Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Thăng Long nổi giận - tiểu thuyết lịch sử

11 trả lời, 1.786 lượt xem — Trang 1 / 1
Thăng long nổi giận

Hoàng Quốc Hải

Chương 1:

Vừa bước vào tới cửa cùng Thánh từ, vua Trần Nhân Tông đã sụp lạy:
- Trình phụ hoàng.
Thượng Hoàng Trần Thánh Tông vừa nhận ra con có điều gì khồng bình thường, liền hỏi:
- Ta miễn lễ, chăng hay có chuỵện gì cáo cấp mà quan gia phải vào cung đang buổi thiết triều?
- Bẩm phụ Hoàng, vì có việc cơ mật, khẩn cấp, con đã cho bãi chiều
- Việc gì vậy?
- Tâu, người của ta lấy được tin từ Yên Kinh về nói rằng: Hốt Tất Liệt vừa lập An Nam tuyên ý ty, cử Bột nhan Thiết Mộc Nhi làm tham tri chính sự An Nam tuyên sý sứ đo nguyên súy, Sài Thung và Khu ghe làm An Nam phó đô nguyên súy. Lại cho lập triều đình bù nhìn, Y giữ đoàn cống sứ của ta lại. Phong chánh sứ Trần Di Ái làm An Nam quốc vương. Lê Mục làm An Nam học sĩ, Lê Tuân làm thượng thư. Lại sai Sài Thung dẫn bọn này quay về Thăng Long và cho năm ngàn quân hộ tống. trong đám ấy có một ngàn người Mông Cổ, còn bốn ngàn tên kia là quân tân phụ Tiền quân của chúng đã tới quảng Tây.
Thượng hoang hơi biến sắc. Không biết vì giận bòn Trần Ải ngu tối, ươn hèn hay căm uất bè lũ Hốt tất Liệt. ngài nói:
- Vậy là chúng đã biến nước ta thành quận huyện của chúng. Quân cẩu trệ. Bước ra khoi long án, thượng hoàng dăng từng bước chân năng trịch trong nội tẩm. đoạn ngài quay lại hỏi Nhân Tông:
- Quan gia khu xử việc này ra sao?
- Bẩm, con đã có chiếu thư cho bá phụ Hưng Đậo vương phải đón đánh bọn này ngay từ khi chúng đặt bước chân đầu tiên vào đất ta. Và bắt cho được bề lũ phản bội Trần Ải để trị tội.
- Thế còn Sài Thung thì sao? Bang giao hai nước căng thẳng. Nếu ta để Sài Thung chết trong đám loạn quân, Hốt Tất liệt ắt có cớ cất binh ngay. Việc này phải cân nhắc kỹ lắm. Vạn bất đắc dĩ không tránh được can qua, thì cũng gắng nhẫn nhịn để còn trù liệu binh lương.
- Tâu phụ vương, con chắc là Sài Thung với danh nghĩa sứ giả, y sẽ đi trước, còn bon kia núp bóng theo sau. Về đoàn sứ giả, con đã cử thúc phu Chiêu Minh vương, tướng quốc thái úy lên tận biên ải tiếp rước y về Thăng Long. Và cũng giám sát không cho y nghênh ngang dò xét nội tình nước ta từ biên thùy vào nội địa
Thánh tôn vụt miẻm cườiL
- Hai việc ấy, giao cho 2 người ấy, ta yên tâm. Vương nhi quả là sáng suốt.
Nhận được chiếu thư của nhà vua, Hưng Đạo vương cho triệu các con về bàn việc phụng chỉ. Bởi từ lâu nay, mạn động và đông bắc, triều đình giao hẳn cho cha con đại vương trấn giữ. Khi các vương tử đã tề tựu đông đủ, đại vương bèn nói:
- Nay Hột tất liệt đã bình định xong Trung Quốc, đặt nền thống trị và đổi quộc hiều là Đại Nguyên rồi. Mộng bá chủ gầm trời của y là không gì cản được. Ngọn cờ xâm lược đang trỏ về phương nam, mà Đại Việt ta là chặng đường tiến quân chinh phục đầu tiên của y. Lẽ ra, sau trận thắng ở Nhai Sơn Hốt tất liệt đã kéo đại binh sang ta. Ngặt vì tướng sĩ sau nhiêu năm chinh chiến ở trung Nguyên đã mỏi mệt, y còn phải chỉnh bị lại. Vả chăng y cũng muốn giương oai gài bẫy răn đe để các nước nhỏ quy phục, hơn là phải cất quân đánh dẹp. Nay ta được mệnh vua ủy thác, phải xua tan đạo binh năm ngàn tên do nhà Đại Nguyen cử đi hỗ trợ sứ đoàn Sài Thung, dẫn bọn phản bội Trần Di Ái – bù nhìn quốc vương do Hốt tất liệt sách phong về nước. Vậy th ý các con, ta dẹp bòn này thế nào cho êm thuận. Vừa giữ được chủ quyền quốc gia, vừa không để cho kẻ kia vin cớ cất quân.
Các con của đại vương có mặt đầy đủ. Trước hết là trưởng tử Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn, bấy lâu nay vẫn cùng đại vương ở đại bản doanh vùng Kiếp Bác – Bình Than. Tiếp đến là Hưng Trí vương Trần Quốc Hiến, Hưng hiếu vương Trần Quốc Uất trấn giữ suột một dải dài biên ải từ cực đông đên đông bắc. Sau rôt là Hưng Nhương Vương Trần Quốc Tảng trấn ngự cả một vùng biển bông bắc từ Ngọc Sơn đến Vân Đồn, Hạ Long.
Đại vương là một bậc trí tuệ, nghiêm cẩn, nên người giáo dưỡng các cpn th nền nếp cực kì thâm viễn. Đại vương thường dạy các con thấu đáo đạo làm người trước khi học đạo làm tướng.
Các vương cũng biết rõ tính cha, nên trước khi nói, ai cũng phải suy nghĩ cho cạn nhẽ. Và ai cũng biết rằng, trong những cuộc nghị bàn như thế này là bàn việc quận cơ, việc lớn quốc gia. Sa sẩy là đại vương chiếu quan pháp trị tội, chứ không mảy may xen lẫn tình phu tử mà châm chước.
Đại vương đưa mắt nhìn các con. Phú im lặng nặng nề khiến không khí như ngột ngạt. Hưng Nhuwongj vương Trần Quốc Tảng vốn tính tình bồng bột, ưa hành đông hơn suy ngẫm, vừa mấp máy môi toan nói. Nhưng chợt nhìn thấy gương mặt cha vẫn trầm mặc và các vương huynh vẫn điềm nhiên, vương hơi chột dạ. Và suy nghĩ: “ Việc dễ như trở bàn tay. Phục binh bất ngờ diệt gọn. Chém đầu Sài Thung ném trả Hốt tất liệt cho y bớt tính ngông cuồng. Treo cổ Trần Ải ở kẻ chợ, để làm gương cho những tên phải bội đê hèn...”
Triền miên với những suy tư đầy tức giận bởi cách xử hỗn xược của triều đình nhà Nguyên, Trần Quốc Tảng bực bội tự nói với mình: “ Thân làm tướng, gặp giác là đánh. Có gì đâu mà các vương huynh phải nghĩ lâu thế? Chẳng nhẽ ta là tướng Thủy, xin lên đánh bộ, phụ thân lại quở : mạn xược”
Khí giận tát ra ngoài khiến vẻ mặt Trần Quốc Tảng không vui.
Giây lâu Hưng Vũ vương Nghiễn lên tiếng:
- Bẩm đại vương, việc này không lớn nhưng cực khó.
Hưng đạo vương gật gật mái đầu đốm bạc, nét mặt có vẻ tươi nhuần, người giục:
- Vương nói rõ ý con, ta nghe đây.
- Trình đại vương, con nói việc này không lớn, òa bởi chỉ có năm ngàn tên quân Mông thát vào cõi ta, Một đạo binh nhỏ của chú Hưng trí vương Hiến, hoặc Hưng Hiếu vương Uất là quét sạch. Nhưng nó lại dính đến cái sứ đoàn nhà Đại Nguyên, do tên cáo già Sài Thung cầm đầu. Theo y có cả một triều đình bù nhìn do Hốt tất liệt nặn ra. Việc này làm không khéo sẽ chọc giận con sư tử Hốt tất liệt nỏi máu đien khùng, kéo đại binh sang giày xéo núi sông ta. Biết mưu kẻ kia thâm hiểm nên thượng hoàng và nha vua mới ủy thác cha và chú chiêu Minh trong nom cho kín nhẽ.
Hưng Đạo vương vuốt chòm râu cứng tới ba lần rồi cười lớn:
- Khá khen cho con, không những vũ dũng mà còn có mưu sâu. Người thong thả nhấn thêm: - Phát lộ được mưu kẻ định còn ẩn tàng, tức là con đã biết rõ gan ruột nó. Lướt nhìn các con một lượt, đại vương chậm cháp vuốt râu và thông thả nói tiếp:
- Người làm tướng, không phải như thiên lôi chỉ đâu đánh đấy. Người làm tướng, Đại vương nhấn thêm – không phải chỉ biết đánh, mà phải biết thắng một cách nhàn hạ, không nhọc sức quân, không hao tổn máu xương sĩ tốt. Nhìn thẳng vào người con út, lúc này mang vẻ mặt buộn thiu, Đại vương nói như an ủi, như trách móc:
- Hưng Nhương Vương Tảng, ta lấy làm tiếc, con học nhiều, đọc rộng mà con vẫn chưa định được cái tâm, chỉnh được cái ý. Tính con nôn nóng, bồng bột, nếu không ẩn nhẫn để sửa mình, ta e con khó thâu được thành tựu.
Trần Quốc Tảng nghe cha nói, giật mình kinh sợ, mờ hôi toát đẫm cả sống lưng. Vương thầm nhủ: “ vậy là cha biết cả tim óc ta”.
Lại nhìn Hưng Vũ vương Nghiễn, đại vương chậm rãi:
- Việc này ta phó thác cho con lo liệu. con nên cẩn trọng. Ngoài sứ đoàn Sài thung ra, khôn một tên quan quân nào khác trong đoàn hộ tống lọt đựợc vào đất ta, chứ không cần sát hại chúng. Bõ bèn gì vài ngàn quân giặc. Đây là ván cờ bang giao, không được để xảy ra điều gi sai quấy.
Vương đột ngột ngừng lời. Đôi mắt vương bỗng sáng quắc. vương như đang trương nhãn lực nhìn cho thấu một vật gì đó qua màn sương mờ đục, Rồi cất cao giọng vương nói:
- Gấp gáp lắm rồi. Cứ như ta suy ngẫm qua cung cách chèn ép, bức bách của nhà Nguyên, thì Đại Việt tiếp sứ Nguyên lần này có nhẽ là lần trót chăng? Cho nên việc canh phòng trên biên ải, cũng như việc thông đạt tin tức từ biên cương về bản doanh ta, không được lơi lỏng, trễ nải, Các hỏa điểm, củi đóm lúc nào cũng phải đầy đủ, ngay cả khi trời mưa bão. Còn các trạm., phải luôn luôn có ngựa tốt, để hễ có tin gì, là các kỵ sĩ có thẻ lên đường ngay được.
Ngày mai ta về Thăng Long, để xem vua rôi nhà Nguyên giở thêm trò gì nữa. Yết Kiêu đi cùng ta. Dã Tượng lo luyện tốt đội tượng binh, đội thần nỗ giúp ta. Các con cố gắng hoàn thành trách phận. Xong việc, ta sẽ có thưởng.
Nói xong, vương đứng dậy đi về phía tầu ngựa. con tí mật thấy vương đi qua, nó hí lên một hồi dài, rồi lúc lắc bờm và gại móng, khiến vương phải dừng lại.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 2:

Khi sứ đoàn của Sài Thung đến phủ tư Minh thì đội quân hộ tống An Nam quốc vương Trần Di Ái, th lệnh thiên tử Đại Nguyên Hốt tất liệt đã hạ trại ngoài cổng thành chừng năm dặm.
Nom đám lều trại, ngựa chiến, ngựa thồ của một ngàn quân Mông cổ sắp đặt ngay ngắn tề chỉnh, khí giới lương thảo đâu vào đó, Sài Thung lấy làm hài lòng. Và đám quân tân phụ bốn ngàn tên lấy từ quân bản bộ của lộ Quảng Tây, cũng hạ trại liền sau đó. Sài Thung có cảm giác khó chịu thấy lũ quân người phương Nam đồng bào của y lờ mờ dưới những chóp nón tre đan rộng vành, mặt mũi đứa nào đứa đấy buồn thiu, ủ rũ không hồn như lũ lính ma trơi.

Với lòng khinh ghét. Sài Thung không thèm nhìn đám tân phụ, mà đi thẳng vào khu lều trại quân Mông Cổ. Viên lễ bộ thượng thư người Hán, được nhà vua Đại Nguyên sủng ái, cất nhắc vào chức An Nam phó đô nguyên súy. Vì Sái Thung từng lãnh chức chánh sứ sang Đại Việt nhiều lần: vừa quen thung thổ, vừa am tường phong tục, lại có nhiều thủ đoạn trong nghề bang giao. Lần này, Sài Thung còn lãnh một trọng trách vừa to lớn, vừa mới mẻ, tức là bang giao có vũ trang. Sài Thung nắm trong tay một bộ máy triều đình của nước An Nam, do thiên tử nhà Đại Nguyên áp đặt. Từ quốc vương đến các đại thần, đều lấy ra từ đoàn cống sứ của Đại Việt. Chẳng hạn Trần Di Ái dự hang quốc thúc của An Nam quốc vương Trần Nhân Tôn, vốn là viên chánh sứ sang đại đô năm trước được giữ lại. Thiên tử nhà Đại Nguyên đã phong ân cho y làm An Nam quốc vương, và phế truất cha con Nhật Huyên( Nhật Hoảng- tức vua Trần Thánh Tông), Ngay cả bộ máy cai trị của thiên triều, cũng đã sắp đặt vào đâu vào đấy.
Sài Thung khấp khởi, phen này y chỉ dung ba tấc lưỡi với một đạo binh nhỏ, cũng thừa sức làm cho vua tôi nhà Trần phải run sợ đầu hang. Vì rằng, nếu năm ngàn quân kia không xong, thì sẽ có năm mươi ngàn, sẽ có năm trăm ngà. Sẽ có ức, hiệu quân đến làm cỏ xứ này. Vì rằng Trung Nguyên mênh mông là thế, vĩ đại là thé, còn bị vó ngựa Mông Cỏ đạp nát cả thành trì, vua tôi nhà Tống cõng nhau nhảy xuống biển chết trôi, chết chìm, huống chi lũ sẻ Thăng Long, đọ sao được với đại bàng thảo nguyên. Sài Thung mỉm cười bước vào lều trướng của viên tướng người Mông Cổ để bàn kế tiến binh vào An Nam cùng với sứ đoàn của y.
Ba ngày sau, khi vừa canh một, Sài Thung đã đốc thúc đám Trần Di Ái dẫn đường qua cửa Tư Minh, để vào đất Đại Việt. Đám lính hộ tống người Mông Cổ quân ngậm tăm, ngựa bỏ nhạc đi cách xa chừng nửa dặm. Sau cánh quân người Mông Cổ và quân tân phụ.
Đêm mùa hè mát rượu. Trời đầy sao. Sương tưới đãm cây cỏ hai bên vệ đường. Rừng cây âm u, đầy bí hiểm. Thỉnh thoảng lại loé lên một đám lân tinh biếc sang, như lũ ma trơi rập rình nô giỡn. Rồi tiếng nước suốt tuôn róc rách. Tiếng gió lao xao trên đỉnh ngàn cây. Và tiếng côn trùng rỉ rả. Vẳng đâu đây có tiếng cú rúc. Tiếng tắc kè. Tiếng mang tác. Thảng có riếng chim hốt hoảng đập cánh soàn soạt vụt bay lên, xen cả tiếng chạy rậm rịch của đám thú ăn đêm.
Nằm trên cáng, Sài Thung căng mắt ném cái nhìn mơ hồ vào những vòm cây đen sẩm mỉm cười. Viên chánh sứ lấy làm đắc ý. Y nhơ hồi tháng chấp năm Mậu dần (1278) cách đay gần 4 năm thiên tử nhà Nguyên cử y làm chánh sứ sang điếu tang An Nam quốc vương. Y dẫn đoàn đi th đường tắt Vĩnh Bình để vào đất Đại Việt. Y đã bị quan quân Đại Việt ngăn lại, và NHật Huyên đã gửi cho y một bức điệp văn, lời lẽ khôn ngoan tới mức không thể nào quên được: “ Nay nghe quốc công đến biên giới tôi, biên dân không ai là không lo sợ, không biết sứ nước nào mà đến lối đó, xin đem quân về đường cũ mà đi …”
Hừm! Sài Thung phát đánh dét một cái vào mặt, y di bàn tay và xoè ra trong đêm tối. Không nhìn thấy, nhưng y biết là đã bắt đầu vào miền đất ẩm ướt phương Nam. Mặc dù vậy, mạch suy tư của quan thượng thư bộ lễ vẫn cứ tiếp nối. Y lại cười khẩy- “ Vậy là Nhật Huyên, lần này ta cho quân đi đúng đường vào đất nhà người. Sao không có đại quân nghênh rước”.
Sài Thung tự nhủ: “ Sớm mai ta sẽ cho quân tiến thẳng dao dinh thự hiệp trấn Lạng châu. Ta sở quở trách y vô lễ không ra địa đầu biên ải nghênh rước sứ giả thiên triều”. Và Sài Thung mơ tưởng, chuyến bang giao vũ trang này của y thành tựu, mà nhất định phải thành tựu, sẽ là một kỳ tích không tiền khoáng hậu trong lịch sử, ngay cả đến Trương Nghi, Tô Tần cũng không sách được. Y sẽ là người đứng ra cai quản xứ An Nam này, Chính y chứ không phải tên Mông Cổ vox biền Bột-nhan Thiết-mộc-nhi trị vì cái vương quốc bé nhỏ mà giàu có này. Y sẽ có kế sách đuổi tên Mông Cổ kia đi nơi khác. Nếu không, thì khí hậu lam chướng và gái đẹp phương Nam cũng giết hắn. Hoặc giả, các món ăn bỏ béo, các thứ quý lạ và bạc vàng cũng giết hắn. Nghĩa là có y thì không có hắn. Trường suy tưởng của Sài Thung cứ mien man nhw một đàn kiến.
Bỗng một phát pháp hiệu nổ vang. Rồi hang loạ pháp nổ như trời long đất sập. Lập tức từ hai cánh rừng, quân ùa ra như lác lũ bọ lấy bộn Trần Di Ái, Sài Thung.
Đám người ngựa của quân Mông Cổ đều sa xuống huống. Tiếng ngựa hí, tiếng người kêu cứu, tiếng khóc, tiếng chửi chìm đi trong triếc tiếng reo hò của quân Nam
Tảng sang, bọn Trần Di Ái chạy tháo thân vào rừng. Đám gia binh của Hưng Vũ vương Nghiễn nhận mặt được, nên chẳng mấy chốc y đã bị bắt giải về kinh, theo đường ngựa trạm.
Từ lúc có tiếng nổ, Sài Thung lo chạy thoát thân, y đinh ninh rằng bọn Trần Di Ái đã chết trong đám loạn quân. Có điều lạ là Sài Thung không tìm cách quay lại đất Trung Quốc, mà lẫm lũi tiến th cách quân áp sát y.
Khi mặt trời đã lên tới đỉnh đầu, cũng là lúc y quá mệt nhọc. Bởi sâu trận phục kích bất ngờ quan bỏ lính, tớ bỏ chủ chẳng còn ai võng, cáng y nữa. Cái bụng y to, cái chan y ngắn, lại chạy tụt mất cả giầy, hai bàn chân mũm mĩm bị đất đá, gai sỏi chà sát rơm rớm máu tươi. Y nhìn trước ngó sau, không thấy có một tên quân Mông Cổ nào chạy th y.
Sài Thung rất đỗi hoang mang. Y tự nghĩ: Chẳng nhẽ binh lính của thiên triều bị cái lũ man di này giết hết cả rồi sao? Chẳng nhẽ hang ngàn thiên binh thiên tướng bon Nam man này dung quỷ kế bắt hết rồi sao? Giữa lúc y muôn phần bối rối thì may thay, cái quạn dịch nơi tiếp sứ của quan hiệp trấn vùng đại đầu biên ải đã gần kề. Sài Thung bèn ngồi phệt xuống không chịu đi nữa. Quân lính Đại Việt được lệnh áp sát y chư không doạ nạt, quat lác, đánh đạp. Nhưng cũng không để cho y sai khiến.
Một lát sau, quan hiệp trấn ngựa xe võng lọng, tiền hô hậu hét từ nhà quán dịch tiến về sứ đoàn thiên triều.
Ở cái trấn biên thuỳ lại có cửa quan thong với nước lớn Đại Nguyên, viên hiếp trấn thường nhãn mặt các sứ đoàn Nguyên Mông. Vì vậy vừa nhìn thấy Sài Thung, quan hiếp trân không nhịn được cười, phải quay đi vờ đưa tay áo thụng lên che miệng. Thật không ngờ, quan chánh sứ nhà Đại Nguyên, chân không giầy, áo quần rách mướp mã đại thần có hai cánh chuồn thì rời mất một, còn một chiếc thì quay ngược về hướng trước. Mặt mũi quan chánh sứ bị gai cào rớm máu. NMom quan lớn thiên triều y hệt một tên hề. Bấm bụng để khỏi bật thành tiếng cười, quan hiệp trấn làm ra vẻ nghiêm trang xuống kiệu, bước về phái quan chánh sứ nhà Đại Nguyên, nghiêng mình thi lễ.
Không hiểu vì tức giận hay vì xấu hổ, Sài Thung liền quay ngoắt mặt đi. Một lát sau, chừng như đã trấn tĩnh, y liền quát:
- Vua tôi nhà các ngươi to gan lớn mật, dám phục binh chống lại sứ giả thiên triều.
Quan hiệp trấn Đại Việt ôn tồn đáp:
- Bẩm đại qua, tôi phung mệnh triều đình, rước đại quan về nghỉ nơi dịch quán.
Sài Thung hầm hầm tức giận bước lên kiệu. Lũ tuỳ tùng nghênh ngáo đi th.
Bỗng một hồi chiêng nổi lên, người ém từ trong rừng ùa ra, cờ quật, tàn lọng màu sắc rực rõ, cùng đồ tế khí vàng son lấp loá hoà với tiếng trống, tiếng chiêng nổi lên ầm ầm. Không khí rõ ra một ngày hội. Đám quân kiẹu, quân rước, áo nâu nẹp vàng, tề chỉnh. Khuôn mặt ai nấy đều hân hoan. Và những dũng sĩ đánh song đao cùng con kỳ lân cứ vờn trước kiệ của Sài Thung ném ra những lời chúc mừng kính cẩn: “ Sài Trang khanh thiên tuế! Thiên tuế!...”
Nom bộ mặt xây sát, bầm tím, mũ áo rách bươm, xộc xệch với dáng điệu vênh váo kệch cỡm của Sài Thung trên kiệu, với cách tiếp rước th nghi lễ trang trọng cảu quan biến trấn, khiến ai nhìn cũng phải bưng miệng cười.
Vào nghỉ trong quán dịch tới xế chiều, vừa đói mệt, vừa uất ức căm giận, xấu hổ, Sài Thung cứ mong ngóng mãi không thấy một đại thần nào của triều đình nhà Trân lên biến trấn tiếp rước, cũng chẳng thấy viên quan bản hạt dâng cơm rượu.
Tới mức không chịu được nữa, Sài Thung đập phá quát tháo. Lính hầu của quan hiếp trấn ló vào, bị Sài Thung vơ lấy khay trà đánh lên đầu toé máu. Người linh ôm đầu chạy. Lát sau yên ắng, quan biên trấn áo mũ chỉnh tề bước vào, nghiêng mình sá Sài Thung.
Sứ giả thiên triều đập án quát:
- Nhà ngươi láo thật! Định bỏ ta chết đói ở cái xó này phỏng?
Quan biên trấn làm ra vẻ run sợ:
- Bẩm đại quan, bản chức đã sửa soạn cơm rượu đầy đủ ngay từ khi đại quan mới tới. Nhưng không thấy đại quan cho gọi, nên bản chức không dám tự tiện.
- Quân láo thật, dám dỡn cả sứ thiên triều.
- Bẩm quan lớn, đó là tục nước chúng tôi. Kẻ dưới phải kính cẩn với người trên. Nếu bề trên không cho gọi hỏi, kẻ dưới đều không dám tự tiện.
- Được rồi, ta cho phép người dâng cơm.
Một mâm cỗ đầy, với hai tầng bát đĩa, lập tức được bê vào. Nom có vẻ ngon, nhưng nguội ngơ nguội ngắt, ruồi bâu đầy. Loáng thoáng đã có con ngã vào âu canh. Cơm thì rắn và đóng vầng đóng choc. Rõ là một mâm cơm thịnh soạn, thuần những đồ sơn hào hải vị. Nào gân nai, nấm thả, nào hải sâm, yến sào. Vậy mà quan chánh sứ không nuốt nổi. Bởi càng nghị càng uất. Mang danh một trọng thần của thiên quốc mưu cao, chước lạ vừa mới đem rat hi thố đã bị bon “ man di” làm cho sập đổ. Bây giờ không biết số phận của một ngàn tên quân Mông Cổ, bón ngàn tên quân tân phụ ra sao. Bọn lính tân phụ chẳng kể làm gì, chứ đám quân Mông cổ kia mà bị nguy hại thì còn gì là uy danh thiên triều. Và chắc chắn là Hốt-tất-liệt sẽ không để cho y sống yên ổn. Lại cả đám triều đình do y dẫn từ đại đô về cũng bị giết chết hết, không còn một mống nào. Bây giờ kiếm đâu được một đứa ra hồn để vẽ mặt, đặt nó lên ngôi quốc vương An Nam.

