nghiêm nghị
noi:
- Đường Khả Toại! Tướng công của
bọn ta rộng lượng không chấp tiếng sủa
của chó điên, chứ không phải vì sợ hãi
Đường Môn! Ngươi tự xưng là bậc quân
tử sao lại mở miệng khích bác, xúc phạm
người khác như vậy?
Khi giận dữ, mặt nàng đỏ hồng, mắt
phượng long lanh, uy nghiêm như mẹ
chửi con, khiến quần hào phục lăn, vỗ tay
tán thưởng! Đường Khả Toại nhục nhã
đến tái mặt, song vẫn điềm tĩnh đáp:
- Ta chỉ đùa không ngờ lại bị hiểu lầm!
Bậc trượng phu chẳng chấp nữ nhi, nhưng
Tần Nhương Thư phải đứng ra tạ lỗi, nếu
không thì máu sẽ đổ!
VÔ ưu Cái cau mày nói nhỏ:
- Lạ thực ! Dường như hắn cố tình
khiêu chiến Nhương Thư! Tần hiền đệ
hãy cẩn thận!
Điền Uyển Xuân nổi tam bành, ong
óng mắng họ Đường:
- Nữ nhi không đáng trọng sao? Mẹ
ngươi cũng là đàn bà đấy thôi, hay ngươi
chui từ lỗ nẻ ra?
Thực khác phá lên cười hô hố, chế giễu
họ Đường. Thế mà gã vẫn không nao
núng, đốc thúc Nhương Thư:
- Tần công tử tính sao?
Bất Trí Thư Sinh nãy giờ quan sát sáu
người ngồi chung bàn với Chính Tâm
Kiếm Khách, chợt nhận ra một lão già
bảy mươi, có vẻ quen quen. Quá khứ hiện
về trong ký ức, Cao Trường Toán đã biết
lão mũi ưng có vành tai trái cụt mất thùy
châu kia là ai. Bất Trí Thư Sinh run giọng
bảo:
- Thì ra Đường Khả Toại là người của
Báo ứng Hội!
Nhương Thư giật bắn mình, lòng ngập
tràn sát khí Sau lần chạm trán Trác Thiên
Lộc, chàng đã biết kẻ giết cha mình là
Báo ứng Hội! VÔ ưu Cái vội nhắc nhở:
- Hãy bình tâm mà đối phó! Ngươi
quên mình là đệ tử của ai rồi sao?
Nhương Thư tỉnh ngộ, gật đầu để trấn
an lão rồi đứng lên:
- Đường túc hạ cố tình khiêu chiến,
Tần mỗ chẳng thể chối từ được! Xin mời
ra vườn cho rộng chỗ!
Vườn sau của Hồng Xương Đại Phạn
Điếm tuy rất rộng rãi nhưng lại chẳng hề
được chăm sóc, chỉ là chỗ cho thực khách
thả ngựa! Giờ đây, mặt cỏ úa loang lổ vì
tuyết đọng từng mảng. Mấy trăm hào kiệt
đã kéo cả ra để xem đấu võ khiến lão
chưởng quỷ bối rối vì chưa ai tính tiền
cơm. Nếu họ hỗn chiến rồi bỏ chạy thì
xem như quán lỗ vốn to !
Hai đấu thủ đứng cách nhau hơn
trượng, mặt mũi hiền hòa chẳng có chút
sát khí Đường Khả Toại tươi cười, vòng
tay nói:
- Gia mẫu luôn luôn nhắc đến lệnh sư
với lòng tôn kính vô vàn, nay tại hạ phải
so tài với công tử cũng là điều bất đắc dĩ.
Việc này cũng là do lỗi của tại hạ đã lắm
lời, chỉ xin lĩnh giáo trăm chiêu rồi rút lui
ngay!
Nhương Thư cười đáp lễ:
- Tại hạ cũng từng nghe tiên sư tán
dương gia phong Đường Môn Tứ Xuyên,
quyết chẳng phụ lòng Đường Lão Thái !
Đường Khả Toại không hiểu rõ câu nói
ấy, chỉ đoán rằng đối phương sẽ không
quá quyết liệt Nhương Thư nói tiếp:
- Tại hạ kém tuổi, xin được phép xuất
thủ trước!
Giọng chàng hơi run nhưng chỉ người
thân mới biết vì sao! Nhương Thư dựng
kiếm trước ngực, chậm rãi tiến lên bốn
bước rồi bất ngờ hóa thành luồng kiếm
quang, bốc lên cao rồi xa xuống đầu đối
thủ.
Đòn chớp mắt này đã vượt ngoài dự
liệu của Đường Khả Toại. Gã kinh hoàng
múa kiếm chống cự, còn tay tả xuất hiện
vũ khí lừng danh là Hỏa Lân Đồng. Một
tiếng nổ đinh tai phát ra, và chiếc ống
thép dài gần gang kia phun luồng lửa đỏ
rực, trùm lấy Nhương Thư. Trong lưới
lửa ấy còn ngầm chứa mấy trăm mũi độc
châm nhỏ như lông bò, có khả năng
xuyên thủng bất cứ luồng chân khí nào,
kể cả lớp da bền chắc của những người
luyện Thiết BỐ Sam.
ám khí tuyệt độc này là vật chí bảo
của Đường Môn Tứ Xuyên, chỉ mình
Đường Lão Thái được quyền sừ dụng
trong trường hợp cấp bách. Thế mà giờ
đây, Đường Khả Toại mang theo trong
người, chứng tỏ gã quyết tâm hạ sát
Nhương Thư. Nếu song phương giao đấu
bình thường, chắc chắn Nhương Thư khó
thoát chết dưới đòn ám tập của loại vũ
khí khủng khiếp này.
Bọn Báo ứng Hội đã tính toán rất chu
đáo khi sừ dụng Đường Khả Toại, do mối
giao tình giữa Đường Gia Tứ Xuyên và
Phật đăng thượng Nhân. Nghĩa là
Nhương Thư dù bị khiêu khích cũng
không dám nặng tay với Đường Ngũ
C ông Tử !
May thay, bên cạnh Nhương Thư lại có
Bất Trí Thư Sinh, và lão này đã nhận ra
một cao thủ của Báo ứng Hội. Thù cha
đã khiến Tần Nhương Thư thi triển phép
ngự kiếm ngay trong chiêu đầu. Chàng
nóng lòng kết liễu Đường Khả Toại sớm
để còn hỏi tội lão nhân bị đứt thùy châu
kia.
Nhờ Ngự Kiếm Thuật mà luồng kiếm
quang quanh thân chàng dày đặc, kín đáo
và kiên cố như tường đồng vách sắt, xem
thường cả lửa hồng lẫn độc châm.
Nhương Thư dũng mãnh vượt qua vũ khí
trấn môn của Đường Môn, ập xuống như
lôi thần chính Tâm Kiếm Khách lại
thành danh chẳng phải nhờ kiếm nên
cũng chống đỡ một cách tuyệt vọng. Song
Nhương Thư nhớ lời sư phụ nên không
giết con cháu họ Đường, chỉ chặt đứt
cánh tay tả của gã, và điểm vào huyệt BỘ
Lang trên sườn trái.
Sau tiếng rú thảm khốc của Đường Khả
Toại là tiếng quát sang sảng của VÔ ưu
Cái:
- Bắt lấy sáu tên Báo ứng Hội !
Uyển Xuân tiếp lời ngay:
- Môi tên trị giá ngàn lượng bạc!
Thế là bọn hào khách mừng rỡ rút vũ
khí lao vào sáu tùy tùng của Đường Khả
Toại. Mật ít ruồi nhiều, ai cũng sợ mất
phần nên tranh giành nhau mà tấn công,
chỉ tổ vướng tay vướng chân. Vì thế sáu
sát thủ lão luyện kia chẳng hề nao núng,
sát cánh chống cự.
Kiếm pháp của Báo ứng Hội không
hoa mỹ, đẹp mắt, nhưng lại vô cùng
chuẩn xác và độc ác. Tay tả của họ lại
liên tiếp bắn ra những mũi độc châm đả
thương liền bảy tám hảo hán giang hồ.
Quần hào động nộ, vét túi trút hết ám khí
thủ thân vào sáu gã cứng đầu kia.
ám khí vốn là công phu tiểu xảo, rất
dễ luyện và cũng rất hữu dụng. Do vậy,
trừ những kẻ tay chân quá vụng về hoặc
mắt kém, hầu hết khách giang hồ đều cố
luyện nghề ám khí. Dễ nhất là phi tiêu, tụ
tiễn. Nhờ có cánh ở đuôi nên luôn bay
thẳng, còn khó nhất chính là liễu diệp phi
đao và độc châm.
Trong số ngoại lệ phải kể đến những
bậc đại hiệp chính phái, xem ám khí kém
phần quang minh nên không thèm luyện.
Thật ra, ám khí rất hữu dụng trong cả đơn
đấu lẫn loạn chiến. Ngay bản thân
Nhương Thư cũng rèn luyện thủ pháp
phóng hạt thiết bồ đề, song chàng lại
chẳng bao giờ mang theo!
Quay lại với đấu trường, ta sẽ thấy một
trận mưa ám khí đủ loại bao phủ sáu gã
sát thủ Báo ứng Hội. Bọn hảo hán đã lùi
xa nên không còn sợ độc châm nữa, và
những ám khí nặng của họ phát huy được
uy lực! Rốt cuộc có năm cái bia bị hạ
gục, chỉ còn lại mình lão già áo đen mũi
ưng Quần hào mừng rỡ reo hò:
- Năm ngàn lượng !
Và ai cũng nhận rằng chính ám khí của
mình đã chạm đích đầu tiên! Nhương
Thư bước vào, lạnh lùng hỏi lão cụt tai:
- Phải chăng chính Báo ứng Hội đã
giết cha ta hồi hai mươi mốt năm trước?
Lão hắc y căm hờn rít lên:
- Đúng vậy! Cha ngươi, Tần Tử Chính,
đã phản bội bổn hội, cướp lấy báu vật nhà
họ Mao! Ngươi muốn được yên thân thì
hãy hoàn trả lại vật ấy cho bổn hội !
Quần hào không ngờ Nhương Thư lại
là con của một tên đạo tặc, xầm xì bàn
tán, chẳng xem trọng chàng nữa! Ba ả họ
Điền không vui khi nhận ra thái độ chê
bai của bọn hảo hán kia!
Dù xã hội Trung Hoa không phân biệt
giai cấp rõ rệt như ấn Độ, người thuộc
hạng cùng đinh mà có tài thì cũng vẫn có
thể trở thành quan to hay bậc danh sĩ. Tuy
nhiên, tâm lý quần chúng vẫn mang nặng
vấn đề dòng dõi, xem trọng những ai xuất
thân từ thế gia vọng tộc. Nhương Thư lại
có cha là ăn cướp thì quả là nhục nhã cho
chàng và các nàng dâu!
Nhương Thư tu hành từ nhỏ, hiểu rõ
nghiệp quả, nhân duyên nên chẳng hổ
thẹn vì phụ thân, điềm đạm đáp:
- Tần mỗ hiện dang giữ vật ấy! Túc hạ
hãy về bảo quý hội chủ mang đầu của
Trác Thiên Lộc đến núi Xáp Vân, đúng
ngày đầu tháng hai tới mà đổi lấy!
Lão nhân mũi ưng biết mình thoát chết
thở phào nói:
- Được ! Họ Trác hiện đang ở tổng đàn
của bổn hội nên việc giết lão chẳng hề
khó! Mong công tử giữ lời hứa!
Nói xong lão quăng ra một lọ sành
đựng thuốc giải để chữa trị cho những
người trứng độc châm. Nhờ vậy vòng vây
mới dán ra, chừa sinh lộ cho lão ta mang
Đường Khả Toại đi!
Chủ quán đã báo quan nên bọn công
sai kéo đến. Gặp VÔ ưu Cái họ chẳng
dám hạch sách, chỉ làm án văn qua loa rồi
đưa năm xác chết đi! Không chờ bị đòi
nợ, Uyển Xuân mau mắn lấy ra sáu ngàn
lượng bạch ngân bằng ngân phiếu, vui vẻ
trao cho bọn hào khách để họ chia nhau.
Vị chi, mỗi người cũng được hai ba chục
lượng, ai nấy hớn hở nói lời cảm tạ!
Bạch Cúc còn bảo em gái thanh toán
hết chi phí ăn nhậu của quần hào, càng
thu phụ được nhân tâm! Đúng là giàu vì
bạn, sang vì vợ, thái độ hào phóng, cởi
mở của ba nữ nhân đã khiến mọi người
quên ngay gốc gác của Nhương Thư, xin
tháp tùng bọn chàng đi Thái Hoàng Sơn.
Chiều hôm sau, đoàn người rầm rộ tiến
vào Trấn Sơn Hòa, cách chân núi Mộc
Sơn vài dặm. Những tên tiểu cái ở đây đã
dễ dàng tìm ra chỗ trọ cho bang chủ,
trong nhà một phú hộ họ Trang.
Trang nhị giàu có và nhân hậu, thường
bố thí cho kẻ khốn cùng. Trái lại, bọn
khất cái đã quanh quẩn gần Trang gia
trang để bảo vệ, khiến cho bọn đạo chích
không dám bén mảng! Nay được chúa ăn
mày giá lâm, Trang nhị hân hoan đón
tiếp, bố trí ba phòng đẹp nhất, và mở tiệc
thịnh soạn mà đãi đằng.
Tối hôm ấy, VÔ ưu Cái và Bất Trí Thư
Sinh đến phòng Nhương Thư. Hầu lão
nghiêm giọng:
- Nay gốc gác ngươi đã bị tiết lộ, và
đương nhiên phe tà ma sẽ khai thác việc
ấy để khiến ngươi nhụt chí, rơi vào cảnh
thân bại danh liệt. Nhưng ngươi lại là cột
trụ chống đỡ võ lâm, quyết không được vì
những lời nhục mạ, chê bai của thiên hạ
in à suy sụp !
Nhương Thư cười buồn:
- Cha ăn mặn con khát nước là chuyện
thường tình! Tiểu đệ sẽ cố nhẫn nhịn, giả
điếc là xong!
Bất Trí Thư Sinh nhấp hớp trà, nhăn
vầng trán dô thông tuệ, tư lự bảo:
- Tần hiền đệ thử cho bọn lão phu xem
di vật mà lệnh tôn đã để lại!
Nhương Thư vội tháo sợi dây tơ treo
đồng tiền trên cổ xuống, đưa cho lão Cao
Trường Toán. Lão căng mắt nhìn những
hoa văn ở mặt đồng tiền, lắc đầu chịu
thua, về phòng lấy dụng cụ. Đấy là một
mảnh pha lê trong suốt, dạng bán cầu, có
tắc dụng phóng to những hình ảnh đặt
phía dưới,
Bất Trí Thư Sinh vừa xem vừa vẽ lại ra
giấy, với kích thước lớn hơn nhiều lần.
Ba người sửng sốt khi nhận ra một ngọn
núi có mây vờn quanh, và rải rác những
chữ của hai câu thơ:
Huynh đệ tương tàn tâm toái hếu
Ly sơn cố thổ vinh nan hồi!
Dịch:
Anh em chém giết lòng tan vờ
Đất cũ Ly Sơn chẳng dám về!
VÔ ưu Cái thảng thốt nói:
- Đây đâu phải họa đồ đưa đến mộ
phần của Thần Quang Chân Quân, mà chỉ
là chút tâm sự của Tần Tử Chính ký thác
cho Nhương Thư mà thôi !
Bất Trí Thư Sinh thì phân vân:
- Nhưng năm xưa Tần Tử Chính bị giết
chết trên đường đưa Nhương Thư về
thăm quên nội mà?
Rồi lão hỏi lại:
- Tần hiền đệ! Lệnh đường có nói về
xuất xứ của đồng tiền hay hay không?
Nhương Thư gật đầu:
- Gia mẫu kể rằng vật ấy có trên cổ của
tiên phụ từ lúc họ mới quen nhau. Sau khi
tiểu đệ ra đời thì tiên phụ mới đeo vào cổ
Ĩ hư này !
Cao Trường Toán nhíu mày suy nghĩ,
ngón tay nhịp đều trên một chiếc bàn. Lát
sau lão kết luận:
- Lão phu đã cân nhắc mọi lẽ, chọn ra
giả thuyết là Tần Tử Chính còn một
người anh em trai nữa, và nhà ở gần núi
Ly Sơn, Thiểm Tây! Sau khi Tần Tử
Chính ám toán Trác Thiên Lộc, liền chạy
về Ly Sơn. Anh em họ đã đánh nhau và
một trong hai người táng mạng, Người
còn sống hối hận bỏ nhà đi, lưu lạc đến
Trường Sa, lấy mẹ của Nhương Thư!
Nhưng khi có con trai, ông ta lại muốn nó
trở thành cao thủ võ lâm nên trở lại Ly
Sơn để lấy tấm bản đồ quý báu kia!
VÔ ưu Cái bác ngay:
- Không hợp lý lắm! Tần Tử Chính là
sát thủ chuyên nghiệp, lòng dạ tàn nhẫn,
dám ám toán cả đồng đảng là Trác Thiên
Lộc để đoạt bảo, thì sao lại hối hận và để
họa đồ ở lại nhà mà làm gì? Có nặng nề,
cồng kềnh đâu mà không mang theo
được?
Cao lão mỉm cười đắc ý:
- Hầu lão ca nói chí phải, nhưng lại
không để ý tiểu đệ dùng chữ "người còn
sống" chớ chẳng nêu tên Tần Tử Chính.
Nghĩa là cha của Nhương Thư lỡ tay giết
chết Tần Tử Chính nên mới chôn cả họa
đồ theo xác, lấy tên người chết làm tên
mình để vơi bớt mặc cảm tội lỗi!
Nhương Thư nghe rất hữu lý, buộc
miệng nói:
- Thế thì họ phải là anh em song sinh
nên Báo ứng Hội mới không nhận ra sự
khác biệt!
VÔ ưu Cái vỗ đùi khen:
- Đúng vậy! Giờ chúng ta chỉ cần đi
núi Ly Sơn một chuyến, hỏi xem nhà họ
Tần nào đã sinh đôi hai đứa con trai là rõ
ngay!
Hai lão về rồi, Nhương Thư còn ngơ
ngẩn vì những bí ẩn trong lai lịch của phụ
thân! Chàng chợt hổ thẹn khi phát hiện
mình mong mỏi không phải là con của
Tần Tử Chính! Thì ra việc ấy cũng đã âm
thầm khiến chàng hổ thẹn! Dù sao có cha
làm đạo tặc, giết mướn chẳng dễ chịu
chút nào !
chàng cũng hiểu nỗi khổ tâm của ba
nàng dâu kia, liền lần sang phòng họ để
chia sẻ bí mật. Họ ở cách phòng chàng
một vườn hoa nhỏ, giờ đây vẫn còn thức
mà trò truyện! Nhương Thư định gõ cửa
thì nghe nhị tiểu thư Điền Mã Lan nói:
- Tội nghiệp tướng công! Liệu chàng
có chịu đựng được cái gia thế oan nghiệt
ấy hay không nhỉ? Chị em ta phải gắng
sức an ủi chàng mới được !
Bạch Cúc chậm rãi lên tiếng:
- Có gì mà phải bận tâm? Minh Thái
TỔ Chu Nguyên Chương chẳng đã từng
làm giặc đấy sao?
Nhưng điền Uyển Xuân thì lại lo lắng:
- Tiểu muội chỉ sợ cha sẽ buồn đấy mà
thôi!
Câu nói này đã khiến Nhương Thư tư
lự, lặng lẽ quay trở về phòng riêng!
Mờ sáng hôm sau, Nhương Thư cùng
hai trăm hảo hán giang hồ tiến về núi
Mộc Sơn! Quang cảnh nơi đấy cực kỳ
náo nhiệt, với hàng ngàn chiếc lều vải
trải suốt chiều dài của bìa cánh rừng dưới
chân núi !
Khói bếp nghi ngút bốc lên hòa với
màn sương tuyết lất phất, tạo nên chút
sương mù hiếm hoi lúc đông về. Mọi
người đang chuẩn bị cơm sáng, ăn thật no
và mang theo để lót dạ buổi trưa! Phân
đàn chủ Cái Bang đã túc trực nơi đây từ
vài ngày trước, giờ đến báo cáo:
- Bẩm bang chủ! Quả thực là trong khu
rừng rậm dưới chân núi Mộc Sơn này có
xuất hiện một con lươn lông trắng, lấm
tấm chấm đỏ. Nó chỉ lớn hơn con chó,
song chân dài, chạy nhanh như gió, luồn
lách như chồn, nên chẳng ai bắt được. Vả
lại, khu rừng kia rất rậm rạp, tối tăm, đầy
những bụi gai lớn bằng nửa căn nhà.
Huyết Hoa Lộc mà chui vào đấy thì có
trời mới tìm ra!
VÔ ưu Cái ngắt lời thủ hạ:
- Thế đã có ai tiến sát vào chân núi
Mộc Sơn chưa?
- Bẩm chưa! Quần hùng mải mê bắt
lươn quý, vì trước sau gì nó cũng phải
chạy về hang, khi bị đuổi quá rát!
VÔ ưu Cái thở phào:
- May thực ! Chúng ta vẫn chưa quá trễ !
à! Tình hình hai phe Tứ Phạn Thiên
Cung và Chính Khí Trang ra sao?
Phân đà chủ An Dương đáp :
- Bẩm bang chủ! Hai lực lượng ấy
cũng đều kéo hết cao thủ đầu não đến
đây Tứ Phạn Thiên Cung do Thanh Linh
Thủy Lão Đệ Nhị Đại âu Dương Lăng
thống lãnh, còn Chính Khí Trang do trang
chủ Lã Tập Hiền! Hai phe này giả vờ
không nhìn thấy nhau, chỉ dồn sức truy
bắt Huyết Hoa Lộc!
Bất Trí Thư Sinh nhăn trán:
- Lạ thực! Chẳng lẽ còn có lực lượng
thứ ba, là kẻ đứng sau chiếc bẫy này!
VÔ ưu Cái gật đầu:
- Có thể lắm!
Rồi ông dặn dò thủ hạ:
- Ngươi hãy điều đệ tử bổn bang đi
thông tri cho người của các phái bạch đạo
rằng lão phu đã đến đây, và yêu cầu họ
tập trưng lại thành một mối, tiến vào sau
cùng, chờ lệnh mới được ra tay!
Sau khi gởi ngựa cho đám tiểu cái. Phe
Nhương Thư tiến vào rừng. Quần hùng
không hề nhận ra vì chàng mặc áo cừu,
đội mũ lông rất kín đáo! Vả lại, Huyết
Hoa Lộc chỉ xuất hiện khi mặt trời đã lên
được hai sào, ai đi sớm cũng chỉ hoài
công, để ý là quái gì!
vô ưu cái đã quá quen thuộc đường
vào Hắc ưng Cốc, đưa cả đoàn tiến lên
rất nhanh. Khi còn cách chân núi hơn
dặm, cây cối khá thưa thớt, và Uyển
Xuân là người đầu tiên thấy con lươn
hiếu động, chẳng chịu ngủ Đông kia.
Nàng khẽ rú lên:
- Huyết Ho a LỘ c ! Trời ơi ! Nó đẹp và
dễ thương quá !
Cả bọn vội dừng chân, nấp sau một bụi
cây để ngắm nhìn, quả xứng danh là thần
vật trên đời, Huyết Hoa Lộc mang bộ
lông trắng muốt, điểm những chấm sao
đỏ hung. Trên đầu có sừng bốn nhánh
không dài. Và do nó đứng ở đầu hướng
gió nên bọn Nhương Thư nghe được mùi
xạ hương thơm hăng hắc, thơm thơm. Bất
Trí Thư Sinh giải thích:
- Con vật này là lai giữa hươu sao và
hươu xạ nên lông có đốm, đầu có sừng,
và có cả túi xạ, thu đông là mùa sanh dục,
con lươn này đang tỏa mùi rất mạnh để
tìm bạn tình!
Điền Mã Lan thì thào ao ước:
- Giá mà chị em ta có được nó để nuôi?
VÔ ưu Cái phì cười:
- Ngươi muốn cả võ lâm kéo đến đốt
nhà ư?
Lão cười hơn lớn nên Huyết Hoa Lộc
nghe thấy, phóng đi mất dạng. Bọn
Nhương Thư tiếp tục đi, nửa khắc sau
tiếp cận một khoảng rừng nhỏ hình cánh
cung, ôm lấy vách núi Mộc Sơn. Xa xa
chợt vọng lại tiếng hắt hơi của ai đó, VÔ
ưu Cái giật mình bảo:
- Có người vào! Chúng ta hãy nấp lên
cây xem chúng là ai, đến đây vì tình cờ
hay có chủ ý!
Năm người kia vội làm theo ý ấy! Ba
nữ nhân nũng nịu bắt Nhương Thư giúp
đỡ mình vì cành quá cao. Chàng mỉm
cười ôm từng nàng nhảy lên, bị họ bắt
phải ngồi chung trên một chạng ba chật
chỗ i !
Sau mấy chục ngày xây tổ ấm với
Bạch Ngọc Tiên Tử, Nhương Thư trở
thành kẻ lịch duyệt chốn tình trường,
quen mùi ân ái nên bạo dạn hơn xưa. Giờ
đây, chàng đặt Mã Lan vào trong lòng,
còn hai nàng kia thì ôm chặt vai. Hơi ấm
của cơ thể và mùi phấn son, nước hoa
trùm lấy Nhương Thư, mang lại cảm giác
hạnh phúc ôn nhu. Chàng bất ngờ hôn
vào má ba ả tố nga, khiến họ hài lòng và
sửng sốt. Uyển Xuân ranh mãnh thì thầm:
- Phải chăng tướng công từng âu yếm
gia tỷ như vậy?
Yù nàng ám chỉ HỔ Hồng Nhan,
Nhương Thư khẽ gật đầu, ánh mắt sượng
sùng vì nhớ đến trưa nào dưới suố i !
Phe đối phương đã vào đến nơi, đông
đến bốn năm chục, phe võ phục vàng, phe
đạo bào trắng. Lã Tập Hiền thì đã quá
quen. Nhương Thư chăm chú nhìn gã đạo
sĩ không râu đầu đội mũ Kim Quan,
chàng đoán đấy là Thanh Linh Thủy Lão
Đệ Nhị Đại âu Dương Lăng, kẻ vừa lên
kế nghiệp cha!
Tuy nội gián của VÔ ưu Cái về báo
rằng võ công của Tân Thủy Lão không
cao, song Nhương Thư lại nghi ngờ điều
ấy! Sắc diện và thần khí của âu Dương
Lăng rõ ràng là của một kiếm khách
thượng thừa. Là kiếm sĩ, Nhương Thư đủ
kinh nghiệm để nhận ra kình địch của
mình. Sĩ tốt của phe tà mà dàn hàng
ngang bảo vệ vòng ngoài, chỉ còn lại đám
đầu sỏ cùng nhau đối đáp.
Bọn Nhương Thư nín thở, chẳng dám
gây ra bất cứ tiếng động nào, Nếu bị phát
hiện, họ hoàn toàn không có cơ hội thoát
thân! Đây cũng là dịp may hiếm có để họ
hiểu rõ dã tâm của Lã Tập Hiền. Họ Lã
lên tiếng:
- âu Dương Cung Chủ ! Nay chúng ta
đã lập đàn thề thốt, nguyện chia đôi thiên
hạ, vậy mong Cung Chủ tiết lộ vì sao
chúng ta lại tung ra tin tức về Huyết Hoa
Lộc, để cả võ lâm kéo đến đây?
âu Dương Lăng mỉm cười lạnh lẽo:
- Bổn nhân chỉ làm theo mệnh lệnh của
một bậc võ lâm tiền bối! Lát nữa diện
kiến, Lã túc hạ sẽ hiểu rõ nguồn cơn!
Lã Tập Hiền cau mày:
- Ai là người có thể ra lệnh cho Tứ
Phạn Thiên Cung?
âu Dương Lăng chỉ vào cánh rừng có
trận pháp trước Hắc ưng Cốc nghiêm
nghị kể:
- Hai mươi mấy năm trước, bậc kỳ
nhân của đất Tứ Xuyên là Độc Biển
Thước Tả Nho Quan, đã bị Phật Đăng
Thượng Nhân và hai cao thủ võ lâm nữa
truy sát đến nơi này. Họ khống chế được
Tả tiền bối, bắt phải ẩn cư suốt đời trong
Hắc ưng Cốc, phía sau khoảnh rừng kia.
Nào ngờ, đây là nơi tọa hóa của Thần
Quang Chân Quân, cao thủ số một của
mọi thời đại. Với máu quý của con Huyết
Hoa Lộc, Tả tiền bối đã trị lành vết
thương, sở hữu đến trăm năm công lực,
và còn luyện thành tuyệt học của Chân
Quân!
Hai tháng trước, Tả tiền bối đã xuất
cốc đến Thiên Cung, nhận bổn nhân làm
đệ tử và chỉ dạy kế sách gồm thâu thiên
hạ!
Lã Tập Hiền lạnh toát cả người vội
ngắt lời âu Dương Lăng:
- Phải chăng những người ở đây đều đã
trứng độc?
âu Dương Lăng cười đắc ý:
- Trang chủ thông minh thật ! S áu tháng
sau, chất độc Tiên Trường Vụ sẽ phát tác,
và bốn ngàn kẻ tham lam kia sẽ đến đây
quy phục Thần Quang Giáo !
Lã Tập Hiền tái mặt giận dữ:
- chúng ta đã thề thốt liên minh, sao
cung chủ lại trở mặt, bắt tay với Độc
Biển Thước? Chia đôi võ lâm, mỗi người
hùng cứ một phương chẳng tốt hơn làm
nô lệ cho Tả Nho Quan hay sao?
ánh mắt âu Dương Lăng loé lên
những tia nhìn kỳ dị, oán độc, khiến một
kẻ sảo quyệt, tinh minh như Lã Tập Hiền
đoán ra ẩn tình. Họ Lã thở dài:
- Té ra Cung Chủ bị khống chế?
Ngay lúc ấy, từ cánh rừng có một bóng
đen bay vút ra, chỉ cái nhoáng đã đến bên
Lã Tập Hiền! Lã trang chủ thần tốc rút
kiếm chém liền, song chẳng trứng vào
đâu, cứ như đối phương là ảo ảnh vậy. Và
Lã Tập Hiền nghe mặt mình mát rượi bởi
một luồng gió có mùi hăng hắc. Lão kinh
hãi lùi nhanh nhìn kẻ mới đến rồi rụng rời
khi nghe nói:
- Giờ thì sanh mạng của ngươi cũng
nằm trong tay lão phu rồi đấy! Hãy thử
kiểm tra huyệt Ngọc Đường nơi Tâm
Thất thử xem?
Lã Tập Hiền làm theo lời kẻ thù, thất
sắc lẩm bẩm:
- Thế là hết !
Nhưng lão lại có một hành động khiến
ai cũng bất ngờ, là quỳ ngay xuống lạy
Độc Biển Thước:
- Nếu tiền bối không nhận Lã mỗ làm
học trò thì đừng mong thu được thiên hạ!
Độc Biển Thước phá lên cười khanh
khách:
- Xảo quyệt nhưng biết đạo tiến thoái!
Ngươi xứng đáng làm học trò của lão
phu!
Lã Tập Hiền hoan hỉ dập đầu lạy chín
lạy và hô hoán:
- ĐỒ nhi mừng có được minh sư!
Họ Lã đứng lên, quay lại bảo đám đồng
đảng đến ra mắt Tả Nho Quan. Độc Biển
Thước hoan hỉ nói:
- Tất cả các ngươi hãy vào trong Hắc
ưng Cốc để nghe chỉ thị của lão phu!
Không cần phải canh gác vì đã có trận kỳ
môn trấn giữ của vào !
Tà ma đi sạch, bọn Nhương Thư mới dám nhảy xuống đất, VÔ ưu Cái rầu rĩ
noi:
- Không ngờ lòng từ bi của Phật Quang
Thượng Nhân lại lưu lại đại họa cho đời!
Nếu năm xưa cứ giết quách Tả Nho Quan
đi thì giờ này đâu xuất hiện một đại ác
ma?
Bất Trí Thư Sinh cũng bùi ngùi:
- Độc thì còn có thể giải, nhưng võ
công của lão ta mới đáng sợ, chỉ một
chiêu đã khuất phục được Lã Tập Hiền!
Uyển Xuân thấy Nhương Thư mãi đăm
chiêu không nói, liền hỏi nhỏ:
- Công tử đang nghĩ gì vậy?
Họ Tần sực tỉnh:
- Ta đang cố phá giải chiêu chưởng lúc
nãy của Độc Biển Thước!
Bạch Cúc bàn ngay:
- Công tử không sợ độc, chỉ kém phần
công lực! Nay gia phụ đã gởi mua Thiên
Niên Tuyết Sâm ở Liêu Đông, có lẽ đã
được mang đến! Chúng ta hãy về Tế
Nam, tìm cách bồi bổ chân nguyên cho
chàng!
Bất Trí Thư Sinh phấn khởi xen vào:
- Tuyệt lắm! Lão phu đang giữ một toa
thuốc bí truyền, chỉ cần có Thiên Niên
Tuyết Sâm làm vị chính là sẽ giúp
Nhương Thư tăng tiến thêm vài năm công
lực!
VÔ ưu Cái thở dài:
- các ngươi quên chất độc Tiên Trường
Vụ rồi sao?
Bất Trí Thư Sinh mỉm cười:
- Tiểu đệ đọc hàng vạn quyển sách, y
thuật cũng kha khá, tin chắc sẽ tìm được
thuốc giải. Lão ca cứ yên tâm lo lắng cục
diện võ lâm, sáu tháng sau tụ quân tiêu
diệt Thần Quang Giáo!
Hầu bang chủ vui mừng khôn xiết, vỗ
vai Cao Trường Toán:
- Không ngờ lão đệ cũng là một thần y,
thế mà ta không biết! Đại sự sống còn
này, lão phu giao cho hiền đệ đấy!
Nhương Thư đăm chiêu nói:
- Ba nàng hãy theo Cao Thư Sinh về
Tế Nam! Ta quay lại Ngũ Đài Sơn dự lễ
giỗ đầu của tiên sư rối sẽ đi sau!
Bất Trí Thư Sinh cười mát:
- Tần hiền đệ mương thân cửa Phật đã
nhiều năm mà còn cố chấp có với không
nữa sao? Ngươi đi Tế Nam mà tâm vẫn ở
Ngũ Đài Sơn tưởng niệm sư phụ là đủ
rồi! Nay Lã Tập Hiền đã thành học trò
của Độc Biển Thước, tất sẽ được dạy
tuyệt học của Thần Quang Chân Quân,
ngươi không có thêm công lực liệu có
địch lại chăng?
Nhương Thư cười khổ:
- Tiểu đệ đã hai lần hưởng dụng kỳ trân
dị dược, chỉ có hại chứ chẳng lợi lộc gì!
Giờ thêm Thiên Niên Tuyết Sâm vào,
không chừng sẽ trẻ đi vài chục tuổi như
Độc Biển Thước thì nguy to!
Uyển Xuân bật cười khanh khách:
- Đúng vậy! Tả Nho Quan đã ngoài
tám mươi mà mặt mũi nhẵn nhụi, râu tóc
đen mun như người b a chục ! Nếu tướng
công cũng cải lão thì e rằng thành đứa
tiểu hài mất!
Ba ả họ Điền xưng hô lộn xộn, lúc thì
công tử, lúc thì tướng công, tùy theo tâm
trạng!


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi 7
Hồng Nhan Tâm Địa VÔ Năng Trắc
Tặc Oâ Thùy Tri Hưu CỐ Nhân
Quá nửa tháng chạp, bọn Nhương Thư
về đến thành Tế Nam, vui mừng vì gặp cả
HỔ Hồng Nhan và hai vệ sĩ. Mẹ của Tào
ưng lâm bệnh nên gã phải lưu lại để
chăm sóc, không đi Ngũ Đài Sơn như đã
hứa. Nay Tào mẫu đã khang kiện, gã lại
la cà ở Điền gia trang để chờ Nhương
Thư.
Bất Trí Thư Sinh được chào đón nồng
nhiệt, nhưng lại không vui vì thiên niên
tuyết sâm chưa có. Cao Trường Toàn
đành tập trưng vào việc bào chế thuốc
giải Tiên Trường Vụ. ông cũng trứng độc
nên dùng bản thân để thử nghiệm, rất dễ
phát hiện công hiệu!
Nhương Thư thì miệt mài luyện võ,
đồng thời chỉ bảo thêm cho người thân.
Phần Bạch Thúy Sơn dường như biết rõ
phận mình nên chỉ quanh quẩn bên
Nhương Thư và Tào ưng, ít tiếp xúc với
bốn vị tiểu thư.
Cổ nhân có câu "Hồng nhan họa thủy",
nhưng trong trường hợp này, vẻ anh tuấn
tuyệt luân của Bạch Thúy Sơn lại là
nguyên nhân của tai họa. Khổ thay, kẻ sa
ngã lại chính là HỔ Hồng Nhan Điền
Ngọc Trâm!
Nàng đã có nhiều thời gian gần gũi
Thúy Sơn nên bị chinh phục lúc nào cũng
chẳng hay. Hơn nữa, số tuổi hai mươi ba
của họ Bạch rất khớp với lời tiên đoán
của BỐ Y Thần Toán. Điều này đã ám ảnh
nàng từ tuổi cập kê, chẳng dễ bị xóa
nhòa!
Ngọc Trâm vô cùng đau khổ và hổ thẹn
với Nhương Thư, nhưng trái tim ngày
càng in đậm bóng hình họ Bạch! Trong
cảnh tuyệt vọng, nàng đâm ra oán hận
Nhương Thư đã cưu mang Thúy Sơn nên
việc này mới xảy ra! HỔ Hồng Nhan gầy
đi, tính tình càng nóng nảy hơn, mượn cớ
bận việc nhà mà tránh cả Nhương Thư
lẫn Thúy Sơn, dù môn khách chỉ còn vài
trăm.
Có một người hiểu được thầm kín này,
đó là cha nàng, Điền trang chủ. Một tối
đầu xuân, ông cho gọi trưởng nữ đến thư
phòng căn vặn. Ngọc Trâm liền òa khóc
và giãi bày tâm sự! Điền Đông Giám thở
dài:
- Khi Bạch Thúy Sơn đến đây, ta đã có
linh cảm xấu, lo cho Uyển Xuân, nhưng
không ngờ nạn nhân lại là con! Thực ra
thì Thúy Sơn rất xứng đáng làm rể họ
Điền, do tài mạo và gia thế! Gần đây, tin
đồn về gốc gác của Nhương Thư đã lan
đến Tế Nam, khiến ta rất bối rối! ơn cứu
mạng tuy lớn song không thể sánh với
thanh danh dòng họ Điền!
Nay ba em con thì đã lỡ, nhưng con là
trưởng nữ phải có một cuộc hôn nhân
xứng đáng để cứu vãn tình hình! Vả lại,
Nhương Thư đã được đến ba mỹ nhân, lê
nào hẹp hòi đến mức không thể nhường
ngươi cho Thúy Sơn? Con cứ yên tâm, tối
nay ta sê nói chuyện với Nhương Thư!
Ngọc Trâm thờ thẩn quay lại khuê
phòng, chẳng hiểu nên vui hay nên buồn!
Nhưng cha con họ Điền không ngờ
rằng câu chuyện của mình đã lọt vào tai
của một người, Thiết Kình Ngư Tào ưng.
Gã là người thứ hai nhận ra sự phản bội
của Ngọc Trâm, luôn âm thầm theo dõi
nên đã rình nghe !
Tào ưng tức lộn ruột, đến phòng
Nhương Thư kể lại những gì mình nghe
thấy! Chàng trai họ Tần lặng người suy
nghĩ rồi nói:
- Đi thôi! Ta ở lại đây chỉ khiến họ
thêm khó xử!
Giữa canh tư, hai người âm thầm sách
hành lý vượt tường, rời Điền Gia Trang,
đội tuyết mà đi. Trong túi Nhương Thư
còn số vàng ngân phiếu do Dạ Quân Tử
tặng nên không thiếu tiền mua ngựa mới,
cũng như lộ phí dọc đường!
Sáng ra, theo lệ thường, Uyển Xuân
đến gọi Nhương Thư dậy, thấy cửa phòng
chỉ khép hờ chứ không cài then nàng đẩy
cửa vào, ngơ ngác nhận ra tay nải và
trường kiếm đều biến mất!
Uyển Xuân vội chạy đi thông báo cho
các chị! Cả nhà đổ xô ra, nhưng không có
Tào ưng. Họ đến phòng Thiết Kình Ngư
thì phát hiện trên vách có mấy câu
nguệch ngoạc:
Lão hiếu danh vong nghzã
Thiếu hiếu sắc vong tmh
Thiển hề! Nhục hề!
Dịch:
Già hiếu danh quên nghzã
Trẻ ham sắc bội tmh
Nông cạn thay! Nhục nhã thay!
Bất Trí Thư Sinh cười nhạt hỏi Điền
Đông Giám:
- Phải chăng tối hôm qua trang chủ và
con gái đã bàn chuyện gì bất nghĩa với
Nhương Thư để Tào ưng nghe được?
Điền Ngọc Trâm hổ thẹn đứng chết
trân, không nói nên lời, nước mắt chảy
như mưa! Điền Đông Giám thì bối rối
noi:
- Lôi tại Nhương Thư mang Thúy Sơn
về đây nên Trâm nhi sa ngã, tâm sự với
lão phu! Thiết nghĩ, họ Tần đã có ba,
nhường một cho Thúy Sơn cũng là phải
đạo !
Đã hiểu ra căn do, ba cô em bật khóc,
xỉ vả chị cả. Người nặng lời nhất chính là
tam tiểu thư Điền Bạch Cúc:
- Tiểu muội thật xấu hổ khi làm em của
hạng gái bất trinh!
Ngọc Trâm thét lên một tiếng, hộc máu
té xỉu ngay, được Uyển Xuân và Mã Lan
đỡ lấy Bạch Thúy Sơn thì lạnh lùng
mắng vào mặt trang chủ:
- Lão tưởng ta sê vì nhan sắc và tài sản
mà ta phản bội Tần đại ca hay sao?
Nói xong, gã về phòng lấy bọc hành lý
bỏ đi, chẳng thèm từ giã. Hai ngày sau,
HỔ Hồng Nhan hồi phục, nằng nặc đòi
xuống tóc quy y cửa phật. Điền trang chủ
không thể ngăn cản, đưa ái nữ đến Thiền
Vân Ni Viện ở cửa Nam thành!
Ba cô con gái kia cũng theo Bất Trí
Thư Sinh đi tìm Nhương Thư. Chàng đã
hẹn tử đấu với Lã Tập Hiền vào đầu
tháng hai! Thế là mới mùng sáu tết mà
Điền gia trang vắng cả tiếng nói cười, chỉ
còn lại hai lão nhân đối ẩm. Điền Đông
Giám thở dài bảo Triệu tổng quản:
- Lão phu còn mặt mũi nào mà gọi
Nhương Thư là rể nữa!
Nhắc lại, Nhương Thư và Tào ưng ra
đi, ghé Vương ốc Sơn thăm Tào mẫu.
Nhương Thư tặng bà ba ngàn lượng bạc
và mướn người hầu hạ, rồi mới yên tâm
để Tào ưng đi theo mình.
Chính vì vậy mà Bạch Thúy Sơn đã
vượt hai người mà không hay biết.
Nhương Thư, Tào ưng mua ngựa đi về
hướng Tây Nam, theo đường Tế Châu để
đến Nam Dương. Dọc đường, Nhương
Thư bỗng hỏi Tào ưng:
- Ta nghi ngờ Bạch Thúy Sơn là gái giả
trai!
Thiết Kình Ngư gật gù:
- Bất Trí Thư Sinh cũng nghĩ thế, tại hạ
bảo thử kiểm tra. Hồi trước Tết, tại hạ vờ
vô ý chạm vào ngực họ Bạch, và không
hề thấy cộm lớp lụa bó ngực! Chẳng lê gã
là nữ nhân mà vú xẹp như đàn ông?
Nhương Thư mỉm cười:
- Có thể lắm chứ! Lần sau túc hạ thử sờ
hạ thể Thúy Sơn xem sao?
Tào ưng giật mình, chối đây đẩy:
- Không được ! Nếu y đúng là gái thì
chết tại hạ! Còn công tử thì lấy Thúy Sơn
cũng chẳng sao, vì dường như y cũng yêu
mến công tử đấy!
Nhương Thư đỏ mặt:
- Ta đâu thể làm thế !
Chiều mùng tám tháng giêng, hai
người đến thành Tế Châu. Không muốn
quấy nhiễu gia đình Tất Cung Bảo,
Nhương Thư tìm quán trọ, tắm gội, gởi
ngựa, rồi đến phạn điếm gần đấy dùng
cơm.
Tuyết vẫn còn rơi mù mịt, ai cũng kìm
mít trong áo, mũ lông, dẫu là bằng hữu
cũng phải nhìn kỹ mới nhận ra nhau.
Đang ăn, Nhương Thư chợt nghe ba
người bàn bên nói chuyện:
- Đáng phục thay Tất Cung Bảo. Con
gái bị bắt cóc mà vẫn kiên quyết không
giao Bạt Sơn Thần Lựu cho Cưu Bang!
Sáng nay, lão phu đến Tất gia trang, thấy
vợ y khóc lóc thảm thiết không chịu nổi
nên bỏ về ngay!
Gương mặt thơ dại, đáng yêu của Liên
nhi hiện ra, làm lòng Nhương Thư xốn
xang và phẫn nộ ! Chàng bảo Tào ưng:
- ăn nhanh đi! Tất gia trang gặp họa
rồi!
Tào ưng cũng nghe thấy những lời kia
nên bàn rằng:
- Khoan đã! Chắc chắn Cưu Bang sê
cho người giám sát động tịnh Tất gia
trang! Chúng ta chờ trời tối hẳn hãy đến
đấy! Có như vậy mới tạo được bất ngờ!
Nhương Thư tán thành:
- Ta quả là ấu trĩ, may mà có túc hạ
nhắc nhở!
Tào ưng cười buồn:
- Ai mới xuất đạo mà chả thế ! Tại hạ
lặn lội giang hồ hai mươi năm, nếm đủ
mùi cay đắng mới có được một chút kinh
nghiệm!
Màn đêm buồng xuống, tuyết rơi dày là
không gian tăm tối, người qua lại trên
dường cũng thưa thớt. Lúc này, Nhương
Thư và Tào ưng đã áp sát tường sau Tất
gia trang. Khinh công họ Tào hơi kém
nên Nhương Thư nắm tay gã cùng nhảy
vào trong!
Nhương Thư từng ở đây hai ngày nên
biết rõ địa hình, nhanh chóng đến được
khu hậu viện. Tiếng khóc tỉ tê của Tất
phu nhân cho biết vợ chồng họ có ở khuê
phòng.
Bọn Nhương Thư vượt qua những chậu
cảnh, đến cửa sau thì nghe tiếng Tất
Cung Bảo:
- Phu nhân tưởng ta không đau từng
khúc ruột hay sao? Nhưng nếu giao Bạt
Sơn Thần Lựu cho bọn tà ma giết hại
đồng đạo võ lâm và bách tính thì tất mỗ
có chết ngàn lần cũng không đủ tạ tội với
tổ tiên.
Lời chính khí ấy khiến Nhương Thư vô
cùng khâm phục và ngưỡng mộ. Chàng
đưa tay gõ cửa và gọi:
- Tất trang chủ! Tiểu đệ là Nhương
Ĩ hư đây !
Có tiếng rú mừng rõ của Tất phu nhân,
và cửa thông ra vườn lập tức mở toang,
Tất Cung Bảo bước ra, nhìn thấy gương
mặt nhân hậu của người hiệp sĩ trẻ, run
rây nói:
- Đa tạ hoàng thiên! Tần hiền đệ đã
đến đây rồ i !
Gã ôm lấy Nhương Thư, nước mắt dàn
dua nhưng miệng cười rất tươi. Họ Tất
kéo khách vào phòng thì Tất phu nhân
quỳ ngay xuống lạy lục :
- Tiện phụ dập đầu cầu khẩn Tần thiếu
hiệp cố cứu lấy Liên nhi! Nó mới năm
sáu tuổi, nào có tội gì mà phải chết!
Tào ưng cau mày:
- Đại tẩu đừng khóc lớn, phe đối
phương đang rình rập bên ngoài! Nếu
chúng biết được Tần công tử tới đây thì
làm sao cứu được người?
Tất Cung Bảo nghe chí lý vội đỡ vợ
đứng lên vỗ về, Nhương Thư nghiêm
nghị trấn an bà:
- Đại tẩu yên tâm! Tiểu đệ sê đem Liên
nhi về an toàn!
Danh tiếng Nhương Thư giờ đã lừng
danh bốn biển, lời hứa nặng hơn cửu đỉnh
nên Tất thị yên lòng gạt lệ. Lo việc tiếp
đãi Tất Cung Bảo cũng vậy, gương mặt
thô kệch của gã giãn ra, không còn u ám
nữa. Gã vui vẻ hỏi:
- Sao Tần hiền đệ lại biết được tin này
mà đến đây?
Nhương Thư giới thiệt Tào ưng với
chủ nhà rồi kể lại việc mình đi phạn
điếm, tình cờ nghe được chuyện nhà họ
Tất. Tất Cung Bảo gật gù:
- Lão già ấy là Lương Sơn Trại Chủ
Trương Sướng, có giao tình với gia phụ.
Lão có trong tay độ năm mươi thủ hạ, tuy
sức yếu nhưng vẫn khẳng khái đòi đi Cưu
Sơn cứu Liên nhi ! Ngu huynh biết không
thể thành công nên đã từ chối!
Nhương Thư hỏi Tào ưng:
- Tào túc hạ có lương sách gì không?
Thiết Kình Ngư thầm cao hứng khi
được tin tưởng, hắng giọng đáp:
- Theo thiển ý của tại hạ thì hai ta sê
âm thầm đột nhập tổng đàn Cưu Bang,
giải thoát cho Liên nhi. Tất trang chủ và
lực lượng Lương Sơn Trại phục kích nơi
chân núi, dùng Bạt Sơn Thần Lựu để tiêu
diệt bọn truy kích!
Tất Cung Bảo vỗ đùi khen:
- Diệu kế! Chỉ cần mang được Liên nhi
xuống núi là tại hạ thừa sức san phẳng
Cưu Sơn!
Tào ưng cười bảo:
- Khủng khiếp thế ư! Sao Tất trang chủ
không cho bọn ta xem thử thứ vũ khí lợi
hại ấy?
Tất Cung Bảo gật đầu rời phòng, lát
sau trở lại với một túi da lươn nặng nề.
Gã lấy ra một vật hình trụ lớn cỡ cổ tay,
cao nửa gang, vỏ bằng đồng, trên đỉnh có
chốt nhỏ sơn đỏ rực . Gã nhìn vật ấy với
anh mắt say mê tự hào :
- Tại hạ thử nghiệm suốt mười mấy
năm trời mới chế tạo được thứ hỏa khí
này. Chỉ cần ấn mạnh nút đỏ này ném đi,
nó sê nổ khi chạm vào bất cứ vật gì! Sức
mạnh của Thần Lựu có thể phá sập nhà,
hoặc sát thương trong bán kính hai
trượng.
Tào ưng thở dài lo lắng:
- Kẻ giữ ngọc có tội! Nếu Tứ Phạn
Thiên Cung hoặc Chính Khí Trang biết
túc hạ chế được thứ vũ khí này, ắt sê tìm
mọi cách chiếm đoạt!
Tất Cung Bảo buồn rầu đáp:
- Tại hạ cũng biết vậy nên sau khi cứu
được Liên nhi sê dọn nhà đi Bắc Kinh,
vào làm trong bộ phận quân khí của bộ
binh! Triều đình mời mọc đã lâu mà tại
hạ chưa nhận lời!
Nhương Thư khuyến khích:
- Nay rợ Mông và rợ Mãn luôn dòm
ngó biên cương, Tất đại huynh đem tài ra
giúp nước là rất phải đạo !
Ba người bàn bạc kế hoạch đến tận
cuối canh hai thì có thêm khách. Tất gia
trang mấy đời trượng nghĩa nên được khá
nhiều người trợ giúp. Vài tay hắc đạo đã
âm thầm vê lại sơ đồ sào huyệt Cưu Bang
tặng cho Tất Cung Bảo. Người đem địa
đồ đến chính là Lương Sơn Trại Chủ
Trương Sướng. Nghe Tất Cung Bảo giới
thiệu, họ Trương nhìn Nhương Thư chăm
chú rồi hỏi:
- Thế Tần công tử định cứu Liên nhi
bằng cách nào?
Tào ưng là người bày mưu nên dáp
ngay, kể cho Trương lão nghe kế hoạch .
Trương Sướng vuốt chòm râu đen ngắn
ngủi, lắc đầu, rồi trải họa đồ ra:
- Nhị vị hãy xem thử địa hình của Cưu
Sơn sê biết kế sách kia không sừ dụng
được !
Trương lão giải thích thêm:
- Tổng đàn Cưu Bang nằm trên một
bình đài cao hơn chục trượng, hình bán
nguyệt, vách đá trơn trượt, dựng đứng.
Người ngoài muốn vào tổng đàn phải
được thúng mây kéo lên. Tất nhiên, kẻ ấy
phải được sự hướng dẫn của bộ phận tiền
trạm. Do vậy, muốn cứu được Liên nhi thì
phải có người công khai đến làm khách
của Cưu Bang, thừa cơ giải cứu cô bé ấy
rồi xuống bằng đường cũ!
Cả nhà thở dài nhìn nhau chán nản. Tất
phu nhân run giọng:
- Trương đại ca! Làm sao Cưu Bang
dám để Tần thiếu hiệp lên đến sào huyệt?
Trương Sướng nheo đôi mắt dài xảo
quyệt, cười khà khà:
- sao lại không? Bọn chúng sê cung
kính mời Nhương Thư lên là đằng khác!
Tào ưng nãy giờ hơi thẹn vì kế của
mình không xài được, liền hậm hực bảo:
- Lão nói quách ra xem nào?
Trương Sướng trại chủ nhăn vầng trán
rộng ra vẻ cao mưu:
- Trong giới hắc đạo Sơn Tây có một
gã tên là Hồ Linh Cấu, biệt danh Sách
Huyết Kiếm, đang tuổi ba mươi ba. Mấy
tháng trước, gã vô tình giết người em trai
tri phủ Sơn Tây nên phải bỏ xứ để trốn đi.
Họ Hồ đến Lương Sơn nương náu, mới
đây đã tính chuyện ám hại lão phu để
đoạt trại May mà Trương mỗ sớm đề
phòng nên thoát chết và giết được gã ta!
Tào ưng nóng ruột cằn nhằn:
- Lão nói dông dài gì thế? Sách Huyết
Kiếm đã chết rồi thì còn tác dụng gì nữa?
Trương Sướng là người rộng lượng vui
vẻ nói:
- Lão phu chưa nói hết! Số là sau khi
giết Hồ Linh Cấu, lão phu mới phát hiện
ra gã mang mặt nạ. Nay dáng vóc Tần
công tử đây cũng tương tự, nếu mang mặt
nạ Sách Huyết Kiếm đến gia nhập Cưu
Bang thì rất tuyệt.
Nhương Thư khẳng khái tán thành:
- Tại hạ xin đặt mình dưới sự xếp đặt
của Trương túc hạ !
Sáng mười bốn tháng giêng, một chàng
ky sĩ lỏng tay cương đi vào trấn Lạc
Phách dưới chân núi Cưu Sơn. Địa
phương này chỉ có độ trăm căn nhà gỗ,
nằm dọc theo con đường đất đá lởm
chởm, lầy lội vì tuyết phủ.
Nhà cửa nơi đây đều bằng gỗ, mái lợp
lá, xộc xệch và thô kệch, và được dựng
lên bởi đám thợ mộc bất đắc dĩ. Chủ nhân
của chúng là những tay vong mạng tứ xứ,
không còn đất dung thân, chỉ quen giết
người cướp của, chưa hề cầm đến cưa,
bào, búa, đục! Có kẻ đi một mình, có
người mang cả vợ con theo, nên làm nhà
cho họ ở.
Đám tiểu hài trong trấn chỉ độ hai, ba
chục đứa, nhem nhuốc, bẩn thỉu và mất
dạy không thua gì cha mẹ ! Chúng chẳng
phải đèn sách, chỉ suốt ngày chạy nhảy,
đánh nhau và học nghề đạo tặc. Giờ đây,
những đứa trẻ bất hạnh ấy đang chơi trò
ném tuyết.
Chúng nhìn người khách mới đến với
cặp mắt tò mò, xấc xược và tinh quái.
Đứa cầm đầu bọn trẻ khê ho lên và cả
bọn nhất tề ném tuyết vào hán tử áo cừu
trắng muốt, đội nón tre rộng vành.
Không phải là tuyết sạch mà là tuyết
trộn với bùn nhão, đủ sức biến chiếc áo
choàng lông trắng tinh thành giẻ lau nhà!
Nhưng người khách lạ đã rút kiếm nhanh
như chớp, kiếm quang thoáng sắc hồng,
kiếm kình rít rợn người, đánh bạt tất cả
những nắm tuyết dơ bẩn kia đi.
Hồng quang tắt lịm thanh kiếm đã
được tra vào vỏ, và hán tử áo cứu hất
ngược vành nón, chiếu tia mắt oán độc
tàn nhẫn vào mặt lũ trẻ du côn.
Tuy sinh trưởng trong sào huyệt của
cái ác, song chưa bao giờ những đứa bé
này nhìn thấy một ánh mắt khủng khiếp
đến thế! Chúng lạnh người, xanh mặt bỏ
chạy toán loạn. Vả lại, chúng cũng hiểu
rằng cha mẹ mình không thể địch lại cái
gã có chiếc mũi ưng cong khoằm đáng
nghét ấy!
Hán tử áo cừu kéo thấp vành nón
xuống, môi nở nụ cười hiền hậu, trái
ngược với cách biểu hiện lúc nãy! Bọn
trẻ kia không biết rằng nếu chúng lý lợm
hơn chút nữa thì đối phương cũng chẳng
làm gì được mình!
Gã Sách Huyết Kiếm giả hiệu này đã
từng là một đứa trẻ đầu đường xó chợ,
không người dạy dỗ, tất rất thông cảm
với kẻ cùng cảnh ngộ!
Sách Huyết Kiếm Hồ Linh Cấu đến
Lương Sơn nương náu đã kể khá rõ về
cuộc đời mình cho Trương Sướng nghe.
Khi bị giết, gã đã để lại cả bí kíp của pho
Sách Huyết Kiếm pháp lừng danh và túi
ám khí Hồng Thiết Đạn.
Nhương Thư có bốn ngày để học hỏi
và bắt chước phong thái, cử chỉ của Hồ
Linh Cấu, tuy không được mười phần
cũng đủ qua mắt thiên hạ, vì họ Hồ ở tận
sơn Tây xa xăm, chẳng dễ gì có người
nhận ra hư thực !
Kẻ nổi danh thường chỉ có nghĩa là
tiếng tăm được nhiều người biết đến, còn
dung mạo thì chưa chắc! Hoặc cùng lắm
thì người ta nhớ lõm bõm rằng Sách
Huyết Kiếm có chiếc mũi ưng ác độc, cặp
mắt lạnh lẽo, mái tóc dài buông xõa.
Chiêu bài thứ hai là vũ khí, thanh Huyết
Kiếm có sơn hai đường đỏ tươi dọc bản
để tạo mầu máu cho kiếm quang!
Hiếu danh là tật xấu lớn nhất của
khách giang hồ! Họ đem xương máu tạo
dựng nên thanh danh, sống chết vì nó và
đánh mất chính mình! Câu thành ngữ
"bậc trượng phu đi không đổi tên, ngồi
không đổi họ ! " luôn luôn được người võ
sĩ hãnh diện nhắc đến!
Sách Huyết Kiếm cũng thế ! Gã có thể
lột mặt nạ, búi tóc lên, thay vũ khí để
sống yên ổn ở đất Sơn Tây! Nhưng nếu
làm thế thì cái danh sê tiêu vong. Gã bèn
chấp nhận trốn tránh sự truy nã và tự nhủ
rằng Sách Huyết Kiếm vẫn còn tồn tại
trong võ lâm!
Nhắc lại, Nhương Thư đủng đỉnh lỏng
tay cương đi sâu vào trấn Lạc Phách, lòng
kinh ngạc khi thấy nơi đây có đủ những
hình thức buôn bán, sinh hoạt như bất cứ
khu dân cư nào khác!
Tuy nhỏ bé, xập xệ nhưng các tiệm tạp
hóa, tiệm vải vóc, quán nhậu, quán cơm,
kỹ viện... vẫn có người lui tới. Phải để ý
mới biết chủ và khách đều một giuộc như
nhau mặt mày đầy sẹo và mắt sắc tựa dao
cạo!
Lạc Phách trấn không chỉ là bình
phong ngụy trang cho Cưu Bang mà còn
là chỗ dựa tinh thần. Chính ở đây, đám
côn đồ nhận được hơi hượm của một xã
hội bình thường, để khỏi phải phát điên
lên vì mặc cảm bị ruồng bỏ.
Trừ đám kỹ nữ, tất cả những người
trong trấn đều là thủ hạ Cưu Bang. Kẻ có
vợ con thì kinh doanh để kiếm thêm chút
bạc thế thôi!
Đoạn giữa của đường trục trong trấn
mở rộng ra thành một quảng trường, và
chễm chệ tọa lạc một tửu quán bằng gỗ
rất lớn. đây là nơi náo nhiệt, vui vẻ nhất
trấn Lạc Phách, vì ngoài việc ăn nhậu,
người ta còn có thể đánh bạc với nhau.
Không cửa sổ, bốn cạnh cửa tửu quán
này đều trổ cửa chính rất lớn, có lê đào
tẩu cho dễ. Tường đông cửa cửa quán có
treo một bảng gỗ đã mục, lờ mờ mấy chứ
xiêu vẹo: Túy Tiên Tửu Quán!
Nhương Thư đã biết đây chính là cửa
ải thứ nhất của Cưu Bang, nơi thẩm xét
lai lịch khách lạ và tiến cử về tổng đàn,
Người phụ trách tửu quán là Ngoại Vụ
Phó Bang Chủ, Thiên Lý Du Hồn Địch
Dương Hùng.
Họ Địch tuổi đã bẩy ba, có bốn mươi
năm phiêu bạt, một mình một đao trộm
cướp từ Nam chí Bắc, kiến văn rất rộng.
Nhương Thư chỉ sợ nhất là bị lão phát
hiện, chỉ thầm van vái đối phương chưa
gặp Sách Huyết Kiếm bao giờ. Chàng cố
trấn tĩnh, xuống ngựa, buộc dây cương
vào cột chống mái hiên, chậm rãi nện gót
đi vào quán !
Nhương Thư hồi hộp chờ ai đó lên
tiếng nhận bà con với Hồ Linh Cấu, may
thay, chẳng tửu khách nào mở miệng, chỉ
yên lặng nhìn bằng cặp mắt dò xét.
Nhương Thư ngồi xuống một bàn gần
cửa, sát tường để đề phòng ám toán sau
lưng.
Chiếc bàn gỗ mộc bẩn thỉu vì dầu mỡ,
nước tương, xông lên mùi hôi hám. Cả
những đôi đũa trong ống cũng mốc trắng
chẳng sạch sê chút nào ! Vật dụng và
không khí trong quán nhầy nhụa, tởm
lợm. Chưa kể đến những gương mặt cô
hồn của thực khác.
Nhương Thư kín đáo quan sát lão già
áo đen, tóc hoa râm, ngồi sau chiếc bàn
gỗ ọp ẹp Thấy lão nhìn mình mà ánh mắt
không lộ vẻ kinh ngạc hay mừng rỡ,
Nhương Thư yên lòng đóng tiếp vai kịch.
Một gã tiểu nhị thấp bé, mặt gian xảo như
chồn, bước đến tươi cười hỏi han:
- Quý khách dùng chi?
Nhương Thư lạnh lùng đáp:
- Rượn một cân, lạc một (ra!
Gã tiểu nhị quay gót, mau mắn bưng
ra, đặt xuống bàn rồi chìa tay:
- Mong quý khách cho xin mười lượng !
Cái giá cắt cổ này khiến Nhương Thư
xót ruột nhưng vẫn phải bóp bụng móc
trả ánh mắt gã tiểu nhị sáng lên khi thấy
cọc ngân phiếu dày cộm trong túi bạc của
khác Gã không nhận (ánh bạc, lắc đầu
tủm tỉm:
- Mười lượng vàng chứ không phải
bạc!
Lương Sơn Trại Chủ vì nhà họ Tần mà
sai bái đệ là Dương Châu Thần Thâu
Bạch Tú Nhiên đến gia nhập Cưu Bang
nên nắm rất rõ nội tình. Gã tiểu nhị mặt
chồn này vốn thực là một đường chủ Cưu
Bang, trước đây, nổi tiếng đất Triết Giang
với danh Tiểu Hồ Ly Chung Kim Dục.
Họ Chung xảo quyệt tàn ác phi thường,
bị truy nã về tội giết sạch Hoàng gia
trang, bốn chục người lớn nhỏ, trong chỉ
một đêm. Gã sở trường hai môn Nhiếp
Mệnh Châm và Mê Hồn Phấn!
Tiểu Hồ Ly có nhiệm vụ tra xét, nhưng
thường ức hiếp những kẻ mới đến để thỏa
mãn cái tâm độc ác của mình! Nhương
Thư đã được căn dặn chu đáo nên biết
cách đối phó. Chàng cười nhạt bảo:
- Hồ mỗ suốt đời ngang dọc, chưa từng
để kẻ tiểu nhân đắc chí! Ngươi muốn
sống thì đừng chọc giận đến Sách Huyết
Kiếm đất Sơn Tây!
Tiểu Hồ Ly biến sắc lùi xa, hậm hực
đáp:
- Đã vào đến chốn này mà ngươi còn
sính cường sao? Sách Huyết Kiếm thì là
cái thá gì?
Vừa dứt lời, song thủ của gã cất lên,
phóng liền mười mũi độc châm xanh
biếc. Nhương Thư đã đề phòng, hất
ngược chiếc bàn gỗ che thân, đề khí bốc
lên cao, bủa lưới kiếm xuống đầu đối
phương.
Chẳng phải tay vừa, Tiểu Hồ Ly tung
liền hai nắm Mê Hồn Phấn kèm theo
Nhiếp Mệnh Châm. Nhưng luồng kiếm
quang phớt hồng của đối phương vẫn
không hề bị chặn lại, lướt đến như vũ
bão. Tiểu Hồ Ly kinh hãi lao xuống gầm
chiếc bàn gần đấy.
Luồng kiếm quang vẫn bám theo, chặt
đôi mặt bàn, liếm vào lưng kẻ ở dưới.
Tiểu Hồ Ly rú lên vì đau đớn và vì sợ bị
giết. Nhưng Sách Huyết Kiếm không hạ
thủ mà chỉ hỏi:
- Vàng hay bạc?
Ti êu Hồ Ly rên rỉ đáp :
- Mi án phí !
Đám thực khác phá lên cười nắc nẻ,
chề giễu họ Chung! Sách Huyết Kiếm,
tức Nhương Thư, ngồi xuống một bàn
khác, ung dung chờ đợi, Tiểu Hồ Ly
Chung Kim Dục vào sau băng bó chẳng
thấy trở ra, nên lão chưởng quỷ đích thân
bưng hũ rượn và (ra lạc thứ hai đến.
Thiên Lý Du Hồn đến đối diện với
khách, hờ hững bảo:
- Nếu ngươi muốn tìm chỗ nương thân
thì hãy đi nơi khác! Cưu Sơn không có
chỗ cho Sách Huyết Kiếm!
Nhương Thư không đáp mà hỏi lại:
- Lão là ai mà dám nói câu ấy?
Lão ta cười mát:
- Phó Bang Chủ Cưu Bang, Thiên Lý
Du Hồn Địch Dương Hùng!
Nhương Thư vòng tay:
- Thất lễ! Thất lễ! Không ngờ tôn giá
lại là địa chủ chốn này! Nhưng tại hạ đến
đây chẳng phải vài nương thân mà là vì
muốn thương lượng một đại sự!
Địch lão mỉa mai:
- Kẻ đang bị truy nã như ngươi mà
cũng có đại sự để bàn hay sao?
Lương Sơn Trại Chủ đã tiên liệu
trường hợp này nên bày sẵn phương án
đối phó. Nhương Thư bình thản đáp:
- Chính là nhờ bỏ xứ phiêu bạt mà tại
hạ đã tình cờ phát hiện một mỏ vàng
đang được bí mật khai thác bởi một lực
lượng đông đến hơn trăm. Vì tự lượng
sức mình không cướp nổi nên muốn hợp
tác với Cưu Bang! Nếu tôn giá không
thích thì tại hạ đi tìm người khác vậy!
Nghe đến vàng, đám thực khách chấn
động, xúm cả lại những bàn gần đấy để
lắng nghe. Địch Dương Hùng gật gù:
- Hấp dẫn đấy! Hãy nói cho lão phu
nghe thử!
Nhương Thư mỉm cười:
- Tại hạ cần gặp quý bang chủ để nói
rõ điều kiện giao dịch! Hồ mỗ đơn thân
độc mã tất phải cẩn thận!
Thiên Lý Du Hồn quắc mắt:
- Lão phu đủ tư cách đại diện bang chủ
để quyết đinh tất cả! Vả lại, đã vào đến
đây thì dẫu ngươi không nói cũng không
được !
Nhương Thư không hiểu vì sao Địch
Dương Hùng lại có ác cảm với mình và
xử sự một cách bá đạo như thế, khác hẳn
với những gì mà Dương Châu Thân Thần
đã kể lại? Chàng quyết đinh hành động
theo tính cách hiếu thắng, quật cường của
Sách Huyết Kiếm, đứng phắt dậy, gằn
giọng:
- Phế ngôn! Hồ mỗ sinh ra không biết
sợ là gì !
Và chàng vung cước hất chiếc bàn về
phía Thiên Lý Du Hồn, rồi lao theo tấn
công ngay. Họ Địch nổi danh Du Hồn tất
khinh công cực kỳ lợi hại, lập tức lộn
người trở lại quầy quỉ, chụp lấy vũ khí.
Thanh kiếm đen của lão có tên Xà
Hình Kiếm, thân ngoằn ngèo, mũi có
dạng như đầu rắn được tẩm chất kỳ độc
Kiến Huyết Phong Hầu, đã từng sát hại
rất nhiều người.
Họ địch có hành tung vô định, không
dừng chân lâu ở bất cứ địa phương nào
nên dã thoát được sự truy lùng của Phật
Đăng Thượng Nhân và các hiệp sĩ chính
phái.
Nhương Thư đã nghe nhiều về đối
phương, quyết nhân dịp này trừ hại cho
võ lâm. Chàng không sợ bang chủ Cưu
Bang oán hận vì bản chất của giới hắc
đạo là trọng tài khinh nghĩa. Nếu chàng
giỏi hơn Thiên Lý Du Hồn thì được trọng
dụng, không chừng thay thế lão vào làm
phó bang chủ!
Đã có chủ ý, Nhương Thư liên tiếp
xuất những đòn mãnh liệt chẳng chút
nương tay! Chàng chỉ luyện dược chút vỏ
ngoài của pho Sách Huyết Kiếm pháp,
song cũng đủ che giấu sở học của mình.
Màn kiếm quang màu hồng đã làm mờ
những kiếm ảnh hình ngọn lửa trong
kiếm thuật Phật Đăng.
Bàn ghế trong tử quán văng tứ tán, mỗi
khi hai đấu thủ di chuyển đến. Bọn tửu
khách đã chạy ra cửa đứng nhìn vào,
khoái trá bàn bạc và chưa có ý định hỗ
trợ phó bang chủ.
Thiên Lý Du Hồn đau lòng bởi đồ đạc
trong quán bị gãy nát, và giận dữ vì gã
tiểu tử họ Hồ kia đã dám hung hăng với
mình, liền dồn năm chục năm chân khí
vào pho Hắc Xà Kiếm pháp, tấn công
quyết liệt
Tiếng thép chạm nhau liên hồi chát cả
tai suốt gần trăm hiệp mà chưa ai chiếm
được thượng phong. Hai luồng kiếm
quang đỏ đen quấn lấy nhau, tan ra, hợp
lại nhanh như chớp.
Càng đánh, Địch Dương Hùng càng
kinh ngạc trước kiếm thuật siêu phàm của
Sách Huyết Kiếm. Theo lời đồn đại thì
bản lãnh của Hồ Linh Cấu đâu lợi hại đến
thế
Phần Nhương Thư cũng nóng ruột vì sợ
đánh lâu sê lộ, xuất liền chín chiêu liên
hoàn, kiếm ảnh mịt mù tỏa rộng. Thanh
Huyết Kiếm rung động xé không gian,
đâm liền hàng trăm thức trong khoảnh
khắc, phá thủng được màn hắc quang,
đâm vào ngực trái đối phương.
Lúc này, Thiên Lý Du Hồn đã bị dồn
đến vách gỗ hướng đông. Mặt tái mét vì
khiếp sợ cái chết đang chập chờn. Song
lão đã thoát ra bằng cách nhẩy ngược về
phía sau, dùng lưng phá sập lớp vách
quán đã mục. Nhương Thư phóng theo ra
ngoài chẳng chịu buông tha. Thiên Lý Du
Hồn ra đến sân cỏ liền trụ lại và quát:
- Tiến lên!
Thế là đám thủ hạ Cưu Bang rút vũ khí
ùa vào, khí thế cực kỳ hung hăng.
Nhương Thư thọc tay tả vào túi da nai
đeo theo nơi hông trái, bốc một nắm
Hồng Thiết Đạn rải theo hình nan quạt.
Công lực chàng còn thâm hậu hơn Sách
Huyết Kiếm, lại từng luyện thủ pháp
phóng Thiết BỒ Đề, nên uyển lực rất
mạnh.
Bọn Cưu Bang múa đao kiếm chống
đỡ, nhưng không ngờ khi chạm vật cản,
những viên đạn màu đỏ tươi kia lại vỡ tan
ra thành bột, tỏa mùi cay mãnh liệt. Tuy
không chết người nhưng thứ bột quái quỷ
ấy là cho nạn nhân xốn xang hai mắt, hắt
hơi liên tục, chẳng còn thấy đường và sức
lực mà chiến đấu.
Chính Nhương Thư cũng bất ngờ trước
tác dụng quái ác của Hồng Thiết Đạn.
Trước đây, chàng vẫn thắc mắc rằng vì
sao một kẻ tàn nhẫn như Hồ Linh Cấu lại
sừ dụng loại ám khí tròn nhẵn không có
khả năng đả thương?
Nhương Thư yên tâm lao đến tấn công
họ Địch, mặc cho vòng vây vẫn mỗi lúc
một dày đặc. Người trong Lạc Phách trấn
đã kéo đến đây để xem trận đấu hấp dẫn.
Đánh nhau thì ngày nào cũng có, nhưng
cùng là người trong bang nên ít quyết
liệt, khác với việc người ngoài bang vào
đây nắm đầu Phó Bang Chủ mà nện!
Đám nữ nhân đã giữ chân chồng mình
lại, không cho hỗ trợ Địch Dương Hùng,
và họ ngoác miệng khích bác:
- Địch lão tài ba quán thế, hãy đánh
cho gã họ Hồ kia biết Cưu Bang chúng ta
lợi hại thế nào?
Thì ra, đám đàn bà này đều là con nợ
của phó bang chủ, chỉ mong lão bị giết để
giũ sạch nợ nần nặng lãi !
Thiên Lý Du Hồn bị Nhương Thư đánh
rát quá, muốn mở miệng cầu cứu cũng
không được. Lão than thầm trong bụng,
cắn răn chống đỡ nhưng chiêu kiếm thần
tốc của đối phương.
Chợt một ý niệm loé lên trong đầu
Địch Dương Hùng, lão kinh hoàng định
thét lên nhưng không có cơ hội. Mũi
kiếm của Hồ Linh Cấu luôn uy hiếp
những tử huyệt, sẵn sàng kết liễu khi lão
có một sơ xuất nhỏ. Thiên Lý Du Hồn đã
tận dụng thân pháp sở trường vẫn không
sao dứt ra được, và trên người rải rác tám
vết thương rách thịt.
Bỗng phía chân núi vọng lại tiếng tù
và, báo hiệu lực lượng trên tổng đàn đã
xuống đến. Bọn thủ hạ ngoài này sợ bị tội
liền cãi lời vợ con xông vào tấn công
Nhương Thư. Chàng lại phải rải Hồng
Thiết Đạn để đối phó, tạo cơ hội cho
Địch Dương Hùng nhẩy lùi. Lão vừa rời
xa tầm kiếm của Nhương Thư liền gầm
lên:
- Ngươi không phải . . . !
Nhương Thư đã sớm đề phòng, vận
công nạt như sấm để át tiếng:
- Sát!
Đồng thời chàng ôm kiếm lao vút đi
như mũi tên rời dây cung, bay về phía họ
Địch.
Thiên Lý Du Hồn biết gã Sách Huyết
Kiếm giả hiệu kia muốn giết mình để diệt
khẩu, liền lách sang tả tránh đòn. Với
khinh công của lão, chỉ khê đảo bộ là đã
rời xa vị trí cũ gần trượng, xem ra rất an
toàn!
Nào ngờ, thay vì lướt thẳng đến mục
tiêu cũ, kiếm quang kia lại bẻ góc gần
như vuông thước thợ, chụp lấy Địch
Dương Hùng!
Chiêu kiếm quái dị này vượt ra ngoài
sức tưởng tượng của họ Địch nên lão chỉ
còn cách chống đỡ trong tuyệt vọng.
Trường kiếm của đối phương lập tức đâm
thủng ngực và chặt phăng cần cổ gầy gò,
giúp Địch Dương Hùng thanh thản đền
tội!
Trong lúc cấp bách, Hồ Linh Cấu đã thi
triển chiêu Kính Đảo Quang Phương
( gương xoay hướng sáng ), kết hợp giữa
khinh công và kiếm thuật dùng trong
trường hợp biết chắc đối phương sê tránh
đòn sang tả hoặc hữu. Chính kiếm kình
xoáy cuồn cuộn như chong chóng đã giúp
chàng đổi hướng một cách đột ngột, vượt
ngoài lê thông thường!
Đám phụ nhân trong trấn bật khóc nức
nở, vật vã vì thương tiếc cho phó bang
chủ, nhưng thực ra chẳng có giọt nước
mắt nào! Họ biết ơn Sách Huyết Kiếm
nên chẳng hề chửi mắng gã, lòng còn
thầm cảm tạ!
Tiếng tù và mỗi lúc một gần, hòa cùng
tiếng vó ngựa dập dồn, và tám gã ky sĩ áo
vàng lực lưỡng, tay cầm trường côn xuất
hiện. Tuy nhìn thấy xác Địch Dương
Hùng mà họ cũng thản nhiên, giao ngựa
cho đám tốt đen, đứng thành hai hàng
như chờ đợi ai đó! Chỉ lát sau, một đôi ky
sĩ nữa chậm rãi đi đến, gồm một nam một
nữ.
Nhương Thư choáng váng khi nhận ra
hán tử áo cừu kia chính là Hoàng Nghi
Tuyệt, đệ tử chân truyền của Đao Đế. Gã
biệt tăm từ sau ngày thọ thương ở Chính
Khí Trang, không ngờ có mặt chốn này?
Phải chăng gã là đầu sỏ của bọn đạo tặc
Cưu Sơn?
Chàng cố nén tiếng thở dài quan sát nữ
nhân đội nón mây rộng vành có rèm bằng
the đen mỏng phủ đến ngực, loại nón này
có tên là Duy Mạo, xuất hiện từ thời nhà
Đường, được phụ nữ sừ dụng khi ra
đường !
Do có lớp the nên Nhương Thư không
thể nhìn thấy rõ dung nhan của nàng ta,
chỉ thấy thấp thoáng làn da trắng như
ngọc và đôi môi đỏ hồng.
Lúc này, toàn thể những người hiện
di ện đã quỳ xuống và tung hô :
- Bang chủ vạn an!
Không phải Hoàng Nghi Tuyệt mà
chính nữ nhân kia xua tay, nói thánh thót:
- Miễn lễ!
Té ra bang chủ Cưu Bang lại là một nữ
nhân tuổi không cao! Dương Châu Thần
Thâu tiềm nhập Cưu Sơn, vê địa đồ xong
là bỏ đi ngay nên chưa diện kiến bang
chủ! Gã không biết thì Nhương Thư cũng
vậy! Bang chủ Cưu Bang cao giọng hỏi
Nhương Thư:
- Sách Huyết Kiếm! Ngươi uống mật
gấu hay sao mà dám đến đây giết người
của bổn bang?
Nhương Thư vòng tay đáp:
- Bẩm bang chủ! Tại hạ đến đây với
tấm lòng thành, muốn hợp tác cùng quý
bang để chiếm một mỏ vàng lộ thiên. Do
Địch Dương Hùng cố tình ngăn cản,
không cho tại hạ bái kiến bang chủ để
bàn bạc nên mới xảy ra cớ sự này!
Nữ lang gật đầu:
- Bổn nhân đã nghe báo lại! Xem ra túc
hạ không phải là người khiêu khích
trước! Tuy nhiên, dẫu sao thì túc hạ cũng
không được phép nặng tay như vậy!
Nhương Thư cười nhạt:
- Hồ mỗ hiếu sát thành tật, khi đã rút
gươm là phải giết người, mong bang chủ
lượng thứ cho ! Nếu tại hạ nương tay thì
đâu còn là Sách Huyết Kiếm?
Khẩu khí cuồng ngạo này là của Hồ
Linh Cấu, và đã làm đối phương nổi giận.
Bang chủ Cưu Bang hừ nhẹ:
- Đừng tưởng Cưu Sơn chẳng còn nhân
tài! Bổn nhân sê cho HỘ Bang Bát Thị Vệ
dạy cho ngươi một bài học!
Tám gã áo vàng cầm trượng côn lập
tức vây lấy Nhương Thư, chờ lệnh bang
chủ. Nàng lạnh lùng nói tiếp:
- Nếu ngươi đủ tài thoát khỏi Bát Quái
côn Trận này thì bổn nhân sê tha tội giết
người và phong là phó bang chủ!
Nhương Thư nghiêm nghị đáp:
- Nếu Hồ mỗ lỡ tay giết chết thêm vài
người, mong bang chủ chớ buồn!
Nữ lang gật đầu và phất tay ra hiệu.
Tám cây trường côn bằng ống thép lập
tức lồng lộn lên, theo phương vị bát quái
mà uy hiếp mục tiêu trưng cung.
Yếu tố lợi hại nhất của côn trận là sự
phối hợp nhịp nhàng, mỗi cây côn nhắm
vào vị trí trên thân thể Nhương Thư,
khiến chàng phải đồng thời đối phó với
bốn người, rồi đến bốn người kế tiếp. Do
vậy, đường côn nối nhau liên miên bất
tuyệt chẳng lúc nào dứt.
Nhương Thư bắt buộc phải xoay
chuyển, như chong chóng để chống đỡ
bốn mặt, khiến kiếm bay vun vút, đánh
bạt những cây côn hiểm ác.
Tiếng ống thép nhân nga vang dội tạo
niềm phấn khích cho người xem. Họ vỗ
tay tán thưởng tài đánh kiếm tuyệt luân
của Hồ Linh Cấu, vì gã đã hiên ngang
cầm cự hơn khắc thời gian mà vẫn chưa
hề kém thế.
Thực ra, Nhương Thư chỉ thủ chứ
không tấn công được đòn nào, và nếu
chẳng sớm phá được côn trận, chàng sê
kiệt lực và bỏ mạng. Khi đơn đấu, chàng
không sợ bất cứ ai, nhưng côn trận này ảo
diệu khôn lường, khiến chàng phải khốn
đốn.
Nhương Thư nghiến răng dệt lưới kiếm
quanh thân, lao vào hai gã trước mặt. Nào
ngờ, trận thế biến hóa theo, cả tám cây
trường côn nhất tề tấn công chứ không
chia làm hai đợt nữa.
Nhương Thư chỉ đỡ được bảy đòn và
trứng một côn như trời giáng vào lưng.
Chàng hự lên một tiếng vì đau đớn, máu
trào ra khoé miệng, thân hình lảo đảo.
Bọn phụ nhân trong trấn có cảm tình với
kẻ đã xóa nợ cho gia đình nên rú lên
thương tiếc.
Nhưng Nhương Thư không ngã mà vẫn
chống cự rất kiến cường, làm cho Hoàng
Nghi Tuyệt phải lắc đầu khâm phục.
Bang chủ Cưu Bang cũng kinh ngạc,
quay sang hò i :
- Hoàng đại ca! Gã họ Hồ kia luyện
môn ngoại công gì mà thân thể cứng rắn
như vậy? Nếu là người khác thì đã gãy
xương dập phổi rồi!
Hoàng Nghi Tuyệt lắc đầu:
- Ta không biết! Sách Huyết Kiếm vốn
chẳng được xem là cao thủ hạng nhất,
không ngờ võ nghệ lại rất cao cường!
Nhân tài như thế chẳng lê Từ hiền muội
lại định giết đi?
Thì ra bang chủ Cưu Bang mang họ
Từ ! Nàng nghi êm nghị đáp :
- Hồ Linh Cấu tướng mạo tàn ác phản
phúc, không thể sừ dụng được, tốt nhất là
gi ất đi !
Tiếng rú của đám đàn bà lại vang lên
và Sách Huyết Kiếm đã trứng thêm hai
côn vào vai trái và hậu tâm.
Đòn thứ tư quét ngang, lực đạo vô
cùng mãnh liệt, đã đánh văng thân hình
Hồ Linh Cấu về phía trước. Nhưng thay
vì rơi xuống mặt tuyết nằm chết lịm thì
Sách Huyết Kiếm lại lướt dài, lao vào
chân một gã áo vàng, gã này hốt hoảng
vung côn giáng xuống, song Hồ Linh Cấu
đang tư thế nằm ngửa, cử kiếm đỡ đòn và
tiếp tục áp sát
Gã cầm côn hồn phi phách tán, vội
tung mình về phía tả, bỏ trống phương vị
để Sách Huyết Kiếm thoát khỏi trận, Họ
Hồ đứng lên, đưa tay lau máu miệng,
lạnh lùng nói:
- Tại hạ đã may mắn thoát khỏi Bát
Quái côn Trận, mong bang chủ giữ lời
hứa!
Nữ lang họ Từ bật cười khinh bạc:
- Lời hứa của đàn bà thì có gì đáng để
tin? Ngươi phải chết để đền mạng cho
Địch lão thôi!
Nhương Thư cố vớt vát:
- chẳng lê bang chủ không cần đến mỏ
vàng?
Nữ lang mỉm cười hỏi lại:
- Phải chăng ngươi muốn nói đến mỏ
vàng dưới chân núi Côn Sơn ở cạnh sông
thì phải?
Nhương Thư ngơ ngác gật đầu, và chua
sót khi nghe đối phương chậm rãi nói
tiếp:
- Ngươi ngu lắm ! MỎ vàng ấy đang
được Cưu Bang khai thác đấy!
Thế là hết, Nhương Thư thở dài cho số
phận của Liên nhi. Chàng còn đủ sức phá
vây mà đào tẩu, nhưng hy vọng cứu Liên
nhi đã tiêu tan Nhương Thư giật mình
khi nghe bang chủ Cưu Bang bảo Hoàng
Nghi Tuyệt:
- Hoàng đại ca hãy giết gã họ Hồ dúm
tiểu muội!
Hoàng Nghi Tuyệt lưỡng lự:
- Thanh Huệ ! Hắn đã thọ thương, ta
mặt mũi nào mà ra tay?
Giờ đây, Nhương Thư mới biết tên đối
phương là Thanh Huệ. Chàng thầm lo sợ
cho Hoàng Nghi Tuyệt khi thấy gã thân
cận với nữ nhân có cái tâm độc ác. Aû ta
đang nũng nịu thuyết phục họ ho áng :
- Đại ca cứ giữ cái tâm của đàn bà thì
làm sao dựng thành nghiệp lớn được?
Hay đại ca muốn tiểu muội ra tay?
Hoàng Nghi Tuyệt vội đáp:
- Thôi để ta ! Nàng đang khó ở không
nên xuất thủ.
Gã tung mình rời ngựa, hạ thân xuống
đứng đối diện Nhương Thư và điềm đạm
bảo:
- Các hạ đã thọ thương, tại hạ nhường
ba chiêu!
Nhương Thư hiền hòa:
- Hoàng Nghi Tuyệt! Các hạ vì nữ sắc
mà sa vào vũng bùn nhơ này, liệu Đao Đế
ở chốn suối vàng có vui chăng?
Họ Hoàng kinh hãi:
- Sao ngươi biết ta?
Nhương Thư mỉm cười:
- Tại hạ có mặt trong ngày lễ khai đàn
của Chính Khí Trang !
chàng đổi giọng nghiêm nghị:
- Nay Độc Biển Thước Tả Nho Quan
đã luyện thành tuyệt học của Thần Quang
Chân Quân, lại thu được cả Chính Khí
Trang lẫn Tứ Phạn Thiên Cung, sắp dìm
võ lâm vào biển máu. Các hạ là người kế
nghiệp Đao Đế sao không đem tài hợp
lực cũng phe bạch đạo giáng ma, lại chôn
vùi ở chốn cặn bã?
Bang chủ Cưu Bang cũng sửng sốt
chen vào :
- Tin này ngươi nghe ở đâu vậy?
Nhương Thư khẳng định:
- Tại hạ tận mắt chứng kiến chứ không
nghe lời đồn!
Từ Thanh Huệ tư lự nói với Hoàng
Nghi Tuyệt:
- Nếu đúng thế thì việc đoạt Bạt Sơn
Thần Lựu lại càng cấp bách. Không có nó
làm sao chúng ta dám đương đầu với
Chính Khí Trang và Tứ Phạn Thiên
Cung?
Hoàng Nghi Tuyệt gật đầu, quay lại
bảo Nhương Thư:
- Tuy các hạ tội ác ngập đầu, nhưng
xem ra cũng có lòng với võ lâm. Tại hạ
tha mạng cho các hạ đấy, hãy đi đi!
Từ Thanh Huệ giận dỗi trách:
- Sao đại ca lại tha cho hắn?
Nhưng nàng chẳng dám trái ý họ
Hoàng, bèn hách dịch bảo Nhương Thư:
- Nể mặt Hoàng đại ca, ta cho phép
ngươi được sống đấy!
Nào ngờ Sách Huyết Kiếm bình thản
lắc đầu:
- Ta không đi nếu Hoàng Nghi Tuyệt
không chịu ly khai Cưu Bang!
Họ Hoàng kinh ngạc:
- Ta và ngươi nào có liên quan gì?
Nhương Thư trầm giọng:
- Nếu một nhân tài như các hạ sa vào
ma đạo là di họa cho võ lâm, và làm nhục
thanh danh Đao Đế! Chẳng thà ta giết các
hạ ngay bây gờ còn đỡ đau lòng hơn!
Hoàng Nghi Tuyệt cười nhạt:
- Chim sẻ là sao hiểu được chí hướng
của Hoàng Hạc! Ngươi chán sống rồi sao
mà dám mắng ta?
Gã rút phăng thanh Huyền Băng Đao
thủ thế, sát khí phủ mờ gương mặt rắn
rỏi, vốn đã lạnh tanh. Nhương Thư thở
dài lẩm bẩm:
- Nếu biết có ngày này thì Tần mỗ đã
để ngươi chết dưới tay Lã Tập Hiền cho
xong !
Hoàng Nghi Tuyệt đang dồn hết tâm ý,
công lực vào chiêu Ngự Đao nên tai mắt
rất minh mẫn, nghe được câu nói ấy. Gã
hốt hoảng hạ đao hỏi lại:
- Ngươi là ai?
Nhương Thư không đáp, vung kiếm vê
liền bảy kiếm ảnh hình ngọn lửa chập
chờn. Hoàng Nghi Tuyệt chấn động, tra
đao vào vỏ, quỳ một chân xuống, chống
một tay, kính cẩn gọi:
- Tần ân công!
Nhương Thư chua chát lắc đầu:
- Nếu các hạ còn nhớ đến ta thì hãy
mau hồi đầu, đừng để anh linh của Đao
Đế phải tủi hổ!
Mọi người sửng sốt trước diễn biến lý
lạ này, chẳng hiểu gì cả. Bang chủ Cưu
Bang xuống ngựa, nghiêng mình bái:
- Tiểu muội từ Thanh Huệ xin ra mắt
ân công!
Nhương Thư cẩn thận lột mặt nạ, để lộ
dung mạo đường chính, nhân hậu, rồi
nghiêm giọng:
- Nếu cô nương quyết tâm lôi kéo
Hoàng Nghi Tuyệt xuống bùn thì Tần mỗ
thề sê tưới máu Cưu Sơn!
Hoàng Nghi Tuyệt vội đứng lên, bước
đến biện bạch:
- Bẩm ân công! Tuyệt tôi vô tình lạc
đến đây, cùng Từ cô nương nối mối
duyên giao tình và đã thuyết phục được
nàng đưa Cưu Bang quay về chính đạo,
hợp cùng các phái để tiêu diệt Chính Khí
Trang và Tứ Phạn Thiên Cung. Sau khi
đoạt được Bạt Sơn Thần Lựu là khởi sự
tấn công Lã gia trang ngay!
Nhương Thư mừng rỡ buộc miệng:
- Thiện tai ! Thiện tai ! Nếu được như
vậy thì Hoàng túc hạ có công lao rất lớn
với võ lâm!
Chàng tu hành từ nhỏ nên đôi khi quen
nói cách nói của nhà chùa.
Từ Thanh Huệ phì cười :
- Sư gì mà dữ tợn thế? Tiểu muội từng
nghe Hoàng đại ca kể, giờ mới được diện
kiến vị sát tinh mặt Phật!
Nhương Thư ngượng ngùng nói sang
chuyện khác :
- Nàng hãy thả Liên nhi ra đi. Ba mươi
trái Bạt Sơn Thần Lựu đã thuộc về ta rồi!
Chúng ta sê hợp lực giáng ma. !


