📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Siêu lừa gặp họa 🔒

3 trả lời, 1.315 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-18 21:48:31Ct.Ly>
Siêu lừa gặp họa
Bualô Naxêgiắc (Pháp)
 
(Boileau - Narcejac)
 
Dịch giả: Quốc Anh

Nguồn: Văn nghệ Công an

“Chủ nghĩa thần bí mê sảng”- một ý nghĩ nảy tới trong đầu bác sĩ. Người đàn ông tâm thần nọ đảo mắt nhìn quanh, toan nắm lấy cổ áo mình. Chợt nhận ra mình đang ở trần, anh ta giận dữ giằng bỏ tấm áo đang choàng hờ trên người ném vào góc buồng tắm, đoạn lấy lại tư thế bình thường.
Đó là người đàn bà ăn vận lịch sự, gương mặt đẹp một cách quý phái. Bà ta không đợi ở ngoài như mọi người mà bước nhanh vào phòng. Điều này khiến bác sĩ  Lavaren lấy làm lạ. Mặc dầu vậy, ông vẫn tỏ ra nhã nhặn:
- Mời bà ngồi.
Vừa nói, bác sĩ vừa với lấy một tờ kê khai còn để trắng:
- Xin bà cho biết quý danh.
- Tôi là Giuletta Mare.
- Thế còn địa chỉ?
- Thưa bác sĩ, tôi… tôi… Vấn đề là… hiện chồng tôi bị… điên.
ép chặt chiếc ví trên ngực, người đàn bà lắc đầu đau khổ:
- Anh ấy bị điên… Tôi… tôi rất… hoang mang.
- Thôi được rồi, bà cứ bình tĩnh cho tôi biết địa chỉ?
- Dạ thưa bác sĩ, nhà số 92, phố Kadine. 
- Chồng bà làm nghề gì?
- Anh ấy làm ở nhà băng. Bình thường chúng tôi có thể sống yên ổn nếu anh ấy…
- Ông nhà năm nay bao nhiêu tuổi?
- Dạ, ba tư.
- Còn bà?
- Hai tám. Chúng tôi kết hôn đến nay đã được bốn năm. Mặc dù chưa có con song thực tế chúng tôi sống rất hạnh phúc. ấy vậy mà bỗng dưng…
- Khi đến với ông nhà, bà có nhận thấy ông ấy có biểu hiện gì đó khác thường?
   
Minh họa của Lê Tiến Vượng.
- Không! Anh ấy hoàn toàn bình thường như mọi người. Chỉ phải cái là đôi khi tỏ ra buồn bã. Tôi nghĩ, lý do có thể vì anh ấy có một tuổi thơ nhiều bất trắc. Mẹ anh ấy chết vì tai nạn ôtô khi anh ấy mới 15 tuổi. Bình thường anh ấy chẳng làm việc gì đến đầu đến đũa cả, suốt ngày chỉ vùi đầu đọc sách. Năm tháng, sự kiện cứ gọi là vanh vách. Năm rồi, suýt nữa anh ấy đã giật được giải thưởng mấy chục ngàn frăng của một cuộc thi do đài phát thanh tổ chức. Người ta hỏi anh ấy là…
- Điều tôi quan tâm là bà phát hiện ra chồng mình mắc bệnh từ bao giờ? 
- Cách đây khoảng một năm. Vâng, vài ngày sau khi anh ấy bị loại ra khỏi cuộc thi… ấy là khi tôi phát hiện thấy anh ấy thường xuyên lẩm bẩm một mình, cứ như đang có một người đứng trước mặt vậy, nói với một vẻ rất tức giận. Một bận tôi còn thấy anh ấy choàng tấm áo ngủ, chân quỳ xuống góc phòng, rồi cứ thế lấy tay đấm thùm thụp vào ngực. Xong rồi, anh ấy đứng phắt lên, la lớn: “Xin thề. Tôi sẽ hoàn thành nhiệm vụ”. Bác sĩ chắc không hình dung là tôi hoảng sợ đến mức nào! 
- Việc ấy có tái diễn nhiều lần?
- Tuần vài bận như vậy, thưa bác sĩ. Lắm lúc anh ấy trùm kín tấm ga phủ giường, nói lào thào như kẻ tà giáo. Đôi lần tôi cố lắng nghe nhưng không nắm bắt được anh ấy nói gì.
- Lạ thật! Thế sau đó?
- Sau đó lại trở về trạng thái bình thường. Theo tôi quan sát thì bệnh tình của anh ấy thường chỉ phát vào các buổi sáng.
- Mỗi lần phát bệnh, thời gian kéo dài bao lâu?
- Cũng chỉ độ ba bốn phút và kết thúc bằng việc anh ấy vơ lấy một vật gì đó ngang tầm và đánh mạnh vào không khí.
- Có bao giờ bà thử can ngăn ông ấy?
- Không, chẳng bao giờ. Biết đâu anh ấy chẳng giết tôi? Bởi những lúc ấy, trông anh ấy thật hung tợn.
- Bình thường, ông nhà có thuộc típ người cục tính?  
- Không… Thật khó định nghĩa về anh ấy. Chỉ có thể nói là… điên  
Nói đến đây, người phụ nữ khóc nấc lên. Giáo sư Laveren tìm cách trấn an:
- Để tôi nghĩ xem có thể giúp bà được gì nào? Dù sao tôi hoàn toàn tin tưởng ở những tình tiết bà vừa kể.
- Tốt nhất là ngay ngày mai, mời bác sĩ đến nhà tôi để tận mắt nhìn thấy những hành động kỳ quặc của anh ấy. Chúng tôi ở trong một căn phòng nhỏ nằm kề ngay với buồng tắm. Qua lỗ khóa nhỏ, bác sĩ có thể quan sát được mọi diễn biến hành động của anh ấy và có hướng chẩn bệnh. Hãy giúp chúng tôi, bác sĩ nhé. Khủng khiếp quá!
Bác sĩ Lavaren nhón chân theo Giuletta vào căn phòng đã được bố trí từ trước. Từ đây, ông bí mật quan sát và phát hiện ra người chồng tâm thần mà  Giuletta nhắc tới đang choàng trên mình tấm áo choàng của phụ nữ. Trông anh ta có vẻ căng thẳng và bí hiểm. Khuôn mặt hốc hác, tóc tai bù xù, dáng người quặt quẹo. Hai bàn tay bắt chéo trước ngực, mắt nhìn trừng trừng vào một điểm vô định ở giữa bồn rửa mặt và móc treo khăn. Chợt anh ta thở dài rồi lầm bầm một câu gì đó. Vị bác sĩ thoáng rùng mình. Hình như anh ta đang nhắc tới mấy chữ “Henri đệ tam”. 
- Ta sẽ cứu họ - Người đàn ông thốt lên, rành rọt - Phải cứu họ. Vì Chúa… Nhưng than ôi, máu, ngần ấy máu…
Nói tới đó, anh ta nhắm nghiền mắt, hai tay trở về vị trí trước ngực. “Chủ nghĩa thần bí mê sảng”- một ý nghĩ nảy tới trong đầu bác sĩ. Người đàn ông tâm thần nọ đảo mắt nhìn quanh, toan nắm lấy cổ áo mình. Chợt nhận ra mình đang ở trần, anh ta giận dữ giằng bỏ tấm áo đang choàng hờ trên người ném vào góc buồng tắm, đoạn lấy lại tư thế bình thường. Cuối cùng, anh ta rửa mặt, ngắm mình trong gương một hồi lâu rồi bước nhanh ra khỏi buồng tắm.
Vị bác sĩ mau lẹ rút khỏi vị trí “ẩn nấp”. ít phút sau, Giuletta mở cửa cho ông. 
- Ông nhà đi chưa?
- Anh ấy đi rồi, trông có vẻ hớn hở lắm.
- Thật là một trường hợp kỳ lạ. Không nghi ngờ gì nữa, chồng bà đang vào vai một nhân vật lịch sử. Chắc chắn nhân vật đó phải là nữ. Vấn đề là ta chưa xác định được vai đó là ai. Nếu xác định được, phần nào ta có thể hy vọng tìm ra được nguyên nhân căn bệnh của ông ấy.
- Thật thế sao thưa bác sĩ.
- Tôi không dám khẳng định một cách chắc chắn. Tôi cần quan sát thêm một vài lần nữa. Nhưng rõ ràng hành động của chồng bà ẩn chứa một điều gì đó rất đặc biệt.
*
Ở lần quan sát thứ hai, bác sĩ Lavaren nhận thấy người chồng của Giuletta giữ chiếc áo khoác bằng một bàn tay lỏng lẻo. Điều ấy chứng tỏ anh ta đã rất đuối sức. Bàn tay còn lại anh ta dùng để nâng con dao lên ngang mặt, miệng lẩm bẩm:
- Nó đã phản bội - Anh ta nói và xía dao chọc thủng chiếc áo, rạch nó ra làm đôi. Chỉ vài giây sau chiếc áo chỉ còn là mớ giẻ rách và như lần trước, nó bị vất vào góc.
- Giờ là lúc tôi khỏa thân. Tôi tự do - Miệng kêu lên, song ánh mắt anh ta nhanh chóng chìm vào vô thức. Một lát, anh ta quay sang “độc thoại” rồi bất chợt cất tiếng cười hô hố.
“Tiếng cười sân khấu” - bác sĩ Lavaren thoáng có chút liên tưởng. 
- Lệnh trấn áp của Henri đệ tứ - Người bị bệnh tưởng chợt gào lên - Không thể được. Thật phi lý. Hoàng đế không được tuyên chiến với đức cha. Không bao giờ!
Cơn điên loạn đã tới cao trào: người đàn ông xông vào túm lấy chiếc áo tội nghiệp, treo lên mắc và xỉa vào ngực áo ba nhát. Xong đâu đấy, anh ta quẳng hung khí xuống đất, làm một hơi hết cốc nước lọc, vẻ mặt lại trở về trạng thái bình thường.
Giờ là lúc anh ta hiện nguyên hình là viên công chức. Mặc áo, cài cúc đâu đấy, anh ta lần xem có để quên ví, chìa khóa, khăn tay đâu không. Trông vào chiếc áo rách tướp dưới sàn, anh ta lẩm bẩm: “Lại là Giuletta bày bừa đây”. Nói đoạn, anh ta liếc mình một cái trong gương rồi nhanh nhẹn bước ra  ngoài buồng tắm.
Anh ta đi rồi, Giuletta lập tức vào yết kiến bác sĩ Lavaren.
- Giờ thì tôi nắm được mấu chốt vấn đề rồi. Chồng bà mắc chứng loạn thần kinh chức năng. Ông ta luôn hóa thân vào các nhân vật lịch sử. Hôm nay ông ấy đã vào vai nữ sát thủ đã giết Henri đệ tứ thông qua việc dùng dao đâm thủng chiếc áo thụng, còn lần trước thì ông ấy trong vai kẻ đã giết Henri đệ tam.
- Trời ơi, thế rõ ràng là chồng tôi đã phát điên? 
- Bà yên tâm, tôi sẽ  tìm ra liệu pháp chữa trị cho ông nhà. Cái chính là ta phải khẩn trương, không thể để ông ấy chìm đắm mãi trong tình cảnh như thế.  
*
Sau khi Giuletta tiễn bác sĩ Lavaren trở về, chồng thị lên tiếng hỏi:
- Thế nào? Lão ấy có phát hiện ra điều gì? 
- Tuyệt. Anh “đóng kịch” giỏi lắm. Lão không nghi ngờ gì đâu.
Câu chuyện bắt đầu từ việc ông bác giàu có mà đôi vợ chồng nhăm nhe khoản thừa kế mãi vẫn “không chịu chết”. Gã chồng bèn lập “kế hoạch”. Vỗn dĩ gã từng đọc cả núi sách về tâm thần học và thuật phân tâm để đánh lạc hướng bác sĩ chuyên khoa. Làm sao để việc gã hạ sát ông bác được xem là hành động của một kẻ bệnh tưởng. Kết cục là gã sẽ được đưa vào bệnh viện tâm thần. Với một người lý trí hoàn toàn tỉnh táo như gã thì việc tìm kiếm cơ hội đào thoát khỏi bệnh viện không có gì là khó. 
Nhưng mưu đồ thì thế, một sự việc ngẫu nhiên xảy ra đã giúp hai vợ chồng gã đạt được mục đích mà chẳng phải “dụng võ” chút nào (ít ra lúc đầu hắn đã vội mừng là như thế). Giuletta nghe chồng thông báo lại mà không tin vào tai mình: 
- Anh nói sao? Ông ấy chết rồi ?
- Phải! Người hầu vừa gọi điện tới. Một trường hợp bất trắc thật sự. Ông ấy đang ngâm mình nằm đọc sách trong bồn nước thì bất ngờ bị choáng. Ông muốn vùng dậy kêu cứu nhưng quên mất mình đang cầm con dao rọc giấy. Thế là ngã đè lên dao, chết ngay tức khắc.
Hai vợ chồng đưa mắt nhìn nhau, không giấu được nỗi hả hê:
- Chúng ta giàu to rồi.
- Giàu có mà chẳng phải ra tay hạ sát lão, may không chứ! - Gã chồng họa theo.
*
Công tố viên chăm chú lắng nghe lời thuyết trình của viên bác sĩ:
- Không còn chệch đi đằng nào nữa, lần này hắn đã “ra tay”- Bác sĩ Lavaren khẳng định - Đến trẻ con cũng không thể tin vào tình huống “không may” của nạn nhân. Nếu có thể, ngài hãy chuyển tên tâm thần đó tới Viện của tôi. Tôi đảm bảo chắc chắn rằng, việc canh giữ hắn hoàn toàn nghiêm cẩn. Dù hắn có mọc cánh cũng đừng hòng thoát khỏi tôi. Thật là một ca đặc biệt. Tôi muốn được trực tiếp “chăm sóc” gã tâm thần này. Bà Giuletta đã rất khổ tâm vì hắn. 

