XIV.
Mặt trời vừa ở ngọn cây nhòm xuống, như muốn cười với nhân gian. Trên đường thỉnh thoảng đã có từng lũ học trò, lẻ tẻ kéo về. Lúc ấy, bọn Vân Hạc mới tới trước cửa trường thi.
Vì không ai ngờ Đốc Cung có thể bị "ra bảng còn" cho nên cả bọn xăm xăm tới dưới bảng lớn.
Kỳ này chỉ có một bảng "yết tên" treo ở cạnh cửa giáp. Tuy là kỳ cuối cùng, nhưng số học trò "được vào" cũng còn đến hơn trăm người. Thoạt coi đầu bảng, thấy tên Đoàn Bằng, ai nầy đều vỗ tay reo. Cách vài dòng nữa, đến tên Vân Hạc. Rồi cuối bảng, thì tên Tiêm Hồng. Riêng tên Đốc Cung, tìm đi hâm lại mấy lần không thấy. Bấy giờ Đốc Cung mới càng chột dạ. Cả bọn đều tỏ ra vẻ ái ngại. Đốc Cung nói bằng giọng liều:
- Có lẽ họ cho mình ra bảng con thật chắc!
Đoàn Bằng nhất định không tin:
Chẳng có lý nào như thế Vân Hạc cố trêu Đốc Cung:
- Lý nào cái đó? Hễ viết vô ý một tí, thì được nêu tên bảng con, chứ có khó gì?
Rồi đó, chẳng ai bảo ai, cả bọn đều đi đến cạnh bảng con.
Cái bảng mới xấu làm sao! Nó là một mảnh cót cũ, quét vôi nhơm nhếch như một tấm mái nhà mồ, bề ngang chừng hơn ba gang, bề dọc độ gần ba thước.
Người ta treo nó trong cái nhà bảng lụp xụp, mặt bảng chỉ độ ngang với mặt người.
Nhác trông trên bảng, Vân Hạc liền kêu giật giọng.
Thôi chết' Có tên anh Cung thật rồi. ' Mọi người ngơ ngác nhìn theo. Trong bảng có chừng mười mấy tên người. Người thì phạm húy, người thì "khiếm đài", người thì viết không đủ quyển. . . mỗi người môi tội khác nhau. Tên của Đốc Cung liệt ở giữa bảng, dưới có bốn chữ "cổ văn khiếm ty" viết nhỏ theo lối chú cước, đối với bốn chữ "HAø Nội, Trúc Lâm".
Tất cả bốn người sắc mặt đều thấy tái mét. Vân Hạc sẽ hỏi Đốc Cung:
- Chắc là trong quyển của anh có chỗ dùng phải những chữ trùng với tên lăng, tên điện của nhà vua mày anh không biết.
Đoàn Bằng trả lời:
- Không có! Sáng nay tên đã xem đi xem lại bản giáp của bác ấy rồi. Chẳng có chỗ nào khiếm ty.
Vân Hạc vẫn ngó Đốc Cung:
Nhưng mà bản giáp của anh có đúng như trong quyển thi hay không?
Đốc Cung đáp bằng giọng cả quyết:
Đúng lắm. Đúng từ những chỗ "đồ di câu cải" trở đi. Có đều trong quyển viết chữ chân phương, bản giáp thì hơi đá thảo một chút.
Tiên Hồng nói xen:
Nếu vậy, thì bác phải làm ngay giấy khiếu oan, đưa vào trong trường, để xin quan trường xét lại.
Đốc Cung ra vẻ tự phụ:
Khiếu làm cái gì? Hỏng khoa này lại thi khoa sau, chẳng tội gì mà cày cục?
Đoàn Bằng gạt đi:
- Bác nói tuy vẫn có lý, nhưng học trò đi thi mà phải nêu ra bảng con, cũng là một sự mang tiếng, có khi còn để lụy cho các quan huấn giáo hạt mình nữa chứ! Bởi vậy. tôi tưởng bác nên khiếu oan, để rửa cái tai tiếng kia.
- Khiếu oan là phải. Nhưng cũng hãy nên coi lại bản giáp lần nữa cho thật cẩn thận xem rằng có đích là mình bị oan hay không.
Tiêm Hồng khen phải. Lập tức cả bọn kéo về nhà trọ.
Bấy giờ ở các đường phố, học trò đã đương nhao nháo kháo nhau về chuyện Đốc Cung phải ra bảng con.
Mỗi khi gặp người quen biết hỏi thăm, Đốc Cung tưởng mỗi nhời nói của họ là một mũi giáo đâm vào ruột mình. Nhưng chàng cũng chỉ đáp lại bằng một nụ cười, vì không biết trả lời thế nào cho phải.
Tới nhà, Đoàn Bằng giục luôn Đốc Cung lấy ngay bản giáp của chàng đưa cho mình coi. Cả bọn xúm lại trên mảnh giấy, giở suốt từ đầu đến cuối, chẳng thấy .
"khiếm ty" chỗ nào. Sau cùng đến lượt Vân Hạc. Coi một lần trước cũng không thấy gì, nhưng còn hồ nghí, chàng lại coi thêm lần nữa. Khi giở đến tờ thứ tư, Vân Hạc chỉ tay vào một dòng chữ và nói bằng một giọng kình ngạc:
- Còn oan gì nữa, chẳng "khiếm ty" thì cái gì đây?
Mọi người đều nhìn theo chỗ Vân Hạc đã chỉ, thì thấy có mấy chữ rằng:
"Tam bách niên xã tắc chi trường, ninh phi lại ư thử tai".
Lúc ấy ai nấy thất sắc, Đốc Cung vỗ tay xuống phản và nói hai tiếng vắn cộc:
- Con chó' Rồi chàng lại thuần vẻ mặt và cười:
- Bốn người tìm mãi từ sáng đến giờ mới thấy, thế mà trong lúc chấm văn nhanh như ăn cướp, quan trường cũng bới ra được, thật là thánh quá. Hỏng thì hỏng, tôi cũng bái phục cái tài xoi mói của các ngài ấy.
Thêm Hồng ngắt lời: ~ Không phải là các quan trường có ý bới móc. Bởi tại mệnh lệnh nhà vau giao cho như vậy, nếu không làm hết chức vụ, tất nhiên tội sẽ đến thân. Ngày xưa, biết bao nhiêu ông khảo quan; chỉ vì chấm văn sơ xuất mà bị phạt bổng, giáng cấp, có ông còn bì cách chức nữa kia!
Đoàn Bằng an ủi Đốc Cung:
- Thôi, bác cũng đừng phàn nàn. Chúng ta còn đương niên thiếu lực cường, tiền trình còn dài, chẳng đỗ khoa này thì đỗ khoa khác. Miễn là bác đừng ngã lòng.
Đốc Cung vẫn ngông:
- Tôi chẳng ngã lòng chút nào. Lương Hiệu nhà Tống tám mươi hai tuổi còn thi và còn đỗ được trạng nguyên, nay tối mới hai mốt tuổi, chưa đỗ cũng chưa là muộn. Chỉ hiềm bản triều không lấy trạng nguyên mà vân Hạc cố ý trêu ghẹo:
Tôi cũng chắc anh phải đỗ, nếu mà trời cho học lực của anh được bằng người ta.
Dốc Cung cũng trả miếng bàng giọng bông đùa:
- Vậy còn anh nữa? Không biết năm nay học lực của anh đã bằng người ta hay chưa?
Vân Hạc chưa kịp trả lời, ông chủ nhà trọ vừa ở nhà dưới đi lên và nói lễ phép:
- Vì bận sai bảo chúng nó làm mấy món ăn, cho nên từ nãy đến giờ, tôi chưa kịp hỏi chuyện các ngài.
Thế nào? Bốn ngài được "vào" cả chứ?' Đốc Cung chỉ vào anh em Vân Hạc và đáp:
- Cả ba ông này đều "vào", chỉ có một mình tôi hỏng. Dúng như lời ông nói lúc sáng ngày, tôi bị nêu ra bảng con thật!
ông chủ nhà trọ đường định tìm câu an ủi Đốc Cung, nhưng chưa tìm được, ngoài cổng bỗng có tiếng người là lạ:
- Bùi tiên sinh vẫn còn ở đây đấy chứ?
Đốc Cung lầm bầm với Vân Hạc:
- Thằng nào mà hỏi đến vậy. Chắc nó tưởng mình bị hỏng, đã xách khăn gói cút rồi.
Rồi chàng nói chõ ra cổng:
- Tiên sinh còn đây. Ai muốn hỏi gì thì vào trong này.
ông chủ nhà trọ lật đật. chạy ra đón khách.
Có phải ai đâu Cậu Trần Đức Chinh hôm nọ.
Giữa lúc Đoàn Bằng, Tiêm Hồng cùng ngẩng lên nhôm, Đức Chinh đã ở ngoài sân tiến vào với một dáng điệu bạo dạn, khác hẳn cái bộ rụt rè khúm núm trong lúc hắn đi thuê người làm văn.
Cả bọn cùng đứng dậy chào.
Sau khi Đốc Cung đã lần lượt nói tên người nọ với người kia, Đoàn bằng mời đức Chinh cùng ngồi vào chỗ mọi người đương ngồi. Vân Hạc sẽ hỏi Đức Chinh:
- Cậu có được ,'vào" hay không?
Đức Chinh đáp bằng vẻ mặt sung sướng:
Không, tôi bị hỏng.
Rồi hắn nhìn sang Đốc Cung:
- Chết chửa? Sao ở bảng con tôi lại thấy có tên ông?
Đốc Cung cười nhạt: ' - Viết văn không cẩn thận, thì phải nêu ra bảng con, chứ có lạ gì sự đó?
Đức Chinh nói tiếp:
- Vậy ông phạm phải lỗi gì? Không phải là phạm húy chứ?
- Không' Có phạm húy đâu? Tôi phạm vào tội "khiếm ty". Vì ở đoạn văn nói về đời Đường của tôi, lỡ viết phải câu "tam bách niên xã tắc chi trường, ninh phi lại ư thừ tái".
ông chủ nhà trọ đứng ở bên cạnh, có ý lấy làm kinh ngạc, liền hỏi:
Thưa ông câu ấy là nghĩa thế nào?
Đốc Cung đáp:
- Nghĩa là "xã tắc nhà Đường- lâu dài đến 'ba trăm năm, há chẳng phải nhờ ở điều đó hay sao?" ông chủ nhà trọ càng lấy làm lạ:
- Như thế thì có can gì mà đến phải nêu bảng con?
Đức Chinh hùa theo:
- Chắc là ông bị cái lỗi gì khác, chứ như câu ấy thì có việc gì?
Đốc Cung chỉ cười không trả lời. Đoàn Bằng rẽ rẽ cắt nghĩa:
- Phải đấy, ông Cung phải nêu bảng con là tại câu đó Bởi vì theo phép bản triều, học trò đi thi chẳng những phải kiêng khinh húy, trọng húy của nhà vua:
mà đến những chữ tên các cung điện, lăng tẩm trong kinh bây giờ, cũng đều không được dùng đến. Ví như lăng ông Gia Long tên là Thiên thụ, thì khi làm ván không được viết chữ Thiên thụ. Hay như ở trong hoàng cung có điện Cần chálth~ thì chữ Cần chánh cũng không được dùng làm văn... Nhưng chỉ kiêng ở văn cổ mà thôi.
Đức Chinh cốlàm ra bộ thạo việc trường ốc:
Tôi cũng biết thế, nhưng trong hai câu của Bùi tiên sinh có chữ nào phạm lệ đó đâu?
Đoàn Bằng nói tiếp:
Có chứ' Chữ "trường" và chữ "ninh".
ông chủ nhà trọ vội hỏi:
- Thưa ngài, thế hai chữ ấy cũng phạm húy ư?
Đoàn Báng lắc đầu:
Không, trường ninh là tên cái cung nào đó. Hmh như là cung của Hoàng thái hậu vẫn ở thì phải.
Đức Chinh ra vẻ ngơ ngác:
- Quái lạ, trong hai câu của Bùi tiên sinh, làm gì có chữ trường ninh.
Vân Hạc phì cười và nói:
Vậy thì cậu thử đọc lại xem nào' Đức Chính lẩm nh,im lần nữa:
thử tai?
Rồi hắn vỗ đùi đánh đét:
à! Phải rồi! Có thật' Chữ trường ở cuối câu trên, chữ ninh ở đầu câu dưới.
Và hắn lại hỏi:
- Tôi tưởng về những chữ tên lăng tẩm cung điện nhà vua, chỉ có khi nào hai chữ cùng ở một câu mới là phạm cấm. Mỗi chữ mỗi nơi như thế cũng phải kiêng ư?
Tiêm Hồng nói góp:
- Bởi vì hai chữ tuy ở hai câu, nhưng nó đứng liền nhau thì cũng như ở một câu, cho nên cũng là có tội.
ông chủ nhà trọ nhanh mồm lè lưỡi và tỏ ra vẻ kinh sợ: ' Trời ơi, rắc rối quá chừng. Cứ như chúng tôi, thì tránh cho hết hàng trăm chữ húy cũng đã khó thay, huống chi lại còn những cái oái oăm ấy nữa. Vậy mà các ngài đều tránh được cả, tôi xin phục là ông thánh.
Đoàn Bằng lài tiếp:
Có phải chỉ thế thôi đâư Lại còn cái nạn "khiếm trang" mới đáng sợ chức Đức Chinh cũng như ông chủ nhà trọ, chỉ ngồi ngẩn mặt, hình r~hư có ý chờ nghe. Đoàn Bằng nhôm vào ông chú nhà trọ và hỏi:
Chắc ông chưa rõ khiếm trang là gì?
Rồi thày liền giảng:
Khiếm trang nghĩa là thiếu sự kính trọng. Theo đúng lệ đó, thì hết thảy những chữ có nghĩa không hay, như bạo là tợn hôn là tôi, cách là đấm, sát là giết v.v...
không được đặt trên các chữ có nghĩa là vua, như là chữ hoàng đê, chữ quân, chữ vương, chữ chủ... i vì nếu để chữ cách liền với chữ quân thì nó sẽ có nghĩa là đấm vua, mà để chữ bạo liền với chữ chủ thì nó phải có nghĩa là ông vua tàn bạo. Dù mà mình không chỉ vào vua nào, hay là mình đã chỉ đích vào những hạng vua vô đạo của Tầu ngày xưa, như bọn vua Kiệt, vua Trụ .
chẳng hạn, cũng là khiếm trang tất cả.
Đến lượt ông chủ nhà trọ:
Khiếm trang sẽ bị tội gì?
Vân Hạc nhìn vào Đốc Cung rồi cười và đoán:
Nhẹ hơn "khiếm tỵ" một chút, nghĩa là chỉ bị đánh hỏng, không có hân hạnh được ra bảng con như Bùi tiên sinh nhà tôi.
Tiêm Hồng không bằng lòng sự bông đùa của Vân Hạc, vội vàng nói cho lấp đi.