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi 8
M~ Nhân ĐÔ Bắc Thần Giai Bại
Quân Khứ Hoàn Tuyền Thiết Cấp
Truy
Gần cuối tháng giêng, thành Nam
Dương tràn ngập khách giang hồ. Họ đến
đây để xem trận đấu giữa Tần Nhương
Thư và Lã Tập Hiền.
Trưa hai mươi bảy, có thêm ba người
nữa vào thành, đó là Nhương Thư, Tào
ưng và Hoàng Nghi Tuyệt. Vừa qua cửa
Đông, họ đã bị một gã khất cái chặn
đường Gã ta khom lưng vái dài:
- Tần công tử! Các vị chưởng môn
đang nóng lòng chờ đợi! Mời công tử đi
theo tiểu nhân!
Bọn Nhương Thư được dẫn đến một
to a trang viện rất lớn trên phố Quỳnh
Hoa, người đầu tiên mà Nhương Thư gặp
chính là Bạch Thu y Sơn. ánh mắt gã
ngập tràn niềm hân hoan, miệng cười
rạng rỡ, chân tình, khi ri Nhương Thư
nghe ấm lòng. Họ Bạch lao vút đến, nắm
chặt tay chàng, trách móc :
- Đại ca định bỏ rơi tiểu đệ hay sao?
Nhương Thư cười hiền la nh:
- Ta ra đi để ngươi có được vợ đẹp,
tròn lời hứa với lệnh sư!
Thu y Sơn đỏ mặt càu nhàu:
- Đại ca tính dồn tiểu đệ vào chỗ bất
nghĩa ư? Sơn này mắng cho lão họ Điền
một tí.â ri rồi bỏ đi ngay sáng hôm ấy!
Thiết Kình Ngư Tào ưng hài lòng, giơ
ngón tay cái khen ngợi:
- Giỏi lắm! Có thể đáng mặt trượng
phu!
Thu y Sơn quay sang hỏi Hoàng Nghi
Tuyệt :
- Hoàng túc hạ vì sao gặp được Tần đại
ca?
Họ Hoàng mỉm cười:
- Chuyện dài lắm !
Nụ cười hiếm hoi này đã rọi sáng
gương mặt âm trầm lạnh lẽo của chàng
dũng sĩ đất Liêu Đông!
Bốn người cười nói, đi qua mảnh sân
rộng, tiến vào khu hoa viên ở sau dãy nhà
hướng Bắc. Trên mảnh vườn rộng đến
mấy mẫu đầy kỳ hoa dị thảo này to a lạc
một khách sảnh hình lục giác rất tráng lệ,
cùng mấy căn tiểu xá thanh nhã, xinh
đẹp
Khách sảnh có mái lợp bằng ngói lưu
ly xanh, sáu góc uống cong kiêu hãnh,
vách trổ những Oâ cửa rất rộng, che kín
bằng pha lê Hà Lan, để người bên trong
dễ dàng thưa ng ngoạn cảnh vật trong
hoa viên. Nhương Thư vừa đặt chân lên
bậc tam cấp của hành lang quanh sảnh thì
nghe tiếng hô hoán:
- Tướng công! Đại ca!
Và từ trong có ba bóng trắng bay ra,
chụp lấy chàng như chim vồ mồi. Họ là
ba ả tố nga đất Tế Nam! Thấy họ sụt sùi,
Nhương Thư dịu giọng:
- Các nàng xem mình là nữ hiệp, sao
lại mau nước mắt như vậy?
Uyển Xuân nhoẻn miệng cười ranh
in ãnh đáp :
- Bọn tiểu muội chưa đánh trận nào,
đâu thể gọi là nữ hiệp?
Bạch Cúc thẳng thắn trách:
- Sao tướng công vì chuyên của đại thư
mà bỏ cả những kẻ vô tội như bọn thiếp?
Nhương Thư rất yêu mến cô nàng
không biết nói dối này, và cũng có phần
ngán sợ chuyện dan díu với Bạch Ngọc
Ti ên Tử, nên áy náy đáp :
- Ta quả không c Où ý ấy ! Vì muốn thanh
toàn cho Thu y Sơn và Ngọc Trâm nên ta
phải âm thầm ra đi đấy thôi! Mong hiền
muội hiểu cho lòng ta!
Tào ưng cằn nhằn:
- Sao lại cứ ở lý đây mãi thế này? Ta
đói rã ruột ra rồi đấy! Để tối nay tâm sự
đến sáng chẳng hay sao?
Nhị tiểu thư Điền Mã Lan đỏ mặt cự
nự:
- Tào đại ca nói kỳ quá!
Nhương Thư biết nàng cả th.e ri, ít lời,
dường như chịu thiệt thòi nhất trong cảnh
chồng chung, liền nắm tay nàng dắt đi.
Mã Lan vô cùng sung sướng nhưng lại
xấu hổ nói líu ríu:
- Tướng công không sợ các trưởng bối
cười sao?
Nhương Thư nhìn nàng âu yếm:
- Ai cười làm gì! Cả võ lâm, đều biết ta
có được ba ngưu i vợ đẹp như tiên là các
nàng!
Uyển Xuân phì cười:
- Không ngờ chỉ xa nhau gần tháng mà
đại ca đã học được nghề nịnh ho i đàn bà,
thật là đáng kinh ngạc !
Nhương Thư gật gù:
- Ta họ được của Hoàng túc hạ đấy!
Hoàng Nghi Tuyệt nhăn mặt nhưng
môi thoáng cười, chẳng thèm biện bác.
cả bọ ri vào đến khu uống trà ở vách
hướng Bắc, nơi mà năm vi chưởng môn
bạch đạo và một lão nhân tóc bạc đang
trò chuyện. Nhương Thư, Hoàng Nghi
Tuyệt, Tào ưng vội vòng tay thi lễ. VÔ
ưu Cái nói ngay:
- Tần hiền đệ! Đây là Văn trang chủ,
bào huynh của Thông Thiên Chân Nhân,
chưởng môn phái Võ Đang !
Nhương Thư vội vái lão:
- Tiểu đệ Tần Nhương Thư xin bái kiến
trang chủ!
Lão nhân cười ha hả:
- Lão phu tên gọi Tích Đường, mừng
được gặp bậc anh hùng trẻ tuổi như công
tử!
vô ưu cái cũng giới thiệu Hoàng Nghi
Tuyệt và Tào ưng với họ Văn, rồi cả bọn
an to a! Trước tiên các chưởng môn hỏi
han Hoàng Nghi Tuyệt. Nghe gã kể xong,
mọi ngưu i vô cùng mừng rỡ, không ngờ
họ Hoàng lại cải ho a được Cưu Bang!
Bất Trí Thư Sinh cũng hiện diện cau mày
hỏi thêm:
- Bát Quái Trường Côn Trận là tuyệt
học lừng danh đất Hồ Châu, sao Từ cô
nương lại có được?
Hoàng Nghi Tuyệt nghiêm nghị đáp:
- Thanh Hu.ê chính là hậu duệ của
Thái Cực Môn đất Từ Châu. Tám vị HỘ
Bang Bát Thi Vệ đều là tám sư huynh
của nàng! Sau khi Thái Cực Môn bị chết
gần hết trong cuộc chiến với Hải Long
Giáo, chín ngưu i ấy đã đến Cưu Sơn
nương náu và thành lập Cưu Bang!
Phổ Chư ng Thiền Sư, chưởng môn
phái Nga Mi, tiếp lời Bất Trí Thư Sinh:
- Xin ho i Tần thí chủ đã làm cách nào
để phá được Bát Quái côn Trận?
Nhương Thư sượng sùng đáp:
- Đệ tử phải đưa lưng chịu bốn đòn
mới tìm cơ hội thoát ra ngoài !
Thiền sư già i mình:
- Trường côn của Thái Cực Môn nặng
ba mươi cân, lực đánh nát đá tan vầng, sao
thí chủ lại chịu nổi?
VÔ ưu Cái phấn khởi:
- Phải chăng hiền đệ đã tìm được bảo y
hộ thân?
Nhương Thư lúng túng đáp:
- Không có bảo y! Song dường như cơ
thể tiểu đệ cứng rắn, bền chắc như người
luyện công phu thiết bố sam, không thể bị
trọng thương được!
Cử to a Oà lên kinh ngạc, còn Bất Trí
Thư Sinh thì vô đùi cao giọng:
- Đấy chính là tác dụng của tinh huyết
Bạch Thu y Xà Vương! Từ nay, ngay cả
Độc Biển Thước cũng không thể giết
được ngươi !
Mọi người hân hoan chúc mừng
Nhương Thư, rồi bàn về cuộc tử đấu trên
Sáp Vân Phong và cục diện giang hồ !
Tối hôm ấy, đám người trẻ tuổi tụ tập
trong tiểu xá dành riêng cho Nhương Thư
trò chuyện. Nhương Thư nghe kể về việc
Ngọc Trâm đã xuố ng tóc quy y ở Thiền
Vân Ni Viện, chỉ thở dài mà không có ý
kiến gì! Uyển Xuân thương chị, ứa nước
mắt trách Bạch Thu y Sơn:
- Chỉ tại túc hạ nên mời ra cớ sự này!
Họ Bạch rầu rĩ cúi đầu, chẳng dám cãi!
Nhương Thư bất nhẫn nghiêm giọng:
- Thu y Sơn lòng dạ quang minh như
nhật nguyệt, chỉ tại Ngọc Trâm tự xe dây
trói mình! Từ nay các nàng không được
oán trách Sơn đệ nữa!
Bạch Cúc lên tiếng:
- Tướng công nói chí phải! Bọn thiếp
xin tuân lệnh!
Cuối canh hai, ai nấy quay về phòng
riêng. ít khắp c sau, Nhương Thư nhớ đến
dáng điệu khổ sở cu a Thu y Sơn, liền
tìm đến phòng của gã, Thu y Sơn mở
cư a, bối rối hỏi:
- Sao đại ca lại đến đây giờ này?
Nhương Thư tủm tỉm cười:
- Anh em xa cách lâu ngày, đêm nay ta
sê ngủ với ngươi !
Thu y Sơn gượng cười :
- Tiểu đệ đã quen ngủ một mình nên
không thể chịu ý đại ca được !
Nhương Thư cười mát:
- Ngươi là nam hay nữ?
Thuý Sơn giật bắn mình:
- Tất nhiên là nam rồi!
Nhương Thư gật gù:
- Thế thì ngủ chung cũng chẳng sao !
Chàng xăm xăm đi thẳng vào phòng,
trèo lên giường nằm và gọi:
- Sơn đệ, lên đây trò chuyện cùng ta!
Thu y Sơn lưỡng lự, khêu nhỏ bấc đèn
rồi vào nhà sau một lúc mới ra trèo lên
giường, kéo chăn bông đắp kín ngưu i.
Trời rất lạnh nên dù có lò sưởi cũng phải
dắp chăn mới đủ ấm.
Nhương Thư cũng chui vào trong chăn,
ôm lấy gã, bàn tay tả cố ý đặt lên trên
ngực Thu y Sơn. Quả đúng lời Tào ưng,
ngực của Thu y Sơn bằng phẳng nhưng
không hề rắn chắc bằng chàng. Tuy
nhiên, cơ thể Thu y Sơn lại khác mềm
mại và thơm mùi hoa trộn chút hương bồ
kết. Thu Sơn run giọng:
- Té ra đại ca muốn kiểm chứng xem
tiểu đệ có phải giả trai hay không? Giờ
thì đại ca đã hài lòng chưa?
Nhương Thư cười khà khà:
- Ngươi đo án đúng đấy ! Ta vốn không
tin trên đời lại có nam nhân xinh đẹp đến
thế?
Thu y S ơn rụt rè :
- Đại ca không hề giận tiểu đệ về vụ
HỔ Hồng Nhan chứ?
Nhương Thư gật đầu:
- Không ! Ta đau lòng nhưng chẳng hề
oán trách ai cả! Và dườ ng như sau việc
này, ta càng yêu mến ngươi hơn!
Thu y Sơn sung sướng cười đáp :
- Cảm tạ đại ca! Phải chi tiểu đệ là nữ
nhân, tất sê lấy đại ca để bồi thư ng
thiệt hại!
Nhương Thư sinh nghi, giả đò gác chân
lên hạ thể Thu y Sơn thấy dương vật cồm
cộm mới yên tâm! Thu y Sơn biết nhưng
chẳng nói ra, chỉ bảo Nhương Thư kể lại
thời thơ ấu cho mình nghe. Giữa canh tư,
Nhương Thư mới thuật xong quá khứ đau
buồn, ôm chặt Thu y Sơn mà thiếp đi.
Nguyên ngày hôm sau, Nhương Thư
ráo riết luyện kiếm. Thu y Sơn và Hoàng
Nghi Tuyệt giúp chàng bằng cách liên thủ
tấn công, dưới sự giám sát của các vị
chưởng môn.
Về lý thuyết, nếu Nhương Thư địch lại
hai cao thủ này thì sê thắng Lã Tập Hiền.
Nhưng trong thực tế thì kết luận này lại
không chắc chắn lắm. Lý do đơn giản là
cả ba người đều chẳng dám nặng tay với
nhau, chỉ điểm trứng là rút kiếm về. Bất
Trí Thư S inh đề nghị :
- Đánh thế này thì Nhương Thư sê
chẳng thu được lợi ích gì. Ba người hãy
sừ dụng kiếm gỗ mũi bằng mà giao đấu!
Trong Văn gia trang có sẵn mộc đao,
mộc kiếm để đám gia đinh luyện võ nên
chẳng phải mất công đẽo gọt. Phải vài
khắc sau ba người mới quen vũ khí mới,
tận lực thi thố hết sở học.
Trong buổi sáng, Nhương Thư trứng
sáu đòn. Trong đầu giờ chiều, chàng
trứng thêm một đao của Hoàng Nghi
Tuyệt, nhưng sau đó dần dần chiếm được
thượng phong, liên tiếp đâm trứng hai đối
thủ. Dườ ng như càng gặp cườ ng địch,
kiếm thuật của Nhương Thư càng tinh
xảo Khi hoàng hôn buông xuống, Bạch
Thu y Sơn kiệt lực chịu thua, Hoàng
Nghi Tuyệt cũng buông đao đứng thở
dốc. Cả hai ướt đẫm mô hôi và mệt đứt
hơi trong khi Nhương Thư chỉ lấm tấm
ướt trán, sức lực còn rất sung mãn!
Khánh Hỉ đại sư, phương trượng chùa
Thiếu Lâm hân hoan tán dương:
- Lành thay! Lành thay! Bản lãnh của
Tần thí chủ đã khiến bọn lão nạp thêm
yên lòng khi phải đối phó với tà ma!
Nhương Thư nghiêm giọng:
- Tiên sư từng nói rằng Thần Quang
Chưởng Pháp lợi hai vô song, tiểu đệ
không dám chắc mình có thể chống lại
nên chỉ tận lực mà không bàn đến kết
quả!
VÔ ưu Cái kết luận rất lạc quan:
- Tấm thân sắt thép của ngươi chính là
khắc tinh của Thần Quang Chưởng Pháp!
Gậy sắt ngươi còn không sợ mà !
Cả nhà cười vang, công nhận lão rất có
lý! Đêm đến, Nhương Thư chợt phát hiện
mình đang có ý định sang ngủ chung với
Thu y Sơn, liền mỉm cười tự chế giễu:
- Lạ thực! Chẳng lê ta lại mê gã họ
Bạch rồi!
Chàng quyết định không đi và trằn trọc
mãi, cuối cùng cũng xuống giường sang
gõ cửa phòng Thu y Sơn. Gã mở cửa tủm
tỉm hỏi:
- Sao đại ca không ngủ chung với ba
chị em họ Điền mà cứ tìm đến tiểu đệ?
Nhương Thư thực thà đáp:
- Ta cũng muốn như vậy nhưng sợ
bụng họ lớn ra thì nguy to ! Ngủ với ngươi
chắc ăn hơn !
Thu y Sơn bật cười, kéo Nhương Thư
vào phòng. Cũng như hôm qua, gã đi
xuống nhà vệ sinh rồi mới lên giường.
Nhương Thư ôm gã, khoan khoái nói:
- Quỉ quái thực ! Nằm cạnh ngươi ta
bỗng nghe ấm áp và thư thái tâm hồn!
Chàng đặt tay trái lên ngực phải Thu y
Sơn mà trò chuyện. Lát sau, theo thói
quen trong những ngày sống với Bạch
Ngọc Tiên Tử, chàng bất giác mơn man
vú gã. Thu y Sơn nhột nhạt, gạt tay
chàng ra và hò i :
- Phải chăng đại ca đã kinh qua chuyện
mây mưa nên mới có cử chỉ này? Tiểu dê
đoán nữ nhân ấy chính là Bạch Ngọc Tiên
Tử?
Nhương Thư vô cùng khâm phục đầu
óc Thu y Sơn, ngượng ngùng thú nhận:
- Bạch hiền đệ đáng mặt tri kỷ của ngu
huynh! Ta cùng Lâm Đại Ngọc đã có
những ngày ân ái mặn nồng!
Chàng thở dài rồi nói tiếp:
- Ta đang lo lắng không thấy Lâm
nương đến Nam Dương! VÔ ưu Cái đã
cho đệ tử đi kiếm khắp thành mà chẳng
c Où âm hao !
Thuý Sơn an ủi chàng:
- Chắc vì bận gia sự nên Lâm Đại Ngọc
chưa đế n đượ c. ĐÃ i ca co lo cu ng
chẳ ng ì ch gì , ha y cố ngủ sớ m để
mai co sứ c ma tiêu diệ t La TAä p
Hiề n!
Nhương Thư ta n tha nh, lạ i ớ.ă t tay
lên ngự c Thu y Sơn rồ i nhắt m mắ t.
Cha ng ngủ rấ t say ma họ Bạ ch vẫ n
thao thư c, đôi mắt t nhung đen huề n
da n va o gương mặt t thanh tú , trưng
li.â u cu a Nhương Thư. Cha ng trai họ
TAà n không xứ ng danh mỹ nam tử
nhưng cu ng đủ để bọ n thê thuế p
ha nh diệ n. Thu y Sơn khe thơ da i,
nhẹ nha ng xoay ngưu i Nhương Thư
nằ m ngữ a ra, ôm lấ y cha ng ma
thuế p đi!
Sa ng hôm sau đa la nga y đầ u
tha ng hai, ăn điể m tâm xong, bọ n
Nhương Thư lên ngự a đi đế n Sa p Vân
Phong, ca ch cu a bắ c tha nh Nam
Dương chí n d.ă m.
Sa p Vân Phong (nụ i xuyên mây) cao
gầ n nga n trưa ng, đi nh luôn phủ đầu y
băng tuy t, hoặ c chì m trong nhừ ng
đa m mây mu a li.a . TẾ t nhiên, chẳ ng
ai d.a i gì ma leo lên đế n tậ n ngọ n
để tỷ đế u, ma ngưu i ta cho n Sa p
Vân Phong vì mộ t lý do kha c: sườ n
Nam cu a no co mộ t bì nh đa i bằ ng
phẳ ng, rộ ng đế n va i chu c mẫ u, đủ
sứ c chư a ha ng y.a n kha n gia . Hai
la , bì nh đa i na y bi ca t rờ i kho
nu i mẹ bằ ng mộ t khe sâu hun hu t,
mi t mu sương kho i nên chẳ ng thế y
đa y đâu.
Bì nh đa i cao độ bố n chu c trưa ng
nhưng khe vự c thì sâu hơn nhiề u. No
chỉ rộ ng ba y ta m trưa ng, hoa n
toa n thuế u dươ ng khí nên không ai
co thể xuố ng đế y ma tha m hiể m,
đo đa c ĐẾ y mớ i la lý do chí nh
đa ng để nhứ ng ke oa n thu nhau
cho n Sa p Vân Phong la m mồ chôn!
Họ se tha ch đế u chí chế t rồ i hấ t
xa c đố i phương xuố ng vự c, đơ tố n
cho gia đì nh n.a n nhân mộ t chim c a o
quan!
Xa hộ i na o cu ng co lu.â t pha p,
va việ c che m giết t nhau luôn bi ca m
đoạ n. Tuy nhiên, vo lâm Trung Hoa co
lụa t lệ riêng cu a mì nh. Pha m la
nhứ ng ke đa tự xưng la kha ch giang
hồ đề u pha i tuân thủ . Nghĩ a la , trừ
trưa ng hơ p bi a m sa t, vợ d.a i con
thơ không phương ba o phụ c, mớ
đượ c nhờ đế n nha môn. Kỳ dư, anh
em con cha u đề u pha i tự lự c ba o
thu hoặ c mướ n bằ ng hữ u vo lâm
hỗ trợ . điề u na y co n xuấ t pha t từ
tâm lý muố n tự tay đâm che m, giết t
chế t ca i ke khố n khi p đa la m li.a
ngưu i thân cu a mì nh!
TÓ m lạ i, quan quân đi a phương luôn
ta ng lờ trưa c mộ t cuộ c thanh toa n
cu a bọ n ha o kha ch, ai chế t mặ c ai,
không co đơn kiệ n la xong! Lương
bổ ng thì chẳ ng bao nhiêu, lo toan
như ng vụ trộ m y.ă t đa mệ t, hơi đâu
để ý nhừ ng ke thí ch chế t Oà n a o?
ĐAà u giờ thì n thì bì nh đa i đa
ng.â p tra n hơn ba nga n ha o kiệ t vo
lâm từ khắp p bố n phương ke o đế n.
Xem tỷ vo la mộ t lạ c thu , mộ t
phần n đờ i cu a kha ch giang hồ . DAã u
đang đu ng vụ mu a g.ă t ha i, đa m
đa n ông vô tí ch sự na y cu ng bo
đế y cho vợ con rồ i lên ngự a đi đế n
nơi co ca nh ma u cha y đầ u rơi! Khi
trơ về , họ lạ i uổ ng phí thêm ha ng
tha ng nữ a để lê lề t nơi tra lâu tử u
qua n, oang oang kể lạ i cho ngưu i Ơ
quê mì nh nghe như ng gì đa xa y ra
để đượ c ca i tiế ng la kiế n văn rộ ng
ra i!
Quần n hu ng luôn đế n sớ m để thự c
hiệ n mộ t việ c lý thu la ca cượ c
xem ai thắt ng! Cuộ c đo đen se khi n
ngưu i xem ha o hư ng hơn vớ i tí.â n
đế u Và trong vo lâm nhứ ng chuyên
gia tổ chư c ca độ luôn hiệ n diệ n
trong bế t cứ thi nh hộ i na o. Họ đề u
la nhứ ng tay ớ.a i phu , hầ u bao luôn
đây ắ p ngân phiếu u, ba o đa in chung
chi đây đủ cho ngưu i tham dự . Ke
nổ i tiế ng nhất t co tên la Huế t ĐỔ
Thần n Cu Kim Dụ ng, năm nay đa gầ n
ba y chu c tuổ i. Nha họ Cu Ơ ngay
đế t Nam Dương na y nên không thể
vắ ng mặ t đượ c!
Ngoa i ta hôm nay co n hiệ n diệ n
mộ t nhân y.â t nổ i tiế ng nữ a la Tư
BẾ t ĐỔ Vu Trưa ng Lụ c, ngưu i đế t
Hồ BAé c.
Danh hiệ u cu a hai la o tổ sư cờ
bạ c na y tuy ha m ý chế t cho c, ma u
me, song chẳ ng co qua i gì la đa ng
sợ ! Huế t ĐỔ Thần n chuyên về ca c
cượ c nhừ ng tí.â n so ta i, thưa ng bắ t
ca ai la ngưu i bi thương trưa c. Co n
Tư BẾ t ĐỔ chỉ co nghĩ a la họ Vu
sẵ n sa ng đa nh cượ c vớ i bế t ky ai,
trừ ngưu i đa chế t!
Huế t ĐỔ Thần n đừ ng trên mộ t go
cao, chung quanh co mườ i ga thủ li.a ,
tay cầ m nhừ ng xế p giấp y tri gia từ
mườ i lượ ng đế n nga n lượ ng bạ ch
ngân. Họ Cu sang sa ng tuyên bố :
- La o phu bắ t Chí nh Khí Trang
chủ La TAä p Hiề n thắt ng, tỷ lệ la
mộ t ăn hai!
Ca ch đế y không xa, Tư BẾ t ĐỔ
Cu Kim Dụ ng cu ng rao :
- La o phu bắ t TAà n công tử thắt ng
mộ t ăn ba!
Hai la o kha c ý nhau sao chẳ ng ca
vớ i nhau cho xong? Thưa rằ ng lu.â t
cu a nghề ca cượ c không cho phe p
hai đầ u n.â u đế u vớ i nhau! Thế la
quần n hu ng tù y theo pha n đoạ n cu a
mì nh, mo c hầ u bao để lấ y như ng
ma nh giấp y co đo ng mộ c cu a họ
Cu hay họ Vu !
Huế t ĐỔ Thần n lạ i giơ đế n chiêu
ma u me:
- La o phu bắ t TAà n công tử thọ
thương trưa c, tỷ lệ mộ t ăn bố n!
BỌ n Nhương Thư đa co mặ t, chi
em họ điề n tứ c lộ n ruộ t khi thế y
la o họ Cu kia cứ trù e o cho tì nh
quân cu a mì nh thua vớ i trú ng đo n,
liề n ba n bạ c cu ng nhau. Uyể n Xuân
ho i Ma Lan!
- Nhi thư! Chu ng ta co n bao nhiêu
va ng?
điề n Ma Lan đa p:
- Hơn b a y.a n lượ ng !
Uyể n Xuân li.â in hự c no i:
- Thế thì chu ng ta se bo ra hai
vạ n lượ ng để ca c vớ i la o mặ t
ngự a đa ng ghe t kia!
Na o ngờ điề n Bạ ch Cu c lạ i ba o:
- Chỉ cầ n chư a số le , Tứ muộ
cứ đặ t ca ba y.a n cho la o ta sạ t
nghi p luôn!
Ma Lan th.â n trọ ng ba o:
- Để ta xin ý kiế n tướ ng công xem
sao, nể u tự ý la m ca n cha ng se
giật n đế y!
Ba na ng ra o bướ c đế n chỗ
Nhương Thư va ca c chìm ng môn,
trì nh ba y ý đi nh. Nhương Thư nhí u
ma y suy nghĩ mộ t lu c rồ i mỉ m
cươ i:
- Thắt ng thì không chắt c nhưng việ c
kiế m va i giọ t ma u trên ngưu i họ
La thì chẳ ng kho . Ca c na ng cứ
la in đi!
Ba a tiên nga mờ ng rơ ch.a y đế n
khu vực c cu a Huế t ĐỔ Thần n. Uyể n
Xuân cao giọ ng ho i:
- Na y la o Cu ! ông mang theo bao
nhiêu vố n v.â y?
Cu Kim Dụ ng đắ c ý đa p :
- Mườ i v.a n lượ ng hoa ng kim, liệ u
co đủ không?
Uyể n Xuân cườ i nh.a t:
- Không đu ! BỔ n cô nương đi nh
đặ t đế n ba v.a n lượ ng, bắ t họ La
lưu huế t trưa c. Vi chi la o pha
chung mườ i hai v.a n lượ ng ! Ha y cho
ngưu i về lấ y thêm đi!
Quần n hu ng chế n độ ng trưa c mo n
ca cượ c khổ ng lồ , ba n ta n rấ t na o
nhiệ t Ngay Huế t ĐỔ Thần n cu ng
run sợ trưa c ma u liề u cu a ba cô ga
họ điề n, nhưng không nh.â n thì co n
gì thanh danh cu a Huế t ĐỔ Thần n
nữ a? Cu la o cắ n răng no i vọ ng về
phí a Tư BẾ t ĐỔ :
- Vu la o ớ.ê cho ta mượ n năm y.a n
lượ ng ngân phiếu u!
Vu Trưa ng Lụ c la mộ t la o gia to
be o, mặ t tro n, mắ t hí , đầ y ve mưu
mẹ o. La o đi đế n, đế in ngân phiếu u
trao cho đồ ng nghi p rồ i hờ hữ ng
no i:
- Sau tí.â n na y Cu la o huynh co
thể gia i ngh.ê đượ c rồ i đế y! Tiể u
đệ xin tha nh th.â t chia buồ n!
Huế t ĐỔ Thần n ta i mặ t nhưng
vẫ n no i cư ng:
- La o phu nhì n ngưu i chưa hề lầ m
bao giờ !
Ma Lan trao ngân phiếu u cho đố
phương, sắ c diệ n vẫ n an nhiên tươi
ta n, đôi mắt t trong veo tra n ng.â p sự
tự tin. Tra i lạ i, Huế t ĐỔ Thần n run
tay, mặ t mu i rầ u rĩ như đưa đa m.
Cu la o không ngờ Nhương Thư co
ba mụ vợ hiế u thắt ng va xem va ng
như đế t ca t. Trong đờ i cờ bạ c, chưa
bao giờ la o lạ i ph.â p phổ ng, lo sợ
đế n thế na y!
La o rủ a thần m ba a họ điề n đi
theo trai ma va c đế n mế y v.a n
lượ ng va ng, đu ng la thư con bế t
hiế u! NỂ u tí nh ca số bạ c cu a quần n
hu ng thì thua keo na y la o se mế t
đừ t mườ i lăm v.a n lượ ng va ng !
Khổ thay, co nhiề u ngưu i noi
gương chi em họ điề n, ớ.ă t cượ c
va o Nhương Thư, la m cho số va ng
nga y ca ng tăng, sắ p bằ ng toa n bộ
cơ nghi p cu a họ Cu Ơ Nam Dương !
GAà n cuố i giờ Thì n thì La TAä p
Hiề n va lự c lượ ng Chí nh Khí Trang
đế n nơi, la o tươi cườ i vo ng tay cha o
ca c chìm ng môn:
- Không ngờ chư vi lạ i li.a cố gia
lâm để quan chế n! Đây qua la mộ t
vinh dự lớ n lao cho tạ i h.a !
VÔ ưu Ca i nghiêm giọ ng:
- La tú c h.a va TAà n công tử đề u
la nhân ta i kiệ t xuấ t, la tướ ng tiên
phong trong sự nghi p gia ng ma, v.ê
đa o, do v.â y bọ n la o phu chẳ ng thể
vắ ng mặ t. Trưa c hề t, hộ i đồ ng vo
lâm mong rằ ng cuộ c tỷ vo na y chỉ
phân thắt ng bạ i trong vo ng mộ t canh
giờ , không nhà t thuế t pha i co ngưu
chế t mớ i thôi! Thư hai, do số va ng
ca cượ c cu a đồ ng ớ.a o vo lâm đa
lên đế n va i chu c lượ ng va ng nên
song phương không đừ ơc mặ c a o
gia p. TỐ t nhất t la nên cơ i trần n để
giao đế u!
La TAä p Hiề n biế n sắ c nhưng
không thể pha n đố i vì mế y nga n
ca i họ ng đa ngoa c ra ta n tha nh.
La o li.â m hự c ho i:
- Họ ca thế na o?
VÔ ưu Ca i cườ i đa p:
- Ai la ngưu i trú ng kiế m, cha y
ma u trưa c !
Phe bạ ch ớ.a o không hề tiế t lộ
việ c La TAä p Hiề n qui phụ c ĐỘ c
Biể n Thưa c, khi n họ La vẫ n cố
giừ ca i vo bọ c danh mộ chí nh
pha i, pha i tuân phụ c hộ i đồ ng vo
lâm.
Lú c hai đố i thủ cơ i a o, ca c
chìm ng môn thế y La TAä p Hiề n mặ c
mộ t chim c a o lo t bo sa t, dầ y va
đen bo ng, biế t đế y la ba o y, song họ
ta ng lờ như không! Khi họ La bướ c
về phí a bờ vự c thì Kha nh Hỉ ớ.a
sư mơ i no i :
- A di đa ph.â t! NỀ u không co cao
kế n cu a Cao thí chủ thì Nhương
Thư đa nguy rồ i! Chim c a o lo t đen
ế y chí nh la HAé c Giao Bì Gia p cu a
gia o chủ Ha i Long Gia o ngoa i biể n
đông !
BẾ t Trí Thư Sinh đượ c khen ma
ne t mặ t vẫ n ưu tư. La o thơ da
ba o:
- La o phu cu ng đa nh.â n ra y.â t ế y
va lo rằ ng Ha i Long Gia o cu ng đa
liên minh vớ i ĐỘ c Biể n Thư c!
Chưn ng môn pha i Hoa Sơn la
Ngọ c Tâm Tư lên tiế ng:
- Việ c ế y tí nh sau! Giờ chu ng ta
pha i gia in sa t tí.â n đế u na y ca i đa !
Nhương Thư cu ng đa ra đế n đế u
trưa ng, đừ ng ca ch đố i thủ ba
trưa ng. Thân hì nh rắ n chắt c đầ y
như ng mu i thi t rấ t ớ.e p cu a cha ng
đa khi n mế y trăm na ng nữ hiệ p
xao xuy n! Họ đông nên chẳ ng sợ ba
a cọ p ca i họ điề n, công khai ta n
dương Nhương Thư bằ ng nhừ ng câu
đại loa i như:
- cơ thể TAà n công tử tuy.ê t ớ.e p
va đầ y nam tí nh!
- Ai đượ c la m vợ cha ng se la ke
di ê m phu c nhất t trên đờ i !
- Ta ma đượ c ngủ chung vớ
cha ng mộ t đêm rồ i chế t cu ng ma n
nguy.ê n!
Chi em họ điề n tứ c ca nh hông
ma cha ng la m đượ c gì , chỉ thần m
mắ ng bọ ga i lẳ ng lơ, da m mơ
tươ ng đế n chồ ng cu a ngưu i kha c!
Nhưng toa n trưa ng bố ng choa ng
voa ng vì mộ t câu no i rấ t lớ n:
- Cha ăn cướ p thì con cu ng cha ng
ra gì !
Đu ng như dự đoạ n cu a VÔ ưu Ca
va BẾ t Trí Thư Sinh, phe đố i phương
se cho ngưu i nhu c mạ để la m rồ
loa n tâm trí Nhương Thư. Đa đượ c
d.ă n trưa c, Uyể n Xuân cao giọ ng:
- Ai giết t đượ c ke vờ a xu c ph.a n
TAà n công tử se đượ c thư ng năm
trăm lượ ng va ng!
Thế la mộ t go c cu a rờ ng ngưu
bồ ng nhố n nha o, hỗ n loa n, vang lên
tiế ng đế m đa chìm i thề o m to i.
La t sau, mộ t toa n ha o ha n lôi xề nh
xe ch mộ t xa c ngưu i đế n giao cho
Uyể n Xuân. M.ă t mu i cu a n.a n nhân
đa d.â p na t, sưng vu , chẳ ng thể
nhập n ra dung mạ o nữ a. TẾ t nhiên, ga
đa chế t queo dướ i tay cu a đa m đông.
điề n Ma Lan vui ve lấ y ngân
phiếu u trao cho họ va no i lờ i ca m
tạ BỌ n ha o kha ch vờ a đi vờ a ca
cọ :
- Sao ta chỉ đượ c hai chu c lượ ng?
Chí nh ta đa đế m ga kia ca chu c
quyền n cơ ma ?
- Ta pha i được trăm lượ ng vì đa
liề u mạ ng lăn va o ôm ch.ă t chân ga
để ca c ngươi li.a thủ !
Cuố i cu ng thì cu ng chia cha c êm
xuôi, va toa n trưa ng bắ t đầ u chu ý
nhứ ng ke đừ ng gầ n, chờ ai đo mơ
miệ ng chứ i la xông đế n ngay! Nhưng
tiế c rằ ng ca i chế t cu a tên kia đa
khi n bọ n gian tế sợ ha i, chẳ ng
da m lên tiế ng nữ a! Lú c na y VÔ ưu
Ca i đa no i lờ i khai tí.â n:
- Theo quy cu vo lâm, TAà n công tử
nho tuổ i hơn nên đượ c quyền n xuấ t
thủ trưa c ! Xin mờ i !
Nhương Thư va La TAä p Hiề n đề u
đừ ng ca ch xa me p vự c hai trưa ng,
kiế m tuố t trần n dự ng trưa c mặ t, ta
thủ bạ t ế n kiế m!
Ai cu ng đoạ n rằ ng ngay chiêu đề u
song phương se thi triể n ngự kiế m
thu.â t vì co đủ khoa ng ca ch. Qua
đu ng thế , Nhương Thư loang kiế m
ho a tha nh ớ.a o ha o quang ma u hồ ng
bay vu t đi.
Quần n hu ng ngơ nga ng khi thế y
cha ng không nhà m va o La TAä p
Hiề n ma lạ i bay lệ ch kho i mụ c tiêu
hơn trưa ng. Ngay ba n thân họ La
cu ng cha ng hiể u gì ca , chỉ co n
ca ch xoay ngang ma pho ng thủ . Na o
ngờ , Nhương Thư độ t ngộ t be go c
vuông, lao về phí a La TAä p Hiề n.
Chiêu thư c qua i đi na y đa khi n
la o ta hoa n toa n bi độ ng, đa nh
nghi n răng mu a kiế m chỗ ng đo .
Luồ ng kiế m kì nh ma nh liệ t đa
ch.ă n bớ t lự c ớ.a o cu a chiêu ngự
kiế m nên Nhương Thư không đủ sứ c
giết t đố i phương nữ a. Hai thanh the p
ch.a m va o nhau cha t chu a, kiế m
quang loang loa ng la m hoa mắt t
ngưu i xem. Co tiế ng ai rên khe khe ,
va Nhương Thư tung mì nh nha y lui
hai trưa ng, đừ ng mỉ m cườ i!
Quần n hu ng hoan hô như sấ m d.â y
khi thế y bạ p tay tra i va ngự c cu a
Chí nh Khí trang chủ La TAä p Hiề n
ra ch hai đườ ng, ma u loang hồ ng la n
da trắt ng tre o !
Nhương Thư đa thi triể n chiêu Kí nh
Đa o Quang Phương, đa thương họ La
để thê thuế p ẵ m trọ n mườ i hai y.a n
lượ ng va ng cu a Huế t ĐỔ Thần n.
Cha ng không ưa ca i nghề cờ bạ c
trên xuống ma u cu a họ Cu ! Uyể n
Xuân nha y nho t reo vang:
- Thắt ng rồ i !
ca c na ng ch.a y đế n Huế t ĐỔ
Thần n để nh.â n ca vố n lẫ n lờ i.
Như ng ha o ha n theo phe Nhương Thư
cu ng nhao nhao đo i nợ . Chỉ nữ a
khắp c sau, Huế t ĐỔ Thần n trơ tha nh
ke nghe o mạ t r.ê p. La o cu ng không
hy vọ ng va o số va ng thắt ng cượ c
khi Nhương Thư bạ i tr.â n, vì xem
cha ng chẳ ng thể thua đượ c .
Lú c na y tr.â n đế u đa trơ nên
quyết t liệ t, hai kiế m thủ quế n lấ y
nhau như hì nh vớ i bo ng, đổ i đo n
như chớ p giật t. Công lự c họ La thâm
li.â u gấ p bộ i Nhương Thư nhờ như ng
viên huế t đan cu a H.a t Nha n Thần n
Ma, nhưng kiế m pha p la o lạ i ke m
Nhương Thư mộ t bậ c.
Huế t Tâm Kiế m Pha p lợ i h.a
nhờ Ma âm, nay họ TAà n sơ đắ c
thần n công Ph.â t môn, ba ch ta bế t
nhập, nên pho kiế m kia mế t đi hiệ u
dụ ng.
Sau lầ n tỷ đế u vớ i HỘ Sơn Ba t
Thi V.ê , kiế m thu.â t cu a Nhương Thư
đa kha c xưa, va cha ng co n tiế n bộ
hơn nữ a khi pha i mộ t mì nh chỗ ng
cho i vớ i Thu y Sơn, Hoa ng Nghi
Tuy.ê t. Ph.â t Đăng Kiế m Pha p mầ u
nhiệ m khôn cu ng, ca ng luỵ.ê n ca ng
xâm nh.â p va o chỗ uyên thâm va
không hề co giở i h.a n.
Trì nh độ kiế m thu.â t siêu pha m
cu a Nhương Thư đa bu đắ p đượ c sự
thua su t về chân khí , giũ p cha ng
chim m đượ c thư ng phong, sau nữ a
canh giờ đa r.a ch sa u vế t thương trên
cơ thể La TAä p Hiề n. TẾ t ca đề u
không sâu va Nhương Thư luôn pha
rú t kiế m về để pho ng Thần n Quang
Chưn ng Pha p. NỂ u mu i kiế m cắ m
ng.â p va o xương se bi k.e t lạ i, du
chỉ trong khoa ng khắp c nhưng cu ng
đủ cơ hộ i cho họ La pha n kí ch.
ĐẾ u pha p khôn ngoan na y đa
khi n La TAä p Hiề n vô cu ng cha n
na n. La o đa âm mưu đa nh le n mộ t
đo n pha ch không chìm ng để kế t
thu c ngay ma cha ng để lộ thuỷ.ê t
họ c Thần n Quang Chưn ng Pha p. Ngờ
đâu, Nhương Thư lạ i biế t trưa c việ c
la o lạ y ĐỘ c Biể n Thư c la sư phụ
nên co sẵ n ca ch đố i pho .
Tá m vế t kiế m thương đa biế n họ
La tha nh mộ t con người i ma u, trông
rấ t thê tha m. Thế la nhứ ng ngờ
bắ t độ Nhương Thư ga o lên, yêu cầu u
la o ta chi u thua.
VÔ kế kha thi, La TAä p Hiề n
quyết t đi nh thi triể n tuy.ê t họ c Thần n
Quang Chưn ng Pha p, bế t chế p việ c
mế t đi vo bọ c chí nh pha i. La o bế t
ngờ tung mì nh lu i xa, thoa t kho
tầ m kiế m cu a Nhương Thư, rồ i lạ
ậ p va o bằ ng mộ t thân pha p ch.â p
chờ n như ma muộ i, ta thủ khoa
nhanh, ve nên nhữ ng vo ng chươ ng
qua i đi .
Nhương Thư biế t đa đế n hồ
quyế t liệ t, dồ n chân khí ba o v.ê tâm
thấ t rồ i lướ t đế n tiế p chiế n bằ ng
chiêu Đăng Ho a Đương Phong. Thanh
huyế t kiế m rí t lên nhữ ng tiế ng như
xe lụ a, kiế m a nh gồ m mườ i ta m
ngọ n lư a hồ ng chao đa o trướ c
luồ ng chươ ng kì nh vu ba o. Chiêu
tuyệ t kiế m Ph.â t Môn đa xe na t
đượ c hầ u hế t nhữ ng vo ng tro n
chươ ng a nh, nhưng vẫ n co n so t lạ i.
Nhương Thư nghe bụ ng, ngự c đau đớ n
như bi chu i sắ t nện va o, song vẫ n
cắ n răng tiế n lên
La TAä p Hiề n đa bồ i thêm bằ ng
mộ t chiêu kiế m Ơ tay pha i, đinh ninh
se thủ lợ i. Song Nhương Thư chẳ ng
hề gẫ y xương, đườ ng kiế m vẫ n co n
ma nh liệ t va thần n tố c. Huế t kiế m
xuyên qua khe hơ , đâm thẳm ng va o ma
tra i, r.a ch xe p xuố ng hớ t đừ t me p
va mộ t phần n môi dướ i cu a họ La .
Mũ i kiế m co n ch.a m va o răng
khi n La TAä p Hiề n tê ta i ca đầ u
o c, vộ i đa o bộ lu i xa. Quần n ha o
hoan hô Nhương Thư vang dộ i du
miệ ng cha ng đang rỉ ma u tươi. Co
ke no i oang oang:
- O i cha ghê qua ! M.ă t cu a họ La
tiêu mẹ no rồ i!
TẾ t nhiên La TAä p Hiề n cu ng biế t
thế , la o điể m huy êt chỉ huy t, nuố t
vộ i mế y viên linh đan đo tươi, ne m
kiế m đi rồ i mu a song chỉ ậ p va o.
Khi la o sừ dụ ng hai tay thì mọ
ngưu i mớ i thế y hề t đượ c sự lợ
li.a i cu a Thần n Quang Chưn ng Pha p.
ĐẾ y la La TAä p Hiề n mớ i luỵ.ê n
không bao lâu, nề u như ĐỘ c Biể n
Thưa c ra tay thì ca ng bộ i phần n
đa ng sợ .
Song chìm ng cu a họ La từ
khoa ng ca ch hơn trưa ng liên tiế p
gia ng va o ngưu i Nhương Thư. Cha ng
lướ t đế n thì la o ta đa hoa n vi vớ
mộ t bộ pha p ky a o tuy.ê t luân.
Nhương Thư trú ng đế n ta m chí n
chìm ng, ma u miệ ng tra o như suố
nhưng vẫ n không chi u gụ c nga .
Ba nữ nhân họ điề n bậ t kho c nữ c
nơ co n nhứ ng ngưu i thân kha c thì
mặ t ma y n.ă ng trĩ u lo âu. BẾ t Trí
Thư S inh thơ da i no i :
- La TAä p Hiề n chỉ họ c đượ c co
ta m chiêu Thần n Quang Chưn ng Pha p,
thế ma Nhương Thư cu ng không đi ch
lạ i ! Võ lâm nguy mế t rồ i !
VÔ ưu Ca i chợ t ngắt t lờ i:
- Xem kì a !
Thì ra Nhương Thư đa bi đố
phương dỗ n đế n me p vự c, kiế m
quang che kí n thân mì nh, không trú ng
đo n nhưng b i sứ c pha n chế n đẩ y đi .
La TAä p Hiề n nơ nụ cườ i đanh
a c, mu a tí t song thủ , ve nên ta m
chìm ng a nh mu mờ , chu p lấ y mụ c
tiêu Dĩ nhiên la o pha i du ng lạ
chiêu đa thi triể n mế y lầ n.
Tiế ng rú thế t thanh cu a ba a họ
điề n vờ a cấ t lên thì Nhương Thư
cu ng bế t ngờ xê đi ch sang me hữ u
mộ t bướ c rồ i bay vu t lên không
trưng, sa xuố ng như nha t bu a cu a lôi
thần n. Thân hì nh cha ng ẩ n kí n trong
luồ n kiế m a nh hì nh ngọ n lư a duy
nhất t, phờ t hồ ng nhờ hai sợ i chỉ
ma u do c trên huế t kiế m.
La TAä p Hiề n vộ i cư chìm ng đẩ y
liề n sa u ớ.a o chìm ng phong để ch.ă n
đườ ng ga họ TAà n, ngơ rằ ng co thể
đa nh văng đố i phương xuố ng vự c
thẳm m. Tiế c rằ ng chiêu Thiên Ho a
Gia ng Ma lạ i la chiêu Ngự Kiế m
duy nhất t trong vo lâm co thể thi
triể n Ơ khoa ng ca ch gầ n va từ trên
cao đa nh xuố ng. Do y.â y, huế t kiế m
đa xe na t ca c ớ.a o chìm ng kì nh,
tiệ n dư t ta thủ va cắ m xuyên va o
ngự c La TAä p Hiề n, theo tư thế xe o
tư trên xuố ng.
Nhương Thư đa tha nh công nhưng
hoa n toa n kiệ t lự c bơ i nhứ ng vế t
chưa ng thương va chiêu Ngự Kiế m
lu c na y. Cha ng mệ t mo i đế n mứ c
không ta i na o di chuyể n đượ c nữ a,
chỉ đừ ng thơ hồ ng hộ c . Nhưng La
TAä p Hiề n chưa chế t du ma u trong
phổ i tra o ra khoe miệ ng. La o trợ n
mắ t căm hờ n lẩ m bẩ m:
- Ngươi thua rồ i ! Trờ i sinh la o phu
co tra i tim Ơ ngự c pha i !
DỪ t lờ i, la o vung cướ c đa mạ nh
va o bụ ng Nhương Thư, hấ t văng
cha ng xuố ng vự c thẳm m, ca ch đế y
chưa dế n mộ t trưa ng! Diễ n biế n
na y vượ t ngoa i dự kiế n cu a mọ
ngưu i. Họ đang reo ho hoan hô
Nhương Thư, na o ngờ ke pha i chế t
lạ i la cha ng !
Ngưu i thân cu a Nhương Thư ba ng
hoa ng đau đớ n đế n mứ c chế t đừ ng
như trờ i trồ ng. Nhưng Bạ ch Thu y
Sơn lạ i pha n ứ ng kha c, ga nhanh
cho ng lướ t như tên bắ n về phí a La
TAä p Hiề n, khi co n ca ch hơn mộ t
trưa ng đa ne m mạ nh mộ t y.â t hì nh
tru Tra i Bạ t Sơn Thần n Lự u nổ vang
trờ i, xe tan thân thể họ La , va co n
la m cho lớ p truy t trên sườ i nu
Sa p Vân Phong lơ ra, trú t xuố ng vự c
thẳm m. Không hề dư ng chân, Thu y
Sơn tiế p tụ c lao đế n me p vự c, the t
lên ai oa n:
- TAà n ớ.a i ca!
RỒ i ga gieo mì nh xuố ng khoa ng
không gian mi t mu sương kho i va
tuy t vụ n. BỌ n VÔ ưu Ca i vộ i điể m
huy.ê t ba chi em họ điề n để đề
pho ng vụ tự sa t thư hai, rồ i mớ
ke o đế n ca nh khe vự c ma quan sa t.
Tuy t vẫ n tru t xuố ng Oà ạ t, tạ o
nên tiế ng độ ng ầ m ầ m như sấm. Ca c
chìm ng môn nhì n nhau tuy.ê t vọ ng,
biế t chắt c hai anh em Nhương Thư
không thể na o số ng so t.
La t sau quần n hu ng gia i ta n, ng.â m
ngù i ca ngợ i tì nh bằ ng hữ u giừ a
Thu y Sơn va Nhương Thư.
Nhưng nề u để hai ga TAà n, Bạ ch
chế t đi thì đu ng la trờ i cao không
co mắ t hay sao? V.â y thì họ pha
số ng so t, song bằ ng ca ch na o?
Trưa c tiên chu ng ta ha y quay lạ
vớ i TAà n Nhương Thư, cha ng trú ng
cu đa cu a La TAä p Hiề n trong lu c
tay vẫ n nắ m ch.ă t chuôi kiế m. Khi
văng đi, lươ i kiế m bi rú t ra, ca n bớ t
đa b ay nên rơi ra t sa t va ch vự c . .
Nhương Thư vì qua kiệ t sứ c nên
không co n vẫ y vu ng đượ c nữ a, để
mặc c thân thể gieo xuố ng. May thay,
khi rơi đượ c chu c trưa ng, mông
cha ng ch.a m va o ta n cu a mộ t loa
cây lạ mọ c trên va ch. Nha nh cây
ga y răng rắc c va cha ng tiế p tụ c rơi,
nhưng lạ i ch.a m cây thư hai, thư ba,
va cuố i cu ng nằ m lạ i trên ta n cây
thư mế y không ro . NỖ i đau Ơ mông,
lưng đu i đa khi n cha ng tỉ nh ta o
lạ i, ngồ i lên mo c hũ linh đan nuố t
liề n bố n viên. Đây la qua tặ ng cu a
BẾ t Trí Thư Sinh, la o đa tạ n dụ ng
ta i sa n cu a nha họ điề n để mua
dự ơc liệ u quý, ba o chế thuở c gia
Tiêu Trưa ng Vụ , tiệ n tay la m i t
thuở c tri nộ i ngoạ i thương!
BỐ ng cha ng nghe mộ t tiế ng nổ
ầ m từ trên vọ ng xuố ng, đoạ n rằ ng
phe mì nh đa sư dụ ng Bạ t Sơn Thần n
Lự u. Nhương Thư ngưu c lên nhì n,
pha t hiệ n mộ t bo ng va ng sa xuố ng.
Không hiể u vì sao cha ng lạ i nghĩ
đế n Bạ ch Thu y Sơn, co le vì sa ng
nay ga đa mặ c mộ t bộ vo phụ c
va ng rấ t diêm du a. Chẳ ng chu t
chần n chư , Nhương Thư tho hữ u thủ
chu p lấ y ca nh tay đang đang rộ ng
cu a n.a n nhân. Đa rơi qua mạ nh giật t
trố c gồ c cây kho i va ch, rơi xuố ng
đa y vự c ca ch chư ng mườ i trưa ng.
Chân Nhương Thư qu.ă p chắt c ta n cây
nên ca hai ngưu i vẫ n dí nh lạ i Ơ đây,
rơi bằ ng tố c độ vớ i ca i cây ky lạ
kia. Đa y vự c lạ i đầ y la mụ c nên
họ đa số ng so t.
Bạ ch Thu y Sơn du ng tay pha i sư a
khớ p vai ta bi tí.e o do cu giật t, rồ
ôm Nhương Thư kho c vu i :
- Tiể u ớ.ê tươ ng ớ.a i ca đa chế t
nên nha y xuố ng theo. Không ngờ hai
ta lạ i vẫ n co n đượ c g.ă p nhau trên
chỗ n dương gian!
Nhương Thư ca m độ ng đế n ngh.e n
lờ i, ngồ i lên đi u da ng ho i:
- Sao hiề n ớ.ê d.a i thế ?
Thu y Sơn lườ i cha ng:
- Thuế u ớ.a i ca thì tiể u ớ.ê co n
số ng la m gì nữ a?
Lú c na y, tuy.ê t đa rơi xuố ng đế n
đa y vự c, Thu y Sơn vộ i đơ Nhương
Thư d.â y va hớ t ha i no i :
- Tiể u ớ.ê đa du ng Bạ t Sơn Thần n
Lự u xe xa c la o họ La ! Co le vì
vạ y ma la m cho tuy t trên nu i lơ
xuố ng!
Nhương Thư đa suy nghĩ ra t nhiề u
về đi a thế Sa p Vân Phong, ớ.ă t ca
tì nh huố ng rơi xuố ng vự c thẳm m na y
nên bì nh tĩ nh trấn n an:
- Lượ ng tuy t trên sườ n nu i không
nhiề u, chẳ ng thể chôn vu i chu ng ta
đượ c Tra i lạ i, vụ truy t lơ co n
mang lạ i mộ t lượ ng dươ ng khí rấ t
lớ n cho đa y vự c. Hai ta vẫ n co n
khoe mạ nh, lo gì không thoa t lên
nổ i?
Thu y Sơn bồ ng ho i:
- Lú c na y, trưa c khi nha y xuố ng
tiể u đệ co go i rấ t lớ n, ớ.a i ca co
nghe không?
Nhương Thư lắ c đầ u khi n Thu y
Sơn cha n na n:
- NỂ u y.â y thì ngưu i Ơ trên cu ng
chẳ ng nghe thế y chu ng ta !
Ga thế y Nhương Thư kh.â p khi ng
liề n bồ ng lên, lướ t về phí a va ch
vự c hướ ng tây, nơi co ve ì t tuy t
đổ xuố ng. Hai ngưu i mờ ng rơ khi
thế y nơi ế y co mộ t ao nướ c trong
veo nằ in dướ i mộ t độ ng khẩn u Ơ
chân va ch. Họ ẩ n va o đế y cho đế n
lu c tuy t thôi tuôn xuố ng. Không gian
mờ tố i nên Thu y Sơn nh.ă t nh.a nh
ca nh khô chế t tha nh đố ng ca nh bờ
ao, đố t lên cho sa ng su a, va co n hy
vọ ng ngưu i ở trên nhì n thế y.
Trong lu c Nhương Thư điề u tứ c tri
thương, Thu y Sơn quan sa t ao nướ c,
mờ ng rơ khi thế y co kha nhiề u ca .
Ga đeo kiế m khi nha y xuố ng nên
giờ đây co vu khí ma đâm ca ,
đượ c hai con, mộ t lớ n ma u đen, mộ t
nho ma u trắt ng. Thu y Sơn nướ ng
xong thì Nhương Thư cu ng xa công.
Cha ng cơ i phăng chim c quần n da
ra ch na t va đôi vo ha i rồ i nha y
xuố ng ao tắ m ta p. Nghe lưng đau ra t,
cha ng ho i :
- Bạ ch hiề n ớ.ê , lưng ta thế na o?
Thu y Sơn bướ c đế n xem xe t, cườ
ba o:
- Co đế n mế y chu c đương ra ch
nhưng không sâu! ĐA i ca sắ p tha nh
kim cương bế t hoạ i rồ i đế y!
Chờ cha ng tắ m xong, ga lấ y
thu c kim sang xứ c lên, xe a o
choa ng ma băng lạ i. Nhương Thư rấ t
đo i bụ ng vì tí.â n tử chim n nên ăn
sạ ch con ca lớ n. La t sau cha ng nghe
mi ma t n.ă ng trĩ u, liề n nằ m trên sa n
độ ng ngủ vu i. Thu y Sơn ngồ i kế
bên, âu vế m nhì n gương mặt t đôn hậu
cu a Nhương Thư. Thế y cha ng không
co gỗ i, ga be n kê đu i mì nh xuố ng
dướ i đầ u.
Ngủ đượ c hơn khắp c bố ng Nhương
Thư rên rỉ va lăn lộ n. Ngưu i no ng
như lư a. Thu y Sơn kinh ha i lay go
ma cha ng vẫ n không hồ i tỉ nh, ga
sợ qua cha ng biế t la m sao, nằ m ôm
ch.ă t lấ y Nhương Thư ma kho c. Chợ t
ga pha t hiệ n dương y.â t họ TAà n
cương cứ ng liề n ngồ i bậ t d.â y thì
thế y mắ t cha ng mơ lớ n đầ y kha t
vọ ng, hai tay run ra y cố ôm lấ y
mì nh.
Thu y Sơn liề n hiể u ngay con ca
đen kia co dâm tí nh cự c mạ nh nên
đa khum t phụ c ngưu i co đi nh lự c
thâm li.â u như Nhương Thư. Và nể u
lu c na y không đượ c giao hơ p thì
cha ng se chế t hoặ c pha t cuồ ng.
Thu y Sơn thơ da i, tho tay điể m
huy êt Nhương Thư rồ i đừ ng lên thoa t
y Ga chỉ co n mộ t bộ duy nhất t na y
nên không thể để cha ng xe ra ch
đượ c
Pha i chăng Thu y Sơn đi nh giơ tro
kê gian? Thưa không, khi ma nh va
cuố i cu ng rờ i kho i thân thể thì
Thu y Sơn hệ n ro ba n chế t nữ nhi,
chỉ thiên u co đôi nhũ phong nẩ y nơ .
Trờ i sinh na ng không co ngự c nên
tủ i ph.â n ca i nam trang! Na ng yêu
Nhương Thư say đắm m nhưng mà c ca m
ma cha ng da m no i ra !
Nay để cứ u tì nh quân, Thu y Sơn
sẵ n sa ng hy sinh trinh tiế t, vì ngay
ca i chế t na ng cu ng chưa hề sợ !
Na ng ngồ i xuố ng, gia i huy.ê t cho
Nhương Thư rồ i dâng hiế n. Thu y Sơn
nộ i công thâm hâu, dễ da ng vượ t qua
đau đớ n khuê môn, lạ i hề t lo ng yêu
họ TAà n nên tâm lý thanh tha n, nổ ng
na n, ớ.a t đượ c khoa i ca m, du
Nhương Thư chỉ ha nh độ ng như da
thu !
Và i khắp c sau, Nhương Thư mớ
thoa t kho i ta c dụ ng cu a dâm ngư,
lăn ra ngủ vu i. Thu y Sơn lặ n le tắ m
ta p cho mì nh, rồ i rử a ra y cho tì nh
quân, lo ng tra n ng.â p li.a nh phu c va
mộ t chu t hoang mang.
Ma i đế n chim u Nhương Thư mớ
tỉ nh giấp c, hoan hỉ no i:
- Sơn đệ ! Dườ ng như con ca c kia
co ta c dụ ng rấ t tố t. Ta nghe như ng
vế t nộ i thương đa hề t đau như c, cơ
thể sa ng khoa i sung ma n. Hiề n ớ.ê
bắ t thêm va i con ca nữ a đi!
Thu y Sơn th.e n đo mặ t, quay ra ao,
du ng kiế m xiên thêm hai con giồ ng
hồ i trưa. Nhương Thư ăn xong lạ
buồ n ngủ va đi va o tí.a ng tha i kha t
tì nh Thu y Sơn lạ i lặ ng le chi u
đừ ng sự da y vo cu a cha ng, va
cu ng nh.â n nhiề u lạ c thu hơn lầ n
trưa c!
Sa ng hôm sau, Thu Sơn không da m
cho Nhương Thư ăn hắ c ngư nữ a ma
chay n qua loa i ca co ma u trắt ng
bạ c, may thay no không hề co dâm
tí nh!
Hai ngưu i cu ng nhau đi kha o sa t
khắp p nơi, trừ nhừ ng chỗ bi tuy t
chôn vu i. Đa y vự c rấ t tố i tăm nên
họ pha i cầ m theo ca nh khô la m
đuố c
MỖ i nga y cứ thế trôi qua, ta m
lượ t thì xuân cu ng về đế n đế t Nam
Dượng, tuy t trên nu i tan nhanh, chảy
xuố ng vự c a o ạ t, mang thêm dươ ng
khí trong la nh. M.ă t trờ i xuân cu ng
rự c rơ ban pha t a nh sa ng mờ mờ
cho đa y vự c .


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi 9
Phục Sinh Báo Gia Cừu
Hồi Hương Tầm Thân Thế
Niềm tuyệt vọng càng lớn khi đàn cá
dưới ao sắp hết. Trưa ngày rằm hai người
đang gượng gạo trò chuyện ngay chỗ đã
rơi xuống thì phát hiện có những vật nhỏ
rơi xuống. Trước tiên là một con gà quay,
một vò rượn và sau đó là tro tàn của giấy
tiền vàng bạc.
Biết có người đến cúng tế, Nhương
Thư mừng rỡ vận công rú lên cao vút.
Nhờ nhưng con Hắc Ngư kỳ lạ kia, chàng
đã luyện xong lớp thứ chín của pho Thiên
Đăng Tâm Pháp, nội lực tương đương
bốn chục năm tu vi, nên tiếng rú đã vượt
qua độ cao hơn trăm trượng.
Lát sau, một tảng đá có quấn vạt áo
được ném xuống, trên có mấy dòng chữ
bằng máu:
"Nếu hiền đệ còn sống thì hãy rú lên
một lần nữa! Lão phu là Quách Tàn Bôi
đây!"
Nhương Thư hoan hỉ hú vang, và lại
nhận được huyết thư:
"Cảm ơn lão trời già! Lão phu đi tìm
người đến cứu ngươi đây! "
Chỉ vài khắc sau lão đã quay lại, thả
dây chão xuống, có cả thư:
"Dây chão rất chắc chắn và được sáu
người kéo. Nếu Bạch Thúy Sơn cũng còn
sống thì hãy cùng lên một lượt cũng
chẳng sao ! "
Nhương Thư quấn quanh bụng, thắt lại
rồi bảo Thúy Sơn ôm cổ mình. Chàng
giật dây báo hiệu để phía trên bắt đầu
kéo. Tuy chậm chạp nhưng cuối cùng họ
cũng lên đến miệng vực, ôm lấy lão trộm
già họ Quách. Dù nước mắt dàn dua
nhưng ai cũng cười ha hả.
Dạ Quân Tử giới thiệu năm gã hán tử
cùng kéo dây:
- Nhị vị hiền đệ! Họ là TÔ Châu Ngũ
Kiếm, hảo hán đất Tứ Xuyên, con cùng
một mẹ, mang họ đồng. Năm người này
ngưỡng mộ uy danh của hiền đệ nên nhờ
lão phu tiến cử làm thuộc hạ. Hôm qua
đến đây, nghe tin hiền đệ rơi xuống vực
thẳm này, họ vô cùng thất vọng, định
quay về cố quận. May mà Ngũ Kiếm còn
vương vấn mấy kỹ viện trong thành nên
mai mới khởi hành.
Năm gã ngượng ngùng nhìn nhau rồi
quỳ xuống. Tuổi họ sàn sàn nhau, từ
khoảng ba mươi đến ba mươi lăm, dung
mạo dữ dằn vì râu rậm, mắt ốc nhồi, mũi
ưng, môi mỏng lét. Tuy nhiên, vầng trán
thấp và khoảng cách giữa hai mắt khá xa
đã nói lên rằng họ không được thông
minh lắm.
Mắt mũi na na nhau nhưng chiều cao
thì chênh lệch rất đều. Nghĩa là khi họ
quỳ xuống cạnh nhau thì tạo thành một
đường dốc rõ rệt. Người cao nhất thì hơn
Nhương Thư, còn người thấp nhất thì chỉ
đến vai Thúy Sơn. Nhưng gã lùn nhất lại
là đại ca, gã nói rốn ráng:
- Mong công tử nhận năm anh em tại
hạ làm thủ hạ! Chúng ta nguyện suốt đời
trưng thành, dẫu chết cũng chẳng thay
lòng đổi dạ!
Gã kế bên buột miệng tiếp lời:
- Lương bổng không quan trọng, chỉ
vài chục lượng cũng đủ!
Người thứ ba thêm vào:
- Thỉnh thoảng mong công tử ban cho
chút đỉnh gửi về quê cho mấy mụ vợ và
lũ trẻ!
Người thứ tư rụt rè:
- Còn khoản thanh lâu chỉ xin mỗi
tháng một lần!
Người thứ năm là gã cao kều:
- Nếu lỡ chết thì xin chiếc quan tài
bằng gỗ tốt!
Bạch Thúy Sơn chịu không nổi, phá
lên cười sặc sụa, Nhượng Thư thì tủm tỉm
noi:
- Được ! Ta đồng ý !
Năm gã họ Đồng mừng rỡ dập đầu theo
nhịp đếm của anh cả:
- Một, hai , b a, . . . , chín !
Nhương Thư cũng vái trả, lòng rất vui
mừng vì có những thủ hạ cổ quái này. Gã
thứ tư là đồng Tứ có chiều cao tương tự
Nhương Thư nên mở tay nải đưa cho
chàng mượn một chiếc áo. Gã cười hể hả:
- Bẩm công tử! đây là chiếc áo mới
nhất của thuộc hạ đấy! Mong công tử giữ
kỹ giùm cho!
Nhượng Thư quay sang kính cẩn hỏi họ
Quách:
- Chẳng hay tình hình bá mẫu thế nào
rồi?
Dạ Quân tử cười đáp:
- May mà gia mẫu đã hồi phục, giờ đây
hoàn toàn khỏe mạnh!
Tám người xuống núi, quay ngựa trở
lại thành Nam Dương. đồng đại và đồng
Nhị cưỡi chung một con, nhường một con
cho Nhương Thư và Thúy Sơn. Vừa đi
được một quãng ngắn, Thúy Sơn ranh
mãnh nói:
- Để tạo niềm vui bất ngờ, phiền Quách
đại ca cho bọn tiểu đệ mượn hai chiếc
mặt nạ!
Dạ Quân Tử cười khà khà, trao cho họ
Bạch và Nhương Thư, mỗi người một cái,
Lão đắc ý bảo:
- Tần tiểu đệ! Cái của ngươi là do lão
phu lột được từ mặt của gã Tiểu Thám
Hoa Trần Thượng Bàng, một dâm tặc
vùng phía Tây đất Tứ Xuyên. Bốn năm
trước, lão phu tình cờ đi ngang vùng rừng
núi Lạc Sơn, phát hiện gã nằm chết, liền
lột lấy da mặt rồi mới chôn!
Thúy Sơn rùng mình sợ hãi !
- Thế cái của tiểu đệ thì sao?
Dạ Quân Tử cười ruồi:
- Cũng là của một kẻ đã chết ! Nhưng
ngươi đâu phải là đàn bà mà nhát gan thế
nhỉ?
Có tật giật mình! Thúy Sơn vội mang
vào ngay. Gã ngửa mặt nhìn Nhương Thư
rồi khen:
- Té ra Tiểu Thám Hoa cũng là một gã
đẹp trai đấy chứ !
Nhương Thư cười đáp:
- Còn ngươi thì rỗ chằng rỗ chịt trong
mà phát khiếp!
đoàn người tiến vào thành, đi thẳng
đến Văn Gia Trang, hy vọng bọn VÔ ưu
Cái vẫn còn ở đấy! Quả nhiên, có vài tên
tiểu cái đang ngồi bắt rận cho nhau trước
cửa trang, dưới bóng mát của một cây
quế cổ thụ. Cạnh đấy, hai gã gia đinh áo
xanh say mê đấu cờ. Dạ Quân Tử hắng
giọng hỏi:
- Này ti êu huynh đệ ! Chẳng hay Hầu
bang chủ còn ở đây không?
Gã hán tử cụt tay chiếu ánh mắt nghi
ngờ hỏi lại:
- Tôn giá là ai mà lại hỏi thăm tệ bang
chủ?
Họ Quách nghiêm giọng:
- Lão phu là Quách Tàn Bôi, bái huynh
của Tần công tử, vừa từ Tứ Xuyên đến!
Gã cụt tay dường như có biết việc này,
vội đứng lên cung kính nói:
- Thì ra là Quách đại Gia! Mời chư vị
đi theo tiểu nhân! Hai gã kia mê cờ chắc
chẳng chịu đứng lên đâu !
Tám người xuống ngựa, giao cho đám
tiểu cái rồi nhập trang. Trong tòa khách
sảnh hình lục giác ở vườn hoa đang hiện
diện đầy đủ những gương mặt thân yêu
của Nhương Thư, chỉ thiếu bốn vị chưởng
môn Tàng đạo mà thôi!
Sắc diện bọn họ cực kỳ sầu héo, u ám,
nhất là ba cô gái họ điền. Giờ đây, mặt
hoa hốc hác, mắt sưng vù vì than khóc.
Gã hóa tử cụt tay vào trước để bẩm báo:
- Bẩm bang chủ! Có bái huynh của Tần
công tử là Quách đại gia xin đến chia
buồn!
VÔ ưu Cái gật đầu:
- Mời lão ta vào đây!
Gã cụt tay trở ra, và bọn Nhượng Thư
bước vào. Họ Tần hoan hỉ nhìn từng
gương mặt thân yêu, nhận ra ai cũng khổ
đau, kể cả hai gã Tào ưng và Hoàng
Nghi Tuyệt. Mặt họ đầy râu, mắt đỏ ngầu,
đang uống cạn từng bát rượn đầy chẳng
cần thức nhắm. Hầu bang chủ giới thiệu
phe mình, và theo đúng lễ, ba ả họ điền
phải ra chào bái huynh của người chồng
quá cố!
VÔ ưu Cái rầu rĩ nói :
- Quách lão đệ đến rất đúng lúc! Sáng
mai bọn lão phu sê xuống vực thẳm tìm
xác Nhương Thư và Thúy Sơn! Tuyết tan,
nước chảy thành thác tất đáy vực sê
không thiếu dưỡng khí!
Bất trí Thư Sinh bỗng nghiêm giọng!
- Này Quách Tàn Bôi! Vì sao lão lại
đưa những kẻ bại hoại như Tiểu Thám
Hoa, Xú Diện Khuyển đến đây? Cả năm
gã TÔ Châu Ngũ Tặc kia cũng chẳng có
tốt lành gì?
Cao Tường Toán kiến vãn như biển lại
ở Tứ Xuyên nên đâu lạ gì những gương
mặt mốc của giới Hắc đạo! Lúc này
Nhương Thư mới biết năm gã họ đồng
kia không phải là Ngũ Kiếm mà là Ngũ
Tặc, còn gương mặt rỗ của Thúy Sơn vốn
là của gã Xú Diện Khuyển nào đấy!
Quách Tàn Bôi chẳng hề bối rối, cười
khanh khách đáp:
- Lão phu xuất thân Hắc đạo tất phải
đồng hành với Hắc đạo, có gì là lạ?
VÔ ưu Cái cằn nhằn:
- Nhưng Tiểu Thám Hoa là dâm tặc,
tuyệt đối chẳng thể chấp nhận được!
Ngươi không đuổi gã ấy thì có chuyện
đấy!
Quách Tàn Bôi xua tay:
- Hầu Bang chủ lầm rồi! Chính cái gã
dâm tặc này lại là truyền nhân duy nhất
của Dạ Lang đại Pháp Sư. Gã ta sê dùng
phép thuật hồi sinh cho Nhương Thư và
Thúy Sơn!
vô ưu cái giận giữ nạt:
- Cuồng ngôn! Ngươi tưởng bọn ta là
con nít chàng?
Hoàng Nghi Tuyệt lạnh lùng lên tiếng:
- Lão hãy đi đi! đừng để ta lỗi đạo với
Nhương Thư vì đã giết lão!
Thúy Sơn nhận ra ánh mắt đầy hy vọng
của ba cô gái họ điền, liền khàn giọng
bảo:
- Ba nàng muốn ở góa hay muốn thử
một phen? Pháp thuật của bọn ta cao siêu
nhất thiên hạ đấy!
Mã Lan không còn kìm chế được nữa,
rời ghế bái VÔ ưu Cái và khóc ròng:
- Quách Lão là nghĩa huynh của thuyết
phu, lê nào lại dám lộng ngôn! Xin Bang
chủ cho phép họ làm thử, biết đâu thành
công thì sao?
Dạ Quân Tử cũng nói:
- Lão phu xin lấy đầu mình ra để đảm
bảo!
VÔ ưu Cái thở dài:
- Thôi được! Các ngươi đã tin tưởng
thì lão phu cũng không cản!
Thúy Sơn cười khanh khách nói thêm:
- Tốt lắm! Nhưng chư vị phải trả công
chứ!
Mã Lan gạt lệ đáp:
- Giá cả không thành vấn đề!
Thúy Sơn gằn giọng:
- Nghĩa là nàng chấp nhận bất cứ giá
nào!
Mã Lan gạt lệ:
- Đúng vậy !
Thúy Sơn tủm tỉm nói:
- Rẻ thôi! Chỉ cần nàng hôn gã Tiểu
Thám Hoa kia một cái là xong!
Tào ưng giận giữ gầm lên:
- đồ đốn mạt ! Ngươi muốn chết chàng?
Nhưng Bất Trí Thư Sinh lại gạt đi và
bảo Mã Lan:
- Tức muội cứ việc làm theo lời của
Xú Diện Khuyển!
Cả nhà kinh hãi, không ngờ lão hồ ly
này lại xử sự quái đản đến mức khuyên
em dâu thất tiết !
Mã Lan run rẩy, chẳng biết phải làm
sao, nước mắt tuôn như suối!
Gã Tiểu Thám Hoa kia đã chủ động
bước đến, khiến nàng sợ hãi lùi lại. Tên
dâm tặc lên tiếng:
- Lan muội! Ta đã trở lại với các nàng!
Giọng nói trầm ấm, dịu dàng kia như
tiếng sét giáng vào tâm thức Mã Lan và
mọi người. Nàng tròn mắt nhìn ngơ ngác,
và rú lên khi Tiểu Thám Hoa lột mặt nạ.
điền nhị tiểu thư lập tức xỉu đi, được
Nhương Thư ôm trong vòng tay rắn chắc !
Hai cô em cũng chạy ra, ôm chàng khóc
lóc
Nhưng bọn nam nhân thì reo hò như
sấm dậy, nước mắt ràn dua. Bất Trí Thư
S inh nạt :
- Thúy Sơn! Ngươi còn định trốn nữa
sao?
Xú Diện Khuyển vuốt mặt, ngượng
ngùng bảo:
- Nhãn lực của Cao huynh quả là đáng
sợ!
Mã Lan đã hồi tỉnh, ngỡ ngàng vuốt ve
gương mặt tình quân, tỉnh táo khi bị
Nhượng Thư hôn lên má!
Nhượng Thư buông thê thiếp bước đến
ôm các nam nhân. Họ vỗ lưng nhau bồm
bộp, cười vang đến nỗi rung rinh cả
những mảnh pha lê quanh vách.
Văn trang chủ nghe tin vui vội chạy
đến mừng Nhương Thư và Thúy Sơn!
đương nhiên lão cho dọn ngay tiểu yến
để mọi người quây quần nghe kể về kỳ
tích thoát chết của hai gã Tần, Bạch!
Ba ả họ Điền đã lôi Nhương Thư vào
phòng tắm, chẳng chút thẹn thùng, ra sức
kỳ cọ cho chàng. Nhương Thư động tình,
hôn hít họ rất nồng nhiệt. Bạch Cúc nhìn
chàng say đắm và bộc bạch:
- Nếu không bị mọi người ngàn cản thì
bọn thiếp đã lao xuống vực chết theo
tướng công rồi!
Nhương Thư mỉm cười:
- Ta biết! Nhưng cũng may là ba nàng
không làm thế! Dưới vực chỉ có vài chục
con cá, lấy gì mà ăn để chờ đến lúc
Quách đại ca đến tế?
Mã Lan ấp úng:
- Bọn thiếp rất hối hận vì không sớm
hầu hạ chán gối cho tướng công, may ra
có được giọt máu họ Tần mà an ủi đời
góa bụa.
Nhương Thư gật gù:
- Cũng chưa muộn! Tối nay ta sê sang
tìm nàng!
Uyển Xuân cười khúc khích:
- Phòng của chị em thiếp gần nhau
đấy!
Họ đùa giỡn hỏi lâu nên khi ra đến thì
cả nhà đã hiện diện, cơm rượn cũng sẵn
sàng. Nhương Thư vừa án được hai chén
đã buông đũa kể lể vì biết mọi người
đang nóng ruột.
VÔ ưu Cái tấm tắc khen:
- Thân thể ngươi đúng là bằng thép nên
không bị dập nát khi bị đập vào mấy chục
tàn cây trên vách!
Bất Trí Thư Sinh thì hỏi kỹ:
- Tần hiền đệ ! Chẳng hay những con cá
đen bổ dưỡng dưới vực còn có đặc điểm
gì nữa không?
Thúy Sơn làm cá nên rõ hơn:
- Nó có hình dạng của cá chép nhưng
không vẩy, lưng đen tuyền mà bụng đỏ
như son, đuôi vây có mấy sọc vàng óng!
Cao lão cau mày suy nghĩ, mỉm cười
đắc ý và chẳng nói ra! Nhương Thư hỏi
đến cục diện võ lâm. VÔ ưu Cái tư lự
đáp:
- Trinh sát Cái Bang báo về rằng lực
lượng Chính Khí Trang đã sát nhập vào
Tứ Phạn Thiên Cung! Và dường như cả
độc Biển Thước cũng có mặt ở Càn Sơn.
Có khả nàng đối phương sê tập kích Hoa
Sơn trước tiên!
Nhương Thư cau mày:
- Vì sao vậy?
VÔ ưu Cái đáp:
- Năm xưa, chính tiền nhiệm chưởng
môn Thần Y Tử, sư phụ của Ngọc Tâm
Tử, đã là người vô hiệu hóa được chất kỳ
độc của Tả Nho Quan nên lão mới bị
khống chế. Hai là, vị trí núi Hoa Sơn cách
xa huyện thành, không sợ quan quân đến
tiếp ứng! Nội gián của chúng ta ở Càn
Sơn cũng đã xác nhận ý đồ này!
Bất Trí Thư Sinh bàn rằng:
- Chắc đối phương chưa đánh Hoa Sơn
ngay! Chúng ta cứ đến Ly Sơn điều tra lai
lịch Nhương Thư, khi có biến thì đi hỗ
trợ phái Hoa Sơn!
Cử tọa đều khen phải. Hãng hái nhất là
ba ả họ điền, làm dâu kẻ cướp chẳng vinh
dự gì nên hy vọng gốc gác chồng mình
sớm sáng tỏ. Nhưng Nhương Thư trầm
ngâm hỏi:
- Hầu lão ca! Hạ lạc của Trác Thiên
Lộc thế nào?
Họ Hầu kể :
- Vì nghe tin hến đệ đã bỏ mạng dưới
vực sâu nên họ Trác chẳng còn phải trốn
tránh, ngang nhiên xuất hiện ở Lạc
Dương, phụ trách một phân đà bí mật của
Tứ Phạn Thiên Cung! Nhờ có nội gián
nên lão phu biết được việc này!
Nhương Thư cười nhạt, mắt loé hào
quang:
- Tốt lắm, sau khi đi Hoa Sơn, tiểu đệ
sê đến Lạc Dương tìm lão ta !
Bất Trí Thư Sinh nghiêm giọng:
- Thực ra! Việc tiêu diệt Trác Thiên
Lộc cần phải tiến hành sớm! Và nếu độc
Biển Thước biết hiền đệ còn sống sê bắt
họ Trác tiết lộ Phật Đăng Kiếm Pháp. Khi
lão đã nắm vững sở học Ngũ đài Sơn thì
hiền đệ sê nguy đấy!
Nhương Thư nghe sống lưng lạnh toát,
thở dài đáp:
- đa tạ Cao lao huynh cảnh tỉnh! Sang
mai đệ sê đi Lạc Dương!
Bất Trí Thư Sinh chợt hỏi:
- Hiền đệ và Thúy Sơn mang mặt nạ
này từ lúc rời Sáp Vân Phong chứ? Nếu
đúng thế thì rất tốt, và đây sê là đòn bất
ngờ cho đối phương!
Quách Tàn Bôi đắc ý cướp lời nghĩa
đệ:
- Phải đấy! Lão phu sê biến Nhương
Thư thành một người hoàn toàn khác,
làm cho tà ma phải điên đầu .
Tan tiệc, Nhương Thư gặp riêng VÔ ưu
Cái để hỏi tin tức Bạch Ngọc Tiên Tử!
Hầu Bang chủ chớp mắt trấn an:
- Ngươi cứ yên tâm! Phân đà Sơn Tây
báo về rằng Lâm Trang chủ bị bệnh nên
đại Ngọc phải ở lại chăm sóc! Sau vụ
Hoa Sơn chúng ta sê đến đấy thăm họ !
Nhương Thư là người đôn hậu, lại
tuyệt đối tin tưởng VÔ ưu Cái nên không
phát hiện ra ánh mắt của họ Hầu. Chàng
an lòng quên đi mối lo về Bạch Ngọc
Tiên Tử.
Trăm hoa đua nở trong vườn Vãn Gia
Trang, cảnh chiều xuân đẹp lạ lùng. Bọn
người trẻ tuổi bày bàn trà ngoài hoa viên
mà trò chuyện. Năm gã TÔ Châu Ngũ Tặc
rụt rè bước đến đồng đại nói ấp úng
nhưng giọng vẫn oang oang như chuông
bổ:
- Bẩm công tử! Mong người phát lương
cho, bon thuộc hạ chẳng còn xu nào cả.
Điền Mã Lan là người giữ tiền nên lên
tiếng:
- Thế chư vị định ấn định mức lương
tháng là bao nhiêu?
Đồng Đại hạ giọng nhũn nhặn:
- Dạ bẩm phu nhân! Bọn thuộc hạ
chẳng dám xin nhiều! Chỉ đủ những
khoản đã trình bày với công tử thôi ạ!
Mã Lan ngơ ngác hỏi Nhương Thư,
Thúy Sơn đã mau miệng đáp thay. Nghe
kể xong cử tọa ôm bụng cười sặc sụa.
Tào ưng nói đùa:
- Thế năm lượng có đủ không?
Đ ồng nhị nhăn nhó :
- Bẩm Tào công tử, năm lượng chỉ đủ
cho khoảng vào thanh lâu rẻ tiền thôi ạ!
Nhương Thư vẫn xem Tào ưng là bằng
hữu nên bắt Ngũ Tặc xưng hô là công tử,
cũng như đối với Thúy Sơn, Nghi Tuyệt
vậy!
Uyển nhi cười nắc nẻ:
- Các ngươi đã có vợ con mà mở
miệng ra là nhắc đến kỹ viện, thật đáng
xấu hổ !
Đồng Tứ phổi bò nhất bọn gân cổ cãi:
- Tứ phu nhân không biết đấy thôi! Tài
nghệ của các kỹ nữ hơn hẳn các mụ vợ ở
nhà, khiến người đàn ông khoan khoái
như lạc vào cõi tiên. Nếu không tin, phu
nhân cứ hỏi ba vị công tử đây sê rõ !
Bạch Cúc rất nhạy cảm, máu ghen bốc
lên ngùn ngụt, cắm móng tay vào hông
Nhương Thư và đay nghiến:
- Có đúng như vậy không tướng công?
Nhương Thư không hề đau đớn, cười
đáp:
- Ta có đến chốn ấy bao giờ đâu mà
biết?
Song Thúy Sơn lại gật gù:
- Đồng Tứ nói đúng đấy! Bản lãnh bọn
kỹ nữ cao cường đến nỗi hầu bao của
khách phong lưu đều lép kẹp, mỗi khi rời
kỹ viện! Lợi hại nhất là các tiểu cô nương
ở Bắc Kinh, mỗi đêm kiếm được cả ngàn
lượng bạc.
Bạch Cúc trợn mắt trách móc:
- Ngươi hư hỏng đã đành, còn định lôi
kéo cả tướng công của bọn ta xuống bùn
nữa sao?
Thúy Sơn cười khanh khách:
- Tiểu đệ chưa nói hệt! Thực ra họ chỉ
là hạng liễu rủ hoa tàn, thua xa ba nàng
tiên họ điền!
Bạch Cúc chưa nguôi nhưng cố nhịn vì
sau lần Thúy Sơn tự sát chết theo Nhương
Thư, các nàng vô cùng khâm phục và yêu
mến gã!
Nàng lạnh lùng bảo Ngũ Tặc:
- Tần gia sê trả cho các ngươi mỗi
người trăm lượng, song từ nay cấm tuyệt
không được nhắc đến thanh lâu!
Năm gã họ đồng mừng rỡ vái dài, lui
ra. Chúng nói nhỏ với nhau:
- Tần công tử thật là xui xẻo, lấy được
ba ả la sát, chẳng được tự do như anh em
mình!
Tối hôm ấy, Nhương Thư sang phòng
Thúy Sơn, thấy gã đang đọc sách, liền
ngồi vào bàn, bộc bạch tâm sự:
- S ơn đệ ! Ta rất xấu hổ mà thú nhận
rằng dục tính trong người rất vượng,
không thể cầm lòng trước ba chị em họ
điền! Nhưng ta lại ngại ngùng, không
dám đến gần gũi họ vì chưa có lễ nghi
hôn phối!
Thúy Sơn mỉm cười nhưng ánh mắt
thoáng buồn:
- Có lê là do tác dụng của loài Hắc
Ngư dưới đáy vực! Nếu đại ca cố kiềm
chế e sê có hại, chi bằng cứ thuận theo
duyên mà hành động. Chúng ta là khách
giang hồ, sống chết mong manh hơi đâu
mà giữ lễ nghĩa của đám hủ nho !
Nhương Thư thấy lòng nhẹ nhõm, vui
vẻ bảo:
- Ta quả là có diễm phúc khi có được
đứa em chí tình như hiền đệ !
Chàng đi rồi Thúy Sơn khoá chặt cửa
thở than:
- Tần đại ca quá trưng hậu nên hơi
ngốc! Chẳng lê ta phải chịu mãi cảnh oái
ăm này!
Gã thẫn thờ bước đến giường, thay áo
để đi ngủ. Bất giác Thúy Sơn lõa thể
hoàn toàn, để lộ thân hình thon dài, sán
chắc. Trên giường ngủ mọi bộ phận đều
đẹp, chỉ trừ đôi vú! Thúy Sơn vuốt ve bộ
ngực lép, nước mắt chảy dài trên gò má
trắng mịn. Chính vì khuyết điểm này mà
Thúy Sơn chôn chặt mối tương tư, dù đã
trao thân cho Nhương Thư.
Gã nhớ đến ba bộ ngực đầy đặn, kiêu
hãnh của mấy ả họ điền mà lòng tủi thân,
vai gầy run bần bật. Và cảm giác mãnh
liệt của những trận ân ái mê muội dưới
đáy vực hiện về làm da thịt Thúy Sơn xao
xuyến. Gã khát khao được kề cận
Nhương Thư ngay lúc này, dâng hiến cho
chàng và nhận lấy khoái cảm ngút ngàn.
Có tiếng chân người nện trên hành lang
phía trước. Thúy Sơn sợ hãi, mặc nhanh
áo ngủ rồi lên giường.
Phần Nhương Thư, được sự khuyến
khích của nghĩa đệ, mạnh dạn đến gõ cửa
phòng Mã Lan. điền nhị tiểu thư mở cửa,
e lệ mời chàng vào. Tất nhiên chẳng thể
lôi nhau lên giường ngay, nàng ngượng
ngùng róc trà, cùng chàng nhấp nháp.
Mã Lan hiền lành, nhu mì nhất nhà và
mang nét đẹp não nùng, quyến rũ. Ngọc
Trâm rực rỡ nhưng nhiều nam tính nên
kém phần yểu điệu.
đêm nay, Mã Lan xõa tóc, mặc áo ngủ
bằng the mỏng màu hồng, yếm đào bó sát
đôi gò bồng đảo nở nang. Nàng thẹn
thùng cúi mặt vì biết tình lang đang nhìn
mình đắm đuối .Nhương Thư vốn vụng
về trong ngôn ngữ, chẳng biết mở lời thế
nào, ngồi im một lúc rồi nói:
- Thôi ta về phòng đây!
Mã Lan mỉm cười, rủa thầm đức ông
chồng khờ khạo, chủ động rời ghế, ngồi
lên lòng chàng mà thủ thỉ:
- Ai cho phép tướng công về?
Mùi hương da thịt cộng với chút tinh
dầu hoa lan khiến Nhương Thư ngây
ngất, cúi xuống hôn lên má nàng, rồi
bồng lên, đặt xuống giường. Xiêm áo rơi
xuống sàn, và thân hình tuyệt đẹp của Mã
Lan làm bỏng mắt Nhương Thư. Chàng
đã có kinh nghiệm với Bạch Ngọc Tiên
Tử, nên thủ pháp thuần thục, điêu luyện,
khiến da thịt ngọc ngà kia run rẩy, gọi
mời.
Nhương Thư nhẹ nhàng đưa ái thê lên
đỉnh vu sơn, bồng bềnh mãi trên sóng tình
dạt dào, nhấp nhô. Mã Lan rên xiết đến
hiệp thứ ba thì đình chiến, dù Nhương
Thư vẫn còn háo hức. Chàng ngượng
ngùng biện bạch:
- Ta vốn chẳng phải kẻ háo sắc, nhưng
từ ngày ăn mấy chục con Hắc Ngư dưới
đáy vực, không còn dữ được cái tâm
thanh tịnh nữa! Mong Lan muội lượng
thứ!
Mã Lan đưa bàn tay búp mãng bịt
miệng chàng, tình tứ nói:
- Tướng công nồng nhiệt, dũng mãnh
là đại phúc cho bọn thê thiếp, nào có gì
đáng trách. Chàng có đến ba vợ chứ nào
phải một! Sao chàng không sang an ủi
Tam muội và Tứ muội?
Nhương Thư hổ thẹn:
- Ta ngượng lắm !
Mã Lan hăng hái khoác áo ngủ, mặc y
phục cho Nhương Thư, dẫn chàng sang
gõ cửa phòng Bạch Cúc. Cửa vừa mở,
nàng đã xô Nhương Thư vào rồi bỏ đi!
Hành động tốt hơn lời nói, Nhương
Thư bồng ngay nữ nhân lên giường. Té ra
Bạch Cúc nồng nàn hơn hẳn Mã Lan, lúc
đầu còn ngượng ngùng nhưng sau đó chủ
động vuốt ve Nhương Thư, đem lại nhiều
lạc thú. Tính nàng thẳng thắn, cương trực
nên không rụt rè như chị gái.
Nhương Thư cười hỏi:
- Nàng học ở đâu ra những trò tuyệt
diệu này?
Bạch Cúc đỏ mặt, hờn dỗi đáp:
- Thiếp chỉ muốn chứng minh cho
tướng công biết vợ nhà cũng biết chiều
chuộng chồng chẳng kém đám kỹ nữ lầu
xanh. Tình thư bán khắp nơi, ai mà chẳng
học được!
Nhương Thư hài lòng, vuốt ve bờ
mông tròn trịa, sàn chắc của nàng nữ hiệp
và nói:
- Có được những người vợ như các
nàng, ta thề suốt đời không bước chân
vào chốn ẩy!
Bạch Cúc hân hoan trườn lên hôn
chàng rồi hỏi:
- Tướng công còn đủ sức sang phòng tứ
muội không?
Nhương Thư nheo mắt gật đầu! Gần
sáng chàng mới rời Uyển Xuân, sảng
khoái trở về phòng, ngủ vùi đến giờ Thân
thì bị đánh thức để án sáng rồi lên đường.
Sáng ngày sau, có hai cỗ xe song mã
mui kín, được hộ tống bởi chín ky sĩ đội
nón rộng vành, vào thành Lạc Dương.
đoàn nhân mã đi thẳng vào phòng sau
cùng của Hà Nam Đệ Nhất Lữ Điếm, nơi
dành cho những quý khách ưa thích yên
tĩnh và bí mật. Khu vực này được ngàn
cách với phần còn lại bằng một hàng rào
Đông Thanh rậm rạp, luôn xanh tốt.
Chủ nhân lữ điếm đã được báo trước
nên chờ sẵn ở đây để đón chào khách.
Hai cỗ xe mở cửa, mỗi cỗ ba người trước
nam sau nữ gồm ba ả họ điền và VÔ ưu
Cái, Bất Trí Thư Sinh, Dạ Quân Tử!
Điếm chủ kính cẩn vòng tay thi lễ:
- Tiểu đệ mừng Hầu lão ca giá lâm!
Lão điếm chủ thấp bé ấy có tên là
Phàm Nghĩa Thống, bái đệ của bang chủ
Cái Bang. Một nửa vốn liếng của cơ sở
kinh doanh này cũng là của Cái Bang, tất
nhiên, người ngoài chẳng phép biết! Hầu
MỘ Thiên giới thiệu bọn Nhương Thư với
họ Phàm. Chào hỏi xong, Phàm lão đưa
mọi người đến phòng.
TÔ Châu Ngũ Tặc tròn mắt xuýt xoa
trước những cán phòng trang trí hoa lệ,
sạch sê đến mức không còn một hạt bụi.
Khu phòng trọ thượng hạng này có cả
sảnh án và tiếp khách riêng, hoàn toàn
biệt lập. Cơm nước sê được bưng từ nhà
bếp của lữ điếm xuống! Còn khung cảnh
thì tuyệt đẹp vì chung quanh vườn hoa
nhỏ ngạt ngào hương sắc của những loài
hoa nở theo mùa!
Tường sau có cánh cửa, thông với một
cán nhà bên ngoài. Do vậy, việc xuất
nhập hoàn toàn được giữ kín! Bọn Khất
Cái đã đi bằng lối ấy vào liên lạc, báo cáo
với Bang Chủ những tin tức về Phân đàn
bí mật của Tứ Phạn Thiên Cung ở Lạc
Dương. Chiều xuống mọi người quây
quần bên bàn tiệc thảo luận việc tấn công
sào huyệt đối phương, tiêu diệt Trác
Thiên Lộc!
Họ đã biết Oå cướp kia được ngụy trang
thành một xưởng làm nhang trên phố
Bạch Mã. Con đường này có chùa Bạch
Mã Tự, ngôi chùa cổ kính nhất Trung
Hoa, nên mang tên ấy!
VÔ ưu Cái trải sơ đồ vị trí nhà cửa của
xưởng nhang lên bàn, để Bất Trí Thư
Sinh hoạch định chiến thuật tấn công!
VÔ Hình Chi độc của Thiên Cung cực
kỳ lợi hại nên trừ Nhương Thư ra, những
người còn lại sê phải bịt mặt bằng ba lớp,
gồm hai lớp vải và một lớp bông tẩm
thuốc ở giữa. Không phải là thuốc giải
độc mà là một loại bột than có tác dụng
hấp thụ, ngán cản phấn độc đi vào phổi.
Tuy hơi khó chịu nhưng đây là biện pháp
hữu hiệu nhất!
Thủ hạ Trác Thiên Lộc đông đến bốn
mươi tên nên phe Nhương Thư phải tận
dụng hết quân số. Nghĩa là cả ba nữ nhân
họ điền cũng được tham gia. Họ vô cùng
hân hoan vì đây là lần đầu tiên được thi
thố sở học sau bao năm rèn luyện Tích
Linh Kiếm Pháp !
Tổng đàn Cái Bang cũng nằm ở Lạc
Dương nên các cao thủ hạng nhất của
bang hội này sê khép kín vòng ngoài,
tuyệt đối không để Trác Thiên Lộc đào
thoát!
Đầu canh ba thì xưởng nhang Hương
Ký đã bị vây chặt. Nhương Thư, Nghi
Tuyệt, Thúy Sơn, Tào ưng nhẩy qua
tường rào tiến vào tòa nhà hai tầng ở giữa
vườn hoa.
Thanh kiếm trong tay Nhương Thư
không có sọc đỏ nhưng lại chính là thanh
Huyết Kiếm. Nó đã rơi theo chàng xuống
đáy vực, bị tuyết lở chôn vùi, đến khi
tuyết tan mới lộ ra!
Thiết Kình Ngư Tào ưng đã mài sạch
hai đường chỉ máu trên bản kiếm để
Nhượng Thư sừ dụng. Tuy không sắc bén
như thần binh thời Xuân Thu, song Huyết
Kiếm nước thép rất tốt. Hồ Linh Cấu là
chuyên gia giết người nên vũ khí chẳng
thể nào dở được!
Bọn Nhương Thư đều mặc Hắc Y, mặt
bịt kín, kể cả đầu tóc. đêm nay sê không
một tên đệ tử Thiên Cung nào được
quyền sống sót để tiết lộ việc Nhương
Thư và Thúy Sơn hồi sinh! Phần phía
trước cơ ngơi này là ba dãy nhà dài vây
lấy sân gạch, xây theo lối Tam Hợp
Thiện, chính là nơi sản xuất nhang, và
cũng là chỗ ngủ của bọn đệ tử Thiên
Cung. Còn tòa lâu các hai tầng ở phía sau
là nơi cư trú của Phân đàn Chủ Trác
Thiên Lộc và mấy ả tỳ thiếp.
Họ Trác phá giới chẳng phải để tiếp
tục án chay mà là để tận hưởng lạc thú
trần gian.
Sự có mặt của lão trong hàng ngũ Tứ
Phạn Thiên Cung đã chứng tỏ Độc Biển
Thước cũng thu phục xong Báo ứng Hội
đất Thiểm Tây. Sự bành trướng thần tốc
của Tả Nho Quan đã khiến vô ưu cái vô
cùng lo ngại !
Tuy Hầu MỘ Thiên mang danh VÔ ưu
mà thực ra lại là người lao tâm khổ trí
gánh vác chuyện võ lâm. Mặt lão luôn
tươi cười nhưng trong lòng nặng trĩu ưu
phiền. Khi có người thắc mắc về hai chữ
VÔ ưu thì lão giải thích:
- Lão phu suốt đời hành sự thận trọng,
đúng như câu " Cẩn tắc vô tư' nên mới
có danh hiệu ấy!
Trở lại với cuộc xâm nhập, ta sê thấy
bọn Nhương Thư không đi chung mà
cách nhau vài trượng, dàn hàng ngang
tiến lên. Lý do là vì mé tường sau có bốn
tên kiếm thủ canh giữ. Xuân về cây cối
đâm chồi nảy lộc, cành lá xúm xue, nên
bọn Nhương Thư có thể nhờ những bụi
cây, chậu hoa che chở mà áp sát mục tiêu.
Bởi không biết sào huyệt bị lộ nên việc
canh phòng chẳng nghiêm mật, tinh thần
cảnh giác cũng lõi lỏng. đêm mùa xuân ở
vùng Hoa Bắc rất lạnh, bốn gã kiếm thủ
kia co ro trong áo choàng lông, đi qua đi
lại những quãng ngắn cho ấm người.
Bọn Nhương Thư nhất tề xuất thủ, từ
sau chỗ ẩn nấp nhẩy xổ đến, đao kiếm tìm
cần cổ nạn nhân mà chặt. Kẻ mất đầu
thường chết lặng lê, thanh thản, khống hề
lên tiếng oán trách bao giờ! Bốn người
lập tức áp sát đại Lâu, tung mình lên lan
can lầu, chia nhau trấn giữ bốn mặt.
Tầng trên của tòa lâu các trổ cửa chính
tứ phương, và khá nhiều cửa sổ. Dĩ nhiên,
giờ đây tất cả đều khép kín, cài then cẩn
thận Phần trước là thư phòng, phần sau
bố trí vài phòng ngủ và nhà vệ sinh.
Trong lúc ấy, lực lượng do VÔ ưu Cái
thống lĩnh đã tràn ngập vườn hoa, phía
sau đại Lâu, chỉ chờ động tĩnh của bọn
Nhương Thư là khởi sự. Nhưng Nhương
Thư vẫn chưa ra tay, chàng nhìn qua khe
cửa nhận ra kẻ thù đang ngồi án cháo
đêm, bên cạnh có hai nữ nhân tuổi đôi
mươi nhan sắc mặn mà, phong vận lẳng
lơ, chỉ khoát hờ một mảnh áo ngủ bằng
the mỏng. Cạnh đấy có chậu than hồng đỏ
rực nên họ không sợ thịt da lạnh lẽo. Một
ả tình tứ nó i :
- Trác lão gia án nhanh lên đừng bỏ phí
đêm xuân đáng giá ngàn vàng! Thủy Lão
rất sủng ái lão gia nên mới ban chị em
thiếp cho người đấy!
Trác Thiên Lộc húp nốt muỗng cháo
cuối cùng, cười nhạt:
- âu Dương Lãng đã chán chê hai nàng
nên mới nhường cho ta, nào có tốt lành
gì ! Chẳng qua y muốn họ c Phật đãng
Kiếm Pháp nên mới trọng dụng ta đấy
thôi Thần Quang Chưởng Pháp tuy lợi
hại nhưng chắc gì hơn được kiếm pháp
thượng thừa của Phật Môn? Nếu công lực
lão phu được tròn hoa giáp thì ngay cả
lão Tả Nho Quan kia cũng chẳng đáng sợ.
Hai nữ nhân không hề giận, tò mò hỏi:
- Thực thế ý? Sao giang hồ vẫn truyền
tụng Thần Quang Chân Nhân lợi hại hơn
Phật đãng Thượng Nhân!
Trác Thiên Lộc lộ vẻ đắc ý:
- Chẳng qua tiên sư là người khiêm
tốn, chưa bao giờ để lộ bản lãnh chân
chính của mình. Thực ra, với công lực
tròn hoa giáp thì luyện Nhiên Đăng Thần
công có thể tạo ra luồng kiếm khí nơi
mũi kiếm, thừa sức xé tan chưởng kình
của Thần Quang. Nay Tần Nhương Thư
đã chết, lão phu là người duy nhất sở đắc
Phật học của Phật đãng Thượng Nhân,
nên Thanh Linh Thủy Lão âu Dương
Lãng mới hết lòng o bế! Gã là người có
dã tâm lớn, chẳng chịu làm nô lệ cho độc
Biển Thước, trước sau gì cũng phản lại.
Do vậy, gã rất cần lão phu!
Aû thứ hai lên tiếng:
- Thế Trác lão gia đã truyền tuyệt học
cho cung chủ chưa?
Thiên Lộc cười dâm đãng:
- Chưa! Lão phu ra điều kiện rằng Tứ
Phạn Thiên Cung phải bắt được ba ả họ
điền, giao cho lão phu mà đổi lấy võ
công! Năm xưa lão phu dâm sát vợ của
Tần Tử Chính, giờ đến lượt con dâu của
lão ta, thế mới thỏa lòng thù hận!
Nhương Thư chưa nổi giận mà bên kia
Hoàng Nghi Tuyệt và Tào ưng đã đạp
bung cửa xông vào.
Dĩ nhiên hai gã Hoàng, Tào tấn công
liền, một đao một kiếm chụp lấy mục
tiêu, Trác Thiên Lộc phản ứng cực kỳ
thần tốc, vung chân hất chiếc bàn cản
đường Tào ưng, tay thì xô một ả tỳ thiếp
vào lưới đao của Nghi Tuyệt, sau đó lão
lướt nhanh về hậu sảnh. Nhưng Thúy Sơn
đã phá cửa sau vào đến nơi múa kiếm uy
hiếp. Trác Thiên Lộc nghe kiếm kình vo
vo không dám dùng nhục chưởng tiếp
chiêu, đề khí bốc lên cao, định phá ngói
đào tẩu Song Nhương Thư đã có mặt,
bay vút theo, xuất chiêu Diệm Sơn Phún
Hỏa, trường kiếm hóa thành chiếc tán
lung linh ngàn đốm lửa, chụp lấy thân
dưới họ Trác. Lão ác tặc chưa kịp chạm
nóc thì nghe hai chân đau đớn khủng
khiếp Lão rú lên thảm khốc, rơi xuống
sàn lầu, ngơ ngác nhìn đôi chân cụt đến
đầu gối. Nhơn Thư lột nhanh mặt nạ,
lạnh lùng nói:
- Trác Thiên Lộc ! Lão nhận ra ta chứ?
Họ Trác kinh hoàng như gặp quỷ, lắp
bắp nói:
- Ngươi... chết rồi cơ mà?
Nhương Thư gật đầu và bất ngờ vung
kiếm đâm thủng tim kẻ thù. Nghĩ tình
đồng môn, Nhương Thư đã giúp lão chết
êm thắm, không kéo dài cảnh đau đớn.
Lúc này, bọn VÔ ưu Cái ở dưới đang ra
sức tàn sát bọn đệ tử Thiên Cung, tiếng
rên la,quát tháo vang trời. Nhương Thư
vội đốc thúc ba người kia xuống đất trợ
chiến. Phần chàng lục soát thi thể và
phòng ngủ Trác Thiên Lộc. Chàng sợ lão
viết lại khẩu quyết Nhiên đãng Tâm Pháp
và Phật đãng Kiếm Pháp.
Quả nhiên, khi phá tủ gỗ trong ngọa
phòng, chàng tìm thấy một quyển sách
chép tay, tựa là Phật Đăng bí kíp. Sau khi
xem sơ qua, chàng bỏ vào ngực áo, tiện
tay sách luôn tay nải nhỏ cùng chỗ vì
chẳng có thời gian mở xem.
Hai ả tỳ thiếp đã bị Nghi Tuyệt và Tào
ưng giết chết, chẳng còn ai làm nhân
chứng nữa. Nhương Thư yên tâm buộc lại
khán che mặt, tung mình xuống tham gia
cuộc chiến! Chàng vừa ra đòn vừa quan
sát trận địa, lo ngại cho ba ái thê. Ba con
cọp cái này chẳng hề có chút đỉnh kinh
nghiệm giao đấu, e rằng sê sơ xuất. Song
chỉ lát sau chàng nhận ra kiếm pháp của
họ rất lợi hại, chẳng thua kém chị cả là
HỔ Hồng Nhan.
Thì ra, dẫu là tỷ muội, các nàng cũng
có dạ ganh đua, âm thầm khổ luyện.
Ngọc Trâm thường xuất trang đến các cơ
sở kinh doanh của nhà họ điền ở Sơn
đông và các phủ lân cận, va chạm nhiều
nên nổi danh. Còn ba cô em lo việc trong
nhà, lại có dư thời gian để luyện tập.
Nghĩ là nếu có dịp chị em đấu đá thì chưa
chắc mèo nào án mỉu nào !
Nhương Thư an tâm hơn khi thấy Tào
ưng, Nghi Tuyệt và Thúy Sơn luôn theo
sát ba nàng để đề phòng bất trắc.
Chàng mỉm cười hài lòng vì bản lãnh
TÔ Châu Ngũ Tặc cũng khá cao cường.
Năm gã họ đồng thi triển một kiếm pháp
là lạ, có những đòn đánh bằng cả hai tay
tương tự đao pháp. Lợi hại nhất chính là
đồng lão đại, rồi nhị vì họ thấp lùn, thi
thố được những chiêu độc đáo ôm kiếm
lãn vào hạ bàn đối phương!
Có thể pho kiếm của nhà họ đồng liên
quan đến địa đương đao Pháp đã thất
truyền. Nhờ lực lượng hùng mạnh và yêu
tố bất ngờ nên phe Nhương Thư đã kết
liễu trận chiến rất nhanh chóng, giết sạch
bốn chục gã môn đồ Tứ Phạn Thiên
Cung. Họ rút đi trước khi quan quân
trong thành kéo đến. Do không có khói
lửa nên dân chung quanh chẳng tội gì báo
cho mệt xác, bởi thế nha môn cũng châm
chạp làm theo!
Về đến lữ điếm, toàn khách dạ hành
lãn ra ngủ vùi, cuối giờ Thìn mói mò dậy.
Sau bữa điểm tâm, Nhương Thư trở lại
phòng, mở tay nải ra xem. Chàng hổ thẹn
khi thấy xấp ngân phiếu trị giá đến bốn
ngàn lượng vàng, và một số châu báu khá
lớn
Nhương Thư quen giữ giới nên không
thể chiếm đoạt tài sản của người khác,
dẫu đó là kẻ thù. Chàng đang phân vân
thì Thúy Sơn bước vào. Nghe chàng kể lể
nỗi lòng, gã cười bảo:
- Đại ca đã không giới sát thì còn lưu ý
gì đến bốn giới kia nữa?
Nhương Thư cười buồn:
- Giết người là vì bất khả kháng, còn
trộm cắp thì không thể biện minh được!
Thúy Sơn nghiêm giọng:
- Trác Thiên Lộc rời Ngũ đài Sơn với
vài bộ tang phục mà bây giờ sở hữu hàng
vạn lượng vàng, vậy thì đây chính là của
phi nghĩa do lão cướp đoạt của ai đó! đại
ca vô tình lấy được, cứ đem bố thí cho kẻ
bần cùng là xong!
Và gã tủm tỉm cười nói tiếp:
- Kẻ nghèo nhất chính là đại ca đấy!
Nhà cửa không có, vợ lại đông, sau này
lấy gì mà nuôi con?
Nhương Thư phì cười:
- Ngươi đúng là kẻ xảo quyệt, mồm
mép trơn như bôi mỡ. Thực ra Sơn đệ còn
nghèo hơn ta vì đến vợ cũng chẳng có!
Bởi vậy, ta tặng hết cho ngươi là phải
đạo
Nói xong, chàng nhét tay nải vào tay
gã ! Thúy Sơn cười bảo :
- Đại ca định trút hết tội lỗi lên đầu
tiểu đệ đấy sao? Thôi được, xem như tiểu
đệ giữ giùm!
Gã thản nhiên mang số của cải ấy về
phòng!
Cuối tháng hai, bọn Nhương Thư đã có
mặt ở huyện thành Lâm đồng, dưới chân
núi Ly Sơn!
Ngọn núi xinh đẹp này cách thành
Trường An hai chục dặm về hướng đông
Nam. Ly Sơn và Phong Hỏa đài là hai
thắng cảnh nổi tiếng của đất Lâm đồng.
Nhưng do cội rễ trong lịch sừ nên được
xem là thuộc về đất Trường An.
Phong Hỏa đài được nhà Chu xây dựng
để đốt lửa triệu tập chư hầu đến cứu khi
có giặc đến đánh. Tại nơi đây, U Vương
đã vì Bao Tự mà phóng hỏa gọi tiếp viện,
để mỹ nhân cười vào những gương mặt
ngơ ngác vì bị lừa! Dĩ nhiên sau này U
Vương đã mất nước!
Còn Ly Sơn nổi tiếng nhờ người đẹp
thứ hai Dương Quý Phi! Năm bẩy trăm
bốn mươi bẩy, đường Huyền Tông Lý
Long Cơ đã cho xây Hoa Thanh Cung ở
Ly Sơn để cùng Dương Quý Phi đùa giỡn
trong làn nước ấm áp của Hoa Thanh Trì.
Ao nước này thông với dòng suối nước
nóng lừng danh của Ly Sơn.
Bọn Nhương Thư đến đây chẳng phải
để du ngoạn. Trước tiên, họ tìm đến
huyện đường Lâm đồng, xỉa ra mười
lượng vàng để bọn thư lại cung cấp tin
tức về nhà họ Tần. Quả đúng là trong sổ
có ghi nhận việc Tần gia sinh đôi, người
anh là Tần Tử Trung, em là Tần Tử
Chính. Vị trí của Tần gia trang nằm trong
khu rừng mai, trên sườn đông Bắc núi Ly
Sơn
đoàn người mừng rỡ đi đến đấy, mủi
lòng khi thấy nhà cửa điêu tàn, cỏ cây
mọc đầy. Họ dùng đao kiếm chặt phá các
bụi rậm, cuối cùng tìm thấy ngôi mộ đã
sụp lở, bia chỉ là mảnh gỗ đã mục nát gần
hết, may mà còn sót lại một chữ Trung.
Sau khi thắp nhang, Bất Trí Thư Sinh
ra lệnh quật mộ. Do quan tài đóng vội
bằng những mảnh ván tạp, không khít với
nhau và chẳng được sơn phết, hoặc trét
nhựa cây, nên xương cốt tan gần hết, chỉ
tóc và ràng còn nguyên vẹn. Ngoài ra,
trong mộ còn một hũ sành nhỏ, miệng
nắp được khẳn cẩn thận.
Cao lão dùng đũa gắp hai hàm ràng bỏ
vào túi lụa, bảo Nhương Thư mở hũ sành.
Quả nhiên, trong hũ có một tấm bản đồ
thuộc da dê thuộc. Bọn Nhương Thư xúm
lại xem xét, ngạc nhiên khi thấy những
nét vê trong biểu thị một dãy núi có bốn
đỉnh, chắc chắn chẳng phải Ngũ Hành
Sơn
điều lạ thứ hai là dãy núi ấy nằm theo
hương đông Tây, trong khi Thái Hằng
Sơn tức núi Ngũ Hành chạy từ Bắc xuống
Nam. Có một chấm nhỏ trên lưng chừng
ngọn núi thứ hai, tính từ Đông sang. Phần
dưới họa đồ ghi bốn con số: Tam,
Thất,Tứ, Cửu và dọc mé hữu là hai câu
thơ:
Thần Quang phong cốt lăng tăng thậm
Thử đza truy tri hĩ tu đza thiên
Dịch thơ:
Thần Quang cốt cách ngang tàng quá
Đất ấy ai bay có đza tiên!
Bất Trí thư Sinh nhăn vầng trán rộng,
suy nghĩ rất lâu mới phân tích:
- Hai câu thơ có thể hiểu rằng Thần
Quang Chân Nhân đã thành tiên, tức tọa
hóa ở dãy núi vê trong bản đồ. Tuy nhiên,
chúng ta lại biết rõ Chân Nhân chết và để
lại tuyệt học trong Sơn Cốc dưới chân núi
Mộc Sơn! Vậy thì, ý nghĩa câu thơ đã đổi,
tức ám chỉ một nhân vật khác, cùng thời
với Thần Quân chân Nhân. Người này có
võ học cao hơn Chân Nhân nhưng không
hề xuất thế dương danh, khi sắp chết, ông
ta mới vê lại họa đồ, trao tặng tuyệt học
cho kẻ hậu sinh hữu duyên !
Mọi người đều khâm phục kiến giải
cao minh, chí lư của Cao Trường Toàn,
song VÔ ưu Cái lại cau mày:
- Lão phu thuộc làu sừ sách võ lâm mà
không nhớ ai là người có thể giỏi hơn
Thần Quang Chân Nhân! Quách lão đệ có
biết không?
Dạ Quân tử cười ruồi:
- Bang Chủ và Cao lão không biết thì
làm sao lão phu biết được?
Bỗng Đồng Tam nói với Đồng Nhị:
- Nhị ca có nhớ câu chuyện mà nội tổ
thường kể cho chúng ta nghe hay không?
Đồng Nhị thấy em nháy mắt, ra hiệu,
liền hớn hở đáp:
- Nhớ chứ ! ông nộ i kể rằng họ đồng
nhà ta đã từng đánh bại Thần Quang
Chân Nhân Công Tôn Khuê, nhưng vì
khiêm tốn nên chẳng nói ra!
Đồng Tứ phụ hoạ:
- Phải đây! Cụ cố nhà ta văn võ toàn
tài, làm đến chức ngự sừ.
Bọn Nhương Thư biết chúng khoác lác
vì cho rằng chẳng ai kiểm chứng được,
liền tủm tỉm cười. Điền Uyển Xuân tinh
quái hò i :
- Thế lệnh TỔ làm quan vào thời nào,
đường hay Hán?
Đồng Nhị đắc ý đáp:
- Tất nhiên là đời đường rồi! Nghe nói
gia TỔ cũng chính là người dẹp phản loạn
An Lộc Sơn đấy!
đến nước này thì chẳng còn ai chịu
được nữa, ôm bụng cười sặc sụa, Quách
Tàn Bôi mắng ngay:
- Nói khoác cũng phải có càn, ngu
ngốc như anh em ngươi mà cũng học đòi
nói láo hay sao? Từ thời Đường Huyền
Tông đến nay đã bảy trăm năm, còn Thần
Quang Chân Nhân mới chết độ sáu chục
năm thôi!
đồng Tứ cười hì hì :
- Bọn tiểu đệ nhớ lộn vị cao tăng tổ
khảo mấy chục đời! Còn ông cố thì quả
đúng là người cùng thời với Công Tôn
Khuê!
Uyển Xuân tức ói máu, hỏi với giọng
mỉa mai:
- Thế lệnh TỔ tướng mạo giống ai
trong năm người các ngươi?
Đ ống Ngũ vỗ ngực :
- Tất nhiên gia TỔ phụ cao lớn, oai
phong như thuộc hạ chứ đâu thể nào lùn
xủn được !
đồng đại bị chạm tự ái, nhẩy đổng lên
chửi:
- Mả cha ngươi ! Lùn thì c Où gì xấu !
Ngươi cao mà ốm như cây tre miễu, oai
phong với ai?
Nhương Thư bỗng vỗ đùi nói lớn:
- Tại hạ nhớ ra rồi!
Thấy người chung quanh giật mình,
chàng mỉm cười hạ giọng:
- Năm mười hai tuổi, tại hạ từng nghe
tiên sư kể về Thần Quang Chân Nhân, và
người nhận xét rằng Công Tôn tiền bối
còn kém một vị phong trần dị nhân là Sấu
Tiên Vương Hàn Lân! Họ Vương là một
đạo sĩ, người gầy như que củi, từng dùng
một thanh kiếm tre đả bại Thần Quang!
chính vì thế mà Công Tôn Khuê qui ẩn,
lo việc tu tiên, không màng đến danh lợi
nữa!
Bất Trí Thư Sinh gật gù:
- Sấu Tiên thì lão phu cũng nghe danh,
nhưng không ngờ ông ta lại giỏi hơn
Thần Quang Chân Nhân !
Năm gã họ đồng bị lật tẩy, hổ thẹn
đứng lên, giả đò siêng năng lấp lại lỗ
huyệt!
Tào ưng mừng rỡ nói:
- Hay lắm! Nhương Thư mà học được
vài chiêu của Sấu Tiên thì đâu còn phải
sợ độc Biển Thước nữa?
VÔ ưu Cái thở dài:
- Trung Hoa có đến hơn trăm dãy núi
bốn đỉnh, biết dãy nào mà tìm?
Nhương Thư vốn tôn sùng sư phụ cho
rằng Phật đãng Kiếm Pháp là đệ nhất,
không ai hơn được, cho nên chẳng tha
thiết với tuyệt học của Sấu Tiên. Chàng
nói qua chuyện khác:
- Hàm ràng trên của người chết có hai
chiếc ràng khểnh, khác với Tiên Phụ. Nay
chỉ cần xác nhận Tần Tử Chính hay Tần
Tử Trung có ràng khểnh là sự việc sê
sáng tỏ !
Mọi người tán thành, xuống núi bủa đi
hỏi thăm, đến chiều thì đã xác định được
lai lịch của người chết. Tất cả những
người cư trú lâu năm ở Ly Sơn, và quen
biết Tần Tử Trung đều khẳng định ông có
hàm ráng rất đều và đẹp, trong khi Tử
Chính đúng là có hai chiếc ráng khểnh
hàm trên!
Hôm sau, bọn Nhương Thư tiến hành
việc xây mộ cho Tử Chính và nhờ nha
môn lập vãn án về việc này! Nhương Thư
được cấp thẻ đinh mới, tên cha là Tần Tử
Trung! Họ lưu lại Lâm đồng ba ngày,
thường xuyên có mặt ở Ly Sơn để ngoạn
cảnh và trông coi việc xây mộ!
Trong thời gian này, Nhương Thư đã
gặp một bằng hữu của cha mình. Hà lão
gia cười bảo rằng:
- Tử Trung văn võ toàn tài, từ thuở
thanh thiếu đã ngưỡng mộ vị danh tướng
điền Nhương Thư của nước Tề thời
chiến Quốc, nên đã đặt tên cho ngươi cai
tên ấy!
Uyển Xuân ranh mãnh:
- Thật là may mắn! Nêu Tần lão gia
ngưỡng mộ Tây Thi hoặc Bao Tự thì
nguy to!


