36 KẾ CẦU NGƯỜI
(36 KẾ DÙNG NGƯỜI)
Đạt Nhân (T.Q)
Dịch: Nguyễn Hồng Lân
KẾ THỨ NĂM
MẠNH DẠN NHƯNG TINH TẾ
Bí quyết:
Không nên đánh giá quá cao về đối phương, đánh giá quá thấp về bản thân, cho dù đối phương là người có tiền tài, danh vọng, địa vị cũng không có cản trở đến việc bạn tiếp xúc với họ một cách đàng hoàng.
Thực tế còn cho thấy những người càng có công trạng và địa vị thì lại càng bình dị, dễ gần.
I. MUỐN BẮT ĐƯỢC CỌP PHẢI VÀO HANG
Vào những thời khắc quyết định khi thực hiện phải mạnh dạn “có chí làm quan, có gan làm giàu” nếu không mạnh dạn thì việc gì thực hiện cũng khó.
Ở một số người hễ nghĩ đến việc phải nhờ cậy người khác là cảm thấy vô cùng ngần ngại, chưa kịp đề nghị đã đành vì e ngại mà tự từ bỏ ý định. Nếu chú ý nghiền ngẫm, bạn sẽ thấy được rằng, dạng tâm lý đó không phải là chuyện mới có và chỉ xuất hiện khi có việc cần nhờ đến sự giúp đỡ của người khác ngay trong hoạt động giao tiếp hàng ngày khi tiếp xúc với người xung quanh vẫn xuất hiện trạng thái tâm lý như vậy. Các chuyên gia gọi tiện tượng đó là “tâm lý ngại giao tiếp”.
Có một số bạn trẻ ngại tham gia vào hoạt động giao tiếp như nghe nhạc, khêu vũ thậm chí là các bữa tiệc mời của bạn bè, người thân, những người này hễ bước chân đến chỗ đông người là tháy kém thoải mái, có lúc nhìn thấy người quen cũng lảng tránh, sjư phải trò chuyện, tiếp xúc.
Nguyên nhân gây nên “tâm lý ngại giao tiếp” rất phức tạp, theo sự phân tích tâm lý thì cảm giác tự ti và xấu hổ là hai nguyên nhân đáng chú ý. Những người có trạng thái tâm lý này gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp xúc với người khác, do đó họ thường rời vào trạng thái cô độc tâm lý này gây ảnh hưởng xấu đến sự tiến triển bình thường của hoạt động giao tiếp của người đó với mọi người xung quanh.
Trong tác phẩm văn học cổ điển Trung Quốc “Hồng Lâu Mộng” nhân vật Lâm Đại Ngọc có thể coi là điển hình cho mẫu người luôn có tâm lý tự ti. Lâm Đại Ngọc từ sau ngày bước chân vào Gia Phủ, cô luôn có tâm trạng hụt hẫng của một kẻ ăn nhờ ở đậu, tuy rất được Giả Mẫu yêu quý nhưng do cảm giác tự ti xuất thân trong một gia đình mà gia cảnh đang xuống dốc, một mình phải lang thang đến chốn đất khách, từ trong thâm tâm Đại Ngọc tự cho mình thua kém các anh chị em họ khác.
Bản thân Lâm Đại Ngọc cũng có thể được coi là cô gái có tài năng và rất có lòng tự trọng, thêm vào đó là khuynh hướng sống nội tâm từ đó trong các hoạt động tập thể, nhằm mong sự tự trọng cô thường ẩn mình vào một góc, đơn độc, riêng lẻ, rầu rĩ âm thầm, không muốn chủ động tiếp xúc với người khác. Chính sự tự ti đã ngăn cản sự hòa hợp của cô với các anh chị em.
Trong thực tế cuộc sống những ví dụ tương tự không hiếm, có nhiều người thướng sống đơn độc, lẻ loi, không có lấy một người bạn, nếu gặp phải chuyện phiền phức, nếu có ai xui anh ta đi nhờ cậy một ai đó, thì chuyện đó đối với anh ta cũng khó khăn như bị đẩy ra pháp trường vậy.
