📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Gặp Lại (phần II của "Nếu như truyện này là có thật") - Marc Levy - Chương 1

2 trả lời, 4.368 lượt xem — Trang 1 / 1
Tên tác giả: Marc Levy
Tên dịch giả: Lê Ngọc Mai
Nguồn: Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn
Tên người đánh máy: NangNgoc




Chương 1
Khoảng trời phía trên vịnh San Francisco rực đỏ. Bên ngoài cửa sổ máy bay, cầu Golden Gate nhô ra từ một đám mây mù. Máy bay chúc thấp đầu về phía Tiburon, hạ dần độ cao hướng về phía nam rồi ngoặt lại, bay vòng phía trên cầu San Mateo. Ngồi trong máy bay, có cảm giác như nó đang tự trượt dần về phía những cánh đồng muối hắt lên hàng ngàn tia sáng.
 
 
Chiếc Saab mui trần luồn lách giữa hai chiếc xe tải, vượt chéo qua ba làn xe, lờ đi những cú nháy đền pha cảnh báo của một vài tài xế bất bình. Xe rời đường cao tốc 101 và vừa kịp để rẽ ngay vào làn đường dẫn ra sân bay quốc tế San Francisco. Đến chân dốc, Paul đi chậm lại để xem bảng chỉ dẫn đường. Anh thở hắt ra khi thấy mình bị nhầm đường rồi cho xe lùi lại hơn trăm mét để đến được lối vào bãi đậu xe.
 
 
Trong buồng lái, máy tính trên bàn điều khiển thông báo đang ở độ cao bảy trăm mét. Khung cảnh tiếp tục thay đổi. Vô số tòa nhà chọc trời, cái này hiện đại hơn cái khác, nổi bật lên trong ánh hoàng hôn. Những cánh trập của máy bay xòe ra, mở rộng bề mặt của máy bay và giúp nó giảm thêm tốc độ. Tiếng ồn khô khốc từ càng hạ cánh sắp sửa phát ra.
 
 
Bên trong sân bay, trên bảng chỉ dẫn đã hiện lên thông báo chuyến bay AF 007 vừa hạ cánh. Paul hồng hộc chạy xuống từ cầu thang cuốn và lao vội ra lối đi. Sàn đá hoa trơn bóng, anh trượt chân ở chỗ rẽ, túm ngay được tay áo của một viên lái trưởng đang đi ngược chiều, vội vã xin lỗi rồi lại chạy như điên.
 
 
Máy bay Airbus A340 của hãng Air France tiến từ từ trên đường băng, cái đầu ngộ nghĩnh của nó áp sát lại gần bức tường kính của sân bay một cách ấn tượng. Tiếng ồn của động cơ máy bay bị một tiếng rít dài làm át đi, và đường ống nối máy bay được kéo ra áp sất tận thân máy bay.
 
 
Phía sau tấm vách ngăn ở lối ra của hành khách xuống từ các chuyến bay quốc tế, Paul gập người, tay chống vào đầu gối, thở lấy hơi. Cửa mở, và dòng hành khách đầu tiên bắt đầu ùa ra.
Từ xa, tay vẫy rói rít giữa đám đông, Paul len lỏi lách đến chỗ bạn thân nhất của anh.
-  Cậu ôm tớ hơi chặt quá đấy – Arthur nói với Paul khi bạn ôm hôn anh.
Cô bán hàng ở một quầy gần đó nhìn họ, cảm động.
-                     Thôi đi, trông bắt đầu chướng rồi đấy – Arthur lại nói.
-                     Thì tớ nhớ cậu mà, cậu biết đấy – Paul vừa nói vừa kéo bạn về phía thang máy dẫn xuống bãi đậu xe; Arthur nhìn anh, vẻ giễu cợt:
-                     Chiếc áo Hawais này là cái trò gì vậy, cậu tưởng cậu là Magnum(1) à?
Paul nhìn vào gương ở buồng thang máy, vừa bĩu môi vừa cài cúc áo lại.
-                     Tớ đã đến mở cửa cái nhà mới của cậu ở Delahaye Moving rồi – Paul nói. – Hôm kia hãng dịch vụ dọn nhà đã chuyển các hòm đồ của cậu đến. Tớ đã dọn dẹp một tí trong khả năng của tớ. Cậu đã mua hết cả Pái hay vẫn để lại vài ba thứ trong các cửa hàng của họ?
-                     Cảm ơn cậu đã giúp; nhà trông có được không?
-                     Rồi cậu sẽ thấy, tớ nghĩ là cậu sẽ thích, hơn nữa nó lại không xa nơi làm việc.
Từ khi Arthur kết thúc việc xây dựng trung tâm văn hóa đồ sộ, Paul đã ra sức thuyết phục bạn trở về sống ở San Francisco. Sự ra đi của người được Paul quý như anh em ruột thịt đã tạo lên một khỏang trống không gì bù đắp nổi trong cuộc đời anh.
-                     Thành phố chẳng thay đổi mấy nhỉ - Arthur nói.
-                     Bọn mình đã xây dựng hai tòa nhà cao tầng ở giữa phố 14 và phố 17, một khách sạn và mấy văn phòng, vậy mà cậu lại cho rằng thành phố không thay đổi mấy hả?
-                     Công ty của bọn mình thế nào?
-                     Nếu không tính đến những vấn đề gặp phải với các khách hàng Pais của cậu thì mọi việc cũng không đến nỗi. Hai tuần nữa Maureensẽ đi nghỉ về, cô ấy có để lại cho cậu vài chữ ở phòng làm việc đấy, cô ấy rất nóng ruột mong gặp lại cậu.
Trong thời gian thực hiện công trình ở Paris, Arthur và cô trợ lý ngày nào cũng nói chuyện với nhau nhiều lần, cô giải quyết cho anh tất cả những việc đang làm dang dở.
Suýt nữa thì Paul bỏ lỡ mất lối ra khỏi đường cao tốc, anh lại lái xe xuyên chéo để rẽ vào nhánh đường dẫn đến phố số 3. Một dàn hợp xướng còi xe vang lên để đáp lại cái thao tác nguy hiểm đó.
-                     Tôi rất tiếc – anh vừa nhìn vào gương chiếu hậu vừa nói.
-                     Ồ, cậu đừng lo, cậu mà biết quảng trường Etoile thì cậu chẳng còn sợ gì nừa hết.
-                     Đó là cái gì vậy?
-                     Bãi chơi trò ôtô húc nhau lớn nhấtthế ngiới, mà lại không mất tiền!
Arthur tranh thủ lúc xe dừng lại ở ngã tư tại đại lộ Van Ness để ấn nút điện mở mui xe. Mui xe gập lại với một tiếng kêu ken két ghê tai.
-                     Tớ không thể từ bỏ cái xe này được, - Paul nói – nó hơi bị thấp khớp một tí nhưng vẫn vững vàng đấy.
Arthur hạ cửa kính xuống và hít không khí từ biển thổi vào.
-                     Sao, Paris thế nào? – Paul hỏi vẻ đầy nhiệt tình.
-                     Có nhiều người Paris!
-                     Thế các cô gái Paris ra sao?
-                     Lúc nào cũng thanh lịch!
-                     Thế cậu với các cô gái Paris thì thế nào? Cậu có cuộc tình nào không?
-                     Arthur im lặng một lúc rồi mới trả lời.
-                     Tớ không phát nguyện làm thầy tu đâu, nếu tớ hiểu đúng ý cậu hỏi.
-                     Tớ nói về những mối quan hệ nghiêm túc cơ. Cậu có yêu ai không?
-                     Còn cậu? – Arthur hỏi lại.
-                     Độc thân!
Chiếc Saab rẽ sang Pacific Street, đi lên phía bắc thành phố. Đến ngã tư Filmore, Paul đỗ xe lại sát vỉa hè.
-                     Chúng mình đang đứng ở trước home sweet home mới của cậu đây; tớ hy vọng là cậu sẽ thíh, nếu cậu không thấy thoải nái ở đây thì mình vẫn có thể thu xếp với hãng bất động sản. Chọn nhà cho người khác không phải dễ…
Arthur ngắt lời bạn, anh sẽ thích nơi này, anh đã tin chắc là như vậy.
Họ vác hành lý đi ngang qua lối vào của tòa nhà nhỏ. Thang máy đưa họ lên tầng ba. Khi đi dọc hành lang đến trước căn hộ số 3B, Paul thông báo với Arthur rằng anh đã gặp hàng xóm của Arthur, “một người đẹp”, anh vừa thì thào như vậy vừa mở khóa cánh cửa trước mặt.
Từ phòng khách nhìn ra là những mái nhà của Pacific Heights. Đêm đấy sao tràn vào căn phòng. Các nhân viên dọn nhà thuê đã đặt rải rác chỗ này chỗ khác những món đồ gỗ gửi từ Pháp sang và đã dựng lên chiếc bàn vẽ đặt đối diện với cửa sổ. Những thùng sách đã được dỡ ra và sách đã được bày chật trên các giá.
Arthur lập tức dịch chuyển đồ đạc, xoay chiếc đi văng ra đối diện cửa kính, đẩy lại một chiếc ghế bành về phía lò sưởi nhỏ.
-         Tớ thấy là cậu vẫn chưa bỏ được cái thói gàn dở của cậu.
-         Như thế này hay hơn chứ?
-         Hay lắm – Paul trả lời – Bây giờ cậu đã thấy thích chưa?
-                     Tớ có cảm giác đúng là ở nhà mình! Vậy là cậu đã trở lại thành phố của cậu, và nếu cậu có thêm đôi chút may mắn thì còn trở lại với cuộc đời cậu nữa đấy!
Paul dẫn bạn đi xem những căn phòng khác, phòng ngủ khá rổngãi, đã kê sẵn một cái giường to, hai cái bàn nhỏ đầu giường và một chiếc bàn chân quỳ. Một vết trăng lọt qua khe cửa nhỏ của buồng tắm ở kế bên, Arthur lập tức mở cửa sổ ra, khung cảnh nhìn thật đẹp.
Paul khổ sở vì phải bỏ rơi bạn ngay buổi tối Arthur vừa mới trở lại, nhưng anh phải đi dự buổi chiêu đãi để bàn chuyện làm ăn: công ty anh đang tranh thầu một dự án quan trọng.
-         Giá mà tớ đi cùng với cậu được – Arthur nói.
-                     Với cái đầu hãy còn bị lệch múi giờ của cậu, cậu ở lại nhà thì tớ thích hơn! Mai tớ sẽ ghé qua đón cậu và sẽ dẫn cậu đi ăn trưa.
Paul ôm vai Arthur rồi nhắc lại rằng anh rất vui vì Arthur đã trở về. Bước ra khỏi buồng tắm, anh quay lại, chỉ tay vào bức tường trong đó:
-                     À! Có một điều rất tuyệt trong căn hộ này mà cậu còn chưa nhận ra.
-         Cái gì vậy? – Arthur hỏi.
-         Không hề có một cái tủ tường nào cả!
 
