📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

VN VĂN HỌC SỬ YẾU (tr. 211-300)

7 trả lời, 4.573 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-22 14:03:25hoaidiephaphuong>
CHƯƠNG THỨ HAI

CÁC VĂN SĨ VÀ THI SĨ TÀU ĐÃ CÓ ẢNH HƯỞNG LỚN NHẤT ĐẾN VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM
 
KHUẤT NGUYÊN, ĐÀO TIỀM, LÝ BẠCH

Trong chương thứ nhất (năm thứ nhì) nói về tính cách phổ thông của văn chương Trung Hoa và Việt Nam, ta đã nhận ra rằng văn chương nước ta, không những Hán Văn mà cả Việt văn, chịu ảnh hưởng văn Tàu sâu xa lắm. Vậy trong hai chương sau đây, ta phải xét về mấy thi sĩ và văn sĩ Tàu đã có ảnh hưởng lớn nhất đến các nhà trứ tác ở nước ta. Trong chương này, ta nói về các thi sĩ, trong chương sau, ta sẽ nói về các văn sĩ.
Trong các thi sĩ Tàu, ba nhà đã nổi tiếng và tiêu biểu cho ba trào lưu tư tưởng khác nhau là Khuất Nguyên, Đào Tiềm và Lý Bạch.

1. Khuất Nguyên
 
Thân thế: Ông chính tên là Bình, biệt hiệu là Linh Quân - dòng dõi quý tộc nước Sở (1) sống về đời Chiến Quốc vào khoảng cuối thế kỷ thứ IV và đầu thế kỷ thứ III trước TL (2) làm chức Tam lư đại phu được vua Sở Hoài vương (328-397) trọng dụng. Nhưng vì bọn thượng quan gièm pha, vua Sở sợ ông. Sau vua Hoài vương vì không nghe lời ông khuyên can bị nước Tần đánh thua rồi chết ở đất Tần.

*****
GHI CHÚ:

(1) Nước Sở ở vào trung lưu và hạ lưu sông Dương tử nay là địa phận các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, Chiết Giang và phía Nam Hà Nam.

(2) Năm ông sinh và năm ông mất mỗi sách chép một khác. Theo Lương Khải Siêu thì có lẽ ông sinh năm 338 và mất năm 388 tr. TL. Theo SÙNG NIÊN HSU thì có lẽ ông sinh năm 343 và mất năm 390

****

Vua Tương vương lên ngôi, bọn phản đối ông càng đắc chí, ông bị đày ra đất Giang nam (phía Nam sông Dương tử). Ông buồn bực, đâm đầu xuống sông Mịch La (1) chết vào ngày mồng năm tháng năm.

Tác phẩm: Theo Hán thư văn nghệ chí thì tác phẩm của ông tất cả có 25 thiên nhưng một nhà bác học Tàu gần đây (Lou K'an Jou) chỉ cho có 11 thiên là đích xác của ông: Ly tao (1 thiên). Cửu chương (9 thiên), Thiên vấn (1 thiên).

Ly tao: Theo Tư Mã Thiên thì hai chữ này tức là "Ly ưu" nghĩa là gặp nỗi lo buồn; theo Ban Cố, thì chữ ly cũng nghĩa là "ưu", thành ra hai chữ nghĩa là buồn rầu, bối rối. Bài này làm sau khi ông bị sơ, là một bức tranh truyền thần tâm trạng ông lúc bấy giờ; trước kể gia thế, tư tưởng, phẩm cách, lòng trung nghĩa của ông; sau kể nỗi buồn rầu vì cớ ông bị sơ và phải bỏ đi; rồi thuật một cuộc mộng du lên trời. Nhưng tuy ông buồn bực, ông vẫn thương vua nhớ nước, chỉ mong vua hồi tỉnh lại mà biết dùng mình. Bài này xưa nay các thi sĩ Tàu đều cho là một áng văng tuyệt tác và là nguồn gốc thể thơ tả tình sầu thảm.

Cửu Chương: Gồm có chín thiên như những thiên Tích tụng (tiếc [vua mà] đọc). Thiệp giang (qua sông). Ai sinh (thương sự sống). Tư mỹ nhân (nhớ người đẹp). Tích vãng nhật (tiếc ngày cũ) v.v... Mấy thiên này, ông làm sau khi bị đày xuống Giang Nam để tỏ lòng nhớ vua, thương nước.

Thiên Vấn: Trong thiên này, ông kể sau khi bị đuổi, vơ vẩn nơi núi dầm, thấy nước Sở có miếu thờ đấng Tiên vương cùng từ đường công khanh, trong có tranh vẽ trời, đất, núi, sông, thần linh,  nhân viết lên vách để hỏi.

*******
GHI CHÚ:

(1) Sông Mịch La ở huyện Tương Âm tỉnh Hồ Nam bây giờ đổ vào sông Tương là con sông lớn ở Hồ Nam chảy vào hồ Động Đình.

***

Tính tình tư tưởng: Ông là người có tư tưởng cao thượng, tính tình thanh khiết, trí tưởng tượng phong phú, yêu cảnh vật đẹp đẽ của tạo hóa, nhưng cũng thiết tha đến nỗi đau khổ của người đời. Ông thấy xã hội nước Tàu gặp lúc rối loạn, muốn giúp vua để lo hạnh phúc cho dân. Sau dù bị bỏ, bị đày, mà lòng vẫn quyến luyến đến đất nước, chỉ mong vua biết tỉnh ngộ lại. Đến khi biết là không thể thực hành được chí mình, thà chết một cách trong sạch, chứ không chịu a dua với bọn gian nịnh để cầu sự phú quý (X. Bài đọc thêm số 1). Ông thường tự ví mình như một người hết lòng yêu tình nhân (vua, xã hội) mà tình nhân phụ mình (X. thiên Tư Mỹ Nhân).

Văn chương: Về phương diện văn chương, ông vẫn được coi là ông tổ thi ca của nước Tàu, vì nước ông chỉ có các bài ca dao vô danh chép trong Kinh Thi, lối văn thường đặt bốn năm chữ một câu. Đến ông đặt ra lối Sở từ (lời của nước Sở) mỗi câu dài đến bảy tám chữ. Về sau, do lối Sở từ mà thành ra lối thơ thất ngôn, cũng như do văn Kinh Thi mà thành ra lối thơ ngũ ngôn.

2. Đào Tiềm

Thân thế: Đào Tiềm (372-472) tự là Nguyên Lượng, hiệu là Uyên Minh - biệt hiệu là Ngũ Liễu tiên sinh, ở về đời Đông Tấn. Ông tính người cao thượng; năm 405 (Tấn An Đế, Nghĩa Hy nguyên niên) ông đương làm quan lệnh tri huyện ở Bành Trạch; nhân trên quận sai quan đốc bưu đến huyện, nha lại trình với ông nên đeo đai để ra đón. Ông than rằng: "Ta có thể vì năm đấu gạo (chỉ số lương) mà phải gò lưng ru!" Thế rồi ông bỏ quan chức về. Từ bấy, ông cày ruộng làm vườn, vui cảnh nghèo say mùi đạo, thường uống rượu, chơi cúc, thoảng thích tự nhiên. Sau triều đình khuyết chức trước tác lang, nhớ đến ông là bậc danh sĩ, triệu ông, nhưng ông không chịu ra. Người đương thời khen ông mà gọi (kêu) là Tinh Tiết tiên sinh.

Tác phẩm: Ông làm nhiều thơ văn, người đời sau sưu tập lại thành Đào Uyên Minh thi văn tập 8 quyển.

Tính tình, tư tưởng: Ông là người phẩm cách cao quý và ưa sự tự do. Thấy chánh sự trong nước bấy giờ đồi bại không thể cứu vãn được, ông quyết lui về nơi vườn ruộng để giữ lấy tiết sạch giá trong. Thân đương làm quan, chỉ vì không chịu được sự bó buộc mà treo ấn từ quan về (X. Bài đọc thêm số 3).

Ông sinh hoạt theo cảnh tự nhiên mà điềm đạm ở trong cảnh nghèo mà vẫn lấy làm vui, lấy các thú ngắm sông núi cỏ cây để khuây khỏa nỗi buồn, chán về việc đời (X. Bài đọc thêm số 3.)

Cách cư xử của ông hợp với Khổng giáo mà tư tưởng tính tình có chịu ảnh hưởng đạo Phật, đạo Lão.

Văn từ: Lời thơ ông bình thường, điềm đạm, mới đọc không lấy gì làm hay, làm lạ, nhưng ngẫm nghĩ kỹ mới thấy thú vị đậm đà.

3 Lý bạch

Thân thế: Lý bạch (701-762) tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ dòng dõi Lý Quảng (một bậc danh tướng đời nhà Hán đã có công đánh Hung nô) là người đất Xương minh nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên ở về đời nhà Đường. Ông rất mực thông minh: Năm 12 tuổi đã biết làm thơ (người đuơng thời gọi ông là "Trích Tiên" (tiên đày xuống trần) lại đọc nhiều sách; tự năm 20 tuổi, đi du lịch các nơi. Năm 742 (Đường Huyền Tôn, Thiên Bảo nguyên niên) nhờ có người tiến cử, ông được vua Huyền Tôn yêu dùng, cho làm quan trong viện Hàn Lâm. Nhưng sau vì có kẻ gièm pha, vua có ý nhạt nhẽo, ông bèn xin lui về. Từ bấy, ông cứ lang thang đây đó và mộ theo đạo Lão. Năm 755 (Đường Túc Tôn, Chi Đức nguyên niên), một ông Hoàng thân là Vĩnh Vương Lân làm phản, ép ông làm quân sư. Năm sau, ông Hoàng thua, ông bị bắt giam; nhờ có Quách Tử Nghi xin cho, nên ông được tha, nhưng phải đi đày đến năm 759. Vì ông đau đã lâu, nên năm 762 ông mất. Tục truyền một hôm ông say rượu thấy bóng trăng ở dưới sông đẹp muốn ôm lấy nên đâm đầu xuống nước chết, nhưng đó là một câu chuyện bịa đặt ra.

Tính tình, tư tưởng: Ông là một thi sĩ có thiên tài khác thường nhưng vì thế mà có vẻ thần bí. Nhất sinh, ông rất ưa rượu, uống rượu vào là thơ ra, nên người ta vẫn cho ông là một thi sĩ ca tụng thần rượu (X. bài đọc thêm số 4).
Nhưng phải biết ông là một người yếm thế. Trong thơ, ông thường nói đến ba nông nỗi khiến cho ông chán đời:

1.) Đời người ngắn ngủi, người ta chóng già, cái chết sắp đến

2). Các cuộc vui thú không được lâu, cảnh phú quý không được bền

3). Người đời độc ác xấu bụng. Suốt đời bất kỳ lúc nào, ngay những lúc ở trong cảnh sung sướng vui thú, cũng có nỗi sầu theo đuổi và hình tích sự chết ám ảnh ông nên ông mới mượn thú uống rượu, ngâm thơ để tiêu nỗi sầu muộn.

Văn từ: Lời thơ ông mạnh mẽ, thống thiết, có cái giọng ngông cuồng, có vẻ buồn thấm thía. Ông đã được cùng với một thi sĩ đương thời là Đỗ Phủ coi là thi bá trong buổi Thịnh Đường.

******

CÁC BÀI ĐỌC THÊM
 
1. Thiệp Giang
(Qua sông)
 
Khuất nguyên

Ta thuở nhỏ ưa mặc đồ lạ hề (4).
Tuổi đã già mà chưa thôi
Đeo gươm dài chi (5) lấp lánh hề
Đội mũ "thiết vân" chi cao lồi
Châu "minh nguyệt" hề ta đeo,
Ngọc "bảo lộ" hề ta có
Đời đục vẩn mà không ai biết ta hề
Ta cứ ruổi mau mà chẳng ngó.
Cưỡi con 'thanh cầu' hề kém con "bạch ly"
Ta cùng với Trùng hoa (6) hề chơi ở Dao Phố.


****

GHI CHÚ:

(4) Chữ 'hề" là một tiếng đệm câu
(5) Chữ "chi" là một tiếng đưa lời
(6) Trùng hoa là vua Đề Thuấn.



****
 
Trèo lên núi Côn Lôn hề
Ăn cánh hoa tươi
Sánh tuổi thọ với trời đất hề
Tranh sáng cùng mặt trăng mặt trời!
Thương dân mọi chi không biết ta hề
Sớm mai ta sẽ vượt sông Thương
Đứng bến ngọc mà quay đầu trông lại hề
Ào ào nổi tiếng gió chi bi thương
Ruổi ngựa ta hề chốn Sơn Cao,
Đậu xe ta hề đất Phương lâm
Bơi chiếc thuyền hề lên sông nguyên
Đều tay chèo hề sóng vỗ rầm
Thuyền lững thững mà không đi hề
Nước chảy quanh nên khó sang
Sớm đi từ Uổng chữ hề
Chiều nằm ở Thần Thang
Nếu bụng ta chi ngay thẳng hề
Dù xa quạnh có hà phương
Vào bến Tự ta còn dùng dằng hề
Ta chưa biết ở vào đâu
Rừng sâu thẳm chi tối mò hề
Toàn là hang vượn cùng hang hầu
Núi cao vọi chi ngất trời hề
Dưới ũm thũm mà mưa dầu
Tuyết tơi bời chi khắp gần xa h27
Mây đùn đùn mà kéo mau
Thương cái sống của ta chi buồn bực hề
Một mình ở trong núi sâu
Ta không hay đổi lòng mà theo tục hề
Đành ta trọn đời mà ôm sầu
Kìa Tang hộ (7) còn phải đi trần hề
Tiệp Dư (8) còn phải tội gọt đầu
Người trung đã chắc gì được dùng hề
Người hiền đã hẳn gì ai cầu
Người xưa mà như thế hề.
Ta còn oán gì người sau
Ta cứ vững một lòng giữ đạo hề
Thôi chẳng quản gì buồn rầu

Phan Kế Bính dịch
Việt Hán văn khảo
(Đông Dương tạp chí, Lớp mới, số 169)


****
GHI CHÚ :

7, 8 = Tang Hộ, Tiệp Dư là hai người hiền đời xưa (từ số 4 đến số 5 là lời chú của dịch giả)

****

Quy Khứ Lai Từ

Đào Tiềm

Đi về sao chẳng về đi
Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về
Đem tâm để hình kia sai khiến
Còn ngậm ngùi than vãn với ai
Ăn năn thì sự đã rồi
Từ đây nghĩ lại biết thôi mới là
Lối đi lạc chửa xa là mấy
Nay khôn rồi chẳng dại như xưa
Con thuyền thuận nẻo gió đưa
Gió hây hẩy áo, thuyền lơ lửng chèo
Hỏi hành khách lối nào đi tới
Bóng mập mờ trời mới rạng đông
Miền quê nẻo trước xa trông
Chân hăm hở bước đường mong tới nhà
Chạy đón chủ năm ba đầy tớ
Đứng chờ ông mấy đứa trẻ con.
Rậm rì ba khóm con con
Mấy cây tùng cúc hãy còn như xưa
Tay dắt trẻ vào nhà mừng rỡ
Rượu đâu đà sẵn chứa đầy vò
Thoạt ngồi tay đã nghiêng hồ
Cười nom sân trước thấp tho mấy cành
Ngồi riễu cợt một mình trước sổ
Khéo cũng hay vừa chỗ rung đùi
Thăm vườn dạo thú hôm mai
Cửa dù có, vẫn then cài như không.
Chống gậy dạo quanh vườn lại nghỉ
Ngắm cảnh trời khi ghé trông lên
Mây đùn mấy đám tự nhiên
Chim bay mỏi cánh đã quen lối về
Bóng chiều ngã bốn bề bát ngát
Quanh gốc tùng tựa mát thảnh thơi.
Từ đây về thực về rồi
Thôi xin từ tuyệt với người vãng lai
Vì ta đã với đời chẳng hiệp
Cần chi mà giao thiệp với ai
Chuyện trò thân thích mấy người
Bạn cùng đèn sách khi vui đỡ buồn
Người làm ruộng ôn tồn hỏi chuyện
Tới xuân rồi sắp đến việc ta
Hoặc truyền sắm sửa câu xa
Hoặc khi đủng đỉnh thuyền ra coi đồng
Dưới khe nọ nước vòng uốn éo
Bên đường kia gò kéo gập ghềnh
Cỏ cây mơn mởn màu xanh
Suối tuôn róc rách bên ghềnh chảy ra
Ngắm muôn vật đương mùa tươi tốt
Ngán cho ta thôi trót già rồi
Thôi còn mấy nỗi ở đời
Khứ lưu sao chẳng phóng hoài tự nhiên
Cớ chi nghĩ thêm phiền tấc dạ
Đi đâu mà tất tả vội chi
Giàu sang đã chẳng thiết gì
Cung tiên chưa dễ hẹn kỳ lên chơi
Chi bằng lúc chiều trời êm ả
Việc điền viên vất vả mới vui
Lên cao cất một tiếng dài
Xuống dòng nước chảy ngâm vài bốn câu
Hình thể này mặc dầu tạo hóa
Tới lúc nào hết cả thì thôi
Lòng ta phó với mệnh trời
Đừng ngờ chi nữa cứ vui vẻ hoài

 
Từ Long dịch
(Nam Phong tạp chí t XXXI số 179 tr. 576)


[3]Bài Văn tự tế mình
 
ĐÀO TIỀM

Duy, năm Đinh Mão (Nguyên gia năm thứ tư 427) đúng luật Vô Dịch (tháng chín) trời rét, đêm dài, phong khí xờ xạc; hồng nhạn vẩn vơ, cỏ cây lác đác; Đào tử sắp từ bỏ nơi nghịch lữ, trở vê nơi bản trạch. Cố nhân đều xót thương, đêm nay cùng tiễn biệt; bày thức rau ngon, rót chén rượu sạch; đợi khí tắt nghỉ, nghe hơi đã tịch, than ôi thương thay!
Mông mênh khối đất, lộng lẫy bầu trời, sinh ra muôn vật ta được làm người; ta sinh làm người, nghèo kiết cả đời; rá không bầu cạn, áo rách tả tơi; rượu suông nước lã, hát ngao đi cày; cửa cài hẻo lánh, vui ta đêm ngày.
Xuân Thu thay đổi, chăm việc canh nông, trồng cây đắp nấm, tươi tốt những mong; sách vui thú sẵn, đàn vỗ dịp không; Đông hong bóng nắng, Hè lắm suối trong; cần lao chẳng quản, nhàn rỗi chơi ngông; vui trời yên phận, trăm năm là cùng.
Trăm năm cõi đời, ai cũng ham chơi; sợ không thành nghiệp, bỏ phí đời người; trân trọng tham tiếc, chết còn hỡi ôi! Song ta chẳng thế, khác hẳn mọi người; vinh ta cũng mặc, nhuốc ta chẳng giây; ngất ngưởng xó nhà, thơ rượu tít say.
Đã hay vận mệnh, ai chẳng quyến luyến; ta nay thác đi, đành không ân hận; tuổi thọ gần trăm, thân vốn ẩn độn; già rồi chết đi, nào có tham luyến.
Rét nắng thay đổi, chết khác lúc còn; họ hàng thương viếng, bè bạn thăm nom; chôn ra giữa đồng, để yên cái hồn; ta đi yên giấc, cửa mộ tối om; dơ nết xa xỉ, quá đá đem chôn (9); đỉ thôi kiệm quá, táng Trần Vương Tôn (10).
Tôi đã tịch diệt, cõi đời đã xa; chẳng cây chẳng sấm, ngày lụa tháng qua; danh dự chẳng thiết, thiết gì văn ca; kiếp sinh khó thật, kiếp lữ sao mà? Than ôi! Thương thay!