0
Dưới đây là một truyện ngắn lạ, hiếm thấy của nền văn chương tiếng Việt đương đại. Truyện đan xen nhiều tình tiết giữa thực tại, hồi ức và liên tưởng - những liên tưởng kỳ dị đến độ phi thực. Không phải là vấn đề của một con người cụ thể ở một miền đất cụ thể nữa, mà ở đây, Nguyễn Nguyên Phước cho ta thấy một điều gì đó khủng khiếp hơn nhiều: sự bào mòn về ý thức hiện hữu của con người hiện đại nói chung.
 
Tác giả: Nguyễn Nguyên Phước, sinh năm 1976; hiện làm nghiên cứu sinh ở Nhật Bản.
 
 
Tâm trạng khi điên

Nguyễn Nguyên Phước

Ngày hôm qua, tôi vừa tròn hai mươi tám tuổi. Người ta đưa tin về một quan chức ngành thể thao hiếp dâm một bé gái vị thành niên. Tôi nhìn bức ảnh người đàn ông có mái tóc muối tiêu. Một khuôn mặt tẻ nhạt. Cuộc đời ông ta chắc cũng tẻ nhạt như thế. Nhà ông ta ở gần khu nhà tôi. Một căn nhà sang trọng, ông ta ngồi đó lơ đãng gắp thức ăn. Người ta tin rằng ngủ với những cô gái đồng trinh sẽ đem lại may mắn. Ông ta đang ngồi tù. Đứa em họ tôi cũng đang ngồi tù. Lúc tôi học năm thứ hai, thấy đưa tin truy nã nó. Tôi cũng không chắc chắn mãi đến khi bố tôi đọc báo và xác nhận. Đã lâu lắm rồi ông không đến nhà nó chơi. Nó lừa đảo ngân hàng hơn một tỷ. Lúc đó nó hai mươi tuổi, bằng tuổi tôi. Lúc đó tôi đang học năm thứ hai, tôi chưa bao giờ có đến một triệu.

Tôi cố gắng hình dung khuôn mặt đứa em tôi. Nó sống ở một nơi mà xung quanh toàn bọn đầu trộm đuôi cướp. Mẹ tôi nói rằng, nó đã thành đàn bà năm mười bốn tuổi. Tôi thì đến bây giờ vẫn chưa từng hôn một đứa con gái nào cả. Tôi không thể tưởng tượng được khuôn mặt nó khi nó thành đàn bà. Trong trí tưởng tượng của tôi, chỉ có hình ảnh một con bé thông minh và lém lỉnh. Lúc đó, nó đang học lớp năm và học rất khá. Tôi vẫn không thể nào quên đôi mắt to tròn ngạc nhiên đầy thích thú của nó khi nó mút que kem. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy một niềm vui nào lớn lao đến thế. Giờ thì nó đang ngồi quanh bốn bức tường.