 
Giữa San Francisco, một chiếc Triumph màu xanh lá cây bóng nhoáng lao vun vút ở đại lộ Pottero. John Mackenzie, trưởng ban bảo vệ bãi đậu xe của bệnh viện Memorial San Francisco, đặt tờ báo xuống. Ông đã nhận ra tiếng máy nổ rất đặc biệt phát ra từ chiếc ôtô của cô bác sĩ trẻ ngay khi cô vừa vượt qua chỗ cắt với phố 22. Lốp xe nghiến kin kít trước chòi gác của ông, Mackenzie rời khỏi ghế vànhìn về phía cái mui xe đã thò vào dưới thanh chắn đến tận tấm kính trước xe.
-                     Cô phải đi mổ khẩn cấp cho ông trưởng khoa hay cô làm như thế chỉ để chọc tức tôi thôi? – Ông bảo vệ vừa lắc đầu vừa hỏi.
-                     Bớt đi mộttí adrenalin(2) thì không có hại gì cho tim của bác đâu, bác phải cảm ơn tôic hứ, bác John. Bác làm ơn cho tôi vào với?
-                     Cô không có ca trực đêm nay, tôi không dành chỗ cho cô.
-                     Tôi để quên cuốn giáo trình phẫu thuật thần kinh ở trong tủ của tôi, tôi chỉ vào một vài phút thôi.
-                     Với công việc của cô và cái xe phóng như điên này, rồi cô sẽ tự giết mình thôi, bác sĩ ạ. Ô số 27, hàng cuối cùng bên phải, còn chỗ trống đấy.
Lauren cảm ơn ông bảo vệ bằng một nụ cười, thanh chắn được nâng lên và cô đạp ngay vào chân ga; lốp xe lại kêu lên kin kít. Gió thổi lật lên vài món tóc trước trán cô, để lộ ra vết sẹo trên trán, dấu tích của một vết thương cũ.
 
 
Một mình ngồi giữa phòng khách, Arthur làm quen với cái nhà mới. Paul đã đặt một dàn hifi nhỏ trên một giá sách.
Anh bật đài lên và xăng xái mở những thùng đồ còn lại đang xếpp đống trong một góc. Tiếng chuông cửa vang lên, Arthur ra mở cửa. Một bà cụ đẹp lão đưa tay về phía anh.
-         Tôi là Rose Morrison, hàng xóm của anh.
Arthur mời bà lão vào nhà, nhưng bà từ chối.
-                     Tôi cũng muốn trò chuyện với anh lắm - bà nói- nhưng tối nay tôi rất bận. Thế này nhé, chúng ta hãy thống nhất với nhau, không có nhạc rap, không có nhạc techno, R&B thì có thể được nhưng chỉ loại chất lượng thôi, còn đối với hip hop thì để xem đã. Nếu anh cần gì thì cứ bấm chuông cửa nhà tôi, bấm mạnh lên một tí, tôi điếc đặc đấy!
Bà Morrison quay đi ngay lập tức. Thú vị, Arthur còn đứng lại vài giây ở ngưỡng cửa rồi mới quay vào tiếp tục công việc.
Một giờ sau, cái dạ dày cồn cào nhắc anh nhớ rằng anh chưa ăn gì sau bữa ăn trên mắybay. Anh mở tủ lạnh ra tuy chẳng hi vọng gì mấy và ngạc nhiên nhìn thấy một chai sữa, một tảng bơ, một gói bánh mì cắt lát để nướng, một bịch mì sợi tươi và vài dòng chữ của Paul chúc anh ăn ngon miệng.
 
 
Gian đại sảnh của khoa cấp cứu đầy ứ. Băng ca, ghế lăn, ghế bành, ghế dài, chỗ nào cũng có người. Sau tấm kính của nơi tiếp đón, Lauren xem danh sách nhập viện. tên của các bệnh nhân đã được khám chữa vừa mới được xóa khỏi tấm bảng to màu trắng là đã có ngay tên khác thay vào.
-                     Tôi đã bỏ lỡ mất một trận động đất à? – Cô hỏi người trực ban bằng giọng đùa cợt.
-         May mà chị đến, mọi người đang ngập đầu ngập cổ đây.
-         Tôi thấy rồi! Xảy ra chuyện gì vậy?
-                     Một cái xe kéo bị tuột khỏi xe tải, đâm sầm vào quầy kính của siêu thị. Hai mươi ba người bị thương, trong đó mười người bị thương nặng. Bảy người đang ở trong dãy phòng sau lưng tôi, ba người được đưa đi chụp scan, tôi đã gọi lên tầng hồi sức để họ gửi người đến chi viện cho chúng ta – Betty vừa nói vừa chìa cho Lauren một chồng hồ sơ.
-                     Thế là bắt đầu một buổi tối rõ đẹp! – Lauren vừa nói vừa khoác áo blouse vào người.
Cô bước vào phòng khám thứ nhất.
Người phụ nữ trẻ đang nằm thiêm thiếp trên giường chắc khoảng ba mươi tuổi. Lauren xem nhanh phiếu nhập viện của cô ta. Một tia máu chảy ra từ tai trái. Cô bác sĩ nội trú dày dạn kinh nghiệm bèn lôi cái đèn pin nhỏ cài ở túi áo bluose ra và vạch mi mắt bệnh nhân, nhưng đồng tử không có phản ứng gì khi ánh sáng rọi vào. Cô xem xét những đầu ngón tay thâm tím rồi nhẹ nhàng đặt bàn tay bệnh nhân xuống. Để yên tâm, cô dùng ống nghe khám phần dưới cằm bệnh nhân rồi mới kéo vải che kín đầu cô gái. Lauren nhìn lên đồnghồ treo tường, ghi vào bìa hồ sơ rồi đi ra để sang phòng khám bên cạnh. Trên tờ giấy mà cô để lại trên giường, cô ghi giờ chết là 20h21, giờ chết cũng cần phải chính xác như giờ sinh.
 
 
Arthur lục lọi mọi xó xỉnh trong bếp, anh mở từng ngăn kéo ra xem rồi đành tắt cái bếp đang đun nồi nước sôi đi. Anh ra khỏi nhà, đi ngang qua hành lang, đến bấm chuông nhà hàng xóm. Không thấy trả lời, anh đã định quay đi thì cánh cửa mở ra.
-         Thế này mà gọi là “bấm mạnh” à?
-         Tôi không muốn làm phiền bà, bà có muối không ạ?
Bà Morrison nhìn anh, vẻ kinh ngạc:
-                     Thật khó mà tin rằng đàn ông vẫn còn sử dụng những mánh khóe thô thiển như vậy để ve vãn!
Một ánh mắt lo ngại hiện lên trong ánh mắt Arthur. Bà già cười phá lên.
-                     Nhìn cái mặt anh kìa! Anh vào nhà đi, các loại mắm muối để ở cái giỏ to cạnh bồn rửa bát ấy – bà vừa nói vừa chỉ tay vào căn bếp nhỏ cạnh phòng khách. Anh cần gì thì cứ lấy nhé, tôi để anh tự lo đấy, tôi đang rất bận.
Và bà vội vã trở lại chỗ ngồi của mình trong chiếc ghế bành to, đối diện với tivi. Arthur đi qua phía sau tủ bar, tò mò nhìn mái đầu bạc trắng của bà lắc lư sau ghế bành.
-  Này, anh abnj, anh đi hay ở gì cũng được, tùy ý anh, nhưng đừng làm ồn nhé. Một phút nữa, Bruce Lee sẽ đi một đường Kata(3) cực siêu và sẽ giáng một chưởng ra trò cho cái gã trưởng băng đang khiến tôi điên tiết này.
Bà già ra hiệu mời anh ngồi xuống chiếc ghế bành bên cạnh, và phải yên lặng!
-  Hết cảnh này thì anh ra tủ lạnh mà lấy đĩa thịt nguội rồi lại đây xem nốt phim với tôi, anh sẽ không phải tiếc đâu! Thêm nữa, ăn hai người bao giờ cũng vui hơn là ăn một mình!
 