Nguyễn Hữu Tiến dịch
Một nhà Đạo sĩ nước Tàu: Đào Uyên Minh
(Nam Phong tạp chí, t. XXXI số 179)

 
****
GHI CHÚ:

(9): Người Hoàn Khôi nước Tống sai làm cái quan quách bằng đá làm đến ba năm mà vẫn chưa xong, Khổng Tử chê là xa xỉ.
(10). Sách Hán Thư chép truyện Dương Vương Tôn khi sắp mất, dặn con chôn trần để giữ lấy bản thân của mình, bảo làm cái túi vải cho thây xác vào, đưa đút xuống cái hang đất sâu bảy thước, rồi tự đàng chân rút cái túi ra để táng trần.

****

TRƯƠNG TIẾN TỬU

(Sắp kèo rượu)

LÝ Bạch

Biết chăng ai! Sông Hoàng Ha ngọn nước tại lưng trời luận đến bể khôn vời lại được.
Biết chăng nữa! Đài gương mái tóc bạc, sớm như tơ, mà tối đã như gương
Nhân sinh khi đắc ý nên càng
Khôn nỡ để chén vàng trơ với nguyệt
Tài hữu dụng, nhẽ trời âu phải quyết
Nghìn vàng kia, khi hết lại còn
Lúc vui chơi nào nhắm mùi ngon
Ba trăm chén cũng nên dồn một cuộc.

Cụ Sầm rủ cụ Đan khuyên chuốc
Rượu nâng lên, chớ nỡ dừng tay
Vì người hát một khúc này
Xin người hãy lắng tai nghe lấy

Tiệc chung cổ ngọc vàng là mấy
Hãy nên say, say mãi tỉnh chưa mà!
Thánh hiền xưa cũng vẳng xa
Chỉ có rượu với người danh là vẫn để

Tiệc Bình Lạc xưa kia cũng thế
Mười nghìn chuông mặc thích vui cười
Tiền chủ nhân bao quản ngắn dài
Cũng mua nửa cùng người khuyên rót

Ngựa hoa tốt, mà áo cừu cũng tốt
Gọi đồng ra đổi lấy rượu ngon
Cùng người giải vạn kiếp buồng


Vô Danh dịch

========================

CÁC TÁC PHẨM ĐỂ KÊ CỨU

1. Khảo v Khuất Nguyên, Nguyên văn của Lương Khải Siêu , Đông Châu lược dịch trg. NP t, XXI tr 4td.

2. Nguyễn Hữu Tiến, một nhà cao sĩ nước Tàu. Ông Đào Uyên Minh trg. NP t. XXXI tr 560 td.

3. Ngô Tất Tố, Đường Thi, Phiên dịch và khảo cứu thơ Đường sách Tao Đàn. Nhà xb Tân Dân Hà Nội, 1940.

4. D'Hervey Saint Denys, Poésies de L'époque des Thang (VIIe VIII et Ixe siècles de notre ère); Paris Amyot 1862.

5. Sung nien Hsu: anthologie de la littérature chinoise des origines à nos fours, Paris, Delagrave 1933.

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-05 11:23:12chieunhatnang>
CHƯƠNG THỨ BA

CÁC VĂN SĨ VÀ THI SĨ TÀU ĐÃ CÓ ẢNH HƯỞNG LỚN NHẤT ĐẾN VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM

HÀN DŨ, TÔ ĐÔNG PHA

1. Hàn Dũ

Thân thế: Hàn Dũ (768-823) tự Thoái chi được truy phong tước Xương Lê Bá, người Nam Dương, Châu Đăng (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc) ở về đời nhà Đường. Ông mồ côi sớm, được người chị dâu nuôi cho ăn học. Đậu tiến sĩ năm 25 uổi (792 Đường Đức Tôn, tirnh nguyên thứ 8), làm Giám sát ngự sử, sử quân tu soạn, hình bộ thị lang (817). Bấy giờ vua Đường Hiến Tôn (806-820) chuộng đạo Phậ, cho người đi lấy xương phậ (819); ông dâng biểu bài xích đạo Phậ và xin đốt xương Phật (X. Bài đọc thêm số 1), nhân thế bị giáng chức làm thứ sử Triều Châu (nay thuộc tỉnh Quảng Đông). Ở đấy, nhân có con cá sấu đến làm hại dân sự, ông bèn soạn bài văn tế cá sấu để đuổi cá đi. Sau ông lại được triệu về kinh, làm Lại Bộ Thị Lang, rồi làm Kinh triệu Doãn.

Tư tưởng: Đời bấy giờ, ở bên Tàu đạo Phật và đạo Lão đương thịnh, ông cho hai đạo ấy có hại đến cương thường luân lý, bèn đứng lên bài xích hai đạo ấy để duy trì lấy đạo Nho. Ông có viết thiên Nguyên đạo (X. Bài đọc thêm số 2) để bênh vực cái chánh đạo của Khổng Mạnh. Ông lại viết thiên Nguyên tinh để bàn về tính người. Theo ông thì tính người ta có ba phẩm là thượng, trung, hạ; thượng phẩm thì thiện, hạ phẩm thì ác và trung phẩm thì có thể đem đến thượng phẩm hoặc hạ phẩm được. Ông tuy không phải là một học giả uyên thâm, nhưng ông cũng đã có công đem cái thực học mà chữa cái học hư văn của người đương thời.

Văn chương: Ông vừa làm thơ vừa viết văn xuôi. Văn xuôi của ông phần nhiều chép trong bộ Cổ văn và bộ Đường Tống văn thuần. Về đường văn chương, cũng như về đường tư tưởng, ông cũng có công chấn chỉnh, từ đời Đông Hán về sau, văn chương nước Tàu sinh ra ủy mị, cầu kỳ chỉ chuộng lối từ chương, biền ngẫu; ông chống lại thói ấy, viết văn đơn giản mà mạnh mẽ, nhờ đó mà văn Tàu lại phấn khởi lên được.

2. Tô Đông Pha

Thân thế: Tô Đông Pha (1036-1101( chính tên là Thứ tự là Tử chiêm, người Mi Sơn (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên) con Tô Tuân, anh Tô Triệt, cả ba cha con đều là đại văn gia đời Tống. Đương thời vẫn gọi (kêu) là Tam Tô.

Năm 20 tuổi (1056, Tống Nhân Tôn, Gia Hựu nguyên niên) cùng với em thi đỗ Tiến sĩ, vua Tống Nhân Tôn (1010-1063) đã phải khen tài. Đời vua Anh Tôn (1064-1067) ông lam quan trong Sử quán. Đến đời Thần Tôn (1068-1085), Vương An Thạch lên cầm quyền, thi hành việc cải cách chính trị, cấm không ai được bài bác. Vì ông công kích dự án cải cách, nên năm 1097 phải cách chức và biếm ra đất Hoàng Châu (nay là Hoàng Giang, thuộc ỉnh Hồ Bắc). Ở đấy ông làm nhà ở Đông Pha (sườn núi phía Đông), tự hiệu là Đông pha cư sĩ, bởi thế người đời sau gọi ông là Tô Đông Pha. Năm 1086, vua Tiết ôn (1086-1100) lên ngôi, mới triệu ông về Kinh, làm Hàn Lâm học sĩ. Binh bộ thượng thư. Vì bọn Trình Di ghét ông, nên năm 1089, ông phải giáng xuống làm Tri châu Hàng Châu (nay thuộc tỉnh Chiết giang).

Tư Tưởng: Ông vốn thiên tài, lại được bà mẹ hiền dạy dỗ, lớn lên được theo cha đi du lịch nhiều nơi, nên tài học càng ngày càng cao. Ông ham xem văn của các bậc đại văn gia như Giả Nghị, Lục Tri, thơ của các bậc thi hào như Đào Tiềm, Lý Bạch, Đỗ Phủ, lại rộng xem các sách của Lão Tử, Trang Tử cùng chơi hân với các bậc cao tăng, nên không những ông tinh thông đạo lý của Khổng Mạnh, lại chịu ảnh hưởng của Lão giáo, Phật giáo, bởi vậy trong văn ông, thường có tư tưởng tiêu xài, phóng khoáng.

Văn chương: Ông vừa là một thi sĩ có tài, một văn gia lỗi lạc (văn ông có chép trong Cổ văn và Đường Tống văn thuần), lại là một tay viết chữ tốt có tiếng. Thơ ông hoặc có cảm khái mạnh mẽ như thơ Lý Bạch hoặc có vẻ thảng thích bình đạm như thơ Đào Tiềm. Còn văn ông thì thực là văn của một đại bút gia: Vừa mạnh mẽ, sâu xa, vừa trôi chảy, thần diệu đọc lên thật là khoái trá.

Kết Luận: Hàn Dũ ở đời Đường (Thế kỷ thứ VIII) làm tiêu biểu cho phái nhà nho chân chánh lấy sự phù vệ đạo lý của Khổng Mạnh làm nhiệm vụ của mình nên tư tưởng thiết thực, văn chương đơn giản mà mạnh mẽ. Tô Đông Pha ở đời Tống (thế kỷ thứ XI) làm tiêu biểu cho phái nhà nho có chịu ảnh hưởng của Lão Trang, nên tư tưởng phóng khoáng, văn chương thần diệu mà bay bổng. Tuy mỗi người có một tính cách riêng mà cả hai đều là những bậc đại văn gia của nước Tàu vậy.

==============

CÁC BÀI ĐỌC THÊM

1. Bài Biểu can sự đón xương Phật
(Trích một đoạn)

Hàn Dũ
 
.... Tự Hoàng đế cho đến vua Vũ, vua Thang, vua Văn, vua Vũ đều hưởng thọ lâu dài, trăm họ yên vui mà thuở ấy chưa có Phật vậy. Đến đời vua Minh Đế nhà Hán mới có Phật Pháp, về sau cứ loạn lạc mãi, các vua trị vì chẳng được bao lâu. Nhà Tống, nhà Tề, nhà Lương, nhà Trần cùng nhà Nguyên Ngụy thờ Phật càng ngày càng thêm kính cẩn, thế mà niên đại thì đời xưa bảo chính tâm thành ý đó có phải là vô vi đâu là toàn hữu vi vậy. Nay kẻ kia muốn trị cái tâm, mà lại để cái tâm ra ngoài sự thiên hạ quốc gia làm tuyệt diệt mất cái đạo của Trời, làm con mà chẳng coi cha là cha, làm tôi mà chẳng coi vua là vua, làm chồng mà không coi vợ là vợ, làm vợ mà chẳng coi chồng là chồng, làm học trò mà chẳng coi thầy là thầy, làm bạn mà chẳng coi bạn là bạn, làm dân mà chẳng coi việc sĩ, nông, công, cổ là việc mình, thì mấy nỗi mà chẳng hóa ra rợ mọi vậy. Ôi! Nói rằng giáo hóa của tiên vương là thế nào? Về văn chương thì Kinh Thi, kinh Thư, kinh Dịch, Kinh Xuân Thu; về phép tắc thì lễ nhạc và hình chính; về việc dân thì sĩ, nông, công cổ; về trật tự thì quân thần, phụ tử, sư sinh, bằng hữu, tân chủ, huynh đệ, phu phụ; về đồ mặc thì tơ gai; về chỗ ở thì nhà cửa; về đồ ăn thì thóc gạo, rau quả, cá thịt. Cái đạo ấy dễ hiểu, cái giáo ấy dễ làm. Cho nên lấy đó để sửa mình thì thuận và rõ, lấy đó để giúp người thì thiện mà công, lấy đó để trị cái tâm thì hòa mà bình, lấy đó để làm việc thiên hạ quốc gia thì đối với điều gì chẳng xứng đáng. Cho nên sống thì vui được cái tính thực, chết thì hết được lẽ thường. Tế Giao thì Trời và thần chứng, tế nhà miếu thì tổ tiên hưởng . Đạo ấy là đạo gì. Là đạo xưa nay ta gọi là đạo, chứ không phải là đạo kẻ viễn vông kia gọi là đạo vậy

Phần Trần Trọng Kim dịch
(Sách kể trước).

2. Bài tựa Lý Nguyện về đất Bàn Cốc.

Hàn Dũ

(Hồi đó Lý Nguyện làm Tiết Độ sứ trấn Võ Ninh, bị cách chức, bèn về ở nơi Bàn Cốc, cho nên tác giả làm bài này để tiễn về).

Phía Nam núi Thái Hàng có đất Bàn Cốc (1). Trong Bàn cốc, suối ngọt mà đất thì tốt, cây cối xanh um người ở đơn thưa. Có người nói rằng: Đất quanh trong khoảng hai dãy núi, cho nên gọi rằng Bàn cốc; có người lại nói rằng: Đó là cái hang núi, trong đó sâu thẳm mà hình thế hiểm trở là nơi nương náu của người đi ẩn. Bạn ta là Lý Nguyện vốn ở đấy. Lý Nguyện có nói rằng: Người ta gọi là đại trượng phu ta đã biết rồi. Nghĩa là có ơn huệ thấm thía đến người, có danh tiếng lừng lẫy ở đời. Ngồi nơi miếu đường thì có quyền cất bổ trăm quan, giúp thiên tử để truyền hiệu lịnh. Làm quan ngoài thì cờ giong trống mở, cung tên dàn mặt, quân lính đi tiền hô, kẻ hầu người hạ rợp đường cái . Người cung cấp phục dịch, đều phải khiêng vác chạy ngược chạy xuôi. Mừng ai thì có thưởng, giận ai thì có phạt. Bậc tài tuấn đầy trước mặt, chỉ bàn việc xưa nay mà tán tụng công đức của mình, rườm tai mà vẫn không chán. Những người má đào mày liễu, iếng trong lanh lảnh mình nhẹ thênh thênh, là lượt, thướt tha, son nồng phấn đậm, ở xen lẫn nhau từng nhà, ghen tuông nhau mà tranh lấy sự thương yêu. Đó là đại trượng phu gặp thời, nhờ ơn thiên tử đắc dụng ở đời thì theo cách đó. Ta không phải ghét sự ấy mà đi ẩn, vì có số mệnh, không là ai ai cũng gặp may được.

Ở chốn hang cùng, trú nơi đồng nội, lên núi cao để trông ngóng, ngồi dưới gốc cây mát cho trọn ngày, tắm rửa nơi suối trong cho sạch sẽ, hái rau ở núi mà ăn, câu cá ở sông mà chén, khi thức, khi ngủ, chẳng cứ thì giờ nào, quý hồ thích chi thôi. Dẫu có tiếng khen về trước, chẳng thà không có tiếng chê về sau; dẫu có sự vui sướng trong thân, chẳng thà không có sự lo lắng trong bụng. Xe ngựa áo xiêm chẳng buộc được mình, gươm giáo cũng không động tới mình. Cuộc đời trị hoặc loạn chẳng tường, nhân tài thăng hoặc giáng chẳng hay. Đó là đại trượng phu không được gặp thời theo cách đó, ta làm vậy.

Còn như luồn lọ ở cửa công khanh, bôn xu về đường thế lợi. Chân muốn lên nhưng còn rụt rè, miệng muốn nói ra nhưng lại ngập ngọng, ở vào đám dơ dáy mà không biết xấu hổ, làm những việc trái phép để mang lấy tội cầu sự may mắn trong việc bất kỳ, đến già đời mới chịu thôi, người đó hay dở thế nào, chẳng nói tưởng ai cũng biết.

Hàn Xương Lê nghe lời ấy, lấy làm phải lắm, bèn mời chén rượu mà hát rằng:

Nơi Bàn Cốc nhà ngươi ở đấy
Đất trong hang cày cấy dễ sao!
Suối kia tắm rửa ào ào
Này nơi xa vắng ai nào muốn tranh
Hang sâu thẳm thanh danh rộng rãi
Đường quanh co qua lại chập chùng
Cảnh hang vui thú lạ lùng
Hùm beo lánh vết, rắn rồng náu thân
Sự quái gở quỷ thần giúp hộ
Vui ăn chơi cho độ tuổi già
Ta về sắm ngựa xe ta
Theo vào khe đá la cà cùng ngươi

 
Phan Kế Bính dịch
(Đông Dương tạp chí, Lớp mới số 74).


4. Bài phú Tiền Xích Bích
Tô Đông Pha

(Xích bích là tên một dãy núi ở huyện Gia Ngư, tỉnh Hồ Bắc, trên bờ sông Dương Tử. Năm 13 niên hiệu Kiến An (208), Tào Tháo tự đất Giang Lăng đuổi đánh Lưu Bị; Bị cầu cứu ở Tôn Quyền. Tướng Quyền là Chu Du dùng lối hỏa công đánh thuyền (ghe) của Tháo bị cháy sạch, quân Tào thua to. Hai bên bờ sông vì lửa đốt thành sắc đỏ, nên gọi (kêu) là "Xích Bích" (vách đỏ). Tô Đông Pha, tác giả bài phú này, một lần bị trích  ở đất Hoàng Châu. Hoàng Châu nay là h. Hoàng Cương cũng thuộc tỉnh Hồ Bắc, nhưng ở về phía Đông và cách xa huyện Gia Ngư. Ở Hoàng Châu có một dãy núi sắc đá đỏ cũng gọi là Xích Bích. Ông Tô đi chơi dưới dãy núi ấy, làm ra bài phú này; nhân vì trùng tên, nên ông nhớ đến việc Tào Tháo Chu Du, hồi xưa mà nói đến ở trong bài).

Ngoài rằm tháng Bảy mùa Thu năm Nhâm Tuất (2). Tô Tử cùng với khách bơi thuyền chơi ở dưới núi Xích Bích. Hây hẩy gió mát, sông lặng như tờ. Cầm chén rượu lên mời khách, đọc bài thơ Minh Nguyệt và hát một chương Yểu Điệu (3). Một lát, mặt trăng mọc lên trên núi Đinh Sơn, đi lững thững ở trong khoảng hai sao Ngưu, Đẩu. Khi đó, sương tỏa trên mặt sông, vẻ nước trong tiếp đến chân trời, tha hồ cho một chiếc thuyền nhỏ đi đâu thì đi, vượt qua trên mặt nước mông mênh muôn khoảnh. Nhẹ nhàng như cưỡi gió đi trên không mà không biết là đi đến đâu; hớn hở sung sướng như người quen đời đứng một mình, mọc cánh mà bay lên tiên. Vì thế, uống rượu vui lắm, rồi gõ vào mạn thuyền mà hát. Hát rằng:

Thung thăng thuyền quế chèo lan
Theo vừng trăng tỏ vượt làn nước trong
Nhớ ai canh cánh bên lòng
Nhớ người quân tử (4) ngóng trông bên trời.


Trong bọn khách có một người thổi ống sáo, theo bài ca của ta mà họa lại. Tiếng sáo não nùng rền rỉ, như sầu, như thảm, như khóc, như than. Tiếng dư âm hãy còn lanh lảnh, nhỏ tít lại như sợi tơ chưa dứt. Làm cho con giao long (thuồng luồng) ở dưới hang tối cũng phải múa mênh, người đàn bà thủ tiết ở một chiếc thuyền khác cũng phải sụt sùi.

Tô Tử buồn rầu sắc mặt, thu vạt áo ngồi ngay ngắn mà hỏi khách rằng: Làm sao lại có tiếng não nùng làm vậy?
Khách đáp rằng: Câu "Nguyệt minh tinh hi, ô thước Nam phi (nghĩa là trăng sáng sao thưa, quạ bay về Nam), chẳng phải là câu thơ của Tào Mạnh Đức (5) đó ru?

Đương khi Tào Mạnh Đức phá đất Kinh Châu, xuống thành Giang Lăng, thuận dòn mà sang mặt đông, tàu bè muôn dặm, cờ tán rợp trời; rót chén rượu đứng trên mặt sóng, cầm ngang ngọn giáo ngâm câu thơ, đó thực là anh hùng một đời, mà nay thì ở đâu? Huống chi tôi với bác đánh cá kiếm củi ở trên bến sông này, kết bạn cùng tôm cá, chơi ời với hươu nai, bơi một chiếc thuyền nho nhỏ, nhấc chén rượu để mời nhau, gửi thân phù du (con vờ) trong trời đất xem ta nhỏ nhặt như một hạt thóc trong bể xanh, thương cho sự sống của ta không bao giờ lâu, mà khen cho con sông này dài vô cùng. Vậy mà muốn được dắt tiên bay để chơi cho sung sướng, ôm lấy vừng trăng tỏ mà sống mãi ở đời. Tôi biết không làm sao được như vậy cho nên nảy ra tiếng rầu-rĩ ở trong cơn gió thoảng.

