📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Rôxlavliép - Alexander Pushkin

0 trả lời, 1.073 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-06 04:23:50huytran>
Đọc “Rôxlavliép”, tôi hết sức kinh ngạc nhận thấy rằng cốt truyện dựa trên một sự việc có thật mà tôi được biết quá rõ. Trước kia tôi đã từng là bạn gái của một người đàn bà bất hạnh đã được ông Dagôxkin(1) chọn làm nhân vật chính trong cuốn truyện của ông. Làm như vậy, ông Dagôxkin đã khiến công chúng lưu ý một lần nữa tới một sự việc mà mọi người đã lãng quên, thức tỉnh những cảm xúc công phẫn mà thời gian đã xoá nhoà, và đã xâm phạm đến cõi yên tĩnh của một nấm mồ. Tôi xin đứng ra làm kẻ bênh vực cho người quá cố, - và xin người đọc vì nể nang những tình cảm đã thúc đẩy tôi viết mà lượng thứ cho ngòi bút kém cỏi của tôi. Tôi buộc lòng sẽ phải nói nhiều về mình, vì cuộc đời của tôi trong một thời gian khá dài đã gắn bó với vận mệnh của người bạn bất hạnh của tôi.

Cha mẹ tôi bắt đầu cho tôi bước vào cuộc đời giao tế vào một mùa đông năm 1811. Tôi sẽ không kể lại những cảm tưởng đầu tiên của tôi. Chắc ai cũng có thể dễ dàng hình dung những cảm giác của một người con gái mười sáu tuổi khi bắt đầu rời bỏ chốn khuê phòng, rời bỏ các bà gia sư để bước vào những cuộc vũ hội liên miên. Tôi lao mình vào cơn lốc của những cuộc vui với tất cả cái bồng bột của tuổi trẻ và chưa hề biết nghĩ ngợi... Thật đáng tiếc, vì thời đại bấy giờ rất đáng để cho người ta quan sát.

Trong số những cô thiếu nữ cũng mới lần đầu tiên ra mắt như tôi có một nữ công tước tên là X. (ông Dagôxkin gọi nàng là Pôlina – tôi cũng xin dùng tên ấy). Chẳng bao lâu chúng tôi thân nhau trong một dịp như sau.

Tôi có một người anh bấy giờ hai mươi hai tuổi. Anh tôi thuộc hạng thanh niên ăn diện ở thời bấy giờ. Anh ấy được coi là người của Hội đồng ngoại quốc(2) và sống ở Mátxcơva, suốt ngày khiêu vũ và lêu lổng. Anh ấy yêu Pôlina, nên có nhờ tôi tìm cách cho hai gia đình thân nhau. Anh tôi được cả nhà hết sức nuông chiều; còn tôi thì anh ấy tha hồ muốn bắt tôi thế nào tôi cũng phải chịu.

Tôi làm thân với Pôlina chẳng qua cũng chỉ vì muốn chiều lòng anh tôi, nhưng chẳng bao lâu tôi đã thành thật quý mến Pôlina. Nàng có những cái hơi kỳ lạ, nhưng lại càng có những cái khiến người ta phải say mê. Tôi chưa kịp hiểu nàng mà đã thấy mến nàng rồi. Tôi dần dần bắt đầu nhìn bằng con mắt của nàng và nghĩ bằng ý nghĩ của nàng, tuy không hề nhận rõ điều đó.

Cha của Pôlina là một người rất có công đức; nói như vậy nghĩa là ông ta đi xe thắng ngựa thành hàng dọc(3); đeo chìa khoá và ngôi sao(4). Vả chăng ông ta tính cũng xuề xoà và giản dị. Ngược lại mẹ nàng là người rất nghiêm nghị, có một tư thái và một lương tri hơn người.

Pôlina giao thiệp rất rộng; xung quanh nàng luôn có những kẻ tán tụng; ai cũng ra sức chiều nàng, - nhưng nàng vẫn thấy chán, và tâm trạng chán chường khiến cho nàng có một vẻ kiêu kỳ và lãnh đạm, rất hợp với khuôn mặt Hy Lạp và đôi lông mày đen nhánh của nàng. Tôi hết sức vui sướng mỗi khi những lời nhận xét châm biếm của tôi khiến một nụ cười hiện lên trên khuôn mặt đều đặn và chán chường của nàng.

Pôlina đọc rất nhiều sách, và không hề chọn lựa sách đọc. Chìa khoá phòng sách của cha nàng lại do nàng giữ. Tủ sách phần lớn gồm có những tác phẩm của các nhà văn thế kỷ thứ XVIII. Nền văn học Pháp từ Môngtexkiơ đến Crêbiông(5) đối với nàng rất quen thuộc. Rútxô thì nàng thuộc lòng. Trong tủ sách không hề có lấy một quyển sách Nga, ngoài các tác phẩm của Xumarôcôp(6) mà Pôlina không bao giờ đọc đến. Nàng có nói với tôi rằng chữ in của Nga nàng đánh vần rất khó nhọc, và rất có thể nàng không bao giờ đọc gì bằng tiếng Nga, kể cả những bài thơ tiểu phẩm mà các thi sĩ ở Mátxcơva thường đem đến tặng nàng.

