📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Tô Hoài

16 trả lời, 1.151 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-28 16:37:52HongYen>
Tô Hoài và tiểu thuyết về cải cách ruộng đất
28 Tháng 12 2006 - Cập nhật 10h19 GMT

Lê Quỳnh
BBC Việt ngữ

 
 
Nhà văn Tô Hoài viết quyển Ba Người Khác đã lâu, nhưng nay cuốn sách mới được phát hành

Hơn một thập niên sau khi tác phẩm được hoàn thành, Việt Nam đã cho ấn hành tiểu thuyết của nhà văn kỳ cựu Tô Hoài, viết trực diện về chiến dịch cải cách ruộng đất thập niên 1950.
[/align] 
[/align]Đã có nhiều lời khen ngay sau khi cuốn sách ra mắt, và một số nhà phê bình gọi đây là tác phẩm hay nhất từ trước tới nay về một đề tài vẫn bị tránh né ở Việt Nam.
Tiểu thuyết Ba Người Khác được viết từ góc nhìn của người trong cuộc là thành viên trong đội cải cách, chứng kiến một sự kiện lịch sử đảo lộn toàn bộ đời sống nông thôn miền Bắc lúc bấy giờ.
 
Lịch sử nhạy cảm
 
Cải cách ruộng đất chính thức bắt đầu ngày 25-12-1953 và kết thúc ngày 30-7-1956, được chia làm sáu đợt.
 

Nhiều vấn đề trong lịch sử Việt Nam chưa được thảo luận rộng rãi

Nhiề̀u ngàn người đã trở thành nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất.

Về con số người chết trong chiến dịch cải cách ruộng đất, các nhà nghiên cứu đến nay vẫn không có được sự đồng thuận. Các con số khác biệt từ 10.000 đến 500.000 người.

Một ý kiến cực đoan là của Hoàng Văn Chí, người tin rằng 5% dân số miền Bắc (675.000 người) đã chết. Cuốn sách From Colonialism to Communism của ông này đã có tác động mạnh đến cuộc tranh luận về vấn đề con số. Còn một cuốn sách có tiếng khác của Edwin Moise, Land Reform in China and North Vietnam (1983), ước đoán con số người chết khoảng 5000.
 
Sau nửa thế kỷ, cải cách ruộng đất vẫn là đề tài cấm kị trong văn học nghệ thuật Việt Nam.
 
Khoảng năm 1957, tiểu thuyết đầu tay Sắp Cưới của Vũ Bão đã bị phê phán quyết liệt vì đụng đến những sai lầm trong cải cách ruộng đất.
 
Cho đến năm 1990 trong bối cảnh đổi mới, mới lại có thêm một tiểu thuyết về đề tài này, Ác mộng của Ngô Ngọc Bội.
 
Và bây giờ là tiểu thuyết Ba Người Khác của Tô Hoài, người từng trực tiếp làm “anh đội cải cách rồi anh đội sửa sai” trong giai đoạn lịch sử ấy.

Vết thương tâm lý.
 
Viết về cuốn sách của Tô Hoài, nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân, người đã đọc bản thảo từ nhiều năm trước, cho rằng sự xuất hiện của những cuốn như vậy là “cách giải tỏa cho một trong những chấn thương của xã hội.”
 
Còn nhiều vấn đề trong lịch sử hiện đại Việt Nam có những cách nhìn nhận khác nhau.

Một bên cho rằng cần hướng đến tương lai, bỏ qua vết thương quá khứ và nhiều khi đi kèm để tăng sức mạnh cho luận điểm này là sự kiểm soát và kiểm duyệt.

Một số người khác lại nói để có sự hòa giải thực sự với quá khứ, hàn gắn những vết thương thì không thể bắt người ta im lặng mà cần có những chuyện kể được viết ra, được có sự tranh luận.
 
Việc một tiểu thuyết như Ba Người Khác được ra mắt là dấu hiệu cho thấy không khí xã hội đã có sự điềm tĩnh hơn để nhìn trở lại một lịch sử chung của cộng đồng.

Dĩ nhiên, liệu từ tiếng vang của một tác phẩm có dẫn đến trào lưu - tương tự như dòng văn học Vết thương của Trung Quốc cuối thập niên 1970 - hay không, vẫn còn quá sớm để biết.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culturesport/story/2006/12/061227_tohoai_new_novel.shtml

Đăng nhập để trả lời
0
.
 
Tổng quan về hồi ký Tô Hoài
damau.org: số 5 thứ ba 12.09.2006
 
Mừng Sinh Nhật nhà văn tám mươi sáu tuổi
Đặng Tiến

Chiều Chiều

Chiều chiều chim vịt kêu chìêu
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chìu ruột đau
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chìu
[/align]

Chiều chiều nhớ lại. Chiều chiều lại nhớ. Lại nhớ chiều chiều. . .

Chiều Chiều,  hồi ký văn học, là tự tuyện mới đây của Tô Hoài, 1999, sau khoảng 170 đầu sách, gồm có truyện ngắn, truyện dài, truyện cho thiếu nhi, truyện phim.. . và khoảng mươi tự truyện kể từ Cỏ Dại, 1944, đến Tự Truyện, 1978, Cát Bụi Chân Ai, 1992, Sổ tay viết văn, 1977, Những Gương Mặt, 1988. Những dư địa ký về Hà Nội và nhiều ký sự, du ký .. .

Và nói chung, kể cả những truyện hư cấu, truyện lịch sử... Tô Hoài viết cái gì thì cũng ra .. . tự truyện. Anh nhẩn nha kể hết chuyện này sang chuyện khác nhưng mỗi tác phẩm đều mang đến cho người đọc nhiều kiến thức mới lạ và lý thú. Thậm chí giọng kể mỗi lần mỗi khác. Ví dụ Cát Bụi Chân Ai đã đem lại nhiều hiểu biết về Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Xuân Diệu và một thời đại văn học. Tưởng đến đó là hết chuyện, nhưng Chiều Chiều lại mang lại nhiều ánh sáng mới, rọi chiếu vào một giai đoạn dài và nhiều truân chuyên trong xã hội và văn học từ 1955 đến nay. Ngày nay không thể viết phê bình hay lịch sử văn học mà không đọc đi đọc lại Tô Hoài.

Tô Hoài luôn luôn gửi gấm từng mảng đời có thật của mình vào chữ nghĩa, kể cả trong truyện ngắn, truyện dài, và có thể do đó anh không ưa dùng hai chữ tiểu thuyết. Chính Tô Hoài tự nhận điều đó trong hồi ký Một Quãng Đường viết năm 1972.

” Sáng tác của tôi đã miêu tả tâm trạng của tôi, gia đình tôi, làng tôi – mọi cái của mình, quanh mình. Quê Người, Giăng Thề, Xóm Giếng ngày xưa, trong đó có những mảnh đời, mảnh tình cỏn con của mình. Cả những chuyện loài vật tưởng như xa lạ kia cũng không ngoài cái rộn ràng hay thầm lặng của khu vườn trước cửa “ (Tự Truyện, 1985, tr.272).

Mỗi ký sự của Tô Hoài đều có sắc thái riêng. Ví dụ mảng hồi ký về thủ đô Hà Nội , từ Chuyện Cũ Hà Nội (1986) đến Hà Nội và Hà Nội (1996) đã đem lại những chứng từ sống động về địa dư, lịch sử, phong tục, tiếng nói của thủ đô, và nhà văn Nga Ni-cu-Lin đã tinh tế phát hiện ở nhà văn Tô Hoài một nhà dân tộc học. Viết bao nhiêu về thủ đô Hà Nội Tô Hoài vẫn còn “ tình thương chưa đã, nhớ chưa bưa “ nên thừa mọi cơ hội để tự tình với Hà Nội, từ tiểu thuyết lịch sử Quê Nhà (1970) đến Chiều Chiều.

Tô Hoài đă viết hàng chục tập du ký. Chú Dế Mèn đã mở những trang phiêu lưu ký đến khắp các miền đất nước, sang láng giềng Lào, Campuchia, sang các nước Âu Mỹ, á Phi, mà đỉnh cao là cảnh núi Kilimangierô, nơi Dế Mèn đã phiêu lưu đến năm 1989 (Chiều Chiều tr. 501). Du ký của Tô Hoài ăm ắp tình người và lúc nào cũng đăm đắm lòng quê.

Tiếp theo là hồi ký văn học, đặc biệt là Những Gương Mặt (1988) ghi lại chân dung đậm nét về các tác giả bạn bè từ Nguyễn Bính đến Trần Huyền Trân, đằm thắm tình nghĩa. Nổi tiếng nhất là Cát bụi chân ai (1992) viết sau thời kỳ đổi mới, đã gây tiếng vang lớn. Một mặt vì nó tiết lộ nhiều sự kiện, như thái độ một số nhà văn thời kỳ đàn áp Nhân Văn Giai Phẩm, mặt khác vì lối viết mới mẻ, ví dụ như những trang về quan hệ đồng tính với Xuân Diệu (1992, tr. 190) , những trang nồng nàn tình bạn với Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân qua bao nhiêu sóng gió. Sách được in đi in lại nhiều lần, trong nước và ngoài nước. Khi tái bản, Tô Hoài chăm chút đọc lại và thêm bớt, tuỳ nhu cầu thông tin hay tình hình cho phép. Ví dụ trong CBCA, lần in 1997 trong Tự Truyện, anh ghi rõ tên Hoàng Huế là người năm 1956 đã mỉa mai Nguyễn Tuân “ nhà văn thắt cà vạt đỏ đi du lịch năm châu “ trên báo Đất Mới. Cũng trong Tự Truyện, ấn bản 1997, Tô Hoài thêm cả một chương dài 15 trang cho Nguyễn Hữu Đang (tr. 360-374). Và nói rõ thêm về các nhà văn theo nhóm Trốt Kýt (Đệ Tứ Quốc Tế), như Lam Kiều bút hiệu của Nguyễn Xuân Huy (tr. 282) .

Như vậy, khi đọc Tô Hoài, dù một tác phẩm in lại, nếu đọc kỹ, chúng ta vẫn thu hoạch được những kiến thức mới và hiểu được thời tiết văn nghệ Việt Nam trong khí hậu chính trị Việt Nam : vào thời điểm nào thì có thể viết được chuyện gì, dù là chuyện tình trai; lúc nào có thể nhắc đến tên ai, dù kẻ ấy là công thần của cách mạng.

Điều lý thú khác khi đọc Chiều Chiều là những bí ẩn kia do bản thân Tô Hoài kể ra sau 50 năm sống trong guồng máy, từ chi bộ đến Đảng bộ, Đảng uỷ. Từ những hồ sơ, người đọc biết những gian nan một thời của Đồ Phồn, Trinh Đường, Phan Kế An ... và thêm một số chuyện khác. Như về Thế Lữ, chúng ta cho rằng đã biết đầy đủ qua hồi ký của bà Song Kim ; về Quang Dũng cũng vậy, qua những trang giới thiệu của Trần Lê Văn ; về Lưu Hữu Phước, hồi ký Mai Văn Bộ tưởng là đã đầy đủ chi tiết về chính trị. Nhưng đọc Chiều Chiều của Tô Hoài mới biết thêm nhiều oan khuất không ngờ tới. Và biết thêm về đời sống văn chương của một thời chưa xa vắng. Về những oan khiên đè nặng lên cuộc đời những Đặng Đình Hưng, Trần Đức Thảo, Trần Huyền Trân, và những gian nan của Nguyễn Bính (tr. 228). Về Phan Khôi, chúng ta đã đọc nhiều trang phê phán hay ký sự cực đoan, bên này hay bên kia, với những dụng ý ngoài văn chương. Đọc Tô Hoài sẽ bắt gặp nhiều nét bình thường trong đời sống hàng ngày, bên cạnh những ký hoạ về Hoàng Trung Thông hay Phùng Quán.

Lại thêm việc tập kết từ miền Nam, năm 1955, “ nhiều cán bộ được bố trí ở lại mất tinh thần đã đổ xô xuống tàu, không kiểm soát được, trong khi những người cần đem ra thì bỏ lại. Các trường hợp Lam GiangVõ Phiến là như vậy” (tr. 209). Võ Phiến công nhận điều này và tỏ vẻ ngạc nhiên : Sao Tô Hoài lại biết đến Lam Giang?

Ngay về Tô Hoài, theo những tư liệu văn học phổ biến, chúng ta vẫn cho rằng truyện đầu tay của anh là Nước Lên đăng ở Hà Nội Tân Văn của Vũ Ngọc Phan, năm 1940. Đọc Chiều Chiều mới biết thêm rằng trước đó mấy năm anh đã có Những Chuyện Khó Hiểu đăng trên phụ trang nhật báo Đông Pháp (tr. 496). Nước Lên là truyện đầu tiên được trả tiền do đó Tô Hoài đã nhiều lần viết “ Tôi vào nghề văn từ truyện ngắn Nước Lên “ (Tự truyện, 1985, tr. 250) gây ra một sai lầm về thư tịch.

- o O o -

Chiều Chiều là con sông dài, qua bao nhiêu ghềnh thác vẫn tiếp tục xuôi dòng hồi ức 80 năm của Tô Hoài, mà vẫn chưa hò hẹn ngày xuống đồng bằng hay đổ ra biển cả.

Vậy Chiều Chiều đã mang lại cho người đọc những cảm thụ gì mới ? So với những tự truyện trước, Chiều Chiều nặng phần phê phán thời đại mà tác giả đã trải qua. Ở các tác phẩm trước, Tô Hoài thường bao che, bào chữa, như là một hồi ký bao cấp. Đến Chiều Chiều, giọng kể nghiêm nghị hơn về đời sống chính trị và văn nghệ ngột ngạt những năm 1955-1970, về những sai lầm trong chính sách cải cách ruộng đất, về những đợt học tập chiếu lệ ở trường Đảng cao cấp là trường Nguyễn ái Quốc, về đời sống Hà Nội từ những ngày tiếp thu, qua những đợt sơ tán, đặc biệt là những ngày nhà văn Tô Hoài, trưởng khu phố (1965-1972) phải đi mai phục “ bắt gái điếm “ (tr. 294) và ”những người giặt xi líp thuê cho gái điếm “ (tr. 288) “ bắt những anh Hà Nội, buổi trưa thuê phòng chơi gái ”(tr. 290), hay cảnh diệt chuột, bắt mê tín, thậm chí cả việc “ trông nom hơn hai trăm cái hố xí hai ngăn của thành phố “ (tr. 301). Hà Nội thanh lịch của Tô Hoài trong các hồi ký trước, đến Chiều Chiều bỗng sực mùi bẩn thỉu, hôi hám suốt mười trang rất hiện thực mà lần đầu tiên, Tô Hoài đã dành cho “việc ỉa đái của đất Kẻ Chợ “ (tr. 300). Ngôn ngữ này sẽ làm ngạc nhiên nhiều độc giả vì lạ lẫm ở hành văn Tô Hoài, một tác giả duy mỹ, có cả một chủ trương về chữ nghĩa, mà từ 1959 anh đã gọi là “ chủ nghĩa tiếng nói “ . Mới đây anh có bài báo : “ Làm sao cho mỗi chữ là một hạt ngọc trên bản thảo, hạt ngọc mới nhất của ta tìm được, do phong cách văn chương của ta mà có được. Trang sách mà không có “ ngọc “, trang bản thảo không có chữ thần, không có tinh hoa chữ thì cái hồn tác phẩm, từ tư tưởng đến nhân vật, biết lấy gì mà sống được, không có chữ ngon, chữ bổ nuôi nó, trang viết gầy gùa trống rỗng rồi chết héo ”(Tâm sự về chữ nghĩa, Tạp Chí Văn học, 12/1998), nhưng bài này viết đã lâu, trong Sổ Tay Viết Văn (1959).

Chữ ỉa đái không chứng minh mà cũng không phản biện “ chủ nghĩa tiếng nói “ của Tô Hoài ; theo tôi, nó chỉ chứng tỏ cụ Tô... bực mình ; cụ bất bình về chính sách vệ sinh thời đó, mà phải phớt tỉnh, cho đến Chiều Chiều thì nó bật ra. Sự đời, rồi đến tình người, cụ bực nhiều chuyện lắm ; thậm chí cụ gắt gỏng ngay với con sông Tô Lịch” tuyệt vời nhất châu A’ “(!) (tr. 267) mà một đời cụ chắt chiu trong trí tưởng – cái tên Tô Hoài còn có nghĩa là hoài vọng sông Tô.

Quen giọng Tô Hoài, người đọc biết được lúc ngọt lúc chua : Ví dụ với Lê Đạt, trong CBCA (1992, tr. 59) kể lại thời Nhân Văn Giai Phẩm và công tác Đảng, anh kể “ tôi làm bí thư, Lê Đạt phó bí thư “, là ngọt ; đến Chiều Chiều (tr. 106) gọi Lê Đạt là “ Ông phó bí thư chi bộ cũ của tôi “, là chua. Nhưng ví dụ đậm đà nhất là Như Phong, bạn nối khố với Tô Hoài từ mặt Trận Dân Chủ (1943) Văn Hoá Cứu Quốc, cùng vào tù ra khám, cùng làm báo Cứu Quốc vv. . Nhưng đến khi đánh Nhân Văn Giai Phẩm thì Như Phong đánh Tô Hoài rất kỹ, rất ác và rất hỗn như câu “ cái tật làm ra vẻ mình thông minh của Tô Hoài “(tr.103) còn gọi Tô Hoài là “ thằng ngoại ô láu cá, văn chương thì đẽo gọt “ (CBCA, tr 117). Nhưng trong Những Gương Mặt, Tô Hoài vẫn có một chương rất đằm thắm cho Như Phong (không rõ năm viết) . Tôi rất lấy làm lạ và có lần gạ hỏi riêng anh : “Thế không giận à “ ? trả lời : “ Giận gì ? Gặp vẫn đi uống bia “ Tôi cho Tô Hoài là thánh. Nhưng rồi trong Chiều Chiều, anh kể lại thời kỳ đi thực tế (1958) Thanh Đình tay viết kiếm hiệp ba xu một hôm đến đợi Như Phong tại nhà Xuất bản Văn Học, nói : “ Tao vào thằng Thạc, tao với thằng Thạc là bạn nối khố, Thạc là tên cúng cơm của Như Phong “ (tr. 28) ; Tôi mới hay Tô Hoài không phải là thánh và cũng biết hờn giận như ai. Vì đã gọi một bạn văn bằng “ thằng “ dù qua lời người khác, cũng là... không ưa thích.

- o O o -

Tiếng Việt ta không có một từ chính xác tương đương với chữ humour trong tiếng Pháp, tiếng Anh. Ta tuỳ tiện dùng những chữ hài hước, hóm hỉnh, dí dỏm ... Nhưng trí óc Viêt Nam rất giàu uy mua (hay u mặc) . Ca dao, tục ngữ, truyện dân gian chứng tỏ điều đó. Gặp văn học phương Tây, nó phát triển mạnh : truyện Vỡ Đê thời Phạm Duy Tốn là một ví dụ ; O Chuột (1943), tập truyện đầu tay của Tô Hoài là một ví dụ về sau.

O Chuột, một hình ảnh, phản ngữ của động từ O Mèo, là một sáng tạo ngôn từ của Tô Hoài (o nghĩa là tán tỉnh, như trong từ o bế). Ngoài Tô Hoài ra, không ai nói : o chuột. Nhưng (humour) uy mua, không hợp với văn chương cách mạng. Hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi trào phúng, hài hước chỉ đích danh đối phương ; còn uy mua thì không rõ ám chỉ ai, mà nhất định phải là một lối văn linh tinh, không đáng tin cậy, nhất là trứơc một đề tài trọng đại. Lấy Như Phong làm ví dụ, khi ông ấy phê phán cuốn Mười Năm (1957) : “ Tại sao Tô Hoài cứ phải giở giọng pha trò khi nói đến những giờ phút nhiệt tình hay cảm động của quần chúng “ (Bình Luận Văn Học, nxb Văn Học, 1964, Hà Nội, tr 132). Khổ thân Tô Hoài, theo cách mạng từ tuổi thiếu niên làm sao dám pha trò, đùa cợt, chế giiễu (sđd, tr. 104) với cách mạng ? ấy chỉ là cái uy mua, u mặc đặc biệt trong giọng văn và trong cách sống, cách nhìn đời. Sáng tác Tô Hoài luân lưu giữa hai bờ phong cách : u hoài và u mặc. Cuộc đời Tô Hoài là Nụ Cười Thương Nhớ – tên một bài thơ Đinh Hùng, cố tri và cố nhân. (Nguyên câu thơ là : Nụ cười thương nhớ – nét đan thanh).

Giọng văn dí dỏm khiến người đọc dù nghe chuyện về những nhà văn ít tên tuổi như Sao Mai (sinh 1924) cũng không chán : “ Tôi lại khoái ông có máu đa tình mà lại chung thuỷ. Léng téng với ai rồi cũng lấy người ta. Nghe nói ông mới có phòng mới (...) vừa cai nghiện (...) bằng một liều thuốc dân gian, mạnh và dữ, phải có nghị lực mới cai được (...) Bài thuốc cai của Sao Mai có gia giảm cả vị phụ nữ... “ (tr. 25-27). Tô Hoài không nói rõ là gia hay giảm.

Giọng văn có khi đanh lại, như khi nói chuyện quyền thế, cơ hội, tráo trở. Tâm hồn anh thoáng rộng, không cố chấp về luân lý hay chính trị, thậm chí còn bị Như Phong kết tội là hoài nghi chủ nghĩa (!) (Sđd, tr. 132) ; duy có một điều : Tô Hoài tình nghĩa, như đã viết : tình nghĩa cũng trong lẽ sống tự nhiên (tr. 516) và đã tự nhiên thì mãi mãi (tr. 269) ! Và từ đó Tô Hoài không hiểu những thái độ không tình nghĩa – chẳng nhất thiết phải là phản bội hay tráo trở. Nói là nhược điểm cũng được đi. Trong CBCA, Tô Hoài có thể xởi lởi với một đại tá Huỳnh Cự phản phé (1992, tr. 116), nhưng đến Chiều Chiều anh đã gay gắt với Hiếu Chân Nguyễn Hoạt – vì là chỗ cố tri (tr.20). Phải chăng vì Hiếu Chân tránh gặp lại Tô Hoài sau 1975, vì chút hào khí tuyệt vọng của con người thất thế, hay tự cho là như thế. Còn phần Tô Hoài, thì không có vấn đề ấy ; như cái lần anh đưa đám ma ông Minh Đức, đã phải trả lời Nguyễn Tuân : “ Trong đầu tôi không có câu hỏi nào về việc như ông hỏi “ (CBCA, 1992, tr. 57). Đây cũng là một câu nói chìa khoá, để tìm hiểu Tô Hoài. Có những câu hỏi Tô Hoài không bao giờ đặt ra – Nguyễn Tuân có vẻ không tin (tr. 57), nhưng mà đúng vậy. Ngược lại, có lúc anh ấy đặt ra những nghi vấn rất chi là vớ vẩn. Về sau Tô Hoài giải thích với tôi rằng anh không biết là Hiếu Chân đã bị bắt và chết trong nhà giam Chí Hoà năm 1985. Tôi dừng lại hơi lâu ở trường hợp Hiếu Chân, vì là một biệt lệ, có thể là duy nhất, nhưng có nguy cơ bị khuếch đại và ngộ nhận.

Nhân tiện, mong Tô Hoài rà lại về cái chết của Nhượng Tống . Phải chăng ông ấy bị ban ám sát (Việt Minh) khử (tr. 333) như lời Cụ Thắng, hay bị đồng đảng thanh toán, như nhiều nguồn tư liệu đã ghi lại ?

Giọng văn Tô Hoài cũng có lúc cà kê ở phần sau, khi kể những chuyến đi các nước Á Phi, Nga, Đông Âu, ở giai đoạn mà các chính quyền cộng sản địa phương đang băng hoại. Tô Hoài đi thăm Laixich, nơi con trai lao động (tr. 409) và đã tử nạn t (tr. 521). Một thảm kịch trong đời, nhưng anh chỉ kể sơ lược. Tô Hoài vốn tiết kiệm những chuyện gia đình, riêng tư. Anh chỉ ghi lại những mảng đời tiêu biểu, có liên quan đến xã hội, văn học, và chỉ đề cập đến con người cá nhân khi nó “ mang hình thái trọn vẹn của thân phận làm người “ như lòi Montaigne.

- o O o -

Tâm sự thoáng qua của một người có khi hồi quang cả một thời đại. Như vài ba ngày ngắn ngủi khi Tô Hoài đi xe ôm về thăm lại Xóm Đồng ở Thái Ninh, Thái Bình, nơi anh đã tham gia cải cách ruộng đất non bốn mươi năm trước (1958-1996). Chuyến đi ngắn ngày chiếm trọn chương cuối với năm mươi trang cực kỳ súc tích và cảm động, như một chuyến hành hương. Những gian nan biến mỗi quá quan thành cố quận. Những ân hận biến mỗi kỳ ngộ thành một cố nhân. Ông Ngãi, nông dân nghèo, có dáng dấp Phan Khôi, người đã cưu mang Tô Hoài, Phùng Quán, thời cải cách ruộng đất, năm 1958 ngủ giữa bụi tre, bốn mươi năm sau vẫn ngủ giữa bụi tre, trong khi làng xóm thời kinh tế thị trường “ cứ đua nhau mà nhà tầng nhà gác “. Ông Ngãi bình luận : “ ối người đi vay lãi, bán lúa từ lúc vào đòng để làm nhà. Chỉ khác ngày xưa lý trưởng, phó lý giàu có, bây giờ chủ tịch, bí thư, xã đội, dạo trước còn chân chủ nhiệm, kế toán nữa cũng trộm cắp mà nên giàu có cả “ (tr. 535). Chủ nhiệm Sự giàu sụ, thành nghiện thuốc phiện nặng, hai con trai ở tù, con gái “ ra ngoài tàu ngủ với trăm thằng. Cả mẹ nó ... Bà lão cũng chẳng tha thằng nào. Có thế mới giầu như điên “ (tr. 546). Thái Bình. Lại Thái Bình. Sao Tô Hoài không trở về Xóm Giếng ngày xưa để hạ màn Chiều Chiều, cho bớt não nùng tiếng sương ? Anh lại trở lại nhà hát Bà Ký Đường trong truyện Nguyễn Khắc Mẫn, nửa thế kỷ về trước, gặp lại Cô Thẹn mười ba, mười lăm tuổi, ngày xưa, bây giờ là bà lão : “ Nước mắt bà lão chảy ra, không biết cái nước chết lưu niên ở hai con mắt loà lúc nào cũng ràn rụa nhợt nhạt trên mi, hay là nước mắt (...) Cô Thẹn ngày ấy đây. Bà lão vẫn nắm tay tôi cất giọng phều phào, rè rè :
Đến bây giờ mới thấy đây
Mà lòng đã chắc những ngày một hai


Câu Kiều này (câu 2282, ĐT) đầu mùa đông 1959, Nguyễn Đình Thi đã ghi sổ lưu niêm bảo tàng L.Tôn-x-Tôi ở Tu La. Mỗi khi mơ màng lại cái chuyến về Thái Bình này, là thật hay chiêm bao. Hai câu lẫy Kiều tình nghĩa kia đã thấy ở Tu La hay đã nghe cô Thẹn, bà cụ Thẹn nghẹn ngào “.

Những dòng cuối Chiều Chiều. Giọng Tô Hoài trầm xuống, nghẹn lại. Chấm dứt cuốn Tự Truyện như vậy là tài tình. Hay ở chữ tài. Quý ở cái tình. Chữ tài vẫn quý nhưng không hiếm. Cái tình vừa quý vừa hiếm, càng ngày càng hiếm, có cơ tuyệt chủng.

- o O o -

Tên sách Chiều Chiều lấy từ ca dao :

Chiều Chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người quân tử khăn diều vắt vai


Tô Hoài trích dẫn ở đầu sách, gọi là ca dao cổ. Thật ra nó không cổ, chỉ mới phổ biến hơn trăm năm nay, vì nguyên là một câu thơ của Tương An Quận Vương, con vua Minh Mệnh, kín đáo khóc Hồng Bảo, con trưởng vua Thiệu Trị, là cháu, học trò và bạn tri âm của mình. Hồng Bảo âm mưu tranh ngôi vua với em là Tư Đức nên bị bắt giam và bức tử trong ngục.

Nguyên gốc là :
Chiều Chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người đãy gấm khăn điều vắt vai

Đãy gấm là cái hà bao bằng gấm. Bao là cái đãy, hà là cây sen, vì đãy gồm có hai phần : đãy lớn hình lá sen đựng trầu cau, đãy nhỏ hình bông sen đựng thuốc. Màu sắc tuỳ thuộc đẳng cấp : Vua dùng đãy bằng đoạn màu vàng, hoàng thân, như Hồng Bảo dùng đãy bằng gấm màu đỏ (điều) dân thường dùng lụa màu xanh.[/align]
Chi tiết nhỏ không quan trọng gì, nhưng tôi vẫn mách với Tô Hoài vì anh ưa thảo luận về chữ nghĩa, trong cái anh gọi là “chủ nghĩa tiếng nói “ (Có lần anh than với tôi : “ ngày xưa còn cụ Hoàng đạo Thuý, thỉnh thoảng mình còn có người nói chuyện về chữ nghĩa. Bây giờ ông ấy qua đời thì ... “. Anh có những câu nhẹ nhàng thế thôi, nhưng nghe ... phát ớn).

Chiều Chiều ... Tô Hoài dùng chữ theo ý nghĩa, nhưng còn vì âm vang của nó. Chiều Chiều là hồi ký của người cao tuổi, như Nhớ Nghĩ Chiều Hôm của Đào duy Anh. Nhưng chỉ hiểu như thế thì chưa tri âm. Vì Tô Hoài rất thích âm vang ấy từ hồi còn trẻ, như là lúc 23 tuổi. Tại Sơn Tây, ngày 20 Juillet 1943 anh đã viết : “ Chiều chiều Ly thẩn thơ ra ngoài bờ giếng. Gã muốn nói mãi, nói mãi về những chiều vô tội ấy. Những buổi chiều hoa mộng không bao giờ có thể quên, bởi nó ngây ngất mà chẳng mang một nghĩa gì rõ ràng (...). Sao không chỉ có những chiều thơ dại ấy trong tất cả một đời người ... “

Tô Hoài là nhà văn không bao giờ già. Vì con người anh chưa bao giờ trẻ. Tô Hoài miên viễn là “buổi trưa mùa thu “. “ Mùa thu có những ngày không sáng, mà cũng không chiều “ Nhưng vẫn có những chiều chiều. Những chiều chiều mãi mãi trong lòng ta.Thỉnh thoảng lại hanh hao lên một âm hao u hoài xa vắng ...
Chiều Chiều...

Đặng Tiến
Orleans, viết 14/9/1999, đọc và sửa lại 7/ 9/ 2006
cho ngày sinh nhật Tô Hoài, rằm Trung Thu Canh Thân, 1920[/align]
Previous Page[/align]

Next Page[/align]
9091 | 9293 | 94[/color]95 | 9697 | 9899 | 100101 | 102103 | 104105 | 106107 | 108109 | 110111 | 112113 | 13 | 114[color=#0000ff]115 | 116117 | 118119 | 120121 | 122123 | 124125 | 126[color=#0000ff]127
 
Đăng nhập để trả lời
0
Tô Hoài
Dế Mèn phiêu lưu ký

Lời tác giả
 
 





Dế Mèn sắp ra Hải Phòng, lại vào miền Nam, rồi đi Sô-phi-a. Năm trước, đã đến sông Đa-nuýp bờ bên này. Bây giờ mới sang Bun-ga-ri. Dế Mèn vẫn mong ước.

Dế Mèn có nhiều bạn. Dế Mèn vẫn thư từ với Quảng Nam Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, U-lan-ba-to, Răng-gun, Tô-ki-ô...Vui nhất được đi nhiều, được nhiều bạn. đất nước tuyệt với, chân không bao giờ biết đâu cùng.

Một lần kia, tôi thăm trường phổ thông số 5 ngoại thành Mát-xcơ-va. Các lớp ngồi nghe kể chuyện Việt Nam đánh đế quốc Mỹ, rồi hỏi :
- Các bạn có quen Dế Mèn không ?

Tất cả cười ầm, giơ tay một loạt :
Các bạn Mát-xcơ-va gửi tôi một món quà nhớ mang cho Dế Mèn. Cái hộp to, trong đặt chiếc khay nhôm vuông như cái sân gạch, trên có cây chuối, cây tre, quả dứa và tượng bằng nhựa màu, đủ mặt Dế Mèn, Dế Trũi, bác Xiến Tóc, cái Kiến, cô Niềng Niễng, anh Gọng Vó...

Tôi hỏi Dế Mèn :
- Anh đã đi nhiều thế anh học được điều gì ?
Dế Mèn đáp :
- Nhiều lắm chứ. Tục ngữ có câu : Đi một ngày đàng học một sàng khôn cơ mà. Trái đất như quyển sách hay, ai chịu khó xem xét và suy nghĩ đều học được những điều bổ ích.

Các bạn thành phố cửa biển Hải Phòng ! Các bạn Sô-phi-a ! Các bạn ở phía nam đất nước !.... Câu nói ấy của Dế Mèn, xin gửi bạn.

