📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Kinh nghiệm sống

Sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam

17 trả lời, 1.008 lượt xem — Trang 1 / 1



Sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam



L.A.Pát-ty, thiếu tá chỉ huy OSS (tìền thân CIA của Mỹ) được phái đến Hà Nội ngày 22-8, chứng kiến những ngày sục sôi Tổng khởi nghĩa và có mặt trong ngày lễ Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập (2-9) tại Quảng trường Ba Đình và được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tối 31-9 trước hôm rời Hà Nội, đã ca ngợi sự nghiệp đấu tranh giành và giữ nền độc lập của Việt Nam là "sự nghiệp chính nghĩa ":






Một số thành viên chính phủ lâm thời. Ảnh: Tư liệu
Pát-ty kể lại cuộc tiếp ở Bắc Bộ phủ và viết: “... Ông Hồ chìa bàn tay mảnh khảnh đón tôi và nói ngay: “Đây quả là một dịp không hay. Mong rằng ông chỉ xa chúng tôi một thời gian...”. Sau bữa cơm, khi chỉ còn ông Hồ và tôi, ông Hồ hỏi ngay có phải Mỹ đang cho phép Pháp trở lại Việt Nam? Ông không bàn luận mà chỉ muốn qua tôi để biết một cách không chính thức điều mà tôi nghĩ, hoặc biết về chính sách Mỹ đối với những ý đồ quá hiển nhiên của Pháp...
Tôi nói: Chính sách của Mỹ khi tôi mới nhận nhiệm vụ là một chính sách "tránh khỏi" Đông Dương... Tôi cũng nhắc lại là Ru-dơ-ven nhiều lần tuyên bố về chính sách của Mỹ không ủng hộ các tham vọng thuộc địa của Pháp và không can thiệp vào Việt Nam, hiện vẫn được thi hành... nhưng đó thực ra chỉ là những điều phỏng đoán.
Ông Hồ lắng nghe một cách chăm chú, rồi lắc đầu nói với tôi: Ông không thể hòa giải được lập trường của Mỹ ở Oa-sinh-tơn, Quê-bếch, Tê-hê-ran và Pốt-xđam với thái độ thụ động của nước này trước tình hình khẩn cấp đang xảy ra ở Sài Gòn. Ông không thể nào hiểu được rằng Mỹ, một nước lên tiếng chống chủ nghĩa thực dân mà lại làm ngơ và cho phép Anh, và thậm chí cả Trung Quốc (Tưởng Giới Thạch) giúp Pháp trong mưu đồ nhằm áp đặt lại chế độ thuộc địa ở Việt Nam và nói: "Chẳng ai mù để mà không thấy được sự thật hiển nhiên là quân đội Pháp được Mỹ trang bị và tiếp tế, sớm muộn sẽ xâm chiếm cả Lào, Cam-pu-chia, Trung Kỳ và cả Bắc Kỳ nữa". Rồi ông khẳng định: "Điều đó, họ sẽ phải trả bằng một giá đắt...". Ông lập luận rằng: Nếu Mỹ chỉ dùng ảnh hưởng của mình để tác động đến Đờ Gôn thôi thì cũng có thể đạt tới một cuộc ngừng bắn ở Việt Nam trong đó không chỉ riêng Pháp, mà tất cả các nước bạn bè, đều có lợi vì nền độc lập của Việt Nam...
Ông Hồ đã nghĩ tới vấn đề của một cộng đồng liên Á gồm có ít nhất là Việt Nam, Lào, Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Mi-an-ma, một Ấn Độ độc lập, một In-đô-nê-xi-a tự do và Phi-líp-pin. Các nước này và có thể thêm các nước khác nữa cùng làm việc với Mỹ, Anh, Pháp sẽ góp phần xây dựng một cuộc chung sống hòa bình để phát triển các chương trình mở mang về chính trị và kinh tế vì lợi ích chung... Ông nhấn mạnh vấn đề tương hỗ giữa các nước bình đẳng với nhau. Ông cho rằng, chủ nghĩa thực dân là một thứ đã thuộc về quá khứ...nay đã đến lúc phải thay đổi. Ông đưa ra những nguyên tắc chung mà Ru-dơ-ven và Sớc-sin đã nêu trong Hiến chương Đại Tây Dương: Mỹ và Anh đã đảm bảo với thế giới rằng, họ không tìm kiếm những lợi ích về đất đai và cũng không khuyến khích những sự cưỡng bức thay đổi đường biên giới ngược lại ý nguyện của nhân dân... rồi nói: "Cả Mỹ và Anh đã nhiều lần tuyên bố công nhận quyền của các dân tộc tự lựa chọn lấy hình thức chính quyền mà họ muốn-và người Việt Nam muốn được hưởng đặc quyền đó. Cả hai nước Mỹ và Anh đều tuyên bố họ thấy cần thiết phải khôi phục lại chủ quyền và quyền tự trị cho các dân tộc đã bị người ta cưỡng đoạt mất. "Tại sao điều đó lại không được áp dụng cho Việt Nam?"- Ông Hồ hỏi, rồi nói tiếp: "Nếu đó thực sự là những nguyên tắc cao siêu mà Mỹ và Anh đã phấn đấu trong chiến tranh thế giới thứ hai, thì tại sao trong bước khởi đầu thời kỳ sau chiến tranh, họ đã từ bỏ và đặc biệt là đã chối từ không áp dụng cho Việt Nam? Đúng là Mỹ đã có giúp đỡ Việt Nam trong cuộc đấu tranh của Việt Nam trước đây... Tại sao nay Mỹ lại tỏ ra nhu nhược trong khi Pháp vi phạm các nguyên tắc Hiến chương Đại Tây Dương và Hiến chương Liên hợp quốc?"
L. Pát-ty kể tiếp: “Tôi đã không đáp lại và ông Hồ cũng không chờ câu trả lời... Cả ông Giáp và ông Hồ đều biết rằng họ chỉ có thể chờ đợi tôi nhiều nhất là một sự thông cảm và mối cảm tình. Nhưng tôi thấy được họ đã nhân cơ hội của buổi gặp gỡ cuối cùng này để làm sáng tỏ chính bản thân họ và sự nghiệp chính nghĩa của họ một cách tốt nhất. Cho đến lúc đó, Việt Nam còn bị cô lập khỏi thế giới cộng sản, bị các cường quốc ích kỷ bao vây chung quanh và họ chỉ thấy được một số ít người Mỹ mà họ đã có quan hệ giao tiếp. Tôi hướng câu chuyện vào đề nghị mới đây của Pháp về một sự thỏa hiệp giữa Việt Nam và chính phủ Pa-ri. Ông Hồ liền nhắc tôi nhớ lại đề nghị khó hiểu của A-lếch-xăng-đri để ông gặp Đác-giăng-li-ơ: "Với mục đích gì?". Nhưng ngay trước khi thu xếp được cuộc gặp gỡ, người Pháp đã bộc lộ sự dối trá của họ và thái độ coi thường hoàn toàn đối với nền độc lập dân tộc Việt Nam. Họ đã đi theo "những con đường mòn cũ" của những tên Pháp thực dân...
Ông Hồ nhận xét một cách châm biếm rằng: Xanh-tơ-ny, con rể cựu toàn quyền A. Sa-rôn, không những đã chối từ không chịu nói chuyện với ông trong tháng 7 (năm 1945) mà cả đến tháng sau (Xanh-tơ-ny, chỉ huy phái đoàn M5-cơ quan đại diện của Pháp ở Côn Minh, được cử đến Hà Nội ngày 22-8 trên chiếc máy bay chở đoàn của Pát-ty). Ở Hà Nội, Xanh-tơ-ny đã tỏ ra hoàn toàn không có thiện cảm đối với sự nghiệp chính nghĩa của người Việt Nam. Nhưng ông nói, ông sẵn sàng thảo luận về các vấn đề Việt Nam nhưng những cuộc thảo luận như vậy phải được xúc tiến trên cơ sở của lòng tin cậy lẫn nhau như những người bình đẳng.
Ý đồ của người Pháp là muốn thấy Việt Minh bị vô hiệu hóa và họ dựa vào những người theo chủ nghĩa quốc gia thân Trung Quốc (quân Tưởng) để làm việc này. Người Pháp cho rằng, Nguyễn Hải Thần có thể thực hiện được điều nói trên và họ đã điều đình với Thần mà họ đã lầm cho là một con người "mềm mỏng" chứ không phải là một lãnh tụ nhu nhược ngoại hạng. Cuộc điều đình (của Pháp với Tưởng) đã làm cho tướng Tiêu Văn và Quốc dân đảng (Trung Quốc) hài lòng vì cái mà họ sợ nhất chính là Hồ Chí Minh...và "Việt Minh có xu hướng cộng sản ghê gớm"-vì sự nghiệp chính nghĩa của họ, của nhân dân Việt Nam...
Kết thúc buổi tiếp, Pát-ty viết: "Ông Hồ tiễn tôi ra tận cửa ngoài, cảm ơn tôi đã tới và chịu nghe ông "diễn thuyết". Ông đặt hai tay lên vai tôi "Bon voyage (Chúc lên đường may mắn), mong sớm quay trở lại, lúc nào ông cũng được chúng tôi hoan nghênh". Khi xe tôi nổ máy, tôi nhìn lại vẫn thấy bóng nhỏ nhắn của ông ở cửa, vẫy chào tạm biệt. Tôi lại sực nhớ lại cuộc gặp gỡ đầu tiên của chúng tôi trong một tiệm trà ở Chiu Chou Chieh. Ông hiện ra mong manh đấy nhưng thực tế thật là bất khuất"./.
L.A. Pát-ty
-------------------------
(Theo cuốn Tại sao Việt Nam)
Đăng nhập để trả lời
0



Chuyện đời thường của Bác Hồ
 




Tháng 12-1994, khi Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân sang Việt Nam tới thăm nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã xúc động lưu trong sổ vàng lưu niệm: “Cách mạng đích nhân sinh, Lâm khiết đích khải mô”-Một đời vì sự nghiệp cách mạng, tấm gương sáng về sự liêm khiết.
Nơi ở bình dân







Bác Hồ trong chiến dịch Biên giới (ảnh tư liệu)

Ông Vũ Kỳ-thư ký và các cán bộ giúp việc của Bác Hồ xúc động kể lại những mẩu chuyện đời thường của Bác: Sau kháng chiến thành công, đến cuối năm 1954 Bác mới chuyển về ở và làm việc tại Phủ Chủ tịch hiện nay. Nhưng Bác không ở trong Phủ mà chọn căn buồng của người thợ điện ngày trước, chỉ rộng chừng 12m2. Trong buồng chỉ kê chiếc giường một, một bàn và một ghế để làm việc, một tủ nhỏ đựng mấy bộ quần áo. Cái buồng ấy bất tiện cho Bác nhiều bề vì mùa đông gió lùa thẳng vào rất lạnh, mùa hè thì nóng hầm hập. Anh em nhiều lần xin Bác chuyển đến ở chỗ khác tốt hơn nhưng Bác không chịu. Bác nói: “... Bây giờ Bác ở trong buồng người thợ điện ấy cũng phong lưu nhiều rồi đấy. So với ngày trước ở trên rừng, trong hang... là sướng hơn rồi, so với đồng bào cũng sướng hơn rồi...”. Bác cũng không cho lắp đặt lò sưởi hay dùng quạt điện, vì Bác bảo đồng bào ta còn nghèo lắm. Đến năm 1957, anh em đề nghị Bác cho lắp chiếc máy điều hòa không khí. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch trông nom sức khỏe của Bác đề nghị mấy lần, Bác đều không bằng lòng. Một lần Bác bảo:

- Các chú đã gợi ý Bác đến mấy lần, chắc các chú đã chuẩn bị sẵn một cái máy rồi chứ gì? Nhưng hiện Bác chưa có nhu cầu, hơn nữa các đồng chí Trung ương khác đều chưa có, tại sao Bác lại có. Bác không dùng cái máy ấy đâu. Có cái máy ấy rồi thì ý của Bác thế này: Các chú đem về bệnh viện lắp vào buồng những người bệnh đau nặng. Hôm trước Bác tới thăm thấy ở bệnh viện rất nóng bức...
Chiếc máy điều hòa ấy cuối cùng được mang tặng thương binh nặng, theo ý kiến của Bác. Còn Bác vẫn ở trong căn phòng ấy từ cuối 1954 đến mùa thu 1958 mới chuyển sang ở cái nhà sàn bằng gỗ mới được dựng lên...
Vài bộ quần áo đơn sơ
Là vị Chủ tịch nước, nhưng Bác cũng chỉ có vài bộ quần áo đơn sơ, giản dị. Một lần Bác đi thăm, làm việc ở nước bạn. Khi nhân dân bạn ra đón, với lòng hiếu khách đã tung hoa chào đón, làm cho bộ quần áo Bác đang mặc bị ướt, mà lúc đó không có điều kiện giặt là lại cho khô. Bác chỉ có hai bộ quần áo ka-ki, dùng để mặc khi tiếp khách, còn thường ngày Người mặc áo lụa màu nâu may kiểu bà ba... Lần ấy nhờ dự liệu trước, nên các cán bộ giúp việc đã lặng lẽ mang theo thêm một bộ quần áo “dự bị” đã được xử lý “kỹ thuật” để bộ quần áo mới may không khác mấy với bộ quần áo cũ Bác đang sử dụng. Tuy nhiên, lần ấy Bác cũng phát hiện ra, Bác phê bình:
- Ai bảo các chú may quần áo mới cho Bác? Bác có hai bộ là đủ dùng rồi. Hiện nay đồng bào ta còn thiếu quần áo mặc. Bác có như vậy là đủ và tốt lắm rồi!
Khi nghe báo cáo rõ “sự cố kỹ thuật” và để ứng phó với “tình huống ngoài dự kiến”, Bác ôn tồn bảo:
- Trước khi làm các chú cũng cần nói rõ lý do, không nên tiến hành một cách vụng trộm như vậy nữa!
Bữa ăn tập thể
Khi đã về ở, làm việc trong Bắc Bộ phủ, anh em cấp dưỡng vẫn nấu một nồi to, đến giờ thì Bác cùng xuống ăn với anh em những bữa cơm đạm bạc, như những ngày trong kháng chiến. Anh em giúp việc định nấu riêng cho Bác nhưng Bác nhất định không chịu. Khi đi công tác, kể cả những khi đi thăm ngày Tết... bao giờ Bác cũng bảo chuẩn bị sẵn bữa ăn mang theo. Sau gần 50 năm mới có dịp về thăm quê lần đầu tiên, tháng 6-1957. Trong bữa cơm tỉnh Nghệ An mời Bác, có Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cùng dự. Mâm cơm chỉ có mấy món ăn đơn giản, nhưng mỗi món đều được dọn làm 2 bát. Bác thấy vậy, Bác liền cất bớt, chỉ để mỗi món một bát. Bác bảo: “Ăn hết thì lấy thêm, không ăn hết để người khác ăn, chớ để người ta ăn thừa của mình!”. Bữa cơm đó, một nửa số thức ăn vẫn còn nguyên. Riêng có món cà mắm chỉ có một bát nhưng mọi người ăn chưa hết, Bác gắp bỏ vào bát bảo mọi người phải ăn hết, để khỏi lãng phí.
Lần thứ hai Bác về thăm quê năm 1961, bữa cơm chiều Bác dặn cả Chủ tịch và Bí thư của tỉnh là Võ Thúc Đồng và Nguyễn Sĩ Quế cùng đến ăn cơm với Bác cho vui, nhưng nhớ là phải mang phần cơm của mình đến. Khi vào bàn ăn, Bác lấy ra gói cơm của Bác có độn ngô và ít thịt rim mặn. Hai cán bộ tỉnh, phần cơm do nhà ăn của tỉnh chuẩn bị được nấu bằng gạo trắng, không độn; thức ăn có cá, thịt, miến... Thấy vậy, Bác hỏi:
- Các chú ăn như thế này à?
Ông Võ Thúc Đồng trả lời:
- Dạ, thưa Bác. Hôm nay Bác về thăm, cơ quan mới chuẩn bị các món ăn như thế này, còn thường ngày thì không có đâu ạ.
Bữa cơm hôm đó, mọi người cùng Bác ăn hết phần cơm độn ngô trước, khi dùng sang phần cơm cơ quan tỉnh mang đến thì Bác xin thôi không ăn nữa...
Đôi “dép kháng chiến”
Không chỉ trong kháng chiến, mà sau ngày trở về Thủ đô, Bác vẫn đi đôi dép cao su, anh em quen gọi là “dép kháng chiến”. Khi thấy đôi dép của Bác đã mòn vẹt, anh em giúp việc đề nghị với Bác mua một đôi dép mới để thay, giá chỉ 2-2,5 đồng, có gì là lãng phí! Nhưng Bác bảo: “Vấn đề không phải là ở chỗ chỉ 2 hay 2,5 đồng mà là xem đôi dép đã hỏng, không sử dụng được nữa mới cần phải thay. Hiện đôi dép của Bác, Bác vẫn còn sử dụng được. Lúc nào cần thay Bác sẽ đồng ý!
Chiếc ô tô cũ “Thắng lợi”
Là vị Chủ tịch nước, nhưng Bác Hồ vẫn chỉ sử dụng đến suốt đời chiếc xe cũ POBEDA (Thắng lợi), màu cà phê sữa, do Chính phủ Liên Xô (trước đây) tặng Bác. Hai đồng chí Ngọc và Nguyên thường lái, chăm chút bảo quản nên vẫn phục vụ Bác được. Xe sử dụng lâu năm cũng xuống cấp nhiều, nên cán bộ giúp việc có ý muốn thay chiếc xe mới. Bác biết tin, Bác hỏi đồng chí Ngọc lái xe:
- Xe hiện nay đã hỏng chưa?
- Thưa Bác, xe chưa hỏng nhưng đổi xe mới chạy êm hơn, nhanh hơn...
Nghe vậy, Bác nói ngay:
- Nếu thế thì chưa nên đổi. Ai muốn xe chạy nhanh hơn, ngồi êm hơn thì đổi. Bác vẫn dùng chiếc xe này được rồi, vì nó chưa hỏng.
Bác còn nói thêm: xe tốt thì nên ưu tiên cho các đồng chí làm ngoại giao khi cần tiếp khách quốc tế trước...
Cán bộ giúp việc chưa từ bỏ ý định, mới bàn riêng với lái xe, nhân một lần đi công tác, cố tạo ra sự cố hỏng xe để lấy cớ “xe quá cũ, máy nóng... không khởi động được”, nhưng Bác vẫn không đổi ý, còn dặn:
- Lần sau, trước khi đi công tác, nên kiểm tra cẩn thận, chuẩn bị tốt thì sẽ không bị lỡ công việc.
Cứ như vậy, Bác thủy chung với chiếc xe “Thắng lợi” cho tới ngày Bác đi xa.
Chung quanh chuyện sinh hoạt đời thường của Bác rất nhiều chuyện xúc động, như chiếc xe “Thắng lợi” hiện vẫn ở Bảo tàng cách mạng là hiện vật lịch sử, nhưng điều ai cũng thấy, cũng nhận ra là bao giờ Bác Hồ cũng thể hiện rất tiết kiệm, đơn sơ mà gần gũi, bình dân... là bài học giáo dục lớn một cách sinh động nhất.
NGUYỄN ĐÌNH (ghi)
Đăng nhập để trả lời
0