Còn nữa …….
Đăng nhập để trả lời
0
Tiếp chương 2 :

Hết nghe tên Hán gian hoạnh hoẹ lại nhìn nó dằn bát đũa trên mâm cơm, quan hiệp trấn thừa biết y đang nuốt phải mật đắng của quân dân Đại Việt. Onng thầm kính trọng đức Hưng đạo điều binh khiển tướng thế nào, mà mỗi bước quân kia đi là đúng vào diệ kế của quân mình. Thoạt tiên, ông được Hưng Vu vương cho hay mật chỉ của triều đình, là ông với danh nghĩa quan biên trấn, phải lo tiếp rước sứ nhà Nguyên long trọng. Nhưng phải rang che tai, bịt mắt Sài Thung và đán tuỳ tùng của hắn. Tuyệt nhiên không để chúgn dòm ngó vào được kho tang của ta, binh lực của ta. Đường ngang lối tắt của ta, một bước cũng không cho y lui tới. Bở vậy, quan biên trấn đã nghĩ ra cách mở hội đón y. che mắt y bằng cờ quạt, tàn lọng, và người chen người suốt dọc đường chúng đi. Bịt tai y bằng tiếng trống, chiêng, hò hát. Nhưng thảm chại cho viên chánh sứ, là hắn đang đau như hoạn, vẫn cứ phải gượng sầu mà lên mặt vênh váo.
Trong khi hắn đang lo són máu, thì Hưng Vũ vương hả hê vì đã làm được đúng như ý cha mong muốn. Nghĩa là tướng quân phục binh quanh dải rừng, đã đào sẵn một cái hào rộng ngay chỗ giáp ranh biên ải. Đêm ấy chờ cho đoàn sứ giả vừa đi qua, chợt lũ người, ngựa quân Mông Cổ ập tới, vương cho nổ pháo đùng đùng. Ngựa nghe tiếng nổ và khói pháo cay sè hoảng hột nhảy chồm lên. Thế là người ngựa chúng no nhất tề lăn xuống hố.
Trời sáng rõ, lũ chúng nó những đứa nào còn sống sót lồm cồm leo lên bờ. Không thấy Sài Thung, như rắn không đầu, bền tìm đường cháy tháo trở lui.
Trận bang giao có vũ trang này của Sài Thung, được xem là một kỳ mưu ở đại đo Yên Kinh. Hốt-tất-liệt hết lời cổ suý. Vậy mà mới mấp mé biên thuỳ thôi, nó đã bị đại bại. Quân thì ôm đầu máu chạy về, tướng thì mặt mày xây xát ngồi đây, với áo quần mũ mão bờm rách, như một tên hành khất. Còn mấy con tốt bù nhìn Trần Di Ái và đồng bọn, bị trói giật cánh khuỷu giải về triều từ đêm trước rồi. Nay y ngồi đây, đợi triều đình ta cho người đón về Thăng Long. Y ngồi đây, hẳn là y đang toan tính một nước cờ khác, liều lĩnh hơn, hiểm độc hơn. Quan biên trấn mường tượng mối bang giao giữa hai nước, sẽ ngày một phiền toái thêm. Kẻ kia cậy thế nước lớn sẽ còn lấn tới.
Ông rùng mình nghĩ đến cảnh can qua.
Sài Thung lòng dạ bồn chồn, ắn uống không được, đứng ngồi không yên. Y vẫy gọi quan biến trấn lại hỏiL
- Bao giờ thì vua tôi nhà ngươi đến đây rước ta?
- Bẩm đại quan, tôi đã cho chạy ngựa lưu tinh về tâu triều đình rồi. Đại quan chờ cho dăm ba bữa nữa, chua công tôi sẽ có người lên rước thiên sứ về kinh
Những lời nói ngọt ngào bình thản đến lạnh lung của quan biên trấn càng như chọc tức Sài Thung. Đôi mắt y như hai cục lửa, cứ long lên song sọc. không kìm nén được, Sài Thung ném ra một giọng nói miệt thị:
- Dân di địch các người không biết lễ nghĩa. Ta chưa thấy một tiểu quốc nào lại dám nghênh đón sứ thần đại quốc như vua tôi nhà ngươi.
Quan biên trấn giận tên giặc già đến bầm ruột, vẫn vờ như không biết và dễ dàng đáp:
- Thưa đại nhân, ở nước chúng tôi từ loài trùng vô tri vô giác như con tằm, con ong, đều có nghĩa đối với người cho nó ăn. Nó giả tơ, giả mật cho người có công chăm sóc nó. Ở nước tôi trể con cũng biết con tằm “ đáo tử ti phương tận”. con chó, con ngựa là những vật nuôi trong nhà cũng trung thành với chủ cho đến lúc chết. Thật là khuyển mà chí tình. Nhưng con người, dù ở nước lớn hay nước nhỏ mà bất nghĩa bất nhân, thì đúng không bằng loài sâu bọ chó má thật.
Như giẫm phải tổ ong bò vẽ, Sài Thung hét lớn:
- Quân vô đạo! Ta đã boả dòng giống vua tôi nhà các ngươi không có lễ nghĩa.
- Đại nhân quá lời đấy. Chắc đại nhân nóng giận mà chưa kịp nghĩ chăng? Được biết đại nhân sẽ qua thăm nước chúng tôi, quốc vương tôi sai tôi phait túc trực để tiếp rước đại nhân. Khi đại nhân vừa tời đại đầu biên ải, chúng rôi đã kịp nghênh tiếp. Biên dân chúng tôi nô nức đi đón đại nhân vui như trảy hội. Đại nhân tới đâu, từ lão phu lão phụ tới bọn mục đồng đều kính cẩn vái chào. Từ quan đến dân, chúng tôi đều tỏ lòng hiếu khách, không hề có một sơ suất nào. Đại Việt chúng tôi là một nước văn hiến lâu đời sánh ngang Hán, Đường, tưởng như văn hiến quí quốc cũng đến thế mà thôi. Hà cớ gì đại nhân khinh mạn nước tôi. Đại nhân có thể coi thường tôi, thậm chí khinh miệt tôi, nhưng chớ có động đến quốc thể chúng tôi. Quan biên trấn giận tới mức không thể kìm giữ được lời nữa. Mặt quan đỏ gay, lời nói phẫn uất, khiến Sài Thung chột dạ ngồi im.
Đúng lúc ấy bỗng vang rộn tiếng nhạc ngựa, tiếng quân rậm rịch ở phía ngoài. Rồi một người dong dỏng cao, mặt mũi tuấn tú, áo thụng tía, đại ngọc, mũ bình thiên, chanmang hia đen thêu đôi phượng đỏ, tiến vào dịch quán. Người ấy nghiêng mình thi lễ:
- Bản chức có lời chào đại quan.

Liếc nhìn sắc diện và y phục Sài Thung, mặc dù đã được đám lieu thuộc quan biên trấn bẩm báo từ trước, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải không khỏi giấu mặt cười thầm. Để cho sứ thần thiên triều đỡ mất thể diện. Chiêu Minh bèn dâng bức điệp văn uý lạo của quốc vương Đại Việt, và một chút quà biếu. Nhìn nét mặt Sài Thung đọc bức điệp văn có hơi vui một chút. Chiêu Minh vương truyền cho khiêng vào trước Sài Thung hai hòm quà biếu. Một hòm đựng đầy y phục dại quan may theo kiểu phương Bắc. Hòm kia thuần các đồ vàng bạc như bộ đồ trà bằng bạc trạm. Một bộ chén ngọc nạm vàng. Một viên ngọc minh châu to bằng quả trứng chim sẻ, đựng trong hộp vàng. Và một cặp ngà voi, cùng một trăm nén vàng ròng.
Chiêu Minh vương sai viên nội nhân bày quà cáp lên kỷ. Đám quà cáp chàng chồng chất cao bao nhiêu, thì gương mặt Sài Thung càng tươi tỉnh lên bấy nhiêu, Cuối cùng các vết nhăn trên khuôn mặt vốn đầy sát khí kia, như cùng một lúc giãn ra hết, và một nụ cười đầu tiên của Sài Thung đã nở trên đất Đại Việt. Y quay lại về phía Trần Quang Khải, hơi nghiêng đầu đáp lễ.
- Ta có lời chào quan tướng quốc thái uý. Và y thầm nghĩ: “ Vậy là cha con Nhật Huyền cũng đã biết điều. Đã cử viên quan đầu triều đến tận biên trấn rước ta. Và với món lễ này – Y lại nhìn xuống đống châu báu, vàng bạc – cũng tạm được”.
Tướng quốc thái uý bèn mời Sài Thung sang nghỉ tại dinh quan biên trấn, để ngày mai lên đường về Thăng Long.
Trước sự tiếp đón long trọng của quan tướng quốc, lễ lạt lại ưu hậu, Sài Thung đã có phần nào nguôi ngoai. Chặng đường từ biên trấn về tới Thăng Long nếu đi ngựa mất bảy ngày. Nhưng lấy cớ để bảo trọng quan chánh sứ thiên triều, Trần Quang Khải sức cho quan biên trấn phải cho lính cáng. Suốt chặng đượng đi cáng mật hai mươi ngày, cứ ngày đi đêm nghỉ. Sài Thang nằm cáng trước, Trần Quang Khải nằm cáng sau, hai người trò chuyện vui vẻ lắm. Đêm đêm lại cùng ngủ trong các dinh hay trong dịch quán> hai bên đã có phần nào hiểu biết nhau thêm. Tuy đi bộ, nhưng suốt dọc đường, sứ thiên triều như bị bưng tai, bịt mứt. Lộ trình chỉ đi th một đường thẳng, hai bên rừng núi ken đầy. Thảng có đường ngang đường rẽ, ngã ba ngã tư đều đã được tròng kín các loại cây cối và dây leo. Dù là người trong vùng cũng khó nhận ra, huống chi bọn ngoại nhân từ Yên Kinh tới.
Khi về đến dinh an phủ sứ lộ Kinh Bắc, thì ý đồ của Sài Thung rõ dàn. Y nhất quyết phải tìm một người nào để thay thé Trần Di Ái. Sài Thung bền mở một nước cờ thăm dò, y nói:
- Ta vẫn nghe danh quan tướng quốc thái uý, nay được tiếp kiến, ta rất lấy làm cảm mến.
- Đa tạ đại nhân. Biết kẻ kia đang giăng quỷ kế. Trần Quang Khẩi dè dặt đáp. Và ông cũng tương kế tựu kế hỏi luôn:
- Đại nhân từ thượng quốc tới nước tôi lần này, chẳng hay thiên tử có điều chi dạy bảo vua tôi nước chúng tôi?
- Ta sao biết được ý thiên tử. Tất cả đều ở trong tờ chiếu được niêm phong rất cẩn thận, ta vẫn giữ đây.
Khí hậu phương nam thật lạ kỳ. Ban ngày thì nóng hầm hập mà đêm xuống, khí rừng khí núi loãng tan ra buốt lanh tê tái khiến Sài Thung dù đã mặc áo Hồ cừu, tay ủ trong lồng ấp vẫn thấy rét rung. Trần Quang Khải truyền đóng kín các cửa dinh lại, và cho đốt thêm ba lò than. Rượu hâm nóng. Thịt nai nướng mở cháy xèo xèo. Hơi bay thơm phức. Không khí ấm nóng cùng với mùi thức ăn, mùi rượu làm cho con người quên bớt nỗi mệt nhọc. lo âu. Chỉ có hai người thù tạc, bọn quân hầu, nội nhân thấp thoáng ở phía ngoài chờ sai bảo. Các bọn tuỳ tùng của quan tướng quốc và quan chánh sứ, căn uống khu biệt ra một nơi.

còn nữa....
Đăng nhập để trả lời
0
Tiếp chương 2.....

Quan tướng quốc người cao dỏng, mắt sáng, lông mày rậm, dài quá đuôi mắt, mũi thẳng, đôi lưỡng quyền rộng, cằm vuông, môi đỏ, da mặt tươi nhuận. Dáng người nhanh nhẹn, cứng cáp, đi đứng uy nghi. tiếng nói trầm mà vang. Trời đêm tuy lạnh, nhưng quantướng quân đã quen khí hậu nên chỉ vận lót trong mình một mảnh giáp hộ tâm sau lần áo kép ngắn, bên ngoài phủ thêm chiếc thụng gấm màu tía, ngực thêu hổ phù và chiếc đai thêu hai con phượng vờn viên ngọc quí, thắt hờ.
Sài Thung có dáng điệu riêng của một người miên nam Trung Quốc. Ông ta mập mạp hơi lùn vì cái bụng quá to. Nom từa tựa một cái thùng hình vuông. Được cái dáng đi khoan thai nhưng đầu lại cúi, như một người chỉ thích ngắm đôi chân mình. Sài Thung có cặp mắt híp. Khi nhướng lên lại hơi trố, và cặp lông mi thưa, tạo thành nửa vòng tròn nom ngồ ngộ như một chiếc lỗ đáo. Mắt ông ta thoạt nom thì tròn, kỳ thực lại gồ ghề, bởi đôi lưỡng quyền thịt nổi lên thành múi. Nhẽ ra với gương mặt ấy, Sài Thung phải có cái mũi hình củ tỏi mới tương hợp, Song tạo hóa lại đặt vào đõ một chiếc mỏ chim ưng, khiến tướng ông ta bị phá cách nặng nề. Sài Thung có nước da tai tái, giống như cặp môi đầy của ông ta. Nom gương mặt lúc nào cũng khó đăm đăm. Ông ta có giọng nói hơi lạ, các âm tiết như phọt ra từng cục từ cổ họng cùng nước miếng phun ra như mưa phùn. Ông ta ăn uống nhồm nhoàm, vừa nhai vừa nói. Khí nóng lò than, cùng rượu và thức ăn, đã làm quânchnhs sứ nóng bừng. Ông hé mở hàng khuy ngoài chiếc áo cừu. Một lát lai phanh cả vạt mấy chiếc áo bên trong, khiến bộ ngực ông ta lộ ra như một súc thịt trâu còn nguyên bì, vì nạm lông đen rậm phủ kín cả một vùng ức.
Sài Thung mượn chén để tiếp nối cuộc thăm dò. Y nói:
- Quan tướng quốc ạ, thiên tử rất mến tài ông, mong có dịp được trọng dụng.
Trần Quang Khải tuy lượng ăn uống không kém Sài Thung, nhưng ông vẫn ung dung bình thản. Biết bụng kẻ kia càn dỡ, ông lấy lòng ngay chính khiêm nhường đáp:
- Tôi chắc đại quan hơi quá chén, nên có sự nhầm lẫn chăng? Tôi là kẻ bất tài được vương huynh tôi đem lòng yêu, nên cho tập sự chức quan nhỏ, ngày đêm lo sợ. Vả lại, Đại Việt tôi là một tiểu quốc ở mãi nơi cuối biển cùng trời, thiên tử lo việc lớn bên đại quốc, người còn tai mắt nào để ý tới lũ chúng tôi.
Sài Thung vờ làm ra giận dữ, ông ta ngừng nhai, nhìn thẳng vào hai mắt Trần Quang Khải xem Sài Thung lúc này không hơn một con vật được nuôi nhốt, và được chăm sóc chu đáo. Quan tướng quốc bụng bảo dạ: “ Tướng mại tham bẩn, gian hùng, phản trắc. Người này dám làm tất cả mọi việc, trừ việc nhân nghĩa”.
Nhìn gương mắt kiên nghị với tư cách đượng hoàng của tướng quân Trần Quang Khải, Sài Thung thầm nhủ: “ kẻ này khó chinh phục đây”.
Vẫn bộ mặt nghiêm lạnh, giọng nói cục cằn, thô lỗ, cậy thế nước lớn, y nói:
- thiên tử thế thiên hành đạo. Việc gì xảy ra dưới cái vòm trời này mà thien tử chẳng quan tâm. Tay chân của thiên tử ở khắp mọi nơi, kẻ nào hay dở, xấu tốt gì mà thiên tử không biết. Thật tình, mấy lần qua lại Thăng Long, ta có để mắt tới ông. Tất cả những gì mà ta lưu tâm, ta đều tâu thiên tử. Vì vậy, trước khi ta đi, thiên tử có gửi lời úy lạo ông.
- Đa ta đại nhân, Quang Khải tôi vốn hiếu kỳ, dám xin đại nhân bỏ qua. Chẳng hay từ khi thiên tử đại định xong Trung Nguyên, ơn mưa móc đã nhuần thấm đến mọi nhà chưa?
- Onng hỏi ta điều ấy mà không sợ mang tội bất kính sao? Các ông ở xa thuộc dòng Di, Địch thiên tử còn mong ân, huống chi dân Trung Nguyên.
- Vậy chớ lần này đại nhân đem ơn riêng gì của thiên tử cho Đại Việt chúng tôi?
- Thiên tử hạ cố cho An Nam điều gì đã có ghi trong chiếu thư gửi Nhật Huyên. Riêng ông, ta có chút hậu tình, muốn tiến cử để thiên tử phong cho ông làm An Nam quốc vương. Nói xong, Sài Thung tự tay rót đầy hai chén rượu, và tiếp – chức ông đời đời vinh hiển.
Trân Quang Khải giận tái mặt, ông đã toan thoi cho tên Hán gian này một quả thôi sơn cho hả dah. Chợt nghĩ đến thế nước, ông phải nén lòng, nói dằn từng tiếng một để lấy lại sự bình tâm:
- Chắc đại nhân hiểu tôi thuộc dòng dõi nào? Giàu sang phú quý mà làm gì? Ngôi cao lộc trọng mà làm gì? Tiên quân tôi xưa chỉ biết lấy xã tắc làm trọng. Còn ngôi báu, Người không coi hơn chiếc áo tơi của bọn nông phu.
Sài Thung cười khẩy.
Hôm sau, Trần Quang Khải dẫn Sài Thung đến bến đò sông Thiên Đức ( Sông Đuống ngày nay), y nhất định không chịu đi cáng nữa mà đòi đi ngựa. Quang Khải biết y trở mặt. Ông cho lính chạy đưa tin trước về triều.