Hà Nội, tháng ba 1986
Tô Hoài.[/align]
 




hết: Lời tác giả, xem tiếp: Chương I






Nguồn: Hùng
Được bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên
vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003

 
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1n2n3n31n343tq83a3q3m3237nvn|
 
Đăng nhập để trả lời
0



Sổ Tay Thường Dân Tưởng Năng Tiến: Tô Hoài Và Ba Người Khác  TƯỞNG NĂNG TIẾN . Việt Báo Thứ Sáu, 1/19/2007, 12:02:00 AM



Sổ Tay Thường Dân Tưởng Năng Tiến: Tô Hoài và Ba Người Khác
 
Đội cải cách ruộng đất về làng như một cơn gió độc, cuốn lộn tùng phèo mấy chục nóc nhà giống như mấy chục cái đụn rạ của thôn tôi lên. (Nguyễn Trọng Tân)
Một ngày phiên chợ, u tôi mua về đôi gà nhỏ. Hai con gà: một trống, một mái, dáng còn bé tí teo, như vừa mới lìa đàn. Suốt ngày chúng cứ rúc vào một góc sân và kêu chim chíp bằng một giọng ai oán, thảm thương!
 
Đó là một đoạn văn ngắn, trong tập truyện O Chuột, của Tô Hoài mà tôi đã được cô giáo đọc cho nghe – khi còn thơ ấu. Tôi tin rằng mình vừa ghi lại đúng nguyên văn, nếu không hoàn toàn đúng thì chắc cũng gần đúng (y) như thế. Sao tôi cứ thương mãi đôi gà nhỏ côi cút đó, và có cảm tình hoài với tác giả của đoạn văn vừa dẫn.
Tô Hoài (có lẽ) sẽ sướng ngất ngư, khi biết có một độc giả đã nhớ nằm lòng – suốt đời – những điều mình viết. Và chắc sẽ tức điên luôn, nếu biết thêm rằng: tôi chưa bao giờ đọc thêm một dòng chữ nào khác nữa của ông.
 
Tôi sinh trưởng ở miền Nam, nơi mà trẻ con không đeo khăn quàng đỏ, không thi đua lập chiến công, cũng không có kế hoạch (lớn – nhỏ) nào phải hoàn thành hay vượt chỉ tiêu. Chúng tôi chỉ có việc học với chơi, và chơi mới là chuyện chính. Tôi quá mải chơi nên không có thì giờ để đọc Tô Hoài, hoặc bất cứ ai.
 
Sau khi cuộc chiến Bắc/Nam chấm dứt, thỉnh thoảng, tôi cũng có ghé vào những hiệu sách quốc doanh nhưng không bao giờ ngó ngàng gì đến Tô Hoài. Dù bắt đầu từ đây, cũng như bao nhiêu người dân miền Nam khác, cuộc đời của tôi (bỗng dưng) hoá rảnh – rất rảnh, và rất … đói!
 
Tác phẩm duy nhất mà tôi thực sự tâm đắc, vào thời điểm đó, là Hồ Chí Minh Toàn Tập(*) – dù tác giả viết nhiều đoạn hơi (bị) dở. Thí dụ như: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển.”
 
(Giời ạ, mặt trời chứ bộ mặt trận sao mà đòi lấy lực lượng ra ngăn trở. Tương tự, có cái lực lượng mẹ rượt nào mà ngăn trở được loài người tiến lên, cha nội? Viết như thế mà cũng bầy đặt cầm bút).
 
Ngoài những lỗi lầm nho nhỏ không đáng kể như thế – về nội dung – phải nói đây là một công trình đồ sộ, rất đáng đồng tiền bát gạo. Sách rất dầy, giấy in rất tốt, giá rất rẻ, và (rất) được những bà hay những cô bán hàng rong ưa chuộng. Họ cần giấy để gói, hoặc để chùi; còn tôi, tôi cần một phần ăn – nhiều hơn số tiền túi mình có thể mua. Do đó, dù có đói thảm thiết tôi cũng chả bao giờ (dại dột) xà ngay xuống mẹt xôi hay mẹt bánh. Tôi luôn luôn chịu khó đi lòng vòng mua sách, rồi mới mang đổi lấy thức ăn – cho đỡ khổ cái dạ dầy!
 
Trong hoàn cảnh ấy, nói tình ngay, lỡ mà có thấy những tác phẩm của Tô Hoài chắc tôi cũng ngó lơ. Mắt tôi lúc nào cũng chỉ dáo giác, liếc nhìn ra biển, tìm một đường chui.
 
Nhờ Trời thương, tôi chui lọt!
 
Sau khi “đã đi hết biển”, khác với nhiều người, và cũng khác với mong đợi của đạo diễn Trần Văn Thủy (1), tôi quyết định đi luôn – cho nó chắc ăn. Lưu lạc mãi rồi có hôm tôi tình cờ gặp lại Tô Hoài, trong một tác phẩm phê bình văn học – có tựa là Cây Bút, Đời Người – của Vương Trí Nhàn, do công ty Phương Nam xuất bản năm 2002.
Đến lúc này thì tôi đủ tuổi đời, đủ rảnh (và cũng đủ no) để có thể tìm đọc thêm chút đỉnh về một tác giả mà mình đã yêu thích – từ khi còn bé. Và nay thì Tô Hoài đã bước vào tuổi bát tuần.
 
Ngay từ năm 1940, khi bắt tay làm quen với giới sáng tác đương thời, thì đồng thời tác giả Dế mèn cũng bước vào hoạt động cách mạng. Lúc đâu ở thời kỳ Mặt trận bình dân, ông hoạt động trong cơ sở Hội ái hữu thợ dệt Hà Đông. Sau đó lại được tổ chức Đảng ở Hà Nội bắt liên lạc để hình thành nên lực lượng Văn hoá cứu quốc.
Tiếp đó, từ sau 1945, những hoạt động xã hội của nhà văn ngày một đa dạng. Triển khai theo chiều rộng, có lúc ông trở thành cán bộ địa phương, có thời gian đi cải cách ruộng đất, đi học trường Đảng, nhiều năm làm đối ngoại nhân dân, đồng thời vẫn giữ chân trưởng ban đại biểu dân phố (1956–1972) ở cơ quan văn nghệ trên Trung ương hay ở Hà Nội, hầu như từ năm 1946 tới nay, khoá nào ông cũng được bầu làm bí thư chi bộ, đảng bộ.
 
Mặt khác, ngay trong giới cầm bút, ông cũng luôn luôn có hoạt động xã hội của mình, khi là Phó Tổng thư ký Hội Nhà Văn, khi chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, từ đó đẻ ra cơ man nào là đầu việc, là họp hành, mà người ta gọi chung là ông tác (sđd, 264).
Tiểu sử Tô Hoài (như thế) có vẻ lung tung lang tang, ngổn ngang cả đống chức vụ, nhưng không để lại một ấn tượng đậm nét nào về đời người và cây bút của ông. Tô Hoài như luôn bị nhấn chìm vào những đoàn đội hay đoàn thể (vớ vẩn) gì đó, “với cơ man nào là đầu việc”. Thực là một cuộc đời chán ngán và nhạt nhẽo, tôi đoán thế.
Tôi lầm đấy. Được thế thì đã phúc.
 
Cuộc đời của Tô Hoài chán ngán hẳn có thừa nhưng nhạt nhẽo thì chưa chắc, và đắng chát với tủi nhục (xem ra) không thiếu – nếu vẫn theo như ghi nhận của nhà phê bình văn học Vuơng Trí Nhàn:
 
… bao nhiêu từng trải, như còn in dấu vào cách sống, cách chuyện trò của Tô Hoài hôm nay, bên cạnh cái nhũn nhặn lảng tránh, con người ấy thật cũng đã nhiều phen phải dàn mặt, phải chịu trận, nói chung là phải đối chọi với đời và nếu như có lúc phải đầu hàng thì đó cũng là bước đường cùng, rồi, nín nhịn chẳng qua để tồn tại, và sau hết, để được viết”.
 
“Ấy là cái điều không chỉ Tô Hoài biết mà nhiều người cũng biết…”
Đại khái có thể hình dung như cái cảnh đứa bé bị qùy, thì cũng quỳ đấy, song mắt vẫn liếc về phía mọi người đùa bỡn. Xá gì chuyện này, qùy cho xong nợ, tí nữa lại tha hồ tung tẩy. (sđd 266).
Dù chỉ là một thường dân – chứ chả phải nhà văn, hay nhà báo gì ráo trọi – tôi cũng muốn ứa nước mắt xót xa cho “cây bút” và “đời người” của Tô Hoài, khi biết rằng (đôi lúc) ông vẫn phải qùi như thế. Tôi còn e rằng Vuơng Trí Nhàn cũng chỉ khéo miệng mà nói thế (để đỡ tủi cho nhau) chứ chuyện “đùa bỡn” và “tha hồ tung tẩy” làm sao tìm được trong “cây bút” và “đời người” của Tô Hoài!
 
Tất cả những đoạn văn thượng dẫn, tôi viết trong những trang sổ tay trước – cách đây đã vài năm. Hôm nay, đọc lại tôi thấy ngượng. Tôi trật! Tôi thành thật xin lỗi vì đã quyết đoán một cách hấp tấp về văn nghiệp, cũng như tư cách, của Tô Hoài. Ông ấy quả là có “tròn” nhưng không “tròn mãi,” như tôi đã tưởng. Tưởng như thế là tưởng … năng thối!
 
Đúng như nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn đã ví von, có thể hình dung Tô Hoài “… như cái cảnh đứa bé bị qùy, thì cũng quỳ đấy, song mắt vẫn liếc về phía mọi người đùa bỡn. Xá gì chuyện này, qùy cho xong nợ, tí nữa lại tha hồ tung tẩy.”
Tô Hoài đã “tung tẩy” như thế trong cuốn Ba Người Khác. Talawas đã có lời giới thiệu về tác phẩm này, như sau:
 
“Cuốn tiểu thuyết 250 trang của nhà văn Tô Hoài (NXB Đà Nẵng vừa ấn hành) đang làm xôn xao dư luận trong và ngoài giới văn học. Cuộc toạ đàm về tiểu thuyết này do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức tại trụ sở Viện Văn học sáng ngày 22 tháng 12 năm 2006 đã hầu như một cuộc vinh danh lão tướng văn chương 87 tuổi…(2).
 
Trong cuộc tọa đàm này, Hoàng Minh Tường nói: “Cuốn sách thể hiện sự dũng cảm và tư cách công dân của nhà văn Tô Hoài.” Trong một xã hội mà chuyện thể hiện “tư cách công dân” (rất) có thể khiến người ta … mất mạng – hay rẻ ra là mất việc, hoặc ngồi tù – thì lời phát biểu vừa rồi đích thị là một cách vinh danh, chứ chả còn phải là “hầu như” hay “dường như” gì nữa ráo.
 
Nguyên Ngọc thì khen: “Cách viết hay, độc đáo về CCRĐ. Không viết về nông dân mà viết về ba anh đội. Hoá ra cái thảm kịch của đất nước, xã hội, là do ba cái anh lăng nhăng. Những cuốn khác viết về nông dân là nạn nhân, nhưng đây là lại là thủ phạm. Ba kẻ chẳng có kiến thức gì cả, tự nhiên làm đảo lộn hết cả xã hội…”
Không hiểu sao ý kiến của Nguyên Ngọc về ba anh đội, ba nhân vật chính trong tác phẩm của Tô Hoài, lại khiến tôi nhớ đến những nhân vật chính khác – những người đã có thời mà quyền lực nhất họ nhì trời – trên sân khấu chính trường ở Việt Nam: Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Đỗ Mười…
 
Thì cũng đều là cái thứ “lăng nhăng” và cũng chính là “thủ phạm” đã làm “đảo lộn hết cả xã hội” bằng nhiều chuyện kinh thiên động địa khác: Hợp Tác Hoá Nông Nghiệp, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Học Tập Cải Tạo, Kinh Tế Mới … Toàn là những “cơn điên tập thể,” theo như cách nhìn của Phạm Xuân Nguyên.
Cũng với cách nhìn này thì (cái được mệnh danh là) cuộc chiến Chống Đế Quốc Mỹ Xâm Lược hay Giải Phóng Miền Nam chỉ là một cơn điên vĩ đại, trong đó bao gồm rất nhiều những cơn điên nho nhỏ – chả hạn như cái cơn thảm sát, cả chục ngàn người, hồi Tết Mậu Thân.
 
(Tôi xin lỗi đã nổi nóng, và đi hơi xa vấn đề chút đỉnh. Nghĩ đến tình trạng đất nước – hơn nửa thế kỷ qua – chắc Bụt cũng phải nổi khùng chứ đừng nói chi đến cái thứ thường dân rất dễ sân si và dấm dớ, cỡ như tôi. Dù vậy, tôi vẫn xin được mọi người lượng thứ vì sự thiếu tự chế của mình và xin trở lại ngay vấn đề – trước khi trời sáng!)
 
Riêng Nguyễn Xuân Khánh – trong bài tham luận Đọc ‘Ba Người Khác’ Của Tô Hoài – đã có ý kiến rất độc đáo, xin được tóm gọn, như sau:
 
Cuốn sách đã chạm tới một vấn đề rất nhạy cảm là Cải cách ruộng đất (CCRĐ)… Cuốn Ba người khác đã nói đến vấn đề to lớn ấy bằng một giọng điệu rất bình tĩnh, dung dị, không hề lên gân, hầu như rất thản nhiên mà lại ám ảnh chúng ta vô cùng. Anh em nhà văn thường bảo ông Tô Hoài khôn, hay tránh né. Cuốn sách này bác Tô Hoài chẳng hề né tránh… Trong mỗi con người đều có cả cái ác lẫn cái thiện, cả những bản năng hung bạo và tính văn hoá. Phải giải quyết vấn đề nông thôn bằng văn hoá và nhân nghĩa chứ không thể bằng bạo lực. Năm mươi năm đã trôi qua nhưng vẫn còn quá ít tác phẩm hay nói về vấn đề to lớn đó. Vấn đề vẫn còn đó, nó nằm trong vô thức của cộng đồng. Nhiều người chứng kiến nhưng không ai nói cho rõ được vấn đề. Trong khi đó tôi nghĩ văn học là giải toả, văn học là chữa bệnh.Tôi chợt liên tưởng tới cách chữa bệnh về tinh thần cho con người. Người thầy thuốc, bằngnhững biện pháp tâm lý, tìm cho ra cái nguyên cớ sinh ra bệnh tật. Tức là làm cho nguyên nhân bệnh từ vô thức chồi lên ý thức. Ở một khía cạnh nào đó, tác phẩm văn học cũng có giá trị như vậy.Cộng đồng người cũng như một con người. Cộng đồng cũng có những ẩn ức. Đưa những ẩn ức nằm trong vô thức của tập thể trở thành minh bạch trong ý thức sẽ giúp cho cộng đồng phòng ngừa được những điều không lành mạnh trong tương lai.
 
Lại Nguyên Ân cũng có nhận định (gần) tương tự như thế:
Tôi nghĩ, đối với xã hội ta, sự xuất hiện nhữngcuốn sách như cuốn này là một cách giải toả cho một trong những chấn thương của xã hội ta. Sự kiện CCRĐ để lại một chấn thương trầm trọng ai cũng biết, nhưng những người giữ quyền ăn quyền nói ở xã hội ta lại muốn xoá đi bằng cách cấm mọi người nhắc đến. Và đó là một giảipháp sai lầm hiển nhiên, vì các chấn thương tinh thần không thể được chữa khỏi bằng bắt buộc người ta im lặng; ngược lại, chỉ bằng việc thường xuyên nhắc nhớ, ôn lại, phân tích nguồn cơn, tính đếm thiệt hại, v.v… mới là phương cách tốt, chẳng những làm nguôi chấn thương mà còn đề phòng khả năng lặp lại những tai hoạ tương tự cho cộng đồng.
 
Tôi có giấy phép hành nghề tâm lý trị liệu, và kiếm cơm nhờ đó. Có lẽ vì méo mó nghề nghiệp, tôi “chịu” quá nhận định của nhà phê bình Lại Nguyên Ân, và vô cùng thích thú với cái nhìn – rất Jungian và Freudian – của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, về nội dung cuốn Ba Người Khác của Tô Hoài.
Dù vậy, tôi vẫn không tin rằng một (hay nhiều) tác phẩm văn học – cho dù là kiệt tác, như cuốn Ba Người Khác chăng nữa – có thể “giải toả” những “chấn thương xã hội” do cuộc C.C.R.Đ. gây ra. “Do pháp trị thiếu sót mà Cải cách Ruộng đất đã hỏng to đến thế.” Nguyễn Hữu Đang đã viết (như thế) trên báo Nhân Văn số 4, phát hành ngày 5 tháng 11 năm 1956. Dù chậm, chúng ta cần phải nhìn vấn đề cho minh bạch và “chính qui” như vậy – theo như yêu cầu của Nguyễn Hữu Đang, từ hơn nửa thế kỷ trước.
 
Họa cộng sản sẽ qua, và sắp qua. Ngoài C.C.R. Đ., còn nhiều “vụ động trời” khác nữa – như Nhân Văn, Xét Lại, Đổi Tiền, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Mười Ngày Học Tập, Thu Vàng Bán Bãi Vuợt Biên … – chưa xử và bắt buộc phải xử, trong tương lai gần.
 
Vấn đề không phải là để truy thù hay báo oán. Truyền thống văn hoá bao dung dân tộc Việt không cho phép bất cứ ai thực hiện điều đó. Tuy nhiên, quá khứ cần phải được thanh thoả – và không thể thanh thỏa bằng một (hay vài) cuốn truyện– để chúng ta đều cảm thấy được nhẹ lòng, và an tâm hơn khi hướng đến tương lai.
(1) Trần Văn Thủy, tác giả Nếu Đi Hết Biển, Thời Văn (Hoa Kỳ) xuất bản năm 2003. Cuốn sách này, đã có lúc, gây nhiều tranh cãi trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại.
 
(2) Tất cả những trích dẫn có liên hệ đến cuốn Ba Người Khác và buổi toạ đàm, cũng như những bài tham luận, về tác phẩm này đều lấy từ talawas. Người viết xin trân trọng gửi đến ban biên tập talawas lời cảm ơn về nguồn tài liệu phong phú và cập nhật này.
(Việt Báo trân trọng cảm ơn nhà văn Tưởng Năng Tiến đã đặc biệt chia sẻ bài viết này.)
[/align]

 TƯỞNG NĂNG TIẾN
 
http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=135&nid=97738
Đăng nhập để trả lời
0
Riêng Nguyễn Xuân Khánh

 
27.12.2006[/align]Nguyễn Xuân Khánh[/align]Đọc “Ba người khác” của bác Tô Hoài[/align] [/align][/align]Tôi đã đọc những tác phẩm của nhà văn Tô Hoài từ trước Cách mạng tháng Tám. Những tác phẩm thời trẻ của ông đã ảnh hưởng tới tôi. Mỗi lần trở về quê làng Noi, phải đi qua Nghĩa Đô, qua ngõ Noi, qua con đường có hàng cây sòi giữa cánh đồng ngăn cách hai làng Noi - Bưởi là tôi lại nhớ đến ông. Phải nói những tác phẩm ở quãng giữa đời ông không gây ấn tượng với tôi. Nhưng những tác phẩm từ thời đổi mới tới nay lại làm tôi rất khâm phục. Tôi thích Cát bụi chân aiBa người khác. Ba người khác là một thành công mới của nhà văn lão thành, và có một vị trí đặc biệt trong các tác phẩm của ông.

Nhà văn Tô Hoài đã đổi mới rất nhiều cả về mặt nội dung lẫn hình thức thể hiện tiểu thuyết.

Cuốn sách đã chạm tới một vấn đề rất nhạy cảm là Cải cách ruộng đất (CCRĐ). Cuộc cách mạng thổ cải đã diễn ra nửa thế kỷ rồi, mọi việc tưởng như đã quên lãng. Một nhà văn hỏi tôi rằng: “Sao các nhà văn chúng ta lại vẫn có nhiều người quan tâm viết về CCRĐ thế nhỉ?”. Tôi nghĩ CCRĐ là một vấn đề rất lớn, vì nó động tới vấn đề nông dân tức là đến tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam. Nó động chạm tới văn hóa làng tức là nền tảng văn hóa Việt Nam. CCRĐ đã làm đảo lộn tất cả những giá trị truyền thống Việt Nam. Con tố cha, vợ tố chồng. Rồi bao nhiêu người oan khiên. Người trí thức, người giàu có, người tầng lớp trên, tức là những người thực sự làm ra văn hóa Việt, đều bị ảnh hưởng. Tôi có một người họ hàng tham gia cách mạng từ thời bí mật, đảm nhiệm qua nhiều chức vụ cao. Một lần bàn tới chuyện hồi ký, vì anh đã có thời làm bí thư đoàn ủy cải cách, tôi hỏi: “Các công việc của anh chắc chắn đã có nhiều người viết. Riêng việc CCRĐ nếu anh viết hồi ký, tôi nghĩ sẽ rút ra được nhiều điều bổ ích”. Người họ hàng của tôi im lặng hồi lâu rồi bảo: “Khó đấy! Khó đấy!” Xem như vậy mới thấy nhà văn Tô Hoài, một đội phó CCRĐ, đã viết lại những ký ức của mình về cái thời kinh hoàng “nhất đội nhì giời” ấy thành văn, mà văn hay, thật đáng quý biết bao. Nó là một kinh nghiệm nhắc lại thật buồn lòng, nhưng vẫn phải viết ra. Bởi vì đó là một kinh nghiệm về sự tả khuynh, cực đoan. Mà cứ khi nào tả khuynh cực đoan là đất nước ta mắc sai lầm. Rồi vấn đề văn hóa nữa chứ. Người phương Bắc đã nhiều lần tiêu diệt văn hóa nước ta đã đành. Hình như người Việt ta cũng lắm khi chẳng biết giữ gìn văn hóa của tổ tiên mình. Lê Chiêu Thống đốt phủ chúa Trịnh, CCRĐ tiêu trừ văn hóa phong kiến. Vậy chúng ta cần nhắc lại để những điều tương tự sẽ không xảy ra trong tương lai.

Cuốn Ba người khác đã nói đến vấn đề to lớn ấy bằng một giọng điệu rất bình tĩnh, dung dị, không hề lên gân, hầu như rất thản nhiên mà lại ám ảnh chúng ta vô cùng. Anh em nhà văn thường bảo ông Tô Hoài khôn, hay tránh né. Cuốn sách này bác Tô Hoài chẳng hề né tránh. Khi cuốn sách còn ở dạng bản thảo, mấy năm trước tình cờ tôi đọc được, từ khi ấy tôi đã khâm phục ngòi bút của bậc lão trượng, già rồi mà ngòi bút còn táo bạo, làm chủ được cảm xúc trong một vấn đề gai góc hắc búa, viết cứ như chơi mà thật đau đời.

Đấy là đổi mới về nội dung. Còn việc đổi mới về mặt hình thức của nhà văn Tô Hoài cũng làm người ta sửng sốt.

Trong biểu hiện văn học, tôi vẫn thích cung cách cổ điển cộng thêm với thủ pháp hiện đại hơn là hiện đại hoàn toàn. Có lẽ vì thế nên tôi thích văn phong Ba người khác của nhà văn Tô Hoài.

Đầu tiên là điểm nhìn. Ba người khác viết dưới dạng tự thuật thông qua lời kể của nhân vật Tôi (Bối), đội phó một đội cải cách. Sự lựa chọn ấy thật khéo. Bối có lý lịch là một anh thành thị, không dính líu tới nông thôn, vậy anh ta không bị động chạm trong thổ cải. Không bị động chạm quyền lợi thì sẽ có cái nhìn khách quan hơn, có thể tỉ mỉ trong việc quan sát. Sự lựa chọn ấy cũng khéo vì hoàn cảnh của nhân vật gần giống với tác giả (làng Bưởi đã nửa đô thị hóa từ thời Pháp) vậy nên cách nói Tôi dễ nhập hơn. Điểm nhìn này còn khéo vì nó liên quan tới điểm mạnh trong phong cách làm việc của nhà văn Tô Hoài: đó là sự quan sát tinh vi rồi lại ghi chép tỉ mỉ hàng ngày một cách thường xuyên. Đọc cuốn sách, bản thân tôi cũng được sống lại quãng thời gian 50 năm về trước, lúc đó tôi ở bộ đội và cũng phải đi dự những cuộc đấu tố, xử án. Những kỷ niệm ấy tôi đã lãng quên, nay qua cuốn sách chúng như sống lại.

Tuy nhiên điểm nhìn này cho chúng ta cảm giác một sự bàng quan và hạn chế để soi vào số phận của những người thực sự trong cuộc. Số phận ấy bi kịch và bi thảm vô cùng.

Nhưng điều làm người ta sửng sốt hơn cả là phương pháp biểu hiện của Tô Hoài: ông đã tự sự và miêu tả những chi tiết mà không chọn lọc theo kiểu điển hình hóa. Mở đầu sách là chi tiết một cố nông mút bòi một địa chủ mắc bệnh tim la. Rồi anh đội phó ăn cắp bánh đúc. Các cô bần cố thì đói khát dâm dục. Rồi ăn cám ra sao. Mấy anh đội Cự, Bối, Đình thì đi đến thôn nào là ngủ ngay với cốt cán ở đấy. Rồi bắt rễ xâu chuỗi, chỉnh đốn tổ chức, cụng đầu tố khổ, chia quả thực... Thật tỉ mỉ. Thật u tối. Thật chất phác mộc mạc. Thật hoang sơ sù sì. Con người khốn khổ đến mức bán khai. Và cũng thật là ấn tượng và ám ảnh. Có lẽ tác giả muốn cho thật thực, thực đến mức tàn nhẫn, hơn là muốn tả cho đẹp, theo một định hướng nào. Có lẽ tác giả muốn lạnh lùng, khách quan nhưng là một tiếng thét to mà không thành tiếng: cái nông thôn của ta khốn cùng bi thảm quá. Phải thay đổi nó, nhưng không phải cách như cách các anh đội đang làm.

Cái cách miêu tả, tự sự ấy là cái cách hiện đại: tả đến mức dư thừa, đến mức thái quá, để cho sự miêu tả ấy quấy rầy, ám ảnh người đọc, buộc người đọc phải bàng hoàng suy nghĩ. Cái cách miêu tả ấy là sự pha trộn cả những chi tiết ít giá trị và những cái thực sự quan trọng, cốt yếu là tạo ra sự thái quá gây bàng hoàng cho người đọc.

Còn một điều nữa trong sự mới mẻ của Tô Hoài: đó là tả nhục cảm. Sự miêu tả nhục cảm của bác rất tự nhiên. Ở nông thôn cuộc sống tình dục vốn như thế. Nó suồng sã, nó hồn nhiên, và điều quan trọng là bác Tô Hoài đã vượt qua được sự cấm kị mà ở những người lớn tuổi và có địa vị như bác dễ gì đã vượt được qua.

Trong mỗi con người đều có cả cái ác lẫn cái thiện, cả những bản năng hung bạo và tính văn hoá. Phải giải quyết vấn đề nông thôn bằng văn hoá và nhân nghĩa chứ không thể bằng bạo lực. Năm mươi năm đã trôi qua nhưng vẫn còn quá ít tác phẩm hay nói về vấn đề to lớn đó. Vấn đề vẫn còn đó, nó nằm trong vô thức của cộng đồng. Nhiều người chứng kiến nhưng không ai nói cho rõ được vấn đề. Trong khi đó tôi nghĩ văn học là giải toả, văn học là chữa bệnh. Tôi chợt liên tưởng tới cách chữa bệnh về tinh thần cho con người. Người thầy thuốc, bằng những biện pháp tâm lý, tìm cho ra cái nguyên cớ sinh ra bệnh tật. Tức là làm cho nguyên nhân bệnh từ vô thức chồi lên ý thức. Ở một khía cạnh nào đó, tác phẩm văn học cũng có giá trị như vậy. Cộng đồng người cũng như một con người. Cộng đồng cũng có những ẩn ức. Đưa những ẩn ức nằm trong vô thức của tập thể trở thành minh bạch trong ý thức sẽ giúp cho cộng đồng phòng ngừa được những điều không lành mạnh trong tương lai. Riêng việc bác Tô Hoài mạnh dạn viết được điều gai góc ấy ra thành sách, chúng tôi cũng cảm phục và biết ơn bác.

Chỉ có một điều nhỏ tôi chưa được thích trong cuốn Ba người khác, đó là phần kết. Ba anh đội: Huỳnh Cự thì hàng Mỹ, Tôi (Bối) thì mất việc, lại đi làm thuê cho Tư Nhỡ, Đình thì đi bới rác để hy vọng vào Lâm Đồng lập xóm mới. Giá như tìm được cái kết mở để cho người đọc tự mung lung tưởng tượng về số phận của ba con người đó. Tuy nhiên đó là chuyện riêng của ông Tô Hoài, tại sao tôi lại giá như được.

Xin chúc mừng nhà văn Tô Hoài và cám ơn ông đã cho tôi được đọc một cuốn sách hay.

Hà Nội 12. 2006

© 2006 talawas
[/align]http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8860&rb=0102[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
26.12.2006[/align]Phạm Xuân Nguyên[/align]“Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy”[/align] [/align][/align]Thì “kiếp phù sinh trông thấy mà đau” (Nguyễn Gia Thiều). Thì con người chỉ là công cụ trong tay tạo hóa của xã hội, chỉ là một thứ đồ chơi trong cuộc vần xoay của số phận, của lịch sử. Một con quay. “Cái sợ, cái buồn, cái vui, cái hồi hộp, tôi như con quay ném vào đám chơi, cái dây vật quay tít hay để con quay lăn long lóc, tự tôi chẳng biết ra thế nào” (tr. 216). Nhân vật Bối (người xưng Tôi kể chuyện), đội phó một đội CCRĐ, đã bần thần thế khi đội sửa sai về. Và rồi khi rã đám, tàn cuộc chơi, anh ta bỗng thấy ra: “Chúng tôi đều nhơ nhớp cả, có gì mà nói” (tr. 222). Cả một biến cố lịch sử long trời lở đất tưởng như có thể nằm gọn trong hai câu này của nhân vật chính.

Ba người khác viết trực diện về cải cách ruộng đất. Chuyện kể trong sách là ở thì hiện tại. Cái nhìn biến cố là cái nhìn của người trong cuộc. Anh đội Bối vốn là dân thành phố, trôi nổi trong chiến tranh rồi giữ một chân coi sổ sách và coi kho, khi còn ở Việt Bắc đã lẩn được mấy đợt đi làm giảm tô vì “chẳng biết mặt mũi ruộng đồng bao giờ”, nhưng đến khi về Hà Nội thì không tránh được nữa, phải đi làm “thổ cải”. Thế là Bối thành anh đội, không những thế còn là đội phó, phụ trách việc lập tòa xử án, nắm quyền sinh quyền sát bao mạng sống những người anh không biết, không hiểu. Nói cho ngay thì Bối luôn tránh né phần việc của mình, đùn đẩy sang cho Huỳnh Cự đội trưởng làm tất. Phần vì bản tính anh ta thế. Phần chính là thực chất Cự nắm hết quyền, làm hết việc. Cứ thế cả một đợt cải cách ruộng đất ở một làng quê Bắc Bộ diễn ra dưới con mắt Bối, theo cái nhìn cái thấy cái cảm của nhân vật này, cũng tức là của nhà văn.

“Nhất đội nhì giời” - câu nói một thời, ám ảnh một đời. Nó là sự thực đời sống. Còn hơn thế, nó là sự thật lịch sử. Nhưng mà đọc trong sách thấy cứ như một trò đùa số phận. Một vô thức lịch sử. Một chứng điên tập thể. Và rồi cuộc sống cứ trôi theo quy luật vốn có, những gì bị phá đi thì phải làm lại, đánh mất phải tìm lại, quẳng đi phải lấy lại. Nhưng có những cái không thể làm lại, tìm lại, lấy lại được. Đội trưởng Cự sau ngày cải cách trốn vào Nam theo địch, rồi bị một chiến sĩ giải phóng là con một bần cố nông ngày trước (“Tôi biết mặt thằng Cự, nó đã ở nhà tôi mà”) chém đứt cổ tại cơ quan chiêu hồi ngụy. Chuyện đó “không biết thực hư thế nào”. Cuốn truyện kết lại ở câu văn đó. Thật là Tô Hoài!

Từng có người nói Nam Cao viết tiểu thuyết như tự truyện và Tô Hoài viết tự truyện như tiểu thuyết. Những hồi ký Cát bụi chân ai, Chiều chiều đã nói đến những cái nhếch nhác, bụi bặm của đời người, không trừ một ai. Lần này, Ba người khác là tiểu thuyết hóa hồi ức, vẫn là cái mạch viết đó nhưng tập trung vào một biến cố đời sống, vừa là sự trải nghiệm vừa là sự khảo nghiệm. Kinh nghiệm trường đời lưu giữ gần như nguyên vẹn trong ký ức một con người sống hầu xuyên suốt một thế kỷ như ông lão Tô Hoài là khối nguyên liệu vô giá cho nhà văn Tô Hoài viết về cái thời mình sống đầy lão thực và minh triết. Ông chỉ thuật và tả, tả và thuật, giọng văn nhẩn nha, điềm đạm, không đi đâu mà vội, không việc gì mà lớn lối to tiếng. Người đọc cứ thế là theo ông qua nhân vật Bối nhập cuộc một phong trào đấu tranh chính trị mà cứ như đi dạo đi chơi xem phong tục làng quê, xem cảnh sống dân quê, ngó ngàng những thân phận quê, ngủ với gái quê, như không hề biết mình đang can dự, và phải chịu phần trách nhiệm, vào một biến cố lịch sử có một không hai. Ông viết cứ tửng tưng như không, viết cứ như đùa, cứ như kể một câu chuyện ở đâu đâu, không phải của làng nước mình, không phải của mình. Thế mới lại càng đau. Hóa ra là như đùa như bỡn tất, cả cái anh Bối đi làm CCRĐ mà chẳng biết gì về nông thôn và nông dân. Cả cái anh Đình làm trại đại đồng để rồi thân tài ma dại vì trại đại đồng. Cả cái anh Cự đội trưởng cải cách quyền sinh quyền sát rốt cuộc là theo địch. Và ngay cả cái việc họ làm như trong truyện cũng là như một chuyện đùa. Vậy mà không, bởi vì nạn nhân của trò đùa ấy là sinh mạng của bao con người bình thường, là số mệnh của cả một đất nước, là dòng chảy của cả một dân tộc. Đọc Ba người khác tôi thật rùng mình trước sự đùa mà thật, thật mà đùa của bàn tay nhào nặn lịch sử dưới ngòi bút “ma quái” của bậc lão trượng văn chương Tô Hoài.

