Diễn Đàn » Trau Dồi Việt Ngữ

Kịch ngắn: Chữ “Quốc Ngữ”

3 trả lời, 2.579 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-24 22:19:43vvn>
Chữ “Quốc Ngữ”
Kịch ngắn 3 màn.

Màn một, cảnh một.

Một hôm, tổ Hùng Vương sực nhớ tới đám con rồng cháu tiên không biết lúc này sống ra sao, có còn bị giặc Ân, giặc Chu ăn hiếp nữa không bèn sai hai vị tướng công nổi tiếng yêu nước thương nòi, biết lo cho vận mệnh của dân tộc là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và Quang Trung đế Hồ Thơm Nguyễn Huệ đi xuống trần gian khảo sát thực tế rồi dâng sớ tấu chương về cho Tổ biết tình hình.

Màn hai, cảnh hai.


Hai vị vân du khắp nơi, gặp các thần hoàng thổ địa xong rồi bảo gởi báo cáo lên cho mình để còn viết tấu chương trình Tổ. Táo công các nơi nộp sớ về, vương và đế mở ra và không hiểu mấy táo viết cái gì quọt quẹt trong đó mà sớ nào cũng bắt đầu bằng mấy cái cây quẹt quẹt y hệt nhau:

“MUÔN TÂU…”

Vương và Đế giận lắm mới hỏi:

- Các ngươi viết lăng nhăng cái gì thế này? Tại sao không viết bằng chữ Quốc Ngữ mà học theo ngoại bang viết chữ chân chim thế?

Các táo run rẩy thưa:

- Dạ bẩm hai vị Hoàng Đế cùng Đại Vương, kể từ khi mấy giáo sĩ Tây Dương Đắc-lộ và các cố đạo đem chữ La-tinh vào nước ta thì được nhiều vị học giả học thiệt ủng hộ quá xá nên từ ba thế kỷ nay chữ La-tinh đã thành quốc ngữ rồi ạạạạạ… Dạ dạ. Mà cái chữ nầy thiệt lợi hại lắm, vừa dùng viết được mấy thứ tiếng Tây dương như tiếng Phú-lãng-sa, tiếng Anh-cát-lợi, tiếng Y-pha-nho, tiếng Ý-đại-lợi, tiếng Nhật-nhĩ-man, tiếng Bồ-đào-nha đủ thứ mà còn giúp dân ta khỏi phải mượn chữ của Tàu phù mà viết tiếng Việt… Dạ dạ.

- Các ngươi thật là quá lắm. Bỏ chữ của ông cha, dùng chữ của Tây dương mà còn mồm năm miệng mười … Thôi thì để chúng ta tự viết tấu chương còn hơn phải đi kiếm thông ngôn mà đọc mấy cái chữ chân chim thời thượng của bọn bay…

Phán xong, hai vi mỗi người tự viết một bản tấu chương để bảo đảm tính độc lập và trung thực của báo cáo, xong dâng hương rồi đốt sớ dâng về cho Tổ.

Màn ba, cảnh một.

Khói bay nghi ngút vừa tan, Tổ Hùng nhận được tấu chương bèn giở ra đọc bản của Vương trước. Ngài cũng giật mình … chẳng hiểu gì hết. Chỉ thấy một đống gạch ngang gạch dọc như lưới bắt cá mà ngày xưa tổ An Dương Vương dùng để bắt Kê tinh ở Cổ Loa vậy. Câu đầu viết Vương viết như vầy:


啟稟皇上

Tổ bèn mở tấu chương của Đế ra xem may ra dễ đọc hơn tấu chương của Vương chăng, lại giật mình vì chữ của đế còn nhiều gạch ngang gạch dọc hơn cả chữ Vương, nhìn như cái mạng nhện. Câu đầu Đế viết như vầy:

稟報囻組

Tổ giận lắm, truyền gọi hai vị Đế, Vương về để hỏi cho ra ngọn nguồn tại sao viết tấu chương cho Tổ mà không viết bằng chữ quốc ngữ mà lại vẽ cái chi chi toàn lưới cá với mạng nhện. Vương và đế về đến, Tổ dịu giọng hỏi:

- Tổ bảo các ngươi viết tấu chương gởi về cho Tổ đọc, vậy mà các người vẽ cái chi chi đây?

Vương thưa:

- Dạ muôn tâu hoàng thượng, thần viết bằng Quốc ngữ dùng Hán tự đó…

Đế cũng thưa:

- Dạ thưa Tổ, thần viết bằng chữ Nôm quốc ngữ đó…

Tổ không vui:

- Các ngươi nói cái gì quốc ngữ dùng Hán tự, với quốc ngữ chữ Nôm? Nước Nam ta từ xưa đã có chữ âm dương, sau bổ khuyết thêm chữ nòng nọc cho phong phú. Học còn không hết tại sao phải đổi thứ chữ khác làm quốc ngữ.