Đến nay tôi xin phép ra ngoài đề một chút. Nhờ trời thế là đã ba mươi năm nay người ta mắng mỏ lũ phụ nữ chúng tôi là không đọc được tiếng Nga và đâu như nói một câu tiếng Nga cũng không xong (!) (Cũng xin nói thêm rằng ở đây mà nhắc lại những lời buộc tội nhảm nhí của tác giả cuốn "Iuri Milôxlápxki"(7) thì thật là bất tiện hết sức . Chúng ta ai cũng điều đọc qua, và nếu tôi không lầm thì chính là một người trong bọn chúng tôi đã dịch cuốn tiểu thuyết của ông ta ra tiếng Pháp: đáng lẽ ông ta cũng phải nhớ đến cái ơn đó mới phải). Số là chúng tôi cũng muốn đọc sách tiếng Nga chứ không phải không, nhưng nền văn học của chúng ta hình như chỉ mới bắt đầu có từ Lômônôxốp(8) thì phải, cho nên rất hạn chế. Cố nhiên trong đó cũng có những nhà thơ xuất sắc, song không phải ở bất kỳ độc giả nào cũng có thể đòi hỏi người ta thích thơ một cách đặc biệt được. Tác giả văn xuôi thì ta chỉ có cuốn "Lịch sử của Karamdin"(9); cách đây hai hay ba năm gì đấy mới thấy xuất hiện vài ba quyển tiểu thuyết đầu tiên; trong khi đó thì ở Pháp, ở Anh và ở Đức vô số những sách hay, cứ nối đuôi nhau xuất hiện liên tiếp. Ở ta ngay những bản dịch cũng không thấy; và nếu chúng tôi có thấy chăng nữa, thì chúng tôi cũng lại thích đọc nguyên văn hơn. Các tạp chí của ta thì chỉ có các nhà văn mới thích đọc, chứ chúng tôi thì dù là tin tức hay tri thức cũng phải tìm trong các sách ngoại quốc; cứ như vậy thành thử ra chúng tôi dần dần tư duy bằng tiếng ngoại quốc (ít nhất là những người nào có suy nghĩ, và có theo dõi các tư tưởng của nhân loại). Về việc này thì đã có những nhà văn nổi tiếng vào bậc nhất của ta thừa nhận với tôi như thế. Các nhà văn của ta cứ than vãn mãi về cái thái độ khinh thị của chúng tôi đối với các sách Nga; những lời than vãn đó thật giống như những lời than vãn của các bác lái buôn Nga, rất lấy làm bất bình rằng sao chúng tôi lại cứ mua mũ ở hiệu Xikhơle(10), chứ không chịu dùng tác phẩm của các bà làm mũ ở Côxtơrôma. Tôi xin quay trở về câu chuyện đáng kể.

Những kỷ niệm về cuộc sống giao tế trong giới thượng lưu thường mờ nhạt và vô nghĩa, ngay cả trong một thời đại lịch sử cũng vậy. Thế nhưng có dạo một bà khách du lịch đến Mátxcơva đã để lại trong tôi một ấn tượng rất sâu sắc. Người đó là M-me de Staël(11). Bà ta đến vào mùa hạ, khi phần lớn dân Mátxcơva đã tản mát về nông thôn nghỉ mát. Lòng mến khách Nga-la-tư lập tức xắng xở ra tay; người ta không biết nên làm thế nào để nghênh tiếp cho xứng đáng vị nữ khách ngoại quốc khả ái kia. Dĩ nhiên là người ta tổ chức những bữa tiệc để mời bà ta. Các ông các bà đều đến xem mắt bà ta và phần lớn đều không lấy làm thoả mãn về vị khách. Họ chỉ thấy một bà béo năm mươi tuổi, ăn mặc không hợp với tuổi tác của mình. Cách nói năng của bà ta họ cũng không ưa; nói thì hay nói dài dòng, trong khi ống tay áo thì lại quá ngắn. Cha của Pôlina quen biết M-me de Staël từ hồi còn ở Pari, có dọn tiệc mời bà ta. Trong bữa tiệc này ông ta mời tất cả các nhân vật có tiếng là thông minh ở Mátxcơva hồi bấy giờ. Ở đây tôi đã gặp nữ tác giả "Côrina"(12). Bà ta ngồi ở ghế danh dự, khuỷu tay chống xuống bàn, dùng mấy ngón tay tuyệt mỹ mở ra cuốn vào một cái ống nhỏ bằng giấy. Bà ta có vẻ như có gì không được vừa ý, đã mấy lần định nói, nhưng rốt cục vẫn không nói được. Các nhà thông thái của chúng ta ăn uống thoả thuê, và hình như lấy làm hài lòng về món canh cá của công tước hơn là cuộc trò chuyện với M-me de Staël. Các bà thì làm khách. Cả hai loại người này chỉ thỉnh thoảng mới nói đôi câu, vì tin chắc rằng trong đầu óc mình chẳng có gì mà nói ra cả, và cảm thấy e thẹn trước mặt người đàn bà lừng danh của châu Âu. Suốt bữa tiệc Pôlina như ngồi trên bàn chông. Sự chú ý của các tân khách bị phân chia giữa con cá chiên và M-me de Staël. Người ta cứ chăm chăm đợi bà nói ra một bon-mot (câu nói dí dỏm - tiếng Pháp); cuối cùng bà nói một câu có hai nghĩa, và lại là một câu khá táo bạo. Ai nấy đều chộp lấy câu nói đó, các tân khách cười ha hả, một tiếng trầm trồ ngạc nhiên nổi lên; ông công tước mừng quýnh. Tôi đưa mắt nhìn Pôlina. Mặt nàng đỏ bừng và mắt nàng rớm lệ. Các tân khách đã đứng dậy ra khỏi bàn ăn, bấy giờ họ đã hoàn toàn vừa lòng với M-me de Staël; bà ta đã nói cho họ một câu hóm hỉnh, và họ sẽ có thể đem kể lại với các bạn bè khắp thành phố.

