📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

BÀN TAY ÁNH SÁNG (Chương 14 - 15 ) 🔒

0 trả lời, 900 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-09 10:24:08NuHiepDeThuong>
Nhập đề
 
NGUYÊN NHÂN BỊNH TẬT

Theo cách nhìn của nhà chữa trị, bệnh tật là hậu quả của mất cân bằng. Mất cân bằng là hậu quả của việc quên con người thật của mình. Quên con người thật của mình tạo ra những ý nghĩ và hành động dẫn đến một cách sống không lành mạnh, cuối cùng là bệnh tật. Bệnh tật tự bản thân nó là dấu hiệu chứng tỏ bạn mất cân bằng vì bạn đã quên mất con người thật của bạn. Nó là lời nhắn nhủ trực tiếp, không những nói với bạn về cung cách bạn mất cân bằng ra sao, mà còn chỉ cho bạn thấy những bưóc đi sẽ đưa bạn trở về với bản ngã thực và sức khỏe. Thông tin nầy rất đặc biệt nếu bạn biết cách đảm bảo việc đáo đạt nó.
         Như vậy, có thể hiểu bệnh tật như là bài học mà bạn tự rút ra được để giúp bạn nhớ lại con người thực của mình. Lập tức bạn sẽ nghĩ đến mọi thứ ngoại lệ của phát biểu nầy. Nhưng phần lớn các ngoại lệ đó sẽ hạn chế bạn vào một nhận thức thực tại chỉ gồm có cuộc đời đặc biệt nầy và chỉ là đời sống trong thân thể. Tuy nhiên, phạm vi của tôi là một phạm vi tiên nghiệm hơn. Những phát biểu trên đây có thể chỉ được hiểu theo một hướng tổng thể và lành mạnh nếu bạn đã tự mình chấp nhận là tồn tại ở bên kia các chiều vật lý của thời gian và không gian. Những phát biểu nầy có thể chỉ được cảm nhận như là yêu thương, nếu chúng cũng bao gồm cả bạn, coi bạn như là một phần của tổng thể, và do đó cũng là tổng thể. Chúng được xây dựng trên quan niệm cho rằng tính cá thể hóa và tính trọn vẹn đều như nhau. Theo cách diễn giải nầy thì điều đó có nghĩa là: tổng thể được cấu tạo từ các phần cá thể, và do đó các phần cá thể không chỉ là phần của tổng thể, mà trên thực tế là tổng thể, tựa như một toàn đồ.
     Trong quá trình phát triển của bản thân tôi qua những năm tiến hành quan sát trường năng lượng với cương vị cố vấn có hai biến đổi chủ yếu xảy ra khiến cho phương thức làm việc của tôi với mọi người trở nên khác trước rất nhiều. Thứ nhất là trong những buổi chữa, tôi bắt đầu nhận được sự dìu dắt của các hướng đạo tâm linh về điều cần làm trong khi chữa trị, và tôi bắt đầu tìm kiếm cũng như đòi hỏi các thông tin đặc hiệu thuộc các mức hào quang khác nhau. Thứ hai là tôi bắt đầu phát triển cái mà tôi gọi là “thấu thị “; nghĩa là tôi có thể nhìn vào thân thể phần nào giống như một máy X quang. Thực hành của tôi đã chuyển dẩn từ lĩnh vực một cố vấn sang lĩnh vực một thầy chữa tâm linh.

     Chữa trị lúc đầu trở thành phần mở rộng của liệu pháp, về sau thành nòng cốt trung tâm của mọi liệu pháp, bởi vì nó vươn tới tất cả mọi chiều của linh hồn và thể xác, vượt qua cái mà liệu pháp có khả năng làm. Công việc của tôi trở nên rõ ràng. Tơi chữa trị cho linh hồn, hay là tôi trở thành kênh dẫn giúp cho linh hồn nhớ lại nól à ai và tại đâu nó được dìu dắt trong những lúc nó quên và đi trệch đường mà rơi vào bịnh tật hoặc đau yếu. Đối với tôi, công việc nầy được hoàn thành rất tồt, đầy hứng khởi được trải nghiệm với những năng lượng cao và với các thiên thần tới tiến hành chữa trị. Đồng thời cũng là thách thức khi phải đương đầu với nỗi đau ghê gớm do bệnh tật mà người thầy chữa trải qua ở chừng mực nào đó nhằm mục đích chữa trị. Tôi đã để cho bản thân mình nhìn thấy những mất cân bằng kinh khủng của năng lượng và của linh hồn mà nhiều người phải sống trong đó. Nhân loại mang theo mình nỗi đau ghê gớm, nỗi cô đơn và khát vọng tự do. Công việc của thầy chữa là công việc của yêu thương. Thầy chữa đi sâu vào những vùng đau ấy của linh hồn và nhẹ nhàng đánh thức hy vọng. Thầy chữa nhẹ nhàng đánh thức hồi ức cổ xưa của linh hồn về chuyện nó là ai. Thầy chữa chạm vào tia sáng của Thượng đế trong mỗi tế bào của thân thể và nhẹ nhàng làm cho nó nhớ lại rằng nó vốn là Thượng đế, và đã là Thượng đế thì cùng với ý chí vũ trụ nó tuôn chảy vững vàng đến sức khoẻ và vẹn toàn.

Trong một vài chương tới, tôi sẽ luôn bàn về quá trình bệnh tật và quá trình chữa trị như đã được nhìn thấy từ quan điểm của các thầy dạy tâm linh. Tôi sẽ chia sẻ với bạn một vài trải nghiệm của mình về hướng dẫn tâm linh trong môi trường nghề nghiệp và luận bàn chi tiết về tri giác cao cấp, nó hoạt động ra sao và bằng cách nào bạn học được nó. Tôi cũng giới thiệu quan điểm của Heyoan về thực tại. Toàn bộ điều này rất quan trọng cần nắm vững để học hỏi các kỹ thuật chữa trị giới thiệu trong phần V.    
 