Sự tự ti hoàn toàn có thể được khắc phục. Điều đầu tiên cần làm là phải củng cố sự tự tin. Thực tế là cho dù trong hoàn cảnh giao tiếp nào, con người ta đều bình đẳng với nhau về nhân cách, không nên tự hạ thấp bản thân mình, tự cho rằng mình thua kém người khác. Do sự tự ti, có người luôn tự cho rằng người khác coi thường mình, thực tế đó hoàn toàn là sự tự đánh giá thấp bản thân còn nếu có hành động coi thường nào đó từ phía đối phương thì thường là do hành động trốn tránh bất hợp lý của mình gây nên,vì có những hành động xử sự khác thường làm cho người khác không thể đưa ra nhận xét đúng về bạn từ đó gây sự xa lánh, lạnh nhạt, chính điều này có tác động trở lại khiến bạn càng trở nên cô đơn, cứ như vyậ hình thành vòng luẩn quẩn, khiến bàn càng trở nên lạc lõng.
Để cải thiện tình trạng đó, biện pháp duy nhất là cần loại bỏ sự tự ti, mặc cảm, mạnh dạn tham gia vào các hoạt động xã giao, trong quá trình giao tiếp, hai bên có cơ hội thể hiện khả năng của cá nhân, qua đó học được cách đánh giá đúng đắn về người khác và bản thân mình, nâng cao sự tự tin.
Thứ hai là cần biết quên đi bản thân, người hay ngượng ngập, e dè thường có xu hướng quá chú ý đến bản thân thường có suy nghĩ: Mình nói như vậy có hay không nhỉ? Mình ăn mặc như thế có hợp không? Mình đề nghị anh ta giúp đỡ như vậy có đường đột quá không? Nếu bị từ chối thì sao? Cứ như vậy, những suy nghĩ dằn vặt khiến người đó càng trở nên căng thẳng, nếu không tự giải tỏa, thoát ra khỏi sự bế tắc trong tư tưởng, thì rất dễ gây nên sự thất bại trong quá trình tiếp xúc.
Nếu chúng ta thay cách nghĩ đó bằng cách nhìn sự vật ở góc độ khác, tự cho rằng: người kia chưa chắc đã giỏi hơn mình, có thể anh ta cũng đang e dè, ngần ngại. Với tâm lý tự tin, vững vàng như vậy chúng ta sẽ trở nên thoải mái, bình tĩnh, tự tin và một khi đã có sự thoải mái trong nội tâm thì điều kiện và bấu không khí cần có cho hoạt động giao tiếp sẽ xuất hiện.
Ngoài ra, trong hành động còn cần tính chủ động, hãy mạnh dạn, chủ động đưa ra đề nghị yêu cầu được giúp đỡ. Đúng như điều mà các nhà tâm lý xã hội đã chỉ ra: “Một lần giành được thành công trong hoạt động giao tiếp sẽ có tác dụng to lớn mang lại cảm giác khám phá hoạt động xã giao và tăng cường lòng tự tin của bản thân người đó trong giao tiếp thành công tiếp theo sẽ tạo cho người ta phản xạ có điều kiện mới trong hoạt động giao tiếp, học được cách tiếp xúc với người khác một cách thoải mái, tự nhiên, đàng hoàng và thẳng thắn khi đưa ra đề nghị yêu câuf được giúp đỡ và giúp đỡ người khác”. Nói tóm lại, không có những nhà hoạt động xã hội bẩm sinh, muốn trị tận gốc căn bệnh “ngại giao tiếp” chỉ có thể thực hiện được thông qua sự rèn luyện không ngừng trong hoạt động thực tiễn.
II. HAI MƯƠI CÁCH ĐỀ CHIẾN THẮNG SỰ E NGẠI
1. Khi tiếp xúc, mạnh dạn bước thẳng đến phía đối phương hãy coi như người đó là kẻ đang nợ tiền của bạn.
2. Tập nhìn thẳng vào sóng mũi đối phương khi đối thoại, hãy để họ có cảm giác bạn đang nhìn thẳng vào mắt họ.
3. Câu đầu tiên to rõ thì phần kết thúc cũng sẽ mạnh mẽ, còn ngược lại nếu câu mở đầu e dè thì khi kết thúc cũng là sự e dè.