Đức lớn Hồ Chí Minh
 









 
Mỗi mùa xuân về, Tết đến, quân và dân ta lại nhớ Bác Hồ. Tết Nguyên đán-Tết cổ truyền của dân tộc, Bác thường có thơ chúc Tết đồng bào, chiến sĩ cả nước. Vào tuổi thọ 79, Bác đã “đi xa”. Nhớ Bác, nhân dân ta đã và đang đi theo con đường sáng mà Đảng và Bác đã vạch ra.
Đến mùa xuân Đinh Hợi 2007 này, chân dung của nước Việt Nam đã sáng chói với bạn bè năm châu, bốn biển. Nhớ Bác, xin nghĩ về đức lớn của Bác-Đức lớn Hồ Chí Minh.
Đã có một tư liệu cho hay: “Trong cuộc đời 79 mùa xuân của Bác thì có 30 mùa xuân tha hương-Bác đi tìm đường cứu nước, hai mùa xuân vừa tha hương vừa nằm trong ngục tù của Tưởng Giới Thạch. Trong 30 mùa xuân trên, có hai lần Bác đón xuân tại nhà tù Vích-to-ri-a (Hồng Công) và 5 cái Tết ở Liên Xô chỉ có đọc sách mà không được hoạt động gì-từ năm 1934 đến năm 1938. Cuộc đời của Bác: 7 mùa xuân lênh đênh trên biển, 4 mùa xuân trong xà lim, 5 mùa xuân không được hoạt động”.
Hội nghị quốc tế “Việt Nam trong thế kỷ 20” năm 2000 tại Hà Nội, nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu phát biểu trước các nhà văn hóa, sử học, chính khách, báo chí quốc tế: “Tính từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước đến nay đã 90 năm. Bác đã dành hơn nửa cuộc đời vượt qua 3 đại dương đến 4 châu lục, 28 nước, bôn ba trên một chặng đường dài 20 vạn ki-lô-mét, từ trung tâm văn minh nhất thế giới đến những nơi bần cùng và đau khổ nhất của nhân loại thời ấy”. Vì độc lập của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, Bác đã phấn đấu suốt đời cho mục tiêu cao cả này. Bác từng nói những câu nổi tiếng-những lời vàng đã được ghi vào sử sách: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”, “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.”. Và “Trước hết là lo cho con người”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.
Đức độ của Người sáng rực từ công việc bình thường đến những gánh nặng quốc gia. Bác từng nói với nhà quay phim nổi tiếng Xô-viết Rô-man Các-men: “Tôi thức dậy cùng tiếng chim hót và khi bầu trời nhạt sao”. Phong thái của Bác là sự ung dung, bình tĩnh, sáng suốt, quyết đoán đến tuyệt vời: “Xem sách chim rừng vào cửa đậu; Phê văn hoa núi ghé nghiên soi”. Đã có nhiều chính khách, nhà văn, nhà báo ngợi ca về đức sáng của Người: “Hồ Chí Minh: một nửa là Lê-nin, một nửa là Găng-đi” (Wiliam John Duiklr-tác giả cuốn “Hồ Chí Minh”). Tạp chí Time nhận xét: “Khuôn mặt gầy gò và chòm râu dài, chiếc áo khoác sờn cổ, đôi dép cao su mòn, Hồ Chí Minh gợi lên một hình ảnh khiêm tốn và nhân từ như Bác Hồ”.
Nhà triết học người Anh-B.Rút-xen nói: “Cụ Hồ trước hết là một người nhân văn chủ nghĩa”. “Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là sự kết hợp giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa nhân loại; giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây; giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế; giữa truyền thống và hiện đại; giữa trí tuệ và tâm hồn; lý trí và tình cảm, lý luận và thực tiễn”.
Nhưng, Bác vẫn sống một cuộc sống đời thường. Nét vĩ đại của Bác là ở sự trong sáng, cao đẹp từ những việc đời thường ấy. Nhớ lại thời kháng chiến chống Pháp 9 năm ở chiến khu Việt Bắc, một lần Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến gợi ý Bác về việc lập gia đình. Bác nói với ông Lê Văn Hiến: “Mình chẳng phải thần thánh gì. Mình cũng như mọi người thôi. Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay thì còn điều kiện nào mà nghĩ đến gia đình. Thôi, gia đình nhỏ không thể được, thì ta cứ lo xây dựng gia đình lớn vậy”.
Bác là thế. Cái nét nhân văn rất người ấy cùng làm cho tất thảy mọi người kính phục. “Việc quân, việc nước đã bàn; Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau”. Lại thêm một nét nhân văn của Bác nữa.
TẠ HỮU YÊN
Đăng nhập để trả lời
0
DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
(Công bố năm 1969)

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
---000--- 
Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.
Đó là một điều chắc chắn.
Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ, và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.
Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.
*
* * *
Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là: “Người thọ 70, xưa nay hiếm”.
Năm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là hạng người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khỏe càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.
Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?
Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.
Trước hết nói về Đảng – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.
Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.
Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân.
Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.
Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.
Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh.
Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.
Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.
Còn non, còn nước, còn người
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

 Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng 2 đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.
Về phong trào Cộng sản thế giới – Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em!
Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình.
Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.
*
* * *
Về việc riêng – Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.
Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.
*
* * *
Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.
Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn, và các cháu thanh niên nhi đông quốc tế.
Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 1965
HỒ CHÍ MINH
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-06 11:17:21Cao Nguyên>
Thế giới viết về Hồ Chủ tịch kính yêu
 

Chỉ ít phút sau khi Bác Hồ của chúng ta dừng hơi thở, lập tức những tiếng nói bằng nước mắt, bằng trái tim toàn nhân loại bay về bên linh cữu của Người. Hàng trăm, hàng trăm bài thơ của các nhà thơ, đã từng làm rung động trái đất đã đến bên Bác. Cũng có người chưa làm một bài thơ nào, nay viết về Bác Hồ là bài thơ thứ nhất. Và những nhà chính trị, nhà nghiên cứu xã hội từng viết về Bác Hồ bằng luận văn của một khối trí tuệ, nay viết bằng cảm xúc nỗi đau nhưng không nghĩ đó là thơ.
 
Thơ của họ viết từ một quốc gia đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng có quốc gia đang là nhà nước tư bản, hoặc đang ở chế độ lập hiến, hoặc mới vừa đi qua một thời kỳ giống như trung cổ, và cũng có quốc gia đang cầm vũ khí chống phong kiến nhưng chưa định hình một thể chế mới sắp tới. Có đất nước đã có tên trên bản đồ thế giới, nhưng cũng có đất nước lần đầu tiên ta vừa biết được ở một châu Nam cực, Bắc cực. Ngày Bác chúng ta ra đi, nhân loại lại đến với Hồ Chí Minh, một ngôi sao dẫn đường giải phóng dân tộc. Người vĩ đại nhưng sao giản dị mà gần gũi với con người – đấy là lý do vì sao thơ nhân loại viết về Bác Hồ gặp nhau ở một điểm – Hồ Chí Minh, vẻ bên trong của viên ngọc.
Tuần báo Ánh Điện Ấn Độ ra ngày 13.9.1969 khi đánh giá nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh có đoạn viết: “Hồ Chí Minh là một nhân vật lỗi lạc nhất trong lịch sử Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai. Cụ nổi bật lên như một ngọn núi cao chót vót giữa những đồi núi thấp lè tè và những thung lũng xung quanh. Cuộc đời cụ không đi theo một con đường đơn giản trong một bản đồ đã chọn, leo một cách vững chắc hết đỉnh cao này đến đỉnh cao khác. Cụ kết hợp giữa sự tao nhã cao quý với tác phong dễ gần gũi, rất dân chủ, một sự kết hợp nhịp nhàng giữa sự tự do không nghi thức, thoải mái và tự nguyện với một thái độ đường hoàng và thận trọng. Cụ là hiện thân của “sự bất khuất trước uy vũ”.
Thiên tài của Người là sự lay động và thức tỉnh một dân tộc từ nô lệ đi đến tự do, từ bùn lầy đi đến ánh sáng và “…Từ năm tháng tối tăm, máu trào, nước mắt/ Họ đã vùng lên như một giấc mơ” (Mô-nin Dra-rây, Phần Lan).
Phơ –răng-xoa Phông-vi-ây-ăng-ki trên báo “Bằng chứng Thiên chúa giáo” số ra ngày 11.9.1969: “Bác Hồ, Người đột phá khẩu đầu tiên trong công cuộc chống đế quốc thực dân của chúng ta, và là bàn tay đắc lực nhất trong việc làm cho diện tích nước Pháp thu hẹp chỉ còn lại cái hình sáu cạnh”. Hay trong bài xã luận báo “Đoàn kết” cơ quan Trung ương Đảng Cộng sản Ý số ra ngày 6.9.1969 nói về nhân vật lịch sử  Hồ Chí Minh với nhân loại mới: “Sở dĩ những câu chuyện thần kỳ về Người làm cho người ta ngạc nhiên không phải do tính chất lãng mạn hoặc anh hùng ca mà là do tính chất hiện thực của nó trên thế giới này. Sở dĩ bản anh hùng ca Việt Nam thu hút được lòng yêu mến của hàng trăm triệu người trên thế giới chính là vì nó được tiêu biểu bởi nhân vật phi thường đó, bởi con Người đó đã tập trung vào mình tất cả những đặc điểm cao nhất không những của một dân tộc đặc biệt mà còn cả một lớp nhân loại khác thường”.
“Hồ Chí Minh vẻ bên trong của viên ngọc” cũng đồng nghĩa với “Tên Người là cả một niềm thơ” là tiếng nói, là tiếng hát của những người đồng chí, bạn bè, anh em về Bác Hồ, về đất nước Việt Nam.







Trúc Chi


 
Đăng nhập để trả lời
0





Ngày đưa tin: 11/02/2007 12:00:00[/align]
Tư tưởng Hồ Chí Minh[/align]“Tư tưởng Hồ Chí Minh” không khép kín, tự đủ, không nhất thành bất biến mà luôn luôn phát triển với dân tộc và thế giới. [/align][/align]







Nói về thế kỷ XX vừa lùi vào quá khứ, có người đã khái quát bằng một hình ảnh thật độc đáo có ý nghĩa khơi gợi rất lớn: Nếu lịch sử hơn 4 triệu năm của loài người thu lại trong 1 năm thì thế kỷ XX chỉ là 13 phút, từ 23h47’ đến 24h của ngày 31/12 . Trong 13 phút ấy, đặc biệt trong 5 phút cuối cùng, loài người đã hiểu biết nhiều hơn toàn bộ hệ thống kiến thức tích luỹ trước đó, tức là từ khi trên trái đất bắt đầu có con người! Bình minh của thiên niên kỷ mới với những năm đầu của thế kỷ XXI đã cho ta những cảm nhận thật sống động, những biến động dữ dội khó mà tiên liệu được! Một sự dồn nén như vậy tất sẽ đưa đến những đột biển lớn lao trong lịch sử tư tường của loài người, "lượng” sẽ biển thành “chất”. Đúng là, "chúng ta đang làm biến đổi môi trường của ta đến tận gốc rễ đến mức rồi ta phải tự biến đổi chính mình để tồn tại được trong môi trường đó" (Nobert Wiener)
Chính những diễn biển của cuộc sống ở buổi bình minh của thiên niên kỷ đang khẳng định một sự thật: Chuẩn mực chính là sự thay đổi!
Với Hồ Chí Minh, chúng ta có tấm gương tuyệt vời vế sự nhất quán từ trước đến sau, từ lúc khởi đầu cuộc tìm đường cứu nước, với bao sức ép từ mọi phía cho đến khi Đảng ra đời qua bao thăng trầm, thử thách khốc liệt để có cách mạng Tháng Tăm 1945, ra đời nước cộng hoà non trẻ giữa vòng vây trùng điệp của kẻ thù, tiến hành hai cuộc kháng chiến với ý chí "Không có gì quý hơn độc lập tự do". Đó là sự dân quyền về mục tiêu độc lập cho dân tạc, tự do cho nhân.
Với mục tiêu đó, Hồ Chí Minh đã đấu tranh cho sự hợp nhất và ra đời của Đảng năm 1930, thậm chí có lúc vì mực tiêu đó mà dám có quyết định táo bạo cho dù đau đớn là tuyên bố Đảng tự giải tán. Thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật chính vào lúc giành được chính quyền vào năm 1945. Rồi cũng vì mục tiêu đó mà sáng suốt và kiên quyết đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam vào năm 1951.
Tên tuổi và sự nghiệp của Hồ Chí Minh đã thực sự là ngọn cờ trong khối óc và trái tim cửa người Việt Nam của dân tộc Việt Nam . Giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh để vẫy gọi và quy tụ mọi tấm lòng Việt Nam vốn nặng lòng vì quê hương, đất nước. Những người đã trải qua sự thử thách trong gần nửa thế kỷ chiến đấu và chiến thắng. Những người với những hoàn cảnh và điếu kiện khác nhau đã gửi gắm tình yêu nước thương nòi của mình trong nhiều hành động và nghĩa cử không ai giống ai. Làm cho mọi giọt máu của mỗi người Việt Nam cùng chảy về trái tim của dân tộc để rồi toả đi khắp bốn phương nuôi dưỡng hành động vì nghĩa lớn đất nước. Làm được điều đó cũng là cách tao nên được sự đồng thuận xã hội sâu sắc và rộng lớn, có sức vẫy gọi và hội được khối đại đoàn kết toàn dân tộc hường về mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng văn minh.
"Tư tưởng Hồ Chí Minh" không khép kín, tự đủ, không nhất thành bất biến mà luôn luôn phát triển với dân tộc và thế giới. Phải biết làm cho tư tường Hồ Chí Minh sống trong cuộc sống của mọi người Việt Nam, tiếp tục cho nghị lực và tâm hồn của mỗi con người đang xây dựng cuộc sống của mình, gia đình mình và góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước. Có thể làm được điều đó vì tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với mọi tấm lòng Việt Nam, gần gũi như khí trời, như cơm ăn nước uống trong mạch sống Việt Nam từ túp lều tranh cho đến ngôi biệt thự.
Tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với người nông dân còn bao gian khó, đổ mồ hôi, sôi nước mắtt trên cánh đồng chưa có mấy trợ lực của khoa học và công nghệ, cũng như với bà con nghèo đô thị nơi xóm thợ nghèo khổ của những công nhân làm việc tại các khu chế xuất, các xí nghiệp liên doanh… với bao nỗi lo toan trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn. Hồ Chí Minh đến được với họ vì bình sinh Người chỉ có một "ham muốn, ham muốn tột bậc là làm cho cuộc sống của họ được no ấm, con em của họ được học hành. Những người lao động lam lũ ấy hiểu Hồ Chí Minh vì tư tưởng của người lãnh tự nhân dân, đã quy tụ được những khát vọng, những mong mỏi hàng ngày vốn bình dị và nghiệt ngã như chính cuộc sống của họ vậy thôi.
Và, với những nhà doanh nghiệp đang có vai trò lớn trong xây dựng nến kinh tế thị trường lành manh, dấn bước trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, Hồ Chí Minh không xa lạ với họ. Từ những ngây đầu của chính quyến cách mạng Hồ Chí Minh đã nhận rõ vi trí của các nhà công thương trong khối đại đoàn kết dân tộc để làm cho đất nước phú cường. "Tuyên ngôn Độc lập" khai sinh ra nước Việt Nam mới được có trong căn phòng của một nhà tư sản lớn giàu lòng yêu nước.
Hơn ai hết, những người trí thức Việt Nam hiểu rõ Hồ Chí Minh, nhận ra tầm vóc lãnh tụ của dân tộc ở trí tuệ một nhà văn hoá lớn cùng trái tim ấp ủ những khát vọng nhân văn của một con người khao khát tự do: “Trên đời ngàn vạn điều cay đắng/ Cay đắng chi bằng mất tự do”. Hồ Chí Minh đã biết cách trả về lại cho người trí thức Việt Nam ngọn nguồn yêu nước truyền thống vốn nằm sâu trong tâm thức của họ, khơi dậy năng lực cống hiến của tiềm lực trí tuệ trong họ. Với Hồ Chí Minh, người trí thức Việt Nam hiểu được chỗ đứng của họ trong lòng dân tộc.
Thời gian đủ để kiểm nghiệm độ chính xác và sự tường minh của một tư tưởng, trải qua những biến động dồn dập cả trong nước và trên thế giới vẫn chứng minh được sức bền, độ “chín” của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là sự kết tinh trí tuệ và khí phách của một dân tộc, là sự tiếp nhận và hội tụ những tinh hoa của tư tưởng mà loài người đã giữ lại qua quá trình tiếp biến, thanh lọc và kiểm nghiệm. Vì thế nó đủ tầm cao của sự khái quát của lý luận và đường hướng phát triển, vừa gần gũi, đi thẳng vào lòng người Việt Nam vì nó diễn đạt được chân lý của cuộc sống.
Chân lý thì luôn luôn đơn giản, song hiểu được chân lý, đến được với chân lý thì thường lại cực kỳ gian chuân.
Cuộc sống đang sải những bước đi táo bạo và quyết đoán trong thời đại của những biến động dồn dập. Tầm mắt không ít người dã được mở rộng hơn nhờ vào "sự xé toang một tấm màng bưng bít, sự hiện ra và sáng lên của sự thật, sự tan vỡ một số huyền thoại, sự phá sản nhiều giáo điều, sự bộc lộ những sai lầm trầm kha, sự nhận thức mới, không phải về tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống, sự khơi dậy những niềm hy vọng mới, sự bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn” (trích từ bài viết thế kỷ XX của Việt Phương – thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ).
Để bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn ấy, mở rộng tầm mắt là điều kiện tiên quyết. Đó cũng là đòi hỏi trước tiên đề có thể chủ động đón nhận sự thách thức mới trong qúa trình hội nhập quốc tế. Tính chất gay gắt và chưa có tiền lệ của những thách thức ấy đang đòi hỏi một bản lĩnh mới của những người đang gánh trên vai mình trách nhiệm nặng nề của lịch sử. Bản lĩnh ấy, xét đến cùng lại cũng được quyết định quyết định bởi tầm nhìn mới, bởi “đôi mắt mới nhìn vào thế giới”.
Không phải là không có lý khi người ta cho rằng: thế giới đã thay đổi và kiểu tư duy tuyến tính không con thích hợp với một thế giới phi tuyến. Không có một bản đồ vạch sẵn cho con đường phía trước. Những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống không còn đủ cho hành trình của dân tộc đi về phía trước. Vì thế, sáng tạo và linh hoạt trong tư duy cũng như trong hành động phải là phẩm chất hàng đầu của con người Việt Nam đang sống trong thế kỷ XXI. Để có được phẩm chất đó, đỏi hỏi phải có “sự nhận thức mới, không phải về lý tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống”. Để làm được điều đó, phải biết khai thác cái lợi thế vô song của chúng ta, đó là uy tín của tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hoá mà thế giới từng biết và đã tỏ lòng ngưỡng mộ.
Theo Báo Lao Động
 