Người đọc cũng bị mê mụ đi như người trong cuộc trong sách. Cuốn sách không dày (250 trang) nhưng đọc thì thầy ngồn ngộn lên những người, và việc, và cảnh, thấy thế sự và lòng người dồn chật vào nhau. Con mắt Tô Hoài cứ thế là nhìn khắp lượt, nhìn săm soi mọi cảnh vật, đồ vật, người vật, và ngòi bút Tô Hoài cứ thế là ghi lại mọi thứ một cách chi tiết, tỉ mỉ. Cả cái chuyện ăn nằm trai gái của mấy anh đội với mấy cô bần cố cốt cán cũng vậy, kể như là thấy thế thì kể thế, trong mạch chuyện đã thế thì phải thế. Hiệu quả nghệ thuật ở đây là người đọc bị ném vào một hiện thực như đang có, một hiện thực hữu lý tự nhiên vô cùng, nhưng cũng chính bởi thế mà thành ra như phi lý, bất bình thường. Chỉ đến khi gấp sách rồi, người đọc mới bàng hoàng thấy mình sống được, thoát được cái hoàn cảnh tưởng chừng hết lối sống, hết lối thoát ấy. Cách viết ấy ở một nhà văn lão thành như Tô Hoài phải nói là cao thủ, cao tay. Văn ông còn hiện đại là ở cách viết ấy.

Cách viết ấy có lẽ sẽ đắc dụng hơn nữa, hiệu lực hơn nữa nếu cuốn tiểu thuyết được viết dài hơn nữa. Nhưng mà Ba người khác được viết ra từ 1992 và đến bây giờ, cuối 2006, mới được xuất bản. Gần mười năm trước đọc nó ở dạng bản thảo tôi đã thấy hay và mong sao nó được sớm in ra. Bây giờ đọc nó ở dạng sách, mừng là nó đã được in ra, và vẫn thấy hay, thấy cái bút lực, sáng tạo của nhà văn Tô Hoài dường như không vơi cạn, không cũ chút nào theo thời gian. Khi viết Ba người khác ông ở tuổi 72, và những sự kiện đời sống làm thành nội dung cuốn truyện thì ở độ lùi hơn ba chục năm. Tuổi đời ấy, tuổi lịch sử ấy đã cho ông sự từng trải và điềm tĩnh sâu sắc để nhìn lại cuộc sống và ngẫm về thế sự. Cải cách ruộng đất là một vấn đề lớn của lịch sử đất nước, nhưng đó là một đề tài khó cho văn học, một thử thách bản lĩnh và tài năng của nhà văn. Tô Hoài đã chấp nhận và vượt qua thử thách đó phải nói là thành công ở cuốn Ba người khác này.

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, một bạn văn thân thiết của Tô Hoài, ghi nhật ký ngày 9/7/1956: “Cuộc cải cách đợt 5 đáng lẽ làm cho nhân dân phấn khởi thì đã gây bao nhiêu xót thương. Biết bao những người oan uổng. Đau xót vô cùng là đồng chí có công lao trong kháng chiến vào sinh ra tử, ở hầm, ở hố, nay bị đem ra bắn. Có những người theo lệnh của Trung ương ký giấy cho bà con di cư, nay bị đem ra xỉ vả, không có một lời khiếu nại minh oan. Có những người đeo huy hiệu Điện Biên Phủ, cải cách ruộng đất, huân chương, đội trưởng đem lột để bỏ tù, đánh đập. Có những người [được] Bác cho áo, chúng cũng lột cho là làm giả và nghi cho là gián điệp. Rất buồn là đưa lên những cốt cán 17, 18 tuổi không biết gì nhân tình thế thái, cũng không hề tham gia kháng chiến, nay là đội trưởng điều khiển bao nhiêu cán bộ đã tham gia kháng chiến, lăn lộn trong cải cách ruộng đất, và áp bức nông dân, ho ra lửa, thét ra khói. Ironie du sort (sự trớ trêu của số phận). Bần cố nông chủ nghĩa. Đâu là nhân đạo cách mạng” [1] .

Đoạn viết này của Nguyễn Huy Tưởng có thể lấy làm ghi chú cho tiểu thuyết Ba người khác của Tô Hoài. Và cuốn sách của Tô Hoài có lẽ phần nào “vật hóa” được nỗi day dứt đau đớn trong lòng của bạn văn mình. Không biết Nguyễn Huy Tưởng nếu sống đến bây giờ thì có hình tượng hóa nỗi đau ấy thành tiểu thuyết không?

Ba người khác. Cái khác là cái ác chăng? Cái ác có tự trong mỗi người như một con quỷ mà không ai tự biết, khi có hoàn cảnh thì nó trỗi dậy hoành hành. Cái ác do từ ngoài nhập vào biến đổi con người ta thành quỷ. Ba người ở một đội cải cách rốt rồi thành ba người khác, chẳng ai còn nguyên vẹn, tử tế. Nhưng còn nhiều người khác nữa. “Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy”. Nửa thế kỷ sau cải cách ruộng đất, lịch sử đã bắt đầu hiện hình qua văn học.

Hà Nội 22. 12. 2006
[/align]http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8856&rb=0102[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
6.1.2007[/align] [/align]Toạ đàm về Ba người khác của Tô Hoài[/align] [/align]Sau khi đã giới thiệu toàn văn tham luận của các nhà nghiên cứu phê bình và nhà văn Lại Nguyên Ân, Nguyễn Xuân Khánh, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Hữu Sơn, Phạm Xuân Thạch, Nguyễn Trọng Tân trong tọa đàm về Ba người khác do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức tại trụ sở Viện Văn học ngày 22/12/2006, talawas xin giới thiệu tiếp những ý kiến phát biểu ngắn trong toạ đàm trên. Sau đây là bản lược ghi những ý kiến trên căn cứ vào đĩa ghi âm mà chúng tôi có được.
talawas[/align][/align]Văn Chinh (nhà văn): Không đồng ý với nhà văn Nguyễn Xuân Khánh về ý kiến ca ngợi nhà văn Tô Hoài dũng cảm. Không có chuyện táo bạo dũng cảm ở đây. Nhà văn Tô Hoài năm nay 87, người Việt Nam nói bảy mươi tuổi thì mắng vua cũng không làm sao. Tô Hoài thì 50 tuổi cũng đã như vậy cho nên đây là vấn đề tự nhiên, giống như tảng đá cuối cùng phải nảy ra Tôn Ngộ Không. Đấy là điều tự nhiên của nhà văn chúng ta.

Về ba nhân vật: Tôi (Bối), Đình, Cự. "Tôi" thì không thể là người khác. Nhưng trong truyện, ta thấy cả tôi (Bối) cũng là người khác, kẻ khác. Tôi nhớ đến cuốn Những con người và những con khác của nhà văn cộng sản Ý Elio Vittorini . Cuối sách nhà văn nói: Đừng thấy tôi là cộng sản mà cho cuốn sách này là cộng sản. Việc tôi là cộng sản là phản ánh cái tôi muốn trở thành, còn cuốn sách nói cái tôi đang là. Và Tô Hoài đang là nhà văn. Thái độ khôn ngoan nhất là phải thấy rằng đây là đại phê bình, tự kiểm điểm vĩ đại của người cộng sản chân chính.

Ba người không biết từ đâu đến: Bối từ Hà Nội, Cự từ "Khu Nem" ra, Đình thì lớt phớt tiểu tư sản phố huyện về, mà làm đảo lộn xã hội, khuynh đảo mọi giá trị cổ truyền của làng quê. Xã hội cũ thu xếp được mọi thứ vào khuôn, tạo nên sự ôn hoà ổn định, thằng cố nông cũng lấy được vợ, cô liệt cũng lấy được chồng, ai cũng có phận cả. Ba kẻ ở đâu đến nhân danh sự tốt đẹp làm đảo lộn cả, làm con tố cha vợ tố chồng. Ba kẻ này không phải ba nhân vật chính mà là đồ "ba láp", là ba người khác, họ không phải chúng ta. Bình tĩnh nhìn lại điều này thì thấy kinh khủng khiếp.

Về bút pháp: Dế mèn đến ba mươi tuổi tôi mới đọc và không thích lắm. Tôi chú ý đến Tô Hoài đầu tiên là truyện ngắn “Một người bạn” nói về một người bạn cũ bây giờ sống ở nước ngoài có bộ râu dài phương Đông thay con khỉ đã chết làm marketing cho nhà hàng. Tôi có lần nói với ông: "Chú viết có kỹ thuật". Ông trừng mắt, có lẽ vì giới nghệ thuật thường mặc cảm định kiến với chữ kỹ thuật. Tôi phải nói rõ: "Chú có 2 gram cảm xúc trong người thì truyền được đến bạn đọc đúng 2 gram cảm xúc, không dính những câu chữ ôi a."

Cũng viết về CCRĐ, nhân vật của Ngô Ngọc Bội hay Dương Thu Hương khôn hơn thời đại, còn nhân vật của Ba người khác rất giống nhân vật của Anatoli Kim (Nhà văn Nga gốc Triều Tiên), một anh nông dân chỉ nhìn từ lưng con người trở xuống, còn bên trên nữa thì anh ta không hiểu. Tôi rất bất ngờ và đặc biệt kính trọng Tô Hoài là ông cho người đàn bà liệt đập đầu vào cối đá, cái cối đá thủng kích thích nhân tính con người, đó là bút pháp hiện đại. Thằng Bối không biết nhưng độc giả biết.

Kết luận: đây là cuốn sách của người cộng sản chân chính. Đã là Tô Hoài của Cát bụi chân ai, Chiều chiều thì phải có Ba người khác.

Châu Diên (nhà văn): Tôi xin có ý kiến về bút pháp của Ba người khác.

Trong tất cả văn phẩm của Tô Hoài xưa nay không có vấn đề tâm lý nhân vật, riêng quyển này thì có vấn đề tâm lý nhân vật. Tất cả các nhân vật đều là những người không biết họ sống thật hay giả dối, có hai vẻ mặt cùng một lúc, không biết là họ lên đồng thật hay giả vờ. Chính vì thế mà Tô Hoài rất tinh tế đặt tên là “ba người khác”, chứ không phải là “ba người ấy”. Đó là chúng ta đấy, chúng ta đương rất cynique, chúng ta đương thấy sai thấy đúng mà cứ lờ lớ lơ, bài học đó vẫn dùng được cho chúng ta trong ngày hôm nay. Ba người khác nói đến sự tha hóa, alienation, chứ không phải là nói cái tôi, ta, địch… Tất cả những cái đó là vô nghĩa, là vật liệu, nhà văn có thể dùng cái này hay cái kia… Tô Hoài dùng để nói đến sự tha hóa của con người, đó mới là cái có ý nghĩa, là sự đóng góp của văn học chứ không phải là đề tài. Đây chưa phải là lịch sử, ta chưa đưa chuyện CCRĐ vào nhà trường, vì vẫn coi là chuyện hiện tại. Không phải là tiểu thuyết lịch sử, lịch sử là phải viết hoang tưởng, hư cấu theo ý mình dựa trên một thời kỳ đã qua, còn đây chưa qua, nhiều người còn sống, tâm lý nhân vật là tâm lý những người đương đại chứ không phải người đã chết. Đóng góp lớn nhất về bút pháp là sự thay đổi từ chỗ không để ý tâm lý nhân vật (“Vợ chồng A Phủ” không có tâm lý, Dế mèn khong có tâm trạng) sang có tâm trạng của những người rất hiện đại. Trạng thái hiện đại của những con người đang sống bây giờ đó là sự tha hóa.

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên bình thêm: Ba người khác thì nhiều người nghĩ là ba người sau cải cách, ba anh đội trở lại đời thường, ý kiến của tôi là ba người khác nhập vào và sai khiến họ.

Nguyên An (nhà phê bình): Chắc chắn người ta còn quay lại bàn về cuốn sách này, nó là cảm hứng lịch sử, tiểu thuyết lịch sử. Cái khác những tiểu thuyết lịch sử khác là Tô Hoài coi sự kiện, năm tháng ấy mà người Việt Nam mình trải qua như điểm nhấn, như phép thử, để nói lên rất nhiều điều. Rất rõ sự tàn phá, sự khủng khiếp ghê gớm của những con người tưởng không đâu, khi được gom lại và giao một việc đã tạo ra sức mạnh tàn phá ghê gớm, sự tàn phá phá vỡ cấu trúc lịch sử, phá vỡ cấu trúc làng xã, phá vỡ không gian văn hóa, phá vỡ truyền thống. Có thể nói đây là một trong những cuốn đáng kể nhất về đề tài CCRĐ. Những cuốn khác cũng nói lên sự tàn phá, sự giả trá đến mức cạn kiệt phi luân của những người đi làm cải cách, nhưng khác những cuốn kia ở chỗ bác Tô Hoài nhấn mạnh cái khía cạnh tình dục, bản năng. Điều ấy có thể thông cảm được nhưng có điều nó nhơ nhớp quá, phi luân quá, viết khiếp quá.

Hiện đại hay không hiện đại, mới hay không mới, nhà văn cứ viết theo sự hiểu biết, cảm hứng, khát vọng của mình. Là tiểu thuyết lịch sử hay phong tục, đó chẳng qua là do cách nhìn khác nhau của các nhà phê bình thôi. Tô Hoài mô tả và phản tỉnh, tự kêu lên, tự hét lên cho mọi người biết ở nước ta có một thời đớn đau như vậy, tàn bạo như vậy, bi thương như vậy.

Lê Sơn (dịch giả): Tôi là người ở Trung Quốc từ năm 13 tuổi, được chứng kiến "thổ cải" ở bên đó. Tôi thấy Ba người khác tái hiện được bầu không khí cải cách ruộng đất của nước ta nó giống y xì Trung Quốc, còn hơn Trung Quốc. Tôi được đọc hồi ký của một ông cựu trưởng ban tuyên giáo trong đó có nói đến "10 nỗi đau của cụ Hồ". Cụ Hồ chỉ là muốn giảm tô thôi, nhưng do sức ép của Trung Quốc bắt phải làm CCRĐ, sau hậu quả đó cụ Hồ khóc.

Đây là một trong những đỉnh cao của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tái hiện không khí tâm lý của những người trong cuộc. Đây là lời sám hối và tiếng kêu. Người đọc thấy cũng có mình ở trong đó. Ba người khác là chúng ta và mặt khác của chúng ta.

Phan Thị Thanh Nhàn (nhà thơ): Trong Ba người khác có đến ba nhân vật đều dâm ô cả, như thế thì nặng quá, liều lượng như thế thì hơi quá.


Hà Minh Đức (nguyên Viện trưởng Viện Văn học): Vấn đề cải cách ruộng đất cho đến nay vẫn chưa giải quyết xong, nó là một đề tài lớn. Ngô Ngọc Bội, Dương Thu Hương… mỗi người có một cách nhìn, có nhiều kiểu nhìn khác nhau, có người là cán bộ chính trị, có người là nạn nhân, có người khách quan. Vấn đề nông dân đánh giá khó lắm.

Tô Hoài có rất nhiều điều kiện viết về đề tài này:
[/align]
  1. Trực tiếp tham gia phong trào, có cái nhìn bao quát;
  2. Không dính dáng gì các quan hệ giai cấp, nên có cái nhìn khách quan;
  3. Rất am hiểu về nông thôn.
[/align]Nông thôn từ trước cách mạng đến nay vẫn thấy anh liên tục khám phá. Tô Hoài có rất nhiều vốn sống về CCRĐ nhưng anh chọn cách thông minh: không viết tự truyện. Nhân vật Bối linh tinh lắm, tự truyện không thể nào viết được.

Nhiều đoạn tả hay, ví dụ cảnh đấu tố, cán bộ thâm nhập ba cùng… Những người tôi quen có đi cải cách thừa nhận cán bộ đội cứ đưa rễ chuỗi ra ổ rơm phát động, phát một lúc là động ngay. Đội cũng chỉ là những chàng trai 30, những chuyện như thế cũng là dễ hiểu.

Không khí trong cuốn này là không khí hiện đại. Tư duy của Tô Hoài hiện đại, cách nghĩ lấy sự thật là cơ bản, không bị rào cản nào cản trở. Ngôn ngữ tự nhiên, mộc mạc. Ngôn ngữ Hồ Xuân Hương trong văn xuôi, cựa quạy.

Có người nói tả làng quê nhếch nhác quá, nhưng nông thôn vô cùng khác nhau, đây là nông thôn của vùng địch vừa rút đi nên có không khí xã hội tan rã, có nhiều yếu tố nhếch nhác, trai gái nhiều…

Cái kết hơi gò, hơi dang dở, không thể nói Tô Hoài nên tìm kết khác, nhưng theo tôi so với tổng thể thì phần kết chưa được ưng ý. Cuốn Ba người khác nhiều điểm rất hay nhưng nhiều điểm trình độ tôi chưa tiếp thu được, có khi phải vài năm nữa.

Văn Giá (nhà phê bình): Tôi có ba ý nhỏ:

  1. Vấn đề tính dục trong tác phẩm: Việc trai gái rủ nhau đi ăn nằm có chỗ như gà, cô Đơm cô Duyên… hình như nói lên ý nghĩa sức sống của con người. Trong thời đói như thế, tan nát như thế, khốn nạn khốn khổ như vậy, đe doạ, trấn áp như vậy mà đêm đêm cứ rủ nhau đi ăn nằm. Mô tả tính dục ở đây có ý nghĩa lớn hơn là sự phê phán cái vô luân: đó là sức sống của con người, lòng ham sống, quyết liệt sống, khẳng định sự sống, khẳng định sức sống của người Việt, của văn hóa làng Việt.
  2. Nhà văn viết giọng điệu bao trùm là cười cợt, như không, vui với nó, đùa với nó, cái nhìn humour hài hước: tức là ông cởi bỏ được mọi thứ ràng buộc, mọi thứ đe nẹt, cởi bỏ luôn trong định kiến của mình và của xã hội, đạt tới cảnh giới hoàn toàn tự tại, không vướng bận một chút gì. Ngòi bút và sức viết hết sức phóng túng, thoải mái, nói ra được hết những gì ông chiêm nghiệm về cuộc đời này. Điều đó rất quan trọng. Các nhà văn của ta viết vẫn rón rén, tính toán ghê lắm, riêng Tô Hoài không còn hãi gì cả, nên ông viết rất vui và rất tưng tửng.
  3. Đám đông người Việt kinh khủng, a dua, nếu không được chèo lái cẩn thận, sẽ phá huỷ, hủy diệt cuộc sống. Khi một đám đông bị hướng dẫn bởi lực lượng tăm tối và phản động nó sẽ có sức hủy diệt sự sống. Cho thấy tầm vóc tác phẩm càng lớn và càng đáng nể.
Ba người khác là một trong những tác phẩm thiết yếu để con người phấn đấu làm người lương thiện, nâng cao chất lượng sống và nhân văn cho con người chúng ta.

Nguyên Ngọc (nhà văn): Cách viết hay, độc đáo về CCRĐ. Không viết về nông dân mà viết về ba anh đội. Hoá ra cái thảm kịch của đất nước, xã hội, là do ba cái anh lăng nhăng. Những cuốn khác viết về nông dân là nạn nhân, nhưng đây là lại là thủ phạm. Ba kẻ chẳng có kiến thức gì cả, tự nhiên làm đảo lộn hết cả xã hội, cả mấy nghìn năm văn hoá (ý của Hoàng Xuân Hãn nói về tác hại của CCRĐ). Xã hội ta bây giờ trở nên thế này một phần là vì cái đó. Văn hoá bị phá vỡ bởi ba cái ông lăng nhăng, làm như đùa như chơi thế thôi, nhưng hoá ra là bi kịch kinh khủng. Có yếu tố đúng là tình huống Kafka, như trò cười, phi lý. Nói là đề tài CCRĐ cũng được, nhưng vượt ra ngoài đề tài. Không chỉ là sự tha hóa của nông thôn, mà là sự tha hóa của xã hội, tầm khái quát lớn. Đề tài cụ thể, nhưng khái quát giai đoạn, một thời bi thảm trong lịch sử của chúng ta.

Về bút pháp, văn học chúng ta còn lâu lắm mới thoát ra bút pháp sử thi. Tô Hoài đã thoát ra từ Cát bụi chân ai, Chiều chiều, nhưng đó là tự truyện, đến Ba người khác mới là hư cấu. Đó là bút pháp hiện đại, mỉa mai, dửng dưng, cười cợt, tạo nên sức mạnh của văn học.

Ở tuổi cao như thế mà anh đã cho ra một tiểu thuyết hàng đầu, xin chúc mừng anh.

Văn Long (nhà thơ): Việc xuất bản sách này là một sự dũng cảm. Dường như khi người ta đủ mạnh người ta mới dám đưa ra những sai lầm của mình. Sau WTO, sau APEC hình như ra cái này dễ dàng hơn. Trung Quốc dám nói về sai lầm CCRĐ, Cách mạng Văn hoá nhưng ta không dám nói. Nay đã có mở ra.

Về nội dung cuốn sách: Với những con người thiếu hiểu biết như thế này thì làm gì mà không mắc sai lầm. Hoàn cảnh dẫn họ đến sai lầm. Tác giả dựng lên được hoàn cảnh ấy.

Cái kết: một động tác có thể là để tự vệ, một cái khôn của tô Hoài để tự vệ chăng? Cho Cự chiêu hồi để chứng tỏ nó là thằng xấu, kẻ xấu từ trong trứng vẫn là xấu, chứ không phải tiêu biểu cho cán bộ ta.

Nhà văn Tô Hoài: Tôi viết nhiều quá, nên tất nhiên nhiều người thích và không thích, viết Ba người khác cũng như những quyển khác, viết xong quyển này rồi lại viết quyển khác. Lúc đầu tôi không chú ý đến nó bằng Chiều chiều là quyển đến nay chưa được in lại. Có lẽ sau quyển này tôi sẽ thử hỏi xem có NXB bản nào in lại Chiều chiều không. Người ta bảo không cho in lại có lý do là vì tôi chửi trường Nguyễn Ái Quốc [1] , nhưng tôi có chửi đâu, tôi đi học trường ấy 2 năm thì tôi viết, thế thôi.

Tôi viết thì nói chung và nói riêng đều viết như thế, bao giờ cũng viết bằng cái thực tế nhất định cộng với một chút mơ màng. Ba người khác cũng thế, tôi chỉ là anh Bối thôi. Anh Bối không biết gì nhưng anh Bối đi cải cách ba lần nên viết được. Tôi đi cải cách ở 3 nơi thuộc Thanh Hóa (Hậu Hiền, Nông Cống, Ba Làng). Mấy nơi như thế, đội của tôi được tiếng là đánh địch giỏi, có thành tích, nên được điều ra Hải Dương vùng tập kết 200 ngày, địch mới rút, không qua giảm tô mà làm ngay cải cách. Nói như thế để thấy được tôi toàn viết về thực tế cộng một cái gì đó mơ màng xung quanh. Nhân vật tôi miêu tả, nhân vật trung tâm cuộc cải cách tôi lấy thực tế từ hai nơi Nông Cống và Hải Dương, hầu như nhân vật, tên và hoạt động rất thật. Có những đoạn, vấn đề tôi gán ghép, ví dụ như phần Đình làm trang trại đại đồng, đoạn trước và sau thời kì cải cách, có đoạn thực tế nhưng tôi vá đáp lại. Cái nhân vật như là Huỳnh Cự, thì sau cải cách rồi, Cự về bộ đội rồi, một hôm tôi nghe đài Sài Gòn nói 2 giờ chiều nay đại tá Huỳnh Cự đi họp chống cộng ở Đài Loan về sẽ nói chuyện, tôi lạ quá. Đến chiều 2 giờ tôi nghe đài Sài Gòn thì đúng là Huỳnh Cự thật, nó vẫn nói "thưa đòm bào". Sau này mới biết trong kháng chiến chống Mỹ có hai nhân vật đầu hàng địch. Thứ nhất là Tám Hà, thằng thứ hai là thằng Huỳnh Cự. Cái đoạn cuối anh Khánh [2] nói nó yếu, tôi cũng chịu là nó yếu, tôi bị thích quá cái sự thực ấy.

Tôi làm toà án nhưng không giết ai, nên sau tôi vẫn về lại Nông Cống, Hải Dương bình thường. Câu chuyện tôi làm toà án cũng lạ lắm, nó như thế này: Khi ta cải cách, đài Sài Gòn rêu rao nói ta vi phạm nhân quyền, CCRĐ giết người không có toà án xét xử gì cả. Lúc đó tôi ở Thanh Hoá, không biết tại sao ông Hồ Viết Thắng [3] (đi Volga mặc quần áo nâu) biết trong đội cải cách ở Thanh Hoá có anh nhà báo nhà văn, thế là tôi được gọi làm chánh án. Tôi sáng tác hàng nghìn khẩu cung (cứ nửa trang một) đem vào nhà tù cho phạm nhân điểm chỉ, ký tên. Tôi sợ họ kiểm tra nhưng rồi cũng không ai kiểm tra việc ấy. Cũng là việc "sáng tác" đó.

Phạm Xuân Nguyên: Vì sao bác đổi tên truyện từ Chuyện ba người thành Ba người khác?

Tô Hoài: Chuyện ba người không được in, tôi chán nên đổi văng mạng, còn cứ đem phân tích thì vẽ vời ra thôi.

Nói tiếp về cái kết: Anh đặc công quê ở Hải Dương giết Huỳnh Cự là chuyện thật tôi được biết. Tôi cải cách cũng hiền lành thôi nên vẫn về Nông Cống, Hải Dương. Năm ngoái năm kia trên báo Tiền Phong đã in ảnh tôi chụp với rễ chuỗi ngày xưa.

Phạm Xuân Nguyên: Còn chuyện quan hệ với rễ chuỗi thì sao?

Tô Hoài: Có khi có có khi không. Có khi ôm ấp rễ chuỗi nhưng nó bảo nó "có tháng". Các cậu ở Hải Dương sau này vẫn giao thiệp với tôi, chính họ kể chuyện cho tôi nghe rằng đặc công giết Huỳnh Cự là người làng ấy. Tóm lại là tôi viết chuyện rất thật, nhưng cũng có đôi chút mơ màng.

Tôi ước ao những vấn đề lớn như về thời kỳ bao cấp nếu có cái ai viết trào phúng kiểu Xuân Tóc Đỏ thì tuyệt vời.

Nguyễn Văn Thành (Viện trưởng Viện Sân khấu) nêu ba câu hỏi:

  1. Thưa bác Tô Hoài, có người nói rằng bác tả rất nhiều về thân xác, tình dục, có phải muốn nói là cải cách ruộng đất chỉ khuấy động phần thú vật trong con người hay không?
  2. Xin bác nói rõ hơn về mối liên quan giữa truyện Ba người khác này với Cát bụi chân ai, Chiều chiều. Có phải nó nằm trong một chuỗi những sáng tác gần nhau nằm trong cái chung của bác không?
  3. Nếu có người muốn chuyển thể tác phẩm của bác sang sân khấu, điện ảnh, bác có suy nghĩ như thế nào?
Tô Hoài:

  • Về chuyển thể: khó khăn mà cũng không khó khăn, khó là có giả nhiều tiền không?
  • Về tình dục, đấy là quan điểm của tôi chứ không phải chỉ trong Ba người khác . Ví dụ như trong tiểu thuyết Mười năm, viết năm 57, tôi đã tả hai người yêu nhau trong lúc sắp chết đói.


  • Ba người khác chả liên quan gì đến Chiều chiều. Chiều chiều thì tôi đi tu.
Hoàng Minh Tường (nhà văn): Tôi cảm ơn hai người: tác giả Tô Hoài và Nhà xuất bản Đà Nẵng. Từ lâu tôi đã nêu câu hỏi: Tại sao văn học chúng ta thấp kém so với Trung Quốc? Họ đi trước chúng ta 20 năm (Mạc Ngôn, Dư Hoa…). Tôi nghĩ nếu ta viết như Phong nhũ phì đồn (của Mạc Ngôn) thì không thể xuất bản được. Nếu theo cách nhìn của ta thì chắc ĐCS Trung Quốc là phản động. Vậy nếu các nhà văn Trung Quốc tài ba, thì các nhà xuất bản Trung Quốc tài bảy và Ban Văn hoá tư tưởng Trung Quốc tài mười. Nay tôi cũng muốn nói nếu Tô Hoài tài ba thì NXB Đà Nẵng tài bảy và nếu chúng ta chấp nhận Ba người khác này như một cách nhìn lại sòng phẳng lịch sử thì chúng ta tài mười. Và cơ hội hội nhập của ta đã mở.

Cuốn sách thể hiện sự dũng cảm và tư cách công dân của nhà văn Tô Hoài. Nhà văn phải nhìn lại lịch sử, nhìn nhận lại dân chủ, tập làm dân chủ.

Trên trang web của nhà thơ Trần Nhương mới đây có bức tranh nàng Joconde ôm cụ Tô Hoài với dòng chữ "Cát bụi chân ai". Kèm theo đó là bài thơ tặng Tô Hoài:


Chiều chiều, Cát bụi chân ai
Và Ba người khác, Tô Hoài là tư
Tuổi cao sức viết còn dư
Sông Tô cứ chảy từ từ vậy thôi." [/align]
Tôi muốn chữa lại câu cuối thành "Sông Tô vẫn chảy lừ đừ ra khơi", lừ đừ ra khơi thì gớm lắm.

Tô Hoài: Tôi sắp có một tập bút ký, tên là Giấc mộng ông thợ dìu (không phải "thợ rìu")

Bằng Việt (Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội): Những tác phẩm như Ba người khác có ý nghĩa rất lớn: nhìn lại một cách sòng phẳng những sai lầm của chúng ta trong quá khứ. Không chỉ CCRĐ, mà hợp tác hoá nông nghiệp, rồi cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Những cái ấy làm kéo lùi sức sản xuất. Và thậm chí khiến người ta phải nghi ngờ: không biết "đổi mới" bây giờ có thật sự hay không, hay là sau một thòi gian lại "đánh" tư sản? Phải dũng cảm nhìn lại sai lầm mới rút ra được bài học cho hiện tại và tương lai.

© 2007 talawas

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8936&rb=0102




[1]Trường Đảng cao cấp của ĐCSVN (các chú thích trong bài đều của toà soạn)
[2]Xem tham luận của Nguyễn Xuân Khánh
[3]Bí thư Trung ương Đảng đặc trách CCRĐ

 [/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-30 21:22:17TTL>
Cái ngày ấy rồi cũng sẽ phải tới



1.
Năm 1954, tôi chỉ là một đứa bé 5 tuổi tay xách nách mang lẽo đẽo theo bố mẹ xuống tàu há mồm vào Nam để tránh nạn Cộng sản. Khi ấy, cuộc Cải cách Ruộng Đất long trời lở đất làm chết oan hàng mấy trăm ngàn nông dân miền Bắc đang đi vào giai đọan quyết liệt nhất. Sau đó, qua sách báo, phim ảnh (phim Chúng tôi muốn sống của đạo diễn Vĩnh Noãn), những tài liệu biên khảo, tôi được biết ít nhiều về cái "sự biến kinh người", "nỗi oan khuất ám ảnh cả một thế hệ", những cái tên nhằm ám chỉ một giai đọan đen tối nhất của lịch sử Việt Nam cận đại. Phần lớn những tài liệu về Cải Cách Ruộng Đất (CCRĐ) mà tôi được đọc, đều do những người ở phía bên đối địch với chính quyền Cộng Sản, hay những tác giả ngọai quốc biên sọan. Đọc thì có đọc, tin thì cũng có tin, nhưng tận thâm tâm, tôi vẫn không nghĩ rằng con người (dù là con người cộng sản) lại có thể đối xử tàn ác với nhau đến như thế. Về phía những người có trách nhiệm, hay trong cuộc, hay liên quan đến CCRĐ, từ bao nhiêu năm nay vẫn giữ một sự im lặng đáng sợ về những sự thật (mà rất nhiều người khao khát muốn biết) của lịch sử, những sự thật mà sớm muộn gì, cũng sẽ phải được phơi bày.

Mới đây nhất, tôi đã được đọc tác phẩm Ba Người Khác, nói về CCRĐ, dưới dạng tiểu thuyết của Tô Hòai, một nhà văn nổi tiếng từ thời tiền chiến với "Dế mèn phiêu lưu ký (1941)", "O Chuột (1942)" "Giăng thề (1943)", "Nhà Nghèo (1944)" mà không một học trò nào của miền Nam trước 1975 không biết tới. Sau cách mạng tháng 8, 1945, ông theo Việt Minh, rồi gia nhập Đảng Cộng sản, giữ nhiều chức vụ trong hội Nhà Văn Việt Nam (Cộng sản). Ông cũng đã tham gia cuộc Cải Cách Ruộng Đất với tư cách đội viên một đội cải cách. Tác phẩm Ba Người Khác, theo lời tác giả, ông viết từ 13 năm trước, nhưng không được phép in. Cuối năm 2006, một nhà xuất bản ở Đà Nẵng bằng lòng cho ra đời quyển này. Ngay sau khi được phát hành, quyển sách đã gây nên một tiếng vang đáng kể. Trong nước, sự ra đời của quyển sách này được bình chọn là 1 trong 10 sự kiện văn hóa của năm 2006. Hội nhà văn Việt Nam đã phải cho tổ chức ngay một cuộc tọa đàm trong hội để thảo luận về nội dung quyển sách.