4. Học cách giữ im lặng đúng lúc, buộc đối phương phải lên tiếng.
5. Trước khi gặp người lạ, hãy chuẩn bị một số chủ đề nói chuyện.
6. Tìm mọi cách để được tiếp xúc với những nhân vật quan trọng, quan hệ với những người lớn tuổi hơn hoặc giỏi hơn mình, qua đó sẽ học thêm được nhiều điều, ngoài ra còn nhờ đó mà quan sát, nắm bắt được khuyết điểm của kẻ mạnh, người yếu xung quanh, tăng cường lòng tự tin.
7. Nếu bạn chưa từng rơi vào hoàn cảnh khó xử trong giao tiếp, mọi sự lo lắng trước đấy đều xuất phát từ những nguyên nhân, lý do không rõ ràng, thì điều đó chứng tỏ bạn có tính cách thầm lặng sống nội tâm, chưa có kinh nghiệm phong phú trong hoạt động giao tiếp, để khắc phục điều đó bạn cần chủ động tham gia vào các hoạt động xã giao, tiếp xúc với nhiều người, bạn hãy cố gắng khắc phục khuyết điểm và phát triển những ưu điểm vốn có.
8. Nếu bạn tự thu mình lại do gặp phải những chuyện không vui trong quan hệ với mọi người trước đây, thì bạn nên nhìn nhận lại về quan hệ giao tiếp một cách đúng đắn. Trong hoạt động xã giao thông thường sẽ không có ghế giễu, lạnh nhạt, bạo lực, lừa gạt nghi ngại lẫn nhau hay cá lớn nuốt cá bé. Không nên vì một chuyện không vui hay va vấp trong quá khứ mà luôn có tư tưởng đề phòng. Khi hòa mình vào hoạt động giao tiếp và các mối quan hệ mới, vết thủng trong lòng bạn sẽ được hàn gắn nhanh chóng.
9. Không nên đánh giá quá cao về đối phương, đánh giá quá thấp về bản thân,cho dù đối phương là người có tiền tài, danh vọng, địa vị cũng không có cản trở đến việc bạn tiếp xúc với họ một cách đàng hoàng. Xét về tư cách cá nhân mọi người đều bình đẳng như nhau, hơn nữa thực tế còn cho thấy những người càng có công trạng và địa vị thì lại càng bình dị, dễ gần, ngược lại càng là kẻ kém học vấn, đầu óc trống rỗng thì lại càng là kẻ hay làm bộ, tác oai tác quái.
10. Những chuyện không vui hoặc thất bại, vấp váp trong quan hệ xã giao trước đây khiến bạn có cách nhìn thiên về chỉ thấy sự tiêu cực trong giao tiếp, từ đó tự thu mình tránh né các mối quan hệ kể cả sự tiếp xúc, quan hệ tích cực, đúng đắn. Hãy mạnh dạn, dũng cảm bước ra khỏi thế giới của riêng mình, học tập, làm theo phong cách của những người hoạt bát, năng động, lạc quan xây dựng cho mình thói quen trầm tĩnh, ung dung, khoáng đạt. Chỉ có cách làm theo giải pháp đó, thì trong các trường hợp của đời sống giao tiếp, xã giao sau này ta mới không còn có hiện tượng ngại ngùng, hồi hộp, bị động không nói được điều mình cần nói.
11. Sức mạnh của sự tự tin sẽ áp đảo cảm giác ngại ngùng, e dè, trong nội tâm của mỗi người chúng ta có hai sức mạnh đó là sự e ngại và sự tự tin. Hai sức mạnh đó tranh giành quyền khống chế, kiểm soát trí tuệ. Nhưng thường thì sức mạnh của sự tự tin lớn hơn, đây là một nhân tố thần bí người ta chưa hiểu được một cách cặn kẽ, có tác dụng hiệu quả đối với cmả giác e ngại.
12. Sức mạnh của sự tự tin được ví với một loại kích thích tố trong cơ thể trong tình huống nguy cấp nó khởi động và phát huy những tiềm lực ẩn chứa trong bạn với một kết quả đáng kinh ngạc. Sự e ngại chế ngự, khiến chúng ta không dám tiến tới, tự cho mình là yếu đuối, nhỏ bé, là vì khi đó nó khống chế tâm lý chúng ta. Trong một số trường hợp nguy cấp, lòng tự tin khiến chúng ta phát hiện nguồn sức mạnh không ngờ, lâu này tồn tại dưới dạng tiềm ẩn, khiến chúng ta làm được những việc không ngờ tới.