[/align]

📎 220pxHochiminh
Đăng nhập để trả lời
0
Tư cách công dân và năng lực hội nhập
Dương Trung Quốc
Có thể khái quát nội hàm đạo đức Hồ Chí Minh mà chúng ta cần học tập là “tư cách công dân” và “năng lực hội nhập”.
Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một sự nghiệp lớn. Bước vào thế kỷ XXI, tờ báo Times lựa chọn Hồ Chí Minh là một trong 25 chính khách cũng là một trong số 100 gương mặt trên mọi phương diện  “đã làm thay đổi diện mạo của  hành tinh trong thế kỷ XX”.
Nhưng một sự nghiệp lớn chưa hẳn đã là một tấm gương lớn. Phải là một nhân cách lớn mới làm nên một tấm gương sáng. Và quan trọng hơn hết, nhân cách ấy phải gần gũi với con người, thiết thực với đời sống và luôn hướng tới sự phát triển thì một con người khi còn sống đã là một tấm gương, khi đã chết trở thành một di sản. Hồ Chí Minh là một con người có một nhân cách lớn. Khi sống con người ấy là một ngọn cờ, một niềm tin. Khi đã chết về thể xác thì trở thành một di sản tinh thần.







Đồng chí Nguyễn Ái Quốc
Giáo sư Trần Văn Giàu đã từng dạy các trò học sử rằng Cụ Hồ là một tính cách lớn không phải chỉ để “kính nhi viễn chi” (đứng xa mà bái phục). Cụ Hồ chính là một cái mẫu gần gũi để mọi người có thể tìm thấy ở đó những bài học thiết thực. Học Cụ Hồ không chỉ đọc trong sách vở, trước tác mà Cụ để lại. Học Cụ Hồ còn là học một lối sống thể hiện ra tư tưởng hay một tư tưởng thể hiện qua lối sống.
Cụ Hồ viết không ít nhưng Cụ Hồ làm rất nhiều. Nghiên cứu về Cụ Hồ không chỉ sưu tầm, tái bản các trước tác mà còn nên nhặt nhạnh những câu chuyện lưu lại trong ký ức của dân chúng, những người cùng thời. Cụ Hồ trước hết là người phương Đông, giống như Khổng Tử không để lại nhiều chữ nghĩa nhưng tập đại thành những điều đã nói và làm (như học trò của Khổng Tử đã soạn “Luận ngữ” cho thày) thể hiện trong đời sống sẽ tìm ra những tư tưởng lớn bao trùm thời đại, có sức lan toả về không gian và thời gian…
Ai nghiên cứu kỹ về Hồ Chí Minh không thể không đặt ra những câu hỏi vì sao những nhà ái quốc lớn bậc nhất của dân tộc Việt Nam ta ở đầu thế kỷ XX là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đều đặt kỳ vọng vào Nguyến Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc ngay từ khi sự nghiệp cách mạng còn trong thời trứng nước? Vì sao, ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc thể hiện sự lựa chọn chính trị tại Đại hội Tours (12-1920), viên mật thám chuyên theo dõi hoạt động của đại biểu da vàng này đã đưa ra lời tiên đoán chính xác “phải chăng người thanh niên da vàng mảnh khảnh kia sẽ là người cắm cây thập ác trên nấm mồ quyền lợi của chúng ta ở các thuộc địa”? 
Vì sao mà một nhà báo của nước Nga xô viết rất xa xôi, Ôxip Manđenstam, chỉ sau một lần gặp tình cờ Nguyễn Ái Quốc vào cuối năm 1923 đã tiên đoán trong một bài báo của mình là ”toát ra từ con người ấy một nền văn hoá của tương lai”? Vì sao mà những con người từng xa lạ với chủ nghĩa cộng sản như những Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố… lại sẵn sàng trở thành người cộng sự nhiệt thành và cống hiến trọn vẹn cuộc đời của mình với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc? v.v…
Tôi đã có may mắn gặp hầu hết những người Mỹ trong đơn vị tình báo OSS đã từng cộng tác với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ chống phát xít Nhật trước và trong Cách mạng tháng Tám 1945. Dù đã có khoảng cách cả nửa thế kỷ cùng với hố sâu của một cuộc chiến tranh khốc liệt nhưng tình cảm đồng minh thân hữu và sự khâm phục đối với Hồ Chí Minh dường như vẫn nguyên vẹn như hồi ở chiến khu…
Tất cả cho thấy sức thuyết phục từ Hồ Chí Minh là từ một nhân cách lớn thể hiện trên cả hai phương diện: mục đích sống và lối sống. Theo tôi, đó chính là đạo đức.
Mục đích cao cả và lối sống gương mẫu là hai nhân tố nổi bật trong đạo đức Hồ Chí Minh. Nhưng học tập đạo đức không chỉ là “bắt chước” và làm theo một cách rập khuôn, mà quan trọng hơn hết phải tìm ra những nội dung đáp ứng được với nhu cầu phát triển của đời sống.
Hồ Chí Minh sống trong và làm nên một thời đại chuyển đổi to lớn của xã hội Việt Nam và lịch sử dân tộc. Đó là thời kỳ gắn cùng với sự nghiệp giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của ngoại xâm, điều mà nhiều thế hệ trước, ở nhiều thế kỷ trước ông cha ta đã làm, thì quan trọng hơn hết là sự chấm dứt chế độ quân chủ xác lập nền Dân chủ - Cộng hoà và thực hiện sự hội nhập của Việt Nam với đời sống của toàn nhân loại.
Cũng có thể nói rằng thế kỷ XX là thế kỷ của cuộc hội nhập lớn kéo dài từ công cuộc Duy Tân đến đổi mới gắn liền mục tiêu dành độc lập, để hội nhập với toàn thế giới. Động lực cho thế kỷ XX để Việt Nam thực hiện được bước chuyển đổi đó chính là nền Dân chủ. Và Hồ Chí Minh chính là nhân vật bao trùm nhất của thế kỷ XX. Tại toà nhà Newzeyland ở giữa Thủ đô London của nước Anh là địa điểm của một khách sạn mà Nguyễn Ái Quốc đã từng làm việc từ thời Đại chiến thứ nhất, người ta trang trọng đặt một tấm biển lưu niệm trong đó định danh “Hồ Chí Minh, người đã tạo lập ra nước Việt Nam hiện đại”.
Đạo đức của Hồ Chí Minh biểu hiện trong cuộc đời và di sản cũng chính là những giá trị đáp ứng được bước chuyển đổi từ những giá trị truyền thống đến những giá trị hiện đại để dân tộc Việt Nam hội nhập với thế giới và thời đại. Vì thế có thể khái quát nội hàm đạo đức Hồ Chí Minh mà chúng ta cần học tập là “tư cách công dân”và “năng lực hội nhập”.
Theo Vietnamnet
Đăng nhập để trả lời
0



Sự nghiệp vẻ vang, sứ mệnh to lớn

15:49' 01/02/2005 (GMT+7)


(VietNamNet) - 75 năm đã trôi qua kể từ ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Một chặng đường lịch sử đầy nước mắt, nhưng cũng rất vẻ vang của dân tộc: Những năm tháng bị đô hộ dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật; nạn đói khủng khiếp cướp đi sinh mệnh của hơn hai triệu người dân Việt vào mùa xuân năm Ất Dậu (1945); sự hy sinh to lớn trong các cuộc kháng chiến và, cuối cùng, giành được độc lập và thống nhất toàn vẹn Tổ quốc, bước vào thời kỳ đổi mới đất nước.






Thời gian trôi qua, song những dấu ấn lịch sử của dân tộc và sự nghiệp vẻ vang của Đảng lãnh đạo trong gần tám thập kỷ qua vẫn in đậm nét, không bao giờ phai. Trải qua bao thăng trầm, và ngày nay, mặc dù còn biết bao thử thách, gian nan, còn nhiều sức cản nặng nề, song mỗi người Việt Nam có thể ngẩng cao đầu mà nói rằng: Chúng ta là Người Việt Nam.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mang lại cho chúng ta niềm hãnh diện đó. Dân tộc ta vốn có truyền thống yêu nước hàng ngàn năm. Nhưng mất nước thì không có nước để mà yêu, vẫn là dân nô lệ. Giành được độc lập dân tộc, nhân dân ta mới có đầy đủ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, quyền làm chủ trên mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội
Độc lập dân tộc tạo ra cho chúng ta quyền tự do lựa chọn con đường phát triển đất nước, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, không chịu bất cứ sự chi phối, áp lực nào từ bên ngoài.
Độc lập dân tộc tạo cho 54 dân tộc anh em chung lưng đấu cật, đoàn kết chung sức chung lòng dựng nước và giữ nước mà biết bao thế hệ phải đổ biết bao xương máu và mồ hôi mớí có được.
Độc lập dân tộc làm cho kiều bào ta có Tổ quốc - Mẹ Hiền để hướng về nguồn cội vẻ vang, có chỗ dựa để được sống yên ổn trong vòng pháp luật và thuận lợi hơn trong làm ăn, sinh sống, học tập ở nơi xa xứ; sát cánh với nhau, làm giàu về vật chất và tinh thần cho chính mình và góp phần xây dựng đất nước.
Lúc này, chúng ta càng thấm thía lời Hồ chủ tịch: Không có gì quý hơn độc lập tự do! Chúng ta hãy cùng nhau giữ lấy cái quý giá ấy mà nhân dân ta, dân tộc ta đã giành được.
Trong lịch sử dân tộc ta, thống nhất quốc gia dân tộc luôn luôn là tiền đề cho nền độc lập vững chắc, cho sự ổn định để phát triển đất nước. Nó đã trở thành truyền thống của nhân dân ta. Mỗi khi đất nước bị các thế lực phong kiến cát cứ hoặc bị bọn đế quốc chia rẽ thì truyền thống quý báu đó lại trở thành một làn sóng mạnh mẽ vượt qua mọi gian nguy để thống nhất lại. Đinh Tiên Hoàng đã dẹp loạn 12 Sứ quân, thống nhất đất nước.
Các triều đại Lý, Trần, Lê luôn coi trọng sự thống nhất quốc gia với câu nói nổi tiếng: “Kẻ nào làm mất một tấc núi thước sông của Thái Tổ để lại, kẻ đó sẽ bị chu di”. Không thể kéo dài cảnh Trịnh Nguyễn phân chia nam bắc, Quang Trung Nguyễn Huệ đã đứng lên thống nhất quốc gia. Khi thực dân Pháp xâm lược, nước ta mất độc lập tự do và bị phân chia thành các xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, nhiều cuộc đấu tranh, khởi nghĩa liên tiếp diễn ra, nhưng đều thất bại.
Chỉ đến khi Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, phát huy được truyền thống yêu nước của dân tộc, tiếp thu và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm của thế giới, kết hợp được sức mạnh của dân tộc và của thời đại, chúng ta mới giành được độc lập tự do và thống nhất được giang sơn về một mối.
Nhân dân ta dưới sụ lãnh đạo của Đảng đang tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
Chúng ta đã và đang chuyển đổi nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập, mở cửa, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Những thành tựu đổi mới trong 20 năm qua đã làm thay đổi bộ mặt của xã hội Việt Nam, được nhân dân ta đồng tình và bạn bè cổ vũ.
Tại cuộc Hội thảo Quốc tế tổng kết 20 năm đổi mới tại Hà nội, một sứ giả của Liên hợp quốc tại Hà Nội đã nhận xét: “Toàn thế giới biết đến Việt Nam là một trong những ví dụ thành công nhất về chuyển đổi kinh tế trong lịch sử đương đại”.
Tuy vậy, những thành tựu ấy mới là bước đầu. 20 năm sắp tới đặt ra cho tất cả chúng ta một trách nhiệm nặng nề: không có quyền chỉ so sánh với ngày hôm qua mà phải so sánh nước ta với các nước trên thế giới, trước hết là những nước đang trên đà phát triển có điều kiện giống với ta trong khu vực. Con đường đi lên còn bao nhiêu thử thách. Con đường đó đã phác hoạ trong Hội nghị BCH Trung ương lần 11 vừa bế mạc, đang đặt ra cho đại hội Đảng các cấp diễn ra năm nay và sẽ là trọng tâm của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X mà toàn dân đang chờ đợi trong năm sau.
Với bản lĩnh và kinh nghiệm thâu hái được trong tám thập kỷ giành và giữ độc lập, thống nhất đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập chắc chắn sẽ hoàn thành sứ mệnh to lớn đưa dân tộc đi những bước vững chắc trên con đường đổi mới và chấn hưng đất nước.