Hết chương 2.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 3:

Khi Sài Thung chưa vào tới Thăng Long thì triều đình Đại Việt đã nghị án xong xuôi bọn Trần Di Ái. Công việc được giữa kín như bưng, trong ngoài không ai hay. Vì vậy Sài Thung vẫn đinh ninh rằng lũ Di Ái đã chết trong đám loạn quân.
Trần Di Ái đáng tội chết. Đi sứ để nhục mệnh vua. Nhưng thương tình là người quốc thích, Di Ái vẫn bị đồ làm binh khap giáp ở Thiên Trường. Bọn tùy tùng như Lê Mục, Lê Tuấn cũng bị đồ làm Tống binh. Tức là cho gia nhập với những nhà Tống lưu vong sang ta, được phiên thành đội ngũ, dưới sự sai khiến của Triêu Văn Vương Trần Nhật Duật. Mà Trần Nhật Duật đang trấn thủ mạn Đà Giang. Vậy là lũ Trần Di Ái coi như bị lưu đầy viễn châu.
Lại nói về Trần Hưng Đạo, sau khi cắt đặt công việc cho các con và bọn gia tướng cùng môn khách, ông lên đường về kinh vừa kịp tham gia việc nghị án Trẩn Ái
Một hôm từ Quốc phủ ong sang cung Thánh từ vấn an thượng hoàng Trành Thánh Tông. Nhân có quan gia đến chầu, ông xin bệ kiến để tâu việc cơ mật.
Lúc này điều hành công việc triều chính, thực đã ở tay Nhân Tông. Song Thánh Tông vẫn luôn xem xét giám sát. vì vậy, ông xin được tâu trình để cả hai vua cùng biết.
Hưng Đạo là con Yên sinh vương Trần Liễu, về thứ bậc, ông là an hem con thúc bá với thượng hoàng Trần Thánh Tông, Thánh Tông phải gọi ông bằng anh. Còn Nhân tong lại là con rể ông. Tính tôn tọc là như vậy, nhưng ông giữ lễ vua tôi rất nghiêm cẩn.
Ông vừa quỳ lạy thượng hoàng xong, Nhân Tông đến, ông lại lạy quỳ. Nhưng cả hai cha con Nhân Tông đều nâng ông dậy, và xin được miễn lễ. Nhân tong nói:
- Trình bá phụ, (Nhân Tông thích xưng hô như vậy hơn là quốc trượng), lễ vua tôi là ở nơi thiết triều. Còn bây giờ ở nhà thì phải theo lễ cha con, bác cháu.
Hưng Đạo vuốt râu cười, thông thả đáp:
- Quan gia thể tình mà rộng lượng, ấy là quyền ở quan gia; còn đạo làm tôi. Quốc Tuấn này đâu dám trái. Ấy tính Quốc Tuấn là như vậy, ông không ưa sự sàm sỡ. Vì sàm sỡ làm cho con người dễ xuề xòa mà lỗi đạo.
Tận đáy lòng mình, Quốc Tuấn cũng rất muốn được biểu lộ tình an hem, tình cha con cốt nhục. Hiềm có sự nghi kỵ ông đem long kia khác, vì mối thù cha ông và Trần Thái Tông, nên ông càng phải giữ gìn. Lại nhớ hồi năm Bính thin, Vũ Thành vương Doãn đem cả nhà trốn sang Tống, ông suýt bị liên lụy. Có người hỏi ông: “ Sao đại vương không lo giữ mình?”. Quốc Tuấn bèn đáp: “ Tôi lo giữ đạo để giữ mình?”. Đó là ý ông muốn bày tỏ lòng trung thuận với dòng thứ.
Phân định lễ vua tôi xong, quốc Tuấn liền nói:
- Tâu thượng hoàng cùng quan gia, lần này Quốc Tuấn tôi về triều kiến, là để tường trình việc thu góp binh, lương của ta, và việc tèn luyện quân sĩ chờ lênh sai khiến.
Thượng hoàng Thánh Tông từ sau cuốc chống Mông – Thát xâm lấn bờ cõi năm Đinh tỵ, đã hiểu được long cô trung của Hưng Đạo. Nhà vua vì thế càng quý trọng người anh họ và cũng là người anh vợ mình.
Thánh tông hiểu những việc tận tâm báo quốc của Vương, chính là sự hóa giải mối thù hiềm khích giữa hai dòng trưởng và thứ. Chính nhà vua tự mình đi lại thăm hỏi Quốc Tuấn, khi thì ghé nơi Quốc phủ, khi đến tận thái ấp Yên Sinh. Tình an hem từ đấy đã có phần bớt căng thẳng. Song Quốc Tuấn vẫn một long thủ lễ vua tôi.
Lần này Quốc Tuấn lại kinh, thượng hoàng mừng lắm. Bởi thế nước bị uy hiếp nặng nề. Mà Quốc Tuấn lại là một tướng tài kiệt hiệt, trong tay nắm giữ tới nửa số binh lực cả nước. Môn khách đầy nhà, thuần những bậc hào kiệt, văn võ kiêm thông.
Sauk hi nghe Quốc Tuấn tâu bày, hai vua đều lấy làm đẹp ý võ về mãi không thôi. Đại ý Nhân Tông nói:
- thế nước hưng lên được, phải nhờ vào bậc tể thần lương đống như quốc phụ
- Đa tạ, Ấy là nhờ hồng phúc của tổ phụ, và ân đức của bệ hạ. – Quốc tuấn khiêm nhương đáp. Và ông hỏi thêm:
- Tâu bệ hạ, chẳng hay có tin tức gì từ Đại đo đưa về không?
- Trình Quốc p9hụ, Nhân tông đáp – người của ta từ Kinh Hồ hành sảnh, từ Yên Kinh về đều nói:
“ Hốt-tất-liệt đang chuẩn bị đánh ta gấp lắm. Chỉ mùa thu này là phát binh”. Nói xong, nhà vua rút trong tay áo thụng ra một phong thư, hai tay kính cẩn đưa cho Trần Hưng Đạo.
- Quốc phụ xem, trong này nói tường tận lắm.
Trần Hưng Đạo đỡ lấy bức tấu thư mở ra đọc. Ông kinh ngạc về những tin tức ông thu được qua con đường riêng, cũng trùng khớp với lời lẽ trong mật thư. Vật là không còn nghi ngờ gì nữa, Hưng Đạo ôn tồn nói với hai vua.
- Tâu thượng hoàng cùng quan gia. Ta phải lo tính cấp kỳ, kẻo hối không kịp. Lực của ta, tuy vậy vẫn còn mỏng lắm. Thần nghe tin tức bên Đại đô nói: “ Hốt-tất-liệt sẽ phái năm chục vạn binh, đích thân thái tử Thoát-Hoan thống lĩnh để đi đánh Đại Việt”.
Thánh tông trầm mặc, Nhân tông liền hỏi:
- Bẩm quốc phụ, vậy theo ý quốc phụ, ta còn cần bao nhiêu binh nữa thì mới tạm đủ dung?
Quốc Tuấn ve vuốt chòm râu bạc, ông chậm chập, dường như ông còn cân nhắc từng ý trong đầu:
- Xin quan gia cho huy động gấp đôi số hiện có. Tức là phải thêm hai chục vạn binh nữa. Điều này thần đã suy đến cạn nhẽ. Việc binh tốn kém lắm. them binh, tức là them lương thảo, khí giới, lại mất người đi cày, cuốc nơi đồng ruộng. Ngay người nông phu, khi bứt khỏi gia đình thôn ấp, bỏ lại nào vợ đại, con thơ, cha già, mẹ yếu, héo hon cả ruột gan chứ họ vui thú gì.
- Vẫn biết thế - Thánh tông nói. Lòng vương huynh thương dân như con. Nhưng nếu không bắt dân làm việc binh thì anh em ta biết tính sao?
- Cái chính là ở chỗ “ biết tính sao” như thượng hoàng nói đó. Theo ý thần, trần đình phải có chính sách vỗ về trăm họ, khiến cho các vương hầu, các chủ điền trang, thái ấp tự mình tăng them số gia binh. còn đám nông nô, nông pu cũng phải được ân huệ gì đối với cha mẹ, vợ con họ. Điều quan yếu hơn nữa là binh sĩ phải ra công rèn luyên tinh thông võ nghệ. Lại phải có òng kiêu dũng nữa, thì lâm trận mới thủ thắng được. Cho nên việc dụng binh, cần tinh chứ không cần nhiều.
Với vẻ băn khoăn, Nhân Tông nói:
- Quả như lời Quốc phụ, việc binh tốn kém lắm. Con chỉ ngại nhọc sức dân. Xin thượng hoàng cho ý chỉ, ròi con sẽ quyết. Nhân tông vừa nói tới đó thì có người ào vào. Với gượng mặt tươi cười, đoi mắt sáng như sao. Người ấy quỳ trước thềm điẹn, giọng nói oang oang:
- kính lạy thượng hoàng! Kính lại quan gia! Kính chào Vương gia. Thần xin được điện kiến.
Nghe tiếng nói, mọi người đã biết là ai rồi. Nhân tôn vội chạy ra thềm, nâng người đó dạy và nói:
- Sư phụ, đây là gia đường. Sao sư phụ quá thủ lễ với cha con cháu làm vậy.
Thánh tông lật đật nắm tay Trần Quốc Trung nói:
- Sư huynh về triều lâu chưa?
Hưng Đạo vương cũng đứng dậy vái:
- Vương huynh vẫn bình an chứ?
- Đa tạ, Trung này có bao giờ đau yếu gì đâu. Trần Quốc Trung vừa nói vừa cười tíu tít.
Hưng Đại lại hỏiL
- chẳng hay vương huynh ở Hồng lộ hay ở Tịnh ấp về triều?
Quốc Trung cười phá lên:
- Giời ơi! Hốt-tất-liệt đánh đến đít rồi mà vương gia còn hỏi ta ở ấp Tịnh Bang mà tu Phật chăng? Ta ở Hồng lộ về. Nhưng Trung này xin với hai vua và vương gia, “cứu khổ cưu nạn” xong, lại về Tịnh Bang ấp vui với đạo Thiền.
Cả bốn anh em bác cháu đều cười xòa.
Nhân Tông dâng Tuệ Trung một chén trà. Nhà vua hỏi:
- Thưa sư phụ, khi thiền khi tục thế này bao giờ sư phụ mới thành Phật?
Tuệ Trung đỡ lấy chén nước, đáp:
- Sao lại không. Xuất nhập thế đều tại tâm cả. Ta dứt việc kinh sách để đi cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh – đồng bào của ta. Ta tham gia diệt trừ cái ác tức thị tâm ta là tâm Phật rồi, lo gì thành hay không thành Phật? Vả lại tat u để đạt tới cõi thiện, chứ ta có cầu làm Phật đâu.
Chuyện dang vui thì Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hâu ra vấn an hai anh. Bà hết nhìn Quốc Trung lại nhìn Quốc Tuấn. thấy Quốc Tuấn ít tuổi hơn, nhưng râu tóc lại bạc hơn Quốc Trung, bà biết là ông đang quan hoài đến thế nước. Bà thương anh đến xót xa. Một lát, đám quan nội hầu dâng ngự thiện
Vừa vào tiệc, Thánh tông liền nói:
- Bữa nay vui quá. Chẳng mấy khi được tiếp hai vương huynh. Nhân có Thiên Cảm hoàng thái hậu đây, xin hai huynh và quan gia bỏ lễ vua tôi mà th tình anh em thuần pghát, cho vui vẻ thân mật.
- Vương thượng nói chí phải. Hoàng thái hậu đế theo.
- Vậy thì cắt một người làm tửu lệnh. Bữa nay xin cứ vui cho thỏa thê. thánh tông cởi mở hết long.
Quốc Tuấn nghiêm mặt nói – Tạm bỏ lễ vua tôi trong bữa tiệc vui vầy tình anh em tôn tộc, thần cho đó là một đặc ân của hoàng thượng. Nếu lại còn cử tửu lệnh nữa, thời thần không dám vâng th.
Ai cũng biết Quốc Tuấn là người nghiêm chính, ông đã nói là làm, nên không ai bàn đến việc cử tửu lệnh nữa.
Bữa ăn thật là vui. Bởi Thiên Cảm biết tính chồng, con và hai anh thích ăn những món gì, nên bà đã đích thân côi sóc việc nấu nướng, bà lại ngồi xế ra một góc nhìn mọi người ăn, và sai đám quan nội hầu, bưng bê tiếp những món nào mà các vương ưa dung. Thấy chônngf con và hai anh ăn uống ngon lành, trò chuyện vui vẻ, long bà như mở hội. chợt nghĩ Tuệ Trung ăn các thức thịt cá chẳng kém gì Quốc Tuấn và Thánh tông, Nhân tông, bà liền hỏi.
- Anh Quốc Trung tu Thiền mà ăn thịt thì thành Phật sao được?
Tuệ Trung cười đáp:
- Phật là phật, anh là anh. Anh chẳng cần làm phật, phạt cũng chẳng cần làm anh. Cô có nghe các bậc cổ xưa nói: “ Văn thù và Văn Thù, giải thoát là giải thoát đó sao?”. Vả lại, nếu bằng sự ăn chay mà thành Phật, chẳng hóa ra loài thủ ăn cỏ sớm thành Phật hơn loài người chăng?
Thiên Cảm không hỏi gì them nữa. Nhưng Nhân tông rất trọng thị lời đáp của Quốc Trung. Nhà vua cho rằng đó mới là người tu đạo chân chính. Bở việc tu đạo là cốt ở tu tâm, chứ đâu phải vì chỗ kiêng khen ấy mà thành đạo. Có nhẽ từ việc làm, nay lại nghe thêm lời nói của Quốc Trung mà Nhân tông ngộ đạo chăng? Chắc vậy. Bởi trong suột cuộc đời mình, nhà vua vẫn thường tôn Tuệ Trung là bậc sư phụ. Kíp đến khi lập thiền phái Trúc Lâm, thời Nhân tông cũng lấy việc tu tâm làm tông chỉ.
Bữa ăn đang vui vẻ, đang từ chuyện đạo, Quốc Trung hỏi sang chuyệ đời:
- Tôi nghe đại vương, Quốc Trung vừa nói vừa liếc nhìn Quốc Tuấn – đã bắt được lũ Trần Ái và Quan gia đã lưu đầy y đi viễn châu?
- Dạ, đó là nhờ uy đức của quốc phụ. NHân tôn khiêm ái đáp lời.


còn nữa …..
Đăng nhập để trả lời
0
Tiếp chương 3:

- Thế còn bọn Sài Thung thì sao? Chúng có bắt bẻ gì việc đại vương ta đánh tan đoàn quân hộ vệ lũ Di Ái?
- Bẩm bá phụ, chắc chắn là sẽ rầy rà với hắn đây? Hiện thời y còn bị chú Chiêu Minh kiềm chế trên đường đi bộ từ biên ải về. Nhưng mới sớm nay, chú Chiêu MInh cho chạy ngựa trạm về báo: “ Sài Thung nhất quyết đòi đi ngựa từ bến đò sông Thiên Đức về kinh”.
- Sao quan gia không nói cho ta hay từ sớm? Thượng hoàng nói.
- Trình phụ vương, tiếp sứ là việc nhỏ, con không muốn kinh động đến phụ vương, cùng quốc phụ và bá phụ. Dạ, tâu phụ vương, y đòi phải tiếp rước y với nghi lễ quốc vương. Và đích thân con phải ra bến Bồ Đề nghênh đón.
- Quân càn dỡ! Hưng Đạo buông mấy tiếng, vừa hàm chứa sự khinh ghét lẫn sự bực tức. – Vậy chớ quan gi đã làm gì để đáp lời y?
- Dạ,con đã cho đón y đúng với nghi lễ bang giao của một nước có chủ quyền. Việc con cử chú Chiêu Minh đi đón y, là đã có sự nhún một bước. Vì rằng, chú Chiêu Minh là trong hàng tam công, con y mới chỉ là tước hầu.
- Con xử thế là phải, Thánh tông nói. Nhưng chắc Sài thung không thể để chúng ta yên. vì rằng, việc vương huynh bắt bọn Di Ái, lại đánh tan đạo quân của nó, tức thị là phá tan mưu chước của nó. Làm cho bẽ mắt với Hốt-tất-liệt. Lại bởi y là người Hàn mà tước trật cao, thế nào cũng bị bọn người Mông Cổ khích bác kiềm chế.
Bỗng Tuệ Trung cười phá lên. Thánh tông nói:
- Sư huynh cười gì vậy?
- Ấy là Quốc Trung này buồn cười vì cái bọn Hán gian, đứa nào cũng giốngnhau. Từ cái thằng Tần Cối đền Trương Đình Trân, nay lại Sài Thung. Nó hạch sách ta để nịnh chủ nó hơn cả lũ chó săn. Liêu xem quan gia có nên tiếp rước nó, như tiên đế tiếp rước Trương Đình Trân năm Nham thân?
Mọi người cười ồ lên.
Số là năm ấy Trương Đình Trân đem chiếu của Hốt-tất-liệt đến Thăng Long. Thái tông đã đứng nhận chiếu vua Nguyên, chứ không chịu quỳ lạy. Tên Hán giân này buông lời hỗn xược:
- Nếu tâu việc này lên thiên tử. Mười vạn quân Vân Nam lập tức kéo sang, sẽ biến vương miếu thành gò hoang, vương đình thành cỏ mọc. Rồi y đòi Thái tông phải tiếp y theo lễ của tước vương. Thái tông cứng cỏi vặn lại:
- Chúng tôi tuy là nước bề tôi, nhưng thiên tử vẫn tôn trọng. Lạ thay, sứ giả của thiên tử phái đến đây lại thường là bọn vô lễ. Ông là quan Triều liệt, còn tôi là quốc vương, mà ông đòi lễ ngang tôi. Chẳng hay ông học sách nào? Phải chăng văn hiến lề luật bên quí quốc là như vậy?
Trương Đình Trân giạn run người. Y đặt tay lên đốc kiếm.
Trần Thái tông đập án quát:
- Quân bay!
Lập tức đám võ sĩ trong đội quân hổ bôn đã phục sẵn sau bình phong liền ào ra, kiếm tuốt trần đứng vây chặt lấy Trương Đình Trân. Y bị lột khí giới rồi dẫn về nhà công quán giamlỏng. Y bị bỏ đói, bỏ khát. Mỗi khi Đình Trân đòi uống nước, quân chỉ đem cho nước bẩn ngầu đục. Thấy vậy, y không uống. Đòi uống nước giếng.
Đám quân hổ bôn canh phòng hắn trả lời:
- Tục nước chúng tôi, nếu đã không ưa nhau, thường bỏ thốc đọc vào giếng để giết người.
Khát quá không chịu được, Trương Đình Trân đành phải hạ mình khẩn khoản:
- Ta khát lắm rồi. Cứ cho ta uống nước giếng, chết cũng cam, chứ nước bẩn ta không chịu nổi.
Đám lính cười khúc khích, thủng thẳng đáp:
- Tại lời nói của ông xú uế quá, làm nhiễm bẩn nước chúng tôi đấy. Bây giờ tìm đâu ra nước sạch cho ông uống.
Cuộc trò chuyện đang vui, bỗng có tiếng vó ngựa dẫm lộp cộp phía ngoài, rồi Chiêu Minh vương Trân Quang Khải bước vào sụp lạy.
Nhân tông vội chạy ra đỡ lấy Chiêu Minh mà rằng:
- Sao thúc phụ phải giữ lễ với cháu. Chẳng hay thúc phụ có được mạnh giỏi không?
Mọi người xúm quanh Quang Khải. An hem chú cháu chưa kịp đôi hồi, Quang Khải ngửa mặt lên trời cười sằng sặc:
- Sài Thung giở chứng rồi!
- Y giở trò gì, em nói ta nghe. Thượng hoàng Thánh tông nắm lấy tay Quang Khải hỏi.
- Tâu vương huynh. Từ biên ải về đến bến đò Thiên Đức, em vẫn dẫn Sài Thung đi cáng. Bỗng hắn trở mặt đòi đi ngựa. Em cho kỵ mã mang biểu về triều như vương huynh đã rõ. Khi tới Thăng Long, em dẫn y vào nhà công quán, nhất định, y không chịu vào, mà tế ngựa thẳng vào cửa Dương Minh, đòi vào đại điện gặp quan gia ngay. Quân thánh dực ngăn lại. Y lấy roi ngựa quất tóe máu đầu mấy tên lính. Nếu không có em ở đấy, thì đám quân thánh dực đã bắt trói y lại rồi. Em bèn dàn xếp để y đi khiêu qua cửa tò vò. Y nhất định không chịu. Y bảo:
- Bây giờ có mở toang cửa, rước ta đị ngựa vào, ta cũng không thèm nữa, mà phải bắc cầu vồng qua cửa Dương Minh lấy lối cho ta vào đại điện. Y còn hỗn xược đòi quan gia phải tiếp y với lễ của tước vương.
Trần Quang Khải nén dấu một hơi thở dài. Rồi tiếp:
- Nếu không nhùn nhường vì thế nước, chắc là Quang Khải này đã cắt đầu Sài Thung về dâng các vương huynh và vượng điệt rồi.
Thấy sự việc căng thẳng, Quốc Tuấn liền hỏi:
- Vậy thời Sài Thung hiện đang ở đau, xin chiêu minh tướng quân cho biết.
- Ô trời! Quang Khải kêu lên rồi lắc đầu –Thấy sứ trời càn dỡ quá, không chịu nổi, tiểu tường liền bỏ đấy, nhưng đã ngầm sai đám gia tướng áp sát y về nhà công quán. Để đến chiều tối, cho y thật đói, xem y có dịu bớt sự hung hăng, rồi Quang Khải này lại xin thì tiếp sứ trời.
Quốc Tuấn trầm mặc nói:
- Quan hệ hai nước lúc này mỏng manh như một sợi tơ trời. Xin thượng hoàng cùng quan gia và thái sự liệu bề khu xử cho tế vi. Phải nén long. Dù có phải dung tới mạt kế như Hàn Tín, Cẫu Tiễn để tránh cho quốc gia rơi vào nạn binh hỏa vẫn còn hơn. Can qua lúc này là thất lợi cho ta nhiều lắm.
Thấy một đại trượng phu, một hổ tướng kiêm thông văn võ như Quốc Tuấn, mà phải khuyên mọi người nhường nhín như vậy, đủ biết Quốc Tuấn phải nén long đến mức nào. Và cũng cho thấy, bên ta chưa đủ lực, chưa sẵn sang nghênh chiến được.
- Dù sao vẫn phải giữ gìn quốc thể, cháu là quốc chủ, không đến công quán vỗ về Sài Thung được. Lại phải phiền chú Chiêu Minh đi cho chuyến nữa. Nhân tông nói với tất cả sự dằn long. Thật quá sực chịu đựng với một đấng quân vương mới ngoài hai chục tuổi.