Tô Tử nói: Vậy thế bác có biết nước và mặt trăng không? Nước chảy thế kia mà chưa từng đi bao giờ. Bởi vì ta tự ở nơi biến đổi mà xem ra thì cuộc trời đất cũng chỉ ở trong một cái chớp mắt; mà nếu tự ở nơi không biến đổi mà xem thì muôn vật cùng với ta không bao giờ hết cả. Cần gì phải khen đâu! Vả lại ở trong trời đất, vật nào có chủ ấy. Nếu không phải là của ta thì dẫu một ly ta cũng không lấy. Chỉ có ngọn gió mát ở trên sông, cùng là vừng trăng sáng ở trong núi, tai ta nghe nên tiếng, mắt ta trông nên vẻ, lấy không ai cấm, dùng không bao giờ hết, đó là kho vô tận của tạo hóa, và là cái thú chung của bác với tôi.

***
GHI CHÚ:

1. Phan Kế Bính, Việt Hán văn khảo (sách đã kể trước), tr.
82, 84 tđ.
2. Tức là năm thứ tư niên hiệu Nguyên Phong nhà Tống (1082).
Trần Trọng Kim, Nho giáo (sách đã kể trước), Quyển III, t. 124 tđ.
3. Chương Yểu điệu là một chương ở thơ Minh Nguyệt trong kinh Thi. Thơ ấy có ý chê người quyền thế, không ưa người hiền mà chỉ ưa gái đẹp. Tùng Vân, Danh nho nước Tàu: Hàn Dũ, N. P. t. XXV, tr.
166 tđ,
4. Quân tử ở đây chỉ về những người cùng làm quan với mình trong trào, ý là nhờ bạn. Lịch sử và sự nghiệp Tô Đông Pha, nguyên Hán văn của Tôn Dục Tụ, Đồng Châu dịch N. P. t. XXVI, tr. 344, 482 td.
5. Tào Mạnh Đức tức là Tào Tháo, vì trông thấy cảnh Xích Bích, cho nên nhớ chuyện Tào Tháo đánh nhau với Chu Du (tự số 3 đến số 5 là lời của dịch giả).

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-05 11:56:13chieunhatnang>
THIÊN THỨ HAI

 
THỜI KỲ LÝ, TRẦN
(Thế kỷ thứ XI đến XIV)

 
CHƯƠNG THỨ TƯ
CÁC NHÀ VIẾT THƠ VĂN CHỮ NHO
TRONG HAI TRIỀU LÝ, TRẦN


Trong chương này, ta xét về các nhà viết thơ văn chữ nho trong hai triều Lý, Trần.

Thi gia đời Lý:

A) Trong triều nhà Lý (1009-1225), tuy chưa có tác phẩm nào quan trọng xuất hiện, nhưng đã có nhiều nhân tài do nho học xuất thân, hoặc đem tài thao lược để đánh dẹp các nơi, hoặc đem tài kinh luân để giúp vua trị dân. Các ông ấy, trong khi hành động, hoặc trong lúc thư nhàn, có ngâm vịnh một bài thơ nay còn truyền lại. Như Lý Thường Kiệt (1036-1105) (1) là một bậc danh tướng triều Lý đã có công đánh quân nhà Tống (1075-1078), khi chống nhau với quân địch, có làm bài thơ để khuyến khích tướng sĩ, lời lẽ thật là khẳng khái (xem bài đọc thêm số 1).

****
GHI CHÚ:

1. Lý Thường Kiệt,. người phường Thái Hòa, thành Thăng Long (nay thuộc thành phố Hà Nội), tài kiêm văn võ. Năm 1009, theo vua Lý Thánh Tôn đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chế Củ. Năm 1075, nhà Tống sửa soạn sang đánh nước Nam, vua Lý Nhân Tôn sai ông cùng với Tôn Đản sang đánh phá ba châu Khảm, Liêm (nay thuộc Quảng Đông) và Ung (Quảng Tây); năm 1076, lại chống nhau với tướng nhà Tống là Quách Quỳ ở sông Như Nguyệt (nay là sông Cầu). Năm 1104, Chiêm Thành lại khởi loạn, ông lại sang đánh và bắt phải hàng phục. Năm 70 tuổi, ông mất, được phong Quốc Công.

****

B) Đạo Phật trong triều nhà Lý rất thịnh: Các vị sư đều là những người thâm nho học; nên có nhiều vị làm thơ nay còn truyền lại, như sư Khánh Hỉ (1067-1142) (2) cố Ngộ đạo thi tập (ngộ đạo: hiểu đạo); sư Bảo Giác (1080-1151) (3) có Viên Thông tập

Thi gia đời Trần: Đến đời nhà Trần (1225-1400), đã có nhiều tác phẩm xuất hiện. Các thi gia đều có thi tập để lại.

A). Các vua triều thần: Thái Tôn (1225-1258), Thánh Tôn (1258-1278). Nhân Tôn (1279-1293). Minh Tôn (1314-1329). Nghệ Tôn (1370-1372) đều có Ngự Tập cả. Vua Anh Tôn (1293-1314) có soạn ra Thủy Vân tùy bút ngự tập (thủy vân: Nước và mây).

B). Ngoài ra lại có tập thơ của các bậc danh thần danh nho đời bấy giờ như Lạc đạo tập (vui về đạo) của Trần Quang Khải (4). Tiều ẩn thi tập của Chu An (5). Giới Hiên thi tập của Nguyễn Trung Ngạn (6). Hiệp Thạch tập của Phạm Sư Mạnh (7), Băng Hồ ngọc hác tập (bình băng, ngòi ngọc) (8) của Trần Nguyên Đán (9). Nhị khê tập của Nguyễn Phi Khanh (10). Thảo nhàn hiệu tần tập của Hồ Tôn Thốc (11).

****

GHI CHÚ:

2. Sư Khánh hỉ họ Nguyễn, người Cổ Giao, huyện Long Biên (nay có lẽ là Cổ điển, huyện Thanh Trì, Hà Đông), tu ở chùa Từ Liêm, huyện Vĩnh Khang (nay có lẽ là xã Từ Liêm, huyện Phong Doanh, Nam Định), thọ 76 tuổi.

3. Sư Bảo Giác, chính tên là Nguyễn Nguyên Ức, người làng Cổ Hiền (hiện nay có làng Cổ hiền, một làng thuộc phủ Thường tín, một làng thuộc huyện Phú Xuyên đều ở Hà Đông), đỗ đầu khoa thi Tam giáo năm 1097 (Lý Nhân Tôn, Hội phong thứ 6) được phong làm tăng đạo năm 1106 (Lý Nhân tôn, Long phù Nguyên hỏa thứ 8) rồi đến Viên Thông quốc sư. Thọ 72 tuổi.

4. Trần Quang Khải (1241-1294) con thứ ba vua Trần Thái Tôn, tức Chiêu Minh đại vương, là một bậc danh tướng đời Trần, có công trong việc dàn quân nhà Nguyên (trận Chương Dương). Ông học rộng, thông hiểu cả tiếng các phiên.

5. Xem tiểu truyện ở Năm thứ nhất. Chương thứ XII. Lời chú (4)

6. Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370), hiệu Giới hiên tự Bang trực người làng Thổ hoàng, huyện Thiên Thi (nay là huyện Án Thi Hưng Yên), đỗ Hoàng giáp năm 16 tuổi (1304, Trần Anh Tôn, Hưng Long thứ 12), trải thờ ba đời vua (Minh Tôn, Hiến Tôn, Dụ Tôn) có dự vào việc đánh giặc ở đạo Đà Giang (1329), và việc đánh Ai Lao (1334), làm quan đến Thượng Thư hữu bật trục quốc, tước Khai huyện bá. Thọ 82 .

7. Phạm Sư Mạnh tự nghĩa phu hiệu Úy Trai biệt hiệu Hiệp Thạch, người làng Hiệp Thạch, huyện Hiệp Sơn (nay là phủ Kinh Môn Hải Dương), học trò Chu An, trải thờ ba đời vua (Minh Tôn, Hiến Tôn, Dụ Tôn) làm quan đến Nhập nội hành khiển, sung khu mật viện có sang sứ Tàu năm 1345 (Dụ Tôn, Thiệu phong thứ 5).

8. Chữ lấy trong câu thơ của Vương Xương Linh: "Nhất phiến băng tâm tại Ngọc hồ" (Một tấm lòng băng  ở bình ngọc) ý nói tấm lòng trong sạch.

9. Trần Nguyên Đán (1320-1390) hiệu Băng Hồ là tằng tôn của Trần Quang Khải và ngoại tổ của Nguyễn Trãi, làm quan về đời vua Trần phế đế. Năm 1385 (Phế đế Xương phù thứ 9), biết Hồ Quý Ly sắp tiếm ngôi, ông lui về ở núi Côn Sơn (Hải Dương) và thường cùng với vua Nghệ Tôn ngâm vịnh thơ ca.

10. Nguyễn Phi Khanh chính tên là Ứng Long, hiệu là Phi Khanh, nguyên quê ở Chí Ngại, huyện Phương sơn (nay là huyện Chí Linh tỉnh Hà Đông); đậu Thái học sinh năm 1374 (Trần Duệ Tôn Long Khánh thứ 1), vì cớ lấy một người trong hoàng tộc là con gái Trần Nguyên đán nên không được bổ dụng. Khi nhà Hồ cầm quyền ông ra làm quan đến chức Trung thư thị lang, kiêm Quốc Tử giám tu nghiệp. Khi nhà Hồ thua ông bị quân nhà Minh bắt giải về Tàu rồi chết ở bên ấy.

11. Hồ Tôn Thốc, người Thổ thành ở Diễn Châu (Nghệ An) ở xã Vô Ngại h. Đường Hào (nay là p. Mỹ hào, Hưng Yên), đậu Thái học sinh đời vua Trần Nghệ Tôn, có sang sứ Tàu. Năm 1386 (Trần Phế Đế, Xương phù thứ 10), ông được bổ Hàn Lâm học sĩ phụng chỉ, kiêm Thẩm hình viện sứ. Đến khi nhà Hồ tiếm ngôi, ông lui về, uống rượu làm thơ. Ông có viết hai bộ sử: Việt sử cương mục Việt Nam Thế chí.

******

C) Trong đời nhà Trần, đạo Phật hãy còn thịnh, nên có những tập thơ của các vị sư viết ra, như Ngọc Tiên tập (roi ngọc) của sư Huyền Quang (12).

Tiếc rằng các tập thơ ấy đều bị nhà Minh thu lấy đem về Tàu cả, thành ra nay không còn tập nào là nguyên vẹn. Mỗi thi gia chỉ còn lại một ít bài chép trong bộ Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn (13) hoặc bộ Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích (14). Cứ những bài còn truyền lại mà xét, thì các thi gia đời Trần hoặc lấy những việc đương thời (việc đánh quân Nguyên, việc chống nhau với quân Minh) làm đề mục, hoặc vịnh các cảnh vật thiên nhiên, hoặc tả các danh lam thắng tích đã tỏ ra là những người biết quan tâm đến việc nước việc đời, có cảm tình với tạo vật, lại nhiều khi có tư tưởng về Phật giáo thường mộ đạo Phật và vui cảnh Thiền; vùng Yên Tử sơn ở huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên xưa là nơi tu hành của mấy vua nhà Trần). Tóm lại, thơ đời Trần là một lối thơ chất phác trọng về đạo lý hơn là từ chương (Xem các Bài đọc thêm số 2-7).

Văn gia đời Trần:

A) Trước hết phải kể các bài văn của các bậc danh tướng, trung thần làm ra mà có liên lạc đến các việc trong lịch sử:

1) Hịch tướng sĩ văn (bài hịch truyền cho tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn (15) - năm 1284 (Trần Nhân Tôn, Thiệu bảo thứ 6), ông thống lĩnh các đạo quân đánh nhau với quân Mông cổ thua, phải lui về Vạn Kiếp. Nhân ông phát cuốn Binh thư yếu lược (tóm những điều cốt yếu về các sách binh) do ông soạn ra cho các tướng sĩ, ông làm bài hịch này, trong đem các gương trung nghĩa đời xưa để khuyến khích tướng sĩ phải gắng sức luyện tập để đánh đuổi kẻ thù mà cứu nạn cho nước; lời văn rất hùng hồn, thống thiết (Xem bài đọc thêm số 8).

2) Thất trảm sớ (bài sớ xin chém bảy người) của Chu An . Về đời vua Trần Dụ Tôn (1341-1369) ông đương làm quan tại triều, thấy chánh sự bại hoại, bèn dâng sớ xin chém bảy người quyền thần.

3) Vạn ngôn thư (bức thư muôn lời nói) của Lê Cảnh Tuân (16) - Nguyên lúc nhà Minh sang đánh họ Hồ, có hứa sẽ lập lại con cháu nhà Trần. Họ Hồ thua, tướng nhà Minh bèn chiếm lấy nước ta, ông mới viết bức thư này để nói rõ việc quan tướng nhà Minh bội lời ước cũ. Nhà sử học Lê Tung, trong cuốn Việt Giám thông khảo tổng luận, đã khen hai bài văn kể trên như sau: "Thất trảm chi sớ, nghĩa động càn khôn; vạn ngôn chi thư, trung quán nhật nguyệt". Nghĩa là: Bài sớ xin chém bảy người, nghĩa khí động đến trời đất; bức thư một muôn lời nói, lòng trung thấu đến mặt trời, mặt trăng.

****
GHI CHÚ:

12. Sư Huyền Quang người làng Vạn Tải đất Vũ Ninh (nay thuộc huyện Gia Binh Bắc Ninh); năm 9 tuổi đã biết làm thơ văn; năm
19 đi tu. Ông là tổ thứ ba trong phái Trúc Lâm ở nước ta.

13 & 14. Xem chương thứ IX.

15. Trần Quốc Tuấn (+1300) là con An Sinh Vương Liễu (anh vua Trần Thái Tôn). Khi quân nhà Nguyên sang đánh nước ta (1284-1285 và 1287-1288) ông được vua Trần Nhân Tôn cử làm Tiết chế thống lĩnh chư quân, có công lớn trong việc đánh phá quân Mông cổ, được phong là Hưng Đạo Đại Vương. Ông làm quan đến đời vua Anh Tôn thì xin về trí sĩ ở Vạn Kiếp (nay là xã Vạn Yên, huyện Chí Linh, Hải Dương) rồi mất ở đấy.

16. Lê Cảnh Tuân tự Tử Mưu - Người xã Mộ Trạch huyện Đường An (nay thuộc phủ Bình Giang, Hải Dương). Ông làm Hạ trai học sinh về đời nhà Hồ. Năm đầu Hưng Khánh (1407), ông làm bức Vạn Ngôn thư đưa cho quan Tham Nghị Bùi Bá Ký (Ký nguyên là bầy tôi nhà Trần, sau khi Hồ Quý Ly tiếm ngôi, chạy trốn sang Tàu sau theo tướng nhà Minh là Trương Phụ về nước, đánh nhà Hồ, được bổ làm tham nghị). Đến khi người Minh nghi Ký là có dị tâm sai bắt đưa về Kim Lăng và sai khám nhà, tìm thấy bức thư ấy, bèn sai tróc nã ông, bắt ông và con là Thái Điên đem về Kim Lăng hạ ngục (1411), sau đều mắc bệnh chết (theo TM q.12 tờ 34b-36b).

****

B) Thứ đến các bài văn hay của bậc danh nho đời Trần.

1) Ngọc tỉnh liên phú (bài phú hoa sen ở giếng ngọc) của Mạc Đĩnh Chi (17) - Năm 1304 (Trần Anh Tôn, Hưng Long thứ 22), ông đi thi, trúng cử trạng nguyên. Vua hiềm người nhỏ bé xấu xí, ông bèn làm bài phú này tự ví mình như bông sen ở dưới giếng ngọc là giống sen quý nhưng phải có người sành mới biết thưởng thức. Vua xem bài ấy khen ông và bổ ông làm quan (xem bài đọc thêm số 10).

2) Bạch Đằng Giang phú (bài phú sông Bạch Đằng) Linh tế tháp ký (bài tháp lý Linh tế) (1343) và Quan Nghiêm tự bỉ văn (bài văn bia chùa Quan Nghiêm) của Trương Hán Siêu (18) - Trong bài thứ nhất, ông tả cảnh sông Bạch Đằng (19) rồi nhắc đến cái công đánh quân Mông Cổ của vua tôi nhà Trần mà ngụ ý khuyến khích người trong nước nên biết giữ lấy giang sơn. Xem Năm thứ nhất, Chương XIV bài đọc thêm số 1). Còn trong bài văn bia ghi việc dựng lại tháp Linh Tế (20) và bài văn bia ghi việc xây lại chùa Quan Nghiêm (21), ông bài bác đạo Phật, đạo Lão và nói cái tư tưởng phóng khoáng của ông (xem bài đọc thêm số 11).

C) Phật giáo về đời Trần còn thịnh lắm, nên có nhiều tập văn nói về giáo lý đạo Phật.

1). Vua Trần Thái Tôn cũng như nhiều vị vua khác đời Trần, sau khi thoái vị, đi tu và nghiên cứu Phật học. Ngài có soạn ra cuốn Khóa hư lục (dạy về đạo hư không (22).
Sư Pháp Loa (23) có viết cuốn Đoạn sách lục (đoạn sách: Chặt gậy gãy (24).

****

GHI CHÚ:

17. Mạc Đĩnh Chi, tự Tiết Phu người làng Lũng động huyện Chí Linh (nay thuộc phủ Nam Sách - Hải Dương), đậu trạng nguyên năm 1304 (Trần Anh Tôn Hưng Long thứ 12), trải thờ ba đời vua (Anh Tôn, Minh Tôn, Hiến Tôn), làm quan đến chức Đại Liên Ban tả bộc xạ có sang sứ bên Tàu, ông là ông tổ bảy đời của Mạc Đăng Dung.

18. Trương Hán Siêu (+1354) tự Thăng phủ người làng Phúc Thành, huyện An Ninh (nay ở làng Phúc Am, huyện Gia Khánh, Ninh Bình) trước làm môn khách của Trần Hưng Đạo đại vương. Năm 1308 (Trần Anh Tôn, Hưng Long thứ 16) được bổ làm Hàn Lâm Học Sĩ trải thờ bốn đời vua (Anh Tôn, Minh Tôn, Hiến Tôn, Dụ Tôn) làm quan đến chức Tham Tri chính sự.

19. Bạch Đằng: Tên một chi lưu của sông Thái Bình chảy qua địa hạt tỉnh Quảng Yên, đổ ra cửa Nam Triệu; vua Ngô Quyền đánh quân Nam Hán và Trần Quốc Tuấn đánh thua quân Nguyên ở đấy.

20. Linh Tế: Tên một ngọn tháp xây trên núi Dục Thúy (tục gọi là núi Non Nước, ở tỉnh lỵ Ninh Bình bây giờ). Nhân vị sư trụ trì ở đấy xây lại ngọn tháp, nhớ ông làm bài ký này. Tháp ấy nay đã đổ, nhưng bài ký khắc vào sườn núi do chữ tác giả viết, nay hãy còn.

21. Quan Nghiêm: Tên một ngôi chùa ở tỉnh Bắc Giang. Trong bài văn bia ông viết, có câu rằng:"Chùa nát mà xây lại đã không phải ý ta.  Bia dựng mà khắc việc gì ta nói. Ngay gặp Thánh triều, muốn mở mang phong hóa tốt, để sửa lại tục đồi bại. Dị đoan phải trừ bỏ, vướng đạo nên phục hưng. Phàm là kẻ sĩ đại phu, nếu không phải đạo của vua Nghiêu, vua Thuấn thì không nên bày tỏ; nếu không phải đạo của ông Khổng, ông Mạnh thì không nên trứ thuật". Xem đó thì biết ông thường bài bác đạo Phật.