13. Bạn hãy ghi nhớ, cho dù không xuất hiện tình huống nguy cấp trong vẫn vẫn tiềm ẩn nguồn sức mạnh đó, bất cứ lúc nào bạn cũng có thể sử dụng sức mạnh đó để chế ngự cảm giác sợ hãi. Điều quan trọng là thường xuyên rèn luyện, tự tin vào mình, loại bỏ cảm giác yếu đuối, cho đến khi phản ứng của sự tự tin thành thói quen.
14. Nhìn thẳng vào sự e ngại, rụt rè của bản thân, thấy rõ được bản chất, nguồn gốc của nó và kiên quyết chống lại nó. Bằng hành động cụ thể, quyết tâm không để sự sợ hãi, e dè kiểm soát bản thân ngay cả trong cuộc sống bình thường.
15. Khi bạn thấy e ngại thì hãy đi làm việc mà bạn vốn e ngại, sau này bạn không còn việc đó đáng sợ nữa. Nếu bạn cảm thấy sợ hãi trước việc gì đó, hãy tự kiềm chế đừng cố gắng tưởng tượng thêm những chi tiết về chuyện đó. Hãy mạnh dạn, tích cực chinh phục e dè, sợ hãi, trở ngại tâm lý càng lớn thì khi vượt qua được khiến ta càng tự hào.
16. Hãy giữ sự yên ổn trong tâm hồn. Không nên tạo cho những suy nghĩ ngông cuồng hay bây hấn, xử láy các tình huống bàng thái độ cư xử tự nhiên, bình thường. Trước khi tiến hành công việc gì, nên chuẩn bị trước và có biện pháp dự phòng, tự tin và tin tưởng vào người khác rồi mạnh dạn làm công việc mà bạn dự định làm.
17. Không nên giữ sự lo lắng, sợ hãi cho riêng mình, kìm giữ trong lòng, không muốn nói ra, thực ra biện pháp đó rất không thông minh. Nếu trong lòng bạn có ưu tư, buồn bực thì nên nói ra, như vậy không những giải tỏa được gánh nặng tâm lý, đồng thời còn có tác dụng lấy lại sự thanh thản, tỉnh táo, loại bỏ được sự lo lắng không cần thiết.
18. Không nên sợ khó khăn. Hãy ghi nhớ rằng: khó khăn ta gặp thường là tín hiệu của sự thành công sau đó. Chri có những ai không run sợ trước khó khăn mới có thể chiến thắng bất kỳ sự sợ hãi, e ngại nào.
19. Hãy tạm gác những chuyện ngoài tầm tay. Khả năng của mỗi người đều có giới hạn, mỗi người có sở trường riêng, không thể so sánh một cách máy móc. Vậy thì, với những chuyện vượt quá khả năng, nằm ngoài tầm tay của bạn thì việc gì phải miến cưỡng, thường xuyên nghĩ đến nó. Nếu ta luôn day dứt nghĩ đến chuyện vượt quá khả năng hiện có sẽ luôn làm cho bản thân mình bứt rứt không yên, do đó trong hoàn cảnh như vậy tạm thời nên bỏ qua, dẹp chuyện đó sang một bên.
20. Không nên kể khổ trước mặt người khác. Nếu trong lòng có đau khổ, thì có thể chia sẻ với người bạn thân nhất nhưng nếu sa đà kể lể trước mặt người khác, tuy dành được sự đồng cảm, song lại càng khiến mình cảm thấy bất hạnh.
III. VƯƠN TỚI MỤC TIÊU KHẢ QUAN, TÍNH ĐẾN TÌNH HUỐNG XẤU
Một số người ngay khi đưa ra yêu cầu cần được giúp đỡ đã xuất hiện ý nghĩ cho rằng: “Việc này chắc không được, chắc gì người ta chịu giúp mình”. Mà không thấy rằng chính những suy nghĩ tiêu cực đó đã gây cản trở cho chính bản thân mình.
Napoleon từng nói: “Trong vốn từ của tôi không có từ không thể”. Theo đó, trong vốn từ của bạn cũng nên loại bỏ từ “không thể” không chút tiếc nuối. Thực ra, con người là loài sinh vật rất có khả năng thích nghi với hoàn cảnh chỉ cần dám chấp nhận thử thách, không có việc gì là “không thể được”.
