TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở CƠ SỞ
Hà Văn Tăng
(Cập nhật: 26/2/2007)
[/align]Đời sống văn hóa là tất cả nội dung và cách thức, hình thức hoạt động văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và phát triển của con người trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Đó cũng là quá trình hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa vì sự phát triển của con người và cộng đồng. Đời sống văn hóa ở ngay trong cuộc sống hằng ngày, trong mỗi con người, mỗi gia đình và cộng đồng nhất định. Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở giúp cho chúng ta hiểu một cách sâu sắc nội dung vấn đề quan trọng đó.[/align]Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là tổng hợp những hoạt động của các cơ quan làm công tác giáo dục văn hóa nhằm tuyên truyền, giáo dục, truyền bá văn hóa, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hóa tinh thần của nhân dân và xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh tiến bộ trên từng địa bàn dân cư. Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở cũng có nghĩa là xây dựng đời sống vật chất và tinh thần phát triển vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Định hướng phát triển văn hóa Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đẩy mạnh việc thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa... làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người... Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân... Đẩy mạnh việc xây dựng đời sống văn hóa đại chúng và môi trường văn hóa lành mạnh”(1).
Nội dung công tác chăm lo xây dựng đời sống văn hóa cho nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều vấn đề thiết thực, ở đây chỉ đề cập đến ba vấn đề mà Đảng ta đã vận dụng trong công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở.
Thứ nhất, xây dựng nếp sống văn hóa
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng xây dựng đời sống cho nhân dân phải được tiến hành xây dựng nếp sống văn hóa. Ngay từ những năm 1946, trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, Người đã viết tác phẩm "Đời sống mới" rất sinh động, sâu sắc, nhằm động viên, kêu gọi các tầng lớp nhân dân thực hành đời sống mới với tinh thần rất rõ là: "Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích đời sống mới''(2). Quan điểm xây dựng đời sống mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức rõ ràng, cụ thể, thiết thực, có kế thừa, bảo tồn, phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp mang tính truyền thống, loại trừ những hủ tục lạc hậu, không phù hợp: "Đời sống mới không phải cái gì cũng bỏ hết, không phải cái gì mới cũng làm. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý. Thí dụ: Đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi. Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm. Thí dụ: ta phải tương thân, tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân", "Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm. Thí dụ: ăn ở cho hợp vệ sinh, làm việc cho có ngăn nắp"(3). Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Nếu mọi người đều làm đúng đời sống mới, thì dân tộc nhất định sẽ phú cường."
Thực hiện lời kêu gọi của Người, phong trào xây dựng nếp sống mới đã được phát động rộng rãi trong quần chúng nhân dân, thực sự có hiệu quả. Từ một hiện tượng ở xã Ngọc Long, Yên Mỹ (Hưng Yên) xuất hiện cách đây trên 40 năm với việc xây dựng "Gia đình văn hóa mới": Các gia đình tự nhóm họp, bàn bạc thống nhất giúp đỡ tương trợ nhau xây dựng gia đình văn hóa mới, sau đó phong trào được nhân rộng ra trên miền Bắc rồi cả nước. Chính vì vậy, nơi đây được gọi là quê hương của phong trào “Gia đình văn hóa”. Cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa đến nay đã được thực hiện trên phạm vi cả nước, tất cả các địa phương và cơ sở đã và đang thu được kết quả tốt. Nhiều hủ tục trong việc cưới, việc tang, lễ hội và các sinh hoạt đã được loại bỏ. Một số lễ thức mới được hình thành trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các nét đẹp của phong tục tập quán truyền thống, phù hợp với đời sống xã hội ngày càng phát triển. Phong trào xây dựng xã - phường văn hóa, khu dân cư, làng, bản, buôn, thôn, ấp, khóm... văn hóa đã mang lại hiệu quả to lớn, có tác động tích cực trở lại cho phong trào xây dựng gia đình văn hóa, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, làm thay đổi diện mạo đời sống ở cơ sở, nhất là những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" đang thấm sâu vào từng người, từng gia đình, từng cộng đồng dân cư, làng, thôn, ấp, bản sâu rộng cả nước, với sự tham gia của các bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể trở thành cuộc vận động văn hóa rộng lớn chưa từng có. Niềm tin của dân với Đảng ngày càng gắn bó. Thực hiện xây dựng nếp sống văn hóa và tham gia toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa là thực hiện đúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh: "Chúng ta đồng tâm mà làm, quyết tâm mà làm thì đời sống mới nhất định thực hiện được. Mong toàn thể đồng bào gắng sức theo đời sống mới, xây dựng một nước Việt Nam phú cường"(4). Đến nay, cả nước có 11.720 hương ước, quy ước văn hóa được xây dựng đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa; 12.831.887/17.900.665 hộ gia đình (71,46%), 42.053/88.704 làng, ấp, khu phố (47,40%) và 13.523 cơ quan được công nhận đạt chuẩn văn hóa; gần 5.000 khu dân cư tiên tiến xuất sắc. Tổng số kinh phí huy động được từ nhân dân và các lực lượng xã hội đầu tư cho xây dựng đời sống văn hóa trong 5 năm (2000 - 2005) là 3.461 tỉ 904 triệu đồng.