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Hôi thứ mười
Huyết lưu Tây Nhạc ma vương tâu
Hả dạ Thẩn Long đáo cừu tuyển
Sau khi xây xong mộ cho Tử Chính, bọn
Nhương Thư rời Lâm Đồng, đến thành Đồng
Quan. Ngay trưa hôm sau, tức ngày mồng bốn
tháng ba. bọn tiêu cái đến báo tin rằng đã phát
hiện nhiều toán ky mã đi qua Đồng Quan, tiến
về hướng huyện Hoa Lâm.
Biết tà ma đang trên đường chinh phạt phái
Hoa Sơn, VÔ ưu cái lập tức ra lệnh khởi hành.
Cả đoàn cải trang cân thận, bám theo đối
phương nhưng cách xa đến vài dặm. Dường như
Tứ Phạn Thiên Cung đã ấn định ngày giờ tấn
công thích hợp nên cước trình chăng hề vội vã.
Họ giả làm lái buôn, từng tốp nhỏ xâm nhập
huyện thành Hoa âm, phân tán ra mà tìm chỗ
trọ
Phe Nhương Thư thì đi thăng lên núi Hoa
Sơn đề báo hung tin và bàn cách cự địch.
Hoa Sơn được nhắc đến rất nhiều trong
truyện võ hiệp, phái Hoa Sơn đã nỗi tiếng với
những nhân vật như Lệnh Hồ Xung, Nhạc Linh
San, Quân tử kiếm Nhạc Bất Quần... nay tác giả
xin mạn phép miêu tả sơ địa thế Hoa Sơn đề
chư vị độc giả thưởng lãm.
Hoa Sơn được phong làm Tây Nhạc trong
Ngũ Nhạc của Trung Hoa. nằm ở huyện Hoa
âm tinh Thiêm Tây, bắc giáp Sông Vị, phía
Nam là rặng Tần Lĩnh.
Hoa Sơn có đến năm đinh, một ở giữa và bốn
đinh còn lại vây quanh tựa một đoá hoa. Đinh
trung tâm có tên Ngọc Nữ, do truyền thuyết kề
rằng con gái Tần Mục Công là Ngọc Nữ đã rời
bỏ Hoàng Cung, đến nơi này ân tu. Chính vì
vậy mà ở đây có nhiều danh thắng mang tên
Ngọc Nữ như: Đền Ngọc Nữ, bồn gội đầu của
Ngọc Nữ, Ngọc Truyền Viện.... v.v...
Đinh phía Bắc tên gọi Vân Đài, chắc là do
luôn bị mây bao phủ. Đinh phía Tây có cung
Thúy Vân, trước cửa cung có tảng đá lớn hình
dạng giống đoá sen, nên đinh Tây còn có tên là
đinh Liên Hoa.
Trên đinh Đông có đài Triều âm,nơi du
khách có thề quan sát bốn phía Hoa Sơn, vì thế
Triều âm trở thành tên của đinh núi này.
Ngọn cao nhất của rặng Hoa Sơn chính là
đinh nam, độ khoảng sáu trăm năm mươi ba
trượng, bốn phía có rừng tùng bao phủ.
Hoa Sơn đẹp nhờ thế núi kỳ tú, và cũng nhờ
hàng trăm công trình kiến trúc phong phú, gồm
đình, chùa. lâu các, miếu mạo. Nỗi tiếng nhất là
những thắng cảnh đã kề trên, cùng vài nơi khác
nhau Miếu Tây Nhạc, trấn Nhạc Quan, Thiếu
Hoa Sơn, và đoạn trường thành đời nhà Ngụy.
Thế thì căn cứ của Hoa Sơn Kiếm phái nằm ở
ngọn nào? Xin thưa rằng do đường đi đến Hoa
Sơn cực kỳ hiểm trở, chi có một lối đi duy nhất
ở hướng Nam, nên Đạo Cung của phái Hoa Sơn
bắt buộc phải nằm ở sườn Nam của đinh Nam.
Hoa Sơn phái trước hết là một cơ sở đạo giáo,
phát nguyên từ Toàn Chân Giáo ở Hoa Bắc. TỔ
sư phái Hoa Sơn là một nhân vật có thực, tên
gọi Hách Đại Thông.
Họ Hách lại là đệ tử của tổ sư phái Toàn
Chân Vương Trùng Dương, nhân vật chính
trong tác phẩm Võ Lâm Ngũ Bá.
sau khi sư phụ thăng thiên, Hách Đại Thông
về núi Hoa Sơn lập Đạo Cung, quáng bá giáo
nghĩa Toàn Chân. Truyền đạo thì cần đông tín
đồ, nên Thuần Dương Đạo Cung phải tọa lạc ở
nơi bách tính dễ lui tới. Nếu nằm quá cao, quá
xa thì các đạo sĩ Hoa Sơn chi có nước chết đói
vì chăng được lê thứ cúng dường.
Khác với Nhạc Bất Quần, chưởng môn phái
Hoa Sơn, Ngọc Tâm Tử là một đạo sĩ thứ thiệt,
suốt đời chay tịnh và không có vợ con.
ông mừng rỡ đón chào bọn VÔ ưu Cái, mời
vào khánh xá ở mé tả Thuần Dương Đạo Cung.
Cái tên này xuất phát từ việc Vương Trùng
Dương nhận mình là đệ tử của Lã Thuần Dương
đời nhà Đường Thực ra Toàn Chân và Hoa Sơn
đều thờ Chân Võ Đế Quân. Nghe VÔ ưu cái báo
tin dữ, Ngọc Tâm Tử buồn rầu nói:
- Bần đạo vốn dốt đặc về binh pháp, phiền
Cao thí chủ chủ trì dúm cục diện.
Bất Trí Thư Sinh nói vài câu khiêm tốn rồi
đưa ra ngay một kế hoạch ứng phó vô cùng
tuyệt diệu.
Ngọc Tâm Tử triệu tập môn đồ đề Cao Thư
Sinh phân phó nhiệm vụ. Tuy phái Hoa Sơn
đông đến ba trăm, trong khi đối phương chi độ
hai trăm, song các đạo sĩ đều không có kinh
nghiệm giao đấu, thua xa bọn sát thủ Thiên
Cung, đấy là chưa kề đến chất độc VÔ Hình.
May thay bọn VÔ ưu Cái đã xuất hiện, mang
theo cả phương pháp đối phó với kỳ độc. Đến
xâm tối thì ai cũng được trang bị khăn phòng
độc khí, sẵn sàng diệt địch. Nhưng không phải
là chờ kè thù đến tận nhà mà là mai phục ngay
đoạn đường hiểm yếu dưới chân núi.
Như đã nói ở trên, chi có một con đường duy
nhất dẫn vào các ngọn núi của Hoa Sơn. Đường
độc đạo này trước tiên đi ngang qua đinh Nam,
trỗ nhánh rẽ phải, con đường nhánh này dành
cho những khách thập phương đến cúng bái ở
Thuần Dương Đạo Cung của phái Hoa Sơn.
Đoạn đường dài năm dặm ấy xuyên qua rừng
tùng rậm rạp, rộng mười hai bước chân, xe ngựa
có thề đi được nhưng hơi chậm vì lên dốc.
Mấy đời đệ tử Hoa Sơn đã phải đỗ biết bao
mồ hôi đề khai phá con đường này. Do địa hình
sơn cước, cao dần về hướng núi nên họ đã phải
đào đắp, san lấp những đoạn gồ ghề, những dốc
đá dựng đứng, đề có được một con đường bằng
phăng, thoai thoải hiện nay.
Đất đá dư ra trong quá trình làm đường, được
đỗ đầy hai bên lộ, tựa như đê vậy. Trên hai dãy
đê lồn nhộn này, cỏ dại, bụi rậm mọc đầy, trở
thành chỗ bố trí phục binh rất lý tưởng, trong
con mắt tinh tường của một kè đầy bụng lục
thao, tam lược như Bất Trí Thư Sinh.
Đầu canh một, trinh sát Cái Bang ở huyện
thành Hoa âm đến cấp báo rằng phe đối
phương đã rời chỗ trọ. Lực lượng Hoa Sơn lập
tức chiếm lĩnh vị trí đã định, lặng lẽ đợi chờ.
Giữa canh hai, một đoàn quân Hắc y đông
đảo tiến về đường mòn, lướt đi rất nhanh với
bước chân êm ái của những kè có thân pháp cao
cường.
Tưởng mình ở thế bất ngờ nên Tứ Phạn
Thiên Cung rất an tâm, nhất là hai gã tiền trạm
do đường không hề có tín hiệu báo nguy.
Rừng tùng hai bên đường đều có tuổi hơn
trăm, lại gặp lúc xuân về nên xanh tốt, cành lá
vươn ra gần giữa lộ, che kín cả ánh sao khuya.
Và trong khung cảnh tối tăm ấy, phe Hoa Sơn
hoàn toàn chiếm lợi thế khi từ đích đê trút
xuống trận mưa đá. Các đạo sĩ không biết thủ
pháp phóng ám khí nhưng ném đá thì chăng
khó Họ đứng trên cao, cật lực phang những hòn
đá núi to hơn nắm tay vào hàng ngũ kè thù.
Đòn ám tập này thu được kết quả mỹ mãn, đả
thương mấy chục gã Hắc Y, tiếng rên la. kêu cha
gọi mẹ vang dậy đêm xuân.
Hai đầu đường đã bị chặn kín, bọn Thiên
Cung chi còn cách nhây lên luỹ đất hai bên lộ,
đào tâu bằng lối rừng tùng. Đương nhiên chúng
bị các đạo sĩ chặn lại bằng đá và bằng trường
kiếm.
Giờ đây, quân số Tứ Phạn Thiên Cung chi
còn lành lặn hơn trăm, bằng nửa phái Hoa Sơn,
đúng như dự kiến của Bất Trí Thư Sinh. Bước
kế tiếp là dùng số đông mà áp đảo kè thù, cứ hai
đạo sĩ đánh với một gã Hắc Y.
Đuốc nhựa thông được thắp sang rực, soi rõ
đấu trường, cả trên lũy lẫn dưới lòng đường.
Bọn đầu não Thiên Cung đã đánh thốc ngựa
ra ngoài, mở đường máu cho thuộc hạ. Họ cũng
bịt kín đầu nên chăng thề nhận diện được. Tuy
nhiên, dựa vào võ công có thề đoán ra sự có mặt
của Độc Biên Thước. Tả Nho Quan phối hợp
kiếm chưởng, tiến ra như vũ bão, theo sau là
bốn đại cao thủ võ nghệ cao cường.
Thống lĩnh rút chặn hướng Nam chính là
Ngọc Tâm Tử và hai sư đệ, cùng hai chục đạo sĩ
Hoa Sơn. Độc Biên Thước bản lãnh vô song,
chi một chưởng cách không đã đây lùi Ngọc
Tâm Tử, còn kiếm thì quét văng hai cao thủ
hàng chữ Ngọc của Hoa Sơn.
Họ Tả nhờ máu Huyết Hoa Lộc mà sở hữu
đến trăm năm công lực, chưởng kình nặng như
núi, có thề đả thương người từ khoảng cách
trượng rưỡi, lợi hại gấp bội Lã Tập Hiền. Đấy là
chưa nói đến việc lão tinh thông đủ bảy mươi
hai chiêu Thần Quang Chưởng Pháp, đòn ra
thần tốc và cực kỳ ảo diệu. Với tu vi ấy, Thần
Quang Kiếm Pháp cũng không có đối thủ, dù
còn kém Phật Đăng Kiếm Pháp một bậc. Nay
Thượng Nhân đã nhập niết bàn, Tả Nho Quan
cho rằng mình là kè vô địch.
Sau khi đánh bại Chưởng môn phái Hoa Sơn
và hai sư đệ. Độc Biên Thước hung hãn xông
vào đám đạo sĩ, tưởng chi một,hai chiêu là quét
sạch. Tiếc thay, bọn cừu non kia chăng hề sợ
hãi, ngang ngạnh xông lên tấn công.
Độc Biên Thước ngạo nghễ vỗ liền bốn
chưởng theo hình nan quạt đề đả thương những
kè đi đầu. Không ngờ có ba đạo sĩ trung niên
bốc lên không trung như chiếc pháp thăng
thiên, rồi bủa lưới thép xuống đầu họ Tả. và
người thứ tư thì xông thăng đến.
Kiếm phong, đao kình rít lên veo véo. Chứng
tỏ công lực của bốn tay đạo sĩ kia chăng hề non
kém.
Độc Biên Thước không chút bối rối, tả thủ
đây liền chín chưởng như vũ bão, đánh bật ba
gã trên cao, rồi lướt đến cử kiếm tiếp gã trước
mặt. tên đạo sĩ này có vè chăng đáng sợ, bước
chân nặng nề dậm thình thịch trên mặt đường.
Song khi còn cách nhau hơn trượng, gã ta đột
ngột lao vút đến như tên bắn, trường kiếm xé
không gian, kiếm kình cuồn cuộn như thác lũ,
kiếm ảnh lấp loáng phản chiếu ánh đuốc, hiện
rõ mười tám ngọn lửa chập chờn.
Đã từng thảm bại dưới Phật Đăng Kiếm Pháp
nên Tả Nho Quan nhận ra ngay chiêu Nghiệp
Chướng Nam Đào, vội nghiến răng đánh chiêu
Tà Huy Tây Chiếu, còn tả thủ vỗ một chưởng
ngàn cân vào thượng bàn đối phương.
Độc Biên Thước rèn luyện hơn hai chục năm,
đạt đến mức tinh tuý của tuyệt học Thần Quang,
thủ pháp Kiếm Chưởng Hợp Bích rất cao siêu.
Gã đạo sĩ kia liều lĩnh nghiêng người, đề đạo
chưởng kình đánh phớt vào vai trái và vẫn tiếp
tục ập vào Khả năng chịu đòn của gã thật đáng
khâm phục, nếu là người khác thì đã gầy xương,
dập phổi.
Hai luồng kiếm quang chạm nhau chi trong
khoảnh khắc đã tắt lịm, và Tả Nho Quan rú lên
kinh hoàng vì ngực, bụng thủng đến ba lỗ.
Chưởng là sở trường của Thần Quang nhưng
kiếm thuật lại là nghề của vị hòa thượng Ngũ
Đài Sơn nên họ Tả phải chịu thiệt thòi.
Độc Biên Thước công lực thông thần, chăng
vì ba vết thương ấy mà nhục chí, bốc lên cao
giáng chưởng xuống đầu gã láo xược kia.
Nhưng ba tên lúc nãy đã đề khí bay lên, liên thủ
đánh lão ngay trên không trung. Lợi hại nhất là
thanh bảo đao trắng tỏa khí lạnh căm căm.
Nhận ra Tuyết Hoa Đao Pháp của Đao Đế,
Độc Biên Thước chột dạ. khi truyền nhân của
hai người đứng đầu Vũ Nội Tứ Thần liên thủ thì
rất đáng ngại. Nhất là lão đã thọ thương, đánh
lâu sẽ kiệt lực vì mất máu.
Tả Nho Quan vung chưởng giáng vào lưới
đao, mượn lực phản chiếu với vị trí cũ, hạ thân
xuống đất, lập tức bị bốn cao thủ kia vây chặt.
Lúc này mới thấy hết được bản lãnh kinh
thiên động địa của họ Tả. Lão thi triện một bộ
pháp thần kỳ, lượn lờ giữa vòng vây, kiếm
phong rít gió rợn người và chưởng kình liên
tiếp đây ra như bão tố. Chưa đầy nửa khắc lão
đã lần lượt đánh cho bốn đạo nhân kia ri máu
miệng, và Độc Biên Thước đã nhận ra thêm hai
pho kiếm của Vương óc lão nhân và Hồng Diện
Tôn Giả.
Lão rất kinh ngạc vì Tần Nhương Thư và
Bạch Thúy Sơn đã bỏ mạng dưới vục thẳm Sáp
Vân Phong. Nhớ đến cái chết của phân đàn chủ
Lạc Dương là Trác Thiên Lộc, lão thức ngộ ngay
rằng Nhương Thư còn sống. Phật Đăng Thượng
Nhân chi có hai đồ đệ mà thôi.
Tả Nho Quan gậin dữ gầm lên:
- Tần Nhương Thư! Ngươi phải thay lão trọc
Phật Đăng trả nợ cho lão phu.
Chăng có ai thèm đáp vì họ đang cố lợi dụng
cơ hội tốt này đề ập vào tấn công Độc Biên
Thước.
Tả Nho Quan liền bốc cao hai trượng, nhanh
tay tra kiếm vào vỏ bên hông, múa song chưởng
giáng xuống. lão hiệu rằng kiếm thuật là sở
trường của Nhương Thư nên chăng dại gì tiếp
tục dùng kiếm nữa.
Chiêu Thái Dương Tán Sắc gồm đến ba mươi
sáu đạo chưởng phong, kình lực mãnh liệt phi
thường, đánh bạt đao kiếm, đây văng cả bốn đối
thủ ra xa.
Gã đạo sĩ nhỏ người chính là Thúy Sơn, còn
gã to ngang là Thiết Kình Ngư Tào ưng. Hai
người này trúng đòn khá nặng nên phải rút ra
ngoài điều tức đề Nhương Thư và Nghi Tuyệt
chống cự.
Có tiếng ai vọng đến:
- Tả Nho Quan! Lính của lão chết gần rồi
đấy Hãy bó tay qui hàng đi thôi.
Đúng là hai đánh một chăng chột cũng què,
phe Tứ Phạn Thiên Cung thương vong rất
nhiều, tình thế mỗi lú thêm nguy ngập.
Họ Tả cười nhạt:
- Đề lão phu giết hai gã này mà gỡ vốn vậy.
Thế là lão múa tít song thủ, xuất những chiêu
độc ác và mãnh liệt khiến hai gã Tần, Hoàng
phải tối tăm mặt mũi. Song Nhương Thư đã
khiến họ Tả phải ngán ngâm trước khả năng
chịu đòn phi thường. Chàng liên tiếp hộc máu
nhưng vẫn ôm kiếm lăn xả vào. Độc Biên
Thước không dám đề đối phương áp sát, đành
dùng bộ pháp Thần Quang Hoán Vị mà né
tránh
Người vừa nói chính là Bất Trí Thư Sinh Cao
Trường Toàn. Lão đang đứng trên ngọn cây
tùng gần đấy đề bao quát trận địa. Họ Cao bỗng
bảo:
- Hoàng lão đệ hãy lùi xa. đề mình Nhương
Thư đối phó.
Quyết định kỳ lạ này của lão đã khiến Nghi
Tuyệt sửng sốt nhưng phải tuân theo.
Họ Hoàng bỏ trận địa nhảy lên lũy đất, đau
lòng nhìn Nhương Thư cứ phải lùi mãi về
hướng Nam, cách khá xa đấu trường chung.
Bất ngờ, trên ngọn tùng thứ hai, gần vị trí
mới của Nhương Thư và Độc Biên Thước, phát
ra tiếng ho khan. Họ Tần lập tức bay lên như
pháo thăng thiên, rơi chếch phía sau con đê đất
ở ven đường. Cùng lúc ấy, hai vật lạ từ ngọn
Tùng chạm mảnh đất dưới chân Tả Nho Quan.
Hai tiếng nỗ long trời phát ra gần như đồng
thời, tưởng rằng đã phân thây họ Tả. Nhưng
Độc Biên Thước xảo quyệt có thừa đã kịp rời
chỗ. Tuy nhiên, sức ép của hỏa khí đã khiến lão
phải hộc máu, và thân sau đau nhức vì hang
trăm mảnh đá vụn bắn vào. Lão kinh hoàng
chạy thăng, chăng dám quay đầu lại.
Đám cao thủ chủ chốt của Thiên Cung đang
giao đấu với các đạo sĩ già của phái Hoa Sơn,
cũng vội nối gót Tả Nho Quan.
Bọn đệ tử Thiên Cung không đủ bản lãnh
thoát đi, đành ở lại chịu chết. Ba ả họ Điền được
sự bảo vệ của LÔ Châu Ngũ Tặc nên yên tâm tả
xung hữu đột, lập được nhiều chiến tích.
Ngọc Tâm Tử bất nhẫn lên tiếng kêu gọi bọn
sát thủ Thiên Cung qui hàng, song chăng tên
nào đáp ứng, chiến đấu mãi đến giọt máu cuối
cùng.
chiều mười ba. bọn Nhương Thư có mặt ở
Đồng Quan. Tối hôm ấy, Nhương Thư sang
phòng VÔ ưu Cái, gặp cả Bất Trí Thư Sinh và
Dạ Quân Tử ở đấy. Ba lão nhân này đang bàn
bạc kế hoạch đối phó với Độc Biên Thước.
VÔ ưu Cái nghiêm giọng bảo chàng:
- Tần hiền đệ! Lão phu biết mấy hôm nay
ngươi rất ưu phiền vì bản lãnh kém xa Tả Nho
Quan, nhưng đấy là lẽ thường tình vì chu vi quá
chênh lệch.
- Thực ra. ngươi chính là kình địch số một
của họ Tả. bởi lão không thề nào giết được
ngươi. Trận vừa rồi đã chứng minh việc ấy. Bọn
lão phu sẽ tạo cơ hội đề hiền đệ ra tay bất ngờ,
tất sẽ tiêu diệt được Độc Biên Thước.
Nhương Thư lắc đầu gượng cười:
- Tiêu đệ không trẻ con đến mức tự ái về điều
đó, chăng qua trong lòng lo lắng cho Bạch Ngọc
Tiên Tử đấy thôi.
Ba người kia nhìn nhau với ánh mắt kỳ lạ.
khiến Nhương Thư chột dạ. VÔ ưu Cái thở dài:
- Hiền đệ hãy cố trấn tĩnh nghe lão phu nói
đây Thực ra. Lâm Đại Ngọc đã rơi vào tay âm
Sơn Lão TỒ Lương Dã Toàn, sư phụ của Thiêm
Bắc Thần Long Lạc Nhất Lôi. Gã khốn kiếp họ
Lạc đã đem người yêu cũ dâng cho sư phụ. Hai
thầy trò gã đã đến Lã Lương Sơn giết sạch Lâm
Gia Trang, bắt sống Đại Ngọc. May thay, có một
ả nữ tỳ chưa chết nên đã kề lại khi đệ tử bồn
bang đến hỏi thăm.
Hung tin này như sét đánh ngang tai, khiến
Nhương Thư chết điếng. Một hồi lâu mới mở
miệng được:
- Nhưng người của Cái Bang ở âm Sơn có
biết Bạch Ngọc Tiên Tử sống chết thế nào
không?
Hầu bang chủ ứa nước mắt đáp :
- Đại Ngọc bị bắt ngày mùng bốn tết, và đến
gần cuối tháng giêng thì thi thề được phát hiện
trong cánh rừng vắng ở ngoại thành Du Lâm. Đệ
tử bốn bang đã chôn cất nàng tử tế.
Nhương Thư bình thản đến mức chăng ai ngờ
được, chi ánh mắt là rực rỡ nỗi đau đớn và thù
hận. Chàng từ tốn hỏi:
- Phải chăng âm Sơn Lão TỒ đang ở Du Sơn
với Thiêm Bắc Thần Long?
VÔ ưu Cái gật đầu:
- Đúng vậy! Nghe nói lão qui già họ Lương
ấy tình cờ tìm được một bụi thiên niên Tuyết
Sâm trên đinh núi âm Sơn băng giá. nên tóc
đen trở lại, dục tính rất mạnh, phải về ở chốn
phồn hoa mới có đủ nữ nhân đề đáp ứng.
Bất Trí Thư Sinh tư lự:
- âm Sơn Lão TỒ tuổi đã tám ba. nay ăn được
kỳ trân công lực không dưới trăm năm. Lão ta
mà có dã tâm bá chủ như Độc Biên Thước thì
võ lâm cũng khốn đốn.
Và lão quay sang bảo Nhương Thư:
- Ta biết hiền đệ đã quyết đi Du Lâm đề báo
thù cho Bạch Ngọc Tiên Tử. Có đúng thế
chăng?
Nhương Thư gật đầu, mắt sáng rực:
- Tiêu đệ dù không địch lại cũng có thề thừa
cơ tập kích Lương Lão Quỷ. Khi tiêu đệ đã liều
mạng thì trong võ lâm khó ai lành lặn.
VÔ ưu Cái quắc mắt mắng:
- Hồ đồ! Ngươi kế thừa sự nghiệp giáng ma
của Phật Đăng Thượng Nhân, tính mạng thuộc
về võ lâm, sao lại dám mở miệng nói đến việc
liều chết? Đấy là chưa kề hạnh phúc của ba cô
gái họ Điền, ngươi làm thế liệu có hợp đạo lý
hay không?
Nhương Thư toát mồ hôi vái dài:
- Tiêu đệ đã hiệu đại nghĩa. cảm tạ Hầu lão ca
đã dạy bảo.
Bất Trí Thư Sinh mỉn cười:
- Thực ra việc giết âm Sơn Lão TỐ cũng
không khó, chi cần hai trái Bạt Sơn Thần Lựu là
đủ Tuy nhiên, qua trường hợp thoát chết của
Độc Biên Thước, chúng ta phải nghĩ đến việc
Lương Dã Toàn cũng có thề sống sót. Một kè sở
hữu trăm năm công lực thì mỗi cú nhảy xa đến
hơn ba trượng, trong khi thần lực không nỗ
ngay khi chạm đất, mà lại phải sau khoảng thời
gian vài cái chớp mắt. âm Sơn lão tố không
chết tất sẽ vào Trung Nguyên, tìm Nhương Thư
báo thù, không chừng sẽ liên thủ với Độc Biên
Thước. Hậu quả thế nào thì ai cũng hiệu.
Nhương Thư nghe lão phân tích mà choáng
váng, buồn rầu nói:
- Thế thì tiêu đệ phải làm sao?
Bất Trí Thư Sinh lắc đầu:
- Không phải thế! Ngươi và Bạch Thúy Sơn
vẫn cứ đem Bạt Sơn Thần Lựu đi Du Lâm, tuỳ
cơ ứng biến. Hai ngươi sẽ đóng vai vợ chồng
mang lễ vật hậu hĩnh, xưng là người của Tứ
Phạn Thiên Cung đến cầu kiến lão TỐ. Nếu thấy
không có thời cơ đề xử dụng hoả khí thì đánh
lén một đòn rồi đào tâu.
Họ Lương chết thì tốt, bằng không, lão ta sẽ
tìm Độc Biên Thước hỏi tội.
- Chúng ta sẽ cung cấp tiền bạc và nhân lực
đề âm Sơn Lão TỐ vững lòng tương sát với Tứ
Phạn Thiên Cung. Khi lão giết xong Tả Nho
Quan, lão phu hứa sẽ có cách giao Lương Dã
Toàn cho hiền đệ kết liễu.
VÔ ưu Cái và Dạ Quân Tử Quách Tàn Bôi hồ
hởi dơ ngón cái khen ngợi diệu kế của họ Cao.
Nhương Thư biết mình và các bằng hữu
không đủ sức tiêu diệt Độc Biên Thước, đành vì
đại cục mà chấp nhận kế hoạch này của Bất Trí
Thư Sinh.
Chàng khăng khái đáp :
- Tiêu đệ xin tuân mệnh. Song vì sao lại phải
bắt Thúy Sơn giả gái, đóng vai vợ chồng với
Thư này?
Cao Trường Toàn khề khà giải thích, ánh mắt
đầy vè diễu cợt:
- Nếu ngươi và Nghi Tuyệt đi thì Lão TỐ sẽ
cảnh giác vì sát khí quá mạnh. Còn với một đôi
nam thanh nữ tú thì sát khí của ngươi bị vè ôn
nhu của Thúy Sơn che lấp, và chi mình y mới
đủ bản lãnh khinh công đề cùng ngươi đào tâu.
- Biết y có làm nỗi không đấy! Với cái dáng
đi khệnh khạng, tay khuỳnh khuỳnh kia. làm
sao giả gái được?
Ba lão nhân không còn kừn nỗi, ôm bụng
cười sặc sụa nhưng chăng dám lớn tiếng. Thấy
Nhương Thư ngơ ngáo, VÔ ưu Cái hỗn hên nói :
- Ngươi đúng là một gã đại ngốc. Thúy Sơn
vốn là gái giả trai đấy.
Nhương Thư giật bắn mình, thảng thốt biện
bác:
- Thật thế sao! Nhưng tiêu đệ đã kiêm tra.
thấy ngực y bằng phăng, lại có cả dương vật
cồm cộm trong quần nữa.
Bất Trí Thư Sinh nghiêm giọng:
- Trước đây lão phu cũng bị lừa. chi sau khi
hai người từ đáy vục hồi sinh thì lão phu mới rõ
trắng đen. Những con cá màu đen dưới vục
thăm Sáp Vân Phong là Hắc Dâm Ngư, có tác
dụng bồi bổ chân nguyên rất kỳ diệu, nhưng
đồng thời lại làm cho người hưởng thụ rơi vào
trạng thái mê man, đòi hỏi nữ nhân đề quân
bình âm Dương. Nếu đúng Thúy Sơn là trai thì
ngươi đã chết hoặc trở thành điên loạn suốt đời
rồi. Nàng ta yêu ngươi tha thiết nên mới nhảy
xuống vục chết theo, nào ngờ lại cứu được
ngươi bằng cách hy sinh thân xác.
Nhương Thư xấu hỗ đến mức chi muốn chui
xuống gầm bàn, và rất cảm kích trước mối chân
tình của Thúy Sơn.
Cao lão hắng giọng nói tiếp:
- Lão phu đã xem lại y kinh hiệu rằng Thúy
Sơn mang chứng Tiên Thiên Bất Túc ở Kinh
Túc Thái âm Tỳ, cơ thề thiếu những chất nội
tiết dành cho nữ giới. Do vậy, ngực của nàng ta
chăng phát triển và kinh nguyệt cũng không.
May thay trong quyên cỗ thư này có một toa
thuốc đề điều trị, hãy cho nàng uống thuốc và
giao hợp hằng ngày, sẽ thấy kết quả tốt.
Nhương Thư đỏ mặt tía tai, chi gật đầu chứ
không dám mở miệng. Dạ Quân Tử bỗng lên
tiếng:
- Tần hiền đệ mấy lần ăn được kỳ vật mà
công lực chăng tăng tiến bao nhiêu, kề cũng lạ
thực
Bất Trí Thư Sinh gật gù:
- Lão phu cũng thắc mắc mãi về điều ấy. Có
lẽ do ba loại Quỷ Nấm, Thuỷ Xà Giác Huyết, và
Hắc Dâm Ngư có dược tính đối kháng nên hiệu
quả kém đi. Tuy nhiên, việc y thoát khỏi tử hạn
ba năm, có được thân thề sắt thép và một công
lực hơn bốn mươi năm cũng là quá diễm phúc
rồi. VÔ ưu Cái thở dài:
Tiếc rằng bao nhiêu ấy cũng chưa đủ đề đối
phó với Độc Biên Thước hoặc âm Sơn Lão TỒ.
Sáng hôm sau, đoàn người lên đường đi Lạc
Dương. Khi đến tổng đàn Cái Bang được ba
ngày thì Dạ Quân Tử mới làm xong chiếc mặt
nạ mang dung mạo Cung chủ Tứ Phạn Thiên
Cung âu Dương Lăng. Nhương Thư sẽ dùng
thân phận của gã đề bái kiến âm Sơn Lão TỒ,
thực hiện kế Di Hoạ Giang Đông.
Ba ả họ Điền không hề biết ân tình về Bạch
Ngọc Tiên Tử, cứ ngỡ Nhương Thư ra đi vì việc
công của võ lâm. Họ cũng không được tiết lộ
thân phận nữ nhi của Bạch Thúy Sơn, chi trầm
trồ khen lấy khen đề rằng gã giả gái rất hợp,
nhan sắc chăng thua gì họ. BỘ ngực lép kẹp phải
độn bông của Thúy Sơn đã làm cho ba nữ nhân
chăng chút nghi ngờ.
Mờ sáng ngày hai mươi hai tháng ba. Nhương
Thư và Thúy Sơn rời Lạc Dương đi lên hướng
Bắc, vượt sông Lạc Hà. đến chiều thì đã ở bờ
Bắc Hoàng Hà.
Hai người vào trọ trong lữ điếm, chờ sáng
hôm sau mới khởi hành. Đã đóng vai vợ chồng
thì phải ở chung phòng, ngủ chung giường,
Nhương Thư đã có cơ hội đề thực hiện lời
khuyên của Bất Trí Thư Sinh. Tuy đang đau
khổ vì cái chết của Bạch Ngọc Tiên Tử, song
chàng vẫn có nhiệm vụ với Thúy Sơn. Thế gian
vốn vô thường, chúng sinh chìm đắm trong luân
hồi, tử sinh chăng thề tránh, nên kè thức giả an
nhiên thụ mệnh, xem sống chết là một.
Đêm đến, Nhương Thư trao cho Thúy Sơn
một viên dược hoàn màu xanh, nhỏ như hạt
đậu:
- Hiền đệ uống đi !
Thúy Sơn mỉn cười hỏi:
- Thuốc bổ chăng?
Nhương Thư gật đầu, hài lòng khi thấy Thúy
Sơn mau mắn nuốt ngay. Hai người lên giường
vì đêm đã khuya. Nhương Thư ngượng ngùng
ôm lấy nàng, chăng còn thanh thản như lúc
trước nữa. lát sau, Thúy Sơn thở hỗn hên, run
rây hỏi:
- Đại ca cho tiêu đệ uống xuân dược ~
Nhương Thư dịu giọng bảo:
- Sơn muội ! ta đã biết nàng là gái giả trai.
Thúy Sơn hỗ thẹn bật khóc:
- Tiêu muội chăng đủ tư cách nữ nhân, đâu
xứng với đại ca~
Nhương Thư biết nàng ám chi bộ ngực, liền
an ủi:
- Hiền muội sai rồi. Chăng lẽ một nam nhân
không râu thì không phải đàn ông? Hơn nữa
những viên linh đan kia sẽ giúp hiền muội khắc
phục khiếm khuyết ấy.
Chàng liền kề lại lời nói của Bất Trí Thư
Sinh Thúy Sơn vừa mừng vừa thẹn,giấu mặt
vào vai tình quân.
Nhương Thư cũng đã động tình, cởi áo nữ
nhân, lần đầu được nhìn rõ bộ ngực lép kẹp của
Thúy Sơn. Chàng say đắm hôn hít, vuốt ve thân
hình thon dài, ngà ngọc rồi gầy cuộc truy hoan.
Đêm nay, chàng hoàn toàn tinh táo nên động tác
nhẹ nhàng, điêu luyện khiến Thúy Sơn tận
hưởng những cảm giác ngút ngàn hơn hằn
những lần bị dày vò dưới đáy vục.
Cuộc hành trình ngàn dặm, xuyên cao
nguyên Sơn Tây đã trở thành tuần trăng mật
ngọt ngào của hai kè yêu nhau. Sau gần tháng
mặn nồng ân ái và uống thuốc, kỳ diệu thay,
ngực của Thúy Sơn đã có dấu hiệu nảy nở hơn
trước, và khi họ đến thành Du Lâm thì kinh
nguyệt xuất hiện.
Đôi uyên ương sẽ phải nghi ngơi ở khách
điếm vài ngày, chờ niềm vui kia qua đi thì mới
tính đến chuyện bái kiến âm Sơn Lão TỒ. Ngay
ngày đầu tiên, họ có bí mật đến tế mộ Bạch
Ngọc Tiên Tử. Nhương Thư chi sa lệ, còn Bạch
Thúy Sơn khóc như mưa. đúng với bản chất nữ
nhi của nàng.
Hai hôm sau là hai mươi lăm tháng tư, hai
người tìm gặp phân đà của Cái Bang ở Du Lâm.
Kim Tiền Cái LỘ Đăng Tâm đã báo cho họ một
tin không vui, là việc âm Sơn Lão TỐ sắp khai
trương âm Sơn Thần Giáo vào ngày đầu tháng
năm tới. Xem ra lão già hồi xuân ấy quyết làm
bá chủ vùng Tây Bắc và sau đó có thề là cả
Trung nguyên.
Kim Tiền Cái có người bà con làm gia nhân
trong nhà Thiêm Bắc Thần Long Lạc Nhất Lôi
nên biết rất rõ nội tình. Lão khề khà kề:
- Bấm công tử! Dã tâm của âm Sơn Lão TỐ
rất lớn. Lão ta chiêu mộ bọn dũng sĩ của bộ tộc
Đảng Hạ ở đất Tây Hạ. lực lượng rất đông đảo
hùng mạnh. Một đạo quán đồ sộ được xây trên
núi âm Sơn trở thành thánh địa. còn Tống Đàn
của âm Sơn giáo thì lại ở Diên An. Việc này
chứng tỏ Lão TỐ sẽ bành trướng vào Trung
Nguyên. Hiện nay lão ta đang ở âm Sơn đề
chuẩn bị lễ khai giáo, còn Lạc Nhất Lôi thì lo
việc xây dựng Tống Đàn ở Diên An.
Mục tiêu biến mất, kế Di Hoạ Giang Đông bị
phá sản, Nhương Thư chán nản hỏi Thúy Sơn:
- Thế thì chúng ta sẽ phải làm gì?
Thúy Sơn cau đôi mày liễu suy nghĩ, lát sau
bàn rằng:
- Xét ra thì tội của Thiêm Bắc Thần Long còn
nặng hơn âm Sơn Lão TỐ. Nay chúng ta cứ đi
ngay Diên ân giết gã Lạc Nhất Lôi đề báo thù
cho Bạch Ngọc Tiên Tử.
Sáng hôm hai mươi sáu, Nhương Thư và
Thúy Sơn lập tức xuôi Nam đề đi Diên An. Lần
này lộ trình thuộc bờ Tây nhánh phải Hoàng
Hà. hoàn toàn nằm trên cao nguyên Hoàng thổ
của đất Thiêm Tây, nên phong cảnh hoang vu,
địa thế gập ghềnh hiểm trở, bụi vàng bay mù
mịt, phủ kín cả người lẫn ngựa.
Hơn mười ngày sau đôi uyên ương mới có
mặt ở Diên An, tân khách điếm đề nghi ngơi và
trút bỏ bụi đường.
Chiều hôm ấy họ đã được Phân Đà Cái bang
ở Diên An báo cáo :
- Bấm công tử! Sào huyệt của âm Sơn Giáo
còn đang xây dựng dở dang, chi mới xong được
phần kết cấu, chưa tô trát, sơn phết. nằm trên
lưng chừng núi Kiếm Sơn, cách cửa Đông
Thành hơn chục dặm.
Thúy Sơn ngắt lời gã:
- Việc phòng vệ ở nơi ấy thế nào?
Phân Đà Chủ Cái Bang ở Diên An là một hán
tử sáu túi, tuổi bốn mươi tám, tên gọi Đại
Chủng Cái Địch Cùng Nam, vì có cái miệng
rộng gấp đôi người thường. Họ Địch cười đáp:
- Bấm phu nhân! Tổng số nhân thủ ấy đông
độ ba trăm, toàn là người của bộ tộc Đảng Hạ.
Ho vừa là thợ xây cất, vừa là võ sĩ canh phòng.
Có lẽ đề che giấu tung tích nên bọn Đảng Hạ ấy
đã cạo trọc những mái tóc kỳ dị, chít khăn. Tuy
nhiên, có nhiều tên không biết tiếng Hán, hoặc
chi trọ trẹ vài câu. Thiêm Bắc Thần Long Lạc
Nhất Lôi luôn túc trực ở công trường, song
thinh thoảng cũng vào thành Diên An nghi đêm
và hưởng lạc.
Nhương Thư mừng rỡ:
- Hay lắm! Phiền Địch túc hạ cố điều tra xem
lúc nào y có mặt trong thành thì báo ngay cho ta
biết.
Đại Chủng Cái cung kính nhận lệnh đi ngay,
ba ngày sau quay lại với thư của VÔ ưu Cái.
Trong thơ, Hầu MỘ Thiên đốc thúc bọn
Nhương Thư mau chóng kết liễu việc ở Diên An
đề đi ngay Ngũ Hành Sơn, tham gia chiến dịch
tiêu diệt Thần Quang Giáo.
Độc Biên Thước đã chính thức dương cờ
Thần Quang, đúng lúc chất độc Tiêu Trường Vụ
phát tác, lão cho người âm thầm loan báo đến
những nạn nhân rằng phải có mặt ở chân núi
Mộc Sơn trước ngày mùng tám tháng sáu đề
nhận giải dược. Đấy cũng là ngày lễ khai đàn
của Thần Quang Giáo.
Bất Trí Thư Sinh đã tương kế tựu kế, mang
giải dược của mình đến đấy cho quần hùng, rồi
cùng họ đánh một đòn bất ngờ. Tuy nhiên, cần
phải có người không sợ độc, cầm chân Tả Nho
Quan, và người ấy chi có thề là Nhương Thư.
Đọc thư xong, chàng cau mày hỏi Đại Chủng
Cái
- Địch túc hạ! Mấy ngày qua Thiêm Bắc
Thần Long không vào thành sao?
Họ Địch áy náy đáp:
- Bấm công tử quả đúng thế! Dường như Lạc
Nhất Lôi bị vợ quản thúc chặt chẽ nên không
dám vào thành thăm bọn kỹ nữ nữa. Hôm kia có
một nữ nhân tìm đến Kiếm Sơn, được bọn võ sĩ
Đảng Hạ xưng hô là công chúa. Đệ tử đoán
nàng ta là Ba Lặc Kỳ Dung, ái nữ của Đại Tù
Trưởng Đảng Hạ. cũng là ái thê của Thiêm Bắc
Thần Long.
Nhương Thư đanh mặt:
- Nếu thế thì đêm nay ta sẽ đến tìm gã họ Lạc
vậy
Thúy Sơn tán thành:
- âm Sơn Lão TỐ đã khai giáo, lộ rõ dã tâm,
chúng ta chăng cần gieo vạ thì lão cũng sẽ đụng
độ với Độc Biên Thước. Đại ca cứ sử dụng Bạt
sơn Thần Lựu mà phá nát cơ đồ của âm Sơn
Lão TỐ cho bõ ghét.
Đại Chủng Cái bỗng dặng hắng xen vào :
- Bấm công tử! Theo thiên ý của đệ tử thì sức
mạnh của âm Sơn Giáo nằm ở lực lượng võ sĩ
Đảng Hạ. nếu công tử nhân dịp này bắt sống
được công chúa Ba Lặc Kỳ Dung làm con tin thì
bá chủ Tây Hạ là Đại Tù trưởng Ba Lặc Sinh
Hòa sẽ phải rút quân, và âm Sơn Giáo sẽ tan rã.
Nhương Thư là người toàn tâm vì võ lâm nên
rất hoan nghênh kế hoạch này. Chàng hớn hở
đáp:
- Địch túc hạ quả là cao kiến. Thủ đoạn này
tuy hơi bá đạo nhưng sẽ khiến võ lâm bớt một
mối lo.
Thúy Sơn cười mát:
- Đại ca quả là háo sắc, nghe nói Ba Lặc Kỳ
Dung đẹp như tiên nên vội vã tán thành mà
không nghĩ đến hậu quả.
Nhương Thư hỗ thẹn, lúng túng biện bạch.
- Sơn muội chớ hiểu lầm. Ta nào biết Ba Lặc
Kỳ Dung xấu đẹp thế nào?
Đại Chủng Cái ranh mãnh đỗ dầu vào lửa:
- Quả thực là công chúa Ba Lặc Kỳ Dung
xinh đẹp phi thường, được đời tôn là Tây Bắc
Đệ Nhất mỹ nhân. Hôm kia. đệ tử đã được tận
mắt chiêm ngưỡng dung nhan thiên kiều bá mị
của nàng ta.
Nhương Thư liếc thấy mặt Thúy Sơn tái đi,
biết nàng nỗi ghen, liền nói liều:
- Địch túc hạ quá lời, người Đảng Hạ thô lậu,
man rợ, đầu cạo trọc chi chừa vài món tóc lòng
thong, làm sao đẹp được.
Đại Chủng Cái cười hì hì:
- Công tử lầm rồi. Nữ nhân Đảng Hạ cũng búi
tóc như người Hán chúng ta. Nhất là sau khi đất
Tây Hạ thuộc về Đại Minh thì nền văn hóa
Đảng Hạ cũng khác xưa. y phục, trang sức của
đàn bà gần giống Trung Nguyên.
Nhương Thư ngượng ngùng:
- Thế thì thôi vậy. Ta chăng bắt cóc Ba Lặc
Kỳ Dung nữa.
Đại Chủng Cái sợ ý kiến của mình bị phế bỏ
nên tìm cách chữa cháy:
- Tuy Kỳ Dung có chút nhan sắc nhưng
không thề nào sánh với phu nhân đây. Vả lại
khi công tử giết chồng nàng ta là Lạc Nhất Lôi
thì hai bên thành thù nhân, làm sao có chuyện
yêu đương, luyến ái được. Mong phu nhân vì
đại cục giang hồ mà rộng lượng cho.
Đàn bà vốn hay ghen nhưng không bao giờ
chịu nhận,Thúy Sơn gượng cười:
- Tiêu muội nói cho vui chứ nào có ghen
tuông gì. Chúng ta cứ theo cao kiến của Địch
túc hạ mà hành động.
Đại Chủng Cái mừng rỡ cáo lui. Canh hai
đêm ấy, gã hướng dẫn bọn Nhương Thư đi
Kiếm Sơn. Đúng như lời họ Địch đã nói, Tồng
đàn âm Sơn Giáo gạch đá ngổn ngang vì chưa
hoàn tất. Tòa nhà chính leo lét ánh đèn, biểu thị
rằng Thiêm Bắc Thần Long và phu nhân đang
cư trú nơi ấy.
Việc canh phòng cũng lơi lỏng vì chăng ai
biết rằng có kè lại mạo hiểm đến đây làm gì.
Mối quan hệ giữa Nhương Thư và Bạch Ngọc
Tiên Tử hoàn toàn thầm kính.
Công việc xây dựng ban ngày đã khiến bọn
người Đảng Hạ mệt nhoài, sớm ngủ vùi, chi đề
lại vài tên canh gác lấy lệ. Nhương Thư và Thúy
Sơn mau chóng đột nhập, tìm đến phòng ngủ
của vợ chồng Lạc Nhất Lôi.
Trong kiến trúc mang dáng điện thờ này, có
một nơi đã xây dựng gần hoàn chinh, dùng làm
nơi nghi ngơi của vợ chồng họ Lạc. Đó là một
phòng lớn ở cuối, sau này có lẽ dành cho Giáo
chủ.
Khí hậu vùng cao nguyên Hoàng Thổ cực kỳ
khắc nghiệt, chi mới đầu hạ mà tiết trời đã nóng
như đỗ lửa. vô củng oi bức. Do vậy, tất cả
những cánh cửa đều được mở toang, đề khách
dạ hành tha hồ chiêm ngưỡng cảnh tượng bên
trong.
Một nam nhân anh tuấn,tuổi gần bốn mươi,
đang hì hục hành lạc, nhấp nhô trên thân hình
trắng muốt, khêu gợi của một nữ lang. Chăng
khó gì đề đoán ra lai lịch của đôi uyên ương kia.
Thúy Sơn đỏ mặt thì thầm:
- Đại ca! Chúng ra rút thôi.
Nhương Thư gằn giọng:
- Nàng mắc cỡ thì cứ tránh mặt, phần ta quyết
không tha cho Lạc Nhất Lôi.
Thúy Sơn thở dài:
- Tiêu muội sẽ nhắm mắt lại, đứng ngoài này
chờ đợi.
Nhương Thư gật đầu, quắc mắt nhìn cảnh
giao hoan mà lòng không gợn chút tà tâm.
Chàng chợt nhận ra nữ lang kia không hề hứng
khởi, đôi mắt huyền dán vào ngọn đèn tọa đăng
trên bàn, dường như đang cố chịu đựng cho
qua. Phải chăng Ba Lặc Kỳ Dung chăng thích
thú gì trong cuộc ái ân này?
Chàng thầm khen dung mạo của nữ nhân
người Đảng Hạ. không ngờ đất Hoàng Thổ lại
sản sinh được một giai nhân như thế.
Chăng lẽ cứ rình rập mãi cảnh truy hoan,
Nhương Thư nghiến răng lao mình qua cửa
chính, xông về phía chiếc giường hoan lạc,
vung kiếm tấn công Lạc Nhất Lôi.
Thiêm Bắc Thần Long phản ứng thần tốc và
bất ngờ, ngã mình xuống giường, đưa thân hình
nõn nà của Ba Lặc Kỳ Dung lên che chắn và
quăng nàng ta vào lưới kiếm của Nhương Thư.
Chi một hành động này cũng đủ chứng tỏ gã
xảo quyệt và tàn nhẫn phi thường, dám hi sinh
cả người đầu ấp tay gối.
Nhương Thư vội thu kiếm, đưa tả thủ đỡ Kỳ
Dung. Trước tiên ngón trỏ của chàng điềm vào
huyệt Kiên Tĩnh của nàng, sau mới dám ôm lấy.
Chàng đảo bộ, đặt con tin xuống cạnh tường
phòng rồi quay lại với Lạc Nhất Lôi.
Lúc này, họ Lạc đã chụp được thanh côn trên
giường thủ thế và gầm lên:
- Bắt gian tế!
Bọn dũng sĩ người Đảng Hạ đang ngủ trong
những lán trại chung quanh bật dậy, xách vũ
khí hớt hải chạy đến.
Thấy nguy, Bạch Thúy Sơn cắn răng bước
vào phòng chụp lấy Ba Lặc Kỳ Dung, giật rèm
cửa sỗ quấn tạm, đưa ra trước cửa phòng rồi nói
với công chúa:
- Kỳ Dung! Nếu nàng không bảo bọn thủ hạ
đứng yên thì ta sẽ cắt mũi nàng trước đấy.
Kỳ Dung biến sắc vội quát lên thánh thót
bằng tiếng Đảng Hạ:
- Tất cả ở ngoài chờ lệnh, không được xông
vào
Người Đảng Hạ thuộc giống dân Hồi ở đất
Tây Hạ. văn minh kém cỏi nhưng rất kiêu dũng,
quen nghề trận mạc. Vào thời nhà Tống, các bộ
tộc Đảng Hạ đã liên kết lại, thành lập một
vương triều hung mạnh, uy hiếp cả Trung
Nguyên. Họ có tham vọng độc lập, từng dựa
vào chữ Hán đề làm ra văn tự của dân tộc mình.
Do man rợ nên họ rất trung thành với thủ
lĩnh, răm rắp tuân theo lệnh công chúa Kỳ
Dung. Vương triều Tây Hạ đã bị quân Mông CỖ
tiêu diệt, và sau này đất đai sát nhập vào lãnh
thổ nhà Minh, song các bộ tộc Đảng Hạ vẫn giữ
được nền tự trị. Dù Tây Hạ cũng đầy đủ quan
lại từ phủ đến huyện, nhưng thực quyền của các
tộc trưởng rất mạnh. Ba Lặc Sinh Hoà. cha của
Kỳ Dung là vị tù trưởng cao cả nhất.
Bên ngoài đã yên nhưng cuộc chiến trong
phòng thì chưa ngã ngũ, vì Thiêm Bắc Thần
Long lạc Nhất Lôi là một võ sĩ có thực tài. Gã
được chân truyền pho âm Sơn Côn Pháp,
chống cự rất quyết liệt, chăng chịu chết ngay.
Con rồng đất Thiêm Bắc đang hoàn toàn lõa
thề, đề lộ thân hình lực lưỡng, cuồn cuộn những
bắp thịt rắn chắc. Cánh tay gã to lớn, cơ bắp nỗi
vòng, biểu hiện một sức mạnh phi thường, liên
tiếp giáng những đòn sấm sét nát đá tan vàng.
Cây côn thép của Lạc Nhất Lôi là đoản côn,
chi dài hơn trường kiếm vào lóng tay, song phải
nặng đến hai mươi cân, được mạ bạc bóng
loáng. Họ Lạc lên núi âm Sơn luyện võ từ ngày
sáu tuổi, hơn hai mươi năm sau mới hạ sơn, và
lập tức nỗi danh khắp miền Tây bắc vì chưa hề
gặp đối thủ.
âm Sơn là rặng núi hiếm tuấn, hung vĩ và
cực kỳ lạnh giá. quanh năm tuyết phủ, nằm
cạnh nhánh trái của vòng cung lớn Hoàng Hà
trên ranh giới giữa Tây Hạ và Nội Mông.
chính nơi đây, âm Sơn Lão TỐ đã luyện
thành pho Hàn Tuyết Chân Khí, tương tự với
Huyền Băng Chân Khí của Đao Đế Liêu Vân
Nhạc Lạc Nhất Lôi căn cơ thượng phẩm đã đạt
được tám thành hỏa hầu, côn kình tỏa hơi lạnh
thấu xương, gã tưởng rằng có thề sớm nghiền
nát tên hắc y bịt mặt, không ngờ càng đánh càng
bị hạ phong.
Cây Ngân Tuyết Côn của gã có sức đập nghìn
cân mà không sao đánh bại nỗi thanh trường
kiếm mỏng manh kia. chứng tỏ đối phương có
công lực vô cùng thâm hậu.
Song điều đáng sợ nhất chính là trình độ
kiếm thuật của Hắc Y nhân, chiêu nào cũng gồm
hàng trăm thức, kiếm ảnh mờ mịt, hư thực khó
phân. Chi sau vài chục chiêu, Thiêm Bắc Thần
Long đã bị rạch hai đường trên vai và ngực,
kinh hoàng múa tít thanh Bạch Ngân Côn,
phòng thủ kín đáo hơn.
Tiếng thép chạm nhau không ngớt, xé nát
đêm trường tĩnh mịch, và khiến bọn võ sĩ Đảng
Hạ ở bên ngoài thêm lo lắng. Họ vô cùng khâm
phục Lạc Nhất Lôi vì gã bao giờ cũng đắc thắng
trong vòng một trăm chiêu. Người Đảng Hạ rất
hiếu võ, đã bất giác kéo đến các khung cửa sỗ
đề quan chiến và kinh hãi nhận ra thủ lĩnh thọ
thương
Tốc độ chiết chiêu cực kỳ nhanh, thấm thoát
đã quá số ba trăm và trên người Thiêm Bắc
Thần Long chi chít những vết thương đẫm máu.
Tuy chi là thương tích nhẹ nhưng cũng đủ làm
cho Lạc Nhất Lôi đau đớn, cử động khó khăn.
Gã nhận ra Hắc Y nhân đã bỏ qua hàng chục cơ
hội kết liễu, cứ như muốn hành hạ mình cho
thỏa thích vậy. Gã nghĩ mãi không ra mình đã
gây thù kết oán với tay Đại kiếm thủ này trong
trường hợp nào? Lạc Nhất Lôi nhiều lần định
đào tâu nhưng không thành công vì đối phương
đứng chặn đúng hướng cửa chính và đã dồn gã
vào sát vách tường hướng Đông.
Bức vách được xây bằng đá núi rất kiên cố
nên Lạc Nhất Lôi chăng thề phá mà chui ra
được Trong nỗi tuyệt vọng,gã giận dữ lộng
Ngân Côn, cố đây lùi đối thủ rồi quát nhanh:
- Ngươi là ai? Vì sao lại muốn giết ta~
Gã bịt mặt hờ hững điềm nhanh hàng chục
nhát, đây gã thoái hậu rồi đáp:
- Ta đến đề báo thù cho ái thê là Bạch Ngọc
Tiên Tử Lâm Đại Ngọc.
Nói đến đây, mắt gã loé lên những tia oán hận
và mũi kiếm rít lên vo vo, công phá lưới côn,
cuối cùng rạch một đường trên gương mặt trắng
trẹo, đồng thời tiện đút dương vật của Thiêm
Bắc Thần Long.
Lạc Nhất Lôi đau đớn rú lên như heo bị chọc
tiết, điên cuồng múa côn đỗi mạng.
Nhương Thư nãy giờ kéo dài trận đấu chăng
phải vì chơi trò mèo vờn chuột, giết kè thù một
cách tàn ác mà chính vì muốn tìm hiệu côn
pháp của âm Dương Lão TỒ, đề sau này đối
phó. Giờ đã tạm đủ, chàng thầm khấn với
hương hồn Lâm Đại Ngọc rồi xuất chiêu Tâm
Băng Bất Tức, kiếm ảnh chập chờn hàng trăm
ngọn lửa trùm lấy đối phương. Và những đốm
lửa nhỏ bé ấy chợt bung lên, như lớn hơn, rực
rỡ hơn, thi nhau bắn vào người họ Lạc.
Thiêm Bắc Thần Long kinh hoàng trước
chiêu kiếm thần kỳ, vung nhanh côn bạc cố
chặn đứng những kiếm ảnh ma quái kia. Song
đốm lửa này bị dập tắt thì đốm lửa khác hiện ra.
liên miên bất tuyệt. Chi sau vài chục tiếng tinh
tang, Lạc Nhất Lôi nghe lồng ngực vạm vỡ của
mình đau đớn khủng khiếp và gã rú lên ai oán,
gục xuống trong lúc mắt vẫn mở trừng trừng.
Nhương Thư cân thận lia ngang cắt rời thủ
cấp của kè thù. Sau lần suýt chết dưới tay chính
khí trang chủ Lã Tập Hiền, chàng cho rằng chặt
đầu là chắc ăn nhất. Chính Bất Trí Thư Sinh đã
xác nhận rằng việc tim người nằm bên ngực hữu
không phải là quá hiếm.
Tiếng la hét giận dữ của bọn Đảng Hạ vang
lên ngoài cửa khiến Thúy Sơn lo ngại, vội hăm
dọa Kỳ Dung:
- Chúng mà vọng động thì nàng mất mạng
đấy
Kỳ Dung cười nhạt:
- Ngươi đừng sợ! Chưa có lệnh của ta thì
chăng ai dám hành động cả.
Nhương Thư đã giật khăn trải giường phủ lên
cái xác lõa lồ, đẫm máu của Lạc Nhất Lôi.
Chàng lên tiếng:
- Sơn muội hãy đưa công chúa vào đây thu
xếp hành lý.
Thúy Sơn liền nhấc bỗng Kỳ Dung đi vào
phía giường Bát Bửu.
Nhương Thư ôn tồn nói với tù nhân:
- Do âm Sơn Lão TỒ lợi dụng lực lượng các
bộ tộc Đảng Hạ đề mưu đồ bá chủ nên tại hạ
mạo muội mời công chúa vào Trung Nguyên
chơi một chuyến. Bọn tại hạ hứa sẽ chiêu đãi
như thượng khách, chờ sau khi diệt xong Lão
TỒ sẽ cung kính tiễn công chúa hồi hương.
Chồng bị giết mà Ba Lặc Kỳ Dung không hề
nỗi giận, không mắng chửi hung thủ một câu,
lại nhìn Nhương Thư bằng ánh mắt hiếu kỳ,
chậm rãi đáp :
- Các hạ muốn ta đi theo thì phải đề lộ chân
diện mục, khai rõ lai lịch, xem có đáng tin cậy
hay không?
- Bốn công chúa là nữ nhân Đảng Hạ. mười
bốn tuổi đã xông pha chiến trận, xem cái chết
rất nhẹ, và lúc ấy thì hai người cũng khó mà
thoát được Chưa kề đến việc cái chết của ta sẽ
khiến các bộ tộc Đảng Hạ nỗi dậy, bắt triều
đình nhà Minh phải tìm cho ra thủ phạm. Lúc
ấy, tội tru di tam tộc sẽ đỗ lên đầu hai ngươi.
Nhương Thư và Thúy Sơn rùng mình nhìn
nhau. Chàng họ Tần thở dài:
- Thế thì tại hạ đành phải bỏ ý định mời công
chúa về làm khách vậy. Mong nàng cho phép
bọn tại hạ rút lui.
Ba Lặc Kỳ Dung biết ngay chàng trai võ nghệ
cao cường này hiền lành, dễ nắm gáy, liền tủm
tun cười:
- Muộn rồi ! Các hạ đã giết trượng phu của ta.
đâu dễ bỏ đi như thế. Hay các hạ lại hèn nhát
đến mức không cho ta cơ hội báo thù chồng?
Hãy cởi khăn và khai danh tính ra ngay.
Thúy Sơn vội ngăn cản Nhương Thư:
- Đừng đại ca! Tội giết phò mã Đảng Hạ cũng
có thề bị truy nã. lộ mặt chi có hại. Chúng ta
dùng Kỳ Dung làm mộc thoát thân thôi.
Ba Lặc Kỳ Dung ngắt lời :
- Ta thề sẽ tự lực báo thù, không nhờ đến
quan quân Người Đảng Hạ đã nói là không
nuốt lời.
Nhương Thư thở dài:
- Thôi được. Tại hạ xin tuân mệnh. Song
phiền công chúa cho bọn thủ hạ lui ra xa.
Kỳ Dung gật đầu. Quay ra đuổi bọn dũng sĩ
Chúng ngoan ngoãn rút đi, lập vòng vây phía
ngoài.
Nhương Thư cởi khăn che mặt, trầm giọng
bảo:
- Tại hạ Tần Nhương Thư. Công chúa muốn
báo thù xin cứ đến Tổng đàn Cái Bang gởi thư
phó ước, tại hạ sẽ lập tức ứng hầu.
Đôi mắt hơi sâu và đen láy của Kỳ Dung dán
vào gương mặt hiền hòa. đôn hậu của chàng,
môi anh đào nở hoa:
- Té ra chàng là Đệ nhất kiếm thủ của Trung
Nguyên đấy ~ Từ lâu bồn công chúa vẫn được
nghe danh, không ngờ lại được diện kiến chốn
này.
Bạch Thúy Sơn cảm thấy rõ sự ngưỡng mộ,
say đắm của Kỳ Dung, liền nỗi cơn ghen, cằn
nhằn:
- Hay thực ! Ai mà lại tán dương kè giết chồng
mình cơ ch~
Ba Lặc Kỳ Dung phì cười :
- Ngươi ghen sao? Gái Đảng Hạ ân oán phân
minh, tính tình thăng thắn, dẫu là kè thù mà
đáng trọng thì cứ trọng. Vả lại, Lạc Nhất Lôi đã
nhẫn tâm xô ta vào lưỡi kiếm của Tần công tử,
đâu đáng đề ta tiếc thương.
Thúy Sơn cứng họng, không biết nói ra sao.
Ngay lúc ấy, nàng vô tình lỏng tay kiếm góc
tấm rèm cửa lật xuống đề lộ ngực trái căng tròn,
mơn mởn của tù nhân. Thúy Sơn đứng kềm sau
lưng Kỳ Dung nên không phát hiện ra. song
Nhương Thư thì thấy hết, lúng túng cúi đầu.
Ba Lặc Kỳ Dung cười mát:
- Lúc nãy công tử ôm ta. tay đã đặt vào ngực,
mắt ngắm trọn thân thề ngàn vàng, sao giờ này
lại xấu hỗ?
Thúy Sơn giật bắn mình, vội nhìn lại, kéo
rèm lên che ngực Kỳ Dung rồi nạt Nhương Thư:
- Đi thôi ! Đại ca thích ở lại đây lắm sao?
Nhương Thư luống cuống cột lại khăn che
mặt, vái chào Kỳ Dung:
- Bọn tại hạ xin cáo từ, mong công chúa mở
cho sinh lộ.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Tần Nhương Thư

Ưu Đàm Hoa



Hồi Thứ Mười Một

Cốc Trung Thi Diệu Kế

Thần Lựu Thiếp Thần Quang



Gần cuối tháng năm, Nhương Thư và Thuý Sơn có mặt ở Lạc Dương, hội ngộ cùng bọn Vô Ưu Cái! Các chưởng môn Bạch Đạo có mặt đầy đủ song người thân của Nhương Thư lại vắng mất ba. Vô Ưu Cái buồn rầu nói :

- Sau khi hiền đệ đi được vài ngày thì võ lâm Mạnh Thường Quân Điền Đông Giám đến Lạc Dương bắt ba cô con gái về Tế Nam! Lão nhắc đến hiền đệ mang sính lễ đến hỏi cưới đàng hoàng !

Nhương Thư mỉm cười :

- Điền Trang chủ hành động đúng lễ, vì sao Hầu lão ca lại không vui ?

Vô Ưu Cái thở dài :

- Sự tình chẳng hề đơn giản như thế. Mới đây, lão phu nhận được tin rằng Điền Đông Giám đã liên minh với Hải Long Giáo, thành lập Sơn Hải Bang, gồm hai Bang Chủ là họ Điền và Nguyên Giáo Chủ Hải Long Giáo Kỵ Ba Thần Quân Thành Vô Chiến! Trinh sát bổn bang còn nghe phong thanh rằng Điền Đông Giám được đứng ngang hàng với họ Thành là nhờ gia tài cự vạn và việc gả ba ái nữ cho Thần Quân. Các cô gái này không chịu nên đã bị hạ ngục !

Thuý Sơn kinh hãi rú khẽ, thương cho ba kẻ chung thuyền, Nhương Thư thì biến sắc, nghiêm giọng :

- Sau trận này tiểu đệ sẽ đi ngay Tế Nam !

Và chàng hỏi sang chuyện võ lâm. Bất Trí Thư Sinh hắng giọng bảo :

- Hồi tháng trước, chất độc Tiêu Trường Vụ đã phát tác và mấy ngàn nạn nhân ấy đã được thông báo đến đấy qui phục Thần Quang Giáo. Tuy nhiên, chúng ta đã kịp thời phân phát giải dược. Phá tan âm mưu của Độc Biển Thước. Do lo ngại tài dụng độc của Tả Nho Quan nên lão phu đã phải thay đổi kế hoạch, ngăn cản quần hào đến tham dự lễ khai đàn của Thần Quang Giáo. Giờ đây, chỉ còn những người có võ công cao cường đại diện cho các phái Bạch Đạo đến Hắc Ưng Cốc theo thiếp mới! Cùng lắm thì chúng ta sẽ phá vây thoát ra !

Nhương Thư khen phải, kể kại chuyến đi của mình! Cử tọa đều thất sắc khi biết được dã tâm của Âm Sơn Lão Tổ. Khánh Hỉ Đại Sư, phương trượng Thiếu Lâm Tự cảm khái nói:

- Chưa bao giờ võ lâm phải đương đầu với nhiều tai hoạ đến thế! Trung Nguyên có Độc Biển Thước, phía Đông thì Kỵ Ba Thần Quân vào lục địa, giờ thêm Âm Sơn Lão Tổ từ hướng Tây Bắc xuống tình hình nguy ngập không lường!

Vô Ưu Cái cười nhạt :

- Đại sư lo lắng làm gì, xưa nay tà bất thắng chính! Ba lão ma đầu kia vì danh lợi mà hành động, tất sẽ tương sát, tiêu diệt lẫn nhau thôi! Chỉ cần chúng ta khéo léo một chút là xong !

Dạ Quân Tử Quách Tàn Bôi ngứa miệng :

- Chẳng hay kế sách của Hầu lão ca thế nào, sao không nói thử cho mọi người yên tâm?

Học Quách nhờ thân phận bái huynh của Nhương Thư mà được ngồi ngang hàng với các chưởng môn, lòng vô cùng khoan khoái, vinh dự, luôn miệng gọi Vô Ưu Cái là anh cho thoả tấm lòng !

Hầu bang chủ gật gù:

- Diệu kế thì đã có, song thành công hay không hoàn toàn trong vào tài trí của Quách lão đệ đấy!

Dạ Quân Tử hồ hởi đáp :

- Thực thế sao? Vậy thì tiểu đệ xin xả thân thi hành mệnh lệnh của lão ca!

Phổ Chứng Thiền Sư, chưởng môn phái Nga Mi, vốn ở Tứ Xuyên nên biết rất rõ tài cán và bản chất của lão trộm già họ Quách, liền thắc mắc khi thấy lão được giao trọng trách. Ông tủm tỉm nói đùa:

- Thiện tai! Thiện tai! Quách chủ cơ trí tuyệt luân, đã chịu vì đại nghĩa mà ra tay thì quả là phúc cho võ lâm.

Dạ Quân Tử biết đối phương bởn cợt mình, song vẫn thản nhiên cười khanh khách :

- Đa tạ thiền sư đã tán thưởng! Cây cong còn có chỗ dùng, lão phu tuy bất tài nhưng nếu được sử dụng đúng chỗ thì cũng chẳng đến nỗi tồi !

Vô Ưu Cái gạt đi, nói ngay vào đề :

- Thôi đừng tung hứng nữa, Quách lão đệ hãy lắng nghe diệu kế? Sau lễ khai đàn của Thần Quan Giáo, ngươi sẽ đi lên vùng Tây Bắc, tìm cách gia nhập Âm Sơn Giáo, trở thành người tin cẩn của Âm Sơn Lão Tổ. Ngươi sẽ kích động lòng hiếu danh của Lương Dã Toàn, biến lão ta thành cứu tinh của võ lâm, tự nguyện đứng ra tiêu diệt Độc Biển Thước và Kỵ Ba Thần Quân!

Vào hang cọp tiềm phục là một việc vô cùng khó khăn nguy hiểm, nên Dạ Quân Tử chột dạ :

- Không phải! Lão phu sợ chết, mà chỉ e thân phận không đủ để mua chuộc lòng tin của Lão Tổ! Ai chẳng biết Dạ Quân Tử chỉ là một tên trộm đất Tứ Xuyên ?

Bất Trí Thư Sinh mỉm cười, đỡ lời Vô Ưu Cái :

- Quách lão đệ yên tâm! Ông sẽ đến với Âm Sơn Giáo bằng thân phận cao cả của một bậc nhân sĩ Trung Nguyên! Trời sinh người này và túc hạ có dung mạo, dáng vóc rất giống nhau, y chính là Trung Nguyên Cao Sĩ Phương Tử Kiến, bảo chủ Cô Độc Bảo đất Khai Phong !

Cả nhà ồ lên kinh ngạc còn Quách Tàn Bôi thì nhăn như khỉ:

- Lão phu chỉ có chút mẹo vặt, chẳng hề tinh thông binh thư, trận đồ làm sao đóng vai Trung Nguyên Cao Sĩ được?

Bất Trí Thư Sinh khoát tay trấn an:

- Việc ấy không đáng ngại vì lão phu sẽ cho đệ tử là Nghiên Tái Thuần theo phò tá túc hạ. Thuần nhi thông minh tuyệt thế, đã tiếp thu được tám thành sở học của lão phu!

Dạ Quân Tử há hốc miệng:

- Cao Huynh định nói đến gã tiểu tử đầu to, mắt hiếng, vừa đến đây sáu hôm trước đấy sao? Mặt gã trông đần bỏ mẹ, đâu có nét gì gọi là nhân kiệt?

Vô Ưu Cái cười ha hả:

- Ngươi lầm rồi đấy! Nếu Thuần nhi ngu ngốc thì đâu thể trở thành học trò cưng của Bất Trí Thư Sinh. Tướng mạo y tuy thô thiển, xấu xí nhưng cơ trí thuộc hàng thượng thặng đấy!

Nhương Thư hiếu ký nói:

- Té ra Cao lão ca thu được truyền nhân đắc ý, sao không gọi y đến cho tiểu đệ diện kiến?

Bất Trí Thư Sinh tủm tỉm cười, rút chiếc chuông đồng rung nhẹ, lát sau một gã thư sinh tuổi hai mươi ba xuất hiện. Quả đúng như lời mô tả của Dạ Quân Tử, Nghiên Tái Thuần có chiếc đầu khá to, ngất ngưởng trên cần cổ gầy gò trông rất hoạt kê. Trán gã dô ra, điễm cặp chân mày thưa thớt, lấm tấm mụn đỏ lại thêm những nét đẹp như mũi thấp, miệng rộng, môi mỏng, răng thưa, cho nên họ Nghiên còn xấu xí hơn cả sư phụ là Cao Trường Toàn!

Nghiên Tái Thuần bị tật liếng mắt khi nhìn ai, đầu phải nghiêng sang một bên, chẳng hay ho chút nào cả! Trong bộ trường bào bằng vai xanh thô, bạc phếch, họ nghiên là hiện thân một kẽ sinh ra dưới một ngôi sao xấu, bị tạo hoá ruồng bỏ!

Tuy nhiên, Nghiên Tái Thuần lại có nụ cười rất quyến rũ, khiến Nhương Thư phải ngạc nhiên. Khi gã cười, dường như tất cả vẽ xấu xí trên mặt đều bị mờ đi.

Nghiên Tái Thuần kính cẩn vòng tay chào cả bàn, rồi hỏi Bất Trí Thư Sinh:

- Ân sư gọi đồ nhi về việc gì?

Cao Trường Toàn vui vẻ chỉ Nhương Thư và Thuý Sơn:

- Con hãy bái kiến Tần sư thúc và Bạch sư thúc!

Trong nghề võ, em của sư phụ luôn được gọi bằng sư thúc, bất kể nam hay nữ. Thuý Sơn đã thoát khỏi mặc cãm khuyết tật nên quyết định không giả trai nữa, trông nàng kiều diễm tuyệt vời.

Nghiên Tái Thuần tươi cười vái dài:

- Tiểu diệt Nghiên Tái Thuần xin ra mắt nhị vị sư thúc!

Nhương Thư đầy dạ từ bi, thấy Nghiên Tái Thuần bị nhiều thiệt thòi, có ý định bù đắp cho gã. Chàng thân mật vẫy:

- Ngươi lại đây ngồi chung với ta!

Nghiên Tái Thuần thản nhiên tuân mệnh, ngồi xuống ghế trống mé tả họ Tần, chăm chú lắng nghe các trưởng bối dặn dò. Khi biết mình phải tháp tùng Dạ Quân Tử đi Âm Sơn làm nội gián, Nghiên Tái Thuần cười đáp:

- Sao sư phụ không chọn Độc Biển Thước Tả Nho Quan làm đối tượng mà lại bắt đồ nhi phải lặn lội đến Tây Bắc?

Cao lão nghiêm giọng:

- Bên cạnh họ Tả có mặt Ngoạ Long Tú Sĩ, chút kế mọn này làm sao qua mắt lão ta được?

Nhương Thư lên tiếng:

- Còn Kỵ Ba Thần Quân thì sao? nếu cài được người vào Điền Gia Trang chúng ta sẽ cứu bọn Uyển Xuân ra thuận lợi hơn!

Bất Trí Thư Sinh lắc đầu:

- Không được! Thành Võ Chiến tinh thông Nhiếp Tâm Thuật, dể dàng bắt kẽ khác thồ lộ ruột gan! Do vậy, trong ba đại ma đầu, chỉ có mình Âm Sơn Lão Tổ là khờ khạo, dể khích động nhất!

Quách Tàn Bôi thầm chán ngán sứ mệnh sắp tới, song ngoài mặt vẩn không để lộ, giả đo đi sâu vào chi tiết:

- Kế hoạch đưa Âm Sơn Lão Tổ và hàng ngàn thủ hạ về hùng cứ Độc Cô Bảo sẽ đòi hỏi một ngân sách rất lớn, chúng ta lấy đâu ra gạo mà nuôi họ?

Vô Ưu Cái tủm tỉm ứng tiếng:

- Ngươi chớ lo việc ấy! Trước khi bị cha bắt về Tế Nam, ba con bé họ Điền đã lén đưa cho lão phu số vàng mười lăm vạn lượng, nhờ giao cho Tần hiền đệ! Nếu y chịu bỏ ra một phần ba cũng đủ vốn thi hành diệu kế!

Nhương Thư nghe nhắc đến ái thê, lòng vô cùng đau đớn, rầu rỉ nói:

- Hầu lão ca cứ giử lấy mà lo cho đại sự võ lâm! Tiểu đệ cần vàng làm gì?

Khánh Hỷ Đại Sư trụ trì chùa Thiếu Lâm Tự hắng giọng:

- A Di Đà Phật! Tuy Tần thí chủ có dạ Bồ Tát, nhưng đây là việc chung chẳng để Tần thí chủ gánh vác. Sau khi diệt xong tai kiếp, các phái võ lâm sẽ hoàn lại mọi khoản cho Tần gia!

Nhương Thư định từ chối thì bị Thuý Sơn lén nhéo vào hông ngăn cản. Và nàng nói lảng sang chuyện khác:

- Tiểu..muội thắc mắc một điều là vì sao Độc Biển Thước biết rõ chúng ta nắm giử Bạt Sơn Thần Lựu mà vẩn dám dương cờ, gióng trống tổ chức lễ khai đàn?

Chưởng môn phái Hoa Sơn là Ngọc Tâm Tử tán thành ngay:

- Bần đạo cũng cùng một ý nghĩ với Bạch thí chủ! Tả Nho Quan giả vờ như chưa bao giờ đến tấn công Hoa Sơn, giở thiếp mời bần đạo dự lễ!

Thông Thiên Chân Nhân, chưởng môn phái Võ Đang, cũng tư lự:

- Ngoạ Long Tú Sĩ cơ trí sâu sắc hơn người, e rằng đã bày sẳn độc kế ở Hắc Ưng Cốc! Đối phương phải có điều sở cậy mới dám xem thường hoả khí của chúng ta!