"Có chuyện gì thế, ma chère? (cô bạn quý mến - tiếng Pháp) - tôi hỏi Pôlina, - chả nhẽ một câu nói đùa hay táo bạo một chút cũng có thể làm cho chị khó chịu đến thế ư?" - "Chị ạ, - Pôlina đáp, - tôi thất vọng quá đi mất! Chắc người đàn bà phi thường ấy phải cho rằng cái xã hội thượng lưu của chúng ta nó tồi tệ hết sức! Bà ta đã quen thấy xung quanh mình những người có thể hiểu được mình; đối với những người như thế thì lời nhận xét sắc sảo, một cảm xúc mạnh mẽ, một lời nói có tâm khí không bao giờ phí hoài, bà ta đã quen với những cuộc đàm thoại thú vị với những người có học thức. Thế mà ở đây. Trời ơi!... Trong suốt ba tiếng đồng hồ không có lấy một tư tưởng, một câu nói cho ra hồn! Chỉ có những bộ mặt đần độn, một vẻ bệ vệ đần độn ngoài ra không còn gì nữa! Chắc bà ấy chán lắm. Bà ấy có vẻ mệt mỏi quá! Bà ta đã thấy rõ họ cần cái gì, bà ta đã hiểu rõ những loài khỉ của học vấn này có thể hiểu được những gì, nên đã vứt ra cho họ một câu nói "dí dỏm". Thế là họ liền vơ lấy, chộp lấy. Tôi thấy xấu hổ đến phát khóc lên được!... Nhưng thôi thế cũng được, - Pôlina say sưa nói tiếp, - dù sao cái xã hội thượng lưu của ta cũng đáng để cho bà ấy khinh miệt như thế. Ít nhất bà ta cũng đã thấy rõ người dân bình dị đáng yêu của ta và hiểu được họ. Đấy, chắc chị có nghe thấy câu của bà ta nói với lão hề già khả ố đã chế nhạo bộ râu của người Nga, tưởng làm như vậy là có thể lấy lòng người khách ngoại quốc: "Cái dân tộc cách đây một trăm năm đã từng bảo vệ bộ râu của mình, hiện nay đang bảo vệ cái đầu của mình nữa". Bà ấy tốt quá, tôi mến bà ta quá! Và tôi lại càng căm thù những kẻ đã đày đoạ bà ta!"

Không phải chỉ có mình tôi để ý thấy nỗi bực bội của Pôlina. Có một đôi mắt khác ngay lúc ấy cũng nhìn vào nàng; đó là đôi mắt đen tinh nhanh của chính M-me de Staël. Tôi không biết bà ta nghĩ gì, chỉ thấy sau bữa tiệc bà ta lại gần người bạn gái của tôi và nói chuyện với nàng. Vài ngày sau M-me de Staël viết cho nàng một mảnh giấy như sau:

"Ma cheré enfant, je suis toute malade. Il serait bien aimable à vous de venir me ranimer. Tâchez de l'obtenir de m-me votre mère et veuillez lui présenter les respects de votre amie de S." (Cô bạn nhỏ quý mến, tôi hôm nay khó ở quá. Nếu cô có thể bớt chút thì giờ đến với tôi cho tôi thêm được chút sinh khí thì thật là quý hoá. Cô nhớ cố xin phép bà cụ thân sinh và nhớ thưa lại với cụ nhà là tôi có lời kính cẩn hỏi thăm. Bạn của cô: de S. - tiếng Pháp).

Mảnh giấy này hiện nay tôi còn giữ. Chưa bao giờ Pôlina cho tôi biết rõ về mối quan hệ giữa nàng và M-me de Staël, mặc dù tôi rất tò mò muốn biết chuyện này. Nàng rất say mê người đàn bà trác việt ấy, một người vừa lỗi lạc mà lại vừa trung hậu.

Không hiểu sao miệng lưỡi người đời lại thích nói xấu đến như vậy! Cách đây không lâu tôi có đem chuyện này ra kể trong một buổi họp gồm toàn những người tử tế cả. Họ liền bảo tôi: "Có lẽ M-me de Staël chẳng qua là một thám tử của Napôlêông đấy thôi, và nữ công tước kia thì lại cung cấp cho bà ta những tài liệu cần thiết". Tôi nói: "Xin ngài thứ lỗi, chứ M-me de Staël, một người đã bị Napôlêông truy nã trong mười năm trời, chật vật lắm mới nhờ sự che chở của hoàng đế Nga mà trốn thoát được, một người đã từng là bạn của Satôbriăng(13) và Bairơn(14), một người trung hậu, cao thượng như M-me de Staël, mà lại là gián điệp của Napôlêông ư?" - "Rất có thể, rất có thể như thế, - bá tước phu nhân B. nhanh nhảu đáp, - vì Napôlêông là một tên bợm, còn M-me de Staël thì lại là một con người láu lỉnh đến tế nhị!"

Ai cũng nói đến cuộc chiến tranh sắp tới và nếu tôi không lầm, thì họ nói năng một cách khá nhẹ dạ. Hồi ấy bắt chước phong cách Pháp ở thời Luy XV(15) còn là một mốt. Lòng yêu nước xem như là một thói huênh hoang rởm đời. Những kẻ tài trí thời ấy thường ca ngợi Napôlêông một cách say sưa, bái phục Napôlêông như thần thánh và luôn luôn giễu cợt những thất bại của ta. Tiết thay những người đứng ra bênh vực tổ quốc thì lại hơi ngây ngô: họ bị chế giễu một cách khá buồn cười và họ không hề có ảnh hưởng gì cả. Cái lòng ái quốc của họ bất quá chỉ là kịch liệt lên án việc dùng tiếng Pháp trong các buổi tiếp tân hay đưa những từ ngoại lai vào tiếng mẹ đẻ, hoặc giả chỉ là những lời công kích dữ dội đối với phố Cầu Cudơnhétxki(16) v.v... Thanh niên thì thường có giọng khinh thường hay thờ ơ đối với bất cứ cái gì của nước Nga và vừa đùa vừa tiên đoán rằng nước Nga sẽ cùng chung số phận với Liên minh sông Ranh(17). Nói tóm lại xã hội thời bấy giờ thật xấu xa khó chịu.

Bỗng nhiên tin quân giặc xâm nhập vào lãnh thổ Nga và lời hiệu triệu của đức hoàng đế làm cho chúng tôi kinh hãi. Mátxcơva náo động. Xuất hiện những tờ truyền đơn kêu gọi dân chúng bình dị của bá tước Raxtốptsin(18); nhân dân hừng hực sát khí. Những kẻ hay cợt nhả trong giới thượng lưu đã bớt khua môi múa mép; các cô các bà cứ hoảng hốt lên. Những người trước kia thường mạt sát tiếng Pháp và Cần Cudơnhétxki nay chiếm ưu thế rõ rệt trong các nơi giao tế, và các phòng khách đầy ắp những nhà ái quốc: người thì đổ thuốc là Pháp ra khỏi hộp, một mực chỉ hít thuốc lá Nga mà thôi; người thì đốt hàng chục cuốn sách Pháp, người thì từ chối món la-phít(19) nhất định chỉ uống nước giải khát cvát thôi. Mọi người đều lấy làm hối hận rằng đã nói tiếng Pháp, ai cũng nói đến Pôgiarxki và Minin(20). Họ bắt đầu thuyết giáo về chiến tranh nhân dân, trong khi sửa soạn về miền nông thôn Xaratốp ở lâu dài.

