4 trả lời, 9.517 lượt xem —
Trang 1 / 1
"Mạnh thường quân"
★
★
★
★
★
Số bài : 3.827
Điểm thưởng : 0
Từ: 07.09.2005
Trạng thái: offline
Bá Nha - (Chung) Tử Kỳ
Trong tiếng Việt, sự hiểu biết nhau, tâm đắc nhau, chia sẻ nỗi niềm trong tình cảm, quan niệm, trong nhận thức thế sự cuộc đời đều được so với tri âm cùa Bá Nha và Tử Kỳ.
Bá Nha quê ở Sinh Đô nước Sở được bổ làm quan đại phu ở nước Tấn. Vâng lệnh triều định, đi sứ đến nước Sở quê hương của mình. Ở đây , ông được người cùng quê đón tiếp nồng nhiệt, nhưng ông chỉ lưu lại một thời gian ngắn. Sau khi cáo vua Sở lui về Tấn, ông đã dùng thuyền để về nước Tấn. Thuyền đến sông Hán Dương, cảnh đẹp non nước hữu tình đã làm ông lưu luyến và cũng tai nơi này, Bá nha đã gặp Chung tử Kỳ. Từ chỗ coi khinh chú tiều phu này, đến chỗ phục tài cầm kỳ và sự am hiểu âm nhạc của Tử Kỳ, hai người đã kết nghĩa huynh đệ. Vì chữ hiếu ,Tử Kỳ không thể cùng Bá Nha về chốn kinh thành và đành chia tay hẹn ngày gặp lại.
Một năm sau Bá Nha trở lại chốn cũ, non nước cảnh vật vẫn còn đấy, nhưng người bạn tâm đắc của ông thì không. Tử kỳ đã chết, chỉ còn nấm mồ bên bờ sông. Trước mồ bạn, Bá Nha gảy đàn và đọc một bài từ bi ai. Đọc xong, ông lấy hết sức đập đàn vỡ tan tành vì cho rằng từ nay không còn ai có thể hiểu hết ý nhạc trong tiếng đàn của ông.
"Bá Nha - Tử Kỳ" đã đi vào lời ăn tiếng nói của nhân dân gần như một thành ngữ chân chính. Trước hết nó phản ảnh sự tri âm trong thưởng thức âm nhạc. Có người chơi đàn mà không có người biết thưởng thức như Chung Tử Kỳ thì khác nào "đàn khảy tai trâu".
Về sau, ý nghĩa của từ Bá Nha - Tử Kỳ được hiểu rộng ra hơn. Dùng để đề cập đến sự đồng điệu, đồng cảm ở mức cao độ giữa con người với nhau trong mọi lĩnh vực.
Trong truyện Kiều của Nguyễn Du có câu:
"Rằng nghe nỗi tiếng cầm đài
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ"
★
★
★
★
★
0
"Mạnh thường quân"
★
★
★
★
★
Số bài : 23.721
Điểm thưởng : 0
Từ: 02.03.2004
Trạng thái: offline
Bầu dục chấm mắm cáy
hay
Dùi đục chấm mắm cáy
Trong cuốn "Thành ngữ tiếng Việt" (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội - 1978), Nguyễn Lực và Lương Văn Đang đã thu thập cả hai dạng thành ngữ này và giải thích với cùng một nghĩa là "không phù hợp, thô bạo, thiếu tế nhị" (trang 57).
Trong thực tế giao tiếp hàng ngày, người ta thường nói "dùi đục chấm mắm cáy" hơn là "bầu dục chấm mắm cáy". Tuy vậy "bầu dục chấm mắm cáy" lại là dạng ban đầu, dạng khởi thủy; còn "dùi đục chấm mắm cáy" chỉ là biến thể do đọc chệch "bầu dục" ra "dùi đục" mà thành.
Nghĩa của thành ngữ "bầu dục chấm mắm cáy" hình thành trên cơ sở của độ chênh, hay tính không tương hợp giữa thức ăn và gia vị. Bầu dục là món ăn ngon và hiếm. Chẳng thế mà trong kho thành ngữ, tục ngữ của ta còn câu "bầu dục đâu đến hàng thứ tám"! Vậy mà cái "không đến hàng thứ tám" ấy lại đem chấm với mắm cáy, một thứ mắm xoàng nhất; có thể nói là mạt hạng, trong các loại mắm ở vùng biển! Bầu dục, nếu ăn đúng cách là phải chấm với chanh, hay nước gừng. Còn mắm cáy thì chỉ dùng để ăn với rau muống, dưa, cà... Có một câu ca dao khi nói về các món ăn ngon cũng nhắc đến cách ăn bầu dục. Ấy là:
Sáng ngày bầu dục chấm chanh
Trưa gỏi cá cháy, tối canh cá chày
★
★
★
★
★
0
"Bạn mới"
★
★
★
★
★
Số bài : 47
Điểm thưởng : 0
Từ: 21.03.2007
Trạng thái: offline
Bợm già mắc bẩy cò ke
“Bẩy cò ke” là một loại bẫy thô sơ dùng để bẩy chim. Bẩy bằng tre, hình tam giác, phía trên có cần bật nối với lẫy và mồi. Mồi của bẫy thường là quả cò ke nên gọi là bãy cò ke.
Cò ke là một loại thân thảo. Có hai loại cò ke: loài dây leo có tên khoa học là Grewiea astropelata và loài thân đứng có tên là Grewia paniculata. Quả cò ke khi chín có màu đen , võ nhẵn là món ăn đặc biệt ưa thích của các loài chim.
Bẩy cò ke có cấu tạo đơn giãn nhưng hiệu quả cao. Nếu chim đã chui đầu vào ăn mồi (ăn quả cò ke ) thì đều bị cần bật đập gẫy cổ chết ngay. Vì vậy mà khi chim đã bị “mắc bẩy cò ke” thì khó lòng thoát chết.
