Chương 2: Chứng Khoán Và Những Đặc Tính Căn Bản
Chứng khoán (investment securities) được tạo dựng dưới hai dạng thức tổng quát. Một là dạng thức hùn hạp (equities). Hai là dạng thức vay mượn (debts). Chứng khoán bao gồm nhiều loại. Chứng khoán phổ thông gồm có cổ phiếu (stocks), trái phiếu (bonds), tín phiếu (money-market), và hàm phiếu (derivatives). Cổ phiếu thường đẳng (common stocks) và cổ phiếu ưu đẳng (preferred stocks) được liệt vào loại công cụ hùn hạp (equity instruments). Trong khi trái phiếu và tín phiếu được coi là công cụ vay mượn (debt instruments). Hàm phiếu là một loại chứng khoán chỉ hiện hữu qua sự hiện hữu của những chứng khoán khác (derived from or linked to a security or an index). Hay nói khác hơn, hàm phiếu là một loại ký sinh của cổ phiếu, trái phiếu, hoặc tín phiếu. Mỗi loại chứng khoán đều mang những đặc tính với những quyến rũ và phức tạp riêng của chính nó.
Cổ phiếu thực ra có đến 3 loại. Bên cạnh cổ phiếu thường đẳng (common stock) và cổ phiếu ưu đẳng (preferred stock) là hai loại cổ phiếu được giới đầu tư biết đến nhiều nhất, còn có cổ phiếu dị đẳng (treasury stock). Tuy nhiên loại cổ phiếu này ít được chú ý. Mục đích chính yếu của chương này nhằm vào cổ phiếu thường đẳng. Vì vậy, một phần lớn nhu liệu sẽ tập trung chung quanh đặc tính và những trưng dẫn căn bản cho loại cổ phiếu này.
Cổ Phiếu Thường Đẳng
Tất cả công ty (corporations) đều phát hành cổ phiếu thường đẳng (common stocks). Chủ quyền (ownership) của một công ty có thể được nắm giữ trong tay của một vài cá nhân (privately owned company) hoặc trong tay của một tập thể rộng lớn (publicly owned company). Trong cả hai trường hợp, cổ phiếu thường đẳng là thể hiện tuyệt đối của quyền làm chủ. Về mặt pháp lý, chủ nhân của cổ phiếu (stockholders) có toàn quyền, duy nhất và trực tiếp, quyết định vận mệnh của công ty. Trên thực tế, quyền làm chủ thể hiện qua quyền tham dự vào chính trị nội bộ và dự phần vào quyền lợi kinh tế. Quan trọng nhất là quyền bầu cử (voting right), quyền được chia lợi nhuận (residual claim to income), và quyền được mua thêm cổ phần mới (right to purchase new shares).
Quyền Bầu Cử
Vì chủ nhân của cổ phiếu thường đẳng cũng là chủ nhân của công ty, nên được quyền chọn lựa và đề cử hội đồng giám đốc (board of directors) và được quyền dự phần vào những quyết định quan trọng của công ty. Chủ nhân của cổ phiếu có thể bỏ phiếu trực tiếp (cast their ballots) hoặc chuyển nhượng số phiếu của họ (assign a proxy or power to cast their ballots) cho nhóm lãnh đạo đương nhiệm của công ty hay cho một nhóm đối lập (contesting group).
Hội Đồng Giám Đốc
Bên cạnh cơ cấu quản trị và điều hành, mỗi công ty đều có một hội đồng giám đốc. Vai trò chính yếu của hội đồng giám đốc là vai trò chỉ đạo (stewardship). Nếu công ty hành xử những quyết định không hợp pháp hoặc không hợp lý, hội đồng giám đốc có thể bị buộc trách nhiệm. Thành viên của hội đồng giám đốc thường có chân trong những ủy ban quan trọng của công ty như ủy ban điều lập kế sách dài hạn (strategic planning committee), ủy ban thanh tra (audit committee), ủy ban lương bổng (salary & compensation committee), ủy ban tài vụ (butgeting & finance committee) vân vân. Do đó, hội đồng giám đốc trở thành trọng tâm của quyền lực chính trị nội bộ. Quyền bầu cử hội đồng giám đốc trở thành công cụ tối hậu trong việc tranh thủ quyền lực chính trị của một công ty.
Phương Pháp Bầu Cử
Tuyển chọn hội đồng giám đốc có thể theo qui chế đa số (majority voting) hoặc theo qui chế tỉ lệ (cumulative voting). Theo qui chế đa số, mỗi cổ phần của công ty sẽ được một lá phiếu bầu. Bất cứ cá nhân hay nhóm nào nắm được hơn 50% tổng số phiếu, nhóm đó sẽ có quyền chỉ định toàn bộ hội đồng giám đốc của công ty. Do đó chính trị nội bộ nằm hoàn toàn trong tay của nhóm có được đa số cổ phần của công ty. Theo qui chế tỉ lệ, mỗi cổ phần được một lá phiếu bầu cho mỗi ghế trong hội đồng giám đốc. Nói một cách khác, nếu công ty có 9 ghế trong hội đồng giám đốc, mỗi cổ phần sẽ được 9 phiếu bầu. Chủ nhân của cổ phiếu có quyền dồn phiếu cho người họ muốn chọn. Ứng cử viên có đủ số phiếu theo tỉ lệ giữa tổng số ghế và tổng số phiếu sẽ được chọn. Với phương pháp dồn phiếu, nhóm thiểu số có thể dành được một số ghế trong hội đồng giám đốc. Số ghế theo tĩ lệ của số cổ phần hoặc số cổ phần cần có theo tĩ lệ của số ghế trong hội đồng giám đốc được tính theo đẳng thức 2-1 và 2-2:
(SCP-1) x (TSG+1)
SG = --------------------------- {2-1}
(TSCP)
(SG x TSCP)
SCP = -------------------------- + 1 {2-2}
(TSG+1)
SG = Số ghế
SCP = Số cổ phần trong tay cổ chủ
TSG = Tổng số ghế trong hội đồng giám đốc
TSCP = Tổng số cổ phần của công ty
Một số tiểu bang tại Hoa Kỳ bắt buộc công ty của tiểu bang(1) chỉ được phép chọn cách bầu cử hội đồng giám đốc theo qui chế tỉ lệ.
Thí Dụ 2-1 Giả dụ công ty XYZ có 1 triệu cổ phần đang lưu hành (outstanding shares), có cả thảy 9 ghế trong hội đồng giám đốc, và theo chế độ bầu cử dồn phiếu. Nếu ông A có 210,000 cổ phần trong công ty: (1) ông A nắm được bao nhiêu phiếu bầu cử? (2) công ty có tất cả bao nhiêu phiếu? (3) với số phiếu đó, ông A có thể dành được bao nhiêu ghế trong hội đồng giám đốc? (4) nếu muốn dành 3 ghế, ông A cần có bao nhiêu cổ phần? 1. Số Phiếu Của Ông A:
SP = SCP x TSG
= 210,000 x 9
= 1,890,000
2. Số Phiếu Của Công Ty:
TSP = (TSCP x TSG)
= (1,000,000 x 9)
= 9,000,000
Công ty có tất cả 9 triệu phiếu bầu và ông A nắm được 1.89 triệu phiếu hay là 21% (9,000,000/ 1,890,000).
3. Số Ghế Ông A Có Thể Tranh Được:
SG = [(SCP - 1) x (TSG + 1)]/[TSCP]
= [(210,000-1)] x (9+1)]/[1,000,000]
= 2.099 4.
Số Cổ Phần Ông A Cần Có Để Tranh 3 Ghế:
SCP = [(SG x TSCP)/(TSG + 1)] + 1
= [(3 x 1,000,000)/(9 + 1)] + 1
= 300,001
Ông A cần có 300,001 cổ phần để tranh giữ 3 ghế trong hội đồng giám đốc.
Chú Thích:
SG = Số ghế
SP = Số phiếu
SCP = Số cổ phần của công ty
TSP = Tổng số phiếu bầu của công ty
TSCP = Tổng số cổ phần của công ty
TSG = Tổng số ghế trong hội đồng giám đốc
Quyền Được Chia Lợi Nhuận
Vì chủ nhân của cổ phiếu thường đẳng cũng là chủ nhân của công ty cho nên, trên nguyên tắc, tất cả lợi nhuận của công ty (earnings) sau khi trừ đi chi phí và nợ nần đều thuộc về họ. Cổ chủ (stockholders) có quyền thừa hưởng lợi nhuận (residual claim to income) bất kể lợi nhuận được giữ lại (retained) để phát triển công ty hay được phân phối ra dưới hình thức lợi nhuận vô kỳ (common dividends). Tuy nhiên, chỉ hội đồng giám đốc của công ty mới có quyền quyết định phân phối lợi nhuận. Về mặt pháp lý, công ty không bị bắt buộc phải phân phối khoản lợi nhuận vô kỳ cho cổ chủ. Nếu muốn, chủ nhân của cổ phiếu thường đẳng có thể làm áp lực qua quyền bầu cử và qua cán cân thị trường để đổi ban giám đốc hoặc đổi chính sách phân phối lợi nhuận vô kỳ của công ty. Trên thực tế xử dụng quyền làm chủ cổ phiếu để áp lực hội đồng giám đốc hoặc ban lãnh đạo điều hành của một công ty là điều rất hiếm thấy. Tuy nhiên trong những năm gần đây, phong trào chống đối tình trạng định lương bổng quá cao cho giới chức cao cấp của công ty và phong trào chống đối những công ty tắc trách trong việc bảo vệ môi sinh và xã hội đã đưa đến tình trạng cổ chủ liên kết với nhau để làm áp lực công khai. Thí dụ như cổ chủ của công ty Walt Disney đã lớn tiếng chỉ trích mức lương bổng của giới chức cao cấp trong kỳ đại hội cổ chủ (shareholders' meeting) năm 1996. Một thí dụ khác là một số tổ hợp đầu tư (mutual funds) đã tẩy chay cổ phiếu của công ty Phillip Morris.
Quyền Mua Cổ Phần Mới
Ngoài quyền được chia lợi nhuận, chủ nhân của cổ phiếu thường đẳng còn được quyền ưu tiên mua cổ phần mới do công ty phát hành. Nếu trong bản văn kiện thành lập công ty (corporate charter, articles of incorporated) có điều khoản cho quyền ưu tiên mua cổ phần mới (preemptive right provision), công ty bắt buộc phải bán cổ phần mới cho chủ nhân của cổ phiếu thường đẳng trước tiên.
Số Cổ Phần Mới
Quyền ưu tiên mua cổ phần mới được tính theo một tỉ lệ nhất định. Tỉ lệ này được thành lập theo tương quan giữa tổng số cổ phần cũ và tổng số cổ phần mới của công ty:
TSCPc
TLCM = -------------- {2-3}
TSCPm
TLCM = Tĩ lệ giữa cổ phần cũ và cổ phần mới
TSCPc = Tổng số cổ phần cũ của công ty
TSCPm = Tổng số cổ phần mới của công ty
TLCM và số cổ phần cổ chủ đang nắm giữ sẽ quyết định số cổ phần mới cổ chủ đó được quyền ưu tiên mua. Số cổ phần mới được tính theo đẳng thức:
SCPc
SCPm = ------------ {2-4}
TLCM
SCPc = Số cổ phần cũ cổ chủ đang nắm giữ
TLCM = Tĩ lệ giữa cổ phần cũ và cổ phần mới
SCPm = Số cổ phần mới cổ chủ được quyền mua
Giá Trị Của Quyền Mua
Quyền ưu tiên mua cổ phần mới có giá trị (monetary value) của chính nó. Giá trị (value) này được tính theo từng quyền (1 right). Giá trị của một quyền được tính theo đẳng thức:
Gc - Gm
GTQ =------------ {2-5}
TLCM + 1
Gm = Giá bán ra của số cổ phần mới
Gc = Giá thị trường của số cổ phần cũ
TLCM = Tỉ lệ giữa cổ phần cũ và cổ phần mới
GTQ = Giá trị của quyền ưu tiên mua cổ phần mới tính trên một cổ phần cũ; giá trị một quyền
Cổ Phần Bị Làm Loãng
Sau khi số cổ phần mới được tung ra thị trường, giá cổ phiếu của công ty bị giảm đi. Giảm sút nhiều ít tùy thuộc vào mức chênh lệch giữa giá của cổ phiếu cũ và giá của cổ phiếu mới và tùy thuộc vào tỉ lệ giữa số cổ phần cũ và số cổ phần mới. Giá của một cổ phiếu sau khi bị làm loãng (diluted) được tính theo đẳng thức:
(TLCM x Gc) + Gm
Gl = ------------------------ {2-6}
TLCM + 1
Gm = Giá bán ra của số cổ phần mới
Gc = Giá thị trường của số cổ phần cũ
Thí Dụ 2-2
Giả dụ công ty XYZ có 1,000,000 cổ phần thường đẳng đang lưu hành với giá thị trường là $50 một cổ phần. Công ty này định phát hành thêm 500,000 cổ phần mới với giá $40 một cổ phần. Nếu ông A đang nắm giữ 210,000 cổ phần của công ty XYZ và phần tiền mặt trong toàn bộ đầu tư là $4,200,00:
(1) với quyền ưu tiên mua cổ phần mới, ông A được quyền mua tối đa bao nhiêu cổ?
(2) Ưu tiên này đáng giá bao nhiêu một quyền?
(3) Giá một cổ phần sau khi bị làm làm loãng là bao nhiêu?
(4) 500,000 cổ phần mới có ảnh hưởng thế nào đến toàn bộ đầu tư của ông A?
1. Số Cổ Phần Mới Ông A Được Quyền Mua:
TLCM = TSCPc / TSCPm
=1,000,000 / 500,000
= 2.0
SCPm= SCPc / TLCM
= 210,000 / 2.0
= 105,000
Ông A được quyền mua tối đa là 105,000 cổ phần mới với giá $40 một cổ.
2. Giá Trị Của Quyền Mua:
GTQ = (Gc-Gm) / (TLCM+1)
= ($50-$40) / (2.0+1)
= $3.333
Quyền ưu tiên mua cổ phần mới tính trên mỗi cổ phần cũ đáng giá là $3.333 một quyền.
3. Giá Của Một Cổ Phần Sau Khi Bị Làm Loãng:
Gl = [(TLCMxGc) + Gm]/[TLCM+1]
= [(2.0x$50) + $40]/[2.0+1]
= $46.667
Nếu tất những yếu tố khác không thay đổi trị giá một cổ phần của công ty XYZ trên thị trường sẽ giảm xuống từ $50 đến $46.67 một cổ sau khi công ty bán ra 500,000 cổ phần.