Thứ hai, xây dựng thiết chế văn hóa
Xây dựng đời sống văn hóa cho nhân dân, việc quan trọng là xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa thông tin cơ sở. Đây là cơ sở vật chất hạ tầng thiết thực và có tầm quan trọng đặc biệt đối với công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Thiết chế được hiểu là thiết lập, tạo dựng lên; là sự chế định và luật lệ đặt ra (thành văn và không thành văn) của mỗi cộng đồng, quốc gia.
Bất kỳ một thời đại nào, chế độ xã hội nào cũng cần có những thiết chế văn hóa để chuyển tải văn hóa chính thống của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân, đồng thời tổ chức các hoạt động văn hóa phù hợp với yêu cầu chuẩn mực, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của thời đại đó. Trong cuộc sống hiện đang tồn tại thiết chế văn hóa truyền thống bên cạnh sự phát triển không ngừng của thiết chế văn hóa thông tin mới. Ngày xưa, đình, chùa một mặt đáp ứng nhu cầu văn hóa tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân; mặt khác cũng là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa như lễ hội, sinh hoạt văn hóa dân gian, giao lưu cố kết cộng đồng, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống để trao truyền cho các thế hệ tiếp nối. Thiết chế văn hóa mới là Nhà văn hóa, Câu lạc bộ, Phòng truyền thống, Thư viện, Điểm bưu điện văn hóa xã, Trung tâm giáo dục cộng đồng... Các thiết chế này phục vụ nhu cầu hiện tại và đòi hỏi mới về văn hóa tinh thần của nhân dân. Xã hội càng văn minh, nhu cầu hưởng thụ của con người càng cao, thiết chế văn hóa thông tin cơ sở càng có vị trí, vai trò quan trọng.
Cùng với sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa tinh thần của nhân dân ngày càng gia tăng. Điều đó đòi hỏi lãnh đạo các cấp không chỉ chăm lo cuộc sống vật chất phát triển mà còn phải chăm lo đời sống tinh thần bền vững, lành mạnh. Điều này muốn thực hiện được phải thông qua hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa trực tiếp phục vụ cuộc sống của nhân dân. Đó là thiết chế văn hóa thông tin cơ sở, cầu nối gần gũi giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; là nơi tổ chức các hội thi, liên hoan, tập hợp, giao lưu truyền giữ các điệu dân ca dân vũ truyền thống đậm đà bản sắc... Đây cũng là điểm sinh hoạt chi bộ, đoàn thể, Hội Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên..., tổ chức các hoạt động khuyến học tương thân tương ái, gắn kết tình đồng chí, nghĩa đồng bào đoàn kết và trách nhiệm cộng đồng trong ngôi nhà chung; là tụ điểm vui chơi thể thao, dưỡng sinh; là nơi cất giữ các trang thiết bị, công cụ phục vụ hội họp, sinh hoạt văn nghệ, thông tin ở cơ sở. Thiết chế văn hóa thông tin cơ sở phục vụ đắc lực cho việc hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của trung ương và địa phương. Nó là công cụ tư tưởng văn hóa sắc bén hiệu quả của Đảng và chính quyền các cấp. Thiết chế văn hóa thông tin cơ sở lấy quần chúng làm đối tượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu của quần chúng. Thực tiễn đã và đang cho thấy, khi công nghệ khoa học phát triển với trình độ cao, phương tiện nghe nhìn phát triển, các hoạt động của thiết chế văn hóa thông tin cơ sở càng trở nên quan trọng không thể thiếu được trong diện mạo, trong đời sống văn hóa ở các địa phương và địa bàn dân cư.