Với tôi, quyển Ba Người Khác của nhà văn Tô Hòai, mang giá trị một bản cáo trạng đanh thép nhất về cuộc CCRĐ đẫm máu 50 năm trước ở nông thôn miền Bắc. Vì nó được viết bởi chính người trong cuộc, đã từng được hưởng bao ân sủng của chế độ, nay đến tuổi gần đất xa trời, bao ấm ức trong lòng cần được trút ra hết một lần, để khi ra đi được... nhẹ xác nhẹ lòng. Và vì nó là phút sự thật của một người đang ở vào những ngày tháng cuối đời, không có gì đáng sợ hơn cái chết trước mặt, nên những gì được viết ra hẳn phải là sự thật không bị che đậy.

2.
Ba Người Khác của Tô Hòai kể lại câu chuyện một đội cải cách ruộng đất về một ngôi làng quê nghèo xơ xác để làm cải cách ruộng đất, có nghĩa là tịch thu ruộng của địa chủ, rồi đem chia đều cho những kẻ không có ruộng (bần cố nông). Nhiệm vụ chính yếu thứ hai là tìm ra và tiêu diệt những kẻ thù của cách mạng do địch còn gài lại để phá họai. Do chỉ tiêu của chiến dịch đề ra là mỗi làng phải có một tỉ lệ địa chủ, phú nông, cường hào nào đó nên bắt buộc các đội cải cách phải "đẻ" ra những địa chủ, phú nông, cường hào, ác bá. Kết quả là vô số người bị đưa ra đấu tố, kết tội, giết oan vì những tội tưởng tượng mà chỉ tiêu kế họach của đảng đòi hỏi. Bên cạnh những câu chuyện đại lọai như trên, có những họat cảnh đấu tố, thủ tiêu, những trò dâm ô hủ hóa của các anh đội với những cô dân quân được đảng cử làm bảo vệ cho cách mạng, với những cô gái quê con nhà bần cố nông mà các anh đội chọn để làm cơ sở tai mắt cho đội. Có cả những câu chuyện về những thủ đọan mà các anh đội dùng để triệt hạ lẫn nhau, lợi dụng nhau, dẫm lên nhau để tiến thân.

Bằng một giọng văn tỉnh táo, săm soi, chi tiết đến rợn người, Tô Hòai dắt người đọc (tôi) theo bước chân ông vào chuyện. Những con người nông thôn chất phác, cục cằn, như cục đất khô bên lũy tre làng mà hồi ức của tôi còn ghi lại được đôi chút, đã hiện ra thật sắc nét. Cứ thế, người và vật, người và người và những mối quan hệ của họ, đan quyện vào nhau khi ẩn khi hiện làm cho tôi ngộp thở, như người nằm ngủ mơ thấy mình bị đè. Đến lúc thóat ra được, tức là khi tôi đọc xong quyển sách, cảm tưởng sợ hãi vẫn như còn đọng lại đâu đó. Nếu tác giả không phải là người bao nhiêu năm hưởng ơn mưa móc của chế độ, không phải là người được tiếng là hiểu nông thôn miền Bắc hơn bất cứ nhà văn nào của thế kỷ, chắc tôi vẫn khó tin câu chuyện đó là sự thật. Nhân vật xưng tôi trong Ba Người Khác, anh đội phó cải cách kiêm phụ trách tòa án (nhờ có biết chút ít chữ nghĩa), hủ hóa hết dân quân cho tới gái làng, thèm ăn như thèm gái (và cũng thèm gái như thèm ăn), theo lời nhiều người phê bình ở trong nước, chính là Tô Hòai, ông nhà văn 87 tuổi, cán bộ văn hóa đã về hưu, để lại một sự nghiệp viết lách đồ sộ khó có ai bì được. Trong buổi tọa đàm về tác phẩm Ba Người Khác, do hội nhà văn Việt Nam (Cộng sản) tổ chức tại Hà Nội ngày 22 tháng 12 năm 2006, chính tác gỉa đã thú nhận rằng "Tôi làm toà án nhưng không giết ai, nên sau tôi vẫn về lại Nông Cống, Hải Dương bình thường. Câu chuyện tôi làm toà án cũng lạ lắm, nó như thế này: Khi ta cải cách, đài Sài Gòn rêu rao nói ta vi phạm nhân quyền, CCRĐ giết người không có toà án xét xử gì cả. Lúc đó tôi ở Thanh Hoá, không biết tại sao ông Hồ Viết Thắng (Bí thư Trung Ương Đảng, đặc trách CCRĐ – ghi chú của T.Vấn) (đi Volga, mặc quần áo nâu) biết trong đội cải cách ở Thanh Hoá có anh nhà báo nhà văn, thế là tôi được gọi làm chánh án. Tôi sáng tác hàng nghìn khẩu cung (cứ nửa trang một) đem vào nhà tù cho phạm nhân điểm chỉ, ký tên. Tôi sợ họ kiểm tra nhưng rồi cũng không ai kiểm tra việc ấy. Cũng là việc "sáng tác" đó", và ông cũng rất "can đảm, không xấu hổ" khi trả lời một câu hỏi về sự hủ hóa của ông với các rễ, chuỗi (Những bần nông, cố nông Đội Cải cách lấy lên làm cán bộ đội được gọi là rễ, chuỗi.) "Có khi có có khi không. Có khi ôm ấp rễ chuỗi nhưng nó bảo nó "có tháng". Các cậu ở Hải Dương sau này vẫn giao thiệp với tôi, chính họ kể chuyện cho tôi nghe rằng đặc công giết Huỳnh Cự (tức nguyên Trung tá Việt cộng, cùng với Thượng tá Tám Hà về đầu thú chính phủ VNCH –ghi chú của T.Vấn) là người làng ấy. Tóm lại là tôi viết chuyện rất thật, nhưng cũng có đôi chút mơ màng."

Với tôi, Tô Hòai của Ba Người Khác, tác phẩm mới nhất được xuất bản, đã phục hồi được vị trí của ông trong tâm tưởng tôi, như năm xưa, tôi đọc "Dế Mèn Phiêu Lưu Ký", "O Chuột".

3.
Cải Cách Ruộng Đất là một biến cố rất lớn, vì nó liên quan đến nông dân, tức là đại đa số nhân dân Việt Nam. Hậu quả của nó khôn lường. Ngòai con số hàng trăm ngàn người chết oan uổng do sự xét xử của những tòa án nhân dân không một kiến thức về luật pháp, mà chỉ có lòng căm thù giai cấp gieo rắc bởi chủ thuyết cộng sản, nó còn phá vỡ cả nền tảng văn hóa làng xã Việt Nam, đảo lộn mọi gía trị truyền thống kính trên nhường dưới, tôn sư trọng đạo, ác quả ác báo mà người nông dân Việt Nam tuy ít học nhưng vẫn thấm nhuần những tư tưởng ấy bằng cách hiểu thô sơ nhưng chân chất của mình. Về mặt xã hội, nó đã tiêu diệt những tình cảm nhân bản giữa con người. Về mặt gia đình, nó phá hủy sợi dây gắn bó thiêng liêng bằng những thủ đọan thúc ép con tố cha, vợ tố chồng.

Vì thế, câu chuyện CCRĐ 50 năm trước không thể được xem như là câu chuyện cũ cần được khép lại để nó ngủ yên trong quá khứ. Bao nhiêu năm nay, nó vẫn là những mối ám ảnh cho những gia đình có người là nạn nhân trong CCRĐ. Ở trong nước, nhất là miền Bắc, tuy chưa một ai, trong số những người hiểu biết về CCRĐ, lên tiếng về vấn đề gai góc này, nhưng không có nghĩa là mọi người đã muốn quên nó đi. Dấu ấn của nó nặng nề quá, như một vết thương quá khứ vẫn còn mưng mủ, vẫn còn đau nhức vì bấy lâu nó chưa được chẩn bệnh, cho thuốc. Cho nên, không có gì ngạc nhiên trước sự đón nhận nồng nhiệt của công chúng với tác phẩm Ba Người Khác của nhà văn Tô Hòai. Tất nhiên, những cán bộ văn hóa trung kiên cũng cố gắng lên tiếng. Họ cho rằng tác phẩm xóay quá sâu vào những khía cạnh tiêu cực (dâm ô, hủ hóa, giết người vô tội vạ, xét xử oan uổng v.. v..), điều đó phản ánh "một tâm thức chối bỏ trách nhiệm tâm thế đánh đồng, đổ đồng, cào bằng, thiếu công bằng với hiện thực lịch sử cải cách ruộng đất. Trong một ý nghĩa nào đó, dường như tác giả chủ ý gián cách lui vào góc xa để nhìn lại toàn cảnh cải cách ruộng đất song lại lùi quá xa, đến mức khuất lấp trong bóng tối, chìm trong bóng tối và tâm thế biếm họa, phản ánh hiện thực nghiêng hẳn về gam màu tối thẫm. Tác phẩm thiếu đi nguồn sáng nhân văn, thiếu đi niềm tin vào con người, thiếu đi tính bi kịch và niềm ân hận cao cả thì thật không dễ cảnh tỉnh, thức tỉnh được con người trước bài học quá khứ. (Nguyễn Xuân Sơn - (Bài tham dự Tọa đàm về tiểu thuyết Ba người khác của nhà văn Tô Hoài do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức ngày 22-12-2006)". Có lẽ, giữa không khí nồng nhiệt, sôi sục trước sự ra đời của một tác phẩm lớn như Ba Người Khác về một vấn đề nghiêm trọng như CCRĐ, giới cầm quyền cũng không thể làm gì khác hơn ngòai những lời lẽ kết tội mơ hồ, nhất là với một nhà văn tầm cỡ như Tô Hòai, từng được giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

4.
Nhắc đến Cải cách Ruộng Đất ở miền Bắc, lại không thể quên cuộc Cải tạo Tư Sản ở miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Chiến dịch đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp miền Nam và hai lần đổi tiền cùng với chính sách đưa dân thành thị đi kinh tế mới tuy không trực tiếp gây nên những cái chết thảm cho dân chúng miền Nam như trong CCRĐ ở miền Bắc, nhưng thực chất là một vụ cướp bóc tài sản dân miền Nam có kế họach, khiến nhiều người uất ức mà chết, hàng triệu người phút chốc trở thành tay trắng, sống vất vưởng ở những nơi rừng thiêng nước độc, gia đình tan nát và hàng triệu người khác liều mình bỏ nước ra đi (như 50 năm trước tôi cùng hơn một triệu đồng bào miền Bắc di cư để không phải là nạn nhân của các chính sách hà khắc trong đó có CCRĐ). Con số những thuyền nhân, bộ nhân bỏ mạng trên đường tìm tự do không phải là nhỏ. Tuy không bao giờ thống kê được một con số chính xác, nhưng chắc chắn là lớn hơn con số người chết vì CCRĐ 50 năm trước ở miền Bắc rất nhiều lần. Và tất nhiên, như những nạn nhân của CCRĐ, thân nhân còn sống sót của những thuyền nhân, bộ nhân bỏ mình năm xưa, hay những nạn nhân trực tiếp còn sống sót sau nhiều lần bị hải tặc cướp bóc, hãm hiếp, hẳn vẫn không thể nguôi ngoai được nỗi đau còn cứ âm ỉ, một vết thương vẫn còn mưng mủ, thậm chí còn đau đớn hơn cả vết thương CCRĐ trên thân thể đất nước.

Vậy thì phải làm sao để "thức tỉnh con người trước bài học quá khứ "? Nên khép lại tất cả những vết thương còn mở miệng, quên đi mọi nỗi buồn đau, hướng về một ngày mai tươi sáng, không có những bóng đen ghê khiếp một thời ám ảnh chăng?

Nhưng lấy gì để bảo đảm rằng những thảm cảnh quá khứ sẽ không bao giờ có cơ hội lập lại, nếu người ta không dám nhìn thẳng vào những lỗi lầm, không dám đối diện thực sự với hậu quả của những lỗi lầm đó bằng cách soi rọi chúng dưới nhiều góc cạnh khác nhau, để tìm ra nguồn gốc chính, thủ phạm chính của những bi kịch ấy?

5.
Những sôi động ở trong nước về quyển sách Ba Người Khác liên quan đến cuộc Cải cách Ruộng Đất, tuy rất đáng khích lệ trong một bầu không khí vẫn còn ngột ngạt, khó thở quen thuộc ở một nước Cộng Sản, nhưng cho đến nay, những tiếng nói phê bình cứng cỏi nhất cũng mới chỉ dừng lại ở chỗ tán dương sự can đảm đáng nể phục của một ông gìa hơn 80 tuổi, về tính chân thật và sự đởm lược cần thiết của người cầm bút, của những chứng nhân lịch sử đối với thời đại mình và các thế hệ tương lai.

Họ không (chưa) dám đi xa hơn là chỉ đích danh tên thủ phạm, kẻ sát nhân tàn ác, tội phạm chính chịu trách nhiệm về những gì xảy ra hơn 50 năm trước. Tội danh này, nếu xử cho thật công bằng, còn nặng hơn gấp ngàn lần những gì Sadam đã gây ra cho nhân dân Iraq. Nhưng, như một người có máu mặt ở trong nước đã tiên đoán, sự kiện này là một dấu chỉ cho thấy tảng băng đang từ từ vỡ ra, ít nhất là ở lãnh vực văn chương, nghệ thuật. Điều kiện để cho một cuộc đàn áp của giới cầm quyền với những người cầm bút như vụ việc Nhân Văn Giai Phẩm năm xưa chắc chắn không còn nữa, vì ngày nay, kẻ bị áp bức còn có nhiều vũ khí khác ngòai cây viết. Cho nên, sớm muộn, với những bài học quá khứ như CCRĐ, như Cải tạo công thương nghiệp miền Nam, sẽ đến lúc kẻ có tội bị chỉ đích danh.

Tôi hy vọng, đến lúc ấy viên cựu đội phó phụ trách Tòa Án Tô Hòai vẫn còn sống và đủ minh mẫn để "sáng tác một bản khẩu cung cho phạm nhân ký vào", chỉ khác với lần này, ông thực sự hài lòng. Vì ông chỉ phải ghi lại những gì đã xảy ra, không thêm không bớt. Và, tôi cũng mong ông viết lại đọan kết tiểu thuyết Ba Người Khác, để kẻ đền tội không chỉ có anh đội trưởng đội cải cách Hùynh Cự vốn chỉ là tay sai thừa hành lệnh cấp trên.

Cuối cùng, sau khi đọc xong Ba Người Khác của Tô Hoài, tôi tin hòan tòan những gì trước đó tôi được biết về CCRĐ qua sách báo, phim ảnh miền Nam. Chỉ cần nói thêm một chút, hình ảnh CCRĐ trong tác phẩm của Tô Hòai ghê khiếp hơn nhiều.

T.Vấn

Nguồn: http://www.viet.no/content/view/939/87/
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-31 02:34:15meta4954>
Cũng cần nói thêm về con người Tô Hoài.

Trong phần tiểu sử, từ năm 1945 đến 1960:

- Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài làm Chủ nhiệm báo “Cứu quốc”. Ông là một trong số những nhà văn đầu tiên Nam tiến và tham dự một số chiến dịch ở mặt trận phía Nam (Nha Trang, Tây Nguyên…). Năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng.
 - Năm 1950, ông về công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam. Từ năm 1957 đến năm 1980, Tô Hoài đã kinh qua nhiều chức vụ khác nhau trong Hội Nhà văn như : Ủy viên Đảng Đoàn, Phó Tổng thư kí, Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, Giám đốc Nhà xuất bản Thiếu nhi.
 
Trong lúc các đồng nghiệp bị kiểm thảo, bắt bớ tù đày trong vụ đàn áp tờ Nhân Văn và Giai Phẩm, thì con đường công danh Tô Hoài lên như diều nhờ những bài xỉ vả đồng nghiệp. Trong bài Nhìn lại một số sai lầm trong bài báo và trong công tác, Tô Hoài viết như sau:
 
...Tôi thường nghĩ rằng:"Đường lối thì đã có ở thư của Trung Ương đảng gửi đại hội, đúng quá, rõ quá rồi. Chúng ta chỉ còn lo liệu sao cho nhau ra sức sáng tác mà thôi. Một mặt khác , đối với những tư tưởng chính trị nguy hiểm và những quan điểm nghệ thuật sai lầm bộc lộ trên báo Nhân Văn và các tập giai phẩm của Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Trương Tửu, tôi ngỡ rằng trước phong trào quần chúng đấu tranh phản đối như vừa qua, họ phải sáng ra, như vậy là đã giải quyết xong những lệch lạc ấy.
Cái quan điểm nhẹ nhàng đến độ vô lý nguy hiểm như trên, đã đưa tới cái nhìn, cùng với những lý luận sai lầm trong chủ trương công tác của tôi ở Hội Nhà Văn Việt Nam và cụ thể trong một số việc làm, một số bài viết của tôi.
 
Sau khi đấm ngực tự phê tự kiểm bằng giọng ăn năn như thế, Tô Hoài không quên lên án đồng nghiệp :
 
...Tư tưởng xấu của nhóm Nhân Văn, Giai Phẩm đã tiếp tục len vào cơ quan của Hội Nhà Văn, trên báo Văn, gây nhiều tác hại. Quan niệm mơ hồ của tôi, khách quan đã tạo điều kiện  cho khuynh hướng tư tưởng nhóm ấy lợi dụng diễn đàn báo Văn và một số cơ quan khác của Hội Nhà Văn như nhà xuất bản, câu lạc bộ, đã gieo rắc quan điểm chính trị và nghệ thuật nguy hại....
 
Tố giác bè bạn như thế, cái ghế Ủy viên Đảng Hội Nhà Văn dần dần được thay đổi thành ghế chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, Giám đốc Nhà xuất bản Thiếu nhi một cách dễ dàng. Ông là một vị quan lớn trong triều đình Cộng Sản hơn là một nhà văn thuần túy.(trang 127, Cát Bụi Chân Ai)
Bây giờ, sau gần nửa thế kỷ trôi qua, Tô Hoài mới dám nói đến cái sai trái của Cải Cách Ruộng Đất sau vài năm bắn tiếng thăm dò động tĩnh. Ông có cái gan của kẻ sĩ chăng? Thưa không. Kẻ sĩ thì bất năng khuất trước uy vũ. Nếu là kẻ sĩ thì ông không chối tội, vu cho Nguyễn Tuân(Vang Bóng Một Thời), Hoàng Cầm, Trần Dần, Vi Huyền Đắc (Kim Tiền), Nguyễn Bính (Nước Giếng Thơi) và những đồng nghiệp khác.
Có lẽ Tô Hoài bây giờ thay đổi chăng? Vì lý do nào đó, lương tâm con người cầm bút tưởng đã chết đi, vụt sống dậy chăng? Cũng thưa không.
Trong một cuộc tọa đàm nói về Ba Người Khác, Hoàng Minh Tường nói: "Cuốn sách thể hiện sự dũng cảm và tư cách công dân của nhà văn Tô Hoài". Trong một xã hội mà chuyện thể hiện "tư cách công dân" (rất) có thể khiến người ta ... mất mạng -  hay rẻ ra là mất việc, hoặc ngồi tù -  thì lời phát biểu vừa rồi đích thị là một cách vinh danh, chứ chả còn phải là "hầu như" hay "dường như" gì nữa ráo.
Hãy suy nghĩ thêm một chút về phát biểu ấy. Trong một chế độ, cho rằng chế độ hiện nay đã cởi mở lắm rồi, một người nói lên cái sai của đảng phải vận dụng đến dũng cảm và đặt cuộc đời, sự nghiệp của mình trên chiếu bạc mới dám nói, thì chế độ ấy tự do, dân chủ đến đâu? Để cho nhẹ tội, Tô Hoài còn cho đại tá Huỳnh Cự, cựu đội trưởng Cải Cách chết thảm thiết vì phản quốc, chạy theo Mỹ Ngụy. Nhưng đây lại là một vụng về lớn đặc trưng của những trí trá - ăn gian nó giàn ra đấy - Cái gì không ngay thẳng vẫn có đầu mối dò ra. Một anh đội sau sửa sai vẫn lên đến chức đại tá và một đại tá Huỳnh Cự hàng giặc thì còn bao nhiêu đại tá gốc anh đội khác vẫn ở lại với Đảng, vẫn thăng chức đều đều nhờ khéo luồn lách và cho đến bây giờ bao nhiêu anh đội đã, đang làm giám đốc, bộ trưởng, thậm chí chủ tịch đảng, chủ tịch nhà nước. Than ôi, hiền tài đâu cả mà các ông lớn VN lũ lượt rủ nhau vào tù vì ăn cắp, buôn lậu, hiếp dâm... Tài tuyên truyền, nịnh nọt của Tô Hoài mà còn sơ hở như thế thì thực trạng đất nước tối tăm biết là ngần nào.
Trong một bài (đã bị xóa) Meta có so sánh Tô Hoài với Phạm Duy không phải không có căn cứ. Phạm Duy chạy theo đồng tiền bất kể đến thanh danh, luân lý thì Tô Hoài cũng một đời viết để mỗi tháng lãnh vài cân thịt lợn, bất kể đến cái khốn đốn của đồng nghiệp. Hai tư cách giống nhau trong hai hoàn cảnh khác nhau.
Không có chế độ nào bẩn thỉu hơn chế độ này. Nó coi con người như rơm rác.

Nhạc sĩ Nguyễn văn Tý (tác giả Dư Âm) phát biểu tại VN vào tháng Năm năm 2007.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-21 20:21:50Ct.Ly>
Post #: 11

tọa đàm về Ba người khác do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức tại trụ sở Viện Văn học ngày 22/12/2006



 
Văn xuôi :: 31.12.2006

Tô Hoài: Ba người khác
 
Mười bốn năm sau khi hoàn thành bản thảo, tác phẩm Ba người khác của nhà văn lão thành Tô Hoài nay đã chính thức ra mắt bạn đọc và đang được dư luận đặc biệt chú ý. Trong những ngày qua, chúng tôi đã có dịp đăng một số bài viết về tác phẩm này. Được sự cho phép của tác giả, talawas chủ nhật kì này hân hạnh giới thiệu toàn văn Ba người khác đến bạn đọc
 

Tô Hoài
Ba người khác



Các đội công tác vùng đồng bằng hạ lưu sông Hồng kéo về tổng kết đợt ở huyện lỵ, đông có đến cả nghìn con người. Suốt tháng triền miên nghe kể lể thành tích và những anh những chị rễ, chuỗi [1] ở xã lấy lên nay đã thành cán bộ đội vừa khóc vừa nói về cuộc đời bị đoạ đày xưa kia.

Một việc, tôi nhớ mãi. Có một cố nông quê huyện Nga Sơn được lên cán bộ đội đã đi làm cải cách hai đợt. Anh kể lại đời anh, cả hội trường hàng nghìn người ai cũng ngậm ngùi, các chị khóc sướt mướt. Sổ tay tôi đặt trên mặt túi dết kê đầu gối mà không ghi được một chữ nào. Tôi đã nghe bao nhiêu chuyện kể khổ ở hội nghị, ở tổ rễ chuối, nhưng chưa khi nào nghe choáng váng ghê rợn đến thế. Ban ngày anh đi cày, tối tắm rửa sạch sẽ rồi vào giường cả đêm phải ngậm bòi thằng địa. Thằng địa bị bệnh tim la, mút đến nửa đêm cũng không hết được mủ tanh nhức óc. Cả hội trường ào ào đả đảo địa chủ... gian ác... đả đảo... Còn anh ấy nghẹn ngào nức lên không nói tiếp được nữa.

Thế nào mà anh ấy bị lây cái máu dê của thằng địa đến tận giờ. Cơm hội nghị có thịt bò thịt lợn, lại chắm chép, đâm rửng mỡ, lúc nào cũng cuồng lên, đâm hủ hoá lung tung. Ngồi trước mặt cô nào cũng hau háu mắt nhìn cái đũng quần. Anh ấy phải kiểm điểm mấy trận tơi bời đau đớn. Rồi bị thải hồi trả về cơ quan huyện. Cả mấy chị cũng phải đuổi về xã. Tôi không quan tâm đến họ, mà chỉ nghĩ: thì ra cái máu chó của thằng chó kia truyền sang mày, gớm cái giống chó má chết tiệt.

Tổng kết xong, các đội lại đi đợt mới. Cuộc ra quân rầm rộ có xếp hàng nghe mệnh lệnh xuất kích như chiến dịch thời kháng chiến. Đợt này, khu vực làm bao trùm cả Hải Dương, Kiến An, cải cách thẳng, không qua giảm tô. Nhiều huyện quanh Hải Phòng, ba năm trước, là vùng "hai trăm ngày", tàu hoả xuống qua ga Phú Thái đã vào sào huyệt địch còn lại, từ các nơi dồn về hàng nghìn người di cư cuối cùng chen nhau xuống tàu há mồm đi Nam.

Chúng tôi được đưa từ Thanh Hoá ra hỗ trợ chỗ khó. Công tác ở vùng rắc rối thế này chắc là lôi thôi đây. Nhưng mà ở Nông Cống trong kia, đội tôi đã được cờ thành tích đánh địch. Có thế, mới được ra đây. Tôi cũng chẳng áy náy sao. Làm gì rồi cũng làm được thôi, tôi đã làm hai đợt công tác, trải việc ngót một năm rồi.

Các đội ở hội nghị tổng kết ra, chia tay nhau giữa chợ huyện, đông thành mít tinh. Không đợi ô tô tải, không cần ô tô. Đội trưởng Cự đếm được đủ đầu chúng tôi mười hai người, thêm hai rễ mới vào cán bộ đội, rồi Cự bắc hai bàn tay làm loa, hét to: "Lập công ngay từ lúc xuất phát. Chúng ta tranh thủ đi luôn. ở dưới xã, nông dân đương nóng lòng đợi đội về".

Mọi người đứng xếp hàng đôi, lưng đeo ba lô. Chúng tôi vẫn được nguyên đội ở Thanh Hoá thành tổ học tập rồi đến bây giờ đi. Đội trưởng Cự bên bộ đội sang - nghe nói là đại đội trưởng, tính quyết đoán nóng như lửa, gắt gao kỷ luật với mọi người. Cái khăn mặt bông trắng được phát từ ngày ra tập kết ở Sầm Sơn, đã cáu xám xỉn, mặc dầu đội trưởng rửa mặt chỉ chùi bằng ống quần. Tuy vậy, cũng đã thuộc tính nhau, cứ lựa lúc người cứng thì ta mềm, dù sao cũng hơn phải đổi một đội lạ lẫm khác.

Thế là mười hai cái xe đạp, - hai đội viên mới không có xe, không biết đi bằng cách nào, tôi đạp xe lúc đường nhựa, lúc bờ đê, lù rù mò suốt đêm. Bóng tối có phần dịu. Đến lúc trăng lặn, nhấp nháy ánh sao đằng trước, tôi phanh khuy áo ngực, căng mắt dấn phăng phăng. Gần sáng, mắt như quáng gà. Đã sang đến đường 5, lổn nhổn dấu hầm hố của du kích đào đường. Có nơi còn lại cả mìn - nghe nói thế. Tôi buồn ngủ quá, hai lần đâm xuống hố. Không biết có phải vì tinh thần hăng hái đã làm nhãng ngay cái vất vả, xe với người chẳng xây xát gì cả. Chỉ sái một bên tay. Nhưng cũng nhờ đau mà đâm ra tỉnh ngủ đến sáng bạch.

Vừa sớm, lọt đọt kẻ trước người sau đến chỗ đoàn uỷ miền. Chưa ô tô tải đưa đội nào tới. Đội trưởng Cự khoái trí, quay ra giơ hai tay: "Chúng ta đến trước tất cả!"

Cơ quan đóng ở một ngôi đền bên trong đã san phẳng hết các bệ thờ. Hai bên tả hữu vu ngăn cót thành buồng. Tiếng máy chữ đổ rào rào như vẫn đập thế thâu đêm, văn phòng đoàn cũng tranh thủ làm như chúng tôi đã đi suốt sáng. Trong sân sau tường đền còn sót lại cây mộc mùi hoa sớm thanh khiết thơm thoang thoảng. Trước một gian phên bên kia che kín đáo, ngoài hiên đặt một dãy những giá gỗ tạp mới trên có thau men trắng vắt chiếc khăn mặt hoa. Chắc đoàn uỷ hay đoàn cố vấn ngủ trong ấy.

Một người nhỏ nhắn, bộ quần áo nâu non mới sáng sủa, mặt trắng trẻo đeo kính trắng như học sinh mắt cận thị. Người ấy đạp xe từ ngoài cổng vào.

“Bên Quỳnh Côi sang phải không?”

“Vâng, chúng tôi tranh thủ, không đợi xe.”

“Tinh thần lắm, hoan nghênh. Tôi thường trực đoàn uỷ đây. Chúng ta vào văn phòng làm việc ngay. Đội số mấy, đội trưởng đâu?”

Làm việc ngay, khẩn trương sao! Chỉ đôi ba câu đối đáp khét lẹt những công việc, lập tức ai cũng tan cơn ngủ, quên cả rửa mặt, không nhớ vừa ỳ ạch đi cả đêm. Một lúc sau, cuộc trao đổi công tác, giao nhiệm vụ đã xong. Thật thì chỉ có đội trưởng Cự hỏi đi hỏi lại, còn cả hơn mười người ngồi im, thỉnh thoảng ai dấm dớ hỏi một câu về cái xã sắp đến thì được trả lời mấy lần giống nhau "tài liệu đây, trong tài liệu có hết". Rồi người đoàn uỷ đứng dậy, xoa tay, nở nụ cười như thói quen cười nhạt nước ốc và xoa tay thế, nói lấy lệ: "Các đồng chí thông cả rồi chứ".

Chúng tôi đã ra ngoài sân đền.

“Tài liệu mang về xã thế là đã sắp sẵn đủ cả. Chúc công tác thắng lợi. Bắt tay cái nào!”

Mọi người lồm cồm dắt xe ra đường. Sắp nhảy lên yên, có tiếng đằng sau giật giọng:

“Này! Này!”

Quay lại, vẫn chỉ thấy người thường trực đoàn uỷ còn đứng đấy.

“Vào cả đây, vào đây.”

Tôi háu đói, đã tưởng ra niềm vui có lẽ được vào nghỉ và ăn sáng. Cả đội lại đứng thành bọn trước cái cót che cửa văn phòng lúc nãy. Người đoàn uỷ bước lên thềm, dõng dạc:

“Các đồng chí, bắt đầu từ hôm nay, đội đã vào cuộc đấu tranh công tác ba cùng. ở dưới xã, bà con nông dân khổ cực lắm. Chỉ bọn bóc lột mới có xe đạp, mới thảnh thơi ngồi mát bát vàng. Chúng ta về với nông dân không thể đồng sàng dị mộng. Không được đi xe đạp xuống xã.”

Cái ông đoàn uỷ mặt mày học trò bé loắt choắt mà hắc thế. Tôi chưa bị đoàn uỷ nào bắt không cho đi xe đạp xuống xã. Dễ chừng vùng địch tạm chiếm cũ lại làm cải cách không qua giảm tô thì phải khác cũng nên. Thế là mất cả tiếng đồng hồ, người tìm tước bẹ chuối, người ra chặt cây dướng bóc vỏ bện thừng. Mười hai cái xe đạp được trói gô lại thành một bó, khiêng vào trong đền, lênh khênh như đống xương trâu. Điều bất ngờ ấy, cả đội trưởng Cự cũng không tưởng ra trước được. Tuy nhiên, lúc ghé vào cõng lô xe, đội trưởng vẫn mặt đỏ gay hăm hở. Không hiểu đội trưởng nghĩ gì. Chỉ khoái hai anh rễ đội viên mới không phải chạy theo như cả đêm, tự dưng được đi cùng.

Qua chợ huyện, ai nấy đói lử. Nhưng bụng mình mình biết thế thôi. Trông vào cái chợ mùa đói, nháo nhào không biết đâu người ăn mày hay người mua bán. Sướng chưa, đội trưởng Cự bỗng nói: "Ta vào chợ kiếm cái ăn đã". Cả bọn đi hàng một từ tốn bước sau Cự. Dường như sợ đội trưởng thay đổi ý kiến, phải cố làm vẻ hiền lành thế. Chúng tôi đều quần áo nâu bàng bạc, dép râu, mũ lá, có người mặt bạc phếch như mới ốm dậy. Đội trưởng Cự thì lúc nào cũng phừng phừng, lúc nhếch mép cười, lúc cáu kỉnh, cũng thế.

Chợ sớm dần dần đông. Đương mùa khô kiệt, những mẹt cám bày la liệt khắp nơi. Lác đác, người đem trẻ con đi bán như quảy quả mít, một bên đứa trẻ ngồi nhấp nhỏm víu quang gánh, một bên tảng đất để cho cân. Chúng tôi, anh mặc lành anh mặc tã, dị dạng, người trong làng về chợ nhìn tránh ra chiều e dè. Đã hai năm, đoàn uỷ đóng ở cái đền này. Hàng chợ đã thấy nhiều cán bộ đi về, áo cánh, áo vét khác nhau, nhưng ai cũng biết đấy là những "anh đội" xuống xã hét ra lửa. Chẳng bận đến, người ta cũng ngại, lẩn đi, bước né bên đường. Đội trưởng Cự đột nhiên đứng lại: "Chúng ta ăn bánh đúc!" Cả bọn lập tức sà vào hàng bánh đúc ngô. Mụ hàng hớt hải sang bên các lều bán nộm chuối, đu đủ xanh, nước chè tươi mượn mấy mảnh tre mới đủ ghế khách ngồi.

