Đánh cờ tướng
Thú chơi cờ tướng khá phổ biến trong dân gian, từ bình dân đến các giới, quan lại, được coi là cuộc đấu tài, đấu trí, tao nhã, thanh cao. Đến sứ giả phương Bắc sang ta cũng thách đấu cờ thi tài. Có nhiều cách chơi: từng ván cờ, chơi cờ tàn, cờ thế mỗi bên chỉ còn vài quân trên bàn cờ, ở gia đình.
Trong lễ hội thường chơi dưới hình thức cờ người hoặc cờ bỏi.
Cờ người
Tổ chức ở nhiều hội làng vùng Hà Nội như Kim Lũ, Thanh Liệt, Xuân Phương, Đông Ngạc, Thụy Phương, Vĩnh Quỳnh, Thượng Cát, Minh Khai, Hải Bối, Quảng Bá, Tàm Xá... nhưng lớn nhất, vui nhất là ở hội Chùa Vua (làng Thịnh Yên), nơi thờ thần cờ Đế Thích. Hội Chùa Vua gần như là điểm hội tụ các bậc kỳ thủ đủ các miền.
Cờ người đánh như cờ tướng, chỉ có hình thức khác: bàn cờ là cả chiếc sân rộng, quân cờ là người đóng, nam đứng quân đỏ, nữ đứng quân đen. Mỗi bên 16 quân, tên quân viết chữ nho ở ngực áo hoặc lưng áo. Riêng tướng chọn người đẹp người đẹp nết, có lọng che, có ghế ngồi. Người đánh xướng nước đi (theo nguyên tắc mã lệch, tượng điều, xe liền, pháo lệch...) người đóng quân chuyển vị trí theo. Ăn quân nào là bị loại ra khỏi sân. Cho đến khi tướng bị chiếu, hết nước đi là thua. Có nơi quân cờ là người cầm biển đề tên.
Cờ Bỏi
Cũng đánh ở sân rộng, kẻ ô làm bàn cờ, chỉ không có người mà quân cờ là các biển sơn son hoặc sơn đen, chạm khắc đẹp, đề tên quân. Tại các giao điểm trên bàn cờ có chôn ống tre để làm lỗ cắm biển khi chuyển quân cờ.
Đánh cờ người hay cờ bỏi đều có ông hiệu cầm cờ phất chỉ nước đi. Trọng tài dùng trống cái để điều khiển, thúc đi nhanh không để nghĩ lâu, gây không khí hào hứng cho người xem.
Đánh cờ phải tính từng nước chặt chẽ, dự đoán được thế đi nước sau và cách đánh đỡ của đối phương thì mới mong thắng.
Ca dao từng có câu:
"Quân cờ Đồng Cổ ra đi
Làm nên chiến thắng bất kỳ nơi đâu”.
Đồng Cổ là thần hoàng làng Nguyên Xá (xã Minh Khai, Từ Liêm) nơi giỏi cờ có tiếng. Còn những cao thủ làng cờ chơi với người thường, thường chấp một vài nước:
"Cờ cao Đế Thích chấp đôi xe"...
là thế.
Tổ tôm điếm
Tổ tôm chơi năm người với bộ bài 120 quân, cũng là một thú chơi đấu trí như đánh cờ, rất phổ biến ở đất kinh thành. Trong ngày hội, thay thế bằng tổ tôm điếm cho đông đảo khách xem hội cùng dự.
Trên sân rộng, hoặc bãi đất, cất lên năm cái điếm, 4 cái bốn phương và một cái ở giữa gọi là điếm trung. Mỗi điếm có thang để đấu thủ lên xuống tầng sàn, nom như cái chòi tre lá.
Bài là những miếng gỗ mỏng đề tên quân, có mảnh nắp đậy lại để tránh nhòm ngó, gian lận. Người chạy bài phải rao những con bài do các điếm đánh ra để các điếm khác muốn phỗng hay ăn. Rao bằng cách ví von có vần điệu:
Vác đèn đi dưới trăng thu
Đầu bài cửu sách, ai ù được chăng?
Trống lệnh điều khiển cuộc đấu cho thêm vui nhộn. ù chi chi nảy, xưa được thưởng bánh pháo, đốt ngay tại chỗ, khói mịt mù, trống và pháo chen nhau, hội tổ tôm điếm càng nào nức.