Bạn có thường vô tình sử dụng những câu phủ định như “không thể được”, “không dễ”, “không có cách nào”, “không nên” v.v… hoặc có ai trong số đồng nghiệp của bạn cũng thường xuyên nói cách như vậy? Còn những người thường dùng những từ đại loại như “thử xem sao”, “thử nói xem”, “tôi đồng ý”, “nhất định thành công”, “hay đấy” v.v… thường là những người dũng cảm, mạnh dạn, tích cực trong hành động.
Tuy chỉ thể hiện ở cách dùng những từ khác nhau, nhưng nó có tác động đến suy nghĩ của bạn đến việc bạn dự định tiến hành.
Chúng ta hãy hạ quyết tâm, không sử dụng những từ mang nghĩa phủ định trong ngôn ngữ, giao tiếp hàng ngày từ đó, tiến lên một bước thay thế những từ phủ định bằng sử dụng những từ mang nghĩa khẳng định. Nếu bạn làm được điều đó thì bạn đã có đầy đủ tư thế tích cực trong hành động và sức thuyết phục trong lời nói với người khác được tăng lên.
Với hai dạng tâm lý khác nhau thì hiệu quả đạt được cũng khác nhau một trời một vực.
Nếu nói “Trời nắng thì có mặt trời, trời râm thì không có mặt trời” thì câu nói này sai, ta cần thấy rằng, nếu trời râm thì khi đó mặt trời bị che bởi tầng mây. Có người nói “Trong ví tôi chỉ còn lại 1000 đồng”. Câu này nếu nói là “Tôi vẫn còn 1000 đồng cơ”, thìt thể hiện hai thái độ khác nhau, trong công việc hàng ngày cũng vậy, nếu có nhu cầu cần đến sự giúp đỡ của người khác, ta cũng thường xuyên chuẩn bị tâm lý bị từ chối, thì khả năng yêu cầu bị người khác cầu được đáp ứng cũng bị giảm đi nhiều. Không nên vì fainhờ cậy đến ngkc mà cả ngày mặt mũi khó đăm đăm, suy tư, khắc khổ hay thường giả định, nghĩ ngợi rằng nếu việc không thành thì sao. Thực tế hoàn toàn không cần lo lắng như vậy, hãy nghĩ rằng khả năng thất bại chỉ là một phần nghìn, ta vãn còn chín trăm chín mươi chín phần nghìn thành công.
Đúng vậy, tự tin là chỗ dựa cho thành công, nhưng cũng cần thấy rằng, vì quá tự tin, thường dẫn đến hậu quả là khi gặp thất bại thì tâm tư hụt hẫng ghê gớm, về tâm lý phải chịu tổn thất nặng nề. Có một số người lại không tin tưởng lắm vào thành công của công việc, thậm chí có dự liệu về khả năng xâu nhất khi thất bại lại tránh được gánh nặng tâm lý.
Xin kể ra đây một ví dụ: Có lần đoàn kinh kịch nghiệp dư của thành phố B tuyển diễn viên, những người yêu thích môn kinh kịch hăng hái tham gia, trong đó không thiếu những người rất có khả năng, cuộc tuyển chọn do vậy sẽ có sự cạnh tranh khá gay gắt.
Cô Tiết vốn khá có năng khiếu văn nghệ, cả bố mẹ cô đều yêu thích kinh kịch, do vậy từ nhỏ cô đã được lớn lên trong môi trường khá thuận lợi. Lần tham dự thi tuyển này cô khá tự tin, không mấy tâm tư về cuộc thi đòi trăm người chọn một này. Khi biểu diễn, đối diện với các vị giám khảo khá nghiêm khắc, cô không hề bối rối cô thầm nghĩ rằng mỗi động tác của mình đều được ban giám khảo tán thưởng.
Một người nữa cũng tham gia là cô Lý thì không được vững vàng như vậy, cô luôn nghĩ: Người có khả năng thì nhiều mà người được chọn lại quá ít.
Kết quả là cuối buổi, cô Lý bình tĩnh đi ra khỏi phòng diễn, còn cô Tiết thì lại khóc mà chạy ra ngoài.