Chợ đã nhiều người nhưng chợ sớm chưa ai lê la hàng quà. Bọn người lạ mà ai cũng đã biết là các anh đội, khiến những mụ ăn quà như mỏ khoét và cả đám ăn mày cũng không dám lảng vảng. Từng chiếc bánh ngô lưỡi mèo vàng hây, giữa rốn mỗi chiếc đặt mảnh cháy vàng rộm. Một bát đàn tương mặn chát. Có anh đội bưng hẳn bát tương lên để chấm và húp, khỏi phải cúi lom khom và ngồm ngoàm hay là có nuốt chửng cả cái không ai trông thấy. Anh đội cũng đói như mọi ai. Có người hỏi bâng quơ: "Bánh ngô chấm tương à? " Mụ hàng trả lời ngẩn ngơ như nói giữa trời: "Thời buổi khó khăn lắm, hạt vừng cũng là hạt vàng đấy".

Chẳng biết khó khăn thế nào, cái bánh ngô xay bùi bùi, ngọt ngọt, vả lại đương đói móp bụng.

Năm ấy, tôi ngót ba mươi. Từ tấm bé chỉ ở thành phố. Đến tuổi đi làm kiếm được chân giữ cửa trông kẻ cắp cho hiệu thịt bò "Sáp phăng giông" phố Tràng Tiền. Cách mạng thì vào tự vệ phố, đến lúc kháng chiến, không còn đội tự vệ nữa, nhưng tự cho mình đã là Việt Minh, tôi đi theo kháng chiến lên Việt Bắc. Những chuyện tôi đi được cũng là gian nan. Tản cư, vợ tôi và con gái mới ba tuổi chạy lên Nủa trên Sơn Tây. Tất cả trai tráng phố tôi ở lại vào tự vệ. Phố tôi bị Tây trong thành tràn ra vây phải dồn vào liên khu Một giữa thành phố. Ta điều đình được với Tây để cho người già, đàn bà và trẻ con được ra ngoài. Lối ra trên đê làng Yên Phụ. Có lãnh sự Anh và lãnh sự Tàu đứng trên chòi gỗ chứng kiến.

Tôi trốn đội tự vệ trà trộn trong đám người lố nhố ra. Trời lạnh, tôi chít sùm sụp cái khăn vuông mỏ quạ, giả làm bà già, đi qua ngay trước mặt các ông lãnh sự trong trạm kiểm soát nhòm ra. Tôi thoát được lên Nủa tìm vợ con. Hỏi thăm cả làng, cả cái chợ giời tản cư, về sau gặp người biết, đã bảo mẹ con cô ấy theo người ta vào Hà Nội rồi.

Tôi chẳng biết đi đâu, cũng không dám "dinh tê", sợ Tây đã biết tôi là tự vệ, tôi lần mò lên Thái Nguyên, rồi sang Tuyên Quang, lên thị xã Bắc Cạn, quanh quẩn ở những vùng đông người tản cư dưới xuôi lên. Cũng không có vốn mở hàng quán, tôi xin vào làm phát hành sách báo. Vào cơ quan bấy giờ dễ, cứ đến xin việc cũng được nhận ngay. Hàng ngày, mấy chục quang gánh báo Cứu Quốc và sách nhà Sự Thật quảy xuống khu Ba, khu Tư - như những đoàn người dưới đồng bằng thồ muối lên miền ngược. Không ai biết tôi trước kia làm loong toong, làm cu li giữ cửa và đã trốn tự vệ. Chỉ biết tôi là người trong Hà Nội ra có đôi ba chữ nên anh em cho giữ sổ sách văn phòng và kho. ở trong rừng, cơ quan chỉ có quyển sổ cái ghi các thứ trong kho, xà phòng, đường ta, quần áo khi nâu khi nhuộm thâm trên phát về.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ rồi Hà Nội được giải phóng, tôi trở lại thành phố.

Về đến Thái Nguyên cả cơ quan đàn ông đàn bà làm việc ở các cơ quan đều được may được phát quần áo một kiểu như nhau. Giày vải nâu, quần áo kaki xám nhạt. Và mọi người theo đúng điều lệnh tiếp quản: không về nhà, không mua bán, không ăn quà ngoài đường... Tối tối tôi vẫn lẩn đi chén phở. Không ai biết. Một hôm, được phép về nhà và ai có người quen được tới cơ quan thăm. Bố mẹ tôi mất đã lâu, tôi chỉ nhớ vợ con. Tôi hồi hộp về chỗ nhà cũ ở Tám Mái. Nhưng hàng xóm kể cho biết cô ấy đã lấy chồng làm cút lít cho Tây, tháng trước họ kéo nhau xuống Hải Phòng, vào Nam cả rồi.

Tôi như đuổi theo cái bóng. Cũng chẳng buồn, chẳng ngán ngẩm. Chỉ đôi lúc phảng phất nhớ mụn con gái mà thôi. Cái năm xa cách, nó mới ráo máu đầu, chẳng biết rồi nhớn nhao thế nào. Tôi bây giờ mà hoá ra quan trọng, tôi giữ ba sổ chi thu, - chẳng học nghề bao giờ cũng được lên chức kế toán trưởng. Năm sau, tôi lấy vợ. Cũng dễ ợt, cô ấy làm cấp dưỡng, theo cơ quan trên Thái về, chúng tôi biết nhau đã lâu. Rồi vợ tôi sinh một thằng con trai. Bấy giờ "phóng tay phát động quần chúng", công tác cải cách ruộng đất là quan trọng nhất. Mọi người công tác ở cơ quan, từ cấp dưỡng đến cán bộ chuyên có biết đồng ruộng hay không nhất loạt đều phải đi làm "thổ cải". Thế là tôi đi. Tôi đi công tác cải cách, cu Ngẩu nhà tôi đã được sáu tuổi.

Khi còn ở trên Việt Bắc mấy năm gần về Hà Nội, ai cũng đều đi làm giảm tô, có người giảm tô xong sang công tác cải cách. Tôi chẳng biết mặt mũi đồng ruộng bao giờ, tôi tìm cách lẩn. Bấy giờ không khó, bởi chỉ có mỗi mình tôi giữ sổ sách, không thể mỗi chốc đi đâu. Nhưng về thành phố thì chỉ còn trơ ra có tôi chưa được rèn luyện lập trường cách mạng ruộng đất. Ông giám đốc cũng chưa đi giảm tô, đi cải cách lần nào. Nhưng không ai dám nhắc ông ấy. Lại nói nịnh "bộ tư lệnh phải ở vị trí chỉ huy", bên trong thì ghé tai xì xào ông ấy sợ đứng dậy thì có người ngồi mất ghế. Chiều thứ bảy nào cũng họp kiểm điểm trong tuần, thủ trưởng lại đập bàn nói choang choác: "Giải phóng nông dân lao động khỏi ách địa chủ phong kiến, mọi người đều có nhiệm vụ tham gia...".

Tôi cũng khéo lèo lái, lẩn lút tránh được tới khi về Hà Nội vẫn chưa đi. Tưởng chiến thắng về Hà Nội giải phóng thế là đã hết mọi việc xóm làng, hoá ra vẫn còn. Không thể thoát, bấy giờ mới chỉ hết giảm tô, còn cải cách. Cơ quan đã đi cạn kiệt cả, lần này đích tôi có tên trong danh sách đi rồi không còn ngõ ngách nào lẩn nữa. Thế là phải đeo ba lô đạp xe đi. Tôi vào Thanh Hoá dự tổng kết các bước công tác của các đội vừa qua dưới xã. Lúc đầu tôi lo cứ rối tinh. Nhưng rồi cả tháng vừa nghe vừa hỏi thì cảm như mọi việc khuôn phép dần đâu vào đấy, công tác này cũng thế thôi. Còn gì khó hơn cái sổ sách kế toán, mình chẳng học mà cũng thành nghề cộng trừ nhân chia, thế ra đi cải cách không đáng sợ như những đứa đã đi về đồn thổi, doạ dẫm.

Mụ hàng bánh đúc chỉ đường cho chúng tôi về xã. áng chừng mươi cây số, hễ sắp hỏi thăm đã có người mách lối đi, như là ai cũng biết mình về đấy rồi. Cái ba lô trên lưng đã thấm đen mồ hôi, đoàn người nhấp nhô đi quá buổi trưa. Đội trưởng vẫn thoăn thoắt dẫn đầu cho nên không ai dám uể oải. Gió mát hây hây mà mồ hôi đổ ra dính lưng nham nháp. Mặt trời mờ mờ nghiêng trước mặt, người trên đê trỏ xuống cánh bãi bảo kia kìa, làng ấy đấy. Những khoanh tre xanh ngắt quây xóm làng ven con đê quai. Từng khúc dầm nước trong veo lác đác đám lá sen già đưa mùi thơm như rơm mới. Chắc xưa kia chỗ này vỡ đê hay dòng sông cũ còn lại hõm loáng thoáng thành những đầm nước. Giữa cánh đồng, một mỏm núi đá chơ vơ. Bên cạnh, còn trông thấy cái lô cốt xi măng tháp canh của bốt hương dũng.

Chúng tôi xuống, vào ngôi đền đầu thôn. Lại cái đền hoang, hai bên tường đổ trống huếch nhưng vẫn còn bệ gạch chưa ai ăn trộm. Đội trưởng Cự nhìn quanh, thấy người đi trên đê qua lại, chưa yên tâm đã được bảo mật. Cả bọn chui vào qua cái sân cỏ mọc lưng ống chân cho được kín đáo chặt chẽ. Những con chuột thấy động chạy rào rào vào hậu cung đã mất cả cánh cửa, ẩm ướt, tối om. Chúng tôi ngồi lại dưới mái hiên. Chỗ này, trên đê hay ngoài cửa không ai thấy. Kể ra cứ cẩn thận, chứ lúc ấy chưa chiều lắm, thế mà lúc nãy còn lác đác người bây giờ trên đê đã vắng ngắt.

Đội trưởng Cự kéo mấy cái ba lô, kê lên, trải ra tấm bản đồ xã vẽ kẻ bằng tay lúc sáng nhận ở đoàn uỷ. Chúng tôi xúm quanh, chăm chú. Cự nói một mạch:

“Một là, từ giờ phút này đội ta chịu trách nhiệm mọi mặt của xã. Xã đây ở vùng hai trăm ngày địch được đóng lại, địa chủ thì gian ác, tổ chức của địch để lại đã khéo lồng vào tổ chức ta, chúng nó đã làm giảm tô và cải cách giả. Công tác của chúng ta thật nặng nề. Hai là, xã có chín thôn, mỗi chúng ta phụ trách một thôn. Tôi đọc tên từng người đây. Tôi phụ trách chung và thôn Đìa với văn thư của đội, thôn Đìa cũng là trọng điểm, vì có nhà thằng bí thư chi bộ. Các đồng chí xem bản đồ rồi tự tìm đường về xóm. Không được hỏi han lung tung. Coi chừng tay sai địa chủ và tổ chức cũ sẽ đưa vào người nó bố trí sẵn. Kể từ bây giờ các đồng chí về vị trí chiến đấu dưới thôn cẩn thận cảnh giác không được liên lạc với tổ chức cũ, cứ chọn nhà thăm nghèo hỏi khổ, bắt rễ xâu chuỗi. Chiều thứ bảy, đúng giờ này - đội trưởng Cự cúi xem đồng hồ đeo tay, toàn đội về đây phản ảnh tình hình và duyệt rễ. Ba là, tuyệt đối bí mật, tuyệt đối bí mật.”

Tôi đói quá. Không biết có bệnh giun sán hay sao, hễ quá bữa thì bụng réo rong róc, mắt nảy đom đóm, hai bàn tay toát mồ hôi lạnh. Cứ từng cơn thế, người như lả dần.

Tôi duỗi chân đụng vào đít cái ba lô trước mặt để đặt bản đồ. Ngón chân hình như vướng vào mảnh lá chuối. Tôi lé con mắt dương hoa vàng mờ, cũng nhận ra cái lá chuối lòi ở góc mảnh bạt nắp ba lô. Bấm thấy mềm mềm. Tôi quờ tay. Ôi chao, tôi nhận ra cái lá bánh đúc ngô ở chợ. Tôi ngước mắt. Đội trưởng đương nói đến đoạn hăng, bắt đầu băm bổ bàn tay liên liến, hai con mắt trợn trừng như muốn bật ra. Tôi luồn tay dưới ba lô, thó luôn cả gói, bỏ nhẹm vào cái túi xách của tôi. Rồi lại vờ lơ láo nhìn mọi người. Ai nấy vẫn đăm đăm. Người hí hoáy ghi sổ tay. Người vừa chăm chú vừa thờ ơ nhìn đội trưởng. Người vẫn cắm cúi xem tờ bản đồ mở che kín trên mấy cái ba lô. Lúc ấy tôi mới bình tĩnh nhận ra thật cái ba lô ấy của đội trưởng Cự. Đúng rồi, ba lô bộ đội gờ nếp viền quai kỹ lưỡng, chắc chắn hơn những cái ba lô con cóc khâu túm mua ở cửa hàng bách hoá. Tôi sững sờ, nhưng rồi lại yên trí dần. Kỷ luật là ba cùng dưới xóm. Mà đội trưởng lại mua lén bánh đúc ở chợ. Bố bảo cũng không dám kêu mất. Và trông mọi người đương chăm chú thế kia thì chẳng ai nhìn thấy tôi vừa làm gì. Cho thằng đạo đức giả tối nay đói rã họng.

Mọi người đứng dậy, xốc ba lô lên vai. Hai anh đội cán bộ cơ sở ở xã lên, nách kẹp mo nang tài liệu, xắm nắm đi ngay. Họ háo hức như được về xã nhà. Mà họ tự nhiên như thế cũng chẳng lạ, chỉ có tôi mới phải lo lắng loăng quăng chẳng biết chốc nữa vào nhà ai, có bắt được trúng rễ không. Đội trưởng Cự một tay xua xua không biết là cản lại hay bảo đi, một tay nắm đấm, hô: "Vì giai cấp nông dân, quyết chiến quyết thắng". Tiếng đáp lại rập một cái: Quyết thắng! Quyết thắng! Tôi thấy đội trưởng xách ba lô lên, sờ vào mép. Rồi nắn lại lần nữa. Mất mẹ nó rồi. Nhưng mặt vẫn bừng bừng như lúc đương nói, không khác. Đội trưởng đến trước mặt tôi. Tôi khúm núm co người túm miệng túi xách sợ lộ cái lá chuối, rồi nghiêng người đeo quai ba lô lên vai. Không phải đội trưởng tò mò gì về tôi mà Cự đến bắt tay từng người. Tôi kẹp chặt cái túi trong có gói bánh đúc ăn trộm rồi mới giơ bàn tay ra.

Đội trưởng bảo:

“Đồng chí đợt này được trên cử làm đội phó phụ trách toà án, cố gắng nhé.”

Tôi nhẹ nhõm nắm tay Cự. Mỗi người vào các xóm một ngả. Chỉ có Đình rảo bước theo tôi. Tôi hỏi:

“Cậu về cùng lối với mình à?”

Lúc chỉ có hai ba người, chúng tôi thường cậu cậu tớ tớ - chỉ có mấy anh ở xã lên vẫn nghiêm túc "đồng chí" như khi họp. Riêng với đội trưởng tác phong quân sự thì không mấy khi dám cợt nhả, lúc nào cũng "đồng chí" cẩn thận.

Đình đáp:

“Mình phụ trách xóm Chuôm láng giềng cậu. Về Chuôm đi xuống lối bờ đầm đằng kia gần hơn.”

“Thế sao lại đi lối này?”

Đình cười hếch cái mũi đỏ.

“Đi vài bước, cho nó vui mà.”

Tôi ừ hữ nhạt nhẽo. Đình ghé tai tôi, nói nho nhỏ:

“Này chia cho tớ bánh đúc với. Ông anh nhanh tay quá đấy. Tớ nhìn thấy trước đằng ấy cơ.”

Tôi ơ mặt như đứa ăn cắp bị bắt tại trận - mà thật thế, còn như nỗi gì. Gói bánh có bốn chiếc, tôi lẳng lặng lấy ra đưa Đình hai cái. Nhìn theo hút lúc ấy đội trưởng Cụ đã khuất vào bờ tre. Bỏ bánh lên túi ba lô rồi Đình cũng tất tả về phía ấy. Ôi trời, nó đi báo cáo thì toi mạng! Nhưng tôi lại dửng dưng ngay. Nó nói ra thì nó mất bánh. Mà đội trưởng đã định ăn vụng, đội trưởng trù cho thì cũng chết dở.

Tôi lững thững vào thôn Am. Đi bắt rễ khác nào đi câu. Còn chưa tối, mới chạng vạng mà trước mặt, sau lưng vắng tanh. Chiều chiều thông thường lúc này cổng đồng có người đi làm về, những con trâu bước thong dong, đàn vịt rúc bờ ruộng chân tre, trẻ con đương vác sào ra dồn về. Thế mà đường vào xóm quạnh quẽ, tưởng như không cả con chuồn chuồn chập chờn, con nhện nước loăng quăng. ít ngày sau, tôi mới được biết cả mấy thôn này đã được biết tin đội về từ lúc đội còn ngồi ăn bánh đúc trên chợ huyện. Thế là gà qué, chó má, trâu bò người ta tất tả nhốt chặt. Cả người cũng không ai dám ló mặt ra ngõ.

Có thể nhận biết một làng mới thoát khỏi vùng tề tiêu điều khác hẳn các làng hậu phương um tùm cây cối xanh mát trong Thanh Hoá. ở đây, cây đa, cây si ngã ba xóm, những luỹ tre và bờ bụi bị phạt trơ ra như những cái đầu trọc lông lốc. Đồn bốt Tây bắt triệt thế cho du kích mất chỗ ẩn nấp, đêm đến cả các chòi gác bốt hương dũng giữa làng rọi đèn pha phía nào cũng được.

Tôi nhòm ngó một vòng xuống cuối xóm rồi quay lại. Cả đến những giậu ô rô, giậu duối và bờ xương rồng cũng xơ xác như tóc cạo dối chẳng còn mấy. Trên những mái rạ mục đen sẫm không vẩn vơ một sợi khói bếp. Các cổng tán, cánh liếp mở há ngoác mồm. Tôi không biết người ta cốt làm thế để đội về khỏi nghi giấu giếm cái gì trong nhà.

Tôi toan cứ vào bừa một nhà nào nghỉ ngơi cái đã. Nhà ấy không dựa được thì mai đổi đi nhà khác. Tôi đã mấy đợt qua cái bỡ ngỡ lần đầu tiên ngày đầu đi bắt rễ rồi. Chợt trông thấy sau mấy cây duối quăn queo một người đàn ông cởi trần gầy nhom, quần xắn móng heo. Người ấy vừa đi vừa quay mặt vào trong cái sân đất, như nói với ai trong ấy: "Ông đã chặt cổ cả thằng Tây, ông đếch sợ anh đội". Ngẩng lên thấy tôi, người ấy thoáng bối rối rồi nhìn trân trân: "A anh đội! Mời anh đội vào nhà em xơi bát nước!" Cái mặt người này dại dại, mắt trơ tráo, không biết nó dở người hay nó là thằng địch trắng trợn ra đặt bẫy. Giả vờ thế nào được với tôi, tôi không đáp. Tôi đâm cảnh giác, không dám vào bừa nhà ai như đã định thế, rồi cứ lúng túng, vẩn vơ...

Một quãng, gặp một đống rạ. Trong kia, thoáng bóng người quần nâu bạc đã tuông cả gấu, leo khoeo rút rơm. Tôi khấp khểnh lẩm nhẩm: đây rồi... đây rồi... rễ đây chứ rễ đâu... Tôi xăm xăm tạt vào. Người đàn ông đứng lại dưới mái rạ, hai tay luống cuống như vụng trộm thế nào. Khuôn mặt rỗ hoa xám nhợt đã luống tuổi. Người ấy phờ phạc ngẩng lên:

“Lạy anh đội...”

Gian nhà lợp rạ nát xám xịt như mặt người ấy. Tôi bước vào. Còn mấy người trong nhà, chốc mới nhận ra dần dần. Một người đàn bà ngồi xổm trong xó luồn, tay chống lên mảnh gỗ con. Một chú nhóc đóng khố một cởi trần đứng tựa cột. ở chái bếp bước vào một cô gái áo nâu lành lặn. Có lẽ có người lạ vào, cái áo vừa được mặc vội, một chiếc khuy đỏ chưa cài hở mảnh đuôi yếm cũn cỡn.

“Anh đội vào chơi. Nhà chẳng có chỗ nào ra hồn...”

Tôi ngồi xuống một mảnh vầu úp và nói:

“Tôi tên là Bối. Cả nhà cứ gọi tôi là Bối, anh Bối.”

Rồi trong bụng thoải mái yên chí chưa thăm nghèo hỏi khổ mà đã trúng phóc ngay. Tôi lại nói:

“Tôi là cán bộ đội về công tác. Ta đây là xóm Am, phải không?”

“Vâng ạ, xóm Am.”

Cô gái lại vào trong bếp lấy ra một cái bát đàn. Nhưng không có nước. Cô bối rối đứng. Bố cô rụt rè nói: "Nhà chẳng có hạt nụ vối, chẳng còn nồi chè xanh nào". Tôi cười: "Vẫn uống nước mưa ngoài vại chứ gì. Vẽ, tôi cũng thế". Nói rồi tôi cầm chiếc bát ở tay cô gái ra cái vại bên gốc cau có buộc cái mo cau hứng nước mưa. Tôi múc đầy bát nước, bưng vào, ừng ực làm một hơi hết tiệt. Quả là tôi đương khát se họng. Và mấy lâu nay ở với làng xóm tôi cũng quen ăn uống lôm lam, sống xít. Quả nhiên, chỉ cạn bát nước lã tôi lại cảm thấy công tác ba cùng đã đưa tôi gần gũi mọi người rồi. Đã chiều hẳn, phía bờ đầm nước, đôi chim chích choè bay rỡn nhau hót những tiếng dài ngắn gọi bạn vào hoàng hôn. Trong nhà nhoè nhoẹt xâm xẩm, chỉ còn thấy khuôn mặt cô gái trăng trắng.

Tôi đã thuộc mọi người. Bố tên là Diệc. Mẹ bị tàn tật ngồi trong vách đấy. Con gái là cô Đơm và mấy em, những thằng Vó, cái Lưới, thằng Cò... Nhà cò nhà diệc, những ao ước cầu mong hàng ngày đơm đó sông nước chỉ có vậy. Nghèo đến thế chứ nghèo sao nữa, những cái tên cũng đã khiến tôi gối đầu ngủ yên được. Chưa trông rõ hết, cũng đoán ra cái nhà tranh vách tuềnh toàng ẩm mùi rêu đất, đằng cuối sân, một chiếc hũ sứt hay cái chĩnh đội chiếc nón mê. Người đi làm đồng về được con cáy, cái tép thì ném vào cái hũ đã trộn lưng muối, vài tháng lại chắt ra làm cái mắm, thức chấm. Người ta đương tìm đây rồi. Thật cũng có may có rủi.

 
 
tiếp...
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Post #: 11
giới thiệu toàn văn tham luận của các nhà nghiên cứu phê bình và nhà văn Lại Nguyên Ân

 
25.12.2006[/align]Lại Nguyên Ân[/align]Về tiểu thuyết "Ba người khác"[/align] [/align]Cuốn tiểu thuyết 250 trang của nhà văn Tô Hoài (NXB Đà Nẵng vừa ấn hành) đang làm xôn xao dư luận trong và ngoài giới văn học. Cuộc toạ đàm về tiểu thuyết này do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức tại trụ sở Viện Văn học sáng ngày 22 tháng 12 năm 2006 đã hầu như một cuộc vinh danh lão tướng văn chương 87 tuổi. talawas sẽ lần lượt đăng tải những phát biểu quan trọng của các nhà nghiên cứu phê bình, nhà văn tham dự toạ đàm này.

talawas[/align][/align]Tôi được đọc tác phẩm này tương đối sớm, trong dạng bản đánh máy, kiểu đọc “samizdat”, vào khoảng sau khi đọc Cát bụi chân ai, trước khi đọc Chiều chiều. Hàng chục năm nay chỉ biết nó vẫn chưa được đến với công chúng. Bây giờ nó đã được in ra, rất mừng! Quả thật, vào cái buổi sáng mà nhà báo Thu Hà của báo Tuổi Trẻ cho tôi biết tin cuốn này ra mắt, tôi còn ngạc nhiên và chưa tin!

Ngành xuất bản ở Việt Nam bây giờ có thể in đủ thứ, nhưng những cuốn như Chuyện kể năm 2000 hoặc cuốn này thì thường thường vẫn bị ngăn chặn, cho nên mỗi khi có một cuốn như cuốn này ra mắt được thì tức là tự do trong xuất bản lại được nới rộng thêm một ít.

Phải nói đây là một tiểu thuyết lịch sử, chẳng những vì đã 50 năm từ sau Cải cách ruộng đất (CCRĐ) mà còn vì tác phẩm nói thẳng về sự kiện đó, một sự kiện rung chuyển đời sống của hàng triệu người Việt, một sự kiện không thể tẩy xoá được của lịch sử nước Việt.

Cái không khí nó gợi ra rất ghê. Nó đưa người đọc vào bên trong sự kiện, theo gót một nhân vật, một “anh đội”. Chợt nhớ, Ác mộng của Ngô Ngọc Bội (ra hồi đầu đổi mới) cũng mô tả thời CCRĐ, nhưng nhân vật chính được đưa thêm nét ảo tưởng đến độ “anh đội” ấy ngay đương thời đã nhìn thấy cái sai của CCRĐ; anh ấy có vẻ khôn hơn cái thời của mình, mà chính điều ấy lại làm giảm cái thật của sự kiện lịch sử bao trùm kia. Nhân vật chính của Ba người khác thì ngang tầm, có khi thấp hơn, nhưng nói chung là vừa tầm cái thời của anh ta, là nhân vật bình thường trong cuộc, ngang tầm sự kiện; ngay đến khi đội sửa sai về thay đội cải cách, anh ta vẫn còn chưa biết chưa thấy cải cách có gì sai.

Những sự biến thời ấy, nghĩ lại thấy rất ghê gớm. Thời đó tôi là đứa trẻ 11-12 tuổi. Những cảnh vui của CCRĐ mà mình biết, ví dụ các nhà bần cố nông làm biển đề tên nhận ruộng thì được phản ảnh nhiều rồi qua phim ảnh. Nhưng còn các cảnh khác mà ở miền Bắc nơi nào cũng có, để lại sự kinh hoàng khó phai trong đầu óc non trẻ, ấy là những cảnh đấu tố, dựng rạp xử án, bắn người bị quy là địa chủ, cường hào. Ba người khác khiến tôi nhớ lại mấy cuộc mít-tinh đấu tố có xử bắn mà mình xem hồi ấy, từ háo hức đến hãi hùng.

Viết về một nhân vật, một xã nhưng Ba người khác khái quát về cả cái cuộc CCRĐ đó, cả khoảng thời gian đó. Quả thật là một tiểu thuyết cho đến giờ phút này là ấn tượng nhất về sự kiện CCRĐ.

Tôi nghĩ, đối với xã hội ta, sự xuất hiện những cuốn sách như cuốn này là một cách giải toả cho một trong những chấn thương của xã hội ta. Sự kiện CCRĐ để lại một chấn thương trầm trọng ai cũng biết, nhưng những người giữ quyền ăn quyền nói ở xã hội ta lại muốn xoá đi bằng cách cấm mọi người nhắc đến. Và đó là một giải pháp sai lầm hiển nhiên, vì các chấn thương tinh thần không thể được chữa khỏi bằng bắt buộc người ta im lặng; ngược lại, chỉ bằng việc thường xuyên nhắc nhớ, ôn lại, phân tích nguồn cơn, tính đếm thiệt hại, v.v… mới là phương cách tốt, chẳng những làm nguôi chấn thương mà còn đề phòng khả năng lặp lại những tai hoạ tương tự cho cộng đồng.

Trước hội thảo này, tôi có gửi đến ban tổ chức một đề cương tham gia thảo luận; nhân tiểu thuyết Ba người khác, tôi nêu 2 điểm:

1. Có một “chủ nghĩa đồ vật” (chosisme) trong văn xuôi Việt Nam từ trước 1945 và được tiếp tục sau thời gian đó.

Đây là một nhận xét do nhà nghiên cứu Phan Ngọc nêu lên hồi 1987- 88 khi nói về sáng tác của Nguyễn Tuân. Tôi nghĩ cũng có thể nói đến một thứ chosisme trong sáng tác văn xuôi của Tô Hoài mà Ba người khác không hề là tác phẩm duy nhất.

Chosisme hay “chủ nghĩa đồ vật” nói đây, nếu cần sơ bộ “định nghĩa”, thì đó là một mỹ cảm được định hình trong tâm thức tác giả và một kỹ năng văn chương thể hiện mỹ cảm ấy.

Tính đồ vật ở văn xuôi Nguyễn Tuân là rất rõ. Nhà văn thường cảm nhận cuộc đời thông qua các đồ vật, sự vật. Miêu tả, nhìn ngắm, sờ nắn đồ vật, là những thao tác nghệ thuật thường thấy trong văn Nguyễn Tuân.

Ở Tô Hoài cũng thấy một xu thế tương tự. Ý hướng nhìn ngắm con người như những “vật thể” lạ, thậm chí những “con thú” lạ, đã có ở văn xuôi Tô Hoài từ trước 1945.

Ngay ở văn xuôi ông viết đầu kháng chiến 1946-54 cũng vậy. Tôi nhớ trong một bài phê bình tập truyện Núi Cứu Quốc (của Tô Hoài), nhà phê bình văn nghệ Nguyễn Đình Thi cảm thấy nhà văn này luôn “đứng ngoài”, “đứng quá xa” để đưa “cái nhìn tinh ác” “nhận xét sắc mắc” về những tập tục, những màu sắc lạ ở những người và vật mình gặp trên đường; Nguyễn Đình Thi thậm chí còn bảo rằng một đôi đoạn trong tập truyện ấy khiến người ta muốn so sánh với “những tiểu thuyết thực dân của Jean Marquet, Emile Nolly”(xem tạp chí Văn nghệ, số 11&12, Văn nghệ bộ đội, tháng Tư 1949). Ý nhà phê bình Nguyễn Đình Thi là mong ở cây bút cán bộ Tô Hoài khi ấy sớm có thêm nhiều nét ấm cúng yêu thương đối với người và vật mình miêu tả, cho phù hợp với tính chất của “văn nghệ kháng chiến”, “văn nghệ nhân dân”.

Nhưng phải nói dứt khoát: cái nhìn “đồ vật hoá” vị tất đã là bất lợi trong tay nhà văn.

Thật ra, kỹ năng “đồ vật hoá” có thể dùng cho những mục đích khác nhau. Ở một vài truyện ngắn của Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn) viết tại chiến trường những năm 1960 chẳng hạn, ta bắt gặp lối diễn tả những con người, nhất là trẻ nhỏ, ở phương diện những cảm nhận chập chờn giữa lý tính và bản năng, bằng cách đó ghi nhận lòng yêu nước, ghi nhận ý muốn tham gia đánh giặc giữ làng như những tình cảm và nguyện vọng hết sức tự nhiên ở con người miệt ruộng vườn Nam Bộ đương thời.

Trong văn xuôi Tô Hoài, như ở tiểu thuyết Ba người khác này, tính chất “đồ vật hoá” được khai thác từ một hướng khác. Có lẽ khoảng cách thời gian từ cuộc CCRĐ đến nay là nửa thế kỷ, đã đủ để nhận ra những đường nét chính, ngẫm nghĩ về thuộc tính của một trong những cuộc nổi dậy mang tính quần chúng trong cái thế kỷ nhiều cuộc nổi dậy mang tính quần chúng nhất từ xưa tới nay. Có vẻ như nhà văn, với tiểu thuyết này, đã nhận thấy rằng cuộc nổi dậy của lớp người dưới đáy xã hội cũ ấy, đã kéo theo sự nổi dậy của chất đồ vật, của chất loài vật nơi những con người dưới đáy. Chất “đồ vật”, “loài vật” được nhấn mạnh trong sự thể hiện nhiều nhân vật, nhiều cảnh sống ở đây, đặc biệt là về hai phương diện ăn uống và tính giao, tuy được mô tả tự nhiên như rút lấy từ trải nghiệm, thật ra là đáp ứng sự “lý giải”, “cắt nghĩa” của nhà văn về sự kiện rung trời chuyển đất những năm 1950 trên đất Việt, khi mà cơn thác bùn này cho thấy nó có thể làm tha hoá con người đến mức nào.

2. Về chất “quỷ” như một phẩm chất nên có ở nhà văn, nhà tư tưởng

Tôi chợt nhớ, trong một vài lần chuyện phiếm với nhau, chúng tôi đã từng nói tới “cái tinh anh của quỷ” nơi nhà văn Tô Hoài.