Vô Ưu Cái trầm ngâm:

- Lão phu đã cùng Cao hiền đệ suy nghĩ nát óc mà vẩn không giải thích được. Do vậy, chỉ còn cách ngăn cản quần hùng đến dự để khỏi rơi vào mẽ lưới lớn của đối phương!

Nhương Thư tình cờ phát hiện Nghiên Tái Thuần thoáng mỉn cười liền hỏi:

- Phải chăng sư diệt có cao kiến về việc này? Nếu đúng như thế thì cứ phát biểu, đừng ngại gì cả!

Họ Nghiên từ tốn đấp:

- Cãm tạ sư thúc đã chiếu cố! Tiểu diệt xin được nói ra thiển kiến của mình!

Gã hắng giọng rồi chậm rải tiếp lời:

- Tần sư thúc chính là cột trụ võ lâm, nếu đối phương khống chế được người thì các phái Bạch đạo tuyệt đối không dám loạn động. Vì thế, tiểu diệt phỏng đoán rằng, Độc Biển Thước đang cầm giữ một con tin rất quan trọng khả dĩ khiếm tần sư thúc không dám sử dụng Bạt Sơn Thần Lựu!

Bất Trí Thư Sinh kinh hải run giọng:

- Phải chăng Thuần nhi muốn nói đến ba vị tiểu thư nhà họ Điền?

Nghiên Tái Thuần gật đầu nói với giọng chắc nịch:

- Bẫm phải! Xưa nay chính tà lưỡng lập, bọn ác ma luôn sẳn sàng liên kết để diệt trừ chúng ta. Sau đó, mới tính đến chuyện tương sát để dành ngôi bá chủ!

Cả nhà chết điếng trước sự thực nát lòng mà họ Nghiên đã nói ra. Lập luận của gã vô cùng hữu lý, và đã làm sáng tỏ mọi việc!

Phổ Chứng Thiền Sư phương trượng Vạn Niên Tự núi Nga Mi, cất lời tán dương Nghiên Tái Thuần:

-Nghiên tiểu thí chủ quả là bậc anh tài xuất chúng, luận việc như thần khiến lão nạp vô cùng bái phục. Năm xưa, Hải Long Giáo từng cho Lã Tập Hiền mượn bảp giáp Hắc Giao Bì để đấu với Tần Thí Chủ, thì giờ đây có liên thủ cũng là điều khả dỉ!

Bất Trí Thư Sinh gật gù:

- Thuần nhi giỏi lắm! Lão phu rất hài lòng khi thấy trò giỏi hơn thầy!

Nghiên Tái Thuần đỏ mặt, định nói vài câu khiêm tốn thì bị Thiết Kình Ngư cướp lời. Tào Ưng cằn nhằn:

- Đừng dông dài nữa! Nếu Nghiên tiểu tử có thực tài thì mau đưa kế sách giải cứu tù nhân xem nào?

Tào Ưng rất yêu mến ba ả họ Điền nên vô cùng nóng ruột! Nghiên Tái Thuần nghiêng nghiêng cái đầu to tướng, nhìn vào mặt họ Tào, lúng túng đáp:

- Việc hệ trọng này thì tiểu diệt không dám lạm bàn, xin Tào sư thúc hãy hỏi gia sư! Trứng chẳng thể khôn hơn vịt được!

Câu nói khiêm tốn đắc sách này đã khiến sư phụ gã là Bất Trí Thư Sinh hài lòng. Trò hơn thầy là điều đáng mừng, song trong tâm tư người thầy chẳng tránh được chút tổn thương, chua sót!

Đay cũng là một trong những lý do khiến nhiều công phu võ học của Trung Hoa bị mai một. Trừ phi cha dạy cho con, kỳ dư ai cũng dấu lại một chiêu tối lợi hại để đề phòng học trò phản bội, và cũng để cũng cố vị trí củabậc sư phụ. Họ chỉ truyền lại khi sắp qua đời, nên đôi lúc quá muộn vì những cái chết bất ngờ!

Cao Trường Toàn cưng là kẽ khôn ngoan, biết lẽ, quay sang hỏi các chưởng môn chứ không nói ngay mưa kế của mình.

- Xin chư vị chỉ giáo!

Thông Thiên Chân Nhân chưởng môn phái Võ Đang lên tiếng:

- Bần đạo tuyệt thếbất tài nhưng cũng xin trình bày chút thiển ý! Nay đối phương âm thầm nắm giử con tin để uy hiếp Tần công tử cùng các phái Bạch Đạo, quyết buông một mẽ lưới mà tóm gọn võ lâm, song lại không ngờ chúng ta đoán ra độc kế! Do vậy, bần đạo chủ trương “ tiên hạ thủ vi cường”, đột nhập Hắc Ưng Cốc trước ngày lễ khai đàn để giải thoát ab vị thí chủ họ Điền, xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị, hy vọng chúng ta sẽ thành công!

Hoàng Nghi Tuyệt ít khi mở miệng, giờ đay khẳng khái tán thành:

- Đạo trưởng dạy chí phải! Chúng ta chỉ còn cách ấy mà thôi! Tại hạ sẽ cùng Tần công tử xâm nhập Hắc Ưng Cốc!

Thuý Sơn phụng phịu xen vào:

- Cả tiểu muội nữa! Hai người làm sao cõng được ba?

Vô Ưu Cái khoát tay:

- Đừng tranh giành nữa! Hắc Ưng Cốc bốn bề là vách dựng đứng, cửa ra thì hẹp, giờ đây lại đầy dẩy thủ hạ của Tứ Phạn Thiên Cung và Huyết Tâm Giáo, các người có vào được cũng không chắc cứu được người! Đấy là chưa nói đến võ công của Độc Biển Thước và Kỵ Ba Thần Quân! Một trong hai lão ấy mà đứng chặn cửa cốc thì ba ngươi cũng trở thành tù nhân!

Cử toạ nghe hữu lý, buồn bả thở dài, Nhương Thư nói với giọng thê lương:

- Chẳng lẽ chúng ta lại bó tay?

Vô Ưu Cái trợn mắt:

- Làm gì có việc ấy? Lão phu đã sẳn diệu kế rồi!

*

* *

Đầu tháng sáu các trấn gần chân núi Mộc Sơn,cực kỳ náo nhiệt, vì sự hiện diện của trăm khách giang hồ. tuyệt thế Cái Bang đã phân phát thuốc giải độc, cảnh báo đám nạn nhan năm ngoái , tránh xa Hắc Ưng Cốc, song vẫn có một số ở lại vì hiếu kỳ và cũng vì thù hận. Bọn hảo hán ngang ngạnh này tức tối vì trúng kế Độc Biển Thước, chịu đau dớn suốt mấy tháng trời. muốn khuynh đảo võ lâm Độc Biển Thước chẳng thể chỉ dựa vào vài trăm tay kiếm của Tứ Phạn Thiên Cung và Huyết Tâm Giáo. Vì thế lão đã âm thầm thu phục rất nhìeu cao thủ ở vùng Thái Hằng Sơn thuộc ba phủ Sơn Tây, Hà Bắc, Hà Nam! Vói võ công và tài phóng độc kỳ tuyệt, Tả Nho Quan chẳng mất nhiều thời gian để khống chế đối tượng.

Giờ đây, những kẽ bá chủ, thổ hào địa phương ấy đang lũ lượt kéo đến Mộc Sơn để dự lễ khai giáo, tất nhiên không quên mang theo vàng ngọc để tỏ lòng quy phục.

Đám hàng thần này được đạc ân vào thẳng Hắc Ưng Cốc nghỉ ngơi, không phải trọ bên ngoài.

Trưa mùng bảy, một trong số thượng khách bất đắc dĩ ấy xuất hiện ở cửa Hắc Ưng Cốc. Cánh rừng trận pháp trước cốc đã được khai phá thành một con đường rộng hai mươi bước chân cho dể đi lại:

Đoàn khách này gồm sáu người, y phục sang trọng, nhưng chẳng hề đẹp mắt vi họ là những người tàn tật, chột mắt, cụt tay, cụt chân, mất mũi, mất ahi lổ tai…!

Thủ lĩnh của họ là một lão nhân ngủ tuần, độc nhãn, dung moạ tuấn tú, lạnh lùng, râu ba chòm đen nhánh. Con mắt còn lại của lão sáng rực như sao, luôn làm chột dạ những kẽ yếu bóng vía!

Lão ta không thèm lên tiếng, chỉ búng một mảnh bái thiếp về phía ba người đang ngồi sau chiếc bàn gổ ở mé hữu cửa cốc. Một trong ba người phụ trách lễ tân này chính là Hắ Lang Bành Đạo Nha, kẽ từng giử chức Tổng quản Chính Khí Trang. Họ Bành huơ tay chụp lấy không thèm mở ra xem đã cười ha hả, vòng tay thi lễ:

- Bổn cốc vinh dự được đón tiếp ngọc giá Tàn Khuyết Môn! Tả giáo chủ vẩn thấp thỏm mong chờ Chu môn chủ mãi! Xin mời nhập cốc!

Thì ra lão già chột mắt này là Môn chủ Tàn Khuyết Môn ở đất Giới Hưu phủ Sơn Tây, tên gọi là Chu Tuế Nguyệt!

Vì sao Độc Biển Thước lại phải khổ công thu phục một bang hội toàn những người tàn phế làm gì? Xin thưa rằng, bởi vì họ sở hữu mấy chục mỏ than trên đất Sơn Tây! Chu Tuế Nguyệt vốn xuất thân con nhà thế gia vọng tộc, đất phong của tổ tiên rộng đến hàng ngàn dặm vuông, lại chứa đầy than đá nên rất giàu có!

Họ Chu mang bản chất anh hùng, hiếu võ, hai mươi tuổi đã rời nhà hành hiệp, đến lúc bị cường địch đâm mù một mắt mới chịu về quê chăm sóc cơ nghiệp tổ truyền.

Cao Nguyên Sơn Tây là một mỏ than vĩ đại nhất Trung Hoa. Số công nhân sống bằng nghề mỏ đong đảo đến hàng trăm vạn. Riêng các mỏ của Chu Tuế Nguyệt ở Giới Hưu cũng đã có nửa vạn người!

Công nhân mỏ than thường mắc phải một thứ bệnh hiểm nghèo là phổi nhiểm bụi than. Chu Tuế Nguyệt thấy thế liền đem tâm pháp nội công ra truyền cho họ để giảm thiểu tác hại của bệnh nghề nghiệp. Thế là có khá nhiều người đòi học luôn cả quyền cước, kiếm thuật. Tóm lại, hiện nay dưới trướng Chu Tuế Nguyệt có cả ngàn vỏ sĩ chứ chẳng chơi!

Tuy nhiên do cảm khái thân phận, Chu Tuế Nguyệt lại đặc biệt ưu ái cho những kẽ tàn tật do những tai nạn dưói mỏ. Ông nuôi dưỡng dạy dổ họ tận tình, và quy tụ trong một tổ chức võ lâm có tên là Tàn Khuyết Môn. Đồng thời ông cũng tiếp nhận luôn những cao thủ võ lâm khác, quý hồ họ bị tàn tật!

Dù trên danh nghĩa số môn nhân chỉ độ hơn trăm, song khi cần thì Chu Tuế Nguyệt có thể huy động cả ngàn công nhân mỏ của mình. Giới Hưu cách Thái Hàng Sơn không xa, tất nhiên Thần Quang Giáo chẳng thể bỏ qua việc thu phục một thế lục hùng mạnh là Tàn Khuyết Môn. Do vậy, tháng trước Độc Biển Thước đã đích thân đến Giới Hưu hạ độc vợ con và mẹ già của Chu Tuế Nguyệt để khống chế!

Tuy biết họ Chu chỉ miển cưởng hàng phục, song Tả Nho Quan rất coi trọng đối tác này. Gia tài khổng lồ của Chu Tuế Nguyệt là nhân tố sống còn, quyết định sự thành bại cho sự nghiệp Thần Quang Giáo. Ngay Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương cũng phải nhờ vào hầu bao của bọn đại phú đất Giang Nam mới đánh đuổi được quân Mông Cổ cơ mà?

Vì thế, giờ đây dù thấy thái độ lạnh nhạt, trịch thượng của Chu Tuế Nguyệt. Hắc Lang cũng không dám thất lễ. Bàng Đạo Nha vội quát một ả tỳ nử phía sau hướng đẩn khách nhập cốc!

Có lẽ vì thiếu ngân sách nên các công trình trong cốc đều bằng gổ, lá, tuy trang nhã nhưng cũng là cơ ngơi của kẽ nghèo. Riêng toà nhà chính giữa được xây dựn gkieen cố bằng gạch đá, mái lợp ngói đỏ, gồm đến hai tầng:

Doàn đại biểu Tàn Khuyết Môn được đua đến khu mộc xá, chiếm lấy ba căn. Lát sau, có người đến mời Chu Tuế Nguyệt lên đại sảnh hội kiến Tả giáo chủ tức Độc Biển Thước!

Chu Tuế Nguyệt đang ở chung phòng với gã thủ hạ mất hai vành tai. Gã này có dung mạo trông rất dử tợn, bởi đôi mày xếch và rậm rạp, cùng chiếc mũi ưng cong khoằm. Dường như để che dấu khuyết điểm nên gã đã nuôi bộ râu quai nón um tùm, xanh tốt và lại còn xoả tóc nữa!

Dẩu thế rất nhiều người biết rằng Tiêu Trung Kiếm Ngụy Vô Cương là một kẽ thiếu đôi vành tai! Phải chăng họ Nguỵ bị ai chặt đứt mà do trời sinh như thế!

Tiêu Trung Kiếm thành dânh ở lưu vực Sông Phần, phu Sơn Tây, từ năm mười chín tuổi. Bốn năm trước, lúc tròn ba chục gã đến Giới Hưu xin gia nhập Tàn Khuyết Môn, được Chu Tuế Nguyệt nhận làm nghĩa đệ, phong cho chức Tổng Hộ Pháp.

Hôm nay, khi đi vào hang cọp, Chu Tuế Nguyệt đã mang theo Tiêu Trung Kiếm. Hai người vừa bước vào sảnh thì được chủ nhân bước ra đón chào. Với thái độ vui vẻ, và ân cần!

Ngoài Độc Biển Thước Tả Nho Quan còn có thêm vài nhân vật nữa như Ngoạ Long Tú Sĩ, Tân Cung Chủ Tứ Phạn Thiên Cung Âu Dương Lăng, Hắc Lang Bành Đạo Nha, và đặc biệt nhất là ba nử lang võ phục đen rất xinh đẹp, lúc nào cũng theo sát Tả Nho Quan như hình với bóng!

Họ Tả tươi cười vái chào Chu Tuế Nguyệt, giới thiệu phe mình rồi mới mời khách vào bàn tiệc. Độc Biển Thước đã nghe nói về Tiêu Trung Kiếm nên không lấy làm lạ khi gã tháp tùng Chu môn chủ.

Ngụy Vô Cương quả là một nam tử có cái tâm sắt thép, chẳng hê nhìn đến ba nử lang Hắc y kia, dù nhan sắc củabọn tiểu thư nhà họ Điền vốn lừng danh thiên hạ! Giờ đây, tuyệt thếđôi mắt dại đi, cử động máy móc tựa như người trong mộng, nhưng dung mạo vẩn như tiên nga giáng thế!

Vậy là Mã Lan, Bạch Cúc, Uyển Xuân đã bị trúng tà pháp luôn quanh quản cạnh Độc Biển Thước, vai lại mang bảo kiếm như sẳn sàng bảo vệ chủ nhân. Phương pháp này hữu hiệu hơn là đem ba nàng nhốt vào ngục đá:

Chủ khách an toạ, Chu Tuế Nguyệt cười mát:

- Tả giáo chủ quả là nhân vật phong lưu biết hưởng thụ, nên lúc nào cũng có nử nhân bên mình!

Độc Biển Thước đắc ý đáp:

- Chu Lão đệ không biết đấy thôi. Ba con bé này chính là bùa hộ mệnh của lão phu đấy! Đây cũng là cơ sở để lão đệ thêm tin tưởng vào sự thành công của lão phu!

Chu Tuế Nguyệt cười nhạt:

- Giáo chủ có quá lời chăng? Ba nử nhân này có lẽ nào lạo có thể khắc chế Bạt Sơn Thần Lựu của phe Bạch Đạo?

Tả Nho Quan vuốt râu cười khanh khách:

- Linh hồn của bọn chính phái là Tần Nhương Thư, đệ tử Phật Đăng Thượng Nhân, Bạt Sơn Thần Lựu cũng nằm trong tay họ Tần. Nay lão phu thu phục ba ất thê của gã, liệu Nhương Thư có còn dám kháng cự nữa hay không?

Chu Tuế Nguyệt khẻ giật mình, sửng sốt, dơ ngón cái khen ngợi:

- Té ra là thế! Tài thao lược của Tả giáo chủ khiến Chu mổ phải đệ đầu bái phục và yên tâm hợp tác.

Lão dừng lời rồi nói tiếp:

- Nhưng còn Sơn Hải Bang ở đất Sơn Đông thì sao? Bản lãnh và thế lực của Kỵ Ba Thần Quân đâu phải tầm thường?

Độc Biển Thước xua tay:

- Chu lão đệ cứ an lòng, Kỵ Ba Thần Quân đã cũng bổn giáo liên minh, thề chia đoi thiên hạ. Ba ả họ Điền này cũng là do Kỵ Ba Thần Quân cho mượn đấy!

Gương mặt của Chu Tuế Nguyệt tươi tỉnh hẳn, lão vòng tay nói:

- Thế thì lão phu nguyện một lòng, một dạ hợp tác với Tả giáo chủ, chẳng còn lo sợ gì nữa! Trước mắt lão phu xin dâng ba vạn lượng vàng, nửa tháng sau sẽ cho người mang đến thêm năm vạn nữa. Chỉ mong giáo chủ chớ quên lời hứa phúc họa cùng hưởng và ban thuốc giải độc cho gia mẫu cùng thê tử của Chu mổ!

Dứt lời, Chu Tuế Nguyệt lấy ra một xấp ngân phiếu, đặt trước mặt Tả Nho Quan!

Độc Biển Thước khoan khoái cười ha hả:

- Chu lão đệ bất tất phải nhọc nhằn! Nữa tháng nữa lão phu sẽ đích thân đến Giới Hưu nhận vàng, nhân tiện giải độc cho quý quyến!

Chu Tuế Nguyệt bị đối phương nắm đằng cán mà vẩn mỉn cười:

- Tả giáo chủ đề phòng vô ích! Chu mỗ đã quyết tâm làm bá chủ đất Sơn Tây tất sẽ không tiếc của và sẽ không phản bội! Nếu sai lời, Chu mỗ nguyện chết dưới búa của Lôi Thần!

Tả Nho Quan thấy đối phương dám thề độc, mừng rở đáp:

- Chu lão đệ đã có lòng thành như thế khiến lão phu rất cảm động, và cũng xin thề với Lôi Thần rằng sẽ không quên công lao của lão đệ!

Hai người cùng nhau đứng lên, siết tay nhau để ký kết liên minh, ngữa cổ cười vang! Độc Biển Thước rất vui vì có được một kẽ giàu nứt đố, đổ vách lam hậu thuẩn! Tuy nắm giử mẹ và con Chu Tuế Nguyệt song lão vẫn thắp thỏm vì sợ họ Chu tìm được Thần Y giúp đở. Cao nhân tắc hửu cao nhân trị. Tả Nho Quan thừa hiểu chất độc của mình chẳng phải tuyệt đối không có giải dược. Muốn khống chế người khác, lão phải dùng thuốc độc mãn tính, phát tán chậm, do vậy đủ thời gian cho một danh y nghiên cứu. Chỉ có thuốc độc làm cho người ta chết tức khắc mới không có thuốc giải! Nay Chu Tuế Nguyệt cũng có tham vọng riêng. Cam tâm thần phục, khiến Tả Nho Quan nhẹ cả lòng!

Vài món nhậu mới đã được bưng lên, chủ khách vui vẻ mời nhau, khi ngà say, Chu Tuế Nguyệt tủm tỉm hỏi:

-Tả giáo chủ tuổi hạc đã cao, mà đêm đêm ôm ấp một lúc ba nử nhân, tiểu đệ lấy làm lo ngại đấy!

Tả Nho Quan cười khanh khách:

-öLão phu làm gì có được phúc phận ấy! Họ là báu vật của Kỵ Ba Thần Quân nên lão phu dù có thèm khát cũng đành phải cố nhịn! Tối đến là phải nhốt chúng vào phòng kế bên đấy!

Tiệc tàn, Môn chủ Tàn Khuyết Môn và Tiêu Trung Kiếm ngất ngưởng trở về tiểu xá, lăn ra ngủ vùi, tiếng gáy vang lên như sắm. Đến chiều, ả nử tỳ trực tiểu xá lên báo tin cho giáo chủ được rõ, Độc Biển Thước hài lòng bảo Ngoạ Long Tú Sĩ.

- Lổ quân sư quá đa nghi đấy thôi, họ Chu vì danh lợi tất phải thực tâm hợp tác!

Lổ Đăng Hán nhăn vầng trán rộng:

- Giáo chủ dạy chí phải! Lão phu vì chút linh cảm xấu nen đã lo xa!

Tả Nho Quan nhếch mép cười nham hiểm:

- Thực ra lão phu còn lo xa hơn quân sư nên đã âm thầm hạ độc hai người ấy rồi!

*

* *

Đã giữa canh ba mà Hắc Ưng Cốc, vẩn nhộn nhịp như ban ngày. Chuẩn bị cổ bàn cho cuộc đại lể sáng mai. Tiếng dao thớt rộn ràng, tiếng heo, gà vịt vang lên in ỏi, người qua lại tấp nập.

Cửa cốc được phòng thủ cực kỳ nghiêm mật, dẩu một con chuột cũng chẳnh thể vượt qua. Song trong cốc thì chỉ có vài toán tuần tra lấy lệ!

Thứ nhất, trong cốc toàn là người nhà, thứ ahi bốn bề vách đá cao vòi vọi, chẳng sợ kẽ thù xâm nhập!

Tuy nhiên, xung quanh chính sảnh là một vành đai võ sĩ dầy đặc, đứng im như tượng gổ, để canh gác cho cuộc họp của Giáo chủ và các cao thủ đầu não!

Môn Chủ Tàn Khuyết Môn cũng được mời tham dự. Ngồi một hồi, lão xin phép ra sau tiểu tiện. Tất nhiên chẳng ai nghi ngờ gì cả: Độc Biển Thước liền sai nử tỳ dắt thượng khách đi.

Nào ngờ, khi vưa khuất sau bức bình phong cuối sảnh, Chu Tuế Nguyệt đột ngột vươn tay điễm huyệt ả nử tỳ. Rồi họ Chu lấy ra ba vật lạ, nhắm phương vị cẩn thận, quăng về phía bàn lớn giữa sảnh.

Ba tiếng nổ kinh hoàng phát ra gần như một lượt, xé nát và hất văng cơ thể của những kẽ chậm chạp, đòng thời lam cho toà đại sảnh rung chuyển mạnh, tường sập, ngói rơi!

Tuy nhiên vẩn có ba kẽ thoát chết, đó là Độc Biển Thước, Ngoạ Long Tú Sĩ và Cung Chủ Tứ Phạn Thiên Cung Âu Dương Lăng .

Theo nghi lễ của người Trung Hoa, ghế chủ vị nằm ở góc Đông Nam của bàn. Tả Nho Quan ngồi ở đấy, và hai người kia bên cạnh. Họ lại có võ công siêu phàm, cơ trí tuyệt luân nên phản ứng vô cùng thần tốc, vừa nghe tiếng Bạt Sơn Thần Lựu chạm nền gạch là tung mình nhảy ngược về phía cửa đại sảnh.

Song sức công phá khủng khiếp của hoả khí đã làm họ bị trọng thương, máu miệng trào ra như suối. Ba người văng ra thềm trước, lồm cồm gượng đứng lên, càng thêm kinh hoàng khi nghe tiếng nổ vang trời ngoài cửa cốc, cùng với tiếng reo hò như sấm của hàng ngàn kẽ địch.

Với uy lực của Bạt Sơn Thần Lựu, phòng tuyến của cửa cốc mau chóng bị đánh thủng và phe đối phương kéo vào như thác lũ, đuốc thông sáng rực trời đêm!

Độc Biển Thước biết thế đã cùng, dậm chân than trời rồi đở hai người kia đào tẩu về phía sau. Lão có trăm năm công lực nên thương thế nhẹ hơn đồng đảng. Không có ai ngăn chặn nên họ êm thắm chui vào mật động ở sau vách núi. Lối ra vào này chỉ có một mình Độc Biển Thước biết mà thôi!

Lúc đầu, đệ tử Thần Quang Giáo chống cự quyết liệt, song mãi không thấy thủ lỉnh xuất hiện chỉ huy nên chẳng còn dũng khí nửa. Lại thên những tiếng nổ long trời của hoả khí khiến tinh thần bọn chúng thêm sa sút.

Muốn thoát ra cũng không được vì cửa cốc chật hẹp đã bị trấn giử bởi những cao thủ cực kỳ lợi hại.

Quần hùng đã được chuẩn bị kỹ lưởng, ai nấy đều che mũi, miệng bằng khăn lọc độc khí, nên chất độc vô hình của hai trăm kiếm thủ Tứ Phạn Thiên Cung bị vô hiệu hoá. Tiếng reo hò ồn ào của trận loạn chiến vĩ đại cũng làm cho Ma Âm của Huyết Tâm Kiếm Pháp mất tác dụng:

Lực lượng quần hùng võ lâm đông gấp bội, nên hoàn toàn chiếm ưu thế, sát hai được rất nhiều kẽ địch.

Đúng là cảnh máu chảy thành sông, tiếng rên la khiến lòng từ bi phải não ruột, Khánh Hỷ Đại Sư liền vận thần công Sư Tử Hống gọi hàng, thế là, trừ hai tổ chức ác ôn của bọn Tứ Phạn Thiên Cung và Huyết Tâm Giáo kỳ dư đều buông vũ khí quy phục.

Trận huyết chiến được thu nhỏ lại, và những kẽ ngoan cố tiếp tục gục ngã. Thực ra dẩu họ có đầu hàng cũng không tránh được sự trừng phạt của nha môn, Tứ Phạn Thiên Cung và Huyết Tâm Giáo đứng đầu trong danh sách truy nả của triều đình!

Trong phe quần hùng, lợi hại nhất chính là Tiêu Trung Kiếm Ngụy Vô Cương. Gã hung thần này đã rút thanh kiếm bản nhỏ trong thân tiêu ra, gieo rắc cái chết nhanh chóng lên hàng ngủ địch.

Kiếm pháp của Ngụy Vô Cương đã đạt đến cảnh giới thượng thừa, nhanh như thiểm diện và ảo diệu vô song. Ngây cả lão Đệ Tứ Hộ Cung Chân Khanh cũng không qua nổi hai mươi chiêu:

Tuy nhiên, trước khi chết lão cũng đạt được một kết quả khiêm tốn là nhận ra lai lịch đối phương. Lão kinh hải quát vang:’

- Phật Đăng Kiếm Pháp!

Lão đã từng đầu với Tần Nhương Thư ở Điền Gia Trang năm trước nên dể dàng phát hiện cố nhân! Dù Tiêu Trung Kiếm không có vành tai, nhưng gã lại chính là Tần Nhương Thư, và chỉ mình chàng sở đắc Phật Đăng Kiếm Pháp! Chàng phải mượn thân phận Tiêu Trung Kiếm, đấu hai vành tai nổi tiếng của mình mà vào hang cọp cứu ái thê

Nhương Thư mỉn cười lạnh lẻo, rung kiếm đâm thủng ngực đối phương chẳng nể nang chút tình quen biết cũ!

Giết xong Tứ Hộ Cung Chân Khanh, Nhương Thư lại đi tìm mục tiêu khác, như muốn tranh công với Hoàng Nghi Tuyệt, Bạch Thuý Sơn vậy.

Đến sáng thì cuộc chiến kết thúc, và lúc này bọn Vô Ưu Cái mới biết Độc Biển Thước cùng hai thủ hạ đắc lực đã thoát chết. Hầu Mộ Thiên rầu rỉ than thở:

- Tròi không giúp ta nen mới để lão ác ma thoát khỏi mẻ lưới kín đáo này! Tả Nho Quan còn sống tất sẽ trả thù các phái bằng mọi giá!

Bất Trí Thư Sinh cũng ngao ngán:

- Đúng là số trời! Ba trái Bạt Sơn Thần Lựu nổ tung khoảng không gian chật hẹp của đại sảng mà chẳng giết được lão ta!

Tàn Khuyết Môn Chủ dở mảng da che mắt trái, vuốt mặt biến thành Dạ Quân Tử Quách Tàn Bôi, rồi nghiêm giọng:

- Chắc chắn họ đào tẩu về Tứ Phạn Thiên Cung ở Càn Sơn, chúng ta đuổi theo ngay biết đâu sẽ bắt kịp.

Nhương Thư bàn thêm:

- Nhân lúc Độc Biển Thước và Âu Dương Lăng đang thọ thương, tại hạ sẽ xâm nhập Tứ Phạn Thiên Cung để diệt trừ họ!

Kế hoạch táo bạo này rất có cở sở, vì chàng không sợ độc và thừa sức phá vây để thoát đi. Song ẩu sao, một mình vào hang cọp cũng là liều lĩnh, Phổ Chứng Thiền Sư ái ngại can ngăn:

- Tuy Tần thí chủ thần công tuyệt thế nhưng lão nạp vẩn chẳng yên lòng! Hay là chờ đến tháng bảy hãy hội quân tiến đánh Càn Sơn, lúc ấy Mông Hãn Hoa tàn úa, không toả ra độc khí!

Các danh y của phe Bạch Đạo đã tìm rx được thời điểm quý giá ấy, sau nhiều năm miệt mài nghiên cứu.

Nhương Thư cười buồn:

- Chi sợ lúc ấy Tả Nho Quan đã bình phục, chẳng ai giết nổi nữa!

Mọi người công nhận chàng có lý, song Vô Ưu Cái gạt đi:

- Khoan tính đến việc ấy. Trước mắt hãy cứu tỉnh ba con nha đầu họ Điền cái đã!
Đăng nhập để trả lời
0
[X(][&:]Tần Nhương Thư

Ưu Đàm Hoa

Hồi thứ mười hai:

CÀN SƠN BIỂN THƯỚC NẠN THÊM THỌ
VONG NGÃ; VONG DUNG HỮU NHẤT NHÂN!



Người Trung Hoa làm lịch dựa theo chu kỳ vận hành của mặt trăng, chia một tháng thành ba tuần: Thượng Trung, Hạ. Nghĩa là mỗi tuần có đến chín hoặc mười ngày. Đầu trung tuần tháng sáu, bọn Vô Ưu Cái về đến Lạc Dương. Ba nữ nhân họ Điền, nạn nhân của phép Nhiếp Hồn Thuật, được đưa đến cơ sở mật của phe Bạch Đạo.

Đấy chỉ là một dược đường nhỏ, trên phố Tam Tạng, thưa khách vì vị đại phu họ Tạ kia bất tài, chửa đâu, chết đó.

Thực ra, Tạ Y Chuyên chính là bậc Thần Y đất Triều Châu, phía Bắc tỉnh Phúc Kiến. Ông nghe theo lời thỉnh cầu của Vô Ưu Cái nên về Lạc Dương sinh sống, chủ trì việc nghiên cứu các loại tuốc độc của phe Hắc Đạo, trong đó có Mông Hản Hoa và Vô Hình Chi Độc của Tứ Phạn Thiên Cung !

Tạ Đại phu vốn có tài diệu thủ hồi xuân, nhưng Cái Bang lại tung tin đồn nhảm để bảo toàn bí mật cho cơ sở. Rốt cuộc, bách tính quanh vùng chỉ đến mua thuốc chứ không dám để Tạ lang băm chẩn mạch kê toa!

Dưới trướng Tạ Y Chuyên còn có bảy tám vị lương y già nửa. Họ được nuôi dưởng suốt đời, vừa nghiên cứu y thuật, vừa hưởng cảng thanh nhàn trong toà gia trang rộng rãi, u nhả ở phía sau An Dân Đường!

Tạ gia trang nhiều phòng ốc nên Nhương Thư, Thúy Sơn và Bất Trí Thư Sinh cũng đến đấy ở luôn.

Hoàng Nghi Tuyệt đã về Lưu Sơn, còn Dạ Quân tử và Nghiên Tái Thuần đã đi Thiểm Tây, thực hiện kế hoạch xâm nhập hàng ngũ Âm Sơn Giáo. Thiết Kình Ngư Tào Ưng cùng Lô Châu Ngũ Tặc thì đóng đô tại Tổng đà Cái Bang!

Ba cô gái họ Điền bị phong toả chân khí vf huyệt đạo tứ chi để Triều Châu Thần Y chẩn bệnh. Họ không hề nhận ra người thân, ngơ ngác nhìn với ánh mắt sợ hải, cứ như lọt vào tay kẽ cướp vậy!

Tạ Thần Y thăm mạch, cắm thử vài cây kim lên đầu Mã Lan. Không thấy hiệu quả, ông gượng cười nói với Nhương Thư :

- Nhiếp Tâm Thuật của Kỵ Ba Thần Quân xuất xứ từ Thiên Trúc thuộc loại tà pháp bí truyền, chẳng thể giải trừ ngay được mà cần có thời gian. Lão phu chỉ dám hứa thành công sau ba tháng, mong công tử lượng thứ cho!

Nhương Thư từng được nghe sư phụ nói về sự lợi hại của tà thuật này nên điềm đạm đáp :

- Tại hạ cũng hiểu được điều ấy chẳng dám thúc bách, mong Tạ lão ca cứ từ tốn mà chữa trị !

Hai ngày sau, Nhương Thư dặn dò Thúy Sơn :

- Nàng hãy ở lại đây chăm sóc bệnh nhân, ta phải đi ngay Tứ Phạn Thiên Cung tiêu diệt Độc Biển Thước. Nếu để lão bình phục thì sau này sẽ không còn cơ hội nữa !

Thúy Sơn tái mặt vì lo lắng song không dám ngăn cản, chỉ thỏ thẻ :

- Mong Đại ca bảo trọng, đừng để bốn chị em tiểu muội phải đau khổ suốt đời !

Nhương Thư cảm động gật đầu, xách trường kiếm và tay nải nhỏ rời Tạ gia trang lúc trời còn mờ tối. Chàng không cho Bất Trí Thư Sinh biết, sợ lão sẽ ngăn cản. Vì vậy, sáng ra Cao lão dậm chân kêu trời, tất tả chạy sang Tổng Đàn Cái Bang báo với Vô Ưu Cái.

Hầu Mộ Thiên mỉm cười :

- Lão phu đã tiên đoán rằng Nhương Thư sẽ hành động như thế! Tuy y hơi ngốc nhưng cốt cách anh hùng, chẳng biết sợ là gì, tất sẽ noi gương Phật Đăng Thượng Nhân mà dấn thân vào chốn long đàm hổ huyệt. Thực ra, Nhương Thư đi là đúng vì đây là thời cơ tốt nhất. Vả lại, nội bộ tà ma ở Càn Sơn đang lủng củng, có thể đi đến cuộc tương sát giữa Âu Dương Lăng và Độc Biển Thước. Nhương Thư đi chuyến này không chừng sẽ phá tan được cả ổ quỷ đấy !

Bất Trí Thư Sinh cười mát :

- Tiểu đệ lấy làm lạ khi thấy lão ca chẳng hề lo lắng cho Nhương Thư ?

Hầu Mộ Thiên nghiêm sắc mặt :

- Nào phải lão phu vô tình, song y đã kế nghiệp Phật Đăng Thượng Nhân là chấp nhận gác ngoài sinh tử, để lo cho đại cục võ lâm, ngay bản thân lão phu cũng lao tâm khổ trí suốt ba chục năm nay, nào có được an nhàn một khắc nào đâu ?

Cao Trường Toàn nghe lời chính khí vội vái dài chậm rãi nói :

- Tiểu đệ vì tình riêng với Nhương Thư mà quên cả đại cục, quả là đáng hổ thẹn! Tuy nhiên gấn đây thần sắc Tần hiền đệ u ám, ấn đường phủ mây đen, e rằng sẽ gặp nạn!

Vô Ưu Cái tái mặt, trầm ngâm một lúc rồi nghiến răng hỏi lại:

- Chuyện đã lở, lão phu muốn biết liệu y có sống mà trở về hay không thôi!

Cao Trường Toàn bấm tay tính toán, tư lự hồi lâu mới đáp:

- Tuyệt xứ phùng minh! Y chẳng thể chết được!

Vô Ưu Cái gật gù:

- Y còn sống là đủ rồi! Lão đệ hãy về Tạ Gia Trang để ta họp hội đồng trưởng lão!

Cao Trường Toàn đi rồi Vô Ưu Cái ngồi lặng người suy nghĩ rất lung!

*

* *

Nhắc lại, Nhương Thư rời Lạc Dương lên hướng Bắc. Chàng hoá trang thành Tiêu Trung Kiếm Nguỵ Vô Cương nên chẳng sợ võ lâm hào kiệt nhận ra.

Tàn Khuuyết Môn Chủ Chu Tuế Nguyệt là bái đệ của Vô Ưu Cái nên đã vui lòng hợp tác để giáng cho Độc Biển Thước một đòn chí tử.

Ngay sau khi người thân bị Tả Nho Quan hạ độc, Chu môn chủ đã thông báo cho Hầu Mộ Thiên biết, Hầu Bang chủ đã cử Tạ Thần Y đi ngay Giới Hưu đối chứng lập phương giải độc nhưng lại dặn Chu Tuế Nguyệt cứ giả vờ như vẩn còn bị khống chế. Ông định đưa họ Chu vào làm nội gián trong Thần Quang Giáo,nào ngờ ba chị em họ Điền bị bắt, nên phải sử dụng ngay bí mật này!

Thanh kiếm bản nhỏ, vỏ là đoạn tiêu sắt, chính thị vũ khí tuỳ thân của Nguỵ Vô Cương chứ chẳng phải đồ giả. Họ Nguỵ đã khẳng khái tặng luôn cho Nhương Thưsữ dụng.

Vai trò củaTàn Khuuyết Môn trong cuộc chiến ở Hắc Ưng Cốc không được nhiều người biết đến, ngoài bọn Độc Biển Thước và các Chưởng môn Bạch Đạo! Do vậy Nhương Thư có thể bình yên thoát khỏi những lời tán tụng của thiên hạ: Bọn hào khách gặp chàng cũng chỉ vẩy chào qua loa vì chút tình cùng nhau chiến đấu mà thôi. Họ không biết Tiêu Trung Kiếm là Tần Nhương Thư!

Giờ đây, thanh danh của Nhương Thư vang dội khắp nơi vì đã phá huỷ được Thần Quang Giáo. Thực ra công đầu thuộc về Bang Chủ Cái Bang Hầu Mộ Thiên, những tiếng nổ long trời của Bạt Sơn Thần Lựu đã khiến người ta chỉ nhớ đến Tần Nhương Thư! Không có Thần Lựu của chàng thì kế hoạch kia chẳng thể thành công!

Từ đầu tháng đến nay, đâu đâu cũng xôn xao kể cho nhau nghe về chiến thắng Hắc Ưng Cốc. Hàng ngàn hảo hán có mặt đêm ấy đã không quên vổ ngực kể lễ, nhân tiện khoe rằng mình đã tham gia!

Trưa mười hai, Nhương Thư sang đất bờ Bắc Hoàng Hà, một mình dong ruổi dưới ánh nắng gay gắt va những trận mưa hạ tầm tả như trút nước:

Hanh trang của chàng là tay nải nhỏ chứa y phục, sáu trái Bạt Sơn Thần Lựu và hình bóng của ái thê: Không hpải chỉ ba đôi mắt lạc thần, si dại mà có cả dáng vóc yêu kiều của người quá cố là Bạch Ngọc Tiên Tử Lâm Đại Ngọc:

Chiều xuống, khói lam từ bếp của những nếp nhà tranh đơn sơ bên bìa rừng bốc lên, quyện với sương lạnh, hờ hửng, bãng lãng trên tàn cây, nhắc nhở đến một cuộc sống gia đình êm đềm mà chàng chưa bao giờ được hưởng.

Sau mười mấy năm nương nhờ cửa Phật, tu hành trai giới, chàng lại lao ngay vào cuộc sống giang hồ, sóng gió và tanh máu, chẳng một ngày yên ả! Nhương Thư thở dài chua chát thầm nghĩ:

- ” Tứ Đại Giai Không, vạn vật vô thường, sao ta lại phải bôn ba lận đận làm gì nhỉ? Kẻ nào gieo nhân ác, sẽ gặt quả xấu, ta có quyền gì mà đem báo ứng đến cho họ! Phật Tổ Như Lại nào có dạy đệ tử dĩ sát chỉ sát?”

Nhương Thư bổng xấu hổ khi nhớ đến ân sư! Suốt đời hành hiệp, tạo phúc cho bách tính, ông chưa hề giết một ai cả! Chính bởi chàng bất tài nên nới phạm giới sát, máu nhuộm đỏ đôi bàn tay từng Thanh Đăng Cổ Phật!

Tiếng chuông chùa từ đâu vọng lại làm Nhương Thư rùng mình vì hối hận, đau đớn kêu lên:

- Ân sư! Đồ nhi đã sai rồi!

Trong tâm trạng hoang mang, Nhương Thư quên cả việc bóng chiều ngã dần để nhường chổ cho đêm tối. Chàng lỏng đây cương, lửng thửng phi nước kiệu, mặc cho tiếng chim về tổ hối thúc trên cao. Nhương Thư trân trối nhìn đỉnh Càn Sơn phía xa, đang che khuất vầng dương để những đường nét được viền một dải ánh hồng rực rở, Chàng phân vân chẳng biết có nên đến đó nữa hay không, vì sáu trái Bạt Sơn Thần Lựu sẽ rút ngắn chu kỳ nhân quả của hàng trăm thủ hạ Tứ Phạn Thiên Cung!

Được vài dặm, Nhương Thư giật mình vì tiếng sột soạt ở bìa rừng mé hữu. Chàng quay sang nhìn và phát hiện một con đường mòn nhỏ, dẫn đến ngôi chùa cổ đang thấp thoáng không xa, có lẽ tiếng chuông lúc nãy phát xuất từ đây?

Ăn năn vì sát nghiệp nặng nề, Nhương Thưkhao khát quỳ trước Phật đường mà sám hối. Chàng mừng rở rẽ vào đường mòn.

Nhương Thư buồn rầu nhìn ngôi cổ tự hoang phế, tiêu điều, đầy cỏ dại. Lòng tự hỏi vì sao nơi hoằng dương đạo pháp, giáo hoá chúng sinh lại đến nổi này?

Và tiếng hổ gầm đâu đó giải đáp thắc mắc của Nhương Thư. Chính bầy ác thú đã xua đuổi tăng lữ ra khỏi chùa!

Chàng buâng khuâng xuống ngựa, bước vào đại điện, nhận ra các pho tượng Phật đều đã biến mất. Bảng gổ mục nát nằm lây lất trước hiên vẩn còn lờ mờ ba chử Đồng Phật Tự, nghĩa là trước đây chùa này thờ Phật đúc bằng đồng. Phải chăng bọn trộm cướp đã khiêng cả tượng đi bán rồi?

Nhương Thư vén áo vào đảnh lễ toà sen trống không rồi bẻ nhành cây quét dọn mạng nhện, bụi bặm. Với khinh công xuất chúng và kình lực của đôi tay mạnh mẽ, chàng bay lượn khắp nơi, múa tít nhánh cây đầy lá, toạ nên những trận cuông phong thổi bay bụi đất ra ngoà.

Nhương Thư nghĩ một lúc, trăng lên rồi cặm cụi nhổ sạch cỏ dại, bụi rậm trên mảnh sân gạch quanh chùa. Chàng say mê làm đến nữa đêm mói xong, hài lòng nhảy xuống mảnh ao sau chùa tắm gội. Đã quen tịnh cốc, Nhương Thư có thể nhịn đói vài ngày, huống hồ một bửa tối nay. Chàng ung dung gom cành kho nhóm lửa trước sân và ngồi cạnh đấy ngắm vầng trăng mười bốn khá tròn trịa, như chiếc dĩa ngọc đang ban phát ánh sáng nhạt nhoà dể vổ về giấc ngũ của rừng cây.

Tiếng côn trùng mùa hạ rỉ rả chung quanh chợt nhắc chàng nhớ đến tiếng chuông ban chiều. Trong chùa không có chuông vậy âm thanh kia từ đâu vọng lại? Là người học võ, tai mắt vô cùng minh mẫn, chàng có thể xác định tiếng chuông xuất phát từ khu vực này, chẳng thể xa hơn được!

Nhương Thư chợt chấn động vì một linh cảm kỳ lạ, liền niệm Phật rồi toạ thiền. Trong cảnh giới tỉnh lặng, trước mắt chàng hiện ra cảng một nhà sư vạm vở đang vác tưng thân cây to lớn về cho đám thợ mộc đẽo gọt, Bắp thịt ông nổi lên cuồn cuộn dưới lớp tăng bào, biểu hiện một sức mạnh kinh hồn.

Sau đó, đến cảnh ngôi chùa được hoàn thành, ngày sóc, ngày vọng nghi ngút khói hương, đông đúc tín đồ đến nghe thuyết pháp. Nghe xong gương mặt họ đầy vẻ từ bi, vui vẻ trở về khu làng ở phía Tây chùa. Ngày thương nhà sư dạy chử và đạo nghĩa cho lũ trẻ!

Thời gian trôi đi, vị hoà thượng kia đã già, đang quỳ trước Phật đường, nghiêm trang khấn vái:

- Nay bọn ác thú từ phương xa đến lộng hành quanh chùa, xua đuổi bách tính khiến việc hoằng dương Phật pháp bị gián đoạn, đệ tử đành phạm giới để tiêu diệt chúng. Dẫu kiếp này đệ tử không thành Phật cũng giúp cho hàng ngàn người thấm nhuần giáo pháp, nuôi dưởng thiện căn!

Khấn xong, ông xách tiền trượng đi vào rừng đánh nhau với bọn mảnh hổ. Nhà sư già giết được vài con nhưng không may vấp rể cây ngã xuống và bị ác thú vồ, Chúng xâu xé thân hình của vị hoà thượng vpí vẻ thoả mãn khôn cùng!

Cảnh cuối cùng là xóm làng phía Tây kia. Giờ đây tiếng cải cọ, chửi bới vang lên hàng ngày, vẻ mặt ai cũng đầy nét hung ác, tham lam. Họ không đi chùa, đi học nữa vì sợ cọp và cũngvì chẳng có sư trụ trì. Thay vào đó họ đến sòng bài, kỷ viện và quán nhậu. Phong hoá, đạo đức suy đồi nên có cả cảnh con giết cha, vợ giết chồng!

Nhương Thư giật mình mở mắt, bàng hoàng suy nghĩ. Lát sau chàng nghiêm trang, kiên quyết phát nguyện:

- Kiếp này đệ tử nguyện tận lực giáng ma vệ đạo để chúng sinh được yêm lành dưới bóng từ bi của Phật pháp. dẩu có phải đoạ A Tỳ cũng cam tâm!

Nhương Thư thanh thản nằm xuống đi vào giấc ngủ. Sáng hôm sau,chàng lên đường, thầm nhủ sẽ quay lại trùng tu chùa, tiêu diệt đàn mảnh hổ và tìm vài nhà sư đến Đồng Phật Tự chấn hưng Phật pháp, dạy dổ trẻ thơ.

Con đường đến Càn Sơn chìm trong những cánh rừng bạt ngàn cạnh bờ Bắc Hoàng Hà, thỉnh thoảng mới có một làng nhỏ. Khi chỉ còn cách sào huyệt đối phương chục dặm. Nhương Thư xoá bỏ lớp hoá trang, búi tóc lên và kéo sụp nón tre rộng vành xuống . Dung mạo thực của chàng chẳng đến nổi doạ khiếp lão chủ nhân của một quán trọ nhỏ dọc đường:

Đường vắng, khách thưa nên ông chủ nhân, kiêm chưởng quỷ, kiêm tiểu nhị của An Bình Lữ Điếm vô cùng mừng rở, cúi rạp người chào đón!

Đêm nay, trăng đã tròn xoe, rực rở trên cao, soi rỏ bước chân của khách dạ hành. Nhương Thư rpì quán trọ, trổ khinh công lướt nhanh về hướng núi Càn Sơn. Chàng đã nhiều lần được nghe Vô Ưu Cái miêu tả sào huyệt Tứ Phạn Thiên Cung nên chẳng hề bở ngỡ.

Cuối canh hai, Nhương Thư đã có mặt ở chân núi, êm thắm vượt qua cánh rừng nồng nàn mùi hương độc hại của loài Mông Hản Hoa .

Dưới ánh trăng bàng bạc, toà nhà đá ba tầng đồ sộ kia kiêu hảnh vươn cao những góc ngói cong vút, chạm trổ hình đầu rồng. Chung quanh thạch cung là hàng trăm tiểu xá, tiểu viện xinh đẹp, tường gạch, mái ngói khang trang:

Nhương Thư không biết Độc Biển Thước ngũ ở đâu nen tìm đến nhà bếp đểhỏi thăm. Nội gián của Cái Bang chính là đầu bếp Tứ Phạn Thiên Cung, tên gọi Đồ Tắc Thông.

Họ Đồ đã gởi tin về Lạc Dương báo rằng thương thế của Độc Biển Thước rất nặng, và dường như Kim Mẫu Trác Phụng Hoan đang muốn nhân cơ họi này sát hại Tả Nho Quan, giành lại cơ nghiệp Thiên Cung. Tuy bà bị Phật Đăng Thượng Nhân phế võ công, song dưới trướng còn mấy lão Hộ Cung Chân Khanh võ nghệ cao cường và rất trung thành!

Nhương Thưphát hiện những toán mai phục ở quanh thạch cung và khu hậu viện, nhưng cho rằng họ phòng thủ là phải đạo.

Sau nhiều lân thọ dụng kỳ trân như Thuỷ Xà Giác Huyết, Hông Vỹ Hác Dâm Ngư, nhãn quan Nhương Thư cực kỳ tinh tường, luôn nhìn thấy đối phương trước. Nhờ vậy chàng dể dàng vượt qua những chốt gác, đến được nhà bếp ở cạnh vườn hoa phía sau.

Lạ thay, ở nơi không quan trọng này cũng có phục binh, cứ như chúng đoán được rằng chàng sẽ đến tìm Đồ Tắc Thông vậy? Nhương Thư lo lăng cho họ Đồ ẩn mình phía sau phòng tuyến mai phục mà suy nghĩ.

Chàng vận công nghe ngóng, nhờ gió Nam mà loáng thoáng nghe được tiếng đối thoại trong bếp. Giọng nói quen thuộc ấy chính là của Tả Nho Quan:

- Này Đồ lão đệ! Ngươi đã gởi tin giả về Lạc Dương, sao không thấy tiểu tử họ Tần đến?

Người kia bật cười, nói hơi lớn:

- Tả giáo chủ nóng ruột làm gì, nếu Nhương Thư trung kế khởi hành thì Vô Ưu Cái sẽ phải báo tin cho tại hạ biết để phối hờp hành động. Mấy đêm nay giáo chủ bắt bọn thuộc hạ phải thức trắng thật uổng công! Vô Ưu Cái tuyệt đối tin tưởng tại hạ, tất sẽ bảo Nhương Thư đến tìm!

Nhương Thư không ngờ Đồ Tắc Thông lại phản bội Cái Bang. Lòng vô cùng đau đớn và chán ngán cho tình đời! Chàng thầm mừng vì đã lén đi, chứ không bàn với Vô Ưu Cái, nên Hầu Bang Chủ chẳng kịp báo cho họ Đồ biết. Chim câu khôngthể bay đến Càn Sơn gây sự nghi ngờ, người đưa thư đã chậm hơn chàng một bước!

Đồ Tắc Thông nói tiếp:

- Giáo chủ cứ để anh em nghĩ ngơi đêm nay cho lại sức, sáng mai tại hạ xuống núi mua thực phẫm thế nào cũng nhận được tin!

Độc Biển Thước nghe có lý, bước ra bảo bọn kiếm thủ Thiên Cung:

- Các ngươi hãy truyền lệnh giải tán, nhưng nhớ khi ngũ phải để vũ khí bên cạnh!

Bọn này đang ngáp ngắn ngáp dài, mừng rở đứng lên, ra ngoài truyền đạt lệnh xã hơi của thủ lĩnh.

Tả Nho Quan quay lại bếp nói chuyện với Đồ Tắc Thông. Nhương Thưmừng rở chờ toán mai phục đi khuất mới áp sát khung cửa sổ của tường bếp.

Nhận ra Tả Nho Quan và Đồ Tắc Thông đang dối ẩm ở goác Đông Nam, Nhương Thư móc hai tría Bạt Sơn Thần Lựu, bấm chốt rồi ném thật mạnh. Hoả khí chạm vào tường gạch cứng tất sẽ phát nổ lớn hơn.

Song Tả Nho Quan phản ứng cực kỳ thân tốc và xảo quyệt vì nghe tiếng động quen thuộc đã túm lất Đồ Tắc Thông làm mộc che thân. Bay ngược về hướng Tây. Tuy nhiên sức ép kinh hồn đã làm dập phổi ác ma, đẩy lão văng đến tận bức tường bếp.

Tả Nho Quan buông xác Đồ Tắc Thông, cố gượng đứng lên đào tẩu nhưng trái Thần Lựu thứ ba đãbay đến xé nát cơ thể lão và đánh sập luôn nữa gian bếp còn lại!

Nhương Thư không dám vào vì tường bếp đang sập từng mảng, ngói rơi như mưa, đàng phải phí thêm hoả khí để kết liểu đời ác tặc.

Biết đã thành công, Nhương Thư lao vút về phía trước, chạy như bay trên những mái ngói, để tránh việc giết người!

Chiêng báo dộng vang trời, đèn đuốc sáng rực, át cả ánh trăng rằm. Âu Dương Lăng đich thân chỉ huy cuộc vây bắt thích khách, nhưng bọn thủ hạ chỉ hô hoán cho kêu chứ không dám đến gần Nhương Thư. Uy lực của Bạt Sơn Thần Lựu đã khiến họ thất kinh hồn vía.

Nhương Thư lên đến toà thạch cung ba tầng, ném một lúc hai trái Thần Lựu làm cho công trình rung chuyển dử dội rồi bốc cháy.

Thấy cơ ngơi tổ truyền bị phá huỷ, Âu Dương Lăng điên tiết huy động bọn Hộ Cung Chân Khanh bao vây Nhương Thư, mặt khác hô hào thủ hạ chửa cháy!

Chàng trai họ Tần vẫn còn hoả khí, nắm chạc trong tay tả rồi múa kiếm phá vây. Nhương Thư chỉ cần giơ cao ống đồng đáng sợ ấy lên đe doạ là phe đối phương dạt cả ra, không dám liều mạng chận đường nữa. Vạn cổ tử vi nan, dẫu là con sâu cái kiến cũng ham sống huống hồ là con người!

Chẳng mấy chốc Nhương Thư đã vào được cánh rừng, thoát đi an toàn, Âu Dương Lăng uất ức mắng chưởi:

- Tần Nhương Thư! Ta thề sẽ phân thây mi thành ngàn mảnh nhỏ!

Nhương Thư mỉn cười thầm nghĩ.

-” Nay Độc Biển Thước đãchết, trước sau gì ngươi cũng bỏ mạng vì chất độc trong người thôi!”

Chính vì lý do này mà chàng chẳng cần đích thân tiêu dịêt Cung chủ Tứ Phạn Thiên Cung! Nhương Thư còn hy vọng sau cái chết củaÂu Dương Lăng, Thiên cung sẽ tan rả và võ lâm sẽ bớt đi một mối hoạ.

Chạy đã khá lâu mà không ra khỏi được khu rừng, Nhương Thư suy nghĩ và hiểu rằng mình đã vô tình lạc dần về hướng Tây Bắc Càn Sơn, nơi mà có rừng phủ che trùng điệp, chẳng hề có đường đi:

Vầng trăng rằm đãbị mây đen che phủ, chuẩn bị đổ mưa, không gian dưới ýan rừng tối đen như mực, chẳng thể nhận định phương hướng được. Nhương Thư đành tìm chổ nghĩ ngơi vad trú mưa, chờ ánh dương quang ló dạng rồi sẽ tính.

Chung quanh toàn những cây tùng suông đuột, Nhương Thư chạy tiếp để kiếm cái cây nào có chạng ba. Sấm sét nổi lên đùng đùng, ánh chớp liên tục loé sáng khiến không gian nhập nhoạng, nên Nhương Thư đã không nhận rỏ địa hình trước mặt. Khi chàng phát hiện bước chân bị hụt hẩng thì quá muộn.

Mặt đất cứ như tự nhiên bị nứt ra, Nhương Thư rơi xuống một khe sâu hun hút và đen tối. Chàng kinh hải than thầm, chỉ còn cách dồn hết chân khí xuống song cước còn hai tay dang rộng, cố nắm lấy bất cứ vật gì!

Nhưng khác với lần trước, Nhương Thư rơi quá xa vách vực nên không chạm phải cây cối, cứ thế gieo thẳng xuống đáy vực. May thay, chàng hậ thân xuống đúng vùng trueng nhất, đang đầy ắp nước mưa của những cơn mưa vừa rồi. Do sức căng mặt nước, xương chân Nhương Thư gãy răng rứac, song phủ tạng chẳng tổn thương gì. Chàng mừng rở cố trồi lên, dùng tay bơi về một hướng. Đến được củavũng nước, lần mò kiễm tra cơ thể.

Nhương Thư thở pháo vì thấy chỉ có xương đùi bị gẫy, chấp tay cảm tạ Phật Tổ Như Lai rồi nằm xuống nghĩ ngơi. Chàng đã sửa cho hai đoạn xương gãy trở về chổ cũ

Nhưng phải bất đọng khá lâu mới bình phục được.

Gần trưa Nhương Thư thức giấc, chàng nhẹ nhàng ngồi lên quan sát địa thế vực thẳm, tự nhủ rằng khe núi dài thường thược này chắc chắn phải có lối ra. Bề rông của vực rất lớn, cây cối um tùm nên chẳng thiếu dưỡng khí. Chỉ cần tìm ra được thực phẫm cầm cự đến lúc xương chân liền lại là chàng có thể trở lên mặt đất.

Thú nhỏ dưới khe rất nhiều, Nhương Thư dùng sỏi trổ tài phóng ám khí mà săn thịt. Nữa tháng sau chàng có thể tì vào hai nạng gổ mà đi lại thám sát địa hình. Té ra vực thẫm này chỉ có thể thoát ra bằng cách trèo qua vách, Độ cao hai chục trượng của đoạn vách phía Nam chẳng làm khó được Nhương Thư nếu chàng lành lặn. Song với đôi chân yếu ớt hiện nay, chàng đàng phải bó tay, kiên nhẩn chờ đợi:

Thời gian cứ thế, chậm chạp trôi qua, rồi cũng đến rằm thasng bay. Đêm ấy, Nhương Thư được nghe những tiếng nổ ầm ì từ hướng Càn Sơn vọng lại.

Vậy là người thjân của chàng vì lo lắng mà cầu viện đến quan quân Hà Nam mang đại pháo mở đường tiến vào Thiên Cung. Ở thời điễm giữa tháng bảy hàng năm, Mông Hản Hoa héo tàn, rơi rụng và không có độc tố.

Nhương Thư đoán đúng, sự thất tung của chàng đã khiến Vô Ưu Cái phát điên lên, tụ hội quần hùng phối hợp với quan quân mà báo phục.

Ông đích thân đi điều tra, phát hiện Nhương Thư từng trọ ở An Bình lữ điếm, gởi ngựa và hành lý rồi rời nơi ấy đêm mười bốn tháng sáu.

Trinh sát của Cái Bang ở Sơn Trấn phía Nam núi Càn cũng xác nhận việc Thiên Cung có tiếng nổ và phát hoả giữa đêm mười bốn. Hôm sau người của Thiên Cung xuống trấn mua hai cổ quan tài, không biết dành cho ai? Việc khó hiểu nhất là sự bặt tăm của Đồ Tắc Thông . kẽ làm nội gián cho Cái Bang . Dường như lão đã chết vì Thiên Cung có đầu bếp mới.

Đường chính dẩn vào Thiên Cung xuyên rừng theo hướng Bắc Nam, chỉ rộng mười bốn bước chân và được phòng thủ nghiêm mật. Bọn Vô Ưu Cái tiến vào bằng lối này, nhờ đại pháo mà mau chóng đè bẹp sự kháng cự của đối phương.

Biết thế đã cùng, Âu Dương Lăng quyết định bỏ của chạy lấy người, mặc cho sào huyệt bị san phẳng.

Thiết Kình Ngư may mắn bắt được một gã thủ hạ Thiên Cung bị thương, đem ra tra khảo. Gã quắc đôi mắt hổ, nghiến răng đe dọa:

- Nếu ngươi không thành thực khai báo thì lão gia thề sẽ bẻ gãy từng đốt xương của ngươi đấy!

Vẻ hung ác củaánh mắt đổ lửa đã khiến gã tù binh run bần bật, thề thốt sẽ chẳng nói láo nữa lời. Nghe hỏi, gã liền kể lại cuộc chiến đêm mười bốn tháng sáu, khẳng định Tần Nhương Thư dùng hoả khí giết xong Độc Biển Thướcvà Đồ Tắc Thông, thoát đi an toàn!

Vô Ưu Cái ngơ ngác:

- Lạ thực! Thế thì y đi đâu mà khôngtrở về Lạc Dương?

Bất Trí Thư Sinh cau mày hỏi gã tù binh:

- Thế lúc thoát Tần Nhương Thư đi theo hướng nào?

Gã kia đáp ngay:

- Dạ bẫm hướng Nam!

Thực ra gã không hề biết nhưng vẩn sốt sắng trả lời để khỏi ăn đòn. Nhương Thư càng nhiều hy vọng sống sót thì mạng gã may ra mới vẹn toàn. Trong lòng gã cũng đoán rằng tên tiểu tử họ Tần kia không thấy đường nên rơi xuống vực thẫm trong khu rừng rậm phía Tây Bắc. Nhưng gã dại gì mà khai để mang họa vào thân!

Phương trượng chùa Thiếu Lâm, Khánh Hỉ Đại Sư, cũng có mặt trong cuộc chinh phục này. Ông hiền hoà bảo:

- Tần thí chủ phúc tướng sâu dầy, chẳng thể yểu mạng được! Dẩu có gặp tai ương cũngsẽ vượt qua, chư vị bất tất phải lo lắng như thế!

Ông nói vật thì thấy Bạch Thuý Sơn nhỏ lệ như mưa. Nàng ho khóca thành tiếng nhưng sắc diện cực kỳ thống khổ khiến ai cũng mủi lòng! Thúy Sơn đã mang theo một dải khăn tang, chỉ cần xác định được rằng Nhương Thư vvề suối vàng trước là nàng sẽ tự sát đuổi theo ngay!

Nay thực hư chưa rõ, Thúy Sơn tuy tràn trề hy vọng nhưng nổi khổ đau chẳng hề giãm sút. Bất giác nàng đau đớn gọi vang:

- Nhương Thư! Chàng đang ở đâu?

Hoàng Nghi Tuyệt nghe tin Nhương Thư thất tung đãvội đến Lạc Dương để cùng tham gia chiến dịch tiêu diệt Thiên Cung. Gã là kẽ có tính tình cô độc, chỉ xem mình Nhương Thư là bằng hửu chi giao, cho nên cái chết của chàng là nổi mất mát lớn lao nhất đời, chẳng thưa gì lúc Đao Đế thăng thiên!

Song gã là nam nhi nên không bi luỵ như đàn bà, bình tâm suy nghĩ và buột miệng nói:

- Nhương Thư còn một trái Bạt Sơn Thần Lựu, dẩu gặp bất cứ cao thủ nào cũng không đáng sợ!

Mọi người tán thành yên tâm rút quân, sau khi phá huỹ tất cả công trình lớn nhỏ củaThiên Cung. Tội cho toà thạch cung, đang sửa chữa dở dang thì bị đại pháo bắn sập!

Hoàng Nghi Tuyệt không ngờ rằng Bạt Sơn Thần Lựu cũng có lúc vô dụng! Sang hôm ấy khi nghe tiếng đại pháo ngưng nổ, Nhương Thư biết phe nhà đã thành công, liền ném trái Thần Lựu để gây sự chú của người thân.

Chàng vận toàn lực, tung mạnh hoả khí lên miệng vực, nhưng chân gãy chưa lành, không thể xuống tấn, chỉ tựa vào đoạn cây ở vách trái nên lực đạo không đủ. Thần lựu bay đến gần mép vực thì rơi xuống, còn cách mặt đất bốn trượng chạm phải tảng đá lồi và phát nổ.

Tất nhiên tiếng nổ kia chỉ làm điếc tai Nhương Thư chứ không đi xa được. Vả lại khe sâu này cách Càn Sơn đến mườ mấy dặm đường rừng dầy đặc! Chàng cố vớt vát bằng cách vận công hú vang.

Lạ thay, có tiếng người phúc đáp ngay lập tức:

- Tiểu tử kia! Ngươi là ai mà dám đến đây quấy nhiểu lão phu? Chỉ chút nữa là ta đã tẩu hoả nhập ma rồi!

Lời chửi mắng kia xuất phát từ một động khẩu trên vách vực trước mặt Nhương Thư, cách đấy chừng ba trượng, khá gần với chổ mà Bạt Sơn Thần Lựu phát hoả!

Trước đây động khẩu này bị dây leo phủ kín chằng chịt nên Nhương Thư không thể ngờ có người cư trú. Chắc ông ta là bậc kỳ nhân tuyệt thế!

Trong cảnh tuyệt vọng mà gặp người thì còn niềm vui nào bằng, Nhương Thư hoan hỉ vái dài:

- Bẩm tiền bối! Vản bối bị rơi xuống vực không sao lên được nên đành phải dùng hoả khí để cầu cứu. Mong tiền bối tha thứ cho tội quấy nhiểu chốn thanh tu!

Người kia giận dữ nhảy xuống, hạ thân êm ái như lá mạ trên mặt cỏ. Ông ta nhảy đông đổng chưởi tiếp.

- Ngươi mù hay sao mà dám gọi ta là tiền bối? Bộ trông ta già lắm hay sao?

Nhương Thư sửng sốt ngơ ngác nhìn thấy đối phương chỉ cao đến ngực mình, mặt mũi xinh đẹp, da dẻ trắng trẻo mịn màng như đứa trẻ mười ba. Tuy nhiên gương mặt tiên đồng kia hơi quái dị, vì có đến hai cặp lông mày đen nhánh. Cặp thứ nhất nằm ở vị trí bình thường, còn cặp thứ hai kéo từ mi tâm lên đến góc trán.

Ký ức tuyệt luân của Nhương Thư phản ứng rất nhanh. Chàng thản thốt kêu lên:

- Ải Thần Quân!

Ân sư chàng thường kể về nhân vật độc đáo này. Ông ta tên gọi Tần Nhật Phủ, bằng tuổi Phật Đăng Thượng Nhân, nhgiã là năm nay đã chín mươi hai. Họ Tần tính tình quái dị, hiếu thắng, hiếu sát, nhưng chỉ giết bọn ác nhân. Ông đã từng thách đấu bốn người trong Vũ Nội Tứ Thần, bị đã bại nên phẩn chí thoái xuất giang hồ đã hơn ba chục năm. Bỏ đi đâu chẳng rỏ!

Ải Thần Quân không ngờ gã tiểu tử kia lại nhận ngay ra mình, liên hiếu kỳ hỏi:

- Ngươi là đệ tử củaai mà lại biết lão phu?

Nhương Thư kính cẩn đáp:

- Bẫm tiền bối! Vãn bối tên gọi là Tần Nhương Thư, học trò của Phật Đăng Thượng Nhân núi Ngũ Đài Sơn!

Mối hận năm xưa nổi dậy, Ải Thần Quân nhảy loi choi, chưởi bới xối sả:

- Té ra lão trọc Đinh Doãn! Năm xưa cũng vì lão ấy mà Ải Thần Quân ta phẩn chí phải rời bỏ Trung Nguyên, lưu lạc nơi đất khách quê người! Ta chỉ xin lzxo đổi Tứ Thần thành Ngũ Thần, để Tần mỗ có chân, thế mà lão hẹp hòi không chịu. Thật là đồ hoà thượng đáng ghét!

Nhương thư mỉn cười:

- Tiên sư có kể lại yêu cầu của tiền bối! Song việc ấy là do sự phong tặng của đồng đạo võ lâm, tiên sư nào có quyền gì?

Ải Thần Quân kinh hải:

- Cái gì mà tiên sư? chẳng lẽ lão trọc họ Đinh đã chết rồi?

Nhương Thư lặng lẽ gật đầu, Tần Nhật Phủ hấp tấp hỏi thêm:

- Thế còn ba lão quỷ kia thì sao?

Nhương Thư đáp:

Đao Đế và Địch Thánh cũng đã tạo hoá, chỉ còn mình Hồng Diện Tôn Giả tại thế, song ông ta quyết chí tu hành, chẳng màng đến sự đời nữa!

Ải Thần Quân thất vọng nói lẫm bẫm:

- Thế là toi công lão phu khổ luyện mấy chục năm, giờ còn ai để rửa hận nữa!

Lão tần ngần suy nghĩ một lúc, mắt dán vào mặt Nhương Thư, đôi mắt đẹp chợt loé lên những tia tinh quái. Và Ải Thần Quân bổng hỏi:

- Tiểu tử kia! Ngươi coa đòng ý bái lão phu là sư phụ ngươi không?

Nhương Thư giật mình ấp úng:

- Bẩm tiền bối! Thư này đã có thầy, đâu thể đầu nhầp cửa khác được?

Ải Thần Quân cười khanh khách:

- Ngươi không muốm cũng không được!

Và ông bất thần ập đến, song trảo dương ra, xạ liền tám đạo chỉ kình xé gió.

Cách không chỉ pháp đã thất tuyền trăm năm nay, nào ngờ Ải Thần Quân lại luyện thành, Nhương Thư đi lại còn khó khăn nên không tài nào tránh khỏi, trúng liền ba chỉ thân hình tê tái bất động.

Ải Thần Quân đắc ý bước đến sờ nắn gân cốt và thăm dò công lực Nhương Thư. Ông tấm tắc khen:

- Mới từng này tuổi mà có đến năm mươi năm chân khí thì quả là hản thế! Gân cốt y thuộc hàng thượng thặng. mặt mũi phúc hậu, xứng đáng là hoá thân cho lão phu!

Nhương Thư không hiểu ngơ ngác hỏi lại:

- Tiền bối định làm gì Tần mỗ?

Ải Thần Quân cười ha hả, hoa tay múa chân, sôi nổi giải thích:

- Trời sinh lão phu anh tuấn hơn người nhưng cơ thể thấp bé, chịu nhiều thiệt thòi! Nay ngươi cũng họ Tần, khiến lão phu nghĩ ra một kế hoạch vô cùng tuyệt diệu. Lão phu lưu lạc sang Ba Tư, học được Di Hồn Đại Pháp nên sẽ biến ngươi thành một Tần Nhật Phủ hiên nang anh tuấn, dương danh khắp thiên hạ!

Lão dừng lại hớn hở nói như tự nhủ:

- Hay thực! Lúc ấy nữ nhân trong võ lâm sẽ say mê như điếu đổ, bu lại như ruồi, tha hồ cho ta lựa chọn!

Bổng lão đổi sắc giọng chưởi đổng:

- Mả mẹ nó! Năm xưa bọn đàn bà con gái chê lão phu lùn, chi đứng đến vú họ, nên không thèm để ý!

Nhương Thư nhân hậu có thừa, rrát thông cảm vpí tâm trạng của người bị khiếm khuyết. Chàng không giận mà dịu giọng giải bày:

- Vãn bối cũng có chút danh tiếng, dung mạo ai cũngbiết, làm sao giả tiền bối được?

Ải Thần Quân mỉn cười ranh mảnh:

- Ngươi lầm rồi! Tài dao kéo của lão phu vốn đứng đầu thiên hạ, đã ra tay thì không thể chê được! Lúc ấy ngay vợ ngươi cũng chẳng nhận ra chồng mình!

Nhương Thư bắt đầu lo sợ, bối rối trước âm mưa quái đản của đối phương. Chợt chàng nhận ra mình bị đôi mắt của Ải Thần Quân thu hút chưa kịp quaz đi thi đã mê muôi!

Ải Thần Quân hài lòng vác Nhương Thư nhảy lên động khẩu. Mang một người mà bay cao đến ba trượng thì thật đáng khâm phục. Xem ra bản lãnh Ải Thần Quân còn cao hơn cả Phật Đăng Thượng Nhân rồi!

*
* *

Trong suốt nữa năm trời, Ải Thần Quân dùng Di Hồn Đại Pháp để truyền tuyệt học cho Nhương Thư. Chỉ có cách này mới rút ngắn được thời gian. Ông thôi miên chàng, đọc thầm khẩu quyết và diển giải động tác!

Ky diệ thay, Nhương Thư học thuộc rất dể dàng, tinh thông như chính bản thân Thần Quân cậy. Chàng bị khống chế tâm thức nên rất hiền lành, ngoan ngoản gọi Thần Quân là cha vì lão muốn thế!

Lúc đầu chỉ là chút trò đuà ngông cuồng, song dần dà Tần Nhật Phủ cảm động trướclòng hiếu thuận của Nhương Thư và yêu chàng như con ruột. Tuy nhiên lão vẩn không từ bỏ cái kế hoạch oái ăm của mình, tiến hành giải phẩu, sữa đổi gương mặt của Nhương Thư từng nét một, Tần Nhật Phủ thứ hai ra đời!

Ải Thần Quân sang Ba Tư về, đến ranh giới giữa A Phú Hãn và Trung Hoa thì gặp dãy Tứ Trụ Phong. Trong lúc săn thịt, đuổi theo một con thỏ, họ Tần đã lạc vào đúng nơi Sấu Tiên tạo hoá, học được Huyền Không Kiếm Pháp và Lục Mạch Thần Chỉ

Pho chỉ pháp này vốn xuất xứ từ Lục Mạch Thần Chỉ của dòng họ Đoàn nước Đại Lý! Sau kih Đại Lý bị quân Mông Cổ tiêu diệt thì tuyệt học thất truyền. Sấu Tiên Vương Hàn Lâm vốn la người Vân Nam. May mắn nhặt được tàn thư, khổ công nghiên cứu, bổ khuyết nên phục hồi được Lục Mạch Thần Chỉ, nhưng mãi đến khi ông ẩn cư thì mới thành công, do vật trong võ lâm không ai biết được việc này!

Ải Thần Quân truyền thju khinh công, kiếm pháp và cả chỉ pháp cho Nhương Thư.

Đến rằm tháng giêng năm sau, thấy con nuôi đãhọc hết nghề củamình, Tần Nhật Phủ liền đưa chàng lên mặt đất.

Đoạn ký ức dưới vực thẫm lại bị xoá đi, trừ võ công. Giờ đây Nhương Thưchỉ nhớ đượcrằng mình là Tần Nhật Phủ, người đất Trường Trị tỉnh Sơn Tây, hai mươi bốn tuổi, mố côi cha mẹ từ nhỏ.

Chàng thức giấc trong một quán trọ cạnh An Dương vài chục dặm, Nhương Thư thản nhiên thanh toán tiền trọ, lên ngựa tiến về hướng Bắc. Chàng cũng không hề thắc mắc khi thấy trong bọc có hàng vạn lượng vàng ngân phiếu và rất nhiều châu báu.

Ba tháng sau, thanh danh của Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách Tần Nhật Phủ đãvang lừng đất Hà Bắc. Chàng ta có võ nghệ siêu phàm, tính tình hiệp nghĩa và ăn sài rộng rải như vương tôn công tử.

Cặp lông mày kép của họ Tần chẳng hề làm giãm sút vẻ đẹp thiên thần, ngược lại còn tạo cho chàng vẻ đặc biệt, siêu nhân!

Trên đường tứ An Dương đến Bắc Kinh, Tần Nhật Phủ liên tiếp phá tan mấy chục ổ cướp, tiêu diệt mười tám cao thủ Hắc Đạo thành danh, và đem tài sản của nạn nhân phân phát cho dân nghèo. Cái danh hiệu Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách lại đúng của Tần Nhật Phủ thời trai trẻ. Sau này lão giết người nhiều quá, chọc ghẹo thiên hạ cũng không ít, nên bị gọi là Ải Thần Quân !

Mắy tháng nay, Cái Bang đã tung toàn lực truy tìm tung tích Tần Nhương Thư , vì thế phân đàn Hà Bắc lập tức thông báo cho Vô Ưu Cái biêt mọi chi tiết về ngôi sao mới toả sáng la Tần Nhật Phủ !

Tại sao vạy? Bởi vì Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách có đôi tai Phật giống hệt Nhương Thư , hai là giọng nói Tần Nhật Phủ cũng chẳng hề khác!

Người thân của Nhương Thư đang mỏi mòn trong hy vọng mơ hồ, liên bám víu lấy tin này như chiếc phao giữa biển khơi.

Đại cục võ lâm đang hồi rối ren nên các Chưởng Môn Bạch Đạo ở cả Thiếu Lâm Tự để trù hoạch kế sách. Nhận được thư mời của Vô Ưu Cái , họ mau chóng có mặt ở Lạc Dương.

Hầu Bang Chủ kể rỏ cho bốn vị khách quý nghe về hiện tượng Ải Thần Quân tái sinh rồi hỏi:

- Trong bốn vị ai là người năm xưa có dịp tiếp xúc với Ải Thần Quân nhiều nhất, xin cho biết cao kiến về tính cách của lão ta!

Thông Thiện Chân Nhân , chưởng môn phái Võ Đang, vúôt râu đáp:

- Tần lão thí chủ vốn là bằng hửu của tiên sư, từng nghe chơi Ngọc Nữ Phong nhiều lần, nên bần đạo có biết đôi chút!

Ông chậm rải nhấp hớp trà rồi nói tiếp:

- Ải Thần Quân tính tình cổ quái, thích làm chuyện ngông cuồng nhưng không phải là người xấu! Lão thí chủ ấy đã từng ăn được một trái Vô Thu Quả nên mãi mãi giử được tuổi xuân. Có lẽ Thần Quân còn sống, nổi tính trẻ con nên đào tạo ra một hoá thân để chọc phá thiên hạ!

Bất Trí Thư Sinh thở dài:

- Lập luận của Đạo Trưởng rất chí lý, nhưng kẻ ấy là Nhương Thư thì rất khó xảy ra, trừ phi Ải Thần Quân tinh thông cả nghề cải sửa dung mạo lẫn phép nhiếp hồn!

Phổ Chứng Thiền Sư lên tiếng:

-Đúng thế, nhưng theo lão nạp được biết thì Ải Thần Quân không hề luyện hai môn công phu ấy!

Vô Ưu Cái cười mát:

- Ba mươi năm đủ để một nhân vật tài hoa như Tần Nhật Phủ luyện thành vài môn tuyệt học! Lão phu tin chắc rằng Nhương Thư đã sui xẻo lọt vào tay lão ta và trở thành công cụ để thực hiện kế hoạch hoá thân!

Thấy cử toạ lộ vẻ nghi ngờ, Vô Ưu Cái buồn rầu bảo :

- Lão phu cũng chỉ đoán mò thế thôi, phải giáp mặt và tiếp cận Tần Nhật Phủ thì mới biết hư thực !

Thúy Sơn nóng nẩy nói :

- Tiểu muội phải đi Bắc Kinh mới được!

Bất Trí Thư Sinh hưởng ứng :

- Lão phu sẽ đi với Bạch hiền muội! Nếu Tần Nhật Phủ đúng là Nhương Thư thì không thể thoát khỏi cặp mắt của lão phu !

Vô Ưu Cái gật đầu dặn dò :

- Lão đệ cứ đi! Dẩu Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách không phải là Nhương Thư cũng phải đưa gã về đây bằng mọi giá! Nếu để Kỵ Ba Thần Quân lôi kéo được một đại cao thủ kiệt xuất như gã thì chúng ta nguy mất.

Phổ Chứng Thiền Sư, chưởng môn phái Nga Mi tán dương :

- Thiện tai!Thiệc tai ! Hầu lão thí chủ quả là người thâm mưu viễn lực, lúc nào cũng nghĩ đến đại cục võ lâm trước !

Được khen, Vô Ưu Cái hơi ngượng, liền trợn mắt nói :

- Hoà thượng ngươi đừng học thói vuốt mông ngựa khiến lão phu hổ thẹn! Nếu lão phu có thực tài thì đâu đến nỗi bị Âm Sơn Lão Tổ nắm gáy? Không hiểu sao lão ta lại phát hiện Trung Nguyên Cao Sĩ Phương Tử Kiến là người của chúng ta, và đang thực hiện kế Tá Đao sát nhân! Thế nên Lương Dã Toàn cứ nằm lì ở Cô Độc Bảo hưởng thụ, chẳng thèm khởi binh chinh phạt Ba Kỵ Thần Quân, mặc cho Sơn Hải Giáo bành trướng khắp Sơn Đông. Giang Tô và lăm le uy hiếp Cưu Sơn! Hôm qua, Lão Tổ đã gửi thư đến, đòi năm vạn lượng vàng và chức Minh chủ võ lâm, có thế lão mới chịu đánh nhau với Sơn Hải Giáo!

Cử toạ nghe xong tin này kinh hãi ồ lên. Khánh Hỉ Đại Sư bối rối nói :

- Chúng ta có thể đặc cách trao tặng danh vị quyền Minh chủ võ lâm cho Lão Tổ, nhưng như thế thì khác nào giao trứng cho ác ?

Các vị chưởng môn còn lại trong hội đồng võ lâm đều cùng một ý ấy Bất Trí Thư Sinh cau mày tư lự :

- Lạ Thực! Mưu kế này được tiến hành rất tinh vi, chu đáo, làm sao có thể bại lộ được? Chẳng lẽ một kẻ quê mùa, thô mãng như Âm Sơn Lão Tổ lại thông minh hơn Quách Tàn Bôi và Nghiên Tái Thuần ?

Vô Ưu Cái mỉm cười thê lương :

- Có gì khó hiểu đâu? Trong hai người ấy có kẻ đã phản bội lại võ lâm Trung Nguyên, khiến chúng ta lâm cảnh rước hổ vào nhà !

Cả nhà tái mặt nhìn nhau, riêng Cao Trường Toàn run giọng :

- Tiểu đệ nuôi dưỡng Thuần nhi đã lâu, tin chắc rằng y không phải là kẻ đốn mạt !

Thúy Sơn cười lạnh :

- Tiểu muội thì lại tuyệt đối tin tưởng Quách đại ca! Lão vốn là người có bản chất anh hùng, lại cảm kích tấm lòng chi ngộ của Nhương Thư, dẫu chết cũng không lỗi đạo! Khi đồng hành với chúng ta, Quách Tàn Bôi được cả võ lâm kính trọng, sao lại đánh mất vinh dự ấy? Lão đã già rôi còn cần gì đến danh lợi hay tuyệt học nữa? Ngược lại, Nghiên Tái Thuần có nhiều điều để ham muốn !

Nàng phân tích rất rạch ròi, hữu lý, khiến Bất Trí Thư Sinh hiểu ra vấn đề. Lão toát mồ hôi lẫm bẩm :

- Thuần nhi! Ngưoi đã hại lão phu rồi !

Trong cảm giác nhục nhã vô cùng, uất khí công tâm khiến Cao Trường Toàn hộc máu gục xuống bàn? Phổ Chứng Thiền Sư ngồi bên cạnh vội truyền chân khí cứu Bất Trí Thư Sinh hồi tỉnh. Họ Cao buồn bả vái Vô Ưu Cái, nói với giọng nghẹn ngào :

- Hầu đại ca! Tiểu đệ bất tài nên đã phụ lòng tin tưởng của đại ca và võ lâm! Tiểu đệ sẽ đi ngay Khai Phong bắt gã đệ tử phản phúc kia !

Hầu Mộ Thiên cười nhạt :

- Cha sinh con trời sinh tính, ngươi chẳng có lỗi gì cả! Thực ra, ngươi có đến Cô Độc Bảo cũng chỉ uổng công mà thôi! Khi lòng người đã tráo trở thì tình nghĩa sư đồ chẳng đáng một xu! Chi bằng ngươi đem tài trí bày thần mưu diệu kế mà trừng trị phản đồ chẳng hay hơn sao? Hay là ngươi đã dốc túi truyền hết nghề nên giờ phải bó tay ?

Câu khích tướng của Hầu Bang Chủ đã khiến Bất Trí Thư Sinh tỉnh táo lại. Họ Cao gượng cười :

- Hầu đại ca quả coá tài miệng lưỡi! Tiểu đệ xin tuân mệnh !

Gã cau mày suy nghĩ một lúc rồi trình bày kế sách :

- Xét ra, việc Nghiên Tái Thuần phản bội chỉ là chuyện nhỏ! Trước mắt chúng ta phải làm cho Âm Sơn Lão Tổ và Ba Kỵ Thần Quân tương tranh cái đã! Thiển ý của lão phu là thế này .....!

Nghe xong, cả nhà gật gù khen gợi !




[&o]
Đăng nhập để trả lời
0
Tần Nhương Thư

Ưu Đàm Hoa

Hồi Thứ Mười Ba

Tứ Mi Tái Xuất Nhan Như Ngọc

Chân Giả Nan Phân Nhân Nghi Mang !



Sáng hôm sau, tức ngày mười sáu tháng tư, Bạch Thuý Sơn và Bất Trí Thư Sinh lên đường đi Bắc Kinh. Lô Châu Ngũ Tặc được tháp tùng, lòng vui như tết. Ba chị em nhà họ Điền vẫn chưa thoát khỏi tà pháp của Kỵ Ba Thần Quân nhưng đã khá hơn nhiều! Họ không còn dáo dác tìm kiếm vị sư phụ giả là Độc Biển Thước nữa, mà quay sang gọi tên Nhương Thư! Giờ chúng ta đi trước bọn Thúy Sơn để xem chàng trai họ Tần đang làm gì ?

Cũng như mọi ngày, Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách rời Kinh Đô đệ nhất lữ điếm, đến Vạn Hương lâu dùng bữa trưa. Các nữ nhân thành Bắc Kinh đều biết thói quen ấy nên đã sớm có mặt, chiếm những vị trí tốt nhất gần nhất với bàn riêng của Tần Nhật Phủ. Những nàng tiểu thư khuê các đoan trang, thùy mị chỉ dám nép sau chiếc quạt ngắm trộm dung mạo của bậc anh hùng tài mạo, nhưng đám nữ hào kịêt thì mặt dầy hơn, ngang nhiên liếc mắt đưa tình hoặc sà xuống ghế cùng họ Tần đối ẩm!

Ả nào nhanh chân hơn thì sẽ chiếm được một trong bảy ghế của chiếc bàn bát tiên. Đã ngồi rồi thì họ không bao giờ dám đứng lên, dẫu cho bàng quang nặng trĩu nước tiểu, cơ hồ sắp vỡ tung! Họ mà rời ghế thì lập tức mắt chỗ ngay! Mật ít ruồi nhiều, các nàng chỉ muốn giết sạch kẻ cạnh tranh song lại không dám để Tần công tử xem mình là kẻ đố kỵ, hẹp hòi. Bởi thế, ngoài mặt họ vẫn nói cười vui vẻ. Vị trí hạnh phúc nhất là ở hai bên Tần Nhật Phủ. được vài chén, họ có thể giả say quàng vai hay lả lơi dựa vào người chàng ta !

Các bộ võ phục mỗi ngày càng mỏng hơn, để ánh mắt Tần Nhật Phủ được thưởng thức trọn vẹn những gò bồng đảo mơn mởn gọi mời! Tuy nhiên, sợ chàng cho rằng mình phóng đãng, các nàng luôn khép chặt áo choàng, chỉ mở ra khi ngồi với Tư Mi Ngọc Diện Kiếm Khách. Rốt cuộc, một kiểu thời trang mới ra đời, đó là võ phục may bằng the mỏng, đi chung với áo choàng!

Đây quả là một cuộc cải cách lớn nhất trong lịch sử y phục, vì trước đây các kiểu xiêm y mới xuất xứ từ kỷ viện. Hồi đầu tháng, suýt nữa đã xảy ra cảnh đầu rơi máu đổ giữa các nàng nữ hiệp si tình. May thay, một ả khôn ngoan đã thuyết phục được cả bọn đồng ý với một lich chia phiên, mỗi bửa bảy người! Thế là, cứ đến đầu giờ Ngọ và đầu giờ Dậu, có bảy nàng nữ kiệt, vai mang kiếm báu, đế ngồi sẵn để chờ thần tượng. Họ cũng thay phiên trả tiền cả bữa ấy!

Tại sao các nữ nhân lại say mê Tần Nhật Phủ một cách điên cuồng như thế? Bởi vì, ngoài vẻ anh tuấn phi phàm, võ nghệ tuyệt luân. Họ Tần còn có nụ cười quyến rũ và ánh mắt đầy mị lực. Các nàng vừa chạm phải ánh mắt ấy là sẵn sàng dâng hiến cả cuộc đời! Thế còn thái độ của bọn vương tôn công tử đất Đế Đô thì sao? Tất nhiên, họ ghét cay ghét đắng Tần Nhật Phủ kẻ đã cướp mất tất cả những cô nương xinh đẹp nhất thành!

Nhưng họ chỉ rủa thầm tổ tông mười tám đời họ Tần chứ không dám đụng đến. Thứ nhất là vì võ công của Ngọc Diện Kiếm Khách rất cao siêu. Hồi giữa tháng ba, chàng ta giết chết một đại cao thủ Hắc Đạo là Diêm Vương Đao Phạm Phi Luân một cách dễ dàng. Lão cường đạo độc hành họ Phạm mò vào nhà Lâm Tài Chủ, cách Kinh Đô đệ nhất lữ điếm hơn dặm, bị Tần Nhật Phủ đứng trên lan can trông thấy.

Chàng ta tìm đến nơi, đúng lúc Diêm Vương Đao đang uy hiếp khổ chủ để tra chỗ giấu của. Mà Lâm Tài Chủ lại là bào huynh của Quan Tả Đô Ngự Sử,cầm đầu Đô Sát Viện! Do vậy, khi Tần Nhật Phủ trở thành ân nhân của Lâm gia trang rồi, không có ai dám xúc phạm chàng nữa! Tóm lại, giờ đây Tần Nhật Phủ có đủ danh vọng, quyền thế,tiền bạc và nữ sắc. Nhưng liệt chàng có hạnh phúc hay không và cư xử thế nào ?

Khổng Phu Tử nói :“ Nhân Chi sơ, tính bản thiện “. Còn Như lai thì bảo rằng: “Trong mỗi chúng sinh đều tiềm tàng Phật tính. Hai cái tính đó là một, chỉ có thể bọ mờ lấp chứ không mất đi “. Ải Thần Quân dùng phép Di Hồn đại Pháp xoá đi ký ức quá khứ, nhồi nhét những ý niệm mới về Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách anh hùng, hào hoa, lịch lãm, song đã không hoàn toàn thành công!

Tu hành suốt mười nảy năm, Phật tính trong Nhương Thư rất sáng, nhưng đã bị cái chết thảm thương của Mẫu thân che phủ. Nay ký ức ấy mất đi, Phật tính có dịp bọc lộ và tăng tiến. Rốt cuộc, Nhương Thư cứ như một vị thiền sư vào chốn sa đoạ để phổ độc chúng sinh vậy! Ải Thần Quân dạy chàng hiếu sát, song Nhương Thư thường chỉ chặt tay hoặc phế võ công đối thủ! Lão muốn chàng vơ tóm hết những nữ nhân trong thiên hạ để hưởng thụ thì chàng chỉ cười hiền không xua đuổi nhưng cũng không chiếm đoạt. Trong số những nàng nữ hiệp say đắm Nhương Thư, có bảy tám ả sớm goá bụa hoặc thích bày tỏ lòng mình một cách cụ thể bằng thân xác. Thế là họ trèo qua cửa sổ phòng Nhương Thư nơi khách điếm, múa điệu Nghê Thường rồi dâng hiến.

Họ áp sat tấm thân khêu gợi, nỡ nang của mình vào người chàng mời mọc, thế mà Nhương Thư chẳng hề động tình, ôm họ ngủ một mạch đến sáng. Các nàng yếu nữ kia vô cùng thất vọng song càng bội phần thán phục và yêu mến. Họ chỉ không hiểu vì sao Tần Nhật Phủ lại từ chối ái ân, dù trường thương dựng đứng như cột buồm kiêu hãnh? Đôi lúc chàng cũng vuốt ve những đường cong trên cơ thể họ, song chỉ thế mà thôi! Có một kẻ đã chứng kiến tất cả, tiếc cho chàng và nổi tam bành chửi rủa hết lời. Người ấy chính là Ải Thần Quân!

Lão ta đi theo, dùng tài hoá trang thần diệu và khinh công xuất chúng để quanh quẩn bên hoá thân mà quan sát. Lão muốn được chứng kiến mọi vinh quang, sung sướng của Nhương Thư để tự an ủi mình! Thấy chàng không thực hiện đúng ý mình, lão tức lộn, tìm chỗ vắng mà tuôn ra những lời mắng nhiếc:

- Con bà nó! Tiểu tử này ngu ngốc hết chỗ nói, ả nào cũng thơm như múi mít mà lại bỏ qua! Giá như vào tay lão phu thì ...!

Thần Quân chợt bật cười :

- Ta thì cũng hơn gì! Ba mươi năm học đạo, lửa dục tắt lịm, chỉ còn lại chút nghịch ngợm thế thôi! Cái lão trọc Phật Đăng thật khéo dạy học trò, tuổi Nhương Thư còn trẻ mà định lực cao như núi!

Và lão tự an ủi :

- Thế cũng tạm được! Nếu Nhương Thư hăng hái truyền giống hằng trăm ả thì con rơi nhà họ Tần rải rác khắp Bắc Kinh, tội ấy lão chẳng dám gánh!

Đã có chủ ý. Ải Thần Quân hài lòng quay lại với công việc làm khán giả, đồng thời bảo vệ diển viên, bởi vì lão thực tâm yếu mến Nhương Thư. Những tiếng gọi cha kia đã đánh thức bản năng tự phụ của Thần Quân! Ông đã phát nguyện giới sát để được thành tiên, song nếu cần thì cũng sẵn sàng xuất thủ vì con nuôi. Lúc này, Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách đã dùng xong bửa, thản nhiên để các nữ nhân thanh toán tiền cơm, song lại diu dàng nói :

- Ta xin tặng các nàng vài hạt ngọc trai để làm bông đeo tai !

Họ hạnh phúc ồ lên khi thấy những viên ngọc trai tròn trịa, gần như tuyết đối, lớn bằng hạt nhãn!

Một vị cô nương xúc động nói đùa:

- Công tử đừng quá rộng rãi với chị em bọn thiếp coi chừng sạt nghiệp đấy !

Tần Nhật Phủ mỉm cười :

- Vạn sự vô thường, của cải chẳng khác phù vân, ta giữ làm gì ?

Ải Thần Quân đang ngồi ở bàn gần đấy, trong thân phận một lão phú hộ áo gấm, râu đen. Nghe được câu nói của Nhương Thư, tức đến méo mặt :

- Mẹ kiếp! Tiểu quỉ này ngồi với gái đẹp hơ hớ mà lại mở miệng giảng đạo, thât tức chết đi được! Châu báu do lão phu khổ cực mang từ Ba Tư về mà gã chẳng tiếc tay !

Ông lại bật cười vì sự mâu thuẫn của mình :

- Ta lẩm thẩn thực! Chính ta muốn y trở thành kẻ Đại Phương, rộng rãi như bậc vương tôn cơ mà?

Mấy ả kia chẳng hề thấm thía ý nghĩa cao siêu của lời thuyết giáo, hí hửng so đo với nhau xem ngọc của ai đẹp hơn! Gần trăm nàng khác ngồi ở bàn chung quanh, xôn xao hẳn lên vì ganh tỵ, nhưng chẳng lẽ mở miệng xin! Họ càng điên tiếc khi thấy tả Phù, hữu Bật của Tần Nhật Phủ lả lơi kéo ghế ngồi sát lại, cọ sát gò nhũ phong vào khuỷu tay chàng nói cười rúc rích! Họ Tần chẳng động tâm song ai đó đã ngứa mắt lên tiếng :

- Té ra Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách chỉ là một gã trai tơ, suốt ngày nép váy nữ nhân !

Người phát ngôn có lẽ vừa lên đến, còn đứng ở đầu cầu thang. Ông ta mặc áo gấm xanh, có thân hình cao lớn, mặt đỏ như son, râu ba chòm bạc trắng, tóc cũng chẳng còn cọng nào đen. Thanh danh của Hồng Diện Tôn Giả Hoàng Huy Do oai trấn Hà Bắc, nên bọn nữ hiệp vội đứng lên bái kiến, kẻ gọi sư bá, người xưng sư tổ hoặc lão tiền bối, tùy theo quan hệ sư môn! Tần Nhật Phủ không giận vì bị chê trách vẫn kính cẩn vái:

- Vãn bối Tần Nhật Phủ xin ra mắt tiền bối !