Tôi cũng đang ngồi quanh bốn bức tường. Ở một nơi xa lạ với một thứ ngôn ngữ xa lạ. Nơi đây, tôi lần đầu tiên nhìn thấy những con quạ. Trông chúng thật thảm thương, cứ như thể số phận của chúng là suốt đời phải đậu trên đám dây điện chằng chịt kia vậy. Ở lab, chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh vì nó là foreign language to everyone và đó là sự công bằng duy nhất mà sensei của tôi muốn thiết lập. Khi ông nói thì tôi hiểu ông nói gì nhưng khi tôi nói thì rõ ràng là ông không hiểu tôi nói gì nhưng ông vẫn khăng khăng rằng ông hiểu điều tôi muốn nói, và rằng chỉ có tôi là không hiểu điều ông muốn nói với tôi. Cả hai chúng tôi đều cô đơn trong cách diễn đạt của mình.

Buổi sáng đầu tiên, tôi thức dậy, mở cửa sổ, nhìn thấy tuyết trắng xóa, lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy tuyết. Nó giống hệt như giấc mơ hồi tôi còn bé. Thức giấc nhìn ra cửa sổ và thấy tuyết rơi. Những bông tuyết hờ hững rơi. Dường như chẳng có gì cả, ngoài một màu trắng. Hàng cây màu trắng. Cột điện màu trắng. Tòa nhà màu trắng. Những con người mặc đồ trắng. Tất cả đều hiện lên với vẻ bí hiểm và ma quái. Hệt như một câu chuyện cổ tích, hay một đám tang.

Bữa trưa, sensei kể cho chúng tôi nghe về một em bé học sinh cắt cổ bạn nó bằng một cái dao rọc giấy. Ông thản nhiên cầm cái thìa làm động tác đưa ngang qua cổ. Đột nhiên, tôi thấy máu phọt ra ở cổ ông, những giọt máu màu nâu đặc quánh như chè đậu đen mẹ tôi vẫn hay nấu vào mùa hè. Món sashimi bỗng trở nên khó nuốt. Bữa ăn tối, ngày thứ bảy, tôi ngồi cùng hai thằng bạn, một Ấn Độ, một Bangladesh. Món ăn chung duy nhất của chúng tôi là thịt gà. Thằng Ấn Độ tin rằng những con bò là linh thiêng còn thằng Bangladesh thì cho rằng những con lợn là bẩn thỉu. Tôi thèm thịt chó. Chúng nó hỏi tôi có thể ăn được thịt gì. “Tất cả”, tôi đáp, “trừ thịt người”.

Ngày hôm qua, tôi nhận được tin ông tôi mất. Ông và tôi cùng có chung một niềm vui là nuôi gà chọi và giải toán đố. Ông bị một thứ bệnh mà y học không có tên gọi, nên người ta đành xếp nó vào nhóm bệnh thần kinh. Trong khoảng hai mươi năm, trí nhớ của ông bị gặm nhấm dần. Ban đầu, khái niệm về thời gian bị thu hẹp lại. Cuối cùng, tất cả các sự kiện trong quá khứ đều được chập lại vào một thời điểm mà ông gọi là “ngày hôm qua”, dù thực tế có thể nó diễn ra cách đây rất nhiều năm. Lần cuối cùng tôi gặp ông, ông kể về một chuyến đi địa chất thời trai trẻ. Đoàn có mười tám người, ông là trưởng đoàn. Họ lạc vào một cái bản hoàn toàn không tiếp xúc với thế giới văn minh. Người trong bản giao tiếp bằng một ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với tiếng Việt. Nó giống tiếng chim hót hay tiếng chó sói hú hơn là tiếng người. Họ cũng biết dùng lửa và chế ra một số vật dụng thô sơ khác. Đoàn địa chất được họ cho ăn một bữa thịnh soạn, có rất nhiều món ăn ông không biết tên. Đặc biệt, họ có một thứ đồ uống kỳ dị đựng trong cái ống tre. Nó không phải là rượu hay bia. Nó có một cái vị rất kỳ quặc mà ngôn ngữ của chúng ta không có khả năng diễn đạt. Ông không nhớ được là mình đã uống bao nhiêu, chỉ biết khi tỉnh dậy thì thấy mình nằm dưới chân núi. Những người bạn đồng hành của ông đều biến mất. Nhiều năm sau vẫn không có tin tức gì về họ cả.

Ông tôi có chín người con, bốn con trai và năm con gái. Bố tôi là con cả và là người tỉnh táo nhất nhà. Chú hai và chú ba tôi đều mắc bệnh thần kinh từ nhỏ, cả hai đều chết đúng ngày tròn hai mươi tuổi. Chú tư là người thông minh, tài hoa nhưng từ nhỏ đã được nuông chiều nên hư hỏng. Chú lấy vợ sớm nên con gái chú bằng tuổi tôi, chính là đứa bây giờ đang ngồi tù. Vợ chú là một người đàn bà nhan sắc và lẳng lơ. Bố tôi kể rằng, năm đứa em họ tôi lên bảy, chú tư đột nhiên bỏ nhà ra đi, chẳng để lại một tin tức gì. Bốn năm sau, mẹ nó tái giá. Bố dượng của con bé là một gã xích lô, nát rượu và cục súc. Lão hay đánh đập con bé cực kỳ tàn nhẫn mỗi khi nó không mang đủ tiền về cho lão mua rượu. Cũng cần nói thêm là sau khi mẹ nó tái giá, em họ tôi phải bỏ học đi bán vé số. Bố tôi lấy vợ năm ba mươi tuổi. Tôi ra đời ba năm sau đó. Các cô của tôi thì đều lấy chồng xa, chẳng mấy khi tôi gặp họ. Thỉnh thoảng, mẹ tôi bảo “cái quần mày đang mặc là may từ mảnh vải của cô năm cho” hay “cái mũ này là của cô bảy”. Và như vậy trong hình dung của tôi, cô năm giống hệt như cái quần kẻ sọc hai màu đen và xám mà tôi mặc suốt những năm cấp hai, còn cô bảy là cái mũ màu nâu mà tôi đội cho đến tận ngày vào đại học. Tôi không bao giờ tưởng tượng được khuôn mặt họ. Ngay cả khi sau này dù đã gặp họ một vài lần, những khuôn mặt đó cũng chẳng thể nào in sâu vào trong trí nhớ của tôi. Cô năm vẫn chỉ là chiếc quần sọc, cô bảy vẫn chỉ là chiếc mũ nâu.

Bố tôi là một công chức nhà nước. Ông là người luôn giữ một niềm tin tuyệt đối vào những giá trị mà mình đã từng tôn thờ. Khi em gái tôi có bầu với thằng bồ nó trước khi cưới mấy tháng, ông đã đuổi nó ra khỏi nhà và kiên quyết không dự đám cưới. Sau này, khi thằng cháu tôi lên hai, nhờ sự tác động của ông thủ trưởng cũ, một người mà bố tôi rất kính trọng, ông mới cho nó bước chân vào nhà. Ở ngay chính giữa phòng khách nhà tôi, ông cho treo một bức ảnh rất to trong đó có hình ông được chụp với một ông thứ trưởng nào đấy mà đến giờ tôi cũng chẳng nhớ tên nhân dịp ông thứ trưởng kia đến thăm cơ quan. Tấm ảnh đen trắng là một cái gì đó rất thiêng liêng và đặc biệt đối với tuổi thơ hai anh em tôi. Ông thứ trưởng, trong bộ đồ kaki giản dị, lúc nào cũng nghiêm khắc nhìn chúng tôi. Ngay cả buổi sáng trước khi lên đường đi du học, tôi vẫn thấy ông nghiêm khắc nhìn tôi. Cái nhìn không mấy thiện cảm.