hết chương 3.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 4:

Trong lúc mọi việc đang rối bời, triều đình được tin cấp báo, lãnh chúa ngừoi Man ở Đà Giang là Trịnh Giác Mật khởi nghĩa binh làm loạn.
Nhân tông ban việc này bàn riêng với Quốc Tuấn:
- Họ Trịnh nối đời hưởng lộc triều đình. Nay nó trở mặt làm phản. Nếu không trị tội để làm gương cho các động, sách khác, e chúng khinh nhờn phép nước, xin quốc phụ cho hay việc này nên thế nào?
Trầm ngâm suy nghị giây lâu, Hưng Đạo nói:
- Người Man họ sống chưa có lễ luật, nhưng lại có lòng trung tín đối với ai là chủ của họ. Việc Trịnh Giác Mật làm phản, chắc có nguyên ủy sâu xa. Một là việc chăm sóc vỗ về của triều đình thưa vắng. Hai là sĩ tốt vô tình phạm phải các điều cấm kụ trong tôn giáo của họ. Ba là có kẻ xúi bẩy khích bác, nhằm chia rẽ họ với triều đình, để cho phên dậu của ta trống trải, kẻ thủ dễ bề nhòm ngó. Kẻ xúi bẩy, chia rẽ đây không ai khác ngoài bọn tay chân nhà Nguyên. Vậy nên phải xem xét cẩn trọng trước khi coi họ như cừu thù. Làm thế nào kéo họ về với triều đình được là thượng sách. Hơn bao giờ hết, lúc này phải cố kết được lòng dân. Xin bệ hạ, dù có phải xuất của kho cho dân họ, hoặc gia phong cho tù trưởng của họ thêm một vài phẩm trật, chớ có sẻn kiệm.
Nghe Hưng Đạo nói, gương mặt nhà vua cứ tươi nhuẩn ra. Phúc chốc bừng sáng lên. Đôi mắt nhà vua long lanh, như đang phát ra một thứ ánh sáng trong trẻo, ấm áp. Hưng Đạo vừa ngừng lời, nhà vua đã vui vẻ tiếp luôn:
- Được quốc phụ chỉ dẫn, lòng con bỗng thấy bình ổn. Đúng là không có quốc phụ, con sẽ bỏ đường sáng nghĩ đến việc tìm tướng giỏi phát binh mạnh đến đánh dẹp họ, để ra oai triều đình. Nhưng nay, đúng như lời quốc phụ dạy: “ Phải vỗ về họ, chiêu nạp họ”. Đúng thế, họ phải mãi mãi là phên dậu vững chắc để gìn giữ biên cương Tổ Quốc. Cho nên, con định cử chú Chiêu Văn lo giúp việc này. chẳng hay cao ý của quốc phụ...
- Bệ hạ trao việc ấy cho Chiêu Văn vương là phải. Thượng tướng tuy còn trẻ, nhưng kiến văn uyên bác, lại có lòng nhân, dũng, it ai bì kịp. Hơn nữa, Chiêu Văn vương vốn thông thạo phong tục người miền ngược, và thường có giao du với họ. Bệ hạ nên trao cho thượng tướng việc phủ dụ là chính. Vạn bất đắc dĩ mới phải đánh dẹp. Ngừng một lát, với vể ưu tư đau đáu. Cặp mắt Hưng Đạo nheo lại, như đang dõi nhìn một điểm vô hình nào đó thiên liêng lắm, khiến Nhân tông đã định hỏi thêm một điều gì đấy, lại thôi ngay. Bỗng Hưng Đạo lên tiếng:
- Tâu bệ hạ, có một điều, thần cứ cân nhắc mãi, liệu có nên nói. Giọng ông ngập ngừng.
Trân Nhân tông dự liêu, hẳn có việc gì tối hệ trọng, nên quốc phụ mới phải cân nhắc kỹ lưỡng thế. Để khích lệ đấng bề trên, nhà vua khẽ thưa:
- Trình quốc phụ, xin quốc phụ cứ thực lòng dạy bảo. Trên vì nước, dưới vì nhà, chớ có điều gì tư kỷ đâu mà quốc phụ e ngại.
Hưng Đạo lấy làm đẹp ý, ông vê vuốt mãi chòm râu rồi tiếp:
- Việc Trình Giác Mật làm phản, khiến thân vô cùng lo lắng. Thần đã tự xét định xem, chính lệnh của triều đình có điều gì hà khắc? Các quan đại thần thay mặt cho triều đình chăn dắt dân lanh, có gì khiên cưỡng bức bách họ? song lại tự trả lời. Miền Đà Giang, Tam Đái giang là phên dậu phía tây của triều đình, đã được cử các tướng giỏi như Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật, Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, sao lại có thể khinh suất về đối sách được. Tuy nhiên, xin bệ hạn cứ có nhời răn với Chiêu Văn vương, trước khi thượng tướng đem quân vào đất của Trịnh Giác Mật, Cứ th cho thần biết, người Man một khi họ đã thần phụ, thường không có sự vô cớ làm phản. Hiện nay, ngoài thì giắc Nguyên uy hiếp ta rất lớn. Nếu vạn nhất xảy ra việc chém giết lôi thôi ở Đà Giang, thần sợ không giữ được lòng dân ở các sách, động khác. Một khi phên dậu trống trải, sẽ nguy cho đại cuộc. Mong beej hạ hết sức cẩn trọng.
Những lời răn tâm huyết của Hưng Đạo như là một sự tâm truyền, khiến Nhân tông càng thêm kính cẩn với công việc.
Khi nhà vua giao trọng trách cho Chiêu Văn vương, người cũng nói lại tất cả điều mà Hưng Đạo vương băn khoăn...
Khi tiễn Chiêu Văn vương ra cửa khuyết, nhà vua tự tay trao dây cương ngựa cho thượng tướng, và nói:
- chúc chú mã đáo thành công.
- Xin bệ hạ yên tâm, Trần Nhật Duật thư thái đáp lời.
Trần Nhật Duật lập vương phủ ở gần cửa Đại Hưng. Nhà ông không lúc nào không có vài ba chục tânkhách. Thôi thì khách văn chương có. Khách cung kiếm có. Khách đàn địch xướng ca có. Lại cũng không ít khách nước ngoài. Nhất là một số cựu thần nhà vong Tống, thấy ông là người hào hiệp, lại thông thạo tiếng Hán, nên xin làm môn khách dước trướng để được ông sai bảo. Kể cả bọn mã phu, bọn chiến binh người tống cõng xin được làm gia binh hầu hạ ông, kể tới hàng ngàn. Và nữa các sứ bộ đến tiến công như Lão-qua, Châmp,Chân-lạp cũng qua lại nhờ ông thông dịch. Ngay cả những thương gia người Hồi-họt tời Thăng Long lập nghiệp, cũng lui tới nhờ ông chỉ bảo đôi điều. Thật ra, những người Hồi-hột họ đến nhà để thu thập tình hình Đại Việt, chứ không phải họ là dân tha hương cầu thực. Họ chính là tay chân và tai mắt của người Nguyên. Việc thượng tướng Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật tiếp xúc với người nước ngoài, khiến nhiều người dị nghị. Chuyện đến tại vua. Nhân tông đã có lần nhắc ông: “ Chú Chiêu Văn từ nay tiếp xúc với người nước ngoài, nên nói qua thông dịch. Để lỡ có sai sót thì cứ đổ cho thông dịch là xong”. Ông không dám trái lời. Nhưng mỗi khi người thông dịch, dịch không đúng ý ông, buộc ông lại phải nói trực tiếp bằng các tiếng nước ngoài. Vả lại thông dịch cũng chỉ nói được tiếng Hán thôi, còn tiến các nước, ngoài ông và Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, Chiêu Quốc Vương Trần Ích tắc không ai nói được. Nhưng Chiêu Minh vương và Chiêu Quốc vương cũng chỉ thông thạo được vài thứ tiếng, còn ông lại nói được rất nhiều thứ tiếng khác nhau. Nhất là tiếng các tộc người Man ở nhiều vùng trong nước, tiếng nào ông cũng thông thạo.
Đến Đà Giang, Trần Nhật Duật án binh bất động. Ông cho người đi hò xem vì sao Trịnh Giác Mật làm phản. Và ông tới các vùng bị Mật cho binh lính tàn phá. Ông úy lạo dân chúng. Và tùy theo sự thiệt hại nhiều ít, ông đem của kho ra chẩn cấp. Thảy đều nói rằng triều đình thấy dân tình khó khăn, nên trợ giúp. Của chẳng đáng là bao, nhưng được triều đình biết đến số phận từng người dân ở mãi nơi sơn laam cùng cốc, nên dân tình xôn xao cảm động lắm. Ở bản kia, có cụ già sống trên một trăm tuổi, bữa quân của Trịnh Giác Mật tràn qua, có tên lính trẻ ngỗ ngược giật mất chiêc khăn đội đầu của cụ. Biết được tin đó, Trần Nhật Duật đến tận nơi. Thượng tướng vào lễ trước bàn thờ nhà cụ để tạ lỗi. với cử chỉ kính cẩn, ông vái cụ già, rồi lấy chiếc mũ thượng tướng của mình trao cho cụ, cùng với một nén vàng ròng. thượng tướng nói:
- thân làm tướng, được triều đình cho coi sóc hạt Đà Giang, mà tôi không làm tròn trách phận, để bọ giặc xâm phậm đến tài sản và xúc phạm cả tuổi già của cụ, tôi tự thấy mình có lỗi, xin được đến tạ.
Cụ già cảm động sụp lạy. Cụ nói, nước mắt cứ trào ra ướt đẫm hai bên gò má dăn deo:
- Lão sống tới nay là một trăm mười sau tuổi Trời cho. Nhưng chưa bao giờ được thấy cảnh thằng con nít, chưa bằng tuổi cháu chắt mình, dám hỗn hào giật khăn, nói bậy với người già. Lão cũng sống bằng ấy năm, trải hai triều từ Lý đến Trần, chưa hề biết có một đại quan nào của triều đình chăm dân có đức đọ như ông. Ông là tướng, triều đình ban phẩm phục cho ông,, lão chỉ là một kẻ vô danh trong chốn lâm tuyền, đâu dám phạm thượng. Vừa nói, cụ già vừa đội lại mũ lên đầu cho Trần Nhật Duật.
Nhật Duật lại gỡ mũ ra khỏi đầu đáp:
- Tôi làm tướng của triều đình, không giữ được an bình cho dân, đến chiếc khăn đội đầu của người già còn bị bọn giặc lấy mất. Lý đương nhiên, tôi có trách phận phải bồi hoàn. Tôi xin hứa với lão trượng và dân bản, từ nay nếu tôi không đem ại được an bình cho dân, thì đầu tôi không bao giờ có mũ nữa. Lão thượng đừng lo, tôi sẽ tâu việc này về triều đình. Chắc hoàng thượng cũng y cho. Bởi nếu không thế, thì không còn gì là phép nước. Chẳng nhẽ, triều đình ban tước lộc, phẩm trật cho các quan, là cốt để di hu hí sao? Chẳng lẽ, có công thì được thăng thưởng, có tội lại lờ đi sao?
thấy lời nói của quan thượng tướng nghiêm chính, các cụ không thể từ chối được nữa, bèn nhận. Và xin với thượng tướng, cho dân bản được tôn thờ ngài làm phúc thần của bản. Và chiếc mũ kia, sẽ mãi mãi là hiên thân của thượng tướng với dân chúng trong vùng.
Nghe xong, Trần Nhật Duật rất lấy làm kính sợ. Nhưng đấy lại là lòng dân đối với người của triều đình, nên ông không dám chối từ. Năm ấy là năm Thiệu Bạo thứ ba đời Trần Nhân Tông, thượng tướng Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật mới có hai mươi sáu tuổi.
Việc ấy cứ một đồn mười, mười đồn trăm, chẳng mấy chốc đã vang dội khắp miền Đà Giang, khiến dân chúng càng vững tin ở triều đình.
Lại nói về Trịnh Giác Mật, khi được tin Trần Nhật Duật từ Thăng Long lên, trong lòng hết sức run sợ. Tiếp đến khi nhận được thư dụ hàng của Chiêu Văn Vương trong đó có đoạn viết:
“ ... Ta thay mặt triều đình, có lời cáo lỗi với tướng quân. Do sơ xuất, ta dạy quân không kỹ càng, kíp đến khi ta về kinh, thì chúng dãm hỗn hào xâm phạm tới nơi đền miếu thờ cúng, của dân. Ta đã tìm ra được kẻ đó, và đã chém đầu làm phép răn đe. Ta cũng đã có sửa lễ tạ thần linh, và cúng mười nén vàng để dân chúng tôn tạo đền miếu. Ngươi nối đờ ăn lọc của triều đình, chẳng nhẽ chỉ có một việc nhỏ này, mà trở nên thù hận sao? Nếu ngươi không ngại ta còn ít tuổi, thì ta muốn sau cuộc giảng hòa này, ta sẽ cùng ngươi kết tình huynh đệ...”
Đọc xong thư, Trịnh Giác Mật có tới tám, chín phần tin lời nói của Trần Nhật Duật là đúng. Trong lòng ông có vẻ hối hận vì đã hành động nóng vội. Một phần do kẻ kia phạm vào thần thánh. Phần nữa, ông còn bị bọn người nhà Nguyên từ Quảng Tây sang khích bác, xúi giục cất quân thảo phạt. Họ còn hứa giúp ông lập riêng vương quốc, vua Nguyên sẽ tấn phong. Ý ông đã toan quay lại với triều đình. Nhưng còn chút phân văn, nên Trịnh Giác Mật triệu tả hữu đến bàn. Người nói đánh, kẻ nói hàng, bàn nát nước suột một ngày không xong. Đọng lại là lòng nghi kỵ của mọi người, e Trần Nhật Duật dùng quỷ kế. Viên đầu bếp phục dịch cơm rượu suốt một ngày mệt mỏi, căng thăng. Y tự liệu, nếu việc này chưa quyết được, chắc còn phải bàn bạc tới mấy ngày. Vừa đặt mâm thịt nai nướng xuống bàn tiệc, y xin phép chủ tướng được tham góp một ý nhỏ. Trịnh Giác Mật vẫy tay cho phép:
- Việc lớn là do nơi chủ tướng cùng các đại huynh quyết. Còn việc nhỏ như việc tin hay không tin lời viên thượng tướng của triều đình, sao chủ tướng không cho người đi dò xét, xem các việc ông ta nói có thực là ông ta đã làm rồi không. Nếu ông ta đã làm đúng như lời, thì ta giảng hòa thôi chứ còn chờ gì nữa.
Mọi người đều khen viên đầu bếp cao kiến. Và cuộc nghị bàn lập tức được giải tỏa. Ba ngày sau, quân do thám về báo, các việc Trần Nhật Duật nói trong thu, đều đã có làm. Và dân chúng các vùng đều muốn cầu hòa với triều đình. Trịnh Giác Mật bền viết thư phúc đáp:
“ ... Mật này không dám trái mệnh, nếu ân chúa đi ngựa một mình đến bản doanh thì Mật xin hàng...”
Kèm th đó là lời chỉ dẫn đường đi lối lại, nơi và ngày giờ đón tiếp.
Nhận được thư của Trịnh Giác Mật với vài lời ngắn ngủi, Trần Nhật Duật đọc đi đọc lại tới cả chục lần. Ông cứ soi đi soi lại tờ giấy trên ánh nắng, xem có còn mật ngữ gì ở trong nữa không. Xoay đi lật lại tờ giấy với vài hàng chữ, ông vuốt các mép cho thẳng, đặt ngay ngắn trên án và chặn ngang bằng chiếc bút lông thỏ, ông đi dạo quanh đám cây cảnh trong vường. Đột ngột, Trần Nhật Duật dừng bước và ông đi thẳng vào trong nhà, lấy bút son phe dưới góc tờ thư: “Y hẹn, ta sẽ đến”. Rồi ông gọi đám như nhi, đem trao lại cho Trịnh Giác Mật.
Quyết xong một việc, ông cảm thấy nhẹ nhàng. Trần Nhật Duật ôn lại những lời Trần Quốc Tuấn răn dặn ông qua nhà vua. Kiểm xét lại từng việc, ông thấy Quốc Tuấn quả là xét đoán công việc sáng suốt như thần. Ông đã dò tìm, và thấy được đầu mối của sự bất hòa. Và ông tin, Trịnh giác Mật đã lấy bụng thực đãi ông, cũng như ông yêu dân họ thật lòng. Bây giờ, ông đang ôn lại những điều thuộc về phong tục, lễ nghi của Trịnh Giác Mật. Từ lời ăn tiếng nói. Cách chào, hỏi, gọi, thưa. Cả cách ăn, cách uống. Các bài hát, các điệu múa, cũng như cung bậc thanh âm trong âm nhạc của họ. Và từ bữa ấy, ông luôn mở các tiệc vui, ăn uống, chúc tụng đều theo phong tục của họ. Bữa thì uống rượu bằng cần, xoay quyanh một vò lớn để giữa nhà. Bữa thì đổ rượu ra bát lớn, rồi chuyền tay nhau mỗi người uống một ngụm, cứ thế hết lại rót. Bữa thì uống bằng sừng trâu, dùng lỗ mũi hít cho rượu chảy vào mồm. Cách này chỉ một mình Trần Nhật Duật uống được. Binh sĩ cứ cười lăn cười bò ra, có người sặc gần chết, thượng tướng phải lấy miệng mình hút vào mũi họ cho rượu ra hết. Rồi ông sai chất củi thành đống ở ngoài vường đốt lên, tự ông lấy lá làm kèn, thổi vang những âm thanh kỳ ảo cho mọi người nhảy múa.
Sắp tới ngày vào trại của Trịnh Giác Mật, Trần Nhật Duật bèn họp tả hữu lại báo cho họ biết, tự thân ông sẽ đi thuyết phục viên tù trưởng làm phản. Quân sĩ xúm lại can ngăn không cho ông đi. Bởi ai cũng sợ tính tráo trở của họ.
Trần Nhật Duật dẫn giải mọi điều về người thiểu số. Và việc xảy ra để Trịnh giác Mật làm phản, là một điều đáng tiếc. Chỉ vì quân sĩ không chịu nghe lời ông dặn. Rằng đối với người miền ngược, phong tục tập quán và tín ngưỡng của họ, còn thiêng liêng hon pháp luật của người miền xuôi. Ông cũng rất đau long khi phải hạ lệnh chém đầu người lính, đã xâm phạm vào đền thờ của họ. Nhưng ông đã ngầm sai, lượm thi thể cho chon cất trong hòm gỗ thơm, lại sức về quê quán phải chu tát cho cha mẹ người lính kia. Ông nói: “ Ta phải giế một người lính của ta, cũng đau xót như ta phải giết con ta. NHưng nếu không biết hy sinh tình cảm tư riêng, để cho một dải đất Đà Giang mênh mông này chống lại triều đình, trong lúc quân Nguyên đang dòm dỏ vào bờ cõi ta như cú dòm vào nhà bệnh, thì thật là có tooij lớn với đất nước”. Ngừng một lát, ông lại thong that nói tiếp: “ Các dân tộc sống trên mảnh đất Đại Việt này, đều có chung một mẹ. Nhưng vì phong thổ đất đai, thời tiết khí hậu mỗi vùng mỗi khác, nên có phong tục riêng, nhiều khi lại có cả tiếng nói riêng. Mỗi dân tọc gìn giữ nền văn hóa củamình bằng các thuần phong mỹ tục, và nó được bồi bổ them qua nhiều đời tích tụ lại. Những nét riêng văn hóa ấy các dân tộc đều phải trả bằng trí tuệ, mồ hôi, sức lực, và cả bằng máu nữa, nên hết thảy đều gìn giữ một cách kính cẩn, như đối với các ngôi đền thiêng. Kẻ nào đụng vào ngôi đền thiêng ấy, lập tức tự biến mình thành kẻ thù của hộ. Vậy nên, ta khuyên các ngươi, không những phải trân trọng, phải bảo vệ nền văn hóa của dân tộc mình mà còn phải tôn trọng và bảo vệ các nền văn hóa của các dân tộc khác, và cả quốc gia khác. Đối với Trịnh Giác Mật vừa qua, là một bài học, đã phải trả bằng máu, các người phải nhớ lấy nằm long, và cũng phải truyền đời lại cho con cháu …”.
Trần Nhật Duật tới trại Trịnh giác Mật vào một buổi mai nắng đẹp. Quân sĩ một lần nữa xúm lại van ông không nên đi. Có người khóc. Ông nói:
- Các người cứ để ta đi. Ta đi làm đem th cả tấm lòng nhân nghĩa của triều đình đối với dân họ. Nếu như Mật giáo giở với ta, thì triều đình còn có vương khác.
Trần Nhật Duật chỉ đem th mình dăm bảy tên tiểu đồng và thư nhi. Ra khỏi quân doanh chừng hai chục dặm đã có người của Mật đón và dẫn đi th các lối xuyên rừng. Trời quang, mây tịnh, chim hót, vượn kêu, tiếng suối róc rách, tiếng thác đổ, tiếng gió ngàn reo, khiến Chiêu Văn vương cảm như mình đang lạc vào thế giới thần tiên. Vương đã đi tưởng như khắp nước, quả thật chưa biết cảnh nào ngoạn mục như cảnh ở đây. Đúng là cảnh sắc này đều nằm trong đất vùng ông trấn trị, mà sao cứ thấy nó lạ, nó đẹp. Đang gi giữa một ngàn hoa trắng, tưởng phải trải đến vô tận, nhưng vừa chớm ngoặt sang một nẻo đường quanh, lại đột ngột hiện ra một khung cảnh khác lạ. Đó là một khu rừng già với những cây cổ thụ thẳng tắp. Thân cao vời vợi. muốn nhìn thấu ngon cây, phải ngả người ra phía sau, chóng cả mặt. Cây nào cây náy to đến hàng chục người vòng tay ôm không xuể, Đúng là rừng trong rừng, cảnh trong cảnh, nó cứ thoắt giấu đi, thoắt mở ra, kỳ ảo khôn lường. Ông đã được xem nhiều bức họa cổ kim. Nhưng so với cảnh sắc thiên nhiên này, thì các đấng danh họa kia chỉ là mấy đứa trẻ nghịch ngơm màu mè. Rõ ràng chỉ có thợ Tạo mới là những tây nghệ sĩ hoàn hảo.
Khi nghe tiếng gà rừng gáy đồn dập, cũng là lúc mặt trời giần đứng bong, bỗng vang lên đâu đó tiếng nhạc réo rắt, tưởng đó là âm hưởng từ rừng cây và các loài muôn thú phát ra.
Như có một cái gì đấy làm xao xuyến, Trần Nhật Duật tiện tay bứt một cặp lá làm kèn đưa lên môi thổi. Tiếng nhạc trong trẻo vang xa như tiếng nói từ lồng ngực ông phát ra. Rưng cây bỗng im tiếng gió. Chim choc thôi hót. Cay cao như rủ xuống lắng nghe. Tiếng nhạc, như thôi thúc, như nỉ non trách móc ai kia nỡ phụ lòng nhau. Lạ thay, khi nghe tiếng nhac, Trịnh Giác Mật như ngây như dại, như bồi hồi xúc động, như héo hon lòng dạ, như ăn năn hối hận. Mãi tới một phút sau ông mới định thần được và nói:
Thượng tướng quân đã đến! Quân bay tấu nhạc lên!
Trịnh Giác Mật vừa dứt lời, thì cả một rừng âm thanh toé ra. Người ta chỉ nghê thấy tiếng ầm ào của các nhạc khí như trống, chiêng, kèn, sáo đan xen với tiếng rừng và muôn loài cầm thú. Ấy là tiếng nói của muôn dân, đang cất lên chào đón người anh em chí tình chí nghĩa từ kinh đo Thăng Long lên với họ.
Một rừng thương, gươm, dáo chĩa lên tua tủa và quay lại hàng chục vòng về phái đài cao, nơi Trịnh Giác Mật đang oai nghiêm đứng dưới lá cờ ngũ sắc. Trần Nhật Duật để đám tiểu đồng ở lại dưới sàn, ông mặc áo bào trằng, thắt chiêc đai ngọ đỏ, đầu trần ngồi nghiêm chính trên lưng con ngựa tía, thả bước kiệu đi về phái Trịnh Giác Mật.
Thấy thượng tướng đến, Trịnh Giác Mật từ đài cao vội vã bước xuống vái Trần Nhật Duật, và cung kính dẫn ông lên đài. Trần Nhật Duật nói một hồi dài lời chào mừng bằng tiếng của họ, rồi quay lại ôm lấy vai Trịnh Giác Mật. Quân sĩ ở dưới reo hò tưởng đến long trời sập đất.
Nhận lời kết nghĩa an hem với Trần Nhật Duật, Trịnh Giác Mật đã trói sắn một con sơn dương mới san được từ chiều hôm trước cùng một con lợn và một con bê, đặt bên canh hai vò rượu lớn. Một chiếc đỉnh đồng hun to bằng chiếc nong, cao hơn đầu người đang đốt trầm hương nghi ngút khói. Bốn giá cắm đầy các đồ binh khí sáng loáng. Trịnh Giác Mật vận lễ phục màu chàm, thắt một chiếc đai dỏ thêu hoa kim tuyến, có dát ngọc sang long lanh. Chân giận hia đen, thêu đôi chim trĩ trắng. Đầu để trần, tây ông nắm tay Trần Nhật Duật đi vòng quyanh đài cao vẫy chào đám binh sĩ đông như kiến. Trở về đứng trước đỉnh trầm và các đồ tế khí cùng các con vật hiến sinh, ông bụm tay làm loa nói lớn:
- Bớ quân sĩ! Hômnay ta làm lễ kết nghĩa an hem với thượng tướng Chiêu văn vương Trần Nhật Duật. Ta với tướng quân kết nghĩa an hem, cũng có nghĩa là người Kinh, người Man kết nghĩa anh em. Xin thề từ nay hoạn nạn có nhau, vinh hiển có nhau. Ai tự ý phụ nghĩa vong ân thì trời tru đất diệt, sẽ bị chết thảm thương như những con vật hiến sinh đây!
Trịnh Giác Mật vừa liếc nhìn vừa chỉ tay vào ba con vật, lập tức có hang chục lực sĩ nhảy lên đài, kéo những con vât kia ra chọc tiết. Máu được hứng vào hai vò rượu lớn. Trịnh Giác Mật nhúng cả tay vào dòng huyết mấy con vật đang tuôn chảy, rồi vẩy lên các đồ tế khí. Đoạn ông lấy một chiếc tô lớn, múc đầy một tô rượu đã hoà máu tươi, chìa về phía Trần Nhật Duật. Hai người cùng đỡ tô rượu, cũng đặt miệng vào lợi tô và cùng hút một hơi cạn sạch.
Đoạn, hai chủ tướng quay ra, mời đám binh sĩ dưới đài cùng uống rượu. Thề là ba quân xông vào chia nhau mỗi người một hớp, chỉ trong thoáng chốc, hai vò rượu can kiệt và tiếng hô: “ Triều đình vạn tuế!”. “ Đức Nhân tông thiên tuế!” cứ vang ầm lên như muốn dịch chuyển cả núi rừng.
Sau lễ thề là đại tiệc. Rượu để la liệt từng chum, từng chum. Các đống lửa đót đỏ cà trời, than hồng rực. Hang đàn, đàng đàn con vật như dê, nai, lợn được treo nướng trên than lửa. Mỡ cháy xèo xừo, ngọn lửa xanh ngút, khói toả múi thơm ngọt ngào. Hàng đống sừng trâu để là đồ múc rượu. Và muối đặt từng chậu, từng chậu. Tiệc vui không chia ngôi thứ. Tất cả đều xông vào nắm lấy sừng trâu mà múc rượu. Rồi nhảy vào xé thịt nướng ăn. Hết thảy đều tu rượu bằng mũi, xét thịt bằng tay. Trần Nhật Duật cũng lăn xả vào uống ăn như họ, không chút nề hà ngượng ngập. Rồi cùng ôm lấy họ mà múa, mà hỏ roe vang ầm như thác đổ.
Đám quân sĩ từ giả đến trẻ, đều yeu thích Trần Nhật Duật. họ trỏ vào ông mà rằng: “ Tướng quân đúng là người dân tộc chúng tôi”.
Vậy là sau hội thề và lễ kết nghĩa, mọi nghi kỵ cừu thù đều được gỡ bỏ. Và cho con Trịnh Giác Mật theo Trần Nhật Duật về triều ra mắt Nhân tong.
Chiến công của Trần Nhật Duật, làm nghiêng lệch đinhj kiến của các bậc lão thần, về tài năng xuất chúng, trí dũng cùng nhân nghĩa song toàn của viên tướng trẻ. Trận thắng tuyệt lân, không một mũi tên, đã đẩy oai danh Trần Nhật Duật lên tót vời.
Trần Nhân tông hết lời khen ngợi quốc thúc thượng tướng quân. Nhà vua cũng ra sức vỗ về cha con Trịnh Giác Mật, vinh thăng cho Mật hai cấp. Và lưu người con trai của Mật lại triều. Trần Nhật Duật nhận con của Trịnh Giác Mật làm nghĩa tử. Nhà vua ban cho y tước thượng phẩm, và tam giao cho chức canh trì. Tức là trông nom ao cá của nhà vua, chờ xem sở trường nảy nở về mặt nào mà trao việc cho xứng với tài đức. Vậy là Đà Giang lại trở thành miền phên dậu vững chắc hơn xưa để che chắn cho kinh sư.