- Năm xưa, một ông tú tài ở tỉnh Đông, bạn thân của anh cả tôi, cũng xuýt bị tội về cái nạn đó.
Nhũng lại một lát để nhìn Đức Chinh và ông chủ nhà trọ, Tiêm Hồng lại tiếp:
- Khoa ấy - tôi kllôllg rõ là khoa nào - ông ấy đã vào đến kỳ thứ ba. Trong bài văn sách của ông ta có câu như vầy: "Xuân sinh thu sái. đế đạo dữ thiên đạo nhị tịnh l~àllll". Thế mà cũng bị quan trường cho là khiếm trang. Rồi quan ngoại trường ngự sử lại hạch thê~n rằng: tú tài đi thi mà còn phạm vào ky húy, thì nên phạt cho thật nặng. May nhờ được quan chủ khảo có lượng khoan dại, ngài phải hết sức bênh vực, ông ta mới được khỏi tội. Nhưng mà cũng phải đánh hỏng.
ông chủ nhà trọ ra bộ ngơ ngẩn:
Vậy thì, thưa ngài. nghĩa đen câu ấy ra sao?
Tiêm Hồng đáp: .
- Có gì đâu? Nghĩa nó chỉ là "Mùa xuân sinh ra.
mùa thu thu lại việc của đời "đế" cũng đi đôi với việc của ông trời". Có thế thôi.
Dực Chỉnh vẫn chưa hiểu và ]lỏi:
- Song mà trong bấy nhiêu chữ. người ta ghép những chữ nào có tội khiếm trang Chữ "sái" và chữ "đê~ Chữ sái chính nghĩa là thu.
đáng lê cũng không xấu xa, gở độc gì cả. Chỉ vì bản thể của nó nguyên ở chữ "sát" là "giết" mà chuyển âm ra.
Sái với sát đọc tuy khác nhau, nhưng mặt chữ cũng vẫn là một, cho nên đặt chữ sái liền với chữ đế tuy rằng mỗi chữ ở mỗi câu, người ta cũng có thể nhập lại làm một đọc nó ra "sát đế". "Sát đế" nghĩa là giết vua, như thế tức là khiếm trang, chứ gì.
ông chủ nhà trọ đứng dậy, chắp tay vái lia, vái lịa:
Thôi! Tôi xin lạy cả nón. Phúc tổ nhà tôi, làm sao lúc học dốt quá, đành phải bỏ học đi cày. Nếu như tôi sáng dạ một chút, mà cố theo đuổi để được cắp quyển vào trường với các ngài, thì chắc suốt đời bị tội!
Và ông ấy nói thêm:
- Nghe chuyện các ngài, làm cho tôi càng thêm sợ.
Vậy xin phép các ngài, tôi đi giục nó làm .cơm kẻo muộn.
Kồi thì ông ta quay mặt đi ra, Đốc Cung hình như đã thấy nóng ruột về cuộc chuyện phiếm, chàng ngoảnh sang phía Đức Chinh và hỏi:
- Cậu đến chơi hay có việc gì cần hỏi chúng tôi?
Đức Chinh mỉm cười như đương có chuyện đắc ý:
- Tôi muốn mời ngài đêm nay đi chơi giải buồn.
Bởi vì chúng mình cùng phường "hỏng" với nhau.
Đốc Cung cũng cười:
- Đa tạ cậu có hảo tâm. Nhưng tôi bây giờ ruột gan đương bồn chồn, còn thiết gì đến chơi bời? Vậy xin lỗi cậu để cho khi khác. Chúng fq còn nhiều ìúc gặp nhau. Vội gì?
Đức Chinh vẫn kèo nèo:
CỐ nhiên thi hỏng ái cũng phải tức, huống chi chúng mình đã lẽo đẽo vào đến tam trường. Tôi cũng cay đắng trong ruột, có lẽ còn hơn ngài nữa. Vì vậy, tôi muốn mời ngài đi chơi cho khuây.
Đốc Cung nhất định từ chối:
- Thồi cậu miễn cho? Từ sáng đến giờ tôi thấy trong ~h hơi mệt. Nếu lại thức đêm, tất nhiên sẽ thành ốm nặng. . .
Đức Chinh nói thêm vài câu tào lao, rồi hắn đứng dậy từ biệt.
Thằng nhỏ vừa bưng rượu đặt vào giữa phản, sau ' khi nó đã trmh trọng xin phép mấy ông khách trọ.
Cũng như sáng ngày, ông chủ nhà trọ, lại đến gãi tai mời chào, rồi tự lảng đi nơi khác.
Cả bọn bấy giờ mới thay khăn áo, rồi cùng ngồi vào mâm.
Trong ìú~ chén thù chén tạc, Đốc Cung tuy cũng có vẻ cảm khái, nhưng vì Vân Hạc thmh thoảng lại chêm một câu bông đùa rất có ý vị, cho nên quang cảnh vẫn vui vẻ như tết.
Mặt trời đã xế. bóng nắng leo lên nửa tường của tòa nhà trước sân, bấy giờ cuộc rượu mới tan.
Mấy tuần trầu nước đã tàn, Đốc Cung cất tập giấy giáp bài vào tráp, rồi chàng ra mắc nhắc lấy khăn áo bỏ xuống chiếu. .
Đoàn BAè ~ vội hỏi:
Bác ở đây chứ? Đi đâu bây giờ?
Đốc Cung đáp:
Vâng, tôi ở đây. Có lẽ tôi sẽ ở mãi đến ngày xướng danh. Bởi vì tôi tuy hỏng, nhưng mà các bác "vào,, cả, thì cũng còn vui, tôi phải ở lại để mừng các bác. Có điều ngày mai các bác được đì vào trường, tôi ở nhà một mình, chắc là không thể chịu nổi. Vì vậy. . .
Đến đây, chàng bỗng ngừr~ lại để đưa ra một nụ cười:
Vì vậy tôi muốn xin phép các bác, đêm nay xuống thăm Hàng Lờ cho đỡ buồn. . .
Rồi chàng vội cúi mặt xuống, như muốn giấu kín những giọt nước mắt đương thập thò ở đầu con mắt.
Vân Hạc lại trêu:
Mày khóc đó Cung?
Đoàn Bằng vội ngăn:
Sao chú lại cứ bông đùa mãi thết Và với vẻ mặt rất cảm động, thày quay lại nhìn Đốc Cung.
Hôm nay thì tôi không dám can bác. Nhưng đến chiều mai, bác lại về đây, để cho chúng tôi đi với!
Vân Hạc lại hỏi Đốc Cung:
Thế sao Trần Đức Chinh đến mời, anh không đi luôn với hắn?
Đốc Cung lại cười:
- Đi chơi với thằng tục tử ấy có gì là thú? Vả lại, nghe lời hắn nói, tôi đã sinh ghét. Hỏng thi cũng có năm, bảy thứ người, hắn bì với tôi được à? Thế mà bấy giờ hắn dám nói rằng: "chúng mình cũng là "phường hỏng" với nhau'. Như vậy, anh bảo có tức hay không?
Vân Hạc cũng cười:
Kể cả cũng đáng tức thật' Nhưng mà anh hơn gì ' hắn? Anh tam trường, hắn cũng tam trưởng. Và chưa biết chừng, có khi mai kia hắn sẽ đỗ được tú tài cũng nén.
Tiêm Hồng lắc đầu:
Khó lòng lắm. Tuy rang người hỏng tam trường cũng có thể đỗ được tú tài. Nhưng khoa này cả trường Hà Nội chỉ lấy hai bốn cử nhân, theo lệ "nhất cứ tam tứ' thì được bảy hai ông tú tài nữa. Thế là kể cả tú tài, cử nhân, cả trường mới có chín mươi sáu người.
Nếu nhà vua có gia ân mà lấy thêm nữa. chẳng qua cũng đến trăm người là cùng. Vậy mà sáng ngày coi ở trên bảng, số vào phúc hạch đã được hơn một trăm rồi. Thế thì khi nào tú tài còn đến phần hắn?
Đốc Cung họa theo:
- Phải! Nếu hắn mà đỗ, thì cũng đáng buồn cho cuộc thi cử.
Vừa nói, Đốc Cung vừa thủng thẳng rửa mặt chải đầu, coi bộ như một người đương có việc gấp. Sau khi đội khăn mặc áo chỉnh tề, chàng lại mỉm cười với bọn Đoàn Bằng, Tiêm Hồng.
- Xin chúc các ngài ngày mai viết cho linh lợi!
Tôi đi, chiều mai .hoặc sáng ngày kia thì lại về đây Anh em Vân Hạc ai cũng có vẻ ái ngại, nhưng không ai dám nói thêm câu gì, vì sợ khêu mối đau lòng cho bạn.
Trời đã chiều cả. Ngoài phố lác đác có tiếng hàng quà đi rao.
ông chủ nhà trọ tất tả vào giục các ông khách trọ giao hết lều chõng cho mình sắp sửa. Là vì kỳ này học trò đã vắng. Những ai được vào, đều phải đem lều chõng nộp sẵn từ chiều hôm trước, để lính thể sát đóng cho, ngày mai chỉ việc vào đó mà ngồi, không phải lôi thôi gì nữa. ông chủ nhà trọ đã quen lệ đó, nên mới Tức thì Vân Hạc kiểm điểm các thứ đồ đạc của hai anh và mượn lều chõng của Đốc Cung vì lều chõng của chàng kỳ trước bỏ không đem về đưa nhờ ông chú nhà trọ bó buộc đâu đấy. Rồi chàng lấy ba mảnh giấy viết tên ba người dán vào mỗi bộ áo lều một mảnh, và giao cả cho thằng nhỏ đưa lên cửa trường. ở đấy đã có một người lại phòng thu nhận.
Trong thành bắt đầu nổi trống thu không. Tiếng chuông ở các chùa xa văng vẳng đưa lại.
Trời nhá nhem tối. Đoàn Bằng, Tiêm Hồng cùng giục Vân Hạc soát lại ống quyển, hộp mực, giấy bút và các đồ vặt để' ngày mai vào trường.
XV
Nửa đêm hôm qua hãy còn gió bấc mưa phùn, hơi lạnh thấu xương, nằm trong chăn tưởng như nằm trên vũng nước. Nhưng từ gà gáy thứ nhất trở đi, thình lình quay ra gió nồm. Khí lạnh bị tống bớt về các rừng núi nẻo Tây Bắc, Hà Nội dần dần hồi lại trong cảnh ấm áp Sau khi vừng đông đỏ như vừng lửa đă thiêu tan hết .bức màn nặng nề u ám của sương mù, bầu trời mỗi lúc một thêm sáng sủa. Tuy là tiết đầu tháng một, vẻ kiều mỹ không khác quang cảnh một buổi mai của tháng đầu xuân.
Anh em Vân Hạc xong tiệc điểm tâm, ánh nắng đã lóng lánh nhuộm các ngọn cây vàng úa. Bấy giờ ai nấy mới sắm sửa quần áo và các đồ đạc để vào trường.
Lần này cái vai đã được nhẹ nợ, vì nó không phải đeo chõng và lều. Nhưng trách nhiệm cái cổ vẫn chưa bớt đi chút nào, ống quyển, bầu nước và tráp hoặc yên vẫn còn thi nhau bíu chặt lấy cổ mà lủng lẳng đánh đu xuống ngực và bụng.
Kỳ này chỉ thi trong một vi giáp. Tuy số học trò được vào có hơn một trăm, nhưng ngoài cửa vi cũng thấy bóng người đông nghịt. Bởi vì, ngoài các thí sinh, còn có phụ huynh tôn tộc của các ông "ngấp nghé tân khoa" cũng kéo tới đó để dự hưởng cái vinh dự trong cuộc đắc thắng của người nhà mình.
Tan một hồi trống khẩu dõng dạc điểm trong nhà Thập đạo, cửa trường mở rộng, tàn lọng cờ quạt linh đình rước lá cờ khâm sai và ông chủ khảo từ trong trường ra chiếc ghế tréo ngoài cửa. Cái loa và các lính tráng lại chiếu lệ làm việc phận sự.
Bây giờ học trò không phải chen chọi vất vả như các kỳ trước. Người nào đã được cái loa nhắc đến tên mình, người ấy có thể ung dung tiến đến cửa trường, không bị ngàn cản chi hết. Nhưng mà bọn lính thể sát lại phải làm thêm một việc. Sau khi khám xong đồ đạc của người nào, họ còn phải dẫn người ấy đi đến dãy lều mà họ đã cắm từ tồi hôm trước, rồi bảo người ta vào lều mà ngồi.
Cuộc gọi tên lần này rất ngăn, mới độ nữa giờ đã xong. Công việc sắp đặt trong vi cũng có trật tự hơn trước Cả vi chia làm chừng hơn mười dãy, các dãy song song từ nhà Thập đạo ra đến bức phên ngoài cùng. Dãy nọ cách dãy kia độ năm sáu thước. ở giữa hai dãy giáp nhau, đều có cái khe rất rộng để làm đường đi. Mỗi dãy chỉ có đúng mười cái lều, cái nọ cách cái kia cũng độ năm thước trở lại. Vì muốn giữ cho người ở lều này khỏi nhòm thấy người ở lều kia, các lều đều cắm theo hình chữ "công", một cái nằm ngang, lại đến một cái nằm dọc.
Lều của Vân Hạc ở số 31, nằm ngay đầu dòng thứ tư, giáp với bức rào của nhà Thập đạo. Trong lúc người lính thể sát dẫn chàng tới đó và chỉ cho biết một mảnh giấy trắng có đề ba chữ tên chàng dán ở cửa lều, Vân Hạc có ý nhìn ở các dãy, xem rằng lều của Đoàn Bằng đóng ở chỗ nào - vì Đoàn Bằng đã vào trước chàng một lát Nhưng mà không thấy bóng anh ở đâu, chàng bèn chui vào trong lều, lục các đồ đạc lặt vặt bỏ ra mặt chõng, rồi giở bộ đồ đánh lửa, hì hục đập đá vào sắt lấy lửa hút thuốc. Thình lính nhớ đến Đốc Cung, bụng chàng càng thấy bồi hồi khó tả. Vì theo ý chàng, Đốc Cung cũng là bậc văn chương xuất sắc có thể đỗ to.
Chẳng ngờ vì hai chữ vô ý mà đến phải ra bảng "con'l thật là đáng tiếc.
"Thì ra văn hay chữ tốt, cũng chưa chắc đỗ. Có l~ cái việc đỗ hỏng, còn quan hệ ở sự may rủi nữa chăng".
Chàng đương vơ vẩn nghĩ quanh, trên chòi của quan ngự sử ngoại trường, bỗng nổi một hồi trống cái rất hùng dũng. Biết là sắp có đầu bài, chàng quen như lệ mọi kỳ, đã toan sắp sửa giấy mực ch đến nhà bảng, thì ở trên chòi lại có tiếng loa ậm ọe:
"Bớ toàn sĩ tử? Ai nấy ở yên trong lều, chờ hình đầu bài?" Tiếng "bài" vừa dứt, quan đề điệu vừa ở trên nhà Thập đạo đi xuống với chừng hơn mười người lình, mỗi người trong tay. có một tập giấy. Bọn lính chia ngả đi thẳng đến các dãy lều, quăng cho mỗi lều một mảnh giấy chữ.