Cứ khoảng bẩy giờ sáng, sensei đánh thức cả lab dậy tập thể dục. Ông dẫn chúng tôi đi lại trong khuôn viên của trường và nói những chuyện linh tinh nhảm nhí. Những lúc như thế, thằng Ấn Độ trở nên hoạt bát một cách đáng ngờ vì bình thường nó là đứa trầm tính. Mỗi lần như thế, nó lại kể về mối tình của nó. Nàng hai mươi hai tuổi, nước da bánh mật, đôi mắt to đen, khuôn mặt thánh thiện và nụ cười mê hồn. “Cuộc sống thật đê tiện”, nó thường lẩm bẩm như thế mỗi khi bắt đầu kể về đoạn kết câu chuyện tình của nó. Nàng bị ép gả cho một gã cùng đẳng cấp trong cái giai tầng rối rắm mà mỗi khi thằng Ấn Độ mô tả, tôi mặc dù đã cố gắng tập trung hết sức vẫn không thể hình dung ra được. Nó thì trôi giạt sang cái xứ sở chết tiệt này. Nắng bắt đầu gắt, chúng tôi đi về lab. Buổi tập thể dục sáng thường kết thúc như vậy.

Sau đó, chúng tôi quay về lab. Ở lab, mỗi đứa có một cái bàn nhỏ. Trên bàn, chúng tôi bầy la liệt đủ thứ: sách vở, máy tính, dao cạo râu, bàn chải đánh răng và dầu gội đầu. Thậm chí có lần tôi còn bắt gặp trong ngăn kéo bàn của thằng Ấn Độ có mấy cái bao cao su, chả biết nó mua ở đâu, nhưng tôi biết chắc chắn nó không dùng. Nó là thằng ngoan đạo. Công việc của chúng tôi khá đơn giản, chúng tôi thường gọi đùa là trò chơi nặn đất sét. Sensei giao cho tôi năm cái lọ đựng đủ các loại chất lỏng nhầy nhầy. Tôi bắt đầu trộn chúng với nhau, ngày nào cũng vậy. Ngày nào tôi cũng trộn năm dung dịch đó và chờ đợi. Một sự chờ đợi đầy mệt mỏi và sung sướng. Dung dịch có nhiều màu. Tôi cứ thế trộn và hy vọng. Hy vọng vào sự may mắn. Hy vọng rằng đôi khi Đấng Tối Cao cũng không quên những kẻ trộn dung dịch như tôi. Tôi chờ đợi Người ban ơn. Tôi ngồi trộn dung dịch vì biết rằng mình không đơn độc. Tôi ngồi trộn dung dịch để thấy mình còn tồn tại, mình còn có ý nghĩa. Tất cả mọi người ở lab chúng tôi đều làm như vậy và được trả lương. Chúng tôi ngồi trên những cái bàn nhỏ, tất cả đều im lặng, căng thẳng, run rẩy và sợ hãi. Tất cả chúng tôi đều cố lắng nghe một tiếng gọi mà chúng tôi tin rằng nó tồn tại mặc dù chưa từng ai trong tất cả chúng tôi nghe thấy. Trong trí tưởng tượng của tôi, nó có thể giống như là tiếng gió rít từ phía bên kia cánh đồng, hoặc tiếng quạ kêu trên nóc nhà, hay tiếng máy bay lượn lờ giữa đêm khuya như những bóng ma màu trắng. Nhưng rất có thể, trên thực tế chẳng có âm thanh nào cả. Chiều tối, sensei thu hết tất cả mấy lọ. Ngày hôm sau ông lại phát một loạt lọ mới.

Ngày hôm qua, ông tôi khóc. Không có giọt nước mắt nào cả. Ông đờ đẫn nhìn vào bức tường màu trắng. Những vệt trắng nham nhở vốn là kết quả của một gã thợ nề vụng về không hiểu sao lại khiến tôi liên tưởng đến nét cọ của một tay họa sĩ siêu thực mà tôi quen ở quán cà phê. Tay này theo tôi vốn chẳng có tài cán gì, hắn chỉ là một tên bịa đặt. Những thứ hắn vẽ chả cái nào ra hồn cả. Hắn chỉ cho tôi một bức tranh tuyền màu trắng, chẳng khác gì người ta cầm một tấm vải nhúng xuống hố nước vôi, và bảo đây là bức “Gấu trắng ở Bắc cực”. Hiển nhiên là hắn chưa bao giờ đến Bắc cực cũng như chưa bao giờ nhìn thấy gấu trắng. Tôi nhìn sang một bức tranh toàn màu đen kịt và hỏi : “Thế bức này là Chó mực ở bãi tha ma à?”. Hắn bảo “Không. Đây là bức Bướm đêm”. Thế là chúng tôi cãi nhau. Hắn thì khăng khăng là hắn vẽ bướm đêm, còn tôi thì khẳng định là tôi chỉ nhìn thấy chó mực. Cuối cùng, cả tôi và hắn đều khóc, khóc vì những điều ngớ ngẩn xảy ra trong cuộc đời chúng tôi, vì những cái chúng tôi chẳng bao giờ hình dung ra được. Từ hôm ấy, tôi không bao giờ gặp lại hắn nữa. Ông tôi cầm chiếc quạt nan cũ kỹ lấy hết sức đập con ruồi trên bức tường. Tất nhiên, chả có con ruồi nào cả. “Lại trượt rồi”, ông lầm bầm và bắt đầu rấm rứt khóc. Tôi muốn dỗ dành ông nhưng không biết làm thế nào cả. Tôi chẳng nhìn thấy con ruồi nào cả. Tôi chỉ nhìn thấy nhát quạt của ông đập vào tường. Nhưng tôi không biết làm thế nào để nói cho ông hiểu được. Làm sao tôi có thể chứng minh được điều đó? Nhỡ có con ruồi thật thì sao? Tôi thấy buồn rười rượi. Tôi xấu hổ vì sự ngu dốt của mình. Vì tôi không nhìn thấy con ruồi.

Buổi tối, tôi và bạn gái đi chơi Hồ Tây. Đang đi bộ trên đường Thanh Niên, đột nhiên một gã thanh niên đầu húi cua, mặt đầy sẹo, chặn chúng tôi lại, cười nhăn nhở nói với bạn tôi: “Em xinh như một con phò”. Đoạn hắn quay sang tôi cười giễu cợt. Tôi cụp mắt xuống. Tôi không dám nhìn vào mắt hắn. Tôi kinh hãi và hiểu rằng nếu có đánh nhau chắc tôi không phải đối thủ của hắn. Tôi im lặng. Tôi im lặng không phải vì tôi là kẻ khôn ngoan như những nhà hiền triết trong sách giáo khoa mà là vì tôi không biết nói gì. Tôi chưa bao giờ lâm vào tình huống khó xử như thế này. Thực ra, về sau này tôi mới nhận thấy rằng những tình huống kỳ quặc như vậy luôn luôn xảy ra. Nó xảy ra thường xuyên đến mức nhiều lúc tôi có cảm tưởng đó là ý muốn quái gở của Thượng Đế. Cuối cùng thì mọi chuyện cũng qua, hắn bỏ đi, còn tôi xấu hổ. Suốt đoạn đường còn lại, chúng tôi không nói với nhau lời nào. Ngày hôm sau, cô ấy gọi điện nói lời chia tay sau “một đêm suy nghĩ rất kỹ”. Cô nói rằng cô không chịu đựng được ý nghĩ rằng người yêu mình là kẻ hèn nhát. Tôi chẳng nói gì. Kẻ hèn nhát không nên nói gì cả. Tôi chia tay mối tình đầu trong xyz nhã. Từ đó trở đi, tôi kinh tởm đàn bà.

Buổi chiều, gió mạnh và nắng gắt. Tôi hay cảm thấy đau đầu vào những lúc như thế. Đầu nhức như búa bổ, tôi không còn giữ được sự tỉnh táo cần thiết để nhận biết mọi thứ nữa. Thay vì trộn dung dịch màu trắng vào dung dịch màu đen, tôi lại trộn dung dịch màu xanh vào màu đỏ. Và kết quả là chả ra sao cả. Gió vẫn thổi mạnh, tai tôi ù đi vì sợ hãi. Tôi chẳng còn nghe thấy gì nữa ngoài tiếng gió. Càng cố gắng tập trung, tôi càng mất phương hướng. Tôi không còn nghĩ được điều gì nữa. Óc tôi như bị vỡ vụn thành trăm mảnh. Sensei đưa cho tôi cốc nước, tôi chẳng kịp nhìn xem nó màu gì, hình như là màu xanh. Tôi uống nhưng kết quả cũng không khá hơn. Tôi bắt đầu nghe thấy tiếng lầm bầm ở đâu đó. Một giọng nói đứt quãng, và lí nhí đến nỗi tôi lúc đầu tôi không thể phân biệt đó là giọng người lớn hay trẻ con. Cuối cùng tôi cũng nhận ra là có hai người đang nói chuyện. “Chỗ này lạnh lắm, mẹ ạ” - giọng một thằng bé khoảng năm sáu tuổi nói. “Nhưng mình đi tìm hai mươi năm nay đâu có chỗ nào tốt hơn”- người mẹ nói. Giọng bà ta trầm đục và có vẻ mệt mỏi. “Thế bố có ở đây không?” - thằng bé lại hỏi. “Mẹ không biết. Con đừng hỏi nữa, mẹ mệt lắm rồi. Mình dừng ở đây thôi. Thôi mình đi ngủ đi con.”