22. Quyển này do vị sư Thận Trai (Pháp hiệu: Tuệ Tĩnh tự Vô Dật ở vào giữa thế kỷ thứ XVII về đời nhà Lê) dịch ra quốc âm và đã khắc in năm 1830 (Minh mệnh thứ 21).

23. Sư Pháp Loa: (1284-1330) họ Đồng, người Cửu La Hương (nay là xã Đồng Tháp, phủ Nam Sách Hải Dương), tu ở núi Yên Tử. Năm 1308, vua Trần Nhân Tôn mất ở nhà ông. Ông là ông Tổ thứ nhì của phái Trúc Lâm ở nước ta.

24. Gậy gãy: Mỗi vị sư có một gậy gọi là Kim Sách; đây tác giả khiêm tốn nói mình chỉ có cái gậy gãy - Chặt gậy nghĩa là đoạn tuyệt sự liên lạc với trần tục.

25. Lý Tế Xuyên: Tiểu truyện ông không được rõ lắm. Theo từ một cuốn sách thì ông làm Thủ thư tàng thư, Hỏa chính chưởng, Trung phẩm phụng ngự, An Tiêm lộ chuyển vận sứ.


****

D) Văn Truyện Ký về đời nhà Trần cũng có mấy tập:

1. Việt Điện U Linh tập (Việt điện: Đất nước Việt; U linh: Thiêng liêng). nhất thuyết là của Lý Tế Xuyên người đời Trần (25), nhất thuyết là của một tác giả đời Lý) sau Tế Xuyên chỉ viết nối thêm vào. Hiện nay tập ấy có 27 truyện, chia làm 3 mục:

a) Nhân quân (các vị vua) trong có các truyện Sĩ Nhiếp, Phùng Hưng, Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử, Hai Bà Trưng, Mỵ Ê

b) Nhân thần (các bầy tôi) trong có các truyện Lý Quảng, Lý Ông Trọng, Lý Thường Kiệt, Phạm Cự Lượng, Lê Phụng Hiểu, Lý Phục Man v.v...

c) Hạo Khí anh linh (khí lớn thiêng liêng) trong có các truyện Thần Núi Đồng Cổ, Thần Bạch Mã, Thần Núi Tản Viên v.v... Phần nhiều là những truyện hoang đường, linh dị. Tập ấy sau lại có nhiều người đời Hậu Lê tục biên, thành ra bản "Tân Đính" (mới sửa lại) có bài tựa đề năm 1774, gồm 4 quyển và 41 truyện.

2) Thiền Uyển Tập Anh (họp hoa đẹp trong vườn Thiền) hoặc Đại Nam thiền uyển truyền đăng tập luục (họp chép việc truyền đèn trong vườn Thiền ở nước Đại Nam) trong chép sự trạng các vị cao tăng ở nước ta (cả người Tàu và người Nam) tự đời Đường đến đời Trần; tác giả ở về đời Trần, nhưng tên không truyền lại (26)

Kết Luận:  Xét Hán học nước ta trong hai triều Lý, Trần ta thấy lúc đầu hai phái Nho học và Phật học đều ngang nhau mà tiến hành, rồi sau Phật giáo bị các nhà nho công kích phải thoái bộ dần mà nhường chỗ cho Nho Giáo. Trong việc trứ tác, các vị sư cũng chiếm một địa vị quan trọng. Còn các nhànho thì phần nhiều đều có công nghiệp với xã hội và có phẩm cách thanh cao, trong thơ văn thường trọng đạo lý hơn là từ chương, chưa nhiễm phải cái thói chuộng hư văn vậy.

****

GHI CHÚ:

26. Hiện nay có in lại năm 1725 (Lê Vĩnh Thịnh thứ 11) và do Hòa thượng Phúc Điền chùa Liên Tôn (tức là chùa Liên phái ở làng Bạch Mai, huyện Hoàn Long, Hà Đông) sửa và khắc lại.

****

CÁC BÀI ĐỌC THÊM
 
1. Bài thơ của Lý Thường Kiệt


Làm khi chống nhau với quân nhà Tống
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Dịch Nghĩa

Núi sông nước Nam thì vua nước Nam ở. Rõ ràng phận đã định ở trong cuốn sổ của trời. Làm sao bọn giặc lại lấn cướp (đất của ta)? Chúng mày rồi xem sẽ bị thua bại hết.

2. Theo Vua về Kinh đô
Trần Quang Khải
 
(Bài này ông làm khi lấy lại được thành Thăng Long trước khi bị quân Nguyên chiếm giữ).

Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu nỗ (27) lực
Vạn cổ thử giang san

****

GHI CHÚ

27. Có bản chép là: Trí

****

Dịch Nôm

Chương Dương (28) cướp giáo giặc
Hàm Tử (29) bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy nghìn thu

Trần Trọng Kim dịch
Việt Nam sử lược


3. Sơ hạ
Chu An

Sơn vũ liêu liêu trú mộng hồi
Nộn lương nhất tuyến khởi đình mai
Yến tầm cố lũy tương tương khứ
Thiền yết tân thanh lục tục lai
Điểm thủy khê liên vô tục thái
Xuất ly trúc duẩn bất phàm tài
Cứ ngô tĩnh cực hoàn thành lãn
Án thượng tàn thư phong tự khai
 
****


GHI CHÚ:

28. Chương Dương: Tên xã, nay thuộc phủ Thường Tín, Hà Đông

29. Hàm Tử: Tên xã, nay thuộc phủ Khoái Châu, Hưng Yên.

****

Dịch Nôm
Đầu Mùa Hè

Trại non chợt tỉnh giấc mùa hè
Hơi mát đưa qua chiếc bóng mai
Tìm lối lũy hoang xao xác yến
Đầy đường tiếng mới não nùng ve
Nhấp nhô sen nước xa mùi tục
Ngay thẳng măng đồng át giậu tre
Lặng dựa cành ngô người tựa biếng
Gió đâu giở sách ý khôn dè

Đinh Văn Chấp dịch
Dịch thơ đời Lý và Trần
(Nam Phong tạp chí t. XX, 114, 115, 116).

4. Thần đầu cảng khẩu hiểu bạc
Nguyễn Trung Ngạn

(Thần đầu là tên một cái cửa biển cũ ở chỗ giáp giới tỉnh Ninh Bình (h. Yên Mô) và tỉnh Thanh Hóa (h. Nga Sơn). Đời Lê đổi là Thần phù . Cuối đời Lê, cửa ấy bị cát bồi lấp cả. Nay ở h. Yên Mô, có một tổng tên là Thần Phù).

Ba dao nhật cước tán hà hồng
Vô hạn ngư gia lạc chiếu trung
Nhất thủy bạch tòng thiên thượng lạc
Quần sơn thanh đáo hải môn không
Long quy động khẩu tình sinh vụ
Kình phún triều đầu mộ khởi phong
Độc phiếm lan chu quan hạo đãng
Hốt nghi thân tại lạn ngân cung

Dịch Nôm

Đỗ thuyền bến Thần đầu buổi sáng
Sông lay bóng ác dáng lung linh
Mấy xóm thuyền chài bóng bọc quanh
Nước đậu lưng trời rơi điểm trắng
Non trèo mặt bể lạt màu xanh
Rồng mai về động mù che nắng
Cá tối ra khơi gió chuyển ghềnh
Cưỡi sóng thử buông thuyền một lá
Thân này e đứng cõi Bồng doanh

Đinh Văn Chấp dịch
(tác phẩm kể trên)

Chu trung tức sự
Phạm Sư Mạnh

Sĩ hoạn tam triều bị tỉnh quan
Thượng đầu bạch phát vị hoàn san
Mộng hương tọa đối Nhị Hà Nguyệt
Trù trướng yên khê hiệp thạch gian

Dịch Nôm
Ngồi thuyền tức sự

Ba triều đài tỉnh lạm ngôi quan
Đầu bạc chưa mua được chữ nhàn
Hương đốt ngồi trông trăng bến Nhị
Khe mù ghềnh đá dạ bàng hoàng

Đinh Văn Chấp dịch
(Tác phẩm kể trên)

Cúc Hoa
Sư Huyền Quang

Vong thân vong thế dĩ đô vong
Tọa cửu tiêu nhiên nhất tháp lương
Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật
Cúc hoa khai xứ tức trùng dương

Dịch nôm
Hoa Cúc

Thân thế nào hay có với không
Một giường lạnh ngắt kẻ ngồi trông
Giữa non năm cuối quên ngày tháng
Mách tiết trùng dương cúc nở bông

Đinh Văn Chấp dịch
(Tác phẩm kể trên)

7. Thuật hoài

Đặng Dung con Đặng Tất, người huyện Thiên Lộc, Nghệ An (nay là huyện Can Lộc, Hà Tĩnh) sau khi vua Hậu Trần Giản Định đế giết cha ông, ông đón Trần Quý Khoách lập lên làm vua, đánh nhau với quân Minh nhiều trận, sau bị quân địch bắt, ông tử tiết).

Thế sự du-du nại lão hà!
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai, đồ điếu thành công dị
Vận (30) khứ, anh hùng ẩm hận đa
Trí chủ hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
Quốc thù vị phục đầu tiên bạch
Kỷ độ long toàn đái nguyệt ma

Dịch nôm

Việc đời bối rối tuổi già vay?
Trời đất vô cùng, một cuộc say
Bần tiện gặp thời, lên cũng dễ
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa
Giáp gột sông trời khó vạch mây
Thù trả chưa xong đầu đã bạc
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày!

Phan Kế Bính dịch
Đại Nam Nhất thống chí
(Đông Dương tạp chí Lớp mới, số 116).

8. Hịch tướng sĩ văn
Trần Quốc Tuấn

(Trích đoạn cuối)

Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu quân giặc mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú về vườn ruộng, hoặc quyến luyến về vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc đến thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo giáp, mẹo cờ bạc sao cho dùng nổi được quân mưu; dẫu rằng ruộng lắm tiền nhiều, thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, nước này trăm sự nghĩ sao; tiền của đâu mà mua cho được đầu giặc; chó săn ấy thì địch sao nổi quân thù; chén rượu ngon không làm được cho giặc say chết, tiếng hát hay không làm được cho giặc điếc tai. Khi bấy giờ chẳng những là thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc của các ngươi cũng hết; chẳng những là gia quyến của ta bị đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng nguy; chẳng những là ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mãi, mà gia thanh của các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng nhục, đến lúc bấy giờ các ngươi dẫu muốn vui vẻ, phỏng có được hay không?
Nay ta bảo thật các ngươi: Nên cẩn thận như nơi củi lửa, nên giữ gìn như kẻ húp canh, dạy bảo quân sĩ, luyện tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ (31) thì mới có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công danh. Chẳng những là thái ấp của ta được vững bền mà các ngươi cũng đều được hưởng bổng lộc; chẳng những là gia quyến của ta được yên ổn, mà các ngươi cũng đều được vui vợ con; chẳng những là tiên nhân ta được vẻ vang, mà các ngươi cũng được phụng thờ tổ phụ, trăm năm vinh hiển; chẳng những là một mình ta được sung sướng, mà các ngươi cũng được lưu truyền sử sách, nghìn đời thơm tho; đến bấy giờ ngươi dẫu không vui vẻ, cũng tự khắc được vui vẻ.

Nay ta soạn hết các binh pháp của các nhà danh gia hợp lại làm một quyển, gọi là "Binh Thư Yếu Lược". Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo, thì mới phải đạo thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo, thì tức là kẻ nghịch thù.

Bởi cớ sao? Bởi giặc Nguyên cùng ta là kẻ thù không đội trời chung, thế mà ngươi cứ điềm nhiên không nghĩ đến việc báo thù, lại không biết dạy quân sĩ, khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù, giơ tay không mà chịu thua quân giặc, khiến cho sau trận Bình Lỗ (32) mà ta phải chịu tiếng xấu muôn đời, thì còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa. Vậy nên ta phải làm ra bài hịch này để cho các ngươi biết bụng ta.

TRẦN TRỌNG KIM dịch
Việt Nam sử lược

****

GHI CHÚ:

30. Có bản chép là: Sự

31. Bàng Mông và Hậu Nghệ: Hai tay bắn cung giỏi có tiếng về đời nhà Hạ ở bên Tàu.

32. Bình Lỗ: Tên thành ở tỉnh Thái Nguyên, ông Lý Thường Kiệt phá quân Tống ở đấy.

****

9. Vạn ngôn thư
Lê Cảnh Tuân


(Đại lược)

Nước Minh đã có sắc cho các hạ theo quân đánh dẹp, để đợi khi họ Hồ bị bắt thì chọn con cháu nhà Trần lập lên làm vua. Nay lại đặt ra ty Bố chánh và ban tước cao cho các hạ mà chỉ cho người giữ việc quét dọn Miếu nhà Trần. Vậy các hạ nếu có thể tâu rõ rằng con cháu nhà Trần chưa tuyệt mà xin tuyên chiếu lại phong nhà Trần làm vua; đó là kế trên hết. Nếu không thể làm như thế, thì xin bãi chức của các hạ và xin làm quan giữ đền thờ nhà Trần đó là kế giữa. Nhược bằng quyến luyến chức cao, tham lam bổng lộc đó là kế dưới cùng. Nếu theo được kế trên, thì tôi đây xin như nhân sâm, chỉ xác, trần bì xung vào trong giỏ thuốc, để các hạ sử dụng. Nếu theo kế giữa, thì tôi xin cầm cái biển cái đậu bôn tẩu ở trong, cũng để các hạ sai khiến. Nếu theo kế dưới thì tôi đi câu cá, cày ruộng, để trọn những năm sống thừa mà thôi.

Dương Quảng Hàm dịch
(Theo CM q. 12, tr 34-35b)

10. Ngọc tỉnh liên phú
Mạc Đỉnh Chi


Đương khi lửa hạ, khách cao trai thư thả, tới dòng nước biếc, vịnh khúc phù dung, đến bến ao trong, ngâm câu nhạc phủ. Bỗng bóng ai, áo trắng mũ vàng, phất phơ diệu cốt xương tiên, hớn hở tinh thần khác tục. Khách hỏi: Tự đâu mà lại? Thưa rằng:Từ núi Hoa San. Khách kéo ghế mời ngồi vồn vã, này đưa ngon quả quý bày ra. Chuyện gần thôi lại chuyện xa, nói cười lơi lả, tiệc hoa tơi bời. Chuyện xong, mới hỏi khách rằng: Khách đây quân tử ái liên chăng là? Tiện đây sẵn có giống nhà, vẫn từng gìn giữ nâng niu hoa vàng. Nọ đào lý bỉ thô còn kém, kể trúc mai đơn lạnh còn xa; nào phải giống tăng phòng câu kỷ, nào phải phường Lạc thổ mẫu đơn, cũng chẳng phải đông ly đào cúc, mà cũng không cửu uyển linh lan; chính là một giống sen thần, đầu non núi Họa giếng vàng sinh ra. Khách nghe nói: Khen thay quý lạ! Phải chăng giống hoa cao mười trượng, ngó cong như thuyền, lạnh giá như băng, ngọt ngon tựa mật, xưa từng nghe tiếng, nay được thực trông. Nghe qua, đạo sĩ vui lòng, hoa trong tay áo giũ liền tặng đưa. Khách trông thấy trong lòng hồi hộp, bút ngũ lăng tay thảo nên ca. Ca rằng:

Thủy tinh làm mái cung đình
Lưu ly tạc để nên hình cun gmôn
Pha lê nát nhỏ làm bùn
Minh châu làm móc trên cành tưới cây
Hương thơm bay thấu từng mây
Bích thiên âu cũng mê say tấc lòng
Quế xanh khóc vụng tuổi thầm
Tố Nga luống những mười phần giận thân
Cỏ dao hài chốn Phương tân
Sông Tương trông ngóng mỹ nhân dãi dầu.
Giữa dòng lơ lửng vì đâu?
Non sông đất cũ cớ sao chẳng về?
Đành nơi lưu lạc quản gì
Thuyền quyên lỡ bước lắm bề gian truân
Một lòng trung chính nghĩa nhân
Lo chi mưa gió, phong trần, tuyết sương!
Chỉn e lạt phấn phai hương
Tháng ngày thắm thoát, mỹ nhân ai hoài

Nghe xong, đạo sĩ than rằng: Nói chi ai oán thiết tha! Kìa chẳng xem đóa tử vi nở trên ao phượng, hoa thược dược mọc trước bệ vàng, cũng là địa vị thanh cao, thanh danh hiển hách, ơn trên Thánh chúa, mưa móc dồi dào. Vội chi tủi phận hờn duyên, nước non lẩn thẩn toan bề đi đâu? Khách nghe ra như tình như cảm, đem lòng kính mộ xiết bao. Khúc trai đình tay tiên đề vịnh, thơ phong đầu giọng ngọc ngâm nga. Nỗi lòng xin giãi gần xa, kính dâng một phú hải hà xét soi.

C. Đ... dịch
trong Văn Đàn Bảo Giám, quyển thứ ba
Trần Trung Viên sao lục
(Nam Kỳ thư quán, Hà Nội)

Linh Tế tháp ký
Trương Hán Siêu


Làng ta có nhiều thắng cảnh, thuở nhỏ du lãm, vết chân ta đi gần khắp, thường khi tự dưới thuyền bước lên núi này, vỗ cái bia ở sườn núi cạo rêu đi, nhân đọc ra mới biết cái tháp cổ kia dựng ra tự năm Tân Mùi niên hiệu Quảng Hựu thứ bảy (1091), triều nhà Lý. Đến khi lên đến trên đỉnh núi, chỉ thấy ngói tàn đền đổ, bỏ vùi rập ở trong sỏi đá bụi rậm, không ngờ bùi ngùi thở dài: Cớ sao hưng, vong, thành,bại, mới độ hai trăm vài mươi năm nay, mà đã thành ra nơi trầm tích! Hay từ đây mà ma diệt đi chăng? Hay lại có người tu đạo lại chăng? Từ khi có vũ trụ, đã có núi này, những kẻ đăng lâm cùng về đâu hết cả, không biết là bao nhiêu người vậy. Về sau ta đi khách du bốn phương, làm quan trong triều, bị vị nơi đài tỉnh, thời chốn cựu ẩn ở bên trời chỉ mơ màng chơi trong giấc mộng mà thôi.

Đương khi nhà vua mới lên ngôi, mùa đông năm thứ hai (33), ta ở kinh đô, có người sơn tăng là Tri nhu đến bảo ta rằng:"Mới dựng lại cái bảo tháp từ tháng Chạp năm Đinh Sửu niên hiệu Khai Hựu (1337), sáu năm nay bây giờ mới xong, xin ông làm cho bài ký, công đức nguy nga, không thể lường được...

Ta bảo rằng ông Thích già Lão Tử lấy tam không chứng đạo chân tu, khi diệt rồi, đến lúc đời cuối nhiều người phụng thờ đạo Phật để cổ hoặc chúng sinh, trong thiên hạ ba phần, chùa chiếm ở một phần, bỏ dứt luân thường, hao tổn của báu, ngây ngây mà chơi, ngẩn ngẩn mà theo, mà không hóa làm yêu quỷ gian tà, ấy cũng ít vậy, và còn làm ác nữa sao nên. Dẫu thế, nhà sư là học trò ông Phổ Tuệ, học được phép Phật Tổ Trúc Lâm, tu thân khổ hạnh, cũng thật đáng khen. Vả lại giơ nắm tay không, thành thủ đoạn lớn, bám rễ mây, chồng nắm đá, đo từ một đấc mà lên đến thước, đến nhận, bước tiến một bước, trùng cao một trùng, cho đến lúc nguy nga độc lập, hình thế ngất lưng trời, thêm vẻ tráng quan cho non nước sánh với tạo vật cũng đồng công, không phải những lũ tăng đạo tầm thường sánh nổi. Than ôi! Sau này nữa lại vài trăm năm, chớp mắt biến diệt, chỉ thêm nỗi thở dài cho ta, không còn thấy lũ sư Nhu nữa, thì còn chắc gì?
Còn như non xanh nước biếc, bóng tháp giữa giòng sông, chiếc thuyền buổi chiều mát, tiêu diêu ở dưới sông, nâng mái bồng lên mà ngạo nghễ, gõ khoang thuyền mà hát thơ Thương lãng (34); hóng gió mát ông Tử Lăng (35) rủ cần câu cá, thăm ước cũ ông Đào Chu (36) đi chơi năm hồ, cảnh ấy tình kia, chỉ ta với non sông này biết mà thôi.