4. Ảnh Hưởng Đến Giá Trị Đầu Tư:
Nếu Không Bị Làm Loãng:
ĐTkl = (GcxSCPc) + $4,200,000
= $50x210,000 +$4,200,00
= $14,700,000
Nếu Bán Ra Quyền Mua:
ĐTl =(Gl+GTQ)xSCPc + $4,200,000
=($46.667+$3.333)x210,000+$4,200,000
= $14,700,000
Nếu Mua Số Cổ Phần Mới:
ĐTkl = (SCPc+SCPm) x Gl
= (210,000+105,000) x $46.667
= $14,700,000
Hoặc:
ĐTl =(GcxSCPc)+(Gm x SCPm)+[$4,200,000 - (Gm x SCPm)]
= ($50x210,000)+($40x105,000)+0
= $14,700,000
Nếu Để Quyền Mua Mãn Hạn:
ĐTmh = (Gbl+GTQ)xSCPc +$4,200,000
= ($46.667+0)x210,000 +$4,200,000
= $14,000,000
Không có 500,000 cổ phần mới, giá trị toàn bộ đầu tư của ông A là $14.7 triệu. Nếu bán quyền mua số cổ phần mới với giá $3.333 một quyền, giá trị toàn bộ đầu tư của ông A vẫn là $14.7 triệu. Nếu mua vào số cổ phần mới, với giá $40 một cổ, giá trị toàn bộ đầu tư vẫn là $14.7 triệu. Nếu để cho quyền mua bị mãn hạn, giá trị đầu tư toàn bộ sẽ còn lại $14 triệu hay là lỗ mất $700 ngàn. Điều này cho thấy cổ phiểu bị làm loãng chỉ có ảnh hưởng xấu cho người làm chủ chứ không có lợi.
Chú Thích:
SCPm = Số cổ phần mới cá nhân được quyền mua
SCPc = Số cổ phần cũ cá nhân đang nắm giữ
TSCPm = Tổng số cổ phần mới của công ty
TSCPc = Tổng số cổ phần cũ của công ty
GTQ = Giá trị của quyền ưu tiên mua cổ phần mới tính trên một cổ phần cũ hay là giá trị của một quyền
Gl = Giá cổ phần sau khi bị làm loãng
Gm = Giá bán ra của số cổ phần mới
Gc = Giá thị trường của số cổ phần cũ
ĐTkl = Giá trị đầu tư trước khi bị làm loãng
ĐTl = Giá trị đầu tư sau khi bị làm loãng
ĐTmh = Giá trị đầu tư sau khi quyền mua bị mãn hạn
TLCM = Tĩ lệ giữa cổ phần cũ và cổ phần mới
Gl = Giá sau khi cổ phiếu bị làm loãng; giá của một cổ phần sau khi công ty bán ra cổ phần mới.
Điều Khoản Cho Quyền Ưu Tiên
Một vài tiểu bang bắt buộc công ty của tiểu bang phải đính kèm điều khoản cho quyền ưu tiên mua cổ phần mới trong văn kiện thành lập công ty. Mục đích của điều khoản này là nhằm bảo vệ chủ quyền --quyền dự vào chính trị nội bộ lẫn quyền lợi kinh tế-- của chủ nhân hiện hữu. Không có điều khoản này, số cổ phần mới trong tay của nhóm chủ nhân mới sẽ làm loãng (diluting) chủ quyền và đồng thời làm mất mát thế lực và quyền lợi kinh tế của nhóm chủ nhân hiện hữu. Một số công ty có đính kèm điều khoản cho quyền phát hành cổ phiếu mới với quyền bầu cử cao hơn quyền bầu cử của số cổ phiếu cũ (weighted voting right) trong văn kiện thành lập công ty. Mục đích chính của điều khoản này, còn được gọi là "điều khoản chống cá mập" (shark repellent clause), là để ngăn ngừa tình trạng bị khống chế hoặc bị dành mất công ty bởi những tay chuyên tước đoạt công ty một cách hợp pháp (corporate raiders).
Phân Cấp
Cổ phiếu thường đẳng đôi khi được phân cấp theo chữ. Thí dụ như cổ phiếu cấp A, B, E, hoặc H (class A, B, E, H). Cách phân cấp này thực ra không có nguyên tắc hoặc tiêu chuẩn rõ rệt và thường gây nhầm lẫn. Phần lớn lý do trong việc phân cấp là để bảo thủ quyền lực chính trị nội bộ.
Thông thường cổ phiếu thường đẳng dùng chữ A và B để phân cấp. Sự khác biệt giữa cổ phiếu cấp A với cổ phiếu cấp B là quyền bầu cử. Thí dụ điển hình cho trường hợp này là cổ phiếu của Ford Motor Company. Cổ phiếu của công ty này được chia ra làm hai cấp. Cổ phiếu cấp A bán ra tự do ngoài thị trường trong khi cổ phiếu cấp B chỉ bán cho những nhân vật nồng cốt và trung kiên của công ty và cho những phần tử trong gia đình họ Ford mà thôi. Điều đặc biệt là số cổ phần của cấp B chỉ vào khoảng 9% của tổng số cổ phần nhưng giữ tới 40% quyền bầu cử.
Một thí dụ điển hình khác là Adolph Coors Company, một công ty sản xuất bia của Hoa Kỳ. Công ty Coors phát hành cổ phiếu cấp A và B. Chỉ có cổ phiếu cấp A là được quyền bầu cử. Số cổ phần cấp A vào khoảng 3.5% của tổng số cổ phần. Gia đình họ Coors chiếm 100% cổ phần của cổ phiếu cấp A và giữ khoảng 54% cổ phần của cổ phiếu cấp B. Như vậy gia đình họ Coors vừa toàn quyền khống chế chính trị nội bộ của công ty với số cổ phiếu cấp A, vừa nắm giữ một phần lớn vốn đầu tư của công chúng với số cổ phiếu cấp B.
Đôi khi cổ phiếu được phân cấp vì những lý do khác hơn là lý do tranh thủ quyền lực chính trị nội bộ. Một thí dụ điển hình cho trường hợp này là cổ phiếu của công ty General Motors (GM). Năm 1984 và 1985 công ty GM mua lại công ty Electronic Data System (EDS) và công ty Hughes Aircaft (HA). Công ty GM đã biến cổ phiếu của EDS và HA thành cổ phiếu cấp E và cấp H của GM. Cả hai cấp E và H có quyền bầu cử và có cách phân phối lợi nhuận riêng mặc dù 2 cấp cổ phiếu E và H được coi là cổ phiếu thường đẳng của GM và số cổ phần của mỗi cấp được tính chung vào tổng số cổ phần của cổ phiếu GM đang lưu hành. Phân phối lợi nhuận vô kỳ cho cổ phiếu cấp E và H tùy thuộc hoàn toàn vào thành quả tài chính của EDS và HA. Như vậy, dầu trên danh nghĩa là cổ phiếu của GM, quyền bầu cử và quyền lợi kinh tế của cổ phiếu cấp E và H hoàn toàn độc lập với GM đồng thời độc lập với nhau.
Giá Trị Trừu Tượng
Giá trị trừu tượng (par, face, stated value), viết tắt là GTTT, của cổ phiếu thường đẳng đôi khi được đề cập tới trong những văn kiện báo cáo tình trạng tài chính của công ty. Theo khái niệm kế toán cũ, toàn bộ tài sản của công ty được coi như là một tổ tín dụng (trust fund). Do đó, giá trị một cổ phần sẽ phản ảnh giá trị thực của công ty. Tuy nhiên nền tảng lý thuyết để thành lập cái gọi là "par value" đã lỗi thời. Chính vì vậy "par value" trở thành giá trị trừu tượng không hơn không kém. Giá trị trừu tượng của cổ phiếu thường đẳng chỉ còn được dùng để thoả đáng hình thức trên văn kiện kế toán chứ không có ý nghiã hoặc giá trị thực tiễn. Dẫn liệu 2-1 cho thấy rõ điều này.
Một số tiểu bang lấy lệ phí dựa trên giá trị trừu tượng của cổ phiếu thường đẳng. Vì vậy một số công ty có khuynh hướng khai giá trị trừu tượng thật thấp để tiết kiệm tiền đóng lệ phí. Một số công ty khác hoàn toàn loại bỏ giá trị trừu tượng (no par) trên văn kiện kế toán của công ty [Xem dẫn liệu 2-1].
Dẫn Liệu 2-1
Công Ty (S&P100) Giá Trị Trừu Tượng
3Com Corporation Common Stock ($0.01 Par Value)
ADC Telecommunications Inc Common Stock ($0.20 Par Value)
ADTRAN Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
Adaptec Inc Common Stock ($.001 Par Value)
Adobe Systems Incorporated Common Stock (No Par Value)
Altera Corporation Common Stock (No Par Value)
American Greetings Corp Cl A Class A Common Stock ($1.00 ar)
American Power Conversion Corp Common Stock ($0.01 Par Value)
Amgen Inc Common Stock ($0.0001 Par)
Andrew Corporation Common Stock ($0.01 Par Value)
Apple Computer Inc Common Stock (No Par Value)
Applied Materials Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
Ascend Communications Inc Common Stock ($0.001 Par Value)
Atmel Corp Common Stock (No Par Value)
Autodesk Inc Common Stock (No Par Value)
BMC Software Inc Common Stock ($.01 Par Value)
Bed Bath & Beyond Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
Biogen Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
Biomet Inc Common Stock (No Par Value)
Boston Chicken Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
Cascade Communications Corp Common Stock ($0.001 Par Value)
Centocor Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
Chiron Corporation Common Stock ($0.01 Par Value)
Cintas Corporation Common Stock (No Par Value)
Cirrus Logic Inc Common Stock (No Par Value)
Cisco Systems Inc Common Stock (No Par Value)
Comcast Corp Cl A Special Cl. A Special Common ($1.00 Par)
Compuware Corp Common Stock ($0.01 Par Value)
Concord EFS Inc Common Stock ($.33 1/3 P.V.)
Corporate Express Inc Common Stock ($0.0002 Par)
Costco Companies Inc Common Stock ($0.10 Par Value)
Cracker Barrel Old Ctry Store Common Stock ($0.50 Par Value)
DSC Communications Corp Common Stock ($0.01 Par Value)
Dell Computer Corporation Common Stock ($0.01 Par Value)
Electronic Arts Inc Common Stock ($.01 Par Value)
Electronics for Imaging Inc Common Stock (No Par Value)
FORE Systems Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
Fastenal Company Common Stock ($0.01 Par Value)
Fiserv Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
Food Lion Inc Cl B Class B Common Stock ($0.50 Par)
Fort Howard Corporation Common Stock ($0.01 Par Value)
Gartner Group Cl A Class A Common ($.001 Par)
Gateway 2000 Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
General Nutrition Companies Common Stock ($0.01 Par Value)
Genzyme Corporation General Division Common Stock
Glenayre Technologies Inc Common Stock ($0.02 Par Value)
HBO & Company Common Stock ($0.05 Par Value)
Healthcare COMPARE Corp Common Stock ($0.01 Par Value)
IDEXX Laboratories Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
Informix Corp Common Stock ($.01 Par Value)
Intel Corporation Common Stock ($0.001 Par Value)
Intuit Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
KLA-Tencor Corporation Common Stock ($0.001 Par Value)
Komag Incorporated Common Stock ($0.01 Par Value)
Linear Technology Corporation Common Stock (No Par Value)
MCI Communications Corp Common Stock ($0.10 Par Value)
Maxim Integrated Products Inc Common Stock ($0.001 Par Value)
McAfee Associates Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
McCormick & Company Inc Common Non-Voting (No Par)
Micron Electronics Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
Microsoft Corporation Common Stock ($0.00005 Par)
Molex Inc Common Stock ($0.05 Par Value)
Nextel Communications Inc Cl A Class A Common ($0.001 Par Val.)
Nordstrom Inc Common Stock (No Par Value)
Northwest Airlines Corp Cl A Class A Common Stock ($0.01Par)
Novell Inc Common Stock ($0.10 Par Value)
Oracle Systems Corporation Common Stock ($0.01 Par Value)
Outback Steakhouse Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
Oxford Health Plans Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
PACCAR Inc Common Stock ($12.00 Par Value)
PETsMART Inc Common Stock ($0.0001 Par)
PacifiCare Health Sys Cl B Cl. B Common ($0.01 Par Value)
Paging Network Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
PairGain Technologies Inc Common Stock ($.0005 Par Value)
Parametric Technology Corp Common Stock ($.O1 Par Value)
Paychex Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
PeopleSoft Inc. Common Stock ($0.01 Par Value)
PhyCor Inc Common Stock (No Par Value)
QualComm Inc Common Stock ($0.0001 Par)
Quantum Corporation Common Stock ($0.01 Par Value)
Quintiles Transnational Corp Common Stock ($0.01 Par Value)
RPM Inc Common Stock (No Par Value)
Republic Industries Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
Sigma-Aldrich Corporation Common Stock ($1.00 Par Value)
Staples Inc Common Stock ($0.0006 Par)
Starbucks Corp Common Stock (No Par Value)
Stryker Corporation Common Stock ($0.10 Par Value)
Sun Microsystems Inc Common Stock ($.00067 Par)
SunGard Data Systems Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
Sybase Inc Common Stock ($0.001 Par Value)
Synopsys Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
Tele-Communications Inc Cl A Ser A TCI Grp Cm Stk ($1.00 Par)
Tellabs Inc Common Stock ($.01 Par Value)
[font=mstt31c62b][size=2]
Tyson Foods Inc Cl A Class A Common Stock ($0.10 ar)
US Robotics Corporation Common Stock ($0.01 Par Value)
Viking Office Products Inc Common Stock (No Par Value)
Wisconsin Central Transport Common Stock ($0.01 Par Value)
WorldCom Inc Cl A Common Stock ($0.01 Par Value)
Worthington Industries Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
Xilinx Inc Common Stock ($0.01 Par Value)
Giá trị Chủ Bản
Giá trị chủ bản (book value, net worth) hay là GTCB của một cổ phiếu thường đẳng là phần thặng dư khi đem toàn bộ tài sản của công ty (total assets) trừ đi cho toàn bộ nợ nần của công ty (total liabilities) và toàn bộ giá trị của cổ phiếu ưu đẳng (preferred stock).
GTCB = TBTS - (TBNN+TBCPưđ) {2-7}
GTCB = Giá trị chủ bản
TBTS = Toàn bộ tài sản của công ty
TBNN = Toàn bộ nợ nần của công ty
TBCPưđ = Toàn bộ giá trị của cổ phiếu ưu đẳng
Tính trên một cổ phần, giá trị chủ bản được đem chia đều cho tổng số cổ phần của cổ phiếu thường đẳng đang hiện hành.
GTCB
GTCB1c = ----------- {2-8}
TSCP
GTCB1c = Giá trị chủ bản một cổ phần
GTCB = Giá trị chủ bản
TSCP = Tổng số cổ phần của công ty
Trên lý thuyết, phần thặng dư này là giá trị toàn bộ đầu tư thuộc về cổ phiếu thường đẳng, và vì vậy, thuộc về cổ chủ.
Giá trị chủ bản đã có một thời được coi là một yếu tố quan trọng trong việc đo lường tình trạng tài chính của công ty và ước định giá thị trường của cổ phiếu. Tuy nhiên, vì nguyên tắc kế toán đòi hỏi những chi tiết tài vụ (financial transactions) phải được ghi nhận theo giá trị lúc giao hoán và không được thay đổi (historical value), ngoại trừ khoản tiền mặt hoặc những khoản tài chính tương đương với tiền mặt (cash or cash equivalent assets), cho nên giá trị chủ bản ít khi phản ảnh trung thực giá trị của công ty. Vì vậy, giới chuyên gia đầu tư đã dần dần hạ thấp tính thực dụng của giá trị chủ bản. Khi công chúng chất vấn cảm nghỉ của Warren Buffet -một chuyên gia đầu tư khét tiếng ở Hoa Kỳ- về giá trị chủ bản trong buổi họp thường niên của công ty Berkshire Hathaway vào năm 1995, ông đã trả lời như sau:
Book value is not a consideration. What we consider more important is the generation of high returns on capital employed.