Từ hôm đó trở đi ngày nào tôi cũng nghe thấy tiếng hai mẹ con họ vào lúc trước khi đi ngủ. Tôi kể cho thằng Bangladesh nhưng nó không tin. Nó chả tin vào cái gì ngoài lễ ramadan và những con lợn bẩn thỉu. Ngày nào đối với nó cũng thuộc về tháng ramadan. Nó chỉ ăn vào buổi tối sau khi mặt trời lặn. Sensei nhiều lần cố nhét thức ăn vào mồm nó nhưng không được. Hai mẹ con họ nói đủ thứ chuyện trên đời. Thỉnh thoảng họ lại nhắc đến người bố giấu mặt.

Buổi tối, tôi đi dạo trong thành phố. Một thành phố đơn điệu. Không văn hóa, không lịch sử, không gì cả. Chỉ đơn giản là nơi người ta đến ở, rồi một lúc nào đấy đột nhiên họ quyết định gọi nó là thành phố. Chín giờ tối, không một bóng người. Cứ đi khoảng vài trăm mét, tôi lại thấy một công viên mini. Buổi tối chúng giống như những nghĩa địa. Tôi đi mãi và thấy mệt mỏi. Chẳng có gì đặc biệt, những ngôi nhà giống hệt nhau với những cái mái hình chóp và hàng rào bằng một loại cây nào đó mà tôi không biết tên. Tôi cứ thế đi một mình, chẳng có gì cả ngoài sự sợ hãi. Một thành phố chết. Tôi nằm trên cái ghế đá, nước mắt trào ra. Tôi nhớ đến những buổi tối ngày xưa, tôi hay ngước nhìn bầu trời đầy sao và thấy mình hạnh phúc. Giờ đây, cái niềm vui ấy cũng chẳng còn nữa. Những ngôi sao kia giờ chỉ làm tôi cảm thấy sợ hãi. Chúng đang cười nhạo tôi. Nỗi sợ hãi mơ hồ cứ thế lớn dần lên. Tôi quá đơn độc dưới bầu trời này. Tôi cứ nằm yên như thế, y như một kẻ tội đồ chờ đợi hình phạt.

Sáng sớm hôm sau, mới sáu giờ sáng, thằng Bangladesh đã đánh thức tôi dậy. Tôi lật đật chạy theo nó ra hành lang. Thân hình cao lớn của nó trong cái ánh sáng lờ mờ của buổi sáng mùa đông trông thật khủng khiếp. Thỉnh thoảng, tôi vẫn hình dung ra cảnh nó bóp cổ mình. Với cánh tay lực lưỡng đầy lông lá kia, chắc chắn tôi, cho dù cố gắng giãy giụa đến đâu, cũng không chịu đựng được quá năm phút. Đến cuối hành lang, nó chỉ ra sân trường, rồi thì thầm hỏi: “Mày có nhìn thấy gì không?”. Tôi hơi ngạc nhiên, mới sáng ra mà nó đánh thức mình dậy để nhìn sensei đang nói chuyện với một ông giáo ở lab khác ở dưới sân trường hay sao.

Tôi thờ ơ đáp: "Sensei đang nói chuyện". "Thế mày không thấy gì khác lạ à?" - nó hơi thất vọng. "Chả có gì. Ông ấy vẫn thế." "Mày nhìn quần áo ông ấy xem?" - nó lại thì thầm". "Ừ. Nó có vẻ không giống mọi ngày." "Đấy. Mày bắt đầu thông minh rồi đấy. Mọi ngày ông ấy lúc nào cũng mặc đồ trắng. Nhưng cả tuần nay tao để ý. Trước giờ tập thể dục của bọn mình, chẳng bao giờ ông ấy mặc đồ trắng. Chỉ khi nào gặp bọn mình ông ấy mới mặc đồ trắng thôi." "Thì sao?" "Chẳng sao cả. Tao chỉ thấy lạ thôi. Mà đó là một phát hiện quan trọng đấy. À mà mày đã biết chuyện gì chưa?" - nó lại chuyển sang giọng thì thầm.

Chuyện gì nữa đây? - tôi hơi bực mình. Nó đánh thức mình dậy sớm chỉ vì một chuyện hết sức vớ vẩn mà nó cho là unusual. Chúng tôi làm thí nghiệm suốt ngày chỉ mong có cái gì unusual với lại unexpected xảy ra. Nhưng rốt cục nó lại chẳng bao giờ xảy ra. Tất cả mọi thí nghiệm đều diễn ra hết sức bình thường, bình thường đến mức buồn tẻ, bình thường đến mức chúng tôi chẳng cần nhìn cũng biết kết quả nó phải thế, không thể khác được. Nhưng cuộc sống của chúng tôi thì ngược lại. Chẳng có một quy luật nào hết. Tất cả đều diễn ra hết sức lộn xộn, lộn xộn một cách bất bình thường. “Thằng Ấn Độ sắp lấy vợ”- nó vẫn thì thầm.

Đột nhiên, tôi thấy rùng mình. Tôi nhớ có lần thằng Ấn Độ bảo với tôi rằng có đến tám mươi phần trăm dân Ấn cưới nhau theo kiểu arranged marriage. Nó cũng nằm trong cái tám mươi phần trăm của cái đất nước gần một tỷ dân ấy. Nó chẳng có sự lựa chọn nào hết. Cô dâu của nó có đẳng cấp cao hơn nó một bậc, một intercaste marriage theo cách gọi của nó. Điều duy nhất mà nó biết về cô dâu tương lai là một tấm ảnh. Tôi đã từng xem tấm ảnh ấy một lần. Cô gái trong ảnh khá dễ thương trong bộ quần áo cổ truyền Ấn Độ. Có lẽ khi chụp tấm hình này, cô không nghĩ rằng một ngày nào đó tấm ảnh sẽ là mối liên hệ duy nhất với vị hôn phu tương lai của cô. Tôi hỏi thằng Ấn Độ:

- Thế mày được chọn cái gì ?

- Voi - nó lầu bầu. - Tao được chọn con voi dành cho lễ cưới. Tao sẽ cưỡi lên con voi đấy trong ngày cưới. Dù sao, tao cũng có sự lựa chọn mặc dù nó không quan trọng lắm.

Ngay từ sáng sớm, bố mẹ thằng Ấn Độ đã đến ngồi chờ ở phòng tiếp tân. Họ đến để đưa nó về Ấn Độ làm đám cưới. Nó không chịu về. Họ phải bay một quãng đường dài để đến đây đưa nó về quê lấy vợ. Dù sao, nó cũng không thể trốn tránh trách nhiệm. Nó có trách nhiệm duy trì nòi giống. Nó có trách nhiệm cưới cô gái mà Thượng Đế dành cho nó. Đấy là truyền thống mà nó không thể phá vỡ. Nó chẳng có sự lựa chọn nào cả vì nếu có chắc chắn nó sẽ không chọn sinh ra làm người Ấn Độ. Bố mẹ nó trông nhỏ bé và nhẫn xyz so với căn phòng tiếp tân quá rộng và quá sang trọng. Họ có nước da ngăm đen rất đặc trưng. Ông chồng để ria mép; cùng với cái trán hói, nó càng làm ông thêm nhỏ bé và nhẫn xyz. Bà vợ đội khăn trùm gần kín mặt nhưng nó vẫn không che được những nếp nhăn mà chỉ cần nhìn thoáng qua người ta đã thấy nó tồn tại mặc dù có thể thị giác không ghi nhận được thông tin về những nếp nhăn đó. Thằng Ấn Độ buồn bã đi theo bố mẹ nó ra khỏi trường. Thỉnh thoảng nó ngoái lại nhìn chúng tôi. Không hiểu sao tôi thấy đôi mắt thằng Ấn Độ buồn ngơ ngác giống hệt đôi mắt con chó cún của tôi ngày trước lúc nó sắp chết. Một tháng sau, chúng tôi nhận được tin nó mất. Một cái chết kỳ lạ.