  • PGS-TS. Lê Doãn Tá
Đăng nhập để trả lời
0
DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
(Công bố năm 1969)

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
---000--- 
Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.
Đó là một điều chắc chắn.
Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ, và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.
Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.
*
* * *
Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là: “Người thọ 70, xưa nay hiếm”.
Năm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là hạng người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khỏe càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.
Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?
Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.
Trước hết nói về Đảng – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.
Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.
Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân.
Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.
Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.
Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh.
Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.
Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.
Còn non, còn nước, còn người
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

 Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng 2 đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.
Về phong trào Cộng sản thế giới – Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em!
Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình.
Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.
*
* * *
Về việc riêng – Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.
Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.
*
* * *
Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.
Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn, và các cháu thanh niên nhi đông quốc tế.
Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 1965
HỒ CHÍ MINH
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: Cao Nguyên

Sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam



L.A.Pát-ty, thiếu tá chỉ huy OSS (tìền thân CIA của Mỹ) được phái đến Hà Nội ngày 22-8, chứng kiến những ngày sục sôi Tổng khởi nghĩa và có mặt trong ngày lễ Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập (2-9) tại Quảng trường Ba Đình và được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tối 31-9 trước hôm rời Hà Nội, đã ca ngợi sự nghiệp đấu tranh giành và giữ nền độc lập của Việt Nam là "sự nghiệp chính nghĩa ":






Một số thành viên chính phủ lâm thời. Ảnh: Tư liệu
Pát-ty kể lại cuộc tiếp ở Bắc Bộ phủ và viết: “... Ông Hồ chìa bàn tay mảnh khảnh đón tôi và nói ngay: “Đây quả là một dịp không hay. Mong rằng ông chỉ xa chúng tôi một thời gian...”. Sau bữa cơm, khi chỉ còn ông Hồ và tôi, ông Hồ hỏi ngay có phải Mỹ đang cho phép Pháp trở lại Việt Nam? Ông không bàn luận mà chỉ muốn qua tôi để biết một cách không chính thức điều mà tôi nghĩ, hoặc biết về chính sách Mỹ đối với những ý đồ quá hiển nhiên của Pháp...
Tôi nói: Chính sách của Mỹ khi tôi mới nhận nhiệm vụ là một chính sách "tránh khỏi" Đông Dương... Tôi cũng nhắc lại là Ru-dơ-ven nhiều lần tuyên bố về chính sách của Mỹ không ủng hộ các tham vọng thuộc địa của Pháp và không can thiệp vào Việt Nam, hiện vẫn được thi hành... nhưng đó thực ra chỉ là những điều phỏng đoán.
Ông Hồ lắng nghe một cách chăm chú, rồi lắc đầu nói với tôi: Ông không thể hòa giải được lập trường của Mỹ ở Oa-sinh-tơn, Quê-bếch, Tê-hê-ran và Pốt-xđam với thái độ thụ động của nước này trước tình hình khẩn cấp đang xảy ra ở Sài Gòn. Ông không thể nào hiểu được rằng Mỹ, một nước lên tiếng chống chủ nghĩa thực dân mà lại làm ngơ và cho phép Anh, và thậm chí cả Trung Quốc (Tưởng Giới Thạch) giúp Pháp trong mưu đồ nhằm áp đặt lại chế độ thuộc địa ở Việt Nam và nói: "Chẳng ai mù để mà không thấy được sự thật hiển nhiên là quân đội Pháp được Mỹ trang bị và tiếp tế, sớm muộn sẽ xâm chiếm cả Lào, Cam-pu-chia, Trung Kỳ và cả Bắc Kỳ nữa". Rồi ông khẳng định: "Điều đó, họ sẽ phải trả bằng một giá đắt...". Ông lập luận rằng: Nếu Mỹ chỉ dùng ảnh hưởng của mình để tác động đến Đờ Gôn thôi thì cũng có thể đạt tới một cuộc ngừng bắn ở Việt Nam trong đó không chỉ riêng Pháp, mà tất cả các nước bạn bè, đều có lợi vì nền độc lập của Việt Nam...
Ông Hồ đã nghĩ tới vấn đề của một cộng đồng liên Á gồm có ít nhất là Việt Nam, Lào, Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Mi-an-ma, một Ấn Độ độc lập, một In-đô-nê-xi-a tự do và Phi-líp-pin. Các nước này và có thể thêm các nước khác nữa cùng làm việc với Mỹ, Anh, Pháp sẽ góp phần xây dựng một cuộc chung sống hòa bình để phát triển các chương trình mở mang về chính trị và kinh tế vì lợi ích chung... Ông nhấn mạnh vấn đề tương hỗ giữa các nước bình đẳng với nhau. Ông cho rằng, chủ nghĩa thực dân là một thứ đã thuộc về quá khứ...nay đã đến lúc phải thay đổi. Ông đưa ra những nguyên tắc chung mà Ru-dơ-ven và Sớc-sin đã nêu trong Hiến chương Đại Tây Dương: Mỹ và Anh đã đảm bảo với thế giới rằng, họ không tìm kiếm những lợi ích về đất đai và cũng không khuyến khích những sự cưỡng bức thay đổi đường biên giới ngược lại ý nguyện của nhân dân... rồi nói: "Cả Mỹ và Anh đã nhiều lần tuyên bố công nhận quyền của các dân tộc tự lựa chọn lấy hình thức chính quyền mà họ muốn-và người Việt Nam muốn được hưởng đặc quyền đó. Cả hai nước Mỹ và Anh đều tuyên bố họ thấy cần thiết phải khôi phục lại chủ quyền và quyền tự trị cho các dân tộc đã bị người ta cưỡng đoạt mất. "Tại sao điều đó lại không được áp dụng cho Việt Nam?"- Ông Hồ hỏi, rồi nói tiếp: "Nếu đó thực sự là những nguyên tắc cao siêu mà Mỹ và Anh đã phấn đấu trong chiến tranh thế giới thứ hai, thì tại sao trong bước khởi đầu thời kỳ sau chiến tranh, họ đã từ bỏ và đặc biệt là đã chối từ không áp dụng cho Việt Nam? Đúng là Mỹ đã có giúp đỡ Việt Nam trong cuộc đấu tranh của Việt Nam trước đây... Tại sao nay Mỹ lại tỏ ra nhu nhược trong khi Pháp vi phạm các nguyên tắc Hiến chương Đại Tây Dương và Hiến chương Liên hợp quốc?"
L. Pát-ty kể tiếp: “Tôi đã không đáp lại và ông Hồ cũng không chờ câu trả lời... Cả ông Giáp và ông Hồ đều biết rằng họ chỉ có thể chờ đợi tôi nhiều nhất là một sự thông cảm và mối cảm tình. Nhưng tôi thấy được họ đã nhân cơ hội của buổi gặp gỡ cuối cùng này để làm sáng tỏ chính bản thân họ và sự nghiệp chính nghĩa của họ một cách tốt nhất. Cho đến lúc đó, Việt Nam còn bị cô lập khỏi thế giới cộng sản, bị các cường quốc ích kỷ bao vây chung quanh và họ chỉ thấy được một số ít người Mỹ mà họ đã có quan hệ giao tiếp. Tôi hướng câu chuyện vào đề nghị mới đây của Pháp về một sự thỏa hiệp giữa Việt Nam và chính phủ Pa-ri. Ông Hồ liền nhắc tôi nhớ lại đề nghị khó hiểu của A-lếch-xăng-đri để ông gặp Đác-giăng-li-ơ: "Với mục đích gì?". Nhưng ngay trước khi thu xếp được cuộc gặp gỡ, người Pháp đã bộc lộ sự dối trá của họ và thái độ coi thường hoàn toàn đối với nền độc lập dân tộc Việt Nam. Họ đã đi theo "những con đường mòn cũ" của những tên Pháp thực dân...
Ông Hồ nhận xét một cách châm biếm rằng: Xanh-tơ-ny, con rể cựu toàn quyền A. Sa-rôn, không những đã chối từ không chịu nói chuyện với ông trong tháng 7 (năm 1945) mà cả đến tháng sau (Xanh-tơ-ny, chỉ huy phái đoàn M5-cơ quan đại diện của Pháp ở Côn Minh, được cử đến Hà Nội ngày 22-8 trên chiếc máy bay chở đoàn của Pát-ty). Ở Hà Nội, Xanh-tơ-ny đã tỏ ra hoàn toàn không có thiện cảm đối với sự nghiệp chính nghĩa của người Việt Nam. Nhưng ông nói, ông sẵn sàng thảo luận về các vấn đề Việt Nam nhưng những cuộc thảo luận như vậy phải được xúc tiến trên cơ sở của lòng tin cậy lẫn nhau như những người bình đẳng.
Ý đồ của người Pháp là muốn thấy Việt Minh bị vô hiệu hóa và họ dựa vào những người theo chủ nghĩa quốc gia thân Trung Quốc (quân Tưởng) để làm việc này. Người Pháp cho rằng, Nguyễn Hải Thần có thể thực hiện được điều nói trên và họ đã điều đình với Thần mà họ đã lầm cho là một con người "mềm mỏng" chứ không phải là một lãnh tụ nhu nhược ngoại hạng. Cuộc điều đình (của Pháp với Tưởng) đã làm cho tướng Tiêu Văn và Quốc dân đảng (Trung Quốc) hài lòng vì cái mà họ sợ nhất chính là Hồ Chí Minh...và "Việt Minh có xu hướng cộng sản ghê gớm"-vì sự nghiệp chính nghĩa của họ, của nhân dân Việt Nam...
Kết thúc buổi tiếp, Pát-ty viết: "Ông Hồ tiễn tôi ra tận cửa ngoài, cảm ơn tôi đã tới và chịu nghe ông "diễn thuyết". Ông đặt hai tay lên vai tôi "Bon voyage (Chúc lên đường may mắn), mong sớm quay trở lại, lúc nào ông cũng được chúng tôi hoan nghênh". Khi xe tôi nổ máy, tôi nhìn lại vẫn thấy bóng nhỏ nhắn của ông ở cửa, vẫy chào tạm biệt. Tôi lại sực nhớ lại cuộc gặp gỡ đầu tiên của chúng tôi trong một tiệm trà ở Chiu Chou Chieh. Ông hiện ra mong manh đấy nhưng thực tế thật là bất khuất"./.
L.A. Pát-ty
-------------------------
(Theo cuốn Tại sao Việt Nam)

 
cho phép so sánh chút nhé
 

TÓM TẮT TIỂU SỬ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình trí thức yêu nước, nguồn gốc nông dân ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền thống đấu tranh kiên cường chống ách thống trị nặng nề của thực dân phong kiến. Hoàn cảnh xã hội và giáo dục gia đình đã ảnh hưởn sâu sắc đến Hồ Chủ tịch ngay từ thời niên thiếu.

Với tinh thần yêu nước nồng nàn, với sự sáng suốt về chính trị, Người đã bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nước hồi bấy giờ và quyết tâm đi tìm con đường đúng đắn để cứu dân, cứu nước.

Tháng 6/1911, Người ra nước ngoài, đi đến nước Pháp và nhiều nước châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ. Người hòa mình với những côngnhân và những người dân thuộc địa, vừa lao động để sống, vừa học tập, nghiên cứu các học thuyết cách mạng. Năm 1917, thắng lợi vang dội của cách mạng tháng Mười Nga đã đưa Hồ Chủ tịch đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Ra sức nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã nhận rõ đường lối duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội.

Cùng năm ấy, Người thành lập Hội những người Việt Nam yêu nước để tập hợp Việt Kiều ở Pháp. Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội pháp và hoạt động trong phong trào công nhân Pháp. Đầu năm đó, Người gửi đến Hội nghị Véc-xây (Pháp) "Bản yêusách của nhân dân Việt Nam", đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do và bình đẳng của dân tộc Việt Nam. .

Tháng 12/1920, trong Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp, Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện trên đây đánh dấu bước ngoặt trong đời hoạt động cách mạng của Người, bước ngoa chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản

Năm 1921, Người tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa và năm 1922 xuất bản báo "Người cùng khổ" ở Pháp. Tháng 6/1923, Người từ Pháp đi Liên Xô, nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tham gia công tác của Quốc tế cộng sản. Cùng năm đó, Người được bầu vào Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân. Năm 1924, người dự Đại hội lần thứ 5 của Quốc tế cộng sản và được cử làm Ủy viên Bộ phương Đông, phụ trách Cục phương Nam, hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng và phong trào Cộng sản ở các nước Đông - Nam châu Á. Năm 1925, Người thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông.

Tháng 6/1925, Người tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, mà hạt nhân là Cộng sản Đoàn, đồng thời ra báo Thanh niên và mở lớp huấn luyện đào tạo hàng trăm cán bộ đưa về nước hoạt động.

Ngày 3/2/1930, Người triệu tập hội nghị hợp nhất tại Cửu Long (Hương Cảng) để thống nhất các nhóm cộng sản trong nước thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong thời gian từ 1930 đến 1940, Người ở nước ngoài tham gia công tác của Quốc tế Cộng sản, đồng thời theo dõi sát phong trào cách mạng trong nước và có những chị thị quý báu cho Ban chấp hành Trung ương Đảng ta.

Năm 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài Người về nước triệu tâp hội nghị n thứ tám của Ban chấp hành Trung ương Đảng, quyết định đường lối đánh Pháp, đuổi Nhật, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên là Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), gấp rút xây dựng lực lượng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Ngày 22/12/1944, Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay và xây dựng căn cứ địa cách mạng.

Tháng 8/1945, trong không khí sôi sục cách mạng của thời kỳ tiền khởi nghĩa, Người cùng Trung ương triệu tập đại hội quốc dân ở Tân Trào. Đại hội đã cử Người làm chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Người đã phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 2/9/1945, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước nhân dân cả nước và nhân dân toàn thế giới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

Trong những ngày đầu cách mạng, nước ta có nhiều khó khăn chồng chất và bị bao vây bốn phía. Nạn đói do phát xít Nhật - Pháp gây ra đã giết hại hơn hai triệu người Việt Nam. Tháng 9/1945 câu kết với các đế quốc Mỹ, Anh và bọn phản động Quốc dân Đảng Trung Quốc, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, âm mưu xóa bỏ mọi thành quả của Cách mạng tháng Tám.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Ban chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân ra vừa đánh trả bọn thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam, vừa đối phó với bọn phản động Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc.

Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 được ký kết giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp. Quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi miền Bắc Việt Nam. Quân đội Pháp mở rộng đánh chiếm miền Nam, kéo ra miền Bắc và lấn dần từng bước ở miền Bắc, âm mưu tieến tới xóa bỏ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước tình hình ấy, tháng 12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến và cùng Ban chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và lâu dài chống thực dân Pháp đến thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ (1954).

Tháng 7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Miền Bắc Việt Nam được giải phóng. Nhưng một nửa nước ở miền Nam bị đế quốc Mỹ biến thành thuộc địa kiểu mới của chúng. Người cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.

Tháng 9/1960, đại hội lần thứ ba của Đảng đã họp, thông qua nghị quyết về hai nhiệm vụ chiến lược và bầu đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Người và của Ban chấp hành Trung ương đảng, nhân dân ta vừa đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc kháng chiếng chống Mỹ, cứu nước để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà và đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Ngày 2/9/1969, Người từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.






Bác Hồ với Thanh niên, thanh niên với Bác Hồ
Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của mộtngười cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì độc lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và công lý trên thế giới.

Cuộc họp lần thứ 24, năm 1987 tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của liên hợp quốc UNESCO ra nghị quyết về kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh "Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và là một nhà văn hóa lớn" (HỒ CHÍ MINH VIETNAMESE HERO OF NATIONAL LIBERATION AND GREAT MAN OF CULTURE) vào năm 1990.
Đăng nhập để trả lời
0
Tấm danh thiếp của Bác Hồ[/align]












Tấm thiếp Bác Hồ gửi cho những
người làm báo Xung Phong.
[/align]NDĐT - Cụ Quản Tập kể cho chúng tôi nghe vì sao những người làm báo Xung Phong lại nhận được tấm danh thiếp và thư động viên, khen ngợi của Bác Hồ. Và thật bất ngờ, trong suốt buổi trò chuyện kéo dài hơn hai giờ đồng hồ, cụ già gần tám mươi tuổi giọng không thay đổi, đầy vui vẻ, sảng khoái. Có lẽ ký ức tốt đẹp đã tiếp thêm cho cụ sức mạnh.[/align]


Đã gần 60 năm trôi qua, cụ Quản Tập vẫn nhớ như in ngày nhận được tấm danh thiếp của Bác Hồ và thư động viên, khen ngợi của Người đối với tập thể những người làm báo Xung Phong, cơ quan của trẻ em yêu nước tỉnh Hải Dương. [/align]

Dù bận trăm công nghìn việc trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ, vị Chủ tịch nước kính yêu vẫn dành thời gian đọc và trả lời thư các cháu thiếu niên.[/align]

- Cho đến giờ nghĩ lại, tôi vẫn ngỡ như mơ! [/align]

Vài nét về báo Xung Phong[/align]

Sau khi ta giành được chính quyền, tôi được cấp trên giao cho phụ trách thiếu nhi toàn tỉnh, chức vụ gọi là trung đội trưởng thiếu nhi. Chúng tôi phát động phong trào làm bích báo, chia ra làm mấy nhóm, mỗi nhóm làm một tờ báo riêng cạnh tranh nhau. Cứ mỗi tuần, các tờ bích báo ra một số, cũng có văn, cũng có thơ, có họa, có truyện, đủ mọi thứ... Chính từ tư tưởng sáng tạo ấy, sau này, vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tờ báo Xung Phong ra đời. [/align]

Đương nhiên mục đích cũng là đáp ứng yêu cầu thông tin, đặc biệt trong điều kiện khó khăn của cuộc kháng chiến. Báo là báo chép tay, báo của trẻ con mà. Giấy là giấy vở học sinh, muốn đẹp thì vẽ thêm tranh vào để trang trí. Còn muốn nhiều người đọc được thì chép ra thành nhiều bản. Có khoảng hơn mười người làm báo Xung Phong, trong đó đội thiếu niên giao thông liên lạc với khoảng mười người làm nòng cốt. Báo trẻ con nên cần phải vẽ đẹp để tạo sức hút. [/align]

Thật vui vì ban đầu chỉ nghĩ đến chuyện thu hút trẻ con, nhưng sau lại thu hút được cả người lớn. Đội thiếu niên giao thông đi khắp nơi trong huyện nên xã nào, đội nào có chuyện gì, việc gì mới là đưa tin cho mọi người biết ngay, hay huyện có chủ trương gì mới là cũng đưa ngay lên cho các xã biết. Thế nên, tờ báo của trẻ con đã làm luôn cả việc của người lớn, trở thành báo của cả huyện Ninh Giang (Hải Dương). Người lớn yêu tờ báo lắm nên ủng hộ rất tích cực, cho giấy, cho mực để viết. [/align]

Đối tượng “phát hành” của báo là các chòi thông tin trong toàn huyện. Mỗi số báo, chúng tôi chép ra mấy chục bản dán ở các chòi này. Tờ báo trông rất độc đáo vì toàn phẩm màu dân gian: nghệ, hoa hiên, mực xanh, mực tím, mực đỏ, mực đen, mực nho v.v. Khi tờ báo có tiếng vang trong tỉnh, đáp ứng nhu cầu thông tin của số đông quần chúng nhân dân thì Tỉnh ủy Hải Dương gọi cụ Quản Tập lên, giao cho cụ làm tờ báo Xung Phong một cách chính quy, đàng hoàng, được trang bị giấy, mực, in thạch bản. Bình thường báo ra tám trang khổ A4, riêng các số Tết thì gập đôi lại thành ra báo 16 trang trông dày dặn, trang trọng. Tính tổng cộng, có khoảng hơn 100 số báo Xung Phong ra đời. [/align]

Tấm danh thiếp của Bác Hồ[/align]

Cụ Quản Tập tại nhà riêng
(ảnh chụp đầu năm 2007).


