<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-22 14:03:25hoaidiephaphuong>
CHƯƠNG THỨ HAI
CÁC VĂN SĨ VÀ THI SĨ TÀU ĐÃ CÓ ẢNH HƯỞNG LỚN NHẤT ĐẾN VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM
KHUẤT NGUYÊN, ĐÀO TIỀM, LÝ BẠCH
Trong chương thứ nhất (năm thứ nhì) nói về tính cách phổ thông của văn chương Trung Hoa và Việt Nam, ta đã nhận ra rằng văn chương nước ta, không những Hán Văn mà cả Việt văn, chịu ảnh hưởng văn Tàu sâu xa lắm. Vậy trong hai chương sau đây, ta phải xét về mấy thi sĩ và văn sĩ Tàu đã có ảnh hưởng lớn nhất đến các nhà trứ tác ở nước ta. Trong chương này, ta nói về các thi sĩ, trong chương sau, ta sẽ nói về các văn sĩ.
Trong các thi sĩ Tàu, ba nhà đã nổi tiếng và tiêu biểu cho ba trào lưu tư tưởng khác nhau là Khuất Nguyên, Đào Tiềm và Lý Bạch.
1. Khuất Nguyên
Thân thế: Ông chính tên là Bình, biệt hiệu là Linh Quân - dòng dõi quý tộc nước Sở (1) sống về đời Chiến Quốc vào khoảng cuối thế kỷ thứ IV và đầu thế kỷ thứ III trước TL (2) làm chức Tam lư đại phu được vua Sở Hoài vương (328-397) trọng dụng. Nhưng vì bọn thượng quan gièm pha, vua Sở sợ ông. Sau vua Hoài vương vì không nghe lời ông khuyên can bị nước Tần đánh thua rồi chết ở đất Tần.
*****
GHI CHÚ:
(1) Nước Sở ở vào trung lưu và hạ lưu sông Dương tử nay là địa phận các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, Chiết Giang và phía Nam Hà Nam.
(2) Năm ông sinh và năm ông mất mỗi sách chép một khác. Theo Lương Khải Siêu thì có lẽ ông sinh năm 338 và mất năm 388 tr. TL. Theo SÙNG NIÊN HSU thì có lẽ ông sinh năm 343 và mất năm 390
****
Vua Tương vương lên ngôi, bọn phản đối ông càng đắc chí, ông bị đày ra đất Giang nam (phía Nam sông Dương tử). Ông buồn bực, đâm đầu xuống sông Mịch La (1) chết vào ngày mồng năm tháng năm.
Tác phẩm: Theo Hán thư văn nghệ chí thì tác phẩm của ông tất cả có 25 thiên nhưng một nhà bác học Tàu gần đây (Lou K'an Jou) chỉ cho có 11 thiên là đích xác của ông: Ly tao (1 thiên). Cửu chương (9 thiên), Thiên vấn (1 thiên).
Ly tao: Theo Tư Mã Thiên thì hai chữ này tức là "Ly ưu" nghĩa là gặp nỗi lo buồn; theo Ban Cố, thì chữ ly cũng nghĩa là "ưu", thành ra hai chữ nghĩa là buồn rầu, bối rối. Bài này làm sau khi ông bị sơ, là một bức tranh truyền thần tâm trạng ông lúc bấy giờ; trước kể gia thế, tư tưởng, phẩm cách, lòng trung nghĩa của ông; sau kể nỗi buồn rầu vì cớ ông bị sơ và phải bỏ đi; rồi thuật một cuộc mộng du lên trời. Nhưng tuy ông buồn bực, ông vẫn thương vua nhớ nước, chỉ mong vua hồi tỉnh lại mà biết dùng mình. Bài này xưa nay các thi sĩ Tàu đều cho là một áng văng tuyệt tác và là nguồn gốc thể thơ tả tình sầu thảm.
Cửu Chương: Gồm có chín thiên như những thiên Tích tụng (tiếc [vua mà] đọc). Thiệp giang (qua sông). Ai sinh (thương sự sống). Tư mỹ nhân (nhớ người đẹp). Tích vãng nhật (tiếc ngày cũ) v.v... Mấy thiên này, ông làm sau khi bị đày xuống Giang Nam để tỏ lòng nhớ vua, thương nước.
Thiên Vấn: Trong thiên này, ông kể sau khi bị đuổi, vơ vẩn nơi núi dầm, thấy nước Sở có miếu thờ đấng Tiên vương cùng từ đường công khanh, trong có tranh vẽ trời, đất, núi, sông, thần linh, nhân viết lên vách để hỏi.
*******
GHI CHÚ:
(1) Sông Mịch La ở huyện Tương Âm tỉnh Hồ Nam bây giờ đổ vào sông Tương là con sông lớn ở Hồ Nam chảy vào hồ Động Đình.
***
Tính tình tư tưởng: Ông là người có tư tưởng cao thượng, tính tình thanh khiết, trí tưởng tượng phong phú, yêu cảnh vật đẹp đẽ của tạo hóa, nhưng cũng thiết tha đến nỗi đau khổ của người đời. Ông thấy xã hội nước Tàu gặp lúc rối loạn, muốn giúp vua để lo hạnh phúc cho dân. Sau dù bị bỏ, bị đày, mà lòng vẫn quyến luyến đến đất nước, chỉ mong vua biết tỉnh ngộ lại. Đến khi biết là không thể thực hành được chí mình, thà chết một cách trong sạch, chứ không chịu a dua với bọn gian nịnh để cầu sự phú quý (X. Bài đọc thêm số 1). Ông thường tự ví mình như một người hết lòng yêu tình nhân (vua, xã hội) mà tình nhân phụ mình (X. thiên Tư Mỹ Nhân).