Một số nơi thay “tổ tôm điếm” bằng “tam cúc điếm”, chơi đơn giản hơn, phổ thông hơn. Chỉ có bốn điếm, cũng phải người rao bài, gọi quân, lấy trống làm hiệu lệnh.
Chơi đèn cù
Sách Đại Việt sử lược chép: Rằm tháng Giêng năm Hội Tường đại khách nguyên niên (1110) đời Lý Nhân Tông, lần đầu nhà vua cho tổ chức ở Thăng Long hội đèn Quảng Chiếu. Sự kiện này được tạc vào văn bia chùa Long Đọi năm 1121.
Đèn Quảng Chiếu là thứ đèn cù - còn gọi đèn kéo quân - loại thật lớn. Sau được thu nhỏ lại thành trò vui chơi trong dân gian vào dịp trung thu.
Khung đèn bẻ bằng tre nối vào các cột nứa tạo thành hình vuông, lục lăng hoặc bát giác, dán kín các mặt bằng giấy bản mỏng thật trắng lại dai. Chung quanh trang trí như một tòa lâu đài, có các họa tiết trổ hoa lá bằng giấy màu, giấy trang kim tô điểm.
Bên trong là một trục có cầu, đeo ba hoặc bốn vòng nan tre cách nhau 10 phân, có các sợi dây cố định khoảng cách. Vòng tre được dán các hình cắt những đoàn quân, ngựa, xe... hoặc các tích cổ Đinh Tiên Hoàng cờ lau tập trận, Thạch Sanh đánh chằn tinh cứu công chúa, Hai Bà Trưng khởi nghĩa, Lê Lợi trả gươm thần, Lã Vọng câu cá... Các vòng quân treo trên cần trục được đặt chính giữa đèn, cân đối, các sợi dây khi đèn quay không rối, trục để lên đĩa dầu cho trơn. Thắp bằng đèn bấc hoặc đốt nến, sức nóng tỏa ra đẩy các vòng quân chạy theo một chiều, in bóng các hình cắt to lên trên mặt các ô đèn, di động chung quanh. ở vùng làm giấy Bưởi có tục thi đèn kéo quân. Có chiếc to bằng cái nia phải quạt lò than hoa mới chạy nổi quân.
Đáo cọc
Hình thức 1:
Chôn hai chiếc cọc tre to bằng cổ tay, thò lên mặt đất khoảng hai - ba gang.
Chọn lấy 12 hòn đá cuội có dáng bẹt, hai người chơi một lần, mỗi người nhận 6 hòn cuội.
Vạch đứng ném cách xa cọc năm bảy bước. Từng người ném vào cọc của mình, ai ném lia hòn đá đúng cọc nhiều hơn, là thắng. Người thua bị loại cho người khác vào thay.
Hết lượt, người nào có số lần ném trúng cọc nhiều là đoạt giải nhất, nhì, ba.
Hình thức 2:
Một cách chơi khác chỉ trồng một cọc tre cao ngang ngực, người chơi đứng xa khoảng 10m, cứ một tốp chơi hai ba người, mỗi người có một hòn cái bằng đá bẹt tung vào chân cọc, ai ở sát chân cọc nhất là được vào chung khảo, đấu lần sau với người nhất của các nhóm khác. Cái khó là thả khéo, để cái không va vào cọc văng ra xa.
Hình thức 3:
Đáo cọc còn gọi là đáo chặt ở vùng Cổ Loa lại khác. Cọc được quấn chặt bằng vải hoặc nhồi chặt bông, cắm vào chiếc bình gốm loe miệng, để thò đầu cọc lên chừng gang tay. Trên đầu cọc vải đặt một đồng tiền đồng hoặc kẽm.
Người chơi dùng thanh tre dài hai gang vót bẹt như chiếc đũa cả chặt vào đầu cọc, làm sao cho đồng tiền rơi vào trong bình là được.
Cọc vải khác cọc tre, độ rung mỗi lần chặt một khác. Chặt nhẹ thì đồng tiền không rơi, chặt mạnh lại văng ra ngoài miệng bình.
Đáo mẹt - Đáo đĩa
Đặt vài ba chiếc mẹt tre đan, cạp tròn, đường kính khoảng hai gang, thẳng hàng nhau. Mỗi mẹt giữa để một đĩa gốm to 1 gang. Vạch gốc cho người chơi đứng thả cái vào đĩa, xa hay gần tùy theo tuổi và độ cao của người chơi mà quyết định.