Hồng Diện Tôn Giả đã đến nơi, chăm chú quan sát dung mạo của chàng trai trẻ. Ông đã biết tin rể quý thất tung, lòng đau như cắt nhưng cố tĩnh tâm tu hành, không đi Lạc Dương hỏi han ! Song khi thấy tiếng tăm của Tần Nhật Phủ đến tai, chợt ông có linh cảm kỳ lạ, liền rời núi Thuý Sơn đi Bắc Kinh điều tra. Trong thiên hạ, người mang tướng Phật Nhĩ không hiếm, song chẳng phải ai ở dưới tuổi ba mươi mà dễ có được công lực và bản lãnh kiếm thuật như Nhương Thư !

Nay đối diện Tần Nhật Phủ, thấy chàng tỏ vẻ không quen biết, Tôn Giả rất phân vân. Tuy nhiên, giọng nói quen thuộc kia thì không thể lầm được. Phép Di Hồn không thể xoá đi những tính cách thuộc về bản năng như thói quen ăn uống, cách mỉm cười....Bởi thế, Nhương Thư vẫn còn giữ lại được vài nét cũ, như thích trà hơn rượu chẳng hạn !

Đôi nhản thàn sắc bén như dao cạo của Tôn Giả đã xác định đối phương không mang mặt nạ, và cũng chẳng tô vẽ bằng thuốc dịch dung, song muốn chắc thì phải kiễm tra võ công. Phật Đăng Kiếm Pháp chẳng lạ với ông.

Thái độ lặng lẽ, nặng nề của Hồng Diện Tôn Giả đã khiến thực khách trên tầng hai của tửu lâu thầm lo lắng cho Tần Nhật Phủ. Đấy là bọn nử nhân, còn các chàng trai thì mở cờ trong bụng. Họ muốn Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách phải nhục bại dưới tay bậc đại kỳ nhân!

Tần Nhật Phủ thản nhiien chịu đựng ánh mắt soi mói của Hồng Diện Tôn Giả, kính cẩn nói:

- Thỉnh tiền bối an toạ!

Bảy nàng kia cũng lăng xăng kéo nghế mời mọc nhưng Hoàng lão lắc đầu:

- Lão phu đến đây là để kiễm chứng xen võ công của Tần tiểu tử ngươi có đúng như lời đồn đãi hay không?

Tần Nhật Phủ điềm đạm đáp:

- Tuy mới xuất đạo song tại hạ cũng biết tiền bối là bậc đức cao vọng trọng trong võ lâm nên không dám mạo phạm! Tại hạ mang gươm hành hiệp là để trừ gian diệt bạo, chứ chẳng hề tranh danh đoạt lợi!

Chàng nói rất hợp đạo lý nên Tôn Giả không bắt bẻ được, bèn xoay qua kế khích tướng:

- Hay là ngươi sợ?

Tần Nhật Phủxử sự đúng mực thiền sư, vui vẻ gật đầu:

- Dạ bẩm phải!

Đám công tử thế gia ồ lên cười chế diểu song chẳng làm cho họ Tần biến sắc!

Hồng Diện Tôn Giả chưa chịu bó tay:

- Ngươi không đánh cũng không được, vì lão phu đang thay mặt lớp võ lâm tiền bối để trừng phạt ngươi về cái tôi mạo danh! Mấy mươi năm trước, trên giang hồ có một bậc kỳ nhân đã xuất đạo với danh hiệu Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách và cũng tên la Tần Nhật Phủ, sau này đổi thành Ải Thần Quân. Nếu ngươi là bậc hậu duệ của lãp ta, thì cũng không được dùng tên của tổ phụ, bằng mạo nhận thì càng đáng tội!

Tần Nhật Phủ không biết việc này ngơ ngác nói:

- Lẽ nào lại có sự trùng hợp như thế? Vãn bối quê đất Trường Trị, tỉnh Sơn Tây, cha là Long Kiếm Tần Sinh, quá vãn sớm nên không rõ cội nguồn!

Hồng Diện Tôn Giả giật mình:

- Quái lạ thực! Ải Thần Quân cũng người Trường Trị, con của Long Kiếm!

Ải Thần Quân sợ lão già kia hỏi mãi tất sẽ hiểu rỏ ngọn ngành, liền cuôsng quýt truyền âm bảo Nhương Thư:

- Con hãy đánh cho lão ta một trận, song không được giết hay đã thương đấy nhé!

Thủ pháp Di Hồn của Ải Thần Quân đã đến mớc tuyệt đỉnh, chỉ cần dùng âm thanh cũng có tác dụng. Nhương Thư tuân lệnh ngay bất ngờ nói:

- Thôi được ! Tại hạ đồng ý giao đấu, nếu thua sẽ từ bỏ danh hiệu Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách!

Nói xong, chàng tung mình khỏi lan can , rơi xuống vườn hoa. Chàng mặc võ phục trắng áo choàng vàng nhạt, tư thế hạ thân đẹp như tiên thần giáng hạ:

Hồng Diện Tôn Giả bối rối:

- Quỷ quái thật! Sao y đang hoà hoãn lại đổi thái độ quyết liệt nhanh như thế nhỉ? Phải chăng y sợ nói nhiều sẽ lộ? Nhưng áh mắt y rất thành thực cơ mà?

Trong tâm trạng hoài nghi, Hoàng Tôn Giả nhảy xuống vườn, đứng đối diện với Tần Nhật Phủ. Họ Tần cung kính ôm kiếm chào theo thế Đồng Tử Bái Quan Âm rồi xuất thủ!

Hồng Diện Tôn Giả chẳng hề khách sáo, dồn công lực vào đôi tay áo lụa quét những đòn như búa bổ, quyết bắt đối thủ thi triển hết sở học.

Sau khi bại dưới tay Phật Đăng Thượng Nhân, Ton Giả tự hiểu rằng trong nghề đánh kiếm mình suốt đời chẳng bằng được Thượng Nhân. Ông dồn sức khổ luyện công phu Thiết tụ Thần Quyền đặc dị, đạt đến mức đại thành.

Đôi ống tay áo dài thượt của Tôn Giả chứa đầy âm kình, có thể đã thương người và đoạt lấy vũ khí, cùng phối hợp với phép đánh thiết tụ, song quyền của Hoàng lão cũng biến hoá và cương mãnh tuyệt luân. Có quyền tất có cước, những cú đá củaTôn Giả cũng biến hoá và nặng nghìn cân.

Hoàng lão lại sở hữu đến bảy mươi năm chân khí, hơn hẳn Tần Nhật Phủ nên nagy chiêu đầu đãchiến thượng phong!

Họ Tần nghe thân kiếm chấn động mạnh khi chạm tay áo đối phương lòng thầm kinh hải, vội dở phép khoái kiếm ra đòn như bão táp, mưa sa.

Đối với người kiếm sĩ, kiếm thuật chính là bản năng thứ hai. Họ luyện đi, luyện lại trong suốt nhiều năm ròng, chiêu thức, đường gươm in sâu vào tiềm thức, không chỉ là ký ức nữa.

Do ảnh hưởng của phép Di Hồn, Nhương Thư hầu như quên hết Phật Đăng Kiếm Pháp , vá nhớ rất rỏ Huyền Không Kiếm Pháp của Sấu Tiên. Ngưng hôm nay gặp phải đại kình địch là Hồng Diện Tôn Giả, pho kiếm pháp mới luyện mấy tháng kia dường như không đủ. Khi thi thố hết tám mươi mốt chiêu gốc mà vẩn bị áp đảo, Nhương Thư xử dụng yếu quyết chử Tuỳ, từ căn bản biến hoá thành hàng ngàn chiêu thích hợp.

Chính trong lúc này, tiềm thức manh nha phát lộ, sở học bao năm từng giọt nhỏ ra, hoà với vốn liếng mới thành một kiếm pháp tuyệt diệu, hoà hợp giữa Phật và Đạo.

Sấu Tiên vốn là một đạo sĩ theo họ tuyết Lão Trang, còn Phật Đăng Thượng Nhân là cao tăng cửa Phật.

Phật Đăng Kiếm Pháp chỉ đóng phần kiếm ý nên kiếm ảnh không mang hình ngọn lửa, khiến người ngoài chẳng ai nhận ra trừ Ải Thần Quân.

Lão ngơ ngác nhìn con nuôi múa kiếm, gải đầu lẩm bẩm.

-Hay thực! Thì ra tiểu tử này vẩn chưa quên nghề cũ, phối hợp với nghề của ta thành một thứ kiếm pháp có một không hai!

Quả đúng như vậy, càng đánh lâu, Nhương Thư càng đạt đến nức thâm huyền, trường kiếm trên tay tuy một mà trông như bảy, hư thực khôn lường, mổi nhát kiếm đều nhằm đúng vào sơ hở trong lưới quyền của đối phương.

Hồng Diện Tôn Giả khôngcó ý làm hại chàng trai trẻ, song vì chút hiếu thắng con nhà võ cũng dồn hết sức già mà chiến đấu.

Song tụ của Hoàng lão bay lượn như thần long, quét ra những đạo kình lực thôi sơn, vù vù xé không gian và thổi tung nhữngchiếc lá khô trên mặt cỏ hoa viên!

Thực khách chia làm hai phe mà cổ vủ cho gà nhà. Giọng ồm ồm của đám nam nhân ủng hộ Tôn Giả, giọng trong trẻo, thánh thót thuộc về đám thiếu nữ si tình!

Hồng Diện Tôn Giả sau ngàn chiêu, đã mơ hồ nhận ra kiếm ý của Phật Đăng Kiếm Pháp,lòng càng bán tín bán nghi. Ông tự nhủ:

- Muốn biết giả chân chỉ còn cách dụ Tần Nhật Phủ về Lạc Dương, Sơn nhi là người đầu ấp tay gối tất sẽ phân biệt được!

Nghĩ thế nên ông quạt mạnh một đòn, đẩy lùi đối thủ rồi nói:

- Khoan đã! Lão phu muốn đặt cược!

Tần Nhật Phủ đình thủ, hoà nhả đáp:

- Xin tiền bối cứ dạy!

Hoàng lão cười nhạt:

- Chẳng cần đánh nhiều cho mệt xác! Lão phu chỉ dùng ba chiêu cũng đủ khiến ngươi phải rơi kiếm ! Lúc ấy, phiền ngươi đi theo lão phu đến Lạc Dương một chuyến!

Tần Nhật Phủ không hiểu mục đích củaTôn Giả nên phân vân bất quyết. Phần Ải Thần Quân thì nghĩ rằng:

- Xem ra, lão quỷ già họ Hoàng đã sinh nghi, muốn đưa Nhương Thư về cho con gái kiễm tra. Thế cũng hay, lão phu sẽ đi theo hí lộng cho các ngươi điên đầu. Vả lại, đã đến lúc Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách trổ thần oai đánh Đông dẹp Bắc, lưu danh muôn thủơ, ở đây mãi với đám gái tơ kia cũng chán!

Thần Quân đã dùng Di Hồn Đại Pháp moi sạch quá khứ của Nhương Thư nên biết rõ cuộc đời chàng, Còn cục diện võ lâm thì lão nghe ngóng mấy tháng nay cũng hiểu khá nhiều.

Đã quyết định như vậy nên Ải Thần Quân truyền âm:

- Con cứ đáp rằng dù thắng hay bại cũng vẩn theo lão đi Lạc Dương!

Nhương Thư thoáng rùng mình, may mà Hoàng lão không nhận thấy. Chàng ôn tồn đáp:

- Vãn bối xin tuân lệnh lãnh giáo thêm ba chiêu, dù kết quả thế nào cũng xin theo tiền bối đi Lạc Dương. Vãn bối từ lâu đã mến mộ phong cảnh cố đô của Nhà Thương!

Hồng Diện Tôn Giả sửng sốt nghĩ:

- Quỷ thực! Sao gã lại dể dãi thế nhỉ?

Ông gượng cười :

- Té ra lão phu bất chiến tự nhiên thành! Nhưng đã lỡ nói ra thì cũng phải đánh! Ngươi cẩn thận đấy !

Dứt lời, lão ập đến, song tự hoá thành đám mây xanh bao trùm lấy đối phương. Đây chính là chiêu Thiên Tụ Hoá Vân, tuyệt kỷ thủ mạng của Tôn Giả. Chẳng phải thứ mây mềm mại vẫn lơ lững trên trời, mà là cơn bão mãnh liệt có thể nghiền nát bao người! Chiêu thức võ học nào cũng có sơ hở, song mầu sắc và sự mềm mại, uyển chuyển của đôi dải tay áo đã che kín chỗ nhược, khiến đối thủ chẳng thể nhìn ra. Nhương Thư dù thông minh tuyệt thế, kiếm thuật siêu phàm cũng nhất thời rơi vào cảnh lúng túng trước chiêu thức kỳ ảo này. Chính Ải Thần Quân cũng hoang mang, lo sợ cho nghĩa tử!

Muốn đối phó, Nhương Thư chỉ còn cách liều mạng hoặc né tránh. Song chàng đã nhận lời tiếp chiêu nên không thể thi triển Cửu Huyền thân pháp bỏ chạy. Trong lúc cửu tử nhất sinh ấy, tiềm thức Nhương Thư bỗng hé mở. Chàng đôi mặt với những chiêu chưởng khủng khiếp của Độc Biển Thước nên kinh nghiệm chẳng thiếu và sự hiểm nguy trước mắt đã đánh thức bản năng sinh tồn. Nhương Thư bất giác phản ứng một cách máy móc, đề khí bay vút lên cao, rồi chúc đầu xuống, thân kiếm rung động hàng ngàn lần, kiếm ảnh xoè rộng như chiếc ô, mũi kiếm đỉêm nhanh tựa mưa rào.

Đây vốn là chiêu Ngoạ Thanh Giáng Vũ ( Ngọc Hoàng làm mưa ) trong Huyền Không Kiếm Pháp, song không phải chiêu ngự kiếm trong khoảng cách gần. Chẳng qua Nhương Thư chân truyền của Phật Đăng Thượng Nhân nên mới nắm được yếu quyết Bất Nhị, chẳng xa, chẳng gần! Ngay Sấu Tiên sống lại mà chứng kiến cảnh này cũng phải phục lăn. Điều ấy chứng tỏ sở đắc kiếm đạo của Phật Đăng Thiền Sư chẳng kém cổ nhân. Bởi ông là đệ tử Phật môn, kiếm pháp thiếu phần sát khí, chịu kém Sấu Tiên thôi !

Tiết diện càng nhỏ thì áp suất càng mạnh, kình lực tập trung ở mũi kiếm nhọn đâm thủng được lực đạo tản mác trên diện rộng của tay áo, phát ra những âm thanh xoèn xoẹt như xé lụa. Hồng Diện Tôn Giả không muốn đồng qui vô tận với kẻ có thể là rể của mình, đành phải đảo bộ rời xa vị trí cũ, bỏ dở chiêu thức. Khách quan chiến reo hò, hoan hô Tần Nhật Phủ, khiến Hồng Diện Tôn Giả hơi bẽ mặt. Ải Thần Quân yêu mến Nhương Thư nên quên đi mối hận với Hồng Diện Tôn Giả, nếu không đã xúi chàng thi thố Lục Mạch Thần Chỉ. Thấy đánh mãi không chừng có máu đổ, Thần Quân liền truyền âm :

- Phủ nhi hãy nhận bại và đi theo Hồng Diện Tôn Giả !

Nhương Thư ngoan ngoãn vâng lời, tra kiếm vào vỏ, vòng tay noi :

- Vãn bối tự lượng không tiếp nổi hai chiêu nữa, xin tiền bối tha cho!

Hoàng Huy Do chưng hửng, song cũng thừa cơ vớt vát thể diện :

- Tốt lắm! Ngươi quả là kẻ thức thời! Hay mau về khách điếm thu xếp hành lý !

Các nàng nhao nhao bàn tán nhưng không dám mở miệng phản đối, ả nào rảnh rang thì cấp tốc về nhà, xách tay nải đi theo người trong mộng! Tổng cộng chỉ có sáu nàng nữ hiệp đất kinh đô may mắn được tháp tùng! Đoàn người rầm rộ, rời Bắc Kinh trong ánh mắt luýen tiếc, sầu khổ của không ít hoàng hoa khuê nữ! Hồng Diện Tôn Giả ngao ngán trước cảnh phong lưu, lăng nhăng quá mức của Tần Nhật Phủ liền mỉa mai :

- Ngươi lập chí dương danh thiên hạ, dựng sự nghiệp anh hùng mà lúc nào cũng kè kè xử nữ thì làm sao thành công được?

Tần Nhật Phủ đáp đúng như ý Ải Thần Quân :

- Trai anh hùng năm thê bảy thiếp, cổ kim đều thế, có gì phải sợ, vả lại họ quyết chí theo, làm sao vãn bối xua đuổi được ?

Tôn Giả cười nhạt :

- Thê thiếp thì chẳng nói. Còn ngươi dung vẻ anh tuấn mê hoặc rồi chiếm đoạt, sao đáng gọi là hiệp khách ?

Sáu nàng kia liền phản ứng ngay, một ả tủm tỉm nói :

- Lão tiền bối sai rồi! Tần công tử đây là bậc chính nhân, định lực như núi Thái, chưa hề động tâm trước sắc dục !

Hoàng lão ngơ ngác :

- Thực thế sao? Lão phu theo dõi mấy đêm liền, thấy các ngươi nhẩy qua cửa sổ vào ngủ với gã mà ?

Bọn mĩ nữ thẹn đỏ mặt, có kẻ phổi bò mở miệng than :

- Có được nước mẹ gì! Chàng ta cứ trơ như gỗ, chỉ ngắm nhìn và ôm lấy mà ngủ ngon lành !

Tôn Giả kinh hãi :

- Chẳng lẽ y bị liệt ?

Ả nữ hiệp ít học kia bực bội :

- Chàng ta mà bị liệt còn đỡ tức! Y dương buồm lên mà chẳng làm gì, cứ như mèo chê chuột hôi vậy !

Cách ví von ngộ nghĩnh đã khiến Tôn Giả không nín được cười. Ộng vỗ vai Nhật Phủ Khen :

- Khá thực! Không ngờ ngươi lại có định lực thâm hậu như vậy !

Mối nghi hoặc lớn thêm, ông tò mò hỏi :

- Nhưng tại sao ngươi phải giới sắc như một nhà sư thế ?

Nhật Phủ cũng không hiểu tại sao, bâng khuân nói :

- Có lẽ vãn bối ngại câu Tiền Dâm Hậu Thú !

Sáu nàng mừng rỡ lên tiếng :

- Thì công tử cứ cưới quách bọn thiếp đi !

Nhật Phủ phì cười mà không nói năng gì cả !

Trên đường đi, Tôn Giả sóng ngựa cạnh họ Tần, giả đò đem giáo nghĩa nhà Phật cùng kinh điển Đại Thừa ra bàn luận. Lão thất vọng khi chàng chẳng biết gì cả! Chữ nghĩa, ý niệm thuộc về ký ức nên đã bị xoá đi, song việc tuân thủ ngũ giới lại là hành vi được thực hiện qua nhiều năm, trở thành bản ngã chính vì thế Nhương Thư dẫu động tình cũng không sa đoạ! Tóm lại, giờ đây trong chàng hiện diện đến hai nhân cách, một của nhà sư và một chàng hiệp khách phong lưu. Chiều hôm ấy họ đã rời xa xứ Bắc Kinh trăm dặm, ghé trấn Luỹ Sơn nghỉ ngơi ở Tùng Hoa Lữ Điếm.

Ải Thần Quân thì trọ trong quán đối diện, trù tính kế hoạch chọc ghẹo thiên hạ !

Sống cô đơn suốt mấy chục năm dài, Thần quân đã có thói quen độc thoại :

- Không ngờ sáu ả quỉ cái kia lại mặt dầy mày dạn bám theo Nhương Thư! Tư chất chúng đều tầm thường, không xứng là dâu của lão già này! Có lẽ phải tách họ ra mới được! Hơn nữa, lão quỉ họ Hoàng tâm cơ sắc bén, gần gũi Nhương Thư lâu ngày e sẽ khám phá ra! Vở tuồng ngắn quá thì mất hay !

Tuổi Ải Thần Quân đã hơn chín chục nhưng thân xác chẳng già nên tâm hồn cũng rất trẻ con, đầy ắp những ý nghĩ tinh quái. Vả lại, ông tu đạo lão Trang, xem trọng tính cách thiên chân, hồn nhiên, càng đắc ý với lời trong Đạo Đức kinh : Năng Anh Nhi Hổ! ( Trở Thành Trẻ Thơ ). Ông suy nghĩ thêm một lúc, hớn hở vỗ đùi :

- Tuyệt diệu thực! Có thế mà ta nghĩ mãi mới ra !

Đêm hôm ấy, Thần Quân âm thầm tìm đến phòng của Nhương Thư. Do có mặt Hồng Diện Tôn Giả nên sáu nàng kia không dám dở trò ong bướm trèo tường vượt cửa. Với bản lãnh hiện tại của Ải Thần Quân thì Nhương Thư chẳng thể nào phát hiện được. Lão già trẻ con kia thi triển Di Hồn Đại Pháp xong liền chuồn thẳng. Sáng ra, Hồng Diện Tôn Giả và sáu nàng kia phát hiện Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách đã biến mất! Hoàng lão giận dữ chửi rủa um sùm :

- Tiểu quỉ này tâm địa phức tạp, hành động bất thường khiến lão phu không sao hiểu nổi! Con bà nó! Lần sau lão phu phải gông cổ y mà dắt đi cho chắc ăn!

Sáu ả hiệp nữ đất Bắc Kinh sụt sùi khóc như cha chết, thu xếp tay nải lủi thủi trở về cố quận. Hồng Diện Tôn Giả quyết định xuôi Nam, trước là thăm Thúy Sơn, sau cùng bọn Vô Ưu Cái nghiên cứu hiện tượng Tần Nhật Phủ. Ông không biết rằng mình đã đi trước Nhương Thư, vì lúc này chàng đang có mặt ở một nếp nhà tranh ngoài cửa Bắc trấn. Chàng đã mua xe ngựa, xuống vịn cổng rào báo danh :

- Tại hạ là Tần Nhật Phủ từ đất Trường Trị đến xin bái kiến .

Liếp tre mở rộng, một nàng thôn nữ áo xanh xuất hiện, e thẹn nghiêng mình chào khách. Y phục nàng hơi lụng thụng, cứ như đi mượn vậy! Nàng ta bước ra mở cổng,dáng đi ngượng ngập, chẳng lấy gì làm yểu điệu hay thướt tha .

Nàng thỏ thẻ :

- Tiểu muội Tần Thế Lan xin ra mắt biểu huynh! Mời biểu huynh vào tệ xá dùng trà!

Thế Lan có dung mạo dễ nhìn, da rám nắng vì việc đồng áng, bàn tay cũng ngắn và thơ. Còn giọng nói thì trong trẻo, song đôi lúc hơi the thé! Thấy nàng bước đi khó khăn Nhương Thư cau mày hỏi :

- Chân của biểu muội bị sao vậy ?

Thế Lan không quay lại nên chàng không nhận ra đôi tròng trắng kia đảo liên dảo lộn. Nàng vui vẻ giải thích :

- Hôm qua, tiểu muội vấp ngã nên chân hơi đau, chỉ vài ngày sau là hết thôi !

Thế Lan mời khách ngồi xuống chiếc đôn gỗ xấu xí, cạnh chiếc bàn mộc thô sơ, rồi rót trà. Nhương Thư đảo mắt quan sát những vật dụng rẻ tiền, nghèo nàn trong nhà, lòng dâng lên niềm thương xót. Chàng nhấp hớp trà rồi nghiêm nghị nói :

- Lan muội! Thân phụ ta từ trần đã chín năm. Trước khi mất người có nói rõ việc hôn ước giữa ta và nàng! Nay nàng cũng mồ côi không nơi nương tựa, hãy đi với ta, sang năm về Trường Trị làm lễ thành hôn !

Thế Lan ngượng ngùng cúi mặt :

- Tiểu muội! xấu xí thế này làm sao sánh duyên cùng bậc tài mạo như biểu ca! Thôi thì biểu ca cứ xem như việc chỉ phúc hôn ngày xưa là chuyện đùa vậy !

Nhương Thư nghe giọng nghẹn ngào trong lòng vô cùng bất nhẫn, khẳng khái nói:

- Nàng chẳng hề xấu xí và ta đã quyết làm theo di mệnh của phụ thân. Nguyện xuốt đời yêu thương nàng !

Thế Lan thở dài, nhìn chàng bằng ánh mắt u ẩn :

- Biểu ca đã có lòng thương, tiểu muội chẳng dám không tuân mệnh! Xin chờ tiểu muội thu xếp hành lý!

Nàng vào trong, lát sau trở ra với tay nải nhỏ, nhìn cỗ xe độc mã, nàng tủm tỉm cười:

- Sao biểu ca biết tiểu muội đau chân mà đem xe đến rước ?

Nhương Thư ngẩn người, chẳng biết đáp thế nào! Chàng đánh xe quay lại trấn Lũng Sơn mua sắm y phục mới cho vị hôn thê.Chàng càng thương cẩm khi thấy Thế Lan vì nghèo khổ que mùa mà không biết bới tóc, và tai cgẳng có lổ để đeo bông!

Nhương Thư tiếp tục đi về hướng Nam vì nơi ấy đang xảy ra cuộc chiến quyết liệt của hai phe chính tà. Tất nhiên ý đjinh này do Ải Thần Quân mớm cho chàng!

Dọc đường thiên lý, Nhương Thư ân cần trò chuyện với Thế Lan để nàng vơi đi mặc cảm. Chàng không nhận ra giọng nói kia ngày càng dể nghe, và dáng đi của Thế Lan cũng vững vàng hơn!

Y phục đẹp và son phấn đã làm Thế Lan thêm mặn mà. Lúc đến thành Bảo Định, nàng đã vào tiệm nữ trang để nhờ xỏ lổ tai và mua thêm vài cặp bông.

Tình cảm ngày càng đâm chồi nẩy lộc trong tim Nhương Thư. Song không phải vì nhan sắc mà vì tính tình hoạt bát vui vẻ, và đầu óc thông tuệ, tinh minh củanàng!

Một hôm chàng bảo:

- Ta tuy giỏi võ những cơ trí mộc mạc, không bằng một nửa của nàng. Hay là ta sẽ truyền lại võ công để vợ chồng sánh vai hành hiệp?

Thế Lan phì cười:

- Tiểu muội luyện tuyệt học của họ Tần từ thuở lên bốn, chắc gì biểu ca tinh thông hơn được? Tiểu muội chỉ kém phần công lực thôi!

Nhương Thư mừng rở:

- Thế thì hay lắm!

Từ ấy, hai người say sưa bàn luận về Huyền Không Kiếm Pháp, và Nhương Thư phải đê đầu bái phục vì Thế Lan đã đạt đến mức uyên thâm nhất, dạy lại cho chàng!

Trong sinh hoạt, hai người cũngrất tương đắc, Phương Bắc lạnh lẻo nên Thế Lan uống rượu rất khá, hơn cả Nhương Thư. Chàng vốn thích trà nhưng chiều ý ái thê, thường cùng nàng đối ẩm.

Có nhữnglần ghé quán trọ dọc đường, do chỉ còn một phong nên Nhương Thư đề nghị ngũ chung. Thế Lan biến sắc nghiêm giọng:

- Tiểu muội tuy quê mùa nhưng cũng biết lễ nghĩa, chẳng dám phá hoại gia phong họ Tần! Trước khi thành hôn chúng ta không thể quá gần gủi được!

Nhương Thư vô cùng khâm phục tiết hạnh của Thế Lan, lủi thủi ôm chăn ra xe ngũ!

Ở đây Thế Lan thở phào, che miệng cười hăng hắc:

- Phải nghiêm khắc như thế mới được, nếu không có ngày y đề lão phu ra thì nguy to!

Vậy là rõ ngay gian, Thế Lan chính thị là lão già tinh quái Ải Thần Quân Tần Nhật Phủ muốn được kề cận Nhương Thư cho nên nghĩ ra trò giả gái, và dùng tà pháp khiến chàng tưởng mình có hôn ước với cô em họ!

Thần Quân vốn khéo tay cho nên mới học được nghề giải phẩu của Ba Tư, bởi thế việc đẻo gọt một đôi chân giả bằng gổ chẳng khó gì! Chỉ khó ở chổ làm quen với thứ đồ giả cứng nhắt ấy mà thực hiện những bước đi yểu điệu của nữ nhân. Ngay giọng nói và cách nói cũng không phải dể học ngay được, phải có thời gian.

Trong nghề dịch dung, khó khăn nhất là biến thành người khác phái. Do cấu tạo cơ thể hoàn toàn khác biệt, to nhỏ, cao thấp bất đồng. Nếu gặp kẽ tai vễnh, lộ hầu hoặc hàm răng khểnh thì bố ai mà giả nổi?

Thế cho nên, khi tác giả đọc sử võ lâm của nước Đại Lý, đến đoạn con rơi của Đoàn Chính Thuần là A Châu cô nương, bị Kiều Phong giết oan, liền đấm ngực kêu trời tức như bị bò đá.

- Thật hoang đường, hai gã này mù dở nên mới để A Châu qua mặt!

Chuyết thê đang nấu bếp, nghe vậy liền cười hì hì:

- Bản chất của sử võ lâm là phi lý, hoang đường. Tướng công giận làm gì cho mệt xác! Hơn nữa thiếp thấy những điều tướng công chép lại còn tệ hơn thế!

Tác giả hổ thẹn cười xoà:

- Lão phu chỉ noi gương tiền bối, góp nhặt dông dài để kiếm cơm qua ngày thôi mà bà!

*

* *

Đầu trung tuần tháng năm, cổ xe độc mã của Nhương Thư đi vào Thạch Gia Trang, ghé một tửu quán dùng bửa!

Tiếng đôi bàn chân gổ gỏ lên bậc thang nghe hơi lạ, nhưng chẳng ai để ý đến. Cùng lắm người ngoài cũng chỉ tưởng nữ lang trường bào lam kia đi loại giầy vải đế gổ!

Riêng Ải Thần Quân thì áy náy, quyết sửa lại sao cho hoàn bị hơn. Có lẽ phải tạo khớp di động ở cổ chân mới được. Hai người chọn một bàn gần lan can hướng Nam để hứng chút gió mát. Người có danh như cây có bóng, khi Tần Nhật Phủ gỡ chiếc nón rộng vành ra để lộ đôi lông mày kép có một không hai, gã tiểu nhị thảng thốt rú lên :

- Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách !

Gã cũng biết hành động của mình là thất lễ, liền khom lưng vài dài, miệng cười toe toét :

- Mong đại hiệp lượng thứ cho tiểu nhân! Từ ngày người chặt tay Hồ Đầu Đao Trịnh Bách Liên, phá tan Hổ Đầu Bang, các hiệu buôn trong thành không còn phải è cổ nộp thuế bảo kê nên ai cũng xem đại hiệp là ân nhân! Hôm nay, bổn hiệu vô cùng sung sướng được tiếp đãi ngọc giá của Tần đại hiệp !

Thế là thực khách trên lầu xôn xao hẳn lên, và chỉ lát sau cả thành biết việc Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách giá lâm! Các tài chủ vội vã gom góp lễ vật, cử đại diện đến dâng tặng cho đại ân nhân! Tần Nhật Phủ cau mày ái ngại nhưng Tần Thế Lan mặt hoa rạng rỡ tiếp nhận tất cả. Nàng còn khéo léo dương danh chồng :

- Năm nay Thiểm Tây gặp đại hoạ, bách tính lâm cảnh khốn cùng, chuyết phu lòng đau như cắt, quyết cứu tế nạn dân vì thế tiện thiếp mới dám nhận sự đóng góp của chư vị !

Thế là Tần Nhật Phủ lại được thêm cái tiếng nhân nghĩa ngút trời người người ca tụng !

Khách rút rồi, NHật Phủ hỏi :

- Có thực là Thiểm Tây đang hạn hán chăng ?

Nàng nheo mắt cười mỉm chi :

- Tiểu muội xem thiên văn biết chắc năm nay đất Thiêm không một giọt mưa !

Nhật Phủ hiền như bụt nên tin ngay, tư lự bảo :

- Nếu thế thì ta sẽ bán hết châu báu, đem đến Trường An giao cho Tri phủ Thiểm Tây mua lương thực chẩn tế tai dân!

Thế Lan cười hơi méo :

- Triều cương lỏng lẻo, tham quan đầy dẫy, biểu ca làm thế chỉ e bách tính chẳng được miếng nào! Hay là chúng ta cứ đến Lạc Dương kêu gọi thêm lòng hão tâm rồi đi Thiểm Tây dích thân phát chẩn!

Nhật Phủ nghe có lý hớn hở tán thành, vì từ Hoa Bắc đi Trường An phải vượt cao nguyên Sơn Tây đường xá gặp ghếnh bất tiện, còn từ Lạc Dương thì quan đạo rộng thênh thang! Do sự tiếp kiến các tài chủ nên bữa ăn của họ kéo dài, vừa xong lại phải hầu chuyện với chủ nhân tửu lâu. Trong lúc ấy, có thêm tám người khách nữa lên đến, chính là bọn Bạch Thuý Sơn! Họ mới tới nên không ngờ mục tiêu của mình đang hiện diện nơi đây!

Thạch Gia Trang gần như nằm giữa Lạc Dương và Bắc Kinh nên hai phe chạm mặt nhau chốn này. Đi cùng Thúy Sơn có Bất Trí Thư Sinh, Thiết Kình Ngư và năm gã Lô Châu Ngũ Tặc! Thúy Sơn toàn thân Bạch Y, khăn cột đầu cũng một màu tang tóc, tuy Cao lão luôn khẳng định Nhương Thư còn sống song lòng nàng đã chết tự bao giờ. Gương mặ hoa kiều diễm kia giờ đây héo úa, xanh xao, ánh mắt đầy vẻ muộn phiền.

Nhờ dược phương thần diệu của Bất Trí Thư Sinh mà ngực nàng đã phát triển hơn xưa, gần như một phụ nữ bình thường. Song điều này chỉ gây thêm nỗi xót xa trong lòng người goá phụ! Nàng thường xoa ngực mình mà chua xót, tự hỏi cái đẹp này phỏng có ích gì khi tình lữ chẳng còn? Tây Thi đau bụng nhăn mặt mà vẫn đẹp, do vậy, dung nhan ảo não của Thúy Sơn cũng khiến lòng người mê mệt. Bọn thực khách len lén liếc nàng chứ không dám nhìn thẳng vì sợ vẻ mặt cô hồn của Thiết Kình Ngư Tào Ưng và Ngũ Tặc.Bởi mãi ngắm nàng nên tiếng trò chuyện vắng đi, chỉ còn lại cuộc đàm đạo ở góc hướng Nam, của chủ quán và Tần Nhật Phủ. Bất Trí Thư Sinh nghe được, đứng lên nhìn, phát hiện một chàng công tử có đôi lông mày kép.

Ông mừng rỡ bảo Thúy Sơn :

- Bạch hiền muội! Thật là may cho chúng ta, Tần Nhật Phủ đang có mặt nơi này!

Thúy Sơn giật mính, mắt loé sang những tia hy vọng. Song chẳng lẽ đường đột đến nhìn mặt đối phương nên vẫn ngần ngừ. Thiết Kình Ngư nóng nẩy nói:

- Để ta!

Gã đứng lên, chậm rãi bước đến bàn họ Tần, vòng tay nói:

- Tại hạ là Thiết Kình Ngư Tào Ưng hân hạnh được diện kiến Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách! Từ lâu thanh danh của đại hiệp như sấm rền bên tai Tào mỗ.

Vừa nói, gã vừa dán mắt vào mặt đối phương, mong tìm ra những nét thân quen! Tiếc thay, trên vành tai trái kia chẳng hề có nốt son nhỏ nào và ánh mắt họ Tần cũng dửng dưng lạ lẫm!

Tần Nhật Phủ thủ lễ :

- Tại hạ mới xuất đạo, hiệp tích chẳng bao nhiêu, không dám nhận tiếng đại hiệp! Mời Tào huynh an toạ!

Và chàng giới thiệu vợ mình :

- Đây là Tần Thế Lan biểu muội, vị hôn thê của tại hạ !

Người lùn, dù nối thêm chân thì khi ngồi vẫn để lộ sự thiếu thước tấc của thân trên. Do vậy, Ải Thần Quân thường lén dạt tay nải xuống mặt ghế rồi ngồi lên. Có tật giật mình, lão không dám đứng dậy, chỉ gật đầu chào Tào Ưng. Thái độ này khá ngạo mạn khiến họ Tào phật ý! Lão chủ nhân Tửu lâu xin phép rút lui để Tần Nhật Phủ tiếp khách. Họ Tần hơi nhột nhạt trước ánh mắt soi mói của Tào Ưng liền hỏi :

- Chẳng hay Tào túc hạ có điều chi muốn dạy bảo Tần mỗ ?

Tào Ưng đã có chủ ý, nghiêm giọng :

- Bọn tại hạ thừa lệnh hội đồng võ lâm ngược Bắc tìm Tần đại hiệp để thương lượng đại sự giang hồ! Để tại hạ mời người có thẳm quyền là Bất Trí Thư Sinh Cao Trường Toàn sang cùng Tần đại hiệp bàn bạc!

Gã đứng lên vẫy, Cao lão và Thúy Sơn rời bàn đi đến.

Cũng như Tào Ưng hai người này dương mắt nhìn, cứ như muốn lột da mặt Tần Nhật Phủ ra vậy !

Ải Thần Quân đắc ý thầm :

- Lão phu đã ra tay thì làm sao các ngươi khám phá nổi chân tướng! À! Con dâu của ta cũng xinh đẹp đấy chứ?

Lão làm chủ ký ức Nhương Thư nên biết rõ Bạch Thuý Sơn, xem nàng là con dâu của mình! Chào hỏi xong, Cao Trường Toàn đi vào việc chính, trình bày đại cục võ lâm hiện nay, mời mọc Tần Nhật Phủ về Lạc Dương tham gia sự nghiệp giáng ma! Xưng danh nhân hiệp, Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách trầm ngâm đáp :

- Việc giáng ma vệ đạo là bổ phận của người học võ, song tại hạ còn phải đi Thiểm Tây chẩn tế tai dân đang lâm cảnh đại hạn, xong việc mới có thể lo chuyện võ lâm được!

Bất Trí Thư Sinh kinh ngạc :

- Việc hạn hán ở vùng cao nguyên Hoàng Thổ chỉ bắt đầu vào cuối tháng này, lão phu nhờ xem Thiên tượng mà đoán ra, sao Tần thiếu hiệp cũng biết ?

Nhật Phủ thực thà đáp :

- Tại hạ nào có tài cán gì mà tiên đoán được thiên tai, việc này do chuyết thê chỉ giáo đấy thôi !

Ải Thần Quân chột dạ than thầm :

- Kẻ đại trí cũng có lúc sơ xuất! Thế nào lão họ Cao này cũng nghi ngờ lão phu !

Quả thực vậy, Bất Trí Thư Sinh nhìn Thế Lan bằng ánh mắt sắc như dao, hờ hững nói :

- Té ra phu nhân đây là bậc kỳ nữ tài hoa quán thế, tinh thông cả thuật thiên văn, lão phu xin đê đầu bái phục!

Ải Thần Quân nghe nhột nhạt khắp người, ngượng ngùng cúi đầu giả đò thẹn thùng.

Cao lão bỗng nói tiếp :

- Chẳng hay nàng quê quán ở đâu, hậu duệ của bậc cao nhân nào? Thú thực là dung mạo của lão phu trông có nét quen quen!

Ải Thần Quân bóp bụng đáp bừa :

- Tiện thiếp là biểu muội của Tần tướng công, cũng quê đất Trương Trị Sơn Tây, song đã dời nhà về trấn Lũng Sơn, phía Nam thành Bắc Kinh, hồi hai mươi năm trước! Còn dung mạo thì tiện thiếp chẳng giống Tần tướng công là gi ?

Đúng là lão đang dùng mặt thật còn Nhương Thư là hoá thân, có không ít nét tương đồng! Tuy nghi ngờ nhưng Cao Trường Toàn chẳng thể đoán ra ẩn tình vì đôi lông mày kép đã chuyển vị trí rất là tinh xảo, không một chút sẹo mờ! Đây là y thuật độc môn của xứ Ba Tư nên người Trung Hoa có nằm mơ cũng không nghĩ đến! Nhưng Ải Thần Quân chợt lo lắng hơn khi thấy Nhương Thư bắt đầu bị cặp mắt huyền sâu thẩm của Bạch Thuý Sơn thu hút. Lão liền kiếm cớ hoãn binh :

- Trời đã chiều, bọn thiếp xin phép về khách điếm nghỉ ngơi, hẹn gặp chư vị sáng mai, cũng tại nơi này. Lúc ấy, Tần đại ca sẽ có lời phúc đáp!

Bị đuổi khéo, phe Thúy Sơn đành phải cáo từ, trở về bàn mình. Ở đây, vợ chồng Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách cũng gọi tiểu nhị tính tiền. Tất nhiên lão chủ quán xua tay từ chối rối rít, lại càn ân cần mời khách cứ việc giá lâm! Bất Trí Thư Sinh nhìn theo dáng đi của Tần Thế Lan, song không phát hiện được quái sự. Thực ra, Ải Thần Quân đang toát mồ hôi dồn sức cho từng bước đi, cố qua mắt đối phương. Hai người lên xe ngựa, đi thêm một đoạn để vào trọ trong Hà Gia đại Lữ Điếm. Thế Lan ngồi trong phòng mình suy nghĩ :

- Nếu cứ để Thư nhi giữ mãi tính cách trung hậu, nhân nghĩa thì trước sau gì cũng lộ! Ta phải biến y thành kẻ cao ngạo, khó gần gũi thì mới mong kéo dài được vở diễn này!

Đếm ây. Ải Thần Quân thi triển Di Hồn Đại Pháp đến mức chót, cố in sâu vào tâm trí Nhương Thư những nét nhân cách mới. Khéo quá hoá vụng, sáng hôm sau khi Thế Lan sang gõ cửa phòng Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách thì nhận được ánh mắt lạnh lùng , tàn nhẫn và một câu nói khó nghe :

- Này Tần biểu muội! Nhan sắc như nàng e không xứng làm vợ ta, hãy nhận lấy ngàn lượng vàng rồi trở lại Lũng Sơn lấy chồng khác cho xong!

Ải Thần Quân tức điến người, đau hơn bị thiến, song không thể bỏ đi, liền năn nỉ ỉ ôi :

- Tiểu muội biết mình xấu xí, không xứng với biểu ca, nhưng hôn ước đã định, chẳng thể lấy ai khác, chỉ mong biểu ca khai ân nhận tiểu muội làm tỳ thiếp hay tôi tớ cũng được!

May mà Tần Nhật Phủ cũng còn giữ được bản chất anh hùng nên không quá nhẫn tâm, chấp nhận sự xuống nước của vị hôn thê.Gã gật gù bảo:

- Thế cũng được! Nàng mau bưng nước cho ta rửa mặt !

Ải Thần Quân vội tuân lệnh lui ra vừa giận vừa tức cười :

- Con bà nó! Đúng là gậy ông đạp lưng ông, khiến lão phu phải biến thành nô tỳ !

Vệ sinh, ăn sáng xong, hai người y ước đến Hoa Bắc Đệ Nhất Tửu Lâu để gặp bọn Bất Trí Thư Sinh. Cao lão giật mình trước thần sắc khác lạ của Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách! Từ một bậc nhân hiệp khiêm cung, lễ độ, họ Tần trở thành một tên công tử mục hạ vô nhân, ánh mắt lạnh tanh và kiêu căng. Gã chẳng thèm đáp lễ khi được chào, rồi thản nhiên ngồi xuống ghế, còn Tần Thế Lan khép nép đứng sau lưng chứ chẳng dám an toạ.

Cao Trường Toàn thận trọng hỏi :

- Chẳng hay Tần thiếu hiệp đã quyết định thế nào?

Tần Nhật Phủ nhếch mép cười ngạo nghễ :

- Tại hạ đồng ý! Nhưng sau khi tại hạ tiêu diệt xong Kỵ Ba Thần Quân và Âm Sơn Lão Tổ, hy vọng hội đồng võ lâm sẽ trao cho chức Minh chủ!

Thái độ háo danh vụ lợi này đã làm cho bọn Thúy Sơn biến sắc vì kinh ngạc. Bất Trí Thư Sinh tâm cơ mẫn tiệp, giỏi nghề tuỳ cơ ứng biến, liền cười khanh khách :

- Lúc ấy thì còn ai xứng với ngôi Minh chủ hơn thiếu hiệp nữa ?

Cái khôn thì không thể dạy bằng tà pháp được. Do vậy, Tần Nhật Phủ không hề phát hiện điểm lắt léo trong câu nói của đôi phương! Cao lão chỉ tán dương chứ không hề hứa hẹn gì !

Tần Nhật Phủ hài lòng đáp :

- Hay lắm! Chúng ta khởi hành ngay thôi !

Bọn Thúy Sơn phải nuốt vội bữa điểm tâm để lên đường. Cổ xe của Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách đi trước và xà ích là Thế Lan. Tám người bọn Thúy Sơn cởi ngựa theo sau, cách một quảng vừa đủ để bàn bạc.

Tào Ưng hậm hực nói :

- Mẹ kiếp! Gã này thay đổi nhanh như lật bàng tay, chẳng biết đâu mà lần! Nhìn gương mặt gã này sáng nay, ta chỉ muốn chém cho một nhát!

Thúy Sơn lên tiến :

- Lạ thực! Sao y lại hờ hững với cả vị hôn thê như vậy ?

Gã thư năm trong Lô Châu Ngũ Tặc là Đông Ngũ, hí hững xen vào:

- Thuộc hạ cho rằng đếm qua Tần Nhật Phủ không được ả kia hầu hạ chu đáo nên sáng nay mới gắt như mắm vậy! Đàn ông ai cũng thế thôi! Ả Thế Lan biết lỗi mình nên khép nép như rắn mùng năm, đâu còn oai vệ nữa ?

Bạch Thuý Sơn đang rầu rĩ, thất vọng, liền bực bội nạt :

- Ngươi chỉ được cái nói càn, có im đi không ?

Phía trước, Ải Thần Quân nai lưng đánh xe, tức tối nghĩ thầm :

- Ta đã quá nặng tay nên lãnh hậu quả! Gã khó ưa thế này thì còn gì là anh hùng hảo hán nữa!

Bởi thế, ngay đêm ấy, lão tiến hành sữa chữa lỗi lầm vã mồ hôi kiễm tra kỹ lưỡng từng chút một. Nhờ vậy, sáng ra sắc mặt của Nhương Thư đã dễ thương hơn, không còn vênh váo như trước nữa. Chàng chủ động chào hỏi với ánh mắt ấm áp khiến bọn Thúy Sơn sửng sốt.

Đồng Ngũ khoan khoái kết luận :

- Chư vị thấy tại hạ có lý hay chưa! Đêm qua Tần Nhật Phủ mây mưa đắc ý nên sáng nay tươi tán, thân thiện, khách hẳn hôm qua! Y háo sắc thành tật, đêm nào không ái ân là không vui! Xem kìa! Nhật Phủ đang ân cần mời vợ y lên xe, không bắt làm xà ích nữa. Còn mặt ả Thế Lan thì phỡn phơ, hồng hào, cứ như đoá hoa sau trận mưa xuân vậy !

Thúy Sơn ngao ngán than :

- Ai bảo lòng nữ nhân như biển khôn dò? Cái gã Tần Nhật Phủ này mới đáng khó hiểu !

Sau năm ngày đường, đoàn người còn cách An Dương hơn trăm dặm. Khi ghé phạn điếm dùng cơm trưa xong họ lại lên đường, được nửa canh giờ thì đến trấn Hưng Yên. Tên khất cái đang ngồi dưới gốc cây đầu trấn vội chạy đến chặn dể hối hả bẩm báo :

- Cao lão tiền bối! Hồng Diện Tôn Giả bị Sơn Hải Bang vây hãm trên đồi Long Bối đã hai ngày nay !

Thúy Sơn biến sắc cướp lời :

- Phe đối phương có cao thủ nào lợi hại mà vây được phụ thân ta ?

Gã hoá tử nhăn nhó :

- Bẩm phu nhân! Đệ tử không rõ chỉ biết Sơn Hải Bang đông độ hai chục, do Ngoạ Long Tú Sĩ và bốn lão già tóc bạc thống lãnh. Họ ghé trấn ăn uống, bàn bạc việc thượng kinh tìm gã Tứ Mi, Tam Nhãn gì đó! Nào ngờ Tôn Giả cũng có mặt trong quán, đứng lên chửi mắng. Hai phe đánh nhau, Tôn Giả kém thế phải bỏ chạy lên đôi Long Bối tử thủ!

Bất Trí Thư Sinh hỏi lại :

- Thế bố lão già tóc trắng kia sử dụng vũ khí gì ?

Gã hoá tử đáp :

- Dạ bẩm! Họ cầm cần câu bằng thép!

Cao lão thảng thốt kêu lên :

- Đài Loan Tứ Ngư Ông! Hèn gì Hồng Diện Tôn Giả không địch lại họ !

Thúy Sơn bẽ mặt càu nhàu :

- Lai lịch bốn lão quỉ ấy thế nào? Tiểu muội có nghe nói đến bao giờ đâu ?

Bất Trí Thư Sinh giải thích :

- Họ là huynh đệ đồng môn, tuổi tác đều trên bảy mươi, hùng cứ đảo Đài Loan, hai chục năm chưa vào Trung Thổ nên hiền muội không biết đấy thôi! Năm xưa, Tứ Ngư Ông vào đất liền dương danh, mượn cớ so tài võ học lần lượt đả thương mấy chục đại cao thủ Trung Nguyên, từ Phúc Kiến đến Hà Nam. Sau đó họ khiêu chiến với Thiếu Lâm Tự, tỷ võ suốt ba ngày, cuối cùng bị các trưởng lão đả thương mới chịu về biển Đông.

Cứu nhân như cứu lửa, Cao Trường Toàn vừa phi ngựa vừa kể chứ chẳng phải đứng một chỗ mà cà kê. Nói xong, lão hơi chột dạ trước võ công Tứ Ngư Ông, quay lại nhìn thì thấy cỗ xe của vợ chồng Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách lẽo đẽo phía sau, bèn an tâm một chút! Đồi Long Bôi nằm ở phía Đông trấn cách độ vài dặm, nên chỉ hơn nửa khắc sau đoàn người đã đến nơi !

Chẳng hiểu ai đã đặt tên “ Lưng Rồng “ cho ngọn đồi đầy những quái thạch to lớn này? Đá tảng nằm san sát, cao thấp chẳng đều, các khe mọc đầy cỏ cao hơn đầu người, tạo nên một địa hình tử thủ rất lý tưởng. Chính nhờ thế mà Hồng Diện Tôn Giả lúc ẩn lúc hiện cầm cự với đối phương từ trưa hôm qua đến giờ! Ông đánh không lại nhưng chẳng thèm bỏ chạy, lợi dụng địa thế mà bởn cợt Đài Loan Tứ Ngư Ông! Thỉnh thoảng Tôn Giả ló ra tập kích vài đòn rồi biến mất trong bụi rậm khiến đôi phương tức điên lên được!

Đến nơi Thúy Sơn cao giọng gọi :

- Sư phụ! Có đồ nhi đến tiếp ứng đây !

Hoàng lão mừng rỡ xuất hiện đứng trên tảng đá cao nhất cười ha hả :

- Hay lắm! Có các ngươi hợp lực lão phu sẽ vặt lông bốn lão ngư phủ mạt hạng của đảo Đài Loan !

Tứ Ngư Ông giận dữ gầm vang, lao vút đến vây chặt Tôn Giả, bốn chiếc cần câu thép dài nửa trượng vun vút xé không gian, chiêu thức vừa hiểm độc vừa mãnh liệt phi thường! Cần câu là vũ khí độc môn, phép đánh rất quái dị, pha trộn giữa cương tiên, nhuyễn tiên và câu liêm, vì đầu cần có một đoạn dây tơ bện dài ba gang, mang móc câu cực kỳ sắc nhọn. Thân cần câu lớn bằng ngón tay cái, thực chất là một bó sợi thép nên rất dẻo, uốn lượn linh hoạt và nó chính thị khắc tinh của công phu Thiết Tu Thân Quyền. Tay áo lụa của Hồng Diện Tôn Giả không sợ đao kiếm nhưng lại bị bốn lưỡi câu nhọn hoắc xé rách tơi tả, mất cả uy lực!

Tuy nhiên, với công phu quyền cước cao siêu, Hoàng lão chẳng dễ gì thảm bại ngay! Thúy Sơn lập tức tung mình lướt đến nhập cuộc, vung kiếm tấn công hậu tâm một lão ngư ông. Tất nhiên lão ta quay lại đối phó, đánh cho nàng xấc bấc xang bang Thúy Sơn buồn rầu vì sự thất tung bí ẩn của Nhương Thư nên bỏ bê việc luyên công, luyện kiếm, bản lãnh kém sút hơn trước một bậc. Nay gặp tay cao thủ lão thành sử dụng vũ khí đặc dị, bảo sao nàng không thất thê? Thúy Sơn cắn răng múa tít bảo kiếm, thủ nhiều hơn công!

Dưới này, bọn Bất Trí Thư Sinh đã xông vào đánh với Ngoạ Long Tú Sĩ và mười lăm gã đao thủ Sơn Hải Bang. Bọn này đều là hải tặc thiện chiến chốn biển Đông, được chân truyền pho Kỵ Ba Đao Pháp nên bản lãnh cực kỳ lợi hại. Chúng lại đông hơn nên chiếm ưu thế, khiến Lô Châu Ngũ Tặc la oai oái vì tức giận. Chỉ mình Thiết Kình Ngư Tào Ưng là kha khá, mộ mình chống đỡ ba tên mà vẫn không lúng túng. Nhờ Nhương Thư tận tình chỉ điểm nên Tào Ưng đã đạt đến tinh túy của Kiếm Pháp Vương Ốc Sơn, sắp bước vào cảnh giới kiếm đạo.

Nhương Thư khờ khạo sự đời nhưng thiên bẩm võ học vô cùng sáng láng. Chàng dựa trên cơ sở Phật Đăng Kiếm Pháp mà bổ khuyết, nâng cao Vương Ốc Kiếm Pháp lên một bậc khiến trình độ kiếm thuật Tào Ưng tăng tiến phi thường. Khác hẳn Thúy Sơn, gã tiếc thương Nhương Thư bằng cách khổ luyện để sau này trút hận lên đầu Âu Dương Lăng! Gã cung chủ sạt nghiệp này đã chạy đến Thiểm Tây hợp sức cùng Báo Ứng Hội, củng cố thực lực chờ ngày tái xuất! Hiện nay, Âu Dương Lăng là người duy nhất học được Thần Quang Chưởng Pháp! Nếu gã có thêm vài chục năm công lực thì sẽ lợi hại chẳng thua gì Độc Biển Thước!

Giờ không có mặt Âu Dương Lăng, Tào Ưng đổ cơn giận dữ lên đầu bọn thủ hạ Sơn Hải Bang, sau khi thăm dò vài chục hiêu, liền ra tay đả thương một tên. Nhương Thư được xem là tay khoái kiếm số một võ lâm đương đại! Tào Ưng noi gương ấy mà rèn luyện đường kiếm cũng nhanh như gió. Gã nghiến răng tả cung hữu đột, kiếm ảnh dệt lưới sao công phá những màn đao quang lạnh lẽo, khí thế hừng hực khiến phe đối phương phải khiếp sợ. Phần Bất Trí Thư Sinh thì đọ kiếm với Ngoạ Long Tú Sĩ, hai lão này giỏi văn hơn võ, vừa đánh vừa so tài miệng lưỡi. Cao Trường Toàn nói :

- Này Lỗ Tú Sĩ! Ông đã chậm chân hơn lão phu một bước rồi! Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách đã được lão phu thỉnh về làm tướng tiên phong để giáng ma! Không chừng lát nữa chính ông sẽ phải chết dưới ttay Tần Nhật Phủ!

Ngoạ Long Tú Sĩ Lỗ Đăng Hân bối rối, chém liền bốn kiếm cười nhạt :

- Tốt lắm! Không thu phục được thì tiêu diệt! Lát nữa Đài Loan Tứ Ngư Ông sẽ có việc để làm!

Lỗ Tú Sĩ chợt biến sắc vì những tiếng gào ghê rợn của thủ hạ liên tiếp vang lên. Lão liếc về phía ấy, phát hiện một chàng kiếm sĩ áo đen đang phóng tay chém giết bang chúng Sơn Hải Bang, liền đoán đấy là Tần Nhật Phủ. Họ Tần di chuyển bằng một bộ pháp kỳ lạ, thân hình chập chờn như chia làm mấy bóng vậy và thanh trường kiếm trên tay gã loang loáng ánh dương quang, kiếm ảnh nối nhau thành những dải lụa bạc, bay chập chờn trong không gian, đáp xuống đâu là có người ngã quị.

Người chết thì an phận nên im ắng, nhưng kẻ thọ thương thì ồn ào kêu rên thảm thiết. Nạn nhân của Tần Nhật Phủ kẻ thì không toàn mạng, kẻ thì chỉ mất đi cánh tay cầm đao hoặc bị đâm thủng huyệt Khí Hải, vì vậy, họ la hét ỏm tỏi! Với trình độ kiếm thuật siêu phàm và thân pháp ảo diệu tuyệt luân, họ Tần mau chóng loại hết mười mấy gã hải tặc ra khỏi vòng chiến và ra khỏi giang hồ. Chúng không còn khả năng hành ác nữa. Nhưng Tào Ưng và Lô Châu Ngũ Tặc lại không thành toàn cho lòng nhân đạo của Tần Nhật Phủ, giết sạch nhưng kẻ bị thương kia !

Rồi họ nhảy vào khu loạn thạch tiếp ứng cho thầy trò Thúy Sơn. Phần Tần Nhật Phủ lao thẳng về phía Ngoạ Long Tú Sĩ, ánh mắc rực rỡ vẻ uy nghiêm, sắc mặt lạnh lẽo tựa sương đêm !

Bất Trí Thư Sinh mỉm cười :

- Lão phu hứa sẽ mai táng Lỗ túc hạ chu đáo! Xin vĩnh biệt.

Lão chém mạnh vài kiếm, lui lại nhường Ngoạ Long Tú Sĩ cho Tần Nhật Phủ. Đứng trước tử thần, Lỗ Đăng Hân nghe lạnh gáy, cố đem cơ trí giảo hoạt ra tìm sinh lộ. Lão bất ngờ quăng kiếm xuống đất, chắp tay sau lưng chờ đợi! Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách đến nơi, ngỡ ngàng nhìn lão già mặc trường bào thư sinh lam nhạt, đầu đội nón Khổng Minh, mặt sáng như trăng rằm, tay không vũ khí! Họ Tần cau mày hỏi Bất Trí Thư Sinh :

- Lão ta là ai vậy ?

Cao lão cười nhạt :

- Ngoạ Long Tú Sĩ Lỗ Đăng Hân đương kim quân sư của Sơn Hải Bang. Trước đây lão từng là quân sư cho Chính Khí Trang, rồi đến Tứ Phạn Thiên Cung, Thần Quang Giáo! Tóm lại. Lỗ Đăng Hân chuyên nghề thầy dùi cho các tổ chức tà ma !

Lỗ Tú Sĩ ung dung nói :

- Lão phu tuy không tấc sắt, nếu Tần thiếu hiệp chẳng sợ hậu thế chê cười thì cứ giết! Hân này chỉ giỏi văn tất không phải là địch thủ của Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách!

Lão khôn khéo mang cái danh anh hùng ra trói tay gã kiếm sĩ trẻ kia. Tuổi thanh niên mà tài cao thì thường kiêu ngạo, không chịu mang tiếng giết người dưới ngựa, tất sẽ mắc mưu! Bất Trí Thư Sinh cũng lo ngay ngáy, sợ Tần Nhật Phủ tha cho Tú Sĩ. Không ngờ, Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách lạnh lùng nói :

- Túc hạ tài cao học rộng, dám ví mình với Gia Cát Lượng mà lại đem tài ba ấy phục vụ tà ma, gây hại cho võ lâm còn nhiều hơn một cao thủ! Tuy nhiên tại hạ chẳng giết làm gì mà cắt lưỡi và chặt hai bàn tay thôi!

Ngoạ Long Tú Sĩ nghe đối phương tuyên án hồn vía lên mấy cố gỡ gạc :

- Làm thế còn tàn nhẫn hơn là giết chết! Thiếu hiệp không sợ mang tiếng bất nhân sao ?

Tần Nhật Phủ dựng ngược đôi lông mày kép quái dị, mặt ngời ngời chính khí chậm rãi nói :

- Ta thà mang tiếng tàn nhẫn chứ không thể lưu lại đại hoạ cho võ lâm!

Dứt lời, Tần Nhật Phủ lướt đến, kiếm quang lỗng lộng phong toả mọi đường tiến thoái của nạn nhân! Lỗ Tú Sĩ khiếp đảm thét đến lạ giọng :

- Khoan đã! Lão phu có điều muốn nói !

Kiếm quang tắt lịm, Tần Nhật Phủ dừng tay và bảo kiếm đã tra vào vỏ. Trình độ kiếm thuật siêu phàm ấy đã khiến Lỗ Đăng Hân nẩy ra chủ ý. Lão vòng tay vái và nói với giọng thê lương :

- Lão phu lâu này như ngựa ký trong nhà ga đánh xe, như bảo kiếm lẫn lộn với đồng nát, có tài mà chẳng đất dụng võ, nên lòng đau đáu không yên! Khi được Lã Tập Hiền mời ra khỏi lều tranh, lão phu vô cùng mừng rỡ tưởng gặp được Minh chúa, thoả chí bình sinh! Nào ngờ họ Lã lại là tay đại gian hùng khiến lão phu sa chân vào ma đạo, không sao thoát ra được nữa! Chút tâm sự xin được giải bày để thiếu hiệp được rõ, khai ân mở cho lão phu một cơ hội hồi đầu hướng thiện, mang sức tàn phù trì chính nghĩa. Lão phu xin đem thanh danh Tổ sư là Thiên Cơ Chân Nhân ra bảo chứng!

Tần Nhật Phủ nghe xong quay sang hỏi Bất Trí Thư Sinh :

- Ý Cao lão thế nào ?

Cao Trường Toàn vuốt râu trầm ngâm làm Lỗ Đăng Hân chột dạ. Thói thường, kẻ có tài thường hay đố kỵ nhau. Võ lâm thường vì hai lão là Khổng Minh và Phượng Sồ, kình địch ngang sức. Nay chắc gì Bất Trí Thư Sinh chịu để Ngoạ Long Tú Sĩ về với phe Bạch Đạo mà làm lu mờ vị trí của mình? Nhưng Cao Trường Toàn lại là bậc quân tử hiếm có, lượng rộng như Đông Hải. Ông nghiêm giọng đáp :

- Lỗ Tú Sĩ là bậc tài hoa quán thế, hơn hẵn lão phu. Nếu lão ta thực tâm hướng thiện thì đây là phúc của võ lâm! Tần thiếu hiệp hãy vì đại cục giang hồ mà thu nạp Ngoạ Long Tú Sĩ!

Lỗ Đăng Hân cảm kích đến nghẹn ngào vái Cao Trường Toàn thật sâu :

- Lòng dạ của túc hạ sáng hơn nhật nguyệt, Hân tôi chỉ là con đom đóm mà thôi!

Lão lại vái Tần Nhật Phủ :

- Chim khôn lựa cành mà đậu, lão phu nguyện suốt đời xả thân phù tá công tử, dẫu thác cũng không đổi dạ !

Tần Nhật Phủ chỉnh sắc :

- Tại hạ chẳng hề nuôi ảo mộng tranh bá vương đồ, tiên sinh cứ đem tài ra phục vụ võ lâm là đủ !

Lỗ Tú Sĩ vội đáp :

- Công tử dạy chí phải! Lão phu xin tuân mệnh !

Lúc này Đài Loan Tứ Ngư Ông thấy nguy đã phá vây bỏ chạy, bọn Hồng Diện Tôn Giả kéo xuống, ngỡ ngàng khi thấy Ngoạ Long Tú Sĩ đang vui vẻ chuyện trò với Bất Trí Thư Sinh. Nghe Cao lão kể lại nguồn cơn mọi người mừng rỡ chào hỏi Lỗ Tú Sĩ rất chân thành. Hồng Diện Tôn Giả cười ha hả :

- Này Lỗ hiền diệt! Cái tội trợ trụ vi ác đáng ra phải đánh đòn đấy! Nể mặt sư phụ ngươi, lão phu chỉ phạt mười vò rượu thôi !

Bỗng lão quay sang nạt Tần Nhật Phủ :

- Tiểu tử hôi hàm kia! Vì sao ngươi lại bỏ trốn, không tiếp tục đồng hành với lão phu nữa?

Họ Tần còn đang ngơ ngác thì có tiếng ả Thế Lan xen vào :

- Bẩm tiền bối! Chuyết phu phải đi đón tiện nữ không thể tháp tùng tiền bối được !

Tôn Giả há hốc miệng nhìn nữ lang da rám nắng, tóc bới cụng về kia rồi lẩm bẩm :

- Ngươi là vợ của y đấy sao ?

*

* *

Gần cuối tháng năm, đoàn người về đến Tổng Đàn Cái Bang ở Lạc Dương. Cả Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách lẫn Ngoạ Long Tú Sĩ đều được các chưởng môn đón tiếp rất trọng vọng. Một người là cao thủ kiệt xuất, còn người kia nổi tiếng đa mưu túc trí, bảo sao Hội đồng võ lâm không mừng? Họ chỉ thất vọng về việc không sao xác định được Tần Nhật Phủ có phải là Nhương Thư hay không? Trưa hôm sau, Vô Ưu Cái triệu tập cuộc họp nội bộ, bàn bạc việc giáng ma. Ông rầu rĩ thông báo :

- Lão phu đã nhận được tin của Dạ Quân tử, xác định rõ sự phản bội của Nghiên Tái Thuần. Gã tiểu quỉ ấy đã bái Âm Sơn Lão Tổ làm sư phụ, nhờ giỏi nghề nịnh hót nên được Lương Dã Toàn yêu mến. Truyền thụ tâm pháp và ban cho ba hạt Thiên Niên Tuyết Sâm. Cộng với công phu Thái Bổ, công lực Tái Thuần tăng tiến rất nhanh, vượt ngoài lẽ thường tình.

Lão chợt dừng lời rồi nhìn vào mặt Tần Nhật Phủ, buông từng tiếng nặng nề :

- Hiện nay, Quách Tàn Bôi đã bị giam vào mật lao, do không chịu quy phục Âm Sơn Giáo!

Nhưng Tần Nhật Phủ vẫn thản nhiên, chẳng hề biểu lộ chút cảm xúc nào, bởi không biết Dạ Quân tử là ai?

Thúy Sơn buồn bã sa lệ :

- Tội nghiệp cho Quách đại ca !

Bất Trí Thư Sinh cố nén nhục nhã, cắn răng hỏi lại :

- Hầu đại ca! Còn kế hoạch Bạch Duật Tương Trì của tiểu đệ có kết quả gì không?

Vô Ưu Cái cười nhạt :

- Thư thách đấu giả danh Kỵ Ba Thần Quân đã gởi đến Cô Độc Bảo, song chính Nghiên Tái Thuần đã ngăn cản Âm Sơn Lão Tổ đi phó ước!

Cao lão uất ức than :

- Lão phu chỉ có cách chết để tạ tôi với võ lâm mà thôi !

Ngoạ Long Tú Sĩ ngồi kế bên, vỗ vai thư sinh rồi tủm tỉm nói :

- Cao hiền đệ yên tâm! Ta sẽ giúp cho kế ấy thành công mĩ mãn !

Rồi Lỗ Tú Sĩ vòng tay nói với cử toạ :

- Bẩm chư vị chưởng môn! Việc lão phu hồi đầu hướng thiện vẫn còn là bí mật. Do vậy, khi lão phu xuất hiện với cương vị quân sư Sơn Hải Bang thì Lão Tổ sẽ tin ngay! Song theo thiển ý của lão phu, gởi thư khiêu chiến không bằng chọc cho Lương Dã Toàn tức điên lên, kéo quân tiến đánh Sơn Hải Bang!

Cả nhà ồ lên thán phục. Nhưng Tú Sĩ không nói tiếp mà cười bảo Bất Trí Thư Sinh:

- Lão phu xin đặt mình dưới sự bày binh bố trận của Cao hiền đê !

Đây là cử chỉ tốt đẹp, đền đáp lại tấm lòng quân tử của Bất Trí Thư Sinh! Lão không rộng lượng thì Lỗ Tú Sĩ đã bị Tần Nhật Phủ chặt tay cắt lưỡi rồi !

Cao Trường Toàn cảm động , hắng giọng bàn :

- Quả thực là sự hiện diện của Lỗ Tú Sĩ là một lợi thế cho chúng ta thi hành kế Di Hoạ Giang Đông. Lỗ lão ca sẽ thống lãnh một toán cao thủ, giả làm người của Sơn Hải Bang bắt cóc cháu nội bảo bối của Âm Sơn Lão Tổ, tất sẽ khiến lão nổi điên khởi binh đánh Tế Nam để cứu về. Chúng ta biết mật đạo ra vào Cô Độc Bảo nên hành sự không thể thất bại được!

Mọi người đều khen hay nhưng Vô Ưu Cái lại xua tay :

- Kế này chưa đủ! Song tạm gác để lão phu hỏi chuyện hai vị khách quí cái đã !

Hầu Mộ Thiên tuy không nổi danh mưu mẹo song lại chính là kẻ đại trí tuệ, một tay chèo chống võ lâm. Cẩn trọng nhưng quyết sách rất đúng đắn. Chính Bất Trí Thư Sinh cũng phải khâm phục họ Hầu sát đất !

Hầu Bang Chủ nghiêm giọng hỏi Tần Nhật Phủ :

- Lão phu nghe Cao lão đệ kể lại rằng Tần thiếu hiệp muốn làm Minh Chủ võ lâm?

Họ Tần hờ hững đáp :

- Tại hạ đã đổi ý! Làm cũng tốt mà không làm cũng chẳng sao! Thực ra tại hạ chẳng đủ tài thao lược để lo cho đại cục võ lâm!

Vô Ưu Cái cố nén kinh ngạc hỏi tiếp :

- Vậy thiếu hiệp có nguyện xả thân vì chính nghĩa hay không, dù chẳng được lợi lộc gì ?

Tần Nhật Phủ gật đầu :

- Tại hạ sẵn sàng, song không tin lại có người giết được mình!

Khẩu khí cao ngạo ấy đã khiến toàn trường chán ghét. Nhưng họ Tần lại thản nhiên nói thêm :

- Tại hạ chạy nhanh lắm !

Ác cảm biến mất ngay, các trưởng môn mỉm cười thích thú, nhìn nhau gật gù !

Thông Thiên Đạo Trưởng vui vẻ hỏi :

- Tần thí chủ xuất thân từ cửa nào mà lại thuộc lòng câu Tiên Bảo Kỳ Thân như thế?

Tần Nhật Phủ đáp gỏn lọn :

- Gia học !

Hồng Diện Tôn Giả cười khà khà thú nhận :

- Chư vị biết không, y đã từng thủ hoà với lão phu đấy !

Đúng lúc ấy, một gã khất cái bước vào, tất tả đi về phía Vô Ưu Cái như muốn báo một tin quang trọng. Do không có tiệc tùng nên người dự họp ngồi thành hình móng ngựa, trước mặt có kỹ trà nhỏ, Vô Ưu Cái là chủ nhân nên ngồi ở vị trí đỉnh của móng ngựa, quay mặt ra cửa sảnh. Hai bên tả hữu của lão dành cho tân khách là chưởng môn Thiếu Lâm Tự, Võ Đang. Gã khất cái kia bước đến trước mặt Vô Ưu Cái, cách chừng nửa trượng vòng tay nói :

- Cung bẩm Bang Chủ! Có thư từ Sơn Đông gởi về !

Nói xong, gã thọc tay vào ngực áo để lấy, nhưng không phải thư mà chính là ống đồng dài độ gang tay. Trong chớp mắt, các chưởng môn nhận ra ngay vũ khí trấn sơn của Đường Gia Tứ Xuyên. Họ kinh hãi thét lên trong tuyệt vọng vì khoảng cách quá gần và bởi chẳng ai có tất sắt nào trong tay cả! Trong khoảng khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy, chợt vang lên những âm thanh là lạ, tựa trường tiễn xé không gian và tên gian tặc kia rú lên thảm khốc, buông rơi hỏa khí, ôm ngực ngã quị ! Hồng Diện Tôn Giả cao niên nhất, kiến văn rộng rãi, sửng sốt kêu lên :

- Lục Mạch Thần Chỉ !

Vô Ưu Cái thì quay sang vòng tay nói với Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách :

- Đa tạ thiếu hiệp đã cứu mạng lão phu !

Lúc này cử toạ mới biết kẻ cuất thủ là Tần Nhật Phủ, nhìn chàng bằng ánh mắt ngưỡng mộ! Khánh Hỉ Đại Sư, phương trượng chùa Thiếu Lâm Tự chắp tay :

- A Di Đà Phật! Lão nạp cũng là người chịu ơn Tần thí chủ! Phạm vi sát thương của Hoả Châm Đồng rất rộng, cả lão nạp và Thông Thiên đạo huynh đây cũng khó thoát chết!

Chưởng môn phái Võ Đang mỉm cười nói đùa :

- Tần thí chủ làm mất cơ hội thăng thiên của bần đạo rồi.

Tần Nhật Phủ gật gù :

- Vật kia lợi hại đến thế ư ?

Bọn hoá tử canh gác Tổng Đàn nghe động chạy vào, nhìn thấy xác chết và hung khí, tái mặt quì xuống nhận tội! Vô Ưu Cái đã kiểm tra dung mạo của tử thi, biết chắc đấy là một trong những thủ hạ thân tín của mình, liền thở dài :

- Tại sao Trương Hồng lại bội phản Cái Bang nhỉ ?

Ông ra lệnh cho đám khất cái đem xác đi chôn và dọn dẹp máu me.

Chờ Hầu Mộ Thiên an toạ. Ngoạ Long Tú Sĩ mới lên tiếng :

- Bẩm chư vị chưởng môn! Gã họ Trương kia đã trúng phải Nhiếp Hồn Công của Kỵ Ba Thần Quân, chẳng còn làm chủ được mình nữa! Tà thuật này lợi hại ở chỗ có thể biến bất cứ ai thành phản đồ! Xem ra Kỵ Ba Thần Quân đã khởi đầu cuộc chiến bằng cách ám sát các chưởng môn trong hội đồng võ lâm! Lão ta lại có ám khí tuyệt độc của Đường Môn, thật khó đối phó!

Ai nấy rùng mình khi nghĩ đến cảnh phải đề phòng cả những người thân nhất của mình! Phổ Chứng Thiền Sư chưởng môn phái Nga Mi, buồn rầu hỏi :

- Chẳng lẽ không có cách nào để sớm phát hiện ra những kẻ trúng tà pháp hay sao?

Lỗ Tú Sĩ cung kính đáp :

- Bẩm thiền sư! Lão phu may mắn biết được bí mật của công phu này! Nhiếp Hồn Pháp xuất xứ từ Thiên Trúc, còn gọi là thuật thôi miên. Khi Kỵ Ba Thần Quân và các đệ tử chân truyền, bắt được ai liền ru họ ngủ rồi thi triển tà pháp, ra lệnh cho họ hành động. Nạn nhân được thả ra, không nhớ gì cả, thản nhiên trở về, nhưng đúng thời khắc là thi hành lệnh đã nhận. Lúc ấy, nếu chú tâm quan sát, chúng ta sẽ thấy mặt họ hơi dại đi, thường nhìn đăm đăm ít chớp. Còn như muốn phòng xa, chúng ta kiểm tra đệ tử bằng cách bấm nhẹ vào mi tâm, nếu y nhăn mặt đau đớn thì đúng là kẻ trúng tà !

Mọi người mừng rỡ vì đã có cách đôi phó, hết lời khen gợi Tú Sĩ, Vô Ưu Cái chẳng khen chê, nghiêm giọng hỏi :

- Lỗ lão đệ có biết lập trường của Kỵ Ba Thần Quân đối với Âm Sơn Lão Tổ hay không ?

Lỗ Đăng Hân vội đáp :

- Bẩm Hầu Bang Chủ! Kỵ Ba Thần Quân là tay gian hùng cái thế, định liên thủ với Lương lão quỉ để khuynh đảo võ lâm, sau khi thành công mới tiêu diệt !

Vô Ưu Cái gật gù :

- Đúng vậy! Sáu ngày trước hai lão đại ác ma ấy đã bí mật gặp nhau ở Tế Châu, thắp hương thề thốt, nguyện chia đôi thiên hạ!

Tin này như sét đánh ngang tai khiến mọi người rầu rỉ. Bất Trí Thư Sinh thở dài :

- Bây giờ tiểu đệ đã hiểu vì sao kế Di Hoạ Giang Đông không dùng được! Chúng ta phải tiên hạ thủ vi cường, hội quân tấn công Cô Độc Bảo ngay mới được!

Vô Ưu Cái an ủi Thư Sinh :

- Thực ra kế ấy không hoàn toàn vô dụng! Sự hiện diện của Ngoạ Long Tú Sĩ và một toán cao thủ mặc áo Sơn Hải Bang sẽ khiến Lương Dã Toàn hoang mang, nếu chạy thoát cũng không dám đến Tế Nam hợp lực với Thần Quân !

*

* *

Xế chiều, Vô Ưu Cái cho gọi riêng Bất Trí Thư Sinh và Ngoạ Long Tú Sĩ đến thư phòng. Ông nghiêm giọng :

- Này Lỗ lão đệ! Ông là người đa mưu túc trí. Hãy thử giải dùm lão phu nan đề này!

Sau đó, Hầu Mộ Thiên kể rõ việc thất tung của Nhương Thư, cũng như mối nghi ngờ về Tần Nhật Phủ. Cao Trường Toàn cũng tường trình thêm những thái độ kỳ lạ của Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách. Cao lão kết luận :

- Tính cách của Tần Nhật Phủ rất phức tạp, thay đổi bất ngờ, cứ như một cục bột nhão được người thợ nắn sao ra vậy! Và dường như người thợ kia có ý biến Tần Nhật Phủ thành một bậc anh hùng toàn mĩ, thấy sai sót là bổ khuyết ngay! Phong thái hiện nay có thể được xem là hoàn thiện, trang nghiêm nhưng không kiêu ngạo, thân ái mà ít lời, khiến chúng ta không thể dọ hỏi được gì !

Lỗ Tú Sĩ vuốt râu tư lự :

- Xem ra người thợ bánh kia chính thị Ải Thần Quân hoặc hậu duệ của lão là Thế Lan! Song chúng ta không biết rõ mục đích của đối phương về sự hoá thân của Nhương Thư thì thật khó xác định vì Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách không có dấu vết hoá trang! Chẳng lẽ trên đời lại có kẻ đủ tài đoạt quyền tạo hoá, cắt da đắp thịt, sửa đổi mặt người hay sao? Tuy nhiên, chúng ta vẫn không thể loại trừ trường hợp ấy, sau này sẽ tìm cách đánh thuốc mê Tần Nhật Phủ để khám nghiệm thật kỹ lại! Thứ hai, chúng ta phải cho người theo dõi Tần Thế Lan, ả chính là đầu mối của sự việc !

Vô Ưu Cái gật đầu :

- Lỗ lão đệ nói chid phải, chúng ta cứ thế mà làm !

Hầu Bang Chủ hỏi han nội tình Sơn Hải Bang được Ngoạ Long Tú Sĩ trình bày cặn kẽ, không giấu giếm. Nghe xong, ông rùng mình :

- Không ngờ thực lực và thủ đoạn của Kỵ Ba Thần Quân lại ghê gớm đến thế! Xem ra chúng ta phải thay đổi chiến lược mới xong! Phần Lỗ lão đệ phải tuyệt đối giữ kín hành tung, không để ai biết người đã hồi đầu! Có như thế chúng ta mới mong chiếm thượng phong !

Lỗ Tú Sĩ mỉm cười :

- Tiểu đệ đã nghĩ đến điều ấy nên cẩn thận cải trang ngày từ lúc rời đồi Long Bối. Hơn nữa, Đài Loan Tứ Ngư Ông cứ tưởng tiểu đệ đã chết rôi !

Trong binh pháp có câu : Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng! Ngoạ Long Tú Sĩ từng là quân sư Sơn Hải Bang, nắm rõ mọi bí mật về chiến lược, chiến thuật của Kỵ Ba Thần Quân. Nếu để Thần Quân biết ông đã về phe Bạch Đạo, tất lão sẽ thay đổi phương thức hành động! Tối đến, Vô Ưu Cái thương lượng lần chót với Hội đồng võ lâm, quyết định kế sách tốt nhất, rồi mời cả nhà họp lại. Ông hỏi Tần Nhật Phủ :

- Với tuyệt học Lục Mạch Thần Chỉ, Tần thiếu hiệp có tự tin thắng nổi một cao thủ trăm năm công lực như Âm Sơn Lão Tổ hoặc Kỵ Ba Thần Quân hay không? Nếu thiếu hiệp trả lời là có thì Hội đồng võ lâm tổ chức đại hội bầu Minh chủ. Lúc thượng đài, thiếu hiệp sẽ có cơ hội trừ hại cho thiên hạ !

Tần Nhật Phủ còn đang phân vân vì không rõ bản lãnh của hai người kia thế nào, thì Ải Thần Quân, tức cô vợ giả của chàng cắn câu ngay! Thư nhất là do lòng tự tôn, cho rằng Lục Mạch Thần Chỉ và Huyền Không Kiếm Pháp đứng đầu vũ nội. Thứ hai, Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách mà lên làm Minh chủ thì lão có chết cũng mãn nguyện!

Khuyết tật bẩm sinh đã trở thành nỗi ám ảnh suốt đời khiến Thần Quân không sao đắc đạo được!

Do vậy lão thì thầm khuyến khích hoá thân!

- Biểu ca chớ đắn đo làm gì! Chỉ pháp họ Tần nhà ta vô địch thiên hạ! Dẩu đối phương có công lực cao hơn cũng không tránh nổi! Biểu ca mà từ chôi thì còn gì là khí phách của bậc anh hùng nữa!

Thấy Thế Lan là gái mà hào khí cao vân như vậy, Tần Nhật Phủ chẳng chịu kém, quả quyết đáp:

- Tại hạ xin tận lực, dẩu có bỏ mạng cũng cố tận lực cho võ lâm!

Vô Ưu Cái mỉn cười bí ẩn:

- Không nhất thiết phải liều mạng. Thiếu hiệp chỉ cần lấy được ít máu của hai lão ấy là xem như đã hoàn thành nhiệm vụ!

Tuy không hiểu nhưng quen thói ít lời nên Tần Nhật Phủ chẳng hỏi thêm.

Bất Trí Thư Sinh lên tiếng:

- Thực ra đây chỉ là kế hoản binh và ly gián hai phe Âm Sơn Giáo, Sơn Hải Bang! Ngôi minh chủ sẽ khiến hai lão đại ma đầu trở mặt với nhau, tạo điều kiện cho chúng ta tiêu diệt họ! Theo quy củ võ lâm, từ ngày phát thiếp đến khi cử hành ít nhất là ba tháng. Trong thời gian này, chúng ta sẽ âm thầm hàng sự sói mòn lực lượng tà ma!

Thông Thiện Chân Nhân rất mến Nhật Phủ, có lẽ vì ơn cứu mạng, liền hoà ái dận dò:

- Này Tần thí chủ! Cái ác như cỏ dại, nối nhau xuất hiện, cho nên bậc hiệp sĩ phải giữ mình để trường kỳ tịch tà cự bí. Mong thí chủ ngày đêm khổ luyện để nắm chắc phần thắng lợi!

Vô Ưu Cái tiếp lời Chân Nhân:

-Mờ sáng, hiền khang lệ và Ngoạ Long Tú Sĩ sẽ chuyển sang một nơi khác để bảo toàn bí mật. Chổ ấy kín đáo, rộng rãi, rất thích hợp cho việc luyện võ!

Tần Nhật Phủ vòng tay:

- Tại hạ xin theo sự sắp xếp của Bang Chủ!

Trời chưa rõ mặt người, ba vị khách quý đã đến cơ sở mật, tức là dược đường của Tạ Thần Y, Thúy Sơn cũng đi theo, tiếp tục bầu bạn với ba cô gái họ Điền. Ải Thần Quân thấy ba cô con dâu mất trí, mà lòng vô cùng bất nhẩn, quyết chửa trị cho họ. Nhưng bản tính tinh nghịch đã khiến ông nảy ra một trò đùa quái ác.

Sau khi điều tra rõ địa hình, địa vật, Thần Quân tiến hàng kế hoạch táo bạo và kỳ khôi của mình!

Nữa đêm mùng bốn tháng sáu, Tần Nhật Phủ đột nhiên trổi dậy, lướt di êm ái như bóng oan hồn, tìm đến phòng Điền Mã Lan.

Ba bệnh nhân này chiếm ba phòng nhỏ liền nhau, phòng thớ tư cùng dãy thuộc về Thúy Sơn. Hằng đêm khi nghe tiếng ai la hét, hoặc khóc lóc tức tưởi là Thúy Sơnchạy sang vổ về, an ủi rắng Tần Nhương Thư đi xa chưa kịp về đến.

Do vậy, cửa phòng của các bệnh nhân chỉ khép hờ chứ không cài then bên trong. Tần Nhật Phủ vào phòng dể dàng, lên giường ôm lấy Mã Lan và thì thầm:

- Lan muội! Ta đây!

Giọng nói trầm ấm, quen thuộc kia đãkhiến cô gái điên vui mừng khôn xiết, muốn khóc lóc, muốn nói những lời yêu thương mà không hiểu sao lại bất lực? Nàng chỉ còn cách nồng nhiệt đáp ứng những cử chỉ vr vuốt đầy khao khát của trượng phu. Nhương Thư như người chồng xa vợ lâu ngày, không kềm hảm nổi lữa tình, say đắm gầy cuộc ái ân:

Thân hình nẩy nở của Mã Lan giờ đây gầy hơn trước nhưng tình yêu trong nàng chẳng hề suy giãm. Nàng liên tiếp rùng mình dâng hiến, nước mắt nhạt nhoà thay cho những âm thanh hoan lạc. Hết hiệp, Nhương Thư bất ngờ điễm huyệt ngủ ái thê, mặc y phục cho nàng rồi trở về phòng mình.

Sáng ra, Mã Lan chỉ nhớ lại lơ mơ cuộc mây mưa, vừa khóc, vừa cười kể cho hai em nghe, Thúy Sơntủm tỉm bảo:

- Lan Muội nằm mơ đấy!

Những ngày sau đó, Nhương Thư bị phép Di Hồn điều khiển, thỉnh thoảng biếng thăm các nàng, ân ái rồi lại đi. Người khổ sở nhất là Ải Thần Quân, lãp phải luôn đim trước dọn đường, dùng Lục Mạch Thần Chỉ điễm huyệt bất cứ ai cản trở, kể cả Thúy Sơn.

Thần Quân không hề ăn được kỳ trân nhưng kiên nhẩn rèn luyện từ nhỏ, chẳng hề gián đoạn, nên hiện sở hữu đến tám mươi năm tu vi. Ông học pho thần chỉ hai mươi năm nên thủ pháp cực kỳ chính xác, khéo léo khiến nạn nhân thiếp đi vừa đủ thời gian, lúc tỉnh lại chỉ nhớ mình ngủ gật.

Mặt khác, Thần Quân âm thầm trút đồn công lực cho chàng, sau một tháng, Nhương Thư đã có thêm mười năm chân khí. Đây là giới hạn tối đa của sự san sẻ công lực, vượt qua sẽ rất nguy hiễm:

Một chiều đầu tháng bảy, Ải Thần Quân bổng nghe văng vẳng tiếng Tạ Thần Y ngâm nga:

Nhật mộ hương quang hà xứ thị

Yên ba nhân thượng sử nhân sầu !

Hai câu cuối trong bài thơ Hoàng Hạc Lâu đã khiến Thần Quân chạnh lòng nhớ đến cố hương, quyết định về Sơn Tây tảo mộ song thân! Song không để tâm huyết của mình bị uổng phí, Thần Quân tìm cách rút lui an toàn. Cơ hội của ông chính là những cuộc đàm đạo của Thúy Sơn và Tần Nhật Phủ. Nàng ta được lệnh dò xét họ Tần nên thường xuyến tiếp xúc hỏi han. Trưa ngày thất tịch, mùng bảy tháng bảy, Tạ gia trang bày tiểu yến, có mời cả Hồng Diện Tôn Giả, Vô Ưu Cái và Bất Trí Thư Sinh. Tình cờ, Thúy Sơn lại ngồi mé hữu Nhương Thư còn Thần Quân mé tả.

Sau tiệc rượu là thời điêm uống trà, Thần Quân giả vờ đứng lên đi vệ sinh, lúc trở ra đứng phía sau thi triển Di Hồn Đại Pháp làm cho Nhương Thư và Thúy Sơn đồng thời quay mặt, ngã đầu về phía sau như muốn nói nhỏ điều gì đó. Kết quả là môi chàng chạm gò má nàng, cứ như tặng một nụ hôn vậy!

Cả nhà sửng sốt đến ngây người, còn Thần quân, tức Thế Lan chửi bới, khóc lóc thảm thiết, tuyên bố từ hôn, không nhận kẻ lăng nhăn như Tần Nhật Phủ làm chồng nữa. Họ Tần hoang mang, lòng vô cùng hổ thẹn, để mặc Thế Lan cuốn gói về quê. Phần Thúy Sơn cũng bối rối chẳng kém, run rẩy thề thốt rằng mình chẳng hề tình ý gì với Tần Nhật Phủ, việc lúc nãy chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi! Nàng định nói với Tần Nhật Phủ đìêu gì đó, không ngờ gã cũng vậy !

Tần Nhật Phủ cũng ấp úng giải thích đúng như thế, nhưng giá mà có ai hỏi họ định nóii điều gì thì quả thực là hai người không biết! Hiểu rõ nhân cách, tính tình của Thúy Sơn, chẳng ai trách mắng nàng. Hơn nữa, giả như song phương phải lòng nhau thì thiếu gì chỗ để âu yếm, sao lại phải hành động sơ xuất ngay chỗ này?

Hồng Diện Tôn Giả xua tay :

- Sơn nhi đừng khóc nữa, hãy bỏ qua chuyện vớ vẫn ấy đi!

Vô Ưu Cái ái ngại hỏi Nhật Phủ :

- Sao thiếu hiệp không cố giữ Tần phu nhân lại ?

Nhật Phủ thở dài :

- Hôn nhân không có tình yêu trước sau cũng tan vỡ, níu kéo làm gì nửa? Nếu Thế Lan thực lòng yêu thương tại hạ tất phải hiểu và tin tưởng đâu chửi mắng rồi bỏ đi?

Tào Ưng khoái chí vỗ đùi :

- Tần lão đệ nói hay lắm! Tài mạo như ngươi lo gì không lấy được vài cô vợ đẹp ?
Đăng nhập để trả lời
0
Tần Nhương Thư

Ưu Đàm Hoa

Hồi thứ mười bốn

VONG LINH QUY ÂM SƠN ĐỊA

MỘC XÁ XUÂN TÌNH THỨC MỘNG NHÂN!



Hôm sau, bọn Vô Ưu Cái lại được gọi gấp sang Tạ Gia Trang, Triều Châu Tạ Thần Y tiếp họ với sắc diện vô cùng kỳ quái. Ông chậm rải nói:

- Lão phu xin báo cho chư vị hai việc rất quan trọng. Thứ nhất ba cô gái họ Điền đã hoàn toàn khỏi bệnh!

Vô Ưu Cái mừng rỡ:

- Tạ ơn hoàng thiên! Có thế lão phu mới không hổ thẹn với Tần hiền đệ! À, còn tin thứ hai?

Tạ Thần Y nhăn mặt thở dài:

- Sáng nay khi thăm mạch, lão phu phát hiện họ đều đã cấn thai!

Đất trời đảo lộn, vũ trụ quay cuồng, cả nhà kinh hải ồ lên, mặt tái xanh như tàu lá.

Hồng Diện Tôn Giả ngp ngác:

- Trời đất! Chẳng lẽ là Tần Nhật Phủ!

Ngoạ Long Tú Sĩ nghiêm giọng:

- Thế ba vị tiểu thư kia giải thích thế nào? Họ có nhớ được gì không?

Tạ Thần Y rầu rỉ đáp:

- Họ vui vẻ khẳng định rằng trong tháng vừa qua, Nhương Thư thường ghé về thăm họ, phu thê mặn nồng, tất phải có kết quả! Lão phu cố nói cho họ hiểu Nhương Thư đã chết sau khi giết Độc Biển Thước ở Tứ Phạn Thiên Cung, thì họ khóc và cho rằng chồng hiện hồn về!

Thúy Sơn cũng áy náy xác nhận:

- Quả đúng vậy, ngay từ đầu tháng sáu, ba người ấy đã luôn miệng kể về những giấc mơ tương hội với Nhương Thư.

Vô Ưu Cái trợn mắt cười nhạt:

- Lão phu không tin có ma! Cho gọi Tần Nhật Phủ lên đây! Chỉ có mình gã ta mới có đủ bản lãnh qua mắt Thúy Sơn và lực lượng tuần tra nghiêm ngặt ở chốn này! người

Tào Ưng hăm hở:

- Để tại hạ đi cho!

Lát sau, Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách lên đến, gương mặt anh tuấn và đoan chính kia chẳng một nét lo âu!

Vô Ưu Cái bổng ngần ngại, lựa lời mà nói cho khéo! Ông kể sơ sự việc rồi hỏi:

- Tần thiếu hiệp! Lão phu rất tôn trọng nhân phẫm của thiếu hiệp. Song nơi đây, chẳng phải ai cũng đủ bản lãnh để ra vào! Do vậy lão phu mong thiếu hiệp hãy nói thật lòng, lão phu sẽ đứng ra tác thành cho thiếu hiệp và ba đứa em dâu quá bụa!

Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách lộ vẻ buồn rầu, nghiêm nghị đáp:

- Tại hạ từ lâu đã nghe truyền tụng về nhân cách và công trạng của Nhương Thư, lòng rất tôn kính, quyết noi theo gương ấy, lẽ nào lại dám mạo phạm đến thê thiếp của chàng ta? Hơn nữa, Tần mỗ lại hờ hửng với sác dục, cả Thế Lan là vị hôn thê mà vẩn chơa chạm đến!

Tào Ưng nói thẳng:

- Ngươi có dám thề không?

Họ Tần gật đầu:

- Phủ tôi mà có mạo phạm đến ba vị tiểu thư họ Điền thì xin chết thảm dưới lưởi buá của Lôi thần!

Bọn Hồng Diện Tôn Giả đều là tay cáo già lão luyện, cơ trí tinh minh nhận ra vẽ thành thật tuyệt đối của Tần Nhật Phủ, liền nhìn nhau thở dài. Vô Ưu Cái bèn tạ lổi với họ Tần, chàng mỉn cười lắc đầu rồi bỏ đi!

Ở đây, mấy lão hồ ly, vò đầu, bứt tóc, cố phân tích xem ai là hung thủ! Họ cho mới ba nạn nhân lên hỏi han, Uyển Xuân buồn bả đáp:

- Hầu đại ca không tin bọn tiểu muội sao? Phu thê đầu ấp tay gối đâu thể lầm được?

Từ hơi hướng cho đến cử chỉ đều đúng Tần tướng công, nếu không bọn tiểu muội đã kháng cự rồi!

Bạch Cúc thì phản ứng mạnh. dựng ngược đôi mày liểu:

- Hầu đại ca định gán tiếng bất trinh cho bọn tiểu muội hay sao? Đại ca không tin ma quỷ nhưng người khác thì có!

Hồng Diện Tôn Giả tức quá hỏi lại:

- Thế tại sao hồn Nhương Thư không về ân ái với Thúy Sơn?

Bạch Cúc nghe có lý nhưng vẩn đanh đá đáp.

- Có lẽ tướng công yêu bọn ta nhiều hơn!

Vô Ưu Cái hiểu rằng chẳng thà để họ nuôi ảo tưởng còn hơn đau khổ vì sự thực nên cười xoà:

- Thôi thôi, cả ba đều khẳng định như vậy thì chắc không thể sai! Lãp phu rất mừng vì Nhương Thư có người nối dõi!!

Ba thai phụ ngoe nguẩy bỏ đi. Ở đây Vô Ưu Cái than trời:

- Lão phu đến phát diên mất!

Bổng Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách lên đến, vai khoác bọc hành lý. Gã nghiêm nghị nói:

- Từ nay đến đại hội võ lâm còn hơn hai tháng, tại hạ ở đây không tiện, xin được cáo từ. Đúng nàgy rằm tháng chín, tại hạ sẽ có mặt để thượng đài!

Giữ mãi cũng không được, Vô Ưu Cái đành để Tần Nhật Phủ ra đi, sau khi dặn chàng đúng hẹn.