Ở các nền văn học khác, người ta sớm thấy hình tượng “con quỷ”, “quỷ sứ”, chẳng hạn trong thơ Pushkin, Lermontov (Nga), trong văn Goethe (Đức). Yếu tố quỷ với ý nghĩa “tượng trưng cho một sự thiên khải cao hơn các chuẩn mực thông thường, khiến cho con người có thể nhìn được xa hơn và chắc chắn hơn với cái nhìn không thể quy lại thành lý lẽ”, “cho phép con người vi phạm các quy tắc của lý trí nhân danh một thứ ánh sáng siêu việt không chỉ thuộc về tri thức mà còn thuộc về số mệnh” (Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, bản dịch, Nxb. Đà Nẵng và Trường Viết văn Nguyễn Du, 1997, tr. 755)

Thật sự thì việc nhìn một cách tọc mạch, “tinh ác”, “hiểm ác” vào con người và xã hội, phát hiện và tố cáo những tai ách, tai họa, những xấu xa ghê tởm không xứng đáng với con người, v.v… đó luôn luôn là phẩm chất cần có của các nhà tư tưởng, nhà nghệ sĩ ở bất cứ thời đại nào; vì đó là cách nhà tư tưởng hay nhà văn thực hiện thiên chức bảo vệ tính nhân bản, tố giác những vi phạm, những nguy cơ làm giảm thiểu tính nhân bản trong cộng đồng người.

Không nên nghĩ rằng chỉ những tác gia bị thế quyền đương thời bạc đãi thì mới có những phẩm chất trên đây, ngược lại, nhà tư tưởng hay người nghệ sĩ nào vì được trọng đãi mà từ bỏ những trọng trách, từ bỏ thiên chức cao, chỉ giữ vai trò người tung hô vỗ tay đơn thuần, thì mới càng đáng chê trách. Dư luận xã hội chúng ta, nay có thể xem là đã trưởng thành hơn, đã có thể đem bàn những điều không đơn giản, không dễ hiểu, như điều đang nói đây chẳng hạn.

Ở nhà tư tưởng và nhất là ở nhà văn, chất “quỷ”, “chất Mephisto” là nên có, cần có. Những phát hiện “tinh ác”, “hiểm ác” về cộng đồng mình, về nhân loại quanh mình, rõ ràng là điều đem lại thành công cho một số tác giả người Việt chúng ta đã biết, từ Vũ Trọng Phụng trước kia cho đến Nguyễn Huy Thiệp ngày nay. Sáng tác của Tô Hoài, ví dụ tiểu thuyết Ba người khác này, hẳn cũng thuộc trường hợp như thế.

Không nên chấp nhận lối nghĩ đơn giản và sai lầm theo đó thì dường như nhà văn kiểu này lập công bằng cách nói xấu con người, nói xấu cộng đồng mình (!). Nên nhìn nhận chiều sâu của sự khám phá do nhà văn thực hiện được bằng sáng tác nghệ thuật. Nhìn ra, giúp con người cùng nhận ra chiều sâu, uẩn khúc của những tai ách đã và đang chặn đường đi tới, đó đã là một sự thắng lợi, thắng lợi của nhận thức. Còn hành động để đạt tới thắng lợi cho nhận thức đó trên thực tế đời sống xã hội, đó là việc không phải của một mình nhà văn.

18/12/2006

(Trong toạ đàm 22/12/2006, nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân chỉ phát biểu một ý nhỏ của bài viết này. Báo Thể thao & Văn hoá ra ngày 22/12/2006 cũng trích đăng một đoạn ngắn trong bài viết. Toàn văn bài viết do ông gửi trực tiếp cho talawas.)

© 2006 talawas
[/align]http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8848&rb=0102[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
http://vnthuquan.net/truyen/timkiem.aspx?chu=t%C3%B4+ho%C3%A0i&theo=tacgia&imageField2.x=9&imageField2.y=11
 
Chào Hồng yến
 
Những truyện Tô Hoài đã có trong thư viện rồi đây
 
Mời Hồng Yến ghé sang nhé
 
Chúc vui
Đăng nhập để trả lời
0
Ct.Ly

 
Cám ơn CL nhắc nhở
 
&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;
 
Xin mời Quý Bạn xem:
 
Ba Người Khác * Tô Hoài
 
 




hết: Chương 1, xem tiếp: Chương 2 (a)

 





Đánh máy: Mõ Hà Nội ( Nguyễn Học )
Nguồn: Mõ Hà Nội ( Nguyễn Học)
VNthuquan - Thư viện Online
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 5 tháng 12 năm 2006
 
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4ntnmn0n31n343tq83a3q3m3237nvn

Đăng nhập để trả lời
0
Tổng quan về hồi ký Tô Hoài
damau.org: số 5 thứ ba 12.09.2006

Mừng Sinh Nhật nhà văn tám mươi sáu tuổi
Đặng Tiến

Chiều Chiều

 
Xin Mời ghé Quán Thơ:
 
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1n2nqn31n343tq83a3q3m3237nvn&cochu
Đăng nhập để trả lời
0




Từ Dế Mèn Phiêu Lưu Ký đến "Chiều Chiều
Thursday, September 22, 2005












Nguyễn Mạnh Trinh

Tô Hoài, một khuôn mặt lớn của văn học trong nước, một người được nhà văn Bùi Bình Thi xưng tụng là một trong “Tứ Ðại Lão Gia” của tạp chí “Tác Phẩm Mới” cơ quan chính thức của Hội Nhà Văn cùng với Nguyễn Ðình Thi, Chế Lan Viên, Xuân Diệu. Ông cũng là người đã in tới 150 tác phẩm, một số lượng sách to lớn khó tưởng tượng nổi. Thử suy nghĩ trong thời kỳ bao cấp, sách in phải chờ đến lượt xoay vòng, có hội viên hội Nhà Văn chờ suốt cả đời mới được in có nửa cuốn, nghĩa là in chung với tác phẩm của cây bút khác. Thế mà, Tô Hoài có tới 150 đầu sách...
Theo tiểu sử được phổ biến, ông tên là Nguyễn Sen, sinh năm 1920 tại làng Nghĩa Ðô, ngoại thành Hà Nội. Ngoài cương vị của một nhà văn, ông còn là Tổng Thư ký Hội Nhà Văn, hay Chủ tịch Hội Văn Nghệ Hà Nội. Ông sống một đời nửa cán bộ, nửa văn chương, theo những người thân cận ông như Vương Trí Nhàn thì ông là một người khôn khéo nên đã vượt qua được nhiều khó khăn và mặt nào cũng được đãi ngộ xứng đáng. Dễ gì mà một nhà văn xuất ngoại như đi chợ... Thế mà, hình như, vẫn phảng phất những điều khác thường, ngỡ như phải làm những việc mà mình miễn cưỡng.
Xuân Sách, trong Chân Dung Nhà Văn đã phác họa:

“Dế mèn lưu lạc mười năm
Ðể O chuột phải ôm cầm thuyền ai
Miền Tây sen đã tàn phai
Giăng Thề một mảnh lạnh ngoài Ðảo Hoang.”

Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, Mười Năm, O Chuột, Miền Tây, Giăng Thề, Ðảo Hoang, đều là tên các tác phẩm của Tô Hoài. Sen là danh tánh của ông mà Xuân Sách lại hạ bút Miền Tây sen đã tàn phai. Tại sao một người thành đạt như vậy lại mô tả bằng những phác họa hơi phảng phất niềm bất mãn như thế? Chắc ông có một tâm sự nào tương tự?
Vương Trí Nhàn kể lại:
“...Cho đến lần ấy, nhân buổi chiêu đãi ở nhà xuất bản nọ, có mặt cả mấy nhà văn cỡ bự, Nguyễn Khải liền tính chơi trò vỗ mặt, đọc thẳng cho các vị ấy nghe. Trước những lời rào đón của Nguyễn Khải, nhà văn X. ra vẻ xởi lởi: - Ðọc đi xem nào, cái lối viết anecdote này, nước nào chẳng có?
Tô Hoài thì dè dặt hơn, chỉ mủm mỉm cười, như có vẻ không tin mà lại như có vẻ chờ đợi.
- Tính cách mình thì hơi khó nắm bắt đấy!
Thế là cánh cửa đã mở. Nguyễn Khải vừa đọc, vừa thăm dò phản ứng. Quả nhiên trận lôi đình nổi lên, nhưng nhà văn X. đành cố kiềm chế, chỉ nghiêm mặt hỏi:
- Loại thơ này có lợi cho ai nhỉ?
Ðến lượt Tô Hoài, nghe được ba phần tư bài thơ, Tô Hoài đã xua xua tay:
Thôi đủ rồi! Thế là biết tài nhau rồi.
Và ông lảng sang chuyện khác...”

Xuân Sách có nhắc đến tiểu thuyết “Mười năm”. Tác phẩm này đã gây nhiều phiền toái cho Tô Hoài. Cuốn này viết về thợ dệt Hà Ðông trong khoảng thời gian tiền chiến từ 1936-1945. Truyện kể về những người sinh hoạt trong những hội ái hữu, hội tương tế nhưng bên trong là hoạt động cho Việt Minh. Cũng có những đề tài quen thuộc về căm thù giai cấp, về tỉnh ngộ theo lý tưởng, rồi móc nối để hoạt động. Tóm lại là một tiểu thuyết viết rất đúng đường lối của Ðảng theo như đề cương văn hóa đã vạch ra.
Thế mà không hiểu sao, cuốn sách lại bị phê bình nặng nề mà tiêu biểu nhất là bài viết của tướng Trần Ðộ đăng trên tạp chí Văn Nghệ Quân Ðội. Mười Năm bị nhận xét là một tác phẩm vá víu, rất tệ, về nội dung bệnh hoạn, xa rời giai cấp, tư tưởng lạc hậu không bắt kịp được sự tiến bộ của đất nước. Tác giả bị quy chụp có dụng ý bêu xấu lãnh tụ, là một bước lùi nguy hiểm về nhận thức chính trị. Tóm lại, toàn là những cú phê bình trời giáng. Và, rốt cuộc, tác giả Dế Mèn Phiêu Lưu Ký phải xin đi thực tế lao động để qua đi cơn bão tố chết người... Mấy năm trước, năm nào trên trang nhất của nhật báo Nhân Dân ngày đầu năm đều có bài bút ký đầu Xuân đăng kèm với ảnh, một vinh dự lớn để dành cho những lãnh tụ. Thế mà, sau tác phẩm ấy, đã hết những lời rao cho một tác phẩm để đời “hiện thực xã hội chủ nghĩa, một tiểu thuyết dài hơi và mới lạ so với những đề tài về nhà quê hay loài vật quen thuộc và sở trường.

Trong “Cát Bụi Chân Ai”, Tô Hoài viết:
“Những chuyện Nhân Văn và thời kỳ hữu khuynh, cơ quan bị lũng đoạn đối với tôi đã chôn vùi lâu rồi. Nhưng chưa phải đã dứt. Chuyến đi Lai Châu cũng là cho được khuây khỏa mà thôi. Tiểu thuyết Mười Năm của tôi mới phát hành - một trong những ấn phẩm cuối cùng của Hội Nhà Văn. Lập tức các báo mổ xẻ phê bình. Quất mạnh và lý lẽ nhất, bài của Như Phong trong ban biên ủy báo Nhân Dân in trên báo ấy và bài của Trần Ðộ trên tạp chí Văn Nghệ Quân Ðội. Ðấy cũng là một quyển sách còn sót lại thúc đẩy đóng cửa nhanh nốt nhà xuất bản Hội Nhà Văn.
Rồi Võ Hồng Cương thường trực Hội Văn Nghệ tổ chức một trận phê bình miệng. Nhà văn, nhà lý luận phê bình, nhiều cán bộ giáo vụ trường Ðảng và tỉnh ủy Hà Ðông tham dự. Mười Năm cuốn tiểu thuyết bộ ba của tôi viết về quang cảnh và con người quê tôi vùng nghề thủ công phía bắc thành phố vào ba thời kỳ nối nhau. Tiểu thuyết Quê nhà, nhà xuất bản Tác Phẩm Mới in khoảng thập kỷ 70. Sự việc cuối thế kỷ trước sau hai lần quân Pháp hạ thành Hà Nội, các làng ngoại thành vẫn nổi lên. Tiểu thuyết Quê người, cuốn truyện dài đầu tay xưa kia tôi viết cùng thời với những Dế mèn Phiêu Lưu Ký, Giăng thề, O Chuột. Quê tôi, lĩnh lụa nghề tổ bị lụn bại, người làng bỏ đi tha hương đất khách quê người. Tiểu thuyết Mười Năm cũng như một tiểu thuyết tự truyện, một nhóm thanh niên trong làng nhen nhúm phong trào chống đối đưa tới cách mạng.
Tiểu thuyết Mười Năm được viết ra những năm đó tôi còn về ở Nghĩa Ðô làng tôi. Văn Cao làm bìa, Văn Cao đã bắt đầu vẽ bìa để sinh sống. Làn nước chảy đìu hiu dưới chân cầu, thời gian trôi, mười năm “nước chảy qua cầu...”
Thế mà, bị đấu đá. Như Phong phê bình nặng nề “Mười Năm” có thể là một cuốn tiểu thuyết khá, vì đấy cũng là một thực tế ở làng quê tác giả và chính tác giả. Nhưng nó đã được chuẩn bị và sáng tác trong thời kỳ Nhân Văn lũng đoạn nên bị ảnh hưởng xấu. Các nhân vật cán bộ cách mạng bị bóp méo đến thảm hại...”
Và, tác giả Chiều Chiều đã bị kiểm thảo tơi bời. Ông đã mô tả lại cảm giác lúc ấy:
“...Ðầu tôi nặng trĩu mưa gió chỉnh huấn. Lúc lặng im vẫn lo vẩn vơ. Không biết nên thế nào, cũng không khuây khỏa nhẹ nhàng được. Việc không đáng nghĩ mà đâm ra nghĩ. Xưa kia đi làm, cái nghề bán giày bata kiếm nổi đồng tiền mửa mật ra, rồi viết văn cũng là đi làm. Tôi theo đuổi lý tưởng từ những ngày bóng tối. Không có cách mạng tôi làm sao nên người như bây giờ. Làm sao tôi lại có thể nghiêng ngả, có thể bị lũng đoạn được nhỉ? Ở rừng ra, đi cải cách rồi về bắt tay vào những công tác rất quen mà cũng rất mới mẻ này, nay mới được hơn một năm. Tôi hữu khuynh, tôi bị anh em bốc lên phổng mũi Triệu Tử Long, tôi bị khuynh đảo, tôi bị xỏ mũi mà không hiểu, chậm hiểu, không tự biết. Phải thế không? Tôi không tin tôi đến nỗi đù đờ thế. Ngày trước và cả khi ấy, Như Phong vẫn cho tôi là “thằng ngoại ô láu cá, văn chương thì đẽo gọt”. Có thể thế. Tôi sinh ra nơi thành phố với làng mạc lẫn lộn, thế lực chánh lý không khạc ra lửa như trời đất làng Ðại Hoàng của Nam Cao, ở quê tôi túi bạc đâm toạc tờ giấy, có tiền là có cả, bấy lâu tôi lăn lóc trong khóe đời ấy...”
Thời tiền chiến Tô Hoài viết “Tự Truyện” và “Cỏ Dại”, kể chuyện về cuộc đời mình, với những chi tiết khá thành thực của một thằng bé tinh quái, nghịch ngợm, lêu lổng. Hình như ông không sợ những nét tô đen bất hảo của mình và tỏ ra rất tự tin ở mình khi đem viết ra bút mực. Chính thái độ chân thành ấy đã làm cho độc giả cảm động. Tô Hoài vào nghề văn chỉ với đam mê làm hành trang. Anh thợ cửi Nguyễn Sen học lực chưa xong bậc tiểu học là một trời một vực so với các nhà văn tốt nghiệp tú tài, cử nhân như các nhà văn thuộc nhóm Tự Lực Văn Ðoàn chẳng hạn. Nhưng ông đã phải tự học và đọc sách để bồi đắp vào chỗ khiếm khuyết ấy. Rảnh lúc nào ông trau dồi lúc đó. Nhưng, căn bản vẫn là khả năng văn chương thiên phú trời dành. Thiếu gì vị khoa bảng, viết một câu chưa thông. Ở Tô Hoài là một nỗ lực để tạo ra được một gia tài đồ sộ đặc sắc...
Tô Hoài trước 1975 viết những truyện về loài vật có nét riêng biệt, với giọng văn dí dỏm, tinh nghịch và khám phá được nhiều khía cạnh của trẻ thơ. Ở những tác phẩm như “O Chuột”, như “Dế mèn Phiêu Lưu Ký”, như “Truyện Loài Vật”, Tô Hoài mang kỹ thuật mượn loài vật để ám chỉ đến loài người, phản ánh những thủ đoạn đối xử với nhau của thời ký nhiều điên đảo đảo điên.
Phê bình gia Vũ Ngọc Phan trong Nhà Văn Hiện Ðại đã nhận xét:
“...Ông không giống một nhà văn nào trước ông và cũng không giống một nhà văn nào mới nhập tịch làng văn như ông. Truyện của ông có tính chất nửa tâm lý, nửa triết lý. Mà các vai lại là loài vật. Mới nghe tương tự như truyện ngụ ngôn nhưng thật không có tính cách ngụ ngôn chút nào: Ông không phải một nhà luân lý, chuyện của ông không thể răn đời, nó là những chuyện tả chân về loài vật, về cuộc sống của loài vật tuy bề ngoài ra vẻ lặng lẽ nhưng phần trong có lắm cái ồn ào, vui cũng có mà buồn cũng có.
Tác phẩm đầu tiên của Tô Hoài và cũng là một tập tiêu biểu cho lối văn đặc biệt của ông, một lối văn dí dỏm, tinh quái đầy những phong vị màu sắc của thôn quê. Cái tinh ma và cái phác thực có lẽ được gặp nhau ở chỗ này...”
Những truyện tình của Tô Hoài lại có phong vị riêng. Tới bây giờ, ở tuổi tôi, những không gian, thời gian ấy đã thật xa lạ. Nhưng, khi đọc lại, một thời đã qua như sinh động lại và có nhiều nét ghi đậm trong hồi tưởng. Những nhân vật nửa quê nửa tỉnh, những người sống trong một giai đoạn giao thời, tất cả có mặt trong văn chương của ông và nhắc lại một thời kỳ đã qua. Cách bầy tỏ tình yêu cũng ở trong những giới hạn so với bây giờ là cả một trời một vực xa cách. Trong truyện Quê Người cách hẹn hò của đôi nhân tình, anh Cu Hời với cô Ngây, cũng thực đặc biệt. Chàng mang hoa ngọc lan thơm phức nửa đêm vứt vào khung cửi dệt của nàng như một cách hẹn hò. Sau câu hát ví, nàng tắt đèn ra bên hàng rào và hai người tâm sự với nhau qua hàng phên thưa, tay nắm tay nhìn nhau, và chỉ có thế nhưng thơ mộng và trong sáng như vằng vặc trăng sao trên trời... Hay mối tình của anh chàng giáo kiết, trong Giăng Thề, yêu người không thành vì thân phận nghèo nàn chỉ biết than thở cùng vầng trăng làm nhân chứng. Dường như, có bóng dáng của anh thợ cửi Nguyễn Sen trong đó, của nỗi niềm bi phẫn khôn nguôi trước những bất công trong buổi giao thời. Và muôn đời cái nghèo, cái khổ cứ bám theo bám mãi những người lỡ sinh một thời đại bất ưng...
Với “Chiều Chiều” và “Cát Bụi Chân Ai”, Tô Hoài lại tỏ ra thật thành thực khi kể về những người bạn đang cùng sống một thời và cũng đang cùng chung một công việc. Năm 1909 ông viết Cát Bụi Chân Ai và năm 1997 ông viết Chiều Chiều, không biết có phải là chủ ý hay vô tình mà lồng trong đó những tâm tư là lạ. Của những điều bất đắc dĩ, không muốn làm mà vẫn phải làm. Và, có những việc thấy không phải lẽ mà vẫn phải thỏa hiệp. Sống trong một thời thế như vậy, muốn sống còn không thể khác hơn. Kể cả những người văn nghệ sĩ được coi là thành đạt trong chế độ như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân,...
Thỉnh thoảng mới có trường hợp mà Tô Hoài kể lại:
“...Tôi đưa tờ báo Nhân Dân ngày 12 tháng Ba năm 1958 có bài của tôi đề là “Nhìn Lại Một Số Sai Lầm trong Bài báo và trong Công tác”.
Nguyên Hồng cầm xem chỗ qua loa, chỗ chăm chú...
Nguyên Hồng buông tờ báo xuống. Rồi Nguyên Hồng xua xua tay nói như hét vào mặt tôi: - Tiên sư mày thằng Câu Tiễn! Ông thì không, Nguyên Hồng thì không.
Nguyên Hồng quì xuống trước mặt tôi rồi cứ phủ phục thế, khóc thút thít...”
Vương Trí Nhàn có một nhận định khá chính xác trong trường hợp trên:
“...Ðại khái có thể hình dung như cái cảnh đứa bé bị buộc phải quỳ thì cũng quỳ đấy song mắt vẫn liếc về phía mọi người đùa bỡn.” Sá gì chuyện này quỳ cho xong nợ tí nữa lại tha hồ tung tẩy...”
Khốn nỗi, Tô Hoài đâu phải trẻ con và chẳng lẽ chẳng có một chút gì tự trọng khi viết lời tự thú tội như sự ví von trên.
Vương Trí Nhàn viết tiếp:
“Có một thoáng gì đó như là một chút hư vô trong con người thực dụng Tô Hoài chăng? Một nhận xét như thế là đầy mâu thuẫn nhưng biết sao được, con người chúng ta trong những năm này bị bao sức mạnh xâu xé, kể sao cho xiết! Một chút khinh bạc có từ rất sớm (bản thân Vũ Ngọc Phan vốn rất hiền từ cũng phải nhận ra và lên tiếng cảnh cáo khi đọc Quê Người, O chuột,...) cái khinh bạc ấy hẳn không bao giờ mất hẳn. Cộng thêm vào đó là bao nhiêu ngọt bùi cay đắng đã đến trong đời một người viết văn, một người cán bộ, những phút bốc đồng và những lần tỉnh mộng, những lầm lỡ và man trá xen lẫn vào giữa những chân thành ngây thơ cuộc bể dâu diễn ra ngay trước mặt. Khi đã trải tất cả những sự đó rồi, cái hư vô sẽ như một thứ ánh áng mờ mờ giúp cho người ta sống nhẹ nhõm hơn và tự do hành động hơn. Lúc này hư vô đã trở thành một điều kiện bắt buộc để sống, hư vô là một thứ thuốc an thần cho như kẻ ham hành động, nhưng lại hoàn toàn tỉnh táo để hiểu rằng hành động của mình cũng rất có thể chỉ là vô nghĩa.”
Sống trong một môi trường như thế, liệu nhà văn còn có tâm trí để sáng tạo hay không? Hay để hư vô như “ánh sáng mờ mờ” dẫn dắt để một con đường độc đạo hiện ra. Ðó là văn chương phải đạo, để mọi chuyện nhẹ nhõm, tha hồ in sách, tha hồ xuất ngoại, tha hồ có danh, có quyền, có lợi. Tuy vậy, vẫn có điều vướng víu trong thâm tâm, muốn ngỏ nhưng ngại và nhát. Ăn cơm mới kể chuyện xưa, về “những lần tỉnh mộng, những lầm lỡ và man trá xen nhau,” ít ra nói lên vài sự thực cũng làm nỗi niềm vơi bớt. Làm người Việt Nam đã khó mà còn làm nhà văn mà nhà văn nổi tiếng lại càng thập phần khó nhọc... Tôi lại nhớ đến câu trả lời của ông Hoàng Ngọc Hiến khi Talawas hỏi về những chuyện tiêu cực khó hiểu và khó tưởng tượng xảy ra ở trong nước, “Cái nước mình nó thế”.

















Copyright © 2002 by Nguoi Viet, Inc.
Nguoi-viet Online
http://www.nguoi-viet.com/

 
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=32799&print=yes

Đăng nhập để trả lời
0
Cát Bụi Chân Ai
 
Chương I
Tôi kém Nguyễn Tuân mười tuổi. Trước kia, tôi không quen Nguyễn Tuân.

Quãng đầu thập kỷ bốn mươi, báo Hà Nội Tân văn, báo Chủ Nhật mới in của tôi mấy truyện ngắn: Nước lên, Mê gái (Con gà ri), Bãi ô-tô, Một đêm sáng giăng suông. Hình như Nguyên Hồng đã chỉ cho tôi biết Nguyễn Tuân đương lững thững bên kia hè đường Bờ Hồ. Những tiểu thuyết Thiếu quê hương đương in từng kỳ trên tuần báo Hà Nội Tân văn và những truyện ngắn của Nguyễn Tuân đăng các báo Tiểu thuyết Thứ bảy, Tao đàn, Thời vụ, Bạn đường cũng có phần hơi hướng dấu vết trong chữ nghĩa bước đầu đời viết của tôi mà Vũ Ngọc Phan, ở sách Nhà Văn Hiện Đại đã đe tôi nên dè chừng cái giọng khinh bạc học đòi ấy.

Đi bên này hồ Gươm thấy Nguyễn Tuân ngồi trong nhà hàng Hoàng Gia, cái quán rượu kiểu Pháp che cánh sáo ra kín vỉa hè. Nhà văn chơi chua khác đời. Khăn lướt vố, áo gấm trần, tay chống dọc chiếc quạt thước thay ba toong, chân bít tất dận giày mõm nhái Gia Định. Năm ấy, Nguyễn Tuân cũng chỉ khoảng trên ba mươi đôi chút. Ngoài đường phố chẳng ai ăn mặc kiểu cách khác thường thế, nếu không phải quan tri phủ, quan thương tá ngồi xe nhà, áo sa phủ áo gấm, áo đoạn, vừa ý tứ vừa khoe chiếc bài ngà dây kim tuyến thấp thoáng trong ngực áo. Quán Tavec Royan này chỉ Tây lui tới. Bên trong, nhảy đầm, dàn nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát vươn cổ cò trên cái đại vĩ cầm cao ngang mặt người chơi, những tiếng nảy ra rên gầm gừ.

Nhưng những con người dị dạng này cũng chẳng làm khác mắt mấy cái thành phố không còn đìu hiu, vài năm nay đã nhốn nháo bọn dựa thế Nhật, đầu trọc để trần, áo ka ki ống tay rộng vàng nhạt đi ghệt da cao, lầm lì và nhâng nháo. Chẳng đoán được, Nhật thật hay Nhật mỹ ký. Rồi thì tôi xem Nguyễn Tuân đóng vai người đi săn ở kịch Ngã ba của Đoàn Phú Tứ. Tôi thấy Nguyễn Tuân thoáng mấy giây một cái bóng người y tá khiêng cáng trong phim Cánh đồng ma của Đàm Quang Thiện.

Cũng thấy chán. Nhưng đọc bút ký Một chuyên đi viết về Hương Cảng thì bâng khuâng nhiều. Mấy lần ở cuộc họp tổ bí mật, nghe Như Phong báo cáo thuyết phục Nguyễn Tuân vào Văn Hóa Cứu Quốc, chưa có kết quả. Nguyễn Tuân bảo Như Phong : ở Hà Nội này, đứa nào Việt Minh, đứa nào tờ-rốt-kít, đứa nào Đại Việt, Quốc dân đảng, đứa nào bố láo cách mệnh mồm khoác lác, đứa nào ăn tiền mật thám, tớ biết cả. Nghe nói tợn tạo trắng trợn, Như Phong mượn một quyển sách rrồi ra về.

Những cái biết của tôi về Nguyễn Tuân hồi ấy chỉ mang máng thế.

Đem cái duyên đẹp đẽ mọi bề quàng cho Nguyễn Tuân có thể chưa kín nghĩa, mà cũng không hẳn đúng. Về văn và cả về đời. Có người mê Nguyễn Tuân như điếu đổ, từng chữ. Có người chỉ lướt một đoạn đã không chịu được cái giọng khụng khiệng, khệnh khạng. Triết lý và câu văn Nguyễn Tuân không giống vị hoài sơn trong thang thuốc bắc, ghẻ bổ một tý, lại vô thưởng vô phạt. Cái chơi của Nguyễn Tuân cũng thế. Với người này, không thể thiếu Nguyễn Tuân. Người kia thì không chịu đựng được. Ô hay, người ta ra người ta thì người ta phải là người ta đã chứ.

Nhớ lại năm ấy, ở gian hàng quà chợ Đồng Xuân còn cái bà nạ dòng khăn nhung áo cánh phin nõn đeo chuỗi hạt cẩm thạch phơn phớt xanh - hàng bún thang ngon có tiếng. Chỉ một bát thang con bún lá, giọt cà cuống thơm một cách khó chịu mà lại không có không được, cũng có thể viết lên một cái gì. Nói bâng quơ, chẳng ra nhủ mình, chẳng ra cho người khác. Những cái ấy phải viết, viết. Như những đêm áp tết, năm cùng tháng tận, lại lấy ra mấy cái đĩa hãng Pa-thé mua được ở chợ Giời, mà nghe ả Đàm Mộng Hoàn... Gió hỡi gió, phong trần ta đã chán... Cánh chim bằng chín vạn những chờ mong... Thế nào ông ấy cũng lại nói: Cái hơi của Mộng Hoàn thì sang, nhưng không đẹp bằng giọng bà Chu. Phải viết, cái này phải viết thôi. Những năm về sau, Nguyễn Tuân vẫn làm việc cho viết, khắc khoải sự viết, mà không viết bao nhiêu. ở đây nữa, chính bởi hơi sức và trong tâm sự. Phải đến Nguyễn Tuân viết ra thì cũng một vùng phố xá ấy mới thành tên gọi, mới thành Phố Phái - hai chữ của Nguyễn Tuân sáng tạo đặt tên cho tranh Bùi Xuân Phái. Và trong cuộc chơi, ông cửa hàng trưởng Bôđêga, chú nhà bàn, nhà bếp khách sạn Thống Nhất hay bác Chữ bán cháo gà gõ ống thổi làm phách hát ả đào giọng chèo ở ngã sáu dốc Hàng Kèn, hay khi lên chơi nhà ông Ba trên Nghĩa Đô thì dẫu cho Nguyễn Tuân chưa hề quen, cũng không phải là trùm trò, các chủ quán, chủ nhà đều trân trọng như ông ấy mới là chủ cuộc. Cái duyên ấy xưa nay vẫn như một.

Những năm trước 60, cái dốc ngã sáu Hàng Kèn ban đêm thanh vắng lắm. Những cây sấu, cây sữa cũng chưa như mấy năm sau phải một trận bom Mỹ đánh sập hai ngôi nhà và mấy gốc cổ thụ. Bờ hè dưới hai hàng cây hiu hắt khơi lại cảnh xưa cũ, còn cái bờ tường đắp dòng chữ xi măng nổi Phúc Đình cha, tên hiệu thuốc sốt rét nổi tiếng một thời. Nhớ Cây Thị Hàng Kèn đầu Lê Lợi, cuối Hàng Giò nhiều hơn tên phố mới, đối với chúng tôi. Mấy hàng phở gánh và quán cóc. Nơi ăn đường ăn chợ này không chè chén xô bồ như trên ngõ Sầm Công, chim quay Tiểu Lạc Viên, cà phê phin Ca, cà phê đá Lý Hảo... cũng không ví được với cơm tám Tân Việt, Việt Hương quanh chợ Hôm gần đấy.

Dốc Cây Thị không còn cây thị, hàng quán chỉ rải rác có buổi. Ngồi đây, đầu phố Hàm Long nhìn sang sở Văn Tự, tưởng như lão Tàu Bay còn gánh phở bán buổi sớm. Cũng cạnh đấy, bên dãy nhà mà thời tạm chiếm Pháp đặt đài phát thanh Con Nhạn của quân viễn chinh, hồi Tiền Khởi Nghĩa, đội AS (ám sát) của Việt Minh đã bắn chết Thiên Nga, nữ đặc vụ của Nhật trong quán cà phê này. Nhưng không phải chỗ hàng cà phê của ông cắt tóc ở hợp tác xã chỗ ngã sáu mới về mở, đêm B52 ấy, một vỏ tên lửa rơi gãy võng cái mái hiên. Những biến thiên của con người phố xá, chắp nối lại mà chỉ có ngòi bút Nguyễn Tuân mới phát hiện cho người đọc thấy được những lăng cạnh gốc gác, như muôn vật trong trời đất, khác nhau mà lại dính líu với nhau. Những ngã năm, ngã tư, ngã bảy, người đi lại sinh ra đường cái và mọi sinh hoạt, làm ăn, đắp đổi, người hút thuốc lào thì có người bán đóm, phường chợ thì có người đóng đinh đế giày, ông bán hàng nước chè tươi, ông lão chữa giày dép với khách dừng chân.

Phở Tàu Bay - mà bây giờ ở Sài Gòn có vài ba quán của các bà phòng nhất, phòng nhì và con cháu ông Tàu Bay đã quá cố, cũng đôi chút phảng phất mùi vị phở Bắc, gánh phở ông Tàu Bay xưa đỗ cạnh dốc bên gốc cây thị đầu sân vào sở Văn Tự - không biết tại sao người qua đường lại đặt tên công sở ấy là sở Văn Tự. Có lẽ cũng như chỉ tình cờ một câu bông đùa cái mũ da lưỡi trai hơi dài khác thường của ông hàng so sánh với chiếc mũ phi công mà thành tên phở Tàu Bay, một hàng phở gánh buổi sáng. Thời ấy, sáng, trưa, tối đều đặn cho người ăn quà phở mà không phải là dùng phở đến no. Hiếm cửa hàng phở, hiệu phở, rặt phở gánh, chuyên phở nước. Phở hiệu xào ròn, xào mềm, tái lăn, sấm vang, bát phở bên đĩa mùi, húng và cút rượu trắng. Phở gánh, món quà nhẹ. Ngủ trưa dậy, tối khuya trước khi đi ngủ. Không ai khai tâm chén rượu lúc ăn phở bát. Thịt bò chín từng tảng, cũng chưa rạch ròi mấy chỗ nạm, gầu, mỡ hay nhừ. Trong cái bát chiết yêu loe miệng thắt đáy, nước dùng bốc khói mà trong như nước mưa li ti nổi chút váng mỡ vàng, lơ thơ mấy lát hành hoa, rau mùi. Làm bát nào, thịt thái bát ấy. Đảo phở, bánh chồi lên quá, bánh chương, ăn phải bỏ dở. Nhưng đạo ăn phở của Nguyễn Tuân có cách riêng.