Văn chương: Về phương diện văn chương, ông vẫn được coi là ông tổ thi ca của nước Tàu, vì nước ông chỉ có các bài ca dao vô danh chép trong Kinh Thi, lối văn thường đặt bốn năm chữ một câu. Đến ông đặt ra lối Sở từ (lời của nước Sở) mỗi câu dài đến bảy tám chữ. Về sau, do lối Sở từ mà thành ra lối thơ thất ngôn, cũng như do văn Kinh Thi mà thành ra lối thơ ngũ ngôn.
2. Đào Tiềm
Thân thế: Đào Tiềm (372-472) tự là Nguyên Lượng, hiệu là Uyên Minh - biệt hiệu là Ngũ Liễu tiên sinh, ở về đời Đông Tấn. Ông tính người cao thượng; năm 405 (Tấn An Đế, Nghĩa Hy nguyên niên) ông đương làm quan lệnh tri huyện ở Bành Trạch; nhân trên quận sai quan đốc bưu đến huyện, nha lại trình với ông nên đeo đai để ra đón. Ông than rằng: "Ta có thể vì năm đấu gạo (chỉ số lương) mà phải gò lưng ru!" Thế rồi ông bỏ quan chức về. Từ bấy, ông cày ruộng làm vườn, vui cảnh nghèo say mùi đạo, thường uống rượu, chơi cúc, thoảng thích tự nhiên. Sau triều đình khuyết chức trước tác lang, nhớ đến ông là bậc danh sĩ, triệu ông, nhưng ông không chịu ra. Người đương thời khen ông mà gọi (kêu) là Tinh Tiết tiên sinh.
Tác phẩm: Ông làm nhiều thơ văn, người đời sau sưu tập lại thành Đào Uyên Minh thi văn tập 8 quyển.
Tính tình, tư tưởng: Ông là người phẩm cách cao quý và ưa sự tự do. Thấy chánh sự trong nước bấy giờ đồi bại không thể cứu vãn được, ông quyết lui về nơi vườn ruộng để giữ lấy tiết sạch giá trong. Thân đương làm quan, chỉ vì không chịu được sự bó buộc mà treo ấn từ quan về (X. Bài đọc thêm số 3).
Ông sinh hoạt theo cảnh tự nhiên mà điềm đạm ở trong cảnh nghèo mà vẫn lấy làm vui, lấy các thú ngắm sông núi cỏ cây để khuây khỏa nỗi buồn, chán về việc đời (X. Bài đọc thêm số 3.)
Cách cư xử của ông hợp với Khổng giáo mà tư tưởng tính tình có chịu ảnh hưởng đạo Phật, đạo Lão.
Văn từ: Lời thơ ông bình thường, điềm đạm, mới đọc không lấy gì làm hay, làm lạ, nhưng ngẫm nghĩ kỹ mới thấy thú vị đậm đà.
3 Lý bạch
Thân thế: Lý bạch (701-762) tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ dòng dõi Lý Quảng (một bậc danh tướng đời nhà Hán đã có công đánh Hung nô) là người đất Xương minh nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên ở về đời nhà Đường. Ông rất mực thông minh: Năm 12 tuổi đã biết làm thơ (người đuơng thời gọi ông là "Trích Tiên" (tiên đày xuống trần) lại đọc nhiều sách; tự năm 20 tuổi, đi du lịch các nơi. Năm 742 (Đường Huyền Tôn, Thiên Bảo nguyên niên) nhờ có người tiến cử, ông được vua Huyền Tôn yêu dùng, cho làm quan trong viện Hàn Lâm. Nhưng sau vì có kẻ gièm pha, vua có ý nhạt nhẽo, ông bèn xin lui về. Từ bấy, ông cứ lang thang đây đó và mộ theo đạo Lão. Năm 755 (Đường Túc Tôn, Chi Đức nguyên niên), một ông Hoàng thân là Vĩnh Vương Lân làm phản, ép ông làm quân sư. Năm sau, ông Hoàng thua, ông bị bắt giam; nhờ có Quách Tử Nghi xin cho, nên ông được tha, nhưng phải đi đày đến năm 759. Vì ông đau đã lâu, nên năm 762 ông mất. Tục truyền một hôm ông say rượu thấy bóng trăng ở dưới sông đẹp muốn ôm lấy nên đâm đầu xuống nước chết, nhưng đó là một câu chuyện bịa đặt ra.
Tính tình, tư tưởng: Ông là một thi sĩ có thiên tài khác thường nhưng vì thế mà có vẻ thần bí. Nhất sinh, ông rất ưa rượu, uống rượu vào là thơ ra, nên người ta vẫn cho ông là một thi sĩ ca tụng thần rượu (X. bài đọc thêm số 4).
Nhưng phải biết ông là một người yếm thế. Trong thơ, ông thường nói đến ba nông nỗi khiến cho ông chán đời:
1.) Đời người ngắn ngủi, người ta chóng già, cái chết sắp đến
2). Các cuộc vui thú không được lâu, cảnh phú quý không được bền
3). Người đời độc ác xấu bụng. Suốt đời bất kỳ lúc nào, ngay những lúc ở trong cảnh sung sướng vui thú, cũng có nỗi sầu theo đuổi và hình tích sự chết ám ảnh ông nên ông mới mượn thú uống rượu, ngâm thơ để tiêu nỗi sầu muộn.
Văn từ: Lời thơ ông mạnh mẽ, thống thiết, có cái giọng ngông cuồng, có vẻ buồn thấm thía. Ông đã được cùng với một thi sĩ đương thời là Đỗ Phủ coi là thi bá trong buổi Thịnh Đường.
******
CÁC BÀI ĐỌC THÊM
1. Thiệp Giang
(Qua sông)
Khuất nguyên
Ta thuở nhỏ ưa mặc đồ lạ hề (4).
