📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tin Việt Nam

NHỮNG GIÁ TRỊ BỀN VỮNG VÀ Ý NGHĨA THỜI ĐẠI CỦA TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

2 trả lời, 738 lượt xem — Trang 1 / 1
NHỮNG GIÁ TRỊ BỀN VỮNG VÀ Ý NGHĨA THỜI ĐẠI CỦA TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
 
Tô Huy Rứa
(Cập nhật: 6/2/2007)
 



Cách đây tròn 160 năm (1847-2007), Các Mác và Phri-đrích Ăng-ghen, các nhà sáng lập thiên tài học thuyết chủ nghĩa cộng sản khoa học, những lãnh tụ vĩ đại và người thầy của giai cấp công nhân thế giới đã bắt tay khởi thảo tác phẩm bất hủ Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, tác phẩm phổ biến nhất, có tính quốc tế nhất trong sách báo xã hội chủ nghĩa. Là văn kiện có tính cương lĩnh của phong trào cộng sản, Tuyên ngôn đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa Mác sau một loạt công trình tìm tòi, khám phá, phát hiện trước đó; đánh dấu sự chuyển biến của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng thành khoa học.
C.Mác và Ph.Ăng-ghen soạn thảo Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là thực hiện một nhiệm vụ do Đại hội Liên đoàn những người cộng sản tháng 11-1847 giao cho. Lúc bấy giờ, Liên đoàn cần có ngay một bản cương lĩnh vừa mang tính lý luận, vừa mang tính chỉ đạo thực tiễn phong trào cộng sản và công nhân ở Đức, Anh, Pháp và các nước khác. Nhiệm vụ trực tiếp là thế, nhưng để viết một bản Tuyên ngôn đúng ý nghĩa là lời tuyên bố đầu tiên về lý tưởng và lập trường cộng sản chủ nghĩa trước toàn thế giới quả không dễ dàng. Không dễ ngay tại thời điểm đó, vì “câu chuyện hoang đường về bóng ma cộng sản” ám ảnh khắp châu Âu và được giải thích theo nhiều cách khác nhau, đồng thời đang là đối tượng đả kích, buộc tội của đủ loại thế lực chính trị, tôn giáo liên kết với nhau hòng bóp chết mầm mống tư tưởng cộng sản. Hơn nữa, còn khó khăn vì, trong phong trào công nhân mỗi nước và ở các nước đã hình thành rất nhiều trường phái lý luận, nhiều cương lĩnh, nhiều hình thức tổ chức khác nhau, trong đó có nhiều học thuyết mang tên xã hội chủ nghĩa. Tuyên ngôn phải làm sao “để cho cả những hội công liên ở Anh, những môn đồ của Pruđông ở Pháp, Bỉ, Italia và Tây Ban Nha cũng như phái Látxan ở Đức đều có thể chấp nhận được”(1). Cuối cùng, người thanh niên C. Mác ở tuổi 30 được sự cộng tác đắc lực của Ph.Ăng-ghen mới 28 tuổi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, viết nên tác phẩm bất hủ, trở thành một trong những tác phẩm gối đầu giường của giai cấp công nhân toàn thế giới.
Giá trị cơ bản đích thực của Tuyên ngôn không phải ở chỗ nó cung cấp những lời giải có sẵn cho mọi vấn đề của thực tiễn cách mạng hôm nay, mà ở chỗ nó đã phản ánh một cách khái quát xu hướng vận động khách quan của xã hội, chỉ ra những nhiệm vụ lịch sử cần giải quyết để từng bước giải phóng giai cấp công nhân và các tầng lớp lao động khác, giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Vừa là một tác phẩm lý luận, vừa là một bản tuyên ngôn chính trị, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản trình bày cô đọng, có hệ thống nhiều vấn đề lý luận cơ bản nhất.