PHÂN LY THỰC TẠI

 
Như đã thấy trong Chương 4, ý tưởng cơ học Newton cho rằng vũ trụ gồm những khối kiến trúc riêng rẽ của vật chất đã trở nên lỗi thời vào đầu thế kỷ 20. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy chúng ta luôn liên kết với nhau. Chúng ta không phải là những con người riêng rẽ; chúng ta là những con người cá thể hóa. Chỉ có tập quán cũ kỹ theo kiểu Newton đưa chúng ta đến những khái niệm phân ly khỏi tổng thể. Điều đơn giản là những khái niệm đó không xác thực. Hãy để tôi trình bài với bạn một ví dụ có thể có trong việc giảI thích trách nhiệm vớI bản thân từ quan điểm phân ly.
     Giả thử một cháu nhỏ bị nhiểm bịnh AIDS do chuyển máu chẳng  hạn. Nếu sư6 việc ấy được giải thích theo quan điểm phân ly thì người ta có thể bảo: “Chao ôi, nạn nhân khốn khổ “. Theo lối giải thích phổ biến về trách nhiệm với bản thân, người ta lại nói: “Ồ, nó gây ra cái đó thi lỗi tại nó “. Nhưng theo quan điểm toàn đồ, người ta sẽ bảo: “Ôi, bài học mà linh hồn và gia đình dũng cảm nầy chọn để học hỏi từ thực tại lớn lao hơn của họ thật gay cấn biết chừng nào Mình làm được điều gì tốt nhất để giúp họ ? Mình có thể yêu thương họ bằng cách nào đây? “. Bất cứ ai tiếp cận được cuộc đời bằng cách đó đều thấy không có gì trái ngược giữa trách nhiệm và yêu thương, mà có khác biệt lớn giữa trách nhiệm và trách mắng.
     Quan điểm xuất phát từ cá thể hóa và toàn đồ hứa hẹn sự tôn trọng và thừa nhận bất cứ điều gì mà người khác trải nghiệm. Ngược lại, những lời phát biểu như: “Ồ, anh tạo ra ung thư của anh; tôi sẽ không làm điều gì như thế là do cách nhìn phân ly sinh ra, chứ không phải do cá thể hóa. Phân ly làm tăng lo sợ và cam chịu làm nạn nhân; lo sợ và cam chịu làm nạn nhân chỉ khuyến khích ảo tưởng của bất lực. Trách nhiệm và chấp nhận thì làm tăng sức mạnh, sức mạnh từ nội tâm, để tạo nên thực tại của bạn. Nếu với những sự vật hình thành một cách tự nhiên bạn có điều gì đó liên hệ một cách vô thức, thì với những sự vật được sáng tạo theo ý muốn của bạn, bạn có rất nhiều điều liên hệ. Ta hãy nhìn rõ ràng hơn vào quá trình quên lãng.

     Cũng như trẻ em, chỉ có một phần nhỏ trải nghiệm nội tâm của ta là được những người  xung quanh ta xác minh. Điều nầy tạo nên một cuộc đấu tranh nội tại giữa bản năng bảo toàn và sự chứng thực của người khác. Cũng như trẻ em, ta cần nhiều chứng thực đang ở giai đoạn học hỏi và việc học hỏi dựa trên chứng thực của thế giới bên ngoài . Kết quả là hoặc ta tạo ra nhũng thế giới tưởng tượng bí mật, hoặc ta chối bỏ nhiều thứ trong thực tại nội tâm không được chứng thực và tìm cách tích lũy lại chờ xác minh sau. Một phương thức khác để lý giải quá trình này là ta chặn đứng các trải nghiệm của mình, dù chúng là hình ảnh, tư duy hảy cảm giác. Việc chặn đứng này ngăn ta lại bằng một bức tường các phần trải nghiệm đó, chí ít cũng trong một thời gian ngắn. Ta tự xây tường phân cách với bản thân ta. Đó là một cách diễn đạt khác của chuyện ta quên con người thực của ta. Trong các chương 9 và 10, ta đã xử lý rộng rãi các tắc nghẽn trong trường hào quang. Tác động của các tắc nghẽn này, xét trên quan điểm hào quang, lá phá vở dòng chảy năng lượng khoẻ khoắn khắp trường hào quang và cuối cùng gây nên bệnh tật. Chúng trở nên cái thường được gọi là chất linh hồn ứ đọng. Chúng là những "đốm màu"  năng lượng ý thức bị cắt rời khỏi phần lại của ta. Ta hãy nhìn vào quá trình này cách sử dụng ý tưởng Gestalt về bức tường.
Bất kể khi nào bạn trải nghiệm nỗi khó ở tức là bạn đang trải nghệm bức tường mà bạn đã dựng lên giữa phần hợp nhất lớn hơn tức là bạn và một phần của bản thân bạn. Bức tường đó dùng để ngăn chận cái phần của bản thân mà bạn không muốn cho đi vào trong trải  nghiệm của mình lúc bấy giờ. Theo thời gian, bức tường này phát triển vững chắc hơn. và nạn quên rằng đó là cái phần của bản thân đã bị ngăn lại thành bức tường, nghĩa là bạn đã tạo thêm nhiều quên lãng. Cái bị ngăn thành bức tường ấy bắt đầu hiện ra như một cái gì đó từ ngoài, và bức tường này hiện ra để ngăn chặn một vài ấn tượng khiếp đảm tứ bên ngoài đến. Những bức tường bên trong nầy được tạo nên qua nhiều niên kỷ trảI nghiệm của linh hồn. Chúng càng đứng vững lâu thì ta thấy chúng giữ cho một cái gì đó khác với bản ngã tách ra khỏi bản ngã. Chúng càng đứng vững lâu thì ta càng thấy chúng tạo được an toàn nhưng lại càng củng cố thêm trải nghiệm về phân ly.
 