Theo kiểu bẩy cò ke dùng bẩy chim, người ta làm ra những chiếc bẩy chó tương tự và cùng tên. Vì thế trong Từ Điển Bùi Văn Tập , bảy cò ke này được giải thích là: một bảy chó rất sơ sài ; và nghĩa bóng là mưu lừa rất tầm thường.
Trong câu tục ngữ “Bợm già mắc bẩy cò ke” có một sự đối lập thú vị : Bợm già là những tay bợm lão luyện, lọc lõi trong nghề lừa lọc thế mà bị mắc bẩy cò ke tức là bị mắc mưu lừa tầm thường ! Và khi đã sa cơ thì dù có là bợm già cũng phải bó tay Tục ngữ này phản ảnh một thực trạng xã hội : Những kẻ dù có anh hùng, ngang dọc mà chủ quan thì cũng có lúc bị sa cơ thất thế bởi những mưu chước rất tầm thường
ban mai

★
★
★
★
★
0
"Mạnh thường quân"
★
★
★
★
★
Số bài : 3.827
Điểm thưởng : 0
Từ: 07.09.2005
Trạng thái: offline
#5 —
15.04.2007 06:44
(đã sửa)
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-15 06:51:31Huyền Băng>
30. (KTNN 101, ngày 01-02-1993)
"Ba hồn bảy vía" là những hồn nào, vía nào? Tại sao có người còn cho rằng đàn ông có bảy vía mà đàn bà lại có tới chín vía?
AN CHI:
Ba hồn bảy vía là một quan niệm xuất phát từ Trung Hoa. Đây là một quan niệm của Đạo giáo. Tiếng Hán là
tam hồn thất phách. Sách
Bảo Phác Tử của Cát Hồng đời Tấn có viết: "Muốn trở nên thần thông thì phải luyện phép chia mình bằng nước, lửa. Chia mình được thì thấy được ba hồn bảy vía của bản thân". Sách
Vân cập thất tiêm của Trương Quân Phòng đời Tống nói rõ ba hồn là:
thai quang, sàng linh và u tinh còn bảy vía là:
thi cẩu, phục thỉ, tước âm, thôn tặc, phi độc, trừ uế và xú phế. Sự phân biệt bảy vía của đàn ông với chín vía của đàn bà có thể chỉ là do một số người Việt Nam đặt ra. Họ giải thích rằng sở dĩ như thế là vì đàn ông có bảy lỗ mà đàn bà thì có tới chín lỗ. Bảy lỗ thì bảy vía còn chín lỗ thì chín vía. Bảy lỗ ứng với bảy vía thì đúng với quan niệm của dân gian cho rằng đó là bảy hồn bóng: bóng nhìn, bóng nghe, bóng thở và bóng nói. Hai lỗ mắt để nhìn, hai lỗ tai để nghe, hai lỗ mũi để thở và lỗ miệng để nói thì đúng là bảy lỗ. Bảy lỗ này thì đàn ông và đàn bà đều có. Còn chín lỗ là những lỗ nào? Là bảy lỗ trên cộng với lỗ tiểu tiện và lỗ đại tiện. Vậy chẳng có lẽ đàn ông thì không có hai lỗ sau này chăng? Rõ ràng cách phân biệt đàn ông bảy lỗ với đàn bà chín lỗ là điều vô lý: về phương diện này thì nam nữ "tuyệt đối bình đẳng".
Nhưng do đâu mà lại có quan niệm trên đây? Có thể là do một sự hiểu nhầm. Tiếng Hán gọi bảy lỗ là
thất khiếu và chín lỗ là
cửu khiếu. Trong cửu khiếu thì bảy lỗ trên gọi là
thượng khiếu còn hai lỗ dưới gọi là
hạ khiếu. Thượng khiếu cũng gọi là
dương khiếu còn hạ khiếu cũng gọi là
âm khiếu. Chúng tôi ngờ rằng người ta đã hiểu nhầm âm khiếu là lỗ... riêng của phụ nữ, nên mới cho rằng đàn bà hơn đàn ông hai lỗ. Có lẽ vì thế mà sinh ra chuyện "nam thất nữ cửu” chăng?
Sưu Tầm của VVN đăng trong
chuyện đông tây - chuyện tây (An Chi)
(chị HB chép lại vào đây để mọi người dễ tra cứu khi tìm thành ngữ theo mẫu tự)
------------
Cách giải nghĩa này của học giả An Chi có hơi khác cách giải nghĩa Ngọc Lý tìm thấy sau đây tại Tự điển Bách Khoa Wikipedia:
- Sách của Hoàng Quốc Hải (xem tham khảo), chương "Việc tang việc hiếu" ghi rằng:
Theo quan niệm cổ xưa, con người có 7 lỗ (thất khiếu) để hấp thụ vật chất, tinh thần mà trưởng thành. Bảy lỗ đó là : hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi và miệng. Đàn bà có thêm lỗ vú và lỗ sinh dục để đẻ và nuôi con. Khi hết chức năng sinh đẻ lại trở về thất khiếu (Phật giáo phân biệt các động vật cao cấp, hễ đã có cửu khiếu (9 lỗ) đều có thể tu Phật. Vì vậy, trong lịch sử có Tôn Hành giả gốc từ con khỉ. Cửu khiếu trong trường hợp này kể cả đàn ông và đàn bà tính theo thế ổn định : 2 lỗ tai, 2 lỗ mắt, hai lỗ mũi, miệng, lỗ sinh dục, lỗ bài tiết).
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADn_v%C3%ADa
Sưu tầm của Ngọc Lý
★
★
★
★
★
0