1. “Tuyên ngôn” làm rõ sự ra đời, địa vị lịch sử và sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản
Xã hội tư bản – điển hình nhất là ở các nước tư bản trên lục địa châu Âu và nước Anh – giữa thế kỷ XIX là bức tranh phức tạp. Trong sự phong phú của các mô hình xã hội, các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội ấy, C.Mác và Ph.Ăng-ghen nhận rõ sự ra đời của hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa như một tất yếu từ trong lòng xã hội phong kiến đã tan rã. Sau nhiều thế kỷ tồn tại, bắt đầu từ thời Phục hưng, chế độ phong kiến đã trở nên lỗi thời, thối nát, trở thành xiềng xích kìm hãm xã hội. Tổ chức công nghiệp theo lối phong kiến hay phường hội trước kia không đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển sản xuất và mở rộng thị trường.
Sự ra đời chủ nghĩa tư bản là một bước tiến vĩ đại trong lịch sử của nền văn minh nhân loại. Về kinh tế, chỉ chưa đầy một thế kỷ, chủ nghĩa tư bản “đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”(2). Cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống chính trị, đời sống tinh thần của xã hội, các quan hệ gia đình, quan hệ dân tộc, quan hệ giữa thành thị và nông thôn trong một nước và quan hệ giữa các nước có bước tiến bộ mới theo hướng văn minh.
Bằng sự phân tích khách quan, khoa học, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã khẳng định tính cách mạng, tiến bộ, hợp quy luật của sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, mà sự khởi đầu là từ sự phát triển của đại công nghiệp. Nhờ sử dụng máy móc hiện đại, cải tiến kỹ thuật và tổ chức sản xuất, thúc đẩy cạnh tranh tự do, mở rộng thị trường… xã hội tư bản đã tạo ra một khối lượng tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt khổng lồ. Guồng máy sản xuất và trao đổi vì mục tiêu lợi nhuận không ngừng tăng tốc, vận hành gần như hết công suất. Nhưng, chính cuộc chạy đua săn tìm lợi nhuận trong môi trường cạnh tranh tự do ấy đã dẫn đến tình trạng quá thừa sản xuất, trao đổi và hàng hóa, hậu quả là nền sản xuất xã hội lâm vào khủng hoảng mà sự nghiêm trọng của nó tới mức đe dọa sự sống còn của chế độ sở hữu tư bản – nền tảng xây dựng nên chế độ tư bản chủ nghĩa. Để khắc phục khủng hoảng, giai cấp tư sản chỉ còn cách – và trên thực tế đã áp dụng bằng nhiều cách – hoặc là hủy bỏ một phần lực lượng sản xuất hoặc là mở rộng ra các thị trường mới. Nhưng, các phương sách đó cũng không cứu vãn được tình thế, trái lại, chỉ làm cho khủng hoảng trở nên toàn diện hơn và nghiêm trọng hơn, khả năng ngăn chặn và khắc phục khủng hoảng càng khó hơn.
Cội nguồn sâu xa của vấn đề như Tuyên ngôn đã chỉ rõ – nằm chính ngay trong mâu thuẫn giữa nền tảng tạo nên chủ nghĩa tư bản – chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa – với sản phẩm mà nó tạo ra – lực lượng sản xuất công nghiệp hóa. Sự chật hẹp của quan hệ sản xuất tư bản đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất là nguyên nhân cơ bản khiến chế độ kinh tế tư bản đi đến chỗ sụp đổ. Vì vậy, các nhà tư bản tất yếu phải bảo vệ, cố gắng duy trì chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Nhưng sự phát triển của lực lượng sản xuất cũng tất yếu mâu thuẫn, không dung hợp với chế độ tư hữu. Vì thế, lối thoát của lịch sử chỉ có thể là thủ tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ xã hội mới dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.
Đương nhiên, những nhận định của C.Mác và Ph.Ăng-ghen trong Tuyên ngôn về sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản là một sự khái quát logic cao. Về sau, mỗi lần trở lại vấn đề này trong Lời tựa cho mỗi lần xuất bản, các ông đều thừa nhận chủ nghĩa tư bản còn có điều kiện nhất định để kéo dài sự tồn tại của mình.