Hòn cái thả làm bằng tiền xu đồng, mảnh gốm, mảnh chum vại hoặc mảnh ngói ta vỡ, ghè mài có hình tròn bằng miệng chén.
Người chơi đồng loạt theo trống mõ làm lệnh, tung, ném, thả lia hòn cái làm sao nằm trong đĩa càng nhiều là thắng. Mỗi keo chơi định lệ 5 hay 10 hòn cái.
Nếu hòn cái văng ra mẹt là thua. Còn nếu bắn ra ngoài mẹt thì phải phạt.
Đáo mẹt, có người gọi đáo đĩa, được tổ chức trong lễ hội Cổ Loa (Đông Anh).
Nặn con giống
Cuộc thi dành cho cả làng, mỗi nhà là một đơn vị thi do người cao tuổi nhất đứng đầu, bàn định xem tạo hình con giống gì, cây cảnh hay loài vật. Vùng Bưởi có trò chơi nặn con giống bằng sáp.
Sáp ong nấu chảy nhuộm với các màu thiên nhiên như lá diễn, lá sấu, nghệ, hoa hiên...
Đổ sáp màu ra khuôn để nguội. Lúc nặn hơ sáp lên than hoa lấy vừa độ dẻo.
Tác phẩm là trí tuệ và tài hoa của tập thể gia đình. Phải giữ bí mật con giống dự thi cho đến khi đưa ra bày chấm giải.
Sân đình được kê các dãy bàn dài. Nghe trống dóng lên, các nhà đưa sản vật ra thi. Nào chậu quất trĩu quả vàng ươm, nào cây mai cổ thụ gốc sù sì hoa nở trắng muốt, nào sư tử vờn cầu, đại bàng độc lập, công múa xòe đuôi đủ màu sắc, lợn đàn, ... gà mẹ gà con... Lại có cả Tề thiên đại thánh, Thạch Sanh... Nặn con giống là cuộc thi mỹ thuật quần chúng.
Hát ống
Cũng là hát giao duyên nhưng không trình diễn hát trước công chúng mà hát cho nhau nghe thông qua hai chiếc ống tre bịt mặt bằng bong bóng lợn, nối với nhau bằng sợi chỉ tơ để truyền âm sang cho người nghe ngồi ở gian đình bên cạnh. Nam nữ chia làm hai phe.
Bên hát, bên nghe rồi đối đáp lại nhau. Gặp những câu hát vui họ lại rộ lên tiếng cười.
Hội làng Hải Bối (Đông Anh) có trò hát ống vào mồng 4 Tết.
Nu na nu nống
Trò chơi của các em thiếu niên.
Tùy số người chơi, ít người ngồi thành hàng ngang, nhiều người ngồi quanh vòng tròn, duỗi dài hai chân. Tất cả cùng đọc bài đồng dao, một người ngồi giữa cầm chịch lấy tay đập vào mỗi chân ứng với một từ, đến câu cuối cùng của bài có từ “rụt” người có chân ấy phải co nhanh chân vào, nếu để đập tay vào là bị phạt, phải ra nhảy lò cò một vòng quanh đám chơi. Người cuối cùng còn cả hai chân là thắng cuộc.
Bài hát như sau:
Nu na nu nống
Cái cống nằm trong
Cái ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật
Phật ngồi Phật khóc
Con cóc nhảy ra
Con gà ú ụ
Nhà mụ thổi xôi
Nhà tôi nấu chè
Cá bống cá mè
Tè he cống rụt!
Bài khác:
Nu na nu nống
Thằng cống, cái cạc
Chân vàng, chân bạc
Đá xỉa, đá xoi
Đá đầu con voi
Đá lên đá xuống
Đá ruộng bồ câu
Đá râu ông già
Đá ra đường cái
Gặp gái đi đường
Có phường trống quân
Có chân thì rụt!
Bài nữa:
Chồng muống, chồng cà
Mày xòa hoa khế
Khế ngâm, khế chua
Cột đình, cột chùa
Nhà vua mới làm
Cây cam, cây quít
Cây mít, cây hồng
Cành thông, lá nhãn
Ai có chân thì rụt!
Thả đỉa ba ba
Đứng hoặc ngồi, quây thành vòng tròn, số người không hạn chế. Một người làm cái ở giữa đọc đồng dao, cả tốp đọc cùng, mỗi từ ứng với một đầu người. Đến cuối bài, ai trúng từ chịu, phải rời chỗ, chạy một vòng trở về làm cái, thay cho người làm cái trước để người ấy ngồi vào chỗ của mình.
