Tổn thương não ở trẻ trong hội chứng rung lắc
Hội chứng rung lắc là tình trạng não trẻ bị chấn thương do cơ thể trẻ bị di động bất thường, nhanh, mạnh và đột ngột. Theo nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới, trong số trẻ bị chấn thương sọ não, có tới 33% là do hội chứng rung lắc, 1/3 trẻ bị tử vong do tổn thương não nặng, số còn lại có biểu hiện lâm sàng cấp tính hoặc bán cấp, có những trẻ không có triệu chứng, nhưng đa số bị ảnh hưởng di chứng thần kinh nặng nề trong suốt cuộc đời.Nguyên nhân dẫn đến hội chứng rung lắc
Hội chứng này được biết đến từ những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX, do bác sĩ chẩn đoán hình ảnh Caffey cảnh báo.
Khi chăm sóc hoặc chơi đùa với trẻ, có những động tác mạnh làm thay đổi tư thế trẻ nhanh và đột ngột sẽ rất nguy hiểm như: trẻ đang nằm được bế thốc dậy, nhấc bổng trẻ lên cao rồi hạ xuống, xô đẩy, tung đỡ, rung lắc hoặc xoay trẻ liên tục. Trong số những động tác này, rung lắc hoặc xoay trẻ liên tục là nguy hiểm hơn cả, bởi có thể gây đứt sợi trục thần kinh, là một tổn thương não rất nặng.
Biểu hiện của bệnh
Đa số hội chứng rung lắc gặp ở trẻ dưới 2 tuổi, từ 2-5 tuổi ít gặp hơn, càng lớn hội chứng lắc càng ít xảy ra (khoảng từ 6 tuần đến 4 tháng tuổi có tỷ lệ hội chứng lắc cao nhất).
Đầu trẻ có trọng lượng và thể tích khá lớn so với cơ thể, khối cơ của cổ lại quá yếu không đủ sức nâng đỡ đầu, nên khi bị rung lắc, quán tính và gia tốc của đầu lớn dễ gây chấn thương sọ não.
Tế bào não trẻ có đặc điểm nhiều nước, tổ chức não lỏng lẻo, sợi trục thần kinh myelin hóa chưa hoàn toàn, bởi vậy khi bị rung lắc rất dễ đứt sợi trục thần kinh hoặc phù nề nhu mô não.
Lượng dịch trong khoang dưới màng nhện nhiều, số lượng mạch máu não của trẻ em nhiều hơn ở người lớn rất nhiều, đặc biệt là các mạch máu khoang dưới nhện, cấu trúc thành mạch lại không bền bằng người lớn, bởi vậy, nhu mô não và các mạch máu rất dễ bị tổn thương khi rung lắc.
Chảy máu não là tổn thương hay gặp nhất, có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào trong hộp sọ, nhưng chủ yếu chảy máu khoang dưới nhện. Khoảng 1/3 trường hợp máu chảy với số lượng nhiều gây phù não và thiếu ôxy não, gây tăng áp lực nội sọ, gây chèn ép vào các trung tâm thần kinh, biểu hiện lâm sàng thường rất nặng với diễn biến cấp tính, trẻ có các triệu chứng như kích thích, nôn, co giật, li bì hoặc hôn mê, yếu hoặc liệt chi, rối loạn nhịp thở, thóp phồng, đầu to, đồng tử giãn... có thể dẫn đến tử vong. Khoảng 2/3 trường hợp máu chảy với số lượng ít, hoặc chảy từ từ nên não trẻ có thời gian thích nghi, trẻ không có triệu chứng lâm sàng hoặc biểu hiện mơ hồ với một vài triệu chứng không đặc hiệu như ăn kém, chậm phát triển cân nặng, chậm phát triển tâm thần và vận động, thị lực giảm hoặc mất, động kinh...
Chẩn đoán bằng cách nào?
Trước đây chủ yếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng, chọc dịch não tủy, ghi điện não đồ, nên việc chẩn đoán chảy máu não rất khó khăn, nhiều trường hợp không phát hiện được. Ngày nay, nhờ có các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như siêu âm qua thóp, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ sẽ phát hiện thấy những tổn thương như nang dịch, teo não, vôi hóa nhu mô não.
Còn tổn thương sợi trục thần kinh trong hội chứng lắc thường rất nặng, khó chẩn đoán, đa số tử vong, nếu sống sót cũng để lại di chứng thần kinh nặng nề trong suốt cuộc đời. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm qua thóp, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ không thể phát hiện được tổn thương sợi trục thần kinh, ngoài những dấu hiệu gợi ý phù não cấp. Ở những nước phát triển, chẩn đoán bằng sử dụng chất hóa mô miễn dịch để nhận diện beta aminoid là tiền thân của protein được giải phóng khi sợi trục thần kinh bị tổn thương.
Tổn thương đụng dập nhu mô não ít gặp, xảy ra khi đầu trẻ bị va đập trực tiếp vào vật cứng, chẩn đoán không khó nhờ chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ.
Một số hình thái tổn thương khác có thể gặp như xuất huyết võng mạc gây giảm thị lực mắt, trật bản lề chẩm cổ và tổn thương tủy cổ gây yếu hoặc liệt tứ chi, thậm chí gây tử vong đột ngột do ngừng thở ngừng tim, vỡ xương sọ, gãy xương, chấn thương các tạng khác cũng được đề cập đến trong hội chứng rung lắc trẻ.
Điều trị ra sao?
Tùy theo hình thái và mức độ tổn thương trong giai đoạn cấp tính, có thể phải phẫu thuật hoặc điều trị hồi sức chống phù não để cứu sống trẻ. Đối với các di chứng, phòng và điều trị động kinh, phục hồi chức năng, phẫu thuật dẫn lưu nang dịch giải phóng chèn ép là những biện pháp điều trị thật sự cần thiết.
Có phòng được không?
Phát hiện tổn thương não do hội chứng lắc gây ra là rất khó, bởi bệnh cảnh chấn thương không rõ ràng, nhưng điều trị tổn thương lại càng khó hơn, nhất là những di chứng thần kinh để lại. Hội chứng lắc ở trẻ nhỏ đang là gánh nặng cho người bệnh, gia đình và xã hội, tiêu tốn khoảng hơn 100 tỷ đô-la mỗi năm trên toàn thế giới, nên việc phòng tránh những động tác bất thường, không để xảy ra những hành động bạo hành đối với trẻ em là biện pháp tốt nhất làm giảm bớt gánh nặng ấy.
BS. Trần Văn Phúc (BV Xanh Pôn - Hà Nội)
(Ngày 13/12/2006 - Báo SK&ĐS)

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng (giửa) đất trời mà reo
Làm cây thông đứng (giửa) đất trời mà reo

Thận có ba chức năng chính: thải độc (đặc biệt là các sản phẩm từ sự chuyển hóa đạm là urê), điều hòa huyết áp và tạo máu - tạo xương. Vì vậy khi suy thận, người ta có thể bị: ngộ độc urê, cao huyết áp, thiếu máu và loãng xương.