Ngày nay, nhờ có những điều chỉnh lớn trong quan hệ sản xuất và nhờ tận dụng được những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, đặc biệt là việc hình thành các tập đoàn xuyên quốc gia, các thể chế kinh tế toàn cầu, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng tiếp tục kéo dài sự tồn tại. Tuy nhiên, những hiện thực nan giải, những mâu thuẫn không thể vượt qua của xã hội tư bản vẫn còn đó với mức độ ngày càng gay gắt hơn. Điều đó càng chứng tỏ những nhận định của C.Mác và Ph.Ăng-ghen về số phận lịch sử của chủ nghĩa tư bản ghi trong Tuyên ngôn tiếp tục được chứng thực ngay cả với chủ nghĩa tư bản của thế kỷ XXI.
2. “Tuyên ngôn” chỉ ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản – người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội mới
Những mâu thuẫn trong đời sống kinh tế của xã hội tư bản dù có gay gắt trầm trọng đến mấy cũng không làm cho chủ nghĩa tư bản tự sụp đổ, mà phải có một lực lượng xã hội lớn mạnh đứng lên làm cách mạng lật đổ chế độ tư bản. Trong xã hội tư bản, lực lượng xã hội này không ai khác ngoài giai cấp công nhân hiện đại – con đẻ của nền đại công nghiệp do chủ nghĩa tư bản sinh ra, người đại biểu cho phương thức và lực lượng sản xuất mới đã hình thành, giai cấp bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất trong chế độ làm thuê tư bản chủ nghĩa. “Giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những công nhân hiện đại, những người vô sản”(3).
Nền công nghiệp hiện đại đã sản sinh ra, nuôi dưỡng một giai cấp vô sản với những đặc trưng cơ bản: là giai cấp tiên tiến, có tổ chức, cách mạng và cách mạng triệt để nhất.
Tính chất tiên tiến của giai cấp vô sản thể hiện ở chỗ vượt lên trên các tầng lớp bị bóc lột khác đang đối lập với giai cấp tư sản, họ là đại biểu cho phương thức sản xuất mới, là “giai cấp đang nắm tương lại trong tay”; đại công nghiệp càng phát triển, giai cấp này càng trưởng thành; hơn nữa giai cấp tư sản đã cung cấp cho giai cấp vô sản những tri thức của nền sản xuất hiện đại, thậm chí “một số bộ phận nhỏ của giai cấp thống trị tách ra khỏi giai cấp này và đi theo giai cấp cách mạng”(4), cùng với giai cấp vô sản thực hiện sứ mệnh thúc đẩy sự vận động lịch sử sang giai đoạn mới.
Tính chất đoàn kết, có tổ chức chặt chẽ của giai cấp vô sản có cơ sở sâu xa từ những đòi hỏi tất yếu về kỹ thuật và tổ chức sản xuất của nền đại công nghiệp. C.Mác và Ph.Ăng-ghen viết: “Sự phát triển của công nghiệp không những đã làm tăng thêm số người vô sản, mà còn tập hợp họ lại thành những khối quần chúng lớn hơn: lực lượng của những người vô sản tăng thêm và họ thấy rõ lực lượng của mình hơn”(5). Tư bản là một lực lượng tập thể, ở ngành nào, lĩnh vực nào nó cũng bóc lột công nhân, khiến cho lợi ích và điều kiện sinh hoạt của những người vô sản dần dần trở nên ngang bằng nhau, không còn sự phân cách giữa công nhân ngành này, xí nghiệp ngành này với công nhân ở ngành kia, xí nghiệp kia. Thêm vào đó, việc tăng thêm phương tiện giao thông do đại công nghiệp tạo ra giúp công nhân các địa phương tiếp xúc với nhau dễ dang hơn, sự đoàn kết giữa họ chặt chẽ hơn.