Thằng Bangladesh ngày càng ăn ít và tất nhiên là nó chỉ ăn vào buổi tối vì những ngày lễ ramadan chẳng bao giờ kết thúc. Nhưng điều kỳ lạ nó không giảm cân nào. Nó giấu thức ăn thừa dưới gầm giường cho đàn chuột. Khoảng nửa đêm, bọn chuột bắt đầu rúc rích mò vào phòng. Chúng bò lổm ngổm trên sàn nhà, leo lên cả bàn học. Mà không chỉ có thế, chúng vừa chạy vừa kêu rinh rích đầy khoái trá. Tôi căm ghét những con chuột màu xám với đôi mắt thao láo; chúng chẳng bao giờ biết xấu hổ. Thằng Bangladesh, ngược lại, rất quý đàn chuột. Nó thường túm cổ lấy con to nhất, vuốt ve một cách rất trìu mến khiến con chuột lim dim vì khoái cảm rồi đột nhiên nó bóp mạnh một cái. Con chuột bị đau kêu oai oái và cuối cùng không chịu đựng được con chuột quay đầu lại cắn một nhát vào tay khiến thằng Bangladesh phải buông tay ra. Ngày nào thằng Bangladesh và con chuột cũng chơi trò đấy. Điều kỳ lạ là con chuột mặc dù rất đau nhưng vẫn vui vẻ tham gia vào trò chơi cùng thằng Bangladesh, cứ như thể giữa chúng có một sự thỏa thuận ngấm ngầm trong trò chơi bệnh hoạn đó. Đàn chuột ngày càng đông, thức ăn thừa của thằng Bangladesh dần tỏ ra không đủ đáp ứng cho cái thói phàm ăn và sinh sản nhanh khủng khiếp của những con chuột, mặc dù thằng Bangladesh đã cố gắng nhịn ăn đến mức tối đa. Thậm chí, nó còn mang cả lọ mứt mà mẹ nó gửi cho nó ăn cả năm để cho đàn chuột ăn trong một tuần. Rồi nó bắt đầu đi xin cả thức ăn thừa của những đứa phòng bên cạnh nhưng dường như nỗ lực của nó chả thấm vào đâu. Cuối cùng thằng Bangladesh quyết định giảm số lượng đàn chuột. Đầu tiên là con chuột đầu đàn. Tối hôm đó, thằng Bangladesh vẫn chơi trò chơi thường lệ với con chuột rồi đột nhiên nó bóp mạnh vào mình con chuột. Con chuột quay đầu lại cố gắng cắn vào tay thằng Bangladesh nhưng lần này nó không buông tay. Bàn tay hộ pháp của nó càng tóm chặt con chuột hơn. Con chuột kêu la thảm thiết. Nó không ngờ lại có kết cục này. Trò chơi của ngày hôm qua cuối cùng cũng kết thúc. Con chuột biến thành một đống bầy nhầy trong tay thằng Bangladesh. Trong bóng tối, tôi vẫn nhìn thấy rõ trên khuôn mặt thằng Bangladesh hiện ra một nụ cười bí hiểm.

Từ hôm đó trở đi, ngày nào thằng Bangladesh cũng giết vài con chuột. Đàn chuột ngày càng trở nên khôn ngoan nhưng thằng Bangladesh còn thông minh hơn. Ngày nào nó cũng tóm được vài con chuột. Những con chuột còn lại phần vì nhu cầu thức ăn, phần vì cái ảo tưởng rằng với kinh nghiệm của ngày hôm qua chúng có thể dễ dàng chạy thoát khỏi bàn tay của thằng Bangladesh nên vẫn mò lên phòng vào ban đêm. Số lượng chuột giảm rất nhanh. Đêm hôm qua, nếu như tôi đếm chính xác thì chỉ còn mười hai con chuột. Thằng Bangladesh thì càng ngày càng say mê với trò chơi giết chuột nhưng bây giờ mỗi ngày nó chỉ giết một con vì đàn chuột giờ còn rất ít. Tôi để ý thấy khuôn mặt nó ngời sáng lên mỗi khi nhìn thấy con chuột giãy giụa trong lòng bàn tay, ngời sáng đến mức trong bóng đêm tôi vẫn có thể nhìn thấy cái vẻ long lanh rất khó tả trên đôi mắt thằng Bangladesh.

Chiều hôm qua, thằng Bangladesh nhận được một tin đặc biệt. Buổi tối, nó không buồn ăn cơm. Dường như có cái gì bất ổn trong tâm trạng của nó. Cuối cùng nó nói với tôi:

- Tao phải về Dhaka làm giáo sư.

- Tuyệt vời. - Tôi nói. - Mày có thể làm cái mà mày thích.

- Tao cũng chẳng biết nữa. - Nó buồn bã lắc đầu. - Từ trước đến giờ, tao chưa bao giờ làm cái gì độc lập cả. Tao sợ sự đơn độc. Nhất là trong nghiên cứu.

Tôi không nói gì. Tôi cũng thế. Tôi sợ nỗi cô đơn khi phải đi một mình trên con đường mà mình không biết phương hướng. Thằng Bangladesh đột nhiên nói:

- Mày có muốn đi cùng tao không?

Tôi không trả lời. Im lặng kéo dài suốt buổi tối. Chúng tôi ngồi theo đuổi những ý nghĩ riêng. Chúng tôi nghĩ về tương lai trong nỗi khiếp sợ. Cuộc sống rồi sẽ ra sao đây?

Ngày hôm qua, tôi đi đưa đám một người bạn thân thời phổ thông; anh mất ở bệnh viện tâm thần ở Trâu Quỳ. Một bệnh nhân tâm thần cùng phòng đã bóp cổ anh cho đến chết; sau đó, hắn dùng một con dao, loại vẫn dùng để rọc giấy, tự cắt cổ mình. Cho đến nay, anh vẫn là người tôi kính trọng nhất vì nghị lực và ý chí. Năm anh lên sáu, bố anh bỏ nhà theo một người đàn bà khác. Anh và em gái sống cùng mẹ và ông ngoại, một ông già mắc bệnh hoang tưởng, hậu quả của những cơn sốt rét rừng hồi còn ở chiến trường. Mẹ anh phải làm rất nhiều việc như gánh nước thuê, bán hàng rong, vé số... để nuôi cả gia đình. Hàng ngày, anh học một buổi còn một buổi phải đi bán kem để có tiền mua sách vở và đóng học phí. Anh luôn là người đứng đầu trong mọi kỳ thi. Hết năm thứ hai đại học, anh được học bổng sang Nhật học. Cùng năm đó, mẹ anh bị tai nạn giao thông, phải cưa hai chân. Đứa em gái anh, có lẽ vì quá mệt mỏi trước cuộc sống gia đình, đã bỏ nhà đi bụi đời. Mấy năm sau, người ta tìm thấy xác nó trong một ngôi nhà hoang ở ngoại thành. Cái chết của nó cho đến nay vẫn chưa rõ nguyên nhân. Học xong tiến sĩ, bạn tôi về nước và một thời gian sau đó thì mắc bệnh thần kinh. Sau đám tang, mẹ anh đưa cho tôi một cuốn vở nhỏ, loại vở có dòng kẻ ô ly vẫn dùng cho học sinh cấp một; bà nói rằng đây là thứ mà bệnh viện họ tìm thấy ở dưới gầm giường anh. Bà muốn nhờ tôi đọc hộ vì bà không biết chữ. Tôi mở cuốn vở ra, đó là nhật ký anh viết trong những ngày ở Trâu Quỳ. Nhật ký bắt đầu bằng câu: “Ngày hôm qua,...”. 