Bài hát:
Thả đỉa ba ba
Chớ bắt đàn bà
Phải tội đàn ông
Cơm trắng như bông
Gạo bồng như nước
Đổ mắm, đổ muối
Đổ chuối hạt tiêu
Đổ niêu cứt gà
Đổ phải nhà nào
Nhà ấy phải chịu
Bài khác:
Nam mô bồ tát
Chẻ lạt đứt tay
Đi cày trâu húc
Đi xúc phải cọc
Đi học thày đánh
Đi gánh đau vai
Nằm dài nhịn đói.
Nếu đọc bài dưới, trò chơi thêm một nắm ngô rang hoặc ít lạc luộc, quả táo. Ai trúng từ đói thì không được chia quà, ngồi nhìn các bạn ăn.
Rồng rắn
Khoảng mươi em ôm lưng nhau, lớn đứng trước, bé đứng sau, kết chặt thành chuỗi rồng rắn, một người đứng ngoài làm thày thuốc.
Hai bên đối đáp nhau bằng bài đồng dao xin thuốc, đến lúc ngã giá đòi khúc đầu thì thày cố lôi một em ra, rồng rắn ghì nhau lượn luồn để tránh, “xin khúc giữa” rồi đến “xin khúc đuôi” cũng vậy. Ai bị thày lôi ra khỏi chuỗi người là thua, phải ra làm thày thuốc cho người thày vào thay chỗ. Trò chơi cứ thế tiếp tục.
Bài đối đáp:
Thày thuốc: - Rồng rắn đi đâu?
Rồng rắn (đồng thanh) - Rồng rắn đi lấy thuốc cho con.
Thày thuốc - Con lên mấy?
Rồng rắn - Con lên một.
Thày thuốc - Thuốc chẳng ngon.
Rồng rắn - Con lên hai.
Thày thuốc - Thuốc chẳng ngon.
Rồng rắn - Con lên ba.
Thày thuốc - Thuốc chẳng ngon.
Rồng rắn - Con lên bốn.
Tháy thuốc - Thuốc chẳng ngon.
(Đối đáp tiếp: Con lên năm, lên sáu, lên bảy, lên tám, lên chín, thày đều đáp: Thuốc chẳng ngon, cho đến)
Rồng rắn - Con lên mười.
Thày thuốc - Thuốc thày ngon vậy!
(Rồng rắn uốn lượn quanh thày)
Thày thuốc - Xin khúc đầu? (lôi)
Rồng rắn - Toàn xương với xẩu.
Thày thuốc - Xin khúc giữa?
Rồng rắn - Những máu cùng me.
Thày thuốc - Xin khúc đuôi?
Rồng rắn - Tha hồ mà đuổi...
(Thày cố kéo kỳ được em bé nhất cuối hàng)
Ú Tim
Trò chơi trốn tìm, không quy định số người. Một người xòe tay cho các người khác đặt ngón tay trỏ vào giữa bàn tay, rồi đọc:
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết chương
Ba vương ngũ đế
Cấp kế đi tìm
ú tim ù ập!
Dứt câu gập nhanh bàn tay lại, ai không rút kịp bị nắm lấy ngón, phải đứng úp mặt vào tường, nhắm mắt. Mọi người chạy tìm chỗ nấp, vừa chạy vừa đọc:
- Đứa nào ti hí
Chuột chí cắn mày!
Khi thấy không ai nói nữa, mới được mở mắt ra đi tìm, không tìm được người nào là thua.
Xỉa cá mè đi buôn men
Một nhóm các em ngồi quây tròn, mỗi người duỗi một chân ra để “xỉa cá mè”, mỗi chân ứng vào một từ theo câu hát:
Xỉa cá mè
Đè cá chép
Chân nào đẹp
Thì đi buôn men
Chân nào đen
ở nhà làm mèo, làm chó
Chân ai trúng vào từ “men” phải ra đóng làm người buôn men, ai trúng “mèo”, “chó” phải kêu “meo meo” và sủa “gâu gâu” khi người buôn men đến gần.
Trừ “người buôn men”, các em đứng lên cầm tay nhau quây thành hàng rào.
Người buôn men dạo quanh bên ngoài rao:
- Ai mua men ra mua!
Các em hỏi: - Men gì?
Người buôn men: - Men tằm!