Năm Quý Mùi, niên hiệu Thiệu Phong thứ ba (1343), mùa Hạ, Nhập nội hành khiển, Tả Tư thị lang, kiêm Lạng Châu lộ kinh lược sứ Độn tẩu Trương Hán Siêu Thăng phủ ký

Đông Châu dịch
Theo sách Tang thương ngẫu lục
Tồn cổ tục, III: Danh lam thắng cảnh, Núi Dục Thúy.
(Nam Phong tạp chí, t. IV, số 24, Juin 1949)

****

GHI CHÚ:

33. Tức là năm Triệu phong thứ hai đời vua Trần Dụ Tôn (1342).

34. Thương Lãng: Tên một con sông ở bên Tàu. Khuất Nguyên, trong bài Ngư Phủ Từ có câu hát rằng: "Thương Lãng chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh; Thương Lãng chi thủy trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc". (Nước sông Thương Lãng mà trong, có thể giặt được giải mũ của ta; nước sông Thương Lãng mà đục, có thể rửa được chân ta).

35. Tử Lăng: Tự là Nghiêm Quang, người đời Đông Hán, lúc nhỏ cùng du học với vua Quang Vũ, khi vua Quang Vũ lên ngôi, ông đổi họ tên đi ẩn, không chịu nhận quan chức của nhà vua.

36. Đào Chu: Tức là Đào Chu Công, hiệu của Phạm Lãi, người đời Xuân Thu.

*****

CÁC TÁC PHẨM ĐỂ KÊ CỨU

1. B.A... 40-43: 50-52; 54-58; 61; 63; 64

2. Chap. blbl... L4;7; 28; 31; 34; 35; 53-55; 57; 94; 95; - P93; 98; 161

3 Hch., q 6-7, N. P, t XIX, phần chữ nho, tr 3-9; 25-28; q. 9-N. P. t XX, phần chữ nho, tr. 1-4; q, 11, N. P., t. XXI, phần chữ nho tr. 37; q 12; N. P., t, XXII, phần chữ nho, tr. 55-56

4. Nam Hải, 8, 10, 17, 18.

5. Nguyễn Trọng Thuật, Bình luận về sách Khóa hư, N. P. t. XXXIII, tr. 315.

CÁC BẢN IN VÀ CÁC BẢN DỊCH

1. Đinh Văn Chấp, Dịch thơ đời Lý và Trần N., t XX, tr. 146-157; 298-244; 340-347.

2. Hịch Tướng Sĩ  văn: Nguyên văn chữ Nho và bản dịch của Đồ Nam trong N. P., t XXVI, tr. 607-608; bản dịch theo thể văn song thất của Phan Kế Bính trong Việt Hán văn khảo (sách kể trước), tr. 38-39.

3. Ngọc tỉnh liên phú: Nguyên văn chữ nho và bản dịch của C... D... trong Văn đàn bảo giám (sách kể trên), tr. 66-70.

4. Bạch Đằng Giang phú: Nguyên văn chữ nho và bản dịch của Đông Châu trong NP., t XIV, tr. 470-472.

5. Linh tế tháp ký: Nguyên văn chữ nho trong Tang thương ngẫu lục q. hạ tr. 39b-42a
 
********
 
PS: Thanks TTL (for typing p.230)
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG THỨ SÁU
 
NGUYỄN TRÃI, TÁC PHẨM VIẾT BẰNG HÁN VĂN
VÀ VIỆT VĂN CỦA ÔNG; QUYỂN GIA HUẤN CA
 
 
Trong các văn gia buổi Lê sơ, một người nổi tiếng nhất và có nhiều tác phẩm hơn cả là Nguyễn Trãi. Vậy ta phải xét riêng về ông trong chương này
 
Tiểu Truyện:  Nguyễn Trãi (1380-1442) - Hiệu Ức Trai, người xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc (nay là phủ Thường Tín, Hà Đông) đậu Thái học sinh năm 21 tuổi (1400 Hồ Quý Ly, Thánh nguyên năm đầu) làm Ngự sử đài chánh chưởng. Sau khi nhà Minh đánh thua họ Hồ và bắt cha ông là Nguyễn Phi Khanh (1), đem về Tàu, ông theo vua Lê Lợi và trong mười năm bình định, ông giúp mưu hoạch và giữ việc từ mệnh. Khi bình định xong, ông được đổi lấy họ vua (Lê Trãi), phong tước hầu và làm Nhập nội hành khiển (Thủ tướng). Năm 60 tuổi (1439), ông về trí sĩ ở Côn Sơn (thuộc huyện Chí Linh, Hải Dương). Năm 1442, vì cái án Thị Lộ (2), ông phải tội, bị giết cùng với cả họ, thọ 63 tuổi.
 
Tác phẩm bằng Hán văn:
 
Tác phẩm viết bằng Hán văn của ông rất nhiều, nhưng hiện nay những tác phẩm còn truyền lại đều in trong Ức Trai Tập (3), gồm có 6 quyển.
 
Trừ quyển thứ 5 khảo về sự trạng của Tiên sinh và các lời bình luận và quyển thứ 2, phụ lục thơ văn của Nguyễn Phi Khanh, còn có những tác phẩm sau này của ông.
 
1) Ức Trai Thi Tập (q.1) hơn một trăm bài thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn, trong có bài Côn Sơn ca (xem Bài đọc thêm số 1) và bài Chí Linh Sơn Phù.
 
2). Văn Loại (q.3) trong có những bài Bình Ngô Đại Cáo (lời bá cáo về vỉệc bình xong quân Ngô (Minh - 1427), Lam Sơn Vĩnh Lăng Thần Đạo Bỉ Kỳ bia vua Lê Thái Tổ (1433) và Băng Hồ Di Sự Lục (chép việc sót lại của Băng Hồ (hiệu của Trần Nguyên Đán, ngoại tổ của tác giả -1428).
 
3). Quân Trung Từ Mệnh Tập (tập thư từ mệnh lệnh ở trong quân) (q.4) do Trần Khắc Khiêm sưu tập về đời Hồng Đức gồm các thư từ gởi cho tướng nhà Minh (Phương Chính, Vương Thông v.v...) và các bài hịch tướng sĩ mà tác giả đã soạn trong khi vua Lê Lợi đánh nhau với quân nhà Minh. Tập này (tất cả có 24 bài) là một tập sử liệu quan trọng về việc vua Lê Lợi giao thiệp với người Minh trong mấy năm 1423-1427.
 
4. Địa Dư Chí (p.6) là một bài văn khảo về địa dư nước ta, ông dâng lên vua Lê Thái Tôn năm 1435, rồi vua sai Nguyễn Thiên Tùng (4) làm lời tập chú (chương thêm). Nguyễn Thiên Tích (5) làm lời cẩn ân (xét cẩn thận) và Lý Tử Tấn (6) làm lời thông luận (bàn chung). Chính văn của Nguyễn Trãi viết theo lối văn thiên Vũ Cống (7) trong kinh thư, bởi thế có bản chép tay, đề nhan quyển ấy là An Nam Vũ Cống. Quyển này thoạt tiên lược khảo địa dư chánh trị các triều trước đời vua Lê Thái Tổ rồi chép đến địa dư buổi Lê Sơ; kê rõ các đạo trong nước, rồi cứ mỗi đạo xét về sông núi, sản vật và liệt kê các phủ, huyện, châu và số xã.
 
============
 
GHI CHÚ:
 
1. Xem tiểu truyện ở Chương IV Lời chú (10)
 
2. Sử CM (q.17 tờ 22-23, Đại bảo thứ ba (1442) tháng 7) chép về cái ân ấy rằng:"Vua Lê Thái Tôn đi tuần du phương Đông, duyệt võ ở Chí Linh. Lê Trãi đón mời xa giá, vua bèn đến chơi chùa Côn Sơn là chỗ ông ở. Xưa người thiếp Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ có nhan sắc và có văn tài, vua nghe tiếng, triệu cho làm Lễ Nghi Học Sĩ, ngày đêm hầu bên cạnh, nhàn cùng với nàng thân cận. Đến khi Đông tuần, xa giá về đến vườn Lệ Chi (cây vải) xã Đại Lại, huyện Gia Định (nay là Gia Bình) thì vua mắc bệnh sốt. Lộ suốt đêm hầu, rồi vua mất. Các quan giữ bí mật, lén phụng giá về kinh, nửa đêm vào cung mới phát tang. Ai nấy đều nói thị Lộ giết vua, bắt nàng giết đi. Giết thừa chỉ nhập nội đại hành khiển trí sĩ Lê trãi và tru di cả họ.
 
3. Sách này in năm 1868 (Tự Đức thứ 21) theo nguyên bản ở xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc do Dương Bá Cung hiệu Cấn Đình biên tập, Nguyễn Định, hiệu Phương Đình, binh duyệt và Ngô Thế Vinh hiệu Trọng Phu khảo chính; có 3 bài tựa: 1. Bài tựa của Dương Đình Ngô Thế Vinh đề năm Minh Mệnh thứ 6 (1825); 2. Bài tựa của Nguyễn Năng Tĩnh đề năm Minh Mệnh thứ 14 (1833); 3. Bài tựa của Dương Bá Cung đề năm Tự Đức 21 (1868).
 
4. Xem tiểu truyện ở chương V, lời chú (20)
 
5. Nguyễn thiên Tích: Tự Huyền Khuê, người xã Nội Duệ, huyện Tiên Du (Bắc Ninh) đỗ khoa Hoành từ năm 1431 (Lê Thái Tổ, Thuận thiên thứ 4) làm quan đến Hàn Lâm Viện Thị Độc, nội mật viện phó sứ, binh bộ thượng thư, ba lần sang sứ Tàu.
 
6. Xem tiểu truyện ở Chương V, lời chú (15).
 
7. Vũ Cống: Ông Vũ (sau là vua Hạ Vũ, 2.205-2.197 tr. T.L.) định ra phép cống của chín châu và chép rõ núi, sông, đường sá xa gần, sản vật từng vùng nên gọi là Vũ Cống (Từ Nguyên, Ngọ, tr 203) Văn thiên ấy viết theo thể câu tự 4 chữ đến 6 chữ thường đối nhau.
 
=======================

Tác phẩm bằng Việt Văn: Gia Huấn Ca:
 
Theo bài tựa Ức Trai Thi Tập của Trần Khắc Khiêm viết năm 1480 (Ức Trai tập, q. V tờ I) Nguyễn Trãi có một Quốc Âm tập, tiếc rằng tập ấy không còn truyền lại nữa.
Hiện nay chỉ có:
 
1). Bài thơ "Hỏi Ả Bán Chiếu). Truyền là của ông làm khi gặp Thị Lộ lần đầu (xem bài đọc thêm số 3)
 
2. Tập Gia Huấn Ca (bài hát dạy người nhà) vẫn truyền là của ông soạn ra nhưng không được chắc lắm
 
a) Tập này có sáu bài ca: 1. Dạy vợ con; 2. Dạy con ở cho có đức; 3. Dạy con gái; 4. Vợ khuyên chồng; 5. Dạy học trò ở cho có đạo; 6. Khuyên học trò phải chăm học.
 
b) Các bài ca viết theo thể lục bát, nhiều khi đặt xen những câu bảy chữ.
 
c) Chủ ý tác giả là đem các điều cốt yếu, trong luân thường diễn ra lời nôm cho đàn bà trẻ con đọc
 
d) Lời văn bình thường giản dị, lưu loát êm ái. Nếu tập ấy thật của Nguyễn Trãi soạn ra, thì văn nôm ta về đầu thế kỷ thứ XV cũng không khác nay mấy, chỉ thỉnh thoảng có một vài chữ nay ít dùng (xem phần thứ nhi Bài số 45, 46).
 
Kết Luận: Nguyễn Trãi không những là một bậc khai quốc công thần đã giúp vua Lê Thái Tổ đánh đuổi quân Minh để khôi phục lại nền tự chủ cho nước Nam, mà lại là một bậc văn hào buổi Lê sơ đã đem tài học mà trừ thuật ra những tác phẩm rất có giá trị; ông thực là một bậc nho gia chân chính vậy.
 
==============
 
CÁC BÀI ĐỌC THÊM
 
1. Côn Sơn: (Côn Sơn là tên một trái núi thuộc địa hạt xã Chi Ngại huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, nguyên là chỗ vị cao tăng nhà Trần, Huyềnm Quang tu hành và chỗ Băng Hồ tướng công Trần Nguyên Đán về trí sĩ. Nguyễn Trãi, sau khi về trí sĩ cũng về ở đấy.)
 
Côn Sơn có suối nước trong
Ta nghe suối chảy như cung đàn cầm
Côn Sơn có đá tần vần
Mưa tuôn đá sạch ta ngồi ta chơi
Côn Sơn thông tốt ngất trời.
Ngả nghiêng dưới bóng ta thời tự do.
Côn Sơn trúc mọc đầy gò.
Lá xanh bóng rợp tha hồ tiêu dao.
Sao không về phắt đi nào
Đời người vướng vất xiết bao cát lầm
Cơm rau nước lã an thân
Muôn chung nghìn từ có cần quyền chi
Sao không xem; gian tà những kẻ xưa kia
Trước thì họ Đổng (9) sau thì họ Nguyên (10).
Đổng thì mấy vực kim tiền
Nguyên hồ tiêu chừa mấy nghin muôn cân
Lại chẳng xem: Di, Tề (11) hai đấng thánh nhân
Nằm trên núi Thú nhịn ăn đến già
Nào ai khôn dại du mà
Chẳng qua chỉ tại lòng ta sở cầu
Trăm năm trong cuộc bể dâu
Người cùng cây cỏ khác nhau chút nào.
Khóc, cười, mừng, sợ, xôn xao
Đang tươi bỗng héo biết bao nhiêu lần!
Nhục vinh thân cũng là thân
Cửa ngăn nhà ngói trăm năm còn gì
Sào, Do (12) hai bạn tương tri
Vào Hun (13) ta đọc cho nghe bài này
Đồ Nam Tử Nguyễn Trọng Thuật diễn nôm
(Nam Phong tạp chí, t XXVI số 148)
 
===========
 
GHI CHÚ:
 
9. Đổng: Tức là Đổng Trác, người đời Đông Hán bên Tàu. Đời vua Linh Đế (168-169) làm tiền tướng quân; khi vua mất, đem quân vào triều, bỏ vua Thiếu đế, lập vua Hiến đế (190-207) giết bà Hà thái hậu; bọn Viên Thiệu dấy quân đánh Trác, Trác đem vua sang Tràng An Tự làm Thái sư, càng ngày càng tàn ác, sau quan Tư đồ Vương Doãn mật dụ tướng Trác là Lã Bố giết chết.
 
10. Nguyên: Tức là Nguyên Tải nhưng chưa rõ là người ở về đời nào.
 
11. Di, Tề: Tức là Bá Di và Thúc Tề, hai người con vua nước Cô Trúc đời nhà Ân bên Tàu. Khi cha sắp mất, dặn lại lập Thúc Tề. Cha mất rồi, Thúc Tề cũng không lên ngôi và trốn đi. Khi vua Chu Vũ Vương đánh nhà Ân, hai ông giữ cương ngựa cản lại; đến lúc Vũ vương đánh thua nhà Ân, làm vua trong thiên hạ, hai ông lấy việc ăn thóc nhà Chu làm xấu hổ, đi lên ở núi Thú Dương, hái rau vi mà ăn, sau chết đói.
 
12. Sào, Do: Tức là Sào Phủ  và Hứa Do, hai bậc cao sĩ về đời vua Đường Nghiêu bên Tàu; vua Nghiêu muốn nhường thiên hạ cho đều không nhận.
 
13. Tên nôm của Côn Sơn.
Đăng nhập để trả lời
0
2. Bình Ngô Đại Cáo (1427)
 
NGUYỄN TRÃI
 
(Bài này làm sau khi vua Lê Thái Tổ đã đánh đuổi người Minh; lên ngôi vua, truyền cho Nguyễn Trãi soạn ra để bá cáo công mười năm bình định cho thiên hạ biết )
 
Tượng mảng:
 
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân; quân điếu phạt chỉ vỉ khử bạo. Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Đinh, Lê, Lý, Trần gây nền độc lâp; cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương. Dẫu cường nhược có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có
 
Vậy nên:
Lưu Cung sợ uy mất vía, Triệu Tiết nghe tiếng giật mình. Cửa Hàm Tử giết tươi Toa Đô, sông Bạch Đằng bắt sống Ô Mã. Xét xem cổ tích, đã có minh trưng.
 
Vừa rồi:
Vì họ Hồ chính sự phiền hà, để trong nước nhân dân oán hận. Quân cuồng Minh đã thừa cơ từ ngược, bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Chước dối đủ muôn nghìn khóe, ác chửa ngót hai mươi năm. Bại nhân - nghĩa nát cả càn khôn, nặng khóa liễm vét không sơn trạch. Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống bể mò châu; nào hố bẫy hươu đen, nào lưới dò, chim chả. Tàn hại cả côn trùng thảo mộc, nheo nhóc thay!  Cô quan quả điên liên. Kẻ há miệng, đứa nhe răng, màu mỡ bấy no nê chưa chán. Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa. Nặng nề về những nỗi phu phen, bắt bớ mất cả nghề canh cửi. Độc ác thay! Trúc rừng không ghi hết tội; dơ bẩn thay!Nước bể không rửa sạch mùi. Lẽ nào trời đất tha cho; ai bảo thần nhân nhịn được.
 
Ta đây:
 
Lam Sơn dấy nghĩa; chốn hoang dã nương mình. Ngắm non sông căm nỗi thế thù; Thè sống chết cùng quân nghịch tặc. Đau lòng nhức óc, chốc là mười mấy nắng mưa, nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối. Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tính; ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ. Những trằn trọc trong cơn mộng mị, chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi. Vừa khi cờ nghĩa dấy lên, chính lúc quân thù  đang mạnh.
 
Lại ngặt vì:
 
Tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thua. Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần; nơi duy ác hiếm người bàn bạc. Đôi phen vùng vẫy, vẫn đăm đăm con mắt dục đông; mấy thuở đợi chờ, luống đằng đẵng cỗ xe hư tả. Thế mà trông người, người càng vắng ngắt, vẫn mịt mù như kẻ vọng dương; thế mà tự ta, ta phải lo toan, thêm vội vã hư khi chửng nịch. Phần thì giận hung đồ ngang dọc, phần thỉ lo quốc bộ khó khăn. Khi Linh sơn lương hết mấy tuần; khi Khôi huyện quân không một lữ. Có lẽ trời muốn trao cho gánh nặng, bắt trải qua bách chiết thiên ma, cho nên ta cố gắng gan bền, chấp hết cả nhất sinh thập tử. Múa đầu gậy, ngọn cờ phất phới, ngóng vân nghê bốn cõi đan hồ; mở tiệc quân, chén rượu ngọt ngào, khắp tướng sĩ một lòng phụ tử. Thế giặc mạnh, ta yếu mà ta địch nổi, quân giặc nhiều ta ít mà ta được luôn.
 