Việc xây dựng "Nhà văn hóa thôn, bản" đã trở thành phong trào rộng lớn, đang lan rộng ở nhiều tỉnh, cả khu vực miền núi, trung du, vùng sâu, vùng xa... Nhiều tỉnh đã đầu tư hỗ trợ mạnh mẽ để xây dựng hệ thống "Nhà văn hóa thôn, bản", đáp ứng nhu cầu thiết thực của nhân dân. Bà Rịa - Vũng Tàu là tỉnh đầu tiên có Nhà văn hóa cấp xã trong toàn tỉnh, tiếp đó là Hải Phòng, Thái Bình. Nhiều tỉnh như Tuyên Quang, Yên Bái, Gia Lai, Kon Tum, Cần Thơ đã có những chủ trương, biện pháp khác nhau nhưng đều chung mục tiêu là phấn đấu có 78% số xã, phường có thiết chế văn hóa vào năm 2005. Tỉnh Bắc Giang hiện có 1.536/2.391 Nhà văn hóa thôn, bản (tăng 902 nhà văn hóa so với năm 2000), chi phí xây dựng ước tính khoảng 60 - 70 tỉ đồng do nhân dân tự đóng góp. Sở Văn hóa - Thông tin ban hành quy định tạm thời về tổ chức hoạt động của nhà văn hóa thôn. Nghệ An đã xây dựng Đề án "Xây dựng thiết chế văn hóa thông tin - thể thao đồng bộ và phát triển đời sống văn hóa ở cơ sở thời kỳ 2002 - 2010". Thành phố Hồ Chí Minh chủ trương đến năm 2010, 100% số xã có Trung tâm văn hóa - thông tin được đầu tư mức 5 tỉ đồng/1 đơn vị.
Thứ ba, về xây dựng môi trường văn hóa
Theo tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, xây dựng đời sống mới phải gắn liền với việc xây dựng môi trường văn hóa. Môi trường văn hóa bao gồm cả giá trị di sản văn hóa truyền thống và cách mạng, những giá trị sáng tạo mới và tinh hoa văn hóa nhân loại. Môi trường văn hóa là sự kết hợp hài hòa giữa môi trường xã hội và môi trường tự nhiên, có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người. Môi trường văn hóa ở cơ sở bao gồm các đơn vị, cơ quan, xí nghiệp, công - nông - lâm trường, trường học, bệnh viện, các khu dân cư như làng, ấp, bản, xã, phường, khu phố... Bảo đảm môi trường văn hóa lành mạnh, có đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu học tập, tiếp nhận thông tin, thưởng thức nghệ thuật, vui chơi giải trí của mọi thành viên là cái cần có để phòng, chống tốt nhất tệ nạn xã hội.
Môi trường văn hóa là điều kiện để hình thành nhân cách con người văn hóa biết sống hòa đồng với thiên nhiên, yêu thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên. Truyền thống văn hóa của nhân nhân ta là tinh thần đoàn kết, cùng nhau khắc phục mọi khó khăn, thử thách của thiên nhiên, biết cải tạo và chinh phục thiên nhiên một cách hợp lý. Dự báo xa về tầm quan trọng của môi trường sống, hơn 40 năm trước, khi miền Bắc đang bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào "Tết trồng cây", Người đưa công tác bảo vệ môi trường lên ngang tầm với sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Công cuộc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, kiến thiết nước nhà được tiến hành song song, đồng thời với việc bảo vệ môi trường, và có thể nói công tác bảo vệ môi trường còn được đi trước một bước.