hết chương 4
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 5:

Sẩm tối, nhà công quán sáng choang ánh đèn. Cỗ bàn sắp đặt linh đình. Các quan tiếp sứ luôn đền vấn an Sài Thung, nhưng y vẫn cứ nằm quay mặt vào tường không nói một lời. Trần Quang Khải khẽ kéo ghế ngồi xế phía giường Sài Thung, tìm hết lời nói nhún để y nguôi giận. Sự thật, quan Thái sư không lạ gì lối làm phách của lũ “con trời” này. Bọn chúng luôn kiếm cớ gây bất hoà. Và nếu ta càng lui, y càng lấn. Quang Khải phải nén lòng để lấy lại sự ôn nhu, ông nói:
- Đại nhân đến nước chúng tôi. Quốc vương tôi phải cử tướng quốc lên tận biên ải tiếp rước. Nay đã tới quốc đô, thế nào quốc vương tôi cũng làm lễ tiếp kiến đại nhân. Việc gì đại nhân phải nóng vội. Đám quan quân của chúng tôi ngu dại, đã phạm phải oai ngài. Nhưng xét thực tình, chúng không có lỗi. Luật lệ của nước chúng tôi như thế. Cửa Dương MInh này cũng như cửa Ngọ môn bên quý quốc, chỉ có kiệu của nhà vua và thượng hoàng qua lại. Ấy là sự phân biệt trên dưới của một nước có kỉ cương. Tôi chắc bên thượng quốc cũng không thể làm khác được. Đại nhân không nên đòi cái mà ngài không thể đòi được.
Vừa nghe Trần Quang Khải khích. Sài Thung nộ khí xung thiên, bèn ngồi nhỏm dậy quát:
- Các người lớn mật, dám phạm tới oai trời. Phải biết rằng, thiên triều muốn là được. Nếu các nguơi thích cãi lý, thích ngang đầu cứng cổ thì không cần tiếp sự nữa, cứ việc sửa sang thành quách cho vững mà dũa khí giới cho bén để mà cãi lý với đại quân thiên triều.
- Sài Thung khang đại nhân! Theo chỗ tôi được biết, ngài vốn xuất thân khoa bảng, lại thấu hiểu nhẽ đời, và đã trải đủ bước thăng trầm của thời thế. Hiện giữ chức lễ bộ thượng thư – Quang Khải biết tên Hán gian này xuất thân nho sĩ ở tỉnh Vân Nam, đã phản bội Tổ quốc làm chó săn cho bọn xâm lược Hốt-tât-liệt. Vả lại trong thù tiếp, ông cũng biết y có tính háo danh, háo thắng, nên ông đang tìm cách lấy lòng hắn – Đại nhân là người văn thâm viễn, hiểu thấu được cả nhẽ huyền vi của trời đất ( Quang Khải cũng viết Sài Thung rất mê bói Dịch), nhẽ nào đại nhân lại không thương đến dân tôi, trước sau vẫn một lòng thờ thượng quốc. Nay đại nhân đã tới nước chúng tôi, nếu có điều gì chưa được như ý, xin đại xá cho.
- Ta muốn gặp quốc vương An Nam, nhưng phải xây cầu vồng qua cửa Dương Minh để tao vào đại điện. Chừng nào chưa xây xong cầu cho ta đi, các ngươi chó đến quấy rầy ta. Sài Thung nói xong quay ngoắt, y nằm xuống giường, mặt úp vào tường.
Quang Khải giận lắm bỏ ra về. Từ hôm sau, Sài Thung hạch sách các thứ ăn uống thật là quá quắt. Những món ăn cực hiếm như chân gấu hầm hoài sơn. Nầm sữa lợn rừng. Cò lửa, chim cuốc, rắn hổ mang gầm, cho vào hầm cách thuỷ bẳng rượu với một số vị thuốc, và nhiều các món ăn kỳ quái khác. Ngay việc phục dịch được đầy đủ thực đơn hàng ngày của y, cũng là cả một khó khăn đối với triều đình. Những món ăn cầu kỳ đến mức bệnh hoạn ấy, vua tôi nhà Trần, cho đó là những đòi hỏi ngoài nghi lễ bang giao và sự ăn uống. Đay chính là nguyeen cớ để sứ giả bất bình mà tuyệt đường giao hiếu. Và sau đấy là quân xâm lược ào vào. Vì vậy, cả triều đình đã cắn rắng nín nhịn chiều sứ giả, cốt giữ cho hoà bình được ngày nào hay ngày ấy.
Sài Thung đã nhúc nhích đi lại dò xét các nơi trong kinh thành, nhưng không tiếp một đại thần nào của ta, cũng không ngỏ ý yết kiến quốc vương ta. Tuyệt nhiên y không lộ một yêu sách nào của Hốt-tất-liệt.
Để tận mắt thấy tên sứ giả nhà Nguyên – một tên đại Hán gian phách lối thế nào. Trần Hưng Đạo bèn tới nhà công quán. Ông vận một bộ đồ vải nầu, đầu trần. Đến sứ quán, ông vào thẳng phòng trong. Sài Thung đang nằm đọc sách, thấy Hưng Đạo tới, vội đứng dậy vái chào, mời ngồi. Trong khi ngồi uống nước thù tiếp, tên người hầu của Sài Thung cầm cái tên nhọn dấu trong tay áo, chọc vào đầu Hưng Đạo toé máu ra.
Sài Thung là một tay mê bói Dịch, lại ham thích khoa nhân tướng. Y cứ ngắm nhìn mãi khuôn mặt của Quốc Tuấn. Từ vấng trấn cao vuông vức, đến cặp mày lưỡi mác xanh đen, và đôi mắt sáng long lanh, tựa như nơi hai đồng tử luôn toả ánh hào quang. Có lúc y nhìn thẳng gương mặt Quốc Tuấn, bắt gặp ánh mắt của ông chiếu vào, y không chịu nổi, đành phải quay đi, hay vờ cúi xuống. Y có cảm giác, con người này khí lực sung mãn tới dư thừa. mà oai phong lại nảy sinh từ cặp mắt và giọng nói. Toàn bộ khuôn mặt ông ta từ tam đình, ngũ ngạc đều toát lên vẻ đắc cách thượng thừa, có uy nghi đế vương thần thánh. Chỉ mới qua tướng mạo bề ngoài của Quốc Tuấn, đã làm Sài Thung đâm nể kính. Y nói năng tỏ ra lễ độ và có phần hơi lúng túng. Saui vài ba tuần trà, Quốc Tuấn nói:
- Thấy nói có đại nhân từ thượng quốc sang, ta ghé thăm sức khoẻ. Rồi ông cáo biệt
Sài Thung th tiễn ra mãi tới cổng ngoài còn cung kính vái th. Vào nhà, tên hầu mới thuật chuyện, khi đứng mời nước phí sau vị khách, y đã lấy mũi tên chọc chảy máu đầu ông ta. Sài Thung lấy làm kinh sợ, vì y không nhận thấy một nét gì biến đổi trên gương mặt khách.
Mấy năm sau, khi được biệt con người này đã có lần y thù tiếp và ngờ ngọ là một hoà thượng, chính là người thống lĩnh đội quan nhà Trần, đã đánh tan nửa triệu thiên binh của nhà Nguyên với các đệ nhất danh tướng của Hốt-tất-liệt, thì Sài Thung lại càng kinh ngạc và thầm kính phục con người ấy.
Độ năm bảy ngày sau khi Sào Thung tới quốc đô nước Nam, đám quân trong sứ đoàn đi thu thập tin tức về báo. Tại Thăng Long có hai nhà buôn người Hồi-hột, được thiên tử nhà Nguyên cấp vốn cho vào đây buôn bán. Mấy năm đầu, do tính nết thuần phác, lại không có y dòm ngó gì vào nội tình của nước Nam, thì sự nghiệp phát đạt lắm. Chỉ ba năm sau từ Yên Kinh tới đây, bọn chúng đã có số vốn nhiều gấp mười lần. Nhưng mấy năm sau bọn này ráo riết dò xét công việc của người Nam lộ liễu quá. Triều đình nhà Trần cấm dân chúng của họ không đưọc mua bán giao thiệp gì với đám thương nhân Hồi hột. Bọn này không những không thu thập được tình hình mà còn bị phá sản. Và hiện thời chúng lưu tán ở đâu cũng chưa dò được tung tích...
Đi sâu vào các miền quê, thấy dân tình của họ no ấm. Mới vụ mùa vừa rồi lúa tốt bội thu, mỗi chiếc đòng trỏ ra hai bông lúa to như những chiếc đuôi trâu. Đi về nẻo nào cũng thấy dân binh luyện tập chăm chỉ lắm. Quốc đo của họ, ngoài quân cấm vệ ra, không thấy động tĩnh gì. Không biết họ giấu quân ở đâu. Còn như chiếc cầu vồng quan chánh sứ ta đòi họ phải xây vắt qua cửa Dương Minh cũng không thấy họ đả động gì tới...
Nghe xong mọi việc của bọn người được nhà Nguyên gài lại Thăng Long do thám, cũng như các việc mà bọn trong sứ đoàn đi thu thập. Sài Thung tự nghĩ: “Vậy là những gì ta làm, nếu không phạm vào quốc thể họ, họ đều đáp ứng. Rõ ràng vua tôi nhà Trần thần phục vờ, và đang ngấm ngầm rèn quân tích lương đón đợi cuộc chinh phạt của thiên triều”.
Qua nhưng gì thu nhận được, Sài Thung định bụng phải thay đổi kế hoạc. Y mỉm cười, ngồi vào án thư thảo điệp văn gửi vua Trần: “ Ta bằng long diện kiến quốc vương An Nam th nghi lễ của quý quốc”.
Một tờ khác y gửi tới Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, lời lẽ rất khiêm nhã. “ Từ lâu tôi đã được nghe danh vương, trong lòng rất lấy làm kính trọng. Vẫn thàm mơ ước có ngày được diện kiến. Lần trước cầm đầu sứ đoàn tới Thăng Long, tôi đã có ý đến thăm vương. Song vì công việc thiên tử trao cho chưa làm trọn, nên chưa dám nghĩ đến việc riêng. Kíp đến khi hoàn tất thì vương đã đi trọng nhậm tại vùng Tam Đái giang. Thé là thung này đành ngậm ngùi trở lại Đại đô. Mới hay: quý nhân nan kiến diện. Nay nhân lúc rảnh rỗi chờ hội kiến với quý quốc vương, nên gửi tờ thư này mong được vương nhận lời thù tiếp tại vương phủ. Ngày giờ do vương liêu định. Thu nói chẳng hết lời”.
Cuối thư, Sài Thung hé lộ một cách kín đáo chức tước mà y vừa được Hốt-tất-liệt sách phong. Y viết hết sức nắn nót,khiến nét chữ mất đi phần hồn nhiên sắc sảo vốn có: “An Nam đo nguyên suý Sài Trang khanh kính bái”.
Triều đình được thiếp báo của Sài Thung, bèn hẹn ngày tiếp sứ để nhận chiếu của Hốt-tất-liệt. Sớm ấy, đám quân khiêng kiệu đón Sài Thung vừa tới chân cửa Dương Minh thì hạ đòn. Đúng lúc, Trần Quang Khải dần đầu đoàn các quan của triều đình ra đón sứ. Sài Thung với vẻ mặt không tỏ ra giận dữ, cũng không lộ vẻ thân tình, đi th các quan vào triều. Khi Sài Thung tới giữa sân rồng thì nhạc quốc thiều tấu lên và đích thân Trần Nhân tông bước xuống bậc tam cấp đón y.
Nhang án bày sẵn, đỉnh trầm đốt từ sớm, mùi hương sạ bay thơm ngào ngạt. Sài Thung bóc niêm phong chiếc hộp sơn son thếp vàng, rồi mở nắp lấy ra một tờ chiếu của nhà Nguyên trao cho vua Trần. Trần Nhân tông đưa hai tay đỡ một cách kính cẩn. Nhà vua không lạy chiếu thư mà chỉ nói một lời chúc xã giao đoois với nhà Nguyên: “Thiên tử vạn tuế!”. Rồi nhà vua đặt tờ chiếu lên hương án. Lễ tiếp chiếu thư xong, Nhân tông mời trà sứ đoàn. VÀ sau đó là đưa thiếp mời Sài Thung dự dạ yến.
Tiễn sứ đoàn về nhà công quán xong, vua Nhân tông bèn triệu các quan văn võ vào nghị bàn về các yêu sách của nhà Nguyên.
Đại khái trong chiếu, vua nhà Nguyên trách quân trưởng của ta trải ba đời chưa vào chầu. Hốt-tất-liệt nhắc lại các việc từ trước nhà Nguyên vẫn đòi:
- Quân trưởng phải vào chầu.
- Con em phải sang làm con tin.
- Kê biên dân số
- Phải chịu quân dịch
- phải nộp tô thuế
- Vẫn đặt chức Đạt-lỗ-hoa-xich để cai trị
Cuối chiếu, Hốt tất liệt nhấn thêm: “ Đay là tuân th thánh chỉ của đức thái tổ cao hoàng đế ( tức Thành Cát Tư Hãn) thi ân cho các nước quy phụ. Mấy việc trên là để tỏ lòng thành của kẻ thuần phục. Khanh là được đủ các điều đó, há sao trẫm còn nghi ngờ gì nữa mà không tin yêu?”
Đọc xong, nhân tông nói:
- Các yêu sách trên đây của nhà Nguyên không có gì mới. Từ thời thái thượng hoàng, họ đã đòi ta như vậy. Tiên đế cũng như thượng hoàng chưa bao giờ chấp nhận được một điều gì của họ. Bởi nếu vậy, ta sẽ là đất quận huyện của nhà Nguyên, chớ còn chi là chủ quyền của một quốc gia.
Các quan đều tỏ ra bất bình. Nhất là sự vô lễ và ngạo mạn của Sài Thung, khiến nhiều vị đại thần đòi phải trị cho hắn một trận, như xưa kia tiên đế đã từng trị Trương Đình Trân.
Thấy các quan phẫn nộ, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải bèn nói:
- Vâng thánh chỉ, tôi lên tận biên ải đón Sài Thung. Thực quả y là một kẻ kiêu ngạo. Nhưng nghĩ cũng thương tình, vì rằng các vương tử phủ Hưng Đạo đã đánh một trận hết sức ngoạn mục, khiến y đau mà không kêu vào đâu được. Thành thử y tìm mọi cách trả thù. Đây là một tiêu tâm thù vặt có tính truyền thống lâu đời, từ thiên tử tới các bậc đại quan bên thượng quốc đối với các lân bang, mà họ thường gọi một cách sách mé là tứ di. Bẹnh này đã ăn sau vào tới cao hoang từ đời Hán, Đường, tống tới nay không thuốc nào chữa trị được đâu. Ngoại trừ ta có sức mạnh như thời Lý Thánh tông, dùng Lý Thường Kiệt với kế “ Tiên chế phát nhân –nghĩa là tấn công để phòng thủ”
Thái ý Trần Quang Khải vừa dứt lời thì thượng vị Chương Hiến hầu Trần Kiện tiếp ngay. Kiện là con của Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang. Khang là con nhận của thái thượng Hoàng, về ngôi thứ là là anh Thánh tông, là bác của Nhân Tông. Vì thế Kiện là anh em thúc bá với nhà vua. Kiện nói:
- Liệu nước ta so với nước Tống ai yếu ai mạnh? Đất nước ta so với nước Tống ai lớn ai nhỏ?
Kiện đặt liền hai câu hỏi, lại tự trả lời:
- Lực của ta so với lực Tống như con kiến so với con voi. Đất ta so với đất Tống như chiếc khuy so với cả chiếc áo. Ấy vậy mà nước Tống bị vó ngựa Thát-đát đạp đổ thành trì, vua tôi khốn đốn, nhà Tống diệt vong.
Nước ta, hồi còn tiên đế quả có đánh thắng quân Thát-đát khi chúng đem binh vào cõi. Nhưng lực của Thát đát năm Đinh tsj so với lực nhà Nguyên hiện nay, thật là một trời một vực. Xin bệ hạ hãy cân nhắc cho thận trọng. Tôn miếu, xã tắc, số phận mất hay còn của hàng triệu sinh linh, đều nằm trong tay bệ hạ; không thể xem như là việc dốc túi đánh một nước bạc cuối cùng, rồi muốn ra sao thì ra.
Nói xong, Kiện ngồi xuống cứ xoay đi xoay lại chiếc mũ bình thiên ở trên đầu. Kiện có thói quen nghịch mũ. Và đó là cử chỉ tự hài lòng.
Vua Nhân tông đưa mắt nhìn khắp lượt xem triều thần còn có ai muốn nói nữa.
Nhà vua thấy Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc đang nhúc nhắc xem lại chỗ ngồi. Quả là Ích Tắc xin được nói.