Dọn hay:
 
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn; lấy chí nhân mà thay cường bạo. Trận Bồ Đằng sấm vang sét dậy, miền Trà Lân trúc phá tro bay. Sĩ khí đã hăng, quân Thanh càng mạnh. Trần Trí, Sơn Thọ mất vía chạy tan; Phương Chính, Lý An tìm đường trốn tránh. Đánh Tây kinh phá tan thế giặc; lấy Đông Đô thu lại cõi xưa. Dưới Ninh Kiều máu chảy thành sông, bến Tụy động xác đầy ngoài nội. Trần Hiệp đã thiệt mạng, Lý Lương lại phơi thây. Vương Thông hết cấp lo lường; Mã Anh khôn đường cứu đỡ. Nó đã trí cùng lực kiệt, bó tay không biết tính sao; ta đây mưu phạt tâm công, chẳng đành mà người chịu khuất. Tưởng nó phải thay lòng đổi dạ, hiểu lẽ tới lui; ngờ đâu còn kiếm kế tìm phương, gây mầm tội nghiệt. Cậy mình là phải, chỉ quen đổ vạ cho người; tham công một thời, chẳng bõ bày trò dở duốc. Đến nỗi đứa trẻ ranh như Tuyên Đức, nhàm võ không thôi; lại sai đồ nhút nhát như Thạnh, Thăng, đem dầu chữa cháy. Năm Đinh Mùi tháng Chín, Liễu Thăng tự Khâu Ôn tiến sang; lại năm nay tháng Mưởi, Mộc Thạnh tự Vân Nam kéo đến. Ta đã điều binh thủ hiểm, để ngăn lối Bắc quân; ta lại sai tường chẹn ngang, để tuyệt đường lương đạo. Mười tám. Liễu Thăng thua ở Chi Lăng, hai mươi, Liễu Thăng chết ở Mã Yên. Hai mươi nhăm, Lương Minh trận vong, hai mươi tám, Lý Khánh tự vẫn. Lưỡi dao ta đương sắc, ngọn giáo giặc phải lùi. Lại thêm quân bốn mặt vây thành; hẹn đến rằm tháng mười diệt tặc. Sĩ tốt ra oai tì hổ, thần thứ đủ mặt trảo nha. Gươm mài đá, đá núi cũng mòn; voi uống nước, nước sông phải cạn. Đánh một trận sạch không kình ngạc; đánh hai trận tan tác chim muông. Cơn gió to trút sạch lá khô; tổ kiến hổng sụt toang đê cũ. Thôi Tạ phải quỳ mà xin lỗi; Hoàng Phúc tự trói để ra hàng . Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đồng; Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước. Ghê gớm thay! Sắc phong vân cũng đổi, thảm đạm thay! Sáng nhật nguyệt phải mờ, Binh Vân Nam nghẽn ở Lê Hoa, sợ mà mất mật; quân Mộc Thạnh tan chưng Cần trạm, chạy để thoát thân. Suối máu Lãnh cầu, nước sông rền rĩ; thành xương Đan Xá , cỏ nội đầm đìa. Hai mặt cứu binh, cắm đầu trốn chạy; các thành cùng khấu, cởi giáp xuống đầu. Bắt tướng giặc mang về, nó đã vẫy đuôi phục tội; thể lòng trời bất sát, ta cũng mở đường hiếu sinh. Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho dăm trăm chiếc thuyền, ra đến bể chưa thôi trống ngực; Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến Tàu còn đổ bồ hôi. Nó đã sợ chết cầu hòa, ngỏ lòng thú phục; ta muốn toàn quân lại cốt, cả nước nghỉ ngơi. Thế mới là mưu kế thật khôn, vả lại suốt xưa nay chưa có. Giang san từ đây mở mặt, xã tắc từ đây vững nền. Nhật nguyệt hối mà lại minh; kiền khôn bỉ mà lại thái. Nền vạn thế xây nên chăn chắn, thẹn nghìn thu rửa sạch lầu lầu. Thế là nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng che chở, giúp đỡ cho nước ta vậy.
 
Than ôi!
 
Vẫy vùng một mảng nhung y, nên công đại định; phẳng lặng bốn bề thái vũ, mở hội vĩnh thanh. Bá cáo xa gần, ngỏ cùng nghe biết.
 
Bùi Kỷ dịch
Quốc văn cụ thể
(Tân Việt Nam thư xã Hà Nội)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-22 11:59:50chieunhatnang>
3. Hỏi Ả Bán Chiếu
 
Nguyễn Trãi
 
(Tục truyền xem Công Dư Tiệp Ký, Sự tích Nguyễn Trãi - Bản dịch của Ed, Nordemann trong Chrestomathie annamite trg 25 tđ.) Nguyễn Trãi một hôm đi chầu về, giữa đường, gặp một người con gái đẹp lắm gánh chiếu bán. Ông bèn đọc bỡn bài thơ này. Người con gái họa lại. Ông thấy người ấy thông minh, hỏi tên là gì; người ấy nói tên là Thị Lộ, ông mới lấy làm nàng hầu).
 
Ả ở đâu nay bán chiếu gon?
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn?
Xuân thu nay độ bao nhiêu tuổi?
Đã có chồng chưa, được mấy con?
 
Bài họa lại
 
Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon
Can chi ông hỏi hết hay còn?
Xuân thu tuổi mới trăng tròn lẻ
Chồng còn chưa có, có chi con
 
CÁC TÁC PHẨM ĐỂ KÊ CỨU
 
1. BA. 24.25
2. Chap, bibl, tr 43 I ch 4; L. 42, 43
3. Sources, 75, 131
4. Hch, q 7 (NP. I. XIX tr 30 td); P 43
5. Nam Hải, 11
6. Nguyễn Ức Trai luận NP, I XXV, phần chữ nho tr. 1td
7. Trúc Khê, Nguyễn Trãi Hà Nội. Nhà xuất bản Tân Dân 1941.
 
CÁC BẢN IN VÀ BẢN DỊCH
 
1. Ức Trai Tập bản in năm 1968 (xem trong bài), PQVDHV. Thv.A 139
2. An Nam Vũ Cống (bản chép tay) PQVDHV. Th A 225.
3. Nguyễn Trãi Gia Huấn Ca transcrit en quốc ngữ et publié par Xuân Lan Imn, Lih văn minh Hải Phòng - Hà Nội tre éd 1814.
4. Thiện Đình, Ức Trai Di Tập. Các thư trát của cụ Nguyễn Trãi thảo thay lời cho vua Lê Lợi, NP, t XXV , tr 437 ld.
 
CHƯƠNG THỨ BẢY
 
CÁC BỘ NAM SỬ ĐẦU TIÊN. BỘ ĐẠI VIỆT SỬ KÝ
(CÙNG HỌC VỚI CUỐN VIỆT SỬ CA)

 
Trong các tác phẩm viết bằng Hán văn, sử ký chiếm một phần quan trọng mà cũng là những tài liệu quý để ta khảo cứu về việc dĩ vãng của nước ta. Bởi thế ta phải xét về các bộ Nam sử đầu tiên làm về đời Trần và đời Lê.
 
Nói qua về việc làm sử và cách chép sử ở nước ta
 
A). Chánh sử và Dã sử
 
Các sách chép về lịch sử ở nước ta có hai loại: Một là chánh sử - gồm những bộ sử do Sử quan hoặc Sử quán (sở coi việc chép sử) soạn ra; hai là dã sử (dã: Đồng nội, quê mùa) gồm các sách chép những việc có liên hệ đến lịch sử do các văn gia trong nước theo những điều kiến văn của mình mà chép ra.
 
Xưa nay, người nước ta chỉ biết trọng và đọc chánh sử mà có ý khinh thường dã sử. Thực ra, dã sử cũng quan trọng bằng chánh sử, vì nhiều khi có thể nhờ đấy mà sửa lại được những điều sai lầm hoặc thiên lệch của những bộ sử do sử thần có khi vì sự tây vị hoặc thế lực áp bách mà chép sai đi. Một lẽ nữa là vì chánh sử thường chỉ chú trọng về việc nhà vua và việc triều đình, nhiều khi chép cả những việc không quan trọng lắm; trái lại, thường bỏ khyết hoặc chép rất sơ lược những việc có liên quan đến cách sinh hoạt của dân chúng, tình hình xã hội, kinh tế trong nước, cùng phong tục, tín ngưỡng, của người dân. Vậy muốn bồi bổ những khuyết điểm ấy, nhiều khi phải tra cứu ở các dã sử mới thấy.
 
B) Cách chép sử
 
Trong các bộ chánh sử của ta, thường theo hai phép chép việc:
 
1.) Phép biên niên: Các việc đều chép theo thứ tự thời gian, khi chép một việc nào, trước hết chép niên hiệu nhà vua rồi đến mùa, tháng, có khi cả ngày, rồi dưới mới chép đến việc xảy ra trong khoảng thời gian đó. Cách chép việc ấy nhiều khi làm cho một việc tiếp tục trong một thời gian khá lâu thành ra gián đoạn, khiến người đọc khó nhận được nguyên do, chi tiết và kết quả việc ấy.
 
2) Phép cương mục. Nhiều bộ sử (như bộ Khâm Định Việt Sử sẽ nói ở Chương XVI) lại theo cả phép cương mục: Cương nghĩa đen là giềng (giường), tức là dây cái của cái lưới; mục nghĩa đen là mắt lưới. Trong phép chép sử, cương là tóm đại ý việc định chép trong một đoạn hoặc một câu ngắn để nêu lên như một tiểu đề vậy; còn mục là lời tự sự rõ ràng các công việc đã xảy ra. Ta thường gọi nôm cương là bài cái, mục là bài con.
 
C.) Các sách phụ vào chánh sử - Trừ những bộ chánh sử ra, còn có nhiều sách giúp cho việc khảo cứu lịch sử là những sách này:
 
1. Ngọc điệp hoặc Ngọc phả (điệp, phả: sổ) là sách ghi chép thế hệ (dòng dõi) của họ nhà vua, cũng như gia phả của tư gia vậy. Thí dụ: Hoàng Lê Ngọc Phả
 
2. Thực Lục (chép việc thật) là sách chép rõ công việc của một vị vua đã làm hoặc đầu đuôi một việc quan trọng gì đã xảy ra. Thí dụ: Quyển Lam Sơn Thực Lục (xem chương TX) chép rõ việc Lê Lợi khởi nghĩa đánh quân Minh và bộ Đại Nam Thực Lục (xem chương XVI) chia làm nhiều kỷ, mỗi kỷ chép rõ công việc của một vị vua triều Nguyễn.
 
3. Liệt truyện (chép truyện) là sách chép các tiểu truyện của những danh nhân trong nước (danh thần, danh nho, hiếu tử, liệt phụ v.v...) thí dụ: Bộ Đại Nam Liệt Truyện (xem chương XVI) chép tiểu truyện các bậc danh nhân về triều Nguyễn.
 
4. Thông Chế (chép chung), Đại Điển (phép tắc lớn) hoặc Hội Điển (họp các phép tắc) là những sách chép các chế độ, pháp lệnh, luật lệ trong một đời vua hoặc một triều. Thí dụ: Quốc triều thông chế soạn năm 1230 về đời vua Trần Thái Tôn, Hoàng Triều Đại Điển của Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn vâng mệnh vua Trần Dụ Tôn soạn, chép các điều lệ triều Trần; Quốc Triều Hội Điển làm xong năm 1776, chép các điển lệ triều Lê; Đại Nam Hội Điển Sự Lệ chép các điển lệ triều Nguyễn.
 
Bộ Đại Việt Sử Ký
 
A - Lịch Sử Bộ Đại Việt Sử Ký - thường dùng cái nhan "Đại Việt Sử Ký" để gọi chung các bộ chánh sử làm trong hai triều Trần, Lê, trước bộ CM soạn về đời nhà Nguyễn, nhưng thực ra thì cái nhan ấy bao gồm nhiều bộ sử đã soạn trong nhiều thời kỳ khác nhau. Vậy ta phải xét qua cái lịch sử của những bộ ấy.
 
1. Đại Việt Sử Ký  của Lê Văn Hưu (1).
 
Bộ này ông phụng mệnh vua Trần Thái Tôn soạn ra, đến năm 1272 (Trần Thánh Tôn, Thiệu Long thứ 5) thì làm xong và dâng lên vua xem.
Bộ ấy gồm 30 quyển, chép từ đời Triệu Vũ Đế (207 tr. T.L.) đến đời Lý Chiêu Hoàng (1224).
Theo bài tựa của Ngô Sĩ Liên trong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì bộ ấy là một "trùng tu" (dọn lại); ý chừng Lê Văn Hưu theo các sử liệu đương thời và các điều tục truyền mà chép ra bộ ấy.
Bộ ấy đã mất, nhưng Ngô Sĩ Liên đã theo đó mà chép bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, hiện trong bộ sau này còn có mấy đoạn dẫn lời Lê Văn Hưu.
 
2. Đại Việt Sử Ký Tục Biên của Phan Phù Tiên (2).
 
Năm 1455, ông phụng mệnh vua Lê Nhân Tôn làm ra bộ này, gồm có 10 quyển, chép tiếp vào bộ Đại Việt Sử Ký kể trên, tự đời Trần Thái Tôn (1225) đến lúc người Minh về Tàu (1427).
Bộ này, cũng như bộ trên, đã mất, nhưng Ngô Sĩ Liên cũng đã tra cứu ở đó để viết bộ Toàn Thư và thỉnh thoảng có dẫn lời Phan Phù tiên.
 
3. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (toàn thư: Sách đủ) của Ngô Sĩ Liên (3).
 
Bộ này ông phụng mệnh vua Lê Thánh Tôn soạn. Năm 1479 (Hồng Đức thứ 10) ông viết bài tuạ và dâng lên vua xem.
 
Bộ này gồm có 15 quyển, chia làm hai phần:
 
a) Ngoại Kỷ (phần chép ngoài): Từ họ Hồng Bàng đến khi hết Nội thuộc (938), 5 quyể
 
b) Bản Kỷ (phần chép chính): Tự đời Ngô Quyền đến khi vua Lê Thái Tổ lên ngôi (939-1428), 10 quyển.
Sự chia ra ngoại kỷ và bản kỷ này bắt đầu từ ông trước, rồi các sử thần đời sau cứ theo mãi.
Theo Phàm lệ (lệ 1) của ông, thì "sách này làm ra, vốn do hai bộ Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu và Phan Phù Tiên lại tham khảo Bắc sử, dã sử, các bản truyện, chí, cùng những điều đã được truyền thụ, thấy, nghe, tra xét, so sánh, biên tập mà thành". Vậy về một phần lớn trong bộ sử này từ đời Triệu Đà đến hết thời kỳ thuộc Minh (Ngoại kỷ q. 2-5 và Bản kỷ); ông chỉ nhân hai bộ sử trước mà bố trí, chữa sửa lại cùng thêm lời bàn. Còn phần sáng tác của ông chỉ là quyển thứ I về Ngoại Kỷ chép về họ Hồng Bàng và nhà Thục (trước đời Triệu Vũ Đế), ông theo dã sử và các truyện ký ( như Việt Điện U Linh Tập và Lĩnh Nam Trích Quái v.v...) mà chép thêm vào.
 
======
 
GHI CHÚ:
 
1. Lê Văn Hưu người Phủ Lý, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa, đậu bãng nhỡn năm 18 tuổi (1247 Thiên Ứng Chính Binh thứ 16) làm quan đến Binh Bộ Thượng Thư, tước Nhân Uyên Hầu. Khi ông phụng mệnh soạn bộ sử ký, ông sung Hàn Lâm Viện Học Sĩ, kiêm Quốc Sử Viện Giám Tu.
2. Xem tiểu truyện ở Chương V, lời chú (7)
3. Ngô Sĩ Liên, người Chúc Ly, huyện Chương Đức (nay là Chương Mỹ, Hà Đông) đậu đồng tiến sĩ năm 1442 (Lê Thái Tôn, Đại Bảo thứ 3) làm quan đến Lễ Bộ Thị Lang, kiêm Sử Viện tu soạn. Thọ 98 tuổi.

============
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-22 12:01:28chieunhatnang>
4. Đại Việt Thông Giám Thông Khảo

(thường gọi tắt là Việt Giám Thông Khảo) của Vũ Quỳnh (4).
Bộ này ông phụng mệnh vua Lê Tương Dực soạn năm 1510 (Hồng Thuận thứ 2); năm 1511 ông dâng lên vua xem. Bộ này gồm có 26 quyển, cũng như bộ Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên, chép từ đời Hồng Bàng đến năm đầu Đại Định vua Lê Thái Tổ (1428) và cũng chia làm ngoại kỷ và bản kỷ, nhưng khác với bộ Toàn Thư, ông cho Bản Kỷ bắt đầu từ đời Đinh Tiên Hoàng (968) chứ không tự đời Ngô Quyền (939). Sự thay đổi ấy, các sử thần đời sau sẽ theo mãi.Bộ này hiện nay không còn nguyên bản có lẽ cũng đã sáp nhập vào bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư do Quốc Tử Giám ấn hành sau này (sẽ nói rõ ở mục B dưới này).

Bộ này viết xong, vua Lê Tương Dực sai Lê Tung (5) viết một bài tổng luận (bài chung) về bộ ấy để tóm tắt những điều cốt yếu. Bài ấy viết năm 1514 (Hồng Thuận thứ 6) và nhan là Đại Việt Thông Giám Tổng Luận hoặc Việt Giám Thông - khảo tổng- luận. Bài ấy vì ngắn nên còn truyền lại, nay còn in trong bản Đại Việt Sử Ký Toàn Thư do Quốc Tử Giám ấn hành sau các bài tựa và mục lục (22 tờ).

5. Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Thực Lục - Tự năm 1479 là năm Ngô Sĩ Liên soạn xong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đến năm 1665 là năm Phạm Công Trứ soạn bộ Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Tục biên (sẽ nói ở mục dưới) chắc là các sử thần các đời vua nhà Lê đã chép vào bộ sử của Ngô Sĩ Liên tự đời Lê Thái Tổ đến đời Lê Cung Hoàng (tự năm 1428 đến năm 1527), phần ấy tức là phần nhan là Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Thực Lục gồm những quyển 11-15 và một phần quyển 10 tự năm 1428 đến năm 1433 trong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư do Quốc Tử Giám ấn hành, nhưng tiếc rằng ta không có đủ tài liệu để định rõ là những ai đã biên tập ra phần ấy.

6. Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Tục Biên - Bộ này là công cuộc của hai bọn sử thần kế tiếp nhau làm ra.

a) Năm 1663 (Lê Huyền Tôn, Cảnh Trị năm đầu) chúa Trịnh (Trịnh Tạc) sai Phạm Công Trứ (6) cùng nhiều người nữa sửa và xét lại (đính khảo) quốc sử tự họ Hồng Bàng đến đời Lê Cung Hoàng lại sai biên tiếp (tục biên) tự đời Lê Trang Tôn đến năm Vạn Khánh đời Lê Thần Tôn tức là tự năm 1533 đến năm 1662. Năm 1665, ông viết tựa và dâng lên vua xem. Theo bài tựa ấy, về ba phần Ngoại Kỷ Toàn Thư (trước triều Đinh). Bản Kỷ Toàn Thư (trước đời Lê Thái Tôn) và Bản Kỷ Thực Lục (tự đời Lê Thái Tôn đến đời Lê Cung Hoàng) ông theo những điều chép ở các sách trước; ông lại tham cứu dã sử của Đặng Bình cùng lược lấy các sách của người đương thời  còn sót lại, chép tiếp tự đời Trang Tôn đến đời Thần Tôn thêm vào quốc sử, mệnh danh là Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ tục bản chia tất cả làm 23 quyển. Xem đó thì biết phần sáng tác của Phạm Công Trứ chỉ có tự đời Lê Trang Tôn (cả sử nhà Mạc tự 1527 đến 1532) đến hết đời Lê Thần Tôn là năm 1662, tức là các quyển 16-18 và phần phụ biên của quyển 15 chép về nhà Mạc trong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư do Quốc Tử Giám ấn hành. Bộ sử của Phạm Công Trứ khảo duyệt và biên tục ấy có sai khắc in, nhưng việc chưa xong, mười phần mới được năm sáu

b) Đến năm 1687 (Lê Hy Tôn, Chính Hòa thứ 18), chúa Trịnh (Trịnh Căn) sai Lê Hy (7). Nguyễn Quý Đức (8) cùng nhiều người khác soạn thuật tự đời Lê Huyền Tôn đến đời Lê Gia Tôn, tất cả là 13 năm, cũng gọi là tục biên. Sách xong, dâng lên, bèn sai khắc tất cả để ban hành. Vậy phần sáng tác của bọn ông Lê Hy là tự năm 1663, đến năm 1675, tức là quyển 19 trong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư do  Quốc Sử Quán ấn hành.