Theo ông, "giá trị chủ bản không đáng quan tâm. Điều đáng quan tâm là khả năng tạo lợi nhuận cao cho vốn đầu tư." Giá trị chủ bản được xây dựng trên dữ kiện của quá khứ (historical input) trong khi giá trị thực là tác tạo của những dữ kiện trong tương lai (future output).
Một số chuyên gia, chẳng hạn như Janet Lowe, chủ trương phân biệt tài sản vô thể (intangible assets) với tài sản hữu thể (tangible assets) và loại trừ tài sản vô thể ra khỏi giá trị chủ bản(2). Nếu theo chủ trương này, đẳng thức 2-7 nên được sửa đổi lại như sau:
GTCB = TBTS - (TBNN+TSTSvt+TBCPưđ) {2-9}
GTCB = Giá trị chủ bản
TBTS = Toàn bộ tài sản của công ty
TBTSvt = Toàn bộ tài sản vô thể
TBNN = Toàn bộ nợ nần của công ty
TBCPưđ = Toàn bộ giá trị của cổ phiếu ưu đẳng
Lợi Nhuận Vô Kỳ
Lợi nhuận phân phối cho cổ phiếu thường đẳng được gọi là lợi nhuận vô kỳ, viết tắt là LNVK. Vô kỳ là vì công ty phát hành cổ phiếu không nhất thiết, hoặc bị bắt buộc, phải đưa ra khoản lợi nhuận này. Có phân phối lợi nhuận vô kỳ hay không là quyền quyết định của hội đồng giám đốc (board of directors) của công ty. Quyết định phân phối, số lượng, ngày tháng, và tiêu chuẩn phân phối được hội đồng giám đốc tuyên bố ở những cuộc hội thảo định kỳ.
Chính Sách Phân Phối
Chính sách của công ty trong việc phân phối lợi nhuận vô kỳ thường phản ảnh nhiều yếu tố quan trọng: tình trạng tài chính hiện tại (cash-flow position), khả năng phát triển trong tương lai (growth prospects), mức độ điều hoà trong thu hoạch và phân phối lợi nhuận (stability of earnings and dividends), vốn đầu tư cần thiết cho công cuộc điều hành hoặc phát triển (capital needs), quyền quyết định chính trị nội bộ (control), luật lệ của tiểu bang và liên bang (legal rules), vân vân.
Chu Trình Phát Triển Của Công Ty
Chu trình phát triển của một công ty được phác hoạ trong dẫn liệu 2-2. Những công ty nhỏ ở giai đoạn sơ sinh (development stage), giai đoạn 1, cần giữ lại tất cả lợi nhuận tạo được để tranh thủ sinh tồn. Nếu không bị hủy diệt trong giai đoạn này, công ty sẽ lớn mạnh hơn và đi vào giai đoạn tăng trưởng (growth stage), giai đoạn 2. Trong giai đoạn tăng trưởng công ty có khả năng phát huy rất cao và, vì vậy, muốn giữ lại tất cả lợi nhuận tạo được để hỗ trợ công cuộc phát triển. Ở đầu giai đoạn 2, công ty có khuynh hướng dùng cổ phần mới để phân phối lợi nhuận vô kỳ (stock dividends). Ở cuối giai đoạn 2, công ty có thể dành ra chút ít tiền mặt để phân phối lợi nhuận vô kỳ (cash dividends). Bước vào giai đoạn phát huy (expansion stage), giai đoạn 3, công ty vẫn tiếp tục lớn mạnh nhưng ở mức độ kém hơn. Trong giai đoạn 3 công ty có khả năng phân phối lợi nhuận với số lượng tương đối mà không sợ tạo ảnh hưởng có hại đến kế hoạch và hoạt động lâu dài của công ty. Thường thì mức phân phối gia tăng từ khoãng 4% cho tới 15% của lợi nhuận công ty tạo được (earnings).
Bước vào giai đoạn duy dưỡng (maturity stage), giai đoạn 4, công ty cố gắng duy trì mức độ phát triển theo mức phát triển của nền kinh tế (stable growth rate). Đi vào giai đoạn sau cùng, giai đoạn suy tàn (decline stage), sớm hay muộn còn tùy thuộc vào khả năng của từng công ty. Ở giai đoạn 4 và 5, công ty có khuynh hướng phân phối lợi nhuận rất cao. Thường thì vào khoảng 30% cho tới 60% của lợi nhuận công ty thu hoạch được.
Nói tóm lại, đối với những công ty nhỏ và đang phát triển, khoản lợi nhuận vô kỳ tương đối ít ỏi và thất thường. Công ty muốn giữ lại lợi tức tạo được để tái đầu tư vào công cuộc phát triển và để tăng gia lợi tức trong tương lai. Ngược lại, đối với những công ty to lớn và già nua, cơ hội để phát triển thêm không có nhiều. Khoản lợi nhuận vô kỳ gần như là nguồn lợi duy nhất mà giới đầu tư nhắm vào. Do đó, khoản phân phối này có phần trội hơn và thường kỳ hơn để thu hút giới đầu tư và để duy trì giá của cổ phiếu trên thị trường.
Nguyên Tắc Ngoại Tranh
Theo lý thuyết, công ty chỉ nên giữ lại lợi nhuận tạo được để tái đầu tư vào những công trình phát triển của công ty nếu những công trình này hứa hẹn mức thu hoạch ít ra phải tương đương với mức lợi nhuận sau khi trừ thuế mà chủ nhân của cổ phiếu có thể tự tạo nếu họ đem số lợi nhuận vô kỳ nhận được đầu tư vào nơi khác. Nếu không thể hứa hẹn được mức thu hoạch này, công ty nên phân phối số lợi nhuận tạo được đến chủ nhân của cổ phiếu. Nguyên tắc này được gọi là nguyên tắc ngoại tranh trong quyết định phân phối hoặc giữ lại lợi nhuận tạo được (marginal principle of retained earnings).
Mức lợi nhuận tối thiểu trong nguyên tắc ngoại tranh được tính như sau:
MLNtt = MLNkd - (1-Th) {2-10}
MLNtt = Mức lợi nhuận tối thiểu
MLNkd = Mức lợi nhuận khả dĩ
Th = Thuế
Thí Dụ 2-3
Giả dụ chủ nhân của cổ phiếu thường đẳng XYZ có cơ hội tạo 10% lợi nhuận nếu chịu đầu tư vào cổ phiếu của một công ty khác, công ty KLM. Giả dụ thêm là ngạch thuế trung bình của công ty XYZ là 30% và cả hai công ty, XYZ và KLM, đều có cùng mức độ an nguy trong đầu tư (risk) ngang nhau. Chiếu theo nguyên tắc ngoại tranh trong quyết định phân phối hoặc giữ lại lợi nhuận, ở mức lợi nhuận nào công ty XYZ nên giữ lại lợi nhuận đã tạo được để tái đầu tư vào chính công ty?
Mức Lợi Nhuận Tối Thiểu:
MLNtt = MLNkd x (1- Th)
= 10%x(1 - .30)
= 7%
Nếu công ty XYZ có thể thu hoạch ít nhất 7% lợi nhuận trong tương lai, công ty nên giữ lại lợi nhuận đã tạo được để tái đầu tư vào công ty. Ngược lại, công ty XYZ nên đem chia lợi nhuận đã tạo được qua hình thức phân phối lợi nhuận vô kỳ để chủ nhân của cổ phiếu XYZ có thể đem đầu tư vào nơi khác có lợi nhuận cao hơn, chẳng hạn như đầu tư vào công ty KLM.
Chú Thích:
MLNtt = Mức lợi nhuận tối thiểu
MLNkd = Mức lợi nhuận khả dĩ
Th = Nghạch thuế
Mức Độ Phân Phối
Trên thực tế, đa số công ty có khuynh hướng phân phối khoãng 50% lợi nhuận tạo được.
3 Mức độ phân phối lợi nhuận (dividend payout rate) và mức độ giữ lại lợi nhuận (retention rate) được tính như sau:
MĐPP = (LNPP1c + LN1c) x 100% {2-11}
MĐGL = 100% - MĐPP {2-12}
MĐPP = Mức độ phân phối lợi nhuận
MĐGL = Mức độ giữ lại lợi nhuận
LNPP1c = Lợi nhuận phân phối cho một cổ phần (dividend per share, DPS)
LN1c = Lợi nhuận tính trên một cổ phần; lợi nhuận một cổ phần (earning per share, EPS)
Một số chuyên gia nghiên cứu về thị trường chứng khoán cho rằng quyết định và mức độ phân phối hoặc giữ lại lợi nhuận không làm cho giới đầu tư quan tâm.(4) Một số chuyên gia khác không đồng ý với nhận định trên.(5) Điều Hoà Trong Phân Phối
Trong quyết định phân phối lợi nhuận vô kỳ, công ty thường cố gắng duy trì tính cách điều hoà trong số lượng phân phối (dividend stability) dầu cho lợi nhuận công ty tạo được có thay đổi hoặc chìm nổi theo từng năm. So sánh mức điều hoà trong cách phân phối lợi nhuận giữa công ty XYZ và ABC, giới đầu tư có khuynh hướng ưa chuộng công ty XYZ hơn là công ty ABC mặc dù tổng số phân phối trong 4 năm của cả hai đều ngang nhau hay là $4.05.
So Sánh Mức Điều Hoà Trong Lợi Nhuận Phân Phối:
1994 1995 1996 1997
Công ty XYZ ($) 0.75 0.90 1.08 1.32
Công ty ABC ($) 0.75 2.00 0.30 1.00
Thí Dụ 2-4
Trong năm 1996, công ty XYZ đã tạo được $4.0 lợi nhuận cho một cổ phần (EPS). Cũng trong năm 1996, công ty XYZ đã phân phối $1.90 lợi nhuận vô kỳ cho mỗi cổ phần thường đẳng đang lưu hành.
(1) Tính mức độ phân phối lợi nhuận của công ty XYZ.
(2) Tính mức độ giữ lại lợi nhuận của công ty XYZ.
Mức Độ Phân Phối Lợi Nhuận:
MĐPP = (LNPP1c + LN1c) x 100%
= ($1.90 + $4.0)x100% = 47.50%
Mức Độ Giữ Lại Lợi Nhuận:
MĐGL = 100% - MĐPP
= 100% - 47.50% = 52.50%
Chú Thích:
MĐGL = Mức độ giữ lại lợi nhuận (retention rate)
LNPP1c = Lợi nhuận phân phối cho một cổ phần
(DPS) LN1c = Lợi nhuận một cổ phần (chỉ số EPS)
MĐPP = Mức độ phân phối lợi nhuận (dividend payout rate)
Xâm Phạm Vốn Đầu Tư
Hầu hết tất cả những tiểu bang đều ngăn cấm công ty dùng vốn đầu tư (initial capital contributions) của cổ chủ để phân phối lợi nhuận vô kỳ. Công ty chỉ được phép phân phối số lợi nhuận đã giữ lại từ trước cộng vào số lợi nhuận mới tạo được (past and current earnings). Phân phối vượt ngoài số lợi nhuận này bị coi như xâm phạm vốn đầu tư (raiding the capital).
Công ty XYZ có giá trị chủ bản tổng cộng là $1.3 triệu:
Giá Trị Chủ Bản Của XYZ:
Cổ phiếu thường đẳng, $1x100,000 $100,000
Khoản sai biệt giữa gttt & gnt 600,000
Lợi nhuận được giữ lại
600,000
Toàn bộ giá trị chủ bản $1,300,000
Tuy nhiên, công ty XYZ chỉ có thể phân phối lợi nhuận tới mức tối đa là $600,000 trong mục lợi nhuận được giữ lại. Luật này nhằm bảo vệ những chủ nợ (creditors) đang cho công ty vay mượn.
Ảnh Hưởng Chính Trị Nội Bộ
Hội đồng giám đốc và ban lãnh đạo điều hành của những công ty nhỏ thường dè dặt trong vấn đề phân phối lợi nhuận vô kỳ. Họ lo ngại là sau khi phân phối công ty có thể bị thiếu hụt và đưa đến tình trạng buộc họ phải bán ra thêm cổ phiếu mới để thu hút nguồn tài chính cần thiết. Số cổ phiếu mới sẽ làm loãng đi quyền bầu cử của số cổ phiếu cũ và có thể đưa đến tình trạng mất đi quyền chủ động chính trị nội bộ.
Mức Thu Hoạch
Thường thì lợi nhuận vô kỳ (dividends) và mức thu hoạch của lợi nhuận vô kỳ (dividend yields) được trình bày theo đơn vị một năm và phần trăm:
LNPP1c
MTH = ------------x100% {2-13}
Gtt
Gtt = Giá thị trường của cổ phiếu
LNPP1c = Lợi nhuận phân phối trên một cổ phần
MTH = Mức thu hoạch của lợi nhuận vô kỳ (dividend yield)
Lịch Trình Phân Phối
Trong lịch trình phân phối có thời điểm khác nhau: ngày kiểm danh (holder-of-record date), ngày ngoại kiểm (ex-dividend date), và ngày phân phối (payment date). Ngày kiểm danh là ngày công ty kiểm điểm danh sách chủ nhân của cổ phiếu được quyền hưởng lợi nhuận vô kỳ. Chỉ có những người nắm chủ quyền của cổ phiếu trước ngày ngoại kiểm nằm trong danh sách này.
Ngày ngoại kiểm được đặt ra 4 ngày trước ngày kiểm danh. Ngày phân phối là ngày công ty thực sự phân phối lợi nhuận đến người dự phần.
Giả dụ như công ty XYZ tuyên bố phân phối lợi nhuận theo lịch trình như sau:
Lịch Trình Phân Phối Của XYZ:
Ngày ngoại kiểm 6/01/1996
Ngày kiểm danh 6/05/1996
Ngày phân phối 6/30/1996
Theo lịch trình này, chỉ những người mua cổ phiếu XYZ trước ngày 6/01/96 là có tên trong danh sách thành lập ngày 6/05/96 để nhận lợi nhuận phân phối vào ngày 6/30/96. Những người mua cổ phiếu vào ngày 6/01/96 trở về sau sẽ không được hưởng đợt phân phối lợi nhuận vào ngày 6/30/96.
Ảnh Hưởng Sau Ngày Ngoại Kiểm
Giới đầu tư rất quan tâm đến ngày ngoại kiểm. Sau ngày này, nếu tất cả những yếu tố khác không thay đổi, giá của cổ phiếu có thể giảm xuống theo số lượng tương đương với số lợi nhuận được phân phối ra.
Thí Dụ 2-5
Trong năm 1996, công ty XYZ phân phối lợi nhuận vô kỳ tất cả là 4 lần như sau:
Lợi Nhuận Vô Kỳ Phân Phối Trong Năm 1996:
Hạn 3 tháng (1) (2) (3) (4)
Lợi nhuận phân phối ($) 0.45 0.48 0.48 0.49
Giả dụ như giá thị trường của cổ phiếu XYZ, vào đầu năm 1997, là $30 một cổ. Tính mức thu hoạch của cổ phiếu XYZ.