Đó là giấy sao đầu bài. i vì kỳ này học trò đã thưa, đầu bài ra rồi, lại phòng liền phải xúm lại sao thành nhiều bản, rồi quan chủ khảo giao quan đề điệu đem đi phát cho mỗi người một bản, chứ không dán ở nhà bảng như các kỳ trước.
Lều của Vân Hạc ở ngay đầu dãy, nên chàng nhận được giấy sao trước các lều khác.
ở trong mảnh giấy, tất cả chỉ có ba bài, một bài Kính nghĩa, một bài phú và một bài văn sách. Trong ba bài đó, trừ bài kinh nghĩa phải viết cụ thể, còn hai bài sau, đều nhẹ hơn các kỳ trước. Bài phú chỉ có ba "vận", còn bài văn sách cũng độ năm sáu câu hỏi mà thôi.
Đây là thể lệ của phép thi mới. Theo như mấy khoa gần đây, thì kỳ phúc hạch của trường thi hương, cũng có ý nghĩa sát hạch lại các kỳ trước. Vì vậy, nó phải đủ các món văn của mấy kỳ kia để cho khảo quan có thể tựa vào các loại văn đó mà xét khiếu văn và sức học của từng người. Với các người khác, thì những đầu đề kỳ này, nói riêng từng bài, tuy có nhẹ thật song hợp cả lại thì lại rất nặng, vì nó gồm đủ văn thể của ba kỳ.
Nhưng với Vân Hạc thì chẳng có gì là nặng. Là bởi trong khi tập văn ở nhà, chàng vẫn nổi tiếng là người "học đềư' bất kỳ thơ phú, kinh nghĩa văn sách, hay món gì khác, món nào chàng cứng hơn người, anh em đồng học ít khi theo kịp.
Bởi vậy, trong khi ngó vào mấy cái đầu bài, thái độ của chàng tỏ ra cực kỳ ung dung.
Khi đã viết xong mấy dòng ở trang đầu quyển để đi lấy dấu nhật trung, chàng bắt đầu nghĩ nốt các vế của bài kinh nghĩa, rồi đến bài phú, rồi đến bài văn sách. Vì sợ có chỗ lầm lỡ như của Đốc Cung, mà trong lúc vô tình, tự mình không biết, cho nên mỗi khi nghĩ xong bài nào, chàng lại cẩn thận giáp hết bài ấy ra một mảnh giấy, và còn soát đi, soát lại từng câu từng chữ, có khi đến từng nét nữa. Khi nào không thấy có chỗ đáng ngờ và không còn chữ nào đáng chữa, bấy giờ chàng mới viết vào trong quyển.
Viết xong hai bài kinh nghĩa và phú, mới chừng quá trưa, chàng tiếc thì giờ còn nhiều, muốn hãy để bài văn sách lại đó, nung đúc cho thật kỹ càng. Nhưng khi coi lại mấy lần, chàng thấy lời văn đã đanh thép, không còn cách nào làm hơn, lúc ấy mới chịu cặm cụi viết nốt.
Kiểm lại trong quyển, không có chỗ nào xóa, sót, móc, chữa, theo đúng trường quy, thế là không phải viết "cộng quyển nội" ở cuối quyển nữa, bởi vì không có xóa, móc, chữa, thì "cộng" cái gì?
Lúc ấy không còn việc gì phải làm, chàng lại giở đá đánh lửa, rung đùi ngồi hút thuốc vặt.
Một lát sau, trên c~lòi có trống thu quyển, chàng mới bỏ quyển vào ống, thu xếp đồ đạc vào tráp. Đáng lẽ chàng lại bỏ cả lều chõng lần nữa, nhưng vì bộ lều chõng này là của Đốc Cung, không phải của mình, nên chàng lại cố hì hục dỡ lên, bó lại, và đeo lên vai, rồi sang bên nhà Thập đạo nộp quyển. Bấy giờ mặt trời còn cao, hết thảy học trò còn đương làm văn chưa xong.
Ra khỏi cổng trường, vừa gặp thằng nhỏ nhà trọ đến đón, chàng trút hết thảy đồ vật trên vai trên cổ cho nó về trước, rồi mình đủng đỉnh đi sau. Thmh lình ở phía trước mặt nghe có tiếng người ầm ầm.
Một bọn chừng hơn mười người hung hăng tiến lên đàng trước, hàng xứ xúm lại đi theo rất đông.
Trước luồng gió nhẹ, hời rượu sặc sụa theo đám người đó tiếp tục bay lên. Nhìn thấy mấy ông đi trước, ông nào, ông ấy, sắc mặt đỏ như màu mặt trời, dáng đi lảo ~ đảo như kẻ đương lên đồng trượng. Họ nghiêng bên nọ, họ ngả bên kia, có người vừa đi vừa nôn thốc nôn tháo khắp cả đường cái. Rồi họ nhao nhao chỉ tay lên phía cứa trường: ' - Văn ông như thế mà bỉ đánh hỏng, thật là một lũ không mắt.
Đã dốt không chấm nồi văn, thì về nhà mà ở với vợ' Sao lại dám đi chấm trường?
Thì ra đó là những ông hỏng kỳ đệ tam. Không biết đổ lỗi' cho ái, họ phải đổ cho quan trường.
Cứ một giọng hùng hổ vô lý như vậy, họ vm vai nhau, nắm tay nhau, chắn ngang cả một đoạn đường, vừa đi, vừa thét. Nhưng đi vài bước họ lái lăn xuống dọc đường, thi nhau vừa khóc vừa gào:
ối trời đất ới' Nó đỗ mà tôi bị hỏng, thì tôi còn mặt mũi nào trở về làng nữa' ối cha mẹ ơi' Nào tôi có làm điều gì thất đức, sao tôi cứ phái hỏng mãi thế này' Khốn nạn thân tôi, lẽo đẽo thi bao nhiêu khoa, bây giờ mới vào tam trường một khoa, không ngờ lại hỏng. Thôi công đến sách cũng là đổ cả xuống sông' Gào chán, khóc chán, họ lại đành đạch giãy ở mặt đường giống như những người ngộ gió. Trẻ con hàng xứ vỗ tay reo cười. Tiếng cười chua chát làm cho họ đều đứng phắt trở dậy, đuổi sấn đám người chung quanh và quát:
- Chúng bay cười gì?
- Có phải cười chúng ông dốt thì bảo?
Tan cuộc ra oai với lũ trẻ, họ liền nhặt lấy mỗi người một hòn gạch vỡ, hung hăng kéo lên nẻo cửa trường.
Vân Hạc biết là họ sắp sinh sự bậy bạ, chàng bèn cố len qua đám hàng xứ để đi ngược xuống. Vừa lủi thủi cất bước, chàng vừa nghĩ thầm: "Không .ngờ trong đám văn nho lại có những người liều lĩnh đến thế, không biết họ là học trò tỉnh nào?" Trên đường đã hết bóng nắng, chàng vừa lững thững đến phố hàng Đào, trước mặt lại có một đám người nữa cũng đương chiếm cả một khu đường đi.
Chắc đây cũng vẫn những vị anh hùng hỏng thi, chàng toan rẽ đi đường khác, trong đám chợt có tiếng người nói lớn:
- Việc này là cái nhục chung của sỹ lâm Hà Nội.
Nếu không làm cho ra chuyện thiên hạ sẽ coi sĩ khí Hà Nội là cái trò gì?
Rồi lại có tiếng tiếp theo:
vậy ai đã đọc sách thánh hiền cũng phải biết có nghĩa khí, lẽ nào thấy việc như vậy mà đứng im!
Và lại có người phụ họa:
- Phải đó? Nó chửi một người. tức là nó chửi tất cả sỹ lâm. Nó đánh một người tức là nó đánh tất cả sỹ lâm. Chúng ta đều là người trong thanh khí, cần phải bênh vực lấy nhau. Tôi xin anh em cứ đến mà đánh cho chết cả nhà nó đi, bao nhiêu tội, tôi xin chịu cả.
Rồi đó người ta kéo ùa lên nẻo hàng Ngang, tiếng hô sỹ lâm mỗi lúc mỗi thêm dữ dội.
"Cái gì mà to chuyện vậy?" Vân Hạc đã toan đi theo, để xém họ làm trò gì. Sau chàng lại nghĩ: nếu là một việc nghĩa khí, thì mình cũng phải dự cuộc, không thể bó tay làm kẻ bàng quan. Nhưng nếu nó chỉ là chuyện tức giận vô lý của bọn ngông cuồng, thì mình vào hùa làm chi cho dại. âu là ta hãy hỏi xem đầu đuôi ra sao cái đã? RỒI chàng quanh sang 'lối khác trở về nhà trọ. ông chủ, thằng nhỏ đều đi vắng cả. Trong nhà chỉ có mấy đứa bé con nhỏ lúi húi chơi ở trước sân và bộ lều chõng của chàng bỏ ở trên thềm.
Chàng vào trong nhà cởi khăn, cởi áo rồi tự bưng chậu ra bể múa nước rửa mặt.
Một lát sau, thằng nhỏ lễ mễ quẩy hai bó lều khệnh khạng đi vào trong sân, nét mặt hớn hở nhìn vào vân Hạc như có chuyện gì muốn nói. Nhưng nó còn chưa kịp nói, ngoài cổng đã có tiếng giầy lẹp kẹp, Đoàn Bằng, Tiêm Hồng cùng về với một dáng bộ nghiêm trang, như mới bị có việc gì trái ý. , Vân Hạc vội bỏ chậu nước và đứng lên chào. Cả hai người đều đổi ra bộ vui vẻ:
- Chú đã về rồi đấy à?
- Chú ở trường ra từ bao giờ?
Vân Hạc lê phép:
Em cũng vừa về đến nhà' Ba người liền cùng bước lên nhà trên, Đoàn Bằng, Tiêm Hồng vừa thay khăn áo vừa hỏi:
- Chú có gặp bọn say rượu ở ngoài cổng trường đấy chứ?
- Có ạ, em gặp bọn họ ở giữa đường.
- Ai ngờ sỹ lâm, lại có những hạng người vô hạnh như vậy? ở nhà không chịu học hành, đến lúc thi hỏng lại định gây sự với quan trường. . . Danh giáo nào dong những hạng người ấy?
Vân Hạc cũng hỏi:
Lại còn một bọn ở hàng Ngang nữa. Hai anh có gặp họ không" Tiêm Hồng đáp:
- Không Chúng tôi không thấy họ đâu' Nhưng mà thiếu gì! Trong kỳ đệ tam, số hỏng có đến hơn hai trăm người. Những ông ấy bây giờ còn đương phát điên phát cuồng. Hê họ tụ bạ ở đâu, thì sẽ nói bậy ở đấy.
Vân Hạc tỏ vẻ nghi ngờ:
- Có lẽ bọn ở hàng Ngang không phải vì chuyện thi hỏng. Em nghe thấy họ luôn luôn nhắc đến sĩ khí, hình như có người bị ai làm nhục.
Đoàn Bằng có ý ngạc nhiên:
- Lạ nhỉ! Không rõ là việc gì thết ông chủ nhà trọ ở đâu vừa về. Với một dáng điệu tất tả ông ấy vào thẳng trong nhà vừa thở hì hò vừa nói: ' Các quan về sớm quá nhỉ? Đáng lẽ chiều nay tôi cũng lên đón các ngài, sau vì có người rủ đi xem việc lôi thôi ở phố Hàng Giấy, nên lại không lên, các ngài miễn cho!
Rồi ông ấy thêm:
- Đáo để! Các ông học trò hăng quá. Không khéo nhà bá hộ K. sẽ bì tan tành.
Vân Hạc nghe nói, đồ là việc đó cũng có liên can đến bọn học trò hàng Đào, chàng liền hỏi tắt:
- Câu chuyện đầu đuôi ra sao, cũng hãy kể cho chúng tôi nghe. ~ LẾU CHÕNG 685 ông chủ nhà trọ quay ra phía sân để gọi thằng nhỏ châm lửa thắp đèn và giục người nhà làm cơm mau mau. RỒI ngồi vào chiếc phản cạnh, ông ta ra giọng đắc - Có gì đâu? Chỉ tại một câu nói chua.
Số là nhà bá hộ K. . . , các ngài chắc cũng đã biết, vốn là một nhà đại phú. BỞI khi buôn bán cũng có đồng chịu đồng trả, hoặc có giật bọc vay mượn của ông ta, cho nên ở phố hàng Giấy cũng nhiều người nể. ông ấy có người con gái, hình như tên là cô Kim, năm nay độ hài mười tuổi, người cũng khá đẹp, còn đương kén chồng, cả ngày vẫn ngồi ngoài cửa bán hàng. Con cái nhà giàu ở đất kẻ chợ, phần nhiều quen thói khỏng khảnh, huống chi cô nay đẻ ra đã sẵn có tính chua ngoa, thì còn coi ải ra gì? Thôi thì kẻ ăn người ở trong nhà, cho đến những khách ra vào mua bán, hễ ai mà nói thất ý nửa nhời, ấy là cô ta ngoan ngoắt nguyền rủa, có khi chửi trùm chửi lợp người ta nữa chức Vì vậy cả phố ai cũng phải sợ. Tmh cờ đến trưa hôm nay...
Tới đó ông ta ngừng lại để sai người nhà pha nước.
Vân Hạc cũng như nóng nghe, liền gặng:
Đến trưa hôm nay làm sao?
ông chủ nhà trọ hút tàn điếu thuốc rồi đáp:
- Đến trưa hôm nay, có ông học trò vào hàng hỏi mua giấy bút - Cứ nhiều người nói lại là ông đó hãy còn trẻ tuổi - chưa rõ quê quán ở đâu, cũng là số người hỏng kỳ đệ tam và còn ở đây chở bảng tù tài - Trong khi mặc cả, ông này có nói bông đùa sao đó. Cái đó kể ra cũng là sự thường. i vì "hoa thơm ai chẳng muốn vin". có phải thế không, thưa các ngài.
Anh em Vân Hạc chỉ cười không đáp, ông ta lại tiếp:
- Nhưng mà cô Kim là hạng chỏng lỏn có tiếng, đâu lại nghĩ nhũn như vậy? Khi thấy ông kia có ý trêu cợt cô này liền nổi tam bành, rủa luôn một thôi một thốc. ông kia trước còn cố nhịn, sau thấy cô Kim làm già, ông ta phát cáu cũng phải mắng lại một cách rất phũ. Thế rồi hai bên thành ra xô xát. Người nhà cô này nhao nhao chạy ra, níu lấy ông đó, xé tan mất cái khăn lượt và cái áo the. ông này vừa thẹn vừa tức, nhưng vì chỉ có một mình, không thể sao được. Lập tức ông ta chạy luôn về nhà trọ, thuật lại đầu đuôi với bạn cùng trọ và xin anh em rửa nhục cho mình. Trong nhà trọ tất cả mấy bọn, cũng có đến hơn mười người, nghe ông này nói ai nấy đều tỏ ra vẻ bất bình. Cả bọn liền kéo nhau đến trước cửa nhà bá hộ K. bắt đền khăn áo cho bạn. Giả sừ bá hộ K. xin lỗi một câu, có lẽ người ta cũng thôi. Song nào có thế! ông ấy lại giở lý sự và nói những câu cực kỳ vô lễ. Thế mới ngu chứ!