Mỗi số báo Xung Phong hoàn thành, việc đầu tiên cụ Quản Tập và các đồng nghiệp làm là gửi biếu Bác Hồ một tờ. Có một vấn đề nảy sinh là: biết ghi địa chỉ của Bác như thế nào để gửi đây? Cụ Quản Tập và các bạn suy nghĩ mãi và cuối cùng quyết định cứ đề là: “Kính gửi Bác Hồ. Chiến khu Việt Bắc”, chắc mẩm trong bụng là sẽ đến được tay Bác. [/align]

- Chúng tôi gửi hoàn toàn xuất phát từ lòng kính yêu, kính trọng Bác. Cứ thế, đều đặn, mỗi số lại cuộn một tờ, dán nhãn gửi đi. [/align]

Cho đến một hôm thật bất ngờ, chúng tôi nhận được thư của Bác Hồ gửi cho. Chiếc phong bì rất nhỏ, được làm bằng giấy từ vỏ bao xi-măng, một loại giấy rất dai, khó thấm nước. Bác là chủ tịch nước mà cái phong bì làm bằng giấy tận dụng, điều ấy cho thấy Người giản dị, tiết kiệm đến chừng nào. Trên bì thư, Bác viết: “Kính gửi Báo Xung Phong, cơ quan của trẻ em yêu nước tỉnh Hải Dương”. Trên góc của phong bì có một dòng ký hiệu rất lạ: “15 MCH-2”. Chúng tôi cứ luận mãi về ý nghĩa của những ký hiệu này: nếu là viết tắt tên của Bác thì phải là HCM chứ, sao lại là MCH? Về sau, tôi có nghĩ ra một cách lý giải vui được các anh em khác chấp nhận: Bác rất yêu trẻ con, và để đùa vui với chúng tôi - những trẻ em yêu nước tỉnh Hải Dương nên Bác nói lái tên mình, thật dí dỏm, hợp với trẻ em: Mình Chí Hô là Hồ Chí Minh. Từ “Kính gửi” thật là trang trọng, nhưng cách viết tắt như vậy lại rõ ra là một ẩn ý, một nụ cười đùa vui với các cháu.[/align]

Trong phong bì, chỉ có một tấm danh thiếp của Bác Hồ. Một mặt in tên Bác bằng chữ Hán; mặt kia in tên Bác bằng chữ quốc ngữ kèm bài thơ lục bát đại ý cảm ơn các cháu thiếu niên đã gửi biếu báo và khen ngợi, động viên các cháu.[/align]

Và thật sảng khoái, cụ Quản Tập sang sảng đọc cho chúng tôi nghe bài thơ Bác tặng trên tấm danh thiếp của Người:[/align]
Bác nhận được báo Xung Phong
Cảm ơn các cháu có lòng gửi cho
Các cháu nghe Bác dặn dò:
Phải biết yêu nước, phải lo học hành
Siêng làm việc, siêng tập tành
Phải giữ kỷ luật là thành cháu ngoan
Bác yêu các cháu vô vàn
Bác gửi các cháu một ngàn cái hôn


“Trời ơi, được Bác ôm hôn thì còn gì sung sướng, hạnh phúc bằng! Ấy thế mà ở đây Bác lại gửi cho chúng tôi một ngàn cái hôn thì thật là quá tuyệt vời, không thể tưởng tượng nổi,” cụ Tập nói.[/align]

Khuôn mặt cụ già đã gần 80 tuổi vụt trở lên thật rạng rỡ với nụ cười mãn nguyện. [/align]
[/align]
Ngoan Đồng
Đăng nhập để trả lời
0
Nhớ mãi những phút giây đầu tiên
 
Vũ Kỳ


Thư ký giúp việc Bác Hồ từ năm 1945 đến 1969
Nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

 
Buổi chiều mùa thu ấy, cách đây đã hơn nửa thế kỷ. Đó là buổi chiều Chủ nhật, ngày 26 tháng 8 năm 1945, Hà Nội mới giành chính quyền được trọn một tuần, vẫn còn hừng hực khí thế Cách mạng Tháng Tám. Khắp các đường phố vẫn đang tràn ngập niềm hân hoan với cờ đỏ sao vàng, với biểu ngữ, với những cuộc họp sôi nổi... ít ai để ý đến một chiếc xe ô tô cũ, chạy không nhanh từ dốc Hàng Than, qua phố Chả Cá đến trước số nhà 35 Hàng Cân nhưng không dừng lại mà rẽ thẳng vào phía trong. Một cụ già mảnh khảnh xuống xe và nhanh nhẹn đi theo người đứng đón sẵn vào nhà rồi lên gác. Tiếp theo là một người thấp đậm, còn trẻ.
Ông già chính là Cụ Hồ vừa từ chiến khu về Hà Nội, chiều tối nay mới vào nội thành. Người trẻ, thấp đậm là đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng. Thường vụ Trung ương bố trí Bác đến ngôi nhà này, nhà của ông Trịnh Văn Bô, một thương gia lớn, giữa ba mươi sáu phố phường đông đúc, cao ba tầng, cửa phụ phía sau là Hàng Cân, cửa chính phía trước là Hàng Ngang mang số 48, có cửa sắt chắc chắn, rất thuận lợi cho công tác bảo vệ.
Tối hôm sau, 27 tháng 8 năm 1945, anh Đáng (tức đồng chí Trần Đăng Ninh) đến tìm tôi rồi dẫn tôi đi ngay, nói là Đảng giao cho tôi một nhiệm vụ quan trọng. Từ dạo tháng 3 năm 1945, cùng vượt ngục Hoả Lò ra, bây giờ chúng tôi mới gặp nhau. Phút đầu tiên, tự dưng hai chúng tôi rơm rớm nước mắt nghĩ đến anh Hoàng Văn Thụ. Mới hôm nào cả ba chúng tôi cùng ở trong tù. Anh Thụ thường xuyên nhắc nhở chúng tôi là phải giữ vững khí tiết của người cách mạng. Thế mà hôm nay, cách mạng thành công rồi, trong ngày vui của toàn dân tộc lại vắng bóng Anh...
Gần đến nhà số 48 Hàng Ngang, anh Đáng mới bảo nhỏ tôi:
- Đồng chí được chọn làm thư ký cho Cụ.
Tôi hỏi:
- Cụ nào?
Anh Đáng bảo:
- Cụ Nguyễn Ái Quốc.
Tôi đứng sững lại giây lát giữa đường phố.
Anh Đáng cũng đứng lại. Cả hai chúng tôi đều im lặng, không nói mà cũng hiểu nhau vô cùng. Ở trong tù, biết bao nhiêu lần chúng tôi cứ bắt anh Thụ kể về Nguyễn Ái Quốc mà anh Thụ được gặp ở Hội nghị Trung ương Tám, tháng 5 năm 1941. Ở Hội nghị đó, Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên vấn đề chuẩn bị lực lượng, đón thời cơ, khởi nghĩa giành chính quyền. Bây giờ chính quyền đã về tay nhân dân. Nguyễn Ái Quốc đã trở về Hà Nội. Mà anh Hoàng Văn Thụ thì không còn nữa...
Buổi tối hôm ấy, anh Đáng dẫn tôi lên gác, vào một phòng rộng. Trong phòng có sáu, bảy người đang họp, không thấy cụ nào. Tôi chỉ nhận ra đồng chí Trân, đồng chí Đệ (tức đồng chí Nguyễn Khang) và anh Dương (tức đồng chí Võ Nguyễn Giáp). Tôi chưa kịp hỏi chuyện đồng chí Trân, đồng chí Đệ thì anh Dương đã vui vẻ goi: Ô kìa U-sao-ty!. Đó là tên gọi của tôi hồi cuối năm 1941 khi tôi được chọn qua biên giới học quân chính và gặp anh.
Anh Đáng hỏi:
- Biết nhau à?
- Biết
Vừa lúc đó, Cụ ở buồng bên sang. Đồng chí Đáng giới thiệu:
- Thưa, người Cụ bảo tìm đây ạ.
Cụ nhìn tôi, cặp mắt hiền từ:
- Tên chú là gì?
- Thưa, là Nguyễn Cần ạ!
- Cẩn à! Tốt! Cẩn là cẩn thận. Thôi chú đi nghỉ. Sáng mai ta làm việc.
Tôi bàng hoàng. Từ đột ngột đến bàng hoàng. Mà không bàng hoàng sao được!
Buổi tối ghi nhớ của đời tôi đã diễn ra ngắn ngủi như vậy.
Thế là tôi đã được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, hình ảnh thiêng liêng đối với lớp đảng viên trẻ chúng tôi hồi trước cách mạng trong những ngày ở tù Hỏa Lò mà đêm đêm tôi vẫn thường nằm mơ. Nguyễn Ái Quốc thực, khác hẳn với Nguyễn Ái Quốc trong mơ.
Hiền từ và vô cùng giản dị.
Sáng hôm sau gặp tôi, Cụ lại hỏi:
- Chú tên là gì nhỉ?
Lần này tôi mới trấn tĩnh nói to hơn và rõ hơn tối qua. Mà không hiểu sao lúc ấy tôi không dám nói lại, khi nghe Bác nói sai tên mình.
- Thưa Cụ, là Nguyễn Cần ạ! - tôi nói chậm và rõ chữ Cần.
- Cần à, tốt, Cần Kiệm Liêm Chính, càng tốt!
Chắc Cục nhớ ra tối hôm qua nghe nhầm tên tôi là Cẩn.
- Chú có biết tiếng Pháp không?
- Thưa Cụ, biết ít ạ.
- Thế chú ngồi đây, mình đọc cho viết cái này.
Nỗi lo của tôi bớt dần vì Cụ hiền hậu, gần gũi và thân thiết quá! Trong giây lát, tôi tranh thủ ngắm Cụ. Người gầy, mắt sáng, râu thưa, trán rộng và cao. Đặc biệt hai vành tai không đều nhau. Những đường gân nổi ở trên thái dương. Cụ mặc áo sơ mi và quần đùi nâu đã bạc màu.
Những giờ phút đầu tiên, tôi được gặp và làm nhiệm vụ giúp việc của Cụ Nguyễn Ái Quốc như thế đó.
Mùa thu ấy, tôi vừa bước vào tuổi 25.
***
Ngày 27 tháng 8 năm 1945, Thường vụ Trung ương họp. Rồi Hội đồng Chính phủ họp. Bàn nhiều công việc quan trọng, trong đó có việc tổ chức lễ tuyên bố Độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh phụ trách thảo bản Tuyên ngôn Độc lập.
Mọi việc chuẩn bị ngày lễ Độc lập đều gấp rút, đều quan trọng. Nhưng gấp rút nhất, quan trọng nhất là dự thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Từ Nam quốc sơn hà thế kỷ 11 đời Lý, Bình Ngô đại cáo thế kỷ thứ 15 đời Lê, đến Tuyên ngôn Độc lập thời đại Hồ Chí Minh thế kỷ thứ 20, khoảng cách dài gần 10 thế kỷ, ngót nghìn năm.
Kể từ ngày thứ ba, 28 tháng 8 năm 1945 ấy, tức là ngày 21 tháng 7 Ất Dậu, Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung vào việc soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập.
Trên gác hai nhà 48 Hàng Ngang, trong một căn phòng rộng mà chủ nhà làm phòng ăn, ở giữa kê một cái bàn dài to, quanh bàn có tám ghế tựa đệm mềm là nơi Bác Hồ thường làm việc với các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng. Cuối phòng, sát tường phía sau, kê một chiếc bàn tròn mà Bác cùng chúng tôi thường ăn sáng. Bác hay ngồi suy nghĩ và đánh máy bên chiếc bàn con kê sát tường góc phía trong. Mặt bàn hình vuông, bọc da xanh màu lá mạ, vừa đủ để tập giấy bút và chiếc máy chữ nhỏ mang từ chiến khu về. Bác trầm ngâm suy nghĩ phác thảo Tuyên ngôn Độc lập.
Nửa đêm hôm ấy, tôi chợt thức giấc, thấy Bác vẫn ngồi chăm chú làm việc. Hà Nội sau một ngày sôi động đang đi vào yên tĩnh. Đêm mùa thu, trên căn gác thoáng rộng, không khí mát lành. Tôi trở dậy, bước thật nhẹ ra phía hành lang, nhìn xuống đường. Ban ngày, phố Hàng Ngang náo nhiệt, chật chội. Giờ đây rộng vắng giữa đêm khuya. Hai đường ray tàu điện chạy thành hai vệt thẳng, đen nhánh. Trước mõi căn nhà dọc phố, cờ đỏ sao vàng sẫm lại trong đêm. Một tốp tự vệ mặc quần soóc, đầu đội mũ calô, đang đi tuần dọc phố, bóng dáng hiên ngang.
Chỉ mới cách đó hơn một tuần, Hà Nội còn là một thành phố bảo hộ, mật thám như rươi, thoáng thấy mầu cờ đỏ là cả bộ máy cai trị của kẻ thù lồng len như thú dữ. Thế mà giờ đây cờ đỏ phấp phới bay khắp phố phường. Đêm ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang ngồi giữa lòng Hà Nội soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập, mở đầu một kỷ nguyên mới cho dân tộc: Kỷ nguyên Độc lập, Tự do. Thật là kỳ diệu. Cách mạng là một sự kỳ diệu. Và chính Người, từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh, đã cùng với toàn dân làm nên điều kỳ diệu đó. Từ buổi nhen nhóm phong trào cách mạng, tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên ra đời vào năm 1925, do chính Người sáng lập, để năm năm sau, chính đảng đầu tiên của giai cấp Công nhân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị.
***
Chiều ngày 31 tháng 8 năm 1945, Bác bảo đưa cho Bác xem sơ đồ địa điểm tổ chức mít tinh và nhắc Ban tổ chức chú ý cả nơi vệ sinh cho đồng bào, và dặn nếu trời mưa thì kết thúc sớm hơn, tránh cho đồng bào bị mưa ướt, nhất là đối với các cụ già và các cháu nhỏ.
Chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên quảng trường Ba Đình, một quang cảnh vừa náo nhiệt, vừa xúc động. Khi Cụ Hồ vừa xuất hiện trước máy phóng thanh, thì cả quảng trường âm vang tiếng hô:
- Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!
- Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!
Và khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang sảng cất tiếng đọc Tuyên ngôn Độc lập thì cả biển người im phăng phắc lắng nghe:
"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc..."
Đọc được một đoạn, Cụ Hồ bỗng dừng lại, đưa cặp mắt âu yếm nhìn toàn thể đồng bào, cất tiếng hỏi:
- Đồng bào nghe rõ tiếng tôi không?
Tiếng đáp lại liền ngay như sấm:
- Có!
Người dân và Chủ tịch nước bỗng trở nên gần gũi và vô cùng thân thiết.
Càng về cuối bản Tuyên ngôn Độc lập, giọng Cụ Hồ càng âm vang, như cuốn hút mọi người.
"Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-ran và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhân quyền độc lập của dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
Vì những lẽ trên, chúng tôi - Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng Tự do, Độc lập và sự thật đã trở thành một nước Tự do, Độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền Tự do, Độc lập ấy!"
Cùng với ngày 2 tháng 9 năm 1945, bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước quốc dân đồng bào, là một mốc son chói lọi trên con đường dài đấu tranh dựng nước và giữ nước suốt mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam.
Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của nước Việt Nam cũng là một mốc lớn quan trọng của dân tộc. Đó thực sự là lời tuyên bố đanh thép về sự cáo chung của chế độ thuộc địa dưới mọi hình thức. Đồng thời nó cũng báo hiệu sự mở đầu của một thời đại mới, thời đại trỗi dậy của các dân tộc nhược tiểu đứng lên làm chủ vận mệnh của mình. Trước đó hai mươi năm, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã có "Bản án chế độ thực dân Pháp". Nhưng lúc đó, Người mới là đại biểu dân thuộc địa. Bây giờ, chính Người và cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người sẽ thi hành bản án ấy. Và như chúng ta đã biết, bản án đã được thực hiện bằng chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu chín năm sau đó.