B) Hiện tình bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: Vậy bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư bắt đầu do Lê Văn Hưu đời Trần soạn ra, qua tay Ngô Sĩ Liên tăng bổ và đính khảo lại, rồi đến bọn Phạm Công Trứ và Lê Hy duyệt lại và tục biên, đến năm 1697 thì hoàn thành và xuất bản. Bản in đầu tiên ấy đến nay rất hiếm.

Hiện nay có ba bản in này còn lưu hành:

1. Bản in (mộc bản) của Quốc Tử Giám ở Huế.
Bản in này, gồm có 24 quyển (Ngoại Kỷ 5.q. Bản Kỷ 19 q.) chia làm 4 phần.

a. Trên bốn phần ấy có các bài này:

1) Đại Việt Sử Ký tục biên tự của Lê Hy (1697).
2) Đại Việt Sử Ký Ngoại kỷ toàn thư tự của Ngô Sĩ Liên (1479).
3) Nghĩ tiến Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (biểu) của Ngô Sĩ Liên (1479).
4) Toản tu Đại Việt Sử Ký toàn thư phàm lệ
5) Đại Việt Sử Ký tục biên thư của Phạm Công Trứ (1665)
6) Đại Việt Sử Ký kỷ niên mục lục
7) Việt Giám Thông Khảo tổng luận của Lê Tung (1514)

b. Nội dung bốn phần như sau:

I. Đại Việt Sử Ký ngoại kỷ toàn thư q 1-5: Hồng Bàng - Ngô (đến năm 967)
II - Đại Việt Sử Ký bản kỷ toàn thư q 1-9 : Đinh - Thuộc Minh (968-1417)
III - Đại Việt Sử Ký bản kỷ thực lục q. 10-15: Lê Thái Tổ - Lê Cung Hoàng (1418-1532).
IV - Đại Việt Sử Ký bản kỷ tục biên q 16-19: Lê Trang Tôn - Lê Gia Tôn (1533-1675).

2. Bản in (hoạt bản năm 1884 của Hikida Toshiaki người Nhật Bản, theo một bản chép tay, trong có nhiều chỗ khuyết.

3. Bản in năm 1800 (Nguyễn Quang Toản, Cảnh Thịnh thứ 8) về cuối đời Tây Sơn do Sử quán vâng mệnh biên định và Bắc Thành (Hà Nội) học đường khắc in (nhưng không nói rõ tên các người đã coi việc san định và khắc in).

Bản in này khác với bản in năm 1697 về đời Lê ở mấy điều sau này:

a) Nhan: Bộ này nhan là Đại Việt Sử Ký tiền biên. Cứ như cái nhan có kèm hai chữ "tiền biên" này thì có lẽ Sử quán đời Tây Sơn còn muốn ban hành một bộ "tục biên" tiếp với bộ ấy và chép nốt lịch sử nước ta đến hết triều Hậu Lê. Nhưng vì không bao lâu (1802) nhà Tây Sơn mất nên việc ấy không làm xong.

b) Cách bố trí: Bộ này chỉ chép tự đời Hồng Bàng đến năm 1427 (tức là cái thời kỳ chép trong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên) và cũng chia làm ngoại kỷ, tự Hồng Bàng đến Thập Nhị sứ quân và bản kỷ, tự Đinh Tiên Hoàng đến hết nội thuộc nhà Minh, nhưng phần ngoại kỷ, chia làm 7 quyển (chứ không chia làm 5 quyển như trong bản in năm 1697) còn bản kỷ thì chia làm 10 quyển.

c) Nội dung: Đại thể cũng giống bộ Toàn thư của Ngô Sĩ Liên, chỉ có những chỗ tiểu tiết khác và có thêm nhiều lời chú cùng lời bàn của Ngô Thi Sĩ (9) và Nguyễn Nghiễm (10).
Vậy bộ ấy chỉ là bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên mà các sử thần nhà Tây Sơn đã sửa lại ít nhiều.

C. Việc tục biên Quốc sử năm 1775
 
Bộ Đại Việt Sử Ký toàn thư in năm 1679 chỉ đến năm 1675 là hết. Nên đến năm 1765 (Lê Hiển Tôn, Cảnh Hưng thứ 36) chúa Trịnh (Trịnh Sâm) sai Nguyễn Hoàn (11), Lê Quý Đôn (12) và Vũ Miên (13) biên tập Quốc Sử tự đời Lê Ý Tôn, tức là tự năm 1676 trở về sau. Nhưng sử không chép rõ việc ấy rồi sau ra sao. Hiện nay chỉ có những bản chép tay nhan là Đại Việt Sử Ký Tục Biên hoặc Đại Việt Sử Ký bản kỷ tục biên hoặc Việt Sử Tục Biên chép lịch sử từ năm 1417 (năm vua Lê Lợi khởi nghĩa ) đến năm 1789 (hết triều nhà Lê) nhưng không có bản nào đủ mà cũng không ghi tên tác giả và năm làm.

========

GHI CHÚ:

4. Xem tiểu truyện ở Chương V, lời chú (22)
5. Lê Tung (1452-?) nguyên tên là Dương Bang Bản người xã An Cừ, huyện Thanh Liêm (nay thuộc huyện Ý Yên, Nam Định) đậu Tiến sĩ năm 33 tuổi (1484, Lê Thánh Tôn, Hồng Đức thứ 15). Vua lê Thánh Tôn cho ông lấy họ nhà vua là Lê và đổi tên ông là Tung. Làm quan trong năm đời vua (Thánh Tôn, Hiến Tôn, Túc Tôn, Uy Mục, Tương Dực), đến Lễ Bộ Thượng Thư, Đông Các đại học sĩ, kiêm Quốc Tử Giám tế tửu, tước Đôn Thư Bá, có sang sứ Tàu ba lần (năm 1493, 1507, 1509).
6. Phạm Công Trứ (1600-1675) người xã Liêu Xuyên, huyện Đường Hào (nay là phủ Mỹ Hào, Hưng Yên) đậu đồng tiến sĩ năm 29 tuổi (1628, Lê Thần Tôn, Vĩnh Tộ thứ 10) làm quan đến chức tham thán cơ vụ, giữ việc sáu bộ, thọ 76 tuổi.
7. Lê Hy (1646-1702) người xã Thạch Khê, huyện Đông Sơn (Thanh Hóa) đậu Tiến sĩ năm 19 tuổi (1644). Lê Huyền Tôn, Cảnh Trị thứ 2) làm quan đến Binh Bộ Thượng Thư, tước Lai Sơn Bá, thọ 57 tuổi.
8. Nguyễn Quý Đức (1648-1730), người xã Thiên Mỗ, huyện Từ Liêm (nay là xã Tây Mỗ, phủ Hoài Đức, Hà Đông) đậu bãng nhỡn năm 29 tuổi (1678, Lê Hy Tôn, Vĩnh Trị năm đầu) làm quan đến Binh Bộ Thượng Thư tước Liêm quận công, có sang sứ Tàu năm 1690 thọ 83 tuổi.
9. Ngô Thi Sĩ (1726-1780): Tự Thế Lộc hiệu Ngọ Phong và Nhị Thanh cư sĩ người xã Tả Thanh Oai, phủ Thanh Oai (Hà Đông) đậu tiến sĩ năm 41 tuổi (1766, Lê Hiển Tôn, Cảnh Hưng thứ 27) làm quan đến Đốc Trấn Lạng Sơn, mất tại chức. Ông là một văn gia có tiếng thời bấy giờ (xem chương IX) có những tập thơ văn để lại: Anh Ngôn Thi Tập, Ngọ Phong Văn Tập, Nhị Thanh Động Tập phần nhiều trong Ngô Gia văn phái.
10. Nguyễn Nghiễm (1708-1775) tự Hy Tư hiệu Nghị Hiên người xã Tiên Điền huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) đậu tiến sĩ năm 24 tuổi (1731) (Lê Thuần Tôn, Vĩnh Khánh thứ 5) làm quan đến Thượng Thư, sung chức tham tụng, có công đánh dẹp nhiều nơi, được phong tước Xuân quận công. Thọ 68 tuổi.
11. Nguyễn Hoàn (1713-1792): Người xã Lan Khê (nay là Phương Khê), huyện Nông Cống (Thanh Hóa) đậu Tiến sĩ năm 31 tuổi (1742, Cảnh Hưng thứ 4) làm quan về đời Lê Hiển Tôn đến Lại Bộ Thượng Thư. Khi vua Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu (1789) ông không đi theo và ra thờ nhà Tây Sơn, thọ 80 tuổi.
12. Xem tiểu truyện ở Chương IX, 2.
13. Vũ Miên (1718-1788) người xã Xuân Lan huyện Lương Tài (Bắc Ninh) đậu tiến sĩ năm 31 tuổi (1748 Lê Hiển Tôn, Cảnh Hưng thứ 9) làm quan đến Lại Bộ Thị Lang, kiêm Quốc Tử giám Tế Tửu và Quốc Sử Tổng tài tước Liên Khê Hầu. Thọ 65 tuổi.

--------------

Việt Sử Ca -

1. Chính nhan quyển này là Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca (sử nước Đại Nam diễn ra lời ca)

A ) Lai lịch - Quyển này nguyên của một tác giả không truyền lại tên, ở cuối đời Lê, người Bắc Ninh, khởi thảo và nộp vào viện Tập Hiền năm 1857.

2. Năm 1859, Lê Ngô Cát (14)  (do Phan Thanh giản đề cử) sửa lại và chép thêm đến hồi vua Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu rồi Phạm Xuân Quế (15) nhuận sắc lại.

3. Năm 1873, Phạm Đình Toái (16) theo bản của Lê Ngô Cát làm lại, bốn phần rút lấy một; Phan Đình thực (17) và các danh sĩ thời đó nhuận sắc lại; rồi Phạm Đình Toái cho khắc ván in ở Nghệ An.

B) Nội dung - Quyển ấy chép tự đời Hồng Bàng đến hết đời Hậu Lê theo thể lục bát. Cách chép việc gọn gàng mà đủ các việc chính, nhiều đoạn lời văn hùng hồn thống thiết. Kể văn sử bút lại dùng lời ca mà được như thế thật đã là hay lắm (xem phần thứ nhì, bài số 120)

========

GHI CHÚ:
 
14. Lê Ngô Cát người xã Hương Lang, huyện Chương Đức (nay thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Đông) đậu cử nhân năm 1848 (Tự Đức năm đầu) vào khoảng năm 1858 làm quan ở Quốc Sử quán sau làm án sát tỉnh Cao Bằng.
15. Phạm Xuân Quế người xã Lũ Phong, huyện Bình Chính, tỉnh Quảng Nam, đậu Phó bảng năm 1841 (Thiệu Trị năm đầu) làm quan đến Lang Trung.
16. Phạm Đình Toái, tự Thiếu Du, hiệu Song Quỳnh, người xã Quỳnh Đôi huyện Quỳnh Lưu (tỉnh Nghệ An) đậu cử nhân (năm 1842 Thiệu Trị thứ 2) làm quan tới Hàm Hồng Lô tự Khanh về hưu trí . Ông có làm nhiều sách Quốc Âm như Quỳnh Lưu tiết phụ truyện, Tấn Đường Tống Thi Ca Diễn Âm v.v...
17. Phan Đình Thực, người huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, đậu phó bảng năm 1851 (Tự Đức thứ 4) làm quan đến biện lý bộ hình. Năm 1870 xin về nhà nghỉ. Ông có soạn Tam Thanh Thi Văn Tập và Ký Trai Thi Văn Tập

==========

KẾT LUẬN

Các bộ chánh sử ta xét trong chương này ghi chép công việc nước ta tự lúc khởi thùy đến cuối đời Hậu Lê, từ Triệu Đà (207 trước T.L) trở về trước, phần nhiều là truyện hoang đường không được xác thực. Về thời kỳ nội thuộc, công việc chép quá sơ lược. Còn về thời kỳ tự chủ (tự đời Ngô Quyền trở về sau) thì chỉ chú trọng về việc triều chính, quân sự, mà thường bỏ qua những vấn đề kinh tế, xã hội. Vậy về hai phần trên, muốn tìm lấy sự thực và bỏ những chỗ khuyết, phải tra cứu thêm ở sử sách Tàu. Còn về phần dưới muốn biết rõ dân tình phong tục, phải tham khảo các dã sử, gia phả, bi ký và tự thế kỷ thứ XVII trở về sau, cả các thư từ, truyện ký của các người ngoại quốc đã du lịch hoặc đã trú ngụ ở nước ta. Có khảo sát nghiên cứu các sử liệu ấy mới viết được bộ sử hoàn toàn của nước ta.

-----------

CÁC BÀI ĐỌC THÊM
 
1. Bài tựa sác Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
 
Ngô Sĩ Liên

Sử để chép việc, mà việc được hay hỏng có thể làm cái gương cho đời sau soi đấy mà răn. Các nước đời xưa đều có sử, như sách Xuân thu của nước Lỗ, sách Đào Ngột của nước Tấn, sách Thặng của nước Sở (18). Nước Đại Việt ta ở phía Nam núi Ngũ Lĩnh; thế là trời đã chia ra Nam với Bắc vậy. Đấng thủy tổ là dòng dõi họ Thần Nông; thế là trời đã đặt ra vị chân chủ vậy. Bởi thế mới có thể cùng Bắc Triều cùng làm vua một phương. Hiềm vì sử sách ghi chép thiếu thốn công việc đều theo truyền văn, lời lẽ quái đản, việc hoặc quên sót, đến nỗi sao chép sai lầm, ghi chép lẫn lộn chỉ làm rối mắt còn xem xét sao được!

Đến đời vua Trần Thái Tôn mới sai học sĩ Lê Văn Hưu sửa lại, tự đời Triệu Vũ Đế trở xuống năm đầu Lý Chiêu Hoàng. Vua Nhân Tôn bản triều lại sai quan tu sử Phan Phù Tiên biên nối tự đời Trần Thái Tôn trở xuống đến lúc người Minh về nước, đều lấy tên là Đại Việt Sử Ký. Từ đó, công việc dấu vết các đời mới rõ ràng có thể xét được. Văn Hưu là tay đại bút về đời Trần, Phù Tiên là bậc cố lão của Thánh triều, đều vâng chiếu chép sử nước ta; đáng lẽ nên thu nhặt các sử còn sót lại họp tập thành sách, khiến cho người sau xem đến không còn phàn nàn gì nữa thì mới là phải; thế mà ghi chép còn có chỗ chưa đủ, nghĩa lý còn có chỗ chưa xác đáng, văn tự còn có chỗ chưa ổn, người đọc không thể không phàn nàn vậy. Duy có bộ Việt Sử Chương Mục của Hồ Tôn Thốc (19) làm ra, chép việc thận trọng mà có phép, bàn việc thiết đáng mà không thừa, cũng hầu được hoàn toàn. Nhưng sau cuộc binh hỏa, sách ấy không truyền lại nữa. Cái việc rất khó thành ấy, hình như còn phải đợi.

Đức Hoàng thượng (20) sau khi trung hưng (21), chuộng nho trong đạo, chăm nom phép tắc, khảo cứu văn học. Trong niên hiệu Quảng Thuận (1460-1469) ngài xuống chiếu tìm dã sử cùng các truyện kỳ cổ kim còn chứa ở các nhà tư, đều sai tiến lên để đủ mà tham khảo. Lại sai các nho thần xem xét, bàn bạc, biên chép cho có thứ tự. Tôi trước ở Sử viện, thường dự vào việc ấy. Kịp đến khi tôi vào đấy thì sách ấy đã dâng lên và để tại Đông Các, không ai được xem. Tôi trộm tự nghĩ may gặp thời thịnh, hổ vì chưa ai làm gì để báo bổ, nên dám không tự lượng sức, lấy hai bộ sách của tiền nhân, sửa chữa lại và thêm vào một quyển Ngoại kỷ, tất cả là ngần ấy quyển, đặt tên là Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Việc nào có quên sót thì bổ vào, lệ nào chưa xứng đáng thì sửa lại, lời nào chưa ổn thì đổi đi trong có việc thiện, việc ác có thể lấy đó mà khuyên răn được thì thêm ý kiến bỉ lậu ở sau. Vẫn biết thế là càn rỡ, tội không thể trốn được, nhưng chức vụ buộc phải làm, không dám vì tài hèn mà từ chối. Biên định cẩn thận thành sách, để ở Sử Quán, tuy chưa thể làm rõ rệt được sự phải trái trong muôn năm, nhưng cũng đủ giúp một phần trong việc kê cứu vậy.

* Tiết Đông Chí năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ Mười (1479).

Dương Quảng Hàm dịch
theo TL tờ 1a-3a

=======

GHI CHÚ:

18. Đây là dịch đúng theo nguyên văn, nhưng chính thực thì Đào Ngột là sách của nước Sở (xem Từ Nguyên, Thìn, tr 184) và Thặng là sách sử của nước Tấn (xem Từ Nguyên, trí, tr. 65).
19. Hồ Tôn Thốc: Xem tiểu truyện ở Năm thứ nhì. Chương thứ ba lời chú (11)
20. Tức là vua Lê Thánh Tôn.
21. Ám chỉ việc giết Nghi Dân năm 1460.

===============

2 - Bài tựa sách Đại Việt Sử Ký tục biên (bài dịch)
 
Lê Hy

Sử ký các đời nước Việt ta, do hai bậc tiên chính Lê Văn Hưu và Phan Phù Tiên làm ra trước, rồi đến Ngô Sĩ Liên và Vũ Quỳnh chép về sau, trong đó có sự tích hoặc rõ hoặc lược, chính trị hoặc hay hoặc dở, không có điều gì là không ghi chép đủ. Hiềm vì chưa hề khắc in, chỉ theo thói quen sao chép, nên không khỏi những điều lẫn lộn sai lầm đáng ngờ.

Kịp đến khi vua Huyền Tôn Mục hoàng đế triều ta mới lên ngôi (1663) nhờ có Hoằng tổ, Dương Vương (Trịnh Tạc) hưng khởi việc trị bình, gây dựng việc học vấn, sai Tể thần Phạm Công Trứ tham khảo sử cũ, theo đúng sử lệ trước, lại tham cứu biên chép thêm vào phần Tục biên; giao cho khắc ván in, mười phần mới được năm, sáu; việc ấy chưa làm xong, còn trữ ở Bi các thư viện nhà vua. Tìm người có thể nối chí ấy mà noi theo việc đó, thu nhặt lấy điều cốt yếu mà làm cho xong, hình như phải đợi đến ngày nay vậy.

Đức Hoàng Đế bệ hạ ta (Lê Hy Tôn) nhờ có Đại Nguyên Súy Tổng quốc chính Định Vương (Trịnh Căn)... giúp rập việc trị hóa, chấn chỉnh lại văn phong... bèn nhânm lúc công việc nhàn rỗi, sai lũ chúng tôi xét sửa sử cũ: Điều gì sai thì chữa lại, điều gì đúng thì chép lấy; còn như thế thứ (thứ tự các đờ) phàm lệ (các lệ theo để chép sử) niên biểu (biểu kê năm) đều theo đúng như trước đã chép; lại sưu tầm bút tích cũ, tham khảo các dã sử, chép việc thực tự Cảnh Trị năm đầu đời vua Huyền Tôn (1663) đến Đức Nguyên năm thứ hai vua Gia tôn (1675) cộng là 13 năm, cũng đặt tên là Bản Kỷ Tục Biên. Sách xong dâng lên vua xem, bèn sai thợ khắc ván in, ban bố trong thiên hạ, khiến cho cái công cuộc chưa xong tự nghìn năm về trước đến nay thành được....

