📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

VẠN HUÊ LẦU diễn nghĩa - truyện tàu 🔒

49 trả lời, 6.423 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-16 06:40:12Hoàng Dung>
tựa: Vạn Huê Lầu diễn nghĩa
loại: Trung Hoa
dịch giả: Mộng Bình Sơn
nhà xuất bản văn học
đánh máy: Hoàng Dung
 
Vạn Huê Lầu diễn nghĩa
lời nói đầu

VẠN HUÊ LẦU là một bộ y truyện có giá trị sử liệu của TQ, được phổ biến rộng rãi sang Việt Nam từ xa xưa. Các vị cụ lão nước ta trước đây đã lấy tích truyện soạn ra tuồng hát và trình diễn khắp nơi trong dân gian, làm cho nhân vật trong truyện trở nên quen thuộc.
Truyện viết vào thời Tống, sau Ngũ Đại, Thập Quốc, thời kỳ mà “năm nước mười đời” đánh nhau liên miên, dân chúng chết chóc đói khát.

Bắt đầu từ năm 960, Triệu Khuông Dẫn cướp ngôi nhà hậu Chu, tiêu diệt các lực lượng phong kiến hùng cứ các nơi, thống nhất đất nước, trừ nước Liêu phía Bắc sông Hoàng Hà, đánh nước Hạ phía Bắc Trung Quốc... và đóng đô ở Khai Phong lập nên nhà Tống, lịch sử gọi là Bắc Tống (960- 1127).
Sau thời kỳ thống nhất, nước Tống luôn bị nước Liêu và nước Hâ ở phía Bắc Trung Quốc tấn công, làm cho nước Tống nhiều lần thảm bại.
Nước Liêu gồm các bộ lạc du mục ở phía Đông Bắc Trung Quốc đến phía Bắc sông Hoàng Hà, năm 916 gọi là nước Khiết Đan, sau đổi thành nước Liêu.
Nước Tây Hạ gồm các bộ lạc dân tộc Khương ở Tây Bắc Trung Quốc, thấy nước Tống muốn gồm thâu thiên hạ nên kéo quân xuống phía Nam tranh chấp.
Đến năm 1115, vùng Cát Lâm, Liêu Ninh lại nổi lên một quốc gia mới gọi là nước Kim.
Năm 1125, nước Kim tiêu diệt nước Liêu, rồi kéo binh xuống đánh Tống, bao vây Khai Phong. Vua Tống đầu hàng, nước Kim tạm rút lui về phía Bắc.
Năm 1127, Kim lại đánh Tống bắt được vua Tống là Tống Huy Tong và vua Tống Khâm Tông, phá nát kinh đô, làm cho nhà Bắc Tống bị diệt vong.
Sau khi quân Kim rút lui về Bắc, Triệu Cấm em của Khâm Tông, được một số tôi thần tôn lên làm vua ở Ưng Châu Hà Nam, xưng hiệu là Cao Tông thành lập nhà Nam Tống (1127-1287)
Nhưng triều đình Nam Tống nhu nhược, thu dụng nhiều tôi nịnh nên chính trị không vững vàng, nhiều lần bị quân Kim đánh phá làm cho nhân dân bị đói kém, sưu thuế nặng nề, phong trào nhân dân khởi nghĩa nhiều nơi, gồm cả cuộc khởi nghĩa của nông dân ở Lương Sơn Bạc do Tống Giang điều khiển.
Nói về việc cải tổ, chỉnh đốn việc cai trị thì thời Bắc Tống có cuộc cải cách của Phạm Trọng Yêm, thời Nam Tống có cuộc cải cách của Vương An Thạch, nhưng cả hai cuộc cải cách ấy cũng không cứu vãn được tình thế.
Triều Tống có hai lần kéo quân đến đánh Việt Nam, nhưng cả hai lần đều bị thua thiệt.
Lần thứ nhất vào năm 981, quân Tống bị Lê Hoàn đánh bại ở sông Bạch Đằng, tướng Tống là Hầu Nhân Báo bị giết chết.
Lần thứ hai vào năm 1076, nước Tống lại đem quân xâm lược nhưng Lý Thường Kiệt đánh phá không vượt qua nổi sông Cầu và binh Tống bị giết chết quá nhiều, nên tướng Tống là Quách Quỳ phải rút quân về nước.
Đến thế kỷ XIII, quân Mông Cổ bành trướng khắp nơi ở Châu Á, và Đông Âu, năm 1234 diệt nước Kim, năm 1297 diệt Nam Tống thành lập nhà nước Nguyên ở Trung Quốc.
Đó là bối cảnh chung của một số truyện ghi lại tình hình Trung Quốc thời ấy.
Vạn Huê Lầu dựa theo những thập niên đầu của thời Bắc Tống giai đoạn chống lại nước Liêu, và những diễn biến nội bộ của triều đình nhà Tống.
Phần nội bộ phản ánh hai phe trung và nịnh âm mưu chiếm đoạt quyền thế, tạo ra nhiều âm mưu xảo trá, tác động vào chính trị của Tống triều.
VẠN HUÊ LẦU là một quán rượu, được lấy tên đặt cho bộ truyện, nơi đó là chỗ gặp gỡ của các anh hùng khí phách, mà cũng là nơi mâu thuẫn giữa trung và nịnh, giữa chánh và tà làm cho cốt truyện lắm điều kỳ thú.
Phần nổi bật nhất trong truyện là Bao Công xử án Quách Hoè sau mười sáu năm mới phát giác. Mặc dù Quách Hoè được Hoàng thái hậu che chở, song Bao Công là người ngay thẳng, tôn trọng công lý, nên đã vạch trần âm mưu của nịnh thần qua những hành động gian ác chôn chặt trong qúa khứ.
Đọc VẠN HUÊ LẦU chúng ta tìm hiểu được lòng người tự ngàn xưa, vẫn phân định hai ranh giới thiện, ác, và đó là những bài học mà chúng ta tìm hiểu trong lẽ sống con người.
Mùa thu năm 2000
MỘNG BÌNH SƠN


📎 nhac phi 1.. (Small)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-15 18:49:14Hoàng Dung>
hồi thứ nhất
Nơi Kim khuyết thiếu cung nữ
Đất Sơn Tây tìm mỹ nhân

Bấy giờ triều Tống, vua Chơn Tôn là con thứ ba của vua Thái Tôn, tên là Hằng tức vị năm Mậu Tuất lấy niên hiệu là Hà Bình phong cho vợ lớn là Lưu phi làm hoàng hậu, vợ thứ là Lý phi là Thần phi. Cả hai đều được vua yêu mến.
Năm ấy, hai bà đều có thai, vua mừng rỡ ước ao sanh đặng hoàng nam để nối ngôi.
Còn trong triều thì bá quan đầy đủ, cũng có người trung thần vị quốc, cũng kẻ gian nịnh lộng quyền. Những người trung thần như: thái sư Lý Hằng, khu mật sứ Vương Đáng, thừa tướng Khấu chuẩn, thị chế Tôn Thích.v.v... còn những kẻ gian thần như: Vương Khâm Nhược, Đinh Vị, Lâm Tri, Trần Hằng Niên là Lưu Thừa Khuê. Năm người ấy cùng một phe đảng gọi là ngũ quỷ làm rối loạn triều đình.
Lúc ấy có Bao Chuẩn làm quan Phủ Doãn tại phủ Khai Phong, còn Bàng Hồng làm quan khu mật, hai người ấy một đàng trung một đàng nịnh, cho nên không thuận với nhau.
Vào năm Hà Bình thứ ba, nhằm năm Canh Tý, có quan cận thần tâu với nhà vua xin tuyển thêm cung nữ, vì trong cung thiếu người hầu hạ.
Vua Chơn Tôn nghe tâu nghĩ thầm:
- Năm trước ta đã thả ra hơn một ngàn năm trăm cung nữ, lẽ nào năm nay lại tuyển thêm cung nữ khác. Thôi để ta hạ chỉ cho tuyển thêm một số ít, nhân dịp lựa một nàng có sắc đẹp nết nàng, ban cho Vương huynh để Vương huynh ta có con nối nghiệp.
Nghĩ như vậy, vua Chơn Tôn liền hạ chỉ sai Trần Lâm ra tỉnh Sơn Tây phủ Thái Nguyên tuyển chọn tám mươi mỹ nữ, không được tuyển quá số ấy, kỳ hạn năm tháng phải về triều phục chỉ.
Trần Lâm lãnh mạng lui ra, đem thêm tám tên dũng sĩ để hầu cận và một ngàn binh để rước mỹ nữ về.
Đoàn người đi độ một tháng thì đến phủ Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây. Các quan địa phuơng nghe tin đều đón tiếp rước vào thành.
Trần Lâm truyền chỉ:
- Nay có thánh chỉ truyền tuyển chọn mỹ nữ, bất kỳ nhà quan hay dân hễ có con gái đẹp đều phải ghi tên vào sổ để tuyển chọn. Kẻ nào ẩn giấu sẽ bị tội nặng.
Ngày ấy trong thành phủ Thái Nguyên rất xôn xao, các nàng gái đẹp đều tìm cách gả cưới không cần kén chọn giàu sang. Vì vậy có nhiều trai nhà nghèo, hèn hạ cưới được gái đẹp giàu sang. Ấy cũng vì lòng cha mẹ thương con, sợ con gái mình tuyển vào cung thì không biết ngày nào mà gặp mặt. Chẳng những con nhà dân phải lo sợ, mà đến cho nhà quan có sắc đẹp cũng phải lo âu trốn tránh.
Bởi vậy qua một thời gian, Trần Lâm chỉ thu nạp được hai trăm mỹ nữ, nhưng chỉ có hai mươi người là con nhà qua, còn bao nhiêu là con nhà lê dân hết. Trần Lâm lựa lại chỉ được 60 người có diện mạo chỉnh tề, còn bao nhiêu đều thả về hết.
Trần Lâm nói với các quan:
- Năm trước thiên tử thả cung nữ ra hết, nay phải chọn cho đủ số tám mươi người, trong đó phải cho cho được bậc quốc sắc thiên hương mới vừa ý thiên tử. Nay con gái các bậc quan quyền không ra mặt nên tôi buộc lòng phải đến từng nhà tra xét.
Các quan nghe Trần Lâm nói đều nhìn nhau lo lắng, trong số đó có một vị quan võ tên Địch Quảng đang làm chức tổng binh có cô con gái đẹp liệu bề giấu không nổi nên xin kỳ hạn ba ngày sẽ tìm dâng nạp đủ số.
Trần Lâm chấp thuận. Các quan đều lui ra, ai về dinh nấy.
Nguyên Địch Quảng có vợ là Mạnh phu nhân, sanh được hai đứa con gái. Người lớn là Địch Thiên Kim, mới mười sáu tuổi mà hoa nhường nguyệt thẹn, lại thêm nghề cầm kỳ thi họa, đẹt phụng thêu hoa, tuy chưa định gả cho ai song không chịu ghi tên vào sổ tuyển chọn.
Ngày ấy Địch Quảng về dinh, mặt buồn dàu dàu. Mạnh phu nhân thấy vậy hỏi:
- Hôm nay có việc chi mà trông tướng quân buồn như vậy?
Địch Quảng liền kể hết cho Mạnh phu nhân nghe. Vợ chồng đang cùng nhau than thở thì có Địch Thiên Kim bước vào nghe rõ sự tình liền hỏi:
- Việc hai anh chị buồn bã em đã nghe rõ hết rồi. Nhưng anh chị ơi, việc đã đến nước này còn giấu em làm chi.
Địch Quảng nói:
- Em ơi! Nay cha đã qua đời rồi, chỉ còn lại mẹ già và hai anh em mình thôi. Nếu anh đem tên em ghi vào sổ thì mẹ già phải buồn bã khóc than vì phải ca con, e mang bệnh mà chết. Vì vậy ta định về tâu với thánh thượng dung tha tội không tham dự kén chọn mỹ nữ.
Thiên Kim nói:
- Không nên đâu! Anh là người làm quan lẽ đâu không rõ phép nước. Nếu thiên tử không chấp thuận lời cầu xin thì làm sao tránh khỏi tội khi quân, liên luỵ đến mẹ già nữa. Ấy chỉ vì em mà anh mang tiếng bất trung, bất hiếu. Xin anh hãy suy xét lại.
Địch Quảng hỏi:
- Vậy ý em thế nào?
Thiên Kim nói:
- Theo ý em thì thì thà liều một mình em mà giữ vẹn cả nhà, còn phần anh khỏi lo tội nghịch chỉ nữa.
Địch Quảng nghe nói cứ ngồi than thở mãi.
Hôm sau Địch Quảng đang ngồi buồn bã thì có quân vào báo:
- Nay có Trần thái giám dẫn quân đi lục soát nhà của quan, chốc nữa sẽ đến đây. Địch Quảng nghe báo mặt mày càng buồn bã, còn Mạnh phu nhân thì tay chân bủn rủn.
Thiên Kim nói:
- Anh chị đừng lo sợ, em sẽ bằng lòng tiến cung nếu được chọn.
Nói rồi bèn kêu gia nhân bảo ra đứng ngoài cổng, đón Trần thái giám, nói:
- Xin đừng xét dinh ta. Địch tổng binh có một người em gái chịu đứng vào sổ kén.
Gia nhân vâng lệnh ra nói y như lời.
Thiên Kim lại sai a hoàng đến Phật đường thỉnh mẹ mình là Nhạc thị thái phu nhân vào hậu đường.
Mọi người trông thấy nhau đều rơi lệ. Thiên Kim thưa:
- Mẹ ơi nay có thánh chỉ sai Trần Lâm đến đây chọn mỹ nữ vào cung, song còn chưa đủ số, cho nên Trần Lâm đến kiểm soát từng nhà. Con không thể cho gia đình mang tiếng khi quân nên mời mẹ đến đây để tỏ cùng mẹ.
Nói xong nàng khóc oà lên. Bà Nhạc thị nghe mấy lời tay chân bủn rủn, còn vợ chồng Địch Quảng tuy dau buồn cũng phải khuyên lơn.
Xảy có quân vào báo:
- Quan thái giám Trần Lâm nói nếu có Thiên Kim đã bằng lòng thì phải lập tức trình diện để kịp tuyển chọn.
Bà Nhạc phi vừa khóc vừa nói:
-Thôi, để mẹ đưa con ra khỏi dịch trung cho hết tình mẫu tử.
Thiên Kim lạy mẹ và hai anh chị rồi từ giã lên kiệu, còn Địch Quảng cũng lên ngựa đưa em gái đến dịch trung. Ba mẹ con đều vào ra mắt Trần Lâm.
Trần Lâm xem thấy Thiên Kim thật là tuyệt sắc giai nhân thì cả mừng nói với Địch Quảng:
- Vậy cô này là con gái của ngài sao?
Địch Quảng nói:
- Nàng là em ruột của tôi. Hôm trước ngày có bảo con cháu các quan ai có sắc đẹp thì ghi vào sổ kén. Sở dĩ tôi chần chờ là vì trong nhà còn có mẹ già, sợ thân mẫu tôi buồn rầu mà sanh bịnh, nên chưa dám đến đúng ngày. Xin ngài về trào tâu với thiên tử soi xét.
Trần Lâm nói:
- Việc ấy không can chi hết. Nay ngài đã vâng chỉ đem em ra dự tuyển thì có tội gì đâu. Còn như em ngài nhan sắc như vậy nếu vào cung thì được hưởng vinh hoa phú quý.
Trần Lâm chọn Địch Thiên Kim vào đầu sổ rồi từ tạ Địch Quảng đưa nàng Địch Thiên Kim về cung.
Lúc này bà Nhạc thị và Thiên Kim lòng đau như cắt, mẹ con khóc sướt mướt không thôi. Trần Lâm khuyên:
- Xin lão phu nhân bớt cơn sầu não trở về dinh, sớm muộn cũng có tin tức hồi âm. Tôi chắc tiểu thư sẽ được trọng vọng.

Lời bàn:
sắc đẹp của nữ giới là một lợi khí sắc bén xưa nay đã từng làm mất nước khuynh thành, nhưng trước tình cảm gia đình không thể nghĩ đến cái lợi khí ấy mà vơi đi những gì đau khổ trong cách biệt.
Trần Lâm, người có trách nhiệm tuyển chọn mỹ nữ đưa vào cung cũng đã thấy rõ điều đó. Một Địch Thiên Kim sắc nước hương trời, được đưa vào cung thì quyền quý cao sang như đã nằm trong bàn tay, nhưng không vì vậy mà lúc chia xa tình mẫu tử không bị xót xa đau đớn.
Con đường công danh, phú quý và tình quyến luyến gia đình nhiều lúc tác động nhau, làm cho con người phải đau khổ.
Trong cuộc sống xưa nay, người kẻ anh hùng hào kiệt trước bổn phận làm trai phải đem thân gánh vác trách nhiệm làm người nhưng trong lúc thi hành phận sự, đem chí khí đảm nhận việc lớn đôi khi vướng mắc tình cảm gia đình mà bỏ lỡ cơ hội lập thân. Đó là lẽ thường tình mà con người phải đấu tranh giữa tình cảm và trách nhiệm.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-16 18:41:07Hoàng Dung>
hồi thứ hai
Thánh chúa thưởng anh mỹ nữ
Thiên Kim nhớ mẹ gửi tâm thơ


Trong lúc Địch Quảng còn đang bịn rịn cuộc chia ly với em gái mình thì Nhạc thị lấy ra một cặp ngọc uyên ương trong tay áo trao cho Thiên Kim và nói:
- Con ơi! Ngọc uyên ương này là vật lúc trước cha con phụng chỉ chinh Tây thắng trận về trào, được vua ban thưởng. Đó là loại ngọc quý có thể trừ tà ma cà ngăn chăn đao búa không thể phạm vào người. Từ khi cha con qua đời rồi mẹ còn cất giữ để làm vật gia bảo. Con nên lấy một hột mà đem theo, còn một hột để lạ cho anh con làm lưu niệm.
Sau khi đã trao ngọc quý, Thiên Kim vội vàng lên xe theo Trần Lâm về cung. Bà Nhạc thị thấy xe Thiên Kim đi rồi thì khóc rống lên một tiếng, té nhào xuống đất. Địch Quảng lật đật đỡ dậy và khuyên nhủ hết lời, bà Nhạc thị mới gượng gạo lên kiệu trở về.
Còn Trần Lâm ra khỏi thành trực chỉ trở về Biện Kinh. Đi một tháng ròng mới đến nơi truyền quân ở tại ngọ môn chờ lệnh.
Ngày ấy vua đang ngồi đánh cờ với Bác vương ở điện Trường Lạc, nghe quân vào báo:
- Thái giám Trần Lâm đi kén mỹ nữ đã về đến, xin vào phục chỉ.
Vua Chơn Tôn nghe tin mừng rỡ, truyền cho Trần Lâm vào. Trần Lâm vào bái yết, tâu lại mọi việc đi kén chọn mỹ nữ ở Sơn Tây, ròi dâng sổ bộ lên. Vua truyền dẫn hết mỹ nữ vào xem.
Trần Lâm ra ngọ môn đòi hết tám mươi mỹ nữ vào. Vua Chơn Tôn xem sổ thấy người đứng đầu là Địch Thiên Kim liền dạy đến yết kiến.
Địch Thiên Kim vâng lệnh bước ra trước mặt vua quì lạy tung hô. Vua xem thấy khen:
- Thật là tuyệt sắc giai nhân!
Bác vương cũng khen:
-Chẳng những là xinh đẹp mà lại còn chỉnh tề thùy mị, không phải là con nhà bần tiện, song chưa rõ là con bậc quan nào.
Vua nghe Bác vương nói liền hỏi Thiên Kim:
- Vậy cha nàng làm quan chi trong phủ Thái Nguyên?
Thiên Kim tâu:
- Ông thiếp là Hàm Lâm Địch Thái, cha làm chức Thống chế tên Ngươn. Anh thiếp là tổng binh Địch Quảng, cả nhà đều hưởng lộc vua nhiều đời.
Vua nghe tâu rất vui mừng, Bác vương nói:
- Té ra nàng này đã xinh tốt lại có tài, thật đáng quý.
Vua nói:
- Vương huynh nói rất đúng! Nàng này quả là dòng dõi trâm anh, thế phiệt. Trẫm có ý kén một người tài mạo để coi việc nội trợ cho vương huynh, vì từ lâu nay vương huynh sống cô độc.
Bác vương lật đật đứng dậy nói:
- Tuy bệ hạ có lòng tốt như vậy, song tôi không dám vâng lời, Địch Thiên Kim là người của bệ hạ tuyển chọn, tôi đâu dám đem về làm vợ, lỗi đạo vua tôi.
Vua nói:
- Vương huynh chớ chối từ. Ý trẫm đã dự tính từ lâu đâu phải buộc vương huynh vào con đường trái lẽ.
Vua phán xong liền truyền dẫn Địch Thiên Kim đến Nam Thanh cung và cho thêm mười sáu cung nữ theo hầu hạ.
Trần Lâm lãnh mạng đưa Thiên Kim qua Nam Thanh cung. Bác vương tạ ơn lui ra. Còn các mỹ nữ khác được vua truyền lệnh giao vào Chiêu Dương cung đặng Lưu hoàng hậu phân phát nơi tam cung lục viện.
Hôm sau, vua truyền xuất mười sáu ngàn lượng bạc, cho người đem ra Sơn Tây cấp cho những cha mẹ các mỹ nữ được tuyển vào cung để đền ơn dưỡng dục.
Địch Thiên Kim khi được vào Nam Thanh cung rồi thì các tỳ nữ đem xiêm y đến cho nàng thay đổi. Còn Bác vương mở tiệc khánh hạ mời các quan ăn uống no say.
Tiệc tan, Bác vương vào cẩm trướng làm lễ hiệp cẩn.
Hôm sau, Bác vương vào triều tạ ơn thì được nghe tin vua sai người đem vàng bạc đến Sơn Tây trả ơn cho cha mẹ các mỹ nữ được tiến cung, nên vội trở về dinh nói với Thiên Kim:
- Sẵn dịp vua sai người về Sơn Tây đem tiền bạc đền công cho cha mẹ của cung nữ, vương phi nên viết một bức thơ gởi về thăm viếng mẹ và anh chị.
Địch phi nghe nói cả mừng, sai cung nga đem giấy mực đến viết thơ và trao cho Bác vương xem. Bác vương trông thấy khen:
- Chữ viết đã đẹp mà lại rất nhanh, đáng là một nữ lưu ít có.
Bác vương liền đòi khâm sai vào để trao thơ và dặn:
- Nay ngươi phụng chỉ ra Sơn Tây, sẵn dịp đem phong thơ của vương phi mà trao cho Địch Quảng hiện đang làm tổng binh tại phủ Thái Nguyên.
Quan khâm sai vâng lời lãnh thơ lui ra.
Nguyên quan khâm sai này họ Tôn tên Tú, rể của Bàng Hồng, hiện đang làm Trị giám viên, cũng là một người trong gian đảng Bàng Hồng.
Khi Tôn Tú lãnh phong thơ thì nghĩ thầm:
- “Địch Quảng là con của Địch Ngươn, lúc Địch Ngươn làm thống chế, còn cha ta làm quan vận lương, vì đi trễ ngày bị Địch Ngươn xử trảm. Thù ấy không đội trời chung. Nay gặp được thơ này, chắc là tin lành của Địch Thiên Kim gởi về cho Địch Quảng. Vậy ta giấu tin lành mà thông tin dữ, đặng làm cho cả nhà bối rối cho bõ ghét.
Tính như vậy, Tôn Tú liền giấu thơ đi.
Hôm sau Tôn Tú vào kho lãnh mười sáu ngàn lượng bạc đem đi phân phát cho các gia đình ở Sơn Tây có con tiến cung. Khi đến nơi truyền rao cho những cha mẹ của cung nga đến mà lãnh bạc, nhưng chỉ phát cho mỗi nhà có một trăm hai mười chín lạng bạc, trong lúc nhận của triều đình đến hai trăm lượng mỗi nhà., Thế là Tôn Tú ém đi đến saú ngàn năm trăm hai mươi lượng trong đó có phần cua Địch Quảng là một trăm hai mươi lượng.
Địch Quảng lâu nay nhớ em, trông tin tức, nay nghe có khâm sai đến vội mời về nhà hậu đãi, và nói:
- Nay triều đình sai ngày đến đây đặng phát bạc cho cung nga, vậy ngài có biết tin tức Địch Thiên Kim thế nào chăng?
Tôn Tú giả vờ nói:
- Vậy Địch Thiên Kim có phải là con của ngài không?
Địch Quảng nói:
- Nàng ấy là em ruột của tôi.
Tôn Tú nói:
- Té ra nàng là em ruột của ngài! Thật tội nghiệp!
Địch Quảng nghe nói sinh nghi, vội hỏi:
- Vì cớ gì mà ngài nói như vậy?
Tôn Tú nói:
- Tôi nói cho ngài hay xin ngài đừng cho lậu ra thì tôi mang họa. Nguyên khi em gái ngài vào cung cứ nhớ mẹ khóc hoài, tam cung lục viện ai cũng ghét, nên em ngài tự ái mà thác đi. Thiên tử nổi giận bắt tội nàng làm nhơ uế trong cung nên truyền đem thây bỏ ngoài đồng. Khi tôi phụng chỉ đến đây thì thiên tử có dặn tôi hỏi thăm cha mẹ Địch Thiên Kim để làm tội. May nhờ có Trần thái giám tâu xin. Nay ngài hỏi thì tôi phải nói thật.
Địch Quảng nghe nói thất kinh, ngồi sửng sốt, còn Tôn Tú từ giã ra về. Địch Quảng ra khỏi cửa rồi trở lại.
Lúc đó bà Nhạc thị đã nghe rõ câu chuyện của Tôn Tú kể lại nên vừa khóc vừa hỏi Địch Quảng:
- Con ơi! Lời khâm sai nói đó nếu là sự thật thì mạng mẹ ắt không còn.
Địch Quảng thưa:
- Lời khâm sai nói đó có gì xác thực. Nay triều đình phái khâm sai đến phát tiền cho mọi nhà mà nhà ta không thấy nói đến con e khâm sai giấu tiền rồi kiếm chuyện bịa đặt.
Nhạc thị hét to:
- Trời ơi! Con gái tôi chết thảm như vậy sao?
Nói rồi té ngửa xuống đất. Vợ chồng Địch Quảng đỡ dậy thì bà đã tắt thở.
Vợ chồng Địch Quảng khóc than:
- Trong lúc đang bình an mà họa tới thình lình. Em ta đã thác mà mẹ cũng không còn. Tai nạn đến dồn dập.
Khóc rồi mua quan tài chôn cất.
Lúc ấy con gái Địch Quảng là Địch Loan đã mười tuổi nên đã biết thương biết khóc, còn Địch Thanh thì còn nhỏ lắm, không biết gì hết.
Ngày kia vợ chồng Địch Quảng ngồi nói chuyện đau buồn về gia cảnh, Địch Quảng nói:
- Nay em và mẹ chúng ta đã từ trần, còn chúng ta thì triều đình còn trong cơn giận, nay mai ắt cho người đến vấn tội, chi bằng từ quan, trở về quê quán để an thân.
Mạnh phu nhân thưa:
- Biết lời nói ấy có thực hay không, chi bằng cho người về Tràng An dọ thăm tin tức thế nào đã rồi sẽ tính.
Địch Quảng nói:
- Tràng An xa xôi lắm! Vừa đi vừa về phải mất vài mươi hôm. Nếu chẳng may triều đình vãn tội thì toan liệu sao kịp. Thôi ta tính về quê thì cứ ra đi cho an thân.

Lời bàn:
Những kẻ gian nịnh, xảo trá thì trong lòng lúc nào cũng tìm cách hại người. Thù hận và ganh ghét luôn luôn là chỗ núp ở trong lòng kẻ gian nịnh.
Lời nói của kẻ gian nịnh còn độc hơn gươm đao. Tôn Tú chỉ nói có một lời mà giết chết bà Nhạc thị, một mẹ già quá thương yêu con gái mình.
Kẻ gian nịnh không có nhân tính nên không hề có lương tâm trước sự đau khổ của kẻ khác, mà ác tâm thì lại rất độc hại. Lòng thương người không ở trong lương tâm của kẻ độc ác, bởi vậy muốn xem xét một con người để hiểu lương tâm họ thì chỉ cần xem hành động của họ trong dĩ vãng thì thấy rõ.
Trong cuộc sống con người, chúng ta thường động chạm đến thế sự, và việc cảnh nhân xử thế nếu không rõ được bản chất của từng con người thì có thể rất dễ lầm lạc, gây tác hại không sao lường trước được.

*   *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-16 18:39:48Hoàng Dung>
hồi thứ ba
Gian đảng âm mưu trừ chánh sĩ
Nghiệt long gây dữ hại anh linh
 
Sau khi bàn luận, Địch Quảng làm biểu dâng về triều xin từ chức về quê chôn mẹ.
Bấy giờ Tôn Tú làm xong công việc cấp phát bạc thưởng cho gia đình cung nga xong trở về triều, vào Nam Thanh cung báo với vợ chồng Bác vương rằng: Địch tổng binh đi tuần chưa về nên không lấy được thơ trả lời.
Bác vương nghe tâu tưởng thiệt nên trọng thưởng cho Tôn Tú rất hậu. Tôn Tú lại góp tất cả số bạc gian lận đem dâng cho hai tên gian thần là Phùng Chuẩn và Bàng Hồng hơn một muôn lượng bạc để cầu thân.
 Vì vậy hôm sau Phùng Chuẩn vào tâu với vua:
- Tôn Tú có công khó ra Sơn Tây, xin bệ hạ thăng chứ chánh ty coi về việc biểu chương trong triều.
Vua Chơn Tôn chuẩn tâu. Tôn Tú tạ ơn rồi lo việc bẩm báo trong triều để trình lạ với nhà vua.
Ngày kia có biểu chương của Địch Quảng từ chức về quê, Tôn Tú liền đem đến dinh Bàng Hồng làm một tờ chiếu giả, chấp nhận cho Địch Quảng quy điền.
Còn Địch Quảng khi tiếp tờ chiếu giả, liền góp nhóp hết tài sản dọn về quê quán.
Qua đến tháng chín năm Kiến Đức nguyên niên, vua nước Khiết Đơn kéo năm mươi muôn binh qua xâm phạm Đàng Châu, đánh với Dương Hà nhưng nhờ có tướng Vương Siêu võ nghệ cao cường nên binh Khiết Đơn không qua nổi. Dù vậy, Vương Siêu vẫn phải làm biểu chương cấp báo về triều.
Vua Chơn Tôn hay tin thất kinh, hỏi các triều thần có mưu gì đối phó. Dù vậy Vương Siêu vẫn phải làm biểu chương cấp báo bề triều.
Vua Chơn Tôn hay tin thất kinh, hỏi các triều thần có mưu gì đối phó.
Khấu Chuẩn tâu:
- Tuy quân Khiết Đơn xâm lấn, nhưng không hề chi, nếu bệ hạ ngự giá thân chinh thì ắt trừ đặng.
Vua nghe tâu còn đang lưỡng lụ, xảy có nội thị vào báo:
- Lưu hoàng hậu và Lý Thần phi đều trổ sanh hoàng tử.
Vua nghe báo mừng rỡ, muốn bãi trào để vào cung nhìn mặt hai hoàng nhi, nhưng Khấu Chuẩn lại tâu:
- Nay giặc đang đánh Đàng Châu, trăm họ phân vân, bệ hạ lại bỏ vào cung trong lúc chưa ai bàn được mưu gì trừ giặc, hạ thần e quần thần ngã lòng.
Vua nghe  tâu bỏ việc vào cung, ở lại triều thần bàn việc chinh chiến.
Khấu Chuẩn tâu:
- Nếu bệ hạ không ngự giá chân chinh thì ắt mấy tỉnh phía Bắc không còn, mà Biện Lương cũng khó giữ. Xin bệ hạ vì lời tôi mà ngự giá thân chinh, xem việc nước là trọng.
Lúc ấy có gian thần là Vương Khâm Nhược sợ vua cầm binh đánh dẹp thì mình phải chịu dãi gió dầm sương nên xin vua Chơn Tôn dời đô sang Kim Lăng để tránh đỡ, rồi sẽ liệu binh các tỉnh về mà dẹp giặc Khiết Đơn.
Lúc ấy lại có Trần Nghiêu Tẩu xin vua dời đô qua Thành đô thì tiện lợi hơn.
Khẩu Chuẩn nói lớn:
- Ai mà khuyên vua dời đô thì đáng chém đầu. Kẻ đó chỉ biết có thân mình mà không lo gì cho đất nước.
Vua Chơn Tôn thấy triều thần không nhất trí, nên không sao quyết đoán được.
Lúc này nơi Chiêu Dương cung Lưu hoàng hậu nghe tin Lý Thần phi sanh đặng hoàng nam, chiều lại hoàng hậu sanh được hoàng nữ thì sanh lòng buồn bã, rạng ngày khiến nội thị báo với vua rằng mình cũng sanh được hoàng nam nữa.
Hôm sau vua lâm triều, Phùng Chuẩn thấy vua nghe lời Khấu Chuẩn muốn ngự giá thân chinh nên can:
- Phụng không nên rời ổ, rồng không nên rời hang. Nay bệ hạ đem thân đến nơi hiểm địa, tôi e xã tắc phải nghiêng ngửa, chi bằng sai một đại tướng ra đánh dẹp cũng xong, xin bệ hạ xét lại.
Vua nghe tấu chưa kịp nói thì Khấu Chuẩn nổi giận nói:
- Lời xưa có nói: “Sàm thần loạn quốc, đổ phụ bại gia”. Nói như ông thì chỉ lo cho bản thân mình mà thôi, chẳng tưởng đến giang sơn, dân chúng.
Phùng Chuẩn nói nói nổi giận nhưng chưa kịp trả lời thì có vị công thần là Cao Quỳnh (con của Cao Hoài Đức) bước ra tâu:
- Lời của tả thừa tướng tâu rất phải, nếu bệ hạ trì hoãn việc ra quân, mà nghe theo lũ gian thần, tôi e bệ hạ không khỏi mất nước.
Phùng Chuẩn nổi giận mắng lớn:
- Sao ông dám ra giữa triều buông lời xúc phạm đến hoàng thượng, lại mắng nhiếc đến đại thần đến như vậy?
Cao Quỳnh nạt:
- Ông thiệt chẳng có công cán chi, chỉ nhờ có va tấc lưỡi mà làm đến đại thần, ông lại không lo đến nợ nước, cứ khua môi múa lưỡi mà làm hại dân lành.
Phùng Chuẩn bị mắng chưa kịp trả lời thì vua Chơn Tôn đã phán:
- Trẫm đã nhất định thân chinh, chư khanh chớ có tranh cãi làm gì nữa.
Phán rồi liền truyền cho Cao Quỳnh là nguyên soái, thống lãnh ba mươi muôn binh và một trăm chín tướng, còn Khấu Chuẩn thì làm tham mưu, chọn ngày tế cờ, ngự giá thân chinh. (Trận này đánh Khiết Đơn hơn mười một năm mới yên).
Lúc này Lưu hoàng hậu đang ở trong cung đang sợ hãi nghĩ rằng: mình đã báo lỡ rồi, e đến khi yên giặc, hoàng thượng trở về không thấy hoàng nam e không khỏi tội khi quân.
Nghĩ vậy liền khiến cung nữ đòi thái giám Quách Hoè vào thương nghị:
- Hôm trước ta khiến ngươi báo lỡ rằng ta cũng sanh được hoàng nam, e đến lúc hoàng thượng về đây ta phải mang tôi khi quân. Còn bên Bích Vân cung thì Lý Thần phi thì không lổi gì về sau còn giành được ngôi hoàng hậu. Vậy ngươi có kế chi mà hại cho được mẹ con Lý Thần phi thì lỗi ta mới tránh khỏi.
Quách Hòe  nghĩ một lát rồi tâu:
- Nếu lệnh bà muốn như vậy thì phải làm như vầy ... như vầy ...
Lưu hoàng hậu mừng rỡ, khen:
- Kế ấy rất là hay.
Liền khiến cung nữ bồng công chúa theo mình, còn mình sắm sửa với Quách Hoè qua Bích Vân cung mà thăm Lý Thần phi.
Bấy giờ Lý Thần phi đang ngồi bồng hoàng tử, bỗng nghe có tin hoàng hậu đến thăm, vội ra đón tiếp mời vào thết đãi.
Trà nước xong, hoàng hậu nói:
- Vậy chớ bên này em có đủ sữa cho hoàng tử bú hay không? Còn chị thì ít sữa không đủ cho công chúa bú.
Lý Thần phi nghe nói liền bước lại bồng công chúa mà cho bú, còn hoàng hậu lại bồng hoàng tử nâng niu một hồi rồi nói với Lý Thần phi:
- Hôm nay vắng mặt hoàng thượng thì chị em ta buồn lắm, vậy hãy bồng hoàng tử sang cung chị chơi cho khuây khỏa.
Lý Thần phi cũng muốn sang chơi cho giải buồn, song sợ qua đó chị em mắc trò truyện không ai chăm sóc cho hoàng tử, còn giao cho cung nữ thì sợ chúng không hết lòng.
Hoàng hậu biết ý nói:
- Không hề gì, có thái giám là Quách Hòe đây, tánh tình rất thận trọng. Nếu giao cho thái giám chăm sóc thì khỏi phải lo.
Lý Thần phi thấy hoàng hậu ân cần không lẽ từ chối, liền giao công chúa lại cho hoàng hậu, rồi thay đổi xiêm y đi với nhau qua Chiêu Dương cung.
Đến nơi, hoàng hậu hối thúc cung nữ dọn tiệc rượu mà đãi Lý Thần phi. Trong tiệc, hoàng hậu cố ép Lý Thần phi uống mãi cho đến chiều.
Lý Thần phi hỏi đến hoàng tử thì Quách Hòe nói:
- Hoàng tử đang ngon giấc.
Hoàng hậu bảo Quách Hòe đừng làm cho hoàng tử giật mình, hãy lén mà trồng trở về Bích Vân cung.
Quách Hòe vâng lời ra đi. Hoàng hậu lại nói với Lý Thần phi:
- Em đừng lo! Quách Hòe là người trung thành lắm. Không mấy thuở em qua đây, vậy chị em mình ăn uống vui say một bữa cho phỉ tình ao ước.
Lý Thần phi tin thiệt, cứ ngồi ăn uống chuyện trò cho đến tối mới từ giã hoàng hậu trở về cung.
Lúc về đến nơi, Lý Thần phi hỏi cung nữ:
- Vậy chớ hoàng tử ở đâu?
 Cung nữ thưa:
- Quách Hòe bồng hoàng tử đến đây thì nói hoàng tử còn đang ngủ say, dặn chúng tôi đừng giở chăn ra làm hoàng tử giật mình cho nên chúng tôi không dám động, mà hoàng tử cũng chưa thức dậy.
Lý Thần phi nghe nói cũng tưởng hoàng tử còn ngủ nên nói với bọn cung nữ:
- Thôi các người đi ngủ đi.
Cung nữ vâng lời đi ngủ hết. Còn Lý Thần phi thì thay y phục rồi bước lại giở mền ra xem thì hoàng tử đâu không thấy, chỉ thấy trong mền có một con mèo chết nằm đó.
Lý Thần phi thất kinh, té ngửa ra chết giấc. Giây lâu mới tỉnh dậy khóc oà lên. Lúc này nàng mới biết hoàng hậu và Quách Hòe âm mưu cùng nhau tráo con mèo mà hại con mình, song chuyện không bằng cớ, vả lại hoàng thượng đi chưa về không biết tỏ cùng ai.
Nghĩ hết cách mà không biết phải làm sao cứ ngồi khóc mãi. Bỗng nghe có người gõ cửa, Lý Thần phi bước ra xem thì thấy cung nữ bên Chiêu Dương cung là Khấu Thừa Ngự chạy vào thưa:
- Lịnh bà ơi! Qua canh ba thì cung này bị cháy, mà bà cũng sẽ mang hại nữa. Vậy xin bà hãy thay đổi áo quần giả dạng nội giám trốn qua Nam Thanh cung mà nương tựa ít ngày, đặng chờ hoàng thượng về sẽ hay. Tôi có đem theo y phục nội giám đây, xin bà hãy thay đi cho kịp mà lánh nạn.
Cung nữ nói xong bỏ chạy ra ngoài. Lý Thần phi lật đật thay quần áo rồi chạy ra khỏi Bích Vân cung tìm đường trốn qua Nam Thanh cung. Song đêm hôm không biết đường nào mà đi.
Lúc này Lưu hoàng hậu và Quách Hòe tráo được hoàng tử rồi liền đốt rụi Bích Vân cung, rồi đòi Khấu Thừa Ngự sai bồng hoàng tử đem bỏ nơi ao Kim Trì. Thừa Ngự vâng lời bồng hoàng tử ra đến mé ao thì ngồi trên bờ ao mà khóc không biết cách nào cưú được hoàng tử. Nàng cứ ngồi khóc mãi cho đến lúc rạng đông thì có Trần Lâm vâng lệnh Bác vương ra ngự viên hái hoa.
Trần Lâm nghe tiếng khóc vội chạy lại xem thì thấy Khấu Thừa Ngự đang bồng một đứa con nít.
Trần Lâm nói:
- Nàng bồng con ai vậy? Sao lại ngồi đây mà khóc?
Thừa Ngự thấy Trần Lâm thì mừng rỡ thuật hết đầu đuôi câu chuyện cho Trần Lâm nghe.
Trần Lâm kinh hãi nói:
- Nay tôi vâng lệnh Bác vương ra đây hái hoa, may mà gặp việc này. Thôi nàng hãy trao hoàng tử lại cho tôi, đặng tôi giấu trong lẵng bông này đem trở về Nam Thanh cung.
Thừa Ngự lật đật trao hoàng tử lại cho Trần Lâm. Trần Lâm bỏ gọn vào lẵng rồi van vái rằng:
- Xin thiên địa quỷ thần ủng hộ cho hoàng tử đừng khóc, đặng tôi đem ra khỏi hoa viên này đưa về Nam Thanh cung.
Nói rồi Trần Lâm đội lẵng đi thẳng vào Nam Thanh cung. Còn Thừa Ngự thì nhảy xuống ao Kim Trì liều mình tự vận.
Nhắc lại Địch Quảng từ ngày chôn mẹ xong, thường bàn với Mạnh phu nhân rằng:
- Trước kia mình có hứa gả con Kim Loan cho Trương Văn là con của Trương Hổ làm quan tham tướng. Nay nó cũng đã lớn khôn rồi, ta muốn đưa nó về nhà chồng cho an bề gia thất.
Mạnh phu nhân cũng đồng ý nên Địch Quảng viết thơ đem cho Trương Văn. Trương văn được thơ mừng rỡ, sắm sửa lễ vật làm lễ thành hôn. Từ lúc vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc.
Chẳng bao lâu Địch Quảng từ trần, Mạnh phu nhân và vợ chồng Trương Văn lo việc chôn cất.
Khổ thay! Mạnh phu nhân gia cảnh càng ngày càng sa sút, nhờ có Trương Văn chu cấp mới khỏi dói rách.
Ngày kia, bỗng trời nổi cơn bão lụt, nhà cửa ở huyện Tây Hà bị nước cuốn trôi, mẹ con Địch Thanh đều bị nước cuốn trôi, không mong sống sót.
Lúc ấy Địch Thanh trôi bập bềnh trên sóng, tấp vào một hòn núi, cây cối um tùm, không biết là nơi nào. Xảy thấy có một vị đạo nhân đầu bạc trắng, râu mọc năm chòm, mặt mày tươi tốt, xem rõ không phải người phàm. Địch Thanh lật đật quỳ lạy hỏi:
- Phải ông là người cứu tôi không?
Đạo nhân cười nói:
- Nếu không có ta cứu ngươi thì thân thể ngươi đã vào trong bụng cá rồi. Nay ngươi đã khỏi nạn, đừng trông về xứ sở làm chi.
Địch Thanh nghe nói thì khóc lớn:
- Tôi là đứa bé mồ côi cha, bấy lâu nay nương tựa một mẹ già, đến nay mẹ tôi không biết sống chết nơi nào, dù tôi có sống cũng chẳng ít gì, xin thầy đem tôi trở về chốn cũ, đặng tôi chết theo mẹ tôi, còn hơn là sống mà cô thân khổ sở như vầy.
 