 
Người đàn ông đang nằm, thân mình bị buộc vào bàn khám, đau đớn vì nhiều chỗ gãy xương chân; nhìn vẻ mặt nhợt đi của ông ta, “đau đớn” là một từ diễn tả chính xác.
Lauren mở tủ thuốc ra lấy một ống thuốc nhỏ và một ống tiêm.
-  Tôi không chịu được tiêm đâu - người bệnh rên rỉ.
-  Ông bị gãy hai chân mà lại đi sợ một cái kim tiêm à? Giới đàn ông bao giờ cũng khiến tôi ngạc nhiên!
-  Chị tiêm cho tôi cái gì thế?
-  Cơn đau gây ra stress, làm tim đập nhanh, tăng huyết áp và để lại những hậu quả về bộ nhớ không thể khắc phục được… Ông cứ tin tôi đi, nó còn độc hơn là vài miligram morphin đấy.
-  Bộ nhớ à?
-  Ông làm nghề gì vậy, ông Kowack?
-  Thợ sửa ôtô!
-  Vậy thì tôi đề nghị thế này, ông cứ tin tương tôi về chuyên sức khỏe của ông đi, rồi khi nào tôi mang cái xe Triumph của tôi đến chỗ ông, tôi sẽ để cho ông muốn làm gì nó thì làm.
Lauren lắp kim vào ống tiêm và ấn bơm tiêm. Truyền chất ancalôit(4) vào máu bệnh nhân, cô sẽ giải thoát cho Francis Kowack khỏi cơn đau đang giày vò ông ta. Thuốc phiện đi vào tĩnh mạch nền, vừa lên đến sọ não, nó lập tức ức chế cảm giác đau. Lauren ngồi xuống chiếc ghế đẩu nhỏ có bánh xe và lau trán cho bệnh nhân, theo dõi nhịp thở của ông ta. Người bệnh dịu dần.
-  Thứ thuốc này được gọi là morphine vì lấy têm của thần Morphée(5) đấy, vì vậy, bây giờ ông hãy ngủ đi! Ông may mắn lắm đấy.
Kowack ngước mắt lên.
-  Tôi đang đi chợ một cách yên lành – người đàn ông lẩm bẩm – Tôi bị một chiếc xe tải đâm khi đang ở quầy đông lạnh, chân của tôi gãy vụn ra, vậy chị định nghĩa may mắn trong nghề của chị chính xác là như thế nào?
-  Là ông không nằm ở phòng bên cạnh!
 
 
Tấm rèm ở phòng khám bị kéo ra. Giáo sư Fernstein vẻ mặt không lấy gì làm dễ chịu.
-  Tôi lại cứ tin là cô nghỉ mấy ngày cuối tuần này chứ? – Fernstein nói.
-  Lòng tin là một vấn đề thuộc về lĩnh vực tôn giáo! – Lauren trả lời chan chát – Em chỉ rẽ qua đây thôi, nhưng thầy cũng thấy đấy, chả thiếu gì việc cả - cô vừa nói thêm vừa tiếp tục khám bệnh.
-  Ở khoa cấp cứu thì có mấy khi thiếu việc. Cô coi thường sức khỏe của cô thì cũng là coi thường sức khỏe của bệnh nhân. Tuàn này cô đã trực bao nhiêu giờ rồi? Tôi chẳng hiẻu vì sao tôi hỏi cô câu này nữa, rồi cô lại bảo là khi người ta yêu thì người ta không đếm cho mà xem – Fernstein vừa nói vừa bực bội đi ra khỏi phòng.
-  Thì đúng vậy mà – Lauren vừa lẩm bẩm vừa đặt ống nghe lên ngực ông thợ sửa ôtô, ông này nhìn cô, hốt hoảng – Ông đừng ngại, tôi vẫn còn khỏe lắm, còn cái ông ấy thì lúc nào chả làu nhàu như thế.
Đến lượt Betty bước vào.
-  Để ông này chị lo cho – cônói với Lauren – phòng bên cạnh đang cần em đấy, đúng là quá tải thật rồi.
Lauren đứng dậy và yêu cầu nữ y tá gọi điện cho mẹ cô. Cô sẽ ở lại đây suốt đêm nên cần có người chăm sóc con chó Kali của cô.
 
 
Bà Morrison đang rửa bát, Arthur thiu thiu ngủ trên chiếc đi văng.
-  Tôi nghĩ đã đến lúc anh phải đi ngủ ngay thôi.
-  Cháu cũng nghĩ vậy – Arthur vừa nói vừa vươn vai – Cảmơn bác về buổi tối hôm nay.
-  Mừng anh dọn đến ở nhà số 212 phố Pacific. Tính tôi bình thường rất dè dặt, nhưng nếu anh cần gì thì cứ bấm chuông cửa nhà tôi.
Khi ra về, Arthur nhìn thấy một con chó màu đen trắng nằm dưới gầm bàn.
-  Đây là con Pablo, nhìn nó thế cứ tưởng như nó chết rồi, nhưng nó ngủ thôi, đó là hoạt động yêu thích nhất của nó. Ngoài ra thỉnh thoảng tôi cũng đánh thức nó dậy để đi dạo.
-  Bác có muốn cháu giúp bác làm việc đó không?
-  Tốt hơn là anh đi ngủ đi, trong tình trạng anh bây giờ, tôi sợ là sáng mai lại thấy cả anh lẫn chó nằm ngáy dưới một gốc cây.
Arthur chào bà cụ và về nàh. Anh còn muốn dọn dẹp thêm chút nữa nhưng cơn mệt mỏi đã thắng sự hăm hở của anh.
Nằm trên giường, đầu gối lên tay, anh nhìn qua cánh cửa phỏng hé mở. Những thùng đồ xếp đống trong phòng khách gợi lại kỷ niệm một đêm của một thời đã qua, khi anh dọn đến ở tầng trên cùng ngôi nhà kiểu Victoria cách nơi này không xa.
 
Đã quá hai giờ sáng, nữ y tá trưởng đi tìm Lauren. Gian đại sảnh của khoa cấp cứu cuối cùng đã vợi hết người. Tranh thủ lúc yên ắng này, Betty quyết định đi bổ sung thuốc men cho tủ thuốc của các phòng khám. Cô di dọc hành lang và kéo rèm cửa ở phòng cuối cùng. Nằm còng queo trên giường, Lauren đang ngủ say sưa. Betty kéo rèm lại và vừa bỏ đi vừa lắc đầu.
 




Chú thích:
    (1): Nhân vật chính trongbộ phim truyền hình nhiều tập của Mỹ, sống ở Hawais và hành nghế thám tử tư.
    (2): Hocmon do tuyến thượng thận tiết ra, làm nhanh nhịp tim.
    (3): Đường quyền trong môn võ Karate.
    (4):Tên gọi chung chỉ các chất gữu cơ có nguồn gốc thực vật như caphein, nicotin, morphine...
    (5): Thần ru ngủ trong thần thoại Hy Lạp.
NangNgoc
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-25 13:32:15Ct.Ly>
Chương 2