Tính chất cách mạng của giai cấp vô sản, một mặt, do giai cấp này đại biểu cho lực lượng sản xuất mới – nhân tố cách mạng trong nền sản xuất, xã hội, - họ chỉ có thể giành được những lực lượng sản xuất xã hội bằng cách xóa bỏ phương thức chiếm hữu hiện nay(6); mặt khác do giai cấp đó là tầng lớp bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất trong xã hội tư bản. Cả hai đặc điểm đó hợp lại, hun đúc nên ý chí, dũng khí cách mạng vô song, không thế lực nào dập tắt được của giai cấp vô sản.
Khi giai cấp tư sản không còn vai trò cách mạng, xã hội không thể tiếp tục sống dưới sự thống trị của giai cấp tư sản, sự tồn tại của giai cấp tư sản không còn phù hợp với sự tồn tại của xã hội nữa, các giai cấp khác suy tàn đi cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp… thì – với tất cả những đặc trưng quan trọng kể trên – giai cấp vô sản là giai cấp duy nhất đối lập thật sự với giai cấp tư sản và đủ sức đứng lên chống lại giai cấp tứ sản cùng thiết chế nhà nước của nó, xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa.
Nhận định của C.Mác và Ph.Ăng-ghen về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong Tuyên ngôn là dựa trên sự phân tích như vậy. Ngày nay, do các đặc điểm của thời đại mà giai cấp công nhân có một số đặc điểm mới như: sự biến động mạnh mẽ về cơ cấu; trình độ trí tuệ, khoa học – công nghệ cao hơn; một số không nhỏ có cổ phiếu trong công ty tư bản, có nhiều tư liệu sinh hoạt và cả tư liệu sản xuất, v.v… Song, những đặc điểm đó không làm thay đổi cơ bản địa vị của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân vẫn đang là lực lượng chủ yếu làm ra của cải cho xã hội và lợi nhuận cho các nhà tư bản, và lực lượng đối lập trực tiếp với tư bản, là người bị tư bản bóc lột nhiều nhất và mức thu nhập giữa họ với giới chủ tư bản vẫn ngày càng lớn thêm. Công nhân trong các nước tư bản phát triển có được trí thức hóa, lao động bớt nặng nhọc hơn, có chút ít cổ phẩn trong doanh nghiệp… thì họ càng bị ràng buộc chặt chẽ hơn vào guồng máy sản xuất của tư bản, càng bị bóc lột nặng nề và tinh vi hơn. Điều này là nguyên nhân của những cuộc bãi công, đình công, biểu tình hàng vạn người, ở nhiều ngành diễn ra liên tiếp ở nhiều nước tư bản.
3. “Tuyên ngôn” trình bày khái quát những nguyên lý cơ bản về con đường giải phóng giai cấp vô sản và mô hình chủ nghĩa xã hội
Cùng với việc tuyên cáo về sự diệt vong của chế độ tư bản, Tuyên ngôn đưa ra lời tuyên bố về sự tất yếu của xã hội cộng sản thay thế cho xã hội tư bản. Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen về chủ nghĩa xã hội trình bảy trong Tuyên ngôn được rút ra từ sự nhìn nhận biện chứng, khoa học. Một là, xem chủ nghĩa xã hội như một chế độ xã hội đối lập, là kết quả của sự phủ định biện chứng đối với xã hội tư bản – xã hội dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân và phân chia giai cấp cuối cùng trong lịch sử. Hai là, kế thừa có phê phán các học thuyết về chủ nghĩa xã hội đã hình thành.