Lời bàn:
Lý Thần phi vì sanh được hoàng tử mà mang họa. Lưu hoàng hậu vì tham vọng ngôi vua mà dối gạt vua rồi hại mạng một đứa trẻ con. Quách Hòe, một tên thái giám độc ác âm mưu làm điều tàn nhẫn. Mọi chuyện đều có liên quan đến tham vọng con người trong cuộc sống.
Ở đây, chúng ta thấy có điều đặc biệt là lòng tham hiểm. Lòng tham khi kết hợp với mưu mô gian xảo thì tai hại khó lường. Quách Hòe là một tên thái giám dua nịnh nhưng lại là tay đắc lực cho kẻ tham lam sử dụng gây tội ác.
Trong cuộc sống con người, ai cũng muốn tranh đoạt để hưởng lợi, nhưng rốt cuộc theo luật nhân quả thì lẻ tàn bạo độc ác sau cùng cũng phải gánh chịu sự trừng phạt.
Lời xưa có nói: “trồng cây nào ra quả ấy”.
Những kẻ gian ác lúc hậu quả chưa tới đừng tưởng rằng mình có thể tránh khỏi sự trừng phạt của hành động mình gây ra. Vì chưa đến lúc nhận lãnh hậu quả mà thôi. Không tránh khỏi sự trừng phạt tất yếu của nhân quả cả.

*        *
*
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-17 07:33:44Hoàng Dung>
hồi thứ tư
Tây Hạ cử đại binh đánh Tống
Quỉ Cốc sai đồ đệ hạ san
 

Vị đạo nhân nghe Địch Thanh nói thì khuyên giải:
- Ngươi chớ lo buồn làm chi. Nay tuy ngươi mắc tai nạn, nhưng ngày sau ngươi có số hưởng lộc triều đình. Còn mẹ ngươi tuy bị thủy tai, nhưng cũng chẳng hề chi, chẳng bao lâu ắt được đoàn tụ. Ngươi hãy an tâm ở với ta, học binh thơ, võ nghệ ngày ra giúp nước cứu dân.
Địch Thanh nghe nói liền quỳ lạy xin thọ giáo.
Đạo sĩ nói:
- Nơi đây là núi Nga Mi, còn ta là Quỉ Cốc.
Từ đó, Địch Thanh cố gắng học tập, mỗi ngày một tinh thông.
Lúc này Nam Thanh cung, Trần Lâm đem hoàng tử giao cho Bác vương và tỏ hết sự tình. Bác vương đặt tên hoàng tử là Thọ Ích, và bảo Địch Thiên Kim nuôi làm con, chờ hoàng thượng ban sư trở về sẽ tâu mà trừ bọn gian nịnh.
Qua năm sau, Địch Thiên Kim cũng hạ sinh được một trai, Bác vương đặt tên là Triệu Bích.
Tháng ngày thấm thoắt thoi đưa, vua Tống dẹp xong giặc Khiết Đơn thì đã chín năm rồi mà chưa về. Hoàng tử Thọ Ích đã lên chín tuổi, còn Triệu Bích là con Bác vương cũng lên tám tuổi. Ngày kia Bác vương lâm bệnh nặng nên từ trần, nhằm ngày rằm tháng tư năm Canh Thìn. Các quan lo việc tống táng theo nghi lễ đế vương.
Hai năm sau, vua ban sư hồi trào. Văn võ bá quan đều ra đón rước, lạy mừng và tâu lại việc Bích Vân cung bị cháy, nên Lý Thần phi và cung nữ trong đó đều bị hại, còn v nay đã qua đời.
Vua nghe tâu đem lòng thương xót, truy phong Bác vương làm Trung Hiếu vương. Lúc ấy vua đa năm mươi mốt tuổi, nhưng chưa có con trai nên hạ chỉ  lập Triệu Thọ Ích lên làm đông cung thái tử, cải tên là Triệu Trinh, và phong con thứ hai của Bác vương làm Lộ Huê vương.
Qua năm sau, vua cải niên hiệu là Càn Hưng nguyên niên, sau đó vua mang bệnh băng hà, thời gian ở ngôi được 25 năm.
Lúc ấy thái tử đông cung lên mười bốn tuổi, được triều thần tôn lên làm hoàng đế, lấy hiệu là Nhơn Tôn, cải niên hiệu là Thiên Thành, phong cho Địch Thiên Kim làm thái hậu, và Lưu hoàng hậu cũng được tôn làm thái hậu. vua lập vợ chánh là Quách phi làm hoàng hậu và Trương thị làm quý phi (Đến sau thì Quách hậu và Trương quý phi đều bị phế. Vua lại lập Tào thị là cháu nội của Tào Bân làm hoàng hậu và Bàng thị là con gái của Bàng Hồng làm quý phi).
Qua tháng chín năm ấy vua nghe lời sàm tấu của nịnh thần giáng cấp Khấu Chuẩn xuống là Tư bộ và đưa ra Lôi Châu làm cho Khấu Chuẩn phải bỏ mình từ đó. Đến sau, vua truy phong lại chức Quốc công nhưng đã không còn.
Bấy giờ vua nước Tây Hạ là Triệu Nguyên Hiệu sai nguyên soái Táng Thiên Vương, phó soái là Tử Nha Xai, tả tiên phong là Đại Mạnh Dương, hữu tiên phong là Tiểu Mạnh Dương đem bốn mươi muôn binh sang đánh Tống. Lúc đến ải Tam Quang thì nhờ có tướng trấn thủ là Dương Tôn Bảo đánh cầm cự lâu ngày không rõ hơn thua, Dương Tôn Bảo phải làm biểu sai người về triều cáo cấp.
Vua Nhơn Tôn lâm triều liền phán hõi các quan:
- Nay Triệu Nguyên Hiệu sai tướng đem quân xâm lấn biên cương các khánh có kế chi đánh dẹp chăng?
Văn Ngạn Bác quì tâu:
- Tuy binh Tây Hạ xâm lấn nhưng có Dương nguyên soái cầm cự không hề chi. Song có một điều cần gấp là Dương nguyên soái yêu cầu đem y giáp ra chiến trường cho quân sĩ mặc để chống lạnh, xin bệ hạ quan tâm việc này.
Vua nghe lời tầu liền hạ chỉ sai Tôn Tú  đăng bảng chiêu mộ nhân tài để sai ra Tam Quang trợ chiến.
Bấy giờ Địch Thanh từ ngày vào động theo học võ nghệ với Quỉ Cốc đạo sư, đến nay binh pháp thông thạo, võ nghệ siêu quần, ngày tháng thấm thoát đã được bảy năm. Ngày kia Quỉ Cốc tiên sư nói với Địch Thanh:
- Nay tai nạn của con đã mãn, mà võ nghệ cũng đã siêu quần, vậy con hãy xuống Biện Lương là nơi gặp thân nhân để phò vua giúp nước.
Địch Thanh thưa:
-Bấy lâu nay con ở đây cùng thầy nhờ thầy dạy dỗ, ơn trọng chưa đến. Nay theo lời thầy dạy cũng muốn xuống Biện Lương, song chưa rõ mẹ con còn sống nơi quê quán hay không, con xin về nơi đó để tìm mẹ con trước đã.
Quỉ Cốc nói:
- Ấy cũng là lòng hiếu thảo của con, song con về quê cũ thì kiếm không đặng. Vậy con cứ về Biện Lương thì sẽ có thân nhân hội ngộ. Việc ấy không phải thầy gạt con đâu.
Địch Thanh thưa:
- Từ đây xuống Biện Lương đường xá xa xôi biết mấy lấy chi làm lộ phí dọc đường.
Quỉ Cốc nói:
- Làm trai lo chi điều ấy. Để thấy cho con một đồng tiền cũng đủ chi dùng. Tiền ấy cứ sanh sản hoài, muốn xài bao nhiêu cũng đủ, chừng nào con gặp được thân nhân thì thầy thâu lại.
Địch Thanh mừng rỡ lãnh đồng tiền rồi tạ ơn ra đi. Vừa xuống khỏi núi, bỗng một cơn gió nổi lên làm cho Địch Thanh bay bổng lên trời. Qua một lúc gió tan, Địch Thanh rơi xuống đất thấy mình đứng một nơi đông đảo, bên đường lại có quán cơm, Địch Thanh bèn bước vào quán hỏi:
- chẳng biết chỗ này kêu là xứ nào?
Chú quán nói:
- Chỗ này kêu là phủ Hà Nam, gần phủ Khai Phong thuộc về kinh đô. Quý khách từ đâu đến đây mà không rõ?
Địch Thanh nghĩ thầm:
-Té ra thầy mình đã dùng phép đưa mình đến kinh đô rồi. Thôi ta sẽ vào đây nghỉ, chờ sáng mai đi tìm thân nhân xem co đúng lời dặn của thầy ta chăng?
Nghĩ như vậy, Địch Thanh vào quán bảo dọn cơm nước rồi ngồi lại ăn uống no say.
Chủ quán nhìn thấy Địch Thanh thì khen thầm:
- Con nhà ai mà mặt tợ thoa son, mặt sáng như trăng rằm, tướng mạo uy nghi lại ăn uống như cọp. Đây chắc là một viên hổ tướng chớ chẳng chơi.
Địch Thanh ăn xong, chủ quán tính hết thảy 1 trăm đồng tiền. Địch Thanh liền mở gói ra, thấy trong gói có đủ số tiền ấy, nên lấy trả cho chủ quán, và nhủ thầm:
-Thật đúng là phép tiên. Có một đồng tiền mà xài mấy cũng đủ.
Đêm ấy, Địch Thanh ngủ lại trong quán.
Hôm sau cơm nước xong, Địch Thanh lấy tiền trả cho chủ quán rồi đi dạo trong thành phố. Khi đi qua một cây cầu, Địch Thanh hổi người đi đường mới biết đây là cầu Biện Hà, nhớ lời thầy dặn cầu Biện Hà là nơi gặp thân nhân, nhưng không biết thân nhân là ai mà hỏi. Chàng lại nhớ cầu Biện Hà là chỗ thầy thâu lại đồng tiền quý đó nên thò tay vào túi lấy ra cầm trong tay cho chắc, nhưng vừa lấy ra khỏi túi thì đồng tiền đã rơi xuống nước mất dạng. Địch Thanh không biết làm sao, cứ nhìn xuống nước mà khóc.
 
 
Lời bàn:
Trong cuộc sống con người trong cái rủi có cái may, trong cái xấu có cái tốt. Tốt xấu luôn luôn duyên khởi hình thành mọi biến động của vạn hữu.
Lưu hoàng hậu sai thái giám Quách Hòe đem mèo đổi hoàng tử mưu sát để đoạt lấy ngôi vị trong cung, rồi đốt cung của Lý Thần phi để cho mất tích. Nhưng rồi có người vì lương tâm mà giải cứu cả hai mẹ con. Tiếp đó, vua Tống lại phong cho con ruột của mình lên ngôi mà không hề biết.
Trong vái nghịch trở thành cái thuận, rồi trong cái thuận trở thành cái nghịch. Sự xoay xhuyển ngoài ý muốn của âm mưu con người. Vì vậy làm người chỉ nên làm những việc đạo nghĩa, còn duyên số là do duyên định, tức là luật vạn hữu của thiên nhiên.

*   *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-17 22:43:06Hoàng Dung>
hồi thứ năm
Hào kiệt thương nghèo nên kết nghĩa
Anh hùng túng ngặt phải xin xăm
 

Địch Thanh khi làm rơi đồng tiền xuống sông thì cứ đứng khóc mà than thở:
- Thầy ta cho ta đồng tiền ấy chỉ dùng cho đến lúc gặp thân nhân, nay thân nhân chưa gặp mà đồng tiền mất đi biết làm sao sống nổi, chắc là phải chết đói.
Bỗng có một ông già bước đến hỏi:
- Ngươi là con ai, Địch Thanh liền tỏ hết mọi việc. Ông già cười nói:
- Ngươi muốn gặp thân nhân thì gần đây có mộ ngôi chùa gọi là chùa tướng quốc, chùa ấy linh lắm, ngươi đến đó xin xăm, cầu nguyện may ra thần thánh chỉ bảo cho.
Địch Thanh nghe nói nghĩ thầm:
- Thôi, mình cứ nghe ông già đến đó cầu xin, chừng nào không được sẽ liệu cách.
Nghĩ rồi liền hỏi thăm chùa lần đến nơi, thấy trong chùa rất đông người đến xin xăm, hương đèn sáng rực. Địch Thanh len vào rút một cây xăm, đem lại chỗ của một nhà sư đang đoán quẻ.
 Lời xăm ghi rằng:
Cổ thọ liên niên hoa vị khai
Chí kiêm trưởng xuất nộn chi lai
Nguyệt khuyết, nguyệt viên châu phục thủy
Nguyên nhân hà tất phí nhi xai.
 
Địch Thanh liền cậy nhà sư đoán dùm. Nhà sư xem xong hỏi:
- Quý khách muốn xin gì?
Địch Thanh nói:
- Tôi muốn tìm thân nhân.
Nhà sư nói:
- Theo trong lời xăm thì phải đến rằm tháng tám. Xăm này tốt lắm, đừng lo sợ chi cả.
Địch Thanh nghe xong tỏ lời cám ơn rồi lui ra.
Nhà sư hỏi:
- Sao không trả tiền đoán xăm?
Địch Thanh nói:
- Tôi là người xứ lạ đến đây tìm thân nhân, lỡ đã hết tiền, để ngày sau tôi sẽ trả cho thầy.
Nhà sư nghe nói liền xốc lại kéo áo Địch Thanh nói:
- Nếu không  tiền thì để gói hành lý lại đây, lúc nào có tiền thì đem đến chuộc.
 Địch Thanh thấy vậy nổi nóng, chạy lại đạp nhà sư một đạp nhào xuống đất la om sòm.
Lúc ấy có một người mặt đỏ và một người mặt đen chạy đến hỏi thăm đầu đâu câu chuyện rồi nói với nhà sư:
- Mình là người tu hành, thấy người ta không tiền phải cho thay, sao lại còn siết gói của người ta. Thôi trả lại cho người, công xem dùm một chút chẳng đáng bao nhiêu.
Nói rồi liền bước đến giật gói trả lại cho Địch Thanh và hỏi:
- Anh tên họ là gì? Quê quán ở đâu? Đến đây có việc gì?
Địch Thanh nói:
- Tôi là Địch Thanh, người tỉnh Sơn Tây, phủ Thái Nguyên, huyện Tây Hà đến đây tìm thân nhân. Còn hai anh ở đâu, tên họ là chi?
Người mặt đỏ đáp:
- Tôi cũng người đồng tỉnh, đồng phủ với anh, mà thuộc huyện Dư Tư, tên là Trương Trung, còn người này là anh em bạn với tôi ở phủ Thuận Thiên tên là Lý Nghĩa.
Địch Thanh hỏi:
- Các anh đến đây có việc gì vậy?
Trương trung nói:
- Anh em chúng tôi cũng có biết chút võ nghệ, song chưa gặp thời, không người tiến dẫn, nên buồn lòng rủ nhau đi mua bán vải, một là cho biết cảnh phồn hoa, hai là tìm bạn hào kiệt kết thân. Nay gặp anh đây thật may mắn. Anh ở Sơn Tây có biết Địch Quảng làm tiên phong ở phủ Thái Nguyên không?
Địch Thanh nói:
- Người ấy là cha tôi đó!
Trương Trung nói:
- Nếu vậy anh là Địch công tử! Chúng tôi vì không biết xin miễn chấp.
Địch Thanh nói:
- Hai anh ơi! Công tử là lúc trước đây, chớ bây giờ tôi đang lưu lạc, không có cơm ăn thì còn công tử gì nữa.
Trương Trung và Lý Nghĩa đồng nói:
- Vậy chúng tôi mời công tử lại quán cơm kia là nơi anh em tôi đang trú ngụ đặng cùng ở với nhau trò chuyện cho vui.
Nói rồi liền dắt Địch Thanh về quán, ảo chú quán làm cơm đãi khách.
Đêm ấy Trương Trung và Lý Nghĩa nói với Địch Thanh:
- Chúng tôi rất ái mộ anh hùng, nay xin cùng công tử kết làm anh em đồng sanh đồng tử.
Địch Thanh nói:
- Nếu hai anh có lòng hạ cố thì tôi xin làm em út.
Trương Trung nói:
- Như luận về tuổi tác thì công tử nhỏ hơn hai anh em tôi, song công tử là dòng sang, anh em tôi là dòng hèn, lẽ đâu dám vượt bậc. Nay anh em tôi bằng lòng nhường công tử làm anh.
Địch Thanh nói:
- Không nên! Làm bạn với nhau hễ ai lớn thì làm anh mà thôi.
Trương Trung và Lý Nghĩa đều nói:
- Hai anh em chúng tôi đã quyết ý rồi, xin công tử chớ bàn luận làm gì nữa.
Nói rồi khiến chủ quán lập bàn hương án, ba người đều cáo tế trời đất thề nguyền cùng nhau kết nghĩa. Trương Trung và Lý Nghĩa gọi Địch Thanh là đại ca, không còn gọi công tử nữa.
Một hôm Trương Trung nói với Địch Thanh:
- Đại ca đến đây mấy hôm mà tìm thân nhân chưa được, vậy để chúng tôi bán xong vải thì chúng mình sẽ đi cùng nhau.
 
Lời bàn:
Sức mạnh trong lẽ sống là đoàn kết. Không có một sự nghiệp nào làm nên mà không nhờ vào sự chung sức của mọi người.
Tình bạn là yếu tố đoàn kết tạo thành sức mạnh để cùng nhau chiến đấu trên bước đường lập nghiệp. Sống cần phải có bạn, nhưng bạn bè lại rất quan trọng trong việc xây dựng sự nghiệp. Một người bạn không đồng chí hướng thì đó là một trở lực làm cho chúng ta thất bại trên định hướng cuộc đời. Vậy bạn là người cùng chí hướng, cùng quan điểm nhân sinh, thì tình bạn mới co ích lợi trên con đường tiến thủ.
Trong cuộc sống, nhiều người thiếu bản lãnh, làm bạn không đúng người, rồi bị bạn bè lôi cuốn làm cho không còn đủ chí khí để vươn lên trên con đường sự nghiệp. Nếu bạn bè là sức mạnh giúp ta đủ nghị lực phấn đấu với gian khổ, thì bạn bè lại cũng là sức mạnh lôi cuốn chúng ta vào con đường thiếu nghị lực.

*   *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-19 18:15:09Hoàng Dung>
hồi thứ sáu
Hào kiệt thử tài phân cao thấp
Anh hùng ăn uống gặp tai ương
 

Sau khi đã bán hết vải, Trương Trung và Lý Nghĩa rủ Địch Thanh đi dạo chơi. Vừa đến chùa Quan Công, Địch Thanh thấy trước cửa chùa có hai con sư tử bằng đá, bề cao chừng ba thước, bề dài hơn bốn thước nên nghĩ thầm:
- Mấy hôm nay mình làm bạn với hai người này, tuy tâm đầu ý hiệp nhưng chưa rõ tài sức ra sao, thôi để mình vào chùa xách thử con sư tử đá này thì sẽ biết.
Nghĩ như vậy liền kêu Trương Trung, Lý Nghĩa nói:
- Lúc trước Sở Bá vương cử đảnh mà làm cho anh hùng trong thiên hạ đều nể phục. vậy hai em có thể đỡ nổi con sư tử đá này không?
Trương Trung nói:
- Con sư tử đá này nặng chừng sáu trăm cân. Để tôi đỡ thử xem sao.
Nói rồi liền bước tới đỡ lên, rồi chỉ xách đi được mấy bước và nói:
- Nặng lắm! Không thể đi xa nổi.
Lý Nghiã nói:
- Thôi để tôi xách thử coi.
Nói rồi bước tới xách lên, đi được một vòng rồi cũng để xuống.
Địch Thanh nói:
- Như vậy cũng đã mạnh lắm rồi. E khi ta xách không nổi.
Trương Trung và Lý Nghĩa đồng nói:
- Thì đại ca xứ xách thử cho biết.
Địch Thanh bước lại xách con thạch sư giơ lên khỏi đầu rồi đi ba bốn vòng. Trương Trung và Lý Nghĩa thấy vậy đều lắc đầu nói:
- Cha chả! Ai dè đâu đại ca nhỏ người mà sức mạnh như vậy. Hai đứa tôi thua xa lắm.
Địch Thanh xách đi mấy vòng giơ lên để xuống mà mặt không đổi sắc.
Sau đó Địch Thanh còn lâý cây thanh long đao múa một hồi làm cho Trương Trung và Lý Nghĩa đều cảm phục.
Ba người ra khỏi chùa đi một lúc thì thấy một tửu lầu rất đẹp và cao, liền rủ nhau vào ăn uống. Tửu bảo thấy ba người ngồi một bàn thì cả kinh, vừa chạy vừa nói:
- Lưu, Quan, Trương ba ông đã xuất hiện nơi đây.
Trương Trung thấy vậy cười nói:
- Không hề chi! Tuy mặt mày dữ tợn mà lòng dạ hiền lành, không làm hại ai.
Tửu bảo nói:
- Té ra ba ông không phải là người xứ này, vì tôi không biết xin thứ lỗi.
Trương Trung ngồi nhìn sang bên kia thấy có một căn lầu chưng dọn rất đẹp liền gọi tửu bảo nói:
- Ồ! Bên kia có căn lầu rất đẹp, chúng ta muốn lên đó ngồi uống rượu cho vui.
Tửu bảo nói:
- Xin các ông ngồi nơi đây uống rượu cũng được, đừng qua đó mà phiền phức.
Trương Trung nói:
- chúng ta muốn ngồi nơi đó mà thôi. Hãy mau đem rượu thịt đến đó cho chúng ta.
Tửu bảo nói:
- Không được đâu. Ở đó có vị quan lớn là Hồ Khôn, làm chức chế đài, lại còn có một vị công tử là Hồ Luân ngang tàng, thường ngày áp chế nhân dân, chiếm đoạt nhà cửa của người ta mà làm nên căn lầu ấy. Trong đó trồng đủ thứ hoa thơm cỏ lạ, lại chưng diện đủ các vật quý trong thiên hạ, sau đó cải hiệu là Vạn Huê Lầu.
Trương Trung nói:
- Người ấy là con quan sao lại hà hiếp thiên hạ?
Tửu bảo nói:
- Quý khách chưa rõ. Nguyên Tôn bộ binh là con rể của Bàng thái sư nên quyền thế lắm, muốn sao được vậy, không ai dám trái ý. Cái Vạn Huê lầu này là để chiêu đãi bạn bè và khách quý của riêng họ, còn người ngoài không ai dám bén mảng đến. Mỗi ngày công tử Hồ Luân ra chơi nơi đó, nếu thấy ai vào đó thì bắt về dinh tra khảo cho đến chết mới thôi. Vậy xin quý khách ngồi nơi đây ăn uống cũng đủ vui mà khỏi sanh ra điều nguy hiểm.
Trương Trung và Lý Nghĩa nghe nói đều nổi nóng, hét lớn:
- Thật là loại bất nhân trong thiên hạ.
Địch Thanh cũng nổi giận nói:
- Thôi! Anh em chúng ta qua đó ngồi uống rượu xem chúng nó làm gì cho biết.
Tửu bảo nghe nói thất kinh quỳ lạy van xin:
- Xin quý khách đừng làm điều ấy mà liên luỵ đến tôi.
Địch Thanh nói:
- Chúng ta làm thì chúng ta chịu, không để liên luỵ tới ai.
Trương Trung nói:
- Xem thế thì thằng Hồ Luân dữ lắm nên nó mới sợ hãi như vậy.
Địch Thanh nói:
- Nếu chúng ta không lên Vạn Huê Lầu té ra chúng ta sợ thằng Hồ Luân sao?
Lý Nghĩa nói:
- Đại ca nói rất phải.
Trong lúc ấy tên tửu bảo cứ van xin mãi. Trương Trung lấy ra mười lượng bạc cho tên tửu bảo, nói:
- Ta cho ngươi số tiền này. Hãy đem đồ ăn và rượu thịt tới đó cho chúng ta vui say. Còn việc gì xảy ra chúng ta gánh chịu, không để liên van đến ngươi đâu.
Tên tửu bảo được bạc cũng ham, liền đem rượu thịt qua Vạn Huê Lầu thết khách.
Ba anh em Địch Thanh vừa ăn uống xoàng xoàng thì đã có người chạy đến báo tin cho Hồ Luân hay:
- Hôm nay tửu bảo cả gan cho ba người khách thua phương đến ngồi nơi Vạn Huê Lầu ăn uống. Bây giờ chúng nó còn say sưa la hét om sòm.
Hồ Luân nói:
- Thôi, các ngươi về đi rồi mai đến dinh ta mà lãnh thưởng.
Nói rồi liền hối gia đinh thẳng tới tử lầu nạt lớn:
- Ba thằng này ở đâu cả gan dám đến chỗ cấm mà uống ruợu.
Ba người nghe nói nổi nóng nạt lại:
- Tửu lầu thì chúng ta đến uống rượu, biết chỗ nào là chỗ cấm.
Bọn gia đinh của Hồ Luân áp vào, chúng nó toàn là tay dõng sĩ nhưng Trương Trung đã tóm cổ một lúc hai tên ném ra xa lắc.
 
Lời bàn:
Ở đời không có cái gì tồn tại tuyệt đối. Nếu có kẻ cậy quyền hiếp đáp dân lành thì cũng có kẻ vì sự công bình mà chống lại. Sự mâu thuẫn trong cuộc sống luôn luôn đối kháng nhau. Cho nên người xưa có nói: “Hữu phước bất khả hưởng tận, hữu thế bất khả ỷ tận.” Không vì mình có thế mà tận hưởng cái thế lực của mình. Hồ Luân dù quyền thế đến đâu mà không biết sử dụng quyền thế của mình tất phải có ngày bị phản ứng. Đó là một bài học làm người cho những ai có quyền thế mà biết thế nào là đủ.
Cái gì cũng có chiều ngược của nó. Đừng thấy mình được thế mà ỷ lại vào thế lực của mình. Thế lực đến lúc nào đó sẽ là mầm mống gây ra thù địch để phá vỡ hiện hữu gây hại không ít.
 

*   *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-21 18:10:41Hoàng Dung>
hồi thứ bảy
Giết ác nhân, Địch Thanh trừ hại
Tha tráng sĩ, Bao Công làm ơn
 
Địch Thanh và Lý Nghĩa khi thấy bọn gia tướng của Hồ Luân áp tới đánh thì mỗi người đánh một vái làm cho bọn gia tưóng của Hồ Luân té nhào ra xa, ôm đầu chạy hết.
Địch Thanh cười lớn nói:
- Anh em ta mới đá có vài cái mà chúng chạy hết rồi. Tuy vậy mà chưa phải yên đâu. Hồ Luân sẽ đến đây làm dữ, chi bằng rút lui trước hay hơn.
Trương Trung nói:
- Đại ca nói rất phải. Tuy chúng ta không sợ gì tên Hồ Luân, nhưng chúng kéo đến hàng trăm, hàng ngàn thì cũng làm phiền cho hàng xóm.
Anh em Địch Thanh vửa toan ra đi thì bọn Hồ Luân kéo đến đông nghẹt.
Hồ Luân hét to:
- Đứa nào giỏi đánh thì đánh ta đây!
Vừa nói Hồ Luân vừa chạy xốc tới. Địch Thanh đứng dậy vỗ vai Hồ Luân định tỏ vài lời phải trái, nhưng bàn tay Địch Thanh đè nặng trên vai, làm cho Hồ Luân té quỵ xuống đất.
Hồ Luân hét to:
- Các ngươi mau bắt chúng nó đem về dinh cho ta.
Địch Thanh nói:
- Hồ Luân! Ngươi hãy lại đây mà bắt ta, chớ mấy thằng tay sai của ngươi đã sợ ta chạy hết rồi.
Hồ Luân nghe nói nổi nóng xốc lại bị Địch Thanh thộp ngực ném xuống lầu. Mấy đứa gia đinh thấy vậy chạy lại thì Hồ Luân đã vỡ sọ nằm chết tươi.
Bọn gia đinh sợ hãi nên vội chạy về báo với Hồ Khôn, còn ba anh em Địch Thanh lúc này đang lúc lúc tửu hứng, cùng nhau tiếp tục ngồi uống rượu, quên cả việc dự tính rời khỏi Vạn Huê Lầu.
Lúc này Hồ Khôn nghe tin Hồ Luân bị té xuống lầu bể óc thì tức giận vội truyền cho tri huyện sở tại đem quân đến bắt ba anh em Địch Thanh mà trị tội.
Tri huyện vâng lời dẫn quân đến trước Vạn Huê Lầu bao vây bắt tên tửu bảo để tra hỏi:
- Ngươi tên họ là chi?
Tửu bảo nói:
- Tôi là Trương Cao bán rượu ở đây đã lâu.
Tri huyện hỏi:
- Còn ba người kia tên chi?
Tửu bảo thưa:
- Ba người ấy là khách phương xa tới đây, tôi không biết tên. Một người mặt trắng, một người mặt đỏ và một người mặt đen. Bây giờ họ đang ăn uống, xin quan đòi họ mà hỏi.
Tri huyện bèn cho đòi ba anh em Địch Thanh đến hỏi. Ba người đều khai tên họ và quê quán và kể lại sự việc do Hồ Luân dẫn gia tướng đến hành hung nên bị té rơi xuống lâu mà chết chớ không ai đánh cả.
Quan huyện nói:
- Dù sao các ngươi cũng là kẻ có liên can cái chết của công tử Hồ Luân, một người có quyền thế trong huyện, không thể bỏ qua được. Ta phải bắt các ngươi đem về xét xử trước công đường.
Nói rồi truyền quân bắt dẫn ba anh em Địch Thanh đem về huyện đường.
Trong lúc huyện quan đang khảo tra thì có tin Bao Công đến. Huyện quan lật đật ra nghênh tiếp, dẫn Bao Công vào.
Bao Công nói:
- Trong ba thằng này có thằng nào chịu giết Hồ Luân không?
Huyện quan thưa:
- Chúng nó cũng chịu, nhưng còn kêu nài là công tử hà hiếp chúng nó, và không phải cố sát.
Bao Công nói:
- Việc này cũng là việc lớn, xin ngài cho tôi ba tên này đem về xét xử cho rõ trắng đen.
Quan huyện thưa:
- Tôi là quan sở tại, được giao phó lẽ nào dám làm nhọc công ngài.
Bao Công nói:
- Ngài nói ngài là quan sở tại, chỉ để cho ngài tra xét thôi, vậy tôi không phải là quan sở tại hay sao?
Nói rồi truyền Trương Long, Triệu Hổ dẫn ba anh em Địch Thanh về công đường.
(Nguyên vì Bao Công mỗi ngày đều cho quân đi thám thính hay được việc này, sợ để cho cha con Hồ Luân ấp chế người lành, nên đã đến can thiệp).
Lúc ấy tri huyện giận Bao Công lắm, song không dám cãi lệnh, bèn lấy lời khai của tửu bảo, rồi khiến quân đem thây của Hồ Luân về giao cho Hồ Khôn, kể hết đầu đuôi sự việc.
Hồ Khôn nổi giận nói:
- Bao Chuẩn không kiêng nể ai hết. Nó dùng cách mà tha a tên hung thủ ấy. Để ta về tâu với thánh thượng xem nó có còn giữ được quyền lực hay không.
Nói rồi lo việc chôn cất Hồ Luân, mà trong lòng căm hận Bao Công rất dữ.
Còn Bao Công khi về đến nhà truyền quân dẫn ba anh em Địch Thanh ra tra hỏi.
Khi nhìn thấy mặt, Bao Công thấy ba người ấy tướng mạo đường đường oai phong lẫm liệt, thì trong ý đã khen thầm, bèn hỏi:
- Các ngươi là người tỉnh nào? Đến đây làm gì mà giết chết Hồ Luân? Sự thực thế nào cứ nói rõ cho ta biết.
Trương Trung liền bước tới thưa:
- Chúng tôi là người mua bán vải ở Sơn Tây, khi bán xong hàng hóa rủ nhau lên tửu lầu ăn uống một bữa. Lúc đang ăn uống bỗng có Hồ Luân dẫn bảy tên gia đinh đến mà đánh chúng tôi, bảo rằng Vạn Huê Lầu là chỗ cấm. Chúng tôi là khách phương xa không biết, nhưng bọn Hồ Luân áp vào đánh chúng tôi, cho nên tôi nổi giận đánh chúng nó bỏ chạy xuống lầu hết. Còn Hồ Luân thì đánh với tôi truợt chân xuống lầu mà chết. Việc này chỉ có tôi gây ra mà thôi, còn hai người bạn tôi là Địch Thanh và Lý Nghĩa thì vô can. Tôi xin chịu hết mọi lỗi lầm.
Bao Công nghe nói nghĩ thầm:
- Mình đã muốn tìm cách tha chúng nó, mà nó lại chịu tội sát nhân.
Nghĩ một lúc, Bao Công hỏi:
- Có thật Hồ Luân trượt té xuống lầu chết hay không?
Trương Trung thưa:
- Thiệt quả như vậy.
Bao Công nói:
- Như vậy thì tại nó té mà chết, can chi mà ngươi chịu án?
Trương Trung nói:
- Tại tôi đá công tử rớt xuống.
Bao Công nạt lớn:
- Thằng nói bậy! Bên Hồ Luân thì có đông, còn các ngươi chỉ có ba đứa, lẽ nào ngươi đá Hồ Luân té xuống lầu được?
Nói rồi đuổi Trương Trung ra, kêu Lý Nghĩa lại hỏi:
- Trong khi Hồ Luân đánh lộn với Trương Trung, có phải là tại nó té lầu mà chết không?
Lý Nghĩa thưa:
- Sự giết Hồ Luân là tại tôi đánh nó nhào xuống lầu bể óc, chớ không phải là Trương Trung.
Bao Công nổi giận nạt:
- Khi nải Trương Trung đã khai rõ ràng là tại Hồ Luân trượt chân té xuống lầu mà chết, bây giờ ngươi lại nói phách xưng là mình giết. Trong ý ngươi tưởng sát nhân không phải đền mạng sao?
Lý Nghĩa thưa:
- Tôi đành lòng thường mạng, xin quan lớn tha cho Trương Trung.
Bao Công cười lớn nói:
- Thằng khùng nói bậy! Hãy đi nơi khác cho xong.
Bao Công lại kêu Địch Thanh hỏi:
- Khi Hồ Luân lên đánh với ba đứa bây rồi trượt chân té xuống lầu mà chết phải không?
Địch Thanh thưa:
 - Khi ba anh em tôi đang uống rượu trên tửu lầu thì có bảy tám tên gia đinh đến hành hung, chúng tôi đạp cho mấy cái thất kinh chạy hết. Kế đó Hồ Luân xốc đến đánh tôi, tôi xách giò ném xuống lầu nên bể óc mà chết. Ấy là lỗi tại tôi, xin quan lớn tha cho hai người bạn của tôi không hề liên quan.
Bao Công nghe nói liền nạt lớn:
- Thằng điên nói láo! Thân thể ngươi ốm yếu lại nói xách giò người ta ném xuống lầu. Thật là phách lối.
Nói rồi truyền quân đuổi Địch Thanh ra khỏi cửa.
Địch Thanh nói lớn:
- Tôi quả là chánh phạm còn hai người  kia vô can, xin quan lớn xét lại.
Bao Công nói:
- Ngươi có chịu tội thế cho hai thằng này phải không? Quân bay đánh đuổi nó ra mau.
Lúc ấy có bọn gia nhân của Hồ Khôn đứng ngoài cửa trông thấy Bao Công đuổi Địch Thanh đi, không tra xét thì chạy vào quỳ thưa:
- Nó đã chịu án sát nhân sao quan lớn lại thả cho nó đi.
Bao Công nói:
- Quyền xử án là quyền của ta, sao ngươi dám xem vào? Một tên ốm yếu, nhỏ bé như thế mà dám đặt chuyện nói láo, xách người ném xuống lầu, có phải là nó đã khinh thường sự suy xét của kẻ khác không?
Nói rồi truyền quân bắt tên gia nhân của Hồ Khôn đánh hai chục hèo về tội vô phép, xen vào việc xét xử của người có trách nhiệm.
Lúc ấy Bao Công cũng muốn tha luôn Trương Trung, Lý Nghĩa ngặt vì chưa tìm ra cớ nên tạm giam ít hôm rồi sẽ tính.
Lời bàn:
Bao Công muốn tha ba anh em Địch Thanh vì thấu rõ hành động của cha con Hồ Luân là một phường gian ác, chuyên hà hiếp dân lành. Kẻ gian xảo, ác nhân không bao giờ được những người hiền lành ưa thích. Mọi hành động của họ bắt nguồn từ thế lực quyền uy. Ý thức phân xử cuả Bao Công là muốn trừ khử kẻ gian manh, nên có cảm tình với những ai có hành động bài trừ kẻ xấu. Ý thức ấy liên kết với nhau, nên Bao Công đã bên vực cho ba anh em Địch Thanh. Cái công bằng và chính đại của Bao Công là ở chỗ đó. Tâm hồn của lớp người nào liên kết với lớp người đó. Ấy là lẽ đương nhiên trong cuộc sống.

*   *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-23 06:42:06Hoàng Dung>
hồi thứ tám
Diễn võ nghệ, Địch Thanh theo thời thế
Luận nhân tình, Bao Chuẩn lấy lẽ ngay


 
Địch Thanh khi bị đuổi ra khỏi nha môn, vừa đi vừa suy nghĩ:
- Không biết vì ý gì mà Bao Công lại tha mình như vậy. Hay là ông đã có quen biết với cha mình thuở trước chăng? Song phần ta thì khỏi rồi còn hai em ra không biết sẽ thế nào.
Còn đang suy nghĩ chưa dứt thì đã thấy Trương Trung, Lý Nghĩa lật đật chạy theo hỏi:
- Đại ca sao còn chần chờ nơi đây. Hãy mau rời khỏi nơi đây.
Địch Thanh nói:
- Vậy chớ Bao đại nhân luận tội hai em thế nào?
 Trương Trung, Lý Nghĩa đồng thanh nói:
- Chưa xử nên chưa biết ý định của Bao đại nhân.
Địch Thanh nói:
- Ta muốn ở lại đây chờ hai em luôn thể.
Trương Trung nói:
- Ôi! Công việc còn đang kéo dài biết đâu mà chờ. Hiện nay Bao đại nhân dạy dẫn hai em vào ngục, chờ ngày giải quyết.
Địch Thanh nói:
- Vậy thì ta cũng phải vào đó mà ở tù với hai em luôn thể.
Trương Trung nói:
- Đại ca là người vô tội, lẽ đâu vào chốn ấy.
Địch Thanh nói:
- Sao lại vô tội. Việc giết Hồ Luân là tại ta, không phải tại hai em, sao hai em lại chịu ở tù thay ta?
Lý Nghĩa nói:
- Anh em ta đã thề nguyền cùng nhau sinh tử thì có gì phải phân biệt điều ấy.
Trương Trung kề tai nói nhỏ với Địch Thanh:
- Bao đại nhân có ý muốn tha hai đứa tôi, song sợ miệng gian thần phản đối, cho nên còn tạm giữ ít lâu. Xin đại ca yên lòng trở về quán trọ lâý một trăm lượng bạc của tôi còn gửi lại cho chủ quán mà dùng đỡ, rồi sẽ tính.
Địch Thanh trở về quán trọ, và ở đó chờ đợi Trương Trung và Lý Nghĩa.
Bấy giờ Hồ Khôn nghe gia đinh về báo là Bao Công đã tha tên chánh phạm là Địch Thanh thì cả giận mắng:
- Bao hắc tặc! Ngươi thật quá vô tình, không vị nể cha con ta.
Nói rôì liền hối gia nhân sắm kiệu qua dinh Bao Công mà hỏi cho rõ. Bỗng có tin Tôn Tú cho người mời sang. Hồ Khôn sẵn kiệu liền thẳng qua dinh Tôn Tú kể hết sự tình.
Tôn Tú nghe nói nổi giận mắng:
- Thôi! Việc này để cho tôi sang gặp Bao Công trách cho lão vài lời cho bõ ghét.
Hồ Khôn từ giã ra về, còn Tôn Tú thì lên kiệu thẳng qua dinh Bao Công. Vừa gặp nhau Tôn Tú nói:
- Tôi nghe có ba thằng du côn đánh thách công tử là Hồ Luân, mà tri huyện Phong Khưu là quan sở tại đương tra hỏi, sao ngài lại giành việc ấy đem về xét xử. Có quả thật như vậy chăng?
Bao Công nói:
- Có! Nhưng tôi hỏi ngài chẳng lẽ vụ án đó chỉ riêng tri huyện Phong Khưu mới tra hỏi được sao?
Tôn Tú nói:
- Ngài tra hỏi cũng được, song tôi lại nghe ngài tha tên chánh phạm là Địch Thanh là ý gì?
Bao Công nói:
- Thằng đó thân hình một nắm mà đánh ai đến chết được, đó là chuyện mơ hồ.
Tôn Tú nói:
- Nhưng nó đã nhận là thủ kia mà.
Bao Công nói:
- Xử án là đi sự thực đề xét đoán cho công bằng, không thể căn cứ vào lời dối gạt. Ngài chỉ nghe lời truyền ngôn mà đến đây nhiều lời như vậy. Thôi, từ nay về sau có chuyện quốc gia đại sự thì ngài sẽ đến hỏi tôi, còn như vụ án nhỏ như vậy bất quá chỉ là một vụ ngộ sát thôi, ngài đừng đến đây nhiều lời vậy nữa.
Tôn Tú nghe nói chạm tự ái, trách:
- Nói như ngài thì mất công bình nhiều lắm, tôi e ức lòng Hồ Khôn thì ông ta tâu cùng thánh thượng làm cho cái mão ô sa của ngài không còn nữa.
Bao Công nói:
- Còn mất cũng không cần miễn là tôi giữ vẹn lòng trung nghĩa mà thôi. Chuyện này dẫu Hồ Khôn không tâu thì tôi cũng tâu cho thiên tử rõ.
Tôn Tú nói:
- Con người đã bị chúng giết, ngài binh vực hung đồ mà tha tên chánh phạm, còn đòi tâu lên thiên tử làm sao?
Bao Công nói:
- Ngài lẽ nào không biết Vạn Huê lầu có phải là chỗ Hồ Khôn chiếm đoạt của người ta, ỷ thế hà hiếp dân chúng, làm cho ai nấy đều sợ hãi. Nay Hồ Luân đánh người ta, trượt té xuống lầu bể óc, có phải là do Hồ Khôn dạy con không nghiêm, để cho con ngang tàng như vậy thì không có lỗi hay sao?
Tôn Tú nghe nói không dám cãi nữa nên giảng hòa:
 - Ngài ơi! Bề nào Hồ Khôn cũng là người đồng liêu chớ nên gây thù oán làm chi. Còn việc đó là do tôi nghe lời truyền ngôn không rõ, nên lật đật đến mà thăm hỏi, xin ngài miễn chấp.
Nói rồi Tôn Tú từ giã Bao Công, trở qua dinh Hồ Khôn tỏ hết mọi việc Bao Công đã nói cho Hồ Khôn nghe.
Hồ Khôn trong lòng hậm hực nói:
- Thôi! Bây giờ ta hãy nhịn thua lão một phen, thủng thẳng ta sẽ sai người đi kiếm Địch Thanh mà bắt không khó gì.
Nói rồi hai người từ giã về dinh.
Bấy giờ Địch Thanh ngày ngày ngóng trông Trương Trung, Lý Nghĩa mà không thầy về, thì buồn rầu khôn xiết.
Châu Thành thấy vậy nói với Địch Thanh:
- Nay tôi có người bạn là Lâm Quới, mới lên chức Võ viên, hôm trước tôi có khoe với Lâm Quới công tử là người võ nghệ cao cường, mà không người tiến dẫn. Lâm Quới có bảo tôi đem công tử đến cho anh ta xem, như quả võ nghệ cao cường thì anh ta tiến dẫn cho đầu quân.
Địch Thanh nghe nói nghĩ thầm:
- Lâm Quới làm chức nhỏ mọn mà tiến dẫn mình sao được.
Tuy nghĩ vậy, Địch Thanh cũng gượng gạo theo Châu Thành đến ra mắt Lâm Quới.
Lâm Quới thấy Địch Thanh thân vóc nhỏ nhắn, mặt trắng mày thanh, xem ra không phải võ tướng, thì đã không vui lòng nên hỏi:
- Ngươi được bao nhiêu tuổi?
Địch Thanh thưa:
- Tôi mới có mười lăm tuổi thôi.
Lâm Qưới nói:
- Ngươi là tướng học trò, làm việc võ sao nổi?
Châu Thành xen vào nói:
- Nhơn huynh đừng thấy vóc người nhỏ mà khinh khi. Tuy nhỏ mà võ nghệ cao cường. Chẳng tin cứ thử sức thì biết.
Lâm Quới nghe nói liền dắt Địch Thanh đến diễn võ trường hỏi:
- Ngươi thường dùng binh khí chi?
Địch Thanh nói:
- Thứ gì cũng được.
Lâm Quới bèn lấy binh khí trao cho Địch Thanh và bảo Địch Thanh múa một hồi. Quân sĩ thấy ai nấy đều khen nức nở.
Lúc này Lâm Quới mới chịu tin, nói với Địch Thanh:
- Thôi ngươi ở lại đây mà kiến công lập nghiệp.
Từ đấy Địch Thanh an tâm ở theo quân sĩ mà chờ thời.