Arthur tỉnh dậy vào quãng giữa trưa. Mặt trời đứng bóng ấm áp tỏa vào qua cửa sổ phòng khách. Anh tự nhiên làm cho mình một bữa sáng qua loa rồi gọi vào máy điện thoại di động cho Paul.
-  Chào Baloo(6), - bạn anh nhấc máy nói – tớ thấy là cậu đã ngủ hết một vòng đồng hồ rồi đấy.
Paul rủ anh đi ăn trưa, nhưng Arthur đã có một dự định khác trong đầu.
-  Tóm lại, - Paul bảo – tớ được chọn giữa việc để cậu đi bộ đến Carmel và việc chở cậu đến đó à?
-  Không phải thế! Tớ muốn rẽ qua xưởng của ông bố dượng cậu để lấy lại cái xe Ford rồi bọn mình cùng đi đến đó luôn.
-  Ôtô của cậu đã không chạy từ đời nào rồi, cậu muốn ngày nghỉ cuối tuần phải ở trên đường cao tốc để đợi xe cứu trợ đến kéo đi hay sao?
Nhưng Arthur nhắc bạn nhớ rằng chiếc ôtô này đã từng có những giấc ngủ dài hơn, thêm nữa, anh biết bố dượng Paul vốn rất say mê xe cổ, thể nào ông cũng đã sửa sang lại cái xe này rồi.
-  Cái xe Ford cũ kỹ đời 60 của tớ còn khỏe mạnh hơn cái mui trần thời tiền sử của cậu đấy.
Paul nhìn đồng hồ, anh còn vài phút để gọi điện thoại đến xưởng sửa chữa. Trừ khi có điều gì phản đối, Arthur cứ việc đến thẳng chỗ đó gặp anh.
Ba giờ chiều, hai người bạn gặp nhau trước cửa xưởng. Paul tra chìa khóa vào ổ văn rồi đi vào xưởng. Giữa những chiếc xe cảnh sát đang sửa chữa, Arthur như nhận ra một chiếc xe cấp cứu cũ kỹ đang nằm im lìm dưới tấm vải bạt. Anh tiến lại gần để lật một góc bạt lên. Cái mũi xe có một vẻ gì gợi nhớ. Arthur đi vòng quanh chiếc xe, ngập ngừng rồi mở cửa sau xe ra. Phía trong khoang sau, dưới lớp bụi dày, có một chiếc cáng khơi dậy biết bao kỷ niệm, khiến cho Paul phải cao giọng để kéo Arthur ra khỏi những mộng mơ.
-  Quên cỗ xe bí đỏ ấy đi, Lọ Lem, ra đây, phải đẩy ba cái xe ra mới lấy được con Ford của cậu. Đi Carmel thì đi, nhưng không đến sau lúc mặt trời lặn!
Arthur đậy lại tấm bạt, anh xoa nhẹ lên mui xe và thì thầm: “Tạm biệt Daisy”.
Bốn cú nhấn ga, vừamới khọt khẹt ba tiếng là động cơ của chiếc Ford bắt đầu kêu rù rù. Sau vài thao tác của Arthur và chừng ấy câu chửi thề của Paul, chiếc xe break(7)  rời xưởng và đi lên phía bắc thành phố để ra con đường số 1 chạy dọc Thái Bình Dương.
-  Cậu vẫn nghĩ đến cô ta à? – Paul hỏi
Thay cho mọi câu trả lời, Arthur mở cửa sổ; một luồng gió ấm tràn vào buồng lái.
Paul vỗ vỗ vào gương chiếu hậu, làm ra vẻ như đang thử micro.
-  Một, hai, một hai ba, a, được đấy chứ, thử lại lần nữa xem nào…Cậu vẫn nghĩ đến cô ta à?
-  Cũng có lúc – Arthur trả lời.
-  Có thường xuyên không?
-  Một chút buổi sáng, một chút buổi trưa, một chút buổi tối, một chút ban đêm.
-  Cậu đi Pháp để quên cô ta là rất phải, cậu có vẻ khỏi hẳn rồi đấy! Thế ngày nghỉ cuối tuần của cậu cũng nghĩ đến cô ta à?
-  Tớ có bảo cậu là tớ tự bắt mình không được sống đâu, cậu muốn biét tớ có nghĩ đến cô ấy không, tớ đã trả lời cậu, vậy thôi. Tớ có vài cuộc dan díu, nếu như điều đó có thể làm cậu yên tâm; mà thôi đổi đề tài đi, tớ không muốn nói đến chuyện đó.
Ôtô chạy về hướng vịnh Monterrey, Paul nhìn những bãi biển Thái Bình Dương lướt qua ngoài cửa sổ; chặng dường tiếp theo trôi qua hết sức yên lặng.
-  Tớ hy vọng là cậu không định tìm cách gặp lại cô ta chứ? – Paul hỏi.
Arthur không nói lại một lời và sự yên lặng lại ngự trị trong xe.
Phong cảnh thay đổi luân phiên giữa những bãi biển và những đầm lầy với những đường viền là con đường rải nhựa. Paul tắt cái đài cứ kêu rèng rẹc mỗi khi xe ngang giữa hai quả đồi.
-  Tăng tốc lên, mặt trời sắp lặn mất rồi!
-  Mình còn những hai tiếng cơ mà, cậu có tâm hồn yêu thiên nhiên từ bao giờ thế?
-  Tớ cần quái gì ngắm cảnh hoàng hôn! Cái mà tớ quan tâm là các em gái trên bãi biển ấy chứ!
 
 
Mặt trời đã bắt đầu xế bóng, ánh nắng lọt qua các tầmg của giá sách nhỏ che khuất cửa sổ ở một góc phòng khách. Lauren đã ngủ một giấc dài buổi chiều. Cô nhìn đồng hồ rồi đi vào buồng tắm. cô rửa mặt, mở tủ và đứng lưỡng lự trước một chiếc quần thể thao. Cô chẳng có mấy thời gian để ra chạy ở khu Marin nếu muốn đến ca trực đêm của mình đúng giờ, nhưng cô cần hít thở không khí ngoài trời.
Cô mặc quần áo vào, thôi kệ bữa ăn tối, giờ giấc của cô chẳng ra làm sao cả, cô sẽ ăn tạm cái gì đó dọc đường vậy. Cô ấn nút trả lời tự động của máy điện thoại. Có tin nhắn của anh bạn trai nhắc cô tối nay hai người sẽ phải đến dự buổi chiếu phim tài liệu mới nhất của anh ta. Cô xóa tin nhắn khi còn chưa kịp nghe đến đoạn Robert hẹn giờ.
 
 
Chếc Ford rời đường số 1 đã được một lúc, hàng rào của các khu biệt thự đã hiện lên xa xa trên đồi, Arthur rẽ sang hướng đi Carmel.
-  Còn khối thời gian, dừng lại nghỉ tí đã – Paul nói.
Nhưng Arthur không chịu vòng xe lại, anh đã có dự định khác trong đầu.
-  Laurenẽ ra tớ phải mua lấy bộ quần áo – Paul nói tiếp – Thử tưởng tượng là chúng mình lách vào được giữa đám mạng nhên, thì trong nhà cũng hơi bốc mùi ẩm mốc nhỉ?
-  Có những lúc tớ cứ tự hỏi chẳng biết có khi nào cậu lớn lên được không. Cái nhà ấy được lau dọn thường xuyên, có cả vải trải giường sạch trong giường đấy. Ở Pháp người ta có điện thoại, cậu biết đấy, có cả máy tính, Internet và tivi nữa. Chỉ có ở căng tin của Nhà Trắng người ta mới còn tưởng dân Pháp không có nước máy thôi!
Anh rẽ vào con đường dẫn lên đỉnh một quả đồi, phía trước họ hiện ra hàng rào sắt của khu nghĩa địa.
 