Cho đến nay, chúng ta càng hiểu giá trị nhân văn sâu sắc của Hồ Chí Minh về vấn đề bảo vệ, chăm sóc môi trường sống. Thời kỳ chúng ta đang sống, có hiện tượng quay lưng lại với thiên nhiên. Trên đất nước ta đã xuất hiện nhiều hiện tượng cấp bách cần được giải quyết. Đó là nạn khai thác rừng, săn bắt động vật quý hiếm sai luật pháp. Việc lạm dụng các loại thuốc trừ sâu và phân hóa học trong sản xuất nông nghiệp đang hủy diệt môi sinh một cách nghiêm trọng. Do chiến tranh, sự biến đổi của thiên nhiên, sự lãng quên của con người đã làm cho các di sản văn hóa ở nhiều nơi cũng bị biến dạng và bởi sự lạm dụng khai thác tài nguyên bừa bãi. Tác hại này đã gây ra lũ lụt, cháy rừng nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng và tài sản của nhân dân ta, đặc biệt là các nguồn tài nguyên thiên nhiên của chúng ta.
Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh coi việc đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho con người, phát triển văn hóa chính là phát huy nguồn lực con người - nguồn lực to lớn và quyết định nhất đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Tạo cho con người có trình độ văn hóa cao, nhân cách đẹp và vị tha, giàu lòng yêu nước, có ý thức trách nhiệm đối với xã hội là việc làm thường xuyên và lâu dài. Bởi vậy, Người đã hết lòng chăm lo cho việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tố con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc nêu gương “người tốt, việc tốt”. Người nhận định "phải xúc tiến văn hóa để đào tạo con người mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc". Khẳng định vai trò của việc đào tạo con người, Người dạy:
"Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người".
Trong điều kiện xã hội diễn biến càng phức tạp, chúng ta càng tin tưởng rõ rằng phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở với nếp sống văn minh, lành mạnh, thiết chế văn hóa thông tin cơ sở hoàn chỉnh và môi trường văn hóa trong lành sẽ là nhân tố đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi tới thành công. Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở và các nội dung mục tiêu đạt được sẽ trở thành pháo đài vững chắc trước các thế lực thù địch, đánh bại các biểu hiện phản văn hóa và chống lại các tệ nạn xã hội mà không một loại hình, phương thức hoạt động nào có thể thay thế hữu hiệu hơn.
* Cục Văn hóa - Thông tin cơ sở, Bộ Văn hóa - Thông tin
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 212, 213
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 1996, t 5, tr 953
(3) Hồ Chí Minh: Sđd: t 5, tr 95
(4) Hồ Chí Minh: Sđd: t 5, tr 110[/align]
Hà Văn Tăng
(Cập nhật: 26/2/2007)
Nội dung công tác chăm lo xây dựng đời sống văn hóa cho nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều vấn đề thiết thực, ở đây chỉ đề cập đến ba vấn đề mà Đảng ta đã vận dụng trong công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở.
Thứ nhất, xây dựng nếp sống văn hóa
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng xây dựng đời sống cho nhân dân phải được tiến hành xây dựng nếp sống văn hóa. Ngay từ những năm 1946, trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, Người đã viết tác phẩm "Đời sống mới" rất sinh động, sâu sắc, nhằm động viên, kêu gọi các tầng lớp nhân dân thực hành đời sống mới với tinh thần rất rõ là: "Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích đời sống mới''(2). Quan điểm xây dựng đời sống mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức rõ ràng, cụ thể, thiết thực, có kế thừa, bảo tồn, phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp mang tính truyền thống, loại trừ những hủ tục lạc hậu, không phù hợp: "Đời sống mới không phải cái gì cũng bỏ hết, không phải cái gì mới cũng làm. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý. Thí dụ: Đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi. Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm. Thí dụ: ta phải tương thân, tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân", "Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm. Thí dụ: ăn ở cho hợp vệ sinh, làm việc cho có ngăn nắp"(3). Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Nếu mọi người đều làm đúng đời sống mới, thì dân tộc nhất định sẽ phú cường."