Lời bàn:
 Lời xưa có nói: “Gian nan là nợ anh hùng phải vay”
Không một vị anh hùng nào từ xưa đến nay gây dựng giang sơn sự nghiệp mà không trải qua những gian nan khổ sở.
Gian nan khổ sở là bài học đời, bài học của những kẻ có chí lớn thử thách trong lẽ sống.
Đã có anh hùng thì phải có tiểu nhân mà kẻ tiểu nhân là những ganh tỵ, ghen ghét với các bậc anh hùng vì quyền lợi và địa vị, cho nên thời nào cũng có.
Tiểu nhân và anh hùng là hai trạng thái đối nghịch nhau, liên kết với nhau để tạo nên sức mạnh.
Triều đình xưa kia là nơi tranh đoạt quyền lợi để tự tồn, vì vậy nơi chốn cao sang quyền quý bao giờ cũng gánh chịu những hành động nham hiểm của kẻ nịnh.
Nếu nói về đạo nghĩa làm người thì chỉ có những người trung mới có ý nghĩa bảo tồn, còn kẻ nịnh thì bất chấp những hành vi nào, miễn tạo được kết quả trong âm mưu của mình mà thôi.
Ba anh em Địch Thanh kết nghĩa, đồng lòng làm những việc nhân đạo, nên sướng khổ có nhau, còn như những kẻ khác tuy không dính líu gì với tình nghĩa ấy mà vì lòng nhân nên cũng không thể bỏ rơi những người hành động vì đạo nghĩa.

*   *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-23 06:51:38Hoàng Dung>
hồi thứ chín
Cầu danh lợi, Địch Thanh mang họa
Báo thù riêng, Tôn Tú làm ngang

Lúc này Địch Thanh vào ở nơi dinh lính bộ, ngày đêm buồn bã không nguôi, nghĩ thầm:
- Lúc xuống núi sư phụ có dặn là đến nơi thì gặp thân nhân, mà nay đã hơn hai mươi ngày rồi mà chưa gặp ai cả, còn bạn thân thiết lại ở chốn lao tù không biết ngày nào ra. Nay nghe nói có lệnh dọn dẹp thao trường để thao dượt nhân mã, song không biết làm thế nào để tiến thân.
Nghĩ vậy Địch Thanh lần đến giáo trường xem diễn võ, xảy thấy trên bàn  có bút mực để sẵn, Địch Thanh liền lấy bút đề lên vách một bài thơ:
Ngọc còn ẩn đá có ra chi
Có thuở trau dồi nên giống qui
Chẳng khác anh hùng chưa gặp vận
Biện Hoà dâng đến giữa đơn trì.
Ngày hôm sau, các quan văn võ kéo đến giáo trường, Tôn Tú nhìn lên vách thấy bài thơ có ký tên Địch Thanh thì nhớ lại việc Hồ Khôn trước đây liền lẩm bẩm:
- Cha chả! Thằng này gan thực, dám đề thơ có vẻ khí phách như vậy. Ta sẵn dịp này trả thù cho Hồ Luân rất tốt.
Nghĩ rồi liền hỏi quân sĩ:
- Trong số quân nhân này có ai tên là Địch Thanh chăng?
Quân nhân thưa:
- Có tên lính mới tuyển vào thuộc bộ binh của Lâm Quới.
Tôn Tú liền đòi Lâm Quới đến hỏi:
- Trong quân của ngươi có tên lính nào tên Địch Thanh chăng?
Lâm Quới nói:
- Có tên lính mới tôi mới tuyển vào.
Tôn Tú nói:
- Hãy đòi nó lại đây cho ta hỏi.
Lâm Quới vâng lệnh đòi Địch Thanh đến quỳ trước mặt Tôn Tú.
Tôn Tú hỏi:
- Tên ngươi có phải là Địch Thanh ở Sơn Tây không?
Địch Thanh thưa:
- Phải.
Tôn Tú nói:
- Hôm trước ngươi giết Hồ Luân ở Vạn Huê Lầu. Bao Công đã làm ơn tha cho ngươi sao ngươi chưa về xứ sở?
Địch Thanh thưa:
- Tôi nhờ Bao Công mà khỏi tội, song tôi còn muốn ở đây mà lập công danh, cho nên chưa về xứ sở.
Tôn Tú nghe nói liền hôí quân bắt Địch Thanh trói lại.
Địch Thanh nói lớn:
- Tôi có tội gì mà đại nhơn bắt tôi?
Tôn Tú nạt lớn:
- Ngươi dám làm bài thơ viết trên vách. Đó không phải là chỗ ngươi làm trò chơi.
Nói rồi liền hối quân dẫn ra chém. Lâm Quới thấy vậy lật đật quỳ lạy xin cho Địch Thanh.
Tôn Tú nạt Lâm Quới:
- Ngươi không được nói nhiều lời.
Lâm Quới bị quở không dám nói nữa. Quân sĩ vừa dẫn Địch Thanh ra đến pháp trường, xảy thấy có năm vị phan vương cũng ra pháp trường thao luyện. Năm vị phan vương ấy là: Lộ Huê vương Triệu Bích; Nhữ Nam vương Trịnh Ấn; Dõng Minh vương Cao Quỳnh; Tịnh Sơn vương Hồ Diên Hiểu; và Đông Bình vương Tào Vĩ. Khi ấy năm người đến nơi, Lâm Quới nói nhỏ với Địch Thanh, và xúi Địch Thanh kêu oan.
Địch Thanh nghe theo liền la lớn lên:
- Oan ức tôi lắm!
Nhữ Nam vương Trịnh Ấn liền kêu quân bảo dừng lại, và hỏi Tôn Tú:
- Vậy chớ chuyện gì mà tên này kêu oan?
Tôn Tú bối rối không biết đâu mà trả lời.
Năm vị phan vương đồng hỏi:
- Sao chừng này mà không lo thao luyện binh mã lại tru lục quân sĩ như vậy.
Tôn Tú thưa:
- Nguyên thằng này là lính mới tuyển vào, lại dễ ngươi dám đề thơ trên vách mà diễu cợt quan trên, nên tôi xử trảm.
Trịnh Ấn hỏi:
- Thơ ấy ở đâu?
Tôn Tú chỉ thơ trên vách cho Trịnh Ấn xem.
Trịnh Ấn thấy thơ hay mà không động chạm đến quan trên nên nghĩ rằng:
- Chắc là Tôn Tú có thù riêng với tên lính này nên mới kiếm cớ mà làm tội như vậy.
Nghĩ như vậy liền hỏi Tôn Tú:
Tội đề thơ ấy có chi mà phải chém?
Tôn Tú nói:
- Vì nó dám có hành vi diễu cợt nên phải chém đầu răn chúng.
Trịnh Ấn nói:
- Việc trị binh như vậy cũng là nghiêm lắm. Nhưng có tôi đến đây thì cho tôi xin.
Tôn Tú thưa:
- Lời đại vương day tôi không dám cãi. Song nếu tha nó thì muôn binh sẽ trở nên khinh lờn phép tắc.
Trịnh Ấn nói:
- Té ra ngươi nằng nặc đòi chém cho được mà thôi. Tuy vậy ta cũng nằng nặc xin tha cho được nó.
Tĩnh Sơn vương thấy vậy nói với Tôn Tú:
Tôn binh bộ sao nỡ vô tình quá vậy. Dẫu cho tôi không đáng chém mà Nhữ Nam vương đã xin thì cũng phải tha mới phải.
Tôn Tú chưa biết nói sao, ngồi nghĩ một lát rồi nói:
- Nếu tha cho nó tội chết thì cũng phải phạt nó bốn mươi hèo chứ không thể bỏ qua.
Trịnh Ấn nói:
- Cái thẳng thân hình nhỏ xíu mà đánh đến bốn mươi hèo thì còn gì thân xác nó.
Đông Bình vương nói:
- Thôi, chỉ đánh nó hai mươi hèo cũng đủ.
Tôn Tú thấy các vương gia bênh vực nên không dám nói nữa liền bước ra dặn Phạm Khước lấy cây hèo có tẩm thuốc độc mà đánh Địch Thanh.
Khi đánh Địch Thanh xong, Tôn Tú khiến bôi tên Địch Thanh và đuổi ra. Năm vị phan vương truyền nổi chiêng trống lên thao dợt binh mã. Xong cuộc diễu binh ai nấy đều lên kiệu về dinh.

Lời bàn:
Oán Thù là một trạng thái đưa đến hành động bất nhân, kẻ nuôi oán thù lúc nào cũng tìm âm mưu làm hại kẻ khác cốt thỏa mãn sự căm hận của mình.
Nếu oán thù nuôi trong lòng kẻ không có quyền thế, điạ vị thì còn ít nguy hiểm, còn nếu nó ở trong con người có quyền thế địa vị thì thật tai hại.  Sự trả thù sẽ dẫn đến những hành động bất nhân, tàn bạo không thể lường trước được.
Lời xưa có nói: “oán thù chỉ nên cởi mở mà không nên buộc. Lấy đức báo oán thì oán sẽ tự tiêu, lấy oán báo oán thì hận thù chồng chất không bao giờ hết”.
Làm người nên trọng lấy đạo nghĩa, mà không nên coi trọng oán thù. Kẻ nào bỏ được oán thù thì kẻ ấy sẽ sống cuộc đời thanh thản, không bị ràng buộc trong sự cạnh tranh  vì thế sự.
 
*   *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-23 06:55:29Hoàng Dung>
hồi thứ mười
Bị hèo độc, Địch Thanh cầu thuốc
Gặp bạn nghèo, hoà thượng ra ơn


Sau khi bị đánh Địch Thanh ra khỏi giáo trường, vưà đi được mấy bước thì thuốc độc thấm vào người đau nhức không chịu nổi. Tuy vậy Địch Thanh cũng ráng sức đi một đoạn đường khá dài, cho đến lúc không còn đi nổi nữa Địch Thanh mới ghé vào một cái miếu bên đường nằm nghỉ.
Người giữ miếu bước ra hỏi:
- Ngươi ở đâu mà đến đây nằm liệt ra như vậy?
Địch Thanh nói:
- Tôi là lính bộ của Lâm Quới, vì bị Tôn binh bộ đánh hai mươi hèo khi đánh thì không đau cho lắm, đến khi ra đi thì thấm đòn đau nhức không sao chịu nổi, nên phải ghé vào đây nằm nghỉ một lúc.
Người giữ miếu nói:
- Nếu vậy thì ngươi bị cây hèo có thuốc độc của Tôn binh bộ rồi. Vậy ngươi phải tìm thầy mà trị cho sớm, nếu không thuốc độc ngấm vào thì ngươi phải chết.
Địch Thanh than:
- Tôi là người xứ lạ, nay biết tìm thầy nơi đâu mà chữa.
Người giữ miếu nói:
- Ở đây thầy thuốc không thiếu gì, nhưng trị được chất độc ấy thì chỉ có ông An Tu hòa thượng mới chữa khỏi.
Địch Thanh hỏi:
- Vị hòa thượng ấy ở đâu?
Người giữ miếu nói:
- Hòa thượng đó ở tại chùa Tướng Quốc cách đây không xa lắm.
Địch Thanh nghe nói rất mừng, từ giã ra đi tìm đến chùa Tướng Quốc. Đến nơi, hoà thượng thấy bộ điệu của Địch Thanh thì biết ngay là bị thuốc độc nhiễm vào do cây hèo độc của Tôn Tú rồi, nên lật đật hối đệ tử đem thuốc ra xoa cho Địch Thanh. Khi mới thoa vào thì đau nhức lắm, nhưng chỉ chốc lát Địch Thanh hồi sức, và trỏ lại bình thường.
Từ đấy Địch Thanh ở lại chùa mà dưỡng bịnh.
Độ năm sáu ngày thì Địch Thanh đi đứng như thường và nghĩ thầm:
- Nay nhờ có hòa thượng chữa khỏi bệnh nên mới còn sống sót ơn ấy rất trọng không biết lấy gì tạ ơn. Ta còn một viên ngọc uyên ương của gia truyền, thôi thì đưa cho hoà thượng mà tạ ơn.
Nghĩ như vậy, Địch Thanh đem trao cho hòa thượng.
Hòa thượng không nỡ lấy nói:
- Ấy là vật gia bảo của ngươi, ta là người tu hành, sẵn lòng làm phước. Nếu có tiền thì đền ơn, còn không thì thôi. Ngươi hãy cất đi đừng làm vậy.
Địch Thanh nhất định không chịu, năn nỉ mại rồi bỏ ra đi.
Hòa thượng cầm viên ngọc lên xem thấy quý giá vô cùng, đã trong mà lại sáng ngời. Giữa lúc đó có tin báo Tịnh Sơn vương đến thăm. Hòa thượng vội ra tiếp đón mời vào trà nước.
Hòa thượng kể lại việc đã qua và lấy viên ngọc đưa cho Tịnh Sơn Vương xem.
Tịnh Sơn vương nói:
- Ngọc này rất quý nhưng tiếc là không đủ cặp, chắc còn một viên nữa đang trao cho kẻ khác để lưu niệm.
Nói rồi Tịnh Sơn vương ngồi lại đánh cờ với hòa thượng.

Lời bàn:
Thân danh sự nghiệp con người rất trọng, kẻ làm nên thân danh sự nghiệp thuộc về đấng anh hùng. Nhưng trên con đường lập thân để đạt lấy nó không phải dễ. Lời xưa nói: “càng cao danh vọng càng dày gian nan”.
Địch Thanh là một nhân tài, lẽ ra đem tài năng của mình dựng nên sự nghiệp không khó gì, nhưng trong cuộc sống con người chứa đầy tham vọng và tàn ác.
Trong xã hội ngày nay, chúng ta thấy những kẻ nên danh ,được đời ca tụng là anh hùng, là vĩ nhân, nhưng chính trong cuộc sống của họ cũng phải trải qua biết bao nhiêu gian nan khổ cức mới thành đạt như vậy. Sự nghiệp càng lớn thì gian nan càng nhiều. Bởi vậy những người có chí lớn trong thiên hạ, trên đường lập nghiệp họ không coi gian nguy, khổ sở là quan trọng mà  chỉ sợ mình không đủ nghị lực để vượt quan gian nan khổ cực mà thôi.

*   *
*
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-26 20:09:46Hoàng Dung>
hồi thứ mười một
Giận gian tặc, ban cho gươm báu
Thương anh hùng, khuyên trả ngọc lành


 
Bấy giờ Tịnh Sơn vương đang ngồi đánh cờ với hòa thượng, xảy thấy có đồ đệ vào thưa:
- Có Sơn Tây trở lại xin vào chào thầy để từ tạ, nhưng thấy có khách nên không dám vào.
Hòa thượng nói:
- Ra bảo nó chờ thêm vài hôm nữa cho thật lành bệnh rồi hãy đi.
Tịnh Sơn vương nghe nói Địch Thanh lấy làm lạ hỏi:
- Địch Thanh nào có tên trong giáo trường, còn Địch Thanh nào lại ở đây?
Hoà thượng thưa:
- Cũng là một Địch Thanh đó mà thôi. Hôm trước nó ở trong binh bộ, bị Tôn Tú đánh nó ai mươi hèo có tẩm thuốc độc, may có người chỉ đến đây nên tôi miớ vừa cứu nó và nó đền ơn cho tôi viên ngọc uyên ương này.
Tịnh Sơn vương nghe nói khiến đòi Địch Thanh vào mà hỏi.
Địch Thanh bước vào quỳ ra mắt. Tịnh Sơn vương hỏi:
- Vậy chớ ngươi với Tôn Tú có thừ oán chi chăng?
Địch Thanh thưa:
- Tôi là con nít, còn Tôn Tú là quan chức, hai bực cách nhau xa lắm, lẽ nào tôi dám xúc phạm đến người trên mà gây thù oán.
Tịnh Sơn vương nói:
- Hay là lớp trước có thù oán gì chăng?
Địch Thanh thưa:
- Chuyện ấy thì tôi là lớp hậu sanh không rõ được.
Tịnh Sơn vương nói:
- Hôm trước ta thấy trong ý bài thơ của ngươi thì tự xưng là anh hùng. Vậy chớ tài nghệ của ngươi có quả như trong thơ chăng?
Địch Thanh thưa:
- Chẳng dám dấu đại vương, nội trong tam lược lục thao, binh thơ chiến sách thảy đều thông.
Tịnh Sơn vương nghe nói chưa tin, vì thấy Địch Thanh diện mạo giống như một thư sinh, nên muốn thử xem gan dạ thế nào, liền hỏi:
- Nay Tôn Tú đem lòng độc ác, dùng hèo thuốc độc mà hại ngươi, vậy ngươi dám đến mà giết nó đặng trả thù không?
Địch Thanh thưa:
- Nếu được đại vương ban cho Long tuyền kim sợ gì mà không dám giết tên gian thần đó.
Tịnh Sơn vương nói:
- Vậy thì ngươi hãy theo ta lãnh cây bảo đao mà trừ tên gian thần ấy.
Địch Thanh thưa:
- Nếu đại vương có lòng như vậy thì tôi nguyện đem hết sức mình diệt trừ tên bạo ngược.
Tịnh Sơn vương nói:
- Ta sơ e ngươi vẽ cọp không ra hình thì thế nào?
Địch Thanh thưa:
- Nếu được việc thì tôi vì dân trừ bạo, còn nếu không thì tôi có chết cũng cam lòng.
Tịnh Sơn vương nói:
- Như vậy mới đáng mặt anh hùng. Thôi hãy đi với ta.
Nói rồi dạy lại hỏi hòa thượng:
- Ngọc uyên ương là báu vật gia truyền của nó, thày trả lại cho nó giữ làm dấu tích của tiển nhân. Còn công ơn thầy cứu nó thì để tôi trả vài đính vàng.
Nói rồi lấy ra hai đính vàng trao cho hòa thượng.
Hòa thượng nói:
- Ấy là tại Địch Thanh năn nỉ và cố đền ơn. Nay đại vương đã dạy như vậy tôi đâu dám lãnh.
Tịnh Sơn vương nhất định trao hai đính vàng cho hòa thượng nên hòa thượng cực chẳng đã phải nhận và trả viên ngọc lại cho Địch Thanh.
Tịnh Sơn vương từ giã lên kiệu ra về, lại khiến Địch Thanh theo về dinh.
Ngày hôm sau, Tịnh Sơn vương khiến quân khiêng cây Kim hoàn đao ra, rồi nói với Địch Thanh:
- Nay ta giao cây đao này cho ngươi, đặng ngươi chém đầu Tôn Tú.
Địch Thanh liền bước ra lãnh đao, từ tạ ra đi.
Tịnh Sơn vương khiến Lưu Văn và Lý Tấn theo sau mà coi chừng Địch Thanh tiếp ứng.
(Nguyên cây đao này nặng đến một trăm cân của Tống Thái Tổ để lại, vì e ngày sau con cháu nghe lời sàm tấu của nịnh thần mà làm hư việc nước, nên giao cho năm vị phan vương luân phiên mà giữa đao ấy mỗi người sáu ngày. Nhằm phiên ai giữ thì được quyền chém giết bất kỳ văn võ bá quan, hoàng thân quốc thích, hể ai phạm tội thì chém đầu, mà lúc ấy nhằm phiên của Tịnh Sơn vương giữ cây đao ấy).
Lúc ấy Địch Thanh xách cây đao ra đ1, ai ai thấy mặt cũng đều tránh, vì đã biết cây đao của Tống Thái Tổ cho nên sợ hãi. Còn Địch Thanh là người xứ lạ mới đến Biện Kinh có ít ngày, không biết Tôn Tú ở đâu đặng mà vào lấy thủ cấp.
Lúc này Tôn Tú đang qua dinh Bàng Hồng mà đánh cờ. Gia nhân của  Tôn Tú là Tôn Long thấy mặt thì biết là Địch Thanh, lật đật chạy qua dinh Bàng Hồng báo cho Tôn Tú hay.
Tôn Tú nghe nói kinh hãi. Bàng Hồng nói:
- Thế ra lão Hồ Diên Hiển trao cây kim đao cho nó, vì hôm nay nhằm phiên của lão ấy giữ.
Tôn Tú nói:
- Không biết kế chi mà trừ lão, để lão ỷ mình là công thần muốn làm chi thì làm, rất khó chịu.
Bàng Hồng nói:
- Thôi! Haỹ khoan về dinh đã, để xem thử chúng nó làm gì.
Lúc này Sơn Tây xách đao đi tìm Tôn Tú không được, khi đến một chiếc cầu, Địch Thanh nghĩ thầm:
- Thôi ta cứ ngồi đây chờ nó đi ngang qua đây sẽ hạ sát.
Ngồi một lát thấy đói bụng, Địch Thanh bước lại tiệm bánh gần đó, dựng cây đao ngoài cửa, rồi vào ngồi ăn.
Lúc đang ăn, Địch Thanh bỗng nghe tiếng la hét om sòm, liền bước ra xem thì thấy một đoàn người vừa chạy vừa la inh ỏi.
Địch Thanh xem kỹ thì thấy một con ngựa tướng mạo rất hung dữ đang chạy qua cầu. Địch Thanh vội vã chạy theo đuổi bắt. Chủ quán thấy vậy nói:
- Cái thằng khốn! Nó làm bộ đuổi theo bắt ngựa để khỏi trả tiền bánh. Vậy sẵn có cây đao đây, ta xiết mà trừ nợ..
Nói rồi kêu bọn gia nhân ra khiêng cây đao vào.
Bỗng có Lưu Văn và Lý Tấn chạy đến nạt lớn:
- Cây đao vủa vua Thái Tổ để lại tại dinh vủa Tịnh Sơn vương, ai dám cả gan khiêng đi vậy.
Chủ tiệm nói:
- Ấy là tại tôi không rõ, tưởng là của ai bỏ quên, xin miễn chấp.
Lưu Văn và Lý Tấn bèn khiêng cây đao ấy về dinh.
Còn con ngựa vừa sẩy chạy là con ngựa cùa Đông Phiên đem dâng cho triều đình, tên là Hỗn long cu. Vua ban cho Bàng thái sư. Ngựa ấy dữ tợn lắm, không chịu ai cưỡi hết, cho nên phải xiềng nó lại mà nó vẫn hung dữ. Ngày trước nó đã hại chết mấy trăm gia nhân của Bàng thái sư nen Bàng thái sư muốn giết nó đi, ngặt vì ngựa của triều đình ban nên không dám giết, phải đóng cũi mà nhốt nó. Nay nó lại phá cũi mà ra, nên Bàng thái sư truyền rằng hễ ai trừ được con ngựa thì trọng thưởng.
Lúc đó Địch Thanh chạy theo mà nắm đầu con ngựa ấy mà đạp một cái, con ngựa liền ngã xuống chết tươi. Ai nấy thấy vậy đều khen. Bọn gia nhân của Bàng thái sư chạy đến nói:
- Tráng sĩ thật đáng bậc anh hùng, xin tráng sĩ theo chúng tôi về dinh lãnh thưởng.
Địch Thanh nói:
- Không phải tôi ham thưởng mà chỉ muốn trừ con ngựa dữ mà thôi. Tôi không muốn đi đâu.
Gia đinh nói:
- Nếu tráng sĩ không đi thì chúng tôi bị quở, vì thái sư có ra lệnh hễ ai trừ được ngựa thì ban thưởng.
Địch Thanh thấy vậy cũng chiều lòng đi theo bọn gia nhân. Đến nơi bọn gia đinh vào báo:
- Nay có một tráng sĩ sức mạnh vô cùng, đã trừ được con Hỏa long cu rồi. Hiện đang đứng ngoài cửa.
Bàng thái sư nghe nói khiến cho vào. Địch Thanh vào đến nơi quỳ lạy nói:
- Kẻ tiểu nhân vì muốn trừ ngựa dữ chớ không có ý lãnh thưởng gì hết.
Bàng thái sư hỏi:
- Ngươi tên họ là chi? Quê quán ở đâu?
Địch Thanh thưa:
- Tôi là Sơn Tây ở tỉnh Sơn Tây, phủ Thái Nguyên.
Bàng Hồng nghe nói biết là cừu nhân của rể mình, thì nghĩ thầm:
- Ta phải tìm gạt nó để báo cừu cho rể ta.
Nghĩ rồi liền nói:
- Ta đã có lời hứa hễ ai trừ được ngựa dữ thì ban thưởng, vậy tráng sĩ ở lại đây để sáng mai ta vào triều tâu với thánh thượng gi ban ban quyền tước cho.
Địch Thanh nói:
- Ngày trước tôi có phạm tội với Tôn binh bộ, e người thấy mặt thì không dung thứ.
Bàng Hồng nói:
- Không hề chi! Có ta đây thì Tôn binh bộ không dám là gì trái đâu. Vậy tráng sĩ cứ ở theo bọn gia đinh của ta, hoặc ra ngoài huê viên mà nghỉ, ngày mai ta sẽ dắt vào triều yết kiến hoàng thượng.
Địch Thanh tuân lệnh. Còn Bàng Hồng thì trở lại thơ phòng, gọi Tôn Tú đến, thuật hết mọi việc cho Tôn Tú nghe. Sau đó Bàng Hồng nói với tên gia đinh là Lý Kế Anh:
- Nay có Địch Thanh là người thù của Tôn binh bộ cho ngủ nơi Đơn Quế đình, vậy đêm nay đến canh ba ngươi đem lửa đốt nhà ấy đặng giết Địch Thanh trả thù cho Tôn binh bộ. Ngươi làm xong việc ấy sẽ được trọng thưởng.
 Lý Kế Anh thưa:
- Nơi đây là chốn kinh thành, nếu nổi lửa đốt vào lúc canh ba e làm náo loạn. Vậy để tôi dụ nói uống rượu  cho say, rồi nửa đêm cho nó một đao thì hết đời, mà không ai hay biết gì hết.
Bàng Hồng nghe nói gật đầu:
- Như vậy thì rất tốt, nhưng ta e một mình ngươi làm không nổi.
Lý Kế Anh nói:
- Giết một tên say rượu có gì khó đâu. Nhưng nếu tôi giết được xin thái sư trọng thưởng là tốt rồi.
Bàng Hồng nói:
- Nếu ngươi giết được Địch Thanh thì ta tiến cử ngươi làm chức tri huyện nơi một chỗ tốt.
Lý Kế Anh thưa:
- Vậy thì xin thái sư cho tôi một tiệc rượu đặng tôi đến Đơn Quế đình mà dỗ nó ăn uống cho no say.
Bàng Hồng liền hối quân dọn tiệc rồi bưng theo Lý Kế Anh.
Bấy giờ Địch Thanh đang ngồi một mình nơi Đơn Quế đình, bỗng thấy một người đi trước và hai tên quân bưng mâm tiệc rượu theo sau. Khi đến nơi, Lý Kế Anh bảo để mâm tiệc rượu xuống, rồi cho hai tên quân trở về.
Địch Thanh hỏi:
- Hiền huynh là ai? Quê quán ở đâu?
Lý Kế Anh nói:
- Tôi là gia nhân của Bàng thái sư, tên là Lý Kế Anh, quê ở tỉnh Sơn Tây, phủ Thái Nguyên, trước kia làm tôi cho ông thân sinh của cậu. Đến sau người xin quy điền, chẳng bao lâu thì từ trần. Kế sau đó bị nước lụt, chết hết cả huyện Tây Hà. Tôi may sống sót, lưu lạc đến đây là gia đinh cho Bàng thái sư. Nay gặp cậu ở đây mà cậu lại đang lâm đại nạn, cho nên tôi phải lập mưu mà cứu cậu.
Địch Thanh nói:
- Chẳng hay tôi đang bị nạn gì?
 Lý Kế Anh liền thuật hết chuyện Bàng Hồng âm mưu hãm hại.
Địch Thanh nghe nói thất kinh hỏi:
- Lạ thạt! Tôi và Bàng Hồng có thù oán chi mà lại âm mưu hại tôi như vậy?
Lý Kế Anh nói:
- Vậy cậu không biết Bàng Hồng là người chi của Tôn Tú hay sao?
Địch Thanh nói:
- Không.
Lý Kế Anh nói:
- Tôn Tú là rể của Bàng Hồng cho nên Bàng Hồng muốn trả thù thay cho Tôn Tú.
Địch Thanh nghe nói nổi giận:
- Bàng tặc muốn hại ta. Vậy trong nội đêm nay ta phải giết trước mi cho rồi.
Lý Kế Anh nói:
- Không nên hành động như vậy vì chưa đến lúc. Tốt hơn là cậu tìm cách trốn khỏi nơi đây đã.
Địch Thanh nói:
- Bây giờ biết ra đường nào?
Lý Kế Anh nói:
- Tôi đã liệu trước rồi. Cửa trước cửa sau đều khóa hết, không ra được, duy có phía giáp ranh ông Hàng Kỳ làm Lại bộ thượng thư, thì hai bên có cây đại thọ cành cây giao nhau, cậu có thể leo lên cây mà trèo sang bên kia thì thoát nạn.
Địch Thanh nói:
- Biết ông ấy có phải là một phe với Bàng Hồng chăng?
Lý Kế Anh nói:
- Ông này là một người chánh trực, nên Bàng Hồng thường muốn hại ông ta mà chưa được. Vậy cậu hãy đi cho mau kẻo trễ.
Địch Thanh nói:
- Nay nhờ hiền huynh thương tình thông tin, nếu không thì tính mạng tôi không còn.
Nói rồi cúi đầu lạy Lý Kế Anh.
Lý Kế Anh đỡ dậy nói:
- Cậu  đừng làm như vậy. Hãy đi cho mau kẻo bị lộ.
Địch Thanh liền leo lên cây đại thọ chuyền qua bên vườn của Hàng Kỳ.

lời bàn:
Dù cho kẻ gian xào đến đâu thì trong âm mưu cũng có lúc sơ hở. Chính những sơ hở ấy lại tạo thành cơ hội ngàn để cho kẻ hiền lành lọt ra ngoài nguy biến.
Bàng Hồng là một tay âm mưu nổi tiếng, thế mà không hại được Địch Thanh khi Địch Thanh đã sa vào trong tay mình. Đó là lòng trời không nỡ hại người ngay nên khiến Bàng Hồng không lường nỗi lòng nhân ái của Lý Kế Anh, một tên gia nhân.
Trong kẻ ác có những người thiên. Thiện ác luôn luôn xen kẽ với nhau, diễn biến trong cuộc sống không thể lường hết được.
Trong cuộc sống con người, không phải ai lương tâm cũng giống nhau. Nhưng có điều kẻ ác thường liên kết với người ác, còn người lành thì gặp người lành lại thương mến nhau. Cái gì phù hợp nhau thì cái đó gặp nhau. Lý Kế Anh, một kẻ tôi đòi, nhưng lại có lòng nhân, nên thấy Địch Thanh lầm hoạn nạn thì thương cảm. Lòng thương cảm đã vượt qua mọi nguy hiểm của mình nếu hành động của Lý Kế Anh bị tiết lộ. Biết vậy nhưng Lý Kế Anh vẫn làm vì lương tâm con người bắt buộc phải hành thiện.

*   *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-28 08:44:12Hoàng Dung>
hồi thứ mười hai
Thoát lao lung, anh hùng lánh nạn
Nhìn cựu nghĩa, Lại bộ phò nguy
 
Bấy giờ Hàng Kỳ đang làm Lại bộ thượng thư, là một vị trung thần, tuổi đã sáu mươi, đêm ấy ra sau vườn xem trang, thấy sao Võ khúc chói sáng thì biết có Võ tướng quân ra đời. Trong lúc đang suy nghĩ thì trên cây đại thọ có nhánh động, rồi một bóng người còn nhỏ tuổi từ trên lao xuống.
Hàng Kỳ hỏi:
- Ngươi là ai? Sao đêm khuya dám xông vào vườn ta?
Địch Thanh nghe hỏi vội vã quỳ xuống thưa:
- Tôi là Sơn Tây, người ở Sơn Tây vì lánh nạn xin đại nhân cứu tôi làm phước.
Hàng Kỳ hỏi:
- Ngươi bị nạn chi?
Địch Thanh thuật hết câu chuyện từ khi giết được ngựa dữ đến việc Tôn Tú muốn hại mình chó Hàng Kỳ nghe.
Hàng Kỳ nói:
- Té ra ngươi là người bị Tôn Tú chém lúc trước nhờ có ngũ vị phan vương xin đó phải không?
Địch Thanh thưa:
- Phải.
Hàng Kỳ hỏi:
- Ngươi ở Sơn Tây, vậy cha ngươi tên gì?
Địch Thanh thưa:
- Cha tôi tên là Địch Quảng làm tổng binh tại Thái Nguyện, còn ông tôi là Địch Ngươn.
Hàng Kỳ nghe nói mừng rỡ, liền bảo:
- Trước kia ông thân của cháu còn ở tại triều có kết nghĩa với chú, tình ý rất hợp nhau như ruột thịt. Đến sau cha cháu ra trấn nhậm Thái Nguyên thì đường sá xa xôi, tin tức vắng bặt. Sau đó chú lại nghe tỉnh Sơn Tây bị lụt, chắc là cả nhà không còn. Đến nay, trời sau cháu đến đấy khiến chú rất mừng. vậy cháu hãy ở lại đây nương náu chờ thơi, đặng kiến công lập nghiệp.
Địch Thanh nghe nói liền cúi đầu lạy Hàng Kỳ.
Hàng Kỳ đỡ dậy nói:
- Từ nay cháu cứ gọi bằng chú mà thôi.
Địch Thanh vâng lời, từ ấy ở tại nhà Hàng Kỳ mà ẩn mặt.
Còn Lý Kế Anh thấy Địch Thanh đã leo qua vách rồi liền trở lại thưa với Bàng Hồng rằng:
- Tôi đã dụ Địch Thanh uống rượu say mèm rồi, xin thái sư cho tôi một cây long tuyền kiếm đặng tôi lấy đầu nó cho rồi.
Bàng Hồng nói:
- Vậy nhà ngươi rán mà giữ mình kẻo nó mạnh lắm.
Lý Kế Anh vâng dạ ra đi.
Bấy giờ đã canh ba, quân sĩ thâý Lý Kế Anh cầm long tuyền kiếm nên không ai dám hỏi han gì hết.
Hôm saum Bàng Hồng thấy Lý Kế Anh không trở lại báo tin nên hõi bọn gia nhân thì được biết Địch Thanh và Lý Kế Anh đã bỏ trốn mất rồi.
Bàng Hồng nổi giận một mặt sai bốn mươi tên quân đi tìm kiếm, một mặt sai chặt cây cổ thụ bên tường, vì nghĩ rằng Địch Thanh trốn được là nhơ cây cổ thụ ấy.
Còn Tôn Tú nghe tin Địch Thanh bỏ trốn rồi thì cả giận, cùng với Bàng Hồng điểm ba ngàn quân đến bao vây nhà Hàng Kỳ, cố lục soát tìm bắt Địch Thanh.
Gia nhân hay tin lật đật vào báo với Hàng Kỳ.
Hàng Kỳ cười lớn nói:
- Loài gian tặc làm nhiều điều ngang ngược như vậy.
Địch Thanh thưa:
- Xin để cháu ra trừ loài gian tặc cho.
Hàng Kỳ nói:
- Không nên! Cháu hãy nghe chú leo lên lầu xem sách mà ẩn mình thì tiện hơn. Lầu này là của tiên đế lập cho chú xem sách, bên ngoài có tấm bảng cấm, không ai được lên trên lầu ấy. Nếu nó xét nội nhà mà không thấy cháu thì nó phải ra đi, không dám xét đến lầu đó.
Nói  rồi dẫn Địch Thanh lên lầu, đóng cửa lại. Lúc Hàng Kỳ bước trở xuống thì đã gặp Bàng Hồng bước vào nhà. Hàng Kỳ thi lễ xong mời ngồi và hỏi:
- Vả tôi là người vô tội sao thái sư dẫn quân đến xét dinh tôi.
Bàng Hồng nói:
- Có Địch Thanh trốn trong dinh ngài xin bảo nó ra, nếu dấu e khó lòng cho ngài đó.
Hàng Kỳ nói:
- Té ra ngài muốn kiếm Địch Thanh sao? Nào tôi có biết Địch Thanh là người thế nào đâu? Thôi! Mặc cho ngài muốn kiếm thì kiếm, không can chi.
Bàng Hồng nghe nói liền khiến quân lục soát khắp nội dinh, nhưng không có. Bàng Hồng nghi Địch Thanh trốn trong Ngự thơ lầu, nhưng không dám lên.
Hàng Kỳ thấy vậy nói với Bàng Hồng:
- Công trình ngài đem quân đến đây mà không kiếm được Địch Thanh, thật là uổng công của ngài lắm.
Bàng Hồng nghe mấy lời xiên xỏ của Hàng Kỳ thì giận lắm, song không nói gì được, bèn khiến quân canh giữ Ngự thơ lầu rồi rút quân trở về dinh.
Hàng Kỳ thấy Bàng Hồng đi rồi thì vỗ tay cười lớn, mắng:
- Gian tặc! Ngươi đã tìm không ra Địch Thanh thì thôi, sao còn bày đặt sai quân canh giữ thơ lầu làm chi cho uổng công như vậy.
Từ ấy Hàng Kỳ cứ dấu Địch Thanh trên Ngự thơ lầu, mỗi ngày cho người đem cơm cho Địch Thanh ăn mà thôi.
Nhắc lại việc Tịnh Sơn vương trao cây kim đao sai Địch Thanh đi giết Tôn Tú, nhưng hôm sau lúc đi chầu về không thấy Địch Thanh trở lại thì gọi Lưu Văn và Lý Tuấn đến hỏi. Hai người thuật chuyện Địch Thanh trừ được ngựa dữ bỏ quên kim đao ngoài quán và đi theo theo gia đinh của Bàng Hồng cho Tịnh Sơn vương nghe.  Tịnh Sơn vương than:
- Địch Thanh là người hữu dõng vô mưu.
Nhắc lại việc Lý Kế Anh khi ra khỏi thành thì sợ Bàng Hồng cho quân theo bắt, nên không dám đi đại lộ cứ theo tiểu lộ mà đi. Đến trưa thấy đói bụng bèn vào quán ăn cơm.
Trong lúc ăn cơm thấy có hai tên gia đinh của Bàng Hồng kéo đến là Bàng Hưng và Bàng Hỷ.
Hai người vào quán nói với Lý Kế Anh:
- Sao ngươi thả Địch Thanh làm chi mà phải bỏ trốn như vậy? Nau thái sư dạy hai ta đến bắt ngươi, vậy ngươi phải trở về mà chịu tội.
Lý Kế Anh nói:
- Không! Ta không trở về đâu.
Bàng Hưng nói:
- Sao vậy?
Lý Kế Anh nói:
- Lâu nay tôi ở với thái sư không phạm điều chi lầm lỗi, vừa rồi tôi cứu Địch Thanh là trả lại ơn xưa, đền đáp nghĩa tình. Nếu tôi trở về thì chắc phải chết. Vậy hai anh ngồi đây uống rượu rồi trở về nói với Bàng thái sư là không gặp tôi.
Bàng Hỷ nói:
- Nếu ngươi không về thì chúng ta phải ra tay.
Nói rồi áp lại bắt Lý Kế Anh, bị Kế Anh đánh cho mỗi người một đá nhào lăn.
Chủ quán thấy vậy can:
- Ba anh em quen thuộc với nhau, sao lại làm như vậy.
Lý Kế Anh nói:
- Nếu chúng nó bắt tôi về thì tôi phải giết chúng nó không thể nhịn được.
Chủ quán nói:
- Thôi! Ba anh em ngồi lại ăn uống cho vui, đừng đánh nhau nữa.
Bàng Hưng, Bàng Hỷ biết đánh không lại Lý Kế Anh nên phải làm lành, cùng ngồi lại ăn uống.
Bàng Hưng nói:
- Lý huynh không về thì thôi, chúng tôi phải về thưa lại với Bàng thái sư.
Lý Kế Anh cười nói:
- Phải chi lúc nãy hai anh nói như vậy thì tôi đâu có đánh làm chi. Nay Bàng Hồng là một đứa nịnh thần, chẳng sớm thì muộn cũng mang họa. Tôi tưởng chúng ta ở với nó cũng chẳng ra chi, nên bỏ trốn tìm chỗ khác mà làm ăn thì khá hơn.
Bàng Hưng, Bàng Hỷ nói:
- Chúng tôi cũng muốn như vậy, song trong lưng không có tiền biết lấy chi làm lộ phí.
Lý Kế Anh nói:
- Nếu hai anh chịu đi thì mọi chi phí dọc đường từ đây về Sơn Tây tôi chịu cho.
Bàng Hưng, Bàng Hỷ mừng rỡ, theo Lý Kế Anh trở về Sơn Tây.
Dọc đường khi đi ngang qua núi Thiên Cái sơn bị mấy tên lâu la ra đón đường, ba người đánh bọn lâu la chạy hết rồi chiếm cứ hòn núi ấy mà ở.
(Nguyên núi này trước kia là chỗ của Trương Trung, Lý Nghĩa chiếm cứ, nay hai anh mắc đi Biện Kinh đã hơn hai tháng mà không thấy về, nay bị Lý Kế Anh chiếm đoạt).
Bấy giờ Lộ Huê vương là Triệu Bích vào cung hầu mẹ là Địch thái hậu, thấy Địch thái hậu có sắc buồn thì hỏi:
- Hôm nay sao mẹ buồn bã vậy?
Địch thái hậu nói:
- Đêm hôm mẹ nằm chiêm bao thấy một điềm rất lạ.
Lộ Huê vương hỏi:
- Chẳng hay điềm ấy như thế nào?
Địch thái hậu nói:
- Mẹ thấy mẹ ăn tiệc, đang cầm một miếng chả, thì trong miếng chả ấy có một cái xương. Xương ấy đụng nhằm mẹ, máu chảy ra dính vào miếng chả thì miếng chả ấy liền lại như cũ. Khi ấy mẹ giật mình thức dậy không rõ điềm dữ hay lành.
Lộ Huê vương nói:
- Xin mẹ chớ buồn, để con mời người biết giải mộng đến đây mà giải thì rõ.
Nói rồi lui ra truyền nội giám đi triệu Bao Chuẩn và Hàng Kỳ vào ra mắt.
Lộ Huê vương thuật lại điềm chiêm bao của Địch thái hậu.
Hàng Kỳ nói:
- Điềm ấy rất tốt, có xương có thịt là điềm cốt nhục tương phùng.
Lộ Huê vương hỏi:
- Chừng nào mới gặp?
Hàng Kỳ thưa:
- Nội đêm nay thì gặp.
Lộ Huê vương nói:
- Nếu quả như vậy, thiệt đáng khen cho Thương thơ lắm.
Hàng Kỳ thưa:
- Tôi cứ theo lý mà đoán, không chắc là lầm.
Lộ Huê vương nói:
- Bao phủ doãn công việc nhiều lắm, thôi hãy về đi, còn Hàng lại bộ thì ở lại đây đặng vào ra mắt mẹ ta mà giải điềm cho mẹ ta rõ.
Hàng Kỳ tuân lệnh ở lại vào ra mắt Địch thái hậu.