Các em: - Đâm ngõ khác.
Người buôn men lại đi, lại rao: - Ai mua men đây!
Các em: - Men gì?
Người buôn men: - Men bạc.
Các em - Gác ngõ này! Hai em giương cao tay như mở cửa cho vào, nhưng khi người buôn men đến lại hạ tay xuống ngăn cản, chó cắn, mèo kêu, người buôn men phải rình chỗ nào sơ hở chạy vọt vào là được cuộc.
Xúc xắc xúc xẻ
Đêm giao thừa, một tốp trẻ mặc quần áo đẹp, tay cầm ống bương trong dựng mấy đồng tiền kim loại vừa xóc vừa hát, vào chúc tết từng nhà, lấy tiền mừng tuổi:
- Súc sắc súc sẻ
Nhà nào còn đèn còn lửa?
Mở cửa cho anh em chúng tôi vào!
Bước lên giường cao
Thấy đôi rồng ấp.
Bước xuống giường thấp
Thấy đôi rồng chầu.
Bước ra đằng sau
Thấy nhà ngói lợp.
Trâu ông còn buộc
Ngựa ông còn cầm
Ông sống một trăm
Thêm năm tuổi lẻ.
Vợ ông sinh đẻ
Những con tốt lành
Những con như tranh
Những con như rối
Súc sắc súc sẻ!...
Giung giăng giung giẻ
Một tốp nắm tay nhau dàn hàng ngang vừa đi vừa hát, hết bài cùng ngồi cả xuống rồi lại đứng lên đi vào hát tiếp. Chơi vào đêm trăng.
Bài hát 1:
Giung giăng giung giẻ
Dắt trẻ đi chơi
Đến cửa nhà trời
Lạy cậu lạy mợ
Cho cháu về quê
Cho dê đi học
Cho cóc ở nhà
Cho gà bới bếp
Ngồi xệp xuống đây!
Bài hát 2:
Ông giẳng ông giăng
Ông giằng búi tóc
Ông khóc, ông cười
Mười ông một cỗ
Đánh nhau vỡ đầu
Đi tâu ông huyện
Đi kiện quan phủ
Một lũ ông già
Mười ba ông điếc
Có biết hay không
Thì thà thì thụp!
Bài hát 3:
Ông giẳng ông giăng
Xuống chơi với tôi
Có bầu có bạn
Có ván cơm xôi
Có nồi cơm nếp
Có nệp bánh chưng
Có lưng hũ rượu
Con khướu đánh đu
Bồ cu tát nước
Cái lược chải đầu
Con trâu cày ruộng
Cái muống thả ao
Ông sao trên trời
Xì xà xì xụp!
Bài hát 4:
Ông tiển ông tiên
Ông có đồng tiền
Ông giắt mái tai
Ông cài lưng khố
Ông ra đầu phố
Ông mua miếng trầu
Ông nhai tóp tép
Ông mua con tép
Về ông ăn cơm
Ông mua mớ rơm
Về ông để thổi
Ông mua cái chổi
Về ông quét nhà
Ông mua con gà
Về cho ăn thóc
Ông mua con cóc
Về thả gầm giường
Ông mua thẻ hương
Về ông cúng cụ!
Chơi trăng
Ngồi quây tròn giữa sân cùng ngắm trăng cùng hát đồng dao, tất cả vỗ tay làm nhịp.
Có thể mỗi người theo thứ tự đọc một câu, hoặc đồng thanh đọc. Hết bài cùng vỗ tay một tràng dài, chơi lại.
Mồng một lưỡi trai
Mồng hai lá lúa
Mồng ba câu liêm
Mồng bốn lưỡi liềm
Mồng năm liềm giật
Mồng sáu thật trăng
Mười rằm trăng náu
Mười sáu trăng treo
Mười bảy sảy giường chiếu
Mười tám trăng lẹm
Mười chín dụn dịn
Hai mươi giấc tốt
Hăm mốt nửa đêm
Hăm hai bằng tai
Hăm ba bằng đầu
Hăm bốn bằng râu
Hăm lăm bằng cằm
Hăm sáu đã vậy
Hăm bảy làm sao?
Hăm tám thế nào
Hăm chín thế ấy
Ba mươi không trăng.
Hát đi hát lại
Hai tốp các em hát đấu, bên nào tìm được nhiều bài hát láy lại liên tục không có chấm hết là thắng cuộc. Giao ước với nhau hát điệp 3 hay 5 lần một bài, rồi đến lượt tốp khác. Mỗi bài là một điểm.