  • Vũ Kỳ
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-19 17:05:12Cao Nguyên>
Chuyện chiếc xe và máy lạnh trong phòng Bác


PHẠM LÊ NINH
(Trưởng phòng, Cục Cảnh vệ, Bộ Công an bảo vệ Bác Hồ từ năm 1954-1962)


Được ở gần Bác chúng tôi chứng kiến một điều đặc biệt: dù trời đông giá rét hay ngày hè nóng nực, không bao giờ thấy Bác kêu nóng hay rét quá.
Dịp may hiếm có, trong lúc chúng tôi đang nghĩ cách chống nóng cho Bác thì các đồng chí bên Bộ Ngoại giao công tác ở nước ngoài gửi biếu Bác chiếc máy điều hòa nhiệt độ. Khi nhận máy về, từ các anh ở văn phòng Bác đến anh em phục vụ, bảo vệ đều vui mừng thấy như các đồng chí bên ngoại giao đã giúp mình tìm ra đáp số một bài toán khó.
Lúc đó Bác đi công tác vắng. Các anh quyết định cho lắp máy điều hòa vào phòng của Bác, định khi Bác về xin phép sau. Các đồng chí thợ điện tích cực làm việc, chỉ một buổi sáng chiếc máy đã được đặt gọn vào tường trong phòng làm việc của Bác.
Cầu dao điện vừa đóng, tiếng máy chạy ro ro, giống như có bầy ong về tổ. Lúc đó ở Hà Nội máy điều hòa còn hiếm, anh em chúng tôi nhiều người mới biết lần đầu, cứ tấm tắc khen.
Tuy vậy chúng tôi vẫn hồi hộp chờ ý kiến của Bác, bởi lẽ chúng tôi đều biết Bác sống rất giản dị. Những tiện nghi trung ương dành cho Bác, thứ nào thật cần thiết Bác mới dùng.
...Như chiếc xe Pôbêđa của Bác đã cũ, Văn phòng trung ương xin phép được đổi cho Bác xe khác mới và tốt hơn. Bác hỏi đồng chí lái xe:
- Xe của Bác đã hỏng chưa?
Đồng chí lái xe thành thật:
- Thưa Bác, xe chưa hỏng nhưng chúng cháu muốn đổi xe mới để Bác đi nhanh và êm hơn.
Bác cười bảo:
- Thế thì chưa đổi... Ai thích đi nhanh thì đổi xe mới, còn Bác vẫn dùng xe này vì nó chưa hỏng.
Một hôm sắp đến giờ Bác đi làm việc mà xe chưa nổ máy được. Thấy Bác đứng đợi, đồng chí lái xe rất lo lắng. Đoán xe có sự cố, Bác bước lại gần ân cần bảo đồng chí lái xe: “Máy móc thì có lúc nó trục trặc, chú cứ bình tĩnh sửa”. Vài phút sau xe sửa xong, đồng chí lái xe xin lỗi Bác, Bác cười độ lượng: “Thế là xe Bác vẫn còn tốt. Lần sau chú nhớ kiểm tra trước kẻo nhỡ việc của Bác”.
Chiếc xe ấy Bác dùng cho đến ngày Người đi xa...
Còn chiếc máy điều hòa đang làm mát cả phòng của Bác sẽ ra sao? Chúng tôi hồi hộp chờ đợi. Lần ấy Bác đi công tác độ một tuần mà chúng tôi cảm thấy như đã dài hàng tháng.
Nghe tin Bác về, chúng tôi chạy ra đón.
Sau khi thăm hỏi anh em, Bác đi về phòng ở. Vừa bước vào phòng, chợt Bác dừng lại, hỏi:
- Các chú này, hôm nay nhà mình có mùi gì lạ quá?
Chúng tôi nhìn nhau, chưa ai trả lời câu hỏi của Bác. Chính tôi cũng chưa phát hiện được điều gì. Sau này hỏi các đồng chí thợ điện mới biết chiếc máy điều hòa do một nước phương Tây sản xuất, chất lượng máy tốt, hình dáng đẹp nhưng muốn làm vui lòng khách, trong máy họ gắn thêm một bình bơm tự động có chứa nước hoa. Khi máy vận hành, van mở, nước hoa theo gió tỏa ra nên trong phòng lúc nào cũng phảng phất mùi thơm. Nếu ai không chú ý thì chỉ cảm thấy như quanh đây có mùi hoa lan, hoa huệ vậy. Biết không giấu được Bác, anh Vũ Kỳ (thư ký của Bác) và các đồng chí phục vụ xin lỗi Bác, rồi trình bày rõ lý do về chiếc máy điều hòa nhiệt độ. Không thấy Bác tỏ thái độ gì, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm.
Nhưng chỉ đến đầu giờ làm việc chiều hôm ấy, Bác cho gọi anh Vũ Kỳ đến và ân cần bảo:
- Chiếc máy điều hòa nhiệt độ tốt đấy, các chú có thể đem đến cho quân y viện hoặc trại điều dưỡng thương binh. Hôm trước Bác đến thăm thấy các chú ấy ở nóng lắm. Còn Bác thì chưa cần, Bác ở thế này là được rồi.
Tôi nghe Bác nói với anh Vũ Kỳ mà cảm giác như bước đi của mình bị hẫng.
Tôi rất muốn được thưa với Bác nhưng chưa được phép vì Bác đang làm việc với anh Vũ Kỳ. Khoảnh khắc ấy tôi bỗng nhớ lần Bác đến thăm trại điều dưỡng thương binh ở Hà Nội. Hôm ấy Bác đến thăm bất ngờ, Bác đi thẳng vào một dãy nhà anh em đang nghỉ và điều trị. Tin Bác đến thăm nhanh chóng lan ra cả trại. Từ các dãy nhà bên anh em kéo đến mỗi lúc một đông, ai cũng muốn được gần Bác. Thật cảm động, có những đồng chí cố len vào mong được gần Bác, quên cả mình đang phải dùng nạng thay chân.
Đang lúc Bác thăm hỏi sức khỏe anh em thì có một đồng chí thương binh hỏng mắt nhờ đồng chí y tá xin được vào gần Bác. Tôi bước lại đỡ đồng chí, vừa quay lại thì Bác cũng đi tới. Bác đưa tay đón đồng chí thương binh. Hình như có linh cảm đặc biệt, đồng chí thương binh hỏng mắt bước tới ôm chầm lấy Bác, nghẹn ngào hai tiếng: “Bác ơi”. Hai dòng nước mắt lăn xuống gò má còn chưa lành hẳn vết thương khiến chúng tôi không nén được xúc động. Bác cũng lặng đi giây lát rồi Người thăm hỏi đồng chí thương binh hỏng mắt và các đồng chí đang có mặt. Không khí trở lại vui vẻ như lúc ban đầu.
Sau đó Bác đi đến các dãy nhà thăm các anh, chị em mà vết thương nặng còn phải nằm bất động. Buổi chiều hôm ấy trời nóng, Bác vừa hỏi chuyện vừa cầm chiếc quạt giấy của Bác quạt cho anh em. Nhiều đồng chí xúc động cứ nhìn Bác mãi không nói được. Hôm ấy trên xe trở về nhà, tôi thấy Bác vẫn còn xúc động. Giờ đây trong căn phòng mát mẻ, chắc Bác chạnh lòng nghĩ đến các đồng chí thương binh.
Anh Vũ Kỳ và các đồng chí phục vụ đã hết lời đề nghị nhưng Bác vẫn không thay đổi ý kiến. Thế là ngay buổi chiều hôm ấy chiếc máy điều hòa được đưa ra khỏi căn phòng của Bác.
PHẠM BAN ghi
* Trích từ quyển Chuyện kể của những người giúp việc Bác Hồ - Bảo tàng Hồ Chí Minh thực hiện.
Đăng nhập để trả lời
0
Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân[/align]












[/align]
Nhân dân ta thường nói: Ðảng viên đi trước, làng nước theo sau. Ðó là một lời khen chân thành đối với đảng viên và cán bộ chúng ta.[/align]

Trải qua 39 năm đấu tranh oanh liệt, làm Cách mạng Tháng Tám thành công, kháng chiến lần thứ nhất thắng lợi và ngày nay vừa chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc, nhân dân ta tin tưởng rằng: Ðảng ta lãnh đạo rất sáng suốt đã đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong lịch sử đấu tranh của Ðảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang.[/align]

Ðảng ta đã đào tạo một thế hệ thanh niên cách mạng, gái cũng như trai, rất hăng hái, dũng cảm trong mọi công tác.[/align]

Ðó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân dân ta và Ðảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng như thế.[/align]

Song bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém.[/align]

Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo "mình vì mọi người" mà chỉ muốn "mọi người vì mình".[/align]

Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.[/align]

Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Ðảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.[/align]

Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm.[/align]

Ðể làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Ðảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Ðảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Ðảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Ðảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Ðảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Ðảng phải chặt chẽ.[/align]

Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Ðảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết  quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần  đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ.[/align]

Ðó là một cách thiết thực để kỷ niệm ngày thành lập Ðảng ta, Ðảng vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân anh hùng của chúng ta. Ðó cũng là một việc làm cần thiết để giúp tất cả cán bộ, đảng viên đều tiến bộ, góp sức nhiều hơn nữa cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước toàn thắng và xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công.[/align]
[/align]HCM
Đăng nhập để trả lời
0
Ðạo đức Cách mạng (*)[/align]







Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Ðiều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Ðảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. [/align]

Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm.[/align]

Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm.[/align]

a) NHÂN là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Ðảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền.[/align]

Những người đã không ham, không e, không sợ gì thì việc gì là việc phải họ đều làm được.[/align]

b) NGHĨA là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Ðảng. Ngoài lợi ích của Ðảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Ðảng giao cho việc, thì bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn.[/align]

c) TRÍ vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Ðảng, biết vì Ðảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian.[/align]

d) DŨNG là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Ðảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.[/align]

đ) LIÊM là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa.[/align]

Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.[/align]

Ðó là đạo đức cách mạng.  Ðạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Ðảng, của dân tộc, của loài người.[/align]

Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?[/align]
HỒ CHÍ MINH


(*) Trích trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, T5, Trg 251, 252, 253.[/align][/align]
Đăng nhập để trả lời
0
Con người của văn hóa đạo đức
Ngày 22/5/2007. Cập nhật lúc 14h 45'

Điểm trội của Hồ Chí Minh so với nhiều danh nhân khác là toàn bộ cuộc đời của Người là pho sách lớn về đạo đức. Sức mạnh của văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh đã lan tỏa, thẩm thấu, trở thành giá trị văn hóa vĩnh hằng trong các thế hệ người Việt Nam. Đã từ lâu, Hồ Chí Minh được lòng dân Việt Nam tôn vinh là lãnh tụ, người anh hùng dân tộc, là Bác Hồ kính yêu, trước hết là vì đạo đức của Người.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Người cho rằng: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.



Đối với người cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm rằng: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Trong năm cuối đời, năm 1969, Bác còn viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” đúng dịp kỷ niệm thành lập Đảng để giáo dục cán bộ, đảng viên. Và trong bản Di chúc, Người viết: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân...’’.



Hồ Chí Minh xem xét vấn đề đạo đức tới mọi đối tượng, mà chung nhất là đạo đức công dân và đặc biệt nhấn mạnh tới đạo đức của cán bộ, đảng viên. Có lẽ ở Việt Nam, Bác là người đầu tiên đề cập đạo đức công dân trong chế độ mới khi gắn với nghĩa vụ đóng thuế “đúng số và đúng kỳ”. Đề cập tới cán bộ, đảng viên tức là Người đã tác động đúng vào khâu “trọng điểm”, khâu “trung tâm” của xã hội vì trong điều kiện Đảng cầm quyền, chính họ là những người tiên phong trong các phong trào cách mạng. Điều đó cắt nghĩa tại sao, khi nói, viết về đạo đức thì Người dành nhiều nhất cho cán bộ, đảng viên.



Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện đặc trưng bằng sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, nghĩa là Người kết hợp giữa nói và làm, và nhiều khi làm nhiều hơn nói. Trong tư duy của Bác, học luôn luôn phải gắn với hành, lý luận phải đi liền với thực tiễn, nói phải đi đôi với làm như những cặp chỉnh thể mà thiếu một vế thì điều đó sẽ trở thành vô nghĩa. Ngay như ở những bài học đầu tiên đào tạo, huấn luyện cho cán bộ, cách mạng, phần nhập môn, Người nêu lên “Tư cách của một người cách mệnh” gồm 23 điều, trong đó có điều: “Nói thì phải làm” . Do vậy, Hồ Chí Minh được coi là nhà triết lý trong hành động và là sự thể hiện sự thuần khiết trong văn hóa. Điều này thấm vào trong giao tiếp, ứng xử văn hóa.



Chủ tịch Hồ Chí Minh có một ứng xử văn hóa tuyệt diệu khi cả cuộc đời của Người là một tấm gương tốt, một cách tự nhiên, mà mọi người có thể tự soi vào đấy. Đã có người cho rằng, học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh khó quá. Ngày nay, khi hoàn cảnh đã đổi thay nhiều so với trước, liệu tấm gương Hồ Chí Minh có còn tác dụng không? Chẳng hạn, những người trẻ tuổi, những thế hệ 8X, 9X và các thế hệ tiếp theo nữa đang đặt câu hỏi: liệu họ cứ phải đi dép lốp cao su như Bác Hồ; liệu họ phải tằn tiện “ăn chắc, mặc bền” chứ không phải “ăn ngon, mặc đẹp”; liệu họ cứ phải tâm niệm “giàu sang không thể quyến rũ”, v,v...? Khó hay dễ là tại bản thân mình. Học không phải là bắt chước. Học tấm gương Hồ Chí Minh là tìm hiểu bản chất của vấn đề để vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cuộc sống.



Làm gương cho người khác soi, đó làm một phương cách xử thế của Bác Hồ. Nhiều cái phản văn hóa hay là đạo đức giả là ở chỗ nói nhiều làm ít, nói thì hay nhưng không làm gì cả, thậm chí nói một đằng làm một nẻo. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: ở phương Đông và ở Việt Nam, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Cán bộ, đảng viên, những người có chức có quyền, nhất là những cán bộ chủ chốt, nếu nêu một tấm gương sáng thì sẽ tạo ra một đời sống văn hóa lành mạnh cho xã hội, còn ngược lại thì hậu quả sẽ khôn lường.



Xây dựng môi trường đạo đức cách mạng

Môi trường đạo đức hiện đang bị ô nhiễm ở lĩnh vực này, lĩnh vực nọ. Cơ chế mới đã khơi dậy sự năng động của xã hội trong các lĩnh vực nhưng cũng phần nào chưa kiểm soát được một cách chắc chắn những cái ác, cái xấu. Những tệ nạn xã hội vẫn đang phát triển. Đồng tiền có sức mạnh ma quái đang làm hỏng nhiều cán bộ, đảng viên và làm hỏng các chuẩn mực quan hệ ứng xử của con người. Xây dựng văn hóa đạo đức trong môi trường như thế khó khăn hơn rất nhiều. Trách nhiệm làm cho môi trường văn hóa đạo đức trong sạch không phải của riêng ai mà là của tất cả mọi người, của cả hệ thống chính trị, của từng gia đình. Trước hết, trong xây dựng môi trường đạo đức cách mạng, cần chú trọng những vấn đề sau đây:



- Sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

- Tôn trọng và phát huy những truyền thống tốt đẹp, những thuần phong mỹ tục.

- Tạo ra một cách thường xuyên tinh thần đề cao cái đẹp, cái tốt; lên án cái xấu, cái ác và khuyến khích mọi người làm việc thiện.

- Kết hợp chặt chẽ hơn nữa giữa gia đình, nhà trường, xã hội trong việc xây dựng môi trường văn hóa đạo đức mới.

- Giải quyết đồng bộ tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, làm cho đất nước ta phát triển nhanh và bền vững.



Dù áp dụng biện pháp nào đi chăng nữa thì ý thức tự giác của mỗi cá nhân là quan trọng nhất. Chính ý thức và hành động của mỗi người là điều kiện để tạo ra môi trường đạo đức tốt đẹp. Chúng ta không chờ có một môi trường tốt rồi mới xây dựng đạo đức cách mạng mà phải thấy đó là cả một quá trình vừa xây, vừa chống, không thụ động. Và chỉ số phát triển của mỗi một dân tộc, phải chăng cũng cần nhìn vào môi trường văn hóa đạo đức, nơi mà ở đó mỗi một con người, mỗi một cộng đồng, dân tộc đều có cơ hội, điều kiện để tự do phát triển vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ chứ không chỉ nhìn vào chỉ số tăng trưởng kinh tế.




Theo GS.TS Mạch Quang Thắng, báo HNM điện tử
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-27 17:31:58Cao Nguyên>
VÀNG LÀ Ở HAI BÀN TAY LAO ĐỘNG

Bác Hồ vào Phan Thiết dạy học ở trường Dục Thanh của Hội Liên Thành. Bác sĩ Nguyễn Kinh Chi ở Bộ Y tế là học trò của thầy Thành kể lại:
- Thầy giáo Thành dạy lớp ba, thầy thường mặc áo vải, chân đi guốc. Trong giờ địa lý, thầy giáo Thành dạy tiếng Pháp, tôi còn nhớ mãi buổi học đầu tiên của thầy Thành:
"Montagne" là núi, "rivière" là sông
Núi kia là núi của ai 
Sông xanh nước biếc chảy dài đi đâu?