Thằng nhỏ vừa bưng siêu nước đến cạnh, ông chủ nhà trọ đứng dậy lấy bộ khay chén đặt sang giữa ghế.
Vân Hạc đón lấy ấm chén, vừa chuyên nước vừa để ý nghe. Tiêm Hồng hỏi:
ông bá hộ K. nói những thế nào?
Trước hết ông ta vu vạ cho ông học trò kia đã vào cửa hàng ăn cắp. Rồi thì ông ta lên giọng kẻ cả, bảo học trò thi hỏng toàn là những quân mất dạy. Sau hết, ông ta còn hỏi "chúng bay học trò thằng nào" và nói "ông thách thằng thày chúng mày đến đây cũng không làm gì ông tốt..." Tiêm Hồng tỏ ý tức giận:
- Như thế thì càn rỡ thật. Đánh cho chết đi cũng đáng' Vân Hạc bưng chén nước đưa ông chủ trọ và nói:
- ông hãy xơi nước cái đã' ông chủ nhà trọ đón lấy chén nước đặt xuống đầu ghế.
Các ông học trò lúc ấy tức lắm, đã toan xông vào đánh cho ông bá hộ K. một trận. Nhưng mà ông ta chạy thụt vào trong nhà và gọi một lũ gia nhân vác gậy đổ ra. Những đứa gia nhân sức khỏe như voi, chúng đẩy bọn này ra mãi ngoài đường, có ông ngã sấp ngã ngửa, lóp ngóp mãi mới đứng lên được..
Chén nước đầu phản đã nguội, ông chủ nhà trọ - Thế rồi ông bá hộ K. sai lũ gia nhân đứng canh trước cửa và dặn hễ thấy đứa nào đến gần, cứ việc đánh cho mất mạng.
Những ông học trò lúc này càng hăng, nhưng vì ít người không thể đối địch, các ông ấy bèn cắt một nửa ở đó để canh ông K, còn một nửa nữa, thì chạy tuốt về các phố nói cho bạn bè biết rõ tình đầu. Chỉ nửa giờ sau, học trò. các nơi kéo đến tấp nập. Người nào người ấy, sắc mặt hằm hằm như ông Long thần. ông bá hộ K. biết là thế nguy, hến sai người nhà đóng chặt cửa lại Cả nhà trốn hết lên gác. Ngoài này học trò mỗi lúc mỗi đông, đứng chặt cả hai dãy phố. Lúc ấy tôi tưởng người ta sẽ cùng chửi bới nhà kia tàn tệ, cho h~ cơn giận trong lòng. Té ra không, các ông ấy chỉ gọi ông bá hộ K. mở cửa ~tể anh em hỏi câu chuyện lúc nãy đầu đuôi thế nào. Nhưng mà ông bá hộ K. nhất định không thưa. Tức quá mấy ông trong bọn giục nhau đi mượn rìu búa phá cửa mà vào. Giữa khi đó thấy có một đội lính tuần chừng hơn mười người, sầm sập tiến lại. Té ra trong lúc đóng cửa, ông bá hộ K. đã sai người nhà vượt qua tường hậu chạy vào trong thành cấp báo. Có lẽ đối với một đám học trò, lại toàn là hạng tam trường, các quan cũng có lòng nể. i vậy, quan tổng đốc chỉ phái một bọn lính tuần ra đó đề phòng những sự hành hung, chứ không đàn áp. Nhưng khi bị lính ngăn cản, khí tức của các học trò lại càng như lửa thêm dầu, người ta bàn nhau phải kéo đổ nhà ông bá hộ K. để rửa cái nhục cho sỹ lâm rồi sẽ cùng đến cửa quan chịu tội.
Nhời bàn ấy đã được nhiều người khen phải. Và rồi học trò ~ớì đó mỗi lúc mỗi đông, kỉli tồi về đến đầu Hàng Đường, còn thấy một bọn độ vài chục_n~ười đổ lên nẻo phố Hàng Gạo, chắc cũng đi dự cuộc đó...
Tiềm Hồng ra bộ hả dạ:
- Đáng kiếp! Những đứa trọc phú phần nhiều vẫn hay láo hỗn vô lý. Có thế, chúng nó mới chừa.
Vân Hạc ra vẻ khảng khái:
- Nếu quả như vậy, thì việc này có thể là một nghĩa cử. Em muốn.chạy lên. xem sao. "Kiến nghĩa bất vi vô dũng giã"...
Đoàn Bằng vội vàng gạt đi:
- Chú nghĩ như vậy là lầm. Khi nào "danh Chinh ngôn thuận" mới gọi được là nghĩa cử. Đằng này, cứ theo như lời ông chủ nói đó, thì kỳ thủy nó chỉ là chuyện ve gái. ở đời ve gái mà đến bị rủa, bị xé là sự đương nhiên, không nên bênh vực làm chi. i vì thân gái quý ở hai chữ đoan trinh, nếu bị trêu ghẹo, người ta có quyền kháng cự, không ai được trách chỗ đó. Thế mà trong lúc cái ông ve gái bì nhục về nhà cầu cứu, những người cùng trọ không lấy lẽ phải mà khuyên anh em, lại còn kéo nhau đến nhà người ta để hòng gây chuyện.
Đó là tự các ông ấy đã bất chính rồi. ~ vân Hạc nói xen:
- Đã đành như thế, nhưng mà lão bá hộ K. cũng hỗn láo quá!
- Phải rồi. Lão đó cũng hỗn láo quá thật đấy!
Song vì những ông học trò có chỗ vô lý, thì hắn mới hỗn láo chứ. Sao không trách mình lại cứ trách người là cái nghĩa gì? Vả chăng, lão đó nói càn mấy câu, anh em trừng trị như thế, cũng đã xứng đáng lắm rồi. Không nên làm cho to việc ra nữa. Các chú thử nghĩ mà xem, bênh một người bạn chim gài mà đến hàng trăm học trò kéo đi phá nhà người ta, có thể gọi là "danh chính ngôn thuận" được không? Làm vậy thiên hạ hậu thế sẽ bảo chúng mình là hạng người gì?
Rồi thày kết luận:
- Thôi' Chú có đi mà can anh em, thì hãy nên đi, nếu đi để vào đảng với các ông ấy thì tôi không bằng lòng chút nào' .
ông chủ nhà trọ tán thêm:
Phải đấy! Các quan mới ở trường về, chắc còn mỏi mệt, không nên đi vội. Xin mời các ngài ở nhà xơi cơm, để tôi lại lên Hàng Giấy coi thừ công việc thế nào, rồi tôi nói để các ngài nghe, nên đi hay không, lúc đó sẽ quyết định.
Mọi người đều cho là phải. ông ta lại lật đật ra đi, sau khi đã xuống nhà dưới dặn bảo người nhà sắp sửa cơm nước.
Chừng nửa canh một, anh em Vân Hạc ăn cơm đã xong ai nấy nóng lòng chờ đợi.
Trăng non đã lặn, ngoài sân trời tối mù mù, bấy giờ ông ta mới đốt đuốc về. Nhanh nhảu đến chỗ bọn này đương ngồi, ông ấy vừa cười vừa nói:
- Đại phúc cho nhà ông bá hộ K. Chuyện đã dẹp yên. Các ông học trò đã đâu về đấy cả rồi.
Đoàn Bằng bảo ông ấy ngồi hẳn vào ghế rồi hỏi:
- Yên là thế nào? Anh em học trò bị giải tán hay có người nào đứng ra thu xếp?
- Có chút' Quan đốc học phải đến khuôn xếp. Ngà} thật khéo quá, cương có, nhu có, vì thế, các ông học trò mới phải vâng nhời.
Vừa nói, ông ấy vừa ghé vào trước Đoàn Bằng và tiếp:
- Tôi xin nói lại từ đầu để các ngài nghe. Lúc tôi lên đến Hàng Giấy đã thấy mấy cây đuốc lớn đương cháy đùng đùng, trong phố sáng như ban ngày. Hỏi đuốc lấy ở đâu ra, người ta nói rằng: đó là các ông học trò góp tiền mua nứa bó lại thành bó. Bấy giờ các ông học trò vẫn còn bàn tán hăng hái như trước, có điều ai nấy vẫn hai tay không. Tôi đương cố nghe xem các ông ấy bàn ra thế nào, thì ở đầu phố, có một người anh cầm chiếc đèn lồng sòi cho hai người lính khác khiêng một cái võng rẽ đám học trò đi đến trước cửa nhà bá hộ K.
Trên võng bước xuống một ông cụ già đầu đã bạc trắng.
Bóng lửa lấp loáng, nhôm mãi mới biết là quan đốc học.
điều này là lúc sau này người ta mới kể với tôi - thì ra trong lúc các ông học trò hò nhau kéo đổ nhà há hộ K.
một người lính tuần ở đó liền chạy về thành báo tin với quan tổng đốc. Lập tức quan tổng đốc cho người vào dính bàn cách khu xử. Không biết hai ngài bàn định thế nào, mà quan tổng đốc phái quan đốc học thân hành đến đó. Các ông học trò lúc ấy mới đáng Kính phục làm sao' Ai nấy đều đương cơn thịnh nộ, thế mà thấy quan đốc học, cả đám đều chắp tay vái chào, rồi cùng nín im phăng phắc như đám ba quân chờ nghe hiệu lệnh ' của ông đại tướng. . .
Tiêm Hồng nói xen:
Cái đó là lẽ tất nhiên. i vì quan đốc học là người đứng đầu việc học trong một tỉnh, 'học trò tuy không học ngài, nhưng cũng phái coi như thầy. Vả chăng, cụ đốc học Hà Nội lài là một bậc danh vọng, ai mà không phải kính trọng?
Vân Hạc hỏi gặng:
- Thế rồi cụ đốc làm gì?
Ngài bảo các ông học trò đứng xếp hàng ở hai dãy phố để ngài giảng giải. 'Trước hết, ngài khen các ông đó đều có khí khái, biết bệnh thể diện của sỹ lâm.
Rồi ngài hỏi ai là người đã bị con bá hộ K. lăng mạ và xé khăn áo. Một ông học trò liền chạy ra nhận. Ngài bảo ông đó đứng ra một bên, và ngài hỏi đến những người đã đến nhà bá hộ K. bắt đền quần áo cho bạn và bị ông ta nói hỗn. Chừng hơn mười người ra trước mặt ngài thưa là chúng con. Ngài lại bảo những ông này đứng sang một bên. Bấy giờ ngài mới chỉ vào cái ông học trò bị xé khăn áo và cất giọng nghiêm nghị mà răng: ~ ',Anh đã nói trêu con gái bá hộ K. phải không ' ông này chối không, nhưng ngài không tin và noi:
"Ta biết cả rồi, anh không thể cãi. Công nhiên vào nhà lương gia ve vãn con gái người ta, như anh tức là tội nhân của danh giáo".
Luôn đó, ngài quay sang phía những ông đã bị ông bá hộ K. nói hỗn và quở như vầy:
"Thấy bạn làm xằng, đáng lẽ can đi mới phải. Các anh không can, lại còn kéo bè kéo đảng, định lấy danh nghĩa nho lâm bênh vực một kẻ ve gái, chẳng những gây thêm nết xấu cho bạn, mà còn làm cho danh giáo phải điếm nhục nữa, nghe không Tất cả mấy ông học trò đều am thin thít. Khi ấy ngài mới sai lính đập cửa gọi hai cha con bá hộ K. ra đứng ở trước mặt ngài. Hai người hình như vẫn chưa hết cơn sợ hãi, vẻ mặt không còn sắc máu và đều chắp tay, cúi đầu, không dám trông lên. Trước hết quan đốc học mắng người con gái thế này:
"Mày là phận gái, gặp kẻ trêu ghẹo, cố nhiên cũng nên mắng lại, nhưng phải mắng cho có lẽ. Ai cho mày chửi rủa người ta, rồi lại sai lũ đầy tớ xé cả khăn áo người ta? Mày có biết "lăng mạ người khác", phải tội như thế nào không '.
Rồi ngài mắng ông bá hộ K như vầy:
"Mày thách thằng thày các anh học trò cũng không làm gì được mày phải không? Tao là một người ở bậc thầy vậy tao muốn hỏi mày thách những gì~ ông bá hộ K. chắp tay lạy lấy lạy để coi rất buồn cười Quan đốc học lại chỉ vào mặt ông bá hộ K. và nói giận dữ như vầy:
"Thế là mày đã không biết răn con, lại còn bênh con mà vô lễ với tất cả người trong nho lâm. Người ta muốn phá nhà mày, không phải là quá?".
ông bá hộ K. cúi gục tận đất, kêu xin tha tội.
Đến đây, ông chủ nhà trọ tạm nghỉ để hút một hơi thuốc lào. Đoàn Bằng chờ cho khỏi thuốc ra hết, lại hỏi:
- Thế rồi sao nữa?
ông chủ nhà trọ giương hai con mắt lờ đờ của kẻ say thuốc và đáp:
Thế rồi quan đốc học bắt ông bá hộ K. phải xin lỗi cả đám học trò, nbợườỉ con gái phải xin lỗi cái ông bị xé, hai cha con phải đền ông này một cái khăn lượt một cái áo the. Và ngài còn bắt ông bá hộ K. và ông học trò bị xé, ngày mai phải xuống Văn Miếu lễ tạ và chịu mỗi người một chục roi đòn. Những ông học trò đi bắt đền áo cho bạn cũng phải lễ tạ Văn Miếu. Trước khi ra về, ngài đã sai người lễ sinh đi hầu phải hỏi tên họ của các học trò bị phạt, biên vào mảnh giấy, để họ khỏi trốn.
Và ngài còn nói giờ ngọ ngày mai, ngài sẽ xuống nhà Văn Miếu thi hành các lệnh phạt kia, các ông học trò nếu có thì giờ, cũng nên tới đó chứng kiến cuộc trừng phạt đó.
ông chủ nhà trọ kết luận:
- Tôi tức cười nhất là lúc cha con ông bá hộ K. cúi lạy các ông học trò và nói mấy câu xin lỗi. Cái bộ điệu của họ lúc ấy thật là khúm núm khốn nạn, chẳng bù với lúc quạc mồm nói càn. _ Anh em Vân Hạc đều khen: ' - Cụ đốc khu xử như vậy, thật hợp tình hợp lý, anh em học trò kính phục là phải. Ngày mai chún~ý mình nếu có thong thả, cũng nên xuống nhà Văn Miếu mà xem cho hay.