Thực hiện lời kêu gọi của Người, phong trào xây dựng nếp sống mới đã được phát động rộng rãi trong quần chúng nhân dân, thực sự có hiệu quả. Từ một hiện tượng ở xã Ngọc Long, Yên Mỹ (Hưng Yên) xuất hiện cách đây trên 40 năm với việc xây dựng "Gia đình văn hóa mới": Các gia đình tự nhóm họp, bàn bạc thống nhất giúp đỡ tương trợ nhau xây dựng gia đình văn hóa mới, sau đó phong trào được nhân rộng ra trên miền Bắc rồi cả nước. Chính vì vậy, nơi đây được gọi là quê hương của phong trào “Gia đình văn hóa”. Cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa đến nay đã được thực hiện trên phạm vi cả nước, tất cả các địa phương và cơ sở đã và đang thu được kết quả tốt. Nhiều hủ tục trong việc cưới, việc tang, lễ hội và các sinh hoạt đã được loại bỏ. Một số lễ thức mới được hình thành trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các nét đẹp của phong tục tập quán truyền thống, phù hợp với đời sống xã hội ngày càng phát triển. Phong trào xây dựng xã - phường văn hóa, khu dân cư, làng, bản, buôn, thôn, ấp, khóm... văn hóa đã mang lại hiệu quả to lớn, có tác động tích cực trở lại cho phong trào xây dựng gia đình văn hóa, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, làm thay đổi diện mạo đời sống ở cơ sở, nhất là những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" đang thấm sâu vào từng người, từng gia đình, từng cộng đồng dân cư, làng, thôn, ấp, bản sâu rộng cả nước, với sự tham gia của các bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể trở thành cuộc vận động văn hóa rộng lớn chưa từng có. Niềm tin của dân với Đảng ngày càng gắn bó. Thực hiện xây dựng nếp sống văn hóa và tham gia toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa là thực hiện đúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh: "Chúng ta đồng tâm mà làm, quyết tâm mà làm thì đời sống mới nhất định thực hiện được. Mong toàn thể đồng bào gắng sức theo đời sống mới, xây dựng một nước Việt Nam phú cường"(4). Đến nay, cả nước có 11.720 hương ước, quy ước văn hóa được xây dựng đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa; 12.831.887/17.900.665 hộ gia đình (71,46%), 42.053/88.704 làng, ấp, khu phố (47,40%) và 13.523 cơ quan được công nhận đạt chuẩn văn hóa; gần 5.000 khu dân cư tiên tiến xuất sắc. Tổng số kinh phí huy động được từ nhân dân và các lực lượng xã hội đầu tư cho xây dựng đời sống văn hóa trong 5 năm (2000 - 2005) là 3.461 tỉ 904 triệu đồng.
Thứ hai, xây dựng thiết chế văn hóa
Xây dựng đời sống văn hóa cho nhân dân, việc quan trọng là xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa thông tin cơ sở. Đây là cơ sở vật chất hạ tầng thiết thực và có tầm quan trọng đặc biệt đối với công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Thiết chế được hiểu là thiết lập, tạo dựng lên; là sự chế định và luật lệ đặt ra (thành văn và không thành văn) của mỗi cộng đồng, quốc gia.
Bất kỳ một thời đại nào, chế độ xã hội nào cũng cần có những thiết chế văn hóa để chuyển tải văn hóa chính thống của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân, đồng thời tổ chức các hoạt động văn hóa phù hợp với yêu cầu chuẩn mực, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của thời đại đó. Trong cuộc sống hiện đang tồn tại thiết chế văn hóa truyền thống bên cạnh sự phát triển không ngừng của thiết chế văn hóa thông tin mới. Ngày xưa, đình, chùa một mặt đáp ứng nhu cầu văn hóa tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân; mặt khác cũng là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa như lễ hội, sinh hoạt văn hóa dân gian, giao lưu cố kết cộng đồng, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống để trao truyền cho các thế hệ tiếp nối. Thiết chế văn hóa mới là Nhà văn hóa, Câu lạc bộ, Phòng truyền thống, Thư viện, Điểm bưu điện văn hóa xã, Trung tâm giáo dục cộng đồng... Các thiết chế này phục vụ nhu cầu hiện tại và đòi hỏi mới về văn hóa tinh thần của nhân dân. Xã hội càng văn minh, nhu cầu hưởng thụ của con người càng cao, thiết chế văn hóa thông tin cơ sở càng có vị trí, vai trò quan trọng.