Tuổi đã già mà chưa thôi
Đeo gươm dài chi (5) lấp lánh hề
Đội mũ "thiết vân" chi cao lồi
Châu "minh nguyệt" hề ta đeo,
Ngọc "bảo lộ" hề ta có
Đời đục vẩn mà không ai biết ta hề
Ta cứ ruổi mau mà chẳng ngó.
Cưỡi con 'thanh cầu' hề kém con "bạch ly"
Ta cùng với Trùng hoa (6) hề chơi ở Dao Phố.
****
GHI CHÚ:
(4) Chữ 'hề" là một tiếng đệm câu
(5) Chữ "chi" là một tiếng đưa lời
(6) Trùng hoa là vua Đề Thuấn.
****
Trèo lên núi Côn Lôn hề
Ăn cánh hoa tươi
Sánh tuổi thọ với trời đất hề
Tranh sáng cùng mặt trăng mặt trời!
Thương dân mọi chi không biết ta hề
Sớm mai ta sẽ vượt sông Thương
Đứng bến ngọc mà quay đầu trông lại hề
Ào ào nổi tiếng gió chi bi thương
Ruổi ngựa ta hề chốn Sơn Cao,
Đậu xe ta hề đất Phương lâm
Bơi chiếc thuyền hề lên sông nguyên
Đều tay chèo hề sóng vỗ rầm
Thuyền lững thững mà không đi hề
Nước chảy quanh nên khó sang
Sớm đi từ Uổng chữ hề
Chiều nằm ở Thần Thang
Nếu bụng ta chi ngay thẳng hề
Dù xa quạnh có hà phương
Vào bến Tự ta còn dùng dằng hề
Ta chưa biết ở vào đâu
Rừng sâu thẳm chi tối mò hề
Toàn là hang vượn cùng hang hầu
Núi cao vọi chi ngất trời hề
Dưới ũm thũm mà mưa dầu
Tuyết tơi bời chi khắp gần xa h27
Mây đùn đùn mà kéo mau
Thương cái sống của ta chi buồn bực hề
Một mình ở trong núi sâu
Ta không hay đổi lòng mà theo tục hề
Đành ta trọn đời mà ôm sầu
Kìa Tang hộ (7) còn phải đi trần hề
Tiệp Dư (8) còn phải tội gọt đầu
Người trung đã chắc gì được dùng hề
Người hiền đã hẳn gì ai cầu
Người xưa mà như thế hề.
Ta còn oán gì người sau
Ta cứ vững một lòng giữ đạo hề
Thôi chẳng quản gì buồn rầu
Phan Kế Bính dịch
Việt Hán văn khảo
(Đông Dương tạp chí, Lớp mới, số 169)
****
GHI CHÚ :
7, 8 = Tang Hộ, Tiệp Dư là hai người hiền đời xưa (từ số 4 đến số 5 là lời chú của dịch giả)
****
Quy Khứ Lai Từ
Đào Tiềm
Đi về sao chẳng về đi
Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về
Đem tâm để hình kia sai khiến
Còn ngậm ngùi than vãn với ai
Ăn năn thì sự đã rồi
Từ đây nghĩ lại biết thôi mới là
Lối đi lạc chửa xa là mấy
Nay khôn rồi chẳng dại như xưa
Con thuyền thuận nẻo gió đưa
Gió hây hẩy áo, thuyền lơ lửng chèo
Hỏi hành khách lối nào đi tới
Bóng mập mờ trời mới rạng đông
Miền quê nẻo trước xa trông
Chân hăm hở bước đường mong tới nhà
Chạy đón chủ năm ba đầy tớ
Đứng chờ ông mấy đứa trẻ con.
Rậm rì ba khóm con con
Mấy cây tùng cúc hãy còn như xưa
Tay dắt trẻ vào nhà mừng rỡ
Rượu đâu đà sẵn chứa đầy vò
Thoạt ngồi tay đã nghiêng hồ
Cười nom sân trước thấp tho mấy cành
Ngồi riễu cợt một mình trước sổ
Khéo cũng hay vừa chỗ rung đùi
Thăm vườn dạo thú hôm mai
Cửa dù có, vẫn then cài như không.
Chống gậy dạo quanh vườn lại nghỉ
Ngắm cảnh trời khi ghé trông lên
Mây đùn mấy đám tự nhiên
Chim bay mỏi cánh đã quen lối về
Bóng chiều ngã bốn bề bát ngát
Quanh gốc tùng tựa mát thảnh thơi.
Từ đây về thực về rồi
Thôi xin từ tuyệt với người vãng lai
Vì ta đã với đời chẳng hiệp
Cần chi mà giao thiệp với ai
Chuyện trò thân thích mấy người
Bạn cùng đèn sách khi vui đỡ buồn
Người làm ruộng ôn tồn hỏi chuyện
Tới xuân rồi sắp đến việc ta
Hoặc truyền sắm sửa câu xa
Hoặc khi đủng đỉnh thuyền ra coi đồng
Dưới khe nọ nước vòng uốn éo
Bên đường kia gò kéo gập ghềnh
Cỏ cây mơn mởn màu xanh
Suối tuôn róc rách bên ghềnh chảy ra
Ngắm muôn vật đương mùa tươi tốt
Ngán cho ta thôi trót già rồi
Thôi còn mấy nỗi ở đời
Khứ lưu sao chẳng phóng hoài tự nhiên
Cớ chi nghĩ thêm phiền tấc dạ
Đi đâu mà tất tả vội chi
Giàu sang đã chẳng thiết gì
Cung tiên chưa dễ hẹn kỳ lên chơi
Chi bằng lúc chiều trời êm ả
Việc điền viên vất vả mới vui
Lên cao cất một tiếng dài
Xuống dòng nước chảy ngâm vài bốn câu
Hình thể này mặc dầu tạo hóa
Tới lúc nào hết cả thì thôi
Lòng ta phó với mệnh trời
Đừng ngờ chi nữa cứ vui vẻ hoài
Từ Long dịch
(Nam Phong tạp chí t XXXI số 179 tr. 576)
[3]Bài Văn tự tế mình
ĐÀO TIỀM
Duy, năm Đinh Mão (Nguyên gia năm thứ tư 427) đúng luật Vô Dịch (tháng chín) trời rét, đêm dài, phong khí xờ xạc; hồng nhạn vẩn vơ, cỏ cây lác đác; Đào tử sắp từ bỏ nơi nghịch lữ, trở vê nơi bản trạch. Cố nhân đều xót thương, đêm nay cùng tiễn biệt; bày thức rau ngon, rót chén rượu sạch; đợi khí tắt nghỉ, nghe hơi đã tịch, than ôi thương thay!