Pôlina không giấu nổi lòng khinh bỉ, như trước kia không giấu nổi lòng công phẫn. Sự thay đổi nhanh chóng và sự nhát gan của họ khiến cho nàng không còn chịu đựng được nữa. Trên các phố, bên bờ đầm Prexnhia nàng cố ý nói tiếng Pháp; khi ngồi ở bàn ăn, trước mặt gia nhân, nàng cố tình cãi lại những lời huênh hoang về lòng ái quốc, cố tình nói đến quân số hùng hậu của Napôlêông, đến tài thao lược xuất chúng của y. Những người có mặt cứ tái mặt đi vì sợ có người tố giác, và vội vã trách móc nàng là có thiện cảm với kẻ thù của tổ quốc. Pôlina mỉm cười khinh bỉ. Nàng nói: "Chỉ mong sao cho người Nga nào cũng yêu nước được như tôi". Nàng khiến cho tôi phải ngạc nhiên. Xưa nay tôi vẫn thấy Pôlina là người nhũn nhặn và ít nói, nên không hiểu tại sao nàng lại có thể bạo mồm bạo miệng như vậy. Có lần tôi bảo nàng: "Thôi, việc gì phải can dự vào đấy, có phải việc của chúng mình đâu? Để cho đàn ông họ đi đánh nhau và tha hồ hò hét về chính trị; phụ nữ không ra trận, Bônapáctơ thì có liên quan gì đến đàn bà?". Mắt Pôlina sáng lên. Nàng nói: "Chị không biết thẹn sao, chả nhẽ đàn bà không có tổ quốc hay sao? Chả nhẽ họ không có những người cha, những người anh, những người chồng? Chả nhẽ máu của người Nga đối với chúng ta lại là một cái nhìn xa lạ? Hay chị tưởng rằng chúng ta sinh ra chỉ để cho người ta ôm lấy mà quay cuồng trong các vũ hội, còn ở nhà thì ngồi thêu những con chó con theo đúng mẫu? Không, tôi biết người đàn bà có thể có ảnh hưởng như thế nào đối với công luận hay đối với lòng người, dù chỉ là một người thôi. Tôi không thừa nhận cái quan niệm miệt thị mà người ta thường có đối với chúng ta. Chị thử xem M-me de Staël: Napôlêông vật lộn với bà ta như với một lực lượng thù địch... Thế mà chú tôi còn cả gan chế nhạo vẻ lo sợ của bà ta khi có tin quân Pháp tiến đến gần! "Xin phu nhân cứ yên tâm, phu nhân ạ: Napôlêông đánh nhau với nước Nga, chứ không phải với bà..." Phải! Nếu chú tôi lọt vào tay quân Pháp, thì họ sẽ thả cho chú ấy đi dạo ở Pale-Roian(21); nhưng M-me de Staël mà bị họ bắt thì sẽ chết rục trong nhà lao quốc gia. Còn Sáclốt Coócđê(22) thì sao? Còn Marpha Pôxátnhitxa(23) của chúng ta thì sao? Lại còn công tước phu nhân Đascôva(24) nữa? Tôi hèn kém hơn họ ở chỗ nào? Nhất định tôi không thua họ về lòng quả cảm và kiên quyết" Tôi ngạc nhiên nghe Pôlina nói. Tôi không ngờ rằng nàng lại có thể sôi nổi, nhiệt thành đến như thế. Than ôi! Có những cảm xúc cao cả như thế mà làm gì? Nhà văn ưa thích của tôi nói thật đúng: Il n'est de bonheur que dans les voies communes (Chỉ trên những con đường tầm thường mới có thể tìm đường hạnh phúc - tiếng Pháp)(25).

Hoàng thượng đến lại làm cho mọi người xúc động gấp bội. Đến bây giờ ngay cả xã hội thượng lưu cũng bừng bừng một lòng ái quốc nồng nhiệt. Các phòng khách biến thành những phòng tranh cãi. Đâu đâu người ta cũng bàn đến chuyện hy sinh vì nước. Người ta nhắc lại bài diễn từ bất hủ của bá tước Mamônốp(26) trẻ tuổi, người đã hiến cả gia tài điền sản của mình. Sau đó một vài bà mẹ có nhận xét rằng như vậy bá tước không còn là một đám hời để gả con nữa, nhưng chúng tôi thì ai cũng say mê ông ta. Pôlina suốt ngày mơ tưởng ông bá tước. Có lần nàng hỏi anh tôi: "Anh cống hiến được cái gì?" Ông anh tinh quái của tôi đáp: "Hiện nay tôi chưa có quyền sở hữu gia tài điền sản. Trong tay cả thảy chỉ có ba vạn đồng bạc nợ: xin đem món nợ đó dâng lên bàn thờ tổ quốc". Pôlina nổi giận. Nàng nói: "Đối với một số người thì danh dự cũng như tổ quốc đều là những chuyện không đâu. Anh em của họ thì chết ở ngoài chiến trường, còn họ thì cứ ngồi nói nhảm trong các phòng khách. Tôi không biết có người đàn bà nào có thể hèn hạ đến mức cho phép những con người như thế làm những trò vờ vĩnh yêu đương trước mặt mình không". Anh tôi đỏ mặt, cãi lại: "Cô khó tính quá đấy. Cô đòi hỏi người ta phải thấy cô là một M-me de Staël và phải nói với cô những lời trích trong truyện "Côrina" kia. Cô phải biết rằng một người biết nói đùa trước mặt phụ nữ có thể không đùa trước mặt tổ quốc và trước mặt quân thù". Nói đoạn anh tôi quay đi. Tôi tưởng rằng hai người như thế là đã tuyệt giao với nhau, nhưng tôi lầm: Pôlina lấy làm thích thái độ ngang ngạnh của anh tôi, nàng tha thứ cho anh ấy câu đùa không đúng chỗ, vì anh ấy đã tỏ rõ một lòng công phẫn cao thượng. Một tuần sau, Pôlina được tin anh tôi đã sung vào trung đoàn của Mamônốp, liền yêu cầu tôi hoà giải hai người với nhau. Anh tôi mừng lắm, lập tức ngỏ ý hỏi nàng làm vợ. Nàng ưng thuận, nhưng xin hoãn việc cưới xin đến khi nào hết chiến tranh. Ngày hôm sau anh tôi lên đường nhập ngũ.