Mặt trời vừa ở ngọn cây nhòm xuống, như muốn cười với nhân gian. Trên đường thỉnh thoảng đã có từng lũ học trò, lẻ tẻ kéo về. Lúc ấy, bọn Vân Hạc mới tới trước cửa trường thi.
Vì không ai ngờ Đốc Cung có thể bị "ra bảng còn" cho nên cả bọn xăm xăm tới dưới bảng lớn.
Kỳ này chỉ có một bảng "yết tên" treo ở cạnh cửa giáp. Tuy là kỳ cuối cùng, nhưng số học trò "được vào" cũng còn đến hơn trăm người. Thoạt coi đầu bảng, thấy tên Đoàn Bằng, ai nầy đều vỗ tay reo. Cách vài dòng nữa, đến tên Vân Hạc. Rồi cuối bảng, thì tên Tiêm Hồng. Riêng tên Đốc Cung, tìm đi hâm lại mấy lần không thấy. Bấy giờ Đốc Cung mới càng chột dạ. Cả bọn đều tỏ ra vẻ ái ngại. Đốc Cung nói bằng giọng liều:
- Có lẽ họ cho mình ra bảng con thật chắc!
Đoàn Bằng nhất định không tin:
Chẳng có lý nào như thế Vân Hạc cố trêu Đốc Cung:
- Lý nào cái đó? Hễ viết vô ý một tí, thì được nêu tên bảng con, chứ có khó gì?
Rồi đó, chẳng ai bảo ai, cả bọn đều đi đến cạnh bảng con.
Cái bảng mới xấu làm sao! Nó là một mảnh cót cũ, quét vôi nhơm nhếch như một tấm mái nhà mồ, bề ngang chừng hơn ba gang, bề dọc độ gần ba thước.
Người ta treo nó trong cái nhà bảng lụp xụp, mặt bảng chỉ độ ngang với mặt người.
Nhác trông trên bảng, Vân Hạc liền kêu giật giọng.
Thôi chết' Có tên anh Cung thật rồi. ' Mọi người ngơ ngác nhìn theo. Trong bảng có chừng mười mấy tên người. Người thì phạm húy, người thì "khiếm đài", người thì viết không đủ quyển. . . mỗi người môi tội khác nhau. Tên của Đốc Cung liệt ở giữa bảng, dưới có bốn chữ "cổ văn khiếm ty" viết nhỏ theo lối chú cước, đối với bốn chữ "HAø Nội, Trúc Lâm".
Tất cả bốn người sắc mặt đều thấy tái mét. Vân Hạc sẽ hỏi Đốc Cung:
- Chắc là trong quyển của anh có chỗ dùng phải những chữ trùng với tên lăng, tên điện của nhà vua mày anh không biết.
Đoàn Bằng trả lời:
- Không có! Sáng nay tên đã xem đi xem lại bản giáp của bác ấy rồi. Chẳng có chỗ nào khiếm ty.
Vân Hạc vẫn ngó Đốc Cung:
Nhưng mà bản giáp của anh có đúng như trong quyển thi hay không?
Đốc Cung đáp bằng giọng cả quyết:
Đúng lắm. Đúng từ những chỗ "đồ di câu cải" trở đi. Có đều trong quyển viết chữ chân phương, bản giáp thì hơi đá thảo một chút.
Tiên Hồng nói xen:
Nếu vậy, thì bác phải làm ngay giấy khiếu oan, đưa vào trong trường, để xin quan trường xét lại.
Đốc Cung ra vẻ tự phụ:
Khiếu làm cái gì? Hỏng khoa này lại thi khoa sau, chẳng tội gì mà cày cục?
Đoàn Bằng gạt đi:
- Bác nói tuy vẫn có lý, nhưng học trò đi thi mà phải nêu ra bảng con, cũng là một sự mang tiếng, có khi còn để lụy cho các quan huấn giáo hạt mình nữa chứ! Bởi vậy. tôi tưởng bác nên khiếu oan, để rửa cái tai tiếng kia.
- Khiếu oan là phải. Nhưng cũng hãy nên coi lại bản giáp lần nữa cho thật cẩn thận xem rằng có đích là mình bị oan hay không.
Tiêm Hồng khen phải. Lập tức cả bọn kéo về nhà trọ.
Bấy giờ ở các đường phố, học trò đã đương nhao nháo kháo nhau về chuyện Đốc Cung phải ra bảng con.
Mỗi khi gặp người quen biết hỏi thăm, Đốc Cung tưởng mỗi nhời nói của họ là một mũi giáo đâm vào ruột mình. Nhưng chàng cũng chỉ đáp lại bằng một nụ cười, vì không biết trả lời thế nào cho phải.
Tới nhà, Đoàn Bằng giục luôn Đốc Cung lấy ngay bản giáp của chàng đưa cho mình coi. Cả bọn xúm lại trên mảnh giấy, giở suốt từ đầu đến cuối, chẳng thấy .
"khiếm ty" chỗ nào. Sau cùng đến lượt Vân Hạc. Coi một lần trước cũng không thấy gì, nhưng còn hồ nghí, chàng lại coi thêm lần nữa. Khi giở đến tờ thứ tư, Vân Hạc chỉ tay vào một dòng chữ và nói bằng một giọng kình ngạc:
- Còn oan gì nữa, chẳng "khiếm ty" thì cái gì đây?
Mọi người đều nhìn theo chỗ Vân Hạc đã chỉ, thì thấy có mấy chữ rằng:
"Tam bách niên xã tắc chi trường, ninh phi lại ư thử tai".
Lúc ấy ai nấy thất sắc, Đốc Cung vỗ tay xuống phản và nói hai tiếng vắn cộc:
- Con chó' Rồi chàng lại thuần vẻ mặt và cười:
- Bốn người tìm mãi từ sáng đến giờ mới thấy, thế mà trong lúc chấm văn nhanh như ăn cướp, quan trường cũng bới ra được, thật là thánh quá. Hỏng thì hỏng, tôi cũng bái phục cái tài xoi mói của các ngài ấy.
Thêm Hồng ngắt lời: ~ Không phải là các quan trường có ý bới móc. Bởi tại mệnh lệnh nhà vau giao cho như vậy, nếu không làm hết chức vụ, tất nhiên tội sẽ đến thân. Ngày xưa, biết bao nhiêu ông khảo quan; chỉ vì chấm văn sơ xuất mà bị phạt bổng, giáng cấp, có ông còn bì cách chức nữa kia!
Đoàn Bằng an ủi Đốc Cung:
- Thôi, bác cũng đừng phàn nàn. Chúng ta còn đương niên thiếu lực cường, tiền trình còn dài, chẳng đỗ khoa này thì đỗ khoa khác. Miễn là bác đừng ngã lòng.
Đốc Cung vẫn ngông:
- Tôi chẳng ngã lòng chút nào. Lương Hiệu nhà Tống tám mươi hai tuổi còn thi và còn đỗ được trạng nguyên, nay tối mới hai mốt tuổi, chưa đỗ cũng chưa là muộn. Chỉ hiềm bản triều không lấy trạng nguyên mà vân Hạc cố ý trêu ghẹo:
Tôi cũng chắc anh phải đỗ, nếu mà trời cho học lực của anh được bằng người ta.
Dốc Cung cũng trả miếng bàng giọng bông đùa:
- Vậy còn anh nữa? Không biết năm nay học lực của anh đã bằng người ta hay chưa?
Vân Hạc chưa kịp trả lời, ông chủ nhà trọ vừa ở nhà dưới đi lên và nói lễ phép:
- Vì bận sai bảo chúng nó làm mấy món ăn, cho nên từ nãy đến giờ, tôi chưa kịp hỏi chuyện các ngài.
Thế nào? Bốn ngài được "vào" cả chứ?' Đốc Cung chỉ vào anh em Vân Hạc và đáp:
- Cả ba ông này đều "vào", chỉ có một mình tôi hỏng. Dúng như lời ông nói lúc sáng ngày, tôi bị nêu ra bảng con thật!
ông chủ nhà trọ đường định tìm câu an ủi Đốc Cung, nhưng chưa tìm được, ngoài cổng bỗng có tiếng người là lạ:
- Bùi tiên sinh vẫn còn ở đây đấy chứ?
Đốc Cung lầm bầm với Vân Hạc:
- Thằng nào mà hỏi đến vậy. Chắc nó tưởng mình bị hỏng, đã xách khăn gói cút rồi.
Rồi chàng nói chõ ra cổng:
- Tiên sinh còn đây. Ai muốn hỏi gì thì vào trong này.
ông chủ nhà trọ lật đật. chạy ra đón khách.
Có phải ai đâu Cậu Trần Đức Chinh hôm nọ.
Giữa lúc Đoàn Bằng, Tiêm Hồng cùng ngẩng lên nhôm, Đức Chinh đã ở ngoài sân tiến vào với một dáng điệu bạo dạn, khác hẳn cái bộ rụt rè khúm núm trong lúc hắn đi thuê người làm văn.
Cả bọn cùng đứng dậy chào.
Sau khi Đốc Cung đã lần lượt nói tên người nọ với người kia, Đoàn bằng mời đức Chinh cùng ngồi vào chỗ mọi người đương ngồi. Vân Hạc sẽ hỏi Đức Chinh:
- Cậu có được ,'vào" hay không?
Đức Chinh đáp bằng vẻ mặt sung sướng:
Không, tôi bị hỏng.
Rồi hắn nhìn sang Đốc Cung:
- Chết chửa? Sao ở bảng con tôi lại thấy có tên ông?
Đốc Cung cười nhạt: ' - Viết văn không cẩn thận, thì phải nêu ra bảng con, chứ có lạ gì sự đó?
Đức Chinh nói tiếp:
- Vậy ông phạm phải lỗi gì? Không phải là phạm húy chứ?
- Không' Có phạm húy đâu? Tôi phạm vào tội "khiếm ty". Vì ở đoạn văn nói về đời Đường của tôi, lỡ viết phải câu "tam bách niên xã tắc chi trường, ninh phi lại ư thừ tái".
ông chủ nhà trọ đứng ở bên cạnh, có ý lấy làm kinh ngạc, liền hỏi:
Thưa ông câu ấy là nghĩa thế nào?
Đốc Cung đáp:
- Nghĩa là "xã tắc nhà Đường- lâu dài đến 'ba trăm năm, há chẳng phải nhờ ở điều đó hay sao?" ông chủ nhà trọ càng lấy làm lạ:
- Như thế thì có can gì mà đến phải nêu bảng con?
Đức Chinh hùa theo:
- Chắc là ông bị cái lỗi gì khác, chứ như câu ấy thì có việc gì?
Đốc Cung chỉ cười không trả lời. Đoàn Bằng rẽ rẽ cắt nghĩa:
- Phải đấy, ông Cung phải nêu bảng con là tại câu đó Bởi vì theo phép bản triều, học trò đi thi chẳng những phải kiêng khinh húy, trọng húy của nhà vua:
mà đến những chữ tên các cung điện, lăng tẩm trong kinh bây giờ, cũng đều không được dùng đến. Ví như lăng ông Gia Long tên là Thiên thụ, thì khi làm ván không được viết chữ Thiên thụ. Hay như ở trong hoàng cung có điện Cần chálth~ thì chữ Cần chánh cũng không được dùng làm văn... Nhưng chỉ kiêng ở văn cổ mà thôi.
Đức Chinh cốlàm ra bộ thạo việc trường ốc:
Tôi cũng biết thế, nhưng trong hai câu của Bùi tiên sinh có chữ nào phạm lệ đó đâu?
Đoàn Bằng nói tiếp:
Có chứ' Chữ "trường" và chữ "ninh".
ông chủ nhà trọ vội hỏi:
- Thưa ngài, thế hai chữ ấy cũng phạm húy ư?
Đoàn Báng lắc đầu:
Không, trường ninh là tên cái cung nào đó. Hmh như là cung của Hoàng thái hậu vẫn ở thì phải.
Đức Chinh ra vẻ ngơ ngác:
- Quái lạ, trong hai câu của Bùi tiên sinh, làm gì có chữ trường ninh.
Vân Hạc phì cười và nói:
Vậy thì cậu thử đọc lại xem nào' Đức Chính lẩm nh,im lần nữa:
thử tai?
Rồi hắn vỗ đùi đánh đét:
à! Phải rồi! Có thật' Chữ trường ở cuối câu trên, chữ ninh ở đầu câu dưới.
Và hắn lại hỏi:
- Tôi tưởng về những chữ tên lăng tẩm cung điện nhà vua, chỉ có khi nào hai chữ cùng ở một câu mới là phạm cấm. Mỗi chữ mỗi nơi như thế cũng phải kiêng ư?
Tiêm Hồng nói góp:
- Bởi vì hai chữ tuy ở hai câu, nhưng nó đứng liền nhau thì cũng như ở một câu, cho nên cũng là có tội.
ông chủ nhà trọ nhanh mồm lè lưỡi và tỏ ra vẻ kinh sợ: ' Trời ơi, rắc rối quá chừng. Cứ như chúng tôi, thì tránh cho hết hàng trăm chữ húy cũng đã khó thay, huống chi lại còn những cái oái oăm ấy nữa. Vậy mà các ngài đều tránh được cả, tôi xin phục là ông thánh.
Đoàn Bằng lài tiếp:
Có phải chỉ thế thôi đâư Lại còn cái nạn "khiếm trang" mới đáng sợ chức Đức Chinh cũng như ông chủ nhà trọ, chỉ ngồi ngẩn mặt, hình r~hư có ý chờ nghe. Đoàn Bằng nhôm vào ông chú nhà trọ và hỏi:
Chắc ông chưa rõ khiếm trang là gì?
Rồi thày liền giảng:
Khiếm trang nghĩa là thiếu sự kính trọng. Theo đúng lệ đó, thì hết thảy những chữ có nghĩa không hay, như bạo là tợn hôn là tôi, cách là đấm, sát là giết v.v...
không được đặt trên các chữ có nghĩa là vua, như là chữ hoàng đê, chữ quân, chữ vương, chữ chủ... i vì nếu để chữ cách liền với chữ quân thì nó sẽ có nghĩa là đấm vua, mà để chữ bạo liền với chữ chủ thì nó phải có nghĩa là ông vua tàn bạo. Dù mà mình không chỉ vào vua nào, hay là mình đã chỉ đích vào những hạng vua vô đạo của Tầu ngày xưa, như bọn vua Kiệt, vua Trụ .
chẳng hạn, cũng là khiếm trang tất cả.
Đến lượt ông chủ nhà trọ:
Khiếm trang sẽ bị tội gì?
Vân Hạc nhìn vào Đốc Cung rồi cười và đoán:
Nhẹ hơn "khiếm tỵ" một chút, nghĩa là chỉ bị đánh hỏng, không có hân hạnh được ra bảng con như Bùi tiên sinh nhà tôi.
Tiêm Hồng không bằng lòng sự bông đùa của Vân Hạc, vội vàng nói cho lấp đi.