Trước hết, theo C.Mác và Ph.Ăng-ghen, những người vô sản phải tự tổ chức thành giai cấp và chính đảng, tiến hành cách mạng vô sản lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, “thông qua con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thông trị”(7) và với tư cách là giai cấp thống trị tiến hành tổ chức, xây dựng xã hội mới. Nói cách khác, “bước thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân là giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị, là giành lấy dân chủ”(8). Mặc dù trong Tuyên ngôn có nhấn mạnh việc “dùng bạo lực để tiêu diệt những quan hệ sản xuất cũ”(9) với những biện pháp cứng rắn, như tước đoạt sở hữu ruộng đất, xóa bỏ quyền thừa kế, tập trung tín dụng và các phương tiện vận tải vào tay Nhà nước…(10) nhưng ngay từ hồi đó, C.Mác và Ph.Ăng-ghen cũng đã ý thức được rằng: “những biện pháp ấy về mặt kinh tế thì hình như không được đầy đủ và không có hiệu lực”, đó chỉ là những biện pháp không thể thiếu để đảo lộn toàn bộ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã hình thành khá hoàn thiện. Hơn nữa, “trong những nước khác nhau, những biện pháp ấy dĩ nhiên sẽ khác nhau rất nhiều”(11). Trong Lời tựa cho lần xuất bản năm 1872, các ông đã khẳng định: “Đoạn này, ngày nay mà viết lại thì về nhiều mặt, cũng phải viết khác đi”(12). Như thế đủ thấy, các ông vừa khẳng định tính bắt buộc phải tiến hành cách mạng vô sản, vừa không bắt buộc nhất thiết phải sử dụng các biện pháp cứng rắn, nhất loạt ở tất cả các nước.
Tuyên ngôn đã phác họa ra những nét cơ bản nhất của mô hình xã hội cộng sản trong tương lai. Về kinh tế, xã hội cộng sản là xã hội trong đó chế độ tư hữu tư bản bị xóa bỏ. Từ việc phân tích tính chất kìm hãm của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đối với nền sản xuất xã hội, mà quyết định nhất là do chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã đi tới kết luận lô gích là phải xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa. Để tránh mọi sự hiểu lầm, ngay trong Tuyên ngôn các ông đã giải thích: “đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ tư hữu nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản với tính cách là hình thức tư hữu cuối cùng và đầy đủ nhất so với các phương thức sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhan, đông thời không chủ trương xóa bỏ sở hữu các kết quả lao động do công nhân làm ra một cách lương thiện, vì nó “không đẻ ra một khoản dư nào có thể đem lại một quyền lợi chi phối lao động của người khác”(13). Cái phải xóa bỏ chỉ là sở hữu tư sản mà nhờ nó nhà tư bản có được quyền chiếm đọat lao động thặng dư của lao động làm thuê. Ngay chủ trương xóa bỏ chế độ sở hữu tư bản – cũng như luận điểm “chủ nghĩa cộng sản phải xóa bỏ buôn bán”(14) – mà các ông nói về xã hội tương lai cùng với giả định là cách mạng vô sản nổi ra và thắng lợi ở các nước tư bản đã đạt tới trình độ phát triển cao nhất. Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga và các nước xã hội chủ nghĩa sau này cho thấy, đối với những nước chưa qua chủ nghĩa tư bản, thậm chí đã trải qua nhưng mới đạt tới trình độ phát triển trung bình của chủ nghĩa tư bản vẫn còn sản xuất hàng hóa, buôn bán thì phải thừa nhận sự tồn tại của sở hữu tư nhân tư bản ở phạm vi nhất định dưới sự kiểm kê, kiểm soát của Nhà nước vô sản. Điều này chỉ làm phong phú thêm, chứ không phải là cớ để bác bỏ luận đề nên trên của C.Mác và Ph.Ăng-ghen trong Tuyên ngôn.
Điều rất đáng chú ý là trong Tuyên ngôn, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã phê phán luận điểm – mà ngày nay vẫn có không ít người đưa ra để cổ vũ cho việc tư hữu hóa triệt để - cho rằng nếu xóa bỏ chế độ tư hữu thì mọi người sẽ trở nên lười biếng, làm ngưng trệ mọi hoạt động. C.Mác và Ph.Ăng-ghen viết: “Nếu quả như vậy thì xã hội tư sản phải sụp đổ từ lâu rồi do tình trạng lười biếng, vì trong xã hội ấy, những người lao động thì không được hưởng, mà những kẻ được hưởng lại không lao động”. Xã hội sẽ vẫn tồn tại và phát triển nhờ có sản xuất, người sản xuất hoàn toàn có quyền sở hữu những sản phẩm lao động chính đáng của mình làm ra. Xóa bỏ sự tước đoạt do chế độ tư hữu sinh ra chỉ càng làm cho sản xuất phát triển hơn mà thôi.