Các bài tập thăm dò bức tường nội tâm của bạn
 
Để thăm dò các bức tường của mình, bạn có thể áp dụng bài tập sau đây. Hãy nhớ lại một tình huống đặc biệt khó chịu, cái bạn phải vật lộn hằng ngày hoặc cái mà bạn không giải quyết nổi trong quá khứ. Hãy bắt đầu trải nghiệm cảm giác do tình huống đó tạo nên, hãy hình dung nó trong đầu, hãy nghe những lời nói hoặc âm thanh phối hợp với tình huống này. hãy tìm nỗi sợ hãi chứa đựng trong trải nghiệm ấy. Sợ hải là cảm giác bị phân ly. do chỗ bạn có khả năng tự đưa bản thân mình trở lại trạng thái sợ hải đó cho nên bạn hãy bắt đầu cảm nhận bức tường sợ hãi. Hày sờ mó nó, nếm nó, nhìn nó, ngửi nó. Nó kết cấu thế nào, màu sắc ra sao? là ánh sáng hay bóng tối nhọn hay cứng? làm bằng gì ? Bạn hãy trở thành bức tường đó. Nó nghĩ gì, nói gì, nhìn thấy gì, sờ thấy gì? Cái phần ý thức ấy của bạn tin vào điều gì về thực tại?
     Heyoan đẽ giảng giải bức tường này như sau:
     “ Chúng ta thường quay trở lại với ý nghĩ  về bức tường ta đã tạo thành hình nhằm mục đích duy trì cái mà vào thời điểm tạo thành hình đó ta đã coi như một thế quân bình bên trong, nhưng hiện tại lại duy trì một thế mất quân bình bên ngoài, giống như một con dê hay ở các cửa cống tại đó một mức nước cao hơn mức kia. Ta cũng nhìn thấy như vậy bản thân mình đàng sau bức tường đó và một dòng chảy cuồn cuộn, một lực ép lớn của một vài hình thái bên ngoài, có mặt ta bên trong. Bức tường của bạn bấy giờ bù trừ cho cái mà bạn đang cảm thấy thiếu tại mức bên trong. Nói cách khác, có cái sức mạnh to lớn ấy nó đến với bạn và bạn nghĩ rằng mình kém thua nó. Rồi ta làm một bức tường để bảo vệ mình, giống như trong thờI trung cổ những bức tường thành bị dồn dập tấn công. Ta là người đang ở trong bức tường ấy, đầu tiên ta phải thăm dò bản chất bức tường bởi nó được tạo thành hình bằng bản thân ta. Nó được tạo thành hình bằng bản chất của ta và chứa đầy những tuyên bố, các tuyên bố về điều ta cần phải làm nhằm giữ được an toàn. Bây giờ, điểm tuyệt vời về tất cả chuyện nầy là bức tường đó được ta thành hình bằng bản chất của ta và chứa đựng sức mạnh bên trong. Sức mạnh đó có thể được  cải biến và được phân phối làm lại nền tản cho sức mạnh của bản ngã bên trong. Hoặc nó có thể được coi như là một cầu thang đi đi vào bản ngã bên trong mà ở đó sức mạnh này đã tồn tại. Đây là cách diễn đạt khác của vấn đề tùy theo ẩn dụ nào thích hợp với ta nhất. Và cứ thế ta ngồi sau bức tường an toàn này bởi vì ta là bức tường đó. Lúc bấy giờ nó là nhịp cầu ý thức giữa cái ta nói nhân danh bức tường và cái ta nói nhân danh con người ở bên trong đang được bức  tường bảo-vệ.”

     Bài tập thanh toán bức tường của bạn.

Hãy duy trì đối thoại giữa bạn-bức tường và bạn-con người trong bức tường. Khi việc nầy hoàn tất, bấy giờ chúng tôi gợi ý vớI bạn hãy duy trì đối thoại như thế giữa bạn và cái ở bên kia bức tường., thậm chí giữa bức tường và cái phía bên kia, và hãy tiếp tục những đối thoại nầy cho đến khi tại đó có một dòng chảy bắt đầu xuyên qua bức tường ấy.

     Lúc này bạn có thể nhìn thấy bức tường này một cách tượng trưng trên bình diện tâm lý động lực học. Bạn cũng có thể nhìn thấy nó nhân danh đại diện của bức tường giữa con người thực của bạn và người mà bạn nghĩ là mình, bởi vì bạn cũng là sức mạnh đó trên mặt khác của bức tường, dù nó ở trong bất cứ hình thái nào. Bạn có sức mạnh bên trong nó, chứ không phải sức mạnh bao trùm lên nó. Bức tường đại diện cho niềm tin vào sức mạnh bao trùm, sức mạnh của phân ly, là một trong những căn bịnh nặng nhất trên bình diện trái đất vào lúc này, bệnh sức mạnh bao trùm. Và như vậy, nếu bạn có thể tìm thấy được ẩn dụ này bên trong bạn và không có bạn, không chỉ ở mức tâm lý động lực học mà cả ở mức tâm linh và mức trần gian, thi bạn có thể sử dụng nó như một công cụ để thăm dò bản thân và trong hào quang.
     Trong quá trình đi vào bên trong bức tuờng, trải nghiệm nó và làm cho nó sinh động, bạn cũng giải tỏa tắc nghẽn. Tắc nghẽn này nhìn thấy trong trường hào quang bắt đầu chuyển động và thôi phá vỡ dòng chảy tự nhiên của năng lượng.