- Năm xưa, một ông tú tài ở tỉnh Đông, bạn thân của anh cả tôi, cũng xuýt bị tội về cái nạn đó.
Nhũng lại một lát để nhìn Đức Chinh và ông chủ nhà trọ, Tiêm Hồng lại tiếp:
- Khoa ấy - tôi kllôllg rõ là khoa nào - ông ấy đã vào đến kỳ thứ ba. Trong bài văn sách của ông ta có câu như vầy: "Xuân sinh thu sái. đế đạo dữ thiên đạo nhị tịnh l~àllll". Thế mà cũng bị quan trường cho là khiếm trang. Rồi quan ngoại trường ngự sử lại hạch thê~n rằng: tú tài đi thi mà còn phạm vào ky húy, thì nên phạt cho thật nặng. May nhờ được quan chủ khảo có lượng khoan dại, ngài phải hết sức bênh vực, ông ta mới được khỏi tội. Nhưng mà cũng phải đánh hỏng.
ông chủ nhà trọ ra bộ ngơ ngẩn:
Vậy thì, thưa ngài. nghĩa đen câu ấy ra sao?
Tiêm Hồng đáp: .
- Có gì đâu? Nghĩa nó chỉ là "Mùa xuân sinh ra.
mùa thu thu lại việc của đời "đế" cũng đi đôi với việc của ông trời". Có thế thôi.
Dực Chỉnh vẫn chưa hiểu và ]lỏi:
- Song mà trong bấy nhiêu chữ. người ta ghép những chữ nào có tội khiếm trang Chữ "sái" và chữ "đê~ Chữ sái chính nghĩa là thu.
đáng lê cũng không xấu xa, gở độc gì cả. Chỉ vì bản thể của nó nguyên ở chữ "sát" là "giết" mà chuyển âm ra.
Sái với sát đọc tuy khác nhau, nhưng mặt chữ cũng vẫn là một, cho nên đặt chữ sái liền với chữ đế tuy rằng mỗi chữ ở mỗi câu, người ta cũng có thể nhập lại làm một đọc nó ra "sát đế". "Sát đế" nghĩa là giết vua, như thế tức là khiếm trang, chứ gì.
ông chủ nhà trọ đứng dậy, chắp tay vái lia, vái lịa:
Thôi! Tôi xin lạy cả nón. Phúc tổ nhà tôi, làm sao lúc học dốt quá, đành phải bỏ học đi cày. Nếu như tôi sáng dạ một chút, mà cố theo đuổi để được cắp quyển vào trường với các ngài, thì chắc suốt đời bị tội!
Và ông ấy nói thêm:
- Nghe chuyện các ngài, làm cho tôi càng thêm sợ.
Vậy xin phép các ngài, tôi đi giục nó làm .cơm kẻo muộn.
Kồi thì ông ta quay mặt đi ra, Đốc Cung hình như đã thấy nóng ruột về cuộc chuyện phiếm, chàng ngoảnh sang phía Đức Chinh và hỏi:
- Cậu đến chơi hay có việc gì cần hỏi chúng tôi?
Đức Chinh mỉm cười như đương có chuyện đắc ý:
- Tôi muốn mời ngài đêm nay đi chơi giải buồn.
Bởi vì chúng mình cùng phường "hỏng" với nhau.
Đốc Cung cũng cười:
- Đa tạ cậu có hảo tâm. Nhưng tôi bây giờ ruột gan đương bồn chồn, còn thiết gì đến chơi bời? Vậy xin lỗi cậu để cho khi khác. Chúng fq còn nhiều ìúc gặp nhau. Vội gì?
Đức Chinh vẫn kèo nèo:
CỐ nhiên thi hỏng ái cũng phải tức, huống chi chúng mình đã lẽo đẽo vào đến tam trường. Tôi cũng cay đắng trong ruột, có lẽ còn hơn ngài nữa. Vì vậy, tôi muốn mời ngài đi chơi cho khuây.
Đốc Cung nhất định từ chối:
- Thồi cậu miễn cho? Từ sáng đến giờ tôi thấy trong ~h hơi mệt. Nếu lại thức đêm, tất nhiên sẽ thành ốm nặng. . .
Đức Chinh nói thêm vài câu tào lao, rồi hắn đứng dậy từ biệt.
Thằng nhỏ vừa bưng rượu đặt vào giữa phản, sau ' khi nó đã trmh trọng xin phép mấy ông khách trọ.
Cũng như sáng ngày, ông chủ nhà trọ, lại đến gãi tai mời chào, rồi tự lảng đi nơi khác.
Cả bọn bấy giờ mới thay khăn áo, rồi cùng ngồi vào mâm.
Trong ìú~ chén thù chén tạc, Đốc Cung tuy cũng có vẻ cảm khái, nhưng vì Vân Hạc thmh thoảng lại chêm một câu bông đùa rất có ý vị, cho nên quang cảnh vẫn vui vẻ như tết.
Mặt trời đã xế. bóng nắng leo lên nửa tường của tòa nhà trước sân, bấy giờ cuộc rượu mới tan.
Mấy tuần trầu nước đã tàn, Đốc Cung cất tập giấy giáp bài vào tráp, rồi chàng ra mắc nhắc lấy khăn áo bỏ xuống chiếu. .
Đoàn BAè ~ vội hỏi:
Bác ở đây chứ? Đi đâu bây giờ?
Đốc Cung đáp:
Vâng, tôi ở đây. Có lẽ tôi sẽ ở mãi đến ngày xướng danh. Bởi vì tôi tuy hỏng, nhưng mà các bác "vào,, cả, thì cũng còn vui, tôi phải ở lại để mừng các bác. Có điều ngày mai các bác được đì vào trường, tôi ở nhà một mình, chắc là không thể chịu nổi. Vì vậy. . .
Đến đây, chàng bỗng ngừr~ lại để đưa ra một nụ cười:
Vì vậy tôi muốn xin phép các bác, đêm nay xuống thăm Hàng Lờ cho đỡ buồn. . .
Rồi chàng vội cúi mặt xuống, như muốn giấu kín những giọt nước mắt đương thập thò ở đầu con mắt.
Vân Hạc lại trêu:
Mày khóc đó Cung?
Đoàn Bằng vội ngăn:
Sao chú lại cứ bông đùa mãi thết Và với vẻ mặt rất cảm động, thày quay lại nhìn Đốc Cung.
Hôm nay thì tôi không dám can bác. Nhưng đến chiều mai, bác lại về đây, để cho chúng tôi đi với!
Vân Hạc lại hỏi Đốc Cung:
Thế sao Trần Đức Chinh đến mời, anh không đi luôn với hắn?
Đốc Cung lại cười:
- Đi chơi với thằng tục tử ấy có gì là thú? Vả lại, nghe lời hắn nói, tôi đã sinh ghét. Hỏng thi cũng có năm, bảy thứ người, hắn bì với tôi được à? Thế mà bấy giờ hắn dám nói rằng: "chúng mình cũng là "phường hỏng" với nhau'. Như vậy, anh bảo có tức hay không?
Vân Hạc cũng cười:
Kể cả cũng đáng tức thật' Nhưng mà anh hơn gì ' hắn? Anh tam trường, hắn cũng tam trưởng. Và chưa biết chừng, có khi mai kia hắn sẽ đỗ được tú tài cũng nén.
Tiêm Hồng lắc đầu:
Khó lòng lắm. Tuy rang người hỏng tam trường cũng có thể đỗ được tú tài. Nhưng khoa này cả trường Hà Nội chỉ lấy hai bốn cử nhân, theo lệ "nhất cứ tam tứ' thì được bảy hai ông tú tài nữa. Thế là kể cả tú tài, cử nhân, cả trường mới có chín mươi sáu người.
Nếu nhà vua có gia ân mà lấy thêm nữa. chẳng qua cũng đến trăm người là cùng. Vậy mà sáng ngày coi ở trên bảng, số vào phúc hạch đã được hơn một trăm rồi. Thế thì khi nào tú tài còn đến phần hắn?
Đốc Cung họa theo:
- Phải! Nếu hắn mà đỗ, thì cũng đáng buồn cho cuộc thi cử.
Vừa nói, Đốc Cung vừa thủng thẳng rửa mặt chải đầu, coi bộ như một người đương có việc gấp. Sau khi đội khăn mặc áo chỉnh tề, chàng lại mỉm cười với bọn Đoàn Bằng, Tiêm Hồng.
- Xin chúc các ngài ngày mai viết cho linh lợi!
Tôi đi, chiều mai .hoặc sáng ngày kia thì lại về đây Anh em Vân Hạc ai cũng có vẻ ái ngại, nhưng không ai dám nói thêm câu gì, vì sợ khêu mối đau lòng cho bạn.
Trời đã chiều cả. Ngoài phố lác đác có tiếng hàng quà đi rao.
ông chủ nhà trọ tất tả vào giục các ông khách trọ giao hết lều chõng cho mình sắp sửa. Là vì kỳ này học trò đã vắng. Những ai được vào, đều phải đem lều chõng nộp sẵn từ chiều hôm trước, để lính thể sát đóng cho, ngày mai chỉ việc vào đó mà ngồi, không phải lôi thôi gì nữa. ông chủ nhà trọ đã quen lệ đó, nên mới Tức thì Vân Hạc kiểm điểm các thứ đồ đạc của hai anh và mượn lều chõng của Đốc Cung vì lều chõng của chàng kỳ trước bỏ không đem về đưa nhờ ông chú nhà trọ bó buộc đâu đấy. Rồi chàng lấy ba mảnh giấy viết tên ba người dán vào mỗi bộ áo lều một mảnh, và giao cả cho thằng nhỏ đưa lên cửa trường. ở đấy đã có một người lại phòng thu nhận.
Trong thành bắt đầu nổi trống thu không. Tiếng chuông ở các chùa xa văng vẳng đưa lại.
Trời nhá nhem tối. Đoàn Bằng, Tiêm Hồng cùng giục Vân Hạc soát lại ống quyển, hộp mực, giấy bút và các đồ vặt để' ngày mai vào trường.
XV
Nửa đêm hôm qua hãy còn gió bấc mưa phùn, hơi lạnh thấu xương, nằm trong chăn tưởng như nằm trên vũng nước. Nhưng từ gà gáy thứ nhất trở đi, thình lình quay ra gió nồm. Khí lạnh bị tống bớt về các rừng núi nẻo Tây Bắc, Hà Nội dần dần hồi lại trong cảnh ấm áp Sau khi vừng đông đỏ như vừng lửa đă thiêu tan hết .bức màn nặng nề u ám của sương mù, bầu trời mỗi lúc một thêm sáng sủa. Tuy là tiết đầu tháng một, vẻ kiều mỹ không khác quang cảnh một buổi mai của tháng đầu xuân.
Anh em Vân Hạc xong tiệc điểm tâm, ánh nắng đã lóng lánh nhuộm các ngọn cây vàng úa. Bấy giờ ai nấy mới sắm sửa quần áo và các đồ đạc để vào trường.
Lần này cái vai đã được nhẹ nợ, vì nó không phải đeo chõng và lều. Nhưng trách nhiệm cái cổ vẫn chưa bớt đi chút nào, ống quyển, bầu nước và tráp hoặc yên vẫn còn thi nhau bíu chặt lấy cổ mà lủng lẳng đánh đu xuống ngực và bụng.
Kỳ này chỉ thi trong một vi giáp. Tuy số học trò được vào có hơn một trăm, nhưng ngoài cửa vi cũng thấy bóng người đông nghịt. Bởi vì, ngoài các thí sinh, còn có phụ huynh tôn tộc của các ông "ngấp nghé tân khoa" cũng kéo tới đó để dự hưởng cái vinh dự trong cuộc đắc thắng của người nhà mình.
Tan một hồi trống khẩu dõng dạc điểm trong nhà Thập đạo, cửa trường mở rộng, tàn lọng cờ quạt linh đình rước lá cờ khâm sai và ông chủ khảo từ trong trường ra chiếc ghế tréo ngoài cửa. Cái loa và các lính tráng lại chiếu lệ làm việc phận sự.
Bây giờ học trò không phải chen chọi vất vả như các kỳ trước. Người nào đã được cái loa nhắc đến tên mình, người ấy có thể ung dung tiến đến cửa trường, không bị ngàn cản chi hết. Nhưng mà bọn lính thể sát lại phải làm thêm một việc. Sau khi khám xong đồ đạc của người nào, họ còn phải dẫn người ấy đi đến dãy lều mà họ đã cắm từ tồi hôm trước, rồi bảo người ta vào lều mà ngồi.
Cuộc gọi tên lần này rất ngăn, mới độ nữa giờ đã xong. Công việc sắp đặt trong vi cũng có trật tự hơn trước Cả vi chia làm chừng hơn mười dãy, các dãy song song từ nhà Thập đạo ra đến bức phên ngoài cùng. Dãy nọ cách dãy kia độ năm sáu thước. ở giữa hai dãy giáp nhau, đều có cái khe rất rộng để làm đường đi. Mỗi dãy chỉ có đúng mười cái lều, cái nọ cách cái kia cũng độ năm thước trở lại. Vì muốn giữ cho người ở lều này khỏi nhòm thấy người ở lều kia, các lều đều cắm theo hình chữ "công", một cái nằm ngang, lại đến một cái nằm dọc.
Lều của Vân Hạc ở số 31, nằm ngay đầu dòng thứ tư, giáp với bức rào của nhà Thập đạo. Trong lúc người lính thể sát dẫn chàng tới đó và chỉ cho biết một mảnh giấy trắng có đề ba chữ tên chàng dán ở cửa lều, Vân Hạc có ý nhìn ở các dãy, xem rằng lều của Đoàn Bằng đóng ở chỗ nào - vì Đoàn Bằng đã vào trước chàng một lát Nhưng mà không thấy bóng anh ở đâu, chàng bèn chui vào trong lều, lục các đồ đạc lặt vặt bỏ ra mặt chõng, rồi giở bộ đồ đánh lửa, hì hục đập đá vào sắt lấy lửa hút thuốc. Thình lính nhớ đến Đốc Cung, bụng chàng càng thấy bồi hồi khó tả. Vì theo ý chàng, Đốc Cung cũng là bậc văn chương xuất sắc có thể đỗ to.
Chẳng ngờ vì hai chữ vô ý mà đến phải ra bảng "con'l thật là đáng tiếc.
"Thì ra văn hay chữ tốt, cũng chưa chắc đỗ. Có l~ cái việc đỗ hỏng, còn quan hệ ở sự may rủi nữa chăng".
Chàng đương vơ vẩn nghĩ quanh, trên chòi của quan ngự sử ngoại trường, bỗng nổi một hồi trống cái rất hùng dũng. Biết là sắp có đầu bài, chàng quen như lệ mọi kỳ, đã toan sắp sửa giấy mực ch đến nhà bảng, thì ở trên chòi lại có tiếng loa ậm ọe:
"Bớ toàn sĩ tử? Ai nấy ở yên trong lều, chờ hình đầu bài?" Tiếng "bài" vừa dứt, quan đề điệu vừa ở trên nhà Thập đạo đi xuống với chừng hơn mười người lình, mỗi người trong tay. có một tập giấy. Bọn lính chia ngả đi thẳng đến các dãy lều, quăng cho mỗi lều một mảnh giấy chữ.