Một thời gian sau cuộc thi đó cô Tiết luôn cảm thấy ngượng ngập với bạn bè, cô thường dằn vặt “mình đã tự cho mình nắm chắc phần thắng quá sớm, trong số bạn bè ai cũng cho rằng mình sẽ là một trong số người được lựa chọn vậy mà… lần này mọi người thế nào cũng chế nhạo sau lưng mình”.
Còn cô Lý thì lại do cô Tiết là bạn thân ra sức chèo kéo do vậy đã tham dự cuộc thi tuyển, do đó tuy cuối buổi cùng cô Lý bị loại, nhưng không hề thấy có gì trầm trọng. Nguyên nhân là do lúc đầu cô Tiết phải ra sức vận động nên cô mới đi với tâm lý thôi thì cũng cho vui, coi như đi cùng bạn bè vậy, cũng chẳng có hy vọng gì, việc thành bại sau đó cũng chẳng mấy ý nghĩa đối với cô.
Nếu chúng ta cảm thấy không tin tưởng vào thành công thì cũng nên hạ thấp mục tiêu, và đồng thới tình đến khả năng xấu nhất, điều này có tác dụng giảm nhẹ gánh nặng tâm lý khi gặp thất bại. Đây là biện pháp phòng vệ nhằm giữ sĩ diện cá nhân trong tình huống xấu. Ta có thể thấy biểu hiện của dạng tâm lý này xuất hiện khá nhiều trong cuộc sống.
Cũng như trong một cuộc gặp gỡ ngoài việc đứng đợi ta thường có sự chuẩn bị tâm lý “liệu anh (em) ấy có đến không nhỉ?”. Sau đó nếu không đạt kết quả mong muốn, thì cũng cảm thấy chuyện đó quá năng nề. Nếu tin tưởng chắc chắn rằng đối phương nhất định sẽ đến, thì khi sự việc diễn biến ngược lại thì sẽ dễ bực bội, thất vọng.
Trong cuống “Cuộc phiêu lưu của Giulive” có câu nói nổi tiếng: “May mắn thay cho những kẻ không có nguyện vọng gì, vì họ không bị thất vọng”. Cho dù câu nói đó mang chút châm biếm song nó đã phản ánh được hiện tượng tâm lý thường gặp, và ý nghĩa của câu này cũng gần nghĩa với phương pháp tự hạ thấp mục tiêu đã nói ở trên. Hay còn cách nói tương tự như là: cố gắng vươn tới mục tiêu cao nhất đồng thời tính đến khả năng xấu nhất.
Thường thì càng hy vọng nhiều, thì cảm giác thất vọng càng lớn nếu thất bại. Cũng như khi ta được nghe kể lại cảnh đẹp ở địa điểm danh lam thắng cảnh nào đó, sau đó hăng hai lên đường đến tận nơi, nhưng thường thì sẽ khá thất vọng, nghe kể bao giờ cũng đẹp hơn là thấy thật. Nhưng nếu ta tự mình tìm đến vùng đất mới, nơi núi dựng, vực ngăn, khoảng rằng con suối, mỗi bước đi là một khám phá mới, mỗi cành cây, bông hoa, dòng suối, hòn đá nhìn thấy thường mang lại niềm vui của sự khám phá, và những bất ngờ thú vị.
IV. HÃY ĐỂ ĐÔI BÊN ĐỀU CÓ CHỖ LÙI
Chúng ta khi nhờ vả vào người khác đều mong rằng điều mình đề nghị sẽ thành công, nhưng thực tế khách quan thường lại không chiều ý muốn chủ quan của con người. Có việc thành công, cũng có khi thất bại, có việc chỉ thành công một phần, có khi hoàn toàn thất bại.
Nếu thành công, người ta cảm thấy phấn chấn, nếu thất bại, hỏng việc, người ta buồn rầu, thất vọng. Trong trường hợp đã gửi gắm nhiều hy vọng vào thành công thì khi gặp thất bại cảm giác thất vọng, hụt hẫng càng lớn, tâm lý càng không ổn định, càng cảm thấy đau khổ. Trong trường hợp này, sẽ gây ảnh hưởng đến công việc, tâm lý, sức khỏe và để lại hậu quả lâu dài.
Trong các mối quan hệ xã hội con người ta luôn phải biết cách tự điều chỉnh tham vọng bản thân, đưa những tham vọng đó trở về mức độ phù hợp. Nếu thực hiện được điều đó bạn sẽ tránh được những hậu quả như đã nói ở trên.