     Những tắc nghẽn này tồn tại ở tất cả các mức của hào quang. Chúng tác động lên nhau từ vầng hào quang này rồi tới vầng hào quang khác. Bây giờ ta hãy nhìn cung cách mà một tắc nghẽn trong một vầng của hào quang - dĩ nhiên thường được biểu hiệu trong thực tại của vầng đó , nghĩa là tư tưởng, niềm tin hay cảm giác - cuối cùng có thể gây bịnh cho thân thể.

Điểm lại chương 14
 
1.     Nguyên nhân bịnh tật là gì ?

Để làm động não
 
2.     Bản chất bức tường bên trong của bạn là gì ?
3.     Hãy duy trì đối thoại với bức tường của bạn. Bức tường của bạn nói gì ? Phần của bạn ngồi sau bức tường nói gì? Bức tường bảo vệ bạn chống cái gì? Bản chất sức mạnh của bạn mà bạn đã nhốt riêng trong bức tường của bạn là gì? Bạn có thể giải tỏa nó bằng cách nào?

Chương 15

 
TỪ TẮC NGHẼN ĐẾN BỊNH TẬT
 
Kích thước của năng lượng và ý thức.

Nhìn vào bản thân vói một viễn tượng khoáng đạt hơn trước đây, ta thấy rằng ta có nhiều hơn là chỉ có thân thể mình. Chúng ta gồm nhiều vầng năng lượng và ý thức chồng lên nhau. Có thể chúng ta cảm nhận được điều đó từ bên trong. Một miêu tả rõ rằng đồ thị về tự trải nghiệm cảm giác và tư tưởng được trình bày trong chương nầy.

Tia sáng siêu phàm bên trong của ta tồn tại ở một bình diện thực tại và ý thức tiên tiến cao hơn nhiều so với bình diện ý thức thông thường. Ý thức cao cấp nầy có thể tuôn chảy vào bằng thực hành. Một khi đã tìm ra nó thì nó không còn gây ngạc nhiên. Ai cũng có cảm giác: “Ôi, vâng  Tôi biết cái đó ngay từ đầu mà" Tia sáng siêu phàm của ta khôn ngoan tuyệt vời; ta có thể sử dụng nó để hướng dẫn cuộc sống thường ngày của ta, hướng dẫn sự trường thành và phát triển của ta.
Do chỗ hào quang là trung gian qua đó các thôi thúc sang tạo từ các thực tại cao cấp của ta bị dồn xuống mà đi vào thực tại thể chất, cho nên ta thường sử dụng hào quang để đưa ý thức của mình quay ngược lên (bằng rung động) qua các vần hào quang mà đi vào thục tại của bản ngã Thượng Đế. Để làm điều đó, ta cần biết một cách chính xác bằng cách nào mà những lời thôi thúc sáng tạo ấy được truyền đi từng vầng hào quang nọ sang vầng hào quang kia để đi vào thế giới thể chất nhằm giúp tạo nên trải nghiệm của ta về cuộc đời.
     Thứ nhất, ta hãy xem xét lại lần nữa háo quang là cái gì. Hào quang còn hơn  một môi trường hay một một trường. Nó chính là bản thân cuộc đời. Mỗi vầng hào quang là một cơ thể, đúng là có thực, đang sống và hoạt động như thân thể chúng ta. MỗI cơ thể hào quang tồn tại trong thực tại hữu thức mà một phần nào giống và một phần nào đó không giống như thực tạI thể chất. Mỗi vầng, về một nghĩa nào đó, ở trong thế giới của chính nó, hơn nữa nhũng thế giới nầy liên kết với nhau và tồn tại chìm ngập trong cùng không gian nơi ta trải nghiệm thực tại thể chất của mình.

     Hình 15-1 liệt kệ những bình diện thực tại nơi ta tồn tại, nó tương quan với từng vầng hay cơ thể hào quang được trình bày  trong Chương 7. Bình diện thể chất gồm có bốn mức: thân thể, etheric, cảm xúc và tâm thần. Bình diện tinh tú là nhịp cầu giữa bình diện tâm linh và bình diện thể chất, còn bình diện tâm linh thi ở trên nó vá có các cấp độ soi sáng nằm bên trong nó. Như đã nói ở chương 7, ta có ít nhất ba vầng trong các cơ thể tâm linh của mình - mức etheric mẫu, mức thương giới và mức etheric mẫu.

     Sáng tạo hoặc biểu hiệu diễn ra khi một khái niệm hoặc một niềm tin được truyền từ nguồn của nó ở các mức bên trên xuống đi vào nhũng mức đậm đặc hơn của thực tại cho đến khi nó kết tinh trong thực tại thể chất. Ta sáng tạo theo các niềm tin của ta. Dĩ nhiên cái đang xảy ra ở các vùng bên dưới cũng tác động với các vùng bên trên.