Nhà vua vẫy tay khích lện. Ích Tắc là con thứ ba của thái thượng hoàng, là em kế của thượng hoàng Trầnh Thánh Tống, và thái úy Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, tức là chú ruột nhà vua. Ông có một đầu óc thông tuệ khác thường. Ông cũng là một người tài hoa bậc nhật kinh thành: cầm, kì, thi, họa ngón nào cũng tinh thông. Ông có mở trường dạy học ở nhà. Học trò của ông thuần những tay thần đồng cự phách, như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Trương Phóng … Gần đây ông mới được nhà vua tấn phong thượng tướng trấn trị lộ Tam Đái giang. Có thể nói, sau Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, ông là người được cả triều đình kính nể, trước hết bởi học vấn uyên bác hơn đời.
Nhẹ đưa hai bản tay sửa lại chiệc mũ đội đầu. xốc lại cổ áo, sau đó e hèm hắng giọng. Trần Ích Tắc nhìn khắp cử tọa, rồi ông dừng cặp mắt phượng nơi Trần Kiện, nửa như đồng tình, nửa như răn dạy, ông nói:
- Không hẳn như thượng vị Chương Hiến hầu đã nói. Đại Việt ta vua tôi đều dốc lòng vì nước, sức mạnh đó không thể hình dung nổi hết được đâu. Các bậc minh quân và tướng giỏi xưa nay đều xem sức mạnh lòng người, như là một đội quân bất khả chiến thắng. Vả lại đã gọi là binh, thì không nên đêm ra tranh cường. Bất đắc dĩ có phải sử dụng đến, chỉ nên dùng vào việc cứu dân, trừ bạo nghịc – Dừng một lát, ông lại nói: - Tuy nhiên, ta cũng đã đọc nhiều sách, tham bác việc dùng binh các đời, chưa từng thấy cớ thời nào, nước nào, người nào lại dùng binh một cách tuyệt luân như người Thát-đát. Đưa ngựa vào việc binh, thì từ thượng coor, người Trung Hoa cũng đã có dùng. Nó chỉ là một phương tiện cho giới. Hoặc để đi xa, đi nhanh, giúp cho con người đỡ mệt. Nhưng ngựa trong tay người Thát-đát, nó không chỉ là phương tiện, mà còn là mục đích của việc binh. Bản thân nó được xem như một tân vũ khí lợi hại, nhận loại chưa từng biết. vì vậy, người Thát-đát đã tung hoành hầu khắp gẩm trời này, gần như không có đối thủ. Trung Nguyên đất rộng, người đông, của cải, tài trí đâu có thiếu. Trí như Văn Thiên Tưởng, cũng như Vương Công Kiên không phải là ít. Ấy vậy mà các vua Tống từ Tống Cung đế Triệu Hiển đến Tống Tường Hưng kẻ bị bắt đưa về Đại Đô, kẻ nhảy xuống biển mà chết. Nhà Tống tuyệt diệt. Các việc sờ sờ ra đó, Đại Việt ta không thể tham bác cho cạn nhẽ, kẻo lỡ mất cơ hội tốt. Bởi vậy, việc tiếp sứ là một việc tế vi không thể khinh mạn người ta được. Vả lại, sứ là thể hội uy quyền của thiên tử. Là nước bề tôi, ta phải khu xử khôn khéo. Sao cho giữ được quốc thể, lại không mếch lòng sứ. Nếu sứ thần bất mãn, thời chẳng mấy chốc lại dẫn tới can qua.
Chiêu Quốc vương nói, chưa dứt lời thì có điệp văn của Sài Thung từ nhà công quán gửi tới.
Vua Nhân tông trao cho hàn lâm thị đọc độc, tuyên đọc cho cả triều đình cùng nghe. Quan hàn lâm cao giọng:
- …Bữa trước, tiếp chiếu của thiên tử nhà Đại Nguyên, quốc vương An Nam đã không chịu lạy chiếu. Nay thết yến sứ giả thiên triều, lại định bày ngoài hành lang đại diện. Thật là một sự khinh mạn. Sứ giả nhà Đại Nguyên báo cho nhà vua được biết, nếu dạ yến không được đặt tại điện Tập Hiền thì sứ đoàn chúng tôi xin cáo thoái…
Việc này không phải bàn bạc gì. Vua Nhân tông chấp thuận yêu sách của Sài Thung. Các đại thần cũng cho đó là phải. Bởi lẽ việc đó không có phương hại gì đến quốc thể. Song ai cũng lấy làm ngạc nhiên và tự hỏi: - “Tại sao Sài Thung lại trở nên hôn hòa đến như vậy?”.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 6:

Nhận được thư của chánh sứ Sài Thung, Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc cứ đọc đi đọc lại mãi không thôi. Vương tự lấy làm hài lòng. Vì danh tiếng của vương không những chỉ lẫy lừng trong nước, mà ngay cả Đại đô, người ta cũng biết tới. Và Sài Thung, ai cũng bảo y là kẻ kiêu ngạo, nhưng riêng với ta, Sào thượng thư lại hết sức khiêm nhường. Phải chăng Sài Thung có tư tình gì với ta? Hoặc giả mọi người đã quá khắt khe với ông ta?
Chiêu Quốc vương chăm chú nhìn nét chữ Sài Thung viết trong phần phẩm tước mới của ông ta: “An Nam tuyên úy phó đô nguyên súy”. Ơ hay, sao nét chữ có phần run run? Ông ta xúc động hay dè dặt? Ông ta thích thú hay ngượng ngùng? Vì chức quan này do Hốt-tất-liệt tấn phong, có nghĩa là nhà Nguyên đã chính thức coi nước ta như quận huyện của họ. Có đúng họ đã sắp đặt xong vận mệnh của Đại Việt? Và Sài Thung sang ta lần này là để áp đặt cái mà cuộc xâm lăng năm Định tỵ do Ngột lương hợp thai, cùng với năm vạn quân của y không làm được. Lại mới đây, Sài Thung cũng đã trắng tay năm ngàn quân với cả triều đình bù nhìn Trần Di Ái.
Chiêu Quốc vương lại tự hỏi: Tại sao Sài Thung căng cứng với mọi người, kể cả quốc vương Nhân Tông mà chỉ có riêng ta được y biệt đãi? có ý mua chuộc hoặc chia rẽ gì ở đây chăng? Dù sao thì y cũng là một người có biệt nhỡn. Ta không thể đãi y như đãi một người thường. Nghĩ vậy, Trần Ích Tắc bày tỏ mối thiên cảm của mình với vị sứ giả thiên triều. Và hẹn ngày giờ nghềnh tiếp sứ tại vương phủ.
Phủ Chiêu Quốc không phải là phủ lớn nhất, nhưng là phủ đẹp nhất trong tất cả các vương phủ ở kinh thành Thăn Long. Phủ đệ nằm trên một dải đát vuông vức, ước độ hơn một trăm mẫu, xế cửa Quảng Phúc, ở phía tây thăn Long thành chừng hơn một dăm. Bbón bề có thành đất bao quyanh, có lũy tre đầy che kín. Lại có hào chạy theo thành lũy. Hào có đường ăn thông ra hồ Dâm Đàm (Hồ Tây ngày nay) rồi ra sông Cái. Con hào này rộng tới bảy trượng, sâu hai trượng, thuyền bè đi lại thuận tiện như đi trên mặt sông. Hào có nhiều nhánh, chảy uốn éo th hình thể các khoảnh vườn chia làm ba nhánh như ba con rồng chầu về hoa viên, nẳm ở trung tâm vương phủ, ngay trước nhà đại bái. . Hoa viên trồng đủ các loại kỳ hoa dị thảo, ngay đến cả vường ngự uyển của đức vua, cũng chưa chắc đã hơn được. Bốn mùa ho nở khoe sắc, khoe hương, muôn hồng ngàn tía. Chính giữa hoa viên là một hòn non bộ, cao tới hơn mười trượng, đồ sộ như trai núi thật, Xung quyanh non bộ là khe, suối, ngòi, lạch. Và giữa các đỉnh núi nhỏ được bắc những chiếc cầu cong như vành lược, rộng chưa đầy gang tay, dài ngắn độ vài thước. Lại có người bằng đất nung, bày thật là ngoạn mục. Đám này một bàn cờ, mỗi bên là một tiên ông với chòm râu dài quá ngực, đang chăm chú nghĩ suy. Đám kia là văn nhân, xe, ngựa, kiệu, võng thật là nô nức, như cảnh trảy hội, hoặc tiến sĩ vinh quy. Loáng thoáng như từ kẽ đá mọc lên một vài cây tùng, nom gân guốc như thích thức với cả thời tiết và thời gian. Và dưới các tán cây cổ thụ trong vườn nổi lên những mái đình xinh xắn, ngói đỏ, rêu phong th kiêu phương đình, bán nguyệt, ngũ giác, lục giác, bát giác ... Mỗi đình có một tên gọi riêng: nơi là đình Tị huyên, nơi là đình Nghênh xuân, lại có đình Tịnh tâm, và cả đình Nghênh tiên và nhiều tên đình khác nữa, để Chiêu Quốc vương ghé nghỉ khi dạo vườn cho hợp với tình cảm và tâm trạng của chủ nhân lúc đó. Các đình đều thông gió bốn mặt. Ba nhánh ngòi chầu về hoa viên đều được bắc ba cây cầu vồng bằng gỗ. Mỗi cây cầu là một công trình khắc trạm rất tinh vi. Đoàn thì phượng múa, rồng chầu. Đoạn thì th bốn mùa: tùng, cúc, trúc, mai. Đoạn thì tứ dân: ngư, tiều, canh, mục ... Và trong khắp dinh phủ, nếu Chiêu Quốc vương có nhà, thì đi về phía nào cũng nghe thấy tiếng đàn, địch, ca hát. Trong vương phủ có cả một đội nhạc công, ca công và một bày vũ nữ. Hát, múa hay phô diễn làn điệu, tích điển gì đều do tay Chiêu Quốc vương biên soạn và truyền dạy.
Lại có cả một tòa nhà bày đặt tranh, tượng mà Chiêu Quốc vương đã dầy công sưu tầm trên dưới hai mươi năm nay. Nghĩa là từ khoảng mười bảy, mười tám tuổi, Chiêu Quốc vương đã đem lòng yêu thích nghệ thuật hội họa, và đã có ý thức lưu giữ những tác phẩm nổi tiếng. Cho tời năm ngoài hai mươi tuổi, hiểu được ít nhiều về đường hội họa, và cũng có đôi khi cầm tới ngọn bút long nhúng vào việc nghiên mực, và suy tư trước giá căng lụa. Và cũng nhiều lần suýt thnàh công trong một bức sơn thủy họa. Sau có một danh họa của nhà Tống từ Hàng Châu ghé thăm, có được xem phòng tranh sưu tập của Chiêu Quôc vương. Và cũng được Chiêu quốc vương cho xem đôi bức họa của ông. Nhà danh họa kia lấy làm kinh ngạc, về những ý đồ thể hiện trên tranh của tác giả. Ông phải thốt lên: “Một tâm hồn nghệ sĩ. Một con người đam mê nghệ thuật. Một tài băng bạt quần”. Nhưng rồi ông lắc đầu. Chiêu Quốc vương gặng hỏi mãi, nhà danh họa mới đáp: “Chỉ đáng tiếc các hạ chưa biết sự dụng ngọn bút lông. Nên nét vẽ không tuân th nếp nghĩ của các hạ”.
Chiêu Quốc vương lấy làm tâm phục nhà danh họa, và cố ý lưu ông lại vương phủ được hai tháng. Ông có giảng giải cho Chiêu Quốc ít nhiều về nghề họa, Sau Chiêu Quốc có vẽ được dăm bảy bức vào loại khá, không kém tranh Tống. Nhưng tự thấy không thể tiến xa hơn trong hội họa. Vả lại, hội họa ở Đại Việt, ông cũng không có đối thủ, nên chẳng còn mấy hào hứng th đuổi. Tuy nhiên, về đường văn thơ, người đương thời vẫn khen ông có chất rắn rỏi, gân guốc của đời Hán, lại có sự nhuần nhị, bóng bẩy mà siêu thoát của thịnh Đường. Về thi, thư năng lực của ông ít ai sách kịp. còn đường, cầm, ca, họa, nhạc, ông không chỉ là người sành thưởng thức, mà còn là người sáng tác bậc thày. Thế nhưng ông cũng khá am tường về đằng võ bị. Ngay trong vương phủ, ông cũng lập được hai Đô (mỗi đô có 80 người) vào loại tinh binh. Còn trong thái ấp, ông có tới bốn Quân ( 1 quân = 30 đô) là đám phiên quân luân phiên vừa làm ruộng vừa luyện tập. Việc luyện tập cung tên, đao, kiếm, thủy bộ thế nào đều do đích thân ông xem xét. Ông lại thường đem binh thư ra giảng cho các tướng dưới quyền. Cũng có đôi ba lần ông sang chơi bên phủ Hưng Đạo để tham bác cách dạy tượng. rèn quân và cách hành binh bày trận của Trần Quốc Tuấn. Kẻ cả việc ông về ấp An Sinh xem Quốc Tuấn rèn binh, tập trận. Trong thâm tâm, ông không phục Quốc Tuấn lắm. Vì Quốc Tuấn không th đúng sách của các nhà Tôn – Ngô đời cổ.
Mấy bữa nay ông cho don dẹp dinh phủ để đón Sài Thung. Ông để mắt tới mọi nơi, mọi chỗ. Răn dạy kẻ hầu người hạ từng li từng tí. Rồi đám môn khách và học trò, ông cũng giảng giải để họ thấy, sao cho qua cuộc tiếp kiến này, Sài Thung phải kính nể giới sĩ phu Đại Việt và nền văn hiến Thăng Long. Ông đã từng mở mắt cho biết bao sứ đoàn qua thăm Đại Việt. Duy có Sài Thung, trước sau vẫn kiêu ngạo. Ông chắc lần này, y phải thay đổi định kiến cố hữu của nòi đại Hán.
Một hôm ông đang huấn dụ đám học trò thì có quân bào bẩm: “Hưng Đạo vương và hoàng cô An Tư tới thăm”. Cũng là tình cờ, Trần Quốc Tuấn vừa ở Giảng võ đường đi ra, chợt thấy tiếng vó ngựa phi gấp ở phía sau. Ông thả cương cho ngựa đị nước kiêu. Một con bạch ngựa tiếng sát con tía mật của ông, chỉ kém một cái đầu. có tiếng chào trong trẻo: “Kính chào vương huynh” Ông ngoảnh lại, thấy công chúa nai nịt gọn ghẽ như một kị sĩ. Sắc phục thuần một màu trắng, điểm thêm những bông hoa kim tuyến.
Ngang lưng, công chứa thắt đai trắng, có đính những viên ngọ sáng nạm vàng. Công chúa đi hia cao tới đầu gối chứ không đi hài. Hia màu đen tuyền thêu chim phượng đỏ, hai mắt phượng định hạt châu. Công chúa đội mũ có tua kim tuyến rủ xuống hai vai và trước ngực. Ngang lưng dắt một thanh trường kiếm, Hưng Đạo nhìn cô em họ mỉm cười, gật đầu: “Chào em! Chào công chúa” – “Con bé nghịch đến thế là cùng. Phận gái mà chỉ thích chơi trò cung kiếm như con trai” – Hưng Đạo thầm nghĩ như vậy. Và ông hỏi thêm:
- Vậy chớ em ta đi đâu về đó?
An Tư công chúa cung kính đáp:
- Bẩm vương huynh, con ngựa này nghịc lắm, em phải theo nó đi dạo. Lại nhân bữa nay bên phủ Chiêu Quốc, vương huynh em gọi sang. Em nghe đâu bên Chiêu Quốc phủ đang dọn dẹp để đón sứ Sài Thung, chắc vương huynh đã biết?
- Ta cũng có nghe chuyện đó. Vậy chớ em đã giáp mặt Sài Thung làn nào chưa?
- Dạ chưa. Bữa trước em có nghe anh Chiêu Minh nói trong cung, thằng này nó hạch sách, láo xược lắm. Em định bụng, nếu gặp sẽ thí cho y một đường kiếm vào cái miệng đại Hán của nó. Vừa nói, An Tư vừa vỗ tay vào đốc kiếm bên hông.
Hưng Đạo cười, vỗ vai công chúa, ông nói:
- Em ta dũng lược quá. Em cứ mài chí và mài kiếm cho sắc, nay mai ắt dùng đến. Còn như chém sứ giả thì đó là việc đại sự quốc gia, không phải việc của em, nghe chưa?
- Bẩm vâng. Nhưng em ghét nó quá đi. Vương huynh có ghế phủ Chiêu Quốc với em không?
Một thoáng lóe ở trong đầu, quốc Tuấn nghĩ, nay mai ta về ấp An Sinh, tiện ghé thăm Chiêu Quốc vương rồi từ biệt luôn. thế là hai anh em đều thả lỏng tay cương tiến vào phủ Chiêu Quốc.