Mức Thu Hoạch Của Cổ Phiếu XYZ:
MTH = LNPP1c + Gtt
= (0.45+0.48+0.48+0.49) + $30
= 0.0633 hay là 6.33%
Tính ra công ty XYZ phân phối lợi nhuận vô kỳ cho năm 1996 là $1.90 một cổ phần. Cổ phiếu XYZ có mức thu hoạch là 6.33% một năm.
Chú Thích:
Gtt = Giá thị trường của cổ phiếu
LNPP1c = Lợi nhuận phân phối trên một cổ phần
MTH = Mức thu hoạch của lợi nhuận vô kỳ
Thể Thức Phân Phối
Công ty có thể phân phối lợi nhuận vô kỳ bằng hai thể thức: phân phối lợi nhuận bằng tiền mặt (cash dividends) hoặc phân phối lợi nhuận bằng cổ phiếu (stock devidends).
Theo thể thức phân phối lợi nhuận bằng cổ phiếu, một số cổ phần mới sẽ được phân phối tới chủ nhân của cổ phiếu thường đẳng, thường thì vào khoảng 10% của tổng số cổ phần hiện hành. Số cổ phần mới, sau khi điều chỉnh, không làm gia tăng hoặc sút giảm giá trị chủ bản của công ty mặc dù có sự thay đổi trong chi tiết kế toán.
Giả dụ công ty XYZ tuyên bố phân phối lợi nhuận vô kỳ với 10% cổ phần mới, toàn bộ giá trị chủ bản trước khi phân phối sẽ như sau:
GTCB Của XYZ Trước Khi Phân Phối:
Cổ phiếu thường đẳng, $0.1x1,000,000 cổ (1) $100,000
Khoản sai biệt giữa GTTT & Gnt (2) 800,000
Lợi nhuận được giữ lại (3)
400,000
Toàn bộ giá trị chủ bản (1+2+3) $1,300,000
và toàn bộ giá trị chủ bản sau khi phân phối sẽ như sau:
GTCB Của XYZ Sau Khi Phân Phối:
Cổ phiếu thường đẳng, $0.1x1,100,000 cổ (1) $110,000
Khoản sai biệt giữa GTTT & Gnt (2) 880,000
Lợi nhuận giữ lại (3)
310,000
Toàn bộ giá trị chủ bản (1+2+3) $1,300,000
Sau khi cộng 10% hay 100,000 cổ phần mới, tổng số cổ phần hiện hành tăng lên 1,100,000. Đồng thời, $90,000 được chuyển ra khỏi lợi nhuận được giữ lại để đưa $10,000 (10% x $100,00) vào giá trị trừu tượng và đưa $80,000 (10% x $800,00) vào khoản sai biệt giữa GTTT & Gnt. So sánh trước và sau khi phân phối lợi nhuận vô kỳ, toàn bộ giá trị chủ bản của XYZ vẫn là $1,300,000. Sự thay đổi chi tiết bên trong chỉ để điều chỉnh về mặt kế toán.
Đối với chủ nhân của cổ phiếu, số cổ phần mới không làm gia tăng hoặc làm giảm sút giá trị của toàn bộ đầu tư mặc dù lợi nhuận một cổ phần (EPS) của công ty có thực sự giảm sút.
Trước Khi XYZ Phân Phối 10% Cổ Phần Mới:
Lợi nhuận (1) $400,000
Cổ phần hiện hành (2) 1,000,000
Lợi nhuận một cổ phần (1-2) $0.40
Sau Khi XYZ Phân Phối 10% Cổ Phần Mới:
Lợi nhuận (1) $400,000
Cổ phần hiện hành (2) 100,000
Lợi nhuận một cổ phần (1-2) $0.3636
So sánh lợi nhuận của công ty XYZ trước và sau khi phân phối 10% cổ phần mới, lợi nhuận một cổ phần giảm từ $0.40 xuống $0.3636 hay là 10%. Tuy nhiên, khi so sánh toàn bộ đầu tư trước và sau khi phân phối lợi nhuận vô kỳ
Trước Khi XYZ Phân Phối 10% Cổ Phần Mới:
Số cổ phần của cá nhân (1) 10,000
Lợi nhuận một cổ phần (2) $0.40
Chỉ số Gtt/LN1c (3) 75
Lợi nhuận được quyền thừa hưởng (1x2) $4,000
Toàn bộ đầu tư (1x2x3) $300,000
Sau Khi XYZ Phân Phối 10% Cổ Phần Mới:
Số cổ phần (1) 11,000
Lợi nhuận một cổ phần (EPS) (2) $0.3636
Chỉ số Gtt/LN1c (3) 75
Lợi nhuận được quyền thưà hưởng (1x2) $4,000
Toàn bộ đầu tư (1x2x3) $300,000
cho thấy không có sự thay đổi trên phần lợi nhuận dành cho cổ phiếu thường đẳng mà chủ nhân của cổ phiếu được quyền thừa hưởng theo tỉ lệ (claims to earnings) và cũng không có sự thay đổi trên giá trị của toàn bộ đầu tư.
Chỉ số giá-thị-trường-trên-lợi-nhuận (price/ earning ratio or P/E), viết tắt Gtt/LN1c, của một cổ phiếu đo lường tĩ lệ giữa giá thị trường và lợi nhuận một cổ phần của cổ phiếu đó, hay là:
Gtt
Gtt/LN1c = --------------{2-14}
LN1c
Gtt = Giá thị trường
LN1c = Lợi nhuận một cổ phần
Gtt/LN1c = Chỉ số giá thị trường trên lợi nhuận một cổ phần
Số lợi nhuận cổ chủ được quyền thừa hưởng tính bằng đẳng thức 2-14 như sau:
SLNth = SCP x LN1c {2-15}
SLNth = Số lợi nhuận được quyền thừa hưởng
SCP = Số cổ phần đang nắm giữ
LN1c = Lợi nhuận 1 cổ phần (EPS)
và giá trị của toàn bộ đầu tư được tính bằng đẳng thức 2-15 như sau:
ĐT = SCP x LN1c x Gtt/LN1c {2-16}
ĐT = Toàn bộ đầu tư
Gtt = Giá thị trường của cổ phiếu
Gtt/LN1c= Chỉ số giá trên lợi nhuận (price/earning ratio, P/E)
Lý Do Phân Phối Lợi Nhuận Bằng Cổ Phiếu
Trong giai đoạn phát triển mạnh công ty cần giữ lại lợi nhuận để hỗ trợ công cuộc phát triển. Muốn giữ vững niềm tin và sự ủng hộ của giới đầu tư, công ty có thể dùng thể thức phân phối lợi nhuận vô kỳ bằng cổ phiếu để ngấm ngầm nhắn nhủ (informational content) tới giới đầu tư về khả năng phát triển mạnh mẽ của công ty. Do đó, thể thức phân phối này được coi như một phương tiện truyền thông. Có đôi khi những công ty không thể tạo ra được lợi nhuận cũng áp dụng thể thức phân phối lợi nhuận vô kỳ với số cổ phần mới. Nhưng trong trường hợp này, mục đích chính là làm hoa mắt giới đầu tư để che đậy khả năng kém cỏi của ban lãnh đạo điều hành và sự thoái hoá của công ty.
Chiều Hướng Của Giới Đầu Tư
Quan tâm của giới đầu tư liên hệ tới lợi nhuận vô kỳ thay đổi theo thời gian và tuỳ hoàn cảnh. Vào thập niên 1960, giới đầu tư gần như hoàn toàn không để ý đến lợi nhuận vô kỳ mà chỉ chú trọng vào khả năng tạo lợi nhuận của công ty được đo lường bằng lợi nhuận một cổ phần hay chỉ số LN1c (earnings per share; EPS). Những công ty như Syntex, Xerox, Palaroid, Sears Roebuck, Procter & Gamble, Eastman Kodak được giới đầu tư ưa chuộng và theo đuổi là nhờ vào mức gia tăng nhanh chóng trên chỉ số LN1c của công ty. Ở giai đoạn đó, mức gia tăng nhanh chóng của chỉ số LN1c cũng có nghĩa là mức gia tăng nhanh chóng của giá cổ phiếu trên thị trường. Ngược lại, đa số công ty lớn (blue chips) nằm trong nhóm Dow Jones, dầu là phân phối lợi nhuận vô kỳ rất cao và đều đặn, vẫn bị giới đầu tư chê bai và bỏ quên.
Sự phá giá trầm trọng của thị trường cổ phiếu năm 1969 dẫn đến sự thay đổi trong quan điểm đầu tư. Vào thập niên 1980, lợi nhuận vô kỳ trở nên một quan tâm chính yếu của giới đầu tư. Khả năng phân phối lợi nhuận vô kỳ của công ty, nếu cao và điều hoà, được đánh giá cao hơn là khả năng phát triển và chỉ số LN1c.
Đến thập niên 1990, giới đầu tư dường như có khuynh hướng dung hoà cả hai. Những công ty vững chải có khả năng tạo lợi nhuận cao lẫn khả năng phân phối lợi nhuận vô kỳ cao và điều hoà được ưa chuộng. Tuy nhiên, theo nhận định của ông Richard Tewels, Edward Bradley và Ted Tewels, giới đầu tư muốn bắt cá hai tay và hy vọng thành tựu lớn là điều không thực tế. Một bằng chứng điển hình là công ty McDonald. Công ty này chủ trương phân phối lợi nhuận rất ít. Tuy nhiên, nếu đầu tư $2,500 vào 100 cổ phần của công ty này năm 1965, số đầu tư đã tăng lên đến 18,590 cổ với giá trị hơn $600 ngàn tính vào năm 1991. Phần thưởng này thường thường không đến với người muốn bắt cá hai tay.(6)
Phân Cổ Và Nhập Cổ
Phân cổ (stock split) cũng tương tự như phân phối lợi nhuận vô kỳ bằng cổ phiếu. Cả hai đều tạo nhập thêm một số cổ phần mới vào tổng số cổ phần đang hiện hành. Tuy nhiên theo luật lệ của thị trường mua bán chứng khoán, chẳng hạn như NYSE, và luật lệ của hội đồng thiết lập tiêu chuẩn tài chính và kế toán (FASB), nếu số cổ phần mới vào khoảng 20% của tổng số cổ phần cũ hay cao hơn, công ty phải áp dụng thể thức phân cổ thay vì phân phối lợi nhuận bằng cổ phiếu. Kế toán cho phân cổ có phần khác biệt với kế toán cho phân phối lợi nhuận. Sau khi phân cổ, tổng số cổ phần sẽ gia tăng và giá một cổ phần sẽ giảm xuống ở mức tương đương với tỉ lệ phân cổ trong khi giá trị chủ bản của công ty và giá trị toàn bộ đầu tư không thay đổi.
Giả dụ như công ty XYZ tuyên bố phân cổ theo tỉ lệ 3/1. Tỉ lệ ba trên một có nghĩa là cứ mỗi một cổ phần hiện hữu sẽ trở thành ba cổ phần trong tương lai sau ngày phân cổ. Trước khi phân cổ, tổng số cổ phần của công ty là 1,000,000 và GTTT là $0.10 một cổ phần. Sau khi phân cổ, tổng số cổ phần của công ty là 3,000,000 (1,000,000 x 3/1) và GTTT cho một cổ phần là $0.033 ($0.1 +3/1). Giá trị chủ bản trước và sau khi phân cổ vẫn là $1,300,000.
GTCB Của XYZ Trước Khi Phân Cổ Theo Tĩ lệ 3/1:
Cổ phiếu thường đẳng, $0.1x1,000,000 cổ (1) $100,000
Khoản sai biệt giữa GTTT & Gnt (2) 800,000
Lợi nhuận được giữ lại (3)
400,000
Toàn bộ giá trị chủ bản (1+2+3) $1,300,000
GTCB Của XYZ Sau Khi Phân Cổ Theo Tĩ lệ 3/1:
Cổ phiếu thường đẳng, $0.033 x 3,000,000 cổ (1) $100,000
Khoản sai biệt giữa GTTT & Gnt (2) 800,000
Lợi nhuận được giữ lại (3)
400,000
Toàn bộ giá trị chủ bản (1+2+3) $1,300,000
Đối với cá nhân có dự phần đầu tư vào công ty XYZ, phân cổ không làm thay đổi giá trị toàn bộ đầu tư. Giả dụ như ông A có 10,000 cổ phần của công ty XYZ. Trước khi phân cổ, giá của cổ phần là $30. Như vậy tổng số đầu tư của ông A trị giá $300,000 ($30 x 10,000).
Trước Khi XYZ Phân Cổ Theo Tĩ lệ 3/1:
Số cổ phần của ông A (1) 10,000
Giá một cổ phần (2) $30.0
Toàn bộ đầu tư (1x2) $300,000
Sau khi phân cổ, giá của một cổ phần giảm xuống $10 ($30 ¸3/1). Tuy nhiên, số cổ phần của ông A tăng lên 30,000 (10,000 x 3/1) và toàn bộ đầu tư trước sau vẫn là $300,000.
Thông thường lý do chính để phân cổ là vì công ty phát hành cổ phiếu muốn điều chỉnh giá của cổ phiếu xuống thấp hơn cho phù hợp với thị hiếu chung của thị trường (popular trading range). Giữa 10 cổ phần ở giá $500 một cổ và 100 cổ phần ở giá $50 một cổ, giới đầu tư có khuynh hướng chọn mua nhiều cổ phần ở giá thấp hơn là mua ít cổ phần ở giá cao dù là giá trị tổng cộng của vốn đầu tư ngang nhau. Lý do thứ hai cho việc phân cổ là để gia tăng số lượng của cổ phần lưu hành. Số lượng cổ phần lưu hành càng cao thì cổ phiếu đó càng dễ thịnh hành (improving liquidity).(7) Những cổ phiếu thịnh hành hấp dẫn giới trung gian mua bán cổ phiếu. Động lực này làm cho cổ phiếu đã thịnh hành càng thêm thịnh hành và cuối cùng đủ tầm vóc để được liệt vào danh sánh của những thị trường mua bán có tín nhiệm cao. Những công ty đang phát triển cần sự tín nhiệm của thị trường để thu hút nguồn tài chính mới cho công cuộc phát triển.
Ngược lại với phân cổ là nhập cổ (reverse split). Lý do chính yếu để nhập cổ là vì công ty phát hành muốn điều chỉnh giá của cổ phiếu cao hơn cho phù hợp với thị hiếu chung của thị trường. Cổ phiếu có giá ở mức quá thấp có khuynh hướng thu hút giới đầu tư có máu đen đỏ (speculators) hơn là giới đầu tư chân chính. Nếu phần lớn cổ phần nằm trong tay của giới đầu tư đen đỏ, cổ phiếu của công ty sẽ trở nên chìm nổi hơn.
Thu Mua Cổ Phần
Những công ty có tiền mặt trong tay nhưng không đủ cơ hội tốt để phát triển thêm thương nghiệp của công ty đôi khi dùng khoản thặng dư này (excess cash) để thu mua lại cổ phần do chính công ty phát hành (stock repurchase). Quyết định thu mua lại cổ phần thường dựa trên hai lý do. Thứ nhất, có thể công ty tin là giá thị trường của cổ phiếu của công ty thấp hơn giá trị thực. Trong trường hợp này, mua lại cổ phần của công ty coi như đầu tư vào chính cổ phiếu công ty. Thứ hai, có thể vì công ty muốn nâng giá thị trường của cổ phiếu do chính công ty phát hành. Mua vào một số lớn cổ phần của công ty tạo ảnh hưởng đến cán cân cung cầu và làm cho giá cổ phiếu của công ty gia tăng, hoặc ít ra có thể cầm giá lại trong trường hợp giá của cổ phiếu đang trên đà tuột dốc.