Dưới đây là một số bài:
Bài 1
Con kiến mà leo cành đa
Leo phải cành cộc leo ra leo vào
Con kiến mà leo cành đào
Leo phải cành cộc leo vào leo ra...
(Hát lại) Con kiến mà leo cành đa...
Bài 2
Con vỏi con voi
Cái vòi đi trước
Hai chân trước đi trước
Hai chân sau đi sau
Còn cái đuôi đi sau rốt
Tôi ngồi tôi kể nốt
Cái chuyện con voi.
(Hát lại) Con vỏi con voi...
Bài ba
Con chim chích chòe
Nó đậu cành chanh
Tôi ném mảnh sành
Nó quay lông lốc
Tôi làm một chốc
Được mâm cỗ đầy
Ông thày ăn một
Bà cốt ăn hai
Còn cái thủ, cái tai
Tôi đem biếu chúa
Chúa hỏi chim gì?
Thịt chim chích chòe
(Hát tiếp) Nó đậu cành chanh...
Bài 4
Con công hay múa
Nó múa làm sao
Nó rụt cổ vào
Nó xòe cánh ra
Nó đỗ cành đa
Nó kêu ríu rít
Nó đỗ cành mít
Nó kêu vịt chè
Nó đỗ cành tre
Nó kêu bè muống
Nó đỗ dưới ruộng
Nó kêu tầm vông
(Hát lại) Con công hay múa...
Bài 5
Lúa ngô là cô đậu nành
Đậu nành là anh dưa chuột
Dưa chuột là ruột dưa gang
Dưa gang là nàng dưa hấu
Dưa hấu là cậu lúa ngô.
(Hát lại) Lúa ngô là cô đậu nành...
Bài 6
Xuy xoa xuy xuýt
Bán quít chợ Đông
Bán hồng chợ Tây
Bán mây chợ huyện
Bán quyến chợ Đài
Ai vào thì mua.
(Hát tiếp) Xuy xoa xuy xuýt...
Bài 7
Người đẹp như tiên
Tắm nước đồng Triền
Cũng xấu như ma
Người xấu như ma
Tắm nước ao Quà
Lại đẹp như tiên.
(Hát lại) Người đẹp như tiên...
Bài 8
Gió đập cành đa
Gió đánh cành đa
Thày ngỡ là ma
Thày vùng thày chạy
Ba thằng ba gậy
Đi đón thày về
Rượu uống tì tì
Thày say hoa mắt.
(Hát lại) Gió đập cành đa...
Bài 9
Chè la, chè lít
Bà cho ăn quít
Bà đánh đau tay
Chắp tay lạy bà.
(Hát lại) Chè la, chè lít...
Hát mày hát tao
Một tốp cùng hát đồng dao. Đoạn đầu tất cả cùng hát chung, đến đoạn “mày, tao” chia làm hai nửa hát mày, nửa hát tao theo cách đối đáp.
Cái cáo mặc áo em tao
Làm tổ cây cà
Làm nhà cây chanh
Đọc canh bờ giếng
Mỏi miệng thổi kèn
ới cô trồng sen
Cho anh hái lá
ới cô trồng bưởi
Cho chàng hái hoa
Một cụm cà là ba cụm lý
Con nhà ông lý mặc áo tía tô
Con nhà thằng ngô mặc áo lang khách
Hai con chim khách đánh nhau trên cây
Hai cái bánh dày đánh nhau mâm cỗ
Hai hạt đỗ đánh đổ nồi rang
Hai con kiến càng đánh nhau lọ mật
Hai hòn đất đánh vật bờ ao
A
B
Mày tát chuôm tao
Mày đầy rổ cá
Mày đi chợ Hôm
Mày bán cửa đền
Mày làm mắm chua
Mày con ông chính
Mày là cái ả
Mày đội bồ đài
Mày cầm cái kéo
Mày làm sao
Mày đi buôn cậy
Mày đi lấy chồng
Mày lên kẻ chợ
Tao tát chuôm mày
Tao đầy rổ tôm
Tao đi chợ Cầu Dền
Tao bán cửa vua
Tao làm mắm thính
Tao con ông xã
Tao là cái hai
Tao đội nón méo
Tao cầm con dao
Tao làm vậy
Tao đi buôn hồng
Tao đi lấy vợ
Tao về nhà quê