còn nữa...
Đăng nhập để trả lời
0
Thấy Quốc Tuấn đến cùng công chúa An Tư, Trần Ích Tắc vừa mừng vừa băn khoăn. Băn khoăn vì nhẽ ông chưa có chủ định mời Quốc Tuấn trong dịp này. Vả lại, nếu biết ông sắp tiếp Sài Thung, liệu Quốc Tuấn có phản bác gì không. Thật ra, Trần Ích Tắc và cả mấy an hem trong chi thứ nhà ông đều ngại Quốc Tuấn. Vì Quốc Tuấn ngoài tài thao lược, thì ông có cai uy át chủ. Kể cả Trần Thánh tông, và Trần Nhân tông đều không có cái uy toát ra từ nhân cách con người như Quốc Tuấn. Hơn nữa, mấy cha con Quốc Tuấn nắm trong tay quá nửa số quân trong cả nước. Và ai cũng canh cánh lo vì đều biết rằng, trước khi chết, An Sinh vương Trần Liễu đã di chúc lại cho Quốc Tuấn điều gì.
Chính việc cha dặn bị vỡ lở, người trong nước ai cũng biết, khiến Quốc Tuấn rất khó xử. Và mối hiềm nghi giữa hai chi trưởng, thứ cứ đeo đuổi riết róng làm ông lắm phen đau đầu. Nhất là sau khi Vũ Thành vương Doãn, người em cùng cha khác mẹ với ông bỏ nước trốn sang Bắc quốc bị bắt lại hồi năm Bính thin(1256). Ông suýt bị lien luỵ, nếu như hồi ấy không có Thái Tông đứng r ache chắn trước sự đàn hặc của nhiều người. Số là Vương Doãn, con của Thuận Thiên sinh với cha ông. Khi Hiền từ hoàng hậu băng năm Mậu than (1248), Vương Doãn cảm thấy mình hụt hẫng vì không có chỗ dựa. Lại tiếp vài năm sau, vào năm Tân hợi (1251), Yên Sinh vương tạ thế. Buồn bực vì thất sủng, Vương Doãn đem cả vợ con bỏ nước trốn đi. Sự thật, Vương Doãn vì tính quẩn lo quyanh chứ cũng chẳng có mưu mô phản trắc gì. Nhưng trờ đời, thường là phù thịnh chứ đã mấy ai dám phù suy.
Chiêu Quốc vương chưa kịp mặc áo dài đội mũ, để làm lễ tương kiến vương huynh Trần Quốc Tuấn, ông cứ luôn miệng: “ Xin vương huynh thứ lỗi”. Khi đã dẫn Hưng Đạo và công chú An Tư vào nha tân khách, sai nội thị pha trà, ông vội trở lại phòng riêng mặc áo đội khăn, rồi mới điềm đạm ngồi tiếp anh và em gái.
Hưng Đạo không phải không nhận ra sự tế vi trong giao tiếp của Trần Ích Tắc. Song đó là nét riêng trong cá tình của từng người. Xưa nay việc giữ lễ độ để tỏ cái bụng mình đối với người, cũng là sự tự kính trọng. Sau vài tuần trà, ông và công chúa được Ích Tắc dẫn đi xem khắp vương phủ, từ nhà cửa đến trang trí sắp xếp, bày biện. Cũng lại xem cả đội tinh binh đang luyện võ. Nhìn đám binh cường tráng tập tành. Hưng Đạo bằng lòng lắm. Ông thầm nhủ: “ Thế nước đứng được, tựu trung là do những người lính này”
Cũng đã có đôi ba lần ghé thăm phủ Chiêu Quốc, nhưng chưa lần nào Hưng Đạo được chủ nhân cho đi xem xét một cách thấu đáo như lần này. Càng xem, Hưng Đạo càng thấy từ việc xây cất dinh thự đến trồng tỉa cây cảnh, sắp đặt khuôn viên đều tuân th một quy củ thẩm mỹ cao. Lại như việc thành, luỹ và hào lạch được đào th thế thuỷ bộ lien hoàng, quả là chủ nhân không những có con mắt sắc sảo của một kiến trúc gia bậc thầy, mà còn có cái đầu của một chiến lược gia biết nhìn xa thấy rộng. Cho nên phủ Chiêu Quốc không thuần nhất là một dinh thự, mà còn là một pháo đài công, thủ đều có thế cả.
Cũng qua việc kiến trúc và bài trí, Hưng Đạo đọc được nét chung trong con người Trần Ích Tắc là tính phô trương, tính xa hoa, kênh kiệu, hiếu thắng. Nhưng phải thừa nhận, đây là một dinh phủ sang quý nhất Thăng Long.
Khi Chiêu Quốc vương dẫn Hưng Đạo trở lại nhà tân khách, ở đấy đã có sẵn một bày vũ nữ, ca công, nhạc công. Đám nhạc công, ca công dâng hiến hai vương một khúc nhạc Champa. Trống paranưng bập bùng, rộn rã, âm vang sâu thẳm, như lời nhắn gửi từ vũ trụ mênh mang tới con người. Kèn saranai như một lời ải não oán than, một tiên tri đồng vộng, báo trước số phận bi thảm của một dân tộc tài hoa và bất hạnh, có một không hai trên cõi thế này.
Ngồi canh Trần Ích Tắc, nghe giai điẹu Champa buồn thảm, Hưng Đạo vương cảm như mình rơi vào lạc long. Lòng ông còn ngổn ngang biết bao việc lớn chưa làm được. Và ông nghe như bước chân quân thù đang dần nhích tới biên cương. Đã toan đứng dậy cáo từ thì một bày vũ nữ vận theo lối Champa, trong như những thiên thần cánh trắng vừa từ thượng giới sà xuống trần gian. Họ múa một điệu múa dân gian Champa, khi kết thúc hợp lại thành một bong sen trắng, hàm tiếu. Sự sắp xếp và bài trí khéo đến nỗi, người xem chỉ thấy toàn thể khối người kia là một bong sen trắng khổng lồ. và mỗi con người là một cánh trắng mỏng manh, toát lên vẻ đẹp và sự cao khiết.
Nghĩ tới công việc ở An Sinh ấp, Trần Hưng Đạo thấy nóng lòng. Mặc dù khi đi, mọi việc ở nhà, ông đã uỷ thác cho Dã Tượng. Lại mới cách đây vài ngày, ông cho Yết Kiêu về trước. Ông cảm thấy bao việc đang chờ ông: việc quân, việc lương như lửa đốt đầu. Vậy mà ngồi đây nghe hát, nghe đàn thánh thót, nỉ non sao mà vô duyên thế.
Như đọc được ý nghĩ sâu xa của Quốc Tuấn, Trần Ích Tắc vẫy tay cho bầy ca vũ nhạc lui ra ngoài. Và Sai tiểu đồng dâng rượu thạch hương bồ. Uống vội một chén, Trần Hưng Đạo cáo lui.
Khi tiễn người anh họ tói công ngoài, than cầm cương ngựa trao cho Quốc Tuấn, Ích Tắc hỏi:
- Bẩm huynh trưởng, trước khi về An Sinh, huynh trưởng có điều chi dạy bảo?
Một tay đỡ lấy cương ngựa, một tay đặt lên bả vai Ích Tắc, với vẻ chân thành và cảm động, Quốc Tuấn nói:
-Chiêu Quốc vương, t among em để tâm nhiều hơn nữa vào việc mở rộng đám dân binh ở thái ấp. Cả đám đám tinh binh ở vương phủ, cũgn nên lấy thêm vài đô nữa. Hốt tất liệt không để chúng ta yên đâu. Gấp lắm rồi. Thồi chào vương – Nói xong, Hưng Đạo nhảy phắt lên mình ngựa. Chiêu Quốc vương chưa hết cảm động đã lại sửng sốt. Ông không ngờ, đã ngoài năm chục tuổi mà Quốc Tuấn vẫn còn khoẻ đến vậy. Vương mợi kịp nói một lời: “ KÍnh huynh”, thì bong con tía mật đã khuất ở nẻo đường quyanh, chỉ còn vọng lại tiếng khua lộc cộc

Hết chương 6.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 7:
Sài Thung đeo hổ phù đi lại nghênh ngang khắp đất Thăng Long như đi vào chỗ không người. Y hạch sách, quát, thét các quan tiếp sứ. Y đánh đập những người hầu hạ phục dịch rất tàn nhẫn. Phó xá buôn bán, người qua kẻ lại tấp nập, y cứ phóng ngựa ào ào. Đã có mấy bà già nhà quê ra chợ mua sắm, bị ngựa của Sài Thung giẫm cho què cẳng. Từ quan đến dân khắp kinh thành, không một ai là không căm giận, không muốn moi gan móc mắt cả đán sứ giả bạo ngược.
Thăng Long đã từng tiếp nhận nhiều tên Đa-gu-ra-tri (Đạt lỗ hoa xích) người Mông Cổ, nhưng chưa có tên nào tàn bạo, vênh vang tự phụ như tên Hán gian mạt hạng này. Nhiều người toạn hạ độc thủ hắn. Nhưng đích thân nhà vua, đã hạ chiếu cho quan đại an phủ sứ của kinh sư, phải phủ dụ cho dân chíng kinh kỳ hãy nến tâm chịu đựng, chớ có vì tức giận nhất thời mà làm hỏng đại cuộc. Kẻ kia hung hãn như vậy, là bởi đằng sau nó có cả một đạo quân lớn đang hừng hực khí thế giao tranh, chỉ cần có một cớ nhỏ là chúng ào qua biên ải.
Thật ra các hành vi của Sài Thung không phải chỉ là sự ỷ thế nước lớn, làm càn. Mà còn là hành vi đã được sắp đặt từ Yên Kinh. Cho nên triều đình quyết tâm né tránh, để tên võ sĩ mù này đấm vào gió. Chưa giáng được đòn nào vào đối thủ, kẻ từ khi y đem mấy ngang tên quân và bọn bù nhìn vào cõi ta tới nay, y càng lồng lộn. Thượng hoàng Trần Thánh Tông đã nhắc bảo quan gia và cả triều đình rất kỹ, rằng võ sĩ thượng thừa là võ sĩ tránh đòn giỏi, chứ không phải loại võ biền cứ tới tập ra đòn múa may quay cuồng như một con bọ gậy, vừa phí sức vừa gây cười cho đối phương.
Sang Đại việt lần này, Sài Thung ngỡ mọi việc sẽ trôi chảy như Hốt-tất-liệt đã sắp đặt ở Yên Kinh. Và chính y cũng hăm hở muốn nắm giữ thực quyền của chức An Nam phó đô nguyên suý. Y cũng đã có kế sách để đẩy đi, hoặc trừ khử tên tướng Mông Cổ Bột-nhan-thiết-mọcc-nhi ngu ngốc, đã được cử An Nam tuyên uý sứ đô nguyên suý. Y thừa biết, Giao Chỉ là đất giàu có, nhưng xa xôi. Địa bàn hiểm trở, khí hậu thì lam chướng, không hợp với người phương Bắc. Cho nên, bàn tay của thiên tử từ Đại Đo với tói là hụt hẫng. Nếu y được làm sứ đô nguyên suý, tức là làm vua ở một phương. Sự giàu có, thú hưởng nhàn ở đây có kém gì ở Yên Kinh. Các chứa Giao chỉ từ xưa đến nay, dám chống lại các hoàng đế Trung Nguyên, cũng chỉ dựa vào trùng dương cách trở, rừng núi âm u, ma thiêng nước độc, nóng ẩm quanh năm.
Nhiều lần cầm đầu sứ đoàn nhà Nguyên qua lại giao thiệp với Thăng Long, Sài Thung đã ngắm kỹ đại thế xứ này.
Quả là “An Nam tú khí”. Đay là một vùng đại linh anh kiệt. Khen cho quốc sư Vạn Hạnh, đã giúp Lý Công Uẩn dựng nghiệp tại đây. Quả là Vạn Hạnh có con mắt nhìn suốt tám cõi. Và Sài Thung còn nghiệm thấy một điều, dường như lòng trời tựa đám quân Nam, cho nên xưa, Cao Biền đã từng yểm đảo triệt linh, nhưng đất vẫn cứ kết phát. Vản ta xem tinh tượng, Sài Thung tự nhủ-anh hùng hào kiệt còn quy tụ tại đây nhiều lắm. Chính vì vậy Sài Thung ao ước, nếu như y làm chủ đất này, y cũng xưng đé. Tiến lên phía Bắc, có thể cự được Nguyên triều. Lui về phương nam, mở rộng đất đai vờ cõi không giới hạn. Nhưng Sài Thung đang đứng trước một tình thế khó xử. Y không biết ăn nói như thế nào với Hốt-tất-liệt, một con người tính nóng như lửa. Và trong cuộc đời, ông ta không chấp nhận bất cứ một kẻ thuộc hạ nào dám nói với ông ta: “Việc nầy việc nọ không làm được. Thành này thành kia không hạ được”. Ông ta chỉ chịu thua có trời. Ấy là lần đại đội binh thuyền của ông vượt biển đông, nhằm đất nước Phù Tang trực chỉ, bị báo lộc nhấn chìm. Việc chinh đông tạm dừng. Song không vì thế đất ấy lại được phép nằm ngoài vòng cương toả của ông...
Rõ ràng là Sài thung đang ở vào hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan. Y có thể đi bất cứ nơi nào trong đất Đại Việt và kinh thành Thăng Long, không ai động đến một sợi tóc của y. Nhưng y vẫn cứ như một kẻ mù loà. Những tên tay sai, phái sang từ mấy chục năm nay đều bị triệt hạ. Những tên mới sang thì như một lũ ngớ ngẩn. Tin tức nội tình của triều Trần không thâu tóm được điều gì đáng giá cả. Quân lương của họ ra sao, bố trí binh lực thế nào đều không biết rõ. Các tướng suý của họ, nắm trong tay bao nhiêu binh sĩ cũng không biết. Họ sở trường về đánh bộ, đánh thuỷ thế nào cũng chưa tường. Nếu các việc này chưa nắm được rõ ràng, lúc đại quân kéo sang thì khai triển thế nào. Vì vậy, Sài Thung đang tính mọt nước cở liều. Tức là phải tìm nội ứng trong số các quan lại, tướng suý triều Trần. Dạo trước, y đã ý tứ ướm gan với viên tướng quốc thái uý Trần Quang Khải, nhưng việc không thành. Nay lại dấn thêm một bước nữa. Đó là một việc làm táo bạo. Được ăn cả, ngã cũng không mất gì, Sài Thung nghĩ vậy. Chính vì thế y mới mạnh dạn gửi tới Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc một cánh thiếp và một chút quả mọn: bức tranh lụa. Y thừa biết một con người phú quí, vinh hoa tột đỉnh, tài năng siêu quần như Trần Ích Tắc, dễ gì mua chuộc và lung lạc được. Song y vẫn cứ muốn thử xem. vì mội con người, dù là vĩ nhân, vẫn có điểm yếu. Cái chính là tìm cho ra điểm yếu ấy nó ẩn tàng ở đâu, như Gia Cát tiên sinh tìm thấy nơi sau gáy Nguỵ Diên một cái vảy.