Napôlêông đánh vào Mátxcơva; quân ta rút lui. Dân chúng Mátxcơva hoảng hốt theo nhau bỏ trốn. Hai vợ chồng công tước khuyên nhủ mẹ tôi cùng đi với họ về làng N. của ông bà ấy.

Chúng tôi về làng N., một làng rất lớn cách tỉnh lỵ hai mươi véc-xta. Chung quanh chúng tôi có rất nhiều người láng giềng, phần lớn từ Mátxcơva về. Ngày nào chúng tôi cũng tụ họp với nhau; chúng tôi sống ở nông thôn mà giống như ở thành thị vậy. Hầu như ngày nào cũng có thư từ quân đội gửi về, các bà già cứ lấy bản đồ ra tìm các nơi đóng doanh trại lộ thiên, tìm không ra thì phát cáu lên. Pôlina chỉ chú ý đến chính trị, chỉ đọc báo và đọc các tờ yết thị của Raxtốptsin, không bao giờ thấy nàng giở một cuốn sách. Sống ở giữa những người có một vốn hiểu biết eo hẹp, luôn luôn phải nghe những lời bình luận vớ vẩn và những tin tức không xác đáng, nàng đâm ra tư lự buồn bả; tâm hồn nàng lâm vào tình trạng mệt mỏi chán chường. Nàng tuyệt vọng thấy rằng tổ quốc không còn một hy vọng gì cứu vớt, nàng có cảm tưởng rằng nước Nga đã sắp đến ngày sụp đổ; các tờ thông cáo quân sự càng khiến cho nàng tuyệt vọng, những lời bá cáo có tính chất cảnh sát của bá tước Raxtốptsin khiến cho nàng phát cáu lên. Cái giọng bỡn cợt của các tờ bá cáo đó nàng thấy hết sức khiếm nhã và những biện pháp mà bá tước dùng thì nàng cho là dã man đến cực độ. Nàng không hiểu nổi tư tưởng của thời đại bấy giờ, một tư tưởng khủng khiếp mà thật vĩ đại, một tư tưởng khi được thực hiện một cách dũng cảm đã cứu thoát được nước Nga và giải phóng được châu Âu. Nàng thường ngồi hàng mấy giờ liền, chống khuỷu tay lên tấm bản đồ nước Nga, tính toán các khoảng cách, theo dõi những cuộc vận chuyển mau chóng của các quân đội. Những ý nghĩ kỳ quặc nảy ra trong óc nàng. Có lần nàng cho tôi biết rằng có ý định đi khỏi làng, xông vào các doanh trại của Pháp, tìm cách lẻn vào chỗ Napôlêông, và tự tay mình giết chết hắn. Tôi khuyên nhủ cho nàng thấy rõ rằng đấy là một ý tưởng điên rồ. Nàng cũng dễ dàng nghe tôi, nhưng ý nghĩ về Sáclốt Coócđê vẫn ám ảnh nàng rất lâu.

Như quý vị đã biết, cha nàng cũng là một người cũng nông nổi; ông chỉ nghĩ đến chuyện làm cách nào để sống ở nông thôn mà cho thật giống như ở Mátxcơva. Ông ta tổ chức những buổi tiệc, lập théâtre de société (nhà hát nghiệp dư gia đình - tiếng Pháp) dùng các proverbes(27) Pháp làm cốt vở, và cố gắng tìm đủ mọi cách để cho những trò vui được nhiều hình nhiều vẻ. Người ta đưa về tỉnh lỵ một số sĩ quan Pháp bị bắt làm tù binh. Công tước mừng lắm, vì như vậy là có dịp làm quen với những nhân vật lớn, liền xin phép quan tỉnh trưởng cho đem họ về ở trong nhà...

Họ có bốn người cả thảy - trong bọn họ có ba người vốn là những kẻ ít học sùng bái Napôlêông một cách cuồng tín, rất thích hò hét, huênh hoang không sao chịu nổi, tuy những vết thương của họ cũng khiến người ta trọng nể và chuộc lại một phần nào cái giọng khoe khoang khó chịu của họ. Nhưng người thứ tư lại là một con người rất đáng chú ý.

Hồi ấy người sĩ quan này hai mươi sáu tuổi. Chàng ta vốn con nhà gia thế. Dung mạo của chàng rất dễ ưa, phong độ rất nhã nhặn. Chúng tôi thấy ngay rằng chàng không phải người tầm thường. Có ai ân cần hỏi han thì chàng đáp lại với một thái độ nhún nhường rất quí phái. Chàng ít nói, nhưng hễ đã nói ra thì là lời lẽ bao giờ cũng tỏ ra vững vàng, có suy nghĩ. Pôlina thích người sĩ quan này ở chỗ chàng là người đầu tiên có thể giải thích một cách rõ ràng phân minh tình hình chiến sự và cách vận chuyển quân đội. Chàng an ủi Pôlina, nói rằng cuộc rút lui của quân đội Nga không phải là một cuộc chạy trốn vô nghĩa: nó làm người Nga sôi sục lên chừng nào, thì cũng làm cho người Pháp lo sợ chừng ấy. Pôlina hỏi chàng: "Nhưng ông thì sao, chả nhẽ ông không tin chắc rằng hoàng đế của ông vô địch hay sao?" Xênicua (tôi cũng xin dùng cái tên mà ông Dagôxkin đã đặt cho người sĩ quan - Xênicua), im lặng một lát rồi nói rằng trong tình cảnh của chàng hiện nay, nói thẳng là một việc khó khăn. Pôlina cứ khăng khăng đòi chàng trả lời cho kỳ được. Xênicua nói rằng việc quân đội Pháp tiến sau vào nội địa Nga có thể sẽ trở thành một nguy cơ cho họ, rằng hình như chiến dịch 1812 đã chấm dứt, nhưng vẫn chưa có gì quyết định tình hình. Pôlina cãi lại: "Chấm dứt ư! Napôlêông vẫn tiến, còn chúng tôi thì vẫn rút lui kia mà!" Xênicua đáp: "Như vậy càng nguy cho chúng tôi", - và chàng nói lảng sang chuyện khác.