Về đời sống chính trị, trong Tuyên ngôn cũng chỉ rõ: nhà nước của xã hội cộng sản tương lai chính là hình thức giai cấp vô sản tự tổ chức thành giai cấp thống trị. Quá trình tự tổ chức thành giai cấp trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản đã làm cho giai cấp vô sản đương nhiên trở thành giai cấp thống trị sau khi cách mạng vô sản thành công. Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị của mình – biểu hiện tập trung ở bộ máy nhà nước vô sản, các thiết chế pháp quyền của nó – để quản lý xã hội, phát triển sản xuất và thực hiện phương thức phân phối theo nguyên tắc mới. Tuyên ngôn khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc với nguyên lý nổi tiếng: Hãy xóa bỏ tình trạng bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng bị xóa bỏ. Tư bản là một lực lượng quốc tế, toàn bộ giai cấp tư sản các nước cấu kết với nhau bóc lột toàn bộ giai cấp vô sản toàn tư bản, vì vậy khẩu hiệu hành động của giai cấp vố sản là “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”.
Trong lĩnh vực ý thức xã hội, đạo đức và đời sống tinh thần của xã hội, cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa “đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng kế thừa của quá khứ”. Điều đó là tất yếu xét về nguyên tắc và logic khách quan, vì cách mạng cộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất những quan hệ sở hữu của quá khứ - cơ sở xã hội hình thành nên ý thức xã hội và đạo đức cả các xã hội cũ. Tuy nhiên, không thể hiểu luận điểm này của Tuyên ngôn một cách máy móc, thô thiển. Những tư tưởng của quá khứ phải xóa bỏ mà C.Mác và Ph.Ăng-ghen muốn nói đến ở đây là hệ tư tưởng của giai cấp tư sản, kể cả các tư tưởng pháp quyền, đạo đức và quan niệm tôn giáo tư sản như con đẻ của sở hữu tư nhân và chế độ bóc lột. Chủ nghĩa cộng sản không xóa bỏ cá tính, sự sáng tạo, tính độc lập, sự tự do của con người mà chỉ loại bỏ tính chất tư sản của các khái niệm đó. Tất cả các phạm trù đó trong xã hội mới sẽ được nâng lên tầm cao mới theo nguyên lý “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.
Tuyên ngôn còn đề cập nhiều khía cạnh khác trong lĩnh vực xã hội, nhất là các vấn đề giáo dục, gia đình và quan hệ giữa thành thị với nông thôn. Đối lập với nền giáo dục chịu ảnh hưởng sâu sắc của giai cấp tư sản thống trị, với chế độ cộng thê của hôn nhân tư sản, với tình trạng nông thôn phải phục tùng thành thị trong chế độ tư bản chủ nghĩa sẽ là một nền giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả trẻ em, là hình thức gia đình được duy trì bằng mối quan hệ gắn bó thân thiết giữa vợ và chồng, giữa con cái với cha mẹ và không có nạn mại dâm; là sự bình đẳng và xích lại gần nhau giữa nông thôn và thành thị… Dĩ nhiên, những mục tiêu này không dễ đạt được ngay, nhưng đó là những đặt trưng thể hiện sâu sắc tính chất dân chủ, nhân văn, vì con người của những người cộng sản.