Thị Trường
Thị trường chứng khoán được chia làm thị trường cấp I và thị trường cấp II. Thị trường cấp I là thị trường của chứng khoán mới trong khi thị trường cấp II là thị trường của chứng khoán cũ. Chứng khoán mới là chứng khoán được bán ra lần đầu tiên (primary offerings). Chứng khoán mới thường do những ngân hàng kinh tài đứng ra đảm nhiệm phân phối qua công hệ (public offerings) hoặc tư hệ (private placements). Sau đó chứng khoán được mua đi bán lại (secondary transactions) trên thị trường mua bán cấp I (organized exchanges) và trên thị trường mua bán cấp II (self-regulated exchanhes). Chứng khoán đã từng mua đi bán lại được gọi là chứng khoán cũ. Mua Bán Cổ Phiếu Cổ phiếu được mua bán trên thị trường cấp II qua những trung tâm mua bán chứng khoán được gọi là thị trường mua bán chứng khoán (exchanges). Thị trường mua bán chứng khoán được chia ra làm hai cấp. Thị trường mua bán cấp I (registered exchanges) là những thị thường mua bán chứng khoán có đăng ký và có tổ chức chặt chẽ. Trong số những thị trường mua bán cấp I có New York Stock Exchange (NYSE); American Stock Exchange (AMEX); những thị trường mua bán theo vùng (regional exchanges) chẳng hạn như Pacific Stock Exchange (PSE), Philadelphia Stock Exchange (PHLX), Boston Stock Exchange, Midwest Stock Exchange, và Cincinnati Stock Exchange (CSE); và những thị trường mua bán ở hải ngoại (oversea exchanges) chẳng hạn như Tokyo Stock Exchange. Thị trường mua bán cấp II (over-the-counter, OTC) là thị trường tự-quản- tự-kiểm (self-regulated), một tập hợp với sự tham dự của hằng ngàn cá nhân hoặc cơ quan đại lý mua bán chứng khoán và trung gian mua bán chứng khoán liên kết để làm thị trường qua một tổ chức được gọi là Hội Đoàn Đại Lý Mua Bán Chứng Khoán (National Association of Securities Dealers, Inc.; NASD). Thay vì gặp mặt nhau tại hội trường mua bán để đấu giá theo truyền thống lâu đời của thị trường mua bán cấp I, người mua và người bán mặc cả giá của chứng khoán và thành lập mua bán chứng khoán qua một hệ thống điện toán (screen based market). NASDAQ (NASD Automated Quote), OTCBB (OTC Bulletine Board), và PORTAL (PORTAL Market) thuộc vào loại thị trường này. Hội viên của NASD tự mình đầu tư tài lực vào chứng khoán để bán ra cho thân chủ kiếm lời. Vì vậy họ được gọi là đại lý mua bán chứng khoán (dealers), trong khi hội viên của thị trường mua bán cấp I chỉ là trung gian mua bán cho thân chủ để lấy lệ phí (brokers). Hội viên của NASD mua bán chứng khoán của hơn 50,000 công ty trên OTCBB và hơn 5,000 công ty trên NASDAQ.
Muốn đăng ký với một thị trường mua bán cấp I, công ty phát hành cổ phiếu phải hội đủ một số điều kiện do thị trường đó đề ra. NYSE và AMEX đề ra những tiêu chuẩn tài chính rất cao. Do đó, những công ty đăng ký mua bán trên hai thị trường này được coi là có căn bản rất vững chắc và đầy đủ uy tín. Nếu công ty không thể duy trì được những tiêu chuẩn đã định, thị trường liên hệ sẽ loại công ty đó ra khỏi danh sách mua bán của thị trường. Công ty bị loại ra có thể gia nhập thị trường cấp II để chứng khoán của công ty có thể tiếp tục lưu hành. Phần lớn chứng khoán của những công ty trên NASDAQ và OTCBB được liệt vào loại thiếu tiêu chuẩn tốt (penny stocks). Tuy nhiên, NASDAQ cũng có những công ty đã vững chãi, có tiếng tăm và có tiêu chuẩn tài chính cao tham dự. Thí dụ điển hình là công ty Intel, Cisco, 3Comp, Dell, Seagate, MicroSoft, vân vân. Trước đây nhiều năm, tổ chức của thị trường cấp II có lỏng lẻo thật sự. Nhưng những cải tiến của NASD vào năm 1971 và 1995, cộng vào sự giám sát chặt chẽ hơn của Ủy Ban Kiểm Soát Thị Trường Chứng Khoán (SEC), thị trường cấp II đã trở thành thị trường hiện đại dựa trên phương tiện kỹ thuật tối tân nhất trên thế giới. Vì vậy, tính cách lõng lẻo của thị trường cấp II chỉ còn đúng trong ý nghiã giới hạn "tự quản tự kiểm" (self-regulated organization, SRO) mà thôi.
Phiếu Chứng Nhận Ký Thác
Phiếu chứng nhận ký thác cổ phần (American Deposit Receipts, ADR) là một sáng tạo của Morgan Guaranty Trust ở thập niên 1920s. Vào khoãng thời gian đó, Ủy Ban Kiểm Soát Thị Trường Chứng Khoán và thủ tục đăng ký chứng khoán chưa ra đời. Cổ phần của một công ty ở hải ngoại được ký thác vào một ngân hàng. Cùng lúc, ngân hàng phát hành phiếu chứng nhận ký thác cổ phần của công ty này và bán ra tại thị trường Hoa Kỳ. Khi ngân hàng chịu phát hành phiếu chứng nhận ký thác cổ phần cho một công ty, phiếu chứng nhận ký thác cổ phần của công ty đó được gọi là có bảo lãnh (sponsored). Ngân hàng chỉ bảo lãnh cổ phiếu theo sự yêu cầu của công ty phát hành. Ngược lại, ngân hàng có thể hủy bỏ bảo lãnh (unsponsored) phiếu chứng nhận ký thác cổ phần của một công ty nếu có sự yêu cầu của giới đầu tư.
Ngày nay, tất cả phiếu chứng nhận ký thác cổ phần có bảo lãnh (sponsored ADRs) đều có đăng ký với Ủy Ban Kiểm Soát Thị Trường Chứng Khoán. Với chiều hướng đầu tư vào những công ty hải ngoại của giới đầu tư ở Hoa Kỳ, phiếu chứng nhận ký thác cổ phần càng lúc càng thịnh hành. Thay vì mua trực tiếp cổ phần của công ty hải ngoại (buys foreign shares directly), giới đầu tư chọn mua ADRs vì hai lý do. Thứ nhất, mua ADRs tiện lợi và dễ dàng hơn. Thứ hai, để tránh bị phạt vạ lúc bán ra. Bán ra cổ phiếu của những công ty hải ngoại không có đăng ký với Ủy Ban Kiểm Soát Thị Trường Chứng Khoán sẽ bị phạt vạ dưới điều khoản "trợ giúp phân phối chứng khoán không đăng ký (as the distributor of unregistered securities)" theo luật chứng khoán năm 1933 (Security Act of 1933). Người nắm giữ phiếu chứng nhận ký thác cổ phần thông thường có tất cả những quyền liên hệ đến cổ phiếu đó. Báo cáo tài chính và văn kiện liên hệ đến công ty được in bằng Anh Ngữ. Lợi nhuận vô kỳ phân phối và giá của cổ phiếu được tính trên đồng đô của Hoa Kỳ.
Cổ Phiếu Ưu Đẳng
Như cổ phiếu thường đẳng, cổ phiếu ưu đẳng được liệt vào loại công cụ hùn hạp (equity). Tuy nhiên, đặc tính của cổ phiếu ưu đẳng có phần khác biệt so với cổ phiếu thường đẳng. Trong việc phân phối lợi nhuận, cổ phiếu ưu đẳng được quyền ưu tiên hơn cổ phiếu thường đẳng. Đặc tính tổng quát của cổ phiếu ưu đẳng có thể nói là đặc tính phối hợp giữa cổ phiếu thường đẳng và trái phiếu.
Lợi Nhuận Thường Kỳ
Cổ phiếu ưu đẳng có mức lợi nhuận cố định và được phân phối thường kỳ. Nếu vì lý do nào đó công ty phát hành cổ phiếu không thể phân phối lợi nhuận như đã cam kết, số lợi nhuận thường kỳ sẽ tiếp tục tích lũy (dividend arrears). Trừ khi số lợi nhuận thường kỳ tích lũy được trang trải hết, công ty không thể chia lợi nhuận vô kỳ cho cổ phiếu thường đẳng. Nói một cách khác, cổ phiếu ưu đẳng được ưu tiên hơn là cổ phiếu thường đẳng trong quyền chia sẽ lợi nhuận. Số lợi nhuận thường kỳ tích lũy càng nhiều thì giá của cổ phiếu thường đẳng càng xuống thấp. Một số cổ phiếu ưu đẳng trên thị trường không giao điều kiện tích lũy (non-cummulative). Những cổ phiếu ưu đẳng loại này không được giới đầu tư ưa chuộng nhiều.
Giá Trị Mặc Nhiên
Giá trị mặc nhiên của cổ phiếu ưu đẳng (preferred stock's par value) là giá trị một cổ phần ưu đẳng lúc mới bán ra. Thông thường giá trị mặc nhiên của cổ phiếu ưu đẳng được định ở giá $100, $50, hoặc $25. Khác hơn giá trị trừu tượng của cổ phiếu thường đẳng, giá trị mặc nhiên của cổ phiếu ưu đẳng có giá trị rất đáng kể. Lợi nhuận thường kỳ thường được tính trên giá trị mặc nhiên của cổ phiếu ưu đẳng. Như vậy, nếu mức lợi nhuận thường kỳ là 10% và giá trị mặc nhiên là $50 thì số lợi nhuận một cổ phần là $5. Vì mức lợi nhuận thường kỳ cố định (fixed rate) nên giá thị trường của cổ phiếu ưu đẳng trồi sụt ngược chiều với mức lợi nhuận hiện hành trên thị trường (interest rate).
Giá Thị Trường
Giống như trái phiếu, giá trị của cổ phiếu ưu đẳng tùy thuộc vào mức lợi nhuận hiện hành trên thị trường. Vì có mức lợi nhuận cố định nên cổ phiếu ưu đẳng cạnh tranh trực tiếp với tín phiếu. Nếu mức lợi nhuận hiện hành trên thị trường tăng lên, giới đầu tư sẽ chuyển từ cổ phiếu ưu đẳng qua tín phiếu. Vì vậy, giá của cổ phiếu ưu đẳng sẽ bị hạ. Ngược lại, nếu mức lợi nhuận hiện hành trên thị trường giảm xuống, giới đầu tư sẽ chuyển vốn từ tín phiếu qua cổ phiếu ưu đẳng. Vì vậy, làm cho giá của cổ phiếu ưu đẳng tăng lên.
Quyền Thu Hồi
Nhiều cổ phiếu ưu đẳng có đính kèm quyền thu hồi (call provision). Công ty phát hành muốn giữ quyền này để bãi bỏ (retire) cổ phiếu ưu đẳng khi mức lợi nhuận hiện hành trên thị trường xuống quá thấp so với mức lợi nhuận thường kỳ của cổ phiếu ưu đẳng. Quyền này không có lợi cho người đầu tư.
Quyền Trao Đổi
Cổ phiếu ưu đẳng có kèm theo quyền trao đổi vì hai lý do chính. Thứ nhất, công ty phát hành không muốn làm hạ giá cổ phiếu thường đẳng bằng cách gia tăng thêm số cổ phần lưu hành (to dilute). Thứ hai, công ty không muốn phát hành trái phiếu vì phải trả lợi nhuận định kỳ cao. Cổ phiếu ưu đẳng có thể giúp cho công ty mượn vốn ở mức lợi nhuận tương đối thấp hơn. Với quyền này, người mua được quyền trao đổi một số cổ phần của cổ phiếu ưu đẳng với một số cổ phần của cổ phiếu thường đẳng theo một tĩ lệ định sẵn. Người mua cổ phiếu ưu đẳng có kèm quyền hoán đổi với hy vọng là cổ phiếu thường đẳng của công ty sẽ tăng giá trong tương lai.
Mức Lợi Nhuận Nổi
Đôi khi cổ phiếu ưu đẳng cho lợi nhuận nổi (adjustable rate). Trong trường hợp này mức lợi nhuận được điều chỉnh theo một chu kỳ và theo một công thức định sẵn. Thường thì công thức dựa trên mức lợi nhuận của công trái ngắn hạn (90-day T-bill rate). Cổ phiếu ưu đẳng cho lợi nhuận nổi rất phổ thông trong thập niên 1980.
Quyền Bầu Cử
Cổ phiếu ưu đẳng không có sự đồng nhất trong quyền tham dự vào chính trị nội bộ. Một số cổ phiếu ưu đẳng không cho phép cổ chủ tham dự vào nội bộ của công ty.
Trái Phiếu
Trái phiếu (bonds) là giấy mượn nợ do công ty tư nhân hoặc cơ quan chính quyền phát hành trên một căn bản được thành lập rõ ràng. Căn bản đó là công ty hoặc cơ quan phát hành giấy mượn nợ cam kết sẽ (1) trả một khoản lợi nhuận định kỳ suốt trong thời gian mượn nợ, (2) sẽ trả lại số nợ ở một thời điểm nhất định trong tương lai, và (3) số nợ và khoản lợi nhuận định kỳ phải được giao ra đúng theo thời hạn cam kết và được quyền ưu tiên hơn cổ phiếu ưu đẳng và cổ phiếu thường đẳng. Khoản lợi nhuận định kỳ (interest) được chia làm hai phần đều nhau và phân phối (installments) 6 tháng một lần. Mức lợi nhuận định kỳ (interest rate) được tính bằng phần trăm thường niên (percent per year). Thời gian từ khi phát hành đến khi mãn hạn được gọi là du kỳ (maturity) và thời điểm hoàn trả số nợ là ngày mãn hạn du kỳ (maturity date) của trái phiếu. Đơn vị căn bản của khoản nợ được gọi là giá trị mặc nhiên (par value, face value, denomination) của trái phiếu. Công ty ABC phát hành trái phiếu có giá trị mặc nhiên $1,000 với mức lợi nhuận định kỳ 9% và mãn hạn du kỳ vào 1/15/2010. Với giả dụ này, công ty ABC cam kết sẽ trả $90 tiền lợi nhuận mỗi năm cho đến khi trái phiếu hết hạn và sẽ mặc nhiên hoàn lại $1,000 đúng vào ngày 15 tháng 1 năm 2010 cho người đang n¡m giữ trái phiếu. Số tiền $90 sẽ được chia làm 2 lần tức là $45 cho mỗi 6 tháng.
Thể Loại
Có 3 loại trái phiếu chính. Thứ nhất là trái phiếu cuả chính quyền liên bang (U.S. government bonds) do Công Khố Trung Ương (U.S. Treasury) phát hành. Thứ nhì là trái phiếu do công ty thương doanh phát hành (corporate bonds). Thứ ba là trái phiếu do cơ quan chính quyền tiểu bang hoặc chính quyền điạ phương phát hành (municipal bonds).