Mông mênh khối đất, lộng lẫy bầu trời, sinh ra muôn vật ta được làm người; ta sinh làm người, nghèo kiết cả đời; rá không bầu cạn, áo rách tả tơi; rượu suông nước lã, hát ngao đi cày; cửa cài hẻo lánh, vui ta đêm ngày.
Xuân Thu thay đổi, chăm việc canh nông, trồng cây đắp nấm, tươi tốt những mong; sách vui thú sẵn, đàn vỗ dịp không; Đông hong bóng nắng, Hè lắm suối trong; cần lao chẳng quản, nhàn rỗi chơi ngông; vui trời yên phận, trăm năm là cùng.
Trăm năm cõi đời, ai cũng ham chơi; sợ không thành nghiệp, bỏ phí đời người; trân trọng tham tiếc, chết còn hỡi ôi! Song ta chẳng thế, khác hẳn mọi người; vinh ta cũng mặc, nhuốc ta chẳng giây; ngất ngưởng xó nhà, thơ rượu tít say.
Đã hay vận mệnh, ai chẳng quyến luyến; ta nay thác đi, đành không ân hận; tuổi thọ gần trăm, thân vốn ẩn độn; già rồi chết đi, nào có tham luyến.
Rét nắng thay đổi, chết khác lúc còn; họ hàng thương viếng, bè bạn thăm nom; chôn ra giữa đồng, để yên cái hồn; ta đi yên giấc, cửa mộ tối om; dơ nết xa xỉ, quá đá đem chôn (9); đỉ thôi kiệm quá, táng Trần Vương Tôn (10).
Tôi đã tịch diệt, cõi đời đã xa; chẳng cây chẳng sấm, ngày lụa tháng qua; danh dự chẳng thiết, thiết gì văn ca; kiếp sinh khó thật, kiếp lữ sao mà? Than ôi! Thương thay!
Nguyễn Hữu Tiến dịch
Một nhà Đạo sĩ nước Tàu: Đào Uyên Minh
(Nam Phong tạp chí, t. XXXI số 179)
****
GHI CHÚ:
(9): Người Hoàn Khôi nước Tống sai làm cái quan quách bằng đá làm đến ba năm mà vẫn chưa xong, Khổng Tử chê là xa xỉ.
(10). Sách Hán Thư chép truyện Dương Vương Tôn khi sắp mất, dặn con chôn trần để giữ lấy bản thân của mình, bảo làm cái túi vải cho thây xác vào, đưa đút xuống cái hang đất sâu bảy thước, rồi tự đàng chân rút cái túi ra để táng trần.
****
TRƯƠNG TIẾN TỬU
(Sắp kèo rượu)
LÝ Bạch
Biết chăng ai! Sông Hoàng Ha ngọn nước tại lưng trời luận đến bể khôn vời lại được.
Biết chăng nữa! Đài gương mái tóc bạc, sớm như tơ, mà tối đã như gương
Nhân sinh khi đắc ý nên càng
Khôn nỡ để chén vàng trơ với nguyệt
Tài hữu dụng, nhẽ trời âu phải quyết
Nghìn vàng kia, khi hết lại còn
Lúc vui chơi nào nhắm mùi ngon
Ba trăm chén cũng nên dồn một cuộc.
Cụ Sầm rủ cụ Đan khuyên chuốc
Rượu nâng lên, chớ nỡ dừng tay
Vì người hát một khúc này
Xin người hãy lắng tai nghe lấy
Tiệc chung cổ ngọc vàng là mấy
Hãy nên say, say mãi tỉnh chưa mà!