Lời bàn:
- Thù hận là nền móng gây ra biến loạn trong xã hội, nhưng thù hận bao giờ cũng bắt nguồn từ tha vọng con người. Kẻ nào tước đoạt quyền lợi của mình thì kẻ ấy sẽ bị mang thù hận đối với những kẻ tham vọng. Tham vọng cá nhân gây thù hận từ cá nhân đến tập thể và kéo theo những hành động bỉ ổi không thể lường trước được.
Trong cuộc sống con người, những kẻ vị tha không bao giờ rước thù hận vào người, còn kẻ vị ky thì luôn luôn thù oán hết người này đến người khác.
Đã thú hận với người khác thì tất nhiên cũng bị thù hận do kẻ khác đối với mình, cứ thế tiếp diễn mãi không thể cởi bỏ được.
Hãy đem cuộc sống mình phụng sự cho cái chung, đừng vì quyền lợi riêng tư mà tạo nên cừu hận. Đó là lẽ sống tốt nhất và cao cả nhất.Tuy vậy, ít ai làm được việc ấy

*   *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-06 19:17:24Hoàng Dung>
hồi thứ mười ba
Vâng ý chỉ trừ an long mã
Bàn chiêm bao tiến cử anh hùng
 
Lộ Huê vương dắt Hàng Kỳ vào ra mắt Địch thái hậu và thuật lại lời bàn của Hàng Kỳ cho Địch thái hậu nghe.
Địch thái hậu nhớ đến việc Địch Quảng là anh mình thì lại càng buồn rầu hơn nữa, bèn hỏi Lộ Huê vương:
- Vậy con hãy cầm Hàng lại bộ lại nơi đó mà thết đãi, đặng chờ ngày ấy xem có quả như vậy mẹ sẽ ban thưởng.
Lộ Huê vương vâng lời cầm Hàng Kỳ ở lại mà thết đãi.
Bấy giờ Nam Thanh cung xảy ra một chuyện lạ. Nguyên lúc trước Ngọc hoàng có sai rồng đỏ hóa làm một con ngựa xuống giúp Tống Thái Tổ để gây dựng giang san. Đến nay thái bình rồi thì ngựa ấy trở về trời mà làm rồng lại, ai dè ngựa ấy lòng phàm chưa dứt, trốn xuống tỉnh Sơn Tây, phủ Tây Hà làm cho nước lụt tàn hại sinh linh hết mấy muôn mạng nên Ngọc hoàng giận dữ đày xuống làm long mã giúp Tống đánh Tây Hạ để lập công chuộc tội.
Rồng vâng chỉ xuống tại hoa viên, sau Nam Thanh cung ở nơi ao sen, chờ ngày giúp Tống.
Ngày kia quan coi vườn thấy ao sen nổi sóng thì thất kinh lật đật vào báo với Địch thái hậu và Lộ Huê vương hay.
Địch thái hậu nói:
- Vậy ta phải sai người lên Long Hổ sơn triệu pháp sư xuống mà trừ yêu quái ấy.
Hàng Kỳ nghe nói nghĩ thầm:
- Địch Thanh là học trò Quỉ Cốc, có lẽ trừ yêu quái được. Vậy lúc này may ra có dịp mà tiến cử nó, may ra có thể xuất thân được.
Nghĩ như vậy liền nói với Lộ Huê vương:
- Có một người tráng sĩ sức mạnh vô cùng, lại là học trò của Quỉ Cốc, hôm trước trừ được ngựa dữ tại Thiên Hơn kiều. Xin sai người triệu tráng sĩ ấy đến xem thử.
Lộ Huê vương hỏi:
- Tráng sĩ ấy bây giờ ở đâu?
Hàng Kỳ nói:
- Bây giờ đang ở tại nhà tôi.
Lộ Huê vương nói:
- Nếu đang ở nhà ngài thì phải sai người đến triệu lập tức.
Hàng Kỳ nói:
- Tuy đang ở nhà tôi nhưng không dám ra mặt.
Lộ Huê vương hỏi:
- Tại sao vậy?
Hàng Kỳ liền thuật hết mọi việc Bàng Hồng tới nhà bắt Địch Thanh cho Lộ Huê vương nghe.
Lộ Huê vương nổi giận lấy long bài trao cho nội giám bảo đến Ngự thơ lầu đuổi hết quân sĩ của Bàng Hồng đi, rồi triệu Địch Thanh đến lập tức.
Nội giám vâng lệnh làm y như vậy.
Địch Thanh được lệnh Lộ Huê vương theo nội giám đến Nam Thanh cung vào ra mắt Lộ Huê vương.
Lộ Huê vương hỏi:
- Nơi ao sen phía sau cung có một con yêu quái, hình tựa giống rồng xanh, phá phách rất dữ, không ai trừ nổi. Nay có Hàng thượng thơ tiến cử tráng sĩ là học trò Quỉ Cốc, học được phép trừ cọp bắt rồng. Vậy tráng sĩ có thể trừ con yêu quái đó hay không?
Địch Thanh nghĩ thầm:
- Thuở nay mình theo thầy  học võ nghệ, đâu có học phép trừ yêu. Nay chú mình đã tiến cử không lẽ từ chối.
Nghĩ như vậy liền nói:
- Loài yêu ấy để tôi trừ cho, xin điện hạ chớ lo.
Lộ Huê vương mừng rỡ truyền dọn tiệc thết đãi Địch Thanh.
Đêm ấy vào đêm 14 tháng 8, trăng tỏ như ban ngày, Lộ Huê vương khiến quân mở mấy tầng cửa sau vườn. Địch Thanh xách đao ra trước ao hét lớn:
- Nghiệt súc! Hãy mau lên mà nạp mình.
Tức thì ao sen nổi sóng, một con yêu quái mình mẩy đỏ như lữa từ dưới ao trồi lên. Địch Thanh coi lại thì quả là con rồng đỏ. Rồng ấy vung nanh múa vuốt và hét lên tiếng tựa như sấm. Địch Thanh cầm đao chỉ rồng nói:
- Nghiệt súc! Chớ nên làm dữ.
Con rồng liền nhảy lên bờ, há miệng vẫy đuôi xốc lại mà chụp Địch Thanh.
Địch Thanh ráng sức kháng cự một hồi, nhưng đánh không lại rơi đao xuống đất. Rồng xốc tới muốn nuốt Địch Thanh làm cho Địch Thanh cả sợ xuất tướng tinh là vì sao Võ khúc.
Rồng đỏ trông thấy hét lớn một tiếng, rồi nằm xuống hóa thành một con ngựa lớn, cao độ năm thước, sắc hồng hai mắt sáng như gương.
Địch Thanh thấy vậy cười lớn:
- Lạ chưa! Lúc nãy ngươi là con rồng mà bây giờ trở thành con ngựa. Hay là trời cho mình con ngựa này chăng?
Nói rồi bước tới rờ đầu con ngựa, nói:
- Ngựa ơi! Nếu ngươi muốn theo ta thì gật đầu ba cái.
Con ngựa nghe nói thì gật đầu lia lịa. Địch Thanh mừng rỡ lạy giữa thinh không cảm tạ trời đất rồi lên ngưự cho đi chầm chậm khắp bờ ao.
Quân sĩ trông thấy liền mở cửa vường chạy ra xem.
Địch Thanh nói:
- Tôi đã bắt được yêu quái ấy rồi. Nó đã hóa thành con ngựa long cu đây.
Lộ Huê vương chạy ra khiến quân bảo Địch Thanh dắt con ngựa ấy vào, rồi xem xét thấy sự việc kỳ dị như vậy vội vào báo với Địch thái hậu và Hàng Kỳ.
Hàng Kỳ khen Địch Thanh xứng danh một bậc anh hùng. Lộ Huê vương khiến quân cầm yên đem ra thắng vào ngựa ấy rồi lên cưỡi thử mà ngựa ấy không chịu đi, cất lên một cái làm Lộ Huê vương muốn té xuống đất, may có quân sĩ đến đỡ kịp.
Lộ Huê vương nói:
- Ngựa này không cho ta cưỡi. Hàng thượng thơ thử cưỡi cho ta xem.
Hàng Kỳ vâng lời lên cưỡi thì ngựa ấy cũng không cho.
Lộ Huê vương nói:
- Thôi! Ta thưởng con ngựa và bộ yên ấy cho ngươi.
Địch Thanh mừng rỡ tạ ơn.

Lời bàn:
Người xưa, theo quan niệm Đông phương, cấu tạo lẽ sống theo vận mệnh của trời đất, gọi là thời vận. Thời vận là sự vận chuyển của vũ trụ. Lúc đã đến thời thì những cơ may ồ ạt kéo đến, giúp cho vận mệnh đạt thành công.
Địch Thanh, lúc chưa gặp thời thì mọi rủi ro chồng chất, nhưng lúc thời đã đến thì cái gì cũng suông sẻ.
Tuy nhiên, theo lẽ trời bao giờ cũng phải dưa theo chân lý, mà chân lý là lẽ sống nhân đạo cuả con người. Kẻ biết tôn trọng chân lý thì dù có gian nan sớm muộn cũng gặp được điều lành, còn kẻ không tôn trọng chân lý dù có đạt được toại chí nhưng sớm muộn cũng bị luật nhân quả đào thải.

 
*     *
*
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-12 19:34:50Hoàng Dung>
hồi thứ mười ba
Vâng ý chỉ trừ an long mã
Bàn chiêm bao tiến cử anh hùng


Lộ Huê vương dắt Hàng Kỳ vào ra mắt Địch thái hậu và thuật lại lời bàn của Hàng Kỳ cho Địch thái hậu nghe.
Địch thái hậu nhớ đến việc Địch Quảng là anh mình thì lại càng buồn rầu hơn nữa, bèn hỏi Lộ Huê vương:
- Vậy con hãy cầm Hàng lại bộ lại nơi đó mà thết đãi, đặng chờ ngày ấy xem có quả như vậy mẹ sẽ ban thưởng.
Lộ Huê vương vâng lời cầm Hàng Kỳ ở lại mà thết đãi.
Bấy giờ Nam Thanh cung xảy ra một chuyện lạ. Nguyên lúc trước Ngọc hoàng có sai rồng đỏ hóa làm một con ngựa xuống giúp Tống Thái Tổ để gây dựng giang san. Đến nay thái bình rồi thì ngựa ấy trở về trời mà làm rồng lại, ai dè ngựa ấy lòng phàm chưa dứt, trốn xuống tỉnh Sơn Tây, phủ Tây Hà làm cho nước lụt tàn hại sinh linh hết mấy muôn mạng nên Ngọc hoàng giận dữ đày xuống làm long mã giúp Tống đánh Tây Hạ để lập công chuộc tội.
Rồng vâng chỉ xuống tại hoa viên, sau Nam Thanh cung ở nơi ao sen, chờ ngày giúp Tống.
Ngày kia quan coi vườn thấy ao sen nổi sóng thì thất kinh lật đật vào báo với Địch thái hậu và Lộ Huê vương hay.
Địch thái hậu nói:
- Vậy ta phải sai người lên Long Hổ sơn triệu pháp sư xuống mà trừ yêu quái ấy.
Hàng Kỳ nghe nói nghĩ thầm:
- Địch Thanh là học trò Quỉ Cốc, có lẽ trừ yêu quái được. Vậy lúc này may ra có dịp mà tiến cử nó, may ra có thể xuất thân được.
Nghĩ như vậy liền nói với Lộ Huê vương:
- Có một người tráng sĩ sức mạnh vô cùng, lại là học trò của Quỉ Cốc, hôm trước trừ được ngựa dữ tại Thiên Hơn kiều. Xin sai người triệu tráng sĩ ấy đến xem thử.
Lộ Huê vương hỏi:
- Tráng sĩ ấy bây giờ ở đâu?
Hàng Kỳ nói:
- Bây giờ đang ở tại nhà tôi.
Lộ Huê vương nói:
- Nếu đang ở nhà ngài thì phải sai người đến triệu lập tức.
Hàng Kỳ nói:
- Tuy đang ở nhà tôi nhưng không dám ra mặt.
Lộ Huê vương hỏi:
- Tại sao vậy?
Hàng Kỳ liền thuật hết mọi việc Bàng Hồng tới nhà bắt Địch Thanh cho Lộ Huê vương nghe.
Lộ Huê vương nổi giận lấy long bài trao cho nội giám bảo đến Ngự thơ lầu đuổi hết quân sĩ của Bàng Hồng đi, rồi triệu Địch Thanh đến lập tức.
Nội giám vâng lệnh làm y như vậy.
Địch Thanh được lệnh Lộ Huê vương theo nội giám đến Nam Thanh cung vào ra mắt Lộ Huê vương.
Lộ Huê vương hỏi:
- Nơi ao sen phía sau cung có một con yêu quái, hình tựa giống rồng xanh, phá phách rất dữ, không ai trừ nổi. Nay có Hàng thượng thơ tiến cử tráng sĩ là học trò Quỉ Cốc, học được phép trừ cọp bắt rồng. Vậy tráng sĩ có thể trừ con yêu quái đó hay không?
Địch Thanh nghĩ thầm:
- Thuở nay mình theo thầy  học võ nghệ, đâu có học phép trừ yêu. Nay chú mình đã tiến cử không lẽ từ chối.
Nghĩ như vậy liền nói:
- Loài yêu ấy để tôi trừ cho, xin điện hạ chớ lo.
Lộ Huê vương mừng rỡ truyền dọn tiệc thết đãi Địch Thanh.
Đêm ấy vào đêm 14 tháng 8, trăng tỏ như ban ngày, Lộ Huê vương khiến quân mở mấy tầng cửa sau vườn. Địch Thanh xách đao ra trước ao hét lớn:
- Nghiệt súc! Hãy mau lên mà nạp mình.
Tức thì ao sen nổi sóng, một con yêu quái mình mẩy đỏ như lữa từ dưới ao trồi lên. Địch Thanh coi lại thì quả là con rồng đỏ. Rồng ấy vung nanh múa vuốt và hét lên tiếng tựa như sấm. Địch Thanh cầm đao chỉ rồng nói:
- Nghiệt súc! Chớ nên làm dữ.
Con rồng liền nhảy lên bờ, há miệng vẫy đuôi xốc lại mà chụp Địch Thanh.
Địch Thanh ráng sức kháng cự một hồi, nhưng đánh không lại rơi đao xuống đất. Rồng xốc tới muốn nuốt Địch Thanh làm cho Địch Thanh cả sợ xuất tướng tinh là vì sao Võ khúc.
Rồng đỏ trông thấy hét lớn một tiếng, rồi nằm xuống hóa thành một con ngựa lớn, cao độ năm thước, sắc hồng hai mắt sáng như gương.
Địch Thanh thấy vậy cười lớn:
- Lạ chưa! Lúc nãy ngươi là con rồng mà bây giờ trở thành con ngựa. Hay là trời cho mình con ngựa này chăng?
Nói rồi bước tới rờ đầu con ngựa, nói:
- Ngựa ơi! Nếu ngươi muốn theo ta thì gật đầu ba cái.
Con ngựa nghe nói thì gật đầu lia lịa. Địch Thanh mừng rỡ lạy giữa thinh không cảm tạ trời đất rồi lên ngưự cho đi chầm chậm khắp bờ ao.
Quân sĩ trông thấy liền mở cửa vường chạy ra xem.
Địch Thanh nói:
- Tôi đã bắt được yêu quái ấy rồi. Nó đã hóa thành con ngựa long cu đây.
Lộ Huê vương chạy ra khiến quân bảo Địch Thanh dắt con ngựa ấy vào, rồi xem xét thấy sự việc kỳ dị như vậy vội vào báo với Địch thái hậu và Hàng Kỳ.
Hàng Kỳ khen Địch Thanh xứng danh một bậc anh hùng. Lộ Huê vương khiến quân cầm yên đem ra thắng vào ngựa ấy rồi lên cưỡi thử mà ngựa ấy không chịu đi, cất lên một cái làm Lộ Huê vương muốn té xuống đất, may có quân sĩ đến đỡ kịp.
Lộ Huê vương nói:
- Ngựa này không cho ta cưỡi. Hàng thượng thơ thử cưỡi cho ta xem.
Hàng Kỳ vâng lời lên cưỡi thì ngựa ấy cũng không cho.
Lộ Huê vương nói:
- Thôi! Ta thưởng con ngựa và bộ yên ấy cho ngươi.
Địch Thanh mừng rỡ tạ ơn.

Lời bàn:
 Người xưa, theo quan niệm Đông phương, cấu tạo lẽ sống theo vận mệnh của trời đất, gọi là thời vận. Thời vận là sự vận chuyển của vũ trụ. Lúc đã đến thời thì những cơ may ồ ạt kéo đến, giúp cho vận mệnh đạt thành công.
Địch Thanh, lúc chưa gặp thời thì mọi rủi ro chồng chất, nhưng lúc thời đã đến thì cái gì cũng suông sẻ.
Tuy nhiên, theo lẽ trời bao giờ cũng phải dưa theo chân lý, mà chân lý là lẽ sống nhân đạo cuả con người. Kẻ biết tôn trọng chân lý thì dù có gian nan sớm muộn cũng gặp được điều lành, còn kẻ không tôn trọng chân lý dù có đạt được toại chí nhưng sớm muộn cũng bị luật nhân quả đào thải.
 
*     *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-20 21:00:26Hoàng Dung>
hồi thứ mười bốn
Gặp mộng mộng lành Hàng Kỳ tiến cháu
Bắt ngựa rồng Sơn Tây gặp cô
 
Địch Thanh thấy Lộ Huê vương cho ngựa thì mừng rỡ lạy tạ thưa:
- Nay điện hạ đã cho tôi con ngựa này, vậy xin điện hạ đặt tên luôn thể.
Nó là con long cu mà nhà ngươi bắt được ở dưới hồ sen trong đêm trăng thì gọi nó là Hiện Nguyệt Long cu.
Địch Thanh tạ ơn, Lộ Huê vương lại nói:
- Ngươi có tài phép như vậy để mai ta tâu với thiên tử đặng phong thưởng cho ngươi. Vậy chớ quê quán ngươi ở đâu? Cha mẹ tên chi? Học hành với ai mà tài phép như vậy?
Địch Thanh thưa:
- Quê tôi ở tỉnh Sơn Tây, phủ Thái Nguyên. Ông nội tôi là Địch Ngươn làm thống chế, cha tôi là Địch Quảng làm tổng binh, đều đã qua đời hết. Khi tôi mới chín tuổi, bị nước lụt, mẹ con lìa nhau mất còn không rõ. Lúc bấy giờ thầy tôi là Vương Thoàn Quỉ Cốc đem tôi về núi Nga Mi mà truyền võ nghệ, rồi lại dạy tôi xuống Biện Kinh mà tìm thân nhân, té ra thân nhân đâu không thấy mà gặp bọn gian thần hãm hại.
Địch Thanh vừa nói đến đó thì có tên nội giám đến báo:
- Nương nương dạy đòi điện hạ.
Lộ Huê vương lật đật chầu mẹ. Địch thái hậu hỏi:
- Khi nãy nội giám nói có một người trừ được yêu quái phải không?
Lộ Huê vương thưa:
- Đúng vậy. Người ấy còn nhỏ tuổi, tên Địch Thanh, quê ở Sơn Tây, phủ Thái Nguyên.
Tiếp đó Lộ Huê vương thuật hết những lời Địch Thanh nói cho Địch thái hậu nghe.
Thái hậu nghe nói ngẫm nghĩ một lúc rồi cho đòi Địch Thanh vào yết kiến.
Địch thái hậu hỏi:
- Ngươi là con Địch Quảng mà ngươi có anh em gì không?
Địch Thanh thưa:
- Tôi có người chị tên là Kim Loan, song lúc nước lụt cuốn trôi không biết mẹ và chị tôi còn hay mất.
Thái hậu hỏi:
- Mẹ ngươi tên chi?
 Địch Thanh nói :
- Mẹ tôi tên là Mạnh thị.
Thái hậu hỏi :
- Ngươi có cô bác chi không?
Địch Thanh tâu:
- Tôi có một người cô tên là Địch Thiên Kim. Khi tôi còn nhỏ thì nghe mẹ tôi nói: Cô bị kén vào cung nên rầu rĩ mà bỏ mình.
Địch thái hậu nghe nói ngậm ngùi, nghĩ thầm:
- Mình còn sống đây mà nó lại nói là mình đã chết.
Nghĩ rồi liền hỏi tiếp:
- Vậy cô ngươi đau bệnh gì mà chết?
Địch Thanh nói:
- Khi cô tôi mới vào ít ngày thì thương nhớ bà nội tôi và cha mẹ tôi nên rầu rĩ mà mang bệnh chết liền.
Thái hậu lại hỏi:
- Địch Thanh! Ngươi xưng là con Địch Quảng, làm tổng binh vậy có gì làm dấu tích để lại chăng?
Địch Thanh tâu:
- Có một hột ngọc uyên ương của ông nội tôi để lại, khi cô tôi vào cung thì bà nội tôi đã cho cô tôi một hột để làm của gia truyền, còn lại một hột thì để lại cho cha tôi, nên truyền lại cho tôi đây.
Thái hậu xem thấy thì bùi ngùi rơi lệ, sai cung nữ mở rương lấy viên ngọc của mình ra. Hai viên ngọc giống nhau như đúc, chẳng hề khác chút nào.
Thái hậu liền nhào xuống đất, ôm Địch Thanh khóc òa lên nói:
- Cháu ơi! Cô là Địch Thiên Kim đây. Cô còn sống mà bấy lâu kẻ Bắc người Nam không rõ được.
Địch Thanh thấy thái hậu ôm mình khóc như vậy cũng ngạc nhiên, không nói ra lời.
Lộ Huê vương mừng rỡ nói:
-  Địch hiền huynh ơi! Ấy cũng là trời sui khiến cho cô cháu sum vầy đó.
Nói rồi liền lấy y phục của mình đưa cho Địch Thanh thay. Từ ấy ba người vui mừng, tâm sự với nhau không ngớt.
Địch thái hậu nói với Lộ Huê vương:
- Con ơi! Dòng họ Địch của mẹ chỉ còn lại một mình Địch Thanh nói dõi, vậy con hãy hết lòng bảo bọc tâu cùng thánh thượng phong cho anh con chút  đỉnh quyền tước để làm vinh hiển cho tông môn họ Địch với. Như vậy thì mẹ mới an vui.
Lộ Huê vương thưa:
- Xin mẹ chớ lo. Mai con vào chầu tâu hết sự việc cho thánh thượng nghe, thế nào thánh thượng cũng phong quyền tước cho anh con.
Nói rồi khiến nội thị dọn tiệc thết đãi Địch Thanh.
Lúc này Địch Thanh vì mới gặp được người cô nên vui mừng ăn uống say sưa, đến khuya mới đi nghỉ.
Vào lúc nửa đêm, Địch Thanh thức giấc nhớ lại chuyện Bàng Hồng Tôn Tú thì nổi giận kêu hai người nội thị bảo:
- Các ngươi hãy xách đèn đi với ta.
Hai người nội thị nói:
- Bây giờ đã khuya xin ngài vào nghỉ, chớ có đi đâu mà bị nương nương quở phạt.
Địch Thanh lúc ấy nửa tỉnh nửa say, nghĩ thầm:
- Nếu nói thiệt ý mình muốn đi giết Tôn Tú e hai người nội thị không dám đi. Chi bằng tìm cách gạt chúng nó để khỏi lậu tiếng.
Nội thị thấy Địch Thanh quyết tâm đi dao ban đêm nên không dám cãi, liền xách lồng đèn dẫn Địch Thanh đi.
Địch Thanh mặc đồ y phục của Lộ Huê vương, lưng mang một cây bửu kiếm đi với hai tên nội thị. Lúc này trăng tỏ rạng, tiếng người vắng vẻ, chỉ nghe có tiếng gà gáy, chó sủa mà thôi.
Địch Thanh hỏi:
- Đây là đường đi đâu vậy?
Nội thị thưa:
- Đây là đường đi sang ông Hàng thượng thơ.
Địch Thanh nói:
- Không! Bây giờ ta muốn qua dinh Tôn Tú mà thôi. Vì ta có thù lớn nên ta muốn đi giết nó.
Nội thị nghe nói thất kinh thưa:
- Thưa ngài! Ngài không nên làm điều ấy.
Địch Thanh nạt lớn:
- Ta làm gì mặc kệ ta, sao các ngươi dám cản trở.
Nội thị không dám cãi, liền dắt Địch Thanh qua dinh Tôn Tú. Đi khỏi cầu Thiên Hớn, vừa đến dinh Tôn Tú thì thấy bốn phía vách tường cao ngất, bỗng có quan tuần tiễu xách đèn đi đến sáng rực, trên đèn của hai tên nội thị thấy có đề chữ Nam Thanh cung bèn lật đật quỳ xuống bên đường đón tiếp.
Địch Thanh thấy vậy cười lớn hỏi:
- Vậy chớ các ngươi đi đâu đây?
Quan tuần tiễu thưa:
- Tôi là bộ hạ của Tôn binh bộ, nay người sai tôi đi tuần đây đó.
Địch Thanh hỏi:
-Tôn Tú có ở trong dinh chăng?
Quan tuần tiễu nói:
- Người mắc đi khỏi.
Địch Thanh hỏi:
-Vậy chớ nó đi đâu?
Quan tuần tiễu nói:
- Người đã sang dinh đề đốc Vương Thiên Hóa ăn tiệc rồi.
Địch Thanh lại hỏi:
- Có chắc như vậy không?
Quan tuần tiễu thưa:
- Kẻ tiểu nhân đâu dám nói dối.
Địch Thanh liền khiến nội thị đi qua dinh Vương Thiên Hóa.
Nội thị vâng lệnh xách đèn trở lại cầu Thiên Hớn, nhưng vừa đi đến cầu thì Địch Thanh đã thấm rượu không đỉ nổi nữa. Hai nội thị phải dìu Địch Thanh đi, và nói:
- Ngày đã sáng rồi, xin ngài trở về rồi mai sẽ đi.
Địch Thanh nạt lớn:
- Không được! Ta muốn giết tên gian thần ấy mà thôi.
Nội thị nói:
- Để mai giết cũng được.
Địch Thanh nói:
- Nếu nội đêm nay ta không giết được tên gian thần ấy quyết không làm người.
Lúc ấy tuy Địch Thanh miệng nói như vậy nhưng chân tay đã bủn rủn, chân bước đi không nổi nữa. Nội thị túng thế phải đỡ Địch Thanh đứng dựa lan can cầu.
Địch Thanh ngã tới, nà lui mà miệng thì mắng nhiếc Tôn Tú không ngớt. Qua một lúc Địch Thanh dựa lan can cầu ngủ đi. Còn hai tên nội thị cũng phải đứng đó mà chờ.
Giây lát có người xách lồng đèn từ đầu kia đi lại. Thì ra đó là Bàng Hồng và Tôn Tú. Hai người đi ăn lễ chúc thọ của mẹ Vương Thiên Hóa. Mãn tiệc vừa về đến nơi thấy Địch Thanh ngỡ là Lộ Huê vương, liền xuống ngựa đi bộ đến cầu, quì trước mặt Địch Thanh.
Lúc ấy Địch Thanh tay cầm gươm, đầu thì cúi xuống, nên hai người nhìn không biết mặt, chỉ thấy hiệu đèn và y phục ngỡ là Lộ Huê vương mà thôi.
Bàng Hồng và Tôn Tú quì một lúc lâu, thấy Địch Thanh vẫn yên lặng nên nói:
- Để chúng tôi đưa điện hạ về cung có được không?
Địch Thanh nghe tiếng nói giật mình thức dậy ngước mặt lên, làm cho Bàng Hồng nhìn thấy biết không phải là Lộ Huê vương , liền kêu gia đinh áp vào bắt.
Hai tên nội thị thấy vậy liền cản lại nói:
- Không nên! Người này là cháu ruột của Địch nương nương đừng làm bậy mà mang họa đó.
Bàng Hồng nạt lớn:
- Thằng này quả là Địch Thanh. Khi trước nó đã phạm tội, nay lại dám cả gan mặc đồ sắc phục của Lộ Huê vương nữa, ấy là tội nặng lắm, còn cản trở sao được.
Nói rồi hối gia đinh trói dẫn về dinh. Hai tên nội thị thấy vậy sợ hãi bỏ chạy về báo với Địch thái hậu.
Còn Bàng Hồng và Tôn Tú vừa giải Địch Thanh đi một lúc thì có một tốp quân binh chạy đến báo:
- Có Bao Công sai người đến nhận phạm nhân.
Nguyên Bao Công được nghe quân tuần về báo là Bàng Hồng và Tôn Tú đang bắt một tội phạm dẫn về dinh, nên Bao Công sai Trương Long và Triệu Hổ đến nơi xem thử và ra lệnh mở trói cho Địch Thanh dẫn về công đường.
Bàng Hồng cà Tôn Tú cả giận nói với Bao Công:
- Chúng tôi đi ăn tiệc bên Vương đề đốc về đến đây gặp tên Địch Thanh là một thằng trốn lính, lại ăn trộm đồ sắc phục của Lộ Huê vương mà mặc. Bởi vậy tôi bắt nó về mà trị tội.
Bao Công nói:
- Hôm nay là phiên tôi đi tuần, nếu có tội phạm tôi phải đem về công đường mà xét xử.
Tôn Tú nói:
- Không được đâu! Nó là tên lính trốn, mà trách nhiệm tôi coi về binh, phải để tôi mang về nhà xử tội mới đáng.
Bao Công nói:
- Tuy nó là một tên lính, song ngài đã bôi sổ nó rồi, thì nó cũng như một tên thường dân. Vậy phải để tôi xử tội nó.
Tôn Tú nói:
- Nó không phải là bà con chi với ông, sao tôi xem ý như ông muốn binh vực nó vậy.
Bao Công nói:
- Đó là việc bổn phận tôi phải làm, nào có binh vực ai đâu.
Bàng Hồng thấy hai người cãi với nhau thì nói:
- Để tôi nói một lời. Hễ ai bắt được người ấy thì được đem về xét xử.
Bao Công nói:
- Thôi! Đừng nói chi cho nhiều, chúng ta vào tâu cùng thánh thượng, hễ thánh thượng giao cho ai xử thì phải tuân hành.
Ba người đều không về dinh mà đi thẳng đến ngọ môn chờ cho đúng giờ vào triều kiến.
Bấy giờ hai tên nội thị chạy về cung báo với Địch thái hậu. Lộ Huê vương hay tin giận Địch Thanh và phàn nàn:
- Địch huynh thật là người lỗ mãng, ai đời ban đêm lại cầm gươm đến cửa bọn gian thần làm chi để đến nỗi bị chúng bắt như vậy thì còn gì danh dự.
Thái hậu nói:
- Con cũng không nên qua dinh Bàng Hồng và Tôn Tú làm chi. Hãy vào chầu và tâu hết sự tình cho thánh thượng nghe thì hay hơn.
Lộ Huê vương vâng lời liền mặc đồ triều phục, sẵn sàng chờ sáng thì vào chầu.
Sáng ngày Bàng Hồng vào chầu và tâu với vua:
- Đêm rồi hạ thần có gặp một tên lính trốn là Địch Thanh lại ăn trộm sắc phục của Lộ Huê vương mà mặc, cho nên tôi phải bắt về mà xét xử, nhưng Bao Chuẩn lại tranh  giành việc xét xử ấy, nên tôi phải báo cho bệ hạ rõ.
Bao Công liền quì tâu:
- Vả Địch Thanh tuy là lính trốn nhưng đã bôi sổ rồi thì cũng như một tên dân thường. Xin bệ hạ cho tôi lãnh nó đem về tra hỏi.
Vua nói:
- Bất kỳ lính hay dân, cứ lấy theo luật, hễ giả mạo y phục của vương gia thì giao cho Bao khanh xử đoán mà thôi.
Bao Công cả mừng, vừa muốn tạ ơn, bỗng thấy có Lộ Huê vương bước ra tâu hết sự tích Địch Thanh trừ đặng long cu và Địch mẫu hậu nhìn nhận là cháu ruột.
Thiên tử nghe tâu làm lạ nghĩ thầm:
- Nếu Địch Thanh là đây là cháu của mẫu hậu thì là anh em cô cậu với trẫm rồi.
Nghĩ như vậy liền nói với Bàng Hồng:
- Bàng khanh không nên làm lếu, sao lại bắt người hoàng thân quốc thích mà gọi là lính trốn. Nếu mẫu hậu biết việc này thì khó lòng cho Bàng khanh lắm đó.
Bàng Hồng nghe nói thất kinh, không dám tâu thêm lời nào nữa. Còn Bao Công thấy vua quở Bàng Hồng thì mừng thầm:
- Nếu Địch Thanh là người thân thích với vua thì Bàng Hồng từ nay hết dám sanh chuyện rồi.
Vua truyền đòi Địch Thanh vào chầu. Địch Thanh vâng lệnh bước vào triều bái tung hô xong. Vua thấy Địch Thanh tướng mạo đường đường, oai phong lẫm liệt thì mừng rỡ phán:
- Khanh hãy tỏ bày thân thế cho trẫm nghe thử?
Địch Thanh quỳ tâu hết lai lịch của mình.
Vua nghe xong phán:
- Thôi! Để trẫm phong vương vị cho khanh.
Địch Thanh tâu:
- Tuy bệ hạ có lòng đoái tưởng, song tôi chưa có công cán gì, nếu phong vương tước e văn võ bá quan dị nghị.
Lộ Huê vương thấy Địch Thanh không chịu lãnh phong thưởng thì khuyên rằng:
- Địch huynh! Ấy là ý của mẫu hậu đã dạy như vậy, không nên trái ý làm cho mẫu hậu buồn lòng.
 
Lời bàn:
lời xưa có nói:
Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Tài và trí là hai yếu tố rất quan trọng trong việc xử thế. Nhưng kẻ có tài thường ỷ vào tài năng của mình mà không đề phòng tai hại có thể xảy ra.
Địch Thanh là một nhân tài, và ỷ vào tài năng mình mà hành động không kịp suy xét. Nếu không nhờ Địch thái hậu và Lộ Huê vương thì hành động của Địch Thanh không tránh khỏi âm mưu hãm hại của Tôn Tú và Bàng Hồng.
Cho nên việc đời mỗi hành động phải dè dặt, không nên ỷ tài mà hành động bừa bãi, đến lúc hối hận thì việc đã lỡ rồi. Đấy là bài học của người xưa để lại, tuy là chuyện không tưởng, nhưng chúng ta phải có đó làm gương mà xử thế cho hợp với hoàn cảnh mỗi lúc trong cuộc sống con người.

 
 
*    *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-17 20:29:49Hoàng Dung>
hồi thứ mười lăm
Từ vương vị, anh hùng cứng cỏi
Ghét hoàng than, gian nịnh đồng lòng
 