Hình 15-1
Các Bình diện thực tại trong đó ta hiện hữu
(liên quan đến các vầng của hào quang)

Nhằm mục đích tìm hiểu quá trình tạo nên sức khỏe hay bịnh tật, ta hãy nhìn lần nữa thật cẩn thận vào cung cách biểu hiệu của ý thức tại mỗi vầng của trường hào quang.
Hình 15-2 liệt kê cung cách biễu hiện của bản thân ý thức trên mỗi vầng háo quang và sự bày tỏ của ý thức đó. Ở mức thân thể, ý thức mang hình thái bản năng, các phản xạ tự-động và hoạt động tự động của các nội tạng. Ở đây ý thức tạo ra diễn đạt "Tôi tồn tại" . Ở mức etheric , ý thức biểu hiện trong nhũng giới hạn của các cảm giác như lạc thú thể chất hoặc nỗi đau thể chất. Những cảm giác khó chịu như lạnh và đói là những dấu hiệu đôi khi cần dùng để lấy lại cân bằng năng lượng của ta nhằm làm cho năng lượng lại tuôn chảy hài hòa. Ở mức cảm xúc, ý thức biẻu hiện bằng những xúc cảm cũng như phản ứng căn bản như sợ hãi, giận dữ và yêu thương. Phần lớn những xúc cảm nầy liên quan đến bản ngã. Ở mức tâm thần, ý thức biểu hiệu trong giới hạn của tư duy có lý trí. Đó là bình diện của óc phân tích tuyến tính.

Ở mức tinh tú, ý thức được trải nghiệm như những xúc cảm mạnh vượt ra khỏi bản ngã và những xúc cảm khác để bao gồm nhân loại. Bình diện tinh tú, một thế giới hoàn toàn khác là bình diện mà ở đó diễn ra cuộc hành trình tinh tú và, như được những người đã trải ngiệm nó mô tả, bình diện nầy khác bình diện thể chất về các mặt sau đây : các vật thể có hình thái lỏng ; ánh sáng do các vật thể bức xạ hơn là phản chiếu trước tiên từ các vật thể ; và để thực hiện hành trình đó, chỉ cần mỗi người tập trung vào nơi mình muốn đi và luôn tập trung chú ý vào vị-trí đó. Phương hướng thay đổi theo tiêu điểm đến mức nếu bạn thay đổi tiêu điểm là bạn thay đổi cả phương hướng của mình. Khả năng tập trung ở bình diện nầy rất quan trọng !

Những khác biệt và tương tự giữa hình diện thể chất và tinh tú sẽ không làm cho nhà vật-lý ngạc nhiên bởi vì những định luật chi phối bình diện tinh tú bao giờ cũng dựa trên quy luật tự nhiên chi phối một môi trường có chất mịn hơn,năng lượng cao hơn, rung động nhanh hơn.


Hình 15-2
 

Tất nhiên, những định luật nầy tương quan vớI những định luật mà ta biết trong thế-giới thể chất. Tôi đề-nghị hãy coi các định luật vật-lý của chúng ta về thực tế chỉ đơn giản là những trường hợp đặc biệt của các quy lật chung, các quy luật vũ trụ hằng chi phối toàn vũ-trụ.

     Ở bình diện tâm linh, còn có một thế giới khác với thực tại riêng của nó, một thế giới mà theo tầm nhìn hạn hẹp của tôi, nó hơn hẳn thế giới của chúng ta: đẹp hơn nhiều, tràn đầy áng sáng và yêu thương hơn. Ở vần thứ năm, vầng etheric mẫu, ý thức tự nó biểu hiện như là một ý chí cao cấp mà với ta nó sẽ đưa sự vật vào hiện hữu nhờ khả năng định danh và định nghĩa các sự vật. Ở mức thượng giới, ý thức tự nó biểu hiện bằng những cảm nghĩ cao cấp như yêu thương tất cả, nghĩa là yêu thương vượt xa hơn đồng loại và bạn bè để đi tới chỗ yêu thương mọi cuộc đời. Ở mức thứ bảy, ý thức biểu hiện bằng những khái niệm hiểu biết và các hệ thống niềm tin. Đây là nơi mà xung lực sáng tạo sơ khởi bắt đầu từ hiểu biết của bạn hoàn toàn không phải hiểu biết tuyến tính, mà là hiểu biết hợp nhất.
     Lực sáng tạo chủ yếu cơ bản được khởi xướng trong cơ thể tâm linh cao cấp nhất và sau đó chuyển dịch vào cơ thể tinh tú. Hoặc từ một quan điểm khác người ta có thể nói rằng vật chất và năng lượng mịn hơn trong các cơ thể tâm linh cảm ứng sự cộng hưởng họa âm trong cơ thể tinh tú, sau đó có cơ thể tinh tú cảm ứng sự cộng hưởng họa âm trong ba cơ thể hào quang bên dưới. Quá trình này tiếp tục trên suốt con đường đi xuống vào trong mức tần số của thân thể (hiện tượng cảm ứng họa âm là hiện tượng xảy ra khi bạn gõ vào một âm thoa và một âm thoa khác trong phòng sẽ vang lên. MỗI cơ thể hào quang biểu hiệu xung lực này trong giới hạn của thực tại hữu thức ở mức riêng của nó. Chẳng hạn một xung lực sáng tạo từ cơ thể tâm linh chuyển dịch vào trong cơ thể tinh tú sẽ biểu hiện trong giới hạn các cảm nghĩ khoáng đạt. Vì nó chuyển dịch vào trong các vầng tần số bên dưới, nó sẽ biểu hiện đầu tiên trong giới hạn của tư duy, sau đó là cảm nghĩ đặc thù rồi đến cảm giác thể chất, và thân thể sẽ tự động đáp lại qua hệ thần kinh tự trị . Nó sẽ chùng ra nếu đưọc một xung lực dương tính hoặc sẽ co lại nếu nhận được một xung lực âm tính.

Quá trình sáng tạo sức khỏe
 
Sức khỏe duy trì khi lực sáng tạo từ thực tại tâm linh con người hướng theo quy luật vũ trụ. Khi cơ thể etheric liên kết với thực tại tâm linh vĩ đại thì nó biểu thị hiểu biết siêu phàm của thực tại đó. Tuyên bố được tạo ra là « Tôi biết tôi làm thành một với Thượng Đế”.