Vương thưa trước:

- Dạ muôn tâu hoàng thượng, qua mấy ngàn năm bị giặc bắc phương đô hộ, từ Ân, Chu chí Đường, Tống, chữ âm dương với chữ nòng nọc đã thất truyền. Rồi khi Sĩ Nhiếp thái thú đem Hán tự sang thì dân ta mấy trào tự Triệu, Đinh chí Lê, Lý đều dụng Hán tự làm quốc ngữ để tiện bề liên lạc với lân bang mà cùng nhau liên hợp bách Việt với Chiêm, Thổ vì chữ Hán thời bấy giờ đi đâu người ta cũng hiểu, giống như tiếng Anh-cát-lợi hồi nhị thiên niên cuối nhị thập kỷ… Nhất là thời Đông A nhà chúng con bị giặc Nguyên Mông ba lần đánh chiếm. Vó ngựa kỵ quân các Đại Hãn đến đâu là nơi đó quy hàng hoặc biến thành bình địa như mấy nước Tiểu Á với Âu châu. Nếu không nhờ Hán ngữ mà liên hợp bách Việt với các thổ tộc thì chưa chắc đã giữ được bờ cõi.

Tổ vỗ bàn quát to:

- Lũ các ngươi quen thói nô bộc, lệ thuộc phương bắc, dẫu có đánh đuổi được chúng ra khỏi bờ cõi, mà vẫn khư khư giữ lấy văn tự, lễ nghi của chúng thì có khác gì làm việc nửa mùa?

Đế nghe vậy bước lên thưa:

- Dạ thưa Tổ. Bởi vậy trẫm mới truyền cho La sơn phu tử mở rộng việc dùng chữ Nôm, tức là thứ chữ viết tiếng Nam ta. Tuy có mượn Hán tự nhưng viết theo lối của mình chỗ mượn âm, chỗ mượn nghĩa khiến cho Tàu nó cũng không hiểu ra…Cho nên từ khi trẫm buộc lòng phải hạ bệ nhà Lê, tự xưng Hòang đế, chẳng qua muốn khôi phục quê cha đất tổ, rỡ ràng văn hóa Đại Nam, biến chữ Nôm thành quốc ngữ. Tiếc là trẫm về chầu tổ sớm nên sau này chữ quốc ngữ của trẫm bị bọn con cháu nó bỏ rơi mà theo Tây dương đem chữ La tinh để lên bàn thờ mà gọi là quốc ngữ. Nghe nói sau này ngay bọn cháu chắt của Thuấn Nghiêu, với lũ chút chít của Thái dương thần nữ cũng học đòi thứ chữ của Tây dương mà gọi là Romanji gì đó…

Tổ ngậm ngùi:

- Xét ra thì các ngươi cũng không có lỗi. Chẳng qua cuộc thế chuyển dời vũ trụ tuần hoàn đổi thay. Hiểu được vạn vật chung quy chẳng ngoài một chữ Dịch. Không có gì là bất biến. Ngay cả chữ Dịch của ta nó cũng “dịch” qua Tàu, không biết bao giờ mới “dịch” về. Hay là nó theo chân Ải Nam quan thành Hữu nghị quan, rồi “hữu nghị” cho người ta luôn. May mà các ngươi viết dù ta không đọc được, nhưng nói thì ta vẫn hiểu. Chớ không thì người ta bảo Quốc Tổ vừa mù chữ quốc ngữ, vừa điếc tiếng Nam rồi có khi lại thành dóc tổ… Nói đi cũng nên nói lại, họ Đông A ngươi cũng khá khuyên con khuyên cháu bớt xài Hán Ngữ đi. Cái gì mà “nhị thiên niên cuối nhị thập kỷ”? Nói là năm hai ngàn cuối thế kỷ hai mươi có được không? Còn đám hậu duệ của Tây Sơn Hồ tộc ngươi thì khá khuyên con khuyên cháu bỏ cái thói giặc bể, đi đâu cũng chém giết tranh dành lẫn nhau từ trong nhà ra tới nước ngoài. Nhớ lời Tổ dạy câu này:

Khôn ngoan đá đáp người ngoài.
Trứng cùng một bọc chớ hoài đá nhau.


Hạ màn.



viết tại Tà nguyệt Tam tinh động,
mùng bốn
tháng ba
năm Đinh Hợi
mùa giỗ Tổ Hùng Vương

Viết dâng Tổ cùng các bậc anh linh xin hai chữ đại xá cho tội ngông.
Tâm hoà VVN                                    
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-21 05:01:11Ngọc Lý>
.

Vẳng trên núi cao, có tiếng ầu ơ của Âu Cơ vọng xuống:

“ầu ơ ...
Ví dầu tình bậu muốn … trêu
Bậu dựng vở kịch … bậu bêu riếu người …
 
Ầu … ơ …
Người Nam nước Việt muôn đời
Câu ru mẹ hát nhân tình đầy vơi…
 
“Quốc”* là chữ Hán người ơi
Người Nam nước Việt  đất trời rộng thênh
Ai phong đất nước cho mình
Ruộng đồng xứ Việt ngát tình dân ta …
 
Tiếng Nam dấu giọng ngân nga
Bổng trầm hỏi ngã nặng là nợ duyên
 
Ai đem xóa hết lời nguyền
Lời ru mẹ đẻ nỡ quên sao đành"
 
 
 
* Quốc (chữ Hán) là khu vực các nước chư hầu được phong.
Đây là quan niệm sai lầm của người theo Hán học, cho rằng
đất nước Việt là một phần đất do Vua Hán phong cho.

 
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-23 01:36:47HongYen>
 
Chúc Vui với Tiếng và Chữ.

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-23 12:41:22goldfish>
Ngậm ngùi
 
Tổ Hùng Vương ngậm ngùi ai tỏ
Nam quốc sơn hà - còn đó sách trời
Quan kia chữ đã “dịch” rồi
Tụ sáu tụ mười, quan lại “dịch quan”
Đăng nhập để trả lời
0