Địch Thanh tâu:
- Tôi đâu dám cãi lệnh nương nương và bệ hạ, song chưa có công gì mà phong tước như vậy thật tôi không dám lãnh. Hễ tôi thắng đặng cấp nào thì tôi xin nhận phẩm trật ở cấp ấy, như vậy mới phải lẽ công  bằng, mà nương nương không mang tiếng là ỷ thân thế bênh vực con cháu mình.
Vua nghe tâu cười lớn nói:
- Lời nói ấy cũng có lý.
Liền hạ chỉ cho các quan võ ngày mai tựu tại giáo trường để đua tài cao thấp. Bá quan văn võ đều tuân lệnh lui ra.
Còn Lộ Huê vương đưa Địch Thanh về Nam Thanh cung ra mắt Địch thái hậu.
Địch thái hậu hỏi Lộ Huê vương:
- Vậy hôm nay thiên tử phong cho anh con làm chức chi?
Lộ Huê vương thuật lại mọi chuyện. Thái hậu tỏ ý không bằng lòng, trách Địch Thanh:
- Cháu thiệt dại dột! Không nhọc sức mà phong đến tước vương, sao cháu lại còn nài đấu võ làm chi.
Địch Thanh nói:
- Làm trai đầu đội trời, chân đạp đất, phải làm sao cho rạng danh, xứng đáng với chức tước của mình thì mọi người mới phục.
Thái hậu nói:
- Cháu nói cũng phải, song cô e võ tuớng trong triều không thiếu gì tay võ nghệ cao cường. Nếu có điều gì rủi ro thì biết làm sao?
Địch Thanh thưa:
- Việc ấy cháu đã liệu trước và lường được sức mình, xin cô chớ có lo lắng làm chi.
Thái hậu thấy Địch Thanh nói như vậy, song không thể an lòng liền nói với Lộ Huê vương:
-Con ơi! Mẹ có một kế làm cho anh con khỏi đấu võ.
Lộ Huê vương hỏi:
- Kế ấy thế nào?
Thái hậu nói:
- Ngày mai con lấy khôi giáp của Thái Tổ cho anh con mặc, và lấy cây kim đao cho nó cầm thì cả giáo trường không ai dám đấu với nó.
Lộ Huê vương vâng lời liền sai thái giám vào Thái miếu mà lấy khôi giáp và kim đao ra cho Địch Thanh đấu võ.
Lúc này, Bàng Hồng và Tôn Tú về đến dinh thì mừng rỡ nói với nhau rằng:
- Thằng Địch Thanh thiệt là dại dột, khi không mà được tước vương lại không nhận, còn đòi đấu võ làm chi. Nó tưởng trong triều này võ tướng không ai bằng nó sao? Thôi để nhân cơ hội này cha tính cách hại nó cho biết tay.
Nói rồi truyền gia nhân đi mời Vương Thiên Hóa, Nhâm Phước, Từ Loan và Cao Ngại đến, rồi khiến quân dọn tiệc đãi đằng.
Trong lúc ăn uống, Bàng Hồng nói:
- Trong buổi chầu vừa rồi các vị có thấy Địch Thanh khi dễ các võ tướng cả triều không?
Vương Thiên Hóa nói:
- Không biết tài lực Địch Thanh ra thế nào mà dám thốt lời tự phụ như vậy.
Bàng Hồng nói khích:
- Thì ngày mai ra đấu trường tướng quân thử sức nó thì biết. Nếu nó bất tài mà phách lối thì tướng quân giết chết nó đi cho khỏi bẩn mắt.
Vương Thiên Hóa nói:
- Chuyện làm thì không khó, chỉ e thái hậu bắt lỗi thì khó trốn.
Bàng Hồng nói:
- Không hề chi đâu. Việc đấu võ là trong chốn đao thuơng, ai ai cũng muốn giữ lấy tính mạng mình. Nếu không giết người thì bị người ta giết mình. Cho nên không ai có thể trách được.
Vương Thiên Hóa nói:
- Nếu thái sư che chở cho tôi thì tôi lấy đầu Địch Thanh dễ như trở bàn tay.
Bàng Hồng nói:
- Nhất ngôn ký xuất,tứ mã nan truy. Đấng anh hùng một lời nói phải giữ lấy.
Tiếp đó Bàng Hồng nói với  Nhâm Phước, Từ Loan, Cao Ngại rằng:
- Nếu nó chịu thua Vương đề đốc mà đấu với ba ông thì ba ông cũng ráng mà hại nó cho được.
Ba người đều vâng lệnh trở về cung.
Ngày hôm sau, vua ngự tại giáo trường, các quan văn võ đều chầu chực đủ mặt. Vua truyền chỉ đòi Địch Thanh ra.
Địch Thanh vâng lệnh bước ra. Vua thấy Địch Thanh mặc giáp phục của Thái Tổ thì vội vã đứng dậy nghinh tiếp rồi hỏi Lộ Huê vương:
- Vậy chớ để Địch Thanh mặc khôi giáp ấy là có ý gì không?
Lộ Huê vương tâu:
- Ấy là mẫu hậu cho mượn mà dùng đỡ mà thôi.
Vua nói:
- Nếu cho nó mượn khôi giáp ấy thì chẳng khác nào cho nó mượn cả giang sơn này. Khanh hãy về thưa với mẫu hậu nếu làm như vậy thì không còn trật tự nữa.
Lúc ấy Bàng Hồng thấy vậy thì có ý cười thầm. Còn Lộ Huê vương nghe mấy lời vua phán thì nghĩ thầm:
- Lời chúa thượng nói rất phải.
Liền trở về Nam Thanh cung thưa lại cho thái hậu hay.
Thái hậu nghĩ thầm:
- Mình làm như vậy cũng không phải lẽ, thế nào các quan triều cũng dị nghị.
Nghĩ như vậy, thái hậu nói với Lộ Huê vương:
- Con hãy ra tâu cùng chúa thượng, xin cho phép mọi người đừng xem các vật ấy là của tiên đế, hãy xem như là của Địch Thanh mà thôi.
Lộ Huê vương trở vào triều tâu lại lời dạy của thái hậu. Vua nghe tâu mỉm cười nói:
- Té ra vì lòng lo lắng của mẫu hậu mà có chuyện như vậy.
Liền gọi Địch Thanh nói:
- Khanh hãy cẩn thận mà giữ gìn cho lắm chớ việc đấu võ không phải dễ dàng đâu.
Địch Thanh vâng lời dạy, nhảy lên con Nguyệt Long cu, tay cầm cây Cửu hoàn đại đao đứng giữa giáo trường, và truyền cho các quan tam phẩm ra đấu.
Lệnh truyền vừa dứt thì trong đám tướng võ cấp tam phẩm có một vị tổng binh tên Từ Loan bước ra xin đấu.
- Tôi xin đấu với Địch thân vương, song người cầm cây đao ấy tôi không dám đấu, xin bệ hạ giáng chỉ thay cây đao khác.
Vua nói:
- Thái hậu đã có lời truyền cứ xem đao ấy như của Địch Thanh mà thôi.
Từ Loan vâng lệnh, nhảy lên ngựa, cầm xà mâu ra giữa giáo trường, vòng tay nói với Địch Thanh:
-Tôi là Từ Loan vâng chỉ mà đấu cùng ngài, xin ngài cho tôi thất lễ.
Địch Thanh cũng vòng tay đáp lại:
- Tôi cũng xin ngài miễn lễ.
Hai bên đấu nhau đô năm hiệp, Từ Loan cự không lại xin chịu thua.
Địch Thanh nói:
- Võ nghệ như vậy cũng ra đấu làm chi.
Lúc ấy trong đám tam phẩm thấy Từ Loan thua thì không ai ra đấu cả. Còn trong đám nhị phẩm thì có một vị chỉ huy tên là Cao Ngại bước ra xin thi đấu.
Đấu được mười hiệp, Cao Ngại cũng lui ra, nói:
- Địch thân vương là người võ nghệ vao cường, tôi cự không lại.
Tiếp đó có một viên tiểu tướng là Thạch Ngọc thấy Địch Thanh giỏi như vậy thì muốn ra mà đấu thử, song nghĩ rằng:
- Người ấy là cháu của thái hậu, lại dòng dõi trung thần nếu đấu mà thắng thì e mích lòng, chi bằng làm thinh thì hay hơn.
Trong đám nhị phẩm thấy Cao Ngại thua thì không ai dám ra.
Xảy thấy trong đám nhứt phẩm có một viên đại tướng là Vương Thiên Hóa đang làm Cửu môn đề đốc. Người này mặt xanh giống Đơn Hùng Tín đời Đường, đầu đội thanh khôi mình mang kim giáp, tay cầm cây Đại đồng đao, nhảy lên ngựa xốc ra kêu lớn:
- Địch vương thân! Tôi là Vương Thiên Hóa vâng chỉ thi đấu cùng ngài. Nều có xúc phạm điều chi xin ngài chớ giận.
Địch Thanh nói:
- Võ nghệ của tôi cũng tầm thường, xin tướng quân mở lòng mà tưởng tình nhau chút ít.
Vương Thiên Hóa nghe nói cười lớn:
- Chớ nên khiêm nhượng.
Nói rồi vung đao xốc tới chém Địch Thanh.
Vương Thiên Hóa tưởng mình là anh hùng vô địch nên không coi Địch Thanh ra gì cả, ai dè bị Địch Thanh đánh tới mãi làm cho Vương Thiên Hóa phải lùi ra xa.
Vương Thiên Hóa nghĩ thầm:
- Không ngờ cái thẳng thân hình mảnh mai như vậy mà mạnh mẽ quá sức.
Nghĩ rồi ráng hết sức đánh với Địch Thanh đến bảy hiệp.
Địch Thanh thấy vậy nghĩ là bọn vô dụng, nhưng nếu nó thua mình thì xấu hổ, còn mình thua nó thì cũng chẳng hề chi.
Nghĩ rồi cứ cầm đao đỡ hoài mà không đánh. Lộ Huê vương có ý sợ, nghĩ thầm:
- Vương Thiên Hóa là người có danh tiếng từ thuở nay, nếu Địch Thanh có bề nào mẫu hậu trách cứ ta chứ chẳng không.
Lúc ấy vua thấy vậy thì truyền gióng chiêng cho hai người dừng ngựa lại, rồi đòi đến phán:
- Hai khanh cũng đòng sức với nhau, không ai hơn ai thua, thôi để trẫm phong cho Địch Thanh theo bực nhứt phẩm như Vương Thiên Hóa.
Địch Thanh tâu:
- Vả sự giáp chiến không lẽ bằng nhau được, làm sao cũng có một người hơn, một người thua. Nếu tôi không trên được thì tôi phải ở dưới. Nếu không rõ ràng tôi không dám chịu chức ấy.
Vương Thiên Hóa nghe Địch Thanh nói nghĩ thầm:
- Thằng này tới số rồi. Ta đã nghĩ tình thái hậu không nỡ hại nó té ra nó lại muốn chết.
Bàng Hồng nghe Địch Thanh tâu như vậy thì có lòng mừng, liền xen vào:
- Lời của Địch vương thân tâu cũng phải. Việc đấu võ tất nhiên phải có hơn thua. Vậy xin bệ hạ truyền cho Địch vương thân phải làm một sanh tử trạng, hễ ai dở thì chết không được nói tiếng chi.
Vua nói:
- Vả việc  thi võ đây là trẫm muốn biết tài chư tướng chớ chỗ này không phải là chỗ chinh chiến, cũng không phải là chỗ gây cừu óan, sao lại quyết lòng muốn giết nhau như vậy? Nếu làm như vậy Địch Thanh có bề nào thì không khỏi mẩu hậu khiển trách trẫm.
Địch Thanh nghe mấy lời của Bàng Hồng tâu, và mấy lời phán của thiên tử thì nghĩ thầm:
- Quân gian tặc có ý muốn hại ta, nên mới nài tờ sanh tử trạng, nhưng nó lại không biết là nó sẽ làm hại Vương Thiên Hóa. Thôi để ta xin quyết đấu, may ra thiên tử cũng nghe theo.
Địch Thanh liền tâu:
- Xin bệ hạ cho tôi làm tờ sanh tử trạng, nếu không thì khó định hơn thua.
Vua nghe tâu chưa kịp phán thì Lộ Huê vương đã xen vào:
- Địch hiền huynh chớ nên làm như vậy, nếu làm tờ ấy mà hiền huynh có bề nào thì mẫu hậu trách cứ bệ hạ chớ chẳng không đâu.
Địch Thanh nói:
- Không hề chi, cứ để cho tôi làm tờ ấy, còn không thì tôi không thể nhậm chức.
Vua thấy Địch Thanh nài nỉ phải nhận lời, nhưng truyền chỉ hai bên đều phải có một vị đại thần bảo lãnh.
Khi ấy Vương Thiên Hóa thì có Bàng Hồng bảo lãnh, còn Địch Thanh thì không ai bảo lãnh cả, vì các vị đại thần đều sợ chẳng may mà Địch Thanh có bề nào thì ắt không khỏi bị thái hậu khiển trách.
Lúc ấy Thạch Ngọc nghe Địch Thanh tâu như vậy thì đã hiểu ý nên nghĩ thầm:
- Đường đao của Địch Thanh trội hơn Vương Thiên Hóa rất nhiều, mà lúc nãy Địch Thanh chỉ đỡ mà không đánh thì chắc có ý chi đây.
Nghĩ rồi liền đứng ra tâu:
- Tôi là Thạch Ngọc, xin đứng bảo lãnh cho Địch vương thân.
Vua nhận lờn, bèn cho Thạch Ngọc đứng bảo lãnh.
Địch Thanh được người bảo lãnh rồi, liền đem tờ sanh tử trạng dâng lên vua rồi cầm đao lên ngựa đánh với Vương Thiên Hóa. Khác với lần trước, lần này Địch Thanh đánh Vương Thiên Hóa đỡ không kịp. Mới được ba hiệp, Vương Thiên Hóa đã quày ngựa bỏ chạy, bị Địch Thanh chém sả một đao đứt làm hai đoạn.
Chém Vương Thiên Hóa xong, Địch Thanh xuống ngựa vào ra mắt vua. Vua cả mừng liền khiến Địch Thanh thay đồ khôi giáp, mặc đồ triều phục theo hàng nhứt phẩm.
Các quan triều thần ai nấy đều khen Địch Thanh, duy có Bàng Hồng quỳ tâu:
- Vả Địch Thanh tuy là hoàng thân quốc thích, song không có chức phận gì, lại dám vô lễ giết một đại thần trước mắt bệ hạ, lẽ ra phải trị tội, sao bệ hạ lại phong đến nhứt phẩm triều đình, tôi e nhân tâm bất phục, xin bệ hạ xét lại.
Lời bàn:
Trong chổ quyền uy bao giờ cũng chứa đựng những âm mưu hãm hại lẫn nhau. Từ xưa đến nay, triều đình nào cũng vậy, có kẻ nịnh thì cũng có kẻ trung.
Kẻ nịnh bao giờ cũng hành động theo mục đích riêng của mình, để chiếm đoạt danh lợi, còn kẻ trung thì không kể đến cá nhân mình, mà chỉ làm những việc ích nước lợi dân.
Thái độ và việc làm của những kẻ nịnh cũng theo thời gian mà thay đổi, cho nên mỗi thời đại hành động của kẻ nịnh cũng khác đi ít nhiều.
Lời xưa có nói: Đại gian tợ tín, đại nịnh tợ trung.
Lời nói của kẻ nịnh rất nguy hiểm, bao giờ cũng làm cho kẻ thiếu ý thức phải tin tưởng, và cho là lẻ phải. Bởi vậy kẻ đang nắm quyền hành phải sáng suốt, đề phòng những lời nói của kẻ nịnh. Làm được việc này rất khó, nhưng không làm được thì tai hại không nhỏ.
*   *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-23 22:23:04Hoàng Dung>
hồi thứ mười sáu
Mến anh hùng Nhơn Tôn phong tước
Kết bằng hữu, Thạch Ngọc trọng tài
 

Vua nghe Bàng Hồng nhưng chưa kịp phán thì Lộ Huê vương đà quỳ tâu:
- Việc  thí võ đã làm sanh tử trạng giữa triều, lời giao ước ai chết nấy chịu, không được kêu nài, sao thái sư lại tìm cách bắt tội người ta. Như vậy còn làm sanh tử trạng để làm gì?
Vua nghe nói thì gật đầu phán:
- Ngự đệ nói rất phải. Thôi Bàng khanh không nên nhiều lời.
Nói rồi liền truyền aó mão cho Địch Thanh mặc. Địch Thanh quỳ lạy tạ ơn.
Vua lấy chức của Vương Thiên Hóa ban cho Địch Thanh, rồi ra lệnh chôn cất Vương Thiên Hóa rất trọng hậu.
Lộ Huê vương trở về Nam Thanh cung thuật lại đầu đuôi câu chuyện cho Địch thái hậu nghe. Thái hậu rất đẹp ý, liền truyền mở tiệc ăn mừng.
Hôm sau, Địch Thanh đi chầu về ghé vào Nam Thanh cung tạ ơn thái hậu, rồi qua dinh Bao Công mà tạ ơn. Bao Công thết đãi và lưu Địch Thanh lại để tâm tình.
Địch Thanh nói:
- Không biết vi ý gì mà Bàng Hồng và Tôn Tú thù hiềm tôi như vậy?
 Bao Công nói:
- Nguyên Hồ Luân là con của Hồ Khôn, mà Hồ Khôn là người tâm phúc của Bàng Hồng, nên cái thù giết Hồ Luân trước kia vẫn chưa dứt. Còn Tôn Tú là rể của Bàng Hồng, phe đảng với nhau, chuyên hãm hại trung thần.
Địch Thanh nghe hết đầu đuôi câu chuyện liền nói với Bao Công:
- Vì tôi chưa rõ đám nịnh thần ấy nên lầm mưu gian. Nếu không có ngài giúp đỡ thì mạng tôi không còn. Chẳng biết hiện nay hai người anh em của tôi như thế nào?
Bao Công nói:
- Hai người ấy là Trương Trung và Lý Nghĩa cũng là kẻ anh hùng. Tôi đang tìm cách tha họ ra nhưng chưa có cớ, nên còn tại Nam lao.
Địch Thanh mừng rỡ nói:
- Vậy xin ngài lưu ý cho.
Nói rồi Địch Thanh từ tạ ra về. Từ ấy Địch Thanh và Thạch Ngọc tâm đầu ý hợp với nhau lắm.
Một hôm, Địch thái hậu cho đòi Địch Thanh vào hỏi:
- Nay cô muốn sai người về Sơn Tây mà làm cho ông bà, vậy chớ ý chấy tính thế nào?
Địch Thanh nghe nói liền lạy tạ và thưa:
- Nếu cô có lòng như vậy thì ơn biết chừng nào.
Thái hậu liền lấn bốn ngàn lượng bạc sai người đến Sơn Tây mà cất nhà thơ và xây mồ mả, rồi cho người ở đó mà giữ.
Bấy giờ Hồ Khôn và Tôn Tú rủ nhau đến dinh Bàng Hồng để bàn mưu tính kế hãm hại Địch Thanh.
Bàng Hồng nói:
- Tôi đã có kế hay lắm.
Tôn Tú hỏi:
- Kế chi mà hay lắm vậy?
Bàng Hồng nói:
- Đã hai tháng nay Dương Tôn Bảo sai người đem bổn chương mà xin giải đồ chinh y ra Tam Quan cho quân lính mặc. Nay chinh y đã sắp sẵn rồi. Để mai tôi vào chầu tiến cử Địch Thanh làm Chánh giải quan, còn Thạch Ngọc làm phó giải quan đặng mà hại phức chúng nó cho rồi.
Tôn Tú nói:
- Việc giải chinh y có gì mà hại được mạng chúng nó?
Bàng Hồng nói:
- Tháng trước đây tại huyện Nhơn An, Vương Đăng có báo về triều rằng tình hình yêu quái ở quán dịch thường hại người, nay ta muốn sai chúng nó ra đi, thế nào cũng ghé vào quán dịch, và bị yêu quái ăn thịt hết.
Hồ Khôn nói:
- KHông  xong đâu! Yêu quái đối với ai kia, còn như Địch Thanh thì yêu quái nào hại nó cho được.
Bàng Hồng nói:
- Chẳng phải là một chỗ đó. Nêú chúng nó qua khỏi huyện Nhơn An thì ra đến Đồng Quan, chúng nó cũng bị tay Lưu Khánh chờ sẵn mà giết chết. Để tôi viết thơ sai người đem ra cho Mã Ứng Long, khiến nó hợp với Lưu Khánh mà trừ Địch Thanh thì không khó gì.
Hồ Khôn và Tôn Tú nghe nói đều mừng rỡ nói:
- Nếu Lưu Khánh mà chịu làm thích khách thì việc ấy ắt xong.
Hồ Khôn và Tôn Tú bàn tính với Bàng Hồng xong liền trở về dinh.
Hôm sau, Bàng Hồng vào chầu tâu với vua:
- Nay ba mươi muôn chinh y đã sắp sẵn, còn thiếu hai vị giải quan, kẻ hạ thần xin chọn Địch vương thân và Thạch quận mã thì giải chinh y mới đặng, vì đường ra Tam Quan rất khó khăn.
Vua nghe tâu liền phán:
- Lời khanh nói rất phải.
Liền hạ chỉ phong cho Địch Thanh làm chánh giải quan và Thạch Ngọc làm phó giải quan, hạn trong một tháng phải đến tại Tam Quan để giao ba mươi muôn chinh y cho Dương nguyên soái, không được trễ nải.
Địch Thanh tâu:
- Từ đây đến Tam Quan dọc đường rất nhiều trộm cướp xin bệ hạ cho tôi đem theo hai người nữa để làm vây cánh.
Vua hỏi:
- Ý khanh muốn đem theo hai người nào?
Địch Thanh tâu:
- Hai người ấy là Trương Trung và Lý Nghĩa, ngày trước có phạm tội, bây giờ còn đang bị giam tại ngục, nay sẵn dịp này xin bệ hạ giáng chỉ mà xá tội cho hai người ấy đặng lập công mà chuộc tội.
Vua nghe tâu liền hạ chỉ khiến Bao Công tha tội cho hai người ấy rồi truyền lệnh bãi triều.
Địch Thanh về dinh thì thấy Thạch Ngọc vào nói:
Việc sai đi giải chinh y là kế của Bàng Hồng muốn hại chúng ta đó, đại ca có biết không?
Địch Thanh nói:
- Tuy là kế độc, nhưng chúng ta đứng làm trai dù gian nan khổ sở đến đâu há sờn lòng hay sao?
Thạch Ngọc nói:
-  Còn lúc nảy đại ca tiến cử Trương Trung và Lý Nghĩa là có ý gì không?
Địch Thanh liền thuật lại các việc từ ngày kết bạn với hai người ấy và đánh chết Hồ Luân tại Vạn Huê Lầu cho Thạch Ngọc nghe.
Thạch Ngọc nói:
- Đại ca thật là người trọn ân trọn nghĩa, có thủy có chung.
Nói rồi liền về dinh, từ giã gia đình mà lên đường.
Địch Thanh đến ra mắt Bao Công lãnh Trương Trung và Lý Nghĩa ra để cùng nhau đi giải chinh y. Bao Công nói:
- Việc ấy chớ lo song lo cho ngài ra đi trong thàng trời mưa lạnh lẽo, đường xá hiểm nguy, còn Dương nguyên soái thì trị quân rất nghiêm, nếu ngài để sơ sẩy hay trễ nải thì ắt Dương nguyên soái không vị tình. Vậy ngài hãy đem cái thơ của tôi đây mà trao cho Phạm Trọng Yêm thì người ấy sẽ hết lòng mà chiếu cố cho.
Địch Thanh tạ ơn lãnh phong thơ rồi về dinh.
Hôm sau, Bao Công đòi Trương Trung và Lý Nghĩa ra và nói:
- Hai người nhờ có Cửu môn đề đốc là Địch Thanh bảo tấu cùng với triều đình xin tha cho hai người đặng giải chinh y ra Tam Quan mà đoái công chuộc tội. Vậy hai người phải đến ra mắt.
Trương Trung và Lý Nghĩa Địch Thanh làm đến Cửu môn đề đốc thì mừng rỡ vô cùng , vội vã lạy tạ lui ra tìm đến dinh Địch Thanh xin ra mắt. Anh em gặp nhau mừng rỡ khôn cùng.
Địch Thanh thuật các việc từ khi xa nhau đến lúc được triều đình phong chức cho hai người nghe.
Trương Trung nói:
- Té ra bây giờ đại ca đã làm đến chức nhứt phẩm triều đình, lại là vương thân nữa, vậy thì từ nay về sau hai anh em tôi không nên kêu là đại ca nữa.
Địch Thanh nói:
- Anh em ta kết bạn đồng sanh tử, hoạn nạn tương cứu, sanh tử bất ly, tình nghĩa như ruột thịt lẽ đâu vì giàu sang mà đổi lòng hay sao?

Lời bàn:
Trong cuộc sống có lúc bĩ cực thì cũng co lúc thái lai. Kẻ có chí sớm muộn cũng tạo nên sự nghiệp.
Sự nghiệp con người thành do bản thân mình. Người xưa có nói:

Làm trai quyết chí tu thân
Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo
Khi nên trời giúp công cho
Làm trai năm liệu bảy lo mới hào.

 
Chuyện thân danh trong đời người là vậy, nhưng luận về kẻ gian nịnh và người trung nghĩa thì có khác nhau. Kẻ phản nịnh bao giờ cũng âm mưu hại người để thủ lợi cá nhân mình, còn kẻ trung nghĩa thì bao giờ cũng làm điều nhân, lấy đạo nghĩa làm người trang trải trong cuộc sống. Bàng Hồng muốn hại Địch Thanh, sai đi giải chinh y, nhưng chính việc đi giải chinh y mà Địch Thanh tìm cách cứu được hai người bạn mình là Trương Trung và Lý Nghĩa. Té ra âm mưu độc ác của Bàng Hồng lại giúp cho Địch Thanh giải cứu cho hai người bạn mình để tròn đạo nghĩa. Trong cái rủi có cái may không lường trước vậy.

 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-23 22:27:01Hoàng Dung>
hồi thứ mười bảy
Khỏi ngục thất anh em đoàn tụ
Giải chinh y, bè bạn đồng hành
 


Trương Trung, Lý Nghĩa nghe Địch Thanh nói thì cảm kích vô cùng. Địch Thanh nói:
- Nay Bàng Hồng bày ra quỷ kế, muốn hại ta với Thạch Ngọc nên tâu với thiên tử sai ta và Thạch Ngọc đi giải chinh y ra Tam Quan. Việc này rất khó khăn vì đường sá xa xôi lại nhiều giặc cướp, nếu trễ nải thì Dương nguyên soái sẽ bắt tội.
Trương Trung và Lý Nghĩa nói:
- Nếu đại ca đi thì cho hai anh em tôi theo với.
Địch Thanh nói:
- Cũng nhờ dịp này mà ta tâu với thánh thượng tha tôi hai em để tháp tùng công việc mà đoái công chuộc tội. Đến ngày mồng tám tháng chín, Địch Thanh lãnh ba mươi muôn chinh y và lời phê văn rồi khiến Trương Trung, Lý Nghĩa điểm ba ngàm binh đẩy xe và lương thảo. Lúc ấy Hàng Kỳ lại trao cho Địch Thanh một phong thở, dặn giao cho Dương Thanh là người đồng hương, đặng tuỳ cơ mà chiếu cố Địch Thanh.
Hàng Kỳ nói:
- Đây là ý kiến của thái hậu lo lắng cho ngài, sợ có điều gì sơ xuất Dương nguyên soái không biết mà chở che.
Địch Thanh từ tạ Hàng Kỳ lãnh thơ, rồi qua Nam Thanh cung từ giã Địch thái hậu và Lộ Huê vương.
Thái hậu nói:
- Loài gian tặc nó ganh tỵ lắm, nay nó bảo tấu cho cháu đi đây cũng chính là lập mưu để hãm hại. Vậy cháu phải cẩn thận và đi cho đúng kỳ, đến Tam Quan thì giao cho xong chinh y rồi trở về kẻo cô trông đợi.
Địch Thanh vâng lời, lạy tạ thái hậu, từ giã Lộ Huê vương rồi lên đường. Còn Thạch Ngọc cũng vội vã tháp tùng.
Bấy giờ Địch Thanh đầu đội mão kim khôi, trên mão lại có gắn một hột ngọc uyên ương để trừ tà yếm quỷ, ngăn đỡ đao thương, tay thì cầm kim đao, mình cưỡi con Nguyệt long cu, tướng mạo đường đường uy phong lẫm liệt. Còn Thạch Ngọc đầu đội ngân khôi, mình mặc bạch giáp, tay cầm trường thương, cưỡi ngựa bạch long cu, hào khí trùng trùng, thật đáng tay hào kiệt.
Còn Trương Trung, Lý Nghĩa tuy chưa co chức phận gì nhưng cũng mặc khôi giáp sáng rỡ, diện mạo đường đường, đi đến đâu thì các quan sở tại tiếp đón rất trọng hậu.
Lúc ấy Bàng Hồng sai gia tướng đem một phong thơ ra huyện Nhơn An, và một phong thơ ra Đồng Quan mà khiến hai nơi ấy lập mưu hãm hại Địch Thanh và Thạch Ngọc. Trong thơ nói: Nếu hại được hai người ấy thì sẽ có quyền cao chức trọng, còn ai không nghe theo thì phải mang họa.
(Nguyên noi nhà quán dịch huyện Nhơn An có sanh yêu quái đã mấy năm nay, cho nên nhân dân đều kinh sợ mà đồn lần về Biện Lương).
Lúc ấy, tri huyện Nhơn An là Vương Đăng tiếp được thơ của Bàng Hồng thì quyết tâm làm theo để được thăng bổng lộc.
Ngày kia quân thám thính biết được Địch Thanh đi gần đến huyện mình thì khiến người dọn dẹp quán dịch ấy cho sạch sẽ, đặng chờ Địch Thanh đến thì đón vào đó an nghỉ.
Cách mấy ngày sau Địch Thanh đến nơi, Vương Đăng ra rước vào nhà quán dịch thết đãi. Địch Thanh khiến dừng binh nơi đó nghỉ lại một đêm rồi sẽ đi.
Đêm ấy khi mãn tiệc, Vương Đăng và các quan đều lui về dinh.
Địch Thanh nói với Thạch Ngọc:
- Ra xem quán dịch này trống trải lắm, vậy anh em ta đêm nay không nên ngủ mà phải đề phòng.
Thạch Ngọc nói:
- Đại ca nói rất phải.
Hai người thức mãi để đàm đạo cùng nhau.
Qua đến canh hai, Địch Thanh xem thấy trăng tỏ như ban ngày thì gọi Thạch Ngọc ra mà xem, cà nói:
- Ta thấy trăng thì nhớ đến đêm rằm tháng tám trước đây tại Nam Thanh cung nơi sau vườn có con long cu xuất hiện. Cũng nhờ nó mà ta gặp được cô ta là Địch thái hậu.
Thạch Ngọc nói:
- Đại ca nói thì tôi mới nhớ năm ngoái cũng vào dịp rằm tháng tám tôi trừ được con mãng xà cứu được Thể Hà quận chúa, rồi được kết duyên với nàng, lại được thánh thượng phong cho tôi làm ngự sử.
Địch Thanh nói:
- Hèn chi tục ngữ có nói: Khổ tận cam lai. Thật cũng rất đúng.
Hai người đang trò chuyện xảy có một trận cuồng phong ào tới.
Thạch Ngọc nói:
- Đại ca! Gió này không phải là gió thường đâu, quả là loài  yêu quái xuất hiện đó.
Hai người liền đứng dậy, rút gươm cầm tay, ngó chăm chăm về hướng Đông Bắc, thì nghe có tiếng ồ ồ. Địch Thanh hét lớn:
- Yêu quái ở đâu dám cả gan chọc ghẹo chúng ta.
Nói vừa dứt thì thấy một đạo bạch quang xẹt tới, rồi biến ra một người cao lớn xốc tới trước mặt Thạch Ngọc.
Thạch Ngọc nói:
- Đại ca! Mãng xà đến chọc tôi nữa đó.
Nói rồi nạt một tiếng, ung gươm chém tới.
 
Lời bàn:
Người anh hùng và kẻ gian ác hai bản chất khác nhau. Kẻ anh hùng thì vị tha, đem thân phụng dự cho đạo nghĩa làm người, còn kẻ tiểu nhân thì vị kỷ, chỉ biết hưởng thụ riêng mình mà thôi. Hai quan niệm này tạo nên phẩm chất con người trong lẽ sống.
Địch Thanh và Thạch Ngọc đứng trước âm mưu của Bàng Hồng mưu hãm hại, không phải không biết mà vẫn cứ dấn thân vào chốn hiểm nguy. Đành rằng họ cũng có một  phần nào cậy vào tài năng và bản lãnh của mình, nhưng điều căn bản là khí phách anh hùng của họ.
Ngưòi anh hùng không sợ gian nguy, miễn là làm nên chuyện đại nghĩa. Chính vì tinh thần đó mà kẻ anh hùng không sợ chết, không khuất phục trước mọi thế lực hay gian nguy.
Kẻ anh hùng thường giao cảm với những người có nghĩa khí, vì vậy trong cuộc sống họ được giúp đỡ trong lúc gian nguy cũng chỉ vì lòng giao cảm giữa con người và con người trong cuộc sống mà thôi.
Người anh hùng không cầu danh lợi, khi danh lợi ấy không hợp với nhân tính, còn kẻ gian ác thì nói đến danh lợi lại tham lam, vì vậy hành động rất khốc liệt.

*    *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-24 19:12:49Hoàng Dung>
hồi thứ mười tám
 Hiện thần linh Huyền Thiên cho báu
Thâu đồ đệ Quỉ Cốc ra công


Thạch Ngọc thấy yêu quái xốc đến bên mình liền rút gươm chống cự. Địch Thanh muốn tiếp ứng, song lại nghĩ rằng mình chưa biết võ nghệ Thạch Ngọc ra sao, nhân tiện xem thử thế nào cho biết.
Nghĩ như thế nên đứng xem, xòn Thạch Ngọc thì bị con yêu dụ ra khỏi sân, tiếp đến một trận cuồng phong thổi đến ào ạt, yêu quái bay đến một chỗ trống dụ Thạch Ngọc đuổi theo, rồi nạt lớn nói:
- Thạch Ngọc! Ngươi có giỏi thì đuổi theo ta.
Thạch Ngọc nổi giận nói:
- Yêu quái! Ta không sợ ngươi đâu.
Nói rồi rượt theo yêu quái. Địch Thanh thấy vậy khen:
- Như vậy mới đáng mặt anh hùng.
Vừa nói vừa chạy theo để quan sát. Bỗng thấy một đạo bạch quang chiếu vào ngay mặt làm cho Địch Thanh chóa mắt không thấy đường chạy theo nữa.
Bỗng nghe có tiếng kêu lớn:
- Địch đại nhơn. Chẳng nên đuổi theo nữa.
Địch Thanh dừng lại thấy một người mình cao một trượng, đứng chặn ngang không cho Địch Thanh đi tới.
Địch Thanh nạt lớn:
- Ngươi cũng là lòai yêu quái chăng?
Người ấy đáp:
- Không phải! Ta là Huyền thiên chơn võ đây, muốn nói cùng ngươi một điều. Nguyên bộ hạ ta hạ giới xuống đầu thai nơi Tây Hạ để quấy rối Tống trào hơn hai mươi năm. Vậy ta cho ngươi hai vậy báu này, một là nhơn diện kim bài, để lúc ngươi giao tranh với Tây Hạ, thì lấy vật này mà che thân, thứ hai là ba mũi tên Thất tinh, như gặp nguy hiểm thì lấy ra mà bắn. Ngươi hãy giữ hai bảo vật ấy mà kiến công lập nghiệp.
Địch Thanh nghe nói liền lạy tạ mà lãnh hai bảo vật. Người ấy nói:
- Không cần tạ ơn làm chi, phải cần nhớ lấy những lời ta nói thì có thể đổi hạn làm phước đức.
Địch Thanh hỏi:
- Vậy em tôi là Thạch Ngọc đang giao tranh với con yêu quái ấy lành dữ thế nào, xin ông cho biết.
Người ấy đáp:
- Ấy không phải yêu quái mà là một vật tu luyện lâu năm thành hình đó. Còn Thạch Ngọc bây giờ có đi mà không có trở lại, chưa biết bao giờ mới gặp nhau.
Địch Thanh nói:
- Vua sai đi hai người, nay mất đi một người thì biết nói làm sao mà phục chỉ được.
Người ấy nói:
- Đến sau này cũng gặp nhau, đừng có lo gì cả.
Địch Thanh tạ ơn trở về quán dịch kêu mười sáu tên quân hầu đi tìm Thạch Ngọc.
Quân sĩ đi tìm mọi nơi trở về báo:
- Chúng tôi đi tìm khắp nơi mà không thấy  ai cả.
Địch Thanh nghĩ thầm:
- Bắc cực Đại đế đã dặn mình không nên đi tìm ,nhưng bạn bỏ đi không đành.
Nghĩ như thế liền thẫn thờ đi theo hướng Thạch Ngọc, đi một lúc thì thấy tấm bia chắn ngang, không cách nào qua được, trên bia có đề chữ:
“Tôi Thạch Ngọc hiền đệ sẽ có ngày gặp nhau. Bây giờ không thể tìm được”.
Địch Thanh xem thấy liền lui về nhà quán dịch.
Còn Thạch  Ngọc lúc rượt theo yêu quái cung kiếm chém xả xuống, nhưng không thấy người mà thấy một cây giáo ba mũi nằm dưới đất. Thạch Ngọc lấy làm lạ bước đến cầm lên xem thầy thấy cây giáo ba mũi rất vừa tay nên mừng rỡ múa máy một hồi và nghĩ thầm:
- Ngỡ là yêu quái, ngờ đâu lại tìm được của trời cho.
Nghĩ rồi trở về quán dịch tìm Địch Thanh, nhưng vừa quay lưng thì thấy một vị tiên ông từ trên mây  sa xuống nói:
- Nay nhà ngươi đã được cây thương rồi, song còn võ nghệ chưa được rèn luyện thì cũng không có ích gì, vậy hãy theo ta mà học binh thư, võ nghệ để ngày sau kiến công lập nghiệp.
Thạch Ngọc thưa:
- Đa tạ tiên trưởng có lòng giúp đỡ, nhưng xin cho biết danh hiệu trước đã.
Tiên ông nói:
- Ta là Vương Thiền Quỉ Cốc đây.
Thạch Ngọc nghe nói liền quì lạy, nói:
-Đệ tử xin theo học, nhưng để đệ tử giải chinh đến Tam Quan xong sẽ trở về bái kiến.
Quỉ Cốc nói:
- Việc giải chinh y đã có Địch Thanh rồi, dầu ngươi có theo cũng chẳng ích gì. Thôi ngươi hãy theo ta mà đi cho sớm.
Nói rồi liền chỉ tay vào hai cục đá, tức thì hai hòn đá hóa hai con bạch hổ đưa hai thầy trò về núi.
Khi đến nơi, Thạch Ngọc hỏi:
-Thưa sư phụ! Đây là núi gì?
Quỉ Cốc nói:
- Núi này là núi Nga Mi. con hãy ở đây mà lo luyện tập võ nghệ, sau này ra phò vua giúp nước.
Bấy giờ Địch Thanh trở về quán dịch thuật hết mọi chuyện cho Trương Trung Lý Nghĩa nghe. Trương Trung, Lý Nghĩa kinh ngạc cho là chuyện lạ. Xảy có Vương Đăng bước vào thăm hỏi.
Địch Thanh thấy Vương Đăng thì nổi giận mắng rằng:
- Loài súc sinh! Ngươi đã biết chỗ này có yêu quái, sao còn dám cả gan đem chúng ta đến đây. Bây giờ Thạch quận mã đã bị yêu quái bắt rồi, sống thác không rõ. Ấy là tại ngươi bày ra hay tại ai xúi giục hãy mau nói cho ta nghe.
Vương Đăng nghe nói thất kinh, quỳ lại nói:
- Thuở nay chỗ này không có yêu quái, đêm nay tại sao xảy ra như vậy, thật tôi không rõ, xin đại nhơn tha tội.
Địch Thanh nói:
- Trong việc này có âm mưu hại người, nếu không khai đừng trách ta không rộng tình.
Nói rồi liền kêu quân bắt Vương Đăng ra tra khảo. Bị đánh một hồi, Vương Đăng không chịu nỗi phải khai hết sự thật.
Địch Thanh nói:
- Lẽ thì phải giết ngươi cho rồi, song ta cũng làm nhân tha cho ngươi để sau này đối chứng.
Nói rồi liền kêu tri phủ giam Vương Đăng vào ngục, chờ khi xét xử.
Ngày hôm ấy, Địch Thanh kéo quân đi ra, đến Đồng Quan thì có tổng binh là Mã Ứng Long ra đón tiếp và dọn tiệc đãi đằng.
Hôm sau, Địch Thanh sắm sửa ra đi thì Mã Ứng Long và Lưu Khánh đưa ra khỏi ải một đỗi xa xa rồi trở lại.
Nguyên Lưu Khánh lúc này đang làm chức thám tướng tại Đồng Quan, mới có hai mươi mốt tuổi, nhưng mạnh khỏe vô cùng. Lúc nhỏ, Lưu Khánh được tiên cho một vật báu gọi là Tịch Vân phách. Vật báu này có thể dùng bay lên không trung đặng, vì vậy thiên hạ gọi Lưu Khách là Phi sơn hổ.
Hôm ấy Mã Ứng Long gọi Lưu Khánh bảo:
- Nay có thơ của Bàng thái sư khiến ta lập kế giết hại Địch Thanh. Nếu việc này thành công thì sẽ được quyền cao lộc cả. Vậy ngươi hãy đằng vân theo Địch Thanh, rồi từ trên mây chém xuống, thì Địch Thanh ắt không tránh khỏi chết. Nếu việc này thành công thì ngươi cũng được hưởng tước quyền.
Lưu Khánh cả mừng liền xách đao ra khỏi ải, đằng vân bay theo Địch Thanh.
 
Lời bàn:
Mọi việc xảy ra trong đời xấu tốt đều do con người mà sinh ra. Nói đến con người là nói đến lương tâm và tài năng. Kẻ có ác tâm thì hành động theo ác tâm của mình, kẻ có thiện tâm thì hành đông theo thiện ý của mình. Mọi hành động đều đi đến chỗ nhân quả của nó.
Trong đời có nhiều người không suy tính như vậy mà mọi việc đều đổ vào lý do khách quan để tránh né lắm lỗi của mình.
Bàng Hồng một kẻ gian nịnh, tìm cách hãm hại Địch Thanh gây nên mọi xáo trộn trong cuộc sống, ảnh hưởng với nhiều người khác.
Còn Địch Thanh thì lấy tư cách một kẻ anh hùng, bất chấp gian nguy, hành động luôn luôn hướng thiện, nên mọi âm mưu hãm hại của Bàng Hồng đều di đến kết quả ngược lại.
Vô hiệu hóa sự gian ác của Bàng Hồng chính là thiện tâm của Địch Thanh. Thiện tâm ấy đã đem đến cho Địch Thanh từng bước khả quan, được nhiều người cưú giúp. Vậy thì người xưa nói:
Thiện ác đáo đầu chung hữu báo.
Đó là lẽ đương nhiên dựa theo triết lý nhân quả của Phật giáo.
 

*   *
*
170[size=2]171 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-24 19:18:46Hoàng Dung>
hồi thứ mười chín
Địch thị sum vầy nơi tửu điếm
Lưu gia thích khách tại Nhạn ba
 

Bấy giờ Lưu Khánh vâng lời Mã Ứng Long đằng vân theo Địch Thanh đến Lạc Nhạn ba thì thấy Địch Thanh ngồi trên lưng ngựa đi chậm rãi, Lưu Khánh liền hạ xuống rút gươm chém Địch Thanh, bất ngờ trên đầu Địch Thanh có vật chi xông lên sáng lòa làm cho Lưu Khánh chóa mắt hoảng sợ không dám chém.
Trương Trung, Lý Nghĩa trông thấy trên đầu Địch Thanh có vật đen lượn qua lượn lại liền gọi Địch Thanh nói:
- Đại ca! Có luồng khói đen như muốn hãm hại đại ca đó.
Địch Thanh ngước mắt lên xem, rồi nói:
- Ấy là loại yêu vân đó. Để ta bắn nó một mũi tên xem sao.
Nói rồi rút tên bắn ra một mũi, làm cho vầng đen hay về hướng đông rồi biến mất.
Bấy giờ trời đã gần tối, Địch Thanh truyền đóng quân nghỉ ngơi, đợi sáng hôm sau sẽ đi tiếp.
Đóng trại xong, Địch Thanh cất bước đi  dạo trong thôn xóm, thì thấy nơi ven đường có một quán rượu, liền bước vào giải khuây. Tửu bảo thấy Địch Thanh mặc khôi giáp rạng rỡ thì biết là một vị tướng quân, nên ra rước vào, thưa:
- Chẳng hay lão gia đến đây có việc chi chăng?
Địch Thanh nói:
- Chẳng có việc chi cả. Ta chỉ muốn uống rượu giải khuây mà thôi.
Tửu bảo lật đật bưng rượu ra cho Địch Thanh uống. Trong lúc đang uống rượu, Địch Thanh thấy bên kia có một người đàn bà ước chừng 20 tuổi, mặt mày đẹp đẽ, đứng nhìn Địch Thanh rất chăm chú.
Địch Thanh nghĩ thầm:
- Đàn bà thấy đàn ông sao lại nhìn ngó như vậy?
Người đàn bà đứng nhìn Địch Thanh một lúc rồi kêu tửu bảo nói:
- Ngươi hỏi thử vị tướng quân này quê quán ở đâu, tên họ là chi? Được bao nhiêu tuổi?
Tửu bảo nói:
- Đó là người khách qua đường, tôi đâu dám hỏi.
Người đàn bà nói:
- Ngươi cứ hỏi thử, có gì mà sợ.
Tửu bảo không dám trái ý, rón rén bước đến hỏi:
- Xin lão gia rộng lòng cho tôi hỏi một câu.
Địch Thanh nói:
- Ngươi muốn hỏi gì thì cứ hỏi.
Tửu bảo thưa:
- Chẳng hay lão gia tên họ là chi, quê quán ở đâu và niên kỷ được bao nhiêu?
Địch Thanh nói:
- Ta tên là Địch Thanh, quê ở Sơn Tây, mới có 16 tuổi. Ngươi hỏi làm gì vậy.
Tửu bảo thưa:
- Ấy là tại cô tôi bảo hỏi, xin lão gia chớ giận.
Nói xong liền vào nhà trong thuật lại. Người đàn  bà nghe xong tỏ vẻ vui mừng, nói với tửu bảo.
- Ngươi ra hỏi thêm, xem người ấy ở tỉnh Sơn Tây mà thuộc về phủ nào, huyện nào và làng nào?
Tửu bảo không dám trái ý, nhưng lại nghĩ thầm:
- Đàn bà như vậy thật kỳ cục, thấy đàn ông hình dung tuấn tú thì để ý hỏi han.
Tửu bảo đến gần Địch Thanh hỏi:
- Chẳng hay lão gia ở Sơn Tây mà thuộc về phủ nào, huyện nào, làng nào vậy?
Địch Thanh nói:
- Thuộc về phủ Thái Nguyên huyện Tây Hà và làng Tiên Dương.
Tửu bảo trở vào thuật lại. Người đàn bà nghe xong bướcra nhìn Địch Thanh một hồi nữa, rồi trở vào thưa với mẹ nàng:
- Ngoài quán có một vị tướng quân còn nhỏ mà diện mạo giống em con lắm, vậy nên con khiến tửu bảo hỏi rõ họ tên và quê quán thì đúng như vậy.
Mạnh thị nghe nói liền bước ra xem, rồi lớn tiếng hỏi:
- Địch Thanh! Mẹ đây nè.
Lúc ấy Địch Thanh đang ăn uống nghe kêu liền ngửa mặt lên xem, rồi bỏ đũa quỳ xuống đất khóc lớn:
- Mẹ ơi! Chị ơi! Đây có phải là chiêm bao hay không?
Mạnh thị bước lại đỡ Địch Thanh dậy khóc không ra tiếng, nói không ra lời. Địch Thanh ôm mẹ khóc rống lên.
Hai mẹ con thuật lại sự tình từ ngày xa cách, rồi mở tiệc đoàn viên, vui mừng không ngớt.
Bấy giờ Lưu Khánh đằng vân đi theo chém Địch Thanh không được lại bị Địch Thanh bắn một mũi tên trúng nơi đùi, liền bay qua hướng đông nhổ mũi tên, rồi đi thám thính, biết Địch Thanh đã đóng quân, lại thấy Địch Thanh vào quán rượu của Trương Văn thì nghĩ thầm:
- Trương Văn là người đồng liêu với mình, ta đến đó thương nghị thử xem.
Nghĩ rồi Lưu Khánh thẳng đến nhà Trương Văn. Trương Văn thấy Lưu Khánh liền hỏi:
- Lưu lão gia đi đâu trong đêm tối như vậy?
Lưu Khánh liền đem các việc trong thơ Bàng Hồng thuật lại cho Trương Văn nghe.
Trương Văn nói:
- Nếu vậy thì anh em ta phải rán sức làm cho thành công mà trông cậy về sau. Vậy chớ Địch Thanh hiện giờ ở đâu?
Lưu Khánh đem việc đằng vân theo giết hại bị Địch Thanh bắn bị thương kể lại và báo cho Trương Văn biết nay Địch Thanh đã vào nơi quán rượu rồi.
Trương Văn nói:
- Nếu như vậy thì dễ dàng cho chúng ta lắm. Chúng ta phải làm như vầy thì mới xong.
Trương Văn dặn dò Lưu Khánh xong liền trở về quán rượu đặng phục rượu cho Địch Thanh say mà hãm hại.
Nhưng lúc về đến nhà thì Trương Văn thấy mẹ vợ mình ngồi giữa còn vợ mình ngồi một bên, bèn bước vào thì nghe Kim Loan là vợ mình nói với Địch Thanh:
- Em hãy uống rượu đi chốc nữa thì anh rể em cũng về đến.
Trương Văn vừa bước đến thì Kim Loan thấy chồng về lật đật đứng dậy nói:
- Em tôi là Địch Thanh đó.
Địch Thanh thấy Trương Văn về cũng đứng dậy chào hỏi. Trương Văn nói:
- Không ngờ tướng quân lại là em ruột của vợ tôi. Vậy em đường đi có bị thích khách chăng?
Địch Thanh nói:
- Có! Khi ra khỏi ải có thấy một vầng mây đen bay lượn theo hoài, em không biết là vật chi nên bắn một mũi tên, vật ấy bay đi mất.
Trương Văn nói:
- Ấy là thích khách.
Bèn thuật lại hết sự việc Bàng Hồng gởi thơ khiến Mã Ứng Long sai Lưu Khánh làm thích khách thuật cho Địch Thanh.
Địch Thanh nổi giận nói:
- Để mai em trở lại ải quan mà trừ cho được Mã Ứng Long và Lưu Khánh, kẻo nó nghe theo đảng nịnh hãm hại trung thần.
Trương Văn nói:
- Hiền đệ chớ nóng, Lưu Khánh làm như vầy không phải là thù hiềm chi với em đâu, chẳng qua là nó thàm quyền tước mà thôi. Nếu em dùng kế mà thu phục nó để làm vây cánh thì rất có ích vì nó là một tay dũng tướng.
Địch Thanh nói:
- Em sợ nó không phục chăng.
Trương Văn nói:
- Ta với Lưu Khánh thuở nay rất thân thích, nói gì nó cũng nghe theo. Vậy em phải làm theo kế này thì xong việc.
Địch Thanh nghe nói mừng rỡ, xin làm y theo kế.
Trương Văn khiến dọn chỗ cho Địch Thanh nghỉ, rồi đi tìm Lưu Khánh nói:
- Tôi ép Địch Thanh uống rượu đã say mèm, bây giờ đang ngủ mê man, vậy nhơn huynh hãy ra tay đi.
Lưu Khánh vội vàng đến nơi thấy trên bàn rượu thịt còn ê hề liền hỏi Trương Văn:
- Rượu thịt có phải Địch Thanh ăn còn dư lại hay không?
Trương Văn nói:
- Phải!
Liền khiến gia nhân đem thêm rượu thịt đến thết đãi Lưu Khánh và nói:
- Bây giờ đang lúc đêm khuya, vậy nhơn huynh cứ ngồi ăn uống cho no nê rồi sẽ  tính.
Lưu Khánh vốn là tay bợm rượu, thấy được ăn uống thì còn gì vui thích hơn, nên cứ ngồi ăn uống mãi.
Trương Văn cố ý ép Lưu Khánh uống cho say, nên chỉ được một lúc  Lưu Khánh đã say mèm, gục đầu xuống ghế mà ngủ.
Trương Văn kêu gia đinh đem dây đến trói Lưu Khánh lại rồi mò vào lưng lấy Tịch vân phách là báy vật của Lưu Khánh, rồi gọi Địch Thanh ra.
Lưu Khánh giật mình thức dậy thấy mình bị trói biết là mắc kế Trương Văn bèn mắng lớn:
- Trương Văn! Ta với ngươi thân thiết với nhau như ruột thịt sao ngươi đành lập mưu mà hại ta?
Trương Văn nói:
- Không phải tôi muốn hại nhơn huynh đâu, ấy là tôi muốn làm ơn cho nhơn huynh đó. Vả Địch khâm sai đây là cháu của Địch thái hậu, nay vâng lệnh đi giải chinh y cũng là việc trọng, nếu nhơn huynh nghe lời Bàng Hồng làm quấy như vậy, mai sau thánh thượng biết được thì nhơn huynh chạy đằng nào cho khỏi tội. Chi bằng theo phò Địch khâm sai kiến công lập nghiệp thì hay hơn.
Lưu Khánh nói:
- Nếu vậy sao không nói cho tôi biết lại trói tôi lại mà làm gì?
Trương Văn nói:
- Nếu không làm vậy sợ nhơn huynh không chịu nghe.
Địch Thanh nói:
- Lưu tướng quân! Lời xưa có nói: Hễ ăn lộc vua phải đền nợ nước. Lẽ nào nghe lời kẻ nịnh thần hãm hại tôi trung. Chi bằng theo tôi ra Tam Quan mà lập công thì để danh muôn thuở.
Lưu Khánh nói:
- Tôi cũng muốn như vậy, song sợ Mã tổng binh làm hại vợ con tôi. Vậy để tôi về dắt vợ con trốn đi thì mới khỏi lo.
Địch Thanh cả mừng liền khiến t mở trói cho Lưu Khánh để cùng nhau tâm sự.
Lưu Khánh được mở trói lạy tạ Địch Thanh rồi xem lại thấy mất Tịch vân phách bèn kêu Trương Văn bảo phải trả lại.
Trương Văn nói:
- Có lấy bảo vật đó, nhưng không trả đâu, nếu trả thì anh không chịu trở lại.
Lưu Khánh nói:
- Người quân tử chỉ nói một lời, sao anh lại khinh tôi như vậy.
Trương Văn nói:
- Thì anh cứ về đi để tính cho xong việc nhà, không ai làm mất bảo vật của anh đâu mà anh sợ.
Lưu Khánh thấy Trương Văn không chịu trả, túng thế phải từ Địch Thanh mà trở về.
 