Thầy giáo Thành bảo núi thì có rừng. Trên rừng rất nhiều gỗ quí như lim, trai, sếu, táu, vàng tâm, v.v.. . Có nhiều cây thuốc quí, có nhiều muông thú như hổ, báo, hươu, nai, voi... Trong núi có nhiều khoáng sản như vàng, bạc, châu báu, dưới sông có nhiều cá ngon, nước sông có nhiều phù sa, nên ngǎn nước ấy lại tưới cho đồng ruộng thì màu mỡ tươi tắn. Tổ tiên ta kiên cường, giang sơn ta gấm vóc: thầy giáo Thành dạy chúng tôi như vậy?
Ông Chi đọc học xong rồi đi du lịch. Ông thắc mắc tại sao thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy rừng núi, sông ngòi, đất đai là của ta. Thế mà bây giờ Tây nó lại lấy. Đời sống của người lao động thì khổ cực, nghèo đói. Ngày ngày làm nghề thuốc tiếp xúc với người bệnh, bao nhiêu câu hỏi đã gieo vào đầu óc ông: tại sao người đàn bà làm ǎn vất vả, sớm tối ngày đêm sương gió, thế mà chỉ có một cái yếm bằng vải và chiếc khố tải che thân? Người đàn ông cũng chỉ có cái quần đùi? Các em bé tám chín tuổi vẫn trần truồng chưa có áo quần mặc? Ông Chi suy nghĩ và càng thấm thía những lời giảng của thầy giáo Thành gieo vào lòng tuổi trẻ nhiều ý nghĩa. Ông và các bạn ở trường Dục Thanh cũ dần dần ghét Tây. Từ đó ông bắt đầu đi tìm cách mạng và ông cũng như nhiều bạn bè khác trở nên người Cộng sản.
Rời Phan Thiết, Bác Hồ đi vào Sài Gòn học nghề. Ngày ngày, lúc học xong, Bác thường xuống xem cảng Sài Gòn. Bác đi để biết tình hình. ở cảng này, Bác Hồ làm quen với ông Mai, được ông giới thiệu xuống làm ở chiếc tàu của hãng "Vận tải hợp nhất" của Pháp. Tàu Đô đốc Latútsơ Trêvin chuyên chở thực phẩm cho Pháp ở thuộc địa. Ông Mai người ở An Dương (Hải Phòng), gặp Bác lần đầu đã thấy mến. Bác Hồ ngỏ ý muốn xin làm ở dưới tàu. Ông Mai vui vẻ nhận lời giới thiệu giúp Bác. Ông đưa Bác đến gặp thuyền trưởng người Pháp. Người thuyền trưởng nói: 
- Nếu cần làm việc ở đây, tám giờ sáng mai đến?
Tối hôm ấy về chỗ ở, Bác rủ thêm một người bạn cùng đi Pháp. Người bạn thân đó nói:
Ta đi Pháp sẽ chết đói thôi, bởi vì chúng ta không có tiền để ǎn.
Bác đã giơ tay ra và nói:
- Tiền là ở đây, vàng là ở đây. Chúng ta còn trai trẻ. Chúng ta sẽ làm lụng để sống. 
Sáng hôm sau, người bạn ấy ngần ngại từ chối, không đi. Bác chia tay anh ta. Ông Mai đưa Bác xuống tàu gặp người thuyền trưởng. Nhìn Bác một lát, người thuyền trưởng Pháp nói:
- ở đây không có việc gì nhẹ cho anh làm cả. Chỉ có những việc nặng thôi, trông anh gầy yếu thế kia. Làm sao nổi?!
Bác trả lời:
- Vâng, tôi gầy yếu thật, nhưng tôi còn trai trẻ, tôi có nghị lực, tôi có thể làm được tất cả!
Người thuyền trưởng thấy Bác nhanh nhẹn giỏi tiếng Pháp nên cho làm phụ bếp. Bác nhận lời làm việc ở đây và lấy tên là Vǎn Ba.
Qua những ngày làm việc đầu tắt mặt tối ở dưới tàu, Bác nhận thấy ở đây có hai hạng người: người bị bóc lột và người đi bóc lột. Hai thái cực đó thật là rõ ràng. Công việc mà Bác phải làm hàng ngày thật là cực nhọc: hết bưng những sọt khoai tây lên mặt bàn để gọt rửa, lại bê những thùng rượu để phục vụ các bữa ǎn, rồi rửa bát, nồi, soong, giặt giũ, lau bàn ghế, đánh bóng boong tàu. Suốt ngày Bác nhễ nhại mồ hôi và mình đầy than bụi. Công việc vất vả thật nhưng khi được nghỉ tay là Bác tranh thủ dạy ông Mai chữ quốc ngữ. 
Trong phong trào Đông Du do cụ Phan đề xướng, cụ chủ trương "Gương Nhật Bản, đất A' Đông". Cụ mong nhờ vào bọn Nhật cô lập giặc Pháp thì thật khác nào "đưa hổ cửa trước, rước hùm cửa sau". Cụ Phan Chu Trinh lúc này đã bị bắt và theo quan niệm của cụ thì "Học Pháp càng nhiều; làm bồi càng to".
Vậy tại sao Bác Hồ lại đi Pháp? Vừa rồi chúng ta tìm được cuốn lược dịch "Binh thư Tôn Tử" của Bác, Bác nói là lược dịch, nhưng khi đọc chúng ta nhận thấy là chiến lược của Bác. Qua sự giáo dục của gia đình và cuốn lược dịch "Binh thư Tôn Tử", qua trao đổi với một số cụ đương thời có học với Bác và ngay cụ thân sinh ra Bác vẫn thường dạy học trò là "biết địch biết ta, trǎm trận trǎm thắng", chúng ta càng thấy rõ việc Bác đi Pháp là Bác có suy nghĩ chín chắn. Với lại hồi ấy, những từ Pháp "Tự do, bình đẳng, bác ái rất hay, Bác muốn biết đằng sau nhừng từ ấy ẩn giấu cái gì...
Bác lĩnh được mười quan, dần dà sau này được nǎm mươi quan (trong khi đó mỗi nhân viên người Việt Nam ít nhất cũng phải lĩnh đến một trǎm quan). Lên đất pháp, vì tiền ít Bác thường phải thuê chỗ ngủ đứng. ở nước Pháp lúc này có hai loại tiệm ngủ. Một loại ngủ giường đệm, màn và lò sưởi. Một loại là lấy vé vào ngủ đứng. ở Pháp ít lâu, Bác đi châu Phi, rồi Bác lại trở về Pháp. Lúc rời châu Phi, Bác có nói:
- Người ta nói ở châu Phi có nhiều ác thú, nhưng ác thú ở đây mà ác hơn cả, chính lại là lũ thực dân. Sau này, các đồng chí cộng sản quốc tế sang dự lễ tang Bác có cho biết:
Bác đi châu Phi trên một chiếc tàu buôn. Chiếc tàu buôn này rời cảng Lơ Havơrơ đỗ tại Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Angiêri, Tuynidi và các cửa biển phía đông châu Phi cho đến Công gô. Mỗi khi tàu cập bến, Bác tìm cách lên thǎm thành phố, khi chiếc tàu này trở về Pháp sửa chữa, người thuyền trưởng thấy anh Ba làm được việc, bèn giới thiệu đi làm bồi ở một chiếc tàu chở sĩ quan Pháp đi Anh nghỉ mát. Đến nước Anh, Bác không đi làm bồi tàu nữa. Lên thủ đô nước Anh, Bác tìm đến một trường trung học. Bác rất thích cuộc đời học sinh. Bác ngồi xem các em học và Bác làm quen được với một người gác cổng. Bác xin làm việc quét tuyết ở trường học này. Làm được một tuần lễ, vì lao động cực nhọc quá trời lại rét buốt nên Bác bị cảm lạnh và sưng phổi phải thôi việc.
Khi khỏi bệnh Bác xin làm ở tiệm ǎn Cáclơtông, một khách sạn lớn nhất nước Anh lúc bấy giờ. Khách sạn có một người Pháp tên là ÊcÔpphie làm bếp nổi tiếng, được người ta đặt tên là "Vua bếp". Những tiệc lớn của nữ hoàng Anh đều do ông ta đứng ra đảm nhận.
Một hôm anh Ba đang rửa bát. Vua bếp đi qua hỏi: 
- Anh Ba, anh đổ các thứ thừa đi, chứ anh để lại làm gì?
- ở đây thừa đổ đi - anh Ba trả lời - nhưng ngoài kia những người đói lại đang cần, tôi để lại lát nữa cho người ta.
Vua bếp ra chiều cảm động thấy một thanh niên châu A' lòng nhân hậu như vậy nên rất có cảm tình. Nhân đấy Bác lại nói: 
- Xin ông cho tôi làm công việc gì có nhiều tiền để tôi chi trả tiền học tiếng Anh. Tôi học nǎm bài đã mất nǎm đồng, trong khi đó tôi chỉ được trả có sáu đồng, còn lại không đủ ǎn trong một tuần lễ.
Vua bếp cười bảo:
- Tôi là người Pháp mà không học được tiếng Anh, còn anh là người châu A' mà dám học tiếng Anh cơ à? Tôi ở đây hai nǎm rồi mà chỉ biết có vài ba tiếng "vâng" và "không. Nói vậy, ông này vẫn giúp Bác, Bác được bố trí đốt lò.
Thế là từ nǎm giờ sáng đến tám giờ tối Bác phải nặng nhọc đưới hầm lò. Tuy tiền công có được nhiều hơn, nhưng không được học hành, vì đêm về mệt lả làm sao đi học được nữa.
Do đó Bác tìm gặp Vua bếp yêu cầu cho Bác làm một nghề khác. Vua bếp xếp cho Bác làm bánh ga tô, đỡ nặng nhọc hơn và có thêm tiền để học. Thời kỳ này Bác tranh thủ học nhiều ngoại ngữ: Nǎm một ngàn chín trǎm mười ba, một ngàn chín trǎm mười bốn ở Anh, Bác học tiếng Anh do một giáo sư người ý dạy. Thầy giáo này biết tiếng Đức, cho nên Bác học cả tiếng Đức và Y' của giáo sư này. Hàng ngày, Bác ra ngồi ở vườn hoa Hayđơ để học. Lúc này, Bác có quan hệ với các nhà yêu nước ở Â'n Độ như Gǎngđi. Nhà sử học Thụy Điển, trong một cuốn sử viết về Bác, cho biết: nǎm mộ ngàn chín trǎm mười lǎm Bác ở khu vực người da đen Háclem (nước Mỹ) và làm nghề chụp ảnh. Nǎm 1916 sang Đức, trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bác trở lại Pháp và ở nhà cụ Phan Chu Trinh. ở Pháp, Bác tham gia phong trào của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp. Bác tổ chức nhóm Việt kiều. Bác đã gặp Sác lông ghê (Charles Longuet), chủ bút tờ báo "Dân chúng" là cháu ngoại của Các Mác. Ông này đã giúp đỡ Bác viết báo. Lúc đầu Bác viết nǎm dòng rồi sửa hết, rồi lại viết. Bài báo đầu tiên của Bác là bài báo nǎm dòng đǎng ở tờ "Đời sống thợ thuyền", nǎm 1917. Sau đó Bác viết cho nhiều tờ báo ở Pháp như tờ "Nhân đạo và "Dân chúng"... hồi đó Bác ở nhà số 9 ngõ hẻm Công poǎng (compoint). Đạo diễn Phạm Kỳ Nam đi Paris làm phim về Bác cung cấp thêm nhiều tư liệu: Nhà số 9 Công poǎng tầng dưới là quán cà phê, tầng trên, Bác thuê ở, Bác làm nghề rửa ảnh. Nhà Bác kê vừa một cái giường, hai cái ghế một cái bàn con. Trên bàn có cái chậu thau, trong thau có một xô nước. Khi viết, Bác phải đút thau và xô xuống gầm giường. Hàng ngày, Bác nấu một nồi cơm (gọi là nồi nhưng thật ra nó là cái hộp bích qui vuông thấp). Khi thổi cơm, Bác hấp vào đó một con cá khô, Bác ǎn một nửa, còn một nửa lấy giấy báo gói mang đi, làm việc xong, Bác mang ra ǎn nốt suất cơm còn lại. Bác làm việc rất khẩn trương để có đủ tiền sống, để có nhiều thời gian vào thư viện đọc sách. Bác còn tranh thủ đi nghe người ta giảng thuyết để học tập. Khi cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Bác rất vui mừng, phấn khởi. Bác vào đảng xã hội Pháp. Tháng ba nǎm một ngàn chín trǎm mười chín, Quốc tế thứ ba (tức quốc tế Cộng Sản) thành lập, Lênin có đọc bản luận cương về cách mạng thuộc địa. Khi tiếp thu bản luận cương ấy, Bác đã nói:
- Luận cương của Lênin đã làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng, mà tôi nói to, như đang nói trước quần chúng đông đảo. Hỡi đồng bào bị đọa đày đây là cái cần thiết cho chúng ta?
Bác tiếp thu điều này rất sâu sắc. Báo Gramma Cuba đã viết: "Nhân loại tiến bộ trên thế giới đời đời mắc nợ nhân dân Việt Nam". 
Dư luận nhiều nước trên thế giới nêu rõ: Các Mác đề ra chủ nghĩa xã hội khoa học, Lênin là người tổ chức thực hiện. Lênin là người đề ra cách mạng ở các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh là người tổ chức thực hiện và rút những kinh nghiệm quí báu.
Vâng lời Bác dạy:
Không có việc vì khó,
Chỉ sợ
lòng không bền.
Đào núi và lấp biển,
Quyết chí ắt làm nên.

Bác chỉ có hai bàn tay trắng mà Bác xây dựng cả sơn hà. Vàng là ở đôi bàn tay lao động, như thế đấy?
Đăng nhập để trả lời
0
LÒNG YÊU NƯỚC, ÁNH SÁNG VÀ TINH THẦN QUỐC TẾ


Ngày 18 tháng 6 nǎm 1919, hội nghị Véc xây họp. Trước đó Bác có nói với các nhóm "Việt Nam yêu nước" như các cụ Phan Chu Trinh, Phan Vǎn Trường, Phan Cao Lục v.v... rằng:
- Bây giờ hội nghị này họp, ta phải có cái gì đưa đến đây. Chúng ta phải hành động, không thể nào ngồi yên với nó được.
Hồi ấy, Bác ở kế buồng cụ Phan Vǎn Trường. Bác nói ý và cụ Phan Vǎn Trường viết ra yêu sách nổi tiếng "Quyền của các dân tộc" gồm tám điểm, đòi Pháp thừa nhận quyền độc lập Nhóm Việt Nam yêu nước và Bác xem đi xem lại nhiều lần. Bác đồng ý và Bác ký vào bản yêu sách đó. Bác dùng tên Nguyễn A'i Quốc (6-1919). Bản yêu sách này đòi trả tự do cho các tù chính trị ở Đông Dương, bãi bỏ các tòa án đặc biệt, tự do báo chí, hội họp, học tập, đi ra nước ngoài,vv... Sau đó bản yêu sách được chuyển đến hội nghị Véc xây. Từ đó người nổi tiếng với tên Nguyễn A'i Quốc ở diễn đàn quốc tế và bắt đầu làm cho thực dân Pháp lo sợ. Chúng có điều tra về lai lịch Bác, nhưng chúng vẫn bất lực. ở Viện bảo tàng hiện nay có giữ một tài liệu của Tổng đốc Nghệ Tĩnh gởi cho Khâm sứ Trung kỳ như sau:
Thưa cụ lớn,
Cụ lớn đã giao cho tôi cai quản vùng An Tĩnh (tức Nghệ An Hà Tĩnh). Khi cụ lớn giao cho đi kiểm tra các huyện, các tổng, các làng, các lý trưởng đều nói rằng danh hiệu Nguyễn A'i Quốc chỉ là tên bịa đặt mà thôi, không có thật. 

An Tĩnh 13-9-1919
Lơ Tổng đốc Trần Đình Bắc.