Trong lòng và vỉa hè ngã sáu quang đãng cứ khoảng mười giờ tối trở đi mới lập loè hàng quán. Những tối thứ bảy, từ đầu Hàng Đào xuống Tràng Thi, đến tận chợ Đuổi, mọi ngã ba ngã bảy đều kê bục, cắm cờ. Các đoàn văn công nhảy xạp ràm rạp. Tiếng Trần Chất hát Chiếc khăn piêu đến đinh tai trong loa. Người xem chen chúc lúc ấy mới vãn. Đội quân cảnh đeo băng đỏ đã bắt đầu đi tuần đêm thiết quân luật. Các gánh lục tào xá cháo gà phải hai ba giờ sáng mới hết hàng. Đã quảy về còn có người gọi theo. Bình yên, chẳng ai nhớ thành phố hãy còn phải quản trị theo chế độ quân sự. Dọn hàng quá khuya đã thành lệ.

Khi có hàng quà, những ngã ba đã văng vắng lại hiện ra bộ mặt khác. Chốc chốc, thong thả qua một xe đạp lênh khênh, tiếng vòng nan hoa quay gió vù vù. Cái xe trâu Trung Quốc nặng như cùm được người ta vác từ chiến khu Thái Nguyên Việt Bắc về. Gánh cháo gà bác Chữ đã dênh hẳn xuống mặt đường nhựa. Chiếc chậu nhôm đựng nước, cậu con trai thả chồng bát vào chậu rồi nhặt ra từng cái, khăn lau miết quanh miệng chiếc bát rếch của những khách ăn mở hàng. Rồi bác Chữ thừ ra. Như còn tiếc đám múa xạp lúc nãy hay sao. Bác Chữ cầm chiếc ống nứa thổi pho pho vào cửa lò mới được cời, mẩu củi hồng rực.

Rồi lại quay ra, ngồi lên bó củi, một tay đấm lưng, tay kia gõ cái ống nứa giả vờ điểm tiếng róc phách, chốc lại tom chát đánh nhịp xuống thành thùng bát, miệng ư ừ giọng mũi như rên :

Nam nhi đứng ở trong trời đất

Quyết ăn chơi cho đủ mùi đời

Sự cùng thông bĩ thái tự trời

Sông có khúc con người có lúc...

Bộ quần áo nâu dày mo nang dưới ánh ngọn điện chao lắc lư trên dây giữa đường. Mặt nhăn nhó đăm đăm, chẳng biết đương phởn hay buồn nỗi hóng khách. Chốc lại cầm ống nứa thổi bếp, xong lại rền rĩ: Nam nhi đứng ở.... Tôi không trông rõ thật mặt cái bác cháo gà Chữ ấy ban ngày bao giờ. Như người với ma, nửa đêm đến rạng sáng thì lặn. Bác Chữ nhìn hò háy trước ánh lửa, mắt ấy không viền vải tây điều tất cũng lông quặm. Dần dần người ngợm ở đâu cứ lẩn thẩn ra, như cỗ tam cúc phải đủ xe pháo mã với năm quân tốt hỉn. Gánh lục tào xá lù lù đến ghé cạnh. Cái ông chè đậu xanh lục tào xá thoạt hiện ra thật oai. Như đức Quan Ngài hồi tiền nhật còn ở ẩn kết nghĩa với ông cháo gà Lưu Bị dưới gốc dâu cây sữa xoè tán lá ba tầng ba lọng vàng điềm về sau làm vua. Lão râu đen dài, trán nhẵn hói bóng lên nửa đầu, khi chưa gặp thời thì quảy hàng mà thôi. Nhưng ngắm kỹ, chưa chắc lão đã bằng tuổi tôi băm lăm lúc ấy. Có lẽ chỉ mới năm trước còn thói quen nuôi râu giả già để trốn quân dịch, nhiều người mắt đảo như chớp, nhưng râu ria lõng thõng.

áp chân tường số nhà 81, ông hàng cà phê bít tất. Cũng là trông hình thù mà tưởng ra, cà phê pha vào ấm nhôm, mảnh vải lọc thõng xuống như chiếc bít tất nâu. Ngọn đèn hoa kỳ lom đom giữa mặt chõng tre, ngổn ngang mấy cái ghế con đặt quanh. Khách ngồi xuống, trông lên mới thấy mặt ông hàng lom khom, bóng loáng nắng gió đồng chiêm. Bộ quần áo nâu non nhờ nhếch, dáng ngơ ngơ như đương lẩm nhẩm ai trả tiền, ai lỉnh mất. Nguyễn Tuân không thích cái cà phê hâm nóng đầu đường thế này. Nhưng vẫn thường ghé xe đạp dựng lên gốc cây xà cừ. Không biết có phải chỉ bởi thói quen xưa cũ cứ tối tối, tôi lại rước tôi ra đường!. Những đêm gió lùa rào rạt mặt nhựa, nhồi thêm thuốc vào tẩu, ngồi tránh vào bên gốc xà cừ gồ ghề - Nguyễn không chịu được mùi hoa sữa, ghét lây cả cái cây. Chén cà phê sành nâu lồi lõm, có khi chỉ nhấp một ngụm, rồi bỏ lạnh ngắt. Dường như ngại tôi có thể vì ông ấy mà áy náy không biết cà phê hạt muồng hay ngô rang.

Nguyễn Tuân nói: Mặc kệ mình. Cậu cứ việc hồi tưởng. Ông anh nghĩ tôi đương nhắm phía một kỷ niệm đâu đó nên mới ưa lai vãng tới đây, bởi biết tôi vốn cũng lạnh nhạt với cà phê. Vào quãng giữa thế kỷ này thành phố và con người đều trải nhiều quãng đời chằng mắt xích với nhau. Tôi cũng như vậy. Tôi đến cái ngã năm, ngã sáu này không phải ngẫu nhiên. Mười năm trước, ven hồ đằng kia, còn những toà biệt thự mọc lên giữa những bụi chuối um tùm. Mặt trận đã lan đến đấy, tan hoang cả. Tôi làm phóng viên của báo Cứu Quốc thường qua lại đây, khi xuống tuyến phòng thủ phía chợ Mơ. Có hôm ngủ đêm lại trong ngôi nhà bỏ không. ở chỗ chúng tôi đương ngồi, tiếng súng và người núp ngã xuống bên mỗi gốc cây. Báo Thủ Đô đăng tin chiến sĩ Nguyễn Thành ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch từ hồ Thiền Cuông tới. Quả bom đầu tiên của quân giới ta tự tạo có lẽ được tung ra ở chỗ kia đấy. Thành phố đương tổ chức tìm đào hài cốt liệt sĩ và người chết đường. Ban ngày, trên vỉa hè đặt hàng dãy những chiếc tiểu khói hương nghi ngút.

ở cái ngã sáu đường đời ấy vẫn leo lét ngọn đèn con của lão cà phê 81, ánh đèn chai và lửa bếp thùng cháo bác Chữ. Mấy cái xích lô tã chốc lại lạch xạch lượn lờ qua. Trông mặt người đạp xe cũng có thể đoán được tông tích, mỗi người đều hằn nét bộ mặt thời gian và tờ lịch hàng ngày của thành phố. Có lão râu xồm khuya về uống rượu húp cháo rồi nằm vắt người trên đệm xe, sàn xe ngủ bên gốc cây. Đấy là các ông chánh, ông lý tề vừa chạy Tây càn, vừa sợ Việt Minh trả thù đã bỏ các vùng trắng ven nội vào đây. Đám cơ sở ta hốt chết trốn vào thành, trẻ hơn và đỡ lầm lì, có thể lại công tác bí mật, không ác ôn như mấy lão xích lô râu rậm kia. Nguyễn Tuân bảo: Cậu có để ý đường phố bên Bắc Kinh lúc gần sáng, những xe la, xe lừa bánh gỗ cao lênh khênh, những lão đánh xe đầu hói như quả dưa hấu ngồi ngất ngưởng trên đống củ cải, vẫn oai phong chẳng khác Tưởng Giới Thạch, Uổng Tinh Vệ thất thế!'.

Tôi bàn theo:

- Lão xế lô, lão lục tào xá này nhất định là tề ngụy cũ. Cả lão cà phê bít tất, lão cháo gà dấm dớ thế nhưng trông tay thoăn thoắt nhặt tiền, xếp tiền thế kia đủ biết.

Nguyễn Tuân hỏi:

- Có nhớ Két không?

- Tay Két trinh sát tiểu đoàn 54?

- Cứ ngồi đây mình lại nhớ nó. Không hiểu sao.

Khói thuốc trong nõ tẩu phầm phập bốc xanh trắng um lên.

Thì ra, ở cái đầu đường đêm hôm chẳng thú vị mấy chút, chính Nguyễn Tuân mới đương hồi tưởng. ở mỗi cái cùng trông thấy, nhưng từng người lại ngờ khác nhau. Thế nào mà ở đây Nguyễn Tuân lại nhớ tới Két chiến dịch sông Thao mùa hạ 1949. Chập tối ấy, bộ đội qua sông xuống đò bến đền Đông Cuông gần Mậu A, rồi hành quân suốt đêm vào hậu địch để kịp chiều hôm sau đánh đồn Đại Bục. Tình cờ, chúng tôi gặp lại Két ở Mậu A, Nguyễn Tuân quen Két của Trung đoàn Thủ đô. Chiến dịch ấy, trung đội trưởng trinh sát Két đã hy sinh, nằm lại bờ bên kia sông Thao.

Đi và đi thực và mộng cả đời Nguyễn Tuân. Làm thế nào đi được, chỉ cất đi được. Năm 1937, Nguyễn Tuân ra Hương Cảng làm tài tử màn bạc. Phim truyện Việt Nam, chủ Trung Quốc thuê một số người ở Hà Nội sang đóng. Tôi đã xem Cánh đồng ma ở rạp Hiệp Thành phố Hàng Bạc - rạp chèo cải lương, thỉnh thoảng chiếu phim phong thần, kiếm hiệp bán vé một hào đồng hạng. Phim Cánh đồng ma đầu Ngô mình Sở. Nguyễn Tuân đóng một vai phụ - có thể lôi người đi ngoài đường vào sắm vai cũng được, đấy là người y tá mặc áo lui trắng, nâng đầu cáng thương, lừ lừ qua ống kính chớp nhoáng một hai giây. Có thế thôi, mà Nguyễn Tuân lặn lội sang Hương Cảng trong lúc năm hết tết đến.

Cũng không phải chơi bời đua đả. Đám hổ lốn đóng phim còn lục đục lừa nhau, chửi bới nhau vì các chủ phim tranh nhau xé đám phu mộ đóng phim này đã làm thêm phim Trận phong ba tồi quá gửi về nước tranh khách trước nhưng không có người xem. Nguyễn Tuân ở trong đám phu đóng một phim. Cũng không ăn cánh với ai. Bà phô tô Phú ho lao gày rạc dâm đãng đến quái dị, chùm trò Đàm Quang Thiện và Nguyễn Doãn Vượng, điểm mặt cũng không phải ai tri âm tri kỷ khiến Nguyễn Tuân phải đắm đuối bỗng dưng lênh đênh đi. Mà cái thúc giục vẫn là những cơn đói đi của mình. Không khó không dễ, không biết ai, chỉ biết một mình. Nguyễn Tuân muốn đến Hương Cảng, nặng nề và nhẹ nhàng, thế thôi. Trong đêm trừ tịch ở hòn đảo phồn hoa nhất châu á, hứng thú và buồn với hồn cốt những trang bút ký Một chuyến đi, chỉ có tâm sự ấy đã giục giã nhiều.

Một đời ao ước phương trời với một cung cách đi. Trong tiểu thuyết Thiếu quê hương, cả một chương mười mấy trang về vùng than với những cảng Rơđông, cửa Điền Công, những cơn gió ngoài vịnh vào đen nhuyễn màu than trùm lên phố biển Hòn Gai. Hồi ấy, Mộng Tuyết - Đông Hồ trong Hà Tiên ra chơi Hà Nội. Hôm về, Nguyễn Tuân tiễn ngoài ga Hàng Cỏ. Nguyễn Tuân có viết về cuộc tiễn biệt ấy trên báo Bạn Đường ở Thanh Hoá, đã cười tiên sinh Đông Hồ, tàu sắp chạy, mà vẫn cùng bạn bè lắc lư ngâm vịnh thù tạc suông không có chén. Còn cô Mộng Tuyết thì lại khéo tưởng tượng ra như trông thấy con người ấy hôm nào mới ở vùng gió than, bão than còn cuốn theo đến tận sân ga. Trên khuôn mặt cháy nắng của người lữ hành, hai lỗ mũi cũng xám đen những than là than.

Cô con gái làm thơ ở Phương Thành nhìn Nguyễn mà cảm động, bởi từ xưa kia cô đã ước mơ thèm một hơi gió lạ, khát thở một bầu không khí trời, nước lênh đênh hàng tháng trên biển cả để rồi đổ bộ trên một bến bờ xa. Trải qua khắp kinh tuyến, vĩ tuyến của địa cầu, để đi tới chỗ bốn mùa tuyết rơi, băng đóng đến vùng sa mạc gió nắng lửa than, trèo tuyết núi Hy Mã Lạp Sơn lạnh cóng và tắm nước sông Hằng, vượt biển Đại Tây dương, qua Hy Lạp, rồi trên lưng lạc đà xem Kim Tự Tháp rồi trở lại thưởng hoa anh đào trong một ngày hội ở Nhật Bản. Ngày hè thì lưu liên các vùng bãi biển ý Đại Lợi. Thu về thì ngồi xem lá vàng rụng theo các pho tượng của Lúc Xem Bua. Bao nhiêu tiếng gọi của Cao Rộng Xa Xăm đã thúc giục ám ảnh mãi lòng thích sống một cuộc đời bấp bênh có nhiều xê dịch, biến đổi của thiếu nữ. Cô thiếu nữ mà ngày còn thơ đã có ý muốn đi tận chân trời. Thuyền khách sông Hương đêm thất tịch. Lạnh lùng trăng nước khúc nam ai... mà ai cảm chung một mối tâm sự não ruột của khách Giang Châu Tư Mã (Trạnh niềm nhớ cảnh giang hồ, bút ký, Phương Thành một ngày thu muộn 1939 của Mộng Tuyết).

Cũng một nòi tình mơ màng như cô Mộng Tuyết, chỉ có rày ước mai ao, thật ra Nguyễn Tuân chưa đi đường bộ quá Mông Dương và đường nước chưa ra khỏi cửa Điền Công tới Móng Cái bao giờ. Phải đến hơn hai mươi năm sau viết trang sách về vùng than, Nguyễn Tuân mới tới Hải Ninh lần đầu, cùng đi với Nguyên Hồng, Vạn Lịch và tôi. Tưởng như khó tin, mà sự thật như thế. Thiên bút ký mênh mang sóng biển Cửa Đại kia, đọc kỹ thì nhận ra phải nhờ tác giả có người nhà ở Cửa Đại, mới đến được. Ngày ấy, Nguyễn Tuân đã viết một truyện ngắn đăng báo Tiểu thuyết Thứ bảy, trên đề: Tặng ông Đỗ Ngọc Côn, nhà máy đèn Móng Cái. Khi này, Phạm Duy làm thợ phụ nhà máy điện, ở nhờ ông Đỗ Ngọc Côn (Phạm Duy: Hồi ký thời cách mạng, kháng chiến - Californie, 1989). Mà ông bạn làm nhà máy đèn Móng Cái ở phố chính Clamoocgăng ấy cũng chưa lần nào gửi tiền tàu xe rủ Nguyễn Tuân ra chơi thưởng thức cái hiu hắt nơi địa đầu. Hàng chữ đề tặng chỉ là một ao ước. Mà phải đến dịp nhờ xe của cán bộ Vạn Lịch, mới ra được bãi Trà Cổ, xuống lái thán ngược sông Mang lên cầu Bắc Luân - Móng Cái, đến Thán Pún - sự bôn tẩu của chúng tôi có công lệnh và dấu đóng giấy đi đường cẩn thận.

Cầu kỳ và khó tính cũng là tính riêng trong cái thích thú ham đi mà không được đi. ở phương Đông còn có cái chơi đi mà không đi, ngồi nhà ngắm tranh sơn thuỷ, nuôi muông thú lạ, uốn cây, gẩy cái lá trúc rụng xuống thế giới bể nước nho nhỏ rêu nổi hòn đá cây si bên hòn non bộ có ngôi chùa mái cong, có chú tiều vác củi qua cầu. Cho thoả cái tưởng tượng mà thôi.

Nguyễn Tuân ở vế người thứ nhất, không phải các ông ngồi rung đùi chơi trời đất thu nhỏ vào cái bể sành và núi non bộ. Mà đôi khi chơi cây cảnh, một chút chắp nối. Ơ hờ, hờn dỗi, bực bội, nhớ thương không đâu gửi vào một nhánh địa lan cánh tím, một con chó đá canh cửa, một quả phật thủ, một hòn cuội suối, một chiếc gối sứ mới đây được bưng ra từ một tiệm hút chợ Cũ Sài Gòn. Nguyễn Tuân chỉ thích đi, nhưng trong mọi sửa soạn còn kỹ lưỡng hơn đi. Mùa hạ năm 1949, Nguyễn Tuân và tôi theo tiểu đoàn 54 Trung đoàn Thủ đô tiến quân vào mở chiến dịch tiêu diệt một chuỗi cứ điểm hành lang bờ sông Thao án ngữ Tây Bắc, các đồn Đại Bục, Đại Phác, Khe Pịa, Ngòi Mác, Mã Yên Sơn lên đến đồn tiểu khu Phố Ràng. Chuyến áy, tôi đi cùng Nguyễn Tuân - được làm quen với Nguyễn chuyến đi đầu tiên. Tôi đã ghi lại:

Nguyễn Tuân xắm nắm quanh cái bi đông nước bọc dạ xanh của anh. Lần đầu tiên ở mặt trận, đi lâu với Nguyễn, tôi mới thấy quá nhiều đức tính của người lên đường. Khoẻ, vững, hành trang không thừa, cũng không thiếu một cái gì. Trên lưng, gọn gàng chiếc ba lô Nhật. Một sợi dây nhỏ cũng có chỗ để rồi dùng đến sợi dây. Cuối cùng, mọi thứ giấy má có thể lộ liễu của riêng mình đều phải để lại căn cứ, không được đem theo vào vùng địch. Chỉ một cuốn sổ nhỏ, cái áo mưa, bỏ vào ba lô vừa phải. Một bao cơm nắm, thêm cái thắt lưng lương khô cuốn chéo ngang mình. Đầy bi đông nước, Nguyễn Tuân đã cẩn thận buộc ghì vào thắt lưng cho khi bước đỡ xóc (Ngược sông Thao, phóng sự, Nhà xuất bản Cứu Quốc 1949).

Trong nghề đi - nghề, chứ sao, cẩn thận đã thành thói quen và cầu kỳ đến đam mê. Sửa soạn cũng là khai thác để thưởng thức được chu đáo. Không phải cứ đứng đắn và khôi hài như nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. ở trường lục quân bên Vân Nam về, anh Khoát dạy tôi thuật đi đường giữ được dai sức của Bát lộ quân. Nhanh mười bước lại thong thả ba bước, cứ thế cả ngày chân không biết mỏi. Cẩn thận, mọi thứ trên mình và trong ba lô đều gọi thành con số. Ví như cả thảy đồ đạc có mười lăm thứ. Sáng ra, trước khi đi đếm chỉ có mười bốn. Thế là còn thiếu một. Rõ thật buồn cười, nhưng nếu cười, anh Khoát không bằng lòng. Mọi cẩn thận của Nguyễn Tuân thiết thực hơn, nhưng không thành con số như trên. Ngòi bút chì gài trên túi áo, ngồi đọc cũng ghi lên sách. Không biết đến thế kỷ nào có cái hơn, chứ bút chì trên giấy thì không bao giờ phai. Một tiệp bìa cứng với cái bút chì. Lắm lúc thấy ông bạn đường chịu khó đến vậy, mình vừa để ý, vừa thích vừa ngán ngẩm cho những khó nhọc của nghề đi không biết thế nào là cùng. Lo cho việc đi là yêu đi và biết hưởng thụ đi. Mải mê quên ngày tháng, nhưng tính đếm sửa soạn cho mải mê thì phải nhớ từng ly. Cái phóng khoáng của ông ấy không lẫn với buông tuồng, cẩu thả.

Mà sự chuẩn bị tỉ mẩn của con người muốn khi ta chết đi, da ta được thuộc làm cái va ly cũng khá khác thường. Năm 1961, Nguyễn Tuân lên Hà Giang dự khánh thành đường Bắc Quang - Hoàng Su Phì. Hoà bình thảnh thơi rồi, nhưng vẫn lại là về rừng, lại đeo cái ba lô Nhật với những sợi dây dù Mỹ buộc màn, không quên chiếc bi đông chiến dịch sông Thao hơn mười năm trước. Giữa đám các thứ lỉnh kỉnh, một xếp giấy bản lau chén bát, một quyển sách đang đọc và mấy thẻ hương mua thửa ở hàng quen cửa chợ Đồng Xuân. Khánh thành đường mới trên rừng thì nhà khách cũng là mấy cái lán cắm ven đường. Hương chống ẩm, chống muỗi đây. Hương chống muỗi, chứ Nguyễn Tuân kỵ mùi tỏi và không chịu được mùi thơm ở các thứ hương ấn-độ cứ thoang thoảng rờn rợn như có ma lẩn quất trong nhà.

Quả nhiên là những nơi ngả lưng dã chiến ở Hoàng Su Phì khách nghỉ đêm ở các lán dân công, nền đất và phên vách mới được sửa sang lại đôi chút. Tối đến, mùi hương ở lán ông khách văn ngào ngạt ra. Vù Mí Kẻ, bí thư huyện Đồng Văn hỏi nhỏ tôi:

- Nó cúng ma hả?

Làm thế nào cắt nghĩa cho ông bạn người Mông này hiểu cho cái thú chơi sưởi mùi hương như thế. Mới như hôm qua, Vù Mí Kẻ năm trước lần đầu về Hà Nội. Nhiêu khê quá, xe liên vận Đồng Văn xuống Hà Giang, lại chuyển ô-tô khác về Phú Thọ. ở đấy, lên tàu hoả. Đoàn tàu xuôi về đến ga Hàng Cỏ, vẫn ngồi thản nhiên ngắm ra phố phường, đường xá, nhà cửa ngoài cửa toa thấy mãi chưa tới Hà Nội. Khi tàu lên đến Bắc Giang mới hỏi ra.

Tôi bảo Vù Mí Kẻ:

- Không phải bác ấy cúng ma. Bác ấy đốt hương cho ấm như ta ngồi sưởi lửa ở trên quê, lại chết được muỗi. Mùi hương sưởi thơm cũng như khói củi gỗ thông ấy mà.

Có lần, Vù Mí Kẻ về Hà Nội, đến chơi uống rượu nhà Nguyễn Tuân. Tôi nhắc lại chuyện hương sưởi ấm ở Hoàng Su Phì. Vù Mí Kẻ trả lời: Bây giờ nói thế thì mình hiểu ngay.

Hồi ấy, Vù Mí Kẻ không tin câu cắt nghĩa của tôi. Có những việc...

Nhưng thôi, lại trở về chiến dịch sông Thao mùa hạ 1949. Nguyễn Tuân gặp lại Két - người chiến sĩ trinh sát mà Nguyễn Tuân vừa hỏi tôi có nhớ không, lúc nửa đêm giữa cái ngã sáu bên gốc cây sữa, cây xà cừ này.

Lần đầu tiên, quân chủ lực mở trận đánh phối hợp lớn, mặt trận dài suốt bên kia sông Hồng ở Yên Bái vắt sang sông Chảy, lên Lào Cai. Chúng tôi theo tiểu đoàn 54, đơn vị chủ công của Trung đoàn, Nguyễn Tuân bỗng gặp lại Két, không ngờ, khi qua sông.

Chập tối, tập kết ở Mậu A. Các chiến sĩ quần áo bà ba đen như chúng tôi. Bộ đội được phát như thế nào thì mặc nấy, áo nâu, áo đen, có khi nhuộm lá cơi, nhuộm pin xanh sẫm, thâm xịt. Đã xế chiều, người ngồi đen ngòm sân đền Đông Cuông. Trung đội trưởng Két trong đám chiến sĩ, người hầu bàn nhà hàng Thuỷ Tạ Bờ Hồ năm trước, bây giờ là trung đội trưởng trinh sát đã trông thấy cái ông nhà văn hay uống uýt ky, quăng trô xếch ở Thuỷ Tạ lúc chặp tối sao ông ấy lại lên tận đây thế này. Mà đội mũ vải ka ki xám, mặt lành lạnh như phái viên cấp trên xuống. Két đến trước mặt Nguyễn Tuân:

- Ông...

Nguyễn Tuân giơ cái gậy tre, nắm tay Két.

- Anh Két! Đồng chí Két! Tôi cũng sang sông đêm nay. Đồng chí ở 54 à?

- Vâng ạ.

Chỉ một thoáng, mọi người hối hả về sửa soạn. Suốt chặng đường vào sâu trong kia, Nguyễn Tuân mong gặp lại Két. Như còn bao nhiêu chuyện máy năm qua chưa nói hết. Suốt đêm ấy, mù mịt bóng sương, hơi nước và lầy lội, hầm hập. Liên tiếp, từng chiếc thúng, chiếc tam bản của các vạn chài cả mấy tỉnh từ Vĩnh Yên, Phú Thọ lên Yên Bái đưa bộ đội qua sông. Đi suốt đến sắp sáng, qua mấy làng tề gần đồn Đại Bục, trông lên quả đồi đồn Tây lù lù đây rồi mà tiểu đoàn bộ với các đơn vị trực thuộc vẫn loanh quanh lố nhố dưới ruộng chưa tìm ra nơi ém quân. Du kích địa phương dẫn lạc đường! Chúng tôi lõm bõm trên những cánh đồng nước. Sau lưng, anh nuôi quảy nồi chảo va vào nhau lông chông, như nhạc ngựa đồn Tây ra đuổi.

Ban chính trị trung đoàn có nhạc sĩ Lương Ngọc Trác và cả hai người Pháp hàng binh thu được trong trận tiểu đoàn 54 luồn sâu tập kích đồn Bá Giang ở chỗ Phùng ra cửa sông Hát. Hai lính Pháp đã lái xe vận tải chạy ra giữa đồng. Bây giờ họ làm công tác địch vận. Ra trận, mỗi gã đeo một cái loa giấy bìa các tông dài ngoằng như chiếc sừng trâu. Mấy hôm trước đóng quân tập kết ở bàn đạp. Mỗi ngày mổ lợn, các cu cậu được anh em thương tẩm bổ thêm cho miếng gan, quả tim ngoài xuất ăn. Hành quân ban ngày từ Phú Thọ qua dọc sông lên, dưới mưa rào vẫn đi. Hai người Pháp gày nhẳng, tóp lại, cao lêu đêu, tóc ướt bết trán, vai nhô lên, cung cúc như con gà chạy mưa.

Nhưng rồi tất cả cũng lên được một quả đồi nứa um tùm, trước khi trời rạng. Vừa tới lưng dốc đã ran tiếng súng dưới ruộng. Tiếng nổ lúc sáng bạch nghe toác toác như cháy rừng nứa. Có người làng ra làm đồng sớm thấy nhiều vết chân lạ dẫm nát lúa mới cấy. Sợ quá, về bẩm chánh tổng, chánh tổng lên báo đồn. Quan đồn đoán đêm qua có du kích về. Sắp đến ngày 19 tháng 5 kỷ niệm của Việt Minh. Đồn cho một tiểu đội lính Thái ra sục các đồi. Bọn lính Thái với người cai Tây cởi trần, xách súng, bắn vào bụi rậm rồi hô nhau xông lên. Thế nào mà chúng nó lại lên đúng đồi ban chỉ huy tiểu đoàn và cả ban chỉ huy Mặt trận.

Tiểu đoàn trưởng Vũ Lăng cho hai tiểu đội xuống chặn. Lệnh: Tuyệt đối không lộ hoả lực mạnh, chỉ được bắn súng trường, phát một. Nếu giáp lá cà, đánh dao găm.

Chúng tôi ngồi xổm cạnh bụi tre xế đỉnh đồi. Ngổn ngang gồng gánh, những càng chân SKG - súng không giật, từng bộ phận súng cối chưa lắp và những đùm lá cọ trong gói từng chồng truyền đơn tiếng Pháp, tiếng Thái. Hai người pháp địch vận mắt xanh nhờ đứng chơ vơ như hai cái cột. Giữa im lặng thấp thỏm, không biết bao nhiêu con người núp trong cỏ, trong bóng lá những quả đồi có thể sắp nổ tung trong ánh nắng. Nguyễn Tuân chống hai tay lên chiếc gậy tre, lom khom nhìn xuống đất. Tôi ngồi không yên chỗ, lại nhấp nhỏm đứng. Quái đản, Tây sắp đánh lên đây mà lại có hai thằng Tây lù lù cạnh mình thế này! Đại đoàn phó Cao Văn Khánh - chỉ huy phó chiến dịch đến bên, nói nho nhỏ, trấn an chúng tôi:

- Đạn không bao giờ dính tôi! Các anh ngồi yên đây, không có gì phải lo.

Câu nói nửa đùa nửa thật về cái mệnh con người. Nguyễn Tuân đã gặp Cao Văn Khánh trong chuyến đi Nam Trung bộ giữa năm 1946. Cũng năm ấy tôi vào mặt trận phía Nam cùng Cao Văn Khánh và Thu Sơn đã làm một chuyến đi ngựa từ Tuy Hoà qua Củng Sơn lên tiền tuyến Cheo Reo. Đã biết nhau và câu nói thân mật của con người trải trận mạc có tác động tâm lý. Tôi cảm thấy thánh thơi hơn, không bị hút vào sự im lặng ghê rợn. Chỉ còn thấy hai người hàng binh Pháp lớ rớ loay hoay cạnh bụi tre. Họ cũng tự biết chớ có loanh quanh đi lại. Chiếc loa giấy khoác bên nách chốc chốc lại đổi bên lắc một cái. Những con ruồi vàng bụng mọng máu to thô lố ở ống chân lông lá lăn xuống. Ruồi vàng, bọ chó, gió Than Uyên...

Bỗng súng rộ lên một chặp dưới lưng đồi rồi lại tắt ngay. Trong im lặng, liên lạc lên báo ta đã tiếp cận đâm chết một thằng. Tiếng nổ, đấy là chúng nó bắn chặn để khiêng xác thằng chết về. Rồi cứ im im thế đến quá trưa. Vẫn quạnh như tờ (sau mới biết trong đồn vẫn đoán là sắp đến ngày kỷ niệm sinh nhật Hồ Chí Minh, du kích đến quấy). Đồn Tây ra lệnh phòng thủ và canh gác nghiêm ngặt hơn. Trèo lên cây đồi bên này, tôi trông rõ những người vác hòm đạn vào lô cốt như kiến tha mồi. Chúng tôi lo bữa ăn cho chắc dạ, ăn cơm nắm, thịt rang, các bếp đã chuẩn bị từ chiều qua.

Mặt trời đã ngả vàng khè trong làn sương các khe núi dâng lên. Năm giờ chiều, giờ này máy bay dưới xuôi không lên nữa. Một tiếng ầm, vang bốn phía. Đại bác ta nã thẳng nổ xanh lè bên lô cốt. Nhưng chỉ đoàng đoàng được vài quả, nền đặt pháo của ta bị lún, pháo câm. Một khẩu súng, ngay phát đầu đã văng cả chốt đuôi, suýt chết thằng Tây địch vận ngồi đằng sau. Nhưng các khẩu cối thì nhả đạn đều đều, tiếng rền liên tiếp. Lương Ngọc Trác ngồi trên cây nhìn sang phía bên trái, kêu lên: Bên Đại Phác nổ súng rồi.

Bộ binh xông lên đồn, lúc ấy trời đã tối hẳn. Khoảng gần tám giờ tối chúng tôi vào được sân đồn Đại Bục, cái chỗ lúc trưa trông sang thấy lính Tây, lính Thái trần trùng trục vác hòm đạn. Bóng tối và khói mù mịt. Bờ rào dây thép gai tan tác. Thằng đồn Tây mặc váy áo giả làm đàn bà Thái chết dưới chân một luỹ đất. Nhưng trên cái lô cốt cao cắm cờ tam tài giữa sân, đạn vẫn nã xuống. Những mũi xung kích chiến sĩ cầm mác dạt được vào núp ngay bên bờ tường lô cốt, chặn bọn trên chòi thoát xuống. Chúng tôi vào làng tề cạnh cổng đồn đương đùng đùng cháy. Không biết lửa du kích chiếm làng đốt hay đạn trên lô cốt bắn xuống. Chiếm được đồn rồi mà khắp nơi cứ loạn xạ.