Lời bàn:
Đời nào cũng vậy, trong cuốc sống bạn bè tạo nên sức để giúp đỡ lẫn nhau. Cuộc sống đơn độc không làm nên việc lớn.
Nhưng bạn bè cũng phải là người cùng chung một chí hướng, nếu bạn bè mà không cùng một chí hướng thì đã không giúp ích gì nhau, mà còn tác động vào cuộc sống một đường lối chệch choạc, làm cho Địch Thanh khó đấu tranh để lập thân.
Địch Thanh theo định hướng trung quân ái quốc, trừ khử nịnh thần, khôi phục triều đình, nhưng nếu Lưu Khánh không cùng chung chí hướng ấy thì có kết bạn cũng chẳng ích gì.
Trong đời, bạn thì nhiều nhưng tìm được người bạn tâm đồng ý hiệp thì rất khó. Vì vậy khi kết bạn không phải xem ai cũng như ai. Đó là bài học lẽ sống.

*   *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-24 19:23:30Hoàng Dung>
hồi thứ hai mươi
Tin tức thông thương nơi dinh trại
Cứu ứng người ngay giữa lộ đồ
 

Lúc ấy Lưu Khánh trở về vào ra mắt Mã Ứng Long trình bày mọi việc về chuyện hãm hại Địch Thanh không thành công.
Mã Ứng Long nói:
- Nếu chúng ta không hại được Địch Thanh thế nào Bàng thái sư cũng cho ta là kẻ bất tài vô dụng.
 Lưu Khánh nói:
- Ngài chớ lo. Nội đêm nay thế nào tôi cũng tìm Địch Thanh mà hạ sát.
Mã Ứng Long nói:
- Vậy phải ráng làm cho đặng để chúng ta nương nhờ về sau. Lưu Khánh từ giã về nhà thuật hết mọi việc cho mẹ vợ và vợ hay, và tỏ ý đem gia quyến đi trốn.
Vợ Lưu Khánh nói:
- Tôi e ban đêm đàn bà ra cửa ải không được đâu.
Mẹ Lưu Khánh nói:
- Lời ấy rất phải, vậy phải giữ bí mật đừng để cho ai biết.
Lưu Khánh nói:
- Xin mẹ chớ lo, con đã tính rồi.
Bè thuật chuyện nhà Trương Văn cho mẹ nghe. Mẹ con nghe nói đều vui mừng.
Còn Địch Thanh đêm ấy sợ Trương Trung, Lý Nghĩa trông đợi nên khiến Trương Văn đến trại quân nói cho hai người ấy hay tin. Trương Văn vâng lời ra đi đến giữa đường thì gặp một vị tướng quân từ đầu kia đi lại. Trương Văn thi lễ hỏi:
- Tướng quân có phải là Trương Trung chăng?
Trương Trung nghe hỏi liền thộp ngực Trương Văn nói:
- Ngươi là ai mà dám kêu tên họ ta?Trương Văn nói:
- Tưóng quân chớ giận. Tôi vâng lệnh Địch khâm sai đến thông tin cho tướng quân hay.
Trương Trung nghe nói đổi giận làm vui, hỏi:
- Địch khâm sai bây giờ ở đâu?
Trương Văn thuật hết mọi việc cho Trương Trung nghe. Trương Trung tạ ơn nói với Trương Văn:
- Xin ngài về trước, tôi đi tìm Lý Nghĩa báo tin rồi sẽ đến sau.
Trương Văn hỏi:
- Vậy  chớ Lý tướng quân đi đâu mà tướng quân phải đi kiếm?
Trương Trung nói:
- Vì trông Địch đại ca không thấy về nên anh em chúng tôi đi tìm mỗi người một nơi.
Trương Văn nghe nói liền từ giã trở về, còn Trương Trung thì đi tìm Lý Nghĩa.
Vừa đi tới ngã ba đường bỗng nghe có tiếng đàn bà khóc than kể lể, Trương Trung dừng lại xem thì thấy chừng hai mươi tên gia đinh cầm gậy đi trước, và sau đó thì có một người cưỡi ngựa, để một người đàn bà nằm vắt ngang đang vùng vẫy khóc lóc.
Trương Trung nhìn thấy thì biết ngay là chúng đang bắt vợ một kẻ nào đó, bèn xốc lại nạt lớn:
- Quân cường đạo, sao không kiêng phép nước dám bắt vợ con người ta mang đi như vậy?
Bọn gia đinh nghe nói áp lại đánh Trương Trung, bị Trương Trung đánh chạy trốn hết. Trương Trung đến trước người cưỡi ngựa hỏi:
- Ngươi tên họ là gì? Tại sao lại dám làm ngang như vậy?
Người ấy nói:
- Tôi họ Tôn tên Vân, tự là Kiến Vân là em ruột của Tôn Tú đây.
Trương Trung nói:
- Té ra ngươi là em ruột của Tôn binh bộ sao? Còn người đàn bà này ở đâu mà ngươi chiếm đoạt vậy?
Tôn Vân chưa kịp trả lời thì người đàn bà ấy đã quỳ lạy khóc và nói:
- Nhà thiếp ở cách đây chừng ba dặm, chồng thiếp là Triệu Nhị, chuyên nghề làm ruộng mà độ nhựt, còn Tôn Vân đây ép chồng tôi gả tôi cho Tôn Vân đem về làm vợ bé, chồng tôi không chịu nên hôm qua bọn gia đinh đến nhà bắt chồng tôi dẫn đi không biết sống chết thể nào. Hôm nay chúng lại đến nhà bắt tôi, may gặp tướng quân cứu mạng thì ơn ấy bằng non.
Trương Trung nghe nói nổi giận hỏi Tôn Vân:
- Ngươi bắt chồng người ta đem giấu ở đâu thì phải chỉ nếu không ta chẳng tha mạng.
Tôn Vân nói:
- Ông ơi! Người ấy tôi còn giam tam trong dinh tôi.
Trương Trung nói:
- Vậy ngươi phải thả người ấy ra thì ta mới tha chết cho ngươi.
Tôn Vân lạy lia lịa nói:
- Xin ông tha tôi về thả Triệu Nhị ra.
Trương Trung nói:
- Không được! Ngươi sai gia đinh thả Triệu Nhị ra rồi ta mới tha cho ngươi.
Tôn Vân thấy Trương Trung nói cứng liền gọi gia đinh sai về dinh mở trói tha Triệu Nhị lập tức.
Gia đinh lật đật về dắt Triệu Nhị đến. Trương Trung bảo Triệu Nhị:
- Vậy ngươi hãy dắt vợ ngươi về đi.
Triệu Nhị nói:
- Ân nhân ở đây thì vợ chồng tôi đi đặng, nếu ân nhân đi rồi thì tánh mạng vợ chồng tôi không còn.
Trương Trung nói:
- Không hề chi. Ngươi dẫn vợ ngươi đi khuất nơi đây rồi ta cho nó một đao thì còn đâu mà làm hại ngươi nữa.
Nói rồi vừa muốn vung đao chém, bỗng đâu có một người cao lớn, tay xách roi sắt xốc lại đánh ngay đầu Trương Trung.
Trương Trung kinh hãi lật đật buông Tôn Vân ra mà cự với người ấy và hỏi:
- Ngươi tên chi mà dám cả gan đến đánh với ta vậy?
Người ấy nói:
- Ta là Phi son lang Phan Báo, anh em cô cậu với Tôn Vân đây.
Nói rồi vung roi đánh với Trương Trung. Đánh được ba mươi hiệp Trương Trung thua chạy. Phan Báo tượt theo. vợ Triệu Nhị thấy vậy thì nói với Triệu Nhị rằng:
- Phu quân hãy chạy theo mà xem thử tánh mạng ân nhân ra thế nào, như thấy ân nhân có bề nào thì tính trước mà lánh thân kẻo bị Tôn Vân hại nữa.
Triệu Nhị nghe lời chạy theo mà coi chừng Trương Trung.
Lúc ấy bọn gia đinh của Tôn Vân là Tôn Mậu và Tôn Cao còn núp trong bụi rậm thấy Triệu Nhị khiêng về dinh. Trong lúc đang đi lại gặp Lý Nghĩa từ đầu kia đi lại trông thấy hai người đàn ông khiêng một người đàn bà đang giãy giụa khóc than. Lý Nghĩa nhảy đến thộp ngực Tôn Cao hỏi:
- Các ngươi bắt đàn bàn khiêng đi đâu vậy?
Tôn Mậu thấy Tôn Cao bị thộp thì vội bỏ người đàn bà chạy trốn. Người đàn bà quỳ lại thuật hết nguồn cơn cho Lý Nghĩa nghe. Lý Nghĩa xong nổi giận hét lên một tiếng nắm giò Tôn Cao xé ra làm hai mảnh.
Lý Nghĩa giết Tôn Cao xong liền hỏi người đàn bà:
- vậy chớ người mặt đỏ vừa rồi chạy đàng nào?
Người đàn bà ấy chỉ nẻo cho Lý Nghĩa. Lập tức Lý Nghĩa chạy qua hướng ấy thì thấy Trương Trung bị thua kẻ địch mà khí sắc thì nhợt nhạt. Lý Nghĩa gọi lớn nói:
- Trương nhị ca, có em đến đây.
Trương Trung nghe kêu nhìn lại thấy Lý Nghĩa thì mừng rỡ hỏi:
- Tam đệ ở đâu mà đến đây vậy?
Lý Nghĩa nói:
- Sao nhị ca dở quá vậy? Một tên tướng cướp mà đánh không lại thì làm sao dám ra trận chiến?
Trương Trung nói:
- Ấy vì cây đao của ta quá ngắn nên bất lực đó thôi.
Lý Nghĩa lập tức xông vào đánh với Phan Báo. Lúc này Phan Báo đã đuối sức nên bị Lý Nghĩa chém cho một đao rơi đầu.
Trương Trung nói:
- Tam đệ thiệt giỏi đó.
Lý Nghĩa hỏi:
- Vậy vì cớ gì mà nó rượt nhị ca chạy như vậy?
Trương Trung liền thuật đầu đuôi câu chuyện cho Lý Nghĩa nghe. Lý Nghĩa nổi giận nói:
- Nếu vậy bọn này không kể đến phép nước gì cả.
Nói vừa dứt lời Triệu Nhị đến thi lễ nói:
- Nhị vị tướng quân hãy đến nhà tôi đặng tôi dùng chút lễ mọn hậu tạ.
Trương Trung nói:
- Thôi! Không cần phải đến nhà làm gì. Ta hỏi ngươi thằng rượt ta lúc nảy tên gì, còn thằng bắt vợ ngươi tên gì vậy?
Triệu Nhị nói:
- Thằng rượt tướng quân đó là Phan Báo, anh em cô cậu với Tôn Vân, còn thằng bắt vợ tôi là Tôn Vân anh em với Tôn Tú, còn Tôn Tú là binh bộ thương thơ đó.
Lý Nghĩa tức giận nói:
- Nếu vậy thì ta gặp cưù nhân rồi. Nếu vậy thì anh em chúng ta đến đó mà giết sạch bọn chúng cho xong.
Trương Trung nói:
- Anh em ta không sợ gì chúng nó, nhưng như thế cũng đủ làm cho chúng nó từ nay không dám hà hiếp dân chúng rồi. Việc cần kíp là chúng ta phải trở về trại xem thử có gì biến động không.
Hai anh liền dắt nhau trở về trại, Đến nơi hoi ra thì không có việc chi, bèn dặn dò quân sĩ rồi rủ nhau đến nhà Trương Văn.
Địch Thanh nhìn thấy Trương Trung và Lý Nghĩa thì mừng rỡ, lật đật dắt vào ra mắt mẹ mình. Vào đến nơi hai lạy Mạnh thị và nói rõ việc kết tình anh em với Địch Thanh.
Mạnh thị rất mừng nói với Địch Thanh:
- Việc giải chinh y là trọng, con nên chỉnh tề ra đi kẻo trễ ngày giờ.
Địch Thanh vâng lời bái biệt mẩu thân rồi cùng nhau lên đường.


Lời bàn:
Tình mẫu tử và nhiệm vụ đối với quốc gia đều là quan trọng, nhưng Mạnh thị mẹ của Địch Thanh đã xem bổn phận đối với đất nước là cao cả. Thế cho nên cuộc gặp gỡ giữa mẹ con trong giờ phút thiêng liêng ấy đã nhường chỗ cho trách nhiệm làm trai, không chút bận bịu.
Trương Trung và Lý Nghĩa là hai dũng tướng, thấy việc trái không thể không can thiệp, dù có xảy ra khó khăn đến đâu cũng không từ chối.
Người mang bản chất anh hùng bao giờ cũng trọng nghĩa, mà kẻ trọng nghĩa thường hay va thiệp trước sự bất bình trong thiên hạ. Đó cũng là truyền thống đạo nghĩa làm người trong đạo học Đông phương.

*     *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-24 23:02:28Hoàng Dung>
hồi thứ hai mươi mốt
Mã Bàng sơn bị loài cường đạo
Báo ân tự gặp đấng thánh tăng


 
Địch Thanh nghe mẹ nói như vậy thì từ giã mẹ và hai anh chị rồi lên đường. Trước khi đi còn dặn Trương Văn:
- Nếu Lưu Khánh có đến đây thì bảo Lưu Khánh ra Tam Quan mà tìm tôi.
Trương Văn y lời, tiễn đưa Địch Thanh ra khỏi vài dặm rồi mới trở lại.
Bấy giờ Địch Thanh cùng với Trương Trung và Lý Nghĩa đốc quân đi rất nhanh, nhưng đi chưa được vài mươi dặm thì trời sa tuyết, gió lạnh thấy xương, quân sĩ đi không nổi nên Địch Thanh phải truyền quân hạ trại để dưỡng sức.
Trương Trung nói:
- Chỗ này trống trải và ẩm thấp lắm, dẫu có đồn binh cho nghỉ ngơi thì quân sĩ cũng không trốn khỏi lạnh.
Địch Thanh nói:
- Thôi thì cứ dồn quân đỡ nơi đây, để ra đi tìm chỗ nào cao hơn, ấm áp hơn sẽ thay đổi.
Nói rồi liền giục ngựa ra đi, quanh quẩn khắp nơi thấy có một ngôi chùa rất nguy nga và chỗ đất thì cao ráo.
Địch Thanh nghĩ thầm:
- Chùa này trông rộng rãi, vậy ta vào xem thử rồi đem quân lại đây mà trú đóng.
Nghĩ rồi liền giục ngựa đến nơi thì thấy trước cửa chùa có đề ba chữ lớn: BÁO ÂN TỰ. Địch Thanh liền xuống ngựa bước vào chùa, xảy thấy có một vị sãi ra cửa đón và nói:
- Xin mời Địch vương thân vào phương trượng đàm đạo.
Địch Thanh nghe nói lấy làm lạ hỏi:
- Sao thầy biết tôi là Địch vương thân?
Thầy sãi thưa:
- Hòa thương chúng tôi mọi việc đều tiên tri.
Địch Thanh nghe nói nghĩ thầm:
- Nếu vậy hoà thượng này không phải người phàm.
Nghĩ rồi liền theo mấy sãi vào thẳng phương truợng. Ở đó đã có một hòa thượng mắt đen, mình cao, mặc áo bá nạp, chân đi thảo hài, bước ra đón Địch Thanh.
Địch Thanh hỏi:
- Hòa thượng đây danh hiệu là gì?
Hòa thượng nói:
- Tôi là Uất Trì Bửu Lâm, con của Uất Trì Cung đời nhà Đường pháp danh là Thánh Giác trưởng lão, hưởng thọ 385 tuổi.
Địch Thanh nghe nói thất kinh nghĩ thầm:
- Té ra hòa thượng cũng là con cháu của công thần. Nhưng là con cháu công thần sao lại bỏ đời đi tu?
Hòa thượng hiểu ý nói tiếp:
- Nguyên khi Đường Thái Tôn vượt biển đi chinh đông, thấy gió lớn, sóng to nên có lời nguyện sau này dẹp giặc xong, nếu bình an vô sự sẽ cạo đầu đi tu. Đến khi ban sư, vua muốn làm theo lời nguyện ước, nhưng đình thần can gián. Khi ấy tôi thấy vậy xin cho tôi được thay  thế nhà vua mà tu hành. Bởi vậy nhà vua lập nên cảnh chùa này cho tôi tu, gọi là chùa BÁO ÂN TỰ.
Địch Thanh nói:
- Nếu vậy hòa thượng đi tu đây cũng là vì đáp đền lòng trung nghĩa. Nay tôi vâng lệnh thiên tử giải chinh y ra Tam Quan, gặp lúc tuyết rơi gió lạnh, quân sĩ đi không nổi, mà không nơi đồn trú, nên đến xin hòa thượng cho tôi đóng nhờ binh trong chùa vài hôm, chờ bớt lạnh sẽ đi.
Hòa thượng nói:
- Ôi thôi! Chinh y còn đâu mà giải đi.
Địch Thanh kinh hãi hỏi:
- Chinh của triều đình, nếu mất đi thì mạng tôi còn gì?
Hoà thượng nói:
- Xin ngài chớ lo, ấy cũng là số trời đã định cho ngài nhờ cái họa ấy mà hóa ra gặp phước.
Địch Thanh nghe nói lòng rất nghi ngờ, liền từ giã ra đi.
Hoà thượng nói:
- Trời đã tối mà tuyết rơi lạnh lẽo, xin ngài ở lại đây một đêm chờ sáng sẽ đi.
 Địch Thanh thấy hòa thượng nói như vậy cũng phải chiều lòng lưu lại nơi chùa một đêm.
Bấy giờ tại  Ma Bàng Sơn có ba vị đại vương là Ngưu Kiện, Ngưu Cang và Lý Kế Anh.
(Nguyên Lý Kế Anh là người lúc trước cứu Địch Thanh rồi bỏ trốn cùng Bàng Hưng và Bàng Hỷ lên Thiên Cái sơn mà ẩn tích. Sau đó Lý Kế Anh thấy Bàng Hưng, Bàng Hỷ tàn bạo nên bỏ mà đi đến Ma Bàng sơn gia nhập với Ngưu Cang và Ngưu Kiện).
Ngày kia, có Tôn Thông là gia tướng của Tôn Tú sai đem đến dâng cho Ngưu Kiện 500 lượng vàng, 4 hột minh châu và viết thơ nhờ bọn này cướp đoạt chinh y của Địch Thanh giải đến để cho Địch Thanh bị hại.
Ngưu Kiện vì tham tiền và của quý nên thương nghị vớ Ngưu Cang và Lý Kế Anh.
Lý Kế Anh can:
- Việc này không nên. Chúng ta chiếm cứ sơn đầu là chuyện bất đắc dĩ mà thôi. Vả lại nơi đây gần Tam Quan là nơi Dương nguyên soái trấn giữ, nếu họ đem binh đến đây đánh dẹp thì chúng ta cự sao lại.
Ngưu Cang nói:
- Đại ca chớ nên nghe lời ấy. Mấy thuở mà gặp cơ hội tốt như vầy, nếu bỏ qua rất uổng.
 Ngưu Kiện không nghe lời Lý Kế Anh, cứ kiểm điểm lâu la kéo xuống núi đi cướp chinh y. Lý Kế Anh can không được, bất bình than:
- Ta ở với bọn này không đặng, mà nếu bỏ đi nơi khác thì Địch Thanh cũng mang hại, chi bằng ta đến đó tìm Địch Thanh mà báo tin để kịp đề phòng thì hay hơn.
Nghĩ như vậy, Lý Kế Anh xách roi lên ngựa ra đi.
Bấy giờ Trương Trung & Lý Nghĩa thấy trời đã hết tuyết rồi mà Địch Thanh chưa về nên bàn luận với nhau:
- Địch đại ca đi có một mình, không biết đàng xá thề mà mà đến bữa nay chưa về, vậy ta chỉ để một đứa ở lại giữ trại, còn một đứa phải đi tìm đại ca mới được.
Nói vừa dứt thì thấy quân sĩ vào báo:
- Chúng tôi thấy xa xa có một đạo binh kéo đến, không biết là binh của ai.
Lý Nghĩa nói:
- Chúng ta giải chinh y, lẻ nào lại có quân đến cướp làm gì thứ của đó.
Qua một lúc lại có quân vào báo:
- Đạo quân ấy đang xốc tới trại ta.
Lý Nghĩa lật đật bước ra cửa trại xem thử thì thấy có hai vị đại vương dẫn năm ngàn lâu la áp tới.
Trương Trung thấy vậy kinh hãi la lớn:
- Giặc tơi! Giặc tới!
 Hai anh em lật đật chạy vào trại nai nịt lên ngựa chống cự, song không kịp nên phải rút kiếm trong lưng chống đỡ.
Đánh được năm bảy hiệp, hai người không chống nổi hai tên tướng cướp nên phải bỏ chạy ra ngoài đồng vắng mà lánh nạn.
Ngưu Kiện và Ngưu Cang rượt theo, còn quân sĩ thấy Trương Trung và Lý Nghĩa bỏ chạy nên cũng vỏ trại chạy tứ tán.
Bọn lâu la vào trại thu đoạt hết chinh y và lương thảo chở về Ma Bàng sơn.
Lúc này Lý Kế Anh đến nơi gặp Trương Trung và Lý Nghĩa kể lại âm mưu của Ngưu Kiện và Ngưu Cang vừa rồi là âm mưu của Tôn Tú mua chuộc để làm hại Địch Thanh.
Lý Nghĩa nghe xong nổi giận nói:
- Té ra mưu này cũng là do Tôn Tú và Tôn Vân cả. Chúng ta không thể bỏ qua được.
Trương Trung nói:
- Bây giờ chúng ta phải đến Ma Bàng sơn mà đòi lại chinh y.
Lý Nghĩa nói:
- Chúng ta phải dồn lực lượng đánh một trận mới tiêu diệt nổi.
Lý Kế Anh nói:
- Việc chúng cướp chinh y thì đâu còn đó, hãy chờ Địch vương thân trở về sẽ toan liệu.
Trương Trung nói:
- Vậy chúng ta phải chia nhau đi tìm đại ca để sớ, lo liệu.
Lý Nghĩa nói:
- Thôi! Hai anh em ở nhà lo tập họp binh sĩ lại cho sẵn sàng để tôi đi tìm đại ca.
Nói rồi quày quả ra đi.
Còn Ngưu Cang và Ngưu Kiện lúc này cướp được va mươi muôn chinh y đem về Ma Bàng sơn thì mở tiệc ăn mừng.
Trong lúc ăn uống, Ngưu Kiện chớt nhớ ra điều gì, vỗ ghế nói:
- Chúng ta không nghe lời khuyên của Lý Kế Anh nên làm bậy rồi. Vả chinh y này là của Dương Tôn Bảo, nếu nó biết được chúng ta đoạt chinh y không khỏi cử đại binh đến, lúc ấy làm sao chúng ta cự lại.
Ngưu Cang sửng sốt hồi lâu rồi nói:
- Hay là chúng ta đem trả lại cho chúng nó?
- Ngưu Kiện nói:
- Bây giờ việc đã lỡ rồi, nếu đem trải lại cũng không khỏi chết, chi bằng đem vàng ngọc của Tôn Tú mướn và ba mươi muôn chinh y đến Đại lang sơn mà dâng cho Táng Thiên vương rồi anh em ta cùng ở đó mà nương tựa. Như ngày sau Táng Thiên vương có thâu được giang sơn nhà Tống thì chúng ta cũng có quyền cao lộc cả.
Ngưu Cang khen phải liền truyền lâu la sắm sửa xe cộ, dọn hết các đồ binh khí và lương thảo cùng ba mươi muôn chinh y kéo qua Đại lang sơn.
Lúc này Dương Tôn Bảo đóng quân tại Tam Quan, thấy trời đã lập đông mà chinh y chưa giải đến, bèn sai Tiêu Đinh Quý đi đón mà hối thúc quân binh giải đến cho mau.
Tiêu Đình Quý tuân lệnh đi đến Ma Bàng sơn thì dừng ngựa lại nghĩ thầm:
- Trên núi này có hai thằng chủ trại vốn có quen với ta đây đã hơn mười năm. Vậy ta ghé lên đó mà ăn uống một bữa cho no nê rồi sẽ đi.
Nghĩ như vậy liền giục ngựa lên núi, té ra sơn trại nay bỏ trống, không còn một tên lâu la. Tiêu Đình Quý vội trở xuống lấy cơm khô ra mà ăn, rồi nằm dựa gốc cây mà ngủ.
Còn Ngưu Kiện và Ngưu Cang đến Đại Lang sơn vào ra mắt Táng Thiên vương dâng vàng ngọc và chinh y. Táng Thiên vương hỏi:
- Vậy chinh y ở đâu mà hai ngươi đem đến đây?
Ngưu Kiện liền thuật hết việc đoạt chinh y của Địch Thanh cho Táng Thiên vương nghe cà xin đầu hàng làm bộ hạ.
Táng Thiên vương mừng rỡ thâu các vật ấy và cho Ngưu Kiện và Ngưu Cang làm bộ hạ.
Nhắc lại Địch Thanh ngủ nhờ nơi chùa BÁO ÂN TỰ một đêm, sáng ra từ giã hòa thượng trở về trại. Hòa thượng nói:
- Bây giờ chinh y đã mất rồi, song ngài đừng buồn rầu, chẳng bao lâu thì chinh y cũng có lại đủ số.
Nói rồi hòa thượng móc một tấm giấy trong túi trao cho Địch Thanh, trong đó cho bài kệ như vầy:
 
Một ngựa một người vượt cõi tây
Chinh y tuy mất rủi mà may
Phải ngừa thích khách nơi đường sá
Sau sẽ thành công hết hiểm nguy.
Địch Thanh xem rồi chắp tay thưa với hòa thượng:
- Tôi đi lần này dữ nhiều lành ít, vậy xin hòa thượng mách bảo cho tôi một đôi điều về việc ngày sau.
Hòa thượng nói:
- Ngài là một người tôi lương đống của nhà Tống, dẫu có gì nguy hiểm rồi cũng qua khỏi, không can chi mà sợ.
Địch Thanh lạy tạ hòa thượng rồi từ giã ra đi.
Lúc này Tiêu Đình Quý ngủ một giấc, khi thức dậy thấy mặt trời đã lên cao thì lật đật lên ngựa trở về Tam Quan. Lúc đang đi lại gặp một người mặt đen từ đầu kia đi lại, và kêu lớn hỏi:
- Thằng mặt đen kia! Ngươi đi đâu đó có gặp Địch khâm sai ở đâu không?
Tiêu Đình Quý nghe nói nói rằng: nạt:
- Ngươi là ai sao dám cả gan gọi ta là thằng mặt đen? Vậy mặt ngươi không đen sao?
Lý Nghĩa đáp:
- Tôi là bộ hạ của Địch khâm sai, họ Lý tên Nghĩa đây.
Tiêu Đình Quý nói:
- À! Té ra ngươi là Lý Nghĩa có danh hiệu là Ly Sơn hổ, tức là cọp ra khỏi núi. Vậy thì đánh với ta vài hiệp chơi, để ta xem thử con cọp này có phải là cọp thật không, hay là loại mèo nằm bếp.
Nói rồi liền vung roi xốc tới đánh với Lý Nghĩa.

Lời bàn:
Giữa hai lớp người văn nhân và võ tướng tâm trạng thường khác nhau. Từ ngàn xưa, xã hội nào cũng gieo bất mãn cho một số người không chịu nổi thời cuộc.
Chế độ xã hội dù tốt đẹp đến đâu cũng không phục vụ trọn vẹn cho mọi tâm tư trong cuộc sống. Chính vì vậy mà có một lớp người bỏ ra ngoài, tức là ra khỏi ràng buộc xã hội.
Nhưng nếu là một văn nhân thì họ vào rừng núi lấy văn thơ làm bạn với gió trăng, sống cuộc đời thanh nhã, không đua chen vào thế sự, gọi là mai danh ẩn tích.
Còn nếu là võ tướng, gặp trường hợp phải rời thế sự thì họ cũng lên chốn núi rừng, nhưng họ lại chiêu tập lâu la, chiếm lãnh một vùng để thỏa mãn chí dọc ngang trong một cõi.
Như vậy, từ xưa những quan niệm lánh đời đều mãi mãi tồn tại nhưng nếu là văn nhân thì hành động theo thú vui khác, mà võ tướng thì hành động theo thú vui khác. Cốt cũng chỉ bộc lộ sư thích thú của mình trong cõi sống mà thôi.


*     *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-25 03:34:13Hoàng Dung>
hồi thứ hai mươi hai
Đình Quý đem lòng tham quấy
Lý Nghĩa hết dạ tìm anh

 
Lý Nghĩa thấy Tiêu Đình Quý xốc lại giao tranh thì nói:
- Tướng quân ơi! Tôi đang bận đi tìm Địch khâm sai, không rảnh mà đem tài năng ra giao đấu. Xin hẹn ngày khác.
Tiêu Đình Quý nói:
- Sao không nói cho sớm? Vậy Địch Thanh có phải là Địch khâm sai được phái đi giải chinh y không?
Lý Nghĩa nói:
- Đúng rồi!
Tiêu Đình Quý hỏi:
- Hai người cùng đi với nhau sao lại tìm nhau?
Lý Nghĩa nói:
- Hôm qua Địch khâm sai đi tìm chỗ đóng quân đến hôm nay mà chưa thấy về, nên tôi phải đi tìm.
Tiêu Đình Quý nói:
- Nay ta vâng lệnh Dương nguyên soái ra đón mà chinh y đây, hay là Địch Thanh sợ oai ta mà lánh mặt. Còn ngươi thì ăn tiền hối lộ nên tìm cách trì hoãn chăng?
Lý Nghĩa nổi giận nói:
-Đừng nói bậy! Địch khâm sai là người hoàng thân quốc thích chức trọng quyền cao, sao lại sợ ngươi mà lánh mặt? Hay là ngươi âm mưu hãm hại Địch khâm sai rồi tìm lời nói quấy?
Tiêu Đình Quý nói:
- Ta vâng lệnh Dương nguyên soái đến đây hối thúc chinh y, ngươi lại dám tìm lời vu họa cho ta sao? Nếu ngươi chọc đến ta thì ắt hồn về chín suối đó.
Lý Nghĩa nói:
- Ôi thôi! Chinh y đâu còn nữa mà hòng đốc thúc.
Tiêu Đình Quý nói:
- Sao lại không còn?
Lý Nghĩa nói:
- Chinh y bị lũ cường đạo trên Ma Bàng sơn cướp hết rồi, cho nên tôi phải đi tim Địch Thanh về mà đòi lại.
Tiêu Đình Quý nói:
- Nói bậy! Bọn cường đạo trên Ma Bàng sơn đâu còn nữa, chúng nó đã bỏ trốn hết rồi. Thôi ngươi hãy bó tay mà chịu tội, đặng ta dắt đến nguyên soái nạp cho rồi.
Lý Nghĩa nghe nói thất kinh, hỏi:
- Nếu vậy thì tính mạng Địch khâm sai còn gì?
Tiêu Đình Quý thấy Lý Nghĩa thất sắc như vậy thương tình nói:
- Thôi, chúng ta phải đi mỗi đứa một ngã tìm cho được Địch khâm sai rồi sẽ thương nghị.
Nói rồi liền quày quả ra đi. Còn Lý Nghĩa thì trở lại nói với Trương Trung hay, rồi tiếp tục chia nhau đi tìm kiếm.
Bây giờ Tiêu Đình Quý đi được vài dặm thì thấy một vị tướng quân đầu đội kim khôi, mình mặc kim giáp, tay cầm kim đao, cỡi một con ngựa rất cao lớn vừa đi đến. Tiêu Đình Quý thấy con ngựa thì nghĩ thầm:
- Con ngựa này tốt lắm, để ta giết người này bắt ngựa đem về nạp cho nguyên soái thì ắt được trọng thưởng.
Nghĩ như vậy liền liền núp vào một gốc cây đại thọ mà chờ.
Bấy giờ Địch Thanh ra khỏi chùa rồi thì cứ theo đại lộ mà đi thăng. Vừa đến cây đại thọ thì thấy một vị tướng quân nhảy ra nạt lớn:
- Haỹ đóng tiền mãi lộ thì mới được đi.
Địch Thanh nói:
- Ta đi vì việc nước, chỉ có một mình, tiền ạc đâu mà đóng mãi lộ.
Tiêu Đình Quý nói:
- Không có tiền thì phải để con ngựa lại.
Địch Thanh nói:
- Ta đang đi việc gấp, nhờ có con ngựa này mới kịp, không thể trao cho ai.
Tiêu Đình Quý nói:
- Nếu không để ngựa lại thì tính mạng ngươi không còn.
 Địch Thanh nổi nóng vung đao chém đầu Tiêu Đình Quý, làm cho Tiêu Đình Quý đỡ không nổi rơi roi xuống đất.
Tiêu Đình Quý thất kinh la lớn:
- Tướng quân ơi! Tôi không dám đòi tiền mãi lộ nữa, xin tướng quân chớ giận. Thôi tướng quân đi đi.
Địch Thanh nói:
- Bây giờ ta không muốn đi. Ngươi phải dâng lễ tống hành cho ta thì ta mới chịu.
Tiêu Đình Quý nói:
- Tôi không có tiền bạc chớ nếu có bao nhiêu cũng xin dâng.
Địch Thanh nói:
- Nếu không có tiền bạc thì dâng cái đầu cũng được.
Tiêu Đình Quý thất kinh vội quỳ xuống nói:
- Tôi không phải là cường đạo mà là bộ hạ của Dương nguyên soái sai tôi đến đón Địch khâm sai mà hối thúc chinh y. Lúc nãy tôi thấy ngài cưỡi con ngựa rất tốt nên làm bậy không ngờ ngài võ nghệ cao cường, xin ngài rộng lòng tha tội cho tôi.
Địch Thanh nói:
- Té ra ngươi là bộ hạ của Dương nguyên soái sai ra đốc thúc chinh y. Ta là Địch Thanh đây.
Tiêu Đình Quý nói:
- Nếu vậy thì tánh mạng tướng quân còn gì?
Địch Thanh hỏi :
- Tại sao vậy?
Tiêu Đình Quý thuật hết mọi việc mất chinh y cho Địch Thanh nghe.
Liền hỏi Tiêu Đình Quý:
- Vậy tướng quân có biết lũ cường đạo ấy đốt hết sơn trại mà đi đâu chăng?
Tiêu Đình Quý đáp:
- Tôi tưởng chúng nó không đi đâu xa ngoài Đại lang sơn mà nhập với bọn Táng Thiên vương.
Địch Thanh hỏi:
- Vậy tướng quân có biết Đại lang sơn ở đâu không?
Tiêu Đình Quý nói:
- Đừng có nói càn. Có lẽ tướng quân muốn đến đó mà liều mình chăng?
Địch Thanh hỏi:
- Nơi đó có gì nguy hiểm sao?
Tiêu Đình Quý nói:
- Ở Đại Lang sơn có Táng Thiên vương. Tử Nha Xai, Đại Mạnh Vương và Tiểu Mạnh Vương. Bo1ô người ấy đều là anh hùng vô địch, rất đỗi tài sức như Dương nguyên soái mà đánh mấy năm nay cũng không lại thay, huống chi tướng quân có nhất nhơn nhất mã sao dám đến đó.
Địch Thanh nói:
- Nếu tướng quân viết đường xin cứ dẫn tối đến đó xem sao.
Tiêu Đình Quý thấy Địch Thanh nói như vậy thì nghĩ thầm:
- Nó đã muốn chết thì mình cũng ra công dắt nó đến đó cho nó chết, chớ trước sau gì nó cũng phải chết mà thôi.
Nghĩ như vậy Tiêu Đình Quý nói:
- Nếu tướng quân muốn đi thì tôi cũng không tiếc gì công dẫn dắt, song tới đó tôi chỉ đứng xa xa, chớ không đến đó mà chết chùm với tướng quân đâu.
Nói rồi liền dẫn đường đưa Địch Thanh đi.
Đi được vài dặm thì thấy trước mặt có sông Yến Tử hà. Tiêu Đình Quý nói:
- Đường này có cách một con sông Yến Tử, nếu không muốn sang sông thì phải đi vòng quanh khá xa mới đến Đại Lang sơn được.
Địch Thanh nói:
- Xa gần gì chúng ta cũng đi.
Hai người liền vòng qua phía trên, đi được mười dặm thì thấy hòn núi rất cao, cờ xí rực rỡ. Địch Thanh hỏi:
- Núi ấy có phải là Đại Lang sơn không?
Tiêu Đình Quý nói:
- Phải. Nếu tướng quân có lên thì đi một mình chớ tôi không dám giúp đâu.
Địch Thanh nghe Tiêu Đình Quý nói như vậy liền giục ngựa thẳng lên chân núi và kêu lớn:
- Bớ thằng Táng Thiên vương! Ngươi phải trả lại chinh y cho ta, nếu không ta giết hết không chừa sót một đứa.
Quân sĩ thấy vậy vội vào báo. Táng Thiên vương nói:
- Có khi nó muốn nạp mình nên mới dám đến đây đòi chinh y.
Tử Nha Xai nói:
- Đây là tên tướng Tống, người có trách nhiệm giải chinh y đến Tam Quan đó.
Táng Thiên vương nói:
- Tướng ấy tài cán gì mà dám đến đây gây rối.
Nói rồi hối quân mang binh khí và khôi giáp đến nai nịt xong lên ngựa xuống núi đối địch.
Lúc ấy Địch Thanh đang đứng dưới chân núi xảy thấy một tướng mặt đen, mình cao một trượng, tay cầm thương giục ngựa đến nói:
- Ngươi có phải là Địch Thanh chăng? Ta xem tướng mạo ngươi như một nắm xương, sao ngươi dám cả gan đến đây khiêu chiến.
Địch Thanh hỏi:
- Vậy ngươi có phải là Táng Thiên vương không?
Táng Thiên vương nói:
- Đúng rồi! Ta là ngự đệ của Tây Hạ vương, đang làm giám quân tổng đô đốc đây.
Địch Thanh nói:
Ngươi đoạt chinh y của ta phải mau giao trại lại cho mau.
Táng Thiên vương cười lớn nói:
- Hèn chi lời tục có nói trâu nghé không biết sợ cọp thật là đúng. Rất đỗi Dương Tôn Bảo mà còn chưa dám đến đây xấc láo với ta như vậy, còn ngươi chỉ là đứa con nít mà thôi.
Địch Thanh nổi giận vung đao chém tới. Táng Thiên vương cùng Địch Thanh đánh hơn năm hiệp. Địch Thanh cự không lại, tay chân như muốn rời rã.
Còn Tiêu Đình Quý lúc này đang núp ở trong rừng ngóng cổ lên xem, thấy Địch Thanh cự không lại Táng Thiên vương thì kêu Địch Thanh nói:
- Địch vương thân ơi! Nếu đánh không lại Táng Thiên vương thì nên liều chết cho xong, nếu không thì để mất chinh y cũng không khỏi tội.
Địch Thanh nghe nói nổi giận liền thò tay vào túi lấy mũi tên thất tinh ra rồi niệm chú, tức thì mũi tên hóa ra một đạo bạch quan bắn vào Táng Thiên vương làm cho Táng Thiên vương nhào đầu xuống ngựa chết tốt.
Tiêu Đình Quý thấy vậy lật đật chạy ra cắt đầu Táng Thiên vương, còn Địch Thanh vũng vội vã thu mũi tên về bỏ vào túi.
Tiêu Đình Quý khen:
- Tướng quân có phép hay như vậy thì lấy Đại Lang sơn không có gì khó.
Địch Thanh nói:
- Vậy thì tướng quân hãy giữ lấy thủ cấp đặng tôi lên núi đòi lại chinh y để kịp ngày giải đến Tam Quan.
Tiêu Đình Quý nói:
- Tướng quân ráng mà giết cho được Tử Nha Xai thì mới có thể thu hồi chinh y được.
Địch Thanh nghe theo, liền giục ngựa trở lại chân núi kêu lớn:
- Bọn Tử Nha Xai! Hãy mau đem trả chinh y cho ta kẻo ta phá nát sào huyệt.
Tử Nha Xai nghe tin Táng Thiên vương bị giết, thất kinh, lật đật lên ngựa kéo quân xuống núi.
Vừa trông thấy Địch Thanh, Tử Nha Xai nạt lớn:
- Sao ngươi dám dùng tà thuật giết hại đại vương ta?
Địch Thanh hỏi:
- Ngươi có phải là Tử Nha Xai không?
Tử Nha Xai nói:
- Ngươi đã biết tên ta sao còn dám đến đây nạp mạng?
Nói rồi vung đao đến đâm Địch Thanh. Hai bên đánh được mười hiệp, chưa rõ ai thua. Tiêu Đình Quý thấy vậy hô lớn:
- Địch khâm sai! Đấu sức không lại nó đâu. Phải dùng phép mới trừ được nó.
Địch Thanh nghe nói liền thò tay vào túi lấy tấm Kim diện bài ra trước mặt rồi niệm thần chú, tức thì Tử Nha Xai bị hộc máu nhào xuống ngựa chết tốt. Địch Thanh vung đao chém đầu Tử Nha Xai. Tiêu Đình Quý thấy vậy khen:
- Hay lắm! Té ra tướng quân lại có một phép nữa cũng rất lợi hại.
Nói rồi chạy đến lấy thủ cấp của Tử Nha Xai cột chung với thủ cấp Táng Thiên vương chạy tuốt về Tam Quan.
Còn Địch Thanh thì đánh nhau với Phiên binh, làm cho chúng chạy tứ tán.
Bấy giờ trên núi còn hai đại tướng là Đại Mạnh Dương và Tiểu Mạnh Dương hay tin liền đốc lâu la xuống núi vây Địch Thanh cố báo thù. Địch Thanh rán hết sức chống cự một hồi, bọn lâu la đánh không lại nên ta rã. Đại Mạnh Dương và Tiểu Mạnh Dương cũng sợ hãi kéo lâu la bỏ qua Bát Quái sơn mà ẩn trú.
Địch Thanh thừa thắng giục ngựa lên Đại Lang sơn nhưng vừa lên đến đỉnh thì bị anh em Ngưu Kiện hối quân bắn tên xuống như mưa, làm cho Địch Thanh không dám xông lên nữa, phải lui xuống trở về trại. Nhưng khi xuống đến chân núi thì không thấy Tiêu Đình Quý đâu cả.