Họ Tần vừa rời sảnh, Bất Trí Thư Sinh bàn ngay:

- Nhật Phủ bản lành siêu phàm nhưng kém phần kinh nghiệm, chúng ta phải cho người theo hổ trợ mới được. Gã mà sa chân vào ma đạo là đại hoạ cho võ lâm!

Ngoạ Long Tú Sĩ tán thành :

- Cao hiền đệ nói chí phải! Theo ý lão phu, ta nên điều Dương Châu Thần Thâu Bạch Túc Nhiên bám theo Nhật Phủ! Chỉ họ Bạch mới làm được việc này!

Dương Châu Thần Thâu vừa đến Lạc Dương được mấy ngày trước.Họ Bạch được hội đồng võ lâm triệu tập để lãnh nhiệm vụ tiềm nhập Sơn Hải Bang, nhưng sự hồi đầu của Ngoạ Long Tú Sĩ đã khiến công tác ấy không cần thiết nữa!

Ngày xưa, thuyền và ngựa là phương tiện giao thông duy nhất, kỷ thuật làm cầu qua sông lớn chưa có, nên hành trình gặp nhiều trắc trở, khó xác định thời gian, bởi thế Tần Nhật Phủ định về Sơn Tây mà không dám sợ trể kỳ đại hội!

Thực ra tâm trạng họ Tần không hề bình yên như nét mặt. Chàng ta nhận ra rằng trong ký ức mình có những khoảng trống mơ hồ, mờ mịt tựa chiều sương: Đó là tuổi thơ, thời gian học võ, dung mạo người thân và phong cảnh quê nhà!

Trước đây, chàng luôn bị Ải Thần Quân bên cạnh khống chế, chỉ chuyên tâm rèn luyện võ nghệ để chuẩn bị cho đại hội, không suy nghĩ nhiều, song từ lúc rời Tạ Gia Trang, một mình một ngựa dong ruổi, chàng có nhiêu thời gian để tự vấn!

Tần Nhật Phủ không có định hướng, vô tình đi về hướng đông, đến chiều dừng chân nơi tiểu trấn. Đêm ấy, tỉnh toạ, hành công xong, chàng tiếp tục đào bới trí nhớ và tìm thấy một hình ảnh lạ lùng. Đấy là ba vòi nước suối phung rất mạnh, gần đấy có bia đá khắc ba chử Báo Đột Tuyền! Dường như chàng có đến nơi ấy cùng ba nữ nhân nữa, song không rõ dung mạo!

Nhật Phủ ngơ ngẩn vì chưa bao giờ du ngoạn Tế Nam cả! Chàng nhắm mắt mừơng tượng, rùng mình nhớ đến ba người vợ quá của Nhương Thư! Điền gia Trang quả đúng là ở rất gần suối Báo Đọt!

Phải chăng Tế Nam có vị trí rất quan trọng trong quá khứ của chàng?

Đêm ấy, Nhật Phủ tức Nhương Thư ngủ không yên giấc, đầu óc quay cuồng với nhữngnghi vấn. Chàng mơ màng nhìn thấy những hình ảnh lạ lùng: Gương mặt từ bi, nhân hậu của một nhà sư rất già, một thi thể phụ nhân loả lồ, đẫm máu, một hố sâu hun hút đen ngòm!

Những mảnh vụn của dĩ vãng này tuy nhỏ bé nhưng lại là kết quả của Nhiên Đăng Tâm Pháp. Chính Ải Thần Quân cũng không ngờ rằng pho nội công Phật môn kia có thể hoá giải tà pháp Di Hồn! Lão dạy chàng võ nghệ, nhưng không thể thay đổi đường lối vận khí nhiều năm quen thuộc? Song việc gì cũng có thời gian nên hiện tại Nhương Thưchưa thể quét sạch ngay màng u minh trong tâm thức!

Sáng ra, Nhương Thư soi bộ mặt phờ phạt vào chiếc gương đồng. Lòng đầy nghi hoặc và cảm thấy xa lạ, nhất là đôi lông mày kép quái dị kia!

Ải Thần Quân đã dùng một thứ thuốc thần kỳ vẻ lên, kích thích chân lông nơi ấy phát triển, sau nữa năm trở thành chân mày! Tất nhiên nhữngsợi lông mày ấy mảnh hơn, nhạt màu hơn hàng dưới, và không mọc lại khi bị cạo, nếu không bôi thêm thuốc!

Chẳng phải lão lột của mình mà khâu cho Nhương Thư vì cơ thể con người sẽ đào thải những vật xa lạ!

*

* *

Chúng ta, hãy tạm quên Nhương Thư , quay lại Tạ Gia Trang ở Lạc Dương.

Tuy tin lời Tần Nhật Phủ song Vô Ưu Cái chẳng cam tâm bỏ qua việc tìm kiếm kẻ đã làm cho ba cô em dâu của mình phưỡn bụng!

Ông âm thầm triệu tập toàn bộ toán cao thủ bảo vệ Tạ Gia Trang, về Tổng đà Cái Bang để tra hỏi, tránh không để ba ả họ Điền biết được!

Bọn đệ tử Cái Bang tuyệt đối trung thành nên thực thà kể lại rằng trong tháng qua mình đã nhiều lần ngũ gục! Thúy Sơn cũng thú nhận rằng kình ngũ rất ngon!

Ngoạ Long Tú Sĩ cho vẽ lại vị trí canh gác của từng người, phát hiện những kẽ ấy nồi thành một đường , đi từ khu phòng của Tần Nhật Phủ đến khuê phòng của bọn Mã Lan !

Hồng Diện Tôn Giả phẩn nộ gầm lên:

- Khốn nạn thực! Chúng ta bị tiểu tử họ Tần lừa rồi! Hèn gì gã vôi vã rời Lạc Dương ngay!

Chứng cớ đã rành rành, song Vô Ưu Cái vẩn thận trọng phân tích:

- Cứ cho rằn Tần Nhật Phủ là thủ phạm, thì gã phải giỏi thuật nhiếp hồn mới khiến ba nàng kia tưởng mình là Nhương Thư ! Vậy ví sao gã lại cứu họ thoát khỏi tà pháp của Kỵ Ba Thần Quân ? Tạ Thần Y đã khẳng định rằng thuật châm cứu và thuốc thanh chỉ thành công hoàn toàn sau ít nhất hai năm điều trị!Và lão phu không tin một tên dâm tặc xảo quyệt đến mức ấy lại chịu bỏ qua một giai nhân như Bạch hiền muội! Gã thừa sức khiến Thúy Sơn không nhớ được gì cả!

Lập luận vững chắc, hữu lý này khiến các lão hồ ly phải phân vân! Bất Trí Thư Sinh buột miệng than:

- Lạy trời cho Tần Nhật Phủ chính là Tần Nhương Thư ! Nếu không chúng ta mặt mũi nào gặp y ở chốn vàng nữa!

Cao lão luôn khẳng định Nhương Thư vẩn còn sống mà giờ đây nói thế chứng tỏ lòng tin đã lung lay, Thúy Sơn bật khóc ôm mặt bỏ chạy về phòng.

Chiều hôm ấy, nàng đang ngồi gặm nổi thống khổ ở vườn hoa sau Tông Đà, thì Ngoạ Long Tú Sĩ đi đến . Ông nghiêm giọng:

- Chỉ mình phu nhân là có thể khám phá ra chân tướng Tần Nhật Phủ, còn bằng cách nào thì phu nhân tự hiểu! Hãy đi đi! Nếu Tần Nhật Phủ không phải là Nhương Thư thì cứ giết gã!

Thúy Sơn thông minh tuyệt thế, biết Ngoạ Long Tú Sĩ chẳng đẩy mình vào chổ chết, mừng rở hỏi:

- Phải chăng tiên sinh đã nắm được tám phần hy vọng?

Lỗ Đăng Hân mỉm cười gật đầu:

- Đúng vậy! Song hai phần bát trắc kia đánh giá cả cuộc đời phu nhân đấy!

Thúy Sơn kiên quyết đáp:

- Nếu Nhương Thư không còn thì tiểu muội cũng chẳng sống làm gì nữa!

Nữa đêm, nàng khăn gói ra đi, để lại một bức thư cho sư phụ và Vô Ưu Cái !

Bọn hán tử báo cho Thúy Sơn biết hướng đi của Tần Nhật Phủ, nàng liền phi nước đại đuổi theo, bôn ngày sau bắt kịp mục tiêu ở Trịnh Châu.

Nàng vào thành lúc rạng sáng, mừng rở vì gặp Dương Châu Thần Thâu Bạch Túc Nhiên . Họ Bạch đi trước nàng một ngày, luôn bám theo đuôi Tần Nhật Phủ.

Gã đang ngồi gật gù ở một mái hiên bên đường,chạy ra chận Thúy Sơn lại:

- Phu nhân đến đây làm gì? Họ Tần đang trọ trong toà lữ điếm bên kia đường đấy!

Thúy Sơn liền kễ sơ kết quả điều tra dâm tặc ở Tạ Gia Trang , rồi nghiêm nghị nói:

- Ngoạ Long Tú Sĩ đã nghi ngờ Tần Nhật Phủ là Nhương Thư, khuyên ta hy sinh tiết hạnh để kiểm chứng, túc hạ hãy chịu khó bám theo ta, khi cần thiết sẽ dùng ám khí tiêu diệt gã!

Dương Châu Thần Thâu tuy không phải đệ tử Đường Môn nhưng lại có tài phóng độc tiển rất thần diệu. Gã nhăn mặt bàn:

- Hà tất phu nhân phải đặt cả cuộc đời mình vào canh bạc này, muốn kiễm tra thực hư thì cứ kiên nhẫn theo dỏi. Hơn nữa trừ giáng vóc và giọng nói. Nhật Phủ có điễm gì giống với công tử đâu?

Thúy Sơn chột dạ phân vân, không dám tiếp cận Nhật Phủ, đồng ý cùng Bạch Túc Nhiên âm thầm điều tra.

Mãi đến giữa giờ thìn Tần Nhật Phủ mới rời lữ điếm, gương mặt phờ phạc vì mất ngủ, ánh mắt buồn rầu khó tả.

Đúng là đêm qua, chàng giật mình trở giấc lúc cuối canh tư vì một giấc mơ quái dị. Nhật Phủ nằm mộng thấy mình đang ở Tạ Gia Trang , ân ái với người vợ mất trí của Nhương Thư là Mã Lan ! Cảnh mây mưa ấy hiện ra rất rỏ ràng, có đầy đủ hơi ấm và mùi thơm từ thân thể nuột nà của người goá phụ. Nhật Phủ thoát dương, kinh hải ngồi bật dậy và không sao ngủ lại được. Cãm giác chân thật kia khiến chàng nghi ngờ rằng có thể chính mình là tên dâm tặc điên loạn! Chỉ có kẻ điên mới không nhớ được quá khứ, và tất nhiên sẽ không làm chủ được hành vi!

Nổi tuyệt vọng cứ lớn dần, Nhật Phủ tự phỉ nhổ mình và không còn muốn sống nữa! Nhưng để tạ lổi với Tần Nhương Thư, chàng sẽ liều chết giết cho được Âm Sơn Lão Tổ và Kỵ Ba Thần Quân !

Đã nuôi chủ ý như vậy nên Nhật Phủ phi nước đại về hướng Đông, chiều hôm sau rẽ trái và đến Khai Phong vào quá trưa ngày ba mươi. Đôi lông mày kép là chiêu bài lừng lẫy cuả Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách nên đám đệ tử Âm Sơn Giáo mau chóng phi báo về Tổng đàn ở Độc Cô Bảo.

Dùng bữa trưa xong, Tần Nhật Phủ đi tìm Âm Sơn Lão Tổ. Giới võ lâm Khai Phong không thiếu óc hiếu kỳ đã rầm rộ bám theo, tổng số không dưới bốn mươi. Cô Độc Bảo nằm ở phía Đông thành Khai Phong, giờ đã chính thức thuộc về Âm Sơn Giáo! Vô Ưu Cái đã đem cơ ngơi này hiến cho Lão Tổ để chuộc Dạ Quân tử Quách Tàn Bôi . Họ Quách được tha lập tức trở về Tứ Xuyên thăm mẹ già! Còn người chủ cũ của Cô Độc Bảo là Trung Nguyên Cao Sĩ thì đã âm thầm xuất gia từ hai năm trước, trở thành đệ tử phái Thiếu Lâm, việc này rất ít người biết!

Nhờ việc tổ chức đại hội võ lâm mà liên minh giữa Âm Sơn Giáo và Sơn Hải Bang tan rã. Lão Tổ án binh bất động, để mặc lực lượng Bạch Đạo đánh nhau với Kỵ Ba Thần Quân. Nhờ tin tức của Ngoạ Long Tú Sĩ mà phe chính phái đã xuất quân từ Cưu Sơn, phá huỷ nhiều cơ sở mật của Sơn Hải Bang ở Huy Châu, Bắc Giang Tô, khiến chúng không thể bành trướng ra ngoài phủ Sơn Đông!

Đệ tử các phái đều cải trang chiến đấu dưới danh nghĩa Cưu Bang, khiến oai danh Hoàng Nghi Tuyệt và Từ Thanh Huệ nổi như cồn! Sau khi điểm sơ cục diện võ lâm, chúng ta quay lại với Tần Nhật Phủ. Chàng ta dừng cương trước Độc Cô Bảo, lạnh lùng nói với mấy gã Đảng Hạ gác cổng :

- Các ngươi vào báo với Âm Sơn Lão Tổ rằng có Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách đến so tài cao thấp !

Âm Sơn Lão Tổ Lương Dã Toàn đang uống trà với Nghiên Tái Thuần, nghe báo tin liền cau mày hỏi :

- Thuần nhi! Sao gã họ Tần lại đến khiêu chiến với ta ?

Nghiên Tái Thuần lúc lắc cái đầu to tướng :

- Lạ thực! Giả như bọn Vô Ưu Cái chiêu mộ được Tần Nhật Phủ thì cũng để dành cho đại hội võ lâm chứ sao lại đưa gã vào chỗ chết thế này? Thực là khó hiểu! Thôi được, sư phụ cứ ra đấu với họ Tần và đặt điều kiện bắt y phải qui phục nếu thua !

Lương Dã Toàn mừng rỡ :

- Hay lắm! Nếu thu phục được Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách thì thực lực Âm Sơn Giáo sẽ mạnh lên hẳn! Nghe đồn rằng Tần Nhật Phủ đã từng cầm hoà với Hồng Diện Tôn Giả ở Bắc Kinh!

Nghiên Tái Thuần cười xảo quyệt :

- Sư phụ hãy ăn mặc thật chỉnh tề, kéo dài thời gian. Tần Nhật Phủ còn trẻ, chờ đợi lâu tất sẽ bồn chồn, tâm loạn động, kiếm pháp lộ nhiều sơ hở !

Lão Tổ hài lòng khen:

- Ngươi đúng là quân sư tốt của lão phu !

Song Tái Thuần lại không ngờ sự xảo quyệt của mình đã gây tai hoạ. Số là, Thúy Sơn và Dương Châu Thần Thâu cũng có mặt trong đám hào khách hiếu kỳ. Lúc đầu, họ không biết mục đích của Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách, lòng rất nghi hoặc. Khi nghe chàng lên tiếng khiêu chiến với Âm Sơn Lão Tổ thì Thúy Sơn mới tá hoả tam tinh. Nàng bối rối hỏi Thần Thâu :

- Bạch túc hạ, làm sao bây giờ? Sao họ Tần lại đến đây liều mạng với Lương lão quỷ, đi ngược với kế hoạch hội đồng võ lâm? Quân số Âm Sơn Giáo đông như kiến, Nhật Phủ chẳng thể nào thoát thân được!

Bạch Túc Nhiên gãi tai, nhăn mặt :

- Ta cũng không hiểu nổi! Nhưng trước mắt phải tìm cách giải vây cái đã !

Họ Bạch có dung mạo đoan chính dễ mến, khiến cả thiên hạ phải lầm to. Thực ra, Túc Nhiên cực kỳ xảo trá, quỷ quyệt, thủ đoạn lại tàn nhẫn phi thường! Có điều, gã chỉ lấy trộm của bọn trọc phú, cường hào, ác bá mà thôi, cho nên được cả hai phe chính, tà tôn trọng.

Thần Quân nghĩ ngợi một lúc, tủm tỉm hỏi Thúy Sơn :

- Phu nhân có mang theo vàng đấy không?

Nàng goá bụa sầu muộn gật đầu :

- Độ bốn vạn lượng! Túc hạ cần bao nhiêu ?

- Sao phu nhân lại mang theo cả một gia tài như thế? Tại hạ chỉ cần năm trăm lượng là đủ !

Thúy Sơn không trả lời, lặng lẽ móc ngân phiếu trao cho Thần Thâu ngàn lượng. Mặt nàng hơi ướt vì thương nhớ trượng phu, số của cải này do Nhương Thư lấy được của Trác Thiên Lộc. Nàng thầm ghen với sự giàu sang của ba cô gái họ Điền nên đã giữ lấy để sau này có của hồi môn mà về làm dâu họ Tần !

Thúy Sơn buồn bả nói :

- Bạch túc hạ cứ cầm cả ngàn lượng, nếu thiếu tiểu muội sẽ đưa thêm !

Bạch Túc Nhiên nheo mắt đáp :

- Tần Nhật Phủ được xem như người nhà của quan Tả Đô Ngự Sử cầm đầu Đông Xưởng. Việc này đã được truyền tụng khắp quan trường, vì vậy, chỉ cần vài trăm lượng cũng đủ khiến Tổng binh thành Khai Phong phải kéo quân đến giải vây cho họ Tần. Phu nhân hãy yên tâm chờ tin của tại hạ !

Nói xong, gã quay ngựa phóng như bay trở lại thành Khai Phong, cách Cô Độc Bảo chừng chục dặm. Thúy Sơn yên lòng quay sang ngắm Tần Nhật Phủ. Nàng đã cải nam trang, mang râu rậm, đội nón rộng vành nên chẳng sợ ai nhận ra. Bạch Túc Nhiên là đạo chích, trong hành lý lúc nào cũng sẵn đạo cụ dịch dung. Lúc này đã là đầu giờ Thân, vầng dương ngã về Tây nhưng vẫn còn chói lọi, nhuộm hồng bộ võ phục trắng và gương mặt rám nắng của Tần Nhật Phủ.

Chủ nhà lần khần mãi chẳng chịu ra, khách quan chiến đều nóng ruột mà họ Tần vẫn bình thản đứng im như pho tượng, mắt hướng về ngọn núi mờ xa, phía sau lưng Cô độc Bảo. Lòng Thúy Sơn lại rộn niềm hy vọng vì phong thái trầm tĩnh, định lực thâm hậu kia nào khác Nhương Thư? Hơn khắc sau, Âm Sơn Lão Tổ và bọn đầu lĩnh Âm Sơn Giáo mới khệnh khạng xuất hiện.

Lương Dã Toàn vốn là người cao to lực lưỡng, tuy mặc đạo bào nho nhã màu nguyệt bạch, đầu đội mũ đạo sĩ, mà vẫn oai phong lẫm liệt như võ tướng. Nhờ Thiên Niên Tuyết Sâm mà râu tóc lão đen nhánh, mặt hồng hào, trông trẻ như mới năm mươi. Giờ đã là Giáo Chủ của một giáo phái, Lương lão quỷ mạ vàng cây côn thép cho xứng với thân phận cao cả.

Thúy Sơn giận run khi nhận ra kẻ mặc áo trường bào gấm đen sang trọng, đi sau Lão Tổ chính là gã phản bội Nghiên Tái Thuần. Họ Nghiên cũng cầm đoản côn, nhưng đường kính nhỏ hơn côn của Lão Tổ và mạ bạc sáng loáng. Tái Thuần nghiêng chiếc đầu to hấp háy đôi mắt liếng, ngắm nghía Tần Nhật Phủ rồi nói nhỏ vài câu với Lão Tổ !

Lương Dã Toàn cười ha hả, vòng tay nói với khách :

- Từ lâu, lão phu vẫn thường ngưỡng mộ thanh danh của bậc anh tài trẻ tuổi đất Hà Bắc, không ngờ hôm nay lại được Tần công tử ghé thăm, quả là vinh hạnh! Lão phu vốn ” Ái tài như mạng ”, sẵn sàng mời công tử hạ cố nhận ghế Phó Giáo Chủ Âm Sơn Giáo! Nếu công tử không chê, xin mời vào sảnh bàn bạc.

Miếng mồi vinh hoa phú quý này không thể mua chuộc được bậc anh hùng, Nhật Phủ hờ hững lắc đầu :

- Tại hạ vốn nhạt mùi danh lợi, chỉ xem trọng võ học, nên đến đây để lãnh giáo tôn giá vài chiêu. Nếu tôn giá sợ thì hãy lột chiêu bài, rút quân về Tây Hạ !

Âm Sơn Lão Tổ tính tình nóng nẩy, không chịu nổi lời khiêu khích ngạo mạng kia, liền trợn mắt nạt :

- Lão phu sở hữu trăm năm công lực, lẽ nào lại sợ một gã tiểu tử chưa ráo máu đầu! Ngươi đã dám khoác lác thì chớ trách lão phu tàn nhẫn !

Nghiên Tái Thuần vội kéo áo sư phụ để nhắc nhở! Lão Tổ hiểu ý lùi lại để Tái Thuần bước lên.

Họn Nghiên vòng tay tươi cười :

- Công tử có dám đánh cuộc với tại hạ hay không? Nghĩa là, nếu công tử bại trận thì phải trở thành người của Âm Sơn Giáo, bằng như công tử thắng thì bọn ta sẽ rút về Tây Hạ !

Nhật Phủ ở Lạc Dương cả tháng thường được nghe nhắc đến gã phản bội xấu trai này, nay gặp mặt, chàng vô cùng chán ghét, lạnh lùng đáp :

- Ta đồng ý nếu ngươi chịu xuất thủ! Sau ba mươi chiêu mà ngươi vẫn lành lặn thì ta sẽ qui hàng !

Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ cũng đồn xa! Bọn hào khách Khai Phong đều biết Tái Thuần khi sư diệt tổ, phản lại võ lâm Trung Nguyên. Do vậy, họ nhao nhao xúi giục Nghiên Tái Thuần nhận lời, mong gã sẽ chết thảm dưới tay Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách! Dù chính hay tà, kẻ phản sư luôn bị người đời khinh ghét! Có kẻ mỉa mai :

- Ba mươi chiêu mà cũng không cầm cự nổi thì thật là nhục nhã cho Âm Sơn Giáo! Tướng ngươi xấu xí như ma, lại nhút nhát thì còn sống làm quái gì nữa!

Khách quan chiến phá lên cười chế nhạo sự lưỡng lự của Nghiên Tái Thuần. Song họ Nghiên gian xảo có thừa, thản nhiên cười đáp :

- Tại hạ mới học côn pháp chẳng bao lâu, không dám bêu xấu ân sư, đành phải chịu tiếng nhát gan vậy! Xin Tần công tử cứ đấu với gia sư mới xứng với thân phận một bậc anh hùng !

Tần Nhật Phủ thở dài :

- Khá khen ngươi giỏi chịu nhục còn hơn Hàn Tín! Thôi được, để ta giết Lão Tổ xong sẽ tìm đến ngươi sau !

Câu nói lạnh như băng và chắc như đinh đóng cột này đã làm cho Tái Thuần chột dạ, không còn cười nổi nữa! Lương lão quỷ nghe đối phương đòi lấy mạng mình, điên tiết bước ra :

- Tiểu oa nhi ngông cuồng! Ngươi tận số rồi !

Lão chực xông đến thì nhận ra Nhật Phủ đã rút gươm dựng đứng trước ngực, phong thái uy nghi như thiên tướng. Sát khí dàn dụa không gian Lương Dã Toàn thoáng rùng mình, thức ngộ rằng tiểu quỷ kia đã đạt đến trình độ thượng thừa trong kiếm đạo, chẳng phải kẽ dể ăn hiếp! Song Lão Tổ chưa kịp bình tâm thì Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách đã thực hiện câu ” Tiên hạ thủ vi cường ”. Họ Tần hoá thành đạo kiếm quang sáng bạc, bay vút đi, thân ảnh chập chờn nhưng nhanh tựa sao băng.

Ở tuổi dưới ba mươi mà luyện thành Ngự Kiếm Thuật thì quả là chuyện cổ lai hi hữu! Lão Tổ biến sắc, múa tít kim côm, lực đạo ngàn cân xé không gian vun vút, kín đáo và mãnh liệt phi thường! Hai màng lưới thép chạm vào nhau chói tai, song phương dội ra và có tiếng Âm Sơn Lão Tổ gầm lên giận dữ. Lão đã nhờ công lực thâm hậu mà đánh bạt được chiêu Ngự Kiếm, song vẫn bị một vết thương nhỏ nơi bắp vai trái. Lòng tự tôn của một lão đại ma đầu không thể chấp nhận được sự thiệt thòi nhỏ bé ấy, Lương Dã Toàn nổi điên dồn sức vào đường côn, quyết đạp nát xác gã tiểu tử khốn khiếp kia.

Cây kim côn nặng đến ba bốn mươi ba cân ban phát những cú đạp trời giáng, khiến hộ khẩu họ Tần đau rát. Gã thầm hiểu công lực mình kém xa đối thủ, đành dở pho khinh công Cửu Huyền Thần Bộ ra đối phó. Tuyệt học của Sấu Tiên quả thần diệu tuyệt luân, chín bóng ảnh quay cuồng quanh Lão Tổ tạo nên một cảnh tượng kỳ dị, khiến bọn hào khách phục sát đất, hoan hô vang dội. Lương Dã Toàn thầm khiếp sợ trước pho thân pháp ma quỷ kia vì nhận ra nguồn gốc Sấu Tiên đã từng đã bại Thần Quang Chân Nhân nhờ bộ thân pháp Cửu Huyền!

Từ những bóng thực hư lẫn lộn ấy, Tần Nhật Phủ ập vàp thọc kiếm xuyến qua lưới côn, lần lượt đâm hàng chục lỗ trên cơ thể đối phương. Song luồng cương khí hộ thân dầy đặc của một kẻ sở hữu đến trăm năm công lực đã ngăn cản đà tiến của mũi kiếm nên không vết nào sâu cả! Âm Sơn Lão Tổ vẫn kiên cường chiến đấu, bảo vệ chu đáo các tử huyệt, chờ đối phương mệt mỏi mà hạ thủ!

Quả thực vậy, tốc độ sao băng, hư ảo của Cửu Huyền Thân Pháp rất tiêu hao chân khí nên Tần Nhật Phủ chẳng thể thi triển lâu dài được. Do thế, tuy thương tích đầy mình song cuối cùng Lão Tổ sẽ là người chiến thắng! Bộ đạo bào nguyệt bạch bằng gấm thượng hạng đã rách như tổ ong, nhuộm hồng bởi máu me, nhưng đường côn của Lão Tổ vẫn cương mãnh như bão tố. Sau vài khắc, nguồn tu vi gần hoa giáp của Tần Nhật Phủ đã suy giảm thấy rõ. Gã chỉ còn có thể hoá thành năm bóng ảnh mà thôi.

Dù bọn hào khách trầm trồ tán dương, nhưng Tần Nhật Phủ tự biết mình sẽ chết nếu không kết kiễu ngay được Lương lão quỷ. Chàng chẳng tiếc mạng mình, chỉ tiếc sau trận này không còn sống để đến Tế Nam tiêu diệt Kỵ Ba Thần Quân.

Nhật Phủ đành an phận với cục diện, quyết định một đổi một. Chàng dồn bốn thành lực đạo sang bàn tay tả đang bắt kiếm ấn rồi xông vào.

Nhật Phủ xuất chiêu Trang Tử Khóc Thê trong pho Huyền Không Kiếm Pháp, thân kiếm rung động phát ra âm thanh ngân nga như tiếng hát thê lương. Chiêu này lấy tích Trang Chu ngồi bên xác vợ già, lúc đầu thì khóc lóc, sau lại ca hát cho đúng đạo trời!

Âm thanh thì thế, còn kiếm ảnh là màn sương gồm hàng ngàn giọt lệ long lanh. Đạo tự nhiên là có sinh, có diệt, nhưng tình nghĩa phu thê lại khơi giòng lệ thảm!

Âm Sơn Lão Tổ vẩn giử nguyên đấu pháp cũ, phòng thủ kín đáo và tấn công bằng sức mạnh chẻ núi. Lão không hề bối rối, nghiến răng công phá làn kiếm quang mờ mịt kia, mừng vì chỉ vài thế đãđánh bạt được thanh thép nguy hiễm.

Và tất nhiên lão thừa thắng xông lên vì đối phương đã lộ sơ hở chết người. Lương Dã Toàn chớp cơ hội, thọc mũi côn vào ngực họ Tần. Lão cảm nhận đượctiếng xương lồng ngực của Nhật Phủ gẫy răng rắc, nhưng đồng thời nghe mắt phải đau buốt, rồi não bộ nóng rực lên như bị dùi sắt đỏ nung xiên vào!

Thân hình Tần Nhật Phủvăng ngược, lăn lông lốc trên mặt cỏ, còn Âm Sơn Lão Tổ thì ôm mặt rú lên như điên loạn. Lão đã bị một đạo Lục Mạch Thần Chỉ phá vỡ nhãn cầu, xuyên vào óc nên không thể không chết!

Toàn trường kinh hoàng trước tiếng thét rợn người và thê thảm của Âm Sơn Lão Tổ, rồi sửng sờ nhìn lão ngã quỵ, thân thể co giật liên hồi.

Nghiên Tái Thuần sớm hoàn hồn, xông đến vung ngân côn hạ sát Tần Nhật Phủ. Nhưng một hán tử áo xanh, đội nón rộng vành đã kịp xuất hiện cạnh họ Tần, vung kiếm đỡ đòn. Người ấy chính là Bạch Thuý Sơn.

Nghiên Tái Thuần nhờ tà pháp Thái Bổ, sau khi uống ba viên Thiên Niên Tuyết Sâm, đêm đêm giao hợp với nử nhân để hút nguyên âm nên công lực tăng tiến phi thường. Bọn kỷ nữ Khai Phong chỉ sau một lần phục vụ Nghiên Tái Thuần là liệt giường tám chín ngày, không còn dám tiếp gã nữa! Thế là họ Nghiên dùng bản lãnh võ công làm hại đám dân nữ trong vùng lân cận Khai Phong. Tóm lại, giờ đây gã sở hữu đến gần ba chục năm công lực!

Nghiên Tái Thuần lại thông minh tuyệt đỉnh, vài tháng đã thuộc làu pho Âm Sơn Côn Pháp, chỉ kém phần kinh nghiệm lâm trận.

So ra, Nghiên Tái Thuần không hơn được một kẽ dày công luyện tập như Thúy Sơn, nhưng nàng không dám rời xa Nhật Phủ nên chịu bó tay, bó chân lúng túng trước kẽ thù.

Thúy Sơn cắn răng chống đỡ những đường côn vũ bảo của Nghiên Tái Thuần, hổ khẩu toé máu mà vẩn phải trực diện va chạm để bảo vệ cái xác dưới chân mình. Tuy không biết chắc nhưng nàng vẩn hy vọng Nhật Phủ chưa chết!

Và nếu như họ Tần chính thực là Nhương Thư thì càng có nhiều khả năng sống sót, vì cơ thể chàng nhờ tinh huyết Thuỷ Xà Vương mà rắn chắc phi thường! Nhương Thư từng trúng liền mấy gật sắt của cao thủ Bát Quái Môn ở Cưu Sơn mà vẩn lành lặn. Trường côn của đám sư huynh Từ Thanh Huệ cũng nặng chẳng kém kim côn của Âm Sơn Lão Tổ

So sánh đơn giản thì thế, song Thúy Sơn cũng biết Lương Dã Toàn có đến trăm năm công lực, đòn ra nát đá tan vàng! Nhưng dẩu sao Thúy Sơn cũng không để mất niềm hy vọng cuối cùng của đời mình!

Nàng di chuyển quanh thân xác Tần Nhật Phủ, vất vả giải phá những chiêu côn hiễm ác của Nghiên Tái Thuần, lòng thầm van vái trời xanh thúc dục Dương Châu Thần Thâu đem quân triều đình đến sớm, trước khi nàng kiệt sức.

Tiếng khóc lô la của bọn dũng sĩ Đảng Hạ vang lên, chứng tỏ rằng Âm Sơn Lão Tổ đã thăng thiên và đám đệ tử thân tín củalão giận dữ đánh đuổi bọn hào khách Khai Phong rồi vây chặt đấu trường. Chờ Thúy Sơn thất cơ là xông vào bằm xác cả nàng lẩn Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách.

Nghiên Tái Thuần vững bụng chiến đấu, chỉ vài chục hiệp đãđánh văng nón tre trên đầu đối thủ. Gã đã thầm si mê, thèm khát bốn ả goá phụ của Nhương Thư nên nhận ra ngay Thúy Sơn, Tái Thuần mừng rở cười dâm đảng:

- Té ra là Bạch phu nhân! Tạ ơn Hoàng Thiên đã xui khiến nàng đến đây, để Nghiên mỗ được thoả lòng mong ước!

Thúy Sơn giận dử chém liền bốn kiếm như sấm sét. Tái Thuần vung côn đở đòn, phản kích lại và mỉa mai:

- Phải chăng nàng đã ngớa nghề, nên trốn theo gã Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách này? Tiếc thay gã đãchết, không ai chịu nổi một con của Âm Sơn Lão Tổ vào ngực mà sống sót nổi! À mà không sao, bản lãnh phòng the của ta còn lợi hại hơn Nhật Phủ bội phần!

Dứt lời, Tái Thuần tấn công ráo riết, cố đánh văng bảo kiếm của nàng mà bắt sống.

Thúy Sơn bản chất ngoan cờpng, thà chết chứ không chịu nhục, đem hết sở học ra đối phó, kiếm quang cuồn cuộn sát khí, nhẩn nại duy trì cục diện để chờ viện binh.

Đường côn của Tái Thuần nặng như búa bổ nên hổ khẩu Thúy Sơn rách toạt, máu rỉ ướt lòng bàn tay, cơ hồ không còn cầm vững chuôi kiếm nữa!

Trong lúc hiễm nghèo ấy, bất ngờ Tần Nhật Phủ mở mắt, đưa cao bàn tay hữu và máy đọng ngón giữa, từ huyệt Trương Phong sau góc móng, một đạo chỉ kình bay ra, xạ thẳng vào huyệt Khí Hải của Nghiên Tái Thuần.

Họ Tần thọ trọng thương , công lực chẳng còn bao nhiêu, thủ pháp lại thiếu chuẩn xác, nên đạo chỉ phong kia lệch mục tiêu, trúng vào hạ nang của đối phương!

Nhật Phủ là bậc anh hùng, dù chán ghét họ Nghiên cũng không bao giờ nghĩ đến chuyện tấn công vào hạ thể, đưa Tái Thuần vào cảnh tuyệt tự. Xong trời xui, đất khiến nên một viên ngọc hành của Tái Thuần lại lãnh đủ, bị Lục Mạch Thần Chỉ xuyên thủng!

Đây là một bộ phận yếu ớt, nhạy cảm nhất trong cơ thể con người, dù không gây tử vong, Tái Thuần đau thấy ông bà, ông vãi, rú lên the thé, tay chân bủn rủn. Tất hiên đường côn của gã mất đạo lực và lộ sơ hở. Thúy Sơn mừng rở thọc một kiếm vào ngực gã phản trắc ti tiện.

May cho Tái Thuần ở chổ gã co rúm người vì đau đớn nên chỉ bị đâm trúng vai, như thế cũng đủ họ Nghiên thét lên be be, tung mình ra xa. Gã đang thúc thủ hạ xông đến thi Thúy Sơn đã móc Bạt Sơn Thần Lựu ném vào hàng ngủ bọn Đảng Hạ ở hướng Đông.

Hoả khí nổ vang trời, thịt xơpng tan nát văng tứ tán, khiến đám người hủ lậu đất Tây Bắc kia kinh tâm, tán đỡm bỏ chạy cả. Lúc này Thúy Sơn đã kịp cõng Tần Nhật Phủ lên lưng, lao về phía phòng tuyến bị vỡ.

Nghiên Tái Thuần tức tốc thúc dục đệ tử Âm Sơn Giáo truy sát, song Thúy Sơn đã ném ngược lại một trái Thần Lựu nữa, tăng số thương vong của kẻ thù và khiến chúng phải từ bỏ ý định đuổi theo.

Thúy Sơn thoát về hướng Đông, và biệt dạng trong cánh rừng già dọc bờ Nam sông Hoàng Hà. Nàng không dám trở lại thành Khai Phong vì nơi ấy ngập tràn kẻ địch. Âm Sơn Giáo bảo kê toàn bộ sinh ý trong thành, tay chân rải khắp nơi. Hơn nữa nàng cho rằng quan quân Lạc Dương bị Âm Sơn Giáo mua chuộc nên không nghe theo lời mời của Dương Châu Thần Thâu đến giả vây cho Tần Nhật Phủ.

Thúy Sơn cõng họ Tần chạy miết, tay dùng bảo kiếm chạt cành mở lối. Được mười dặm, nàng gặp một toà nhà gổ lớn khang trang, toạ lạc trên bải cỏ phẳng giữa rừng, mừng rở rảo bước đến gọi. Nhưng mãi chẳng thấy chủ nhân lên tiếng, Thúy Sơn liền đẩy cổng dậu gổ mà vào.

Thất cửa chính bị khoá chặt, biết chủ nhà đi vắng, Thúy Sơn vung kiếm phá ổ khoá.

Đồ đạc vật dụng trong nhà tuy không quý giá nhưng rất đầy đủ. Thúy Sơn đạt Nhật Phủ nằm xuống chiếc giường vạt tre rồi tất tả trở ra ngoài, phi thân lên một ngọn cây du cao ngất để quan sát và nghe ngóng. Biết chắc Âm Sơn Giáo không đuổi theo, nàng thở phào nhảy xuống, vào nhà chăm sóc thương thế cho nạn nhân!

Tuy thẹn thùng nhưng Thúy Sơn thức ngộ rằng đây là cơ hội hiếm có để nàng kiễm tra cơ thể Nhật Phủ. Nhương Thư có những vết thẹo, những nốt ruồi mà nàng rất quen thuộc.

Tần Nhật Phủ đang mê man, bất tỉnh, máu trong phổi liên tục ứa ra khoé miệng, Thúy Sơn vội cho nạn nhân uống máy viên linh đan trị nội thương, rồi tranh thủ lúc ánh tà dương chưa tắt, cởi áo Nhật Phủ để xem xét.

Đầu kin côn của Âm Sơn Lão Tổ đã gây ra một vết tím bầm, sơng vù dưới vú phải của họ Tần, Thúy Sơn ấn thử, cảm giác được sợ rời rạc của những lóng xương bị gãy, thở dài lo lắng. Nàng chỉ hy vọng không đoạn xương nào cắm vào phổi họ Tần!

Thúy Sơn bôi đầy cao lên thương tích rồi bắt đầu quan sát kỹ những vết sẹo trên thân trước của Nhật Phủ . Khổ thay gã có rất nhiều sẹo dọc ngang, mới chồng lên cũ, chẳng thể nào tìm ra chân tướng. Từ thắt lưng trở xuống, Nhương Thư không có dấu vết gì đặc biệt, còn dương vật thì Thúy Sơn cho rằng, ai cũng giống ai. Vật chỉ còn cách liều chết ái ân với Nhật Phủ mà thôi! Trong cuộc mây mưa, Nhương Thư có những thói quen mà nàng tuyệt đối chẳng thể lầm!

Thúy Sơn cẩn thận xăm soi gương mặt đẹp của Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách . Đôi lông mày kép dị tướng kia hoàn toàn là thực, và da mặt chàng không hề có sẹo.

Thực ra tài nghệ của Ải Thần Quân chẳng siêu phàm đến mức ấy, mà chính dược lực của ba loại kỳ trân trong cơ thể Nhương Thư đã làm cho những vết sẹo mỗ kia biến mất. Chàng từng bị đâm chém rất sâu, mà khi lành cũng để lại những dấu sẹo mờ mờ, huống hồ những đường rạch nhẹ nhàng, khéo léo của Thần Quân!

Y Phục của Thúy Sơn cũng dính đầy máu do Nhật Phủ ói ra, nên nàng xuống nhà sau tìm chổ tắm rửa. Là nữ nhân, nàng không chịu nổi sự dơ bẩn!

Toà mộc xá này tuy chỉ có một cửa chính song bên trong lại chia làm ba gian, phía sau có thêm nhà bếp nhỏ. Nhà bếp là từ dùng để chỉ nơi nấu nướng và vệ sinh, Thúy Sơn hài lòng vì lu sành trong nhà tắm đầy ắp nước.

Nàng tò mò lục lạo một hồi phát hiện gạo và thịt khô rất dồi dào. Còn nguồn nước là giếng sau vườn, xung quanh trồng đầy rau.

Khách giang hồ luôn cột chặc tay nải vào lưng nên cả Thúy Sơn lẩn Nhật Phủ đều có y phục sạch để thay. Tắm gôi xong, Thúy Sơn trở vào nhà trên, ngần ngại một lúc thầm khấn vái Nhương Thư rồi cởi quần dài Nhật Phủ ra. Nàng dùng khăn ướt lau người cho gã, chuẩn bị thay bộ võ phục mới.

Họ Tần vẩn mê man, người hâm hấp sốt nhưng mạch vẫn đều đặn và máu trong phổi đã thôi ứa ra. Thúy Sơn đỏ mặt nhàn cơ thể trần truồng, rùng mình vì cảm giác quen thuộc. Những bắp thịt cuồn cuộn săn chắc kia nào có lạ gì với nàng! Và dường như mùi da thịt nàu cũng đúng là của Nhương Thư! Thúy Sơn cũng không thể đoán chắc, chỉ sợ mình lầm lẩn, gương mặt của Nhật Phủ quá ư là xa lạ!

Đau đớn vì mối nghi ngờ, Thúy Sơn ứa nước mắt, cắm cuôi mặc quần áo cho họ Tần. Nàng chợt bối rối khi nghĩ đến lúc bệnh nhân tiêu, tiểu chỉ biết thở dài phó mặc!

Thúy Sơn xuống bếp vo gạo, nấu cháo với thịt khô, chắt nước đổ vào miệng người bệnh. Nàng mừng rở vì gã nuốt ngon lành, không hề nôn ra!

Trời đã tối hẳn, may mà trong nhà sẳn hai ngọn đền dầu mỏ. Thúy Sơn đốt cả hai, một để lại trên bàn gần giường bệnh, một cầm theo để xem xét hai gian kia.

Tần Nhật Phủ đang nằm trong phòng mé tả, có lẽ là phòng ngủ của chủ nhà. Gọi là phòng cũng không đúng vì ba gian chỉ được ngăn cách nhau bằng hai bức bình phong, mổi bức gồm năm mảnh gổ đen bóng, chạm trổ hoa văn cầu kỳ.

Gian giữa có một bệ thờ trên đặt tượng Tam Thanh, bát nhang, chuông, mõ... Phải chăng chủ nhân nơi đây là một đạo sĩ? Trước bệ thờ có mảnh chiếu và một chiếc bồ đoàn.

Gian mé hữu chất đầy sách trên kệ gổ sát vách, giữa là án thư và chiếc ghế dựa. Thúy Sơn hiếu kỳ lật sách xem thử, chỉ thấy toàn là kinh sách của Đạo giáo.

Nàng quay về gian giữa, thắp hương và cắm vào lò rồi quỳ xuống khấn vái, khóc lóc. Hồng Diện Tôn Giả thờ Phật, nhưng trong lúc rối ren này, Thúy Sơn sẳn sàng cầu khẩn bất cứ vị thần nào, mong sao họ phù hộ cho nàng đủ sáng suốt và may mắn trong cuộc thử nghiệm chết người này! Chỉ riênh việc nàng tắm rửa cho Tần Nhật Phủ cũng đủ gọi là thất tiết, không mặt mũi nào sống nữa! Chẳng lẽ nàng để gã tiêu, tiểu ra quần mà nàng không làm sạch?

Lệ thảm trào tuôn khiến nàng tỉnh táo hơn, càng tin vào linh cảm của mình. Vã lại, Ngoạ Long Tú Sĩ đã khẳng định được tám phần sợ thật, và ba nàng tiểu thư họ Điền cũng khăng khăng xác nhận mùi chồng.

Đã có chủ ý, Thúy Sơn trèo lên giường nằm chung với Nhật Phủ vì không thể nằm dưới đất được. Nữa đêm nàng cho gã uống thuốc lần nữa, và phát hiện đủng quần họ Tần ướt đẫm!

Thúy Sơn tần ngần, lưỡng lự một lúc rồi cắn răng lao vào canh bạc. Nàng cởi cả quần dài lẩn quần ngắn của gã trai hư đốn kia, trống ngực đập thình thịch, nhớ lại những ngày dưới vực thẵm Sáp Văn Phong! Kỷ niệm ấy mãi mãi khắc sâu trong lòng nên không thể lầm được! Nhưng nàng chỉ biết có một nam nhân duy nhất, lấy cơ sở nào để so sánh?

Sau ba ngày mê man, cơ thể Nhật Phủ đã hồi sinh, chàng ta tỉnh lại lúc rạng sáng ngày mười bảy, ngơ ngác nhận ra người vợ goá xinh đẹp của Tần Nhương Thư nằm cạnh mình!

Nhật Phủ hồi tưởng lại, hiểu rằng sau khi chàngdùng Lục Mạch Thần Chỉ đã thương Nghiên Tái Thuần, Thúy Sơn đã đưa chàng đào tẩu đến khu rừng này! Qua khung cửa sổ rộng mở, chàng nhận rõ màu đỏ, vàng của những cây Ô Thích sớm thu về, và nghe chim rừng ríu rít đón bình minh.

Nhật Phủ ngắm nhìn gương mặt thanh tú nhưng xanh sao của Thúy Sơn, cố nến tiếng thở dài. Chàng chợt nghe lòng rung động mãnh liệt những cãm giác yêu thương. Giờ đây chàng mới thức ngộ được rằng mình thầm ái mộ nàng goá phụ này!

Hình bóng ban người đàn bà họ Điền hiện ra khiến Nhật Phủ vô cùng chua sót, hoang mang! Từ ngày xuất đạo, chàng luôn luôn tôn sùng bậc kỳ hiệp Ngũ Đài Sơn là Tần Nhương Thư , xem đấy là tấm gơpng sáng, nào ngờ, chính chàng lại làm kẽ bất nghĩa! Dường như, chàng say mê bốn người vợ goá của Nhương Thư?

Nhật Phủ nghe bàng quang căng cứng, rón rén ngồi lên, ra phía sau tiểu tiện. Và giật mình khi thấy cả quần lót cũng được thay. Vậy là Thúy Sơn đã vì chàng mà hy sinh tiết hạnh!

Nhật Phủ thẩn thờ trở vào nhà trên, đi thử sang hai gian kia, rồi ngồi xếp bằng trên án thư, vận công kiễm tra chân khí.

Chàng mừng vì kinh mạch thông suốt, chỉ hơi đau khi lưu chuyển qua huyệt Nhủ Căn nơi ngực phải . Huyệt này thuộc Kinh Túc Dương Minh Vị. Do vậy chàng không thể thi triển khinh công. Về ngoại thương hai lóng xương ngực bị gẫy vẩn chưa liền, tay phải cũng chẳng cử động được! Tóm lại, Nhật Phủ phải tỉnh dưởng thêm một thời gian dài mới mong khôi phục võ công!

Họ Tần đành phế bỏ ý định đi Tế Nam giết Kỵ Ba Thần Quân, song trở lại Lạc Dương thì lòng thêm hổ thẹn! Chưa biết quyết định thế nào thì có tiến chân người chạy đến! Đấy là Thúy Sơn, thấy chàng, nàng thở phào nhẹ nhỏm:

- Tiểu muội thức giấc, chẳng thấy công tử đâu lòng vô cùng lo lắng! Không ngờ công tử hồi phục nhanh như vậy, mới ba ngày đêm đã có thể đi lại!

Nhật Phủ hổ thẹn tự nhủ thầm:

- ”Ta mê man ba ngày đêm, tiêu tiểu không hay biết, khiếngườiBạch phu nhân phải khổ sở biết bao!”

Chàng bước xuống, vong tay vái dài:

- Ơn đức của phu nhân, tại hạ dẩu chết ngàn lần cũng không đền đáp nổi!

Biết chàng ám chỉ đến việc tiết hạnh, Thúy Sơn đỏ mặt cúi đầu, lát sau đáp bằng giọng thê lương:

- Công tử là vận mạng của võ lâm, tiểu muội ngộ biến phải tùng quyền, sau này sẽ tự sát để tạ tội với tiên phu ở suối vàng!

Nhật Phủ kinh hải lắp bắp:

- Không được! Kẻ đáng chết nhất là Phủ này! Sau diệt song Kỵ Ba Thần Quân, Tần mỗ sẽ tự sát ngay!

Thúy Sơn cười mát:

- Công tử chết đi, có trả lại danh dự cho tiểu muội được không?

Nhật Phủ lúng túng:

- Thế tại hạ phải làm thế nào đây?

Thúy Sơn nghiêm giọng:

- Ta có một điều kiện nho nhỏ! Chẳng hiểu công tử có dám đáp ứng hay không?

Nhật Phủ khẳng khái đáp:

- Xin phu nhân cứ dạy! Dẩu bất cứ yêu cầu nào tại hạ cũng xin tuân mệnh!

Thúy Sơn gật gù:

- Ta muốn công tử trở thành thủ hạ trung thành của ta, luôn theo sát để bảo vệ, không được tự do làm theo ý mình!

Nhật Phủ bối rối không hiểu, song đã lở hứa đành phải giữ lời:

- Tạ hạ xin đặt mình dưới sự sai khiến của phu nhân!

Thúy Sơn tuy hài lòng nhưng vẩn hồi hộp vì không biết chắc kết quả. Nàng trầm ngâm hỏi:

- Thương tích của công tử thì sao?

Nhật Phủ đáp:

- Bẩm phu nhân! Có lẽ phải tĩnh dưỡng thêm vài ngày nữa!

Thúy Sơnmỉn cười:

- Nơi này còn đủ gạo thịt cho cả tháng, chúng ta cứ nghỉ ngơi cho thật khoẻ mạnh rồi hãy lên đường. Đây là vùng cứ địa của Âm Sơn Giáo, chẳng thể xem thường được!

Nàng không biết rằng Dương Châu Thần Thâu chỉ đến trể nữa khắc, và đã cùng Tổng Binh Khai Phong đuổi cổ Âm Sơn Giáo về Tây Hạ. Hiện giờ Bạch Túc Nhiên cùng đệ tử Cái Bang đang ráo riết truy tìm nàng và Nhật Phủ!

Ngày hôm ấy, Thúy Sơn rắt vui lòng đắc ý vì kế sách của mình. Trước đây lúc con ở Tạ Gia Trang, nàng đã nhiều lần dọ hỏi quá khứ của Tần Nhật Phủ, gã khôngnói thì nàng cũng chẳng dám làm gì! Nay với thân phận chủ nhân, nàng tin rằng gã phải mở miệng!

Thúy Sơn đi một vòng vào rừng, săn được hai con chồn và một con rắn to, đem về nấu bửa trưa.

Chủ nhà có cả gói trà Long Tỉnh thượng hạng, chính hiệu Hàng Châu, nàng cùng pha cho Nhật Phủ uống. Tuy mang danh chủ tớ nhưng Thúy Sơn vẩn hầu hạ họ Tần chu đáo, khiến gã càng không hiểu mục đich củanàng!

Xong bửa, Thúy Sơn nhắp hớp trà rồi hỏi:

- Phải chăng công tử đã chán sống nên mới đơn thân độc mã đi tìm Âm Sơn Lão Tổ?

Nàng hỏi rất khéo léo nên họ Tần phải thú thật:

- Bẩm phải ! Tại hạ có nổi khổ tâm, nên không còn thiết sống nữa!

Thúy Sơn mừng rở hỏi tiếp:

- Phải chăng nổi khổ tâm ấy liên quan đến ba người chị em chung thuyền của ta?

Nhật Phủ đau khổ gật đầu, ấp úng:

- Đúng thế! Tại hạ cho rằng mình mắc quái bệnh về tâm thần nên có thể đã hành động trong lúc mộng du?

Thúy Sơn cau mày:

- Vì sao công tử biết mình mắc bệnh?

Nhật Phủ cười thảm:

- Chỉ có kẻ bệnh tâm thần mới không nhớ được quá khứ của mình!

Thúy Sơn run bắn lên vị hạnh phúc! Có đến chín phần là Nhương Thư bị Ải Thần Quân thay đổi dung mạo và dùng tà thuật xoá bỏ ký ức! Lão xoá được nhưng không thể bù vào cả một dĩ vãng dài đến hơn hai mươi mấy năm, gồm biết bao nhiêu hình ảnh và kỷ niệm!

Trong vài ngày sau đó, Thúy Sơn cố gắng mô tả những sự cố trong đời Nhương Thư để gợi cho chàng nhớ lại, song không có kết quả. Nhật Phủ vẩn dửng dưng, cất lời tán dương thần tượng của mình.

Gần cuối tháng bảy, Nhật Phủ đã hoàn toàn bình phục, công lực sung mãn như xưa, mở lời đòi đi Tế Nam.

Thúy Sơn nát cả cỏi lòng, giận hờn hỏi:

- Công tử đã giao đời mình cho ta, sao lại còn định tự sát lần nữa?

Nhật Phủ buồn bả đáp.

- Tại hạ không thể sống trong hoàn cảnh éo le này thêm nữa! Mong phu nhân lượng thứ cho! Mỗi ngày tại hạ càng thêm đắc tội với Tần Đại hiệp!

Thúy Sơn kinh nhạc:

- Tại sao thế?

Nhật Phủnhìn nàng bằng ánh mắt thê lương:

- Tại hạ đãyêu phu nhân!

Thúy Sơn vừa cảm dộng, vừa tức cười, cúi đầu vân vê tà áo, lát sau cố ra vẻ nghiêm nghị:

- Không sao! Ta đã quyết định lấy công tử làm chồng rồi! Ta cò trẻ, chẳng thể làm than goá phụ mãi được, giết xong Kỵ Ba Thần Quân, chúng ta sẽ tìm chổ non xanh nước biếc mà ẩn dật!

Nhật Phủ bối rối:

- Nhưng tại hạ mặt mũi nào sống yên vui khi đã đắc tội với ba vị phu nhân họ Điền!

Thúy Sơn thản nhiên đáp:

- Ta sẽ nói thật và rủ họ cùng về hầu hạ công tử. Dẩu sao giọt máu trong bụng họ cũng là của chàng!

Nhật Phủ ngơ ngác như kẻ lạc vào cỏi tiên! Không ngờ sự việc lại được giải quyết đơn giảm và thuận lợi như vật? Chầng thầm yêu cả bốn nàng quả phụ và được cả bốn!

Nhật Phủ lúng túng vái dài:

- Tần mỗ được phu nhân hạ cố thành toàn, cảm kích mà nói chẳng nên lời!

Đêm xuống, Thúy Sơn nũng nịu bảo:

- Đã là phu thê, chàng hà tất phải nghủ ở án thư nữa!

Tất nhiên Nhật Phủ hoan hỉ vâng lời. Hai người nằm cạnh nhau, im như thóc vì xấu hổ. Thúy Sơn xa chồng đã lâu, nay được trung phòng, lòng xuân phụ rộn ràng, xao xuyến. Thấy đối phương cứ đực ra, nàng đành phải làm mặt dầy, chủ động lăn sang, ngồi lên đưa tay vuốt ve gương mặt họ Tần. Dưới ánh đèn toạ đăng, đôi mắt Thúy Sơn rực rỡ niềm yêu thương và khao khát. Nàng run rẩy cởi áo, để lộ thân hình ngà ngọc, nhũ phong của nàng hơi nhỏ nhưng săn chắc và kiêu hãnh !

Nhật Phủ mím cười hạnh phúc, đắm đuối mơn man đôi tạo vật kỳ diệu, động tác rất nhẹ nhàng. Rồi chàng ngồi dậy, thoát y cho cả hai, vuốt ve Thúy Sơn rất lâu mới gầy cuộc truy hoan. Thúy Sơn ứa lệ vì cảm nhận được tất cả những gì thân thiết, từ cử chỉ cho đến mùi da thịt của Nhật Phủ khi động tình. Chàng càng là chàng hơn khi phá thành đoạt luỹ, với phong cách dũng mãnh mà đằm thắm! Biếc chắc Nhật Phủ chính thực là người chồng thất lạc, Thúy Sơn hân hoan dâng hiến, lệ mừng tuôn ướt gối. Hết hiệp, Nhật Phủ ngại ngùng hỏi :

- Nàng rất nồng nàn nhưng vì sao lại khóc nhiều như vậy ?

Thúy Sơn giận dỗi trườn lên cắn vai chàng đau điếng rồi kể hết khúc nổi, Nhật Phủ bàng hoàng, ngơ ngác nhưng hiểu rằng đấy là cách giải thích hữu lý nhất cho cuộc đời chàng! Niềm tin càng vững chắc khi Thúy Sơn đọc vanh vách đoạn đầu khẩu quyết của pho tâm pháp nội công mà chàng đang luyện. Pho tâm pháp này chỉ mình chàng biết mà thôi và cứ ngỡ là sở học nhà họ Tần. Tuy nhiên, chàng vẫn còn ngơ ngác, chưa nhớ được quá khứ. Thúy Sơn bực bội tát yêu chàng và bảo :

- Sáng mai chúng ta về Lạc Dương nhờ Thần Y chữa trị cho chàng !

Nhương Thư khi huyết phương cương, đã lại động tình, ngượng ngùng hỏi :

- Thế ngày xưa ta và nàng thường đấu mấy hiệp ?

*

* *

Phu thê ân ái mặn nồng đến cuối canh tư, ôm nhau ngủ vùi, khi mặt trời lên cao mới chịu thức dậy lên đường. Nhưng Thúy Sơn đã thay đổi ý định. Nàng biết khi về Lạc Dương vợ chồng khó có điều kiện gối chăn, nên muốn ở lại đây thêm vài ngày cho thoả tính cá nước !

Thúy Sơn nũng nịu nói :

- Tần đại ca! Chàng có đến bốn vợ khiến tiểu muội luôn chịu thiệt thòi. Hay là chúng ta ở lại thêm vài ngày nữa, đại ca dạy cho tiểu muội công phu Lục Mạch Thần Chỉ ?

Nhương Thư thạt thà đáp :

- Thì cứ về đến Tạ gia trang rồi ta sẽ dạy cho cả bốn nàng một lúc!

Thúy Sơn tức tối muốn nổ đom đóm mắt, giận dữ nói thẳng ra :

- Đại ca muốn giữ đạo công bằng cũng được! Vậy thì tiểu muội chưa có thai quyết chưa về !

Vừa nói nàng vừa cáu nhéo Nhương Thư kịch liệt, mắt ướt vẻ xuân tình! Nhương Thư đã hiểu, cười bảo :

- Té ra là thế! Ta sẽ chiều ý nàng!

Và chàng sực nhớ ra, thận rọng hỏi lại :

- Thế lúc ta chưa trúng tà pháp thì có thiên vị ai trong bốn nàng hay không ?

Thúy Sơn hãnh diện ỏn ẻn đáp :

- Đại ca yêu thương tiểu muội nhất đấy!

Quả đúng như thế, dù bề ngoài vẫn giữ đạo công chính nhưng trong lòng Nhương Thư vẫn xem trọng Thúy Sơn hơn. Nàng dám vì chàng mà lao mình xuống vực thẳm chết theo, chân tình ấy thế gian không ai sánh nổi!

Nhương Thư gật gù !

- Vậy là không tốt! Sau này ta phải ưu ái ba chị em họ Điền thêm mới được !

Thúy Sơn tức quá đấm lưng chàng thùm thụp. Ngay sau hi ăn điểm tâm bằng cháo, Nhương Thư giảng giải khẩu quyết Lục Mạch Thần Chỉ cho Thúy Sơn nghe. Tuyệt học này chính là phép dồn chân khí ra ngoài cơ thể qua sáu huyệt trên đầu những ngón tay. Sáu huyệt này thuộc về sáu kinh mạch, nhưng mỗi bàn tay chỉ năm ngón, do vậy, có hai huyệt nằm chung một ngón.

- Huyệt Thiếu Thương thuộc Kinh Thủ Thái Âm Phế, nằm phía sau góc móng tay cái.

- Huyệt Thương Dương thuộc Kinh Thủ Dương Minh Đại Trường, nằm sau ngón móng ngón trỏ.

- Huyệt Trung Xung thuộc Kinh Thủ Quyết Âm Tâm Bảo, nằm ở đầu ngón giữa.

- Huyệt Quan Xung, thuộc Kinh Thủ Thiếu Âm Tâm, nằm ở mé trong đầu ngón út.

- Huyệt Thiếu Trạch thuộc Kinh Thủ Thái Dương Tiểu Trường nằm ở góc móng ngoài ngón út.

Sáu Kinh kia đều mang huyệt kép, nghĩa là bàn tay phải và trái đều có thể thi triển Lục Mạch Thần Chỉ. Hai bàn tay cọng lại thành mười hai đạo chỉ phong, nhưng ít ai đủ công lực để xạ ra cùng một lúc. Đây là căn bản của Lục Mạch Thần Kiếm nhà họ Đoàn đất Đại Lý tiếc rằng tác giả chẳng nhớ khẩu quyết nếu không đã chép ra để chư vị luyện thử! Nhắc lại, ngày dạy võ, đếm dạy yêu, sau chín hôm thì Thúy Sơn đỏ mặt thỏ thẻ :

- Đại ca! Tiểu muội đã trễ kinh được bốn ngày, chắc là đã cấn thai! Còn khẩu quyết Lục Mạch Thần Chỉ cũng đã thuộc lòng, chúng ta đi thôi !

Nhương Thư mỉm cười :

- Lạ thực! Sao trước đây không ai chịu chửa đẻ, nay nhất loạt mang bầu dể dàng thế này? Hay ta không phải là Tần Nhương Thư?

Chàng chưa hồi phục ký ức nên vẫn mơ hồ, chỉ biết tin vào lời của Thúy Sơn! Cô ả họ Bạch cũng còn một chút xíu nghi hoặc, giấu kín trong tâm thức, nên giật thót mình. Song đã tự trấn an được ngay, hờn giận nói :

- Dẫu chàng là ai cũng mặc xác. Suy nghĩ hoài chắc tiểu muội phát điên mất !
Đăng nhập để trả lời
0
Tần Nhương Thư

Ưu Đàm Hoa



Hồi Thứ Mười Lăm

Báo Ứng Phùng Báo Ứng

Giang Biên Khấp Hiền Thê !



Đêm ấy chỉ bình yên được đến cuối canh ba thì Nhương Thư phát hiện có tiếng chân người dẫm gãy cành khô. Chàng bật dậy, đánh động Thúy Sơn. Hai người khoác vội y phục bước ra. Qua song cửa sổ phía trước đôi mắt cú vọ của Nhương Thư nhận thấy hàng chục bóng đen đã vây quanh mộc xá. Thiên la địa võng đã khép kín đuốc thông được đốt lên để thị uy và có tiếng âm trầm vang lên :

- Tích Bảo Chân Nhân! Bổn toạ là hội chủ Báo Ứng Hội, cùng các cao thủ hạng nhất đã vây chặt nơi này! Lão muốn sống thì phải đem Mạc Gia Thần Kiếm ra đây nạp. Bổn toạ hứa sẽ không đòi thêm bất cứ vật gì!

Thúy Sơn sợ hãi thì thầm :

- Đại ca! Chúng ta xui xẻo nên mới chết thay cho lão Tích Bảo Chân Nhân Tư Mã Hầu! Không ngờ căn mộc xá nghèo nàn này lại là nhà của kẻ giàu có nhất võ lâm !

Lúc còn ở Lạc Dương, Nhương Thư trong vai Tần Nhật Phủ, đã nghe nói nhiều về sự lợi hại của Báo Ứng Hội. Nay không có kiếm trong tay, chàng như hổ bị chặt móng, chẳng dám sinh cường vì sợ hại đến Thúy Sơn. Nàng có kiếm nhưng vũ khí của chàng thì đã rơi lại ở Cô Độc Bảo !

Nhương Thư nói ngay :

- Sơn muội! Chúng ta sẽ thoát ra bằng lối sau, nàng chạy trước mở đường. Ta dùng Lục Mạch Thần Chỉ đoạn hậu !

Xem ra, chỉ có kế thứ ba mươi sáu là đắc sách, hai người lần xuống bếp rồi bất ngờ xông ra. Biết đệ tử Báo Ứng Hội giỏi nghề phóng độc châm, Nhương Thư đã cầm theo cây gậy trúc già của chủ nhà! Mấy ngày qua, chàng đã dùng thanh trúc này để dạy cho Thúy Sơn vài chiêu Kiếm Pháp. Có nó chàng vững tâm hơn vì chẳng thể dùng đôi bàn tay thịt để đối phó với ám khí được?

Quả nhiên, phòng tuyến đối phương ở phía sau mộc xá lập tức chặn vợ chồng Nhương Thư bằng trận mưa kim độc. Nhương Thư cố ý vuột lên trước múa tít gậy trúc che chắn cho ái thê. Công lực gần hoa giáp cộng với kiếm thuật siêu phàm đã tạo nên bức tường kín đáo, vững vàng đánh bạt tất cả những mũi kim thép dài nửa gang, tẩm độc đen sì! Và Nhương Thư ập đến như cơn lốc, gậy trúc vừa chạm với vũ khí của kẻ thù là tả thủ đã xạ liền một đạo chỉ phong!

Khi giáp chiến, thần chỉ còn lợi hại hơn ám khí bội phần, vì chẳng cần phải móc ra hay lắc cổ tay. Chỉ kình từ đầu ngón giữa xạ ra như tia chớp, xoèn xoẹt xé gió và xuyên thủng da thịt kẻ thù. Chàng không cần băn vào mắt vì bọn sát thủ Báo Ứng Hội không có công lực trăm năm, không luyện thành cương khí hộ thân như Âm Sơn Lão Tổ. Trong phép kiếm chỉ hợp nhất, Nhương Thư thường sử dụng hai đạo chỉ kình xuất phát từ hai huyệt Thương Dương và Trung Xung vì chúng nằm trên đầu ngón trỏ và ngón giữa. Trong tư thế bắt kiếm ấn của bàn tay tả, hai ngón này luôn chỉa ra nên chỉ xuất chính xác và bất ngờ.

Những đạo chỉ kình vun vút bay ra trong màn đêm nhập nhoè ánh đuốc nên bọn Báo Ứng Hội không tài nào tránh nổi. Trong cảnh nguy ngập, Nhương Thư chẳng thể giữ được lòng nhân hậu, ra tay rất tàn nhẫn để đưa ái thê thoát thân. Chàng liên tục khoét lỗ trên thân thể đối phương và tiếng rên la vang dội cả rừng đêm. Gậy trúc cũng chẳng phải hoàn toàn vô huyết trong tay một kiếm sĩ thượng thừa. Mũi gậy biến hoá khôn lường, thọc thẳng vào tử huyệt kẻ địch, không đâm thủng da thịt nhưng chân khí vào tận đấy, đủ để lấy mạng người.

Bản lãnh Thúy Sơn kém chàng vài bậc, song cũng kiêu dũng hơn bọn sát thủ. Nàng sát cánh với trượng phu mở đường máu, mắt phượng tròn xoe đầy sát khí, kiếm quang lồng lộng phủ sương. Vợ chồng Nhương Thư giết liền mười sáu gã sát thủ, vừa đánh vừa chạy về hướng Bắc, song Báo Ứng Hội chủ Đào Thiên Hậu và bốn cao thủ lão thành đã truy đuổi ráo riết, chẳng chịu rời. Đến trảng cỏ trống, Nhương Thư liền hối thúc Thúy Sơn :

- Nàng hãy thoát đi trước, ta chậm lại chặn đường! Hẹn gặp nhau ở Lạc Dương!

Biết chàng võ nghệ siêu phàm, khinh công xuất chúng, không thể bị vây được. Thúy Sơn cắn răng đào tẩu trước vào màn đêm.

Nhương Thư bắt đầu quay ngoắt lại, lao vào một gã sát thủ. xạ liền hai đạo chỉ kình, đãthương gã rồi đoạt lấy kiếm. Gã này nhanh chân hơn đồng đảng nên lãnh đủ!

Nhương Thư vung cước đá văng xác nạn nhân rồi hiên ngang đứng lại quát vang:

- Đào Thiên Hậu! Ta là Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách Tần Nhật Phủ đây!

Danh tiếng của đại sát tinh đất Hà Bắc đã khiến họ Đào chột dạ, giử bốn vị Hộ Pháp ở lại với mình, chỉ để bọn tép riu truy sát Thúy Sơn .

Nhương Thư nói tiếp:

- Dừng cho người đuổi theo nữa ! Ta mới là người biết Tích Bảo Chân Nhân hiện nay ở đâu!

Nghĩ đến cảnh tìm người trong rừng đêm rậm rạp, tối tăm, Đào lão quỷ cũng ngao ngán, tập trung bắt con mồi trước mặt hay hơn. Lão liền ra lệnh cho thủ hạ vây chặc Nhương Thư, không phân tán ra nữa.

Hội Chủ Báo Ứng Hội được coi là nhân vật Hắc Đạo tàn ác và thần bí nhất võ lâm. Ngay Vô Ưu Cái và lực lượng hàng vạn của Cái Bang cũng không tài nào biết được mặt thật của họ Đào, hoặc sào huyệt của Báo Ứng Hội!

Cái tên Đào Thiên Hậu là do lão tự khai chứ chưa chắc là thật. Lão ta có thân hình tầm thước, dáng vóc trung bình, không gầy, không béo và luôn mang mặt nạ.

Với hình dạng bình thường như thế Đào Thiên Hậu dể dàng hoà lẩn vào xã hội. Cả thuộc hạ lão cũng vậy, họ trà trộn trong bách tính, sống bằng những nghề rất lương thiện, khi được lệnh mới hành động, Tóm lại Báo Ứng Hội không hề có sào huyệt, hội viên liên kết với nhau bằng mật hiệu, được điều động bởi bốn thủ hạ lão luyện, thân tín của Hội Chủ. Chỉ có bốn người này mới biết lai lịch thực của Đào Thiên Hậu! Tất nhiên họ tuyệt đối trung thành, thà chết chứ không khai báo.

Chính nhờ lối tổ chức chu đáo, thần bí ấy mà Đào Thiên Hậu đã thoát khỏi sự truy lùng của Cái Bang và Phật Đăng Thượng Nhân.

Gìp đây, họ Đào xuất hiện trước mặt Nhương Thư bằng dung mạo đã quen thuộc với võ lâm : Mắt dài nhỏ, mũi ưng, gò má cao, cằm bạnh. Những nét ấy tạo nên vẻ dử tợn, oai phong và ác độc. Phải chăng lão cố tình gây ấn tượng để che dấu một chân diện mục hoàn toàn ngược lại?

Đào Thiên Hậu lạnh lùng hỏi Nhương Thư:

- Tần Nhật Phủ! Bổn toạ nghe nói ngươi một mình, một kiếm hạ sát Âm Sơn Lão Tổ, thân thọ trọng thương được ả vợ goá của Tần Nhương Thư mang đi, vậy vì sao hai ngươi có mặt nơi này, và có quan hệ gì với Tích Bảo Chân Nhân?

Nhương Thư điềm tỉnh đáp:

- Quả đúng thế! Tần Đại phu nhân cõng ta chạy lạc vào đây, và hoàn toàn không biết la nhà của ai! Lúc ấy mộc xá không một bóng người!

Đào Thiên Hậu quắc mắt:

- Thế vì sao hai người lại bỏ chạy, không dừng lại mà phân giải?

Nhương Thư cười nhạt:

- Lão là kẻ thù giết cha Tần Nhương Thư, hiện lại là công địch của võ lâm, liệu có tha cho Bạch Thuý Sơn hay không?

Dào lão quỷ gian xảo có thừa, mắt sắc như dao, nhận ra đối phương rất thành thực. Song lão hỏi gằn:

- Ngươi có dám đem danh dự ra đảm bảo cho lời nói của mình hay không?

Nhương Thư gật đầu:

- Tần mỗ là kẻ cao ngạo, chẳng thèm nói láo bao giờ! Song phương vốn khôngthù oán, Đào môn chủ hãy rút quân để tránh thương vong!

Lúc đầu Đào Thiên Hậu vẩn nghi ngờ Nhật Phủ là Tần Nhương Thư hoá thân, song thấy chàng chẳng chút sát khí khi gặp mình là kẻ thù giết cha, mối hoài nghi kia liền tan biến. Lão vuốt chòm râu cằm dài và đen nhánh suy nghĩ một lúc rồi nói:

- Quan điễm của lão phu rất rạch ròi, không là bạn thì là thù! Nếu ngươi đã đầu phục Hội Đồng võ lâm tất trước sau gì cũng tìm cách tiêu diệt Báo Ứng Hội! Do vậy, đêm nay néu ngươi muốn sống thì phải qui hàng bổn toạ!

Nhương Thư dựng ngược đôi lông mày kép nạt:

- Cuồng phu! Lão tưởng bổn công tử sợ lũ chó con hay sao?

Dứt lời, chàng thi triển phép Ngự kiếm, hung hăn lao đến như cơn bảo, chiêu Chân Nhân Đảo Mệnh này được Nhương Thưdồn hết mười hai thành công lực nên khí thế cực kỳ bá đạo, kiếm kình rít vo vo, kiếm phong lạnh lẻo toả rộng. Huyền Không Kiếm Pháp là tuyệt học của Đạo gia, hiễm và xảo hơn hẳn Phật Đăng Kiếm Pháp.

Đào Thiên Hậu và bốn lão già râu bạc vội liên thủ chống đở, chẳng dám xem thường cơn thịnh nộ của kẻ đã từng giết Âm Sơn Lão Tổ Lương Dã Toàn!

Năm người này đều có công lực tương đương hoa giáp, lại quen lối đánh hợp bích nên đãchận đứng được chiêu kiếm kinh hồn của Nhương Thư.

Tiếng thép chạm nhau vang rền Nhương Thư nghe thân kiếm chấn động mạnh tự lượng sức mình không bằng bèn mượn lực phản chấn nhảy lùi. Song chàng lập tức lướt chếch sang mé hữu tấn công lão già cầm Cửu Hoàn Đao, khôngđánh vào trung lộ nữa!

Báo Ứng Hội là nơi quy tụ những kẻ độc ác, tham lam trên giang hồ, mỗi người một xuất xứ, chẳng cùng môn phái. Do vật tuy Báo Ứng Hội Chủ xử dụng trường kiếm nhưng bốn hộ pháp và các sát thủ thì không nhất thiết phải như thế. Trong bốn lão già kia, chỉ mình người bị mất nữa vành tai trái là dùng kiếm giống Đào Thiên Hậu mà thôi!

Nhắc lại, Nhương Thư muốn phá lối liên thủ của đối phương nên tìm cách chia để diệt. Chàng chừa ba phần chân khí cho tay tả và chụp lưới kiếm vào lão cầm đao.

Tuy chỉ có bảy phần công lực nhưng chiêu Huyền Chi Hựu Huyền cũng đủ doạ khiếp đối phương. Đúng nhơ tên gọi, đường kiếm huyền huyền, ảo ảo, chẳng thấy đâu là sơ hở.

Là sát thủ già dặn, quen vào sanh ra tử, lão ta nghiến răng công thẳng vào màn kiếm quang của đối thủ. Trong giao đấu, chẳng phải lúc nào cũng có thể nhìn thấy sơ hở hay ý đồ của kẻ thù, lúc ấy người ta đối phó bằng cách đổi đòn, kẻ nào mạnh, nhanh thì thắng!

Kiếm và đao là hai loại vũ khí khắc chế lẩn nhau. Kiếm nhẹ mà nhanh, đao nặng nên lực chém mãnh liệt. Do vậy, tuy kiếm đứng đầu trong Binh Khí Phổ song số người học Đao pháp còn đông hơn người học kiếm. Bằng chứng điển hình là mấy chục vạn quân triều Minh đều dùng đao làm vũ khí!

Vậy tại sao kiếm lại làm vua? Bởi vì kiếm thuật là đỉnh cao của võ học, là tín ngưỡng của những kẻ có căn cơ thượng hạng. Khi đạt đến trình độ cao siêu, không thanh đao nào có thể ngăn chận đường đi của mũi kiếm!

Nhương Thư là một trong những kiếm sĩ xuất sắc nhất trong võ lâm. Sở đắc đến hai pho tuyệt kiếm của Phật môn và Đạo gia, về chiêu thức thì không ai hơn được!

Chàng nhận ra lưỡi Cửu Hoàn Đao kia khống chế từ ngực đến đầu gối của mình, thế thức hiễm ác và mạnh mẽ, song chưa đủ nhanh, tuy nhiên mối đe doạ thực sự đến từ lão già cầm Phá Sơn Phủ ở phía sau lưng chàng. Nhương Thư đã tiên liệu trước nên khi bảo kiếm vừa chạm Cửu Hoàn Đao phía trước, chàng hạ tả thủ chĩa séo ra sau xạ liền một đạo Thương Dương chỉ. Đồng thời Nhương Thư điểm liền bảy thức cuối trong chiêu kiếm.

Hai tiếng rú cất lên cùng một lúc, gã cầm đao ngã gục ngay vì thủng ngực, còn lão cầm búa thì lảo đảo ôm bụng. Nhương Thư quay ngoắt lại hớt đứt yết hầu nạn nhân rồi tung mình ra xa, tránh chiêu hợp công của Đào Thiên Hậuvà hai lão hộ pháp còn lại!

Họ Đào đau lòng khôn siết, trước cái chết chóng vánh của hai thủ hạ trùng thàng. Lão điên cuồng gầm vang:

- Lập trận!

Thế là bọn đệ tử Báo Ứng Hội lăn xả vào, phồi hợp cả đao, kiếm lẩn độc châm, quyết bằm thây kẻ địch! Song không phải chúng đánh đấm hổn loạn mà theo một chiến thuật định sẳn, nhịp nhàng và dũng mãnh!

Từ vòng tròn xung quanh, bọn sát thủ thay nhau chạy qua chạy lại, tấn công tâm điểm là Nhương Thư, chỉ một chiêu là rút sang vị trí đối diện, Mỗi đợt như thế là sáu gã, tả, hữu, tiền, hậu, thượng, hạ.

Đáng ngại nhất là mủi hạ bàn, trong tư thế cuộn tròn người, che thân bằng vũ khí, những tên sát thủ kia đãkhiến Nhương Thư phải lúng túng.

Địa Đường Đao Pháp là môn võ kỳ dị nhất Trung Hoa, xuất hịen vào thời Nam Tống, khi quân Mông Cổ xâm lăng Hoa Hạ.

Kỵ binh Mông Cổ hung hẳn và thiện chiến đã đè bẹp bộ binh nhà Tống, nhờ vó ngựa thần tốc. Lúc chúng đến đánh Hồ Nam, một vị ẩn sĩ đã đến thành Tương Dương dạy cho quân Tống pho Địa Đường Đao Pháp này. Vài ngàn cặp chân ngựa Mông Cổ đã bị chặt và thành Tương Dương cầm cự được mấy năm trời! Sau này, Chu Nguyên Chương cũng có cả một đạo quân chuyên luyện Địa Đường đao Pháp, phá tan những đội kỵ binh nhà Nguyên, thành lập Triều Minh.

Lục phương thọ địch, lại thêm độc châm bên ngoài bắn vào như mưa. Nhương Thư đành phải hát bài tẩu mã. Chàng thi triển Cửu Huỳen Bộ Pháp, kiếm ảnh che thân, tiến dần về hướng Bắc. Tất nhiên Trận Pháp của Báo Ứng Hội không cho phép, bọn sát thủ liều chết xông vào, chẳng ngại câu sinh tử. Dũng khí của chúng quả là đáng sợ! Nhương Thư có cảm giác như mình bị vây chặt bởi một lũ người điên, không còn dám nương tay, bảo kiếm bay lượn như tai chớp, đã gạt những đòn tấn công và lấy mạng kẻ thù.

Cả ba cao thủ đầu sỏ Báo Ứng Hội là Đào Thiên Hậu và hai lão hộ pháp cũng tham gia trận pháp. Với họ, Nhương Thư đối phó rất vất vả nên lưng trúng độc châm chi chít, tuy đau đớn những chàng không thấy hiện tượng trúng độc, lòng càng tin lời Thúy Sơn. Nàng đã bảo rằng Tần Nhương Thư ba lần ăn được kỳ trân, thân thể bách độc bất xâm! Nhương Thư vừa đánh vừa nhổ bỏ ám khí trên người và ném trả lại đối phương.

Đào Thiên Hậu cũng phát giác việc này, kinh hãi thét lên :

- Gã này không sợ độc! Các người hãy bắn vào mắt gã cho ta !

Thế là bọn sát thủ ở ngoài cứ nhắm vào mặt Nhương Thư mà phóng kim thép. Nhương Thư như mãnh hổ cùng đường, giận dữ múa tít trường kiếm, tả xung hữu đột. Chàng xông đến đâu là có xác người gục ngã, tiếng kêu lìa đời nấc nghẹn hoặc ồn ào! Nhương Thư đủ khôn ngoan để né tránh ba cường địch, chú tâm tấn công đám đệ tử kếm tài, tiểu huynhhoạch rất lơn. Thấy thủ hạ chết như rạ, Đào Thiên Hậu tan nát ruột gan, quên cả thận trọng lao vào tập kích hậu tâm họ Tần.

Nhương Thư đã tin mình là Nhương Thư nên nẩy ý định sát hại Đào Thiên Hậu để báo phụ thù. Nếu bỏ lỡ cơ hội hôm nay, sau sẽ khó gặp được lão hồ ly xảo quyệt này! Sau lần thoát chết dưới mũi côn ngàn cân của Âm Sơn Lão Tổ, chàng hiểu rằng cơ thể mình rắn chắc, kiên cố hơn thường nhân gấp mấy lần. Giờ đây, chàng lợi dụng ưu thế đó để ra tay. Nhương Thư bất ngờ đề khí bốc lên cao, khoằm bàn tay tả xạ đủ sáu đạo Lục Mạch Thần Chỉ vào mặt Đào Thiên Hậu. Tiếng chỉ kình rích gió khiến họ Đào sợ hãi đảo bộ né tránh. Nhưng lão đã hơi chậm chân và cũng vì tốc độ cực nhanh của chỉ phong, nên lãnh một chỉ vào mắt trái. Công lực phân tán làm sáu nên không mạnh, chỉ đủ sức phá vỡ nhãn cầu Đào Thiên Hậu. Nhưng trong lúc họ Đào tá hoả tam tinh, tay chân bủn rủn thì kiếm của Nhương Thư đã đến nơi, đam thủng yết hầu của lão. Đây cũng là vị trí của huyệt Liem Tuyền thuộc mạch Nhâm.

Mũi kiếm cắt đứt cả khí quản lẫn thực quản, máu tràn vào phổi đưa nạn nhân đến cái chết khá nhan chóng. Đào Thiên Hậu ngạt thở, mắt trợn trắng miệng há hốc, hai tay cào cấu cổ họng đòi dưỡng khí. Nhưng lão chưa kịp chết thì Nhương Thư đã trúng đòn của lão hộ pháp cầm chuỳ. Chàng muốn giết kẻ gia thù nên chấp nhận trả giá, có điều không được quá đắt!

Khi đâm cổ Đào Thiên Hậu, Nhương Thư chỉ dùng có hai thành công lực, kỳ sư dồn cả về hậu tâm để đỡ đòn. Tiếng chùy giáng vào lưng nghe khá kêu, Nhương Thư hộc máu và bị đẩy văng về phía trước. Kỳ diệu thay, chàng không chết mà còn vung kiếm giết liền hai gã đang lơ ngơ đứng đúng nơi mình đến. Nhương Thư tràn tới, xuất chiêu Lôi Phong Thiết Phiến, kiếm quét tròn một đường hình rẽ quạt, không phải chém mà là đâm thủng ngực thêm bốn tên nữa. Kể thì đơn giản nhưng thực ra chiêu này có đến một trăm linh tám thế thức, mũi kiếm vừa quét vừa điểm như mưa nên đối phương không sao ngăn nổi. Phòng tuyến đã trống, Nhương Thư lao vút đi, khuất dạng trong bóng tối của khu rừng phía Bắc trảng cỏ. Chạy được hơn dặm, chàng nghe tiếng Thúy Sơn hỏi :

- Phải đại ca đó không?

Chàng vội đáp :

- Ta đây !

Từ sau một góc cây lớn, Thúy Sơn xuất hiện, giọng đầy lo âu, trách móc :

- Thấy đại ca lâu quá không đến, tỉêu muội nóng ruột quay lại xem sao ?

Nhương Thư cảm động nắm tay nàng :

- Chúng đông đến hàng trăm tên ta phải vất vả lắm mới giết được lão Đào Thiên Hậu rồi thoát thân !

Thúy Sơn hân hoan nói như reo :

- Đại ca giỏi thực! Giữa vòng vây đầy đặc mà vẫn báo được gia thù !

Thúy Sơn đã tìm ra đường mòn đưa đến bờ Nam sông Hoàng Hà nên dắt Nhương Thư đi theo. Họ đến nơi thì trời hửng sáng. Đoạn bờ này có địa thế rất cao nên không cần đắp đê. Hai người ngồi phịch xuống bải cỏ xanh rì nhờ mưa đầu tiểu huynh để nghĩ ngơi. Đào Thiên Hậu đã chết, chắc chắn bọn Báo Ứng Hội không dám đuổi theo Nhương Thư. Thúy Sơn nhờ ánh bình minh mà phát hiện những vết máu trên lưng trượng phu, kinh hãi rú lên :

- Đại ca thọ thương rồi !

Và nàng mau mắn lột áo chàng đau lòng trước mấy chục lỗ thủng nhỏ và vết bầm lớn cỡ bàn tay! Thúy Sơn ấn vào và tò mò hỏi :

- Chỗ này của đại ca bị loại vũ khí gì đánh trúng vậy ?

Nhương Thư cười đáp :

- Cây chùy sắt của lão hộ pháp béo lùn! May mà ta đã vận công bảo vệ và mượn đà đẩy mà nhẩy đi, không thì xương đã gãy rồi!

Thúy Sơn vừa bôi thuốc kim sang lên vết thương, vừa cằn nhằn :

- đại ca không được liều mạng như thé nữa! Lỡ chàng có mệnh hệ gì lần nữa, bọn tiểu muội chắc phát điên mất !

Nhương Thư liền an ủi :

- Nàng chớ quá lo lắng làm gì, làm gì có kẻ giết nổi ta ?

Sau khi hạ sát Âm Sơn Lão Tổ, chàng thực sự tin vào kiếm pháp và chỉ pháp của mình nên mới nói thế ! Nhưng từ trong cánh rừng cạnh bờ song bỗng có tiếng ai cười nhạt :

- Cưông ngôn! Bọn ta đến hoá kiếp cho người đây !

Vừa nói, phe đối phương vừa ập đến, vây chặt vợ chồng Nhương Thư. Chàng không biết lai lịch bọn lạ mặt này, song Thúy Sơn đã sợ hãi thét lên :

- Âu Dương Lăng !

Nhờ thế Nhương Thư mới hiểu gã trung niên áo xanh, anh tuấn, oai phong kia từng là cung chủ của Tứ Phạn Thiên Cung. Nghe đồn gã đã đưa thủ hạ về Thiểm Tây liên kết với Báo Ứng Hội nhưng sao lúc nãy không xuất hiện để tợ giúp Đào Thiên Hậu? Cạnh Âu Dương Lăng là tám lão già trong Hộ Cung Thập Nhị Chân Khanh. Thế lực của đối phương khiến Nhương Thư thầm lo ngại cho Thúy Sơn. Bờ sông cao hơn mặt nước Hoàng Hà đến tám chín trượng, nước sông lại chảy cuồn cuộn như thác lũ, nhẩy xuống mà thọ thương hay không giỏi thủy tính là khó toàn mạng !

Thúy Sơn thì thầm :

- Đại ca! Chúng ta hãy phá vây chạy dọc bờ sông tìm về Khai Phong! Tiểu muội bơi rất dở và cũng chẳng dám nhẩy xuống nước từ độ cao chóng mặt này!

Là bậc anh hùng bất khuất Nhương Thư hiên ngang đáp :

- Phá vây không khó! Nàng cứ giữ vị trí sát mép sông, ta ở phía ngoài chống trả!

Âu Dương Lăng cười nhạt :

- Cứ trân trối đi rồi chết! Ngươi đã thọ thương làm sao địch nổi bọn ta? Nay bổn nhân tập đại thành Thần Quang Chưởng Pháp, mở lượng bao dung cho ngươi được nghỉ ngơi một khắc!

Thêm sức lực là thêm sinh cơ Thúy Sơn chụp lấy ngay :

- Cung chủ quả có khí độ của bậc trượng phu! Song ta thắc mắc vì sao Cung chủ lại có mặt nơi này mà không bạt kiếm tương trợ Đào Thiên Hậu?

Thúy Sơn là một trong những mĩ nhân hàng đầu võ lâm, sau những ngày hoan lạc trùng phùng với Nhương Thư, nàng mập ra, dung nhan càng mặn mà, quyến rũ, Âu Dương Lăng là nam nhân lại nổi tiếng phong lưu, lẽ nào không chạnh lòng ngây ngất ?

Y nhìn nàng bằng ánh mắt thèm thuồng và đắc ý đáp :

- Bổn cung dời đến Thiểm Tây, nhất thời phải chịu luỵ địa chủ là Báo Ứng Hội! Nhưng Đào Thiên Hậu tham lam, bắt ta phải dâng khẩu quyết Thần Quang Kiếm Phổ. Ta đồng ý nên được họ Đào xem trọng, đối đãi tử tế! Khi biết lão đi Khai Phong đoạt Mạc Gia Thần Kiếm, ta lập tức bám theo, chỉ đến trễ độ vài khắc. Nhưng dẫu có đến sớm ta cũng chẳng dại gì cứu mạng lão !

Thúy Sơn tủm tỉm hỏi thêm :

- Cung chủ bảo rằng mình tập đại thành Thần Quang Chưởng Pháp, tiểu muội chẳng dám tin vì công lực Cung chủ còn kém lắm!

Âu Dương Lăng ngửa cổ cười ngạo nghễ :

- Này mĩ nhân! Trước sau gì nàng cũng phải chết hoặc thuộc về ta, vì vậy, Lăng này chẳng giấu giếm làm gì! Ta đã làm thịt con Huyết Hoa Lộc nên hiện sở hữu đến hơn hoa giáp chân khí và mỗi ngày mỗi tăng thêm! Chỉ ba năm nữa là ta sẽ trở thành vô địch thiên hạ!

Nhương Thư nhìn cặp mắt chói lọi hào quang của Âu Dương Lăng, biết rằng gã không nói khoác. Chàng càng thêm lo lắng, quyết định đào tẩu ngay. Nhương Thư vỗ lưng Thúy Sơn khẽ quát:

- Đi !

Cả hai thủ kiếm lão vút về hướng Tây, cùng tấn công ba lão Chân Khanh. Thúy Sơn chọn một còn Nhương Thư phụ trách hai. Sáu đạo chỉ là vũ khí bất ngờ nên nạn nhân không tránh khỏi, vừa cử kiếm đã buông rơi, ôm ngực ren la. Còn chiêu kiếm Niên Miên Nhược Tôn dằng dặc kéo dài cũng thành công chẳn nhỏ. Đường kiếm lấp lánh trong ánh triều dương, vẽ nên những tơ bất tận, níu chặt kiếm của lão Chân Khanh. Lão ta bất ngờ xoè tả thủ vỗ liền một chưởng Cách Không để tự cứu nguy. Thì ra Âu Dương Lăng đã đem Thần Quang Chưởng Pháp dạy cho thủ hạ !

Chưởng kình vừa chạm ngực Nhương Thư thì đứt đoạn vì chàng đã biến chiêu đâm thủng huyệt Lao Cung của đối thủ. Sau đó, chàng trổ ba lỗ trên ngực lão. Tuy đắc thắng nhưng Nhương Thư lại bội phần lo lắng, lập tức tràn qua mé hữu để hộ trợ Thúy Sơn. Nàng không đủ bản lãnh để đối phó vơi Thần quang Chưởng Pháp. Phản ứng thần tốc này đã cứu vãn được một phần tai hoạ. Lão già thấp bé kia thấy kiêm quang cuồn cuộn ập đến liền run sợ, chưởng kình lệch đi, chỉ trúng vào vai của Thúy Sơn.

Là thân liễu yếu đào tơ, xương cốt nhỏ nhắn, Thúy Sơn đau đớn rú lên, thân hình loạng choạng. Tuy nhiên, kẻ đả thương nàng đã bồi thường. Kiếm chưa đén nơi thì Nhương Thư đã hạ thủ bằng một ngọ chỉ phong vào huyệt Độc Tỵ đươi đầu gối chân phải đối phương. Lão ta lập tức lảo đảo vì chân trụ tê tái, lộ sơ hở và trúng một kiếm vào vùng gan.

Nhương Thư chẳng cần biết nạn nhân sống chết thế nào, nhẩy về phía ái thê. Âu Dương Lăng và ba lão Chân Khanh đã đến nơi, nhất tề cử chưởng hợp công. Nhương Thư kinh hãi ôm Thúy Sơn nhẩy ngược về phía bờ sông. Nàng nữ hiệp vùng Bát Đạt Linh tuy gẫy xương vai nhưng vẫn kiên cường nén đau, cùng Nhương Thư hợp lực để khí, nhờ vậy hai người bay khá xa, chỉ càn cách mép vực sông hơn trượng!

Hai lão Chân Khanh trấn giữ mé này lập tức vung chưởng tấn công Nhương Thư chărng hề kỵ uy, ôm kiếm lao vào, kiếm kình vvun vút cắt nát chưởng phong, dư lực giáng vào người chàng nhưng không ngăn được đà tiến vũ bão. Chàng đã đạt đến trình độ thi triên thuật Ngự Kiếm trong khoảng cách gần, chính là khắc tinh của Thần Quang Chưởng Pháp. Hai lão giết mướn già khiếp vía, vội cử kiếm chia tả hữu phản kích.

Thanh gươm của Nhương Thư loang rộng, va chạm với cả hai đối thủ tiếng tinh tang vang lên dồn dập. Luồng kiếm ảnh sáng bạc kia bất ngờ nghiêng hẳn về mé hữu, chụp lấy lão Chân Khanh cao gầy, râu ngắn ngủn. Lão rú lên thảm khốc vì cái đau khủng khiếp của vùng ngực trái! Lão còn lại thấy kẻ thù hở sườn trái, nghiến răng đâm liền bốn nhát nhưng Thúy Sơn đã luôn bám sát Nhương Thư đỡ đòn cho chàng.

Tuy đánh mất ký ức nhưng bản năng sinh tồn của Nhương Thư vẫn nguyên vẹn. Nó lại được tôi luyện qua những trận đấu sinh tử trong quá khứ, khi hữu sự liền hiển hiện. Chàng đã tính toán rất chính xác chứ chẳng phải liều lĩnh. Thúy Sơn chặn xong đòn tập kích thì Nhương Thư quay sang xạ một dạo chỉ kình sắc bén như dùi sắt, xuyên thủng huyệt Mũi Trung trên ngực trái kẻ địch! Đấy chính là tử huyệt nên nạn nhân khó thoát chết! Nhưng vẫn còn Âu Dương Lăng và ba lão Chân Khanh nữa, cả bốn vung song chưởng tấn công Nhương Thư và Thúy Sơn, chẳng thèm dùng kiếm cho mệt!

Nhương Thư kinh hoàng dồn toàn lực vào chiêu Huyền Vụ Mãn Thiên, kiếm quang toả rộng che chắn cho cả hai người. Tám đạo trưởng kình giáng vào màn sương kiếm mịt mù, lực đạo mãnh liệt như sấm sét, nên đã phá thủng được lá chắn thép, một đánh vào bụng Nhương Thư, một vào ngực Thúy Sơn. Nhương Thư chỉ hộc máu lảo đảo song Thúy Sơn thì văng ngược ra phía sau, rơi xuống sông Hoàng Hà. Nhương Thư ngoái nhìn theo, nhận rõ vòi máu tươi trong miệng Thúy Sơn phun ra vương vải không gian.

Chàng đau đớn gầm lên, định lao theo người yêu thì bị đối phương chận lại bằng đạo chưởng phong vũ bão. Nỗi thống khổ biến thành cơn thịnh nộ điên cuồng, Nhương Thư trợn mắt xông vào Âu Dương Lăng. Chính phát chưởng của gã đã đưa Thúy Sơn xuống hoàng tuyền! Với độ cao tám chín trượng, một kẻ thọ thương như nàng chẳng thể nào sống sót nổi! Thúy Sơn dẫu không nát xương vì sức căng của mặt nước thì cũng bị dòng nước đục ngầu, hung hãn kia cuốn đi và dìm chết!