 
@Nguồn: eVăn
 

Giới thiệu về tác giả
 
Nguyễn Nguyên Phước sinh năm 1976 tại Hà Nội. Tốt nghiệp Đại học (chuyên ngành Điện tử-Viễn thông) và Cao học (chuyên ngành Khoa học Vật liệu) tại Đại học Bách Khoa Hà Nội. Hiện làm Nghiên cứu sinh (chuyên ngành Khoa học Vật liệu) tại Học viện Công nghệ Toyota (Toyota Technological Institute), Nagoya, Nhật Bản.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-18 22:23:43Ct.Ly>
Ôxca và  Êric (Oscar et Erik )
 
Marcel Aymé
 
Dịch giả: Phùng văn Tửu


Ba trăm năm trước đây, có một gia đình họa sĩ dòng họ Ôngiecxơn sống ở xứ Ôôclan và chỉ vẽ các kiệt tác. Tất cả đều trứ danh và được tôn kính, danh tiếng của không vượt qua biên giới chẳng qua chỉ vì vương quốc Ôôclan ở hẻo lánh tận miền cực Bắc, không giao thiệp với nước nào khác. Các tàu bè của nó chỉ ra khơi để đánh cá hoặc săn bắn, và tất cả những chiếc nào tìm đường đi về phương Nam đều va phải những dãy đá ngầm vỡ tan.
Ông già Ôngiecxơn, họa sĩ đầu tiên của dòng họ, có mười một con gái và bảy con trai, tất cả đều có năng khiếu về hội họa. Mười tám anh em Ôngiecxơn đó đều làm nên sự nghiệp, được hưởng ân bổng, được quý chuộng, được thưởng huân chương, nhưng chẳng ai có con cái. Ông già phiền muộn khi thấy cái dòng họ mà ông tốn bao công sức xây dựng nên đương tàn lụi đi như thế, nên năm tám mươi lăm tuổi cười con gái của một người săn gấu và sinh được một cậu con trai đặt tên là Hanx. Sau đó, ông chết thanh thản.
Được mười tám anh chị dạy bảo cho, Hanx trở thành một họa sĩ phong cảnh tuyệt diệu. Chàng vẽ thông, bạch dương, đồng cỏ, tuyết, hồ, thác nước, và vẽ chân thật đến mức Chúa tạo những cảnh vật ấy trong tự nhiên như thế nào thì chúng cũng xuất hiện trên tranh làm vậy. Đứng trước những bức tranh vẽ phong cảnh tuyết của chàng, chẳng ai là không thấy lạnh bàn chân. Thậm chí có chú gấu non đứng trước một trong những bức tranh của chàng thể hiện cây thông, đã tưởng lầm đến nỗi định leo lên cành.
Hanx Ôngiecxơn lấy vợ và có hai con trai. Êric, anh con cả, chẳng bộc lộ một chút năng khiếu nghệ thuật nào. Chàng chỉ mơ săn gấu, hải cẩu, cá voi và rất mê đi biển. Vì vậy, chàng làm cho cả nhà, nhất là cha chàng thất vọng, bị cha coi là đồ gián mối, đồ đầu ngựa biển.Trái lại, Ôxca, kém anh một tuổi, lại tỏ ra ngay từ thời thơ ấu là một nghệ sĩ phi thường, có sự cảm thụ và bàn tay tài nghệ độc nhất vô song. Mới mười hai tuổi, chú đã vẽ những tranh phong cảnh làm cho tất cả họ Ôngiecxơn phải ghen tị. Những cây thông và cây bạch dương của chú còn chân thật hơn của cha và đã được trả cao giá kinh khủng.
Tuy có những sở thích hết sức trái ngược , hai anh em chẳng vì thế mà kém thương mến nhau. Những lúc không đi đánh cá hoặc săn bắn, Êric chẳng rời xưởng vẽ của em và Ôxca chỉ cảm thấy hoàn toàn sung sướng khi ở bên anh. Hai anh em gắn bó với nhau đến mức chẳng có niềm vui nỗi buồn nào của người này mà người kia không cảm thấy như chính bản thân mình.
Đến mười tám tuổi, Êric đã là một thủy thủ cừ khôi và tham gia vào tất cả những chuyến ra khơi xa đánh cá qui mô. Niềm mơ ước của chàng là vượt qua những dãy đá ngầm chúng sẽ mở ra cho chàng các vùng biển phương Nam. Chàng thường đem chuyện đó ra nói với em và chú em lo sợ cho chàng khi nghĩ đến những nỗi gian nguy của một cuộc hành trình như thế. Tuy mới mười bảy tuổi, Ôxca đã trở thành một bậc thầy. Cha chàng tự hào tuyên bố là chẳng còn gì để dạy chàng nữa. Nhưng bỗng nhiên nhiệt tình đối với hội họa ở nhà nghệ sĩ bậc thầy trẻ tuổi xem ra không còn được như xưa. Đáng lẽ vẽ những tranh phong cảnh tuyệt vời, chàng lại bằng lòng với các bức phác thảo nguệch ngoạc trên những tờ giấy rời vẽ xong là xé đi ngay. Các họa sĩ Ôngiecxơn còn lại mười lăm người hết sức lo lắng liền họp nhau lại để thăm dò chàng. Thay mặt cho tất cả, cha chàng hỏi:
- Con trai yêu quí của cha, con đã ngán hội họa rồi sao?
- Ồ! Không, thưa cha, con yêu nó hơn bất cứ bao giờ.
- Thế thì hay lắm. Cha cứ nghĩ hay cái thằng Êric to thộn kia có lúc nào đấy  đã làm cho con không thiết gì vẽ nữa? A!lạy chúa, nếu cha mà biết!
Ôxca tức giận thấy người ta lại có thể ngờ vực anh mình như thế và chàng phân trần là không bao giờ lại vẽ tốt như khi có mặt ông anh.
-Thế thì? Hẳn là con mơ tưởng một mối tình nào đấy?
-Xin cha thứ lỗi cho con, Ôxca đáp và cúi gằm mặt xuống. Và cả các cô các bác nữa, cũng xin thứ lỗi cho con. Nhưng chúng ta là nghệ sĩ với nhau cả mà. Vậy xin thưa là con thấy nhiều phụ nữ, nhưng chưa có ả nào làm cho con rung động.
Cả mười lăm Ôngiecxơn cười ầm lên và lớn tiếng trao đổi những lời bông đùa nhảm nhí vốn là truyền thống của các họa sĩ ở Ôôclan.
- Hãy trở lại câu chuyện của chúng ta, người cha bảo. Nói đi con, Ôxca, và hãy cho gia đình biết còn thiếu thốn cái gì cho sự thư thái của con hay không. Và nếu con có điều chi ước vọng, con đừng giấu giếm gia đình.
- Vâng, thưa cha, con xin cha để cho con sử dụng căn nhà của cha trên miền núi Rơhang trong một năm.Con muốn lui về sống biệt lập tại đấy. Con nghĩ rằng con sẽ làm việc tốt hơn ở nơi heo hút đó, nhất là nếu cha cho phép anh con đến ở cùng với con.
Cha chàng vui lòng chấp thuận và thế là ngay hôm sau, Ôxca và Êric ngồi xe trượt tuyết lên miền núi Rơhang. Suốt trong năm ấy, gia đình Ôngiecxơn nhắc nhiều đến những người vắng mặt, và nhất là đến Ôxca."Rồi đấy cả nhà xem, cha chàng bảo, rồi đấy cả nhà xem, nó sẽ mang về những điều kỳ diệu. Tôi tin chắc là nó đương ôm ấp một ý tưởng ở trong đầu". Một năm sau, đúng vào ngày các con ông ra đi, ông cũng lên đường và sau cuộc hành trình kéo dài một tuần lễ, ông đến căn nhà của ông trên miền núi Rơhang. Ôxca và Êric nhìn thấy cha từ xa, đã đợi sẵn ở ngưỡng cửa, và theo phong tục cổ truyền, một người nâng chiếc áo mặc trong nhà lót bằng da chó sói, còn người kia bưng một khay phổi hải cẩu hơi bốc nghi ngút. Nhưng người cha hầu như không kịp để thời giờ ăn món phổi, vì ông còn vội đi thưởng thức các tranh phong cảnh của Ôxca.
Bước vào trong xưởng vẽ, thoạt tiên ông đứng lặng người đi vì khủng khiếp. Trên tất cả các bức tranh trải ra những vật có hình thù phi lý, kỳ quái, tô màu xanh lá cây như muốn nói rằng đấy là loài thực vật. Một số các quái vật ấy được cấu tạo bằng một tập hợp những tai gấu khổng lồ, màu xanh lục, lởm chởm những gai. Một số khác giống như những cây nến và những giá nến có nhiều nhánh. Trông đỡ chướng hơn, mặc dầu cũng phi lý, có lẽ đó là tranh vẽ những cây nến có vẩy trông như cao vút, trên ngọn nở ra thành một chùm lá, mỗi lá dài ít nhất một sải tay.
- Những vật ghê tởm gì thế kia? Ông bố rít lên.
- Dạ, thưa cha, Ôxca đáp, những cái cây đấy ạ.
- Sao? Những cái cây, hử?
- Thực tình, con vẫn e ngại cái lúc phải đưa cha xem tranh của con và con hiểu rằng nó sẽ làm cha ngạc nhiên đôi chút. Nhưng bây giờ tự nhiên hiện ra trước mắt con như thế đấy và cả cha và con đều chẳng làm sao khác được.
- Cái đó sau sẽ hay! Thế ra chính là để dấn thân vào những trò đồi bại này mà anh đã muốn rút vào sống ở trong núi phải không? Xin anh trở về nhà cho tôi nhờ. Còn anh, Êric, thì lại là chuyện khác!
Một tuần lễ sau, hai chàng thanh niên cùng với cha về đến nhà. Mười lăm họa sĩ Ôngiecxơn được mời xem tác phẩm mới của Ôxca. Hai trong số đó hoảng hồn lăn đùng ra chết còn những người khách nhất trí là phải thi hành những biện pháp kiên quyết. Đối với Êric bị nghi ngờ là làm hư hỏng thị hiếu của em trai, người ta quyết định để chàng đi xa trong hai năm. Chàng thanh niên trang bị một con tàu và dự tính vượt dãy đá ngầm để thám hiểm nhựng vùng biển phía bên kia. Trên bến tàu, sau những lời từ biệt âu yếm hòa lẫn những giọt lệ của mình với nước mắt của em trai, Êric bảo em:
- Chuyến này chắc anh sẽ vắng nhà nhiều năm ròng rã, nhưng chú cứ vững tin và đừng bao giờ quên rằng cái đích cuộc hành trình của anh là trở về với chú.
Đối với Ôxca, gia đình Ôngiecxơn quyết định giam chàng trong xưởng vẽ cho tới khi nào chàng tìm lại được cái thú vẽ đứng đắn. Chàng chấp nhận những quyết định ấy chẳng hề cãi lại, nhưng bức tranh phong cảnh đầu tiên chàng thực hiện lại là một bụi cây tai gấu, và thứ hai là một bức phối cảnh những giá cắm nến trên nền cát. Chẳng những không quay trở về cách nhìn lành mạnh hơn đối với tự nhiên, mà càng ngày chàng càng dấn sâu thêm vào cái phi lý, và căn bệnh dường như vô phương cứu chữa.
- Này, một hôm cha chàng bảo, ít ra con cũng phải hiểu rằng những bức tranh của con là một sự xúc phạm đến hội họa. Người ta không có quyền vẽ những cái gì mắt không nhìn thấy.
- Nhưng, Ôxca đáp, nếu Chúa trước kia chỉ sáng tạo ra những cái Chúa nhìn thấy, thì Chúa đã chẳng bao giờ sáng tạo được gì.
- A! Con chỉ còn thiếu có nước triết lý nữa thôi! Khổ thân con tôi, đấy là xưa nay trước mắt con chẳng có gì khác ngoài những tấm gương sáng! Ôxca, thế khi con nhìn thấy cha vẽ một cây bạch dương, một cây thông…Xét cho cùng, con nghĩ gì về tranh của cha?
- Xin cha lượng thứ cho con.
- Không sao, con cứ nói với cha thẳng thắn đi.
- Vâng, thẳng thắn mà nói, con thấy nó đáng đem quẳng vào lửa.
Hanx Ôngiecxơn giữ được bình tĩnh, nhưng mấy hôm sau, lấy cớ con trai dùng tốn quá nhiều củi để sưởi, ông tống cổ chàng ra khỏi nhà, một xu cũng không cho. Với ít tiền có trong người, Ôxca thuê một túp lều ở ngoài cảng và dọn đến ở đấy với hộp thuốc vẽ. Từ đó, chàng bắt đầu một cuộc sống khốn khổ. Để kiếm kế sinh nhai, chàng làm công việc bốc dỡ hàng trên các tàu và những lúc rảnh rang tiếp tục vẽ các tai gấu, các giá cắm nến và các chổi lông cán dài.
Chẳng những tranh của chàng không bán được mà còn làm trò cười cho thiên hạ. Tính chất phi lý trong tranh của chàng thật là quá lắm. Tình trạng khốn đốn năm này qua năm khác càng trầm trọng thêm. Người ta gọi chàng là Ôxca Điên. Trẻ con nhổ nước bọt vào lưng chàng, các cụ già ném đá vào chàng và các cô gái ngoài bến cảng làm dấu thánh giá khi chàng đi qua.