Hình 15-3

Đó là trảI nghiệm của con ngưởi với tạo hoá, cùng lúc ấy nó lại được cá thể hoá. Sau đó, thực tại nầy cảm ứng đến cảm giác yêu thương vạn vật trong cơ thể thượng giới. Cảm giác làm thành một với Thượng Đế lần lượt tạo nên liên kết của ý chí cá thể trong mức etheric mẫu với Ý chí siêu phàm. Việc nầy lần lượt biểu hiệu trong mức tinh tú dưới dạng yêu thương nhân loại. Trải nghiệm yêu thương nhân loại nầy sẽ ảnh hưởng đến vầng tâm thần và thông tin các nhận thức thực tại trong cơ thể tâm thần. Rồi rung động trong cơ thể tâm thần này, tuân theo các định luật cảm ứng họa âm và cộng hưởng giao cảm, được truyền xuống để đi vào vật chất và năng lượng của cơ thể cảm xúc, cơ thể nầy sau đó tự biểu hiệu bằng các cảm nghĩ. Nếu nhận thức thực tại phù hợp với quy luật vũ trụ thì các cảm nghĩ sẽ hài hòa được con người chấp nhận , để cho tuôn chảy và không bị tắc nghẽn.

Hình 15-4

     Sau đó, dòng chảy này được truyền xuống để đi vào cơ thể etheric, được cơ thể này đáp ứng một cách hài hòa tự nhiên. Kết quả là cơ thể có những cảm giác dễ chịu tăng cường chuyển hóa tự nhiên của năng lượng từ trường năng lượng vũ trụ đi vào. Năng lượng này cần thiết cho việc dinh dưỡng cơ thể etheric và duy trì cấu trúc cũng như chức năng của nó. Cân bằng tự nhiên của các năng lượng âm dương trong cơ thể etheric cũng được duy trì. Với cân bằng đó, tính nhạy cảm tự nhiên trong cơ thể, xuất phát từ dòng chảy cảm nghĩ tự nhiên, dẫn tới nhận thức phong phú thêm về các cảm giác của cơ thể, cảm giác này lần lượt dẫn tới việc tuân thủ chế độ ăn uống và luyện tập thích hợp. Cơ thể etheric khoẻ mạnh lại kích thích và duy trì một thân thể khoẻ mạnh trong đó các hệ thống hóa lý được giữ cân bằng và hoạt động bình thường. làm cho sức khỏe thể chất được bền vững. Trong hệ thống sức khoẻ, các năng lượng ở từng cơ thể được giữ cân bằng và trợ lực cho sự cân bằng trong các cơ thể khác.  Do đó sức khoẻ được duy trì , nghĩa là sức khoẻ thu hút thêm sức khoẻ
 
******
 

Trong ví dụ của ta (hình 15-4), nỗi sợ hãi đó có thể phá vỡ tầng etheric tại đám rối thái dương, gây nên trạng thái âm thịnh trong khu vực đó và nếu cá thể không đủ khả nănggiải quyết tình trạng khó xử đặc biệt đó. Tình trạng gãy vỡ này,nếu cứ để cho tiếp tục,  sẽ gây nên gãy vỡ về chuyển hóa năng lượng hóa học trong thân thể, làm cho các hệ thống của thân thể nên mất cân bằng và cuối cùng là mắc bịnh. Trong thí dụ của ta, âm thịnh tại đám rối thái dương có thể gây ra trạng thái tăng axit trong dạ dày (bao tử) vá cuối cùng gây ra các ổ loét.
      Như vậy, trong hệ thống bị bịnh, năng lượng mất cân bằng tại các cơ thể bên trên được tuần tự truyền xuống đi vào các cơ thể bên dưới, cuối cùng gây nên bịnh tật trong cơ thể. Trong hệ thống bị bịnh, tính nhạy cảm đối với những cảm giác của cơ thể lúc nầy suy giảm và có thể dẫn đến mất nhạy cảm đối với nhu cầu của cơ thể, biểu hiệu qua chế độ ăn không thích hợp chẳng hạn, điều nầy có thể tạo ra một mạch feedback tiêu cực của nhiều năng lượng mất cân bằng hơn. Mỗi cơ thể bị phá vỡ hoặc mất cân bằng cũng có tác động phá vỡ đối với cơ thể ngay bên trên nó. Căn bịnh nầy có khuynh hướng tạo thêm căn bịnh khác.
      Các quan sát bằng tri giác cao cấp của tôi cho thấy : Trên các vầng số chẵn của trường hào quang, bịnh tật mang hình thái các tắc nghẽn mô tả trước đây trong cuốn sách nầy- năng lượng màu tối nạp thiếu, nạp thừa hoặc bị bít. Trên các vầng cấu trúc của trường hào quang, bịnh tật mang hình thái biến dạng, gãy vỡ hoặc rối rắm. Có thể có những lỗ thủng trong cấu trúc kẻ ô ở bất cứ vầng số lẽ nào của hào quang. Thuốc men có tác động mạnh đến hào quang. Tôi đã nhìn thấy những hình thái năng lượng màu tối còn lại trong gan do thuốc men dùng chữa một số bịnh trước đó. Viêm gan để lại màu da cam trong gan nhiều năm sau khi bịnh được cho là chữa khỏi. Tôi đã nhìn thấy thuốc cản quang mà trước đó mười năm người ta bơm vào cột sống để chẩn đoán vết thương, mặc dầu đã dự kiến là sau một vài tháng sẽ được thân thể tải ra hết. Hoá trị liệu làm tắc nghẽn toàn bộ trường hào quang, đặc biệt là gan, lúc này có nặng lượng tựa như chất nhầy màu nâu hơi lục. Xạ trị liệu cọ sờn các vầng cấu trúc của trường hào quang như chiếc Bít tất ni lông bị đốt. Phẩu thuật gây nên những vết sẹo trong vầng hào quang thứ nhất và đôi khi suốt dọc đường đi tới vầng thứ bảy. Những vết sẹo, biến dạng và tắc nghẽn nầy có thể chữa khỏi bằng cách giúp đỡ thân thể tự chữa lấy ; nếu chúng vặn vẹo thì thân thể tự chữa trị khó khăn và mất nhiều thời gian hơn. Khi một cơ quan bị cắt bỏ, thì thường cơ quan etheric có thể được tái tạo và phục vụ cho việc giữ hài hòa trong các cơ thể hào quang bên trên thân thể. Tôi vẫn thường hình dung rằng một ngày nào đó, khi có thêm kiến thức về trường hào quang và về hóa sinh học, có thể sẽ có khả năng làm cho những cơ quan đã cắt bỏ mọc lại được.