 
Arthur vừa xuống xe, Paul đã chiu luôn vào ngồi sau tay lái.
-  Này, trong ngôi nhà kỳ diệu được lau dọn khi cậu vắng mặt ấy, bếp và tủ lạnh tuy thế cũng vẫn không đồng ý làm bữa tối cho chúng mình ăn phải không?
-  Không, việc này chưa được lo liệu trước.
-  Được, thế thì phải đi mua vài thứ trước khi hàng quán đóng cửa hết. tớ sẽ quay lại sau, - Paul nói bằng một giọng vui vẻ - với lại tớ muốn để cho cậu có vài phút riêng tư với mẹ cậu.
Có một cửa hàng thực phẩm cách đó hai cây số, Paul hứa sẽ về thật nhanh. Arthur nhìn chiếc xe đi xa dần, một làn bụi bốc lên sau bánh xe. Anh quay lại và bước về phía cổng. Ánh trời dìu dịu, linh hồn Lili dườngnhư lẩn khuất xung quanh anh, như điều ấy vẫn thường xảy ra sau khi bà mất. Đi đến cuối con đường, anh nhìn thấy phiến đá trên mộ trắng lên dưới ánh mặt trời. Arthur nhắm mắt lại, hương bạc hà dại thoang thoảng trong vườn. Anh bắt đầu nói khẽ…
Con nhớ một hôm trong vườn hồng. Con ngồi chơi trên đất, lúc ấy con sáu tuổi, cũng có thể là bảy. Đó là thời kỳ ngay trước năm cuối cùng của mẹ con mình. Mẹ từ trong bếp đi ra ngồi dưới mái hiên. Lúc ấy con chưa nhìn thấy mẹ. Bác Antoine đã ra bờ biển, con bèn lợi dụng lúc bác ấy vắng mặt để chơi một trò bị cấm. Con xén hoa hồng bằng cái kéo của bác ấy, to quá cỡ đối với tay con. Mẹ đã rời khỏi chiếc ghế xích đu và bước xuống bậc thềm để ngăn cho con khỏi bị đau.
Khi con nghe thấy những tiếng bước chân mẹ, con cứ tưởng mẹ sẽ hét lên, vì con đã phụ lòng tin mà mẹ đã dễ dàng dành cho con, mẹ sẽ tước đi cái kéo trên tay con như tước đi tấm huân chương từ kẻ không còn xứng đáng. Nhưng hòan toàn không phải thế, mẹ ngồi xuống cạnh con và mẹ nhìn con. Rồi mẹ cầm tay con đưa dọc theo cành hoa. Bằng một giọng nói đã được nụ cười làm dịu đi, mẹ dặn con bao giờ cũng phải cắt phía trên mắt cây để khỏi làm hoa bị đau; rằng người ta không bao giờ nên làm đau một bông hoa hồng, phải thế không? Nhưng có ai nghĩ đến cái làm cho con người đau?
Mắt mẹ con mình bắt gặp nhau. Mẹ lấy ngón tay nâng cằm con rồi hỏi con có cảm thấy cô đơn không? Con lắc đầu để nói là không, với tất cả sức lực cần phải có để xua đi một sự dối trá. Không phải bao giờ mẹ cũng đến được với con trong cái khoảng cách tuổi tác giữa mẹ và con mình như con tự sắp xếp theo cách của con. Mẹ ơi, mẹ có tin vào một định mệnh thúc đẩycon người ta lặp lại đúng những cách hành xử của cha mẹ họ không?
Con nhớ những lời củamẹ trong bức thư cuối cùng mà mẹ để lại cho con. Con cũng thế, con cũng bỏ cuộc, mẹ ạ.
Con không tưởng tượng được là con có thể yêu như đã yêu nàng. Con tin nàng như tin vào một giấc mơ. Khi giấc mơ tàn, con cũng biến mất theo. Con đã nghĩ rằng mình hành động một cách dũng cảm, một cách hi sinh, nhưng lẽ ra con có thể không chịu nghe theo tất cả những người đã ra lệnh cho con không được gặp nàng. Tỉnh dậy sau một cơn hôn mê dài cũng giống như sống lại. Lauren cần có gia đình của nàng ở bên. Và gia đình duy nhất của Lauren là mẹ nàng và anh bạn trai mà nàng đã nối lại quan hệ. con là ai đối với nàng nếu như không phải là một người xa lạ? dù thế nào đi nữa, con cũng không phải là người sẽ cho nàng biết rằng tất cả những người xung quanh nàng đã đồng ý để cho nàng chết! Con không có quyền phá vỡ sự cân bằng bấp bênh mà nàng đang rất cần.
Mẹ nàng đã van xin con đừngnói với nàng rằngbà ấy cũng đã bỏ cuộc. Bác sĩ phẫu thuật thần kinh khẳng định với con rằng điều đó sẽ gây ra một cơn sốc khiến cho nàng không thể hồi phục được. Bạn trai của nàng, người đã trở lại trong đời nàng, là rào cản cuối cùng dựng lên giữa nàng với con.
Con biết mẹ nghĩ gì. Sự thật không phải là ở đó, nỗi sợ có rất nhiều. Con cần phải có thời gian để tự thừa nhận rằngcon đã sợ đã không đưa được nàng đến tận cùng giấc mơ, sợ không xứng đáng với giấc mơ ấy, sợ không biết thực hiện được chúng, sợ rốt cuộc chẳng phải làngười đàn ông mà nàng chờ đọi, sợ phải tự thừa nhận rằng nàng đã quên con.
Con đã nghĩ ngàn lần là sẽ tìm lại nàng, nhưng giờ đây con lại sợ rằng nàng sẽ không tin con, sợ không biết cách tái tạo tiếng cười chung cho hai người, sợ nàng không còn là người con đã từng yêu, và nhất là sợ lại bị mất nàng thêm lần nữa, điều đó, con sẽ không chịu đựng nổi. Con bỏ đi sống ở nước ngoài để tránh xa nàng. Nhưng chẳng có khoảng cách nào là đủ xa khi người ta yêu. Chỉ cần có một phụ nữ trên đường hao hao giống nàng là con lại nhìn thấy nàng đang bước đi, là tay con lại nguệch ngoạc viết tên nàng lên một mảnh giấy để làm nàng xuất hiện, là con lại nhắm mắt lại để nhìn thấy mắt nàng, là con lại thu mình trong im lặng để nghe giọng nói của nàng. Và trong lúc đó, con đã làm hỏng cái đồ án đẹp nhất trong sự nghiệp của con. Con đã xây một trung tâm văn hóa có  mặt tiền ốp toàn gạch vuông, trông như một bệnh viện.
Khi bỏ đi đến nơi ấy, con cũng đã trốn chạy sự hèn nhát của mình. Con đã bỏ cuộc, mẹ ơi, mẹ có biết con giận bản thân mình đến thế nào không. Con sống trong sự mâu thuẫn của niềm hy vọng rằng cuộc đời sẽlại đưa con và nàng đến bên nhau, mà chẳng biết rằng liệu con có dám nói với nàng không. Giờ đây, con phải tiến lên, con biết là mẹ sẽ hiểu con đang định làm gì với ngôi nhà của mẹ và mẹ sẽ không giận con. Nhưng mẹ đừng lo, mẹ ạ, con sẽ không quên rằng sự cô độc là một mảnh vườn chẳng có gì đâm chồi trong đó. Dù rằng hôm nay con sống không có nàng, con cũng sẽ không bao giờ đơn độc, bởi vẫn có nàng ở một nơi nào đó.
Arthur vuốt nhẹ phiến đá cẩm thạch trắng rồi ngồi xuống mép đá còn ấm ánh nắng ban ngày. Dọc bức tường cạnh mộ Lili có mọc một cây nho. Mỗi mùa hè cây đơm được vài chùm quả nho cho những chú chim của Carmel đến mổ.
Arthur nghe thấy tiếng bước chân lạo xạo trên sỏi, anh quay lại và thấy Paul ngồi xuống trước một tấm bia cách anh mài mét. Anh bạn của Arthur cũng cất tiếng nói bằng một giọng tầm tình.
-  Tình hình không lấy gì làm tốt, bà Tamachov nhỉ. Mộ bà ở trong tình trạng tồi tệ thế này thì thật đáng hổ thẹn! Cũng đã lâu lắm rồi, nhưng tôi chẳng có lỗi gì trong chuyện này đâu, bà biết đấy. vì một cái cô mà hắn chỉ nhìn thấy phần hồn, cái thằng u mê kia đã quyết định bỏ rơi thằng bạn thân nhất của hắn. Thôi được, đây nhé, muộn còn hơn không, tôi mang đến mọi thứ cần thiết đây.
Paul lấy từ cái túi mua hàng ra bàn chải, xà phòng dạng nước, một chai nước và bắt đầu hùng hục cọ phiến đá.
-  Tớ có thể biết cậu đang làm cái gì không? – Arthur hỏi. –Cậu quên cái bà Tamachov này à?
-  Bà ấy chết từ năm 1906!
-  Paul, cậu không muốn thôi những trò ngu ngốc của cậu đi mấy giây sao? Dù sao thì đây cũng là nơi mặc tưởng!
-  Thì tớ đang mặc tưởng, trong lúc lau chùi!
-  Trước mộ một người không quen?
-  Nào có phải một người không quen đâu, ông bạn – Paul vừa nói vừa đứng dậy. – Sau bao nhiêu lần cậu bắt tớ đi với cậu đếnnghĩa trang để tăm mẹ cậu, chẳng lẽ cậu lại còn định giở trò ghen tuông ra với tớ vì tớ đã làm thân đôi chút với hàng xóm của mẹ cậu hay sao!
Paul dội nước rửa phiến đá đã trắng lại và ngắm nghía công trình của mình, vẻ tự bằng lòng. Arthur sửng sốt nhìn bạn rồi cũng đứng dậy theo.
-  Đưa tớ chìa khóa xe!
-  Tạm biệt bà Tamachov, - Paul nói – bà đừng lo, hắn ta rời khỏi đâyvới cái vẻ thế này thì từ nay đến Noel ít ra ta còn gặp lại nhau hai lần nữa. Đằng nào thì chỗ bà cũng còn sạch được cho đến mùa thu.
Arthur khoác tay bạn.
-  Tớ có những việc quan trọng muốn nói với bà ấy.
Paul kéo bạn đi ra phía cánh cổng lớn bằng sắt của nghĩa địa.
-  Nào đi thôi, tớ đã mua một miếng sườn bò mà cậu sẽ phải nắc nỏm khen ngon cho mà xem.
Ở phía dãy mộ nơi Lili yên nghỉ, thấp thoáng bóng ông giàlàm vường đang cào sỏi. Arthur và Paul bước đến bên chiếc ôtô đậu ở phía dưới. Paul nhìn đồng hồ. Mặt trời sắp lặn xuống sau đường chân trời.
-  Cậu lái hay tớ lái? – Paul hỏi.
-  Lái cái xe Ford cũ của mẹ tớ ấy à? Cậu lại đùa rồi, lúc nãy là ngoại lệ thôi!
Ôtô đi xa dần trên con đường dọc quả đồi.
-  Tớ cần quái gì phải lái cái xe Ford cũ rích của cậu.
-  Thế sao lần nào cậu cũng cứ hỏi tớ?
-  Cậu làm tớ ngứa tiết!
-  Cậu có muốn tối nay nướng miếng sường bò của cậu trong lò sưởi không?
-  Không, tớ thích nấu ở trong phòng khách sạn hơn!
-  Hay là sau khi từ bài biển về, mình ra bến cảng chén tôm hùm nhỉ? – Arthur đề nghị.
Chân trời đã biến thành một vạt lụa màu hồng nhạt kết tự những dải ruy băng dài nối bầu trời với đại dương.
 