Cái trống nhà chánh tổng treo đầu hồi ngoài sàn không biết ai đã khiêng ra vứt lăn lóc đấy. Một đám vác xác người chạy qua. Nguyễn Tuân, quần áo đen như hung thần hiện lên, tay cầm dùi trống, mấy chiến sĩ quay ngược nện báng súng vào mặt trống. Cả đám người đánh trống ngũ liên thúc trận hạ lô cốt cuối cùng lừng lững trước mặt. Mấy tên lính Thái gan lỳ vẫn dai dẳng bắn xuống phát một. Nhiều chiến sĩ ta bị đạn tỉa chết. Một tổ tiêm kích bắc thang trèo lên thả lựu đạn vào lỗ châu mai. Im lặng hết trong lô cất. Đã hơn tám giờ tối. Những cái đầu lâu được ném từ trên lô cốt xuống. ở tấm ảnh Hạ đồn Đại Bục trong pho sử Quân tiên phong, giữa hàng quân ta có hai chỗ chấm trắng trên đầu gậy. Đấy là vết hai thủ cấp hai thằng trên lô cất cố thủ.

Nửa đêm, cả ban chỉ huy lên một cái nhà sàn còn sót lại trong xóm xung quanh vẫn cháy rực. Chiếc dùi trống thò một đầu trên ba lô Nguyễn Tuân. Cạnh bếp, một thùng rượu vang to bằng cái vại sành bên gốc cau đã toang một mặt ván. Tiểu đoàn trưởng Vũ Lăng, mới chiều hôm qua ở bên kia sông, mặt mắt còn phẳng phiu, bây giờ hàng râu quai nón đã trổ đen ngòm. Tiểu đoàn trưởng giơ bát rượu vang: Đúng hẹn với các anh nhé. Chúng ta vào uống rượu vang giữa đồn Đại Bục. Nào, các anh? Mời ông Nguyễn? Một lúc, Nguyễn và tôi nâng hai bát trước mặt, nhưng không mừng đụng cốc. Chúng tôi vừa được tin về Két, Két đã ngã xuống ngoài lô cốt. Chúng tôi uống im lặng viếng hương hồn người bồi bàn chiến sĩ trinh sát trung đội trưởng Két.

Mấy hôm sau chiến dịch chuyển sang sông Chảy, Nguyễn Tuân vẫn ở lại với 54. Tôi theo đội võ trang tuyên truyền lên các làng Mán Sừng trên rặng núi Voi rồi xuống với Trần Đăng lên mặt trận Phố Ràng.



Bao nhiêu lâu rồi, chúng tôi vẫn thường có dịp thăm hỏi 54, tiểu đoàn em nuôi. Trú quân ở Kép Le, về Lai Xá, ở Hoà Lạc. Luyện quân ở Định Hóa, lửa trại đêm Hà Nội giữa rừng. Chiến dịch giải phóng Tây Bắc 1952. Lại mới năm trước, cuộc tiễn đưa đơn vị tiến vào đánh bao vây Khe Sanh. Lần lên với đơn vị đóng quân trên Hoà Lạc ở Sơn Tây, thoắt đấy mà ba mươi năm đã qua, cả đoàn người chiến dịch sông Thao bấy giờ còn lại mỗi một bộ đội Sửu thợ rèn, tự vệ Ô Cầu Dền, nay là chính trị viên trung đoàn.

Cái tình với chiến sĩ và với trung đoàn Thủ đô của Nguyễn Tuân tuyệt nhiên không phải ngẫu nhiên. ấy là thói quen đến nơi đến chốn, chăm chút, ý nghĩa của một kỷ niệm. Người con trai lớn của Nguyễn Tuân đã là một trong những cán bộ chỉ huy đầu tiên của đơn vị từ sáu mươi ngày đêm chiến đấu trong lòng Hà Nội ở Liên khu I. Có khi, đi chơi với Nguyễn Tuân và Xuân Trường, người con trai ấy bây giờ là một tướng lĩnh trong quân đội. Chúng tôi về quê Nguyễn Huy Tưởng ở Dục Tú. Ba cái xe đạp thong dong sang Đông Anh. Thời cụ tú Hải Văn bố dắt con vào nhà ả đào Hàng Giấy, đến thời bác Nguyễn, khác mà không khác, cái tình vẫn một cha con ấy. Cũng như khi gặp lại Két trên bến Mậu A. Ông khách kỳ lạ để nhớ vẫn thường khai vị bằng rượu mạnh.

Hai người cũng vào Đại Bục nhưng không bao giờ còn gặp lại người nhà bàn cũ ấy nữa. Mỗi khi ngồi trông ra sóng hồ lăn tăn lẫn bóng liễu, bóng chiều, bóng bia hơi và sáng đèn quanh chân cột sàn nhà Thuỷ Tạ, lại nhớ. Thế mà là thật, những gắn bó xưa sau. Vui chuyện, Nguyễn Tuân hay nói một câu, một câu nói đi nói lại:

- ừ! Phải viết chuyện ấy rồi phải viết.

Những từng trải và kỷ niệm cả đời thúc giục, đã viết ra đấy, nhưng chưa được mấy. Mỗi ngày qua trở thành một thấm thía, khi chợt nhớ, đêm nay ngồi quán cóc ông lão 81 lại nhớ người hầu bàn nhà Thuỷ Tạ Bờ Hồ xưa kia.

Những cái thích và vui ẩm thực của Nguyễn Tuân không chỉ dễ dãi vì miếng ăn miếng uống sang trọng, mà phải là hợp khẩu vị, ngon theo ý mình. Lọ muối vừng, hộp nước mắm chưng, cái gác-măng-dê trữ trên ba lô, thời chiến và thời bình, vẫn thế. Nguyễn Tuân sành ăn và kỹ tính tuyệt nhiên không xô bồ. Nắng oi quá, nhắm rượu mướp đắng giải nhiệt, nhưng không xơi mướp đắng mắm tôm như người ta. Không bao giờ đụng đến mắm tôm chợ. Ăn tinh đến thế, mà lại kỵ tỏi, mùi tỏi.

Tôi vừa đến, mới ngồi đã bị hỏi:

- Có phải cậu vừa ăn tỏi?

Nếu tôi ừ chắc Nguyễn Tuân sẽ bảo tôi đi đâu mai hãy trở lại. Tôi đáp:

- Không phải.

Cái mũi thính có vẻ bớt khó tính với tôi, nhưng lại lẩm bẩm:

- ở nhà dưới lùa lên?

Sợ mùi tỏi, ông voi to đùng sợ con kiến. Cũng lạ, cái lạ mà bình thường. Bài bút ký Phở đã đưa tác giả vào hàng những tay cực thạo món quà này. ít ai biết Nguyễn Tuân chỉ ăn một thứ phở, phở chín, phở thịt bò chín. Không đụng đũa vào bất cứ thứ phở nào khác. Thịt bò chín, nạm hay mỡ, bánh vừa phải không nẫu vồng lên, không thái săn và thái máy như Sài Gòn mà Nguyễn Tuân gọi đùa là vằn thắn phở. Xúc bánh xong, thái thịt lồi bày lên rắc hành hoa và hạt tiêu - không ớt, mặc dù thích ớt cay. Ông nào phở xào, tái sách, tái dúng hay tái lăn, sốt vang lại đập quả trứng, thêm một cục mọc thịt lợn, một miếng giò lụa, hay phở thịt gà, thịt ngỗng, thịt chó rựa mận, thì tùy. Tôi không ăn phở để tẩm bổ. Lùa thật nhanh, ăn thật nóng, lên hết chất phở, thú nhất. Không hành tây, mùi tầu, húng chó, không thêm nước mắm, dấm ớt, tương ớt, không mỡ váng, không mỳ chính, cốt thưởng thức cái tinh tuý của nước dùng xương.

Tập ký Băm Sáu phố phường của Thạch Lam khen cái ngon của một hàng phở gánh đỗ cạnh cây hương trong sân nhà thương Phủ Doãn, bát phở rỏ mấy giọt cà cuống. Cả thành phố chỉ có một hàng phở cà cuống ấy. Nguyễn Tuân thường cười: cái nước chè tươi nóng bỏng môi, cái bánh đậu xanh ngọt xít cổ, lại đến phở cà cuống, cái sự thích của anh nghiện vừa buông dọc tẩu xuống ngon hay không ngon kể cũng đáng viết cho ra nhẽ.

Khoảng những năm 55, đôi lần Nguyễn Tuân còn ăn phở gánh ở tầng trệt nhà Địa ốc Ngân hàng, chỗ quán rượu Hoàng Gia cũ. Hàng phở này mở từ những năm thành phố còn bị chiếm. Rồi đến dạo quà phở thành cơm phở, người thành phở ăn phở lấy no, thì Nguyễn thôi ăn phở. Bút ký Phở cũng là vang bóng một kỷ niệm mà thôi.
 
 
http://www.vietmessenger.com/books/?source=81P7W43467D503L5W690P1K3331622P1818745W37446R5
 
Đăng nhập để trả lời
0
Dung và Quyền
 
Tô Hoài
 
Từ bữa cơm với một họa sĩ nửa mùa, một người bán hàng theo hướng đạo sinh tới những cuộc gặp lại tình cờ sau Cách mạng Tháng Tám là sự thay đổi lớn lao của từng số phận con người. Một lần nữa, người đọc lại được thưởng thức tài năng của Tô Hoài. Từ những chi tiết "chẳng có gì", tác giả đã dựng nên câu chuyện đầy ý vị.
Phố Hàng Ngang, Hàng Buồm cũng chẳng khác xưa bao nhiêu. Mặt đường, đôi chỗ vẫn cái nắp gang đậy cống ngầm còn đề tên sở thời Pháp. Không kể mấy bảng điện nhấp nháy, cái nhà tầng nông lòng đột ngột chon von lên như những đồ chơi của trẻ con. Chỉ có một cái khác. Xe đạp, xe máy liên liến khin khít đan nối nhau. Ngày xưa thì lòng đường, vỉa hè toàn những chân người đi, chân người ngược xuôi như lồng vào nhau.
Họa sĩ Ngô Thúc Dung vẽ cho báo Hà Nội Tân văn in ở phố Hàng Buồm. Anh Vũ Ngọc Phan bảo tôi: "Anh Dung tốt nghiệp số 1 Ðại học Mỹ thuật Ðông Dương, anh Nguyễn Ðỗ Cung giới thiệu làm cho báo ta đấy". Anh Phan muốn gợi sự chú ý và kính trọng của tôi. Thì ra đỗ nhất lại bạn của những Nguyễn Ðỗ Cung, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, những mét đỉnh rồi. Nguyễn Ðỗ Cung đương chùm cubít lập thể vẽ cái chân người như bắp chuối và người đi hai vai ngang như cua bò, tôi phục lắm, dẫu chẳng hiểu gì cả. Ngô Thức Dung minh họa báo, vẽ tay người to hơn đầu người. ồ, trường phái ông Cung mà. Nhưng rồi tôi thấy Dung vẽ cái mu bàn tay nào cũng tròn như quả bưởi, lại để ý Dung không vẽ cho báo nào khác ngoài báo của anh Phan. Về sau quen Dung nhiều hơn, tôi nghĩ: thằng này không biết vẽ, chẳng ai thuê.
 
Thì tôi thấy Dung cũng hết oai, Dung chỉ vừa vừa như tôi thôi. Vì, giỏi hay dốt cũng là may rủi thế nào đấy. Như ông Thịnh del chỉ có mỗi báo Tiểu thuyết Thứ Bảy mượn ông vẽ cái mặt nào cũng tréo giống nhau, thế mà ông đỗ đầu Mỹ thuật Ðông Dương, ông làm thông phán sở Canh Nông cả ngày cả tháng ngồi truyền thần phóng to con tằm, con nhộng, con bướm, cái kén. Ông Thịnh del chẳng có bức tranh nào, giới vẽ có lẽ chẳng hề biết ông là ai, mà ông có cần gì đâu.
Dung bảo tôi:
 
- Bát phố một lúc, được không?
Tôi chẳng có việc gì, để chối là không được. Chúng tôi ở nhà in đi ra và tôi hiểu bát phố là chẳng đi đâu cả, chỉ lê gót hết phố nọ sang phố kia, nhìn nghênh nhìn ngáo rồi nhìn xuống đường thấy chân người chen nhau đi qua đi lại. Người đi xem phố, người đi kiếm ăn, nhiều người quá, chỉ thấy chân, toàn người đi chân đất. Ðôi khi, người đàn bà trong làng ra kẻ chợ, có đột dép Kẻ Noi quai ngang và nếu là dân thầy thì có đôi giày vải như chúng tôi. Những người chân đất đi ngoài phố nhiều, nhớ mãi đến tận bây giờ.
 
Tôi hỏi Dung:
- Chiều rồi. Phải làm cái gì cho no bụng chứ?
- Túi tớ cạn cả có thế mới phải đi phố ăn tiệc nhìn.
- Nhịn a?
- Hôm nào có tiền thì lại ăn, ăn bù.
- Thôi được, đi với tớ.
Tôi cũng chẳng đủ tiền mua hai bát cơm úp. Tôi nói mạnh bạo vì tôi nghĩ đến Quyền. Có thể Quyền có. Chúng tôi rẽ về phố Hàng Trống. Sang phố này đã thưa những bàn chân đi. Mấy nhà bán đồ thêu ren sách cũ. Tắt qua cửa đền vào một góc phố có một gian hàng chỉ bằng sải chân. Những cái chụp đèn bày la liệt như nón úp. ở trong nhà, một thanh niên vạm vỡ sơ mi trắng cộc tay đương soi gương nắn cái múi cà vạt đen.
 
- Giới thiệu...
Quyền nói to:
- Họa sĩ Dung, quen rồi. Ðã vẽ chụp đèn cho nhà này.
- à...
Họ biết nhau, tôi nhẹ hẳn người, nói luôn:
- Ðương định đi ăn mà chưa trữ được đủ tiền.
- Có đây, có đây.
Quyền chạy sang cửa hàng bên cạnh xem nhờ đồng hồ.
- Năm rưỡi, đóng cửa được rồi.
Chúng tôi giúp Quyền vác những tấm cánh cửa lắp đóng lên kín gian hàng. Tôi hỏi khẽ Dung:
 
- Ðã cộng tác với Quyền à?
- Có một lần, đã lâu. Thằng cha nhớ dai gớm.
- Cái kiốt đằng Hàng Da của cậu mà treo bán những cái chụp đèn này cũng nên lắm.
- Có thể, có thể. Ðằng ấy bảo nó cho mượn mấy cái bày thử.
Ðã lắp cửa xong, chúng tôi ra chỗ đầu Hàng Giò, xuống dốc Hàng Kèn, tạt sang ngả hồ Thiền cuông.
 
Chỗ ấy có mấy hàng cơm, sau lưng trông xuống bãi cỏ lau. Ðằng kia là Vân Hồ, nhưng quãng nay lầy lội, phải vòng lên Thể Giao mới có lối xuống. Thành phố chưa bắt điện đến vùng đấy. Trong búi cỏ lau đen lù lù, ánh đèn ba dây, đèn hoa kỳ lốm đốm to nhỏ như những con đom đóm. Mấy quán cơm đầu ghế đón người đi làm bên ga Hàng Cỏ về các đầu Ô Thanh Nhàn, Ô Trung Hiền, đôi khi có những xe chở gỗ dưới Phà Ðen lên. ấy vậy mà hàng quán đỏ đèn suốt sáng. Bởi vì những con bạc rúc ráy trong bụi lau lần ra ăn đêm.
 
Chúng tôi cũng đã nhẵn mặt ở đây.
Thấp thoáng một cái đầu chó treo dưới mái tranh.
Tôi hỏi Quyền:
- Vào làm mấy chén mừng gặp nhau, được không?
Quyền nói:
- Không. Tớ là sì cút (*). Và tớ thương loài vật, con chó thân thiết với người nhất, tớ không ăn thịt chó.
- Thế thì ăn gì?
- Cơm, đậu rán, canh cà chua, như mọi khi. Ðược không?
Hai thằng không có tiền, thế nào mà chẳng được. Nhoáng một cái xong bữa chẳng có gì để kề cà, chúng tôi bước ra ánh điện loáng thoáng ngoài hè phố. Tôi chẳng hỏi ai, cũng không nghĩ đi đâu tối nay. Ðứng cửa sổ rạp Hiệp Thành nghe cải lương, lượn nhà thổ ngõ Yên Thái cũng chỉ nghĩ và kể ra thế thôi. Không đi đâu thì đi ngủ vậy. Có ba nơi. Về nhà tôi trên Bưởi thì xa mà đã hết tàu điện. Ðến cái kiốt của Dung ở chợ Hàng Da thì ôi thôi, khi sáng ra có thể đã gãy đầu gối. Cái kiốt bốn mặt cửa nhưng hẹp quá, đêm phải đổi hai thế nằm. Lúc thì khoanh chân, lúc thì duỗi gác hai chân lên vách. Dung thấp bé người, suốt đêm nằm khoanh hai chân, đêm nào cũng thế. Ðến nhà Quyền thì được ngự trên mảnh ván. Rộng rãi, chỉ phải cái không có màn.
 
Gian bán chụp đèn, đèn bàn, đèn treo trần cũng không phải của Quyền ông chủ. Không biết cửa hàng của ai, chắc của người nhà, Quyền trông hàng, bán hàng ghi sổ. Những khung nan, khung gỗ thợ gò, thợ tiện ở phố Hàng Tiện đem đến, Quyền dán giấy bồi, lụa hoa, lắp bật điện. Cũng không thấy chủ hàng bao giờ chỉ có mình Quyền, sáng ra xuống bờ hồ rửa mặt, còn ỉa đái chỗ nào thì tuỳ. ấy thế nhưng đã phong lưu nhất hội rồi.
 
Mưa sầm sập cả đêm như xay thóc. Mưa đêm ở làng, trong bóng tối bốc lên mùi rơm rạ ải, mùi hoa lý thơm ủng. Mưa rào, mưa to ở thành phố, tiếng mưa nghe mỗi tai mỗi khác, cứ như gõ thanh la, lại như liên hồi đập cái thùng sắt tây. Nhưng đã dịu được cơn oi bức ban chiều. Nhờ thế, đỡ muỗi, sáng ra mặt mũi không lấm tấm mần đỏ.
Quyền cho Dung xách đi mấy chiếc chụp đèn. Cái kiốt của Dung dựng đứng như chiếc thùng gỗ vuông, trông sang bãi cỏ chợ Hàng Da. Trên bãi, thỉnh thoảng hiệu tạp hóa Tây Lùn ra căng bạt mở xổ số cò quay ăn tiền, ăn thưởng áo may ô, lọ nước hoa Con Voi, khăn mùi xoa. Ðôi khi gánh Lê Thành Các về làm xiếc. Có cả ban xiếc nước Anh với hai con la thồ đồ, lưng phủ bạt, đến cắm cọc dựng rạp. Cái kiốt vẫn đứng đấy, bốn mặt sơn xanh trổ lỗ cửa vuông, phía nào cũng thông thống.
 
Kiốt bày bán lắm thứ lỉnh kỉnh. Những ống bút, một thếp giấy mới, gói bột màu. Có khi bày tranh phong cảnh. Cũng có buổi cho bà bán quà sáng để nhờ mẹt khoai lang luộc.
Tôi bảo Dung:
- Treo bảng vẽ truyền thần, có khi ăn tiền hơn.
Dung xua tay:
- Mày dốt bỏ mẹ. Họa sĩ không vẽ truyền thần.
Nhưng tôi nghĩ cứ như Dung vẽ cái tay to hơn cái đầu thì có khi Dung cũng không biết vẽ truyền thần. Bốn mặt quang vắng, không biết đồ đạc, quần áo Dung cất đâu. Chẳng thấy cái hòm, cái bọc chỗ nào.
Dung nói:
- Mày nhà quê cũng có khác. ở Hà Nội bây giờ văn minh giống bên Tây. Hết mùa rét thì cái áo dạ gửi nhà cầm đồ Vạn Bảo phố Mới. Giờ đương nắng nóng, chỉ cần nhất bộ, tối đi ngủ thì cởi ra giặt cho tiện.
Tôi đã quen lối nói tiếu lâm chày cối bịa tạc ra cách sống thành phố. Bốn cái chụp đèn Dung để bốn cửa. Hai chụp treo, hai chụp đèn bàn đặt trên mỏm hòn gạch nhô cái chóp lên. Ði cả bốn bên đều trông thấy, cũng vui vui mắt.
 
Một hôm tôi đến chẳng thấy cái chụp đèn nào.
- Bán hết cả rồi à?
- Mất cắp hết thì có. -Không gắn được con mắt đằng lưng thành thử cứ trông cửa trước thì nó phỗng đằng sau.
Ðến năm kháng chiến, phố xá tản cư đi khắp nơi. Người ta như con kiến khi gặp nhau thế nào đôi bên cũng đụng râu chụm lại như chào hỏi, trò chuyện rồi mới lại tăng tả bò đi. Cho nên ai ở đâu rồi cũng được tin, mình không gặp thì thế nào cũng có người gặp, người biết. Tôi cũng láng máng biết tin tức bè bạn và người quen, xóm giềng, ai tản cư vùng nào, công tác ở đâu, ai chết bom, ai lại về thành. Nghe nói Quyền đã lấy vợ, vợ chồng đem nhau lên Phú Thọ.
 
Năm ấy, tôi có việc về Gia Ðiền. Việc vui và cũng nực cười. Tôi đi dự đám cưới họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ. Anh Tỵ ở vùng văn nghệ sĩ tản cư trong khu Bốn. Trường Mỹ thuật của anh Tô Ngọc Vân mở ở Việt Bắc, anh Tỵ được mời ra dạy. Tỵ cũng đã cứng tuổi. Chị trẻ hơn, gia đình cũng ở Hà Nội tản cư đi. Tiếng đồn thế nào đấy, có thể bên nhà gái nghi ngờ, mà nhà trai nhà gái đều đương trong cảnh xa lạ không biết đâu mà hỏi han dò la được. Tôi được giao việc đại diện cơ quan đi dự đám cưới. Tôi có nhiệm vụ nói thật nhưng nói khéo thế nào để họ nhà gái tin tưởng tôi là bạn anh Tỵ từ xưa và anh Tỵ chưa có vợ bao giờ.
 
Mọi việc đều xong xuôi, êm đẹp. Hôm về, tôi không ra theo đường bờ sông. Tôi đi đường trong, qua làng đồi chè, rừng sơn, rừng cọ từ Gia Ðiền sang Ao Châu. Tôi đã được biết Quyền ở Ao Châu.
Tôi vào xưởng giấy Ao Châu hỏi Quyền. Người ta bảo: ông Quyền thôi việc ở đây rồi. Bác ra ngoài đầm, hỏi ông Quyền Chài thì ai cũng biết - Quyền Chài là thế nào? Người ta chỉ cười.
 
Ao Châu, một vùng đầm nước mênh mông như hồ Tây bọc một dãy đồi ở giữa. Tôi được chỉ vào một cái lều lá gồi bên bờ nước. Quyền cởi trần, da bắt nắng đỏ xạm, vẫn cao lớn và để bộ râu quai nón xồm xoàm đen kịt, chỏm mũi đỏ sần sùi nhô lên quen thuộc.
Cái lều một gian một chái, một người đàn bà ra chào tôi. Chị mặc quần thâm, áo trắng nhuộm nâu non, cũng như mọi người tản cư thường gặp ở dọc đường và trong chợ.
 
Quyền nói to:
- Nhà tôi đấy. Chúng tớ nghề chài lưới, nên làng nước gọi là Quyền Chài. Nhờ giời cũng đủ chén, cứ xuống nước thì có cá đem bán.
Chị ấy đi chợ. Quyền bảo tôi ở nhà chơi, Quyền thả cái thúng đi bắt mấy con cá về nhắm rượu. Tôi bảo cho tôi ra hồ với. Cái thuyền thúng, Quyền ngồi đằng mũi, tay cầm bè chèo lái, bàn tay kia bơi. Tôi thả lưới từng quãng ngắn, Quyền vòng thuyền cầm bè chèo gõ xuống đòn ngang. Tiếng cành cạch xua cá dồn vào mắt lưới.
Trên thuyền, chúng tôi chuyện.
- Bọn tớ đã lấy nhau từ khi còn ở Hà Nội.
- ờ... ờ...
- Chắc đằng ấy không biết vợ tớ là con nhà thổ ở ngõ Yên Thái. Tớ vớt ra.
Tôi không biết thật. Nhưng cái tình, cái tính khí khái và nghĩa hiệp của Quyền thì tôi không lạ.
- Thế sao lại bỏ làm xưởng giấy?
Quyền cười nhạt:
- à bọn ngồi bàn giấy trong xưởng chữ nghĩa lỗ mỗ, cũng dân thành phố ra, thế mà chó lại chê mèo lắm lông, chúng nó chửi mình là tiểu tư sản, đội cái mũ sì cút chúng nó cũng bảo là đội cứt đế quốc. Lộn ruột, tớ hét vào mặt chúng nó: ông đây học trường kỹ nghệ, công nhân hẳn hoi chứ không như chúng mày đội lốt. Công nhân thì không sợ cái gì hết. Ông đố chúng mày dám bỏ cái xưởng này ra đi tăng gia, hay chỉ là đồ ôm chân bàn đẽo cơm Nhà nước. Ông không thèm, cái mặt chúng mày chỉ bẩn mắt ông.
Quyền đặt bè chèo vào lòng thuyền, nhấc từng mảng lưới lên. Có con cá rô như hạt bưởi, Quyền lại ném xuống nước.
- Thế là tớ ra đây. Tớ chẳng cần đứa nào đâu.
Lát sau, thu hết lưới, được mấy con chép nhỡ. Quyền cười hê hê: "Ðầu đuôi để nấu dấm quả dọc, còn chặt khúc ra nướng uống rượu, hay lắm".
Tôi giễu:
- Cậu là sì cút chửi rượu cơ mà.
- ở đời cũng có lúc cần rượu.
Chốc đã mấy chục năm qua. Rồi tôi cũng không gặp lại Quyền ở Hà Nội. Biết có còn sống, vẫn ở Ao Châu hay lại đi đâu.
Họa sĩ Ngô Thúc Dung thì đôi ba khi còn biết tin.
Các cơ quan mới ra khỏi thành phố lên Việt Bắc đều đóng ở Ðại Từ trên Thái Nguyên. Có người cơ quan ở xóm bên cạnh - chỗ cục quân nhu đóng, sang hỏi tìm tôi và nói :
- Chúng tôi có đồng chí họa sĩ Dung... - A họa sĩ Ngô Thúc Dung! Tôi có quen... Tôi sẽ sang, tôi sang... Thế ra Dung đã vào bộ đội, lại bộ đội quân nhu... có thể Dung vẽ mẫu áo trấn thủ... Dung cho lính sang tìm tôi... Oách thế, họa sĩ Dung, đồng chí Dung...
Rồi không nhớ tôi bận gì, mấy hôm sau mới sang được xóm có quân nhu ở? Tôi thấy những nhà kho, những lán ở trống hoác. Vào trong làng hỏi, bà con cũng chỉ biết bộ đội đã đi từ nửa đêm hôm kia. Bộ đội thường đi đến bí mật thế. Rồi sau tôi biết thủ trưởng cơ quan ấy là Trần Dụ Châu đã bị bắt vì tội hống hách, tiêu pha tiệc tùng bán giời không văn tự. Tôi chột dạ hỏi lại nó là thằng Trần Dụ Châu hay thằng Ngô Thúc Dung. Lẩm cẩm đâm hốt hoảng mới ngờ cái tai nghễnh ngãng chú Châu với Dung thì nhầm với nhau sao được. Nhưng tôi lại nảy ra cái lo khác. Hay là thằng Dung đã lấy bí danh là Trần Dụ Châu. Ði kháng chiến, nhiều người lấy bí danh tên khác, kể cả tôi...
Ðến khi hòa bình tôi mới lại được tin về Dung. Có người trông thấy, có người đã gặp Dung ở Hà Nội. Dung không làm họa sĩ nữa. Mà Dung bây giờ bán vé xe điện, Dung nghiện thuốc phiện nặng, thảm hại lắm!
Ôi Dung. Sao mà tôi nhớ thằng Dung cũng như tôi nhớ cái tàu điện, những kỷ niệm xa xưa của tôi đã già lão, sắp vứt đi cả rồi. Cái tàu điện cũng có sự tích lúc trẻ lúc xế bóng chẳng khác con người sinh ra ở thành phố này. Cái tàu điện mới đi từ Bưởi xuống chợ Mơ. Lúc qua Bờ Hồ thì có đường rẽ về Giám vào Hà Ðông. Hơn ba mươi năm sau mới đẻ thêm đường ô Ðồng Lầm ở Kim Liên lên ô Yên Phụ. Ðường tàu điện đầu tiên ra đời năm 1899 - khi tôi được sinh ra thì tàu điện đã ở tuổi hai mươi, hai mươi tuổi thanh xuân hơn hớn, cái vè tàu điện tôi được nghe kể và tôi đã hát suốt thuở tấm bé.
... Thằng Tây ngồi nghĩ cũng sành
Sinh ra tàu điện chạy quanh phố phường
La ga thì ở Thụy Chương...
Cái ngày khai trương tàu, cưới tàu mới linh đình sao, Tây mở tiệc nhảy đầm ở chỗ đình Thụy bên hồ Tây. Các cụ kể: khánh thành đường tàu điện các làng được một tháng đi tàu không mất tiền vé. Cả vùng Bưởi chúng tôi lên ngồi tàu điện xuống đi chơi Bờ Hồ. Cái câu cuối bài vè tàu điện chẳng biết là mỉa mai hay ba lơn: Năm xu ngồi ghế đệm bông. Hỏi mình có sướng hay không hả mình?
Thanh niên thì không thèm lên tàu điện khi tàu đỗ, mà chúng tôi rún chân lấy dáng lả lướt nhảy tàu xuống tàu khi tàu đương lượn vào hay đã rời bến.
Thế mà cái tàu điện đã rong ruổi đến tận khi Hà Nội chống Mỹ. Báo động cứ việc, tàu chạy suốt ngày, qua các phố Hàng Than, Quán Thánh, cạnh nhà máy điện - trọng điểm máy bay Mỹ thả bom. Cái tàu vẫn chạy. Chỉ còn người lái tàu, người bán vé tàu và mỗi một người hát xẩm, không biết sợ là cái gì, cứ ngất ngư trong lòng tàu nghêu ngao cất tiếng hát giữa tiếng bánh xe rít trong đường sắt, tiếng chuông leng keng ầm ầm và tiếng bom rơi.
Rồi cái tàu điện về già. Cái tàu cái toa được tẩu tán đi rồi mới bóc đến đường sắt. Nó cũng như cái cầu Long Biên, mấy năm đau yếu sau bao nhiêu trận bom đạn, thì đến cái tàu điện rách rưới, tả tơi nhất. Nó ốm cả tinh thần lẫn thể xác. Chẳng ai thiết nó nữa, chẳng ai ngó ngàng chữa chạy cho nó nữa, chẳng biết số phận còn bắt rật rờ thế này đến khi nao.
Những tiếng leng keng ầm ầm đã hết hơi, không còn giục giã vui tai như thời xưa. Mà nó rè rè như những con cóc đêm kèng kẹc nghiến răng gọi mưa. Các ông lái tàu thì say bia, say rượu tối ngày. Tay ông cầm cái mở máy bằng đồng đã mòn vát. Tàu đến ngã tư Hàng Khay, Hàng Bài thì đỗ. Chỉ vì những nơi ấy ven hè có quan bia hơi nhà mậu. Ông khóa lại số không rồi rút cái trùy đồng xách xuống đứng uống đôi ba vại bia, mặt dần dần đỏ lựng. Có khi đến chợ Mơ, đỗ lâu đợi khách thì cả ông lái, ông bán vé cùng xuống làm chén nước trắng, lại châm điếu thuốc lào ngồi lơ mơ.
Cái tàu điện lại giống như bà lão đã mõ ra rồi còn làm đỏm. Cũng chẳng phải tôi còn nhớ đến Dung đâu. Mà một hôm tôi chợt nghĩ: "Cái tàu đương ốm thập tử nhất sinh thế kia cũng xuống lỗ đến nơi rồi. Ta đã đi tàu từ thuở bé, thuở trẻ, bây giờ ta đi một chuyến tàu điện dối già xem sao. Có còn nhảy tàu lên xuống được không nhỉ?". Chỉ nghĩ chơi đã thấy ngượng. Thân già này mà trổ tài điệu nghệ thì chỉ có đưa chân vào bánh tàu mà thôi.
Chặp tối hôm ấy, uống vại bia ở bờ hè Hàng Khay rồi, tôi làm cuộc du lịch lên cái tàu điện ngàn xưa. Người bán vé tàu như đứng sẵn rình tôi, chộp tôi. Người ấy hiện ra trước mặt tôi, giọng khao khao mơ hồ: "Tiền vé! Tiền vé!".
Trông đích là thằng Dung! Không thể nhìn nhầm không thể sai được mặc dầu đã khác lạ hẳn. Khuôn mặt chảy xị, tái xám, môi nhờn bóng, cửa tay áo về vệt đen nhãy. Rõ một con nghiện già. Chẳng ra thằng Dung một mảy nào, nhưng cái sẹo ở thái dương bên trái thì vẫn đỏ tía như đồng xu úp vào, nguyên như thế như người tù khổ sai chung thân thời trước bị thích chữ lên mặt.
- Dung đấy hả? Có phải Dung không?
Người ấy ngước đôi mắt đục lờ đờ nhìn tôi rồi lại cất giọng cũng rè rè đùng đục:
- Vé nào! Tiền vé!
Tôi đưa đồng tiền vé. Lão ta bỏ vào túi áo vét rồi lù rù quay vào, trong khi tôi còn hỏi với... Có phải Dung... có phải...
Biết làm thế nào. Chán đến không còn muốn nhận ra nhau nữa.
T.H.
(1) Sì cut (Scout): hướng đạo sinh.
 
http://www.freewebtown.com/4-15/s/o/songhong/vh_tohoai_dungvaquyen.htm
Đăng nhập để trả lời
0