Pôlina vốn đã phát ngấy vì những lời tuyên đoán sợ sệt cũng như những lời huênh hoang ngu xuẩn của những người láng giềng của chúng tôi, nàng khao khát lắng nghe những lời phán đoán của một người am hiểu sự việc và không có óc thiên vị mù quáng. Tôi có được những thư từ của anh tôi gởi về. Đọc những bức thư này, chẳng còn ai hiểu đầu đuôi ra làm sao nữa. Những bức thư của anh tôi đều đầy dẫy những câu đùa, ý nhị cũng có, thô lỗ cũng có, những câu hỏi han về Pôlina, những lời thề thốt nhảm nhí về tình yêu v.v... Đọc những bức thư này, Pôlina bực mình nhún vai. Nàng nói: "Chị phải thừa nhận rằng cái anh Alếchxây của chị là một con người rỗng tuếch. Trong hoàn cảnh hiện nay, từ nơi chiến trường mà anh ta vẫn tìm cách viết những bức thư không có nghĩa lý gì, huống hồ đến khi sống trong cảnh gia đình thì câu chuyện của anh ta còn vô nghĩa đến đâu?" Pôlina nhầm. Những bức thư của anh tôi sở dĩ như vậy không phải vì anh ấy là người rỗng tuếch, mà chỉ vì một thành kiến - vả chăng đó là một thành kiến rất nhục nhã cho chúng tôi: anh ấy cho rằng với phụ nữ phải dùng thứ ngôn ngữ thích hợp với trí hiểu biết non nớt của họ, rằng những vấn đề quan trọng không hề có can dự gì đến chúng tôi. Ở bất cứ nơi nào mà nghĩ như thế cũng là thiếu lễ độ, nhưng ở nước ta mà nghĩ như thế thì lại ngu ngốc nữa là khác. Chắc chắn là phụ nữ Nga có học hơn, đọc nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn nam giới. Nam giới thì suốt ngày chỉ lo những trò vớ vẩn ở đâu đâu thôi.

Tin tức về trận Bôrôđinô(28) truyền đi. Ai cũng bàn tán về trận đánh này; người nào cũng có một tin "đúng nhất", người nào cũng có một danh sách những người tử trận và bị thương. Anh tôi thì chẳng có thư từ gì. Chúng tôi hết sức lo lắng. Cuối cùng có một người thuộc hạng những kẻ biết lắm chuyện đến báo tin cho chúng tôi biết rằng anh ấy bị bắt làm tù binh, rồi ghé tai Pôlina nói nhỏ với nàng rằng anh ấy đã tử trận. Pôlina buồn thương thấm thía. Nàng không yêu anh tôi và thường hay lấy làm bực mình về anh ấy, nhưng trong giờ phút này nàng thấy ở anh tôi là một người tuẫn đạo, một vị anh hùng, và nàng thầm lén khóc anh tôi, không cho tôi biết. Có mấy lần tôi bắt gặp nàng đang khóc. Điều đó không làm cho tôi ngạc nhiên, vì tôi biết nàng đau đớn rất nhiều trước những nỗi thống khổ của tổ quốc chúng ta.

Tôi không hề nghi ngờ gì về cái nguyên nhân đã khiến cho nàng buồn bã.

Một buổi sớm kia tôi đang đi dạo ngoài vườn; Xênicua đi bên cạnh tôi; chúng tôi nói chuyện về Pôlina. Tôi đã nhận thấy Xênicua cảm xúc sâu sắc trước những đức tính cao cả của Pôlina và sắc đẹp của nàng đã gây nên trong tâm hồn chàng một ấn tượng rất mạnh. Tôi vừa cười vừa nói với Xênicua rằng tình cảnh của chàng thật hết sức nên thơ: một chàng kỵ sĩ bị thương sống cầm cố ở trong lâu đài của kẻ địch, đem lòng yêu nàng quận chúa trong lâu đài, rồi làm cho lòng nàng rung động, và cuối cùng đuợc kết hôn cùng nàng. Xênicua nói: "Không phải đâu, tiểu thư ạ. Nữ công tước Pôlina xem tôi là một kẻ thù của nước Nga; nàng không bao giờ có thể ưng thuận từ bỏ tổ quốc của nàng đuợc". Vừa lúc ấy thấy Pôlina từ cuối vườn bước lại, chúng tôi liền đi về phía nàng. Pôlina bước rất nhanh. Khuôn mặt nàng tái xanh khiến tôi phải kinh ngạc.