Thánh hiền xưa cũng vẳng xa
Chỉ có rượu với người danh là vẫn để
Tiệc Bình Lạc xưa kia cũng thế
Mười nghìn chuông mặc thích vui cười
Tiền chủ nhân bao quản ngắn dài
Cũng mua nửa cùng người khuyên rót
Ngựa hoa tốt, mà áo cừu cũng tốt
Gọi đồng ra đổi lấy rượu ngon
Cùng người giải vạn kiếp buồng
Vô Danh dịch
========================
CÁC TÁC PHẨM ĐỂ KÊ CỨU
1. Khảo v Khuất Nguyên, Nguyên văn của Lương Khải Siêu , Đông Châu lược dịch trg. NP t, XXI tr 4td.
2. Nguyễn Hữu Tiến, một nhà cao sĩ nước Tàu. Ông Đào Uyên Minh trg. NP t. XXXI tr 560 td.
3. Ngô Tất Tố, Đường Thi, Phiên dịch và khảo cứu thơ Đường sách Tao Đàn. Nhà xb Tân Dân Hà Nội, 1940.
4. D'Hervey Saint Denys, Poésies de L'époque des Thang (VIIe VIII et Ixe siècles de notre ère); Paris Amyot 1862.
5. Sung nien Hsu: anthologie de la littérature chinoise des origines à nos fours, Paris, Delagrave 1933.
CÁC VĂN SĨ VÀ THI SĨ TÀU ĐÃ CÓ ẢNH HƯỞNG LỚN NHẤT ĐẾN VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM
KHUẤT NGUYÊN, ĐÀO TIỀM, LÝ BẠCH
Trong chương thứ nhất (năm thứ nhì) nói về tính cách phổ thông của văn chương Trung Hoa và Việt Nam, ta đã nhận ra rằng văn chương nước ta, không những Hán Văn mà cả Việt văn, chịu ảnh hưởng văn Tàu sâu xa lắm. Vậy trong hai chương sau đây, ta phải xét về mấy thi sĩ và văn sĩ Tàu đã có ảnh hưởng lớn nhất đến các nhà trứ tác ở nước ta. Trong chương này, ta nói về các thi sĩ, trong chương sau, ta sẽ nói về các văn sĩ.
Trong các thi sĩ Tàu, ba nhà đã nổi tiếng và tiêu biểu cho ba trào lưu tư tưởng khác nhau là Khuất Nguyên, Đào Tiềm và Lý Bạch.
1. Khuất Nguyên
Thân thế: Ông chính tên là Bình, biệt hiệu là Linh Quân - dòng dõi quý tộc nước Sở (1) sống về đời Chiến Quốc vào khoảng cuối thế kỷ thứ IV và đầu thế kỷ thứ III trước TL (2) làm chức Tam lư đại phu được vua Sở Hoài vương (328-397) trọng dụng. Nhưng vì bọn thượng quan gièm pha, vua Sở sợ ông. Sau vua Hoài vương vì không nghe lời ông khuyên can bị nước Tần đánh thua rồi chết ở đất Tần.
*****
GHI CHÚ:
(1) Nước Sở ở vào trung lưu và hạ lưu sông Dương tử nay là địa phận các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, Chiết Giang và phía Nam Hà Nam.
(2) Năm ông sinh và năm ông mất mỗi sách chép một khác. Theo Lương Khải Siêu thì có lẽ ông sinh năm 338 và mất năm 388 tr. TL. Theo SÙNG NIÊN HSU thì có lẽ ông sinh năm 343 và mất năm 390
****
Vua Tương vương lên ngôi, bọn phản đối ông càng đắc chí, ông bị đày ra đất Giang nam (phía Nam sông Dương tử). Ông buồn bực, đâm đầu xuống sông Mịch La (1) chết vào ngày mồng năm tháng năm.
Tác phẩm: Theo Hán thư văn nghệ chí thì tác phẩm của ông tất cả có 25 thiên nhưng một nhà bác học Tàu gần đây (Lou K'an Jou) chỉ cho có 11 thiên là đích xác của ông: Ly tao (1 thiên). Cửu chương (9 thiên), Thiên vấn (1 thiên).
Ly tao: Theo Tư Mã Thiên thì hai chữ này tức là "Ly ưu" nghĩa là gặp nỗi lo buồn; theo Ban Cố, thì chữ ly cũng nghĩa là "ưu", thành ra hai chữ nghĩa là buồn rầu, bối rối. Bài này làm sau khi ông bị sơ, là một bức tranh truyền thần tâm trạng ông lúc bấy giờ; trước kể gia thế, tư tưởng, phẩm cách, lòng trung nghĩa của ông; sau kể nỗi buồn rầu vì cớ ông bị sơ và phải bỏ đi; rồi thuật một cuộc mộng du lên trời. Nhưng tuy ông buồn bực, ông vẫn thương vua nhớ nước, chỉ mong vua hồi tỉnh lại mà biết dùng mình. Bài này xưa nay các thi sĩ Tàu đều cho là một áng văng tuyệt tác và là nguồn gốc thể thơ tả tình sầu thảm.
Cửu Chương: Gồm có chín thiên như những thiên Tích tụng (tiếc [vua mà] đọc). Thiệp giang (qua sông). Ai sinh (thương sự sống). Tư mỹ nhân (nhớ người đẹp). Tích vãng nhật (tiếc ngày cũ) v.v... Mấy thiên này, ông làm sau khi bị đày xuống Giang Nam để tỏ lòng nhớ vua, thương nước.
Thiên Vấn: Trong thiên này, ông kể sau khi bị đuổi, vơ vẩn nơi núi dầm, thấy nước Sở có miếu thờ đấng Tiên vương cùng từ đường công khanh, trong có tranh vẽ trời, đất, núi, sông, thần linh, nhân viết lên vách để hỏi.
*******
GHI CHÚ:
(1) Sông Mịch La ở huyện Tương Âm tỉnh Hồ Nam bây giờ đổ vào sông Tương là con sông lớn ở Hồ Nam chảy vào hồ Động Đình.
***
Tính tình tư tưởng: Ông là người có tư tưởng cao thượng, tính tình thanh khiết, trí tưởng tượng phong phú, yêu cảnh vật đẹp đẽ của tạo hóa, nhưng cũng thiết tha đến nỗi đau khổ của người đời. Ông thấy xã hội nước Tàu gặp lúc rối loạn, muốn giúp vua để lo hạnh phúc cho dân. Sau dù bị bỏ, bị đày, mà lòng vẫn quyến luyến đến đất nước, chỉ mong vua biết tỉnh ngộ lại. Đến khi biết là không thể thực hành được chí mình, thà chết một cách trong sạch, chứ không chịu a dua với bọn gian nịnh để cầu sự phú quý (X. Bài đọc thêm số 1). Ông thường tự ví mình như một người hết lòng yêu tình nhân (vua, xã hội) mà tình nhân phụ mình (X. thiên Tư Mỹ Nhân).