      Vì luân xa là những điểm nhận năng lượng vào tối đa cho nên chúng là những tiêu điểm cân bằng rất quan trọng bên trong hệ thống năng lượng. Luân xa mất cân bằng sẽ dẫn đến bịnh tật. Luân xa càng mất cân bằng thì bịnh tật càng nghiêm trọng.  Như đã trình bày trong chương 8, Hình 8-2, các luân xa hiện ra như những cuộn xoáy năng lượng  tạo nên bởi một số hình chóp xoắn ốc năng lượng nhỏ hơn. Luân xa người lớn có màn chắn bảo vệ bên trên. Trong một hệ thống lành mạnh, những hình chớp xoắn ốc nầy xoay tròn nhịp nhàng đồng bộ với những cái khác, thu hút năng lượng từ trường năng lượng vũ trụ vào trong các trung tâm của chúng để cho thân thể sử dụng. Mỗi hình chóp được « điều chỉnh » theo tần số đặc trưng mà cơ thể cần để hoạt động một cách lành mạnh. Nhưng trong một hệ thống bị bịnh, những cuộn xoáy nầy không hoạt động đồng bộ. Các hình chóp xoắn ốc năng lượng tạo nên các cuộn xoáy nầy có thể xoay nhanh hay chậm, xóc nảy lên hoặc không cân xứng. Đôi khi có thể quan sát thấy những đường gãy trong mô hình năng lượng. Một hình chóp xoắn ốc có thể xẹp hoàn toàn hoặc một phần, hay lộn ngượvc lại. Những rối loạn  này liên quan đến một số rối loạn chức năng hoặc bệnh lý của thân thể  trong khu vực đó. Ví dụ, ở một trường hợp rối loạn chức năng của não, Schafica  Karagulla nhận xét trong công trình đi sâu vào tính sáng tạo rằng một trong các cuộn xoáy nhỏ của luân xa đỉnh đầu thay vì đứng thẳng đã rũ xuống như thế nào đó mà bà đã tưởng nó bình thường. Ma trận bên trong não của người nầy cho thấy những « lỗ hổng » mà tại đó năng lượng phải nhảy qua. Cái « khoảng đánh lửa « ấy tương ứng với phần não đã đuợc phẫu thuật cắt bỏ trước đó. John Pierrakos trong công trình Trường hợp vỡ tim thuật lại rằng ông đã quan sát thấy rồi loạn trong luân xa tim ở những bịnh nhân bị chứng đau thắt ngực và bịnh ở động mạch vành tim. Các luân xa nầy, đáng lẽ gồm những cuộn xoáy xoay tít sáng chói, thì lại hiện ra bị tắc nghẽn bởi một chất lờ đờ màu tối.

      Một số ví dụ đặc trưng trong các quan sát của tôi về những luân xa biến dạng được nêu lên trong Hình 15-5. Hình 15-5A cho thấy dung mạo của mọi thoát vị khe má tôi đã quan sát thấy. Luân xa đám rối thái dương có tám cuộn xoáy nhỏ hơn. Cuộn xoáy nhỏ khu trú ở nửa trái người, tại góc phần tư trên trái, trông tựa như một cái lò xo bật mạnh ra. Biến dạng nầy hiện ra trên suốt chặng đường đi ra tới vầng thứ bảy của hào quang. Hình 15-5B cho thấy đỉnh của một trong những cuộn xoáy nhỏ bị rứt ra. Tối đã chứng kiến hiện tượng nầy ở nhiều luân xa. Nó xuất hiện tại luân xa 1 sau khi bị một số chấn thương ở xương cụt. Nó xuất hiện tại luân xa đám rối thái dương sau khi xảy ra một chấn thương tâm lý nghiêm trọng. Nhiều lần nó xuất hiện như một chấn thương sau mổ tại luân xa nằm ở vùng tiến hành phẫu thuật. Hình 15-5C là một luân xa bị bít. Những người bị viêm họng đều có năng lượng tắc nghẽn màu tối tại luân xa tim. Ở ba ngưởi bị AIDS mà tôi quan sát được, luân xa 1 và luân xa 2 bị bít, và có trường hợp toàn bộ trường hào quang bị tắc nghẽn, kể cả vầng thứ bảy, tùy theo thời gian bịnh tiến triển. Một luân xa bị rách, như trình bày ở Hình 15-5D, xuất hiện trên các bịnh nhân ung thư mà tôi quan sát được. Một lần nữa, các dung mạo liệt kê ở đây đi tới được vầng thứ bảy. Một luân xa có thể bị rách, và ung thư có thể không hiện ra trong cơ thể cho đến hai năm sau hoặc hơn. Màn chắn được bảo vệ hoàn toàn bị rứt ra khỏi luân xa nầy. Ở những người bị thể ung thư nặng, tôi nhìn thấy vầng thứ bảy bị rách từ chân trên suốt chặn đường đi qua các luân xa 1,  2 và 3 và đi vào luân xa tim. Tác động  của vầng thứ bảy bị rách là làm thất thoát nhiều năng lượng qua trường hào quang. Thêm vào việc mất năng lượng, bịnh nhân còn là mục tiêu cho tất cả các loại ảnh hưởng bên ngoài làm tổn thương không chỉ về tâm lý mà còn cả về thể chất. Trường hào quang không có khả năng đẩy lùi sự đột nhập của những năng lượng không lành mạnh đối với hệ thống hấp thu. Hình 15-5E trình bày một ví dụ trong đó toàn bộ luân xa bị kéo sang một bên. Tôi thường hay gặp hiện tượng nầy tại luân xa 1, nơi mà người ta đã liên kết năng lượng của mình với đất chủ yếu qua một chân, trong khi chân kia bị yếu. Điều nầy thường phối hợp với tình trạng xương cụt trước đó đã bị ép sang một bên.
      Bước đầu tôi cho rằng mỗi cuộn xoáy của luân xa cung cấp năng lượng cho một cơ quan đặc trưng. Tôi đã chú ý thấy  rằng mỗi lần có rối loạn ở tuyến tụy thì cũng có rối loạn tại một cuộn xoáy nào đó bên phiá trái của luân xa đám rối thái dương, ngay ở dưới cái có phối hợp với thoái vị khe, cỏn khi rối loạn xảy ra trong gan thì một cuộn xoáy khác trong  cùng luân xa bị tổn thương, cái nằm ở gần gan.