 
Lauren chạy đến hụt hơi. Cô dừng lại nghỉ lấy sức, ngồi xuống chiếc ghế băng đối diện với một bến cảng du thuyền nhỏ, ăn miếng bánh xăng đúych. Những cột thuyền buồm đong đưa dưới làn gió nhẹ. Robert hiện ra trên lối đi, tay đút túi quần.
-  Anh đã biết trước là sẽ tìm thấy em ở đây ,à.
-  Anh có tài nhìn xuyên suốt hay anh thuê người theo dõi em đấy?
-  Chẳng cần phải là thầy bói mới biết – Robert vừa nói vừa ngồi xuống ghế băng. – Anh biết em mà, khi em không ở bệnh ciện hay ở trên giường, thì là em đang chạy.
-  Em phải giải tỏa!
-  Em giải tỏa cả anh nữa hả? Em không trả lời điện thoại của anh.
-  Robert, em không muốn nói lại chuyện này tý nào cả. Vào năm học mới, thời kỳ bác sĩ nội trú của em sẽ chấm dứt, em còn có bao nhiêu việc phải làm nếu em muốn có cơ hội được tuyển vào biên chế.
-  Em chỉ có mỗi tham vọng nghề nghiệp thôi. Từ khi em bị tai nạn, mọi sự đã thay đổi.
Lauren ném mẩu bánh xăng đuých còn thừa vào một thùng rác bằng giấy, cô nhỏm dậy buộc lại dây giày thể thao của mình.
-  Em cần xả hơi, anh không giận nếu em tiếp tục chạy chứ?
-  Đi nào – Robert giữ tay cô lại, nói.
-  Đi đâu?
-  Thì cứ nghe theo anh một lần cũng tốt chứ sao?
Anh rời chiếc ghế băng và khoác vai cô vẻ che chở, kéo cô ra chỗ đậu xe. Một lát sau, ôtô đi xa dần về phía Pacific Heights.
 
 
Hai chiến hữu chiếm chỗ ở cuối đoạn đê chắn sóng. Những con sóng như loang loáng vệt dầu, bầu trời đã trở thành màu lửa.
-  Tớ không muốn xen vào những việc không liên quan đến tớ, nhưng phòng nhỡ cậu không nhận ra, thì mặt trời lặn ở phía kia cơ – Arthur nói với Paul khi anh chàng đang quay mặt nhìn lên tren bờ biển.
-  Cậu xen vào như thế là rất phải! Mặt trời của cậu có nhiều khả năng sẽ xuất hiện ở đây sáng mai, nhưng còn hai em gái đằng kia thì không chắc là như vậy đâu.
Gió thổi tung mái tóc một cô, cô kia đang dịu mắt vì bị cát bay vào.
-  Cái ý đi chén tôm hùm hay đấy – Paul vỗ vỗ vào đầu gối của Arthur, nói – Tớ đã ăn nhiều thịt quá, ăn một chút cá sẽ rất có lợi.
Những ngôi sao đầu tiên đã mọc trên vòm trời của vịnh Monterrey. Trên bãi biển, có vài đôi còn tận hưởng khoảng khắc yên tĩnh.
-  Tôm hùm là loại thân giáp chứ - Arthur vừa nói vừa rời con đê.
-  Cái bọn tôm hùm này điên thật! Thế mà chúng nó lại nói với tớ khác hẳn cơ! Này, em gái bên trái đúng là kiểu cậu thích đấy, em ấy trông hơi giống tiểu thư Casper, còn về phần tớ, tớ sẽ tiếp cận em bên phải – Paul vừa nói vừa bước đi.
 
 
-  Em có chìa khóa không? – Robert lục túi quần và hỏi. – Anh để quên chìa khóa phòng làm việc rồi.
Cô bước vào nhà trước. Cô chỉ muốn tráng qua người cho mát, để mặc Robert ở phòng khách. Vừa ngồi xuống đi văng, anh đã nghe thấy tiếng nước chảy trong buồng tắm.
Robert khẽ đẩy cửa phòng ngủ. Anh vứt lần lượt từng cái quần áo lên giường ròi rón rén đi sang buồng tắm. Chiếc gương phủ đầy hơi nước. Anh kéo rèm và bước vào khoang tắm hoa sen.
-  Em có muốn anh cọ lưng cho em không?
Lauren không trả lời, cô áp sát người vào vách đá hoa. Một cảm giác dễ chịu lan trên bụng cô. Robert đặt tay lên gáy cô và xoa bóp vai cô rồi ôm cô thật dịu dàng. Cô cúi đầu xuống và thả mình theo những cái vuốt ve của anh.
 
 
Người trưởng nhóm phục vụ xếp cho họ ngồi đói diện với khoang cửa kính. Onega cười khi nghe Paul kể chuyện. Thời thơ ấu trải qua cùng với Arthur trong trường nội trú, những năm đại học, buổi ban đầu của công ty kiến trúc mà họ cùng nhau tạo lập… Câu chuyện đủ để Paul mua vui cho hai vị khách của mình đến hết bữa ăn. Arthur ngồi lặng lẽ, cặp mắt mơ màng hướng ra biển. Khi người phục vụ mang những con tôm hùm to kềnh càng đến, Paul lấy chân đá một cú dưới gầm bàn vào Arthur.
-  Anh có vẻ đang để đầu óc ở chỗ nào ấynhỉ - Mathilde, cô gái ngồi cạnh Arthur, thì thầm, để khỏi ngắt lời Paul.
-  Cô cứ nói to hơn cũng được, cậu ấy không nghe thấy chúng ta nói gì đâu! Tôi rất tiếc, quả là tôi có hơi đãng trí, nhưng chúng tôi vừa mới đi xa về, với lại tôi thuộc lòng cái câu chuyện ấy rồi, tôi là nhân vật trong đó mà!
-  Thế lần nào các anh mời phụ nữ ăn tối bạn anh cũng kể chuyện này à? – Mathilde thú vị hỏi.
-  Đúng vậy, với đôi chút thay đổi và thường là bẳng cách tô vẽ thêm cho tôi – Arthur trả lời.
Mathilde nhìn anh chăm chú hồi lâu.
-  Anh nhớ ai đó phải không? Điều này được viết bằng chứ cỡ to trong mắt anh – cô nói.
-  Chẳng qua chỉ vì nơi này có gì đó gợi lại một vài kỷ niệm thôi.
-  Tôi đã phải mất sáu tuần dài hồi phục được sau cuộc đoạn tuyệt gần đây nhất. nghe nói để dứt hẳn khỏi một cuộc tình, phải mất một quãng thời gian bằng nửa thời gian mà cuộc tình dó diễn ra. Thế rồi một buổi sáng tỉnh dậy, gánh nặng của quá khưsex biến mất như có phép màu. Anh không tưởng được là lúc đo sẽ thấy nhẹ nhõm đến mức nào đâu. Về phần tôi thì bây giờ tôi  tự do như khí trời vậy.
Arthur lật bàn tay của Mathilde ra như để xem bói đường chỉ tay.
-  Cô may mắn lắm – anh nói.
-  Thế còn anh, thời kỳ hồi phục kéo dài bao lâu rồi?
-  Vài năm!
-  Anh và cô ấy yêu nhau lâu đến thế kia à? – Cô gái hỏi bằng một giọng cảm động.
-  Bốn tháng!
Mathilde Berkane nhìn xuống và hùng hục cắt tôm hùm.
 