Văn chương: Về phương diện văn chương, ông vẫn được coi là ông tổ thi ca của nước Tàu, vì nước ông chỉ có các bài ca dao vô danh chép trong Kinh Thi, lối văn thường đặt bốn năm chữ một câu. Đến ông đặt ra lối Sở từ (lời của nước Sở) mỗi câu dài đến bảy tám chữ. Về sau, do lối Sở từ mà thành ra lối thơ thất ngôn, cũng như do văn Kinh Thi mà thành ra lối thơ ngũ ngôn.
2. Đào Tiềm
Thân thế: Đào Tiềm (372-472) tự là Nguyên Lượng, hiệu là Uyên Minh - biệt hiệu là Ngũ Liễu tiên sinh, ở về đời Đông Tấn. Ông tính người cao thượng; năm 405 (Tấn An Đế, Nghĩa Hy nguyên niên) ông đương làm quan lệnh tri huyện ở Bành Trạch; nhân trên quận sai quan đốc bưu đến huyện, nha lại trình với ông nên đeo đai để ra đón. Ông than rằng: "Ta có thể vì năm đấu gạo (chỉ số lương) mà phải gò lưng ru!" Thế rồi ông bỏ quan chức về. Từ bấy, ông cày ruộng làm vườn, vui cảnh nghèo say mùi đạo, thường uống rượu, chơi cúc, thoảng thích tự nhiên. Sau triều đình khuyết chức trước tác lang, nhớ đến ông là bậc danh sĩ, triệu ông, nhưng ông không chịu ra. Người đương thời khen ông mà gọi (kêu) là Tinh Tiết tiên sinh.
Tác phẩm: Ông làm nhiều thơ văn, người đời sau sưu tập lại thành Đào Uyên Minh thi văn tập 8 quyển.
Tính tình, tư tưởng: Ông là người phẩm cách cao quý và ưa sự tự do. Thấy chánh sự trong nước bấy giờ đồi bại không thể cứu vãn được, ông quyết lui về nơi vườn ruộng để giữ lấy tiết sạch giá trong. Thân đương làm quan, chỉ vì không chịu được sự bó buộc mà treo ấn từ quan về (X. Bài đọc thêm số 3).
Ông sinh hoạt theo cảnh tự nhiên mà điềm đạm ở trong cảnh nghèo mà vẫn lấy làm vui, lấy các thú ngắm sông núi cỏ cây để khuây khỏa nỗi buồn, chán về việc đời (X. Bài đọc thêm số 3.)
Cách cư xử của ông hợp với Khổng giáo mà tư tưởng tính tình có chịu ảnh hưởng đạo Phật, đạo Lão.
Văn từ: Lời thơ ông bình thường, điềm đạm, mới đọc không lấy gì làm hay, làm lạ, nhưng ngẫm nghĩ kỹ mới thấy thú vị đậm đà.
3 Lý bạch
Thân thế: Lý bạch (701-762) tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ dòng dõi Lý Quảng (một bậc danh tướng đời nhà Hán đã có công đánh Hung nô) là người đất Xương minh nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên ở về đời nhà Đường. Ông rất mực thông minh: Năm 12 tuổi đã biết làm thơ (người đuơng thời gọi ông là "Trích Tiên" (tiên đày xuống trần) lại đọc nhiều sách; tự năm 20 tuổi, đi du lịch các nơi. Năm 742 (Đường Huyền Tôn, Thiên Bảo nguyên niên) nhờ có người tiến cử, ông được vua Huyền Tôn yêu dùng, cho làm quan trong viện Hàn Lâm. Nhưng sau vì có kẻ gièm pha, vua có ý nhạt nhẽo, ông bèn xin lui về. Từ bấy, ông cứ lang thang đây đó và mộ theo đạo Lão. Năm 755 (Đường Túc Tôn, Chi Đức nguyên niên), một ông Hoàng thân là Vĩnh Vương Lân làm phản, ép ông làm quân sư. Năm sau, ông Hoàng thua, ông bị bắt giam; nhờ có Quách Tử Nghi xin cho, nên ông được tha, nhưng phải đi đày đến năm 759. Vì ông đau đã lâu, nên năm 762 ông mất. Tục truyền một hôm ông say rượu thấy bóng trăng ở dưới sông đẹp muốn ôm lấy nên đâm đầu xuống nước chết, nhưng đó là một câu chuyện bịa đặt ra.
Tính tình, tư tưởng: Ông là một thi sĩ có thiên tài khác thường nhưng vì thế mà có vẻ thần bí. Nhất sinh, ông rất ưa rượu, uống rượu vào là thơ ra, nên người ta vẫn cho ông là một thi sĩ ca tụng thần rượu (X. bài đọc thêm số 4).
Nhưng phải biết ông là một người yếm thế. Trong thơ, ông thường nói đến ba nông nỗi khiến cho ông chán đời:
1.) Đời người ngắn ngủi, người ta chóng già, cái chết sắp đến
2). Các cuộc vui thú không được lâu, cảnh phú quý không được bền
3). Người đời độc ác xấu bụng. Suốt đời bất kỳ lúc nào, ngay những lúc ở trong cảnh sung sướng vui thú, cũng có nỗi sầu theo đuổi và hình tích sự chết ám ảnh ông nên ông mới mượn thú uống rượu, ngâm thơ để tiêu nỗi sầu muộn.
Văn từ: Lời thơ ông mạnh mẽ, thống thiết, có cái giọng ngông cuồng, có vẻ buồn thấm thía. Ông đã được cùng với một thi sĩ đương thời là Đỗ Phủ coi là thi bá trong buổi Thịnh Đường.
******
CÁC BÀI ĐỌC THÊM
1. Thiệp Giang
(Qua sông)
Khuất nguyên
Ta thuở nhỏ ưa mặc đồ lạ hề (4).