Nàng nói với tôi, không buồn đáp lại cái chào của Xênicua: "Mátxcơva đã bị chiếm", lòng tôi thắt lại, hai hàng nước mắt chảy ròng ròng. Xênicua im lặng, hai mắt nhìn xuống dưới chân. Pôlina nói tiếp, giọng run lên vì công phẫn: "Những người Pháp cao thượng, những người Pháp văn minh ấy đã đánh dấu trận thắng của họ một cách thật xứng đáng. Họ đã đốt cháy thành Mátxcơva. Mátxcơva cháy đã hai ngày nay rồi". - "Cô nói gì thế, - Xênicua kêu lên, - không thể như vậy đuợc". Pôlina đáp xẵng: "Hãy đợi đến tối, có lẽ ông sẽ trông thấy ánh lửa cháy sáng ửng lên bầu trời". - "Trời ơi! - Xênicua nói, - thế là khốn to cho Napôlêông rồi, sao, chả nhẽ các cô không thấy rằng Mátxcơva cháy có nghĩa là toàn bộ quân đội Pháp sẽ bị tiêu diệt hay sao: Napôlêông sẽ không còn chỗ nào mà cố thủ, sẽ buộc lòng phải rút quân cho thật nhanh qua cánh thảo nguyên hoang tàn, trơ trụi khi mùa đông sắp đên, với một quân đội rã rời và bất mãn! Thế mà các cô lại có thể nghĩ rằng người Pháp đã tự đào ra cho mình một chốn địa ngục như vậy! Không, không, chính người Nga, chính người Nga đã đốt Mátxcơva. Thật là dũng cảm đến mức kinh khủng, đến mức man rợ! Bây giờ thì mọi việc đều đã đuợc định đoạt: tổ quốc của các cô đã thoát ra khỏi vòng nguy hiểm; nhưng còn chúng tôi, còn đức hoàng đế của chúng tôi thì sẽ ra sao đây..."

Xênicua cáo từ. Pôlina với tôi cứ bàng hoàng không sao trấn tĩnh lại đuợc. Pôlina nói: "Hay Xênicua nói đúng, và chính bàn tay của chúng ta đã đốt cháy Mátxcơva? Nếu vậy... thì ta có thể tự hào rằng mình là một người Nga! Thiên hạ sẽ phải sửng sốt vì sự hy sinh lớn lao này! Bây giờ thì dù cho chúng ta có suy tàn, tôi cũng không sợ nữa, danh dự của chúng ta đã đuợc cứu vãn; không bao giờ châu Âu còn dám đối chọi với một dân tộc đã tự mình chặt đứt cánh tay của mình, tự đốt cháy kinh đô của mình".

Mắt nàng sáng quắc, giọng nàng vang lanh lảnh. Tôi ôm chầm lấy nàng, chúng tôi cùng hoà những giọt nước mắt xúc động cao quý và những lời cầu nguyện nhiệt thành cho tổ quốc, Pôlina say sưa nói với tôi: "Chắc chị không biết? Anh của chị là một người diễm phúc... Anh ấy không bị bắt làm tù binh đâu, chị mừng đi: anh ấy đã ngã xuống để cứu nước Nga".

Tôi kêu lên một tiếng và ngất đi trong tay nàng...

1831

Hoàng Tôn dịch
 
PHỤ LỤC

Tác phẩm được viết vào mùa hè năm 1831, nhằm tranh luận bằng hình tượng văn học với tiểu thuyết lịch sử "Rôxlavliép, hay những người Nga năm 1812" của M.N. Dagôxkin (1789-1852). Nhắc lại cơ sở cốt truyện - câu chuyện tình yêu của một cô gái quý tộc Nga đối với một sĩ quan Pháp, Puskin cơ bản đã thay đổi luận thuyết về các nhân vật và các sự kiện. Puskin đã đặt vào thế đối lập một cách rõ ràng chủ nghĩa yêu nước của các giới thượng lưu quý tộc, tính cách bợ đỡ mù quán của chúng trước phương Tây, thói quen háo danh của chúng với chủ nghĩa anh hùng tuyệt vời cùa nhân dân Nga và tình cảm yêu nước sâu sắc của Pôlina, nữ đại diện của giới tri thức tiến bộ.

Phần đầu tác phẩm này của Puskin dưới nhan đề "Trích các ghi chép chưa xuất bản của một bà" (1811) không có tên, tác giả lại kèm theo ghi chú "dịch từ Pháp văn" ở cuối văn bản được in ở "Người đương thời" tháng Chín năm 1836. Cả chương Puskin chưa in lần đầu tiên được công bố trong toàn tập Puskin (1841, t.XI) và trong xuất bản phẩm của P.V. Annenkốp (1855, t.I).

1 Ý nói đến tiểu thuyết lịch sử "Rôxlavliép, hay những người Nga năm 1812" của nhà văn Nga M.N. Dagôxkin.

2 Tương đương Bộ Ngoại giao. Đó là một trong ba hội đồng của nhà nước hợp thành cơ quan chính quyền trung ương được thành lập từ thời Piốt I. Phụ trách các vấn đề đối ngoại. (Chính Puskin sau khi học xong trường Lítxê cũng đã làm việc ở hội đồng ngoại quốc).

3 Chỉ có những quan đại thần mới được đi xe thắng ngựa như vậy.

4 Chiếc chìa khoá vàng trên dây băng màu lam là dấu hiệu của quan đại thần; ngôi sao là dấu hiệu của đệ nhất bội tinh. Chiếc chìa khoá biểu thị rằng quan đại thần đó có thể ra vào trong nội điện.

5 Crêbiông Clốt - Prôxter - Giôliô (1707-1777) - nhà văn Pháp, tác giả nhiều tiểu thuyết và truyện cổ tích miêu tả phong tục.

6 Xumarôcốp Alếchxanđrơ Pêtơrôvích (1717-1777) - nhà viết kịch và nhà thơ Nga, một trong những đại diện xuất sắc của chủ nghĩa cổ điển Nga.

7 "Iuri Milôxlápxki, hay Những người Nga năm 1612" (1829) - cuốn tiểu thuyết lịch sử Nga đầu tiên của M.N.Dagôxkin, được độc giả Nga thời ấy rất hâm mộ. Đã được Xôphia Kônrốt dịch ra tiếng Pháp và xuất bản ở Pari năm 1831.

8 Lômônôxốp Mikhain Vaxiliêvích (1711-1765) - nhà bác học, nhà tự nhiên học có tầm cỡ thế giới đầu tiên của Nga, nhà thơ, người đặt nền móng cho tiếng Nga hiện đại.

9 "Lịch sử của Karamdin" là bộ "Lịch sử quốc gia Nga" gồm 12 tập M.N. Karamdin. Đó là bộ tư liệu xác thực đồ sộ đầu tiên về lịch sử nước Nga đến cuối thế kỷ XVI.