 
Robert nằm dài trên giường, anh vươn người với cái quần jean.
-  Anh tìm cái gì thế? – Lauren vừa dùng khăn tắm lau tóc vừa hỏi.
-  Cái gói của anh!
-  Anh không định hút thuốc lá ở đây chứ?
-  Kẹo cao su đấy! – Robert vừa đáp vừa hãnh diện giơ lên cái gói nhỏ lấy từ túi quần dài của mình ra.
-  Anh làm ơn lấy giấy gói lại trước khi vứt nó đi nhé, người khác nhìn thấy trông ghê lắm.
Cô mặc vào mình quần dài và một cái áo sơmi màu xanh lơ, có kí hiệu của bện viện Memorial San Francisco.
-  Cũng buồn cười nhỉ - Robert lại nói, tay kê dưới đầu. – Em thấy toànnhững thứ kinh khủng ở bệnh viện của em, vậy mà mấy cái kẹo cao su của anh lại làm cho em ghê được.
Lauren khoác áo blouse vào và đứng trước gương sửa sang lại cổ áo. Nghĩ đến chuyện sắp được làm việc và trở về với không khí thân thuộc ở khoa cấp cứu, tâm trạng cô vui hẳn lại. Cô vớ lấy chùm chìa khóa trên bà và bước ra khỏi phòng; cô dừng lại giữa phòng khách rồi bước trở lại. Cô nhìn Robert nằm khỏa thân trên giường.
-  Dừng làm cái điệu bộ chó cúp tai ấy nữa, thực chất anh chỉ cần có một cô gái để khoác tay đến dự buổi chiếu ra mắt bộ phim của anh tối nay thôi. Anh đúng là chỉ biết nghĩ đến mình… còn em, em phải đi trực chứ!
Cô đóng cửa rồi đi xuống chỗ đậu xe. Vài phút sau, cô lên đường trong trời đêm ấm áp, sau tay lái của chiếc xe Triumph. Những cây đèn đường lần lượt sáng lên trên phố Green, dường như chào đón khi cô đi qua. Ý nghĩ đó khiến cô mỉm cười.
(6): Tên một con gấu trong tác phẩm nổi tiếng The Jungle Book của Rudyard Kipling, trở nên phổ biến hơn khi được đưa vào nhiều bộ phim hoạt hình Disney.
(7): Ôtô con có ngăn hành lý đằng sau dãy ghế cuối.
NangNgoc
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 3
Chiếc Ford cũ kỹ bò lên dốc dưới vầng trăng úa đang tỏa khắp vịnh Monterry. Paul không nói một lời kể từ lúc họ tiễn hai cô gái về khách sạn nhỏ nơi hai cô ở. Arthur tắt đài và đưa xe đậu vào dải đường dành để đõ xe sát vách đá. Anh tắ động cơ rồi chống cằm vào đôi tay dựa trên chiếc vô lăng nhựa. Ngôi nhà in bóng rõ mồn một xuống vạt đường phía dưới. Anh hạ của kính, để tràn vào buồng lái mùi hương tỏa ra từ những bụi bạc hà dại mọc đầy trên đồi.
-  Tại sao cậu lại xị mặt ra thế? – Arthur hỏi.
-  Cậu coi tớ là thằng ngu hả?
Paul đập vào bàn lái.
-  Thế còn cái ôtô này, cậu cũng định tống đi chắc? Cậu sẽ rũ bỏ hết kỷ niệm của cậu phải không?
-  cậu nói chuyện gì vậy?
-  Tớ vừa mới hiểu ra thủ đoạn của cậu, “đầu tiên bọn mình qua nghĩa trang, sau đó ra bãi biển, rồi đi đánh chén tôm hùm…”. Cậu tưởng là khi trời tối rồi thì tớ sẽ không nhìn thấy tấm biển bán nhà treo ở hàng rào à? Cậu có quyết định này từ lúc nào?
-  Từ vài tuần nay, nhưng chưa ai trả được giá.
-  Tớ bảo cậu quên đi một cô gái chứ có bảo cậu đốt cháy cả quá khứ của cậu đâu. Nếu cậu bán đi ngôi nhà của mẹ cậu, cậu sẽ phải hối tiếc. một ngày nào đó cậu trở lại bước dọc hàng rào này, cậu bấm chuông cổng, những người xa lạ sẽ cho cậu xem ngôi nhà của chính cậu, và khi họ tiễn cậu ra ngưỡng cửa của cái nơi đã từng là tuổi thơ của cậu, cậu sẽ cảm thấy cô độc, rất cô độc.
Arthur nổ máy chiếc Ford, động cơ rồ lên ngay lập tức. Cánh cổng màu xanh lá cây của khu nhà đã mở, chiếc xe break chuẩn bị dừng lại dưới những tấm liếp lợp mái nhà xe.
-  Cậu thật cứng đầu cứng cổ hơn cả lừa! – Paul vừa làu bàu vừa chui ra khỏi xe.
-  Cậu quen nhiều lừa lắm à?
Bầu trời không một bóng mây. Dưới ánh trăng, Arthur ngắm nhìn khung cảnh xung quanh anh. Họ đi lên chiếc cầu thang nhỏ bằng đá chạy dọc theo con đường. Đến nửa đường, Arthur ngắm nhìn những dấu tích còn lại của vường hồng phía bên phải. Khu vườn bị bỏ hoang nhưng vô số mùi hương quyện vào nhau đã làm thức dậy ở mỗi bước chân anh vũ điệu farandole(8) của những kỷ niệm tỏa hương.
Ngôi nhà nằm im lìm đúng như khi anh rời bỏ nó, vào buổi sáng cuối cùng mà anh sống với Lauren ở đây. Phía mặt ngoài với những cánh cửa sổ đóng kín trông còn cũ kỹ thêm, nhưng ngói trên mái nhà thì vẫn nguyên vẹn.
Paul đến bên bậc thềm, bước lên vài bậc rồi đứng dưới mái hiên gọi Arthur.
-  Cậu có chìa kháo chứ?
-  Chìa khóa để ở hãng. Đợi đấy nhé, tớ cómột chùm nữa ở trong nhà.
-  Cậu định đi xuyên qua tường để lấy chìa khóa à?
Arthur không rả lời. Anh  đi ra cửa sổ ở phía góc nhà và không do dự rút ra một miếng chêm chèn dưới cửa chớp đang đong đưa trên bản lề. rồi nhẹ nhàng nâng chốt cuẳ kính lên và đẩy cửa theo rãnh trượt. không còn gì ngăn cản anh trường vào nhà nữa.
Phòng làm việc nhỏ chìm trong bóng tối, Arthur chẳng hề cần ánh sáng để đi vào đó. Trí nhớ trẻ thơ của anh vẫn vẹn nguyên và anh biết từng góc nhỏ ở đây. Tránh quay người lại để khỏi nhìn thấy chiếc giường, anh đến bên tử tường, mở cửa tủ và quỳ xuống. Chỉ cần đưa tay ra là anh cảm nhận ngay dưới tay mình lớp da của chiếc vali nhỏ màu đen trong đó giấu kín mãi mãi những kỷ niệm của Lili. Anh bật hai chốt khóa và từ từ mở nắp. tinh chất của hai loại hương mà Lili trộn lẫn trong chiếc lọ pha lê màu vàng có nút bằng bạc mờ vẫn lọt ra ngoài. Nhưng không chỉ có những kỷ niệm của mẹ anh là tràn ngập tim anh.
Arthur lấy chiếc chìa khóa dài nằm ở chỗ mà anh đã đặt nó ngày mà anh khép cửa căn nhà này lần cuối cùng. Đó là ngay sau khi viên thanh tra cảnh sát đã chở Lauren về lại căn phòng bệnh viện, nơi Arthur và Paul đã đánh cắp cơ thể cô để cứu cô khỏi một cái chết đã được lên kế hoạch trước.
Arthur rời căn phòng làm việc nhỏ. Ra đến hành lang, anh bạt điện. sàn gỗ kêu cọt kẹt dưới bước chân anh, anh tra chìa khóa vào ổ khóa và vặn ngược. Paul bước vào nhà.
-  Cậu có nhận thấy không? Magnum và Mac Gyver(9) dưới cùngmột mái nhà! 
Hai người vừa vào bếp, Arthur bènmở ngay bình ga đặt phía dưới bồn rửa bát rồi ngồi xuống bên chiếc bàn gỗ to. Nghiêng người trên bếp ga, Paul trông chiếc bình pha cà phê kiểu Ý đang sôi lăn tăn. Mùi thơm ngọt ngào đã lan tỏa trong phòng. Paul lấy hai chiếc cốc to từ trên giá gỗ màu nâu xuóng và đến ngồi trước mặt bạn.
-  Giữ những bức tường này lại và đưa cô gái kia ra khỏi đầu cậu đi, cô ta đã gây ra đủ thứ thiệt hại rồi.
-  Bọn mình sẽ không nói lại chuyện này chứ?
-  Không phải tớ là người có bộ mặt đưa đám khi ngồi ăn tối cùng hai nàng xinh như mộng đâu nhé – Paul vừa rót cà phê nóng bỏng vừa nói tiếp.
-  Mộng của cậu, đâu phải của tớ!
Paul sửng cồ:
-  Đã đến lúc lậplại một chút trật tự trong đời cậu rồi đấy. cậu có một căn hộ mới, một nghề mà cậu say mê, một người liên doanh thiên tài và mấy em gái mà tớ chài thì nhìn tớ nhưng lại cầu trời khấn Phật để được cậu gọi điện thoại cho.
-  Cậu nói về cái cô cứ nhìn cậu như muốn ăn sống nuốt tươi ấy à?
-  Tớ không nói về Onega mà về cô kia cơ! Đã đến lúc cậu nên vui chơi!
-  Thì tớ vẫn vui đấy chứ Paul, có lẽ không giống nhưng tớ vẫn vui. Lauren không còn trong đời tớ nữa nhưng cô ấy vẫn là một phần của tớ. Thêm nữa tớ đã nói với cậu rồi đấy, tớ đâu có bắt mình không được sống. Đây là buổi tối đầu tiên của bọn mình từ khi tớ trở về, nhưng chúng ta có ăn tối riêng đâu, theo như tớ biết.
Paul quấy không ngừng chiếc thìa nhỏ trong cốc cà phê của mình.
-  Cậu đâu có cho đường vào cà phê của cậu… - Arthur đặt tay mình lên tay bạn, nhắc.
Giữa đêm trăng sáng, trong căn phòng bếp ấm cúng của ngôi nhà cũ bên bờ biển, hai chiến hữu nhìn nhau yên lặng.
-  Cứ nghĩ đến câu chuyện phi lý mà bọn ình đã trải qua, tớ chỉ muốn táng cho cậu vài cái tát để cậu tỉnh hẳn lại – Paul nói. – Thế nếu như cậu cứ điên rồ thử tìm cách gặp lại cô ta, cậu sẽ nói với cô ta cái gì nào? Hồi cậu kể cho tớ nghe những chuyện xảy ra với cậu, tớ đã bắt cậu đi xét nghiệm bằng máy Scanner… Vậy mà tớ là bạn thân nhất của cậu đấy! Cô ta lại là bác sĩ, nếu cậu nói sự thật với cô ta, cậu nghĩ cô ta có chụp lên người cậu một cái áo cho bệnh nhân tâm thần, loại không có mũ hoặc là loại bịt kín đầu kiểu Hannibal Lecter, hay không? Cậu đã làm việc cậu phải làm, và tớ ngưỡng mộ cậu về điều đó. Cậu đã dũng cảm bảo vệ cô ấy đến cùng.
-  Tớ nghĩ tốt nhất là tớ đi ngủ, tớ mệt rồi – Arthur nói và đứng dậy.
Arthur đã ra đến hành lang thì Paul gọi anh lại, anh bèn thò đầu qua cửa.
-  Tớ là bạn thân nhất của cậu, cậu biết chứ? – Paul nói.
-  Ừ!
Arthur ra khỏi hành lang bằng cửa sau và đi vòng quanh ngôi nhà. Anh chạm nhẹ vào bộ khung gỉ của chiếc ghế xích đu rồi nhìn quanh, những mảnh ghép sàn dưới mái hiên đã bị long ra, những miếng ốp mặt tiền đã tróc sơn bởi cái nắng thiêu đốt mùa hè và sương muối mùa đông, khu vườn bỏ hoang toát lên vẻ buồn thảm. Một cơn gió thổi làm Arthur rùng mình. Anh lấy từ trong áo khoác ra chiếc phong bì có chứa bức thư mà anh đã viết ở Paris, trên một chiếc ghế băng ở quảng trường Furstenberg, anh viết nốt trang cuối cùng rồi lại nhét vào trong túi áo.
 