Tuổi đã già mà chưa thôi
Đeo gươm dài chi (5) lấp lánh hề
Đội mũ "thiết vân" chi cao lồi
Châu "minh nguyệt" hề ta đeo,
Ngọc "bảo lộ" hề ta có
Đời đục vẩn mà không ai biết ta hề
Ta cứ ruổi mau mà chẳng ngó.
Cưỡi con 'thanh cầu' hề kém con "bạch ly"
Ta cùng với Trùng hoa (6) hề chơi ở Dao Phố.
****
GHI CHÚ:
(4) Chữ 'hề" là một tiếng đệm câu
(5) Chữ "chi" là một tiếng đưa lời
(6) Trùng hoa là vua Đề Thuấn.
****
Trèo lên núi Côn Lôn hề
Ăn cánh hoa tươi
Sánh tuổi thọ với trời đất hề
Tranh sáng cùng mặt trăng mặt trời!
Thương dân mọi chi không biết ta hề
Sớm mai ta sẽ vượt sông Thương
Đứng bến ngọc mà quay đầu trông lại hề
Ào ào nổi tiếng gió chi bi thương
Ruổi ngựa ta hề chốn Sơn Cao,
Đậu xe ta hề đất Phương lâm
Bơi chiếc thuyền hề lên sông nguyên
Đều tay chèo hề sóng vỗ rầm
Thuyền lững thững mà không đi hề
Nước chảy quanh nên khó sang
Sớm đi từ Uổng chữ hề
Chiều nằm ở Thần Thang
Nếu bụng ta chi ngay thẳng hề
Dù xa quạnh có hà phương
Vào bến Tự ta còn dùng dằng hề
Ta chưa biết ở vào đâu
Rừng sâu thẳm chi tối mò hề
Toàn là hang vượn cùng hang hầu
Núi cao vọi chi ngất trời hề
Dưới ũm thũm mà mưa dầu
Tuyết tơi bời chi khắp gần xa h27
Mây đùn đùn mà kéo mau
Thương cái sống của ta chi buồn bực hề
Một mình ở trong núi sâu
Ta không hay đổi lòng mà theo tục hề
Đành ta trọn đời mà ôm sầu
Kìa Tang hộ (7) còn phải đi trần hề
Tiệp Dư (8) còn phải tội gọt đầu
Người trung đã chắc gì được dùng hề
Người hiền đã hẳn gì ai cầu
Người xưa mà như thế hề.
Ta còn oán gì người sau
Ta cứ vững một lòng giữ đạo hề
Thôi chẳng quản gì buồn rầu
Phan Kế Bính dịch
Việt Hán văn khảo
(Đông Dương tạp chí, Lớp mới, số 169)
****
GHI CHÚ :
7, 8 = Tang Hộ, Tiệp Dư là hai người hiền đời xưa (từ số 4 đến số 5 là lời chú của dịch giả)
****
Quy Khứ Lai Từ
Đào Tiềm
Đi về sao chẳng về đi
Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về
Đem tâm để hình kia sai khiến
Còn ngậm ngùi than vãn với ai
Ăn năn thì sự đã rồi
Từ đây nghĩ lại biết thôi mới là
Lối đi lạc chửa xa là mấy
Nay khôn rồi chẳng dại như xưa
Con thuyền thuận nẻo gió đưa
Gió hây hẩy áo, thuyền lơ lửng chèo
Hỏi hành khách lối nào đi tới
Bóng mập mờ trời mới rạng đông
Miền quê nẻo trước xa trông
Chân hăm hở bước đường mong tới nhà
Chạy đón chủ năm ba đầy tớ
Đứng chờ ông mấy đứa trẻ con.
Rậm rì ba khóm con con
Mấy cây tùng cúc hãy còn như xưa
Tay dắt trẻ vào nhà mừng rỡ
Rượu đâu đà sẵn chứa đầy vò
Thoạt ngồi tay đã nghiêng hồ
Cười nom sân trước thấp tho mấy cành
Ngồi riễu cợt một mình trước sổ
Khéo cũng hay vừa chỗ rung đùi
Thăm vườn dạo thú hôm mai
Cửa dù có, vẫn then cài như không.
Chống gậy dạo quanh vườn lại nghỉ
Ngắm cảnh trời khi ghé trông lên
Mây đùn mấy đám tự nhiên
Chim bay mỏi cánh đã quen lối về
Bóng chiều ngã bốn bề bát ngát
Quanh gốc tùng tựa mát thảnh thơi.
Từ đây về thực về rồi
Thôi xin từ tuyệt với người vãng lai
Vì ta đã với đời chẳng hiệp
Cần chi mà giao thiệp với ai
Chuyện trò thân thích mấy người
Bạn cùng đèn sách khi vui đỡ buồn
Người làm ruộng ôn tồn hỏi chuyện
Tới xuân rồi sắp đến việc ta
Hoặc truyền sắm sửa câu xa
Hoặc khi đủng đỉnh thuyền ra coi đồng
Dưới khe nọ nước vòng uốn éo
Bên đường kia gò kéo gập ghềnh
Cỏ cây mơn mởn màu xanh
Suối tuôn róc rách bên ghềnh chảy ra
Ngắm muôn vật đương mùa tươi tốt
Ngán cho ta thôi trót già rồi
Thôi còn mấy nỗi ở đời
Khứ lưu sao chẳng phóng hoài tự nhiên
Cớ chi nghĩ thêm phiền tấc dạ
Đi đâu mà tất tả vội chi
Giàu sang đã chẳng thiết gì
Cung tiên chưa dễ hẹn kỳ lên chơi
Chi bằng lúc chiều trời êm ả
Việc điền viên vất vả mới vui
Lên cao cất một tiếng dài
Xuống dòng nước chảy ngâm vài bốn câu
Hình thể này mặc dầu tạo hóa
Tới lúc nào hết cả thì thôi
Lòng ta phó với mệnh trời
Đừng ngờ chi nữa cứ vui vẻ hoài
Từ Long dịch
(Nam Phong tạp chí t XXXI số 179 tr. 576)
[3]Bài Văn tự tế mình
ĐÀO TIỀM
Duy, năm Đinh Mão (Nguyên gia năm thứ tư 427) đúng luật Vô Dịch (tháng chín) trời rét, đêm dài, phong khí xờ xạc; hồng nhạn vẩn vơ, cỏ cây lác đác; Đào tử sắp từ bỏ nơi nghịch lữ, trở vê nơi bản trạch. Cố nhân đều xót thương, đêm nay cùng tiễn biệt; bày thức rau ngon, rót chén rượu sạch; đợi khí tắt nghỉ, nghe hơi đã tịch, than ôi thương thay!