Lời bàn:
Háo danh là một cái bệnh của kẻ bất tài.
Cuộc sống trong xã hội, kẻ có tài thường lập nên sự nghiệp, để tiếng ngàn thu. Còn kẻ bất tài thì cũng muốn mình được như vậy, nhưng vì tài năng không có nên không thực hiện được.
Bởi vậy, những kẻ bất tài do tánh háo danh thường hay nói xấu chê bai những kẻ khác để đề cao giá trị của mình. Còn có những kẻ vì háo danh mà phô trương một vài công tác nhỏ mọn của mình và đắc ý khi được kẻ nịnh bợ ca tụng.
Trong trường hợp này, Tiêu Đình Quý vì tính háo danh nên đã đoạt công của Địch Thanh để khoe khoang với kẻ khác là mình đã giết được hai tên tướng cướp nổi tiếng trong vùng.
Tánh háo danh của con người còn thể hiện rất nhiều dạng, nhưng hầu hết những kẻ háo danh là những kẻ bất tài, còn kẻ có tài không cần phải háo danh, vì tài năng của họ tự nhiên đã đem danh tiếng lại cho họ rồi.

*     *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-25 19:10:28Hoàng Dung>
hồi thứ hai mươi ba
Mê rượu Tiêu Đình Quý bị hại
Tham công kẻ gian tặc bày mưu
 

Bấy giờ Lý Thành làm chức thủ bị ở giữ Ngũ Vân Tấn, có vợ là Trầm thị (em ruột Trầm Quốc Thanh đang làm ngự sử tại trào) sanh được đứa con trai tên là Lý Đại.
Khi nghe quân báo có Tiêu Đình Quý đến thì lật đật ra đón tiếp mời vào dinh.
Thấy Tiêu Đình Quý có hai cái thủ cấp xách theo nên Lý Thành hỏi:
- Thủ cấp ở đâu mà tướng quân quẩy theo như vậy?
Tiêu Đình Quý nói:
- Ấy là thủ cấp của Táng Thiên vương cà Tử Nha Xai đó.
Lý Thành nói:
- Táng Thiên vương và Tử Nha Xai là hai tên cướp nổi tiếng xưa nay chưa ai dám giao tranh, rất đỗi Dương nguyên soái mà còn đánh không lại thay, sao tướng quân lại giết được nó?
Tiêu Đình Quý nói:
- Ngươi nói ta giết chúng nó không được vậy hãy xem thử hai cái đầu này của ai?
Lý Thành bước lại xem thì thấy quả nhiên là hai cái đầu của Táng Thiên vương và Tử Nha Xai, liền nói:
- Quả thật là thủ cấp của hai tướng cướp ấy, song không biết tướng quân làm sao mà giết được?
Tiêu Đình Quý nói:
- Táng Thiên vương bị tôi bắn một mũi tên, Tử Nha Xai bị tôi chém một đao, còn Đại Mạnh Dương và Tiểu Mạnh Dương bị tôi đánh một trận chúng nó bỏ trốn hết rồi.
Lý Thành nói:
- Nếu vậy công của tướng quân rất lớn, chưa ai bì kịp.
Tiêu Đình Quý nói:
- Nay ta lập đặng công lớn như vậy, ngươi lấy chi mà đãi ta?
Lý Thành nói:
- Thật tôi cũng có lòng muốn đãi tướng quân, song đêm hôm không sửa soạn kịp, chỉ có rượu ngon ở đây mà thôi.
Tiêu Đình Quý nói:
- Có rượu đem đây uống chơi cũng được, cần gì phải có món ngon vật lạ.
Lý Thành lật đật lấy rượu ngon đem ra cho Tiêu Đình Quý uống.
Lúc ấy Tiêu Đình Quý phần thì đói bụng, phần thì thèm rượu nên uống cho đến say mèm.
Lý Thành thấy Tiêu Đình Quý say như chết thì bàn với vợ:
- Nay Tiêu Đình Quý lấy được hai cái thủ cấp này thì công lớn biết dường nào. Nay nó say mèm rồi thì ta giết nó đoạt lấy công ấy, ắt đặng quyền cao chức trọng.
Trầm thị mừng rỡ nói:
- Thế thì dịp may đem đến không nên bỏ qua.
Nói rồi liền gọi con là Lý Đại cùng bàn bạc để làm chuyện ấy.
Lý Đại nói:
- Nếu cha muốn tính việc này thì phải làm cho kín đáo, nếu để lậu chuyện rất nguy hiểm.
Lý Thành nói:
- Thì phải làm cho kín đaó mới được.
Nói rồi liền đem dây ra trói Tiêu Đình Quý rồi cầm đao muốn chém.
Lý Đại thấy vậy nói:
- Không cần giết nó bằng gươm đao. Cha con ta khiêng nó đem ném xuống sông cho mất xác thì hay hơn.
Hai cha con trù tính xong liền khiêng Tiêu Đình Quý ném xuống sông Yến Tử rồi trở về sắp đặt gói hai cái thủ cấp đem đến Tam Quan mà dâng công.
Bấy giờ Địch Thanh khi thoát ra khỏi còng vây rồi thì muốn lên núi mà đánh nữa, nhưng bị anh em Ngưu Kiện bắn tên không lên nổi, nên phải trở về. Lúc đến sông Yến Tử thì con ngựa không chịu đi vòng mà nhảy xuống nước chạy như bay. Địch Thanh lấy làm lạ không biết cớ gì. Lúc về đến trại thì Trương Trung, Lý Nghĩa và Lý Kế Anh ra đón thuật hết mọi việc cho Địch Thanh nghe.
Địch Thanh nói:
- Không hề gì. Mất chinh y là việc nhỏ, không cần lo.
Trương Trung nói:
- Cha chả! Mất chinh y mà đại ca cho là việc nhỏ thì còn việc gì lớn hơn nữa?
Địch Thanh nói:
- Hiền đệ chưa biết, tuy mất chinh  y nhưng ta đã lập được công lớn. Vậy Dương nguyên soái sẽ lấy công đền tội.
Trương Trung hỏi:
- Vậy đại ca lập được công gì?
Địch Thanh nói:
- Ta giết được Táng Thiên vương, Tử Nha Xai và đánh dẹp quân Tây Hạ đều chạy tứ tán. Công như vậy mà đền tội không được sao?
Trương Trung, Lý Nghĩa nghe nói liền hỏi:
- Vậy đại ca giết được chúng mó mà có lấy được thủ cấp không?
Địch Thanh hỏi:
- Chớ Tiêu Đình Quý không đến đây sao?
Trương Trung, Lý Nghĩa đêù nói:
- Chẳng thấy ai hết.
Địch Thanh nói:
- Tiêu Đình Quý quảy hai cái thủ cấp về trước rồi, ta tưởng là nó đã đem về đây, té ra không có. Hay là nó đem thẳng về Tam Quan rồi chăng?
Trương Trung nói:
- Có lẽ nó đem thẳng về Tam Quan mà mạo nhận công lao đó.
Địch Thanh nói:
- Không lẽ nó dám mạo nhận công lao như vậy. Thôi, chúng ta phải phải đến đó coi thử Dương nguyên soái tính thế nào?
Hai người vâng lời cùng nhau kéo binh đi thẳng về Tam Quan.
Lúc này cha con Lý Thành đem hai cái thủ cấp đến dâng Dương nguyên soái.
Dương nguyên soái nói:
- Cha con ngươi không có tài năng gì sau lại giết được hai tướng này?
Lý Thành thưa:
- Khi ban đêm hai cha con tôi đi tuần gặp hai người say rượu đi ngã tới ngã lui, tay cầm binh khí không vững, hỏi ra thì một người xưng là Táng Thiên vương, một người xưng là Tử Nha Xai. Hai người ấy đến hỏi tôi có biết nơi nào chứa đĩ không. Tôi thấy hai người ấy đã sau mà không cầm khí giới nổi, tôi mới bắn Táng Thiên vương một mũi tên, còn con tôi là Lý Đại thì chém Tử Nha Xai một đao, lấy hai thủ cấp đến đây mà dâng công.
Dương nguyên soái nghe nói thì cũng tin là thiệt, nên nói với Lý Thành:
- Ấy cũng là phước của cha con ngươi, mà cũng may cho triều đình và lê dân được bình an. Thôi để ta dâng biểu mà xin phong quan tước cho cha con ngươi.
Nói rồi liền truyền quân dọn tiệc mà thết đãi cha con Lý Thành.
Trong lúc đang ăn uống có quân sĩ vào báo:
- Nay có Địch khâm sai là người giải chinh y đến phê trình văn và xin ra mắt nguyên soái. Trong phê văn ấy thì trễ quá sáu ngày. Vậy nguyên soái định liệu thế nào.
Dương nguyên soái nói:
- Nếu vậy cũng còn quá hết một ngày, vậy thì bắt trói Địch Thanh lại mà dẫn vào đây.
Phạm Trọng Yêm và Dương Thanh đồng can:
- trời tháng này có tuyết sa lạnh lẽo, mà Địch Thanh trễ đây chỉ có quá nửa ngày thôi, xin nguyên soái rộng dung cho kẻ đi đường khổ sở.
Nguyên soái nói:
- Vậy thì xin nhị vị hãy ra đó mà điểm binh, xem lại chinh y có đủ số chăng?
Hai người ấy vội vã ra ngoài cửa ải tiếp rước Địch Thanh và hỏi:
- Túc hạ có phải là Địch khâm sai chăng?
Địch Thanh nói:
- Phải! Còn nhi vị là ai mà tôi không biết.
Hai người đồng đáp:
- Chúng tôi là Phạm Trọng Yêm và Dương Thanh đây.
Địch Thanh nói:
- Vậy tôi không rõ, xin hai vị miễn chấp.
Nói rồi liền lấy ra hai phong thơ, trong cho Phạm Trọng Yêm và nói:
- Thơ này là thơ của Bao thị chế khiến tôi trao lại cho ngài.
Địch Thanh lại lấy ra một phong thơ trao cho Dương Thanh và nói:
- Hàng thượng thơ khiến tôi trao cho Dương tướng quân một phong thơ này.
Dương Thanh liền nhận thơ bỏ vào túi, còn Phạm Trọng Yêm hỏi Địch Thanh:
- Vậy chinh y ngài đem đến đây chưa?
Địch Thanh nói:
- Đem đến rồi, song còn để tại Đại Lang sơn. Vì bị quân cường đạo cướp hết mà giải qua Đại Lang sơn rồi.
Phạm Trọng Yêm nói:
- Nói vậy ngài đành bó tay chịu tội rồi sao?
Dương Thanh nói:
- Trễ nải một ngày hay nửa ngày còn còn có thể can gián được, còn để mất chinh y thì chúng tôi không biết kế chi để cứu ngài.

Lời bàn:
 Kỷ luật nghiêm khắc chỉ là hình thức để trừng trị những kẻ có tình làm sai, phá rối kỷ cương của trật tự xã hội. Nhưng nó lại là con dao hai lưỡi để những kẻ gian mạnh lợi dụng nó mà phá rồi trật tự, làm mất lẽ công bằng.
Dương Tôn Bảo nắm quyền nguyên soái, quyền uy trong tay mà chỉ biết có kỷ luật cứng rắn, không hề để ý những hoàn cảnh khách quan xảy đến cho mỗi sự việc, thì đó cũng là một nhược điểm đáng suy gẫm cho những kẻ đang nắm quyền uy đối với thuộc hạ. Sự việc trong đời không phải lúc này cũng bất di bất dịch như ý muốn của mình. Kỷ luật khi nó nằm trong lẽ phải, tức là nằm trong thực tế của sự việc thì kỷ luật ấy mới là cơ bản ưu tú để răn đời. Còn chỉ dùng nó như một tảng đá, thì đó là lợi khí của những kẻ xảo quyệt lợi dụng để tránh né, hoặc ám hại những kẻ bị rủi ro mà thôi.

*     *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-25 19:18:20Hoàng Dung>
hồi thứ hai mươi bốn
Họ Dương nổi giận nơi soái phủ
Chàng Địch kể công tại trướng tiền
 

Bấy giờ Dương Thanh và Phạm Trọng Yêm nghe Địch Thanh kể lại đầu đuôi câu chuyện thì kinh hãi nói:
- Nếu chinh y bị mất thì tánh mạng ngài không còn.
Địch Thanh nói:
- Tuy ngày nay mất hết chinh y, nhưng tôi sẽ đòi lại được, mà dẫu có đòi không được thì cũng không đến nỗi chết, vì tôi đã lập được công rất lớn.
Phạm Trọng Yêm hỏi:
- Ngài có công gì mà có thể chuộc được tội ấy?
Địch Thanh nói:
- Hôm qua tôi giết được Táng Thiên vương Tử Nha Xai, vậy công ấy không thể chuộc tội được hay sao?
Dương Thanh hỏi:
- Vậy ngài có chi làm bằng cớ không?
Địch Thanh nói:
- Sao lại không. Cả hai thủ của của hai tên ấy tôi đã giao cho Tiêu Đình Quý đem về trước. Chẳng lẽ đến bây giờ mà chưa về hay sao?
Phạm Trọng Yêm nghe nói liền quay lại nói với Dương Thanh:
- Lạ thật! Sao thủ cấp nào mà Lý Thành đem dâng nó, còn thủ nào mà Địch khâm sai giao cho Tiêu Đình Quý đem về. Việc này tôi rất hồ nghi. Song Tiêu Đình Quý chưa về thì không biết sự thực ra sao. Còn việc chinh y đây chúng ta phải lập kế mà nói cho Dương nguyên soái đình lại chờ Tiêu Đình Quý về rồi xét cho rõ ràng. Nếu chúng ta vào mà nói chinh y bị mất rồi thì Dương nguyên soái vốn có tính nóng ắt hối quân bắt chém Địch Thanh lập tức.
Dương Thanh nói:
- Vậy chúng ta vào mà nói dối rằng chinh y có rồi, đặng cho mọi việc an ổn, chờ Tiêu Đình Quý về sẽ hay.
Bàn tính xong, hai người dắt vào ra mắt Dương nguyên soái, đồng thời dắt Địch Thanh cùng đi.
Dương nguyên soái hỏi:
- Vậy chớ chinh y đủ số chưa?
Duơng Thanh nói:
- Chinh y đã đủ số rồi.
Dương nguyên soái hỏi Địch Thanh:
- Trong tờ phê văn có nói phó giải quan là Thạch Ngọc, sao không thấy Thạch Ngọc đến đây?
Địch Thanh liền thuật hết các việc Thạch Ngọc bị yêu quái bắt nơi quán dịch tại huyện Nhơn An cho nguyên soái nghe.
Dương nguyên soái hỏi:
- Vậy trong tờ kỳ một tháng, lịnh thiên tử cho thêm năm ngày, sao còn trễ như vậy.
Vì mấy ngày tuyết xuống lạnh lẽo quân sĩ không đi được nên mới trễ, xin nguyên soái rộng dung cho tôi nhờ.
Dương nguyên soái liền kêu Mạnh Đinh Quốc bảo ra phát chinh y cho quân sĩ, kẻo lâu ngày lạnh lẽo.
Địch Thanh nghe nói liền thưa:
- Xin nguyên soái hãy để chậm lại.
Dương nguyên soái hỏi:
- Tại sao vậy?
Địch Thanh thưa:
- Chinh y mất hết rồi còn chi đâu mà phát.
Dương nguyên soái hỏi:
- Sao lại mất đi, mất lúc nào?
Địch Thanh thuật lại chuyện mất chinh y tại Ma Bàng sơn cho nguyên soái nghe.
Dương nguyên soái nổi nóng vỗ ghế hét:
- Chinh y là vật quan trọng, sao ngươi sơ suất để đến nỗi bị chúng cướp mất, ấy là tội khi quân.
Nói rồi kêu quân sĩ bắt Địch Thanh cởi hết áo mão rồi dẫn đi.
Địch Thanh nói lớn:
- Tuy là chinh y bị mất hết, song tôi đã lập được công lớn lẽ nào không chuộc được tội.
Phạm Trọng Yêm thấy vậy thưa:
- Địch khâm sai xưng rằng đã lập được công lớn, vậy nguyên soái phải hỏi lại cho rõ ràng rồi mới chém.
Nguyên soái nói:
- Công gì mà trừ được tội này?
Địch Thanh nói lớn:
- Việc mất chinh y đây không phải một mình tôi có tội, mà cả nguyên soái cũng có tội nữa.
Dương nguyên soái nghe nói vỗ ghế hỏi:
- Ngươi là mất chinh y  mà lại đổ tội cho ta hay sao?
Địch Thanh nói:
- Vả Ma Bàng sơn cách tam Quan không đầy hai trăm dặm mà nguyên soái là người có trách nhiệm trấn giữ lại dung cho loài cường đạo ở trong địa phận mình, đến nỗi nó cướp đoạt chinh y của triều đình, ấy không phải là nguyên soái không làm tròn bổn phận của mình không?
Dương nguyên soái nghe Địch Thanh nói như vậy thì nghĩ thầm:
- Lời Địch Thanh nói có lý, nếu lấy lẽ ra thì ta cũng phải chịu chung trách nhiệm.
Nghĩ như vậy nguyên soái nói:
- Khi nãy ngươi nói đã lập công lớn để xin chuộc tội, vậy thì đó là công gì?
Địch Thanh nói:
- Đó là công trận chớ công gì.
Dương nguyên soái hỏi:
- Công trận gì ở đâu?
 Địch Thanh nói:
- Vậy chớ giết được Táng Thiên vương và Tử Nha Xai không phải là công trận hay sao?
Dương nguyên soái nói:
-Táng Thiên vương Tử Nha Xai thì hai cha con Lý Thành đã giết chết rồi, còn đâu nữa mà ngươi giết? Chính cha con Lý Thành đã đem thủ cấp hai người ấy nạp nơi đây.
Địch Thanh nói:
- Hai cái thủ cấp ấy tôi đã giao cho Tiêu Đình Quý đem về nạp sao lại bảo là của cha con Lý Thành?
Dương nguyên soái nghe nói trong lòng sanh nghi, hỏi chư tướng:
- Tiêu Đình Quý ta sai đi đón chinh y đến bây giờ đã về chưa?
Chư tướng thưa:
- Tiêu Đình Quý chưa về.
Dương nguyên soái nghe nói lại càng sanh nghi hơn nữa, còn đang ngẫm nghĩ thì có quân vào báo:
- Ngoài cửa quân sĩ vừa lượm được một phong thơ có đề tám chữ: Cháu nội là Dương Tôn Bảo xem thơ.Dương nguyên soái xem thấy biết là thơ của bà nội dặn dò về việc Địch Thanh, nên nói với Phạm Trọng Yêm:
- Nay hai cái thủ cấp thì hai cha con của Lý Thành xưng là công của mình, còn Địch Thanh cũng nói như vậy, chứa biết thiệt giả ra sao, vậy đợi Tiêu Đình Quý về đây rồi mới cứu xét được.
Tuy nhiên vì nóng lòng nên nguyên soái cho gọi Lý Thành ra đối nại.
Lý Thành nói:
- Bởi tôi giết được nên tôi mới có thủ cấp ấy.
Địch Thanh làm thinh không nói lời nào hết. Dương Nguyên soái thấy vậy hỏi Địch Thanh:
- Ngươi nói là công trận của ngươi, sao ngươi không đối nại với Lý Thành?
Địch Thanh nói:
- Lý Thành là người bậc nào, còn tôi là người bậc nào mà Nguyên soái lại khinh bạc tôi như vậy? Vả tôi đây là bậc nhất phẩm triều đình, đã bị trói lại lột hết áo mão, ngồi dưới đất mà đối nại với Lý Thành làm sao?
Nguyên soái thấy Địch Thanh nói có lý liền hối quân mở trói cho Địch Thanh, và đem áo mão cho Địch Thanh mặc.
Địch Thanh ngồi lên ghế, rồi lớn 'tiếng nói:
- Nếu bây giờ muốn cho minh bạch việc này phải chờ Tiêu Đình Quý về đây sẽ đối chứng, cho tôi mà đối nại với Lý Thành thì mất thể diện tôi nhiều lắm.
Nguyên soái khiến Trầm Đạt qua Ngữ Vân trấn mà tra chứng xem thử đêm 13 vừa qua có Táng Thiên vương và ĩ'ử Nha Xai say rượu đi dạo chăng?
Trầm Đạt vâng lời đến nơi dò hỏi. Dương Nguyên soái lại sai quân sĩ đi khắp nơi tìm Tiêu Đình Quý.
Truyền lệnh xong, Nguyên soái trở về hậu dinh an nghỉ còn việc ấy giam lại đó chờ xét xử sau.
Phạm Trọng Yêm thấy Nguyên soái vào rồi thì cười lớn nói với Dương Thanh:
- Lúc nãy Nguyên soái có vẻ nóng nảy, nhưng sau khi xem thơ của bà Dư Thái quân thì có vẻ trầm tĩnh rồi. Vậy thì chúng ta cứ an lòng chờ Tiêu Đình Quý về đây sẽ cùng nhau tham luận.
Nói rồi hai người mời Địch Thanh về nơi quán dịch an nghỉ.
Còn Tiêu Đình Quý sau khi bị cha con Lý Thành đem bị xuống sông, vì lúc đêm tối cha con Lý Thành vội vã đem ném xuống chỗ nước cạn, nên Tiêu Đình Quý không bị chết đuối. Lúc tỉnh rượu, Tiêu Đình Quý thấy mình bị trói, bỏ xuống nước, thì biết là âm mưu của cha con Lý Thành. Sáng hồng sau nhờ có một gã tiều phu đi ngang qua đó thấy vậy lội xuống mở trói cho Tiêu Đình Quý.
Tiêu Đình Quý lên được trên bờ rồi liền nói với gã tiền phu:
- Tôi mà sống được cũng nhờ ơn ông, vậy xin ông theo tôi về Tam Quan, đặng tôi đền ơn cho ông chút đỉnh.
Tiều phu nói:
- Ấy là chuyện làm phước, tôi có cần gì trả ơn. Thôi để tôi đi đốn củi kẻo trưa.
Nói rồi vội vã ra đi.
Tiêu Đình Quý vội trở lại Ngũ Vân trấn trong lúc Trầm Đạt đang tra xét quân sĩ và dân tình, thấy Tiêu Đình Quý về thì mừng rỡ hỏi:
- Vậy chớ tướng công đi đâu mất để xảy ra việc mạo công này?
Tiêu Đình Quý hỏi:
- Chẳng hay chuyện mạo công như thế nào?
Trầm Đạt liền thuật hết câu chuyện của Địch Thanh và Lý Thành cho Tiêu Đình Quý nghe.
Tiêu Đình Quý ngẫm nghĩ giây lát rồi nói:
- À? Té ra vì việc này mà cha con Lý Thành cho ta uống rượu rồi trói bỏ xuống sông đây. Cha con Lý Thành thật tàn bạo và bất nhân. Nó muốn đoạt công của Địch Khâm sai mà đành đoạn hại tôi. May không có gã tiều phu giải cứu thì tôi chết mất rồi.
Trầm Đạt nói:
- Vậy thì đầu đuôi câu chuyện thế nào xin tướng quân nói cho tôi rõ.
Tiêu Đình Quý liền thuật hết mọi việc đã xảy ra cho Trầm Đạt nghe.
Trầm Đạt nói:
- Nếu vậy thì tội Lý Thành đáng chết.
Tiêu Đình Quý hỏi:
- Bây giờ Lý Thành ở đâu?
Trầm Đạt nói:
- Đang ở tại Tam Quan. Vậy tướng quân hãy đi với tôi về Tam Quan mà đối nại việc ấy.
Tiêu Đình Quý nghe nói liền đi theo Trầm Đạt trở về Tam Quan.
 
Lời bàn:
Quyền cao chức trọng thì ai cũng ham, vì nó là nguồn gốc của sự sung sướng trong cuộc sống con người. Nhưng vì tâm lý giữa kẻ quân tử và tiểu nhân có khác biệt:
Người quân tử thì biết trọng danh dự mình, nên dù được phong thưởng nhưng không xứng đáng thì không nhận vì họ chỉ nhận những gì do họ làm được, và hưởng những gì của họ làm ra. Còn kẻ tiểu nhân vì bất tài, nhưng muốn được hưởng thụ nên không kể đến danh dự, chỉ cốt làm sao được hưởng thụ là sung sướng rồi.
Do đó, kẻ tiểu nhân thường âm mưu tước đoạt quyền lợi và công lao của kẻ khác.
Trường hợp bọn Lý Thành điển hình cho hành động của kẻ tiểu nhân ham lợi, nhẫn tâm giết cả người thân của mình, coi quyền lợi là trên hết. 
 

*        *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-25 22:15:45Hoàng Dung>
hồi thứ hai mươi lăm
 Lý Thành già lời non lẽ
Đình Quý lời thật dễ nghe
 
Tiêu Đình Quý và Trầm Đạt về đến Tam Quan vào ra mắt Dương Nguyên soái thuật lại mọi điều.
Nguyên soái hỏi:
- Nay câu chuyện Lý Thành mạo công tuy đã rõ ràng song phải đối chứng cho phân minh.
Nói rồi sai Mạnh Đình Quốc đòi cha con Lý Thành vào ra mắt:
Lý Thành vào quỳ lạy thưa:
- Cha con tôi là người hữu công vô tội, sao Nguyên soái lại bắt như vậy?
Dương Nguyên soái nói:
- Ngươi nói cha con ngươi giết Táng Thiên vương và Tử Nha Xai sao ta sai người đi dò xét thì ai cũng nói không thấy việc đó
Lý Thành nói:
- Vì lúc ấy trời khuya nên không ai trông thấy cũng phải.
Dương Nguyên soái nạt lớn:
- Vậy chớ cha con ngươi ép Tiêu Đình Quý uống rượu rồi trói đem bỏ xuống sông Yến Tử là vì ý gì?
Lý Thành nghe nói thất sắc thưa:
- Việc ấy thật tôi không hay biết gì cả.
Nguyên soái truyền đòi Tiêu Đình Quý đến đối chứng:
- Tiêu Đình Quý vào đến soái phủ thấy cha con Lý Thành thì nổi nóng xốc lại đạp cho một đạp, nói:
- Ngươi là quân tàn nhẫn, bất nhân, ngươi muốn đoạt công trận của Địch Khâm sai, gạt ta uống rượu rồi trói ta bỏ xuống sông chiếm đoạt hai cái thủ cấp. Nếu không có gã tiều phu cứu mạng thì ta còn gì. Thôi, để ta xin Nguyên soái đem cha con ngươi bỏ xuống sông, làm y như ngươi đã hành động với ta lúc đó.
Lý Thành bị một đạp đau quá khóc om sòm. Phạm Trọng Yêm thấy vậy nói:
- Tiêu Đình Quý giữa soái phủ không nên vô lễ như vậy.
Dương Nguyên soái hỏi:
- Ta sai ngươi đi đón Địch Khâm sai đặng lấy chinh y sao ngươi trở lại Ngũ Vân trấn làm chi?
Tiêu Đình Quý liền thuật hết mọi việc cho Nguyên soái nghe.
Nguyên soái hỏi Lý Thành:
- Chứng cớ đã rõ ràng như vậy ngươi còn chưa chịu sao?
Lý Thành nói:
- Việc ấy chỉ nói bằng miệng lấy chi làm bằng cớ. Xin Nguyên soái cứ theo quân pháp mà luận hễ ai được thủ cấp thì có công trạng, để khỏi mất công bình.
Nguyên soái nói:
- Ngươi nói ngươi giết được hai tướng ấy vậy ngươi có biết chúng nó mặc giáp gì, cầm vũ khí gì chăng?
Lý Thành nói:
- Táng Thiên vương đội huyền bi mão, mình mặc hồng bào, còn Tử Nha Xai thì mặc lạc bào
Vừa nói dứt lời thì Tiêu Đình Quý nạt lớn:
- Nói bậy! Táng Thiên vương đội mũ kim khôi, nên khi ấy ta lấy được chiếc ngù mũ, bây giờ còn đây.
 
Nói rồi móc túi lấy ra chiếc ngù mũ đưa cho mọi người xem.
 Dương Nguyên soái thấy vậy bèn nạt Lý Thành, trách:
 - Lý Thành! Ngươi thật già mồm. Bây giờ còn gì để nói chăng?
 Lý Thành nói:
 - Chứng cớ như vậy cũng chưa chắc, vì Địch Thanh làm mất chinh y rồi sợ bị tội nên lo tốt với Tiêu Đình Quý làm như vậy để kể công chuộc tội.
Phạm Trọng Yêm nói:
 - Lý Thành? Ngươi nói cha con ngươi giết được Táng Thiên vương và Tử Nha Xai, vậy khi lấy được thủ cấp rồi ngươi có biết hai cái thây của chúng nó hiện giờ ở đâu không?
Lý Thành nói:
- Khi hai tướng ấy đi dạo chơi có dắt theo bốn tên tùy tùng, cho nên lúc tôi giết được chúng nó thì bốn tên tùy tùng đã mang xác đem đi rồi.
Phạm Trọng Yếm nói:
- Còn hai con ngựa của chúng nó đâu?
Lý Thành nói:
-Khi hai tướng ấy đi dạo ban đêm nên không cỡi ngựa.
Địch Thanh nghe nói cười lớn:
- Ta thấy ngươi thật già hàm.
Vừa nói dứt lời thì có quân vào báo:
- Nay có Ngũ Tư Phong ở trên Bát quái sơn đi với Đại Mạnh Dương và Tiểu Mạnh Dương đem ba mươi muôn binh đến vây Tam Quan, lại kêu Địch Thanh ra đánh để trả thù cho Táng Thiên vương và Tử Nha Xai. Xin Nguyên soái định liệu.
Dương Nguyên soái nghe báo thì kêu Lý Thành nói:
- Ngươi nói cha con ngươi giết hai tướng ấy, sao bây giờ chúng nó không kêu ngươi ra mà trả thù, lại gọi Địch Thanh?
Lý Thành nói:
- Ý chúng nó muốn đánh với ai thì đánh, tôi làm sao biết được.
Dương Nguyên soái nói:
- Đến nỗi như vậy mà ngươi còn chưa chịu là gian dối thì thật là già mồm.
Lúc ấy lại có quân vào báo:
- Ngũ Tư Phong đốc binh phá thành rất gấp, cứ kêu tên Địch Khâm sai mà mắng nhiếc.
Địch Thanh nghe nói nổi giận liền đứng dậy thưa với Nguyên soái:
- Xin cho tôi ra đánh một trận đặng lập công.
Dương Nguyên soái chưa kịp nói thì Tiêu Đình Quý lật đật đứng dậy nói:
- Khoan đã, tuy Địch Khâm sai võ nghệ cao cường, so trận này không nên ra đánh, hãy để cha con Lý Thành đánh một trận đã, như cha con Lý Thành giết được Ngũ Tư  Phong thì công thuộc về hai cha con Lý Thành.
Dương Nguyên soái nghe theo lời Tiêu Đình Quý liền sai cha con Lý Thành ra trận và khiến Phạm Trọng Yếm ra lướt trận.
Cha con Lý Thành nghe nói thất kinh, lật đật quỳ lạy nói:
- Tuy cha con tôi là quan võ, song chức vụ chỉ biết đi tuần hành đây đó, nếu ra trận mạc thì tôi không dám.
Nguyên soái nạt lớn:
- Ngươi cũng là quan võ, người ta cũng là quan võ, nếu ngươi sợ chết mà không đi thì kẻ khác cũng sợ chết như ngươi thì còn ai đi chiến đấu.
Tiêu Đình Quý nói:
- Quan võ sao không dám ra trận, nếu vậy triều đình ban bổng lộc chẳng uổng phí sao?
Lý Thành liệu bề xin không được, bất đắc dĩ phải vâng mạng lãnh một muôn binh kéo ra ngoài thành.
Địch Thanh thấy vậy thưa với Nguyên soái:
- Vả Lý Thành ra trận đây chắc là bị giặc giết và làm rối loạn binh mã. Xin Nguyên soái cho tôi theo ứng cứu, giúp Lý Thành đánh với Ngũ Tư Phong.
Dương Nguyên soái nói:
- Lời ấy cũng phải, song Khâm sai phải cẩn thận cho lắm, Vì Ngũ Tư Phong là một danh tướng bên Tây Hạ.
Nói rồi liền cấp cho Địch Thanh hai muôn binh kéo ra tiếp ứng cho Lý Thành.
Bấy giờ Ngũ Tư Phong, Đại Mạnh Dương và Tiểu Mạnh Dương đem ba mươi muôn binh vây hãm Tam Quan, xảy thấy Lý Thành ra trận, liền hét một tiếng làm cho cha con Lý Thành giật mình làm rớt cây đao và gần té nhào xuống ngựa.
Ngũ Tư Phong nói:
- Có phải ngươi là Địch Thanh chăng?
Cha con Lý Thành nghe nói như vậy thì nằm mọp xuống yên ngựa năn nỉ:
Xin Nguyên soái hãy dung tính mạng cho cha con tôi, vì tôi không phải là Địch Thanh, tôi là Lý Thành tài mọn sức yếu, không phải là địch thủ của Nguyên soái.
Ngũ Tư Phong thấy vậy cười lớn:
- Ta không giết các ngươi đâu, hãy trở về kêu Địch Thanh ra đây mà giao đấu với ta.
Lý Thành nói:
- Tôi đi đây là tại Dương Tôn Bảo ép buộc, chớ thật tình tôi rất sợ Nguyên soái.
Nói rồi xá Ngũ Tư Phong một cái rồi quày ngựa trở vào. Nhưng Vừa Vào đến cửa thành thì bị Tiêu Đình Quý tóm ngực cha con Lý Thành ném xuống ngựa, hối quân trói lại bắt ra đánh với Ngũ Tư Phong. Nhưng chưa đến nơi thì Địch Thanh đã giục ngựa đến trước, nạt lớn:
- Ngươi có phải là Ngũ Tư Phong đó không?
Ngũ Tư Phong nói:
- Phải! Còn ngươi có phải là Địch Thanh đó không?
Địch Thanh nói:
- Đã biết tên ta sao không xuống ngựa nạp mình.
Nói rồi lướt tới chém Ngũ Tư Phong. Hai bên đánh nhau một trận, quân Tây Hạ kinh hãi bỏ chạy, còn Ngũ Tư Phong nổi giận vung giáo đánh với Địch Thanh hơn hai chục hiệp chưa phân hơn thua. Địch Thanh liệu thế không xong, lịền thò tay vào túi lấy Nhơn diện bài ra đưa lên niệm chú, tức Ngũ Tư Phong bất tỉnh, rơi roi xuống đất, hộc máu mà nhào xuống ngựa.
Tiêu Đình Quý thấy vậy cả mừng liền chạy đến cắt lấy thủ cấp, vừa toan vào thành thì có Đại Mạnh Dương và Tiểu Mạnh Dương phi ngựa đến. Địch Thanh còn cầm Nhơn diện bài trong tay liền đưa lên niệm chú. Hai tướng cũng hộc máu nhào xuống đất.
Tiêu Đình Quý cũng chạy lại cắt lấy thủ cấp. Còn Địch Thanh thì đánh đuổi quân Tây Hạ, làm cho chúng đạp nhào nhau mà chạy tán loạn.
Tiêu Đình Quý nói với Địch Thanh:
- Bữa nay tối rồi, hãy về nghỉ rồi ngày mai tiếp tục đánh nữa.
Địch Thanh nghe theo liền quày ngựa trở về ải ra mắt Dương Nguyên soái.
Dương Nguyên soái nói:
- Địch vương thân nhỏ tuổi mà anh hùng dường ấy, thật hơn ta nhiều lắm. Để ta làm biểu tấu cùng Thánh Thượng nhường quyền nguyên soái cho vương thân.
 Địch Thanh nói:
 - Tôi đâu dám chịu điều ấy. Xin Nguyên soái chớ vội khen:
 Dương Nguyên soái nói:
 - Nay Địch vương thân mà lập được công lớn như vầy thật là hồng phước của Thánh Thượng, nên mới được một anh tài phò Tống dẹp loạn.
 Nói rồi truyền mở tiệc ăn mừng, khao đãi tướng sĩ.
 Tiệc xong, Dương Nguyên soái truyền quân dẫn cha con
Lý Thành ra, và hỏi:
 - Lý Thành! Bây giờ người đã chịu tội hay chưa?
 Lý Thành quỳ lạy nói::
 - Xin Nguyên soái xét lại cho cha con tôi nhờ. Công  trận ấy thiệt của cha con tôi mà thôi.
 Tiêu Đình Quí nghe nói nổi nóng bước tới đạp cha con Lý Thành mỗi người một đạp và nói: .
 Loài súc sanh! Đến nước này mà cha con ngươi chưa  chịu tội hay sao?
Lý Thành nói. có công nào có tội chi mà bảo tôi chịu?
. Nguyên soái nạt lớn:
 Sự việc đã rõ ràng trước mắt mà ngươi vẫn tìm cách dối gạt mọi người, không biết cải hóa.
Nói rồi truyền quân dẫn cha con Lý Thành ra viên môn mà xử trảm, vợ con Lý Thành là Trần thị hay tin chồng con mình đều bị chết chém, liền thu gom tiền bạc trốn về Biện Lương mà mưu toan với Trầm Quốc Thanh đặng làm cáo trạng kiện Dương Tôn Bảo.
Hôm sau, Dương Nguyên soái nói với Địch Thanh:
- Địch khâm sai làm mất chinh y thì đó cũng là tội lớn lắm nhưng giết được năm tên tướng giặc cùng một lúc thì  cũng có thể lấy công mà chuộc tội được. Vậy để ta dâng biểu về trào tâu với Thánh Thượng xem lượng trên phán thế nào?
Địch Thanh nói:
- Chuyện còn đó. Xin Nguyên soái cho tôi đem binh đến Đại Lang sơn mà trừ diệt hết tặc đảng thu lại chinh y đã bị mất.
Nguyên soái nói:
- Nếu Địch khâm sai lấy lại được chinh y thì công lớn biết chừng nào?
Nói rồi liền phát binh cho Địch Thanh. Địch Thanh lãnh mạng đem binh đi đánh Đại Lang sơn.
Lúc này Ngưu Kiện và Ngưu Cang hay tin Ngũ Tư Phong, Đại Mạnh Dương và Tiểu Mạnh Dương đều bị giết, thì anh em bàn luận thế nào Địch Thanh cũng kéo quân đến Đại Lang sơn đòi chinh y lại. Hai anh em bàn tính bỏ trốn đi nơi khác để tránh tai họa.
Ngưu Cang nói:
- Đại Lang sơn đây là một hòn núi rất hiểm trở, vậy chúng ta bố trí cung tên và cây đá sẵn, hễ chúng kéo quân đến thì dùng tên bắn xuống, thế tất chúng nó phải thiệt mạng, sợ gì bỏ trốn đi đâu.
Ngưu Kiện nói:
- Em nói cũng phải, song ở đây lương thảo tích trữ chẳng được bao nhiêu. Nếu chúng nó vây hãm lâu ngày thì làm sao sống được chi bằng ta đem chinh y trả lại cho Dương Nguyên soái, may ra người rộng lượng mà cho chúng ta đoái công chuộc tội chẳng hơn sao?
Ngưu Cang bất bình nói:
- Nếu làm như vậy chẳng là chúng ta nhút nhát lắm.Thà ở đây mà thủ thế, sống chết còn rạng danh hơn.
Ngưu Kiện nói:
- Dương Nguyên soái là người đại lượng, em thiết tưởng không đến nỗi nào.
Ngưu Cang nói:
- Nếu tôi nói mà đại ca không nghe lời thì tình anh em chúng ta phải chia lìa mỗi đứa một nơi.
Ngưu Kiện nói:
- Áy là tại em muốn vậy. Thôi em muốn đi đâu thì đi, ta không ép.
Nói rồi liền khiến quân góp nhóp chinh y mà chở ra Tam Quan, còn vật dụng bao nhiêu đều giao lại cho Ngưu Cang lưu giữ.
 Lời bàn
 Người xưa nói: "Mưu thâm họa diệt thâm"
Đó là luật nhân quả. Hễ mưu mô càng hiểm độc bao nhiêu thì kết quả tai hại bấy nhiêu.
 Lý Thành muốn cướp công của kẻ khác, mưu đồ giết hại Tiêu Đình Quý, đó là một âm mưu hiểm ác, chỉ thấy danh vọng mà không kể đến nghĩa nhân. Lúc vỡ lở, đáng lẽ phải phục thiện, để sửa chữa tính gian ác của mình thì lại tìm cách chống chế, để cuối cùng mọi việc càng tối tăm hơn, không thẽ tự vệ được bản thân.
Ở đời khi phạm tội lỗi mà biết ăn năn sửa chữa thì đólà điều tốt dù tội ác xấu xa đến đâu cũng có thể giảm nhẹ được Lý Thành đã rơi vào thế cưỡi trên lưng cọp, nếu nhảy xuống sợ cọp ăn mất, nhưng không phải vì thế mà tránh được tai họa của hành động mình.
Tóm lại, biết phục thiện để sửa mình là điều hay ho và can đảm nhất trong lẽ sống.
*        *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-27 08:28:17Hoàng Dung>
hồi thứ hai mươi lăm
 Lý Thành già lời non lẽ
Đình Quý lời thật dễ nghe
 
Tiêu Đình Quý và Trầm Đạt về đến Tam Quan vào ra mắt Dương Nguyên soái thuật lại mọi điều.
Nguyên soái hỏi:
- Nay câu chuyện Lý Thành mạo công tuy đã rõ ràng song phải đối chứng cho phân minh.
Nói rồi sai Mạnh Đình Quốc đòi cha con Lý Thành vào ra mắt:
Lý Thành vào quỳ lạy thưa:
- Cha con tôi là người hữu công vô tội, sao Nguyên soái lại bắt như vậy?
Dương Nguyên soái nói:
- Ngươi nói cha con ngươi giết Táng Thiên vương và Tử Nha Xai sao ta sai người đi dò xét thì ai cũng nói không thấy việc đó
Lý Thành nói:
- Vì lúc ấy trời khuya nên không ai trông thấy cũng phải.
Dương Nguyên soái nạt lớn:
- Vậy chớ cha con ngươi ép Tiêu Đình Quý uống rượu rồi trói đem bỏ xuống sông Yến Tử là vì ý gì?
Lý Thành nghe nói thất sắc thưa:
- Việc ấy thật tôi không hay biết gì cả.
Nguyên soái truyền đòi Tiêu Đình Quý đến đối chứng:
- Tiêu Đình Quý vào đến soái phủ thấy cha con Lý Thành thì nổi nóng xốc lại đạp cho một đạp, nói:
- Ngươi là quân tàn nhẫn, bất nhân, ngươi muốn đoạt công trận của Địch Khâm sai, gạt ta uống rượu rồi trói ta bỏ xuống sông chiếm đoạt hai cái thủ cấp. Nếu không có gã tiều phu cứu mạng thì ta còn gì. Thôi, để ta xin Nguyên soái đem cha con ngươi bỏ xuống sông, làm y như ngươi đã hành động với ta lúc đó.
Lý Thành bị một đạp đau quá khóc om sòm. Phạm Trọng Yêm thấy vậy nói:
- Tiêu Đình Quý giữa soái phủ không nên vô lễ như vậy.
Dương Nguyên soái hỏi:
- Ta sai ngươi đi đón Địch Khâm sai đặng lấy chinh y sao ngươi trở lại Ngũ Vân trấn làm chi?
Tiêu Đình Quý liền thuật hết mọi việc cho Nguyên soái nghe.
Nguyên soái hỏi Lý Thành:
- Chứng cớ đã rõ ràng như vậy ngươi còn chưa chịu sao?
Lý Thành nói:
- Việc ấy chỉ nói bằng miệng lấy chi làm bằng cớ. Xin Nguyên soái cứ theo quân pháp mà luận hễ ai được thủ cấp thì có công trạng, để khỏi mất công bình.
Nguyên soái nói:
- Ngươi nói ngươi giết được hai tướng ấy vậy ngươi có biết chúng nó mặc giáp gì, cầm vũ khí gì chăng?
Lý Thành nói:
- Táng Thiên vương đội huyền bi mão, mình mặc hồng bào, còn Tử Nha Xai thì mặc lạc bào
Vừa nói dứt lời thì Tiêu Đình Quý nạt lớn:
- Nói bậy! Táng Thiên vương đội mũ kim khôi, nên khi ấy ta lấy được chiếc ngù mũ, bây giờ còn đây.
 