 
Sương mù trên biển Thái Bình Dương kéo theo tấm khăn choàng đêm ra đến tận thành phố. Bên quầy bar vắng ngắt của quán Parisian Coffee, đối diện với cửa khoa cấp cứu, Lauren đọc thực đơn trong ngày.
-  Cô còn có thể làm việc gì nữa vào cái giờ này buổi đêm, một mình, ở quán của tôi? – Ông chủ quán mang đến cho cô một cốc nước giải khát và hỏi.
-  Nghỉ giữa giờ chẳng hạn.
-  Nhìn xe cấp cứu chạy rầm rập thì xem ra tối nay cũng nhiều việc ra phết! – Ông chủ quán vừa lau cốc vừa nói tiếp. – Cứu toàn thế giới là điều tốt, nhưng cô có nghĩ đến chuyện mình cũng phải sống không?
Lauren nghiêng người về phía ông chủ quán như để thổ lộ một điều bí mật.
-  Bác nói cho tôi yên tâm đi, tôi là chủ đề củamọi cuộc nói chuyện, hay là tối nay ông Fernstein có đến ăn ở đây?
-  Ông ấy ngồi ở chỗ kia kìa – chủ quán chỉ về phía cuối phòng, thừa nhận.
Lauren rời chiếc ghế đang ngồi và đi đến chỗ giáo sư.
-  Nếu thầy cứ tiếp tục có vẻ mặt thế này thì em lại trở về ngồi ăn một mình ở quầy bar vậy – Lauren nói và đặt cốc của mình xuống bàn.
-  Cô ngồi cuống đi chứ đừng đứng nói vớ vẩn nữa.
-  Hôm qua, thầy không nhất thiết phải khiển trách em trước mặt bệnh nhân của em. Đôi khi thầy đối xử với em cứ như thể em là đứa con gái nhỏ của thầy vậy.
-  Còn hơn thế nữa chứ, cô là sản phẩm sáng tạo của tôi! Sau khi cô bị tai nạn, tôi đã khâu vá lại hoàn toàn…
-  Cảm ơn thầy đã tháo đinh ốc ra khỏi sọ em.
-  Tôi làm vụ này thành công hơn Frankenstein(10), có lẽ chỉ trừ phần tính cách thôi. Cô có muốn ăn đĩa bánh xèo với một thầy lang già và uống xiro không?
-  Nếu vậy thì có ạ.
- Chúng ta đã xử lý bao nhiêu bệnh nhân đêm nay nhỉ? – Ông Fernsstein đẩy đĩa bánh về phía Lauren, hỏi.
-  Khoảng một trăm người – cô trả lời và lấy một miếng bánh khá to. – Thế thầy còn làm gì ở đây vậy, chắc thầy không cần trực ngoài giờ để kiếm thêm tiền chứ?
-  Kỷ lục đẹp đối với một ngày thứ bảy đấy – ông Fernstein đồng tình nói, miệng đầy bánh.
Sau tấm kính của một quán ăn không tuổi, ông giáo sư già và cô học trò ngồi ăn, đồng cảm, cả hai cùng thưởng thức khoảnh khắc nghỉ ngơi mà phần cuối của đêm dành tặng họ.
Ở hè đường đối diện, khoa cấp cứu sẽ không biết đến sự vắng mặt của họ trong vài giờ nữa. Trên đường phố vắng, ánh sáng của ngọn đèn chập chờn rồi tắt hẳn. Một ban mai với bầu trời nhợt nhạt vừa thức dậy.
 
 
Arthur thiu thiu ngủ trên ghế xích đu. Ngày mới rạng phủ lên cảnh vật một không khí dìu dịu. Anh mở mắt và nhìn ngôi nhà dường như đang ngủ yên lành, Phía dưới kia, biển liếm vào bãi cát, kết thúc công việc từ đêm của nó. Bãi biển mặc lại bộ trang phục nhẵn mịn, không tì vết. Anh đứng dậy và hít thật sâu hương vị trong lành của buổi sáng. Anh rảo bước về phía bậc thềm, đi qua hành lang rồi hối hả leo lên hành lang. Lên trên gác, Arthur gõ cửa rồi thở hổn hển bước vào phòng Paul.
-  Cậu ngủ đấy à?
Paul giật nảy mình và ngồi bật dậy trên giường. Anh tìm kiếm xung quanh rồi nhận thấy Arthur đang đứng ở chỗ cánh cửa hé mở.
-  Cậu đi ngủ lại ngay đi! Cậu sẽ quên sự tồn tại của tớ cho đến khi kim ngắn của cái đồng hồ báo thức này chỉ vào một con số hợp lý, chẳng hạn số mười một. Khi ấy và chỉ đến khi ấy, cậu mới được hỏi lại tớ cái câu hỏi ngu ngốc của cậu.
Paul quay lưng và đầu anh lún vào cái gối to đùng. Arthur ra khỏi phòng, đến giữa hành lang, anh lại quay người, bước trở lại:
-  Cậu có muốn tớ đi mua cái bánh mì ăn sáng không?
-  Cút đi! – Paul rống lên.
 
 
Lauren bấm điều khiển từ xa để mở cửa nhà xe và tắt máy ngay khi vừa đỗ xe xong. Con chó Kali ghét chiếc xe Triumph này, hễ nghe thấy tiếng máy nổ là nó sủa ầm ngay. Đi vào qua hành lang bên trong, Lauren nhảy bốn bậc một ở cầu thang chính rồi bước vào căn hộ của mình.
Những con số ở chiếc đồng hồ quả lắc đặt trên lò sưởi chỉ sáu giờ rưỡi sáng. Kali rời chiếc đi văng để chạy ra chào mừng cô chủ, Lauren bế nó lên. Sau khi được vuốt ve, con chó đi ngủ tiếp trên chiếc thảm dừa trải giữa phòng khách, còn Laurenra sau tủ bar để pha một cốc trà thảo mộc. Một mẩu thư ngắn của mẹ cô, đính trên cánh cửa tủ lạnh bằng cục nam châm hình con ếch, thông báo rằng Kali đã được cho ăn tối và đi dạo. Cô mặc vào mình một chiếc áo ngủ rộng quá cỡ rồi chui mình vào chăn. Cô ngủ thiếp ngay tức khắc.
 




(8): Điệu nhảy vùng Provence, nhịp 6/8.
(9): Nhân vật chính trong một bộ phim truyền hình nhiều tập Mỹ, gắn với cuộc phiêu lưu mạo hiểm.
(10): Nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết của Mary Shelley, nhà văn nữ người Anh thế kỷ 19. Trong cuốn sách này Frankenstein là một bác sĩ đã tạo nên một con quỷ có khả năng siêu phàm nhưng hình thù gớm ghiếc.
NangNgoc
Đăng nhập để trả lời
0