160 năm cho sự phán xét, khảo nghiệm của lịch sử đối với một tác phẩm cương lĩnh là khoảng thời gian không ngắn. Vượt qua bao biến cố của lịch sử và những thăng trầm của phong trào cộng sản toàn thế giới, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vẫn ngời sáng chân lý khoa học về sự thay thế không tránh khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa bằng chế độ xã hội mới cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu của nó là xã hội xã hội chủ nghĩa. Khẳng định giá trị vĩnh hằng của Tuyên ngôn, Lênin viết: “Cuốn sách nhỏ ấy có giá trị bằng hàng bộ sách; tinh thần của nó, đến bây giờ, vẫn cổ vũ và thúc đẩy toàn thể giai cấp vô sản có tổ chức và đang chiến đấu của thế giới văn minh”(15).
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là cương lĩnh của những người cộng sản, có giá trị bền vững, lâu dài. Nó không chỉ xác định mục tiêu, lý tưởng xây dựng chủ nghĩa cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, không chỉ vạch ra con đường cách mạng và lực lượng xã hội chủ chốt là giai cấp vô sản thực hiện con đường cách mạng đó, mà còn trình bày một cách súc tích thế giới quan khoa học và cách mạng của giai cấp vô sản – một sáng tạo vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, dựa trên sự kế thừa và phát triển những tư tưởng tiên tiến nhất của thời đại. Chính vì vậy, thái độ đối với Tuyên ngôn thực chất là thái độ đối với chủ nghĩa Mác nói chung. Sinh thời, Macxen Caxanh, một trong những lãnh tụ sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, mỗi năm đọc lại Tuyên ngôn ít nhất một lần, vì tác phẩm là cái gì đó tuy đã cũ nhưng luôn luôn mới.
4. “Tuyên ngôn” với thời đại ngày nay và công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Sinh lực vững bền của Tuyên ngôn đã được chính những sự kiện trọng đại của thời đại ngày nay chứng minh. Đầu tiên phải kể đến, đó là Công xã Pari năm 1871 với chính quyền của giai cấp công nhân đứng vững suốt 72 ngày, đã đánh dấu một vết rạn nứt đầu tiên hiển nhiên và không bao giờ hàn gắn nổi của chế độ tư bản. Kế theo, đặc biệt đó chính là Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917 – sau Tuyên ngôn 70 năm – với sự ra đời của Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới, mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Và nối tiếp đột phá trọng đại này, sau chưa đầy 3 thập niên, đó còn là sự ra đời, tồn tại và phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối những năm 80 – đầu những năm 90 thế kỷ XX, trở thành một lực lượng hùng hậu, tích cực, đối trọng mạnh mẽ với toàn bộ hệ thống tư bản thế giới đã bộc lộ rõ bản chất phản động, phản nhân loại, phản nhân văn của nó.
Con đường cách mạng mà Tuyên ngôn vạch ra đã đưa hàng tỷ quần chúng lao động, hàng trăm quốc gia dân tộc thoát khỏi thân phận bị bóc lột, áp bức, nô dịch vươn tới địa vị người làm chủ, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Con đường cách mạng mà Tuyên ngôn vạch ra đã biến chủ nghĩa xã hội từ lý luận thành hiện thực sinh động, chấm dứt thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản, mở ra trang sử mới cho lịch sử loài người – trang sử đấu tranh vì những mục tiêu cao cả là hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Sức sống và tính chân lý của con đường ấy vẫn tiến tục được khẳng định kể cả trong bối cảnh mới của thế giới những thập niên cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI.
Sự kiện chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ cũng như xu hướng xã hội chủ nghĩa ở một số nước Á, Phi, Mỹ la-tinh bị đẩy lùi vào những năm 1989 – 1991 và sau đó, dẫu là một tổn thất nghiêm trọng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, song vẫn không phải là bằng cớ để từ đó bác bỏ Tuyên ngôn, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, hay đảo ngược thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Bởi vì, sự kiện này tuy không phải là tất yếu, nhưng thực ra cũng là một khả năng đã được chính các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học tiên liệu khi đề cập đến tính chất lâu dài, khó khăn, phức tạp, thậm chí có thể phải làm đi làm lại của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản nói chung, và nhất là thời kỳ quá độ đặc thù vượt qua “khe núi Cáp-đi-a” của chủ nghĩa tư bản đi thẳng lên chủ nghĩa cộng sản nói riêng.