Nói rồi móc túi lấy ra chiếc ngù mũ đưa cho mọi người xem.
 Dương Nguyên soái thấy vậy bèn nạt Lý Thành, trách:
 - Lý Thành! Ngươi thật già mồm. Bây giờ còn gì để nói chăng?
 Lý Thành nói:
 - Chứng cớ như vậy cũng chưa chắc, vì Địch Thanh làm mất chinh y rồi sợ bị tội nên lo tốt với Tiêu Đình Quý làm như vậy để kể công chuộc tội.
Phạm Trọng Yêm nói:
 - Lý Thành? Ngươi nói cha con ngươi giết được Táng Thiên vương và Tử Nha Xai, vậy khi lấy được thủ cấp rồi ngươi có biết hai cái thây của chúng nó hiện giờ ở đâu không?
Lý Thành nói:
- Khi hai tướng ấy đi dạo chơi có dắt theo bốn tên tùy tùng, cho nên lúc tôi giết được chúng nó thì bốn tên tùy tùng đã mang xác đem đi rồi.
Phạm Trọng Yếm nói:
- Còn hai con ngựa của chúng nó đâu?
Lý Thành nói:
-Khi hai tướng ấy đi dạo ban đêm nên không cỡi ngựa.
Địch Thanh nghe nói cười lớn:
- Ta thấy ngươi thật già hàm.
Vừa nói dứt lời thì có quân vào báo:
- Nay có Ngũ Tư Phong ở trên Bát quái sơn đi với Đại Mạnh Dương và Tiểu Mạnh Dương đem ba mươi muôn binh đến vây Tam Quan, lại kêu Địch Thanh ra đánh để trả thù cho Táng Thiên vương và Tử Nha Xai. Xin Nguyên soái định liệu.
Dương Nguyên soái nghe báo thì kêu Lý Thành nói:
- Ngươi nói cha con ngươi giết hai tướng ấy, sao bây giờ chúng nó không kêu ngươi ra mà trả thù, lại gọi Địch Thanh?
Lý Thành nói:
- Ý chúng nó muốn đánh với ai thì đánh, tôi làm sao biết được.
Dương Nguyên soái nói:
- Đến nỗi như vậy mà ngươi còn chưa chịu là gian dối thì thật là già mồm.
Lúc ấy lại có quân vào báo:
- Ngũ Tư Phong đốc binh phá thành rất gấp, cứ kêu tên Địch Khâm sai mà mắng nhiếc.
Địch Thanh nghe nói nổi giận liền đứng dậy thưa với Nguyên soái:
- Xin cho tôi ra đánh một trận đặng lập công.
Dương Nguyên soái chưa kịp nói thì Tiêu Đình Quý lật đật đứng dậy nói:
- Khoan đã, tuy Địch Khâm sai võ nghệ cao cường, so trận này không nên ra đánh, hãy để cha con Lý Thành đánh một trận đã, như cha con Lý Thành giết được Ngũ Tư  Phong thì công thuộc về hai cha con Lý Thành.
Dương Nguyên soái nghe theo lời Tiêu Đình Quý liền sai cha con Lý Thành ra trận và khiến Phạm Trọng Yếm ra lướt trận.
Cha con Lý Thành nghe nói thất kinh, lật đật quỳ lạy nói:
- Tuy cha con tôi là quan võ, song chức vụ chỉ biết đi tuần hành đây đó, nếu ra trận mạc thì tôi không dám.
Nguyên soái nạt lớn:
- Ngươi cũng là quan võ, người ta cũng là quan võ, nếu ngươi sợ chết mà không đi thì kẻ khác cũng sợ chết như ngươi thì còn ai đi chiến đấu.
Tiêu Đình Quý nói:
- Quan võ sao không dám ra trận, nếu vậy triều đình ban bổng lộc chẳng uổng phí sao?
Lý Thành liệu bề xin không được, bất đắc dĩ phải vâng mạng lãnh một muôn binh kéo ra ngoài thành.
Địch Thanh thấy vậy thưa với Nguyên soái:
- Vả Lý Thành ra trận đây chắc là bị giặc giết và làm rối loạn binh mã. Xin Nguyên soái cho tôi theo ứng cứu, giúp Lý Thành đánh với Ngũ Tư Phong.
Dương Nguyên soái nói:
- Lời ấy cũng phải, song Khâm sai phải cẩn thận cho lắm, Vì Ngũ Tư Phong là một danh tướng bên Tây Hạ.
Nói rồi liền cấp cho Địch Thanh hai muôn binh kéo ra tiếp ứng cho Lý Thành.
Bấy giờ Ngũ Tư Phong, Đại Mạnh Dương và Tiểu Mạnh Dương đem ba mươi muôn binh vây hãm Tam Quan, xảy thấy Lý Thành ra trận, liền hét một tiếng làm cho cha con Lý Thành giật mình làm rớt cây đao và gần té nhào xuống ngựa.
Ngũ Tư Phong nói:
- Có phải ngươi là Địch Thanh chăng?
Cha con Lý Thành nghe nói như vậy thì nằm mọp xuống yên ngựa năn nỉ:
Xin Nguyên soái hãy dung tính mạng cho cha con tôi, vì tôi không phải là Địch Thanh, tôi là Lý Thành tài mọn sức yếu, không phải là địch thủ của Nguyên soái.
Ngũ Tư Phong thấy vậy cười lớn:
- Ta không giết các ngươi đâu, hãy trở về kêu Địch Thanh ra đây mà giao đấu với ta.
Lý Thành nói:
- Tôi đi đây là tại Dương Tôn Bảo ép buộc, chớ thật tình tôi rất sợ Nguyên soái.
Nói rồi xá Ngũ Tư Phong một cái rồi quày ngựa trở vào. Nhưng Vừa Vào đến cửa thành thì bị Tiêu Đình Quý tóm ngực cha con Lý Thành ném xuống ngựa, hối quân trói lại bắt ra đánh với Ngũ Tư Phong. Nhưng chưa đến nơi thì Địch Thanh đã giục ngựa đến trước, nạt lớn:
- Ngươi có phải là Ngũ Tư Phong đó không?
Ngũ Tư Phong nói:
- Phải! Còn ngươi có phải là Địch Thanh đó không?
Địch Thanh nói:
- Đã biết tên ta sao không xuống ngựa nạp mình.
Nói rồi lướt tới chém Ngũ Tư Phong. Hai bên đánh nhau một trận, quân Tây Hạ kinh hãi bỏ chạy, còn Ngũ Tư Phong nổi giận vung giáo đánh với Địch Thanh hơn hai chục hiệp chưa phân hơn thua. Địch Thanh liệu thế không xong, lịền thò tay vào túi lấy Nhơn diện bài ra đưa lên niệm chú, tức Ngũ Tư Phong bất tỉnh, rơi roi xuống đất, hộc máu mà nhào xuống ngựa.
Tiêu Đình Quý thấy vậy cả mừng liền chạy đến cắt lấy thủ cấp, vừa toan vào thành thì có Đại Mạnh Dương và Tiểu Mạnh Dương phi ngựa đến. Địch Thanh còn cầm Nhơn diện bài trong tay liền đưa lên niệm chú. Hai tướng cũng hộc máu nhào xuống đất.
Tiêu Đình Quý cũng chạy lại cắt lấy thủ cấp. Còn Địch Thanh thì đánh đuổi quân Tây Hạ, làm cho chúng đạp nhào nhau mà chạy tán loạn.
Tiêu Đình Quý nói với Địch Thanh:
- Bữa nay tối rồi, hãy về nghỉ rồi ngày mai tiếp tục đánh nữa.
Địch Thanh nghe theo liền quày ngựa trở về ải ra mắt Dương Nguyên soái.
Dương Nguyên soái nói:
- Địch vương thân nhỏ tuổi mà anh hùng dường ấy, thật hơn ta nhiều lắm. Để ta làm biểu tấu cùng Thánh Thượng nhường quyền nguyên soái cho vương thân.
 Địch Thanh nói:
 - Tôi đâu dám chịu điều ấy. Xin Nguyên soái chớ vội khen:
 Dương Nguyên soái nói:
 - Nay Địch vương thân mà lập được công lớn như vầy thật là hồng phước của Thánh Thượng, nên mới được một anh tài phò Tống dẹp loạn.
 Nói rồi truyền mở tiệc ăn mừng, khao đãi tướng sĩ.
 Tiệc xong, Dương Nguyên soái truyền quân dẫn cha con
Lý Thành ra, và hỏi:
 - Lý Thành! Bây giờ người đã chịu tội hay chưa?
 Lý Thành quỳ lạy nói::
 - Xin Nguyên soái xét lại cho cha con tôi nhờ. Công  trận ấy thiệt của cha con tôi mà thôi.
 Tiêu Đình Quí nghe nói nổi nóng bước tới đạp cha con Lý Thành mỗi người một đạp và nói: .
 Loài súc sanh! Đến nước này mà cha con ngươi chưa  chịu tội hay sao?
Lý Thành nói. có công nào có tội chi mà bảo tôi chịu?
. Nguyên soái nạt lớn:
 Sự việc đã rõ ràng trước mắt mà ngươi vẫn tìm cách dối gạt mọi người, không biết cải hóa.
Nói rồi truyền quân dẫn cha con Lý Thành ra viên môn mà xử trảm, vợ con Lý Thành là Trần thị hay tin chồng con mình đều bị chết chém, liền thu gom tiền bạc trốn về Biện Lương mà mưu toan với Trầm Quốc Thanh đặng làm cáo trạng kiện Dương Tôn Bảo.
Hôm sau, Dương Nguyên soái nói với Địch Thanh:
- Địch khâm sai làm mất chinh y thì đó cũng là tội lớn lắm nhưng giết được năm tên tướng giặc cùng một lúc thì  cũng có thể lấy công mà chuộc tội được. Vậy để ta dâng biểu về trào tâu với Thánh Thượng xem lượng trên phán thế nào?
Địch Thanh nói:
- Chuyện còn đó. Xin Nguyên soái cho tôi đem binh đến Đại Lang sơn mà trừ diệt hết tặc đảng thu lại chinh y đã bị mất.
Nguyên soái nói:
- Nếu Địch khâm sai lấy lại được chinh y thì công lớn biết chừng nào?
Nói rồi liền phát binh cho Địch Thanh. Địch Thanh lãnh mạng đem binh đi đánh Đại Lang sơn.
Lúc này Ngưu Kiện và Ngưu Cang hay tin Ngũ Tư Phong, Đại Mạnh Dương và Tiểu Mạnh Dương đều bị giết, thì anh em bàn luận thế nào Địch Thanh cũng kéo quân đến Đại Lang sơn đòi chinh y lại. Hai anh em bàn tính bỏ trốn đi nơi khác để tránh tai họa.
Ngưu Cang nói:
- Đại Lang sơn đây là một hòn núi rất hiểm trở, vậy chúng ta bố trí cung tên và cây đá sẵn, hễ chúng kéo quân đến thì dùng tên bắn xuống, thế tất chúng nó phải thiệt mạng, sợ gì bỏ trốn đi đâu.
Ngưu Kiện nói:
- Em nói cũng phải, song ở đây lương thảo tích trữ chẳng được bao nhiêu. Nếu chúng nó vây hãm lâu ngày thì làm sao sống được chi bằng ta đem chinh y trả lại cho Dương Nguyên soái, may ra người rộng lượng mà cho chúng ta đoái công chuộc tội chẳng hơn sao?
Ngưu Cang bất bình nói:
- Nếu làm như vậy chẳng là chúng ta nhút nhát lắm.Thà ở đây mà thủ thế, sống chết còn rạng danh hơn.
Ngưu Kiện nói:
- Dương Nguyên soái là người đại lượng, em thiết tưởng không đến nỗi nào.
Ngưu Cang nói:
- Nếu tôi nói mà đại ca không nghe lời thì tình anh em chúng ta phải chia lìa mỗi đứa một nơi.
Ngưu Kiện nói:
- Áy là tại em muốn vậy. Thôi em muốn đi đâu thì đi, ta không ép.
Nói rồi liền khiến quân góp nhóp chinh y mà chở ra Tam Quan, còn vật dụng bao nhiêu đều giao lại cho Ngưu Cang lưu giữ.
 
Lời bàn
 Người xưa nói: "Mưu thâm họa diệt thâm"
Đó là luật nhân quả. Hễ mưu mô càng hiểm độc bao nhiêu thì kết quả tai hại bấy nhiêu.
 Lý Thành muốn cướp công của kẻ khác, mưu đồ giết hại Tiêu Đình Quý, đó là một âm mưu hiểm ác, chỉ thấy danh vọng mà không kể đến nghĩa nhân. Lúc vỡ lở, đáng lẽ phải phục thiện, để sửa chữa tính gian ác của mình thì lại tìm cách chống chế, để cuối cùng mọi việc càng tối tăm hơn, không thẽ tự vệ được bản thân.
Ở đời khi phạm tội lỗi mà biết ăn năn sửa chữa thì đó là điều tốt dù tội ác xấu xa đến đâu cũng có thể giảm nhẹ được Lý Thành đã rơi vào thế cưỡi trên lưng cọp, nếu nhảy xuống sợ cọp ăn mất, nhưng không phải vì thế mà tránh được tai họa của hành động mình.
Tóm lại, biết phục thiện để sửa mình là điều hay ho và can đảm nhất trong lẽ sống.

*        *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-27 08:36:18Hoàng Dung>
hồi thứ hai mươi sáu
Ngưu Kiện đem binh đầu Tống thất
 Tôn Bảo dâng sớ tiến anh hùng

Bấy giờ Địch Thanh tuân lệnh ra đi đánh dẹp Đại Lang sơn, để Trương Trung, Lý Nghĩa làm tiên phuông dẫn quân đi trước. Khi đến Yến Tử hà thì thấy xa xa có một đội quân kéo đến.
Lý Nghĩa nói với Trương Trung:
- Nhị ca! Sao lại có đạo binh nào kéo đến đây vậy?
Trương Trung nói:
- Hay là binh của Tây Hạ bị thua hôm trước, bây giờ nhóm họp lại chăng?
Lý Nghĩa nói:
- May quá! Hôm trước đại ca đã lập được công lớn rồi, nay anh em ta cũng nhân cơ hội này kiếm chút đỉnh.
Trương Trung nói:
- Vậy thì chúng ta phải ráng một phen để phô trương uy danh.
Nói rồi liền giục binh đến. Chẳng bao lâu hai đạo quân gặp nhau. Trương Trung nạt lớn:
- Loài phản tặc? Các ngươi đem binh đi đâu đó?
Ngưu Kiện thấy Trương Trung và Lý Nghĩa thì biết là bộ hạ của Địch Thanh bèn nghiêng mình thi lễ và nói:
- Tôi muốn đến Tam Quan mà quy hàng Nguyên soái, chớ không phải phản tặc đâu.
Trương Trung nói:
- Ngươi nói ngươi không phải phản tặc thế ra ngươi là cường đạo chăng?
Ngưu Kiện nói:
- Khi trước tôi vẫn là cường đạo mà bây giờ tôi đã thôi rồi ."
Trương Trung hỏi:
- Ngươi là cường đạo ở đâu, hay là ở Ma Bàng sơn.
Ngưu Kiện nói:
- Phải .
Trương Trung, Lý Nghĩa nghe nói nổi giận mắng:
- Té ra ngươi là cường dạo ở Ma Bàng sơn trước đã cướp chinh y của anh em ta, làm cho đại ca ta thiếu chút nữa mất mạng. Nay ta gặp ngươi đây thì quả là gặp cựu thù rồi.
Nói rồi vung đao chém Ngưu Kiện. Ngưu Kiện đỡ đao ra rồi nói: .
- Xin tướng quân bớt giận, để tôi phân rõ một đôi điều cho tướng quân nghe. Vả chuyện đoạt chinh y đó không phải là tại tôi ấy là tại Tôn Vân sai người đem thơ và lễ vật đến cậy tôi làm như vậy đặng trả thù. Khi ấy tôi nghe lầm, đến sau nghĩ lại ăn năn thì chuyện đã lỡ. Nay tôi đem chinh y trả
lại cho Dương Nguyên soái, xin tướng quân làm ơn dắt tôi đến ra mắt.
Trương Trung hỏi: .
- Vậy ngươi tên họ là chi?
Ngưu Kiện nói:
- Tôi là Ngưu Kiện.
Trương Trung hỏi:
- Còn một người nữa ở đâu?
Ngưu Kiện nghe hỏi thì nghĩ thầm:
- Nếu ta tỏ thiệt Ngưu Cang còn ớ trên núi Đại Lang sơn, ắt là chúng nó đến đó mà đánh phá.
Nghĩ như vậy, Ngưu Kiện nói:
 - Còn một người nữa là Ngưu Cang đã bỏ tôi mà đi xứ nào không biết.
 Trương Trung nghe nói thì nạt lớn:
- Ngươi đã đầu Táng Thiên vương rồi, nay ngươi lại  muốn đầu Nguyên soái nữa sao? Thế thì người có mưu kế chi đây?
 Nói rồi vung đao chém tới. Ngùn Kiện có ý muốn đầu hàng  nên cứ đỡ thương không chịu đánh. Lý Nghĩa thấy vậy nói:
- Ngưu Kiệm Nếu ngươi có ý muốn đầu hàng thì phải thề đi.
 Ngưu Kiện nói:
 - Tôi là Ngưu Kiện, nếu không thiệt dạ đầu hàng thì phải chết vì gươm đao.
 Hai người thấy Ngưu Kiện đã thật tình liền bãi binh, dắt về ra mắt Dương Nguyên soái.
 Dương Nguyên soái hỏi Ngưu Kiện:
 Bấy lâu nay ngươi chiếm cứ Ma Bàng sơn, ta cũng nghĩ ngươi là lũ kiến chòm ong nên cũng bỏ qua. Đến nay ngươi dám đoạt chinh y của triều đình, làm liên lụy đến Địch Thanh. Vả lại ngươi đã đầu giặc rồi sao còn đến đây đầu hàng ta?
 Ngưu Kiện nói:
- Xin Nguyên soái rộng lượng để tôi kể lại mọi việc cho Nguyên soái nghe. Nguyên việc đoạt chinh y đó là do Tôn Vân viết thơ sai người đem đến Ma Bàng sơn khiến anh em tôi làm như vậy.Anh em tôi làm lỡ chuyện nay nghĩ lại thì ăn năn, nên đem chinh y dâng lại cho Nguyên soái để chuộc tội.
 Nguyên soái hỏi:
 - Vậy chớ Tôn Vân là người thế nào mà sai khiến các ngươi .
 Ngưu Kiện nói:
- Tôn Vân là em ruột Tôn Tú.
Nguyên soái hỏi Địch Thanh:
- Vậy ngài có thù chi với Tôn Tú và Tôn Vân chăng?
Địch Thanh thuật hết sự tình cho Dương Nguyên soái nghe.
Nguyên soái lại hỏi Ngưu Kiện:
- Vậy thơ của Tôn Vân bây giờ ở đâu?
Ngưu Kiện nói:
- Thơ lúc ấy tôi đốt trại thì đã cháy rụi hết rồi.
Nguyên soái nói:
- Phải chi thơ ấy mà còn thời ta cũng bảo tấu với triều đình đặng trừ mối hiểm họa.
Địch Thanh nói:"
- Xin Nguyên soái để thủng thỉnh rồi bọn nịnh thần cũng phải bị loại trừ. Còn Ngưu Kiện đây đã biết hối cải xin Nguyên soái mở lòng nhân đức mà dung cho nó một phen.
Nguyên soái nói:
- Thôi ta cũng nghe lời Địch vương thân mà dung cho nó, song phải đánh hai chục heo để làm gương.
Quân sĩ đem Ngưu Kiện ra đánh hai mươi hèo, rồi cho ở theo hàng chư tướng mà điều dụng.
Sau đó, Nguyên soái lại sai Tiêu Đình Quý và Ngưu Kiện đem quân đến đánh dẹp Đại Lang sơn, trừ bọn thảo khấu.
Tiêu Đình Quý và Ngưu Kiện tuân lệnh đem ba ngàn binh ra đi. Địch Thanh nói:
Nay Ngũ Vân trấn thiếu người giữ chức Thủ Bị , vậy xin Nguyên soái cho tôi tiến cử một người thay vào chức ấy.
Nguyên soái hỏi:
- Chẳng hay vương thân muốn tiến cử ai?
Địch Thanh nói:
-Tôi có một người anh rể tên là Trương Văn, khi trước có làm chức Du kích nơi Đồng Quan, vô cớ bị Mã Ứng Long cách chức, nay xin Nguyên soái cho phục chức trấn thủ nơi Ngũ Vân trấn.
 Dương Nguyên soái liền nhận lời, bèn sai Mạnh Đình Quốc đến Đồng Quang đòi Trương Văn đến mà nhậm chức.
 Bấy giờ Lý Kế Anh là ân nhân của Địch Thanh, có công cứu Địch Thanh nơi dinh Bàng Hồng cho đến nay chưa được Địch Thanh nhớ đến công lao nên cậy Trương Trung dẫn vào ra mắt.
 Lúc ấy Địch Thanh đang ngồi bàn luận với Dương Nguyên soái thì Trương Trung vào báo có Lý Kế Anh đến xin ra mắt. Địch Thanh sực nhớ lại, than:
- Cha chả! Bấy lâu nay bận việc nên rất vô tình.
 Liền khiến Trương Trung mời Kế Anh vào.
 Dương Nguyên soái trông thấy Lý Kế Anh đến hỏi:
- Kế Anh là người nào vậy?
 Địch Thanh liền thuật hết chuyện Bàng Hồng muốn hại mình lúc trước, nhờ Lý Kế Anh giải cứu, và xin với Dương Nguyên soái cho Lý Kế Anh làm chức Tổng quản ở Ngũ Vân trấn .
 Dương Nguyên soái nhận lời liền sai Lý Kế Anh ra Ngũ Vân trấn giữ chức ấy.
 Nhắc lại Phi Sơn Hổ là Lưu Khánh từ khi nghe lời Trương Văn về dắt gia quyến ra khỏi Đồng Quan mà gởi vào chùa, rồi đến ra mắt Mã Ứng Long báo lại mọi việc không làm tròn trách nhiệm hãm hại Địch Thanh do Mã ứng Long sai khiến.
 Mã ứng Long liền quở:
- Bàng Thái sư có lòng muốn hại Địch Thanh cho nên khiến ta với ngươi hiệp sức mưu tính, té ra ngươi làm không thành công hay là ngươi có tình ý gì với Địch Thanh chăng?
Lưu Khánh thưa:
- Tôi cũng muốn làm cho xong việc, song trên đầu Địch Thanh có cái gì như một Luồng ánh sáng phản chiếu, làm cho đao kiếm không chém được. Vậy để tôi xin đến Tam Quan tìm cách hạ sát cho xong.
Mã ứng Long nói:
- Nay Địch Thanh đi đến Tam Quan đã lâu rồi, ngươi còn làm cách gì mà giết được.
Lưu Khánh nói:
- Không hề chi, tôi đi lần này làm sao cũng lấy đầu Địch Thanh cho được thì mới hả dạ.
Mã ưng Long nói:
- Nếu vậy thì phải đi cho mau.
Lưu Khánh nói:
- Xong việc tôi sẽ về báo lại.
Nói rồi Lưu Khánh ra đi.
Lúc này Trương Văn đang bàn luận với Mạnh thị lo lắng về việc Địch Thanh đến Tam Quan không biết may rủi ra sao xảy thấy một vị sai quan của Dương Nguyên soái đến ra mắt.
Trương Văn kinh ngạc, chưa hiểu chuyện gì thì viên sai quan vào nói:
- Tôi là Mạnh Đình Quốc ở tại Tam Quan, nay vâng lệnh Dương Nguyên soái triệu ngài ra làm chức Thủ Bị nơi Ngũ Vân trấn .
Nói rồi đưa ra tờ biểu văn. Trương Văn xem xong mừng rỡ, liền dọn tiệc đãi đằng Mạnh Định Quốc. Trong lúc ăn uống Mạnh Đình Quốc thuật hết mọi việc từ lúc Địch Thanh ra đến Tam Quan cho đến nay cho Trương Văn nghe.
Mãn tiệc, Mạnh Đình Quốc từ giã trở về Tam Quan. Còn Trương Văn thì vào hậu đường thuật hết chuyện của Địch Thanh cho mẹ vợ và vợ nghe. Mạnh thị mừng rỡ hối Trương Văn sắm sửa lên đường.
 Xảy có Lưu Khánh đến nói:
 - Tôi đã gởi gia quyến tôi trong chùa rồi, vậy nên đến đây xin nhơn huynh trả Tịch vân phách lại cho tôi đặng tôi ra
 Tam Quan mà theo Địch Khâm sai.
Trương Văn nói:
- Như vậy mới đúng là người quân tử chớ.
 Lưu Khánh nói:
- Làm trai phải trọng chữ tín mới được.
 Trương Văn nhân đó thuật lại sự việc của Địch Thanh cho Lưu Khánh nghe.
 Lưu Khánh nói:
- Vậy thì nhơn huynh trả Tịch vân phách cho tôi để tôi đi ra Tam Quan kiến công lập nghiệp.
 Trương Văn nói:
- Nếu nhơn huynh muốn lập công thì ở đây cũng có cơ hội cần gì phải đến Tam Quan.
 Lưu Khánh nói:
 - Ở đây có việc gì mà có thể lập công được.
 Trương Văn nói:
 - Vậy chớ nhơn huynh quên phe đảng bọn gian thần rồi sao?
 Lưu Khánh nghe nói trực nhớ lại sự việc Mã Ứng Long cấu kết với Bàng Hồng mưu hại Địch Thanh thì lấy Tịch vân Phách rồi từ giã Trương Văn trở lại Đồng Quang đáp xuống thấy bốn phía vắng tanh, quân sĩ ngủ hết thì nghĩ thầm:
 - Bây giờ chắc Mã Ứng Long đã ngủ rồi,vậy vào kêu nó ra mà cho nó một đao thì rồi đời.
Nghĩ vậy, Lưu Khánh bước vào kêu lớn:
- Mã Ứng Long! Ta là Tốc bảo thần ở cõi trên, Thượng đế sai ta xuống đây, vậy ngươi hãy ra đây mà tiếp chỉ.
Lúc ấy Mã Ứng Long đang ăn tiệc cũng đã say rồi, nghe kêu lật đật bước ra sân xem thử. Vừa ra đến nơi nghe Lưu  Khánh nạt lớn:
- Ngươi ăn lộc vua sao không lo giúp nước lại cấu kết bọn nịnh thần mà mưu hãm hại kẻ trung lương. Nay ta vâng lệnh Ngọc đế xuống đây mà trị tội ngươi.
Mã Ứng Long nghe Lưu Khánh nói thì quỳ lạy thưa:
- Xin tôn thần dung mạng.
Nói vừa dứt lời đã bị Lưu Khánh chém lấy thủ cấp rồi đằng vân bay đi mất.
Giết Mã ứng Long xong, Lưu Khánh trở về báo cho Trương Văn hay, trong lúc đó Trương Văn và gia quyến đề huề lên đường đi trấn nhậm Ngũ Vân trấn.
Hôm sau, Lưu Khánh thẳng đến Tam Quan ra mắt Địch Thanh thuật lại việc giết Mã ứng Long. Địch Thanh nói:
- Tuy nó là bè đảng gian nịnh, nhưng làm như vậy không đúng luật triều đình.
Nói rồi liền dắt Lưu Khánh vào ra mắt Dương Nguyên soái thuật lại mọi việc. Dương Nguyên soái khen:
- Làm như Lưu Khánh mới gọi là kẻ trung liệt.
Nói rồi phong Lưu Khánh làm phó tướng.
Từ ấy Dương Nguyên soái truyền chế ra bốn cây cờ. cây cho Địch Thanh thì đề XUẤT SƠN HỔ, một cây cho rương Trung thì đề BÁC SƠN Hổ; một cây cho Lý Nghĩa thì đề LY SƠN HỔ; một cây cho Lưu Khánh thì đề PHI SƠN HỔ. (đến sau có Thạch Ngọc tới Tam Quan thì Dương Nguyên soái cũng cho Thạch Ngọc một cây cờ đề là TIỂU DIỆN HỔ. Ấy là đủ NGŨ HỔ )
 
Lời bàn
 Trong đời người ai cũng có ân oán. Nhưng kẻ quân tử bao giờ ân oán cũng phân minh.
 Địch Thanh lúc hàn vi, hoạn nạn được kẻ thương tình giúp đỡ , đến lúc hiển vinh nhớ ơn từng người để báo ơn, thì  đó hành động của kẻ quân tử.
 Trong cuộc sống hiện tại, nhiều người đã quên ơn những kẻ đã giúp mình trong lúc khó khăn hoạn nạn. Họ chỉ biết có hưởng thụ mà không biết việc đền ơn. Bởi vậy, con người phải luôn luôn kiểm điểm lại thân mình, kiểm điểm lại dĩ vãng để nhớ lại quá khứ. Quá khứ đường lối xây dựng
 tương lai, kẻ nào quên quá khứ của mình kẻ vong ân, bội  nghĩa, mà cũng kẻ không hiểu rõ con người của mình trong cuộc đời.
 Đã không hiểu rõ bản thân mình, không hiểu rõ cuộc đời của mình thì làm sao gọi kẻ hiền nhân quân tử được.
 

*        *
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-27 08:42:50Hoàng Dung>
hồi thứ hai mươi bảy
Hiền đức phu nhân lòng ngay thẳng
Tham lam quốc cựu dạ gian tà


Bấy giờ Địch Thanh hay tin Trương Văn đưa mẹ mình đến Ngũ Vân trấn rồi liền sắm sửa đến thăm viếng.
Cuộc gặp gỡ rất vui vẻ. Mẹ con, chị em đoàn tụ với những mở tiệc vui vầy, chuyện trò không ngớt.
Còn vợ Lý Thành là Trầm thị lập tâm quyết về Biện Lương tìm cách báo thù cho chồng con mình. Khi đến nơi vào ra mắt anh mình là Quốc Thanh, khóc lóc kể hết sự việc.
Quốc Thanh nghe xong suy tính một lúc rồi nói với Trầm thị:
- Em ơi! Ấy là tại chồng em muốn mạo công, cho nên phải bỏ mạng, bây giờ biết mưu chi mà trả thù cho được.
Trầm thị nói:
- Đại ca ơi! Tuy chồng em làm như vậy nhưng cũng chưa đến nỗi phải xử tử. Đây là Địch Thanh cậy thế Dương Nguyên soái mà xử oan. Còn Địch Thanh mang tội làm mất chinh y thì Dương Tôn Bảo lại bỏ qua, có phải là bất công hay không?.
Trầm Quốc Thanh hỏi:
- Việc Địch Thanh làm mất chinh y thế nào em kể lại cho anh nghe.
Trầm thị liền thuật hết mọi việc. Trầm Quốc Thanh nói:
- Vậy thì em phải chờ anh đến bàn tính với Bàng Thái sư mà toan liệu mới được. Song Bàng Thái sư có tính hay ăn hối lộ, nếu em muốn trả thù chồng thì phải lo lót mới được.
Trầm thị nói:
 - Xin đại ca chớ lo, miễn là trả được thù chồng dù phải tốn hao bao nhiêu em cũng chịu.
 Trầm Quốc Thanh nói:
 Vậy thì để anh qua đó lo liệu xem sao.
 Nói rồi liền khiến gia đinh dọn tiệc rồi đi qua dinh Bàng Hồng ra mắt. Bàng Hồng hay tin liền rước vào trà nước.
 Trầm Quốc Thanh liền thuật hết mọi việc em mình cho Bàng Hồng nghe.
 Bàng Hồng nghĩ thầm:
 Lâu nay ta có ý hại Địch Thanh, song chưa có dịp may, nay nhân cơ hội này thì cũng dễ hại nó, lại cũng có cớ mà hại Dương Tôn Bảo nữa.
 Nghĩ như vậy nên Bàng Hồng nói với Trầm Quốc Thanh:
- Việc này thật khó nếu làm vì Dương Tôn Bảo là người ở trong Thiên Ba phủ, lại là Nguyên soái trấn Tam Quan binh quyền rất mạnh, ta e hại nó không được mà còn mang họa vào thân.
 Trầm thị nói:
- Như vậy đại ca đành chịu thua sao?
 Trầm Quốc Thanh nói:
 - Duy chỉ có cách này thì mới tiện. Phải có một người có gan dạ, liều mạng nhào vô trước sân triều kêu oan thì ta mới có thể can thiệp được.
 Trầm thị hỏi:
- Phải kêu oan như thế nào?
 Trầm Quốc Thanh nói:
 - Cứ kêu oan là Dương Tôn Bảo vì bênh vực Địch Thanh và Tiêu Đình Quý mà giết oan Lý Thành và Lý Đại là chồng con tôi. Tuy vậy tờ cáo trạng ta không làm nổi, phải nhờ đến
Bàng Thái sư thì mới được.
Trầm thị vâng lời xin làm theo y kế.
Trầm Quốc Thanh liền sang dinh Bàng Hồng nhờ vả.
Bàng Hồng cười rằng:
- Ta làm quan đại thần, chỉ lo việc quốc gia đại sự hơi đâu mà xen vào chuyện cá nhân.
Trầm Quốc Thanh biết ý Bàng Hồng muốn đòi vàng bạc bèn sai quân tùy tùng lấy quả vàng bạc mà dâng cho Bàng Hồng.
Bàng Hồng thấy lễ vật mừng rỡ nói:
- Ta không phải là có ý đòi hỏi gì, song chỉ sợ lưu lại những khó khăn về sau. Nay túc hạ đã hết lời thỉnh cầu thì ta cũng phải gắng sức giúp cho.
Quốc Thanh mừng rỡ liền từ tạ trở về thuật lại mọi việc cho Trầm thị hay.
Trầm thị suốt đêm rầu rĩ, lo lắng không ngủ được. Quốc Thanh thấy thế hỏi:
- Sao chừng này mà phu nhân chưa an giấc?
Trầm thị nói:
- Mấy hôm nay phu nhân của đại ca có ý không bằng lòng tôi đến đây nương nhờ đại ca nên tôi buồn lắm.
Trầm Quốc Thanh nghe nói biết ý vợ mình không bằng lòng cho em mình vì chồng con mà trả thù Dương Tôn Bảo nhưng tình anh em không biết nói sao, đành làm thinh than thở.
Tối hôm đó Quốc Thanh nói chuyện với vợ là Y thị: .
- Thánh thượng sai Dương Tôn Bảo ra trấn Tam Quan tốn kém rất nhiều, vậy mà Tôn Bảo lại hành khắc quân gia, mỗi việc đều xử chém, làm cho quân sĩ thán oán. Còn em ta bị giết mất chồng con, không lẽ an tâm mà chịu.
Y thị nghe chồng nói thì hỏi lại:
- Vậy chớ Tướng công tính kế chi mà rửa cái hận ấy?
Trầm Quốc Thanh nói:
- Việc ấy ta đã thương nghị với Bàng Thái sư rồi, ngài cung chịu giúp, song phải tốn một muôn lượng bạc mới được.
Nay Thái sư đã làm xong tờ cáo trạng để mai em ta vào giữa triều mà kêu oan chuyện ấy.
 Y thị nói:
- Nếu làm như vậy chẳng là quấy làm sao. Vả Dương Tôn Bảo là một người tôi lương đống của triều đình, tính nết lại ngay thẳng, còn Lý Thủ Bị là một người hèn hạ, không  liên can gì. Nay Tướng công vì tình riêng, muốn trả thù cho một người hèn hạ, toan hại trung thần, thì chẳng phải.là bất trung với triều đình hay sao. Tôi e làm không xong việc mà mang hại vào thân.
 Trầm Quốc Thanh nói:
- Bổn phận đàn bà thì biết theo phận đàn bà chớ có xen vào việc lớn trong thiên hạ.
 Y thị thấy chồng nói như vậy thì làm thinh, vào phòng mà an giấc
Còn Bàng Hồng từ khi nhận lãnh một muôn lượng bạc của Trầm Quốc Thanh thì trong lòng cảm khoái, liền dặn bọn quân canh. mai đây có người đàn bà nào cầm cáo trạng vào triều kêu oan thì đừng cản trở.
 Huỳnh môn quan thưa:
 - Đã có lời Thái sư dạy bảo, chúng tôi đâu dám làm sai.
 Ngày hôm sau vua tâm trào, Huỳnh môn quan vào tâu:
 Nay có một người đàn bà xưng là Trầm thị muốn vào dâng cáo trạng kêu oan.
 Vua nghe tâu liền phán:
- Người đó kêu oan cho ai vậy?
Huỳnh môn quan tâu:
- Người ấy tố cáo Dương Nguyên soái
Vua phán:
- Dương Tôn Bảo là người chánh trực, coi việc binh có can dự gì đến việc dân sự mà liên can đến đàn bà?
Bàng Hồng nghe vua phán như vậy liền quỳ tâu:
- Theo ý tôi tưởng, nếu không có oan lớn thì đàn bà đâu dám đến giữa triều mà tố cáo. Thế khi Dương Tôn Bảo đã ỷ quyền mà giết oan tướng sĩ chi đây, cho đến nỗi đàn bà mới
phải liều mình đến giữa triều kêu oan. Xin Bệ hạ cho vào đây xem thử sự việc ra sao.
Vua nói:
- Trẫm biết Dương Tôn Bảo là một người trung trực không lẽ ỷ quyền mà áp bức người ngay, chắc là có ai ganh ghét.
Bàng Hồng tâu: .
- Xưa nay đàn bà ai cũng nhút nhát, nay có người dám liều lĩnh như vậy thì chắc có việc quan trọng, xin Bệ hạ chớ bỏ qua.
Vua nghe Bàng Hồng nói lắm nên cũng vị tình nhận lời.

Lời bàn
Thường tình trong xã hội, khi một nước đang hưng thịnh thì tôi thần chung sức nhau lo việc xây dựng non sông làm cho dân giàu nước mạnh, còn một nước có hiện tượng suy yếu thì tôi thần chống đối nhau, chỉ tranh giành quyền lợi để hưởng thụ.
Một triều chính mà gian thần có thế lực thì thế lực ấy trước tiên cấu tạo bằng chức vị, sau đó mới dựa vào quyền hành mà tiêu diệt lẫn nhau.
 Một ông vua gọi là minh quân khi chấp chánh phải luôn luôn đề phòng sự phát sinh của tình trạng ấy.
Vua nước Tống sở dĩ thiếu minh mẫn bắt nguồn từ sự thiên vị Thái sư Bàng Hồng, mà Bàng Hồng sở dĩ có thế lực trong triều là nhờ ở Bàng Quý phi là một người có sắc đẹp lại được vua nuông chiều.
Thế lực của đàn bà khi đã xâm nhập vào cung vua thì trở thành một sức mạnh không thể xem thường được.Sức mạnh đàn bà dựa vào sắc đẹp, mà sắc đẹp lại dựa vào những kẻ có quyền lực ham mê đó. Kẻ có quyền lực đã ham mê sắc đẹp thì sắc đẹp trở thành vũ khí khống chế mọi lúc, mọi nơi, làm cho kẻ có quyền lực không còn minh mẫn, không còn đủ sức mạnh để tự chủ lấy mình nữa.
Lời xưa nói:
Một mai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một tài đành đòi hai"

*          *
*
0
«« « 1 2 » »»