Đó là giấy sao đầu bài. i vì kỳ này học trò đã thưa, đầu bài ra rồi, lại phòng liền phải xúm lại sao thành nhiều bản, rồi quan chủ khảo giao quan đề điệu đem đi phát cho mỗi người một bản, chứ không dán ở nhà bảng như các kỳ trước.
Lều của Vân Hạc ở ngay đầu dãy, nên chàng nhận được giấy sao trước các lều khác.
ở trong mảnh giấy, tất cả chỉ có ba bài, một bài Kính nghĩa, một bài phú và một bài văn sách. Trong ba bài đó, trừ bài kinh nghĩa phải viết cụ thể, còn hai bài sau, đều nhẹ hơn các kỳ trước. Bài phú chỉ có ba "vận", còn bài văn sách cũng độ năm sáu câu hỏi mà thôi.
Đây là thể lệ của phép thi mới. Theo như mấy khoa gần đây, thì kỳ phúc hạch của trường thi hương, cũng có ý nghĩa sát hạch lại các kỳ trước. Vì vậy, nó phải đủ các món văn của mấy kỳ kia để cho khảo quan có thể tựa vào các loại văn đó mà xét khiếu văn và sức học của từng người. Với các người khác, thì những đầu đề kỳ này, nói riêng từng bài, tuy có nhẹ thật song hợp cả lại thì lại rất nặng, vì nó gồm đủ văn thể của ba kỳ.
Nhưng với Vân Hạc thì chẳng có gì là nặng. Là bởi trong khi tập văn ở nhà, chàng vẫn nổi tiếng là người "học đềư' bất kỳ thơ phú, kinh nghĩa văn sách, hay món gì khác, món nào chàng cứng hơn người, anh em đồng học ít khi theo kịp.
Bởi vậy, trong khi ngó vào mấy cái đầu bài, thái độ của chàng tỏ ra cực kỳ ung dung.
Khi đã viết xong mấy dòng ở trang đầu quyển để đi lấy dấu nhật trung, chàng bắt đầu nghĩ nốt các vế của bài kinh nghĩa, rồi đến bài phú, rồi đến bài văn sách. Vì sợ có chỗ lầm lỡ như của Đốc Cung, mà trong lúc vô tình, tự mình không biết, cho nên mỗi khi nghĩ xong bài nào, chàng lại cẩn thận giáp hết bài ấy ra một mảnh giấy, và còn soát đi, soát lại từng câu từng chữ, có khi đến từng nét nữa. Khi nào không thấy có chỗ đáng ngờ và không còn chữ nào đáng chữa, bấy giờ chàng mới viết vào trong quyển.
Viết xong hai bài kinh nghĩa và phú, mới chừng quá trưa, chàng tiếc thì giờ còn nhiều, muốn hãy để bài văn sách lại đó, nung đúc cho thật kỹ càng. Nhưng khi coi lại mấy lần, chàng thấy lời văn đã đanh thép, không còn cách nào làm hơn, lúc ấy mới chịu cặm cụi viết nốt.
Kiểm lại trong quyển, không có chỗ nào xóa, sót, móc, chữa, theo đúng trường quy, thế là không phải viết "cộng quyển nội" ở cuối quyển nữa, bởi vì không có xóa, móc, chữa, thì "cộng" cái gì?
Lúc ấy không còn việc gì phải làm, chàng lại giở đá đánh lửa, rung đùi ngồi hút thuốc vặt.
Một lát sau, trên c~lòi có trống thu quyển, chàng mới bỏ quyển vào ống, thu xếp đồ đạc vào tráp. Đáng lẽ chàng lại bỏ cả lều chõng lần nữa, nhưng vì bộ lều chõng này là của Đốc Cung, không phải của mình, nên chàng lại cố hì hục dỡ lên, bó lại, và đeo lên vai, rồi sang bên nhà Thập đạo nộp quyển. Bấy giờ mặt trời còn cao, hết thảy học trò còn đương làm văn chưa xong.
Ra khỏi cổng trường, vừa gặp thằng nhỏ nhà trọ đến đón, chàng trút hết thảy đồ vật trên vai trên cổ cho nó về trước, rồi mình đủng đỉnh đi sau. Thmh lình ở phía trước mặt nghe có tiếng người ầm ầm.
Một bọn chừng hơn mười người hung hăng tiến lên đàng trước, hàng xứ xúm lại đi theo rất đông.
Trước luồng gió nhẹ, hời rượu sặc sụa theo đám người đó tiếp tục bay lên. Nhìn thấy mấy ông đi trước, ông nào, ông ấy, sắc mặt đỏ như màu mặt trời, dáng đi lảo ~ đảo như kẻ đương lên đồng trượng. Họ nghiêng bên nọ, họ ngả bên kia, có người vừa đi vừa nôn thốc nôn tháo khắp cả đường cái. Rồi họ nhao nhao chỉ tay lên phía cứa trường: ' - Văn ông như thế mà bỉ đánh hỏng, thật là một lũ không mắt.
Đã dốt không chấm nồi văn, thì về nhà mà ở với vợ' Sao lại dám đi chấm trường?
Thì ra đó là những ông hỏng kỳ đệ tam. Không biết đổ lỗi' cho ái, họ phải đổ cho quan trường.
Cứ một giọng hùng hổ vô lý như vậy, họ vm vai nhau, nắm tay nhau, chắn ngang cả một đoạn đường, vừa đi, vừa thét. Nhưng đi vài bước họ lái lăn xuống dọc đường, thi nhau vừa khóc vừa gào:
ối trời đất ới' Nó đỗ mà tôi bị hỏng, thì tôi còn mặt mũi nào trở về làng nữa' ối cha mẹ ơi' Nào tôi có làm điều gì thất đức, sao tôi cứ phái hỏng mãi thế này' Khốn nạn thân tôi, lẽo đẽo thi bao nhiêu khoa, bây giờ mới vào tam trường một khoa, không ngờ lại hỏng. Thôi công đến sách cũng là đổ cả xuống sông' Gào chán, khóc chán, họ lại đành đạch giãy ở mặt đường giống như những người ngộ gió. Trẻ con hàng xứ vỗ tay reo cười. Tiếng cười chua chát làm cho họ đều đứng phắt trở dậy, đuổi sấn đám người chung quanh và quát:
- Chúng bay cười gì?
- Có phải cười chúng ông dốt thì bảo?
Tan cuộc ra oai với lũ trẻ, họ liền nhặt lấy mỗi người một hòn gạch vỡ, hung hăng kéo lên nẻo cửa trường.
Vân Hạc biết là họ sắp sinh sự bậy bạ, chàng bèn cố len qua đám hàng xứ để đi ngược xuống. Vừa lủi thủi cất bước, chàng vừa nghĩ thầm: "Không .ngờ trong đám văn nho lại có những người liều lĩnh đến thế, không biết họ là học trò tỉnh nào?" Trên đường đã hết bóng nắng, chàng vừa lững thững đến phố hàng Đào, trước mặt lại có một đám người nữa cũng đương chiếm cả một khu đường đi.
Chắc đây cũng vẫn những vị anh hùng hỏng thi, chàng toan rẽ đi đường khác, trong đám chợt có tiếng người nói lớn:
- Việc này là cái nhục chung của sỹ lâm Hà Nội.
Nếu không làm cho ra chuyện thiên hạ sẽ coi sĩ khí Hà Nội là cái trò gì?
Rồi lại có tiếng tiếp theo:
vậy ai đã đọc sách thánh hiền cũng phải biết có nghĩa khí, lẽ nào thấy việc như vậy mà đứng im!
Và lại có người phụ họa:
- Phải đó? Nó chửi một người. tức là nó chửi tất cả sỹ lâm. Nó đánh một người tức là nó đánh tất cả sỹ lâm. Chúng ta đều là người trong thanh khí, cần phải bênh vực lấy nhau. Tôi xin anh em cứ đến mà đánh cho chết cả nhà nó đi, bao nhiêu tội, tôi xin chịu cả.
Rồi đó người ta kéo ùa lên nẻo hàng Ngang, tiếng hô sỹ lâm mỗi lúc mỗi thêm dữ dội.
"Cái gì mà to chuyện vậy?" Vân Hạc đã toan đi theo, để xém họ làm trò gì. Sau chàng lại nghĩ: nếu là một việc nghĩa khí, thì mình cũng phải dự cuộc, không thể bó tay làm kẻ bàng quan. Nhưng nếu nó chỉ là chuyện tức giận vô lý của bọn ngông cuồng, thì mình vào hùa làm chi cho dại. âu là ta hãy hỏi xem đầu đuôi ra sao cái đã? RỒI chàng quanh sang 'lối khác trở về nhà trọ. ông chủ, thằng nhỏ đều đi vắng cả. Trong nhà chỉ có mấy đứa bé con nhỏ lúi húi chơi ở trước sân và bộ lều chõng của chàng bỏ ở trên thềm.
Chàng vào trong nhà cởi khăn, cởi áo rồi tự bưng chậu ra bể múa nước rửa mặt.
Một lát sau, thằng nhỏ lễ mễ quẩy hai bó lều khệnh khạng đi vào trong sân, nét mặt hớn hở nhìn vào vân Hạc như có chuyện gì muốn nói. Nhưng nó còn chưa kịp nói, ngoài cổng đã có tiếng giầy lẹp kẹp, Đoàn Bằng, Tiêm Hồng cùng về với một dáng bộ nghiêm trang, như mới bị có việc gì trái ý. , Vân Hạc vội bỏ chậu nước và đứng lên chào. Cả hai người đều đổi ra bộ vui vẻ:
- Chú đã về rồi đấy à?
- Chú ở trường ra từ bao giờ?
Vân Hạc lê phép:
Em cũng vừa về đến nhà' Ba người liền cùng bước lên nhà trên, Đoàn Bằng, Tiêm Hồng vừa thay khăn áo vừa hỏi:
- Chú có gặp bọn say rượu ở ngoài cổng trường đấy chứ?
- Có ạ, em gặp bọn họ ở giữa đường.
- Ai ngờ sỹ lâm, lại có những hạng người vô hạnh như vậy? ở nhà không chịu học hành, đến lúc thi hỏng lại định gây sự với quan trường. . . Danh giáo nào dong những hạng người ấy?
Vân Hạc cũng hỏi:
Lại còn một bọn ở hàng Ngang nữa. Hai anh có gặp họ không" Tiêm Hồng đáp:
- Không Chúng tôi không thấy họ đâu' Nhưng mà thiếu gì! Trong kỳ đệ tam, số hỏng có đến hơn hai trăm người. Những ông ấy bây giờ còn đương phát điên phát cuồng. Hê họ tụ bạ ở đâu, thì sẽ nói bậy ở đấy.
Vân Hạc tỏ vẻ nghi ngờ:
- Có lẽ bọn ở hàng Ngang không phải vì chuyện thi hỏng. Em nghe thấy họ luôn luôn nhắc đến sĩ khí, hình như có người bị ai làm nhục.
Đoàn Bằng có ý ngạc nhiên:
- Lạ nhỉ! Không rõ là việc gì thết ông chủ nhà trọ ở đâu vừa về. Với một dáng điệu tất tả ông ấy vào thẳng trong nhà vừa thở hì hò vừa nói: ' Các quan về sớm quá nhỉ? Đáng lẽ chiều nay tôi cũng lên đón các ngài, sau vì có người rủ đi xem việc lôi thôi ở phố Hàng Giấy, nên lại không lên, các ngài miễn cho!
Rồi ông ấy thêm:
- Đáo để! Các ông học trò hăng quá. Không khéo nhà bá hộ K. sẽ bì tan tành.
Vân Hạc nghe nói, đồ là việc đó cũng có liên can đến bọn học trò hàng Đào, chàng liền hỏi tắt:
- Câu chuyện đầu đuôi ra sao, cũng hãy kể cho chúng tôi nghe. ~ LẾU CHÕNG 685 ông chủ nhà trọ quay ra phía sân để gọi thằng nhỏ châm lửa thắp đèn và giục người nhà làm cơm mau mau. RỒI ngồi vào chiếc phản cạnh, ông ta ra giọng đắc - Có gì đâu? Chỉ tại một câu nói chua.
Số là nhà bá hộ K. . . , các ngài chắc cũng đã biết, vốn là một nhà đại phú. BỞI khi buôn bán cũng có đồng chịu đồng trả, hoặc có giật bọc vay mượn của ông ta, cho nên ở phố hàng Giấy cũng nhiều người nể. ông ấy có người con gái, hình như tên là cô Kim, năm nay độ hài mười tuổi, người cũng khá đẹp, còn đương kén chồng, cả ngày vẫn ngồi ngoài cửa bán hàng. Con cái nhà giàu ở đất kẻ chợ, phần nhiều quen thói khỏng khảnh, huống chi cô nay đẻ ra đã sẵn có tính chua ngoa, thì còn coi ải ra gì? Thôi thì kẻ ăn người ở trong nhà, cho đến những khách ra vào mua bán, hễ ai mà nói thất ý nửa nhời, ấy là cô ta ngoan ngoắt nguyền rủa, có khi chửi trùm chửi lợp người ta nữa chức Vì vậy cả phố ai cũng phải sợ. Tmh cờ đến trưa hôm nay...
Tới đó ông ta ngừng lại để sai người nhà pha nước.
Vân Hạc cũng như nóng nghe, liền gặng:
Đến trưa hôm nay làm sao?
ông chủ nhà trọ hút tàn điếu thuốc rồi đáp:
- Đến trưa hôm nay, có ông học trò vào hàng hỏi mua giấy bút - Cứ nhiều người nói lại là ông đó hãy còn trẻ tuổi - chưa rõ quê quán ở đâu, cũng là số người hỏng kỳ đệ tam và còn ở đây chở bảng tù tài - Trong khi mặc cả, ông này có nói bông đùa sao đó. Cái đó kể ra cũng là sự thường. i vì "hoa thơm ai chẳng muốn vin". có phải thế không, thưa các ngài.
Anh em Vân Hạc chỉ cười không đáp, ông ta lại tiếp:
- Nhưng mà cô Kim là hạng chỏng lỏn có tiếng, đâu lại nghĩ nhũn như vậy? Khi thấy ông kia có ý trêu cợt cô này liền nổi tam bành, rủa luôn một thôi một thốc. ông kia trước còn cố nhịn, sau thấy cô Kim làm già, ông ta phát cáu cũng phải mắng lại một cách rất phũ. Thế rồi hai bên thành ra xô xát. Người nhà cô này nhao nhao chạy ra, níu lấy ông đó, xé tan mất cái khăn lượt và cái áo the. ông này vừa thẹn vừa tức, nhưng vì chỉ có một mình, không thể sao được. Lập tức ông ta chạy luôn về nhà trọ, thuật lại đầu đuôi với bạn cùng trọ và xin anh em rửa nhục cho mình. Trong nhà trọ tất cả mấy bọn, cũng có đến hơn mười người, nghe ông này nói ai nấy đều tỏ ra vẻ bất bình. Cả bọn liền kéo nhau đến trước cửa nhà bá hộ K. bắt đền khăn áo cho bạn. Giả sừ bá hộ K. xin lỗi một câu, có lẽ người ta cũng thôi. Song nào có thế! ông ấy lại giở lý sự và nói những câu cực kỳ vô lễ. Thế mới ngu chứ!