Công lực Nhương Thư chưa đầy hoa giáp, tức thì kém Âu Dương Lăng một, hai bậc, nhưng võ nghệ của chàng cao siêu hơn hắn ta. Và khi chàng đã nổi điên, xem thường sinh tử thì càng đáng sợ! Âu Dương Lăng chột dạ trước ánh mắt toé lửa căm hờn của đối phương, vội đánh chiêu Nguyệt Quang Vân Xuât, song thủ vỗ liền mười hai chưởng ảnh. Cùng lúc ấy, ba lão đạo sĩ giả hiệu mang danh Chân Khanh kia cũng hợp chưởng cùng môn chủ. Nào ngờ, thân hình Nhương Thư đang ập đến lại đột ngột bốc cao như pháo thăng thiên, khiến những đạo chưởng kình hụt mục tiêu, chạm vào nhau nổ ì ầm.

Cơn giận ngút trời đã nhất thời khích động tiềm thức Nhương Thư khiến chàng bất giác thi triển chiêu Kính Đảo Quang Phương ( Gương xoay góc sàng ) theo phương vị hai trục tung , hoành. Và từ trên không trung, chàng sa xuống như núi Thái ập vào đầu kẻ thù Âu Dương Lăng hồn phi phách tán cử song thủ võ liền hai chưởng, đồng thời song cước lùi mau. Không phải do gã phản ứng nhanh mà bởi Nhương Thư đã hao tổn chân nguyên sau trận tử đấu với Báo Ứng Hội, Âu Dương Lăng thoát chết nhưng hai bàn tay bị đăm nát, rơi mất mấy lóng, mặt và đầu cũng tổn thương nhẹ. Cảm giác đau đớn và sợ hãi đã làm Âu Dương Lăng chẳng còn chút dũng khí nào, tung mình đào tẩu ngay.

Ba lão Chân Khanh liều chết cầm chân Nhương Thư để Cung chủ thoát thân. Càng đánh họ càng khiếp đảm trước kiếm thuật và tấm thân sắt thép của Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách! Chàng liên tiếp trúng chưởng mà vẫn đứng vững và trả lại họ những vết thương vấy máu. Cả ba sợ xanh mặt hè nhau bỏ chạy, chia làm ba hướng để làm khó dễ họ Tần! Nhương Thư không ngần ngại đuổi theo cái lão đã dại dột chạy đúng hướng Âu Dương Lăng vừa thoát đi. Lão ta bị truy quá nút, vừa chạy vừa nói nhanh :

- Sao ngươi không chạy dọc bờ sông tìm xác vợ, theo ta làm gi ?

Lão chỉ nói vì quá sợ, nào ngờ lại có tác dụng. Nhương Thư lập tức đình bộ chạy ngược về phía bờ sông. Chàng phi thân như điên theo giòng nước đang hùng dũng xuôi Đông, miệng gọi vang :

- Sơn muội ! Sơn Muội !

Chàng hành động một cách mù quáng vì giờ này xác Thúy Sơn đã trôi xa hàng mấy dặm. Được vài khắc, Nhương Thư kiệt lực, vấp tảng đá ngã lăn ra, chàng bò đến mép vực sông nhìn giòng nước vàng đục, ác độc kia mà khóc vùi. Chàng chẳng cần biết mình là ai, chỉ biết mình yêu tha thiết Bạch Thuý Sơn và cái chết thảm của nàng đã khiến chàng đứt từng khúc ruột! Nhương Thư càng đau khổ hơn khi không thể nhẩy xuống nước chết theo nàng! Thứ nhất là vì chàng bơi rất giỏi chẳng thể chết được, Thứ hai, chàng phải sống để giết Âu Dương Lăng mà báo thù, cũng như tiêu diệt Kỵ Ba Thần Quân! Nhương Thư nghiến răng thề nguyện :

- Sơn muội chờ ta! Ngày nào diệt song Tứ Phạn Thiên Cung và Sơn Hải Bang ta sẽ đến với nàng !

Nhương Thư thổn thức đến khô lệ và mơ màng nghe có tiếng chim bay ngang, hót trên đầu. Tiếng chim đã gợi cho chàng nhớ đến những con bồ câu đưa thư của Cái Bang, huy động nhân thủ ngược dòng tìm xác Thúy Sơn! Chàng không thể để người vợ yêu lênh đênh làm mồi cho cá, hoặc được chôn như một nạn nhân vô danh! Nhương Thư bật dậy phi thân cố về Khai Phong cho thật nhanh. Lúc đi ngang toà mộc xá của Tích Bảo Chân Nhân, nơi ngập tràn kỷ niệm, chàng sực nhớ đến giọt máu của mình trong bụng Thúy Sơn, càng thêm thương tâm vô hạn.

Đi thêm một đỗi, Nhương Thư phát hiện một con tuấn mã còn đủ yên cương đang gậm cỏ, chàng lướt đến vỗ về rồi lên ngựa! Con vật này chắc là của một lão Chân Khanh đã bị chàng giết! Sơn Tây là vùng đất bị người Mông Cổ chiếm giữ lâu nhất, lại là cao nguyên nên nghề nuôi lừa ngựa rất phát đạt. Nhương Thư cỡi ngựa từ nhỏ, thuật kỵ mã và chăm sóc thuộc hàng thượng thặng.

Chàng không cần dùng roi đánh đạp mà vẫn khiến con ngựa lạ ngoan ngoãn phóng như bay. Tuy đang não ruột Nhương Thư cũng thầm khen ngựa tốt! Chàng vào cửa Đông thành lúc cuối giờ Thìn, lỏng tay cương, dáo dát tìm bọn ăn mày. Hình dung thiểu não và bộ y phục bê bết máu của Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách đã khiến bách tính trố mắt nhìn. Khách giang hồ thì kinh ngạc thầm mừng rỡ vì biết chuyện chàng hạ sát Âm Sơn Lão Tổ, thọ trọng thương, được Bạch Thuý Sơn cõng chạy. Một hán tử mang kiếm bước ra vòng tay nói :

- Sau khi cùng quân triều đình quét sạch Âm Sơn Giáo, Dương Châu Thần Thâu cùng đệ tử Cái Bang đã khổ công tìm kiếm đại Hiệp và Tần phu nhân! Sao đại hiệp không đến phân đà cho họ mừng!

Nhương Thư gật đầu :

- Xin cảm tạ các hạ! Song ta không biết lối !

Hán tử kia hăng hái đáp :

- Tại hạ rất vinh dự được dẫn đường cho đại hiệp !

Sau trận Cô Độc Bảo, Tần Nhật Phủ đã làm chấn động võ lâm, thanh danh vang rền như sấm dậy, ai cũng tôn thờ chàng làm thiên hạ đệ nhất cao thủ và chắc chắn sẽ trở thành Minh chủ võ lâm! Bởi thế hán tử này sướng rơn khi được làm quen và giúp đỡ chàng hiệp sĩ họ Tần! Gã hùng dũng rảo bước, đi phía trước đầu ngựa của thần tượng, cố tỏ vẻ bình thường, song thực ra, mũi gã nở lớn và phập phòng, còn miệng chỉ chực cười toe toét! Gã biết có rất nhiều người đang nhìn mình với ánh mắt ngạc nhiên và ganh tỵ ! Tim gã nổi trống trận khi nghe Tần Nhật Phủ hỏi :

- Xin các hạ cho Tần mỗ được biết đại danh !

Hán tử áo đen lắp bắp vì cảm động :

- Bẩm đại hiệp! Tại hạ là một kẻ áo vải vô danh, tên gọi Mục Tử Lượng, năm nay hai mươi bảy tuổi, quê đất Hồ Nam !

Họ Mục khai báo đầy đủ, cứ như sắp kết giao huynh đệ với người ta vậy! Nhương Thư chẳng thể nói câu ”Cữu ngưỡng ”, chỉ gật đầu. Nhìn vai áo vải xấu sờn rách của Mục Tử Lượng chàng chạnh lòng nghĩ đến hàng vạn chàng trai khác đang đeo gươm phiêu bạt, bỏ cố hương đi tìm chút thanh danh! Đa phần số ấy đều thất bại như Tử Lượng vậy! Muốn nổi danh hiệp khách trong chốn giang hồ sát máu này chẳng phải chuyện dễ! Phân Đà Cái Bang ở Khai Phong không xa, chỉ quanh co vài ngõ là đến nơi! Mục Tử Lượng xăng xái hét vang :

- Tần đại hiệp giá lâm !

Bọn hán tử đang ngồi trước sân vá áo, bắt rận, giật mình ngẩng lên, nhận ra chàng trai lông mày kép mà mình cực khổ tìm kiếm lâu nay! Họ lúng túng đứng dậy khom lưng vái chào vì Tần Nhật Phủ đã chẳng chờ họ thông báo mà xăm xăm đi vào cửa sảnh. Khách được chào đón bằng những tiến ồ kinh ngạc, mừng rỡ của khá nhiều người. Quanh chiếc bàn bát tiên trần trụi, sứt mẻ kia có đến năm người, gồm Vô Ưu Cái, Ngoạ Long Tú Sĩ, Triều Châu Thần Y, Dương Châu Thần Thâu và một gã khất cái gầy gò, cao lêu nghêu!

Gã cao gầy ấy chính là Phân đà chủ địa phương này, tên gọi Thanh Trúc Cái Phan Đình Khải. Họ Phan đã cấp báo về Tổng Đà Lạc Dương khi tìm mải không thấy Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách và Bạch Thuý Sơn. Do vậy, bọn Vô Ưu Cái mới vội vã đến Khai Phong! Gương mặt đưa đám và thân thể tang thương của Nhương Thư đã khiến mọi người lo lắng! Vô Ưu Cái hấp tấp hỏi :

- Thúy Sơn đâu ?

Nhương Thư thiểu não đáp :

- Sơn muội đã bị Âu Dương Lăng đánh trúng một chưởng, rơi xuống sông Hoàng Hà! Bang chủ mau cho chim câu bay đến các địa phương ở hạ lưu, huy động thuyền và người để vớt xác.

Vô Ưu Cái yêu thương Thúy Sơn như em gái, nay nghe hung tin không giữ nổi sự trầm tĩnh thường nhật, tái mặt quát :

- Sự việc thế nào? Mau nói rõ ta nghe !

Nhương Thư cười nhạt, mắt đổ lửa !

- Chuyên rất dài, trước mắt lão cứ làm theo lời ta !

Vẻ mặt đau khổ và dữ tợn của chàng đã khiến Vô Ưu Cái tỉnh táo lại! Lão bảo thủ hạ :

- Khải nhi! Sao ngươi không đi lo công việc, còn ngồi đây làm gì ?

Thanh Cúc Cái chính là đệ tử của Hầu Mộ Thiên. Gã vội dạ vang, tất tả bước ra ngoài!

Ngoạ Long Tú Sĩ lên tiếng :

- Tần công tử cứ an toạ rồi kể rõ nguồn cơn cho bọn lão phu nghe thử ?

Nhương Thư thẩn thờ ngồi phịch xuống ghế, uống liền ba chén trà cho nguôi cơn khát, rồi chậm rãi kể lại tất cả trừ việc yêu đương giữa chàng và Thúy Sơn! Cái chết của nàng khiến chàng chẳng còn thiết tha việc mình là ai nữa! Có nhận thân phận cũ cũng vô ích vì không bằng cớ và còn phiền nhiễu bởi sự tra hỏi! Nhương Thư quyết định giữ danh nghĩa Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách, diệt ma, phục thù xong là tự sát chết theo nương tử!

Trong khi kể lể, những giọt lệ đã vơi giờ lại đầy và tràn ra khóe mắt, chứng tỏ niềm tiếc thương Thúy Sơn vô hạn. điều này khiến bọn Vô Ưu Cái nghi hoặc! Là bậc anh hùng cái thế, nước mắt họ Tần nào dễ tuôn rơi như vậy! Ngoạ Long Tú Sĩ là người luôn đoán chắc Nhật Phủ là Nhương Thư, giờ càng vững tin hơn. Lão đá nhẹ vào chân Vô Ưu Cái rồi bấm độn, xem thử hung cát thế nào? Lỗ Tú Sĩ trầm ngâm một lúc, mặt lỗ nét mừng :

- Tượng quẻ rất tốt! Thúy Sơn tuy gặp nạn nhưng có đến chín phần sống sót! Tần thiếu hiệp cứ yên tâm vào trong tắm gội, nghỉ ngơi và để Tạ Thần Y chăm sóc vết thương!

Nhương Thư bán tín bán nghi, gắn giọng hỏi lại :

- Tiên sinh nói thực đấy chứ ?

Lỗ Đăng Hân mỉm cười :

- Nếu sai, lão phu xin phế bỏ cái danh hiệu Ngoạ Long ngay !

Là đệ tử nhà Phật,chàng vốn không tin bói toán, xong giờ đây chàng bám víu vào quẻ Dịch kia để không chết vì tuyệt vọng. Hơn nữa, thanh danh của Ngoạ Long Tú Sĩ lừng lẫy đã ba chục năm, cũng đáng để tin lắm chứ!

Nhương Thư thở phào :

- Tạ ơn Phật Tổ! Nếu Thúy Sơn thoát nạn thì đệ tử nguyện xây một cảnh chùa thật lớn!

Đây chính là khuyết điểm của Di Hồn Đại Pháp, vì không thể thay đổi thói quen trong ngôn ngữ, Nhương Thư đã bộc lộ bản chất sư sãi của mình! Mắt Vô Ưu Cái sáng lên, lão mỉm cười :

- Té ra Tần thiếu hiệp lại là một người mộ đạo, kính Phật chứ không kính Tam Thanh!

Nhương Thư cũng sững sờ trước việc này, thầm rủa mình đúng là cái gã sư nửa mùa của chùa Phật Quang ? Chàng không đối đáp, lặng lẽ đứng lên, chợt phát hiện Mục Tử Lượng vẫn lẫn quẩn trước sân Phân Đà liền bảo Vô Ưu Cái :

- Phiền Bang Chủ thưởng cho vị huynh đài áo đen tên Mục Tử Lượng kia! Y đã nhịêt tình đưa đường cho tại hạ đến đây !

Hầu Mộ Thiên gật đầu và bảo gã tiểu cái hầu trà :

- Ngươi hãy dẫn Tần công tử xuống khánh xá, dành cho y một phòng thoáng đảng, yên tịnh !

Gã tiểu cái vâng dạ, khom lưng mời Nhương Thư đi theo. Ở đấy, Vô Ưu Cái bước ra cửa sảnh, vẫy gọi Mục Tử Lượng :

- Ngưoi vào đây !

Họ Mục mừng rỡ rảo bước theo Bang Chủ Cái Bang vào sảnh. Hầu Mộ Thiên ngắm nghía gương mặt thuần hậu, thực thà của Mục Tử Lượng, định nói thì bị Ngoạ Long Tú Sĩ cướp lời :

- Chẳng hay Mục thiếu hiệp quê quán ở đâu ?

Tử Lượng vội vàng vòng tay đáp :

- Bẩm tiền bối! Vãn bối quê huyện Nhạc Dương, phủ Hồ Nam !

Lỗ Tú Sĩ hỏi tiếp :

- Dung mạo của thiếu hiệp giống Toả Hầu Mục Vĩnh Phu, cũng người đất Nhạc Dương! Dám hỏi đôi bên có quan hệ gì không ?

Mục Tử Lượng tái mặt cúi đầu, sợ hãi đáp :

- Vãn bối chính là thứ nam của Toả Hầu !

Ngoạ Long Tú Sĩ làm nhà trên núi Lỗ Gia Công, cũng thuộc Hồ Nam, nên biết rõ giới võ lâm trong phủ, Toả Hầu Mục Vĩnh Phu lại là một đại nhân vật, lừng danh với tài chế tạo ổ khoá, thiết kế cơ quan, tất nhiên Lỗ Đăng Hân chẳng lạ! Võ lâm Trung Nguyên có hai người nổi tiếng khéo tay là Tỏa Hầu ở Phương Nam và Trượng Vương Tất Quì ở phương Bắc. Trượng Vương qua đời đã lâu, chính thị ông nội của Tất Cung Bảo, chủ nhân những trái Bạt Sơn Thần Lựu !

Lỗ Tú Sĩ cười ha hả :

- Thì ra ngươi là chàng trai không thích nghề bán ổ khoá, trốn nhà đi làm hiệp sĩ đấy sao?

Lão còn giễu cợt :

- Sao ngươi không dùng tài mở khoá gia truyền mà kiếm ăn, để phải đói rách thế kia!

Mục Tử Lượng đỏ mặt, lúng túng đáp :

- Vãn bối tuy được chân truyền song tuyệt đối chẳng dám làm nhục nhã tông môn! Xin tiền bối chớ nói thế !

Vô Ưu Cái vốn có tài Minh chủ giỏi thuật dùng người nhận ra Tứ Lượng là bậc hiền tài, rất hữu dụng cho sự nghiệp giáng ma. Ông vui vẻ hỏi :

- Mục hiền diệt! Ngươi bỏ cảnh giàu sang phú quí chắc cũng vì hiệp tâm vạn trượng, nuôi chí trừ gian diệt bạo! Nay võ lâm gặp hồi kiếp nạn, ma chướng hoành hành, chẳng hay hiền diệt có chịu đem sức ra sát cánh với lão phu hay không?

Mục Tử Lượng choáng váng, ngây ngất như người đậu trạng nguyên, quì xuống lạy :

- Bang Chủ đã có lòng hạ cố, vãn bối xin xả thân phò tá !

Vô Ưu Cái rời ghế, đỡ Mục Tử Lượng lên, đưa vào bàn. Ông hỏi han kỹ lưỡng, hài lòng khi biết họ Mục đủ tài đáp ứng những yêu cầu của mình. Ông bèn bảo gã về chỗ cư trú thu xếp hành lý, sang đây chờ lệnh!

Mục Tử Lượng đi rồi, Hầu Bang Chủ nghiêm nghị hỏi Lỗ Tú Sĩ :

- Này Lỗ hiền diệt, tài bói toán của ngươi có thực sự linh ứng hay không ?

Lỗ Đăng Hân gượng cười :

- Thiên cơ đâu dễ để người phàm biết được! Quẻ bói chỉ đáng tin sáu bảy phần mà thôi! Tiểu đệ phải cứng thế để trấn an Nhương Thư đấy !

Hầu Mộ Thiên cau mày:

- Ngươi dám khẳng định rồi ư?

Lỗ Đăng Hân gật đầu, nghiêm giọng :

- Tiểu đệ tự tin mình không thể lầm! Nay họ Tần thọ thương là cơ hội tốt để chúng ta kiểm chứng!

Vô Ưu Cái gật gù, quay sang bảo Tạ Thần Y :

- Phiền Tạ lão huynh xem xét thật kỹ cơ thể Tần Nhật Phủ !

Tạ lão mỉm cười, về phòng lấy rương thuốc, đi xuống khách xá. Nửa canh giờ sau ông trở lại, đôi lông mày bạc cau tít .

Tạ Y Chuyên nhấp hớp trà rồi kể :

- Lão phu đã để lẫn một hoàn thuốc ngủ vào thuốc trị nội thương, nhờ vậy có điều kiện quan sát rất kỹ. Khổ thay, mặt y không hề có dấu vết mổ xẻ hay dịch dung! Tuy nhiên, lão phu đã khám phá việc y không sợ độc, dù trúng đến hơn hai chục mũi độc châm. Hai là, xương cốt y cứng rắn khác thường, chịu nguyên một chùy vào lưng mà chẳng gẫy.

Vô Ưu Cái là người cực kỳ thận trọng nên phân vân :

- Lạ thực! Hai đặc tính cơ thể kía đúng là của Nhương Thư, song chẳng lẻ trên đời lại có kẻ tài ba đến mức cắt da xẻ thịt mà không để lại dấu vết ?

Ngoạ Long Tú Sĩ cười mát :

- Lão phu xin hiến một kế mọn !
Đăng nhập để trả lời
0
Tần Nhương Thư

Ưu Đàm Hoa



Hồi thứ mười sáu.

KHÊ NGẠN KIẾN VÔ Y

BÍCH THƯỢNG PHÙNG QUỈ KẾ



Hôm sau, Vô Ưu Cái đến gặp Nhương Thư, trao cho chàng một quyển bí kíp chép tay, ân cần dặn dò:

-Đây là Phật Đăng Kiếm Phổ! Tuyệt học làm lừng danh Tần Nhương Thư! Nay công tử thay y giáng ma, hãy nghiên cứu để tăng cường bản lãnh!

Quyển thủ lục này do Trác Thiên Lộc chép lại, bị Nhương Thư thu hồi, giao cho Vô Ưu Cái cất giữ. Chàng sợ tuyệt học của ân sư thất truyền nên uỷ thác Hầu Mộ Thiên tìm người tài đức mà truyền lại, trong trường hợp chàng đoản mệnh!

Nhương Thư mừng rở cảm tạ họ Hầu. Chàng hy vọng qua việc học Phật Đăng Kiếm Pháp mà khẳng định thân phận thực và dần dà khôi phục ký ức!

Chàng luyện Phật Đăng Kiếm Pháp mười mấy năm ròng, chiêu thức in sâu vào tiềm thức, phép Di Hồng chỉ che được ý thức, khiến chàng tạm quên đi! Giờ xem lại khẩu quyết, tay hữu bắt kiếm ấn thực hành, Nhương Thư thi triển một hơi toàn pho, chẳng chút ngượng ngùng!

Nhương Thư thở dài, hoàn toàn xác định được mình là ai. Trong những ngày sau đó, chàng ở rịt trong phòng, luyện đi luyện lại những chiêu kiếm, mắt nhắm nghiền để tâm trí thức dậy theo từng đường gươm quen thuộc. Phật Đăng Kiếm Pháp chính là chìa khoá thần diệu mở dần cánh cửa dĩ vãng bị tà pháp khép chặc. Gương mặt hoà ái từ bi của Phật Đăng Thượng Nhân hiện ra trước tiên vì ông là người dạy kiếm cho Nhương Thư. Sau đó là phong cảnh chùa Phật Quang, núi Ngũ Đài và thi thể của người mẹ bạc mệnh! Lần lượt, Nhương Thư khôi phục toàn bộ ký ức, kể cả việc bị Ải Thần Quân bắt sống! Chíng lão đã dùng tài dao kéo biến chàngthành Tần Nhật Phủ!

Chàng có thể tiết lộ bí mật này, cùng bọn Vô Ưu Cái truy tìm Ải Thần Quân, bắt lão trả lại chân diện mục. Nhưng nếu thế thì chàng không thực hiện được lời thề với Thúy Sơn ! Ba người vợ họ Điền và ba chiếc bào thai chẳng cho phép chàng tự sát!

Kỷ niệm về họ cũng đã sống lại cùng tình yêu, điều này khiến Nhương Thư vô cùng bối rối! Chàng quyết định giữ kín lai lịch, chờ xem an nguy của Thúy Sơn thế nào? Nếu nàng sống sót đúng như lời Ngoạ Long Tú Sĩ tiên đoán thì hạnh phúc sẽ vẹn toàn!

Dù không quen gian dối, Nhương Thư vẩn phải nói ngược lòng mình khi bị Vô Ưu Cái hỏi han. Chàng bảo Phật Đăng Kiếm Pháp uyên thâm vô lượng, chẳng thể luyện thàng trong thời gian ngắn được! Chàng biết đây là mưu kế của Ngoạ Long Tú Sĩ, kẽ đã khẳng định với Thúy Sơn về thân phận của chàng!

Vẻ thất vọng loé lên trong đôi mắt già nua của Hầu Mộ Thiên, làm cho Nhương Thư đau lòng vô hạn! Vô Ưu Cái yêu thương chàng như ruột thịt chắc đãrất thương tâm khi mất mát.

Tiết Trung Thu đến mang theo toàn tin xấu, thứ nhất các phân đà dọc hạ lưu Hoàng Hà báo về rằng không thể tìm thấy xác Thúy Sơn. Họ đãdọ hỏi dân cư dọc hai bên bờ, suốt chiều dài ngàn dặm, cũng chẳng có ai vớt được!

Tin thừ hai là việc Sơn Hải Bang do Kỵ Ba Thần Quân đích thân thống lĩnh đã vây hãm Cưu Sơn, tình thế bọn Hoàng Nghi Tuyệt vô cùng nguy ngập!

Vô Ưu Cái liền cho mới Nhương Thư lên sảnh. Chàng hơi ngạc nhiên khi thấy Mục Tử Lượng cũng được mời dự họp. Gã đã đến ở đây cùng lúc với chàng, song hai người it khi gặp gỡ!

Hầu Bang Chủ thông báo kết quả tìm kiếm Thúy Sơn trước. Nghe xong Ngoạ Long Tú Sĩ hớn hở nói ngay:

- Không thấy xác tức là quẻ bói của lão phu đã linh nghiệm. Có lẽ Thúy Sơn được chiếc thuyền nào đó vớt lên. Họ đi ngược về hướng Tây nên không biết chúng ta tìm kiếm!

Nhương Thư buồn rầu lẩm bẩm:

- Một kẻ thọ chưởng thương, rơi xuống từ độ cao tám chín trượng, khó mà sốngnổi với dòng nước dữ dội của sông Hoàng!

Lỗ Đăng Hân bác ngay:

- Cát nhân chẳng thể chết yểu được! Trước đây nàng ta và Nhương Thư rơi xuống vực thẫm sâu vài chục trượng mà vẩn an toàn cơ mà!

Nhương Thư là người trong cuộc nên biết rất rõ, phần nào tin vào những kỳ tích phi thường!

Vô Ưu Cái bàn sang việc võ lâm, kể lại tình hình gay cấn ở Cưu Sơn! Nhương Thư xem Hoàng Nghi Tuyệt là bằng hữu chí thân nên khẳng khái nói:

- Tại hạ xin đi ngay Cưu Sơn để giải vây cho phe ta, đồng thời nhân cơ hội này mà giết Kỵ Ba Thần Quân, không cần chờ đến Đại Hội Minh Chủ nữa!

Vô Ưu Cái gật gù:

- Hiện nay Bất Trí Thư Sinh, Thiết Kình Ngư, Lô Châu Ngũ Tặc, cùng hai trăm cao thủ Thiếu Lâm đã khởi hành đi Cưu Sơn. Tuy nhiên trong lực lượng chúng ta không ai đủ sức đương cự lại lão quỷ già Thành Vô Chiến. Vì vậy Tần thiếu hiệp hãy đến đấy để cầm chân Kỵ Ba Thần Quân!

Nhương Thư cau mày:

- Vì sao Bang Chủ dùng chử cầm chân?

Hầu Mộ Thiên thở dài:

- Vì bản lãnh Kỵ Ba Thần Quân Thành Vô Chiến lựi hại hơn Âm Sơn Lão Tổ một bậc. Lão ta lại có bảo giáp da cá hộ thân, kiếm đâm không thủng!

Nhương Thư sực nhớ đến tấm bảo y mà Lã Tập Hiền đã mượn của Thần Quân, khi định giao đấu với chàng!

Ngoạ Long Tú Sĩ tiếp lời họ Hầu:

- Không phải mình lão ta mà cả mười người đệ tử thân tín cũng mặc bảo y, đao pháp rất cao cường!

Tạ Thần Y bổng than thở:

- Phải chi có được thanh Mạc Gia Thần Kiếm của Tích Bảo Chân Nhân thì mới mong giết được lũ tà ma đáng ghét kia!

Vô Ưu Cái hậm hực chưởi:

- Mã cha cái lão đạo sĩ chuyên đào mộ thiên hạ! Bốn năm trước lão ta vớ được thanh thần kiếm trong một ngôi mộ cổ ở ngoại thành Lạc Dương, có mang đến khoe với lão phu, lão huênh hoang rằng sẽ tìm bậc nhân hiệp mà tặng kiếm, sao đó ôm bảo vật biến mất tăm. Nếu lão ta thực lòng vì võ lâm thì đã sớm tặng Nhương Thư rồi. Còn ai xứng đáng hơn y nữa!

Chợt lão đổi giọng quay sang ân cần với Mục Tử Lượng:

- Này Mục hiền diệt! Đến lượt ngươi trưng của quý ra rồi đấy!

Họ Mục hân hoan gật đầu, trịnh trọng nhấc một túi lụa nhỏ trong lòng lên, đặt xuống bàn, miệng ấp úng vì xúc động:

- Bẩm chư vị! Vãn bối nhận được lệnh của Hầu Bang Chủ lập tức thức trắng chín ngày đêm, chế tạo ra được mơpì một viên Lân Hoả Thần Đạn, theo đúng thiết kế của Lỗ tiền bối! Với loại vũ khí này, Tần Đại hiệp có thể yên tâm đối phó với Kỵ Ba Thần Quân và bọn giáp sĩ!

Nói xong Mục Tử Lượng đỏ ra bàn những viên bi bằng vàng, lớn cở hột nhãn, hình cầu nhưng có sáu nốt lồi nhỏ xíu.

Nhương Thư cầm xem thử ngơ ngác hỏi:

- Tác dụng của chúng thế nào?

Ngoạ Long Tú Sĩ Lỗ Đăng Hân tươi cười giải thích:

- Áo giáp da cá của thầy trò Kỵ Ba Thần Quân đều đượctẫm dầu, tương tự như Đằng giáp của đám rợ phương Nam, từng bị Khổng Minh thiêu chết. Do vật lão phu đã nghĩ ra việc chế tạo Lân Hoả Thần Đạn, nhưng không có người đủ khéo léo thực hiện. May thay, Mục hiền diệt đây sở đắc tài hoa của Toả Hầu, đã thành toàn ý nguyện của lão phu!

Mục Tử Lượng sung sướng lên tiếng giải thích:

- Bẩm chư vị! Tuy bề ngoài đơn giản nhưng việc tạo tác lại cựu kỳ khó khăn, phức tạp. Sáu nốt ruồi nhỏ xíu như đầu tăm này chính là bộ phận kích hoả. Khi Thần Đạn chạm mạnh vào người đối phương sẽ phát nổ và bốc cháy. Lữa lân tinh rất dử dội, không thể dập tắt được và bám rất chắc vào mục tiêu. Giao Bì Giáp của Kỵ Ba Thần Quân tẩm dầu thì lão càng mau chết!

Cử toạ hết lời khen ngợi tài nghệ của Tử Lượng khiến gã khoan khoái phi thường! Dương Châu Thần Thâu nói đùa:

- Sao ngươi lại hoang phí đến mức dung vàng làm ám khí? Ngươi muốn Hầu Bang chủ sạt nghiệp sao?

Tử Lượng gượng cười:

-Bạch huynh khéo đùa! Vàng là thứ kim loại thích hợp nhất vì có thể dát mỏng, kéo sợi dể dàng, lại không rỉ sét! Nếu làm bằng đồng thì lượng thuốc nổ ít ỏi kia không phá vở nổi vỏ bọc!

Nhương Thư cắt ngang lời gã:

- Mục công tử có thể chế tạo Bạt Sơn Thần Lựu được không?

Mục Tử Lượng bẻn lẻn lắc đầu:

- Thơa không, đấy là nghề độc môn của dòng họ Tất, tại hạ chẳng dám so bì!

Lỗ Tú Sĩ xen vào:

- Lão phu đãnghiên cứu rất kỷ trái Bạt Sơn Thần Lựu cuối cùng của chúng ta, nhận r nó được dồn một loại thuốc nổ rất đặc biệt nên sức công phá mới khủng khiếp như thế! Chỉ riêng phương pháp nén chặt thứ hoả dược nhạy cảm ấy vào ống đồng cũng đủ làm cho thiên hạ phải nhức đầu!

Vô Ưu Cái xua tay:

- Không khó thì đâu còn là Trượng Vương! Thôi có gì xài nấy! À! Tần thiếu hiệpcó biết ném ám khí hay không ?

Dưới ánh mắt sắc như dao của lão Nhương Thư cố bình thản đáp:

- Tại hạ quen luyện Lục Mạch Thần Chỉ , có thể dùng chỉ phong bắn Thần Đạn đi được mà!

Câu trả lời nghe hữu lý, nhưng thực ra chàng có luyện qua phép ném Thiết Niệm Châu!

Nhương Thư biết rõ bản chất ”cẩn tắc vô ưu” của Hầu Mộ Thiên, dù biết chắc chín phần mười vẩn chờ sự xác nhận của chàng!

Vô Ưu Cái dịu giọng bảo Mục Tử Lượng:

- Hiền diệt hãy về nghĩ ngơi vài ngày rồi tiếp tục chế tạo thêm Thần Đạn. Vận mệnh của võ lâm tuỳ thuộc vào ngươi đấy!

Tuy biết bị đuổi khéo nhưng Mục Tử Lượng vẩn cao hứng về câu nói trịnh trọng của lão hồ ly họ Hầu!

Dương Châu Thần Thâu khôngchờ đuổi, giả đò rủ Mục Tử Lượng đi uống rượu. Trong sảnh giờ đây chỉ còn bốn người, cả gã tiểu cái hầu trà cũng bị xua đi mất!

Lúc này, Vô Ưu Cái mới nghiêm nghị nói với Nhương Thư:

- Tần thiếu hiệp! Bọn lão phu đã điều tra cặn kẽ, biết rõ thiếu hiệp là người làm cho bụng ba nàng họ Điền phưỡn ra! Lão phu không bắt lỗi, chỉ muốn ngươi thành thực thú nhận và lãnh trách nhiệm!

Nhương Thư chờ đợi câu hỏi này đã lâu, chua chát đáp:

- Nếu tại hạ nhận mình là cha những đứa bé kia thì đồng ý lấy ba vị phu nhân họ Điền, liệu họ có chịu không?

Vô Ưu Cái cười nhạt:

- Chắc chắn là không! Vì vật ý của lão phu là ngươi sẽ tự sát trước linh vị của Nhương Thư để tạ tội!

Lão định bắt bí để chàng lòi đuôi chuột, chịu nhận lại thân phận, nào ngờ Nhương Thư lại đáp ứng ngay:

- Dám làm, dám chịu! Giết xong Kỵ Ba Thần Quân va Âu Dương Lăng là tại hạ dâng đầu cho Bang Chủ!

Dứt lời chàng đứng phắt dật trở về phòng. Ở đây ba lão nhân nhìn nhau ngơ ngẩn. Hầu Mộ Thiên rầu rỉ than:

- Thế này là thế nào nhỉ? Nếu y là Nhương Thư sao không mở miệng thừa nhận mà lại chịu chết?

Ngoạ Long Tú Sĩ dù cơ trí như Khổng minh, song không biết rõ sự việc trong mộc xá, cũng như lời nguyện đồng hành cùng Thúy Sơn về cỏi âm của Nhương Thư, nên đâm ra bối rối! Lão bất đầu nghi ngờ định kiến vững chắc trước đây của mình!

Tạ Thần Y lên tiếng phá tan bầu không khí nặng nề:

- Lão phu đã theo cách của Lỗ lão đệ, bấm vào huyệt Mi Tâm song họ Tần chẳng co biểu hiện đau đớn. Có thể kết luận gã không phải là Nhương Thư bị phép Nhiếp Hồn biến thành Nhật Phủ!

Vô Ưu Cái ôm đầu than :

- Chắc lão phu điên mất!

*

* *

Sáng hôm sau, ngày mười sáu tháng tám. Nhương Thư lên đường đi Cưu Sơn. Chàng phải có mặt sớm để hổ trợ Hoàng Nghi Tuyệt. Lực lượng chính phái ở đấy khá mạnh, chỉ thiếu cao thủ để đủ sức đói phó với Kỵ Ba Thần Quân. Với hơn chục viên Lân Hoả Thần Đạn vàng óng, xinh đẹp kia, Nhương Thư đã hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu ấy!

Cưu Sơn chỉ có một đỉnh và căn cứ Cưu Bang lại nằm trên bình đài ở sườn Đông, vi ba hướng còn lại là rừng cây rậm rạp, đầy ác thú, độc vật, không có lối ra vào.

Cũng chính vì thế mà quân Sơn Hải Bang chỉ vây hãm đoạn chân núi hướng Đông, chiếm lấy Lạc Pháp Trấn.

Lực lượng Hoàng Nghi Tuyệt đông độ năm trăm, đã rút lên cả bình đài, tuy an toàn nhưng lâu ngày sẽ chết đói.

Quân tiếp viện còn ở phía sau nhưng Nhương Thư phải có mạt thật sớm vì Kỵ Ba Thần Quân đang cho thủ hạ đóng một chiếc thang khổng lồ, cao mười trượng, rộng hai trượng. Mặt trước củathang dựng đứng và lợp ván dày, mặt sau dốc và gồm những bậc thang. Khi đóng xong, Sơn Hải Bang sẽ dùng con lăn đẩy chiếc thang áp sát bình đài rồi tiến lên, lúc ấy bọn Hoàng Nghi Tuyệt sẽ phải bó tay!

Sơn Hải Bang đã quét sạch đệ tử Cái Bang trong bán kính mười dặm quanh Cưu Sơn. May mà trạm truyền tin sớm nằm trên núi, nên Vô Ưu Cái và Hội Đồng Võ Lâm mới nắm rỏ cục diện!

Nhiệm vụ của Nhương Thư là có mặt trên bình đài, chận đáh Kỵ Ba Thần Quân, lúc lão nhảy từ đầu thang sang! Thủ hạ của lão đãcó bọn Hoàng Nghi Tuyệt phụ trách!

Nhưng chàng sẽ lên bằng cách nào khi chung quanh núi là vách đá dựng ngược?

Kỵ Ba Thần Quân đã đích thân khảo sát toàn khu vực mà không tìm ra lối lên, đành phải đóng thang! Hơn nữa, hàng ngàn ổ ong độc khôngcho phép lão đưa quân vào rừng. Một người thì không sao nhưng nhiều người sẽ đánh động bầy ong dữ.

Ngày xưa, trong cuộc chiến tranh, người Trung Hoa dựa vào thành luỹ mà phòng thủ, vì thê một vài công cụ phá thành ra đời. Trong đó có loại thang dài thượt gọi là Vân Thê (thang mây) được làm bằng tre và khá đơn giản. Khi sử dụng Vân Thê, người ta phải phối hợp với cung tiển để hổ trợ, song không mấy có kết quả! Đa số quân cảm tử trèo từ thang đều bỏ mình vì bị xô ngã, hoặc bị dầu hôi trút xuống đầu.

Loại thang nặng nề, kiên cố của Kỵ Ba Thần Quân sáng tạo ra không dùng được trong chiến tranh vì quanh thành đều có hào sâu, khó mà đưa qua! Song Cưu Sơn không phải là thành quách và đệ tử Cưu Bang chẳng có cung tiển nên vân thê của Thành Vô Chiến mới có đát dụng võ:

Như đãnói ở trên, việc thông tin liên lạc giữa Cưu Sơn và Lạc Dương vẩn được duy trì, nên Nhương Thưcó cách để lên núi!

Bọn Sơn Hải Bang không mù nên đãthấy chim câu mang thư cầu viện bay đi. Vì vậy họ đặt mai phục ở mọi ngã đường để chận đánh, chủ yếu phòng ngự hướng Nam, nơi ấy có đường thông với quan đạo. Quân chính phái đến tiếp ứng Cưu Sơn bắt buộc phải đi lối này!

Có một điều mà một kẻ đầy thao lược như Thành Vô Chiến không nghĩ đến, là việc đối phương chỉ có một mình, và đi từ Khai Phong đến chaan phía Bắc núi Cưu! Ở hướng này họ Thành chỉ rải vài tên trinh sát cho có lệ. Lão mang theo sáu trăm quân nhưng cũng chẳng đủ để rải hết một chu vi hàng chục dặm.

Kế trưa ngày mười tám, Nhương Thưcó mặt trong một thôn nhỏ, cách Cưu Sơn khá xa. Chàng vào quán trọ nghèo nàn ở đầu thôn ăn thật no, gởi ngựa lại rồi xuất phát.

Cuối giờ Mùi chàng đến khu rừng già chân núi, dể dàng qua mặt một gã hải tặc đang ngủ gục dưới gốc cây, tiến vào rừng.

Mùa tiểu huynhlàm cho thảm rừng ẩm ướt, xông lên mùi lá mục, côn trùng sinh sôi nẩy nở rất nhiều, chúnh rỉ rả chào đón Nhương Thư, song thỉnh thoảng lại có những tiếng sột soạt đầy đe doạ.

Tiếng hổ gầm từ xa vọng lại không làm Nhương Thư nao núng. Cả những tổ ong nằm rải rác khắp nơi cũng chỉ khiến chàng mỉn cười. Hoàng Nghi Tuyệt từng kể rằng loài Hoàng Phong trong rừng Cưu Sơn rất độc va dữ tợn, ai bị chúng đốt là toi mạng ngay! Nhờ bầy ong và đàn hổ mà khu rừng nguyên thuỷ rộng mênh mông này vẩn chưa bị loài người tàn phá. Bọn tiều phu chỉ đốn củi ở bìa rừng chứ không dám vào sâu.

Chợt phát hiện một con mảng xà dài ngoằng, to lớn, ngoắt ngoẻo trên cành cây trước mặt. Nhương Thư đi chếch sang hướng khác để tránh. Không có gì nguy hiễm sao mặt chàng lại nặng nề và ánh mắt u buồn thế kia? Đấy là con vật đã gợi nhớ đến Thuỷ Xà Vương và người yêu bạc mệnh là Bạch Ngọc Tiên Tử Lâm Đại Ngọc.

Chàng đãgiết được Thiễm Bắc Thần Long và Âm Sơn Lão Tổ để trả thù, song đau phải nhờ thế mà Lâm nương sống lại!

Nhương Thưcố nén đau thương, vung kiếm chặt cành nhỏ mở lối, bước nhanh hơn. Càng gần đến chân núi thì thảm rừng càng nhiều đá tảng, song chỉ làm dể đi đối với người có khinh công cao siêu. Nhương Thư nhảy từ tảng đá này sang tảng đá khác, trông đẹp như cánh chim, khiến lũ tu hú đang quang quác trên cành cao phải ghen ty.

Đường rừng hiễm trở, Nhương Thư liên tục chuyển hướng để tránh những trở ngại quá lớn, nên thỉnh thoảng chàng phải nhảy lên ngọn cây, quan sát đỉnh Cưu Sơn để định hướng cho đúng.

Không muốn đánh động lũ ong rừng hung dữ chàng chỉ dùng kiếm chặt những cành gai khi cần thiết.

Trong rừng thường có suối, do nước tích tụ từ trên núi chảy xuống, và Nhương Thư đã gặp một trong những khe suối ấy.

Nhương Thư mừng rở cởi hêt y phục, nhẩy xuống dòng nước mát, trong veo có màu xanh của lá rừng. Chàng gột rửa bụi bậm, và săm soi những chổ kín trên thân thể, để tìm bắt loài ve nhỏ bé mà lì lợm. Chàng khôngsợ độc, song chúng lại không sợ chàng!

Ve rừng chẳng hề đáng yêu như loài ve sầu vẩn thường ngợi ca mùa hạ. Chúnh chỉ nhỏ hơn hạt mè, thuộc hạng khát máu nhất trần gian. Chúng thích những vùng phủ lông như đầu, nách, hạ thể.. và khi cắn ai thì chui vào sâu trong da thịt, khiến nạn nhân phát sốt, đau đớn vô cùng. Đáng sợ nhất khi chúng chui vào lổ tai, hổ thì rống chạy cong đuôi, người thì kêu cha gọi mẹ, đau thấu trời!

Nhương Thư chợt nghe tiếng sột soạt, đảo mắt nhìn quanh mà chẳng thấy gì, khi đã chắc rằng chẳng còn kẽ thù nhỏ bé nào trên người, Nhương Thư khoan khoái lên bờ, mở tay nải nhỏ lấy bộ võ phục sạch thay. Bộ lúc nãy cũng đã dơ bẩn và bị gai góc móc toạc, chẳng tiếc làm gì! Và chàng cũng không đủ can đãm ngồi bắt lũ ve trong bộ quần áo ấy!

Hơn nữa sau mấy tháng đóng vai chàng công tử phong lưu Tần Nhật Phủ, Nhương Thư đã nhiễm thói quen sạch sẽ và chỉnh tề. Chàng không muốn xuất hiện trước mặt Hoàng Nghi Tuyệt với một bộ dạng rách rưới khó coi!

Giờ đây, Nhương Thư chỉ cần đi dọc bờ suối là sẽ đến được chân núi. Tất nhiên là phải ngược dòng:

Nhưng vừa đi được một đoạn, chàng chợt nghe phía sau vọng lại những âm thanh kỳ lạ. Tiếng kêu áy đầy vẽ giận dữ, pha lẩn với sự sợ hãi, và dương như là cầu cứu vậy! Chúng trong trẻo và đúng là tiếng nữ nhân!

Không kịp tự hỏi vì sao chốn hiễm địa hoang vu này lại có đàn bà, Nhương Thư quay ngoắt lại, lao vút đi như tên bắn. Khi đến đoạn suối lúc nãy, chàng phát hiện trên bờ Tây có một con mãng xà, thân to bằng bắp đùi người lớn, đang quấn chặc một nhân vật tóc dài. Người này đang dùng hai bàn tay siết cổ con mãng xà, cố ngăn không cho cái miệng rộng ngoác, đày răng ngược kia nuốt gọn đầu mình!

Loại trăn lợi hại nhất là ở những vòng xiết chết người, lực đạo mạnh đến mức xương nai già cũng phải gẩy răng rắc!

Đã từng bị rơi vào hoàn cảnh áy, Nhương Thư chẳng dám chần chừ, lướt đến vung kiếm chém bay đầu con trăn. Thân nó lỏng ra và nạn nhân kia thoát chết, nhún chân rời xa con mãng xà đang quằn quại, đứng nhìn Nhương Thư với ánh mắt biết ơn, miệng cười toe toét, nhe hàm răng nhọn hoắc, trắng nhỡn, gương mặt chỉ lem luốc chứ không xấu xí, song toát ra vẻ man rợ, hoang sơ. Tuổi tác y chỉ độ mười sáu, mười bảy.

Nhương Thư đỏ mặt tía tai, chẳng dám nhìn y vì y hoàn toàn loã thể, và lại là giống cái!

Nàng ta chẳng phải loài vượn vì trên làn da đen đúa kia không phủ lông mao, trừ những chổ mà đàn bà ai cũng có! Nhơng cơ thể đầy những bắp thịt thon dài, rắn rỏi nhất là ở tứ chi. Đấy có lẽ là kết quả của cuộc sống leo trèo, hái trái, hay săn đuổi thú rừng!

Nhương Thư bối rối, quay gót trở đi, Nhưng cô gái rừng rú kia chỉ nhún chân một cái đã bay vèo qua mặt chàng chận lại, hai tay dang rộng, mắt đày vẻ van xin, lưu luyến.

Nhương Thư chột dạ nghĩ thầm:

- Chết ta rồi! Hay là con bé này định giữ ta lại làm chông?

Chàng ngượng ngùng hỏi thử, dù chẳng biết đối phương có biết nói hay không?

- Dám hỏi cô nương là ai, vì sao lại có một mình lạc lỏng chốn này?

Cô gái lại cười và lắc đàu, tỏ vẻ không hiểu và bập bẹ:

- Mày...nói gì?

Thì ra nàng ta chỉ biết tiếng Hồ Nam, trong khi Nhương Thư hỏi bằng tiếng Bắc Kinh !

Đại loại nước Trung Hoa tuy rộng lớn, mổi vùng một thứ tiếng, song vẩn chỉ gồm tám phương ngữ, ở tám khu vực:

* Phương ngữ miền Bắc, lấy tiếng Bắc Kinh làm căn bản, phân bố theo khu vực cư trú của những thị tộc Bắc Hán: Từ sông Hoàng Hà qua Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quí Châu.. người xử dụng phương nhữ này đông đảo nhất và chiếm độ bảy phần mười dân số!

* Phương ngữ vùng giáp ranh Giang Tô, Triết Giang, lấy tiếng Thượng Hải làm đại biểu, đại bộ phận tập trung ở Triết Giang!

* Phương ngữ của vùng Hồ Nam, dùng ngôn ngữ Trường Sa làm cơ sở!

* Phương ngữ của Khách Gia là ngôn ngữ của người Hán di cư từ lưu vực sông Hoàng Hà xuống phía Nam, tập trung ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Giang Tô. Ở Hồ Nam, Tứ Xuyen cũng co một số ít người nói tiêng Khách Gia!

* Phương ngữ Phúc Kiến! Phân bố chủ yếu ở Phúc Kiến và một bộ phận ở Đài Loan.

* Phương ngữ vùng Giang Tây, Hồ Bắc lấy tiếng Nam Xương làm chủ!

* Phương ngữ vùng phía Nam Phúc Kiến, có cả ở Đông bộ tỉnh Quảng Châu, một phần đảo Hải Nam, Đài Loan dùng nhiều nhất (Đài ngữ)!

* Phương ngữ Quảng Châu! Lấy tiếng Quảng Đông làm chủ, tập trung ở Lưỡng Quảng!

May thay, thân mẩu của Nhương Thư là người Hồ Nam, dĩ nhiên bà ta đã dạy cho con trai ngôn ngữ của quê hương! Chàng yêu mẹ nên yêu cả những gì gợi nhớ đến bà, bất giác có hảo cảm với cô gái man rợ này! Nhương Thư vui vẻ dùng tiếng Hồ Nam lập lại câu hỏi. Nàng ta cười tít mắt đáp một cách chậm chạp và ngọng nghịu, vì có lẽ đã nhiều năm không dùng đến!

- Ối chà! Té ra…mày cũng…bbiết..nói ..tiếng.. của cha tao ư? Nhưng..cô nương là cái gì vậy?

Trong tiếng Hán hai từ ” NHĨ; NGÔ được dùng để xưng hô cho mọi vai vế, muốn dịch sao cũng được! Điều này đã bị các bậc túc nho xứ Giao Chỉ chê bai, rằng Hán ngữ thiếu sự phong phú và phân minh! Cha, con, ông, cháu mà cứ Ni.- Ngộ, Lư-Vá, Ni-Mờ.. thì còn thể thống, lễ giáo gì nữa!

Do vậy, trong trường hợp này, tác giả dịch hai câu ”Nhỉ-Ngã” của cô gái ở truồng, kém văn minh kia là ”mày-tao” chắc là thích hợp hơn! Nhưng nếu thế thì hơi chói tai, đổi là ”ta-ngươi” dể nghe hơn!

Nhương Thư phì cười giải thích:

- Cô nương tức là ”mày” đấy!

Trong lễ nghĩa Trung Hoa, khi nói chuyên Nhương Thư luôn phải nhìn vào mặt đối phương, song thị hướng mắt của người khá rộng, nên nhãn tuyến chàng bao quát luôn cả bộ ngực thanh tân, mum múp cao của cô gái. Chàng thầm hổ thẹn và nhớ Thúy Sơn vô hạn.

Nữ nhân kia vui vẽ nói:

- Lúc nãy, ta đang tắm thì nghe tiếng chân của ngươi, vội ẩn vào bụi rậm trên bờ. Ta mãi mê xem ngươi tắm nên không để ý đến con rắn! Ngươi đi khỏi thì nó quấn lấy ta!

Nhương Thư xấu hổ đến mức chỉ muốn dộn thổ, cúi gầm mặt xuống thì ánh mắt lại vướng phải cái gò nhỏ xum xuê lau lách, càng thêm lúng túng. Chàng cuống lên:

- Thôi ta di đây!

Và chàng quay gót bước nhanh! Song cô gái rừng rú kia đã hoảng hốt, lướt theo với một tốc độ kinh người, từ phía sau ôm chặc lấy Nhương Thư miệng van xin:

- Đừng đi! Cha ta chết đã năm mùa tuyết rơi, và kể từ ấy ta chưa gặp được người nào cả!

Giọng nói khẩn thiết thê lương kia khiến Nhương Thư rùng mình, tưởng tượng ra cảnh tỉnh mịch đáng sợ của một con người giữa rừng già chỉ toàn dã thú và cây cối lặng câm! Chàng là kẻ từ bi nhân hậu, lẽ nào lại để cho một đồng loại phải sống mãi trong cảnh sơ khai mất dần tính người này?

Nhương Thư bâng khuân tưởng nhớ đến ân sư, lòng thanh thản với quyết định của mình, dịu giọng bảo:

- Nàng hãy buông ta ra, đưa ta về nhà xem sao?

Cô gái không hiểu ý, vẩn xiết chặc vòng tay mạnh mẽ, lực đạo lên đến mấy trăm cân. Xem ra nàng ta có sức khoẻ thật khác thường!

Cô gái rừng rú ngơ ngẩn hỏi:

- Nhà là gì?

Nhương Thư rầu rỉ đáp:

- Nhà là nơi ngươi và thân phụ thường ở đấy!

Cô gái gật gù:

- Té ra cái hang đá con được gọi là nhà!

Nàng ta buông Nhương Thư ra, nắm tay chàng lôi đi:

- Hãy theo ta!

Đến lượt thân sau mượt mà với chiếc eo thon lẳn, bờ mông chắc nịch, tròn trịa, làm xốn xang đôi mắt Nhương Thư. Chàng chịu hết nổi, giử cô gái lại, mở bọc hành ly, lẩ ra bộ y phục cuối cùng, dịu dàng bảo:

- Ngàng hãy xuống suối tắm và rửa sạch đất cát rồi mặc quần áo vào!

Cô gái hân hoan nhận lấy, cười khanh khách:

-Cha ta cũng có một bộ màu xanh thẩm giống như vầy! Song ông ta đã mặc khi chết, ta chẳng dám lột ra!

Nàng hớn hở đặt lên tảng đá cạnh bờ rồi xuống suối tắm táp, kỳ cọ. Dĩ nhiên Nhương Thư quay đi, chẳng dám nhìn!

Lát sau, cô gái rừng lúp xúp trong bộ quần áo rộng thùng thình, hiện ra trước mắt chàng. Hai vạt áo vẩn mở toang, còn lưng quần thì được kéo lên tận dưới vú, vì cô gái thấp hơn Nhương Thư một cái đầu, chàng cắn răng khép nhanh hai vạt áo, giật lấy giải thắt lưng, quấn chặc cho nàng ta!

Nhương Thư giật mình khi thấy dung mạo nàng có nét giống Bạch Ngọc Tiên Tử Lâm Đại Ngọc, tuy không đẹp bằng. Chàng nghe lòng quặn đau, thở dài nói:

-Ta tên Tần Nhật Phủ , còn nàng tên là gì?

Cô gái nhăn mặt gải đầu suy nghĩ trông rất khổ sở:

- Lúc còn sống, phụ thân gọi ta là Anh Nhi , còn họ thì ta quên béng mất rồi. Chẳng nhớ Triệu, Nguỵ, Tề, Lỗ, Tống gì cả!

Nói xong Anh Nhi mau mắn dẩn Nhương Thư đi về hướng Đông. Độ vài chục dặm thì đến một khách xá cao chừng mười trượng, dường như là sườn Tây của một nết đất đột ngột nhoo cao do địa chấn. Tuy nói là đi, nhưng thực ra làm gì có đường xá! Anh Nhi di chuyển bằng cách đu dây leo hay quăng mình từ cành này sang cành khác! Động tác nhanh nhẹn, nhẹ nhàng chẳng thưa loài khỉ vượn! Nhương Thư cũng không chịu kém bắt chước làm theo, lòng rất thích thú.

Nhà của Anh Nhi là một động khẩu lớn, cao đến hai trượng và rộng cũng chừng ấy. Khu vực trước cửa động là một bải cỏ phẳng phiu, thưa thớt cây cối nên ánh dương quang lọt được vào trong, khiến khung cảnh thạch động sáng sủa, chẳng đến nổi âm u!

Nhờ vậy, Nhương Thư sớn nhận ra hai con hổ vằn to lớn đang nằm chễm chệ trên sàn động, nhìn mình với ánh mắt nghi hoặc va đầy đe doạ!

Anh Nhi thấy chàng giật mình, ben cười khanh khách:

- Ngươi đừng sợ! Tiểu Thư va Tiểu Hùng là vật nuôi của ta đấy!

Rồi nàng vui vẻ bảo hai con hổ:

- Hắn chính là khách của ta! Hai ngươi đi ra ngoài để ta tiếp khách!

Hai con ác thú ngoan ngoản đứng lên, lừng lững đi ra, lúc ngang qua Nhương Thư, chúng khẻ gầm gừ để thị uy!

Anh Nhi đắc ý giới thiệu:

- Con lớn là Tiểu Hùng, cũng giống đực như ngươi vậy! Còn Tiểu Thư là giống cái nên nhỏ hơn! Ba năm trước ta giết cha mẹ chúng rồi bắt chúng về nuôi cho vui!

Nhương Thư nghe nhắc đến đực cái, chộy dậ nhớ đến lúc mình tắm suối, bị com bé thổ tả này rình. Chàng ậm ừ cho qua chuyện rồi bước vào sâu quan sát.

Trong động không hề có vật dụng gì ngoài hai chiếc phản gổ thô sơ, xấu xí, mặt phủ đầy bụi, có lẽ là của người đã chết. May mà Anh Nhi không ăn thịt sống vì giữa động có một bếp than, cạnh cắm hai chạng ba nhỏ dùng để gác thanh sắt nướng thịt.

Nhương Thư bước đến vách tường Bắc vì nơi đay có đặt một cổ quan tài bằng thân cây nguyên võ. Nó được xẻ đôi khoét rổng ruột, đặt tử thi vào rôi trám lại bằng nhựa cây! Với loại gổ Long Não này thì chẳng loại mối mọt nào huỷ hoại được.

Trên vách đá hai bên linh cửu cpa khác đôi liển, nét but cứng cáp, hùng mạnh:

Huy ngô bửu kiếm tỳ hưu viển tích nam san!

( Tạm dịch )

Ta dương buồm gấm, cá dữ dạt ra biểm Bắc

Ta múa gươm thiêng, ác thú chạy tít núi nam!

Hai câu đối ngang tàng, cao ngạo này rất quen thuộc với Nhương Thư. Chàng đãthầm đoán ra lai lịch thân phụ của Anh Nhi. Ông ta chính là Cẩm Phàm Kiếm Khách Đoan Mộc Toàn, bá chủ Động Đình Hồ và một đoạn sáu trăm dặm sông Trường Giang!

Mẩu thân Nhương Thư là người thành Trường Sa, phủ Hồ Nam nên biết rất rỏ nhân vật này, từng kể cho chàng nghe. Đoan Mộc Toàn thành danh từ năm hai mươi bốn tuổi, do xuất thân từ nhà đại phú nên cho đóng một chiếc thuyền lớn, trang trí hoa lệ, buồm bằng gấm dày màu xanh, lúc thì lững lờ trên Động Đình Hồ, lúc xuôi ngược Trường Giang oai phong lẫm lẫm! Về võ công, Đoan Mộc Toàn đứng đầu võ lâm Phương Nam nhờ pho Thiên Cương Kiếm Pháp và cả thanh Thiên Cương Thần Kiếm cứng rắn tuyệt luân.

Ông ta lại anh tuấn hơn người, đúng câu tài mạo song toàn, vì thế mà cao ngạo, khó khăn cả trong việc chọn người phối ngẩu, gần bốn mươi vẩn phòng không chiếc bóng!

Đột nhiên đến năm Kỷ Tỵ, nhằm năm chính thôsnh thứ mười bốn, lúc Nhương Thư tròn một tuổi, Cẩm Phàm Kiếm Khách mắc phải quái bệnh, mặt mũi, thân thể lở lói, u nần như người bị phong cùi! Và sau đó khônglâu, Đoan Mộc Toàn biến mất, chẳng rỏ đi đâu!

Nhương Thư dang trầm ngâm suy nghĩ, thì Anh Nhi đã mang ra một túi nhỏ bằng da nai, trao cho chàng và nói:

- Trước khi chết! Cha ta có dặn rằng, khi nào có người nào đến đây, thi cho họ xem cái túi này!

Nhương Thư mở nút thắt dây buộc miệng túi, đổ những đồ vật bên trong ra phản, gồm một kim bài có dây đeo, một quyển sách, và một mảnh lụa cuộn tròn.

Chàng xem xét tấm kim bài vàng óng kia trước, thấy một mặt khắc nổi hai câu liển giống như trên vách, mặt kia là một chiếc thuyền buồm.

Nhương Thư trao thẻ bài ấy cho Anh Nhi rồi trải cuộn lụa ra. Nó chính là di thư của Cẩm Phàm Kiếm Khách, có lẽ được viết bằng cây nhọn chấm máu tươi, vì nơi đây làm gì có bút mực! Ngay mảnh lụa cũng chỉ là một vạt áo cắt ra.

Nội dung của di thư thế này:

” Duyên nhân nhã giám! Lão phu vốn thực là Cẩm Phàm Kiếm Khách Đoan Mộc Toàn đất Hồ Nam. Năm tứ thập, lão phu mắc quái chứng, dung mạo bị phá huỹ, bèn bỏ Động Đình Hồ đi tìm danh y. Triều Châu Thần Y đã tận tình điều trị cho lão phu hết nữa năm mà không có kết quả. Mùa xuân năm chính thống thứ mười lăm, Bố Y Thần Toán Tôn Hữu Tề đến Triều Châu thăm Tạ Thần Y, biết chuyện của lão phu liền bói giùm một quẻ. Ông ta khuyên lão phu nên đi lên hướng Bắc khi nào nghe tiếng chim tu hú kêu bảy tiếng thì dừng chân, ắt sẽ gặp thuốc thang!

Lão phu liền nghe lời họ Tôn nên có mặt ở Cưu Sơn này. Mật của loài Độic Hoàng Phong đã chữa lành quái bệnh song không thể trả lại dung mạo anh tuấn cho lão phu.

Trước khi lâm bệnh, lão phu đã có lời minh sơn thệ hải với Nghi Xương Thần Nữ Khúc Phi Anh. Do vậy lão phu không dám vác gương mặt lồi lõm, đầy sẹo về Hồ Nam gặp nàng, đành chôn vùi mãnh đời mình chốn rừng sâu!

Tám năm sau, trong lúc đi săn thịt, lão phu chợt phát hiện có một đứa bé gái độ bốn tuổi, đang sống chung với bầy vượn. Lão phu liền bắt về nuôi. Đặt tên là Đoan Mộc Anh, để tưởng nhớ đến người yêu cũ:

Anh nhi hiếu thảo, và ngoan ngoản đã khiến cuộc đời lão phu có được những ngày hạnh phúc.Năm Anh Nhi mười hai tuổi, lão phu đã quyết định đưa nó về nhân quần xã hội, nào ngờ chưa kịp thực hiện thì lão phu bị một con rắn cực độc cắn vào đùi.

Biết mình không thể sông sót, lão phu xé áo, cắt tay viết bức di thư này để lại! Ai là người hữu duyên vào được chốn tuyệt địa, đọc thư này, xin hãy khai ân đưa đứa con gái nuôi của lão phu về Đoan Mộc gia trang ở Trường Sa. Túc hạ cứ đưa tấm kim bài và di thư này ra, sẽ được hậu tạ ngàn lượng hoàng kim.

Đoan Mộc Toàn bái bút!”

Đọc xong, Nhương Thư giảng giải cho Anh Nhi nghe rồi dặn dò:

- Nay ta còn phải lên núi Cưu Sơn một chuyến, Anh Nhi hãy ở lại đây chờ đợi, vài ngày nữa ta sẽ quay lại rước nàng!

Đoan Mộc Anh tròn mắt thắc mắc.

- Vách núi dựng đứng cao ngất, làm sao ngươi lên được!

Nhương Thư mỉn cười:

- Sẽ có người thả dây kéo ta lên!

Đoan Mộc Anh lộ vẻ đắc ý:

- Ta chẳng cần dây cũng lên được! Ngươi thực là dở tệ!

Nhương Thư biết nàng không nói dối vì đã mấy năm sống với bầy vượn, khả năng leo trèo tất phải khác thường!

Hoàng hôn đã lịm tắt, lát nữa đây không gian sẽ tối đen, Nhương Thư đòi đi ngay, Anh Nhi hăng hái:

- Ta sẽ dẩn ngươi đi cho nhanh. Song chổ hẹn có đặc diễm gì để nhận ra?

Nhương Thưđáp:

- Ban ngày họ cắm cờ trắng, ban đêm thì đót lửa trên đỉnh vách!

Anh Nhi cười hì hì:

- Thế thì không lo! Chúng ta ăn cho no cái đã!

Trong thư, đệ tử Cưu Bang nói rằng Kỵ Ba Thần Quân khôngthể đóng xong thang trong vòng sáu bảy ngày tới. Do vậy, Nhương Thư chẳng gấp lắm, ở lại ăn bữa chiều với Anh Nhi. Thực ra, bụng chàng cũng đói meo!

Đoan Mộc Anh thổi bùng bếp than, bẻ thêm củi khô vào để nướng chiếc đùi nai. Gia vị chỉ có loại muối là tro của thảo mộc, chẳng mặn mà cho lắm!

Trong lúc ăn Nhương Thư vui vẻ nói:

- Anh Nhi! Ta sẽ nhận nàng làm em! Từ nay nàng sẽ gọi ta là Tần đại ca và xưng là tiểu muội!

Đoan Mộc Anh mừng rở lập đi, lập lại hai từ ấy, miệng cười khúc khích, để lộ hàm răng trắng nhọn của kẽ quen ăn thịt! Trước khi về với Cẩm Phàm Kiếm Khách, nàng không biết dùng lữa và ăn thịt sống!

Xong bữa, Anh Nhi hớn hở đưa đường cho Nhương Thư, chỉ nữa canh giớ sau đã đến bìa rừng, nơi tiếp giáp với sườn phía Bắc của núi Cưu Sơn.

Chân vách toàn đá sỏi nên cây cối rất thưa thớt, tạo ra một khoảng trống lớn, dọc thêo chân núi. Nhờ vật, Nhương Thư đã nhìn thấy đốm lữa lập loè trên đỉnh vách, cách chor chàng đứng không xa!

Nhương Thư dịu dàng bảo:

- Anh Nhi hãy về động đi, tối đa là mười ngày, ta quay lại đón hiền muội!

Đoan Mộc Anh gật đầu không nói, song ánh mắt kia sáng rực niềm tin và nổi luyến lưu.

Thực ra thì lúc ấy trời đãtối, sương mù từ cánh rừng bốc lên che phủ không gian, song cả Nhương Thư lẩn Đoan Mộc Anh đều có nhãn lực phi thường nen mới thấy rõ nhau, cũng như cảnh vật!

Nhương Thư rảo bước, lát sau đã đến nơi, phát hiện dưới chân ngọn lữa là một tảng đá khổng lồ, cao nữa trượng , mặt lớn độ chục mảnh chiếu.

Nhương Thư đã mấy lần rơi xuống vực, đối với độ cao cũng ngấm ngầm ngán ngại, chẳng khác nào chim rừng bị trúng tên, thấy cành cong là sợ. Chàng nghĩ thầm:

- Hoàng Nghi Tuyệt quả khéo chọn địa điễm! Lỡ dây đứt, ta rơi xuống tảng đá này thì khó sống!

Bổng chàng nghe tiếng động sau lưng, quay lại thì thấy Đoan Mộc Anh, liền cau mày hỏi:

- Sao Anh muội không chịu về động?

Anh Nhi lúng túng đáp:

- Tiểu muội từng té gẩy xương vì dây leo đứt, lo cho đại ca ..nên đến đây xem sao?

Nhương Thư phì cười:

- Làm sao hiền muội hứng cho ta được, lúc ấy cả hai cùng chết chứ nào có ích gì? Những người trên kia là bạn của ta, chắc y đã kiểm tra dây kỹ lưởng, làm sao đứt được!

Đoan Mộc Anh gật gù:

- Thế thì tốt! Nhưng tiểu muội sẽ ở đây, chờ đại ca lên an toàn rồi mới đi!

Nhương Thư cảm động trước quan hoài của cô gái rừng hoang dã, vỗ vai nàng rồi nhẩy lên tảng đá. Sợi dây chão lớn bằng cổ tay đã thả sẵn, song Nhương Thư phải báo hiệu rồi mới dám lên, chàng ngửa cổ vận công nói :

- Tại hạ là Tần Nhật Phủ đây !

Người phí trên đáp ngay :

- Hay quá! Không ngờ Tần Đại hiệp lại đến sớm như thế! Mời Đại hiệp thượng sơn!

Nhương Thư yên lòng nắm dây chão lần lên, hai chân điểm vào cách, phần dây chão phía dưới được quấn hờ hơn nửa vòng quanh thân để có thể neo mình nghỉ ngơi khi cần. Lực đạo hai cánh tay chàng rất khoẻ nên tốc độ tiến khá nhanh, nửa khắc đã đạt độ cao mười trượng, cách đỉnh vách chỉ ba trượng. Bỗng từ trên đầu chàng có ba người ló ra, tay phải cầm đao, tay trái cầm đuốc soi sáng. Một gã cười khanh khách :

- Tần Nhật Phủ! Ngươi trúng kế của Thần Quân rồi!

Nhương Thư chưa kịp cảm nhận được hết sự kinh hoàng thì đối phương vung đao chặt dây chão. Nhớ đến tảng đá dưới chân, Nhương Thư chua xót tự nhủ rằng mình chắc chắn phải chết. Ngay cả khi không rơi trúng tảng đá chàng cũng khó toàn mạng vì nền đất chân núi cứng rắn. Nhát đao oan nghiệt kia nhanh đến mức không cho phép chàng phản ứng. Dây đứt lìa trong tiếng rú phẫn nộ của Nhương Thư. Nỗi sợ hãi khiến chàng co rúm người lại, tay nắm chặt sợi dây, chân kẹp cứng lấy đoạn dây chão nãy giờ vẫn quấn quanh hông.

Trong khoảnh khắc sinh tử ấy, Nhương Thư chợt thấy sợ dây chão phía dưới căng ra và một lực đạo mạnh mẽ giật phăng thân hình chàng chấn sang mé hữu, rơi xuống tàn lá xum xuê của một cây cổ thụ ở cách tảng đá ba trượng. Chiều cao của cây này đã năm trượng nên khoảng cách rơi giảm bớt đi. Theo bản năng sinh tồn, Nhương Thư đã dồn toàn bộ công lực bảo vệ thân thể. Sức nặng cộng với đà rơi của chàng đã làm cành cây gẫy răng rắc một loạt từ trên ngọn xuống. Dĩ nhiên, da thịt của Nhương Thư chẳng thể lành lặn, rách toạc nhiều đường và mê man bất tỉnh vì đầu bị đạp mạnh, nhưng chàng vẫn còn sống! Trưa hôm sau, Nhương Thư hồi tỉnh, ngỡ ngàng nhận ra mình đang nằm sấp, thân thể loã lồ, lưng và đùi sau vương vướng cái gì đó. Chàng vừa định ngồi lên thì có tiếng người nhắc nhở :

- Đại ca cứ nằm im, chờ tiểu muội thay thuốc lá, băng bó xong mới được cử động !

Đấy là tiếng của Đoan Mộc Anh. Chàng xấu hổ quá liền nằm im thin thít. Dẫu sao nằm sấp vẫn kín đáo hơn ngồi dậy. Hồi tưởng lại cảnh tử vong, chàng nhận ra chính Anh nhi đã cứu mạng mình. Nhương Thư liền hỏi :

- Anh muội! Người làm thế nào để cứu được ta vậy ?

Đoan Mộc Anh vừa giả lá cây, trong chiếc cối gỗ, vừa vui vẻ giải đáp :

- Đại ca biết không, tiểu muội chờ Đại ca lên được nửa đường, liền nắm đầu dây trèo lên cây cổ thụ, cột chặt vào ngọn rồi giữ lấy và thu dần về!

Nhương Thư hiểu ra, lẩm bẩm :

- Thảo nào ta có cảm giác phần dây dưới hơi căng và cứ tưởng do gió đưa !

Anh nhi nói tiếp :

- Nhờ ánh sáng cây đuốc của bọn ác độc kia mà tiểu muội nhìn thấy nhát đao chặt dây và kịp thời kéo đại ca về phía mình!

Nhương Thư cảm động nói :

- Hiền muội thực là thông minh và tốt bụng !

*

* *

Bảy ngày sau, nhờ những thứ thuốc vô danh mà thần diệu trong rừng Cưu Sơn, ngoại thương của Nhương Thư đã hoàn toàn bình phục, song lòng lại nặng trĩu lo âu. Thứ nhất, chàng lo cho an nguy của Cưu Bang, vụ ám sát chàng chứng tỏ rằng Kỵ Ba Thần Quân đã chiếm được Cưu Sơn, trước khi chàng đến, thư cầu viện chỉ là quỉ kế! Thứ hai, giờ đây chàng lại có thêm trách nhiệm với cô gái bạc mệnh Đoan Mộc Anh. Trong những ngày qua, Anh nhi đã chăm sóc chàng chẳng chút thẹn thùng và dù không nói ra nhưng ánh mắt kia ngập tràn niềm yêu thương vô hạn! Nàng đã thắng thắn từ chối việc về Trường Sa sống với nhà họ Đoan Mộc và đòi theo chàng mãi mãi !

Nhương Thư hiểu rằng lời thề đồng hành xuống suối vàng với Thúy Sơn sẽ chỉ được thực hiện sau nhiều năm nữa! Hình bóng ba người vợ đang mang thai luôn nhắc nhở chàng không được phép chết. Chẳng thà bất tín chớ không thể bất nhân, bất nghĩa! Trời sanh đã quá ưu ái, nhiều lần ban cho chàng mạng sống, sao chàng có thể tự huỷ được? Mười một viên Lân Hoả Thần Đạn được Nhương Thư nhét vào trong ngực áo nên không bị vành cây va chạm vào khi chàng rơi xuống. Đây cũng là điều xảo diệu khôn lường, vì nếu không gặp Đoan Mộc Anh, không tặng nàng bộ quần áo cuối cùng, thì Nhương Thư đã bỏ túi thần bạn vào tay nải và chắc chắn chúng sẽ phát nổ, thiêu chêt chủ nhân!

Chàng chỉ mang theo ba bộ võ phục , một mặc trên người, hai trong bọc. Khi bỏ một tặng một, túi hành lý rỗng không, vô dụng, được để lại trong thạch động! Kẻ gian hùng, mưu đồ bá chủ, thường có tật luyến tài, muốn thu dụng những kẻ anh hùng về làm thủ hạ. Do vậy, Nhương Thư hi vọng bọn Hoàng Nghi Tuyệt vẫn còn bị giam giữ chứ chưa chết. Lực lượng chính phái ở Cưu Sơn toàn là những cao thủ kiêu dũng, số còn sống sót sau cuộc chiến tất sẽ được Kỵ Ba Thần Quân dùng Nhiếp Hồn Đại Pháp khống chế chứ không giết cho uổng phí! Tham vọng càng lớn càng cần nhiều nhân thủ thực hiện! Nghĩ vậy nên Nhương Thư quyết định dọ thám Cưu Sơn một lần xem sao. Chàng hỏi Đoan Mộc Anh !

- Anh muội! Hôm trước ngươi bảo rằng có thể trèo lên vách đá Cưu Sơn mà không cần người kéo lên! Nay ta muốn nhờ hiền muội giúp ta lên đấy để cứu những người đang bị giam giữ!

Cô gái đã trả lại cho Nhương Thư bộ võ phục, vì bộ trên người chàng đã tan nát khi rơi xuống tàn cây. Dù định lực cao như núi, Nhương Thư cũng phải giữ lễ, bắt Anh nhi khoác vào người mảnh da gấu. Thường thì nàng chỉ mặc nó khi tuyết bắt đầu rơi! Cẩm Phàm Kiếm Khách qua đời khi con gái nuôi mới mười hai tuổi đến giờ thì những bộ quần áo đã cũ đã không còn vừa vặn, nên Anh nhi phải vụng về tự chế tác lấy. Đơn giản là nàng lột da con gấu đen, chặt đầu, chặt hai bàn tay và thiến ngang bụng, rốt cuộc, có được chiếc áo khoác lông dài quá gối! Khổ thay, Anh nhi lại chẳng có thói quen khép hai vạt áo nên cái gì cần giấu lại lộ ra. Nhương Thư khổ sở nhắc nhở thì nàng cười khúc khích:

- Thế này cho mát! Vả lại đại ca đã thấy ráo trọi rồi, che giấu làm gì nữa! Còn của Đại ca thì tiểu muội còn lạ gì !

Nhắc lại, khi nghe Nhương Thư đòi lên núi, Đoan Mộc Anh hăng hái nhận lời :

- Tiểu muội sẽ lên trước, thả dây để đại ca lên sau !

Sợi chão oang nghiệt hôm trước vẫn còn nằm vắt vẻo trên tàn cây cổ thụ, tuy thiếu ba trượng song vẫn đủ dùng vì Nhương Thư có thể từ một chỗ cao nào đó tung mình lên chụp lấy đầu dây! Xế chiều hôm ấy, hai người chuẩn bị lên đường. Anh nhi trút ngay bộ lông gấu ra :

- Leo núi không thể mặc cái áo lùng tùng nặng nề này được !

Nhương Thư xốn mắt trước thân hình thon lẵn, khoẻ mạnh, đầy sức sống thanh xuân của Anh nhi, vội cởi áo mặc cho nàng :

- Vậy thì hiền muội hãy mặc áo này vào !

Quả nhiên áo đủ dài để che phủ đến tận gối mà không làm cô gái vướng víu khi leo trèo. Hai người có mặt ở chỗ cũ, Anh nhi rút lấy đầu dây chão đang lòng thòng, cuộn lại rồi dẫn Nhương Thư đi về hướng Đông thêm vài chục trượng. Đoạn vách đá phía này gồ ghề, có nhiều mẩu lồi, khe nứt, khả dĩ làm điểm tựa đặt chân. Song chỉ có loài vượn mới có thể vượt vách bằng con đường cheo leo, hiểm trở này !

Nhương Thư thầm lo ngại, hỏi nàng!

- Anh muội có chắc lên được hay không?

Sơn nữ mỉm cười tự hào :

- Đại ca yên tâm! Tiểu muội đã lên núi ba bốn lần rồi !

Sương chưa lên, ánh tà dương vẫn soi rõ cảnh vật, song trên đỉnh vách không người canh gác nên Nhương Thư chẳng sợ phát hiện. Chàng chỉ lo Anh nhi trượt tay mà thôi !

Nhương Thư thở dài :

- Hiền muội lên đi! Đại ca sẽ cố đỡ nếu ngươi rơi xuống !

Chàng không nói khoác vì biết rõ sức mạnh của mình. Chàng định sẽ nhẩy lên hứng lấy Anh nhi và dung xác thân mình làm nệm cho cú rơi của nàng! Đoan Mộc Anh chỉ cười, nhanh nhẹn trèo lên. Gió Tây lồng lộng thổi tung vạt áo để lộ đôi mông rám nắng tròn đầy, khiến Nhương Thư bật cười. Chàng cười chính mình vì đa dục mà e dè sở hãi đủ điều. Trong khi Anh nhi hồn nhiên, vô tư, trong sáng như trời xanh lồng lộng! Tự bao giờ con người phải dùng y phục để che chở thân thể trước con mắt dục vọng của đồng loại? Y phục trước tiên chỉ là dụng cụ làm ấm da thịt khi lạnh giá, sau đó kín đáo hơn để chống muỗi mòng!

Nhương Thư nghe lòng thanh thản hơn, chăm chú theo dõi bước tiến của cô gái rừng. Anh nhi hành động nhanh nhẹn, chuẩn xác như loài vượn, tứ chi bàm vào những điểm tựa nhỏ bé, từng bước vững vàng vượt lên. Nàng không hề sợ độ cao, như cá không sợ nước nên đã thành công, tất nhiên phải kể đến sức mạnh và sự khéo léo của cuộc sống hoang dã. Hơn khắc sau, Đoan Mộc Anh đã an toàn ngồi vắt vẻo trên đỉnh vách, thả sợi dây se bằng vỏ cây xuống. Nó rất nhẹ nên nàng phải cột đầu dây vào một cục đá.

Nhương Thư bắt lấy, cột đầu dây chão vào để Anh nhi kéo lên. Sau khi cố định đầu trên, Anh nhi ra hiệu cho Nhương Thư, Doạn vách này thấp hơn chỗ chàng ngộ nạn hai trượng nên Nhương Thư chỉ cần tung mình lên là nắm được ngay! Có dây, chàng thoăn thoắt trèo, hơn nữa khắc đã đến nơi. Theo kế hoạch, Anh nhi ở lại bảo vệ đường rút lui còn Nhương Thư lần ra sườn Đông dọ thám.

Đoan Mộc Anh có mang theo Thiên Cương Thần Kiếm, ở chỗ chật hẹp hiểm trở này, dẫu gặp cường địch cũng không ngại! Nhương Thư đã khảo sát võ nghệ của nàng, mừng vì Anh nhi có sức khoẻ phi thường và trình độ kiếm pháp khá cao. Thiên Cương Kiếm Pháp chủ ở lực đạo mạnh liệt, đòn ra như lôi giáng. Chiêu thức không rườm rà những rất hiểm độc. Nó vốn dành cho nam nhân, nhưng Đoan Mộc Anh còn khoẻ hơn lũ đàn ông. Nàng lại mang bản chất sơn dã, khi đánh nhau thì dữ như cọp !

Nhương Thư tủm tỉm cười kéo vạt áo xốc xết của Anh nhi xuống và nói :

- Hiền muội đừng vì nóng ruột mà lần theo ta. Nếu để mất sợi dây này là nguy đấy !

Anh nhi nghiêm nghị :

- Tiểu muội chỉ chờ đến lúc bình minh! Đại ca không ra thì tiểu muội sẽ vào đấy !

Nhương Thư cảm động gật đầu và buột miệng nói đùa :

- Ngươi ăn mặc thế này vác kiếm đánh nhau thì e rằng phe đối phương khó thoát chết!

Anh nhi ngơ ngác không hiểu nhìn theo bước chân Nhương Thư.

Họ Tần nương theo cây cối, đi vòng ra sường núi hướng Đông, lòng ngạc nhiên trước vẻ tĩnh lặng khác thường của nơi này. Dù phe nào chiếm cứ cũng không thể im ắng vì giờ là giữa Dậu, chiều đã đi nhưng màn đêm chưa buông. Nhương Thư mạnh dạn áp sát khu nhà gỗ, không chờ đợi bóng đêm nữa. Nghe ngóng hồi lâu, chàng có thể khẳng định nơi đây chẳng một bóng người. Nhương Thư thận trọng tiến vào hậu viện, lục soát dần ra ngoài. Tất cả những tài sản có giá trị đều đã bị lấy sạch. May thay, trong phòng nọ còn sót lại hai bộ võ phục cũ kỹ của nam nhân, và cả chục bộ võ phục dành cho nữ.

Nhương Thư đoán đây là khuê phòng của vợ chồng Hoàng Nghi Tuyệt! Phe địch toàn đàn ông nên không lấy quần áo đàn bà làm gì! Nghĩ đến Đoan Mộc Anh, Nhương Thư dồn vài bộ cả nam lẫn nữ vào vuông vãi, đeo lên vai. Không hề có mùi máu, chứng tỏ nơi đây chẳng xảy ra cuộc chiến. Vậy thì Kỵ Ba Thần Quân đánh chiếm Cưu Sơn bằng cách nào? Lòng đầy nghi vấn và lo lắng, Nhương Thư đi vào toà đại sảnh bằng gỗ, trụ sở chính của Cưu Bang. Nơi đây cũng nguyên vẹn, chỉ mất những vật trang trí. Nhương Thư chậm chạp đi dọc chiều dài đại sảnh, ra đến cửa chính, đứng dưới mái hiên bâng khuân nhìn quanh chiếc sàn rộng, kéo dài đến tận mép bình đài!

Đã gần cuối giờ Dậu, không gian nhá nhem, song trên nền trời vẫn nổi bật hai vật khiến chàng chú ý. Đó là hai cột gỗ có thanh ngang ở trên như chữ thập và dường như ái đó đang bị trói ở đấy! Nhương Thư kinh hãi lao vút về hướng ấy, nhận ra hai thân hình tả tơi, lem luốc, y phục đầy máu khô kia chính là Hoàng Nghi Tuyệt và Từ Thanh Huệ.

Nhương Thư run giọng gọi :

- Hoàng đại huynh! Hoàng đại tẩu !

Song không ai trả lời cả. Nhương Thư sa lệ, vung kiếm đốn cột gỗ trói Hoàng Nghi Tuyệt, chỉ ba bốn nhát đã xong, chàng buông kiếm đỡ lấy cột từ từ hạ xuống đất. Trước tiên, chàng thò tay thăm mạch cổ họ Hoàng hân hoan khôn xiết vì gã còn sống. Nhương Thư đốn luôn cột thập tự giá thư hai, càng mừng hơn khi Từ Thanh Huệ cũng chưa chết, dù mạch mong manh như sợi tơ mỏng. Không thể mạo phạm đến vợ bằng hữu, Nhương Thư liền đưa cả người lẫn cột vào đại sảnh. Những ngọn đuốc cắm trên tường quá rẻ tiền nên chẳng ai thèm lấy. Chàng đốt cả lên cho sáng sủa rồi chặt dây trói và tìm nước cho hai nạn nhân uống! Sau đó, Nhương Thư chạy ngược phía sườn Bắc, gọi Đoan Mộc Anh:

- Anh muội mau đến giúp ta một tay! Phe đối phương rút hết cả rồi, chỉ để lại hai người bạn của ta !

Anh nhi đang nóng ruột đợi chờ, mừng rỡ chạy đến ngay. Đôi mắt cú vọ của chàng nhìn rất rõ cặp đùi ngựa của Anh nhi đang phơi ra trước gió, liền tháo tay nải, nhanh tay lấy ra một chiếc quần dài :

- Hiền muội hãy mặc vào kẻo bạn ta cười đấy !

Đoan Mộc Anh ngoan ngoãn thêm lời và còn ra vẻ lễ giáo :

- Tiểu muội đã nhớ được lời phụ thân dạy bảo lúc còn thơ, quyết từ nay không loã thể nữa !

Nàng bỗng mỉm cười và nói thêm một câu :

- Nhưng với đại ca thì tiểu muội chẳng hề e ngại !

Nhương Thư rầu thúi ruột, chẳng hơi đâu mà cãi cọ với con bé kém văn minh này. Chàng nắm tay Anh nhi lôi đi thật nhanh.

*

* *

Gần nửa đêm, hai nạn nhân đã được đưa về đến thạch động. Tuy đã được cho uống nước lúc còn ở trên núi. Song giờ đây một bát nước nóng pha mật ong rừng cũng là điều cần thiết. Có lẽ họ đã phải chịu đói khát vài ngày! Sau đó, Nhương Thư dồn chân khí kiểm tra kinh mạch. Nhận ra có bảy huyệt đạo bị phong toã, nên gân cốt vợ chồng họ Hoàng đều mềm nhũn, không còn tính cường cơ. Còn những vết thương rướm máu kia chính là vết roi da, hậu quả của một cuộc tra tấn, hành hạ. Thương tích không nặng song đã làm độc khiến hai người sốt mê man, lại them kiệt lực vì chẳng được ăn uống. Họ còn sống là nhờ đã dầy công luyên võ, chân nguyên thâm hậu, sức chịu đựng hơn người.

Kỵ Ba Thần Quân quả là tàn ác khi dành cho họ cái chết dần mòn, đáng sợ này. Trước tiên, Nhương Thư truyền chân nguyên, đả thông những huyệt đạo bị bế tắc, thúc đẩy chân khí bản thân họ lưu chuyển. Thủ pháp điểm huyệt của Kỵ Ba Thần Quân rất quái dị, Nhương Thư tốn rất nhiều sức lực mới giải phá được. Cũng may Nhiên Đăng Tâm Pháp vô cùng uyên bác, mầu nhiệm, lại thêm tu vi gần hoa giáp nên Nhương Thư đã thành công. Kinh mạch ổn định song nạn nhân vẫn chưa tỉnh lại được. Nhương Thư tiến hành bước điều trị ngoại thương. Đoan Mộc Anh thấy chàng cỡi y phục Hoàng Nghi Tuyệt cũng lăng xăng cởi áo Thanh Huề, Nhương Thư giật mình cản lại :

- Khoan đã! Nàng hãy ra ngoài chờ ta lo xong cho họ Hoàng rồi hãy vào rửa vết thương cho Hoàng đại tẩu!

Anh nhi tròn mắt thắc mắc :

- Sao chúng ta không cùng làm một lúc cho nhanh ?

Nhương Thư bối rối giải thích :

- Thân xác của nữ nhân chỉ dành cho trượng phu, người ngoài không được phép chạm đến. Từ nương là vợ của họ Hoàng ta đâu thể thất lễ được !

Đoan Mộc Anh gậy gù ra vẻ hiểu biết, chậm rãi đi ra ngoài. Được vài bước thì quay lại nói :

- Đại ca! Nếu thế thì tiểu muội chính là vợ của Đại ca phải không ?

Nhương Thư biết nàng ám chỉ đến việc hai người quá quen thuộc với nhau, liền hổ thẹn, chẳng biết câu nói sao. May thay, Anh nhi không chờ câu phúc đáp, bước đi ngay! Trưa hôm sau, nhờ uống mật ông quí và được đắp lá rừng. Hoàng Nghi Tuyệt đã hồi tỉnh trước. Gã ngơ ngác nhìn đôi nam nữ lạ mặc đang đứng cạnh giường, lát sau mới đủ tỉnh táo để chận ra đôi lông mày kép quái dị nhát thế gian. Họ Hoàng lộ sắc mừng, thều thào hỏi :

- Tần đại hiệp vẫn còn sống đấy ư? Thế mà Thành lão quĩ bảo rằng Tần đại hiệp đã chết ở sườn núi phí Bắc.

Gã chợt nhớ đến ái thê, lo lắng hỏi thêm :

- Từ nương thế nào rồi? Đại hiệp có cứu được nàng không ?

Nhương Thư gật đầu, trấn an:

- Hoàng huynh yên tâm! Đại tẩu vẫn bình an, đang nằm ở góc xa kia !

Ánh mắt Nghi Tuyệt lộ vẻ hân hoan. Gã thở phào :

- Trời cao có mắt nên người tốt chẳng thể chết oan !

Tri ân nhưng không nói lời cảm tạ vốn là thói quen của họ Hoàng! Nhương Thư cho gã uống một bát mật ong rồi hỗ trợ việc hành công. Đến chiều thì Nghi Tuyệt đã khôi phục được bảy phần sức lực và Từ Thanh Huệ cũng tỉnh lại song vẫn còn rất yếu ớt. Nghi Tuyệt đã có thể ăn uống bình thường, ngấu nghiến thanh toán món thịt nai nướng, song ăn từng ít một cách quãng nhau để khỏi chết vì bội thực như Vương An Thạch! Trong khoảng cách giữa hai lần ăn, họ Hoang trò chuyện với ân nhân Nhương Thư hỏi :

- Kỵ Ba Thần Quân chiếm đượcCưu Sơn bằng cách nào? Tại hạ thấy chiếc than khổng lồ kia chưa đóng xong mà?

Hoàng Nghi Tuyệt quắc mắt câm hờn chậm rãi nói :

- Gã khốn khiếp Tiểu Hồ Ly Chung Kim Dục đã bán đứng bọn tại hạ. Hôm rằm tháng tám, gã bỏ thuốc mê vào thức ăn, nước uống, khiến đêm ấy mọi người ngủ say như chết và Sơn Hải Bang chiếm được Cưu Sơn mà chẳng tốn một mũi tên. Hôm sau, Thần Quân được thư của Vô Ưu Cái, biết đại hiệp sẽ đến bằng đường sườn Bắc liền tương kế tựu kế để sát hại!

Nhương Thư hỏi tiếp :

- Lực lượng cao thủ chính phái ở Cưu Sơn đâu cả rồi, có ai bị hại không?

Nghi Tuyệt buồn rầu đáp :

- Tất cả đều bị khống chế bằng độc dược và Nhiếp Hồn Thuật. Họ sẽ trở về để ám hại năm vị chưởng môn trong hội đồng võ lâm !

Nhương Thư giật mình kinh hãi :

- Nguy hiểm thực! Tại hạ phải đi ngay để ngăn chặn âm mưu này !

Họ Hoàng chua chát lắc đầu :

- Có lẽ quá trễ rồi! Tuy nhiên, Thành Vô Chiến không có ý định giết chóc mà chỉ khống chế hội đồng võ lâm! Đại hội bầu Minh chủ sắp đến, không thể thiếu họ được và vì Kỵ Ba Thần Quân tin rằng ngôi vị tối cao ấy sẽ thuộc về mình!

Nhương Thư thở phào :

- Thế thì chưa đến nổi! Tại hạ sẽ tìm người giải toả Nhiếp Hồn Pháp cho họ !

Và chàng ngạc nhiên hỏi lại :

- Vì sao Hoàng huynh lại biết rõ mọi mưu đồ của Sơn Hải Bang như thế ?

Nghi Tuyệt cười nhạt :

- Tại hạ và chuyết thê đã thống lãnh Cưu Bang tiêu diệt khá nhiều thủ hạ Sơn Hải Bang nên Thành lão quỷ căm ghét, không cho phép sống sót. Trong lúc bị giam cầm, tên cẩu tặc Tiểu Hồ Ly đã thường xuyên đến đánh đập và chọc tức bằng cách tiết lộ kế hoạch của Kỵ Ba Thần Quân. Gã cho rằng bọn ta chẳng thoát chết mà kể lại !

Nhương Thư phẩn nộ trước sự phản bội đê tiện vủa Chung Kim Dục, an ủi họ Hoàng:

- Tại hạ thề rằng sẽ bắt Tiểu Hồ Ly đền tội !

Chợt nhớ đến an nguy của ba người vợ bụng mang dạ chữa, Nhương Thư cau mày bảo :

- Dù sao tại hạ cũng phải đi ngay Lạc Dương xem tình hình thế nào. Hoàng huynh và đại tẩu cứ ở đây dưởng thương bình phục hãy lên đường. Hẹn gặp nhau ở Tổng Đà Cái Bang !

Nghi Tuyệt liền bàn :

- Nếu Vô Ưu Cái đã bị hại thì Lạc Dương chẳng còn là nơi an toàn! Mong đại hiệp thận trọng khi vào thành! Ngoài cửa Đông có toà Toàn Chân Đạo Quán của Từ Phong Chân Nhân Khúc Hoàng Sơn. Ông ta quen biết với tiên sư tất sẽ vui lòng cho Tần đại hiệp trú chân. Vợ chồng tại hạ cũng sẽ đến đấy tìm đại hiệp!

Sáng hôm sau, tức hai mươi nảy tháng tám, Nhương Thư dặn dò Đoan Mộc Anh chăm sóc vợ chồng Nghi Tuyệt rồi rời thạch động. Chàng trở lại quán trọ trong thôn nghèo hôm trước lấy ngựa. Lão điếm chủ thực thà vẫn chưa bán mất tuấn mã của vị khách thất tung, Nhương Thư đền bù cho lão bằng tờ ngân phiếu trăm lượng bạch ngân!
Đăng nhập để trả lời
0
Tần Nhương Thư

Ưu Đàm Hoa

Hồi Thứ Mười Bảy

Hải Long Bất Khả Đương Lân Hoả

Giai Đắc Vô Thu Lưỡng Vĩnh Hoan.



Mười ngày sau có một kỵ sĩ võ phục xanh, áo choàng cùng màu, nón tre rộng vành sùm sụp, từ đường quan đạo Đông Tây rẽ phải đi về hướng bờ sông Lạc Hà. Ngã ba này cách cửa Đông thành Lạc Dương bốn dặm, dẫn đến Toàn Chân Đạo Quán của Từ Phong Chân Nhân! Lão quán chủ già nua lẩm cẩm ấy dường như thích chết đói về cõi tiên hơn là giàu sang, do vậy. Đạo Quán rộng thênh thang này thưa vắng bóng tín đồ.

Không người cúng dường đền miếu điêu tàn tạ, cỏ mọc đầy những khe gạch trên sân. Cả hàng rào mộc cẩn quanh đạo quán cũng không được cắt xén tỉa tót nên mọc um tùm, loạn xạ, chẳng mĩ quan chút nào cả. Song chính vì vậy mà đạo quán là nơi thích hợp cho những kẻ muốn tránh né con mắt của người ngoài. Nếu không thiên hạ sẽ thắc mắc vì sao chốn tu hành lại có ba ả giai nhân đang thơ thẩn ngắm nhưng bụi cúc tháng chín và thỉnh thoảng thở dài thườn thượt. Cổng tam quan của đạo quán luôn khép chặt, cài then cẩn thận khiến chàng kỵ sĩ áo xanh thẵm kia phải đạp cửa và gọi vang :

- Lão quán chủ! Đệ tử có việc xin cầu kiến!

Ba ả vú to kia vội vã chuồn ngay vào khu nhà phía sau đại điện của Đạo Quán. Họ đi đến một phòng lớn, nơi có bốn lão nhân tuổi từ năm mươi mấy đến tám chục đang ngồi đàm đạo. Người già nhất mặc đạo bào, râu tóc bạc như sương, da mặt nhăn nheo, mũi lân đỏ ửng vì thích rượu hơn thích trà. Ông ta chính là Từ Phong Chân Nhân Khúc Hoàn Sơn. Ba lão còn lại là người quen của chúng ta: Ngoạ Long Tú Sĩ, Triều Châu Thần Y và Dạ Quân Tử. Vậy thì ba thiếu phụ kia phải chăng là chị em nhà họ Điền ?

Thưa đúng thế! Uyển Xuân luôn nhanh nhãu, hớt hãi nói :

- Khúc quán chủ ! Có một gã đến đạp cửa và gọi đích danh ông đấy !

Mã Lan tủm tỉm tiếp lời :

- Phải chăng lại là người đến đòi tiền rượu? Tiện nữ sẵn sàng trả hết giùm Chân Nhân để đền ơn tương trợ?