Cùng với sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa tinh thần của nhân dân ngày càng gia tăng. Điều đó đòi hỏi lãnh đạo các cấp không chỉ chăm lo cuộc sống vật chất phát triển mà còn phải chăm lo đời sống tinh thần bền vững, lành mạnh. Điều này muốn thực hiện được phải thông qua hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa trực tiếp phục vụ cuộc sống của nhân dân. Đó là thiết chế văn hóa thông tin cơ sở, cầu nối gần gũi giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; là nơi tổ chức các hội thi, liên hoan, tập hợp, giao lưu truyền giữ các điệu dân ca dân vũ truyền thống đậm đà bản sắc... Đây cũng là điểm sinh hoạt chi bộ, đoàn thể, Hội Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên..., tổ chức các hoạt động khuyến học tương thân tương ái, gắn kết tình đồng chí, nghĩa đồng bào đoàn kết và trách nhiệm cộng đồng trong ngôi nhà chung; là tụ điểm vui chơi thể thao, dưỡng sinh; là nơi cất giữ các trang thiết bị, công cụ phục vụ hội họp, sinh hoạt văn nghệ, thông tin ở cơ sở. Thiết chế văn hóa thông tin cơ sở phục vụ đắc lực cho việc hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của trung ương và địa phương. Nó là công cụ tư tưởng văn hóa sắc bén hiệu quả của Đảng và chính quyền các cấp. Thiết chế văn hóa thông tin cơ sở lấy quần chúng làm đối tượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu của quần chúng. Thực tiễn đã và đang cho thấy, khi công nghệ khoa học phát triển với trình độ cao, phương tiện nghe nhìn phát triển, các hoạt động của thiết chế văn hóa thông tin cơ sở càng trở nên quan trọng không thể thiếu được trong diện mạo, trong đời sống văn hóa ở các địa phương và địa bàn dân cư.
Việc xây dựng "Nhà văn hóa thôn, bản" đã trở thành phong trào rộng lớn, đang lan rộng ở nhiều tỉnh, cả khu vực miền núi, trung du, vùng sâu, vùng xa... Nhiều tỉnh đã đầu tư hỗ trợ mạnh mẽ để xây dựng hệ thống "Nhà văn hóa thôn, bản", đáp ứng nhu cầu thiết thực của nhân dân. Bà Rịa - Vũng Tàu là tỉnh đầu tiên có Nhà văn hóa cấp xã trong toàn tỉnh, tiếp đó là Hải Phòng, Thái Bình. Nhiều tỉnh như Tuyên Quang, Yên Bái, Gia Lai, Kon Tum, Cần Thơ đã có những chủ trương, biện pháp khác nhau nhưng đều chung mục tiêu là phấn đấu có 78% số xã, phường có thiết chế văn hóa vào năm 2005. Tỉnh Bắc Giang hiện có 1.536/2.391 Nhà văn hóa thôn, bản (tăng 902 nhà văn hóa so với năm 2000), chi phí xây dựng ước tính khoảng 60 - 70 tỉ đồng do nhân dân tự đóng góp. Sở Văn hóa - Thông tin ban hành quy định tạm thời về tổ chức hoạt động của nhà văn hóa thôn. Nghệ An đã xây dựng Đề án "Xây dựng thiết chế văn hóa thông tin - thể thao đồng bộ và phát triển đời sống văn hóa ở cơ sở thời kỳ 2002 - 2010". Thành phố Hồ Chí Minh chủ trương đến năm 2010, 100% số xã có Trung tâm văn hóa - thông tin được đầu tư mức 5 tỉ đồng/1 đơn vị.