Trái Phiếu Của Chính Quyền Liên Bang
Trái phiếu do chính quyền liên bang phát hành bao gồm công trái phiếu ngắn hạn (U.S. Treasury bills) có du kỳ 13, 26, hoặc 52 tuần; công trái phiếu thường hạn (U.S. Treasury notes) có du kỳ 2, 3, 4, 5, 7 hoặc 10 năm; và công trái phiếu dài hạn (U.S. Treasury bonds) có du kỳ 30 năm. Công trái phiếu ngắn hạn bán ra ở mức qui định tối thiểu là $10,000 và $5,000 cho mỗi mức gia tăng sau đó. Công trái phiếu thường hạn và dài hạn bán ra với mức qui định tối thiểu là $1,000 và $1,000 cho mỗi mức gia tăng sau đó. Những công chứng khoán (U.S. Treasury securities) này có độ khả tín cao nhất vì được bảo chứng bởi chính quyền liên bang.
Trái phiếu dựa trên chủ quyền điạ ốc (Ginnie Maes bonds) do Hội Đoàn Điạ Sản Quốc Gia (Government National Mortgage Association - GMNA) phát hành cũng được liệt vào loại trái phiếu của liên bang. Hội đoàn mua lại chủ quyền điạ ốc từ ngân hàng và dùng lợi nhuận định kỳ nhận được để bảo chứng cho lợi nhuận định kỳ của trái phiếu. Nói một cách khác, trái phiếu dựa trên chủ quyền điạ ốc cam kết rằng khoản lợi nhuận định kỳ nhận được từ những người mượn nợ địa ốc sẽ được dùng để trả khoản lợi nhuận định kỳ cho người đang n¡m giữ trái phiếu và được bảo đảm bằng chủ quyền điạ ốc đang n¡m trong tay chính quyền liên bang (pass-through certificate). Trái phiếu dựa trên chủ quyền điạ ốc có du kỳ trung bình vào khoảng 12 năm.
Trái phiếu Của Công Ty Doanh Thương
Công ty doanh thương phát hành trái phiếu ngắn hạn có du kỳ từ 1 đến 5 năm, trái phiếu thường hạn có du kỳ từ 5 đến 15 năm, và trái phiếu dài hạn có du kỳ từ 15 năm trở lên. Trái phiếu do công ty doanh thương phát hành luôn luôn được định độ khả tín và dùng chữ cái la tinh để xếp hạng. Trái phiếu hạng A có độ khả tín cao nhất và được coi là trái phiếu hảo hạng. Trái phiếu hạng B có độ khả tín trung bình cho nên được coi là trái phiếu thường hạng. Trái phiếu hạng C có độ khả tín thấp nhất.
Trái phiếu do công ty doanh thương nhỏ phát hành thường trả mức lợi nhuận định kỳ rất cao và bán ra ở giá hạ. Những công ty này có độ khả tín thấp nhất do đó trái phiếu của những công ty này còn được gọi là trái phiếu hạng tồi (junk bonds). Vào thập niên 1980, loại trái phiếu này những công ty nhỏ gây quỹ để phát triển. Tuy nhiên phương tiện này đã bị lạm dụng quá mức và bị hủy hoại với một loạt tai tiếng ô nhục vì những hoạt động phi pháp trong lãnh vực đầu tư và một loạt giật nợ (defaults) vào đầu thập niên 1990.
Trái Phiếu Của Chính Quyền Tiểu Bang
Trái phiếu do chính quyền tiểu bang hoặc chính quyền điạ phương phát hành được bảo chứng bởi chính quyền điạ phương hoặc tiểu bang liên hệ. Trái phiếu loại này bao gồm (1) trái phiếu dùng vào công cuộc bảo trì hoặc phát triển điạ phương (General Obligation Bonds) chẳng hạn như xây sửa trường học, đường xá; (2) trái phiếu dùng vào những công trình tự tạo huê lợi (Revenue Bonds) chẳng hạn như xây xa lộ thu lệ phí; (3) trái phiếu dùng vào việc đ¡p vá ngân khoản thường niên bị thiếu hụt (Special Tax Bonds) do sự sa sút hoặc trễ nải trong việc thu thập thuế lợi tức thường niên (tax revenues); và (4) trái phiếu dùng vào xây dựng cơ sở xí nghiệp (Industrial Revenue Bonds) để tạo công ăn việc làm và lợi tức thuế vụ cho điạ phương. Khoản lợi nhuận định kỳ từ loại trái phiếu này thường được miễn thuế lợi tức của tiểu bang và điạ phương. Đôi khi được miễn cả thuế liên bang.
Dạng Thức Và Đặc Tính Của Trái Phiếu
Trái phiếu có nhiều dạng thức và đặc tính khác nhau. Những dạng thức và đặc tính này trực tiếp quyết định giá trị của trái phiếu.
Quyền Thu Hồi
Trái phiếu được đấu giá công khai và tự do lưu hành trên thị trường. Theo lệ thường thì trái phiếu không được kết thúc du kỳ (redeem, pay off) trước ngày mãn hạn trừ khi có giao ước trước trong điều khoản thu hồi (call provision) lúc phát hành và được ghi rõ trên bản khế ước đầu tư (bond indenture). Một vài loại công trái phiếu phát hành trước năm 1985 thuộc loại trái phiếu với quyền thu hồi (callable bonds) này. Quyền thu hồi có thể ở một trong ba hình thức: quyền thu hồi không giới hạn (freely callable), quyền thu hồi có giới hạn (deferred call), hoặc không được quyền thu hồi (non-callable). Quyền thu hồi không giới hạn có nghĩa công ty hoặc cơ quan phát hành có quyền thu hồi trái phiếu bất cứ lúc nào và sự thu hồi không có điều kiện đính kèm. Quyền thu hồi có giới hạn có nghĩa công ty hoặc cơ quan phát hành chỉ có quyền thu hồi trái phiếu sau một thời gian nhất định nào đó -chẳng hạn như sau 5 hoặc 10 năm. Không được quyền thu hồi có nghĩa là công ty hoặc cơ quan phát hành tuyệt nhiên không thể thu hồi trừ khi trái phiếu mãn hạn du kỳ. Thường thường công ty hoặc cơ quan phát hành chọn vào lúc mức lợi nhuận hiện hành xuống thấp để thu hồi trái phiếu. Nếu trái phiếu được thu hồi trước ngày mãn hạn, khoản lợi nhuận định kỳ sẽ không còn giá trị kể từ ngày công bố. Người nắm giữ trái phiếu không những mất đi khoản lợi nhuận định kỳ mà có thể mất đi cả khoản gia tăng trên giá trị thị trường của trái phiếu. Giả dụ như công ty ABC phát hành trái phiếu với quyền triệu hồi có giới hạn, $1,000 giá trị mặc nhiên, 30 năm du kỳ, và 11% lợi nhuận. Vào năm thứ 6, mức lợi nhuận hiện hành giảm xuống thấp. Công ty ABC quyết định thu hồi trái phiếu đang lưu hành. Trước ngày quyết định thu hồi được công bố, giá trị thị trường của trái phiếu là $1,100 hay là 10% cao hơn giá trị mặc nhiên. Khi thu hồi, công ty ABC chỉ hoàn lại $1,000 theo giá trị mặc nhiên. Nói một cách khác, người nắm giữ trái phiếu mất đi $100 trên mỗi trái phiếu $1,000.
Quyền Trao Đổi
Đôi khi trái phiếu có kèm theo qui ước là công ty phát hành có quyền trao đổi trái phiếu với cổ phiếu thường đẳng của cùng công ty theo giá thị trường. Qui ước này nhằm vào mục đích giúp công ty liên hệ có cơ hội chuyển số nợ thành phần hùn một cách hợp pháp, hợp lý, và hợp thời điểm. Trái phiếu loại này được gọi là trái phiếu với quyền trao đổi (convertible bonds). Trái phiếu với quyền trao đổi có mức thu hoạch cao hơn khoản lợi nhuận vô kỳ của cổ phiếu thường đẳng nhưng thấp hơn mức thu hoạch của trái phiếu không quyền trao đổi (non-convertible bonds).
Thí Dụ 2-6
Giả dụ công ty ABC phát hành trái phiếu có kèm theo quyền trao đổi. Số trái phiếu có giá trị tổng cộng là $100 triệu, với 10% lợi nhuận, có hạn du kỳ 25 năm, và có tĩ số hoán đổi là 40 cổ phần của cổ phiếu thường đẳng cho mỗi $1,000 của trái phiếu. Như vậy, mỗi cổ phần của cổ phiếu thường đẳng được định ở giá $25 ($1,000/40) một cổ. Giả dụ thêm là giá thị trường của cổ phiếu thường đẳng của công ty ABC lúc đó là $23 một cổ. Điều này có nghĩa người mua trái phiếu đồng ý trả cao hơn giá thị trường 8.67% ([$25/$23-1]x100%) để đổi lấy quyền được mua cổ phiếu thường đẳng với giá $25 một cổ phần trong tương lai. Người mua đánh cá là giá của cổ phiếu thường đẳng của công ty ABC sẽ tăng lên trên $25. Giả dụ như giá cổ phiếu thường đẳng của công ty ABC từ $23 lên đến $30. Giá trị của trái phiếu có kèm quyền trao đổi sẽ là $1,200 ($30 x 40 cổ). Ngược lại nếu giá của cổ phiếu giảm xuống, giá trị của trái phiếu cũng giảm theo.
Hữu Phiếu/Vô Phiếu
Thường thì trái phiếu có kèm theo cuốn phiếu (coupons) để cho người nắm giữ trái phiếu cắt ra đổi lấy khoản lợi nhuận định kỳ. Chính vì đặc tính này cho nên trái phiếu có kèm theo cuốn phiếu còn được gọi là trái phiếu hữu phiếu (coupon bonds).
Đôi khi trái phiếu chỉ giao ra khoản lợi nhuận định kỳ một lần một vào ngày mãn hạn. Vì vậy, trái phiếu loại này không kèm theo phiếu lợi nhuận và được gọi là trái phiếu vô phiếu (zerocoupon bonds). Trái phiếu vô phiếu được bán ra thị trường với giá dưới giá trị mặc nhiên rất xa (deep discount). Điều này hợp lý bởi vì lợi nhuận hỗn hợp (compounded interest) không những phải tính trên khoản giá trị nguyên thủy (principal) mà còn tính trên khoản lợi nhuận định kỳ được giữ lại trong suốt du kỳ. Giả dụ một trái phiếu vô phiếu có giá trị mặc nhiên $1,000 với 15 năm du kỳ có thể chỉ bán ra khoản $120. Nếu đem $120 này đầu tư và tái đầu tư cả vốn lẫn lời liên tục 15 năm với mức lợi nhuận trung bình 11%, kết quả sẽ tương đương $1,000. Điều này cho thấy giá rất thấp chưa hẳn đem lại lời cao.
Trái phiếu vô phiếu do công ty doanh thương phát hành (corporate zeros) có độ chìm nổi rất cao. Trái phiếu vô phiếu do chính quyền liên bang phát hành (treasury zeros) còn được gọi là STRIPS (Separate Trading of Registered Interest and Principle Securities). Công ty Merrill Lynch đặt tên TIGRs (Treasury Investment Growth Receipts) và công ty Salmon Brother đặt tên là CATS (Certificate of Accrual on Treasury Securities). Trái phiếu vô phiếu do cơ quan chính quyền tiểu bang hoặc điạ phương phát hành (municipal zeros) được miễn thuế liên bang và thuế tiểu bang.
Thí Dụ 2-7
Giả dụ trái phiếu XYZ có giá trị mặc nhiên $1,000, có mức lợi nhuận định kỳ 7.5%, mãn hạn du kỳ vào năm 2000, và được định giá 93. Trái phiếu XYZ có mức thu hoạch thực sự là bao nhiêu?
Giá trị mặc nhiên (face value) = $1,000
Mức lợi nhuận định kỳ (interest rate) = 8.5%
Giá (price) = 93
Mức thu hoạch thực sự (current yield) = ?
Đối với trái phiếu, giá 93 có nghĩa là 93% của giá trị mặc nhiên. Nói một cách khác, trái phiếu XYZ được định giá $930 (93% x $1,000). Mức thu hoạch thực sự (current yield) của trái phiếu XYZ được tính như sau:
Mức thu hoạch thực sự = (1,000$ x 7.5%)/($1,000 x 93) = 8.06%
Hoặc: 7.5/93 = 8.06%
Điểm chính yếu: Mức thu hoạch thực sự khác biệt với mức lợi nhuận định kỳ.
Điều Chỉnh Theo Mức Lạm Phát
Đầu năm 1997, chính quyền liên bang phát hành một loại trái phiếu mới có tên là Inflation Indexed Bond. Lợi nhuận định kỳ của loại trái phiếu này được điều chỉnh hằng năm theo mức lạm phát.
Giá Trị Mặc Nhiên
Trái phiếu được phát hành dựa trên những con số thành lập tạm gọi là đơn vị căn bản cuả trái phiếu (denomination). Công ty doanh thương hầu như luôn luôn chọn $1,000 làm đơn vị căn bản trong khi cơ quan chính quyền thường chọn $1,000, $5,000, và $10,000. Khi bán ra thị trường, đơn vị căn bản này trở nên giá trị mặc nhiên của trái phiếu (par value, face value).
Giá Trị Thị Trường
Khác với giá trị mặc nhiên, giá trị thị trường -hay chỉ nói tắt là giá trị- của trái phiếu tùy thuộc vào nhiều yếu tố tương quan.
Một là tùy thuộc vào khoản lợi nhuận định kỳ (interests). Trái phiếu có giá trị cao hơn nếu mức thu hoạch (yield) cao hơn. Hai là tùy thuộc vào giá trị mặc nhiên. Trái phiếu có giá trị cao hơn nếu giá trị mặc nhiên của trái phiếu cao hơn. Ba là tùy thuộc vào độ khả tín (credit quality) của công ty hoặc cơ quan phát hành. Trái phiếu có giá trị cao hơn nếu cơ hội bị giật nợ (default) ít hơn. Độ khả tín thì trực thuộc vào tài sản bảo chứng (collateral assets) và yếu tố khả tín (credit worthiness) của công ty hoặc cơ quan liên hệ. Những thay đổi không tốt đẹp trên hai yếu tố này sẽ làm giá trị của trái phiếu liên hệ bị giảm sút. Bốn là tùy thuộc vào mức lợi nhuận hiện hành (market interest rate) trên thị trường. Cũng cùng một trái phiếu, giá sẽ giảm đi khi mức lợi nhuận hiện hành tăng lên. Và ngược lại, giá sẽ tăng lên khi mức lợi nhuận hiện hành giảm xuống. Năm là tùy thuộc vào hạn du kỳ. Thời gian càng dài thì sự thay đổi trên mức lợi nhuận hiện hành càng khó lường, cơ hội cho sự thay đổi càng nhiều, và vì vậy mức độ chìm nổi của giá trái phiếu càng cao.