      Hình 15-5F cho thấy một biến dạng xảy ra do sử dụng liệu pháp maratông quá mạnh. Sau một tuần điều trị theo nhóm cùng với cậu con nghiện ma túy, một bà trở về nhà với một cuộn xoáy bỏ ngỏ hình nêm. Nó nhợt nhạt, hầu như không xoay và không còn màn chắn bảo vệ. Từ khi tôi thấy ra vấn đề, một tuần sau khi thử nghiệm, tôi đã phục hồi được hào quang trước khi có thêm những thương tổn khác xảy ra. Giả thử trưóc đó tôi không làm như thế thì cuối cùng chắc chắn bà này đã có những vấn để ở gan, cơ quan liên quan đến cuộn xoáy bị suy yếu, hoặc là bà ta đã tự chữa trị bằng cách nào đó.

Có thêm nhiều dung mạo nữa có thể xảy ra. Như bạn có thể thấy, nhiều khi chỉ là những trường hợp lệch lạc cấu trúc đơn giản. Tôi đã nhìn thấy những luân xa rốt cuộc bị lộn trái từ trong ra ngoài, kích thước bị rộng ra hoặc thu hẹp lại rất dử. Tất cả cuối cùng đều dẫn đến bệnh tật và tất cả đều liên quan đến năng lượng ý thức hoặc biểu hiện hệ thống niềm tin và trải nghiệm của cá thể, như đã được luận bàn trên đây. Nói cách khác, bệnh tật ở vùng nào của trường hào quang thì sẽ tự biểu hiện ở mức ấy của ý thức. Mỗi biểu hiện là một hình thái nào đó của đau đớn, dù là thể chất, cảm xúc, tâm thần hay tâm linh. Đau đơn là cơ cấu gắn liền báo động cho ta chú ý có chuyện trục trặc để ta làm điều gì đó về chuyện này. Nếu ta không nghe bản thân trước , nếu ta cứ tiếp tục phớt lờ cái ta biết là mình muốn hoặc cần làm, thì cuối cùng bệnh tật sẽ giúp ta lắng nghe. Đau đớn dạy cho ta biết yêu cầu sự giúp đỡ và chữa trị, và vì thế nó là chìa khoá của việc giáo dục linh hồn.

Tập tìm ý nghĩa riêng của bệnh tật của bạn.

Câu hỏi chỉa khóa trong quá trình chữa trị rèn luyện là “Bệnh này đối với tôi có ý nghĩa gì? Nội dung thông điệp của thân thể gởi cho tôi? Tôi đã quên con người thực của mình như thế nào? Bệnh tật là câu trả lời đặc trưng cho câu hỏi: “Đau đớn này phục vụ tôi ra sao ?  

Ai cũng tạo ra bệnh tật ở chừng mực nào đó trong thân thể mình. Nếu bạn nhìn lại căn nguyên bạn sẽ thấy bao giờ bệnh tật cũng dựa trên chuyện ta quên con người thực của mình. Chừng nào mà ta còn tin rằng mình phải phân cách ra để cá thể hóa, thì ta còn tiếp tục tạo nên bệnh tật. Một lần nữa ta trở về điểm ta xuất phát - từ quan điểm toàn đồ về vũ trụ.

Điểm lại chương 15

1.      Mối quan hệ giữa bệnh tâm thể và hào quang là gì?
2.      Theo quan điểm trường năng lượng con người htì căn nguyên của mọi bệnh tật là gì?
3.      Hãy mô tả cung cách mà bệnh tật được tạo nên qua trường năng lượng của con người.

Để làm động não.

4.      Hãy dành một ít phút để chiêm nghiệm về cung cách mà quá trình bệnh tật có thể diễn ra trong thân thể bạn. Hãy mô tả nó.
5.      Những niềm tin của ta đã định hướng các trải nghiệm của ta như thế nào, và trường năng lượng con người của ta giữ vai trò gì trong việc sáng tạo này?

 _____________________________

Đã đưa vào thư viện tới chương 15. Chân thành cảm ơn CG.[:)]
0