10 Xikhơle - các cửa hiệu thời trang ở Mátxcơva và Pêterburg.

11 M-me de Stael (bà đờ Xtan) - nữ văn sĩ Pháp Anna Luida Giêrmena đờ Xtan (1766-1817). Những cuộc truy nã của Napôlêông đối với bà đờ Xtan đã khiến bà trở thành một người phụ nữ nổi tiếng ở châu Âu. Bà là một người chống chế độ độc tài quân sự. Năm 1803 bà bị trục xuất khỏi Pari (mãi năm 1814 mới trở về). Cuốn sách "Về nước Đức" của bà viết năm 1810 đã bị đốt theo lệnh của Napôlêông. Năm 1812 sang thăm Pêterburg và Mátxcơva; bút ký về chuyến đi thăm nước Nga ("Mười năm lưu đày") xuất bản sau khi bà qua đời, vào năm 1820. Puskin đã đánh giá cao tài năng của người phụ nữ lỗi lạc này.

12 "Côrina, hay là nước Ý" (1807) - cuốn tiểu thuyết của bà đờ Xtan được cả châu Âu hâm mộ. Tác phẩm hấp dẫn không chỉ bởi câu chuyện kể về tấn bi kịch tinh thần của một người phụ nữ có học vấn cao, khao khát tự lập và bình đẳng, mà còn bởi tài miêu tả vẻ đẹp kỳ diệu của Ý, bởi khát vọng của tác giả muốn tái tạo không khí lịch sử và dân tộc của Ý.

13 Satôbriăng Phranxoa, Rơnê đơ (1768-1849) - nhà văn lãng mạn Pháp.

14 Bairơn Gioócgiơ Nôen Goócđơn (1788-1824) - nhà thơ Anh nổi tiếng, đại diện xuất sắc nhất của chủ nghĩa lãng mạn, người sáng lập trào lưu văn học gọi là chủ nghĩa Bairơn.

15 Luy XV - hoàng đế Pháp từ năm 1715. Ông ta biện hộ cho cuộc sống nhởn nhơ, thiếu quan tâm đến công việc quốc gia bằng nguyên tắc: "Sau chúng ta dù có nạn hồng thuỷ cũng mặc!"

16 Tên một phố ở Mátxcơva, nơi có nhiều cửa hàng thời trang ngoại quốc, đặc biệt là các cửa hàng Pháp.

17 Liên minh sông Ranh - Liên hiệp các quốc gia phụ thuộc Pháp do Napôlêông thiết lập trên lãnh thổ nước Đức những năm 1806-1813.

18 Truyền đơn chống Pháp, tác giả là thống đốc Mátxcơva, bá tước Ph.V.Raxtốptsin (1763-1826).

19 Laphít - một loại rượu vang đỏ ở Pháp.

20 Pôgiarxki Đmitơri Mikhailôvích (1578-1642) - công tước, một trong những người lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Nga chống sự can thiệp của Ba Lan - Thuỵ Điển vào đầu thế kỷ XVIII. Năm 1612 được cử ra thống lĩnh dân binh Nigiơni Nốpgôrốt; cùng với Minin lãnh đạo việc giải phóng Mátxcơva. Từ 1613 là một bậc đại thần, một anh hùng nhân dân.

Minin Côdơma (?-1616) - người tổ chức và lãnh đạo dân binh trong những năm 1611-1612 giải phóng Mátxcơva khỏi bọn can thiệp Ba Lan. Là một người thợ rèn ở Nigiơni Nốpgôrốp. Năm 1613 được phong tước hiệu quý tộc Viện Đu-ma. Anh hùng nhân dân. Năm 1812 Minin và Pôgiarxki được dựng tượng kỷ niệm tại Quảng trường Đỏ ở Mátxcơva.

21 Pale-Roian - cung điện của các công tước Oóclêăng ở Pari. Ở đây muốn nói tới nội cung, nơi có các cửa hàng và các chốn giải trí đủ loại.

22 Sáclốt Coócđê - một phụ nữ Pháp theo chủ nghĩa quân chủ đã mưu sát lãnh tụ phái Giacôbanh Pháp là Marát, một nhà hoạt động xuất sắc của cách mạng Pháp vào năm 1793. Sau đó đã bị tử hình.

23 Marpha Pôxátnhitxa - bà quả phụ tỉnh trưởng Nốpgôrốt là Ixaắc Bôrétxki. Sau khi chồng chết bà đã cầm đầu nhóm quý tộc ở Nốpgôrốt chống lại việc hợp nhất Nốpgôrốt với Mátxcơva. Năm 1478, sau khi Nốpgôrốt sát nhập với đại công quốc Mátxcơva, bà ta bị giam vào nhà tu.

24 Công tước phu nhân Đascôva Ê.R. (1743-1810) - người tham gia vụ đảo chính cung đình, kết quả Êcatêrina II lên ngôi hoàng đế; sau này là chủ tịch đầu tiên của Viện hàn lâm Nga (1783-1796). - 118

25 Đoạn trích này lấy trong truyện dài của Satôbriăng "Rơnê" (1802).

26 Bá tước Đmitơriép-Mamônốp M.A (1790-1863) năm 1812 đã dùng tiền của mình xây dựng một trung đoàn Cô-dắc và được cử làm chỉ huy.

27 Proverbes (ngạn ngữ - tiếng Pháp) - các vở hài kịch dựa vào đề tài các ngạn ngữ, một thể loại kịch xuất hiện vào thế kỷ XVIII ở Pháp.

28 Trận Bôrôđinô - diễn ra ở gần làng Bôrôđinô ngày 26 tháng Tám (7 tháng Chín) 1812 trong thời gian cuộc Chiến tranh ái quốc 1812. Dưới sự chỉ huy của Mikhain Ilariônôvôvích Kutudốp, quân đội Nga bằng cuộc phòng thủ anh dũng kiên cường đã phá vỡ mưu đồ của Napôlêông hòng đánh bại quân đội Nga, tiêu hao sinh lực và mở đầu cho việc đánh bại quân đội của Napôlêông I.
Đăng nhập để trả lời
0