Mông mênh khối đất, lộng lẫy bầu trời, sinh ra muôn vật ta được làm người; ta sinh làm người, nghèo kiết cả đời; rá không bầu cạn, áo rách tả tơi; rượu suông nước lã, hát ngao đi cày; cửa cài hẻo lánh, vui ta đêm ngày.
Xuân Thu thay đổi, chăm việc canh nông, trồng cây đắp nấm, tươi tốt những mong; sách vui thú sẵn, đàn vỗ dịp không; Đông hong bóng nắng, Hè lắm suối trong; cần lao chẳng quản, nhàn rỗi chơi ngông; vui trời yên phận, trăm năm là cùng.
Trăm năm cõi đời, ai cũng ham chơi; sợ không thành nghiệp, bỏ phí đời người; trân trọng tham tiếc, chết còn hỡi ôi! Song ta chẳng thế, khác hẳn mọi người; vinh ta cũng mặc, nhuốc ta chẳng giây; ngất ngưởng xó nhà, thơ rượu tít say.
Đã hay vận mệnh, ai chẳng quyến luyến; ta nay thác đi, đành không ân hận; tuổi thọ gần trăm, thân vốn ẩn độn; già rồi chết đi, nào có tham luyến.
Rét nắng thay đổi, chết khác lúc còn; họ hàng thương viếng, bè bạn thăm nom; chôn ra giữa đồng, để yên cái hồn; ta đi yên giấc, cửa mộ tối om; dơ nết xa xỉ, quá đá đem chôn (9); đỉ thôi kiệm quá, táng Trần Vương Tôn (10).
Tôi đã tịch diệt, cõi đời đã xa; chẳng cây chẳng sấm, ngày lụa tháng qua; danh dự chẳng thiết, thiết gì văn ca; kiếp sinh khó thật, kiếp lữ sao mà? Than ôi! Thương thay!
Nguyễn Hữu Tiến dịch
Một nhà Đạo sĩ nước Tàu: Đào Uyên Minh
(Nam Phong tạp chí, t. XXXI số 179)
****
GHI CHÚ:
(9): Người Hoàn Khôi nước Tống sai làm cái quan quách bằng đá làm đến ba năm mà vẫn chưa xong, Khổng Tử chê là xa xỉ.
(10). Sách Hán Thư chép truyện Dương Vương Tôn khi sắp mất, dặn con chôn trần để giữ lấy bản thân của mình, bảo làm cái túi vải cho thây xác vào, đưa đút xuống cái hang đất sâu bảy thước, rồi tự đàng chân rút cái túi ra để táng trần.
****
TRƯƠNG TIẾN TỬU
(Sắp kèo rượu)
LÝ Bạch
Biết chăng ai! Sông Hoàng Ha ngọn nước tại lưng trời luận đến bể khôn vời lại được.
Biết chăng nữa! Đài gương mái tóc bạc, sớm như tơ, mà tối đã như gương
Nhân sinh khi đắc ý nên càng
Khôn nỡ để chén vàng trơ với nguyệt
Tài hữu dụng, nhẽ trời âu phải quyết
Nghìn vàng kia, khi hết lại còn
Lúc vui chơi nào nhắm mùi ngon
Ba trăm chén cũng nên dồn một cuộc.
Cụ Sầm rủ cụ Đan khuyên chuốc
Rượu nâng lên, chớ nỡ dừng tay
Vì người hát một khúc này
Xin người hãy lắng tai nghe lấy
Tiệc chung cổ ngọc vàng là mấy
Hãy nên say, say mãi tỉnh chưa mà!
Thánh hiền xưa cũng vẳng xa
Chỉ có rượu với người danh là vẫn để
Tiệc Bình Lạc xưa kia cũng thế
Mười nghìn chuông mặc thích vui cười
Tiền chủ nhân bao quản ngắn dài
Cũng mua nửa cùng người khuyên rót
Ngựa hoa tốt, mà áo cừu cũng tốt
Gọi đồng ra đổi lấy rượu ngon
Cùng người giải vạn kiếp buồng
Vô Danh dịch
========================
CÁC TÁC PHẨM ĐỂ KÊ CỨU
1. Khảo v Khuất Nguyên, Nguyên văn của Lương Khải Siêu , Đông Châu lược dịch trg. NP t, XXI tr 4td.
2. Nguyễn Hữu Tiến, một nhà cao sĩ nước Tàu. Ông Đào Uyên Minh trg. NP t. XXXI tr 560 td.
3. Ngô Tất Tố, Đường Thi, Phiên dịch và khảo cứu thơ Đường sách Tao Đàn. Nhà xb Tân Dân Hà Nội, 1940.
4. D'Hervey Saint Denys, Poésies de L'époque des Thang (VIIe VIII et Ixe siècles de notre ère); Paris Amyot 1862.
5. Sung nien Hsu: anthologie de la littérature chinoise des origines à nos fours, Paris, Delagrave 1933.