Dương Quảng Hàm dịch
(theo TL tờ 1-3)

CÁC TÁC PHẨM ĐỂ KÊ CỨU
 
1. Sources.
2. BA 27-32
3. Chap bibl. L 62,87, 89, 90, 92; P 37, 38, 146, 147
4. Hch q.8 (NP phần chữ nho t. XX tr 57, 60, 69) q. 11 Np tr 53) q 24; q 43
5. Thúc Ngọc Trần Văn Giáp, Ai Làm Ra Sách Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca BSEMT., t XIV số 3 Jull - Sept 1934 tr 428-437

CÁC BẢN IN
 
1. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (bản in của Quốc Tử Giám, Huế) PQVDH Thv. A.3
2. Đại Việt Sử Ký (bản in năm 1800 về đời Tây Sơn) PQVDHV A.2
3. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (bản in năm 1884 của người Nhật bản) PQVDHV Thv A.7
4. Đại Nam Quốc Sử Diễnm Ca bản in năm Tự Đức thứ 35 (1884) của Từ Trung Đường Hà Nội.
5. Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca P.J.P Trương Vĩnh Ký dịch ra lần thứ nhất, Saigon Imprimerie du gouvernement 1875.
6. Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca, bản in lần thứ hai của hiệu Quán Hà Nội 1933.

(còn tiếp)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-22 13:11:25chieunhatnang>
CHƯƠNG THỨ TÁM
CÁC TÁC PHẨM ĐẦU TIÊN BẰNG TIẾNG NAM
THƠ ĐỜI HỒNG ĐỨC (Thế kỷ thứ XV)
THƠ CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM TỨC TRẠNG TRÌNH


Từ khi Hàn Thuyên đặt ra Hàn luật ( xem lại  Năm thứ nhất, chương thứ XII). Các văn gia nước ta theo gương ông mà làm các tác phẩm bằng tiếng Nam càng ngày càng nhiều. Trong chương này, ta xét về các tác phẩm ấy trong hai triều Trần, Lê (phụ triều Mạc), thứ nhất là thơ nôm đời Hồng Đức (thế kỷ thứ XV) và thơ nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm (thế kỷ thứ XVI)

Các tác phẩm đầu tiên bằng tiếng Nam (đời Trần)

Trong đời nhà Trần, cứ theo sử chép thì người đồng thời với Hàn Thuyên bắt chước ông làm thơ văn quốc âm nhiều. Sau đời ông, chắc cũng có nhiều nhà theo gương ông trứ tác nữa. Nhưng hiện nay sử sách còn ghi tên tác giả sau này: Hàn Thuyên (Phi Sa Tập), Nguyễn Sĩ Cố, Chu An (Quốc ngữ thi tập), Hồ Quý Ly (xem lại năm thứ nhất, chương thứ XII). Tiếc rằng thơ văn của tác giả ấy đến nay đều thất truyền, nên ta không thể xét được tính cách nền văn nôm buổi phôi thai ấy là thế nào.

Nay còn lưu lại một tập thơ nôm vô danh truyền là của đời nhà Trần (1) trong đó phần nhiều bài lấy tích "Chiêu Quân Cống Hồ" làm đề mục. Xem trong Nam sử (CM q 8, tr. 44a) thấy có chép rằng: Năm 1306 đời vua Trần Anh Tôn, đem bà Huyền Trân công chúa gả cho vua Chiêm Thành. Nhiều văn nhân bèn mượn việc vua nhà Hán gả Chiêu Quân cho chúa Hung nô làm thơ để chỉ trích việc ấy, nhưng Sử không chép rõ là thơ nôm hay thơ chữ. Kể đề mục các bài trong tập thơ nôm nói trên thì đúng với việc chép trong sử; không biết tập ấy có phải thực là tập thơ làm tự đời Trần không? Nếu đích thực thế, thì tập ấy là tập thơ nôm cổ nhất ở nước ta còn truyền lại (2).

Lại theo sử CM (q 12, tr 36b-37a) thì "Năm Trùng Quang thứ 5 (1413) mùa Hạ, tháng Tư, tướng nhà Minh là Trương Phụ đánh Nghệ An, vua Quý Khoách chạy vào Hóa Châu...sai người bầy tôi là Nguyễn Biểu (3) đi cầu phong, đem phương vật đến Nghệ An để tặng. Phụ giữ ông lại, ông giận mắng rằng: "Trong thì mưu kế đánh lấy nước người, ngoài thì phô trương là quân nhân nghĩa; trước nói rằng lập con cháu nhà Trần, nay lại chia đặt quận huyện; không những cướp bóc của cải, lại còn tàn hại sinh dân, thật là đồ ngược tặc!" Phụ giận đem giết đi. Cuối tập Nghĩa Sĩ truyện của Hoàng Trừng (4) chép sự trạng Nguyễn Biểu, có phụ lục năm bài văn nôm:

1. Bài thơ vua Trần Trùng Quang tặng Nguyễn Biểu lúc đi sứ
2. Bài thơ Nguyễn Biểu họa lại
3. Bài thơ Nguyễn Biểu làm lúc ăn cỗ đầu người (5).
4. Bài văn tế của vua Trần Trùng Quang làm sau khi được tin Nguyễn Biểu chết
5. Bài kệ của vị sư chùa Yên Quốc (chỗ Nguyễn Biểu chết) khen cái chí khí của Nguyễn Biểu (6). Nếu mấy bài văn nôm ấy đích thực là của các nhân vật kể trên làm ra, thì cũng là những áng văn nôm rất cổ ở nước ta (xem phần thứ nhì, bài số 39 và 40)

Còn cuốn truyện Trinh Thử xem phần thứ nhì. Bài số 41 và 42, các bản nôm cũ có đề là "Trần Triều Xử Sĩ Hồ Huyền Quy Tiên Sinh soạn " lại xét lời văn có dùng nhiều tiếng cổ (như những tiếng thủa, chưng, khứng v.v...) là những tiếng hiện nay ít dùng, thì cuốn ấy cũng là một tác phẩm về cuối đởi Trần. Tiếc rằng sử sách không ghi gì về tác giả cả
___________

GHI CHÚ:

1. Tập này lục đăng trong Đông Thanh Tạp Chí số 3 và các số sau.
2. Bài thơ nôm "Bán Than" vẫn tương truyền là của Trần Khánh Dư, một vị tướng nhà Trần về đời vua Nhân Tôn (1279-1293) nay xét ra không phải là của ông, mà là của một bậc di thần của chúa Nguyễn.
NGUYỄN ÁN, trong cuốn Tang Thương Ngẫu Lục (q dưới tờ 48-49) chép lại về lai lịch bài thơ ấy như vầy: Lúc chúa Nguyễn mất nước, có một người di thần không chịu ra làm quan, lấy nghề bán than làm kế sinh nhai. Khi đi đường, ông gặp quốc lão họ Hoàng kéo quân trẩy. Hoàng công trông thấy, lấy làm lạ bèn bảo làm một bài thơ nôm lấy đề mục là "Ban than", ông bèn ứng khẩu đọc bài thơ này:

Một gánh kiền khôn, quảy xuống ngàn
Hỏi: Chi bán đấy? Gửi rằng: Than
Ít nhiều miễn được đồng tiền tốt
Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn
Ở với lửa hương cho vẹn tiết
Thử xem vàng đá có bền gan
Chán nghề nhem nhuốc toan nghề khác
Nhưng sợ trời Đông, lắm kẻ hàn.

Hoàng Công khen phục, thưởng cho năm quan tiền, nhưng ông không chịu nhận, lại quảy gánh rẽ đường tắt đi. Vậy bài thơ ấy không phải thơ đời Trần mà là một bài thơ làm sau, về cuối thế kỷ thứ XVIII (xem bài A propos de la paternilé d'une Poésie Annamite: Bán Than của Dương Quảng Hàm trong Bulletin géneral de I'Instruction publique năm 1937-1938, số 5 Partie générale, tr 147-149)

3. Nguyễn Biểu: Người xã Bình Hồ, huyện Chi La, Nghệ An (nay là xã Yên Hồ, huyện La Sơn, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh), đậu Thái Học Sinh đời nhà Trần, sung chức Điện Tiền Thị Ngự Sử.

4. Hoàng Trừng: Người xã Bình Lộ, huyện La Giang (nay là xã Nhân Thọ, huyện La Sơn, Hà Tĩnh, cháu ngoại Nguyễn Biểu, đậu Hoàng Giáp năm 1499, Lê Hiến Tôn, Cảnh thống thứ 2) làm quan đến chức Đông Các, Lễ Bộ Tả Thị Lang.

5. Nghĩa Sĩ truyện chép rằng: Giặc (Trương Phụ) đặt tiệc thết, mang một đầu người mời ông ăn để dò xét ý ông. Ông tức thì lấy đũa khoét hai mắt, chấm vào giấm mà nuốt".

6. Bản Nghĩa sĩ truyện và các bài văn nôm nói trên đều lục in trong bài Nguyễn Biểu , một gương nghĩa liệt và mấy bài văn thơ cuối đời Trần của Ô. Hoàng Xuân Hãn đăng trong Khai Trí Tiến Đức tập san số 2 và tr 3 tđ.
7. Xem tiểu truyện ở Năm thứ nhất. Chương thứ X.

===========

Thơ Nôm đời Hồng Đức


Buổi Lê sơ không có tác phẩm nôm nào là quan trọng, từ tập Gia Huấn Ca tương truyền là của Nguyễn Trãi (đã nói ở chương thứ IV). Đến đời vua Lê Thánh Tôn (1460-1497) là một đời văn học rất thịnh thì có nhiều thơ nôm truyền lại

A) Tác phẩm của vua Lê Thánh Tôn (1442-1497) (7).
 
Hiện nay còn truyền lại vài chục bài thơ nôm vẫn cho là của vua Lê Thánh Tôn, nhưng xét kỹ đề mục và lời văn thì ta nhận rằng trong tập ấy có hai loại:

1. Những bài đích xác là của ngài (như Thơ Cho Sứ Thần, Hoa Sen) vì lời văn cổ kính và dùng nhiều chữ nho thật là khác hẳn với giọng thơ kim.
2. Những bài không chắc là của ngài làm ra. Những bài này hoặc vịnh các hạng người hèn hạ (Thằng Mõ - Thằng Ăn Mày) hoặc các vật tầm thường (Cái Nón, Cái Chổi) mà lời văn chải chuốt không khác gì lời văn thơ kim. Xưa nay ta vẫn cho những bài ấy là của ngài, vì phần nhiều những bài ấy tuy vịnh nhân vật tầm thường mả trong ngụ ý tả chí khí, thái độ một ông vua hoặc một ông tướng, hình như khẩu khí một bậc đế vương. Nhưng biết đâu những bài ấy lại chả phải của hậu nhân làm ra mà đem gán cho vua Lê Thánh Tôn chăng?

B) Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập

Tập này có chừng 300 bài, không truyền lại tên các tác giả  nhưng chắc là của các bậc văn thần đời Hồng Đức (1470-1497) là một niên hiệu của vua Lê Thánh Tôn. Tập ấy chia làm bốn mục:

1. Thiên Địa môn (trời đất)
2. Nhân Đạo môn (đạo làm người)
3. Phẩm Vật môn (các đồ vật)
4. Nhàn Ngâm Chư Phẩm (các bài làm khi nhàn rỗi).

Thường một đề mục, có một bài xướng và nhiều bài họa theo.
Thơ làm theo thể thất ngôn thường xen những câu 6 chữ (thể câu lục ngôn này là một thể riêng về đời Trần, Lê). Có nhiều cách dùng chữ đặt câu nghe hơi lạ tai.
Xem tập thơ này, ta nhận thấy thơ nôm đời Hồng Đức còn chịu ảnh hưởng của thơ Tàu rất sâu: Có nhiều cảnh và từ mượn ở thơ Tàu mà một đôi khi không hợp với nước ta. Lại thấy có nhiều câu ngợi khen cuộc thái bình thịnh trị trong đời bấy giờ (xem phần thứ nhì bài số 49-52)

Nguyễn Bỉnh Khiêm tức Trạng Trình

Trong thế kỷ thứ XVI, dưới chánh quyền nhà Mạc, có một thi gia nổi tiếng là Nguyễn Bỉnh Khiêm.

A) Tiểu truyện - Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) tự là Hanh phủ hiệu là Bạch Vân Cư Sĩ người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại (nay là phủ Vĩnh Hảo, tỉnh Hải Dương) đỗ trạng nguyên năm 1535 (Mạc Đăng Doanh đại chánh thứ 6), làm quan đến Lại Bộ Tả Thị Lang kiêm Đông Các đại học sĩ; ở triều tám năm, dâng sớ hạch mười tám người lộng thần. Năm 1542 (Mạc Phúc Hải, Quảng Hòa thứ 2) ông xin về trí sĩ, làm nhà ở làng gọi là Bạch Vân Am để ở rồi chỉ đi chơi những nơi núi non sông biển để thưởng ngoạn phong cảnh và ngâm vịnh thơ văn.

Ông tuy ở nhà nhưng vua Mạc vẫn tôn trọng lắm, có công việc to vẫn hỏi đến. Hai năm sau, được phong tước Trình Tuyền hầu sau lại được thăng Lại Bộ thượng thư và phong tước Trình Quốc Công (bởi thế tục thường gọi là Trạng Trình). Ông thọ được 95 tuổi.

B) Tác phẩm - về phần chữ nôm (8) hiện nay còn truyền lại một tập: Bạch Vân Quốc Ngữ Thi gồm non một trăm bài không có đề mục. Những bài ấy hoặc vịnh cảnh nhàn tản, hoặc tả thế thái nhân tình để ngụ ý khuyên răn người đời. Lời thơ bình đạm mà có ý vị: Những bài vịnh cảnh nhàn thì phóng khoáng, thanh tao, rõ ra phẩm cách một bậc quân tử đã thoát vòng danh lợi mà biết thưởng thức cảnh vật thiên nhiên; còn trong những bài răn đời thì có giọng trào phúng nhẹ nhàng, kín đáo, rõ ra một bậc triết nhân đã từng trải việc đời và am hiểu tâm lý người đời. Thật là một lối thơ đặc biệt trong nền văn nôm của ta. Thơ viết theo thể thất ngôn có xen những câu lục ngôn (xem phần thứ nhì, bài số 51-55)

Các nhà viết văn nôm khác trong đời Lê, Mạc

Trong đời Lê, Mạc, trừ những tác giả kể trên, sử sách còn ghi tên mấy nhà viết văn nôm sau này:
Đỗ Cận (9) tác giả Kim Lăng ký;

Nguyễn Hãng (10), có soạn ra mấy bài phú nôm: Đại Đồng phong cảnh phú, Tam Ngung động phú, Tịch Cư ninh thể phú (xem phần thứ nhì, bài số 50)
Hoàng Sĩ Khải (11) tác giả những tập: Sứ Bắc quốc ngữ thi tập, Sứ trình khúc, Tứ thời khúc, Tiểu Độc lạc phú

Kết Luận:

Văn nôm phôi thai tự đời Trần, đến đời Lê, Mạc, đã ngày một phát đạt và tiến bộ. Nếu đem tập Bạch Vân quốc ngữ thi so sánh với tập Hồng Đức Quốc Âm thi  ta nhận thấy thơ nôm về thế kỷ thứ XVI đã tiến hơn thế kỳ XV nhiều. Trong tập thơ Hồng Đức, câu đặt nhiều chỗ nặng nề, chữ dùng còn nhiều Hán tự, chưa thoát ly ra ngoài khuôn sáo thơ Tàu, đến tập thơ Bạch Vân, thì câu đặt uyển chuyển, ít dùng chữ Nho rõ ra lời thơ Nôm đã thuần thục vậy.

---------------

GHI CHÚ:

8. Tác phẩm chữ nho đã nói trong chương thứ V.
9. Đỗ Cận: Tự là Hữu Khác, hiệu Phổ Sơn, người xã Thống Thượng, huyện Phổ Yên (Thái Nguyên), đậu Tiến sĩ năm 45 tuổi (1479 Lê Thánh Tôn, Hồng Đức thứ 9, làm quan đến chức Thượng thư năm 1483 có sang sứ bên Tàu.
10. Nguyễn Hãng: Biệt hiệu là Nại Hiên, người xã Xuân Lũng phủ Lâm Thao, trấn Sơn Tây (nay thuộc tỉnh Phú Thọ) ở vào khoảng cuối Lê, đầu Mạc, đỗ hương cống đời Lê. Sau khi nhà Mạc chiếm ngôi, ông không chịu ra làm quan, đến ẩn cư ở xã Đại đồng (thuộc phủ Yên Bình tỉnh Tuyên Quang). Nhà Lê, sau khi trung hưng, có phong cho ông làm Thảo Mao dật sĩ (người học trò ẩn dật ở nơi cỏ tranh).
11. Hoàng Sĩ Khải: Hiệu Lãn Trai, người xã Lai Xá (nay là hai xã Lai Tè và Lai Đông) huyện Lang Tài (Bắc Ninh) đỗ Tiến sĩ năm 1544 (Mạc Phúc Hải, Quảng Hòa thứ 4) lảm quan đến Hộ Bộ thượng thư được phong tước vịnh Kiều hầu

------------

CÁC TÁC PHẨM ĐỂ KÊ CỨU

1. BA 89, 99, 101
2. Chap bibl, L. 75, 91
3 Hch. p 44, p 43
4. Nguyễn Văn Tố  - Langue et littérature annamite. Notes critiques (sách đã kê trước)

CÁC BẢN IN

1. Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập trg NP, t V, tr 425, 53, VI tr 62 158, 254, 368, 446, 533; VII tr 60.
2. Bạch Vân Am Thi Tập, Sở cuồng văn khố, Quốc học tùng san đệ nhất tập, Hà Nội Nam Ký thư quán 1939.
3. Tịch Cư Ninh Thể Phú trg NP, XVI, tr 283
4. Tứ Thời Khúc, tr NP, t, XIX tr 553

=============

THIÊN THỨ TƯ
THỜI KỲ NAM BẮC PHÂN TRANH
(thế kỳ thứ XVII và XVIII)


-----------------

CHƯƠNG THỨ CHÍN
HÁN VĂN TRONG THỜI KỲ LÊ TRUNG HƯNG


Thời kỳ Lê Trung Hương (1592-1789) là thời kỳ Nam Bắc phân tranh trong lịch sử nước ta. Nước Nam bấy giờ chia làm hai khu vực: Đàng Ngoài (khu vực vua Lê chúa Trịnh) và Đàng Trong (khu vực chúa Nguyễn). Trước thì chúa Nguyễn đánh nhau với chúa Trịnh; sau thì họ Tây Sơn nổi lên đánh đổ cơ nghiệp của chúa Nguyễn, rồi lại dứt nhà Lê và nhà Trịnh. Bởi vậy, văn chương trong thời kỳ ấy cũng chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh: Có nhiều tác phẩm do nhân vật có liên lạc với lịch sử viết ra, hoặc lấy các việc đương thời làm đề mục.

Trước hết ta xét chung về các văn gia thi sĩ trong thời kỳ ấy, rồi ta xét riêng về một tác giả đã trứ thuật nhiều nhất là Lê Quý Đôn.

1. - Các Thi gia, Văn gia và Sử gia.

Thi gia và Văn gia

A) Ở Đàng Ngoài: Phần nhiều các tập thơ xuất hiện trong thời kỳ ấy là những tập của các thi gia làm trong khi đi sứ Tàu như Phùng công thi tập hoặc Nghị Trai thi tập của Phùng Khắc Khoan (1) trong có nhiều bài thơ tác giả làm khi sang sứ Tàu

-------------

GHI CHÚ
 
1. Phùng Khắc Khoan (1528-1613) tự Hoằng Phu, hiệu Nghị Trai, người xã Phùng Xá (nay là Phùng Thôn) huyện Thạch Thất, Sơn La.
Đăng nhập để trả lời
0