Độ Khả Tín
Những cơ quan chuyên đánh giá những nguồn đầu tư chẳng hạn như Standard & Poors, Moody's Investors Service, Fitch Investors Service, Inc., hoặc Duff & Phelps, Inc. thường xuyên theo dõi độ khả tín của những công ty hoặc cơ quan phát hành trái phiếu. Những cơ quan giám định này dựa vào những yếu tố và dữ kiện quan trọng như khả năng của ban quản trị, mức độ thu xuất, mức độ lời lỗ, mức độ vay mượn, ước đoán về mức cạnh tranh trong tương lai, mức thành công của sản phẩm hoặc dịch vụ, tài sản toàn bộ, tài sản đã đem bảo chứng vân vân để xếp hạng khả tín của trái phiếu. Kết quả của bản xếp hạng được đem ra công bố và tạo ảnh hưởng rất lớn đến giá biểu của trái phiếu trên thị trường. Công ty hoặc cơ quan phát hành tùy thuộc vào kết quả của bản xếp hạng để quyết định mức lợi nhuận định kỳ cho trái phiếu sắp bán ra. Còn người dự phần đầu tư thì tùy thuộc vào kết quả của bản xếp hạng để quyết định mức lợi nhuận thu hoạch tương ứng cho trái phiếu bán ra hoặc mua vào.
Dẫn Liệu 2-3
Bảng Xếp Hạng Khả Tín Theo Standards & Poors
AAA -- Độ khả tín cao nhất. Có khả năng cao nhất trong việc hoàn trả số nợ và trả lợi nhuận định kỳ.
AA -- Độ khả tín rất cao. Có khả năng rất cao trong việc hoàn trả số nợ và trả lợi nhuận định kỳ.
A -- Độ khả tín cao. Có khả năng cao trong việc hoàn trả số nợ và trả lợi nhuận định kỳ. Điều kiện kinh tế xấu có thể tạo đe doạ nhẹ.
BBB -- Độ khả tín trung bình. Có khả năng tương đối trong việc hoàn trả số nợ và trả lợi nhuận định kỳ. Không được an toàn trong điều kiện kinh tế xấu.
BB -- Độ khả tín tương đối trung bình. Tương đối chìm nổi. Điều kiện kinh tế xấu có thể dẫn đến tình trạng thiếu khả năng hoàn trả số nợ và trả lợi nhuận định kỳ.
B -- Độ khả tín tương đối thấp. Độ chìm nổi tương đối cao. Tạm thời thì có khả năng hoàn trả số nợ và trả tiền lợi nhuận. Tuy nhiên, những thay đổi bất thường sẽ dẫn đến tình trạng suy thoái trầm trọng trong khả năng hoàn trả số nợ và trả lợi nhuận định kỳ.
CCC -- Độ khả tín thấp. Cả vốn lẫn lời đều tuỳ thuộc vào hoàn cảnh từng lúc. Không an toàn.
CC -- Độ khả tín rất thấp. Được liệt vào loại rất chìm nổi.
C -- Độ khả tín thấp nhất. Công ty mượn nợ có thể đã khai báo phá sản nhưng tiếp tục hoàn trả số nợ.
CI -- Dành riêng cho trái phiếu ngắn hạn; loại không có lợi nhuận định kỳ.
D -- Đã từng hoặc đang giật nợ.
Bảng Xếp Hạng Khả Tín Theo Moody's
Aaa -- Độ khả tín cao nhất. Có khả năng cao nhất trong việc hoàn trả số nợ và trả lợi nhuận định kỳ. Loại hảo hạng.
Aa -- Độ khả tín rất cao. Có khả năng rất cao trong việc hoàn trả số nợ và trả lợi nhuận định kỳ. Loại hảo hạng
A -- Độ khả tín cao. Có khả năng cao trong việc hoàn trả số nợ và trả lợi nhuận định kỳ. Điều kiện kinh tế xấu có thể tạo đe doạ nhẹ.
Baa -- Độ khả tín trung bình. Có khả năng tương đối trong việc hoàn trả số nợ và trả lợi nhuận định kỳ. Không được an toàn trong điều kiện kinh tế xấu.
Ba -- Độ khả tín tương đối trung bình. Tương đối chìm nổi. Điều kiện kinh tế xấu có thể dẫn đến tình trạng thiếu khả năng hoàn trả số nợ và trả lợi nhuận định kỳ.
B -- Độ khả tín tương đối thấp. Độ chìm nổi tương đối cao. Tạm thời thì có khả năng hoàn trả số nợ và trả tiền lợi nhuận. Tuy nhiên, những thay đổi bất thường sẽ dẫn đến tình trạng suy thoái trầm trọng trong khả năng hoàn trả số nợ và trả lợi nhuận định kỳ.
Caa -- Độ khả tín thấp. Cả vốn lẫn lời đều tuỳ thuộc vào hoàn cảnh từng lúc. Không an toàn.
Ca -- Độ khả tín rất thấp. Được liệt vào loại rất chìm nổi.
C -- Độ khả tín thấp nhất. Công ty mượn nợ có thể đã khai báo phá sản nhưng tiếp tục hoàn trả số nợ.
NR -- Không được xếp hạng.
MIG1 -- Có độ khả tín rất cao (được bảo chứng) và lợi nhuận được miễn thuế. Thường dùng cho trái phiếu do cơ quan chính quyền tiểu bang hoặc chính quyền điạ phương phát hành.
PRIME 1 -- Có độ khả tín cao nhất. Thường dùng cho tín phiếu thương nghiệp
Tương Quan Với Lợi Nhuận Hiện Hành
Thay đổi trên mức lợi nhuận hiện hành của thị trường làm thay đổi tương quan giữa những nguồn đầu tư. Nhất là tương quan giữa trái phiếu đã lưu hành khá lâu và trái phiếu đang phát hành. Mức lợi nhuận hiện hành tăng lên sẽ làm cho giá của trái phiếu đang lưu hành giảm đi. Ngược lại mức lợi nhuận hiện hành giảm đi sẽ làm cho giá của trái phiếu đang lưu hành tăng lên. Ví dụ như trái phiếu X phát hành năm 1990 với $10,000 giá trị mặc nhiên (face value) cam kết 5.5% lợi nhuận định kỳ (tức là $550 lợi nhuận hằng năm) và sẽ mãn hạn vào năm 2000. Đến năm 1996, mức lợi nhuận hiện hành của thị trường giảm xuống 1% so sánh với năm 1990. Trái phiếu Y, tương đương với trái phiếu X, đang phát hành cam kết 5.1% lợi nhuận định kỳ (tức là $510 lợi nhuận hằng năm). Sự tương quan giữa trái phiếu X, trái phiếu Y, và mức lợi nhuận hiện hành đã làm cho giá trị của trái phiếu X cao hơn nhiều so với giá trị của trái phiếu Y ($550 so với $510 lợi nhuận thu hoạch thường niên trong khi tất cả những yếu tố khác đều bình đẳng). Do đó, thị trường đương nhiên sẽ điều chỉnh bằng cách nâng giá của trái phiếu X cho tương xứng với giá trị của nó ở thời điểm liên hệ.
Thí Dụ 2-8
Đồ Thị Của Lợi Nhuận Định Kỳ
Đồ thị của lợi nhuận định kỳ phát hoạ đường biểu diễn của mức lợi nhuận định kỳ của nhiều trái phiếu căn cứ theo hạn du kỳ (interest rate v/s time-to-maturity). Bình thường thì đường biểu diễn phản ảnh tương quan cùng chiều giữa mức lợi nhuận và hạn du kỳ (hình A). Điều này có nghĩa là trái phiếu dài hạn trả lợi nhuận vô kỳ cao hơn là trái phiếu ng¡n hạn. Tuy nhiên, có đôi khi đường biểu diễn chỉ sự tương quan ngược chiều (inverted yield curve) tức là trái phiếu ng¡n hạn có mức lợi nhuận định kỳ cao hơn là trái phiếu dài hạn (Hình B). Theo kinh nghiệm, tình trạng này báo động trước giai đoạn suy thoái của kinh tế (recession) hoặc giai đoạn kém lạc quan của thị trường cổ phiếu (bear market) sắp xảy ra. Hoàn cảnh này, giới đầu tư sẽ bán ra những cổ phiếu có khuynh hướng chìm nổi theo tình trạng kinh tế (cyclical stocks) -chẳng hạn như cổ phiếu của những công ty sản xuất giấy, thép, hoá chất, xe hơi, máy móc dùng vào sản xuất, vân vân- và mua vào trái phiếu. Khi mức lợi nhuận vô kỳ của trái phiếu (mới) dài hạn bắt đầu giảm xuống, giá trị của trái phiếu (cũ) bắt đầu gia tăng.
Nhật báo Wallstreet Journal và nhật báo Barrons có ấn hành đồ thị của lợi nhuận định kỳ thườngxuyên.
Thí Dụ 2-9
Giá mua bán công trái phiếu thường được đăng trên nhật báo như sau:
Maturity Date Bid Asked Yield
1997 % % %
1-12 5.81 4.99 5.09
1-19 5.66 5.39 5.50
1-26 5.21 5.14 5.26
Cột thứ nhất là chỉ ngày mãn hạn du kỳ (maturity date). Cột thứ hai là chỉ giá mua vào (bids to buy) do những tay mua bán trung gian (dealers) cho giá. Cột thứ ba là chỉ giá bán ra (asks to sell) do những tay trung gian cho giá. Cột thứ tư là chỉ mức thu hoạch thực sự. Thay vì định giá bằng đơn vị tiền tệ (dollars), trái phiếu do chính quyền liên bang phát hành được định giá bằng phần trăm.
Trái phiếu mãn hạn du kỳ vào ngày 1-12-1997 được cho giá mua vào là 5.81% và giá bán ra là 4.99%. Nói một cách khác, giá mua vào tạo 5.81% lợi nhuận định kỳ một năm cho người mua và giá bán ra tạo 4.99% lợi nhuận định kỳ một năm cho người bán. Sự sai biệt giữa giá mua và giá bán là phần lời của tay mua bán trung gian hay là 0.82% (5.81% - 4.99% = 0.82%).
Giả dụ như công trái phiếu ngắn hạn (91-day TBill) có giá trị mặc nhiên (face value) $10,000 và lợi nhuận định kỳ (yield to maturity) 5%. Tuy nhiên, vì T-Bill trừ lãi suất lúc mua (discount) cho nên mức thu hoạch thực sự (yield) cao hơn mức lợi nhuận định kỳ. Mức lợi nhuận thực sự được tính như sau:
Số trừ trước (discounted) = (5% x $10,000) x (91/365) = $125
Mức lợi nhuận thực sự cho 91 ngày (yield, 91 days) = $125/($10,000 - $125) x 100%= 1.266%
Mức lợi nhuận thực sự cho một năm (yield, 365 days) = 1.266% x (365/91) = 5.06%
Tương Quan Với Hạn Du Kỳ
Thường thì trái phiếu được bán ra với giá thấp hơn (discount) hoặc cao hơn (premium) giá trị mặc nhiên. Thấp hơn hoặc cao hơn bao nhiêu thì tùy thuộc vào thời gian dài vắn tính tới ngày mãn hạn du kỳ. Cùng là trái phiếu cam kết mức lợi nhuận thường niên cao như nhau, trái phiếu dài hạn hơn sẽ bán ra với giá cao hơn là trái phiếu ngắn hạn. Ngược lại, cùng là trái phiếu cam kết mức lợi nhuận thường niên thấp như nhau, trái phiếu dài hạn hơn sẽ bán ra với giá thấp hơn là trái phiếu ngắn hạn. Trái phiếu càng ngắn hạn thì giá trị thị trường càng gần với giá trị mặc nhiên.
Tương Quan Với Mức Lạm Phát
Giá trái phiếu tương đối ít chìm nổi hơn là giá của cổ phiếu thường đẳng. Người nắm giữ trái phiếu biết rõ khoản lợi nhuận định kỳ là bao nhiêu, khi nào sẽ nhận được, và khi nào sẽ lấy lại vốn đầu tư. Đem so với khoản lợi nhuận vô kỳ và số vốn đầu tư của cổ phiếu thường đẳng, trái phiếu có phần an toàn và chắc chắn hơn nhiều. Tuy nhiên, đầu tư vào trái phiếu, nhất là trái phiếu dài hạn, thường bị đe doạ trầm trọng bởi mức lạm phát (inflation). Lạm phát làm cho giá trị thực của tiền tệ bị mất dần đi. Nếu 10 năm trước $100 có thể mua được 100 kí gạo và $100 ngày hôm nay chỉ mua được 50 kí, nạn lạm phát đã làm cho giá trị thực của đồng tiền mất đi một nửa trong vòng 10 năm. Cho nên khi đầu tư vào trái phiếu, số vốn hoàn lại khi trái phiếu mãn hạn du kỳ có thể đã mất rất nhiều trên giá trị thực mặc dầu giá trị mặc nhiên vẫn nguyên vẹn. Hay nói một cách khác, $1,000 nhận lại trong ngày trái phiếu mãn hạn có thể chỉ tương đương với $500 ở nhiều năm về trước.
Tín Phiếu
Tín phiếu (money market) là giấy chứng nhận mượn nợ thật ngắn hạn với cam kết hoàn trả đúng kỳ. Điều khoản trong cam kết hoàn trả có thể khác nhau tùy thuộc vào từng loại. Trong số những tín phiếu phổ thông gồm có tín phiếu ký thác (Certificates of Deposit), tín phiếu thương nghiệp (Commercial Papers), tín phiếu bảo chứng (Bank Acceptances), tín phiếu chuyển nhượng (Repos, Repurchase Agreements), và công tín phiếu (U.S. Treasury Obligations and U.S. Government Agency Issues). Tín phiếu được mua bán, trao đổi, hoán chuyển giống như tiền. Chỉ khác nhau ở chỗ là giấy mượn nợ do Ngân Hàng Trung Ương Liên Bang (Federal Reserve Banks) ký tên thì gọi là tiền trong khi những giấy mượn nợ không do cơ quan này ký tên thì gọi là tín phiếu. Tín phiếu được mua bán tự do trên thị trường theo từng lô. Thường thì mỗi lô trị giá ít nhất là một triệu đồng. Bởi vì tín phiếu có du kỳ rất ngắn hạn cho nên có mức lợi nhuận thấp hơn trái phiếu. Khác hơn là trái phiếu, giá của tín phiếu không chìm nổi nhiều. Điều này làm cho tín phiếu trở nên công cụ đầu tư ngắn hạn rất hiệu quả. Tuy nhiên, trên căn bản dài hạn, mức lợi nhuận chỉ trội hơn mức lạm phát chút ít.
Hàm Phiếu
Hàm phiếu (derivatives) là một loại chứng khoán chỉ hiện hữu qua sự hiện hữu của một chứng khoán khác hoặc qua sự hiện hữu của một biểu số giá trị hỗn hợp của nhiều chứng khoán (derived from or linked to a specific security or an index). Hay nói một cách khác, hàm phiếu là một ký sinh của một chứng khoán liên hệ (underlying security) hoặc của một biểu số liên hệ. Hàm phiếu phổ thông nhất gồm có hai loại: hàm phiếu độc chế (options) hàm phiếu toàn chế (futures) và hàm phiếu quyền (warrants).