Một hôm vào ngày muời bốn tháng bảy, tiếng đồn lan truyền khắp bến cảng và thành phố. Người gác vọng lâu vừa cho biết là một chiếc tàu có nhiều boong, mũi tàu vàng rực, cánh buồm đỏ thắm đương vào bến. Chưa bao giờ thấy một chiếc tàu như thế ở Ôôclan. Các nhà chức trách của thành phố ra đón được biết rằng đó là chiếc tàu của Êric trở về sau mười năm xa vắng đi vòng quanh thế giới. Nghe tin ấy, gia đình Ôngiecxơn lập tức rẽ đám đông đến tận chỗ tàu cập bến. Mặc một chiếc quần cộc bằng xa tanh lam, một cái áo thêu kim tuyến và đội chiếc mũ ba sừng, Êric đặt chân lên bờ ngay trước mặt cả nhà Ôngiecxơn và chau mày:
- Con không thấy Ôxca em con đâu- chàng nói với cha đương tiến đến ôm hôn chàng. Ôxca đâu?
- Cha không rõ- cha chàng đỏ mặt đáp. Cha và em con giận nhau.
Trong khi đó, một người mặc quần áo rách như xơ mướp mặt mày hốc hác, từ trong đám đông cố lách ra được.
- Êric- người ấy nói- em là Ôxca em trai anh đây.
Êric vừa ôm ghì lấy em vừa khóc, và khi đã phần nào dịu cơn xúc động, chàng nghiêm nét mặt quay về phía các vị Ôngiecxơn:
- Các cố già ơi, em tôi mà chưa chết vì đói khát cùng cực thì cũng chẳng phải công lao của các người đâu.
- Biết làm thế nào, các vị Ôngiecxơn nói, chỉ cần hắn vẽ cho đứng đắn. Chúng tao đã trao vào tay hắn một nghể nghiệp vững vàng mà hắn lại cứ khăng khăng vẽ những tranh phong cảnh phi lý và lố bịch.
- Thôi im đi các cố già ơi, và nên nhớ là chẳng có họa sĩ nào vĩ đại hơn Ôxca đâu.
Các cố già bắt đầu cười khẩy một cách độc ác. Êric liền quay về phía các thủy thủ đương đứng ở dưới táu, ra lệnh:
- Các cậu mang những cây xương rồng, chà là, chuối, chuối dẻ quạt, thốt nốt, xương rồng lông lên đây.


[/align]Thế là, trước sự kinh ngạc của mọi người, các thủy thủ đem đặt trên bến những cái cây trồng trong thùng gỗ, đó là những mẫu cây giống hệt những cây Ôxca vẽ. Các cố già trợn tròn xoe mắt và có nhiều cố òa lên khóc vì giận dữ và bực mình. Quần chúng quỳ sụp xuống và xin Ôxca tha lỗi vì đã gọi chàng là Ôxca Điên. Chỉ hôm trước hôm sau, tranh của các cố già Ôngiecxơn mất giá trị hoàn toàn. Những người có khiếu thẩm mỹ chẳng thích gì ngoải những cây xương rồng và những cây ngoại lai khác. Hai anh em cho xây một ngôi nhà rất đẹp để cùng ở với nhau. Họ lập gia đình, và mặc dầu ai nấy đã có vợ, họ vẫn tiếp tục thương yêu nhau thắm thiết. Ôxca vẽ những cái cây càng ngày càng kỳ lạ hơn, những cái cây chưa ai biết đến và có lẽ chẳng tồn tại ở bất cứ nơi nào.
0
Tâm trạng khi điên  của tác giả Nguyễn Nguyên Phước

Đã mang vào thư viện

Cảm ơn Marcel nhiều nhé

Chúc vui
0