Thằng nhỏ vừa bưng siêu nước đến cạnh, ông chủ nhà trọ đứng dậy lấy bộ khay chén đặt sang giữa ghế.
Vân Hạc đón lấy ấm chén, vừa chuyên nước vừa để ý nghe. Tiêm Hồng hỏi:
ông bá hộ K. nói những thế nào?
Trước hết ông ta vu vạ cho ông học trò kia đã vào cửa hàng ăn cắp. Rồi thì ông ta lên giọng kẻ cả, bảo học trò thi hỏng toàn là những quân mất dạy. Sau hết, ông ta còn hỏi "chúng bay học trò thằng nào" và nói "ông thách thằng thày chúng mày đến đây cũng không làm gì ông tốt..." Tiêm Hồng tỏ ý tức giận:
- Như thế thì càn rỡ thật. Đánh cho chết đi cũng đáng' Vân Hạc bưng chén nước đưa ông chủ trọ và nói:
- ông hãy xơi nước cái đã' ông chủ nhà trọ đón lấy chén nước đặt xuống đầu ghế.
Các ông học trò lúc ấy tức lắm, đã toan xông vào đánh cho ông bá hộ K. một trận. Nhưng mà ông ta chạy thụt vào trong nhà và gọi một lũ gia nhân vác gậy đổ ra. Những đứa gia nhân sức khỏe như voi, chúng đẩy bọn này ra mãi ngoài đường, có ông ngã sấp ngã ngửa, lóp ngóp mãi mới đứng lên được..
Chén nước đầu phản đã nguội, ông chủ nhà trọ - Thế rồi ông bá hộ K. sai lũ gia nhân đứng canh trước cửa và dặn hễ thấy đứa nào đến gần, cứ việc đánh cho mất mạng.
Những ông học trò lúc này càng hăng, nhưng vì ít người không thể đối địch, các ông ấy bèn cắt một nửa ở đó để canh ông K, còn một nửa nữa, thì chạy tuốt về các phố nói cho bạn bè biết rõ tình đầu. Chỉ nửa giờ sau, học trò. các nơi kéo đến tấp nập. Người nào người ấy, sắc mặt hằm hằm như ông Long thần. ông bá hộ K. biết là thế nguy, hến sai người nhà đóng chặt cửa lại Cả nhà trốn hết lên gác. Ngoài này học trò mỗi lúc mỗi đông, đứng chặt cả hai dãy phố. Lúc ấy tôi tưởng người ta sẽ cùng chửi bới nhà kia tàn tệ, cho h~ cơn giận trong lòng. Té ra không, các ông ấy chỉ gọi ông bá hộ K. mở cửa ~tể anh em hỏi câu chuyện lúc nãy đầu đuôi thế nào. Nhưng mà ông bá hộ K. nhất định không thưa. Tức quá mấy ông trong bọn giục nhau đi mượn rìu búa phá cửa mà vào. Giữa khi đó thấy có một đội lính tuần chừng hơn mười người, sầm sập tiến lại. Té ra trong lúc đóng cửa, ông bá hộ K. đã sai người nhà vượt qua tường hậu chạy vào trong thành cấp báo. Có lẽ đối với một đám học trò, lại toàn là hạng tam trường, các quan cũng có lòng nể. i vậy, quan tổng đốc chỉ phái một bọn lính tuần ra đó đề phòng những sự hành hung, chứ không đàn áp. Nhưng khi bị lính ngăn cản, khí tức của các học trò lại càng như lửa thêm dầu, người ta bàn nhau phải kéo đổ nhà ông bá hộ K. để rửa cái nhục cho sỹ lâm rồi sẽ cùng đến cửa quan chịu tội.
Nhời bàn ấy đã được nhiều người khen phải. Và rồi học trò ~ớì đó mỗi lúc mỗi đông, kỉli tồi về đến đầu Hàng Đường, còn thấy một bọn độ vài chục_n~ười đổ lên nẻo phố Hàng Gạo, chắc cũng đi dự cuộc đó...
Tiềm Hồng ra bộ hả dạ:
- Đáng kiếp! Những đứa trọc phú phần nhiều vẫn hay láo hỗn vô lý. Có thế, chúng nó mới chừa.
Vân Hạc ra vẻ khảng khái:
- Nếu quả như vậy, thì việc này có thể là một nghĩa cử. Em muốn.chạy lên. xem sao. "Kiến nghĩa bất vi vô dũng giã"...
Đoàn Bằng vội vàng gạt đi:
- Chú nghĩ như vậy là lầm. Khi nào "danh Chinh ngôn thuận" mới gọi được là nghĩa cử. Đằng này, cứ theo như lời ông chủ nói đó, thì kỳ thủy nó chỉ là chuyện ve gái. ở đời ve gái mà đến bị rủa, bị xé là sự đương nhiên, không nên bênh vực làm chi. i vì thân gái quý ở hai chữ đoan trinh, nếu bị trêu ghẹo, người ta có quyền kháng cự, không ai được trách chỗ đó. Thế mà trong lúc cái ông ve gái bì nhục về nhà cầu cứu, những người cùng trọ không lấy lẽ phải mà khuyên anh em, lại còn kéo nhau đến nhà người ta để hòng gây chuyện.
Đó là tự các ông ấy đã bất chính rồi. ~ vân Hạc nói xen:
- Đã đành như thế, nhưng mà lão bá hộ K. cũng hỗn láo quá!
- Phải rồi. Lão đó cũng hỗn láo quá thật đấy!
Song vì những ông học trò có chỗ vô lý, thì hắn mới hỗn láo chứ. Sao không trách mình lại cứ trách người là cái nghĩa gì? Vả chăng, lão đó nói càn mấy câu, anh em trừng trị như thế, cũng đã xứng đáng lắm rồi. Không nên làm cho to việc ra nữa. Các chú thử nghĩ mà xem, bênh một người bạn chim gài mà đến hàng trăm học trò kéo đi phá nhà người ta, có thể gọi là "danh chính ngôn thuận" được không? Làm vậy thiên hạ hậu thế sẽ bảo chúng mình là hạng người gì?
Rồi thày kết luận:
- Thôi' Chú có đi mà can anh em, thì hãy nên đi, nếu đi để vào đảng với các ông ấy thì tôi không bằng lòng chút nào' .
ông chủ nhà trọ tán thêm:
Phải đấy! Các quan mới ở trường về, chắc còn mỏi mệt, không nên đi vội. Xin mời các ngài ở nhà xơi cơm, để tôi lại lên Hàng Giấy coi thừ công việc thế nào, rồi tôi nói để các ngài nghe, nên đi hay không, lúc đó sẽ quyết định.
Mọi người đều cho là phải. ông ta lại lật đật ra đi, sau khi đã xuống nhà dưới dặn bảo người nhà sắp sửa cơm nước.
Chừng nửa canh một, anh em Vân Hạc ăn cơm đã xong ai nấy nóng lòng chờ đợi.
Trăng non đã lặn, ngoài sân trời tối mù mù, bấy giờ ông ta mới đốt đuốc về. Nhanh nhảu đến chỗ bọn này đương ngồi, ông ấy vừa cười vừa nói:
- Đại phúc cho nhà ông bá hộ K. Chuyện đã dẹp yên. Các ông học trò đã đâu về đấy cả rồi.
Đoàn Bằng bảo ông ấy ngồi hẳn vào ghế rồi hỏi:
- Yên là thế nào? Anh em học trò bị giải tán hay có người nào đứng ra thu xếp?
- Có chút' Quan đốc học phải đến khuôn xếp. Ngà} thật khéo quá, cương có, nhu có, vì thế, các ông học trò mới phải vâng nhời.
Vừa nói, ông ấy vừa ghé vào trước Đoàn Bằng và tiếp:
- Tôi xin nói lại từ đầu để các ngài nghe. Lúc tôi lên đến Hàng Giấy đã thấy mấy cây đuốc lớn đương cháy đùng đùng, trong phố sáng như ban ngày. Hỏi đuốc lấy ở đâu ra, người ta nói rằng: đó là các ông học trò góp tiền mua nứa bó lại thành bó. Bấy giờ các ông học trò vẫn còn bàn tán hăng hái như trước, có điều ai nấy vẫn hai tay không. Tôi đương cố nghe xem các ông ấy bàn ra thế nào, thì ở đầu phố, có một người anh cầm chiếc đèn lồng sòi cho hai người lính khác khiêng một cái võng rẽ đám học trò đi đến trước cửa nhà bá hộ K.
Trên võng bước xuống một ông cụ già đầu đã bạc trắng.
Bóng lửa lấp loáng, nhôm mãi mới biết là quan đốc học.
điều này là lúc sau này người ta mới kể với tôi - thì ra trong lúc các ông học trò hò nhau kéo đổ nhà há hộ K.
một người lính tuần ở đó liền chạy về thành báo tin với quan tổng đốc. Lập tức quan tổng đốc cho người vào dính bàn cách khu xử. Không biết hai ngài bàn định thế nào, mà quan tổng đốc phái quan đốc học thân hành đến đó. Các ông học trò lúc ấy mới đáng Kính phục làm sao' Ai nấy đều đương cơn thịnh nộ, thế mà thấy quan đốc học, cả đám đều chắp tay vái chào, rồi cùng nín im phăng phắc như đám ba quân chờ nghe hiệu lệnh ' của ông đại tướng. . .
Tiêm Hồng nói xen:
Cái đó là lẽ tất nhiên. i vì quan đốc học là người đứng đầu việc học trong một tỉnh, 'học trò tuy không học ngài, nhưng cũng phái coi như thầy. Vả chăng, cụ đốc học Hà Nội lài là một bậc danh vọng, ai mà không phải kính trọng?
Vân Hạc hỏi gặng:
- Thế rồi cụ đốc làm gì?
Ngài bảo các ông học trò đứng xếp hàng ở hai dãy phố để ngài giảng giải. 'Trước hết, ngài khen các ông đó đều có khí khái, biết bệnh thể diện của sỹ lâm.
Rồi ngài hỏi ai là người đã bị con bá hộ K. lăng mạ và xé khăn áo. Một ông học trò liền chạy ra nhận. Ngài bảo ông đó đứng ra một bên, và ngài hỏi đến những người đã đến nhà bá hộ K. bắt đền quần áo cho bạn và bị ông ta nói hỗn. Chừng hơn mười người ra trước mặt ngài thưa là chúng con. Ngài lại bảo những ông này đứng sang một bên. Bấy giờ ngài mới chỉ vào cái ông học trò bị xé khăn áo và cất giọng nghiêm nghị mà răng: ~ ',Anh đã nói trêu con gái bá hộ K. phải không ' ông này chối không, nhưng ngài không tin và noi:
"Ta biết cả rồi, anh không thể cãi. Công nhiên vào nhà lương gia ve vãn con gái người ta, như anh tức là tội nhân của danh giáo".
Luôn đó, ngài quay sang phía những ông đã bị ông bá hộ K. nói hỗn và quở như vầy:
"Thấy bạn làm xằng, đáng lẽ can đi mới phải. Các anh không can, lại còn kéo bè kéo đảng, định lấy danh nghĩa nho lâm bênh vực một kẻ ve gái, chẳng những gây thêm nết xấu cho bạn, mà còn làm cho danh giáo phải điếm nhục nữa, nghe không Tất cả mấy ông học trò đều am thin thít. Khi ấy ngài mới sai lính đập cửa gọi hai cha con bá hộ K. ra đứng ở trước mặt ngài. Hai người hình như vẫn chưa hết cơn sợ hãi, vẻ mặt không còn sắc máu và đều chắp tay, cúi đầu, không dám trông lên. Trước hết quan đốc học mắng người con gái thế này:
"Mày là phận gái, gặp kẻ trêu ghẹo, cố nhiên cũng nên mắng lại, nhưng phải mắng cho có lẽ. Ai cho mày chửi rủa người ta, rồi lại sai lũ đầy tớ xé cả khăn áo người ta? Mày có biết "lăng mạ người khác", phải tội như thế nào không '.
Rồi ngài mắng ông bá hộ K như vầy:
"Mày thách thằng thày các anh học trò cũng không làm gì được mày phải không? Tao là một người ở bậc thầy vậy tao muốn hỏi mày thách những gì~ ông bá hộ K. chắp tay lạy lấy lạy để coi rất buồn cười Quan đốc học lại chỉ vào mặt ông bá hộ K. và nói giận dữ như vầy:
"Thế là mày đã không biết răn con, lại còn bênh con mà vô lễ với tất cả người trong nho lâm. Người ta muốn phá nhà mày, không phải là quá?".
ông bá hộ K. cúi gục tận đất, kêu xin tha tội.
Đến đây, ông chủ nhà trọ tạm nghỉ để hút một hơi thuốc lào. Đoàn Bằng chờ cho khỏi thuốc ra hết, lại hỏi:
- Thế rồi sao nữa?
ông chủ nhà trọ giương hai con mắt lờ đờ của kẻ say thuốc và đáp:
Thế rồi quan đốc học bắt ông bá hộ K. phải xin lỗi cả đám học trò, nbợườỉ con gái phải xin lỗi cái ông bị xé, hai cha con phải đền ông này một cái khăn lượt một cái áo the. Và ngài còn bắt ông bá hộ K. và ông học trò bị xé, ngày mai phải xuống Văn Miếu lễ tạ và chịu mỗi người một chục roi đòn. Những ông học trò đi bắt đền áo cho bạn cũng phải lễ tạ Văn Miếu. Trước khi ra về, ngài đã sai người lễ sinh đi hầu phải hỏi tên họ của các học trò bị phạt, biên vào mảnh giấy, để họ khỏi trốn.
Và ngài còn nói giờ ngọ ngày mai, ngài sẽ xuống nhà Văn Miếu thi hành các lệnh phạt kia, các ông học trò nếu có thì giờ, cũng nên tới đó chứng kiến cuộc trừng phạt đó.
ông chủ nhà trọ kết luận:
- Tôi tức cười nhất là lúc cha con ông bá hộ K. cúi lạy các ông học trò và nói mấy câu xin lỗi. Cái bộ điệu của họ lúc ấy thật là khúm núm khốn nạn, chẳng bù với lúc quạc mồm nói càn. _ Anh em Vân Hạc đều khen: ' - Cụ đốc khu xử như vậy, thật hợp tình hợp lý, anh em học trò kính phục là phải. Ngày mai chún~ý mình nếu có thong thả, cũng nên xuống nhà Văn Miếu mà xem cho hay.
Vui sống cuộc đời giản dị !