Còn nữa...
Đăng nhập để trả lời
0
tiep tuc

Nhận được tiếp phúc đáp của Chiêu Quốc vương, Sài Thung mừng lắm. Y gọi mấy tên thuộc hạ sẽ cho theo hầu, dặn dò cẩn thận. Lại sai soạn sửa lễ biếu, quà cáp rồi lên kiệu qua của Quảng Phúc đi ra phía tây kinh thành. Thăng Long đã vào hạ. Các chùa chùa chiền đêm ngày rộn rã tiếng chuông, mõ, kinh kệ. Các chùa lớn như Diện Hựu, Sùng Khành, Báo Ân đều mở hạ. Tăng ni nhiều chùa xung quyanh vùng tấp nập về ngồi hạ. Khóa hạ năm nay đông vui hơn các năm trước nhiều.
Thắng năm, trời nóng như đổ lửa, ngồi trong kiệu lại có lọng che nắng hai bên, mà mồ hôi cứ chảy ròng ròng cuống cổ, xuống lưng áo. Tuy nóng nực, nhưng trong lòng Sài Thung rất vui. Thỉnh thoảng lại có một làn gió mát từ mặt hòa Dâm Đàm thổi hắt qua kiệu, Sài Thung cảm thấy khoan khoái. Kiệu Sài Thung đi được chừng non một dặm đường, thì gặp Chiêu Quốc vương ra đón. Hai kiệu vừa gặp nhau, quân hầu đốt pháp, cử nhạc thật long trọng. Cả Sài Thung và Trần Ích Tắc đều xuống kiệu. Đôi bên thi lễ hỏi thăm sức khỏe của nhau, rồi Chiêu Quốc vương mời Sài Thung lên chiệc kiệu riêng, ông đem đi đón. Đó là một chiếc kiệu bốn đòn khiêng sơn then bong đẹp, lại chạm phượng ở cả ba mắt và rèm the mát rượi. Kiệu vừa hạ xuống ở đầu dinhk, đã có một đội tinh binh nai nịt gọn gang, kiếm tuốt trần, chào đón sứ giả. Lại có cả nhã nhạc nổi lên, nhịp với bước đi của chủ khách từ cổng tới nhà tiếp tân.
Sài Thung để ý thấy ngôi nhà được xây trên một doi đất cao ráo. Phải le chin bậc thềm mới tới nền nhà. Qua hai lần cửa bức bàn tói lần cửa võng mới vào đại sảnh. Vừa đặt chân vào nhà, Sài thung thấy mát lạnh ớn cả sống lưng, và một mùi hương sạ ùa ra thơm phức.
Sài Thung được mời ngồi vào một trong hai chiếc thái sư ỷ (ghế thái sư ngồi). Những người th hầu Sài Thung ngổi vào kỷ hoặc đôn kê xen kẽ. Giữa đại sảnh đặt một chiệc đỉnh đồng hun đen nhánh, cao hơn đầu người, trên nóc đỉnh đúc hình một con sư tử đang vờn quả cầu, to gần bằng con sư tử thật. Hai bên đỉnh là một cặp lộc bình sứ cao ngang ngực người đứng, có hoa văn vẽ các loại cây cỏ, tiêu biểu cho bốn mùa trong năm. Đây là cặp lộc bình khá đẹp, do một nhà buôn người Bat ư biếu ông, nhân dịp khánh thành nhà tân khách. Vì nó mới được sản xuất từ đầu đời nam Tống, tính ra độ hơn một trăm nam.
Phân ngôi chủ, khác xong. Sài Thung sai bầy đồ biếu tặng cho chủ nhân. Ấy là một tập thơ Lý Bạch có bút tích của nhà thơ, được đặt trong một chiếc hộp bằng vàng ròng. Và một bức tranh lụa của hoạ sư Triệu Mạnh Phủ. Cùng một số thuộc văn phòng tứ bảo như nghiên mực, mực thỏi, son, lụa Tô Châu để vẽ tranh. Bút viết, bút vẽ đủ cỡ, đủ kiểu. Quí hơn cả là một chiếc đỉnh bằng trân ngọc, có vân như vân khoai sọ, to bằng quả bưởi. Đây là vật báu của nước Tề từ thời Chiến Quốc lưu lạc trong dân gian, có một nhà phú hào mua được đem biếu Sài Thung. Sài Thung hai tay nâng vật báu trao cho Trần Ích Tắc. Y nói: “Quý vật tầm quý nhân. Ngài là dòng dõi vương giả và có đại phước, nên vật báu mới tìm về. Xin ngài lưu giữ, và chứng cho tấm lòng thành của kẻ quê hèn này”.
Trần Ích Tắc xiết bao cảm động. Từ trước, Chiêu Quốc vương vẫn quen nghĩ rằng, người nước ngoài tới thăm ông là lẽ đương nhiên. Vì trong nước này, còn ai sang quý hơn ông, còn ai tài ba trác việt hơn ông? Họ tới thăm ông thường cốt để tỏ lòng sung kính, và thoả óc chime ngưỡng tò mò. Lần này quả thật ông không ngờ, một vị sứ giả tài ba, một quan thượng thư của thiên triều thật lòng quý mến, trao cho ông những báu vật, thế gian hy hữu. Về phần mình, ông cảm như những báu vật hiên ông đang được nắm giữ trong tay, là ngoài tầm mong ước của ông. Sợ rằng ông chưa đủ tài đức để thừa hưởng. Ví như một tập ba trăm bài thơ của thánh thơ họ Lý đây, lại có cả đôi dung bút tích của ông nữa. Thật là một vật báu không thể liệt vào hạng thứ hai trong thế gian được. Rồi báu vật nước Tề …
Nhân có vài món đồ quí Sài Thung mới tặng, Chiêu Quốc vương mời khách ghé thăm Thi-thư-hoạ-viện của ông. Đó là một ngôi nhà cao ráo nằm sau nhà tân khách độ dăm chục bước chân. Hai nhà cách nhau bằng một vường hoa và chậu cảnh. Bước qua khu vường cây, Sài Thung ngầm đoán về tính cách và khát vọng của chủ nhân. Y gật gù tự nhủ: “Con người này quả là ghê ghớm. Quả là thâm trầm”.
Thi-thư-hoạ-viện là một ngôi nhà bảy gian thoáng rộng. Năm gian dung để chứa sách. Cũng gọi là tàng thư. Sách được xếp ngay ngắn trong các kệ. Gáy sách đều nhất loạt quay ra ngoài, có đề tắt tên sách và ký hiệu các thư mục. Thông thường, Sách ở đây được đóng bằng một loại bìa có phết sơn ta, đen hoặc đỏ. Với những bộ sách quí, còn được đóng gáy bằng đồng lá. Toàn bộ sách trông Thi-thư-hoạ-viện này có độ trên chục ngàn bản. Ghé vào khu vực tàng thư, là để Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, đặt cuốn thơ Lý Bạch mà viên chánh sự nhà Nguyên vừa đưa tặngu lên vị trí trang trọng nhất.
Trần Ích Tắc khẽ đẩy vào tấm cửa ngách ngỏ then, chủ khách bước vào khu vực trưng bày tranh, tượng.
Sài Thung giật mình trước hết là bức chân dung thiếu nữ. Bức tranh to bằng một phần tư chiếc chiếu trải giường. Vẽ một thiếu nữ với vẻ mặt đài các, nhưng trong sang như một thiên thần. Nàng vận toàn đồ trắng, tóc mây đen nhức buông phủ trên bờ vai. Một chiêc đai đỏ thêu kim tuyến đôi chim phượng đang múa. Mắt phượng đính ngọc sang lấp lánh cùng với vẻ sang từ đôi mắt thiếu nữ toả ra. Thiếu nữ ngồi vững vàng trên mình ngựa. Một tay thả long dây cương, tay kia cầm ngọn roi buông xuôi chiều với đuôi ngựa, toát lên một sức mạnh bí ẩn nội tâm, và một vẻ yên bình thần thánh. Gương mặt thiếu nữ vừa toát ra vẻ thong minh hóm hỉnh, như là nàng bật chợt ra roi phi nước đại, khiến cho cả con vật lẫn ai chime ngưỡng nàng đều bất ngờ. Và đằng sau đám bụi cuốn lên từ vó ngựa, là chuỗi cười giòn khanh khách. Bức tranh như có một ma lực hút chặt cặp mắt Sài Thung vào đó, khiến y không còn nhìn thấy bức “Sơn thuỷ hoạ” của Tống Huy Tông trêo bên cạnh, mà y mới đưa tặng cho Trần Ích Tắc được ít ngày.
Sau vài giây định thần, Sài Thung như có ý ngượng. Bèn khen: “Đẹp quá! Bức tranh đẹp quá! Thần họa!” Y lại nói tiếp, trước khi ngồi vào ghế: “ chẳng hay đại nhân tìm ở đâu được bức họa tuyệt tác dường này”.
Chiêu Quốc vương sung sướng tới mức như ông có thể bay lên trời được. Cái cảm giác siêu thoát tế vi màu nhiệm của Như Lai Phật tổ, chưa bao giờ ông cảm nhận một cách đầy đủ như lúc này. Khuôn mắt Trần Ích Tắc vốn đã rực sáng như lúc nào cũng phát hào quang, bỗng ửng đỏ. Trên bàn đã dọn sẵn một be rượu Bồ đào của nước Thổ Phồn, do lão khách thương Hồi hột biếu ông từ hơn chục năm trước. Lại cặp chén “phí thúy” làm bằng một thứ đá ngọc, luôn phát ra màu cầu vồng bảy sắc, được đặt trên chiếc đĩa sứ mầu da cam, nơmnh một chiếc đĩa lửa. Tự tay Trần Ích Tắc rót rượu mời Sài Thung. Khách trân trọng nâng lấy chén rượu mà rằng:
- Chừng nào đại quan chưa cho bỉ nhân biết được nguồn gốc bức họa kia, thì kẻ quê hèn này chưa dám động đến rượu quí của ngài.
Lời nói vừa cao nhã, vừa tò mò khích lện, khiến Chiêu Quốc vương có phần hơi lung túng. Hết nhìn vào bức họa, lại nhìn vào khách, Trần Ích tắc nói:
_ Bẩm đại nhân, Đại nhân cứ gạn hỏi làm cho kẻ quê mùa này thêm ngượng. diều bất hạnh là bức họa kia lại do chính tay kẻ bất tài này vẽ. Và bỗng nhiên Chiêu quốc vương nhớ lại cách đây mấy hôm, khi ông ra cổng đón Trần Hưng Đạo, chợt nhìn thấy An Tư trong dáng điệu như thế này. Không hiểu sao, chỉ một thoáng thôi, mà hình ảnh em gái út của ông ăn sâu vào trí não đến kỳ lạ vậy. Đúng là lúc ấy, ông cũng có ý định vẽ một khuôn tranh. Cho nên khi tiễn Quốc Tuấn ra về, ông giữ An Tư lại và căng lụa lên, rồi hai an hem ra vườn vễ. Ông vẽ tới hai ba bức, nhưng không một bức nào hài lòng. Bữa ấy, An Tư suýt khóc, bởi vì ông cứ bắt công chúa phải diễn đi diễn lại mãi ở một tư thế. Lúc An Tư ra về lòng buồn rười rượi, vì cả ba bức, th công chúa đều đẹp. Nhưng ông cứ khăng khăng rằng hỏng. Theo ông: “Nó không ánh lên được cái thần của em, như lúc ta vừa chợt trông thấy em bước vào sân cùng vương huynh”.
Mãi ba ngày sau, trong một giấc ngủ trưa chập chờn, chiêu Quốc vương lại thấy lóe lên ở trong đầu cái thần thái của An Tư công chúa. Thế là ông nhỏm dậy lấy bút long, giá vẽ, mực tầu. Và ông vẽ một mạch th trí nhớ bức chân dung này. Ông đã cho người gọi An Tư công chúa sang xem và định bụng, nếu em ông thích, ông sẽ tặng. “Tội nghiệp, hôm áy con bé chỉ thích mấy cái tranh vô hồn”. Thế nhưng em ông, đã th vương huynh ra vùng An Bang.
Lại đến lượt Sài Thung sửng sốt, chén rượu Bồ đào trên tay y run run, sánh ra ngoài mấy giọt. Giong y xúc động:
- Núi thái sơn trước mặt mà ta không được biết. Xin vương tha lỗi cho sự thất lễ của kẻ có mắt như đui này. Cạn chén mừng vương, mừng một họa sư – một thi bá đời nay. Nói rồi, Sài Thung nâng chén rượu lên nhấp. Y nuốt từng giọt, như để cho thứ rượu quí vô ngần kia thấm vào từng thớ thịt, thấm cả vào mọi nơi vi tế nhất của cảm giác con người. Một lát, y lại nói:
- Đọc thơ, biết được cái tâm của ngài. Ở Đại Đô, người ta ví ngày như Lý – Đỗ đời Đường. Xem cây cảnh, biết được cái chí của ngài. Xem họa, biết được cái hồn của ngài. Đúng là “An Nam tú khí” mới sinh ra được bậc kỳ tài như vương. Tự ngắt lời, hết ngắm bức tranh vẽ lại nhìn Trần Ích Tắc, Sài Thung tiếp – Người nhu ngài, ngay cả đến bên Đại Nguyên cũng không dễ gì có được, Chủ khách cứ tang bốc nhau hết lời.
Bức tranh quả là đẹp thật, người vẽ lột tả được cái thần của nhân vật; nhưng có đẹp tới mức như Sài Thung suýt xoa khen ví, thì chính Trần Ích Tắc cũng nghi ngờ.
Nhìn ngắm mãi hết xa lại đến gần. Lúc này Sài Thung mới chú ý đến dòng lạc khoản. Y giật mình:
- Hóa ra đại nhân mới hoàn thành bức họa này được ba hôm nay.
- Dạ bẩm đại quan, đúng như vậy.
- Dám xin đại nhân tha lỗi, ngài vẽ nó trong bao lâu?
- Dạ, tôi vẽ mười lăm năm, không hơn không kém.
Lại đến lượt Sài Thung kinh ngạc, y nhắc lại – Mười lăm năm trời để vẽ một bức tranh
- Bẩm đại nhân, đấy là em gái út tôi công chua An Tư. Ở công chua, tôi có một tình thương và một nỗi thông cảm đặc biệt. Em tôi vào đời không một tiếng khóc chào, dù người bảo mẫu cáo phát vào mông tới ba lần. Lớn lên, công chúa quả là một đứa trẻ có nghị lực. Thật tình tôi thương, có nhẽ vì sự lận đận trong cuộc đời mai hậu của An Tư. Vì tôi cảm mến em tôi từ lúc mới sinh. Tới nay An Tư đã tròn mười lăm tuổi, tôi mới bắt nổi cái thần của nó, thế chẳng là tôi làm việc suốt mười lăm năm sao?
Sải thung gật gù. Một điều là với Chiêu Quốc vương, là vị sứ giả này cứ nhìn như muốn nuốt lấy bức tranh. Ông linh cảm như có sự chẳng lành, bèn đứng dậy nói:
- Đại quan quá bộ giáng gót tới tệ phủ. Tôi vốn không tự lượng sức, dám khua khoắng cả ngọn bút long. Tưởng treo chơi vài ba bữa, rồi tặng công chúa, để làm chút quà lưu niệm. Ai dè lại làm nghịch mắt đại quan. Tôi thật đáng trách. Nhân đại quan mới chobức tranh của một đại sư, mà tôi chỉ được nghe danh, chứ chưa được coi họa phẩm. Vừa nói, ông vừa đứng dậy cuộn bức chân dung An Tư lại, và mở bức “Sơn thủy họa” của Triệuk Mạnh Phủ treo thế vào đó. Điều ấy không làm Sài Thung phật lòng. Trái lại, y còn săm săm đứng dậy, cùng ngắm nghía với Chiêu Quốc vương.
Bức tranh có một sắp xếp rất lạ. Lớp lớp từng dãy viễn sơn hung vĩ, như cắm sâu vào lòng đất, và chọc thẳng lên trời. Lô xô những ngọn nhọn với không biết bao nhiêu là ké nứt nơi sường đá. Tưởng như đó là những dòng thác đang gieo nước xuống các vực sâu, và ta nghe rõ cả tiếng gầm gào. Bảng lảng trên các chòm cao một màu trắng mờ ảo như mây, như tuyết. Và cận cảnh là một ngã ba mênh mông nước, là bong mấy chiếc lâu thuyền đang lãng đãng đi ra phía cửa sông. Và một bầy hạc sải cánh bay tạt ngang sườn núi.
Sau một phút trầm ngâm, Chiêu Quốc vương lên tiếng. Ông nói như nói với chính mình:
- Mọi vật đều như hiện ra trong mộng vậy. Vừa huyền bí vừa quyến rũ xiết bao. Tôi thích những khoảng không bao la, nơi không có ngọn bút long nào đặt tới. Dường như đó là những biểu hiện tư tưởng trác việt của họa sư về triết lý, nhân sinh và vũ trụ.
Sài Thung gật gù tán thưởng:
- Tôi chưa từng thấu một người nào có óc thẩm mỹ cao như đại nhân. Quả là đại nhân có một nhãn quan thấu thị. Triệu Mạnh Phủ hiệu Tử Ngang của chúng rôi, hiên nay được liệt vào loại đệ nhất danh họa. Dạ, Triệu họa sư còn trẻ lắm. Ông sinh năm Giáp Dần, năm thứ hai đời Tống Bảo Hựu (1254). Năm nay mới ở tuổi hai tám. Ông là con một gia đình quí tộc dòng dõi Triệu Khuông Dẫn.
- Đúng là cha nào con nấy! Chiêu Quốc Vương nói, mắt ông vẫn dán vào khuôn tranh. Ông lại hỏi:
- Tôi nghe nói Triệu tiên sinh còn có sử trường vẽ ngựa?
- Thật đáng tiếc là đại nhân chưa được xem bức tranh tả đàn ngựa quá giang của họ Triệu. Đúng là tiên sinh đã vẽ th bút pháp của Hàm Cán, Lý Long Miên. Song tranh của tiên sinh lại làm lu mờ hết tiếng tăn của các bậc tiền bối.
- Thế còn bức kiam thưa đại quan- Chiêu Quốc vương hỏi. Và ông chỉ vào bức tranh sơn thủy họa của Tống Huy tông.
Sài Thung mimt cười đáp:
- Đó là một hoàng đế nghệ thuật của nhà Tông. Bản thân ông ta là một họa sĩ bậc thầy. Chính ông đã khia sinh cho thời đại mỹ thuật sáng lạn chưa từng thấy trong lịch sử văn hóa Trung Hoa. Suốt hai mươi lăm năm trị vì, ông đã đưa nền hội họa Trung Quốc lên đỉnh cao chót vót.
- Bức sơn thủy họa này – Chiêu Quốc vương chỉ vào bức tranh của Tống Huy tông, nói – chứa đựng một ý tứ thâm trầm và một khát vọng bao la về cái đẹp. Chửng tỏ, ông là một nhà nghệ thuật hơn là một kẻ trị vì.
- Quả có như nhân định của đại nhân, Sài Thung đáp. Và y chợt nhận ra cuộc viếng thăm đã sa đà vào đàm đạo về hội họa. Y thầm phục sự am hiểu rộng rãi và sâu sắc về nhiều lĩnh vực văn hóa của Chiêu Quốc vương. Quả là y có ngại nói ra những điều cần phải nói. Nhưng y lại tự chủ- ta là người của một đại quốc, ta là đại nhân. Nhẽ nào hạ mình đi kết thân và tỏ lòng than phục đối với con cái của một Nam vương. Nghĩ vậy, y tự thấy mình là một con người khác: quyền thế hơn, oai phong hơn. Sài Thung bèn lái cấu chuyện sang hướng khác.
Trở về chỗ ngồi, Sài Thung tự tay rót rượu Bồ đào vào chén ngọc cho Chiêu Quốc vương. Y cũng tự rót cho mình. Rồi tay nâng chén rượu, miệng nói:
- Quả là ở An Nam ta chưa gặp một người nào để ta trọng nể như ông.
Ông mới xứng đáng làm quốc vương xứ này. Giả và mượn rượu, Sài Thung đưa đẩy một ý thăm dò hiểm độc. Y nhìn thẳng vào mặt Trần Ích Tắcm xem ông có tỏ lộ nét gì khả dĩ đáp ứng điều y đang tìm kiếm.
Trần Ích Tắc bỗng tối sầm mặt lại. Ông đóng nút bình rượu và nói:
- Tôi thật có lỗi đã mời đại quan quá chén, để đại quan xúc phạm đến quốc vương tôi.
Sài Thung vờ như không biết gì hơn. Y nói thêm- Ồ, quốc vương là cháu ông chứ ai, tôi nói đây là nói đến tài năng, đức độ của ông xứng đáng ở ngôi quân trưởng, chớ tôi có chê gì quốc vương An Nam.
Trần Ích Tắc ông sẵng giọngL
- Nếu ông còn tiếp tục nói về quốc vương tôi với các lời lẽ bất kính, thời tôi xin phép được nói rằng, cuộc tiếp kiến ông tới đây là chấm dứt.
Sài Thung hiểu sự việc không thể đi xa hơn được nữa. Y cười sằng sặc: - Tôi vẫn nghĩ đại nhân rộng lượng với người say. Lỗi tại cái rượu Bồ đào của đại nhân ngon quá.
Trần Ích Tắc cũng hiểu tình thế không thể làm quá được với Sài Thung.
Trở lại chuyện trò vui vẻ, Sài Thung nói:
- Tôi vẫn có lòng mến đại nhân. Do đó, nmến cả đất Giao Chỉ này. Nhưng tình thế không thể nói trước được. Tôi sợ thiên tử tôi lần này sẽ không dung thức nếu bên An Nam, quân trưởng không chịu vào chầu. Lại không cho con sang làm con tin, và nộp lương, giúp quân cho đại binh thiên triều đánh Chiêm Thành.
Trần Ích Tắc tự thấy đây không phải là cuộc thương thuyết, và ông cũng không được triều đình giao cho thương nghị với sứ giả về việc này. Nhưng ông thấy, không nên bỏ qua cơ hội. Ông nói:
- Nếu thiên tử có thương nước chúng tôi, là trước hết, đại quan có thương nước chúng tôi khôg đã. Nếu đại quan thương, vhỉ tâu cho một lời, ắt thiên tử sẽ thi ân cho cái nước phên dậu nghèo yếu xa xôi này.
Sài Thung cười hì hì:
- Hay thật, ở nước các ông, từ vua, quan, cho đến dân thường đều nói giống nha.
- Ấy bởi bên thượng quốc từ xưa đến nay thiên tử cũng chỉ nói với nước chúng tôi có mỗi một điều. Khi nào thiên tử nói khác, chúng tôi mới dám nói khác chứ.
Sài Thung không những không trách về lối ăn nói phạm thượng của Chiêu Quôc vương, mà y còn cảm thấy nét khôi hài nhưng rất mẫn tuệ trong lời đáp của Trần Ích Tắc. Y nghĩ – Quả là bên Đại Đô người ta chưa nói điều gì khác ngoài cái việc bức bách An Nam lệ thược, như miễn thuế, hoặc xin trì hoãn các việc một cách hết sức khôn ngoan. Nhìn thẳng vào mắt Chiêu quốc vương, Sài Thung nói:
- Tôi vẫn có lòng ngưỡing mộ đại nhân. Sợ sau này hai nước có chuyện can qua, trong đám loạn quân không biết thế nào mà nói trước được, đại nhân nên giữ cái tín bài này, để dễ tìm nhau trong hoạ biến. Y vừa nói vừa móc túi lấy ra một vật nhỏ gói bọc kỹ càng trao cho Chiêu quốc vương, và dặn thêm: thiên tử vẫn có ý mến mộ ông lắm đấy.
Trần Ích Tắc đỡ lấy với vẻ xúc động.
Sài Thung lại nói:
- Xin đại nhân gia ơn cho tôi một việc.
Trần Ích Tắc sửng sốt nhìn Sài Thung
Y nói:
- Đại nhân cho tôi xin bức hoạ chân dung công chúa An Tư. Đó là bức chân dung đẹp nhất mà tôi được biết đến. Tôi chỉ muốn đem bức tranh này về Đại Đô Yên Kinh, để bắt mọi người phải thay đổi quan niệm rằng: “An Nam đã có danh hoạ”.
- Một khi đại quan đã muốn vậy, tôi còn biết nói thế nào. Ông trao bức tranh vào tay Sài Thung và nói thêm – chỉ sợ nó không xứng với lòng mong muốn của đại quan. Và Trần Ích Tắc lo cho số phận của em ông – điều mà từ lâu ông vẫn quan hoài về An Tư công chúa.

het chuong 7.
Đăng nhập để trả lời
0