Lúc bấy giờ Bác vận động việc phân hóa Đảng xã hội Pháp. Bỏ phiếu tán thành gia nhập Đệ tam quốc tế. Đồng thời Bác tố cáo những tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương và các thuộc địa. Đấy là một điều rất mới lạ. Vì lúc bấy giờ ở pháp bọn cầm quyền giới thiệu chính sách thuộc địa như là công việc xuất cảng vǎn minh. Chính vì thế khi thành lập Đảng cộng sản Pháp, Bác được cử phụ trách nhóm nghiên cứu các thuộc địa của Pháp. Nǎm 1920, trên cơ sở nhóm này, Bác cùng với những người bạn chiến đấu thành lập Hội liên minh những người thuộc địa, ra báo "Người cùng khổ". Đồng chí Bùi Lâm, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, là một trong những người chuyển tờ báo này về nước. Tờ báo ra đời nǎm 1922. Đến tháng 5 nǎm 1922, nhà cầm quyền Anh lấy áp lực bắt Hãng ảnh Lase đuổi Bác. Bác thất nghiệp. Trong lúc thất nghiệp, mỗi ngày Bác chỉ ǎn một bữa nhưng Bác vẫn hoàn chỉnh tác phẩm nổi tiếng viết xong nǎm 1922. Khi vua Khải Định cùng Phạm Quỳnh "Tây du" để bán thêm đất Việt Nam và bán máu 10 vạn thanh niên Việt Nam cho thực dân Pháp, đem đi làm bia đỡ đạn, Bác viết vở kịch "Con rồng tre" lên án chủ nghĩa bù nhìn ở Việt Nam, bán đất Việt cho thực dân Pháp. Qua hai tác phẩm này, đồng chí Tim Bớc, Chủ tịch Đảng cộng sản Canada, đã phát biểu:
"Đồng chí Hồ Chí Minh là người chống đế quốc triệt để, chống phong kiến triệt để". Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới cũng đều đánh giá rất cao hai tác phẩm này.
Bác đã nghiên cứu về vấn đề ruộng đất của Các Mác rất sâu sắc và Bác đã được Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Pháp cử đi dự Đại hội quốc tế nông dân. Tại Đại hội, Bác đã đọc bản tham luận nổi tiếng "Đời sống của nông dân ở các nước thuộc địa". Trong tác phẩm này, Bác đã vạch ra con đường đi của nông dân ở các nước thuộc địa. Thủ tướng Phạm Vǎn Đồng đã có lần phát biểu "Hai vai của Bác một bên gánh công nhân, một bên gánh nông dân. Dựa trên hai vai công-nông đó, Bác đã đoàn kết dân tộc lại, triệu người như một để đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác". Bản tham luận này của Bác được Đại hội quốc tế nông dân họp tháng 10 nǎm 1923 đánh giá rất cao. Đại hội đã bầu Bác vào Ban Chấp hành quốc tế nông dân. Lúc đó Bác vẫn lấy tên Nguyễn A'i Quốc. 
Nǎm 1923, Bác còn tham gia hội những người yêu nghệ thuật, hội hướng dẫn tham quan du lịch.
Thời kỳ này, Bác lại được dịp đi khắp thế giới. Các đồng chí Trung ương Đảng cộng sản U'c cho biết Bác đã đến U'c. Các đồng chí nói:
- Đồng chí Quảng Châu lúc đó đến châu U'c đã đặt cơ sở với các nhà yêu nước của chúng tôi.
Gần đây, Đảng cộng sản Xrilanka cũng cho biết Bác có đến Xrilanka và ở khách sạn "Thắng lợi" hai ngày, để gặp các lãnh tụ.
Bác vào Hội những người yêu nghệ thuật không phải là trên danh nghĩa mà vào Hội những người yêu nghệ thuật là để hoạt động tích cực. Nhà điện ảnh Hà Lan Giôrít Iven trong dịp sang thǎm nước ta, đến Hà Nội, đã được Bác mời đến để Bác hỏi chuyện.
Hôm ấy vào một đêm hè sau khi chúng tôi xem bộ phim "Vĩ tuyến thứ 17" nổi tiếng của mình, nhà điện ảnh Hà lan Giôrít Iven được Bác tiếp. Đây là một vinh dự lớn và quá bất ngờ đối với ông. Vừa gặp Bác, Bác đã trò chuyện thân mật như người nhà.
- Tôi nhiều tuổi hơn, tất nhiên là anh. Chú ít tuổi hơn, tất nhiên chú là em. Có phải không nhà quay phim Giôrít Iven?
Bác và Iven cùng cười vui vẻ. Bác lại hỏi tiếp:
- Chú định ở đây trong bao lâu?
- Thưa Chủ tịch, tôi ở đây 6 tháng.
Như thế ít quá! Phải một nǎm hay là lâu hơn nữa, mang cả "thím" ấy sang đây. Nhân dân Việt Nam chúng tôi và tôi có cơm thì chú ǎn cơm, có cháo thì ǎn cháo, không để chú đói đâu Bây giờ chú mới biết tôi. Nhưng tôi đã biết chú từ nǎm 1922, 1923 rồi.
Iven rất cảm động, nhưng cũng rất ngạc nhiên:
- Thưa Chủ tịch, xin Chủ tịch cho tôi được nghe câu chuyện cũ gần nửa thế kỷ trước.
Bác im lặng một lúc, rồi Bác bắt đầu nhắc cho Iven nhớ lại:
Vào những nǎm đó nhà điện ảnh Giôrít Iven vừa hoàn thành xuất sắc tác phẩm "Tư bản và tôn giáo". Cuốn phim ngụ ý vạch mặt bọn phong kiến trước đây lợi dụng tôn giáo để áp bức, bóc lột. Bây giờ tư bản cũng làm như vậy. Bọn chúng dùng tôn giáo để đi chiếm thị trường, cướp đất làm thuộc địa. Vua Hà Lan lúc đó rất bực tức với cuốn phim của Giôrít Iven, ra lệnh trục xuất nhà nghệ sĩ trẻ và có biệt tài ra khỏi đất Hà Lan. Bọn tư bản thì tập trung đả kích đồng chí. Trong khi đó Bác đã viết bài đǎng trên báo Nhân Đạo (I'Humnité) bênh vực cuốn phim ấy và chống lại những luận điệu vu cáo của bọn tư bản. Khi trở về Pháp, Giôrít Iven đã tìm được tờ báo mà Bác đã viết bài nói về bộ phim của mình. Đọc lại những bài báo của Bác viết từ những thập niên 20, Giôrít Iven cảm động nói:
- Đồng chí Hồ Chí Minh không những là một nhà quân sự lỗi lạc một nhà chính trị thiên tài mà còn là một nhà nghệ thuật lớn: vì nhừng bài báo đồng chí viết tháng 6 nǎm 1922 chúng tôi đem ra so sánh có nhiều người trên thế giới hiện nay viết về nghệ thuật của tôi chưa đánh giá được như đồng chí Hồ Chí Minh bấy giờ.
Nǎm 1924, Bác đi dự Đại hội quốc tế cộng sản lần thứ 5. Bác đi xe lửa và mặc những bộ quần áo sang trọng để tránh bọn mật thám Pháp theo dõi. Bác cải trang rất giỏi. Đồng chí Lông Gô (người Pháp) trong một bài báo nói về Bác đã viết: "Chỉ có anh Nguyễn A'i Quốc là người Việt Nam dám lên tiếng chống thực dân Pháp". ở ngay giữa Paris, thủ đô nước Pháp, Bác vẫn lên tiếng chống thực dân Pháp. Đó thật là một điều rất dũng cảm. Bác đến Lêningrát, đồng chí Mácxen Casanh, người được Đảng cộng sản Pháp cử đi Đại hội quốc tế cộng sản lần thứ 5 và có nhiệm vụ tổ chức đón Bác. Hôm đó đồng chí Casanh (Cachin) cho đồng chí Pôn ra ga xe lửa đón Bác. Khi đồng chí Pôn đến hỏi xem Bác có phải là Nguyễn A'i Quốc, nếu đứng các câu hỏi sẽ đưa về Mạc Tư Khoa. Thấy một người châu A' gầy gò, giống như ảnh đem theo, đồng chí Pôn hỏi bằng tiếng Nga:
- Đồng chí đi đường nào đến đây?
- Tôi đi đường bí mật? 
- Đồng chí đến đây mất mấy ngày?
- Tôi đến đây hai ngày!
- Đồng chí biết tiếng Nga từ bao giờ?
- Đồng chí đến đây hai ngày mà đã nói được tiếng Nga à?
- Vâng, đến đất nước của Lênin phải biết tiếng của Lênin.
Đồng chí Pôn rất khâm phục Bác và đưa Bác về Mạc Tư Khoa giới thiệu với Ban tổ chức của Đại hội quốc tế cộng sản lần thứ 5.
Đồng chí Tim Bớt, Chủ tịch Đảng cộng sản Canada có kể lại:
- Lúc đồng chí đến phòng số 8 khách sạn Lux, tôi và Gécmanettô đang ngồi nói chuyện với nhau. Một người trong Ban tổ chức giới thiệu với chúng tôi: Hôm nay có thêm một đồng chí châu A' ở cùng buồng này nữa. Đồng chí châu A' tiến lên giơ mũ chào và tự giới thiệu: "Tôi là Nguyễn A'i Quốc, vừa ở Paris đến, gởi lời chào đến các đồng chí thân mến". Chúng tôi mời đồng chí Nguyễn A'i Quốc ngồi. Đồng chí Gecmanéttô và đồng chí Tôgơliátti vừa đưa thuốc lá ra mời, thì đồng chí Nguyễn A'i Quốc bật diêm cho các đồng chí đó hút thuốc. Do cử chỉ lịch sự ấy, chúng tôi thấy rất mến đồng chí châu A' này, ngay từ dầu. Các đồng chí thay nhau hỏi thǎm tình hình đấu tranh của công nhân ở Hồng Kông như thế nào? Rồi ở Thượng Hải ra làm sao? Đấy là sự tự phát hay do giai cấp vô sản lãnh đạo? Lúc đó chúng tôi tưởng đồng chí Nguyễn A'i Quốc là người Trung Quốc. Nhưng không phải đồng chí đã nói rằng đồng chí là người Việt Nam. Tôi hỏi: Việt Nam ở đâu? đồng chí Nguyễn A'i Quốc cầm ngay một tờ giấy vẽ ngay bản đồ châu A', bản đồ Đông Dương, giới thiệu Campuchia, Lào, Việt Nam, Pháp chiếm 1858. Đồng chí Nguyễn A'i Quốc giới thiệu rất trôi chảy.
Chuyện triều đình nhà Nguyễn đã bán đất nước Việt Nam cho thực dân Pháp nǎm 1884. Chúng chia đất nước thành ba kỳ, Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Chia thành chế độ thuộc địa và bảo hộ khác nhau ở ba kỳ ấy. Đồng chí kể rất say sưa về phong trào cách mạng chống Pháp và tố cáo những tội ác dã man của bọn thực dân đàn áp các phong trào và dìm trong biển máu. Đồng chí cũng không quên nói tới triển vọng của các phong trào ấy như thế nào. Nói xong đồng chí Nguyễn A'i Quốc xin lỗi đi ra phố và đến khuya mới về? Khi đồng chí Nguyễn A'i Quốc về, Gécmanéttô đang ngồi viết gì tôi không biết. Còn tôi đang chuẩn bị đi ngủ. Tôi nhìn thấy đồng chí Nguyễn ái Quốc ǎn mặc đơn sơ quá, người cứ rét run lên. Tôi hỏi đồng chí đi đâu về. Đồng chí trả lời: "Đi viếng Lênin". Đồng chí Gécmanéttô người hay châm biếm, cười và nói: "Không sợ mất tai à?" (Hôm ấy Mạc Tư Khoa lạnh dưới 40o âm). Đồng chí Nguyễn A'i Quốc vui vẻ trả lời: "Khi người ta có nghị lực, người ta sẽ vượt qua được tất cả! Lúc đó đồng chí đội mũ bê rê, không có đi giày tuyết, không có khǎn quàng, không có áo choàng. Đồng chí Nguyễn A'i Quốc đi viếng Lênin từ mười giờ sáng đến chín giờ khuya mới về. Câu nói của đồng chí Nguyễn A'i Quốc làm tôi suy nghĩ và nghiên cứu về Việt Nam. Và trước khi sang Việt Nam, tôi tự nhủ mình là người hiểu Việt Nam hơn ai hết?" 
ở Đại hội quốc tế cộng sản lần thứ 5, Bác đọc bản tham luận: Cách mạng ở các nước thuộc địa và vấn đề chủng tộc da đen, v.v... Bác cũng đã dự Đại hội quốc tế Nông dân, quốc tế Phụ nữ, quốc tế Thanh niên. Bác đã được quốc tế cộng sản chỉ định vào Ban chấp hành những người cộng sản châu A', phụ trách Đông phương bộ và đặc trách Cục Phương Nam. Tháng 12 nǎm 1924, Bác về Trung Quốc và lấy tên là Lý Thụy. Bác nghiên cứu một số thanh niên Tâm Tâm xã, xây dựng cơ sở chuẩn bị thành lập Đảng. Bác biên soạn tài liệu "Đường Kách mệnh". Đây là tài liệu Bác soạn để truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin cho giai cấp công nhân Việt Nam.
Trên cuốn tài liệu này do nhà xuất bản "Dân tộc bị áp bức liên hiệp tuyên truyền bộ" ấn hành, có đóng dấu mờ "A' châu bị áp bức liên hiệp hội". Dòng chữ đó cho ta thấy khi về Trung Quốc, Bác đã lập ra Hội này và Bác là Tổng thư ký của Hội. Nǎm 1925, khi về qua Quảng Châu, Bác đã thành lập "A' châu bị áp bức liên hiệp hội".
Dưới đầu đề "Tư cách một người Kách mệnh", trong bài đầu cuốn sách Bác dạy cán bộ cách mạng phải:
- Cần kiệm mà không ti tiện, cẩn thận mà không nhút nhát, nhẫn nại chí công vô tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh, ít lòng ham muốn về vật chất. Giữ bí mật. Đối với từng người phải khoan thứ, với đoàn thể thì nghiêm, có lòng bày vẽ cho người, hay xem xét người. Làm việc phải xem xét hoàn cảnh kỹ lưỡng rồi quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể...
Đấy là tóm tắt ý kiến đầu tiên Bác truyền bá Chủ nghĩa Mác Lênin trong giai cấp công nhân Việt Nam. Trên cơ sở này, Bác thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội. Lúc đầu có 5 người: Hồ Tùng Mậu, Lê Huy Điểm, Lê Hồng Phong, Lễ Hồng Sơn, Phùng Chí Kiên. Sau một tuần lễ tổ chức thêm 3 người nữa là Vương Thúc Anh, Lê Quảng Đạt, Lâm Đức Thụ. Trong số 8 người Bác lại tổ chức 5 người là thanh niên cộng sản đoàn: Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn,
Lê Hồng Phong, Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Đạt. Dồng chí Lê Quảng Đạt được cử về tổ chức đưa thanh niên trong nước ra để Bác đào tạo. Đoàn đầu tiên ở trong nước đưa ra là đoàn đồng chí Trần Phú đi ngày 14 tháng 7 nǎm 1929. Khi gặp đoàn thanh niên ở trong nước ta, để giữ bí mật Bác nói tiếng Trung Quốc. Bác bảo: 
- Các ông ở Việt Nam sang, hôm nay hội nghị người ta sẽ liên hoan đón các ông. Các ông cầm lấy cái này mà đọc. Đến tối liên hoan người ta sẽ hát đấy, mình sẽ hát theo người ta.
Đó là bài ca quốc tế. Nǎm 1967, Viện nghiên cứu Lênin (Liên Xô) có đề nghị Viện bảo tàng cách mạng Việt Nam xác minh xem ai là người dịch bản quốc tế ca đầu tiên ở Việt Nam. Viện bảo tàng đã đi sưu tầm và được các đồng chí đương thời kể lại cho biết chính Bác là người dịch đầu tiên. Viện bảo tàng cách mạng đã làm hồ sơ khoa học gởi lên trình Bác. Bác đã nhận là Bác dịch. Nhưng Bác còn ghi chú thêm người dịch thành lời để chúng ta hát bây giờ là đồng chí Trần Phú và đồng chí Lê Hồng Phong (dịch cuối nǎm 1929 đầu nǎm 1930 ở trường Đông Phương, Mạc Tư Khoa).
Đấy là bản quốc tế ca do Bác dịch nghĩa lần đầu tiên bằng thể thơ lục bát:
Hỡi ai nô lệ trên dời
Hỡi ai cực khổ đồng thời đứng lên
Bất bình này chịu sao yên
Phá cho tan nát một phen cho rồi.
Bao nhiêu áp bức trên đời
Sạch sành sanh phá cho rồi mới tha
Cuộc đời nay đã đổi da
Ta xưa con ở, nay là chủ ông
Trận này là trận cuối cùng
Â`m ầm đoàn lực đùng đùng Đảng cơ
Lanh téc na xi on nan lơ
Â'y là nhân đạo ấy là tự do!

Những người "Thanh niên cách mạng đồng chí hội" đưa đồng chí Lê Huy Điểm về qua Thái Lan và tổ chức một số thiếu niên ở trong nước và con Việt kiều. Trong số này có người Bác đưa về phụ trách Đoàn Thanh niên, có người vào học viện quân sự của Nga hoặc của Trung Quốc. Khi đào tạo xong, Bác thường nói:
- Bây giờ các ông phải về nước. Nước các ông đang bị đế quốc phong kiến thống trị, đồng bào khổ cực như thế, lao động thật cực khổ, khó nhọc như thế. Về nước các ông nên "đi vô sản" (tức là thâm nhập thực tế lao động).
Quan điểm của Lênin là lao động để xây dựng Đảng. Vận dụng quan điểm đó, Bác lấy "vô sản hóa" để xây dựng Đảng. Đồng chí Trần Phú về nhà, thấy ảnh mình địch cho dán khắp nơi để lùng bắt. Biết chuyện đó, Bác lại gọi đồng chí Trần Phú sang và cử đi học trường Đại học Đông phương. Trong thời kỳ ở Quảng Châu, Bác mở 5 lớp đào tạo được 180 đồng chí đưa về nước và ra tờ báo Thanh niên. Nǎm 1928, Bác về Thái Lan và lấy tên là Thầu Chín. Thầu Chín tiếng Lào có nghĩa là ông già, Bác về xây dựng cơ sở đào tạo cán bộ cách mạng ở U Đon, Noong Khai, Sa Con, v.v... U Đon là trung tâm cuộc vận động Việt kiều ở Xiêm. Có ngày Bác đi bộ từ U Đon đến Xa Vang 70 cây số. Cán bộ chúng ta học tập lúc này có nhiều khó khǎn, thiếu thốn về vật chất, sức khỏe yếu, bị ốm đau luôn. Tuy Bác có những tiêu chuẩn quốc tế cộng sản đài thọ, nhưng Bác vẫn làm thuốc, lấy củi, đi cày đi câu để kiếm thêm tiền nuôi anh em. Người dạy Bác nghề bốc thuốc là cụ Đặng Vǎn Cáp, sau cách mạng làm Hội trưởng Hội Đông y Việt Nam. 
Một hôm Bác đi cày về, đang dắt bò lững thững trên đường làng, thì em bé con chủ nhà đã đón từ đầu thôn, thét: 
- Ông Chín Thầu. Tại sao ông về sớm thế? Ông đi ngay đi ông về sớm như thế này, tôi sẽ mách bố tôi đấy. Ông về sớm không được đâu?
Nghe tiếng nói của em bé đột ngột như vậy, Bác nhanh trí biết ngay có chuyên chẳng lành. Bác đánh bò quay trở lại buộc dây vào một chiếc cọc rồi chạy. Hồi đó là cuối nǎm 1925, bọn mật thám quốc tế theo dõi Bác rất sát. Nó lùng sục vào nhà này để bắt Bác. Em bé con ông chủ nhà hàng ngày rất quý Bác thường quấn quít bên Bác. Em tìm cách chạy ra đồng báo tin cho Bác sự việc này. Sự nhanh trí của Bác trước thái độ không bình thường của em bé Thái Lan đã giúp Bác thoát khỏi hiểm nguy.
Đăng nhập để trả lời
0