Vậy nên làm thế nào để điều chỉnh được tham vọng của bản thân. Dưới đây là một số biện pháp để các bạn tham khảo.
1. Tự cân nhắc bản thân mình, đánh giá đúng về vai trò của bản thân mình.
Người xưa từng nói: Biết mình, biết người trăm trận trăm thắng. Nếu bạn không có nhận thức đúng đắn, chính xác khách quan về bản thân mình, nắm vững được khả năng của chính mình, hành động mù quáng thì không thể giành được thành công lớn.
2. Không nóng vội, phân tích toàn diện, khách quan về những điều mình muốn thực hiện và các yếu tố liên quan.
Bất cứ trong hoạt động giao tiếp, kết bạn hay nhờ vả người khác đều có hai khả năng thành công hoặc thất bại. Nếu chỉ nghĩ một chiều, mong muốn, thành công, không tính đến khả năng thất bại thì đó là thái độ thiếu khách quan và không thực tế. Những người năng động, giàu kinh nghiệm trước khi làm bất cứ việc gì đều có sự chuẩn bị. Khi nhờ vả đến sự giúp đỡ của người khác, đều có chuẩn bị về nội dung, không vì công việc sau đó trôi chảy mà đắc ý ra mặt, vênh vang. Cũng không vì gặp khó khăn, thất bại mà bị quan thất vọng, phàn nàn. Những người như vậy được coi là “tâm lý bình thường” hoặc “tâm lý lành mạnh”.
Ví dụ nếu bạn là người tham gia kinh doanh, thương mại trong xã hội thương mại hóa thì lợi ích là trên hết, nếu bạn cần người khác giúp đỡ vay vốn, thì tất nhiên phải tiến hành đàm phán về lãi suất. Với một nhà đàm phán lão luyện, bình tĩnh thì luôn cần chuẩn bị hai phương án, không nên quá hy vọng vào khả năng thực hiện nhưng cũng không nên bị quan, không tin tưởng. Nếu quá hy vọng, tin chắc vào khả năng thực hiện thì thường khiến ta coi thường, đại khái, không chuẩn bị kỹ về nội dung, phương pháp và tài liệu phục vụ cho đàm phán kết quả là dễ xảy ra sai sót, khi đàm phán bị đối tác dồn vào tình thế bị động, không tìm được đối sách ứng phó; nếu bạn bi quan, không hy vọng vào kết quả đàm phán thì sẽ trở nên thiếu tự tin, e ngại, đánh mất ưu thế của mình, bị đối phương dắt mũi.
3. Tính đến đường lui. Khi đánh giá khả năng hoàn thành mục tiêu, nhấn mạnh nhận xét yếu tố bất lợi lên một chút. Có câu nói rằng “trước khó sau dễ, khổ trước sướng sau”, trước khi tiến hành công việc cần tính đến các nhân tố bất lợi, tránh những phiền toái xảy ra sau đó. Khi chưa làm thì còn có thể thay đổi, ứng biến được nhưng một khi “gạo đã thành cơm” thì khó có thể cứu vãn.
4. Khó có công việc gì dễ dàng thành công mà không cần tốn chút sức lực. Trong quá trình nhờ vả người khác cần điều chỉnh mức độ yêu cầu một cách phù hợp. Mỗi người đều có khả năng nắm bắt diễn tiến sự việc và tâm lý người khác rất khác nhau, không phải ai cũng “Gia Cát Lượng”, có khả năng biết trước diễn biến sự việc. Do đó việc luôn luôn học hỏi, luôn điều chỉnh mức độ yêu cầu của mình đối với người khác là vô cùng cần thiết. Điều này có nghĩa là: Khi yêu cầu người khác tương trợ, căn cứ vào tình hình của cả hai phía mà xem xét điều chỉnh yêu cầu, khi cần thì phải tùy cơ ứng biến, mới có thể làm giảm hoặc tránh được thất bại. Khi sự việc thay đổi, đối tượng thay đổi thì ta cũng thay đổi, không quá hy vọng vào một đối tượng nào đó. Khi khả năng thành công giảm thiểu thì biết tạm lui một bước, hoặc chuyển hướng; khi khả năng thành công lớn thì ra sức tiến tới, giành phần thắng.