Hàm Phiếu Độc Chế Một hàm phiếu độc chế là một khế ước của quyền mua hoặc quyền bán giữa người chủ xướng (writer, issuer) và người hưởng ứng (holder, buyer) trong đó người hưởng ứng được quyền mua từ, hoặc bán cho, người chủ xướng một chứng khoán liên hệ theo một giá cam kết (strike price, exsercise price) trên một du kỳ định trước. Người hưởng ứng không nhất thiết phải hành sử quyền mua hoặc quyền bán. Tuy nhiên, người chủ xướng bắt buộc phải bán ra, hoặc mua vào, nếu người hưởng ứng quyết định hành sử quyền của mình. Chính vì vậy, cho nên hàm phiếu loại này được gọi là hàm phiếu độc chế. Nói một cách khác, hàm phiếu độc chế chỉ cưỡng chế người đề xướng mà thôi. Để bù lại cho sự thiệt thòi này, người đề xướng sẽ nhận một khoản hàm phí (premium) từ người hưởng ứng.
Một hàm phiếu độc chế được thành lập trên ba yếu tố:
Thứ nhất là một chứng khoán liên hệ trong giao ước mua bán.
Thứ nhì là giá biểu cam kết trên chứng khoán đó.
Thứ ba là du kỳ của giao ước mua bán.
Chứng khoán liên hệ có thể là cổ phiếu, trái phiếu, biểu số giá trị hỗn hợp của một thị trường chứng khoán, hoặc ngoại tệ, và ngay cả hàm phiếu toàn chế. Tuy nhiên, chứng khoán liên hệ phổ thông nhất dùng để thành lập hàm phiếu độc chế là cổ phiếu thường đẳng. Ngoại trừ một vài trường hợp ngoại lệ, tất cả hàm phiếu độc chế dựa trên cổ phiếu thường đẳng đều được thành lập trên căn bản 100 cổ phần của cổ phiếu liên hệ được gọi là 1 hàm khế (1 option contract). Nói một cách khác, 1 hàm khế liên quan đến quyền mua bán 100 (1x100) cổ phần (shares) và 5 hàm khế liên quan đến quyền mua bán 500 (5x100) cổ phần. Nếu hàm phí cho một cổ phần là $2.0 thì hàm phí của 5 hàm khế là 1,000$ ($2.0x5x100). Hạn du kỳ của một hàm phiếu thường vào khoảng 9 tháng. Gần đây hàm phiếu dài hạn (Long-Term Anticipation Securities, LEAPS) vưà được đưa ra thị trường. Hàm phiếu dài hạn có du kỳ vào khoảng 3 năm.
Giá trị thị trường của một hàm phiếu độc chế dựa trên cổ phiếu thường đẳng tùy thuộc vào 6 yếu tố chính: giá thị trường của cổ phiếu (stock price), lợi nhuận vô kỳ của cổ phiếu (cash dividend), mức chìm nổi của cổ phiếu (stock price volatility), hạn du kỳ (time to maturity), giá cam kết (exercise price), và mức lợi nhuận hiện hành trên thị trường (market interest rate). Tăng hay giảm trên giá trị của một hàm phiếu độc chế còn tùy thuộc vào quyền mua hoặc quyền bán.
Quyền Mua
Hàm phiếu độc chế với quyền mua (call options) dành cho người hưởng ứng quyền mua -hoặc không mua- một chứng khoán liên hệ ở một giá nhất định theo một du kỳ nhất định và bắt buộc người chủ xướng phải bán ra chứng khoán theo yêu cầu của người hưởng ứng như đã giao kết. Đối với người hưởng ứng, hàm phiếu độc chế với quyền mua được thành lập với dự đoán là giá cam kết (strike price) sẽ thấp hơn giá thị trường (spot price, market price) trong tương lai. Hay nói một cách khác, ở một thời điểm nào đó trong tương lai, nếu du kỳ vẫn còn hiệu lực và giá thị trường của chứng khoán liên hệ trở nên cao hơn giá cam kết, người hưởng ứng có thể theo giao ước mua lấy chứng khoán này với giá rẻ hơn giá thị trường. Đối với người chủ xướng, hàm phiếu độc chế với quyền mua được thành lập với dự đoán là giá thị trường của chứng khoán liên hệ sẽ nằm yên hoặc giảm sút trong tương lai. Nếu dự đoán này chính xác thì chứng khoán liên hệ sẽ không bị người hưởng ứng mua đi (call away) -tức là không bị ép bán ở giá rẻ hơn giá thị trường- và du kỳ của cam kết cũng mãn hạn.
Như đã nói ở phần trên, giá trị của một hàm phiếu độc chế với quyền mua dựa trên cổ phiếu thường đẳng tùy thuộc vào 6 yếu tố chính. Giá trị này biến đổi:
Cùng chiều với giá trị thị trường của cổ phiếu liên hệ;
Ngược chiều với mức lợi nhuận vô kỳ của cổ phiếu liên hệ;
Cùng chiều với mức chìm nổi của cổ phiếu liên hệ;
Cùng chiều với hạn du kỳ; ở Ngược chiều với giá cam kết;
Cùng chiều với mức lợi nhuận hiện hành trên thị trường.
Quyền Bán
Hàm phiếu độc chế với quyền bán (put options) dành cho người hưởng ứng quyền bán -hoặc không bán- một chứng khoán liên hệ ở một giá nhất định trong một hạn kỳ nhất định và bắt buộc người chủ xướng phải mua vào chứng khoán này theo yêu cầu của người hưởng ứng như đã giao kết. Đối với người hưởng ứng, hàm phiếu độc chế với quyền bán được thành lập với dự đoán là giá cam kết (strike price) sẽ cao hơn là giá thị trường (spot price, market price) trong tương lai. Hay nói một cách khác, ở một thời điểm nào đó trong tương lai, nếu du kỳ vẫn còn hiệu lực và giá thị trường của chứng khoán liên hệ trở nên thấp hơn giá cam kết, người hưởng ứng có thể theo giao ước bán chứng khoán này cho người chủ xướng với giá cao hơn giá thị trường. Đối với người chủ xướng, hàm phiếu độc chế với quyền bán được thành lập (write) vì dự đoán giá thị trường của chứng khoán liên hệ sẽ nằm yên hoặc gia tăng trong tương lai. Nếu dự đoán này chính xác thì chứng khoán liên hệ sẽ không bị người hưởng ứng đưa tới tay (put in hands) -tức là không bị ép mua ở giá mắc hơn giá thị trường- và hạn kỳ của cam kết cũng mất đi hiệu lực.
Cũng giống như quyền mua, giá trị của một hàm phiếu độc chế với quyền bán dựa trên cổ phiếu thường đẳng tùy thuộc vào 6 yếu tố chính. Tuy nhiên, giá trị này biến đổi:
Ngược chiều với giá trị thị trường của cổ phiếu liên hệ;
Cùng chiều với mức lợi nhuận vô kỳ của cổ phiếu liên hệ;
Ngược chiều với mức chìm nổi của cổ phiếu liên hệ;
Ngược chiều với hạn du kỳ;
Cùng chiều với giá cam kết;
Ngược chiều với mức lợi nhuận hiện hành trên thị trường.
Khi du kỳ đã chấm dứt, hàm phiếu sẽ không còn hiệu lực và đương nhiên không còn giá trị.
Thị Trường
Mặc dầu hình thức của hàm phiếu độc chế đã có từ nhiều thế kỷ, loại chứng khoán này chỉ mới được thực sự hợp thức hoá và tiêu chuẩn hóa vào năm 1973. Chỉ sau một thời gian ngắn nó đã trở thành là một công cụ cần thiết cho những tay đầu tư nhà nghề. Sự thịnh hành nhờ vào nhiều lý do. Thứ nhất, việc hợp thức và tiêu chuẩn hoá đã giúp cho thị trường hàm phiếu độc chế trở nên tương đối hiệu quả và ổn định. Thứ hai, hàm phiếu độc chế là một công cụ vô cùng uyển chuyển. Phối hợp với những phương thức tinh vi, hàm phiếu độc chế có thể giúp để phòng thủ những chìm nổi bất ngờ (hedged position) hoặc để nắm lấy những cơ hội bất ngờ (speculative position). Thứ ba, hàm phiếu độc chế được liệt vào hàng thứ nhì trong số những công cụ "mượn gió làm bão" hoặc "lấy nước lã quậy nên hồ".
Ngày nay hàm phiếu độc chế được mua bán công khai trên những thị trường mua bán cấp I như là American Stock Exchange (AMEX), Chicago Board Option Exchange (CBOE), New York Stock Exchange (NYSE), Pacific Stock Exchange (PSE), và Philadelphia Stock Exchange (PHLX). Giống như những chứng khoán khác, thị trường mua bán hàm phiếu nằm trong vòng giám sát của Ủy Ban Kiểm Soát Thị Trường Chứng Khoán.
Hàm Phiếu Toàn Chế
Là một khế ước mua bán một sản phẩm hoặc một chứng khoán giữa người mua và người bán ở một giá được cam kết trước vào một thời điểm trong tương lai. Trong số sản phẩm được mua bán trên thị trường gồm có cả nông sản, khoán sản, lâm sản, và nhiên liệu. Trong số chứng khoán gồm có cả cổ phiếu, biểu số giá trị hỗn hợp của thị trường cổ phiếu, trái phiếu, và ngoại tệ.
Đặc Tính
Hàm phiếu toàn chế khác hơn hàm phiếu độc chế trên nhiều điểm: Thứ nhất, hàm chế toàn phiếu bắt buộc người mua phải mua và người bán phải bán theo cam kết đã định trước. Vì sự cưỡng chế áp đặt lên cả hai phía mua lẫn bán nên nó có tên là hàm phiếu toàn chế. Thứ hai, hàm phiếu toàn chế đòi hỏi cả người mua lẫn người bán phải đặt một khoản ký thác tượng trưng (margin) để chứng tỏ thành ý (good-faith) của cả hai phía. Trong hàm phiếu độc chế, người hưởng ứng trả một khoản hàm phí để mua lấy quyền mua bán (right) và người chủ xướng nhận lấy trách nhiệm hành sử (obligation) đúng theo giao kết. Trong hàm phiếu toàn chế, cả hai phía đều nhận lấy trách nhiệm hành sử (obligation) đúng theo giao kết. Ngoại trừ 1 hoặc 2 phần trăm của tổng số, tất cả những vụ mua bán hàm phiếu toàn chế -dầu là dựa trên vật phẩm hay dựa trên chứng khoán- đều dàn xếp bằng tiền mặt thay vì thực sự giao tải (delivery) vật phẩm hoặc chứng khoán.
Hàm phiếu toàn chế là một công cụ lợi hại hàng đầu trong tất cả những công cụ hiện có. Xử dụng như một phương tiện bá đạo, những người mua bán hàm phiếu toàn chế có thể "một bước lên mây" và cũng có thể trắng tay trong chốc lát. Xử dụng như là một phương tiện phòng thủ, hàm phiếu toàn chế là một công cụ vô cùng uyển chuyển và hữu hiệu.
Thị Trường
Thị trường mua bán vật phẩm đầu tiên ở Hoa Kỳ có tên là Chicago Board of Trade (CBOT) được thành lập vào năm 1848. Mục đích nguyên thủy của trung tâm là để thu hút hoạt động mua bán mễ cốc qua tiền mặt. Tuy nhiên, đến năm 1865, hàm phiếu toàn chế dựa trên vật phẩm bắt đầu xuất hiện và được mua bán tại nơi này cho đến nay. Hàm phiếu toàn chế dựa trên chứng khoán chỉ mới vào thập niên 1970. International Monetary Market (IMM), một thành viên của Chicago Mechantile Exchange (CME), thành lập tổ chức mua bán hàm phiếu toàn chế dựa trên tín phiếu ngắn hạn (90-day treasury bill futures contract) lần đầu tiên vào năm 1976. Sau đó một năm, Chicago Board of Trade bắt đầu mua bán hàm phiếu toàn chế dựa trên công trái phiếu (treasury bond futures contract). Năm 1981, International Monetary Market lại đưa ra hàm phiếu toàn chế dựa trên ngoại tệ (Eurodollar futures contract). Năm 1982, Kansas City Board of Trade đưa ra hàm phiếu toàn chế dựa trên biểu số giá trị hỗn hợp của Value Line (stock index futures contract). Sau đó là hàm phiếu toàn chế dựa trên biểu số giá trị hỗn hợp của S&P 500 được mua bán trên Chicago Merchantile Exchange và hàm phiếu toàn chế dựa trên biểu số giá trị hỗn hợp của NYSE được mua bán trên New York Futures Exchange. Chỉ trong vòng 3 thập niên, số lượng hàm khế đã từ 3.9 triệu trong năm 1960 lên đến 267.4 triệu trong năm 1989. Trong số đó 60% là hàm phiếu toàn chế dựa trên chứng khoán.
Kiểm Soát
Hoạt động mua bán hàm phiếu toàn chế nằm trong vòng kiểm soát của Ủy Ban Kiểm Soát Mua Bán Hàm Phiếu (Commodity Futures Trading Commission, CFTC). Hội Đoàn Mua Bán Hàm Phiếu Quốc Gia (National Futures Association, NFA), một cơ quan được quốc hội ủy quyền, tiếp tay với CFTC để giám sát hoạt động của thành viên trong hội đoàn.
Hàm Phiếu Quyền
Là quyền được mua cổ phiếu thường đẳng ở một giá định sẵn (specified price) theo một thời hạn định sẵn (within a specified period). Hàm phiếu quyền (warrants) tương đương với hàm phiếu độc chế với quyền mua (call options) nhưng thời hạn dài hơn nhiều. Đôi khi hàm phiếu quyền có hiệu lực vĩnh viển, tức là không có ngày mãn hạn. Thường thì hàm phiếu quyền được bán ra bởi những công ty không có hàm phiếu độc chế. Đặc tính của hàm phiếu quyền gồm có:
Thời gian giao kèo càng ngắn thì giá trị của hàm phiếu quyền càng thấp.
Giá trị của cổ phiếu liên hệ càng cao thì giá trị của hàm phiếu quyền càng cao.
Mực chìm nổi của cổ phiếu liên hệ càng cao thì giá trị của hàm phiếu quyền càng cao.
Khi mức lợi nhuận hiện hành trên thị trường tăng thì giá trị của hàm phiếu quyền cũng tăng.
Hàm phiếu quyền có đình kèm quyền thu hồi có giá trị thấp hơn là hàm phiếu quyền không có đính kèm quyền thu hồi, nếu tất cả yếu tố khác đều bình đẳng.
Giá giao kết (specified price) càng thấp thì giá trị của hàm phiếu quyền càng cao.
Trong tất cả các loại hàm phiếu, có lẽ hàm phiếu quyền là phương tiện đầu tư ít nguy hiểm nhất.
Phụ Chú
1 Công ty của tiểu bang = Công ty đã đăng ký thành lập tại tiểu bang; không có ý ám chỉ tiểu bang nắm chủ quyền
2 Janet Lowe, 1996, Value Investing Made Easy, tr. 42
3 Donald Fischer và Ronald Jordan, 1987, Security Analysis And Portfolio Management, tr. 276
4 Merton Miller & Franco Modigliani, 10/1961, tr. 411-433
5 Myron Gordon, 5/1963, tr. 243-269
6 Richard Teweles & Edward Bradley & Ted Teweles, 1992, The Stock Market, tr. 29
7 Eugene F. Fama, Lawrence Fisher, Michael Jensen and Richard Roll, "The Adjustment of Stock Prices to New Information," International Economic Review, January 1969, p.1-21
[/size][/font]