Thứ ba, về xây dựng môi trường văn hóa
Theo tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, xây dựng đời sống mới phải gắn liền với việc xây dựng môi trường văn hóa. Môi trường văn hóa bao gồm cả giá trị di sản văn hóa truyền thống và cách mạng, những giá trị sáng tạo mới và tinh hoa văn hóa nhân loại. Môi trường văn hóa là sự kết hợp hài hòa giữa môi trường xã hội và môi trường tự nhiên, có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người. Môi trường văn hóa ở cơ sở bao gồm các đơn vị, cơ quan, xí nghiệp, công - nông - lâm trường, trường học, bệnh viện, các khu dân cư như làng, ấp, bản, xã, phường, khu phố... Bảo đảm môi trường văn hóa lành mạnh, có đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu học tập, tiếp nhận thông tin, thưởng thức nghệ thuật, vui chơi giải trí của mọi thành viên là cái cần có để phòng, chống tốt nhất tệ nạn xã hội.
Môi trường văn hóa là điều kiện để hình thành nhân cách con người văn hóa biết sống hòa đồng với thiên nhiên, yêu thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên. Truyền thống văn hóa của nhân nhân ta là tinh thần đoàn kết, cùng nhau khắc phục mọi khó khăn, thử thách của thiên nhiên, biết cải tạo và chinh phục thiên nhiên một cách hợp lý. Dự báo xa về tầm quan trọng của môi trường sống, hơn 40 năm trước, khi miền Bắc đang bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào "Tết trồng cây", Người đưa công tác bảo vệ môi trường lên ngang tầm với sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Công cuộc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, kiến thiết nước nhà được tiến hành song song, đồng thời với việc bảo vệ môi trường, và có thể nói công tác bảo vệ môi trường còn được đi trước một bước.
Cho đến nay, chúng ta càng hiểu giá trị nhân văn sâu sắc của Hồ Chí Minh về vấn đề bảo vệ, chăm sóc môi trường sống. Thời kỳ chúng ta đang sống, có hiện tượng quay lưng lại với thiên nhiên. Trên đất nước ta đã xuất hiện nhiều hiện tượng cấp bách cần được giải quyết. Đó là nạn khai thác rừng, săn bắt động vật quý hiếm sai luật pháp. Việc lạm dụng các loại thuốc trừ sâu và phân hóa học trong sản xuất nông nghiệp đang hủy diệt môi sinh một cách nghiêm trọng. Do chiến tranh, sự biến đổi của thiên nhiên, sự lãng quên của con người đã làm cho các di sản văn hóa ở nhiều nơi cũng bị biến dạng và bởi sự lạm dụng khai thác tài nguyên bừa bãi. Tác hại này đã gây ra lũ lụt, cháy rừng nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng và tài sản của nhân dân ta, đặc biệt là các nguồn tài nguyên thiên nhiên của chúng ta.
Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh coi việc đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho con người, phát triển văn hóa chính là phát huy nguồn lực con người - nguồn lực to lớn và quyết định nhất đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Tạo cho con người có trình độ văn hóa cao, nhân cách đẹp và vị tha, giàu lòng yêu nước, có ý thức trách nhiệm đối với xã hội là việc làm thường xuyên và lâu dài. Bởi vậy, Người đã hết lòng chăm lo cho việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tố con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc nêu gương “người tốt, việc tốt”. Người nhận định "phải xúc tiến văn hóa để đào tạo con người mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc". Khẳng định vai trò của việc đào tạo con người, Người dạy:
"Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người".
Trong điều kiện xã hội diễn biến càng phức tạp, chúng ta càng tin tưởng rõ rằng phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở với nếp sống văn minh, lành mạnh, thiết chế văn hóa thông tin cơ sở hoàn chỉnh và môi trường văn hóa trong lành sẽ là nhân tố đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi tới thành công. Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở và các nội dung mục tiêu đạt được sẽ trở thành pháo đài vững chắc trước các thế lực thù địch, đánh bại các biểu hiện phản văn hóa và chống lại các tệ nạn xã hội mà không một loại hình, phương thức hoạt động nào có thể thay thế hữu hiệu hơn.
* Cục Văn hóa - Thông tin cơ sở, Bộ Văn hóa - Thông tin
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 212, 213
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 1996, t 5, tr 953
(3) Hồ Chí Minh: Sđd: t 5, tr 95
(4) Hồ Chí Minh: Sđd: t 5, tr 110[/align]