Khúc Hoàn Sơn ngượng ngùng nói lầu bầu :

- Làm gì còn chủ nợ nữa! Hôm trước Mã thí chủ đưa bạc, bần đạo đã thanh toán xong xuôi cả rồi !

Ngoạ Long Tú Sĩ cau mày!

- Lạ thực! Sao gã lại không xưng danh tính nhỉ! Đạo trưởng nên mang kiếm theo, bọn lão phu sẽ ẩn mình theo dõi, sẵn sàng tiếp ứng!

Từ Phong Chân Nhân nghe lời quân sư, về đạo xá lấy vũ khí, rồi mới ra mở cổng.

Nhương Thư đã được Nghi Tuyệt miêu tả kỹ dung mạo của Khúc quán chủ nên yên tâm vòng tay nói :

- Bẩm Quán chủ! Đệ tử là Tần Nhật Phủ, bằng hữu của Hoàng Nghi Tuyệt! Y bảo quán chủ là chỗ thâm giao với Đao Đế, có thể cưu mang đệ tử vài ngày!

Trong lúc chàng nói thì Chân Nhân đã nhận ra cặp lông mày kép. Song ông vẫn không vồn vã mà lại lạnh lùng đáp :

- Bổn quán nghèo nàn, thùng gạo lại vừa cạn, chẳng dám chiêu đãi bậc quí nhân. Phiền công tử vào thành tìm khách sạn mà ở!

Nhương Thư đang ngớ người trước thái độ bất thường này thì Chân Nhân hỏi bâng quơ :

- Sao bần đạo nghe lời đồn công tử và họ Hoàng đều đã bị Kỵ Ba Thần Quân giết chết ở Cưu Sơn ?

Nhương Thư hiểu ngay lão sợ chàng là của giả, liền vui vẻ lột nón :

- Đệ tử chính thực Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách, xin đạo trưởng cứ kiểm tra lông mày khắc rõ!

Từ Phong Chân Nhân đang lưỡng lự thì có tiếng người vọng ra :

- Chân Nhân hãy bảo gã trao vũ khí rồi mời vào khách xá !

Đấy là giọng nói của Ngoạ Long Tú Sĩ, lão ta cùng hai người kia đang nấp trong gian mé hữu của Đại Điện Thờ Tam Thanh để quan sát. Đây cũng là nới tiếp khách của đạo quán. Nhương Thư nghe giọng quen quen những không dám khẳng định, vội trao kiếm cho Khúc Quán chủ, cột ngựa vào gốc đào già gần đấy, đi theo ông ta. Khách xá rất tối vì cửa sổ đóng chặt còn cửa chính chỉ hé mở. Nhương Thư vừa bước chân vào thì bị một thanh kiếm đặt lên cần cổ. Và cửa sổ được mở toang ra, giúp Nhương Thư nhận rõ ba người trong nhà. Chàng nghiêm nghị hỏi :

- Vì sao tam vị cũng có mặt nơi này ?

Ngoạ Long Tú Sĩ bước đến giật đôi lông mày của chàng, cào thử da mặt rồi thở phào:

- Tạ ơn Hoàng Thiên! Công tử vẫn còn sống !

Dạ Quân Tử nghe vậy liền thu kiếm về, nhìn Nhương Thư bằng ánh mắt rất kỳ lạ. Lão chậm rãi nói :

- Lão phu vẫn không tin ngươi yểu mệnh !

Năm người ngồi xuống quanh bàn, Nhương Thư thầm lo ngại khi thấy ba lão này không ở Tạ Gia Trang mà lại đến đây. Chàng trầm giọng bảo :

- Chuyện thoát chết của tại hạ rất dài, phiền chư vị nói sơ tình hình ở Tạ gia trang và Tổng Đà Cái Bang trước đã Tần Mỗ rất nóng lòng được biết!

Ngoạ Long Tú Sĩ thở dài thườn thượt, nói giọng thê lương :

- Hai nơi ấy đều bị Sơn Hải Bang khống chế cả rồi! Vô Ưu Cái và ba người vợ goá của Tần Nhương Thư đều bị giết !

Nhương Thư giật bắn mình, mắt trợn ngược, người run lên bần bật. Hung tin này như sét đánh ngang tai khiến chàng không sao trấn tĩnh được. Nước mắt ứa ra và Nhương Thư bật khóc thành tiếng:

- Ôi Hầu lão ca! Ôi ba người vợ yêu của ta! Tần mỗ còn sống làm gì nữa ?

Bốn lão già nhìn nhau đắc ý và Dạ Quân Tử lạnh lùng nói:

- Ba nàng ấy là vợ của Tần Nhương Thư chứ không phải vợ của ngươi !

Nhương Thư chẳng còn giấu giếm làm gì nữa, mếu máo đáp :

- Quan lão ca! Tiểu đệ chính là Nhương Thư đây! Ải Thần Quân đã dùng tà pháp và thuật cắt da, đắp thịt biến tiểu đệ thành Tần Nhật Phủ! Nhờ Thúy Sơn mà tiểu đệ mới tỉnh táo, khôi phục lại ký ức!

Nhắc đến người yêu dấu đã vong mạng chàng càng đau đớn. Thê tử đều chết sạch, Nhương Thư điên dại gào lên :

- Vợ con ta đâu ?

Khí huyết nghịch hành, Nhương Thư hộc máu, ngã ngửa ra sàn nhà mê man bất động!

Quách Tàn Bôi cuống lên, trách móc Ngoạ Long Tú Sĩ :

- Mưu kế này của lão thực quá độc ác, liệu y có sao không ?

Tạ Thần Y ngồi xuống thăm mạch, mỉm cười trấn Anh Nhi:

- Chẳng có gì đáng lo! Giờ ta cứ đưa gã vào giao cho ba ả họ Điền !

Thực ra thì ba nàng đã vác ngực ra đến. Giọng nói quen thuộc của chồng đã khiến họ giật mình, có cảm giác như Nhương Thư đang gọi. Họ không còn tin vào việc hồn ma của chàng hiện về gieo giống, mà tin lời Ngoạ Long Tú Sĩ đã khẳng định: Nhật Phủ là Nhương Thư! Ba ả nhận ra Nhật Phủ nằm trên nền, ngơ ngác và lo lắng. Lỗ Tú Sĩ đắ ý giải thích :

- Lão phu giả đò báo rằng các nàng chết, thế là hắn khóc lóc, thú nhận mình là Nhương Thư, bị Ải Thần Quân đổi xác!

Ba nàng mừng rở ngồi xuống vuốt ve gương mặt trượng phu, nước mắt tuôn dàn dụa.

Quách Tàn Bôi cằn nhằn :

- Để lão phu bồng gã về phòng cho các ngươi tha hồ ôm ấp !

Nửa khắc sau, Nhương Thư hồi tỉnh, nhìn ba gương mặt thân yêu, mơ màng nói :

- Thì ra ta đã đuổi kịp các nàng! Thế Thúy Sơn đâu! Chẳng lẽ lại đầu thai nhanh như vậy, không chờ đợi ta ?

Uyển Xuân phì cười :

- Bọn thiếp còn sống chứ chết đâu! Chàng bị Ngoạ Long Tú Sĩ lừa đấy!

Nhương Thư ngồi bật dậy, ôm chầm lấy họ, cảm nhận được hơi ấm và mùi hương da thịt mới tin là thực. Chàng ngượng ngùng nói :

- Ta thực có lỗi với các nàng !

Rồi chàng hôn hít họ để đền bù, Bạch Cúc bỗng nói :

- Dung mạo này quả là xa lạ, khiến thiếp chẳng yên lòng! Tướng công mau tìm lão chết tiệt Ải Thần Quân, bắt lão ta trả lại gương mặt cũ !

Uyển Xuân cùng tức tối chửi ùm lên :

- Mả cha cái lão lùn độc ác, bày ra trò quái dị này !

Nhương Thư vội bịt miệng nàng và nghiêm giọng :

- Thực ra Thần Quân chính là ân nhân của ta. Ông ta đã cứu ta thoát khỏi vực sâu, dốc túi truyền tuyệt học. Ta đã nhớ ra việc ông ta nhận ta làm nghĩa tử, xưng hô cha con suốt nửa năm trời! Còn trò tinh quái này hoàn toàn không có ác ý .

Mã Lan hiền lanh nói :

- Tướng công dạy chí phải! Bọn thiếp sẽ tôn kính Thần Quân như cha chồng !

Nhương Thư hài lòng xoa bụng nàng và hỏi :

- Con của chúng ta thế nào rồi ?

Mã Lan đỏ mặt đáp lí nhí :

- Thai mới hai tháng, chưa có động tĩnh gì cả, song Tạ Thần Y bảo rằng chúng rất khoẻ mạnh !

Uyển Xuân và Bạch Cúc cũng vén áo, phụng phịu bắt Nhương Thư áp tai nghe ngóng. Tất nhiên chàn chẳng thấy con mình lên tiếng, chỉ nóng mặt vì làn da mịn màn, nống ấm!

Nhưng chàng nhớ đến Vô Ưu Cái, cau mày hỏi ngay :

- Ba nàng không sao song Hầu lão ca thì thế nào ?

Bạch Cúc rầu rỉ đáp :

- Kỵ Ba Thần Quân oán hận Hâu Bang Chủ nhất nên đã rất nặng tay, biến Bang Chủ Cái Bang thành kẻ si ngốc, ai hỏi gì cũng gật, suốt ngày cười nói huyên thuyên. Do vậy. Hầu lão ca đã mất chức Bang chủ, người thay ông ta là Truyền Công Trưởng Lão Thiết Thủ Cái Phùng Đông Tuân! Họ Phùng tính tình tham lam, từ lâu đã mê chức Bang Chủ, nay hết lòng trung thành với Thành Vô Chiến để giữ ghế!

Tình tự, âu yếm hàng canh giờ Nhương Thư hơi ngượng,rời phòng đi tìm các lão nhân. Ba cô vợ cũng sửa sang y phục, đi theo chẳng chịu rời! Thấy nụ cười giễu cợt trên môi Dạ Quân Tử, Nhương Thư hổ thẹn đánh trống lảng :

- Chẳng hay sức khoẻ bá mẫu thế nào mà Quách lão ca quay lại sớm vậy ?

Quách Tàn Bôi cười đáp :

- Gia mẫu vẫn khang kiện! Ngươi hãy ngồi xuống đây, bọn lão phu nóng lòng muốn nghe kể lại chuyến đi Cưu Sơn!

Nhương Thư tuân mệnh, thuật lại mọi sự chỉ giấu giếm việc Đoan Mộc Anh suốt ngày loã thể, nhỡn nhơ đây đó! Song ba ả họ Điền nghe nói Anh Nhi cứu mạng chồng mình, liền tỏ lòng tri ân, rộng lượng, Uyển Xuân vui vẻ nói :

- Tội nghiệp cho Đoan Mộc Anh, chờ nàng đến bọn thiếp sẽ hết lòng chăm sóc, bù đắp cho tuổi thơ bất hạnh của nàng!

Bạch Cúc thì đánh phủ đầu :

- Nếu tướng công muốn có người bầu bạn lúc bọn thiếp thai nghén thì cũng chẳng sao!

Nào ngờ Nhương Thư tán thành ngay :

- Các nàng đã rộng lượng thì ta cũng không từ chối !

Bạch Cúc tức đến nghẹn họng, rủa thầm mình dại miệng nên se dây tự trói, sắc mặt lúc đỏ, lúc xanh trông rất tức cười! Nhương Thư thản nhiên như không thấy, hỏi Lỗ Đăng Hân :

- Mong tiên sinh cho tại hạ biết được rõ cục diện giang hồ hiện nay ?

Chàng rất tin tưởng tài trí Tú Sĩ và đã nghe Uyển Xuân kể lý do tại sao họ có mặt nơi này. Tối ngày hai mươi lăm tháng tám, Lỗ Đăng Hân nghe chim cú kêu, động tâm gieo quẻ, rồi quả quyết bắt cả nhà phải rời ngay Tạ Gia trang. Lúc này các vị đại phu đã về quê thăm nhà vì không còn việc gì để làm, Dạ Quân Tử thì mới đến được hai ngày. Mười gã hoá tử hộ trang cũng đi theo họ !

Quách Tàn Bôi không tin tài tiên tri của họ Lỗ nên ẩn bên ngoài chờ đợi. Lát sau, lão hộc tốc chạy đến Đạo quán báo tin Tạ Gia trang đã bị một đội quân bịt mặt tấn công. Không gặp ai chúng giận dữ phóng hởa ròi mới chịu rút! Trước đó vài khắc, Vô Ưu Cái đã bị Kỵ Ba Thần Quân ám hại, nhờ nội ứng trong Tổng Đà! Nhắc lại, nghe Nhương Thư hỏi thế, Lỗ Tú Sĩ vuốt chòm râu đẹp, tư lự đáp :

- Giờ đây, chúng ta là những người duy nhất còn được tự do. Cả đạo quân của Bất Trí Thư Sinh và Thiết Kình Ngư đi tiếp viện Cưu Sơn cũng bị Sơn Hải Bang mai phục, bắt sống gần hết. Năm phái Bạch Đạo hầu như bị thất thủ vì Chưởng môn bị khống chế! Trước tình hình này, thiển ý của lão phu là phải giết cho được Kỵ Ba Thần Quân trong đại hội võ lâm. Nếu không làm được điều ấy thì chúng ta sẽ đi Sơn Tây tìm Ải Thần Quân. Chỉ có lão ta mới giải nổi Nhiếp Hồn Thuật của lão quỷ. Khi cứu được hội đồng võ lâm rồi,chúng ta huy động lực lượng dệ tử năm phái tiến đánh Tế Nam.

Nhương Thư cùng họ thảo luận kỹ càng từng chi tiết của kế hoạch. Sau bữa cơm chiều lại bàn tiếp, tận cuối canh hai mới xong. Ba nàng góa phụ hụt nóng lòng được gần chồng nên chửi rủa thầm bốn lão già lắm mồm thiếu tế nhị kia! Về đến phòng. Nhương Thư nằm sóng xoài trên giường, mắt lim dim ta chiều muốn ngủ, Uyển Xuân hờn mát :

- Tướng công không còn yêu thương bọn thiếp nữa sao ?

Nhương Thư cười gượng :

- Các nàng đang kỳ thai mà !

Mã Lan hổ thẹn nói lí nhí :

- Tạ Thần Y có dạy rằng từ tháng thứ sáu mới phải kiêng cữ ái ân !

Nhương Thư mừng rỡ :

- May quá! Thế mà ta tưởng lại phải ngủ một mình !

Đêm ấy, khách xá của Toàn Chân Đạo Quán tràn ngập hương sắc tình yêu, bọn Mã Lan phỉ tình cá nước, không biết rằng Nhương Thư chẳng vui trọn vẹn vì thương nhớ Thúy Sơn!

*

* *

Lần này, đại hội võ lâm được tổ chức dưới chân núi Tung Sơn. Trước kỳ hạn vài ngày , anh hùng hảo hán Tam Sơn Ngũ Nhạc đã tràn ngập, huyện thành Đăng Phong, sáng rằm tháng chín tề tựu đông đảo trước lôi đài, tổng số lên đến nửa vạn người! Khung cảnh đại hội đã quá quen thuộc nên tác giả chẳng cần miêu tả làm gì cho rườm rà, xin đi ngay vào cuộc ! Trước đây, hội đồng võ lâm dùng đại hội như kế sách giáng ma, thừa cơ tiêu diệt Âm Sơn Lão Tổ và Kỵ Ba Thần Quân, qua bàn tay Tần Nhật Phủ. Vô Ưu Cái vẫn còn giữ túi chất độc thấm qua máu của Quảng Đông Thần Đao Cốc Hậu Nhan, kẻ đã chết ở Chính Khí Trang, nên định thi hành kế dĩ độc công độc. Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách chỉ cần đả thương được hai lão qủy là thành công!

Nay hội đồng võ lâm bị Thần Quân khống chế, dĩ nhiên tình hình đã khác, Nhương Thư phải đem thực tài ra để diệt ác, không trông chờ vào ai được nữa! Ban giám đài vẫn là năm vị Chưởng môn Bạch Đạo. Thiêt Thủ Cái ngồi vào ghế của Hầu Mộ Thiên, gương mặt thịt nung núc, đầy vẻ tham lam, ti tiện kia tươi rói. Có lẻ lão là kẻ duy nhất của hội đồng không bị trúng tà pháp Nhiếp Hồn và kỳ độc.

Chỉ có đệ tử năm phái biết rõ âm mưu sâu độc của Kỵ Ba Thần Quân,song chẳng được phép nói ra, vì ngay trong nội bộ từng phái cũng có người của Sơn Hải Bang. Sau khi chiếm được Cưu Sơn, biết được lộ trình quân tiếp viện, Thành lão quỷ đã bố trí phụ binh, bắt gọn đạo quân hai trăm người của Bất Trí Thư Sinh. Những tù binh này nhanh chóng bị khuất phục bởi Nhiếp Hồn thuật, rầm rộ quay về căn cứ, bảo rằng phòng tuyến Cưu Sơn không thể giữ được vì thiếu lương thực, họ phải phá vây đào tẩu. Năm phái chưa kịp nghi ngờ gia chân thì bị đánh úp, chưởng môn bị uy hiếp !

Tình hình chung là thế, giờ ta hãy nghe Thiết Thủ Cái cất giọng the thé khai mạc đại hội. Lập tức có người lên tiếng hỏi :

- Hầu Mộ Thiên đâu mà Cái Bang lại đưa lão gà mái này ra ?

Quần hùng ồ lên cười hưởng ứng, vì mấy ngày qua đã phong phanh biết được dã tâm của Kỵ Ba Thần Quân! Mười gã hoá tử bảo vệ Tạ gia trang đều là đồ đệ của Hầu Mộ Thiên nên không chịu bó tay, theo kế sách của Ngoạ Long Tú Sĩ mà phục thù. Họ trút bỏ lớp ăn mày, trà trộn vào lực lượng hào khách, khéo léo rỉ tai bôi nhọ Sơn Hải Bang! Còn người dám xách mé tân Bang Chủ Cái Bang chính là Hồng Diện Tôn Giả Hoàng Huy Do. Lão ta đi Quỳnh Châu, Hải Nam mới vừa về đến, chưa biết ất giáp gì, kể cả cái chết của Thúy Sơn! Thiết Thủ Cái Phùng Đông Tuân giận tím mặt nhưng vẫn không dám phác tác, giả vờ buồn rầu đáp :

- Bẩm Hông Tôn Giả! Hầu đại ca đột nhiên phát cuồng, không còn năng lực lãnh đạo nên lão phu phải thay ông ta mà chấp chưởng Cái Bang!

Hồng Diện Tôn Giả giật mình suy nghĩ, quay sang hỏi han những người đứng chung quanh. Họ nhao nhao tranh nhau thuật lại những điều mình biết khiến gương mặt đỏ như son của Hoàng lão tái mét.

Tôn Giả đau đớn rú lên :

- Sơn nhi !

Nhưng không hiểu sao ông chợt sững sờ, miệng há hốc, đứng im không biểu hiện gì thêm, dường như đã có chủ ý! Và khi nghe Kỵ Ba Thần Quân cho thủ hạ lên đăng ký tranh cử thì Tôn Giả cũng sang sảng bảo Thiết Thủ Cái ghi tên mình vào. Đại hội ồn ào hẳn lên,mừng vì sẽ được chứng kiến cuộc so tài của hại đại nhân vật, một là bá chủ Biển Đông, một là vũ nội đệ tứ thần! Nhưng hai lão già bất tử ấy đã xuất hiện thì ai còn dám đăng ký nữa? Cho nên cử toạ xôn xao hẳn lên vì có một kẻ không sợ chết đã dũng cảm đối đầu với hai đại kỳ nhân.

Ông ta cao giọng tuyên bố :

- Lão phu là Cẩm Phàm Kiếm Khách Đoan Mộc Toàn xin được tham gia tranh cử !

Thế là những kẻ biết chuyện năm xưa trên chiếc thuyền buồm gấm xanh liền thao thao kể cho người chung quanh nghe về quá khứ của Đoan Mộc Toàn! Con những người đứng gần Cẩm Phàm Kiếm Khách thì lấm lét liếc nhìn gương mặt đoan chính, đầy sẹo của lãö giá áo đen đội nó rộng vành kia! Lũ thẹo xâu xí ấy chắc là dấu vết của quái bệnh năm nào! Dũng khí của Đoan Mộc Toàn đã khiến cho tám cao thủ phương xa phấn khởi, lên tiếng tham dự! Vậy là tổng số ứng viên chẵn mười hai.

Có lẻ ban giám đài, mà đại diện là Thiết Thủ Cái, làm theo ý của Kỵ Ba Thần Quân, nên đã xếp Cẩm Phàm Kiếm Khách đánh trận khai mạc. Đối thủ của Đoan Mộc Toàn là Thanh Hải Thiết Thương Mạc Lôi, tuổi độ ngũ thập! Thần Quân thượng đài sau cùng vả lại chẳng phải cùng cặp với Hồng Diện Tôn Giả. Thành Vô Chiến muốn có lợi thế là tìm hiểu võ công các ứng viên để dễ bề đối phó. Lão gian hùng như Tào Tháo, lại dạ nghi không kém nên luôn thận trọng!

Nghe gọi tên, Cẩm Phàm Kiếm Khách lột nón rộng vành và tay nải trên vai, trao cho ả đệ tử trẻ tuổi đứng bên cạnh. Ả này khá xinh đẹp, nước da đen dòn, mắt lao liên luôn ánh lên vẻ thích thú, tò mò, cứ như kẻ quê mùa được lên chốn đô hội vậy.

Đoan Mộc Toàn cởi cả chiếc áo choàng, nảy giờ khép kín ngực, để lộ tấm kim bài lừng danh, lớn cở bàn tay. Và thanh kiếm có vỏ bằng bạc nạm lam ngọc chuôi khảm vàng kia chính là Thiên Cương Thần Kiếm!

Đoan Mộc Toàn chậm rải bước lên lôi đài, trong oai phong lẫm liệt nhưng thật đáng thương vì gương mặt lồi lõm những vết sẹo. Ai đó đã buông tiếng thở dài như tiếc cho một kẻ ngày xưa đã từng nổi tiếng mỹ nam tử!

Vẻ xấu xa lồ lộ đã khiến thiên hạ không chú ý đến đôi thuỳ châu đầy đặn của Đoan Mộc Toàn! Thực ra, đôi tai ấy cũng đã được che dấu khéo léo bằng vài món tóc mai loà xoà cạnh thái dương. Thẳng hoặc có người nhìn thấy thì cũng chẳng lấy làm lạ, vì họ không nhớ rõ dung mạo của một kẻ đã thất tung gần ba chục năm!

Tướng Phật nhỉ không hiếm nên chẳng ai nghi ngờ Đoan Mộc Toàn là Tần Nhật Phủ, hoặc Tần Nhương Thư.

Hai gã có tướng trường thọ này đã yểu mệnh chết sạch rồi! Kỵ Ba Thần Quân cũng tin như thế!

Giờ chúng ta quay sang quan sát bá chủ đất Thanh Hải, vùng cao nguyên phía Tây của Trung Hoa, nơi phát nguyên hai con sông vĩ đại là Hoàng Hà và Trường Giang, có hồ nước mặn lớn nhất nước!

Thanh Hải Thiết Thương Mạc Lôi có thân hình cao lớn nên mới dám chọn trường thương làm vũ khí. Lãp cao hơn Cẩm Phàm Kiếm Khách gần một cái đầu!

Về dung mạo thì cũng đủ tai, mắt, mũi, miệng. Song tất cả đều lớn hơn người thường vì đầu lão khá to, xứng với thân hình.

Chiếc mũi lân của họ Mạc lộ rõ những gân máu, kết quả của một thồi làm bạn với Tữu Thần. Song ở nơi giá lạnh như Thanh Hải, ai cũng uống rượu cả, cho nên chẳng có gì đáng trách!

Thanh Hải rộng mênh mông, chỉ toàn núi đồi và đồng cỏ, dân cư thưa thớt, gồm nhiều bộ tộc thiểu số như: Tạng, Hồi, Thổ, Tác Ta, Mông Cổ, Ca Dắc.. người Hán thì ít!

Và dường như Mạc Lôi có mẹ là người Thổ thì phải, vì mắt lão to và sâu! Hôm nay Thanh Hải Thiết Thương mặc võ phục trắng viên chỉ bạc, bó sát thân hình lực lưỡng, cuồn cuộn những bắp thịt. Xem ra lão còn oai vệ hơn Cẩm Phàm Kiếm Khách một bậc!

Chốn thị thành lắm kẻ gian ngoa nhưng đất thô lậu thường chỉ sản sinh những kẽ thật thà chất phát, Mạc Lôi ồm ồm nói:

- Nay Đoan Mộc Toàn! Ta trẻ hơn lão mười mấy tuổi, lại to con hơn nên nhường lão xuất thủ trước!

Câu này nghe có lý nhưng lại đi ngược lại với quy củ võ lâm của Trung Nguyên, cũng như lễ tôn trưởng vì thế quần hùng phá lên cười sằng sặc!

Thiết Thủ Cái mau miệng can thiệp vào, vui vẻ giải thích cho họ Mạc nghe:

- Túc hạ sai rồi! Người trẻ tuổi phải luôn ra tay trước để tỏ lòng tôn kính tuổi tác và tránh cho đối phương cái tiếng ỷ già hiếp trẻ!

Thanh Hải Thiết Thương ôm bụng cười hô hố:

- Lão ngu quá! Càng già, càng yếu, gân cốt nhảo nhẹt, đến vợ còn chê làm sao ăn hiếp những người trẻ tuổi được? Bằng chứng ta đây hồi trẻ có bốn vợ mà còn chê ít, giờ chỉ đủ sức cho một mà thôi!

Họ Mạc còn quay xuống hỏi cử toạ:

- Dám hỏi chư vị, ta nói thế có đúng không?

Khách giang hồ phần lớn đều có tính thích ồn ào, hiếu sự, liền cười vang và đồng thanh khen phải!

Thiết Thủ Cái bị gã quê mùa họ Mạc chê là ngu, lại đưa ra lý sự cùn, liền bực bội nói:

Ngươi mới là kẻ dốt nát! Người luyện võ càng già, công lực càng thâm hậu, làm sao thua đám thanh niên được?

Thanh Hải Thiết Thương trợn mắt sừng sộ:

- Này lão chết tiệt kia! Lão chê ai là dốt nát? Ta nói có sách, mách có chứng, bằng cớ xác thực đàng hoàng! Lần này Mạc mỗ vào Trung Nguyên sớm vài tháng, đi du ngoạn khắp nơi, nghe kể về hai gã trai trẻ là Tần Nhương Thư và Tần Nhật Phủ. Họ chưa đến ba mươi mà thay nhau tiêu diệt toàn những lão già khú đế. Gần đây nhất là việc Tần Nhật Phủ một mình, một kiếm giết Âm Sơn Lão Tổ, đấy không phải là trẻ mạnh hơn già hay sao?

Thiết Thủ Cái cứng họng trước lập luận vững chắc và bằng chứng hiển nhiên của Thiết Thương. Còn đám hào kiệt trẻ tuổi thì hoan hô như sấm dậy, đồng thanh gọi vang hai cái tên Tần Nhương Thư và Tần Nhật Phủ.

Hai cao thủ bạc mệnh ấy đều là thần tượng của giới trẻ. Họ đã nung đúc hào khí cho những mái đầu xanh mới tập tểnh dấn bước giang hồ!

Chẳng cần nói thì chư vị độc giả chắc cũng đã biết Cẩm Phàm Kiếm Khách là do Tần Nhương Thư giả dạng, Sự có mặt của tay cao thủ dịch dung là Dạ Quân Tử Quách Tàn Bôi đã khiến Ngoạ Long Tú Sĩ nghĩ ra mưu kế này!

Nhương Thư thấy mến vị bá chủ ngốc nghếch đất Thanh Hải, quyết định nhẹ tay với lão. Chàng sẽ đã bại họ Mạc chứ không gây thương tích. Từ ngày Thúy Sơn thiệt mạng, Nhương Thư xuất thủ tàn nhẩn hơn trước bội phần.

Không muốn kéo dài cuộc cải cọ vui vẻ nhưng vô bổ này, Nhương Thư lên tiếng:

- Mạc túc hạ đã nói thế thì lão phu xin phép ra tay trước!

Thanh Hải Thiết Thương hớn hở gật đầu:

- Có thế chứ! Thì ra tôn giá có đầu óc hơn lão ăn mày dốt nát, ngoan cố kia! Xin mời!

Thiết Thủ Cái tức điên người, nhưng không thể đối đáp vì cuộc chiến đã bắt đầu.

Cẩm Phàm Kiếm Khách rút thanh Thiên Cương Thần Kiếm đen trùi trủi, lừng danh nhờ độ bền chắc, chặt vào đá cũng không gãy, không mẽ! Có điều nó nặng gấp rưỡi kiếm thường, phải là người có công lực thâm hậu mới dám dùng.

Nhương Thư đã ngày đêm nghiên cứu pho Thiên Cương Kiếm Pháp, và làm quen với thanh kiếm mới. Chàng không nhất thiết phải đạt đến tinh tuý mà chỉ cần nắm bắt lộ số để che mắt thiên hạ. Khi giao đấu chàng sẽ thi triển Phật Đăng Kiếm Pháp và Huyền Không Kiếm Pháp là chủ yếu.

Giờ đây, Nhương Thư xông vào tấn công Mạc Lôi bằng một chiêu kiếm đơn giản, ít biến hoá nhưng nhanh và cực kỳ mãnh liệt.

Họ Mạc mỉn cười khinh thị, múa cây thương sắt dài nữa trượng một xích, giải phá chiêu kiếm của đối phương bằng chín thế điểm tựa sắm sét. Cũng như trường kiếm, trường thương lợi hại nhất là ở những thức đâm.

Sắt chạm sắt, Thiết Thương nghe hai cánh tay chấn động thầm kinh ngạc trước sức mạnh của Cẩm Phàm Kiếm Khách, tự hỏi chẳng lẽ đúng là ”Gừng càng già càng cay”.

Song không phải vì thế mà ngán sợ, kẻ cứng đầu đất Thanh Hải hùng hổ ra sức phản kích, trường thương vù vù xé gió, vun vút bay lượn trong gió tiểu huynh, công thủ đều có đủ.

Ngưới đánh trường thương cầm vũ khí bằng hai tay, ra đòn bằng lực đạo của song thủ và cả sức của vai, lưng, nên động tác uyển chuyển trông rất dũng mãnh và đẹp mắt. Những bước tiến thoái, toạ tấn của họ Mạc nhanh nhẹn vững chắc, biểu hiện một bản lãnh đã dầy công rèn luyện. Lão lại có sức khoẻ phi thường của gân cốt và những bắp thịt to lớn hỗ trợ nên càng lợn hại!

Quần hào vô cùng thán phục đường thương của vị khách thô lỗ miền Tây, vỗ tay hoan hô ầm ĩ. Họ tin rằng Thiết Thương sẽ thắng vì Cẩm Phàm Kiếm Khách chỉ vờn quanh ngoài tầm thương, không sao áp sát được. Thương dài, kiếm ngắn, không nhập nội thì làm sao Đoan Mộc Toàn đả thương được đối phương? Ngược lại, Mạc Lôi hoàn toàn có thể chạm vào người kẻ địch! Tiếng sắt thép va chạm liên hồi, hoà với tiếng quát tháo thị uy của họ Mạc. Lão tên Lôi nên thích những âm thanh vang rền, đày tính đe doạ!

Nhưng dù đã trổ hết tài nghệ, quát khô cả cổ mà Thiết Thương vẫn không sao phá thủng được lưỡi kiếm của đối phương. Cẩm Phàm Kiếm Khách cứ ung dung, nhỡn nhơ như cánh bướm, đánh bạt những đường thương hiểm hóc và vũ bão của đối thủ. Dường như Đoàn Mộc Toàn muốn dùng kế Dĩ Dật Đãi Lao chờ Mạc Lôi kiệt sức mới phản công! Sau ba khắc múa may quay cuồng, biểu diễn. Thương pháp, Mạc Lôi nghe hai cánh tay mỏi nhừ, đòn ra bắt đầu chậm hơn, mồ hôi tuôn ướt sũng bộ võ phục bằng gấm đắt tiền. Nhưng chẳng lẽ mở miệng nhận bại, khi chưa ai rách áo hay thọ thương, Mạc Lôi cắn răng cầm cự đến cùng!

Cẩm Phàm Kiếm Khách bắt đầu phản công, bảo kiếm bay vun vút, tạo nên màn sương đen mờ mù mịt. Tiếng vũ khĩ va chạm giờ đây gấp gáp, rượt đuổi nhau tạo cảm giác như chỉ là một chuỗi ngân dài. Mạc Lôi kinh hoàng nhận ra mũi thương của mình đã bị trường kiếm của đối phương phong toả. Và khi lão nỗ lực thọc một đòn chí mạng vào ngực Đoan Mộc Toàn thì đối phương xoay lẹ như chớp, tránh khỏi đường thương hiểm ác, rồi ập đến.

Gương mặt xấu xí, ghê rợn của Cẩm Phàm Kiếm Khách lù lù hiện ra trước mặt khiến Mạc Lôi thất kinh hồn vía. Sau đó lão nghe hai huyệt Kiên Tĩnh trên vai, hai huyệt Phuc Thố trên đùi đau nhói. Nhưng quan trọng nhất là cả hạ nang cũng lạnh toát và đau ghê rợn. Kẻ học thức còn giải khuây bằng cầm, kỳ, thi, hoạ hoặc đọc sách, còn người thô mãng, dốt đặc như Mạc Lôi thì chỉ có hai thú vui duy nhất là rượu và đàn bà! Rượu thì lão bắt đầu hạn chế vì lục phủ ngũ tạng không cho phép, chỉ có khoản lăn lóc trên giường là xem ra an toàn, trường cửu nhất!

Mạc Lôi lại vừa lấy thêm vợ thứ năm trẻ trung và hấp dẫn nên mới dắt vào Trung Thổ du ngoạn, sẵn hưởng tuần trăng mật luôn! Tình cờ gặp Đại hội võ lâm, lão đưa Ngũ phu nhân đến xem và bỗng nổi hứng khoe tài với người đẹp, để chứng tỏ mình còn rất khoẻ mạnh, anh hùng! Giờ đây, nếu bị thương vào chỗ nghiệt thì còn gì đời trai nữa? Không những vợ mới bỏ lão mà cả bốn mụ vợ cũ cũng sẽ đay nghiến chê bai. Hơn nữa, họ Mạc chưa có con trai nối dõi!

Nói thì dài nhưng thực ra tất cả những viễn cảnh tối tăm ấy hiện ra trong khoảng khắc, Mạc Lôi sợ đến nỗi rú lên thảm khốc, cứ như bị đâm thủng ngực vậy. Huyệt Kiên Tĩnh trúng đòn thì hai tay không cầm nổi Thiết Thương. Huyệt Phục Thổ bị điểm thì song cước nhũn ra và Mạc Lôi quỳ xuống, ngã sấp mặt xuống sàn lôi đài. Lão là người chất phác, thẳng như ruột ngựa nên chẳng che giấu nổi tuyệt vọng, bật khóc ồ ồ :

- Thế là toi đời ta rồi! Chẳng thà lão đâm chết ta đi chứ sao đánh vào chỗ ấy? Ngọc hành bị vỡ thì ta tuyệt tự và bị vợ bỏ ngay! Ôi Ngũ nương ơi! Ta quả là ngu dại khi không chịu nghe lời nàng, thượng đài cho khổ thân!

Quần hùng phá lên cười nhưng cũng có một số phẫn nộ chửi vang :

- Thật là đê tiện! Sao lại có thứ võ công đánh vào hạ thể thế này? Thật là nhục nhã cho Trung Thổ?

Và người vợ thứ năm của Mạc Lôi đã trèo lên được mộc đài, ôm chồng khóc ngất!

- Tướng công ôi! Ông không nghe lời thiếp nên mới khổ thế này! Tuần trăng mật chưa qua mà tướng công nỡ để thiếp rơi vào cảnh có chồng cũng như không thì tội cho thiếp lắm!

Mạc Lôi nghe lời than khóc ấy càng thập phần thống khổ, rống lên như cha chết.

Chợt lão phát hiện huyệt Kiên Tĩnh trên vai phải đã mờ, liền thò xuống bụng dưới sờ nắn thử. Thấy của quí vẫn nguyên vẹn, chẳng đứt, chẳng vỡ, lão mừng đến phát cuồng, thét vang :

- Ngũ nương ơi! Nó vẫn an toàn không sứt mẻ gì cả !

Hai huyệt Phục Thổ ở chân cũng mở, Mạc Lôi lồm cồm đứng lên miệng cười toe toét, tay lần cởi giải quần :

- Này bà nó cứ xem lại, đừng than khóc nữa !

Mấy ngàn khách quan chiến ôm bụng cười lăn cười lóc, cười đến nôn ruột. Và ai đó còn hối thúc :

- Ngươi cởi quần thì ta thưởng cho trăm lượng !

Thiết Thủ Cái sợ lão ngốc vùng sơn dã kia cởi thực liền quát lớn :

- Mạc Lôi không được làm càn !

Họ Mạc tỉnh ra, cười hề hề thắt lại giải quần, nhặt thương sắt, dắt cô vợ trẻ hạ đài. Vừa đi lão vừa nói với nàng :

- Về khách điếm cái đã, ở đây đông người quá !

Bông lão sực nhớ ra, quay lại vái Cẩm Phàm Kiếm Khách :

- Cảm tạ lão huynh đã nương tay! Ơn này ta chẳng dám quên, khi nào có dịp ghé thăm Thánh Đức Linh Cáp, nhớ đến Mạc gia trang để ta báo đáp !

Nhương Thư tủm tỉm đáp :

- Lão phu sẽ đến !

Chàng cũng hạ đài, mừng vì sự tình kết thúc vui vẻ. Nãy giờ chàng cũng lo ngay ngáy, tưởng mình đã lỡ tay, mới luyện vài ngày nên Nhương Thư đánh chiêu Thiên Cương Ngũ Điểm không được chuẩn xác. Đúng ra, nhát kiếm thứ năm nhắm vào huyệt khí xung phía trên hạ thể. May mà chàng chỉ dùng kiếm kình để điểm huyệt nên trúng đâu cũng chẳng sao. Bởi ngọc hành là chỗ nhậy cảm nên Mạc Lôi bị đau nhiều, tưởng mình bị thiến!

Nhương Thư đã luyện kiếm đến mức chân khí lú ra khỏi mũi kiếm một ngón tay. Già chàng có đủ hoa giáp công lực thì kiếm kình hoà kiếm khí, dài đến cả ngang! Trên lôi đài, Thiết Thủ Cái đã tuyên bố Đoan Mộc Toàn thắng trận và mời cặp thứ hai thượng đài. Trận này diễn ra giữa Xích Phong Thần Đao Ô Mã Cách, cao thủ Nội Mông, với Tháp Thành Quỷ Trượng Lỗ Xích, người Tây Vực!

Hai lão ngang tài, ngang sức lại có đấu pháp thận trọng nên cuộc chiến kéo dài lê thê, đến tận đầu giờ Ngọ cũng chưa phân thắng bại. Quần hùng chán ngán và đói bụng nên la ó um sùm, chê bai hai đấu sĩ là chết nhát. Khách giang hồ thường biết nhiều ngôn ngữ, có kẻ dùng tiến Mông, tiến Duy Ngô Nhĩ thoá mạ thậm tệ, khiến hai vị anh hùng sơn dã kia bực bội bãi chiến, quay xuống chửi lại. Cuối cùng họ cũng vì đói khát mà bỏ cuộc, rời Đại hội một đi không quay lại nữa!

Chiều hôm ấy, cặp thứ ba thượng đài, tái diễn tình trạng buổi sáng, song khá hơn vì giữa giờ Thân có một ứng viên tự nhận bại. Thề là mất toi một ngày mà chỉ tổ chức được ba trận đấu. Để khỏi làm mất thì giờ của chư vị, tác giả xin đi ngay song ngày thứ tư, khi chỉ còn ba đại cao thủ là Kỵ Ba Thần Quân , Hồng Diện Tôn Giả và Cẩm Phàm Kiếm Khách. Họ vẫn chưa chạm trán lần nào, do sự sắp xếp của Ban giám đài! Sáng mười tám tháng chín, Thiết Thủ Cái Cái Bang sang sảng mời Kỵ Ba Thần Quân Thành Vô Chiến và Hồng Diện Tôn Giả Hoàng Huy Do thượng đài.

Thần Quân đánh giá cao Tôn Giả xem thường Cẩm Phàm Kiếm Khách nên muốn dồn sức lực đả bại cường địch trước, lỡ lão có thọ thương thì hôm sau cũng đủ sức thanh toán kẻ yếu là Đoan Mộc Toàn. Hội đồng võ lâm như lũ rối, răm rắp tuân theo lệnh của Thần Quân! Thành Vô Chiến kém Hồng Diện Tôn Giả một tuổi, không có vinh dự được đứng trong hàng nguc Tứ Thần vì hùng cứ Biển Đông ít khi vào Trung Thổ. Giang hồ gọi lão và Ải Thần Quân là võ lâm nhị quân !

Có thể trước đây võ công của Thành Vô Chiến chẳng bằng Hoàng lão, song kẻ sĩ ba ngày không gặp đã khác, thì sau bốn mươi năm lại càng khó biết hơn thua. Vô Ưu Cái đã cho điều tra, loáng thoáng biết được việc Thần Quân tìm được kỳ hoa dị quả trên một hòn đảo hoang, công lực tăng tiến vượt bực, râu bạc hoá đen mun. Tiếc rằng kỳ trân kia không làm mọc lại được mái tóc trên chiếc đầu hói bóng. Vài sợi còn sót chắc cũng hồi xuân song nham nhở như lông chó, vì thế Thần Quân đã cạo quách chúng đi.

Lạ thay, với chiếc đầu trọc lóc và bộ râu rồng rậm rạp, đen nhánh, trong họ Thành càng oai vệ, đẹp lão. Râu đen thì chân mày cũng đen, cứ như hai lưỡi kiếm xếch ngược lên góc trán. Thần Quân có thêm một tướng tốt là chiếc mũi Huyền Đảm, tựa trái mật treo giữa mặt. Tiếc rằng, miệng lão lại nhỏ xíu môi mỏng tanh, khiến kẻ ác mồm gọi đấy là cái đít vịt !

Hôm nay, Kỵ Ba Thần Quân ăn mặc rất thanh lịch. Thân hình dong dỏng cao, khá rắn chắc, được tôn vinh bởi bộ trường bào xám bằng gấm thượng hạng may rất khéo, cùng chiếc áo choàng lưng lụa dầy màu vàng nhạt. Hồng Diện Tôn Giả thì xuề xoà với chiếc áo thụng, nửa giống tăng bào, nửa giống đạo bào, có màu của tơ tằm mới chưa nhuộm. Hai ống tay áo dài thượt như chạm đất kia chính là vũ khí của ông. Tuy y phục giản dị nhưng thân hình khôi vĩ, gương mặt đỏ như son và màu trắng đáng kính của râu tóc, đã tạo cho Tôn Giả một thần khí phi phàm.

Hoàng Huy Do cười bảo:

- Này lão đầu quả dưa kia! Sao lão không tiếp tục vùng vẫy ngoài biển rộng bao la, vào mảnh đất chật hẹp này để làm gì?

Cử toạ cười ồ vì nhận ra đầu của Kỵ Ba Thần Quân rất giống một quả dưa gang !

Thành Vô Chiến gian hùng cái thế, thâm trầm như biển cả, chẳng hề bị khích nộ, cười nhạt đáp :

- Lão phu là người Trung Thổ, lúc già nhớ cố hương nên quay về có gì là lạ !

Tôn giả bỗng thở dài, mặt buồn thiu :

- Người già mà nhớ quê là điềm sắp chết rồi đấy! Thành lão đệ mau về Quảng Đông sắp sếp hậu sự, còn chần chừ ở đây làm gì nữa? Lão phu xin đưa tiền phúng điếu trước để lão đệ có lộ phí mà đi đường !

Cái vẻ ” Mèo khóc chuột ” tinh quái của Tôn Giả đã khiến quần hùng cười nôn ruột và làm cho Kỵ Ba Thần Quân biến sắc. Họ Thành lạnh lùng gắt :

- Đánh đi! Đừng nói nhảm nữa !

Về qui củ thì Thần Quân nhỏ tuổi hơn mới là người được phép ra tay trước. Song Hồng Diện Tôn Giả đã bát ngờ muối mặt, lao vào tấn công như sấm sét. Ông xuất ngay chiêu Cầm Tụ Tế Thiên ( Tay áo gấm che trời ). Đôi ống tay áo dệt nên màn tụ ảnh mờ mờ, tụ kình mãnh liệt như thác lũ chụp lấy đối phương! Bị mất tiên cơ, Thần Quân tái mặt rút đao múa tít, thủ nhiều hơn công, biến mất trong màn đao quang vàng óng. Màu vàng sang trọng này được tạo ra bỏi thanh Long Giáp Kim Đao oai trấn biển Đông.

Gọi là Long Giáp vì trên thân đao không trơn láng mà được khắc hàng ngàn mảnh vẩy rồng tinh xảo. Đao được mạ vàng rực rỡ. Vì ngoài lý do diêm dúa, Long Giáp đao còn tiềm tàng sát cơ! Từng chiếc vẩy được đánh bóng loáng kia là từng mảnh gương nhỏ xíu phản chiếu ánh dương quang, làm cho hoa mắt địch thủ. Thành Vô Chiến là kẻ biết tận dụng từng lợi thế nhỏ để thắng địch.

Nhưng sáng nay, mặt trời mùa tiểu huynh vùng Hoa Bắc chỉ nhạt nhòa, không phát huy được tính năng của bảo đao và kẻ địch của Thần Quân lại là bậc kỳ lão võ lâm, đang chiếm tiên cơ nhờ ra đòn đột ngột. Đôi ống tay áo chứa đầy chân khí liên tiếp giáng hàng chụ nhát nặng như búa tạ vào lưới đao, cuối cùng, ống bên hữu vươn được đến ngực của Thần Quân. Tiếng tụ kình nổ vào da thịt vang lên rất rõ. Thành Vô Chiến bị đẩy lùi một trượng, khoé miệng rỉ máu, vạt áo ngực rách toang để lộ áo trong trơn bóng, có màu đen mốc là lạ.

Hồng Diện Tôn Giả thấy đối phương trúng một đòn chí tử mà không hề hấn gì, lòng rất chán ngán. Ông hiểu rằng Kỵ Ba Thần Quân có công lực thâm hậu hơn mình và đã luyện thành cương khí hộ thân, vì áo giáp da cá kia chống được đao kiếm nhưng không chống được chưởng kình! Do vậy, chẳng chờ Thiết Thủ Cái quát tháo, bênh vực gà nhà, Tôn Giả nhẩy lùi ngay, sừng sổ nói :

- Này Thành Vô Chiến! Sao lão dám mặc áo giáp mà thượng đài ?

Quần hùng nghe vậy liền nhao nhao phản đối kịch liệt, quên cả việc Tôn Giả là người phạm qui trước !

Thiết Thủ Cái vội lên tiếng :

- Đấy là sơ xuất của lão phu, quên không đọc điều lệ giao đấu nên Thành Bang Chủ không biết. Nay đã lỡ rồi, chẳng cần kiêng kỵ nữa, ai có giáp thì cứ mặc, ai có ám khí thì cứ tung, thế là công bằng! Quần hào nghe lão nói ngang, giận dữ la ó, chửi bới vang trời.Song Hồng Diện Tôn Giả ra hiệu cho họ im lặng rồi rút cây trâm đồng trên búi tóc xuống, vui vẻ nói:

- Thế cũng được! Lão phu sẽ có dịp thi triển tuyệt kỷ Huyền Hư đoạt Mệnh Thần Trâm. Công phu này lão phu luỵện thành đã lâu mà chẳng chỗ dùng !

Vẻ hân hoan, đắc ý của Tôn Giả đã khiến Thần Quân thầm lo ngại! Phải chăng đúng là tuyệt kỷ phóng trâm kia rất lợi hại nên Hoàng lão mới hí hững như vậy?

Thiết Thủ Cái hắng giọng bảo :

- Giờ nhị vị hãy đấu lại, xem như chiêu vừa nãy không tính! Lần này Thành Bang Chủ sẽ xuất thủ trước vì ông ta có niên kỷ nhỏ hơn Hoàng tiền bối !

Tôn Giả trợn mắt :

- Phế ngôn! Ai bảo ngươi rằng lão phu già hơn Thành Vô Chiến ?

Thiết Thủ Cái tái mặt cãi :

- Cả võ lâm đều biết Kỵ Ba Thần Quân bảy mươi chín tuổi, sinh năm Đinh Sửu, tức năm Hồng Võ thứ ba mươi. Còn Hoàng tiền bối năm nay chẵn tám chục, sinh năm Bính Tý!

Hồng Diện Tôn Giả cười khanh khách :

- Sai rồi, thực ra lão phu tuổi Mậu Dần, năm nay bảy mươi tám, cầm tinh con Cọp nên tướng mạo lão phu mới khôi vĩ, oai vệ thế này, bộ ngươi mù sao mà không thấy ?

Quần hào vốn chán ghét kẻ tiểu nhân ti tiện, làm chó săn cho Thần Quân như Thiết Thủ Cái, nên đã đồng thanh tán thành lập luận của Hoàn Huy Do. Ai đó còn mỉa mai :

- Tính nào tướng ấy! Chỉ nhìn sơ Phùng Bang Chủ là tại hạ biết ngay ông cầm tinh con chó !

Câu này có ý chữi Thiết Thủ Cái là chó săn, khiến lão tức điên người chửi lại :

- Cha mi mới là chó !

Người kia đốp chát ngay :

- Đúng vậy! Cha ta ngũ với mẹ của lão nên bà ấy mới đẻ ra chó !

Cử toạ cười hô hố, ngoác miệng tham gia cuộc khẩu chiến, khiến Đại hội võ lâmchẳng còn ra thể thống gì nữa. Kỵ Ba Thần Quân chẳng thèm bận tâm, lạnh lùng bảo Tôn Giả :

- Lão phu chấp ngươi xuất thủ trước đấy !

Hoàng lão mỉm cười, lướt đên tấn công. Thấy trận đấu đã tiếp diễn, quần hùng mới chịu ngậm miệng để theo dõi. Hai bậc cao thủ lão thành đem hết sở học ra tranh tài, thân hình di chuyển, đảo lộn nhanh như gió, bóng vàng tơ chạm ánh hoàng kim vàng lên tiếng kình phong ào ạt và tiếng đao rít lên như xé lụa. Kỵ Ba Thần Quân e ngại mũi trâm đồng trong tay hữu của Tôn Giả nên phòng thủ phần đầu và hạ thể rât kín đáo. Từ vai đến thắt lưng đã có giao bì giáp che chở nên không đáng ngại.

Thành Vô Chiến ngày càng phát huy được ưu thế về công lực và vũ khí, đao quang dàn dụa sát khí, sau ba trăm chiêu đã chém rách tay áo của đối thủ. Hồng Diện Tôn Giả tự lượng sức mình không giết nổi đối phương, có đánh nữa chỉ thêm nguy, liền ra đòn tối hậu, một thắng một thua. Ông xuất chiêu Cẩm Trung Châm Xuất ( Trong gấm lòi kim ), tay áo phất như quét điểm hơn trăm thức, công phá lưới đao và uy hiếp thân trên họ Thành. Tuy có bảo y và cương khí song Thần Quân chẳng dám xem thường những đòn trời giáng của Thiết Tụ, vì khi thân hình bị chấn động, đẩy lùi, đường đao khó tránh được việc lộ sơ hỡ, làm mồi cho mũi trâm đồng !

Bởi thế, Kỵ Ba Thần Quân dồn toàn lực vào tuỵêt chiêu Ngự Ba Trăm Quái, Long Giáp Đao loang nhanh như thiểm điện, chặn đứng mọi thế công của kẻ địch, đồng thời xen lẫn những đòn đâm hiểm ác. Thì ra Thành Vô Chiến đã đưa cả tinh túy của kiếm thuật vào đao pháp của mình ! Hồng Diện Tôn Giả bị chiêu đao hùng mạnh và ảo diệu đẩy lùi liên tiếp, không hạ đài thì khó toàn mạng. Song đột nhiên, hai ống tay áo của ông đứt rời khỏi vai, bày đến quấn lấy đao của Thần Quân. Chúng bị chém rách te tua nhưng cũng đủ làm Thành Vô Chiến giật mình và đường đao chậm lại.

Ngay lúc ấy, mũi trâm đồng trong tay hữu Hồng Diện Tôn Giả bay ra, nhắm vào bụng dươi của họ Thành. Nhưng lão ác ma bản lãnh trùm đời, đâu dễ bị chết nhanh như thế, đã kịp lách người tranh né, chỉ bị mũi trâm cắm vào đùi phải và không phải là chỗ nhược. Sau đó, Thần Quân tiếp tục tràn tới quyết lấy mạng đối thủ. Nhưng Hồng Diện Tôn Giả đã khôn ngoan tung mình rơi xuống đất nhận bại. Ông cười khanh khách :

- Lão phu xin đầu hàng! Mong Thần Quân trả lại chiếc trâm cài tóc.Nó tuy không đáng một xu nhưng lại là kỷ vật của lão phu đấy !

Vết thương không sâu, không đau đớn nên kẻ chiến thắng tỏ vẻ rộng lượng. Rút ra, ném trả chủ nhân. Trong lúc nhận sự hoan nghênh của cử toạ Thành lão quỷ ngấm ngầm vận công không thấy hiện tượng trúng độc mới yên tâm! Thiết Thủ Cái hớn hở công bố kết quả trận đấu và kính cẩn hỏi Kỵ Ba Thần Quân :

- Thành Bang Chủ có cần nghỉ ngơi đến sáng mai hay tham chiến trận chót ngay chiều nay ?

Quần hào không muốn tốn thêm sở hụi một ngày nữa nên ốn ào đề nghị đánh trận bế mạc vào lúc giữa giờ Mùi!

Thầm nghĩ mình có dư thời gian để phục hồi trọn vẹn công lực Kỵ Ba Thần Quân đồng ý!

*

* *

Đúng như chương trình, giữa giờ mùi, hai ứng viên của trận chung kết co mặt trên lôi đài.

Kỵ Ba Thần Quân đã vất bỏ bộ trường bào rách buổi sáng, thay vào bằng bộ khác rực rở hơn. Màu hông xem ra rất thích hợp với lễ đăng quang ngôi vị Minh chủ võ lâm!

Phần Cẩm Phàm Kiếm Khách dường như cũng không tin tưởng vào chiến thắng chiều nay nên mặc chiếc áo màu xanh đã cũ, hàm ý nhạt mùi danh lợi, có thua cũng chẳng sao!

Chiếc đạo quang trên đầu Đoan Mộc Toàn cũng chẳng mới mẻ gì, hình thêu thái cực sổ chỉ, phai màu trông thật tang thương!

Cách ăn mặc ấy quả tương xứng với mảnh kim bài mờ đục trên ngực.

Kỵ Ba Thần Quân đắc ý vì phong thái mình tôn quý, oai nghiêm hơn hẳn đối phương, liên tủm tỉm hỏi đàu:

- Té ra mấy chục năm nay túc hạ bỏ nhà đi tu tiên! Nhưng sao giờ lại dộng lòng trần tục, muốn làm Minh chủ võ lâm?

Đoan Mộc Toàn ung dung đáp:

- Bần đạo đượcChân Đế Võ Quân giáng mộng dạy rằng, phải về ngay Trung Thổ sát cánh cùng đồng đạo giáng ma! Bần đạo đi ngang đây tình cờ gặp đại hội này, thuận duyên mà tham gia thế thôi!

Nghe đối thủ ám chỉ mình là tà ma, Thần Quân bẽ mặt, không hổ thẹn.

Thiết Thủ Cái hắng giọng tuyên bố:

- Mời Đoan Mộc đạo trưởng xuất thủ trước!

Cẩm Phàm Kiếm Khách gật đàu, rút kiếm thủ thế, bàn tay tả bắt kiếm quyết đặt xéo trước ngực. Tay áo đạo bào rộng và dài quá bàn tay nen lão phải lắc cổ tay mấy lần để kiếm ấn cóthể ló ra ngoài.

Kỵ Ba Thần Quân luôn cảnh giác cao độ, chiếu đôi nhãn thần sác bén quan sát từng cử chỉ nhỏ song không phát hiện được điều gì khả nghi!

Đoan Mộc Toàn đã bắt đầu tấn công bằng thứ kiếm pháp Thiên Cương rrất quen mắt. Thần Quân điềm nhiên đón đở bằng một chiêu đao với bảy thành công lực, chiếm ngay được chút ưu thế. Lão thầm đoán Đoan Mộc Toàn có tối đa là năm chục năm chân khí, dù tuổi đã sáu mươi tám.

Chẳng còn gì để e ngại, Kỵ Ba Thần Quân yêm tâm biểu diển đao pháp, cống hiến cho khán giả những chiêu hoa mỹ, để họ phải tâm phục, khẩu phục Tân Minh Chủ.

Sát khí của chiêu đao không nhiều, công thủ lưỡng toàn, đao kình vù vù chấn đọng không gian, song chỉ có mục đích thị uy và bắt đối phương phải lui dần và rơi khỏi lôi đài.

Đấu pháp này vừa biểu lộ được tài hoa, vừa thể hiện tinh thần thượng võ và cũng rất an toàn vì lưỡi đao kín như bưng!

Quần hùng vổ tay reo hò, ngây ngất trước đao pháp kỳ diệu và hùng mạnh của Thần Quân, khiến lão hài lòng.

Cẩm Phàm Kiếm Khách bị bức tường thép kia dồn ép, cứ phải lùi mãi, dù đã cố tri trì để trụ lại.

Lôi đài rất rộng, bề ngang là mười trượng vị chi mỗi bên có được năm, song lùi mãi cũng phải đến nơi. Sau hơn hai trăm chiêu, Đoan Mộc Toàn chỉ còn cách mép đài đúng một trượng, bị Thanh Long Đao Giáp đánh văng ra ngay. Cẩm Phàm Kiếm Khách rơi đúng mép lôi đài, đứng trên gờ nhỏ là thanh gổ đóng kẹp ván lót sàn đài. Gờ chạy suốt bốn mép đài, còn có tác dụng tranh trí và báo cho kẻ giật lùi biết mình sắp rơi.

Thấy đối phương lảo đảo thân hình như sắp té, Kỵ Ba Thần Quân đình bộ, đình thủ để chứng tỏ tư cách cao thượng của một bậc Minh Chủ đáng kính! Vinh quang dể khiến người ta ngất ngây, hơn cả rượu ngon!

Cáo già cũng có lúc sa bẩy, bậc trí giả đôi khi mắc sai lầm! Kỵ Ba Thần Quân đã không thoát được kế hoạch tinh vi của Ngoạ Long Tú Sĩ! Lỗ Đăng Hân từng phục vụ Thành Vô Chiến nên hiểu rất rõ bản chất, tính tình của lão ta!

Cẩm Phàm Kiếm Khách tức Tần Nhương Thư, đang loạng choạng bất ngờ bay vút trở lại, kiếm quang phủ mờ thân ảnh, kiếm kình rít vo vo.’

Thuật Ngự kiếm lợi hại ở chổ đường gươm nhanh tựa sao sa, hàng trăm thế thức đánh ra chỉ trong khoảnh khắc, hổ trợ với đà nhảy lên Nhương Thư lao nhanh như tia chớp.

Nụ cười tươi rói trên miệng Kỵ Ba Thần Quân héo đi và đôi mắt lão lộ rỏ kinh hoàng. Trực giác của kẻ lão luyện sớm đánh hơi được mùi vị tử vong.

Chiếc tán thép đen mờ chưa đến thì năm điễm nhỏ màu vàng óng đã đi tiên phong, ba nhằm thân trên, hai nhằm hạ thể. Thành Vô Chiến phản ứng mau lẹ tuyệt luân, thò tả thủ quét hai mũi ám khí phía dưới, mặc kệ ba mũi thượng bàn vì ỷ vào bảo giáp. Đồng thời hửu thủ chắc xéo một đường đao mãnh liệt vào lưới kiếm đang ập đến.

Trong lúc cấp bách mà Thần Quân dồn được năm thành đạo lực cũng đã là điều phi thường. Đao, kiếm chạm nhau, họ Thành khôn ngoan mượn lực phản chấn lùi sang mé tả nữa trượng. Năm thành công lực của lão đãtươmg đương với cả tu vi của Nhương Thư.

Nhưng nguy hiễm đâu chỉ có thế, Lân Hoả Thần Đạn đã phát nổ, lữa bùng lên đót cháy bàn tay tả, và nuốt chửng gương mặt nạn nhân. Trước tiên bộ râu rồng quăn tít, và đôi lông mày quắc thước của Thành Vô Chiến bị cháy rụi.

Số người chết vì nước luôn nhiều hơn lữa, song ai cũng sợ lữa hpn nước! Tuy chỉ bị rát da mặt mà Thần Quân cũng rơi vào hoảng loạn không kịp tránh thức kiếm tiếp theo của Nhương Thư , đứt lìa cánh tay trái.

Cái đau thấu trời làm cho lão tỉnh táo lại, vung đao đánh bạt đường gươm đang đâm vào cổ.

Áo ngoài, áo trong bốc cháy khét lẹt, biến Thần Quân thành ngọc đuốc sống, Nhưng trái với dự đoán của Ngoạ Long Tú Sĩ , áo giáp da cá của họ Thành rất khó cháy, lữa chỉ tàn phá được mặt ngoài một cách chaajm chạp chứ không lan nhanh hoặc ăn thủng!

Nữa vạn người sửng sốt kêu lên trước cảnh tượng bất ngờ và đáng sợ này. Họ trố mắt nhìn cảnh Kỵ Ba Thần Quân mang ngọn lữa trên thân, tuyệt vọng chống trả lại những đường kiếm sấm sét của Đoan Mộc Toàn !

Cà cuống chết đến đít còn cay, Thành Vô Chiến dẫu cụt một cánh tay, da mặt bị phỏng nhẹ nhưng công lực vẩn còn được tám thành. Lão chẳng cam tâm buông xuôi, để ngôi Minh Chủ tuột khỏi tay. Hơn nữa, cảm giác giận dữ,. Căm hờn của một kẻ bị lừa đã thôi thúc lão phải báo thù.

Thần Quân nghiến răng vung ra những chiêu đao mãnh liệt như sóng dữ, chẳng kể gì đến việc lữa đang đốt cháy áo quần, Lão có cương hkí hộ thân nên không thể bị hại bởi ngọn lữa nhỏ bé kia được!

Song lãp quên một điều là khi không còn gì để cháy thì ngọn lữa tắt ngúm và thân dưới sẽ hiện ra lồ lộ trước mắt quần hùng!

Thần Quân điên cuồng đánh một hơi bốn chục chiêu mà không làm gì được đối phương . Cẩm Phàm Kiếm Khách giờ đây mới để lộ thực tài, đường gươm kỳ ảo và nhanh như thiễm điện, thẳng tháng chiêt giải đao chiêu, thân hình chập chờn như ma muội.

Kỵ Ba Thần Quân chưa hề chạm trán Nhương Thư hay Nhật Phủ nên không nhận ra lộ số võ công của Đoan Mộc Toàn, nhưng lòng bắt đầu ngần ngại, Máu từ cánh tay cụt vẩn tuôn ra và chẳng mấy chốc Thần Quân sẽ kiệt lực, lão bèn nhớ đến chước thứ ba mươi sáu.

Lúc này, tiếng cười đã lan toả khắp Đại hội. Họ không còn kinh ngạc vì ngọn lữa và bắt đầu chú ý đến việc Kỵ Ba Thần Quân trần truồng, ngoài mảnh giáp che thân trên, mọi thứ đều phơi ra cả.

Có kẻ độc sac nào đó còn cười hô hố xúi dục:

- Đoan Mộc Toàn ! Sao ngươi không thiến cha cái của thòng lòng trước mặt kia đi, trông nó đong đưa thật ngứa mắt!

Thế là cử toạ cười bò, buông lời chế diểu Thần Quân. Có muối mặt đánh nữa chỉ mang nhục mà không chừng mang hoạ, Thành lão quỷ tấn mạnh, nhưng chân bước lại lùi!

Tất nhiên Nhương Thư không để lão chuồn, kiếm quang toả rộng sát khí mịt mờ, chỉ chờ sơ hở hạ thủ.

Trong giao đấu, chẳng phải muốn chạy là chạy, muốn lùi là lùi. Khi quay mình đào tẩu là để trống lưng, khi tung ngược ra sau là để trống hạ bàn, còn khi thoát hậu là tấn không vững, chính vì thê Kỵ Ba Thần Quân chỉ dám lùi từng bước để bảo toàn tính mạng!

Nhờ thận trọng như thế mà Thần Quân đã an toàn thoái lui được một quảng dài, chỉ còn cách mép đài ba trượng, Nhương Thư vô cùng thán phục đao pháp và sự chịu đựng kiên cường của đối phương. Song chàng không cam tâm để lão thoát thân liền xuất kỳ chiêu.

Nhương Thư vung kiếm đâm liền tám mươi mốt thức, phong toả từ mặt đến bụng Thần Quân , Thành Vô Chiến thận trọng giải phá, đao kiếm chạm vào nhau vang rền! Lão đã bảo vệ được thân trên, nhưng một luồng chỉ phong của ngón giữa bàn tay tả Nhương Thư đã bất mhờ bay ra, nhắm vào huyệt Trung Cực thuộc mạch Nhâm, nằm dưới rốn bốn thốn.

Chàng không thể đánh vào huyệt Khí Hải vì bảo giáp của lão ma đã che kín chổ nhược ấy. Dù đã tính toán rất chu đáo, nhắm rất chuẩn nhưng ý trời không thuận, miếng ván lót sàn lôi đài phía sau Kỵ Ba Thần Quân bị dẫm đạp quá nên long đinh, bật lên hơi cao, nâng gót ủng khi lão ma lùi lại, đứng lên, Bởi thế, huyệt Trung Cực thoát nạn còn hạ thể họ Thành mang hoạ!

Đạo Trung Xung chỉ xuyên thủng dương vật và ngọc hành của Thần Quân đúng như ý nguyện của quần hùng!

Kỵ Ba Thần Quân đau thấu trời, rú lên như heo bị thọc tiết, rồi liều mạng nhảy ngược ra phía sau, lão đã yếu nhiều nên cú nhảy chỉ xa hơn trượng, còn cách mép lôi đài cũng chừng ấy, và Nhương Thư đã lướt theo.

Tính mạng Thần Quân tưởng chừng hưu hỉ, nào ngờ từ dưới đất có bôn bóng người nhất tề nhẩy lên, vũ khí của họ dài thượt, vươn qua họ Thành mà đở đòn giùm.

Họ chính là Đài Loan Tứ Ngư Ông thủ hạ trung thành của Thần Quân. Bốn lão ma biển Đông đã dồn hết công lực vào cần câu thép nên lực đạo rất hùng hậu, họ lại xuất hiện bất ngờ nên Nhương Thư bị động, chàng mà cố giết Kỵ Ba Thần Quân thì sẽ khó mà toàn mạng, bởi vậy Nhương Thư phải tung mình tránh chiêu lượng công kia!

Kỵ Ba Thần Quân cố nén đau, rống lên như hổ bị thương:

- Té ra ngươi là tiểu tử Tần Nhật Phủ ?

Lão nhận ra chàng nhờ Lục Mạch Thần Chỉ !

Quân hùng xửng sốt, nhìn Cẩm Phàm Kiếm Khách và thét vang mừng rở khi Đoan Mộc Toàn lột mặt nạ, để lộ gương mặt Anh Nhi tuấn và đôi lông mày kép có một không hai

Họ Tần vòng tay nói.

- Kính cáo chư vị đồng đạo! Tại hạ bị Thành Vô Chiến dùng quỷ kế ám hại ở Cưu Sơn. May mà trời cao chưa nở đoản mệnh, tại hạ thoát chết, giả dạng Cẩm Phàm Kiếm Khách để báo thù!

Thấy thần tượng chưa chết mà còn chiến thắng oanh liệt lão quỷ già Thành Vô Chiến , hàng ngàn hào kiệt trẻ, phấn khởi phi thường đồng thanh hô vang.

- Tần minh chủ! Tần minh chủ!

Đám trung niên, lão nhân cũng phục lăn trước bản lãnh và tài biến hoá xuất quỷ nhập thần của Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách nên cũng hô hào theo con cháu.

Dù không muốn nhưng Thiết Thủ Cái vẩn phải đại diện Hội Đồng Võ Lâm tuyên cáo việc trao ngôi Minh Chủ Võ Lâm cho Tần Nhật Phủ!

Khánh Hỉ Đại Sư, phương trượng Thiếu Lâm Tự, và Thông Thiện Chân Nhân , chưởng môn phái Võ Đang rời bàn giám đài, trao võ lâm lệnh kỳ và võ lâm ấn kiếm bằng tử ngọc cho họ Tần. Gọi là kiếm ấn vì chuôi của thanh tiểu kiếm dài một gang này tận cùng bằng một quả ấn nhỏ hình vuông. Nó là tác phẫm của Trượng VươngTất Quỳ nên rất tinh xảo, xinh đẹp. Loại ngọc tía cực hiếm, có tính phát quang khi bị nóng lên!

Nhìn ánh mắt đờ đẩn và nụ cười bi dại của họ, Nhương Thư đau lòng khôn xiết!

Kỵ Ba Thần Quân và bọn thủ hạ đã nhanh chân rời Đại Hội, vì sợ Tần minh chủ hạ lệnh cho quần hùng tấn công!

Lão phòng xa vô ích vì trong kế hoạch của Ngoạ Long Tú Sĩ không có khoản này! Nay năm phái đều nằm trong tay Thần Quân , các chưởng môn bị khống chế cả tâm thức lẩn sinh mạng, thì ngôi Minh Chủ của Nhương Thư chỉ là hữu danh vô thực!

Chàng dơ cao võ lâm kiếm lệnh và võ lâm lênh ký, vui vẻ nói với quần hùng:

- Tại hạ sẽ cho sửa sang lại Tổng Đàn Võ Lâm, đúng rằm tháng hai sang năm sẽ tổ chức tiệc mừng. Mời toàn thể chưa vị vui lòng hạ cố, dùng vài chén rượu nhạt!

Toàn trường hoan hô như sấm dậy, khen ngợi sự rộng rải của Tần Minh Chủ, việc đãi đằng nữa vạn người chẳng phải là nhuyện mà ai cũng dám làm, hoặc đủ sức làm!

*

* *

Sau Đại Hội, Tân minh chủ Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách biến mất tăm, dù tổng đàn võ lâm ở núi Thái Thất đang khởi công trùng tu.

Gọi là sữa chửa nhưng thực ra gần như xây mới, vì sau nhiều năm không minh chủ trị vì, Tổng Đàn đã hư hại khá nhiều.

Thái Thất Sơn là đỉnh cực Đông của rặn Tung Sơn, đầu Tây chính thị núi Thiếu Thất, nơi chùa Thiếu Lâm toạ lạc.

Kỵ Ba Thần Quân đang nắm trong tay năm phái lớn, tức một nữa võ lâm. Lão chỉ cần danh định minh chủ là nuốt luôn nữa còn lại! Nhưng miếng mồi đã vào trong miệng còn phải nhả ra, lại cụt mất một tay, Thành Vô Chiến quyết không tha cho Tần Nhật Phủ.

Với thế lực bao trùm, Thần Quân cho truy tìm tông tích họ Tần. Và cử đi mấy chục toán sát thủ. Tiếc rằng , Tần Nhật Phủ đã biệt dạng, không hề để lại dấu vết.

Khi người của Sơn Hải Bang đến công trường xây dựng Tổng Đàn võ lâm điều tra thì thấy quân triều đình cânh gác rất nghiêm mật.

Người lãnh mối thầu này là em vợ của Tổng Trấn Quân vụ Hà Nam. Lão được trả giá hời để thi công theo đúng bản vẽ, và có trách nhiệm bảo vệ công trình cho đến rằm tháng hai sang năm. Vì thế lão đã nhờ đến sự hổ trợ của ông anh rễ là ngài Tổng Trấn. Được chi năm trăm lượng hoàng kim, Tổng trấn vui vẻ điều quân đến canh gác!

Gã trinh sát Sơn Hải Bang vừa mò đến dò hỏi thì lập tức bị vây bắt ngay, May thay gã nhanh chân, không thì đã ăn no những đòn tra tấn của nha môn!

Vậy thì chàng trai họ Tần của chúng ta đâu? Xin thưa rằng, Nhương Thư và bầu đoàn thê tử, bằng hữu đã kéo nhau đi Sơn Tây tìm Ải Thần Quân !

Đầu tháng mười họ có mặt ở thành trường Trị, vào trọ trong lữ điếm rồi dọ hỏi về nhà cửa của Ải Thần Quân .

May là lão chưởng quỷ là người sanh đẻ chốn nay nên biết rõ, chỉ đường cho khách. Bọn Nhương Thư ăn cơm trưa xong, y phục chỉnh tề tìm đến Tần gia trang! Quách Tàn Bôi đã chế tạo một chiếc mặt nạ, tạm thời trả lại cho Nhương Thư dung mạo cũ và cũng để tránh tai mắt kẻ thù. Điều này đã khiến ba ả họ Điền vui vẻ hơn, song Đoan Mộc Anh thì bở ngỡ! Số người trong đoàn là mười một vì vợ chồng Hoàng Nghi Tuyệt, Dương Châu Thần Thâu và Mục Tử Lượng cũng có mặt. Thần Thâu và Tử Lượng ở Khai Phong về Tung Sơn xem đại hội, gặp bọn Ngoạ Long Tú Sĩ. Hồng Diện Tôn Giả không hiểu sao đã bỏ đi mất dạng sau khi đại hội bế mạc. Có lẽ ông đau lòng vì cái chết của Bạch Thuý Sơn không còn thiết đến sự đời nữa.

Hôm rằm tháng chín, Tôn Giả đã được Lỗ Tú Sĩ dặn dò kế hoạch hí lộng Kỵ Ba Thần Quân. Ông có trách nhiệm làm cho Thành lão quỷ bộc lộ bảo y, đồng thời hợp thức hoá việc sử dụng ám khí của Nhương Thư. Nếu không, dù có đả bại Kỵ Ba Thần Quân chàng cũng chẳng thể trở thành Minh chủ, không phải vì danh dự mà vì đại cục sau này! Nhắc lại, bảy kỵ sĩ hộ tống cỗ xe song mã mui kín, chở bốn nàng, rằm rộ xuất hiện trước cửa Tần gia trang. Nhương Thư ngỡ ngàng khi thấy cơ ngơi xập xệ, nghèo nàn của toà trang viện. Chẳng phải Ải Thần Quân đã tặng hết tài sản cho chàng rồi tay trắng hồi hương?

Ngày ấy, Tần Thế Lan, tức Ải Thần Quân, rời Tạ gia trang mà không lấy theo vàng bạc, châu báu gì cả! Nhương Thư vô cùng xúc động, biết Thần Quân thật sự yêu thương mình như con vậy! Lão chỉ cần lấy lại một phần tư châu báu cũng đủ biến nơi đây thành phủ đệ lộng lẫy của bậc Vương Hầu!

Quanh trang chỉ là rào trúc sơ sài vì tường cũ sập không tiền xây lại. Nhà cửa được cất theo lối Tam Hợp Thiện, ba dãy vây lấy bên, nhưng giờ đây ngói dột, cột xiêu gạch lát sân bong lên từng mảng, cỏ mọc đầy. Người trong nhà đã đi ra. Đó là một lão già tuổi sáu mươi, râu tóc hoa râm, dung mạo rất giống Ảu Thần Quân. Lão mở cỗng rào, nghi ngại hỏi :

- Chẳng hay quí khách giá lâm tệ xá về việc gì ?

Nhương Thư vòng tay kính cẩn đáp :

- Bọn tại hạ muốn được bái kiến Tần lão tiền bối, tức Ải Thần Quân !

Lão nhân lạnh lùng bảo :

- Nhị thúc của lão phu không có nhà! Ông ta về đến đây ăn báo mấy tháng rồi bỏ đi Thái Nguyên du ngoạn, chẳng thấy trở về!

Thì ra lão này là cháu ruột của Thần Quân, cảnh nhà khó khăn nên không vui khi thấy thúc phụ trở về với hầu bao lép kẹp. Lão sợ hãi Thần Quân nên ngậm bồ hòn làm ngọt, nay gặp dịp mới buột miệng than thở trách móc. Thái độ này cũng chẳng có gì lạ! Khi người ta quá nghèo, vợ con không đủ ăn thì việc cưu mang thêm một ông chú uống rượu như hũ chìm là cả một nổi kinh hoàng !

Điền Uyển Xuân thấy thế liền đổ dầu vào lửa, dấm dẳng nói :

- Lão ấy trốn rồi ư? Bọn ta đến đây để đòi nợ đấy !

Lão nhân họ Tần tái mặt xua tay hớt hải :

- Lão phu chẳng liên quan gì ccười! Gia thúc phụ bỏ nhà đi đã ba mươi mấy năm, chẳng giúp đỡ gì cho con cháu, sao lại bắt lão phu trả nợ thay ?

Lão ta đang nói thì có một phụ nhân tuổi ngũ tuần, áo vải xanh vá víu, ra đến nơi. Bà nghe nói đến nợ nần của chú chồng liền khóc lóc, tru tréo lên :

- Tướng công thấy không! Thiếp đã linh cảm trước tai hoạ này ngay khi Nhị thúc xuất hiện! Lão ta uống sạch gia tài dành dụm của chúng ta, lại còn huênh hoang rằng con nuôi lão sẽ mang vàng đến đây xây dựng nhà cửa, biến Tần gia trang thành đại phú đất này! Vàng đâu chẳng thấy, chỉ thấy chủ nợ đến tìm! Phen này thiếp và lũ con chỉ còn nước ra đường mà ở thôi !

Rồi mụ quỳ sụp xuống lạy lục :

- Oán có đầu, nợ có chủ! Xin chư vị đi Thái Nguyên tìm lão chết tiệt ấy mà đòi, đừng đẩy gia đình tiện phụ vào cảnh khốn cùng !

Uyển Xuân không ngờ trò đùa của mình lại tai hại như vậy, sợ Nhương Thư giận, vội chạy đến đỡ Tần phụ lên :

- Đại thư đừng khóc nữa! Tiểu muội chỉ đùa thôi mà! Bọn tiểu muội chính là nghĩa tức(Dâu nuôi) của Tần lão gia, mang vàng về xây lại Tần gia trang đây!

Tần thị há hốc miệng, dụi mắt tưởng mình nằm mơ. Trong lúc ấy, Nhương Thư vòng tay thi lễ :

- Tiểu đẹ Tần Nhương Thư, nghĩa tử của Tần lão gia, xin ra mắt biểu ca !

Lão nhân kia cũng sửng sốt không kém vợ mình, luống cuống đáp :

- Thực thế sao! Té ra nhị thúc không nói láo! À... lão phu là Tần Nam Sơn... Mời chư vị vào nhà !!!

Ngoạ Long Tú Sĩ biết chắc chủ nhà không đủ ghế cho khách ngồi, liền vui vẻ nói :

- Ngoài sân này mát mẻ, chẳng nhất thiết phải vào trong làm gì. Hơn nữa, lão phu muốn xem qua địa thế để tính toán việc xây dựng!

Hai canh giờ sau, bọn Nhương Thư rời Tần gia trang, để vợ chồng Tần Nam Sơn bàn bạc cách tiêu xài số vàng năm ngàn lượng! Trưa mùng sáu thàng mười, đoàn nhân mã đi vào thành Thái Nguyên, địa phương trù phú, sầm uất nhất Sơn Tây. Vào đầu thời nhà Minh, Thái Nguyên là nơi đặt phủ đệ của Tấn Vương, một trong những hoàng tử của Chu Nguyên Chương. Minh Thái Tổ đã giao đất Sơn Tây và phong tặng cho con trai mình! Còn vùng Hà Bắc thuộc quyền Yên Vương Chu Đệ, người mà sau này sẽ soán ngôi cháu, để lấy đế hiệu là Minh Thành Tổ!

Danh thắng nổi tiếng nhất Thái Nguyên là đền thờ Tần Từ nằm trong Lâm Viên Cổ, dưới chân núi Ông Sơn, phía Nam Thành! Lâm viên có nghĩa là vườn rừng, rừng cây do người trồng làm vườn cảnh. Nơi đây sơn thuỷ hữu tình, có hàng trăm đền đài, cung điện, miếu mạo, nhưng cái khiến người ta đắm say nhất là ba con suối ở đền Tấn Từ, Thiên Lợi Tuyền, Thánh Mẫu Tuyền và Nan Lão Tuyền!

Ngoài việc nước suối trong vắt, ngọt ngào, phong cảnh bên bờ và chiếc cầu Tần Từ xinh đẹp đã gợi ý thơ cho hàng ngàn tao nhân mặc khách. Song vào thời ấy, cạnh suối Nan Lão, dưới cầu Tàn Từ độ gần dặm, còn có một nơi mà du khách nào cũng phải ghé thăm, đấy là Trường Xuân tửu điếm. quán rượu này chỉ là một công trình đơn giản bằng gỗ, mái ngói, nằm bên bờ suối, cảnh vật không hơn những danh thắng khác trong lâm viên, nhưng nó thu hút khách nhờ nhan sắc của chủ nhân.

Hai mươi năm trước, có một nữ lan tuổi ba mươi đến đây dựng quán, giờ nàng đã tròn ngũ thập mà dung nhan vẫn như xưa! Người ta phong tặng nàng danh hiệu Nan Lão Tiên Cơ, ý chỉ vị trí quán rượu cũng như sự trường tồn của vẻ đẹp thiên kiều bá mị. Tiên Cơ có nhũ danh là Trình Bích Liễu, thân hình nhỏ nhắn, thâm thấp như hàng vạn nữ nhân Trung Hoa khác. Nghĩa là nàng chỉ cao hơn Ải Thần Quân hai lóng tay. Phải chăng vì nhan sắc và chiều cao khiêm tốn vủa Tiên Cơ mà Ải Thần Quân phế bỏ mộng thành tiên, quyết tâm lấy cho được nàng? Hoặc một lý do nào khác đã khiến lão già trẻ con tuổi cửu tuần này yêu say đắm thì có trời mới hiểu nổi!

Sau ba ngày điều tra, bọn Nhương Thư tá hoả tam tinh khi nghe nói Ải Thần Quân yêu điên cuồng chủ nhân Trường Xuân tửu điếm, đến mức xinh vào làm tiểu nhị không lương để được gần gũi Nan Lão Tiên Cơ. Người người ôm bụng cười lăn cười lóc, chỉ mình Đoan Mộc Anh không cười, thản nhiên nói :

- Hai người ấy đều trẻ mãi không già, vốn được trời sinh ra để lấy nhau, chẳng phải thế sao?

Nhương Thư tủm tỉm khen :

- Anh nhi quả là cao kiến! Bọn ta đã quên mất điểm này !

Ngoạ Long Tú Sĩ lên tiếng :

- Hay lắm! Chúng ta sẽ thành toàn cho mối lương duyên thiện đình ấy !

Mã Lan thích thú hỏi :

- Nhưng bằng cách nào?

Lỗ Đăng Hân cười đáp :

- Để lão phu và Tần công tử đến Trường Xuân điếm tìm hiểu tình hình rồi sẽ tính !

Quách Tàn Bôi cằn nhằn :

- Lão phu cũng đi nữa, bằng không thì hai người đừng hòng mượn mặt nạ !

Ba người hoá trang xong, tìm đến Trường Xuân tửu điếm. Lời đồn qủa chẳng sai, quá rượu luôn đầy ấp tửu khách và hơn nữa là khách võ lâm, vì Nan Lão Tiên Cơ cũng rất giỏi võ! Hữu xạ tự nhiên hương, bao năm nay, hàng trăm thế gia công tử, hào kiệt giang hồ đất Thát Nguyên và vùng phụ cận đã ráp ranh bắn sẻ, thầm thương trộm nhớ mĩ nhân! Phần lớn đã mỏi mòn bỏ cuộc, tìm mối khác, chỉ còn lại những nam nhân cao tuổi, bởi Tiên Cơ đã năm mươi! Trong tình yêu, chẳng thể dùng võ nghệ diệt trừ tình địch mà giành lấy trái tim, cho nên, dù bản lãnh thượng thừa mà Ải Thần Quân vẫn bị hạ phong trước kẻ khác! Thứ nhất là vì lão quá lùn, thứ hai là quá già, thứ ba là không tiền. Trong khi phe đối phương tuổi tác chỉ từ ngũ tuần đến thất tuần, trẻ trung trán kiện, thân thể cao lớn, oai vệ, gia tài đồ sộ!

Bọn Nhương Thư ngồi xuống một bàn trống, tò mò quan sát nữ chủ nhân. Họ dương đôi mắt nghi hoặc ngấm nghía nữ lang xinh đẹp, trẻ trung đang ngồi sau quầy quĩ, không sao tin được rằng nàng ta đã năm mươi! Tiên Cơ cũng nhìn thấy khách mới, rời quầy bước đến bàn, nở nụ cười tươi tắn, thân thiện :

- Chắc tam vị mới đến tệ điếm lần đầu! Thiếp là Trình Bích Liễu, rất vinh dự được đón tiếp ngọc giá của bậc quí nhân!

Giọng nàng trong trẻo, ngọt ngào, khiến lòng người xoa xuyến. Bộ đoạn bào bằng lụa xanh kia ôm sát thân hình nhỏ nhắn, cân đối và làm nước da trắng trẻo, mịn màng của Tiên Cơ. Nói xong, nàng quay lại cao giọng gọi :

- Tần huynh! Mau ra xem khách dùng chi !

Nàng nghiêng mình chào bọn Nhương Thư rồi quay gót.

Dạ Quân Tử vỗ đùi tán thưởng :

- Ả này vừa đẹp, vừa khéo, bảo sao lão quỹ họ Tần không chết mê chết mệt !

Lúc này, Ải Thần Quân đã ra đến áo tiểu nhị lem nhem dầu mỡ, khăn vải vắt vai. Lão khúm núm hỏi với dáng điệu rất chuyên nghiệp :

- Dám hỏi chư vị đại gia gọi những món gì ?

Ngoài cặp lông mày thứ hai mới mọc lại, sau vài tháng trời rời Lạc Dương, Thần Quân còn có thêm hàng râu mép xanh đen, gọn ghẽ, lão muốn cưới Tiên Cơ nên không thể giữ dung mạo trẻ con được! Lỗ Tú Sĩ biết hai người kia sắp sửa phá lên cười nên nói mau :

- Một mâm rượu thịt gồm bốn món thượng hạng!

Thần Quân hài lòng gật đầu, tất tả rảo bước. Ở đây, ba vị khách cúi gầm mặt để cười cho thoả. Nhương Thư chợt thắc mắc :

- Vì sao Thần Quân không mang thêm chân giả để được cao như lúc đóng vai Thế Lan?

Lỗ Đăng Hân vui vẻ giải thích :

- Lão ta yêu thực nên không muốn gian dối Tiên Cơ, còn lúc trước, do lão gán công tử danh hiệu và tên tuổi nên phải kê chân thật cao để khỏi bị Vô Ưu Cái nghi ngờ mình là Ải Thần Quân!

Rượu thịt được bưng ra, trong lúc bọn Nhương Thư ăn uống, không có khách vào thêm nên Ải Thần Quân rảnh rang, đứng cạnh quầy quỹ nói chuyện với Nan Lão Tiên Cơ. Trong số thực khách hôm nay dĩ nhiên không thiếu vài tay tình địch của Thần Quân. Một lão nhân áo gấm đen sang trọng, đầu đội mũ bá hộ lên tiếng:

- Này Tần lão huynh! Toà Bách Hoa Gia Trang ở bìa lâm viên vừa đăng bản rao bán, sao lão huynh không mua tặng Trình Tiên Cơ? Lão họ Hồ thua bạc nên bán rẻ, chỉ có ba ngàn lượng vàng mà thôi !

Cả quán cười âm lên vì câu giễu cợt kia. Một tên tiểu nhị àm sao có nổi ba ngàn lượng vàng ?

Nào ngờ Tần lão quay sang hỏi Tiên Cơ :

- Nàng có thích toà trang viện ấy không? Vài ngày nữa lão phu sẽ mua tặng nàng !

Trình Bích Liễu tủ, tỉm gật đầu. Nhưng ánh mắt lộ vẻ hoài nghe. Còn tửu khách thì cười hô hố, chê Ải Thần Quân là người khoác lác.Tình địch thứ hai của Ải Thần Quân là một đại hán tuổi độ năm mươi, thân thế lực lưỡng, râu quai nón rất oai phong. Lão ta cười nhạt khích bác:

- Thần Quân là bậc võ lâm tiền bối, sao lại để cho kẻ khác chiếm đoạt danh hịeu và tên tuổi của mình! Tại hạ vừa dự đại hội võ lâm trở về, tận mắt chứng kiến gã Tứ Mi Ngọc Diện Kiếm Khách Tần Nhật Phủ đả bại Kỵ Ba Thần Quân đoạt ngôi minh chủ. Phải chăng lão huynh sợ hãi tiểu tử ấy nên không dám tìm đến hỏi cho ra lẽ!

Đám hào khách trong quán tán thành ngay, xem thường bản lãnh của Ải Thần Quân!

Tần lão cười khanh khách đáp :

- Các ngươi biết cái quái gì mà nói! Tần minh chủ võ lâm chính thực là con nuôi của lão phu. Nếu Trình Tiên Cơ chịu làm vợ lão phu, hắn sẽ đứng ra tổ chức và mời đủ chưởng môn, long đầu các phái trong thiên hạ đến dự!

Bọn hào khách ôm bụng cười ngặt nghẽo, chửi Thần Quân là kẻ nói láo một tấc đến trời! Có kẻ tức quá, đốc thúc Nan Lão Tiên Cơ :

- Sao Trình mĩ nhân không lấy đó làm điều kiện hôn ước, để lão lòi mặt chuột ra ?

Lời đề nghị này được nhiều người hưởng ứng, khiến Tiên Cơ mất tự chủ, bẽn lẽn nói :

- Thôi được! Thiếp cũng xin chiều theo ý chư vị !

Rồi nàng bảo Thần Quân :

- Nếu trong ba ngày, Tần huynh mua nổi Bách Hoa Trang, thiếp xem như đã nhân sính lễ và khi Tần huynh gọi được minh chủ võ lâm đến quì lạy thi lễ thành hôn sẽ được cử hành!

Cả quán ồn ào như chợ vỡ. Tin chắc Ải Thần Quân sẽ bỏ cuộc một cách nhục nhã.

Quả đúng như vậy. Tần lão nhăn nhó khổ sở :

- Lão phu chẳng biết ba ngày có kịp hay không nữa ?

Bỗng có người gọi thêm rượu, lão bèn tất tả chạy đến bàn của ba người khách lạ mặt Thần Quân hỏi mà như người mất hồn :

- Tam vị cần thêm mấy cân?

Và lão thiếu điều nhẩy dựng lên vì nghe khách hạ giọng đáp :

- Nghĩa phụ! Hài nhi là Nhương Thư đây! Xin nghĩa phụ cứ nhận điều kiện của Tiên Cơ, chỉ ba khắc nữa là mĩ mãn!

Thần Quân mừng đến líu lưỡi :

- Trời cao có mắt nên Thư nhi đến rất đúng lúc! Con trai hãy cố giúp ta lấy được mụ vợ này, không thì ta chết mất!

Nhương Thư gật đầu mỉm cười, Thần Quân hí hửng chạy nhanh xuống bếp lấy vò rượu năm cân, mang lên cho con nuôi. Lão quay lại đứng bên quầy quĩ, lập tức bị thực khách tra hỏi :

- Sao Thần Quân có làm được không ?

Thần Quân cười tươi rói, hỏi lại Nan Lão Tiên Cơ :

- Này Trình hiền muội! Nàng nói thực đấy chứ ?

Tiên Cơ đỏ mặt gật đầu :

- Thiếp vốn chẳng bao giờ nói lại lời !

Ải Thần Quân chợt nghiêm sắc mặt, nhìn nàng bằng ánh mắt thiết tha rồi truyền âm :

- Trước khi ra đi, lão phu muốn biết nàng có chút tình cảm nào với lão phu hay không?

Tiên Cơ lặng người, buồn rầu suy nghĩ rồi đáp :

- Thực lòng thiếp cũng yêu mến Tần huynh vì đôi ta đều được trời ban cho Vô Thu Quả. Giá như Tần huynh đừng đại ngôn thì trước sau thiếp cũng nhận lời. Giờ đây sự thể thế này, xem như không duyên phận vậy !

Ải Thần Quân chết lặng vì hạnh phúc ngút trời. Ông gật gù, quay lại nói với cử toạ :

- Mời chư vị cứ ăn uống thoải mái và chờ thêm vài khắc nữa, để mừng cho lão phu và Tiên Cơ. Hôm nay tệ điếm xin chiêu đãi miễn phí !

Chẳng ai tin nhưng cũng hồ hỡi gọi thêm rươu thịt khiến Tiên Cơ tái mặt, kéo áo Thần Quân:

- Tần huynh đinh làm cho thiếp sạt nghiệp thì mới chịu ư ?

Tần lão nheo mắt tình tứ :

- Nàng chớ lo! Cưới xong chúng ta về ở Bách Hoa Trang, không làm đầy tớ cho thiên hạ nữa !

Rượu vào lời ra, vài gã không biết ơn mà còn mỉa mai :

- Lát nữa Thần Quân bỏ của chạy lấy người thì bọn ta lấy tiền đâu mà trả nhỉ ?

Tần lão cười ha hả hỏi lại :

- Thế nếu lão phu làm được, liệu mỗi người bọn ngươi có dám bỏ ra trăm lượng bạc mừng hôn lễ hay không? Ai dám thì dơ tay lên !

Thế là bảy tám chục cánh tay nhanh nhảu đưa lên để chế giễu Thần Quân.

Tần lão nghiêm giọng :

- Lão phu có trí nhớ phi thường, nhớ không sót một ai! Kẻ nào nuốt lời thì hãy coi chừng đấy !

Dứt lời, lão xạ một chỉ phong vào cột gỗ cách chỗ đứng hơn trượng. Chỉ kình xé gió ghê người, bột gỗ bay mù mịt và một cái lỗ sâu hoắm hiện ra! Ai nấy lạnh gáy, nhớ đến truyền thuyết về tính hiếu sát của Thần Quân ngày trước! Họ im như thóc, tự an ủi rằng chắc gì lão quỹ lùn kia đã cưới được Tiên Cơ! Nhưng lát sau, có một cỗ xe song mã lộng lẫy, cùng vài võ sĩ hộ tống, dừng cương trước cửa quán rượu .

Cửa thùng xe mở ra, có bốn nữ nhân y phục hoa lệ bước xuống. Đám kỵ sĩ gồm năm người, có cả lão già áo gấm nâu, lúc nãy đã từng ngồi trong quán! Khi chín người ấy bước vào thì hai tửu khách lạ mặt cũng đứng lên, nhập bọn, đi đến trước mặt Ải Thần Quân! Hán tử võ phục đen xoa mặt, hoá thành một chàng trai cực kỳ anh tuấn, rất giống Ải Thần Quân, cả mặt mũi lẫn đôi lông mày kép. Gã vòng tay nói :

- Hài nhi bái kiến nghĩa phụ và nghĩa nương! Thân đương nhiệm minh chủ, không tiện thi đại lễ mong nhị vị nhân gia lượng thứ!

Ải Thần Quân xua tay cười khanh khách :

- Miễn lễ! Miễn lễ! Cồn hãy đứng sang một bên để lão phu nhận dâu !

Nhương Thư bước sang tả, nhường chỗ cho tam vị thiên kim tiểu thơ nhà họ Điền. Ba ả e thẹn nghiêng mình theo phép túc bái. Rồi đến lượt bọn nam nhân già trẻ đủ cỡ. Thấy chỉ còn mình Đoan Mộc Anh đứng tần ngần ngơ ngác, Thần Quân hỏi Nhương Thư :

- Thế con tiểu nha đầu kia là ai vậy ?

Nhương Thư hít mạnh một hơi để lấy dũng khí rồi bước đến dắt nàng sơn nữ lại trước mặt Thần Quân và Tiên Cơ. Chàng trầm giọng giới thiệu :

- Bẩm nhị vị nhân gia! Nàng này là Đoan Mộc Anh, người vợ thứ tư của hài nhi !

Đoan Mộc Anh hân hoan ngước nhìn chàng :

- Đại ca chịu lấy tiểu muội làm vợ ư? Thế thì hay quá, tỉêu muội cũng muốn có con như ba vị đại thư kia !

Một trân bão cười nổ ra, phá tan không khí im lặng, trang nghiêm từ nãy đến giờ !

Thần Quân tủm tỉm bảo ba dâu lớn :

- Các con đừng ghen tuông mà hại đến bào thai !

Mã Lan và Uyển Xuân thẹ thùng vâng dạ, riêng Bạch Cúc hậm hực nhủ thầm :

- Ghen làm quái gì! Các bà sắp lâm bồn, cần người quạt than, giặt giũ đây! Lúc ấy con quĩ đen kia sẽ biết thế nào là khổ sở !
Đăng nhập để trả lời
0