Sự kiện đó cũng không minh chứng cho “tính ưu việt”, “sức sống” hay một thắng lợi hoàn toàn, tuyệt đối, mang tính “hoàn tất lịch sử” của chủ nghĩa tư bản như các nhà tư tưởng tư sản thời hậu chiến tranh lạnh đang ra sức xưng tụng. Sự phát triển của thực tiễn lịch sử xã hội thế giới và nhận thức lý luận chính trị khoa học mác xít vài thập niên qua cho thấy ngày càng rõ, sự kiện chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ tuy có phần là hậu quả của hoạt động chống phá lâu dài, toàn diện, khốc liệt, hiểm độc của chủ nghĩa tư bản đế quốc quốc tế, nhưng nguyên nhân cơ bản và chủ yếu của nó là ở sự bất cập của một mô hình chủ nghĩa xã hội nhất định được tuyệt đối hóa, duy trì vượt quá những điều kiện tất yếu ban đầu của nó để trở nên không còn phù hợp với tình hình mới; cũng như ở những sai lầm nghiêm trọng của giới lãnh đạo Đảng, Nhà nước tại đây khi tiến hành cải tổ mô hình ấy. Điều này cũng được khẳng định sáng tỏ thêm bởi một tình hình tích cực ngược hẳn lại là, với cùng những khó khăn, thách thức từ bên ngoài như của Liên Xô và các nước Đông Âu, song nhờ có nhân tố lãnh đạo chủ quan bên trong vững vàng, có đường lối cải cách, mở cửa, đổi mới đúng đắn, lại được đông đảo quần chúng nhân dân lao động hết lòng ủng hộ mạnh mẽ mà chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Trung Quốc và một số nước khác vẫn đứng vững, ngày càng lớn mạnh, phát triển.
Trong khi đó, nhìn về chủ nghĩa tư bản thế giới ngày nay ở bối cảnh cục diện lưỡng cực giải thể, phương Tây do Mỹ đứng đầu dường như chiếm lĩnh địa vị độc tôn, thì lại thấy bộc lộ nhiều khiếm khuyết cơ bản mà Tuyên ngôn đã vạch rõ. Thực tế là trong nhiều thập niên qua, các nước tư bản hàng đầu phương Tây đạt được sự tăng trưởng đáng kể về cơ sở, tiềm lực kinh tế - kỹ thuật. Đó là nhờ họ đã một mặt, triệt để tận dụng được những thành quả, tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ; và mặt khác, đồng thời ra sức thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa. Nhưng “thành công” này không hề chứng tỏ, khẳng định “hiệu lực”, “hiệu quả” của các quan hệ kinh tế - xã hội, quan hệ sản xuất tư bản. Bởi vì, thứ nhất, “thành công” đó chỉ giới thạn ở vùng trung tâm của chủ nghĩa tư bản thế giới, còn ở vùng ngoại vi thì các quan hệ ấy chỉ mang lại thất bại và tai họa như là cái giá phải trả cho sự thành công ở vùng trung tâm. Thứ hai, một khi đã phải dựa vào các giải pháp, điều kiện bên ngoài như trực tiếp gia tăng lực lượng sản xuất (nhờ tiến bộ khoa học – công nghệ) hoặc đơn thuần mở rộng quy mô “cơ học” của không gian thị trường (bằng đẩy mạnh toàn cầu hóa với những thiết chế kinh tế, tài chính, thương mại kèm theo tương ứng) như một cứu cánh cuối cùng qua hơn nửa thế kỷ từ suốt đầu thời kỳ chiến tranh lạnh đến nay, thì rõ ràng là chính bản thân các quan hệ kinh tế - xã hội, quan hệ sản xuất tư bản đã không còn đủ trữ lượng tích cực nội tại để thúc đẩy sản xuất phát triển, càng không đủ năng lực tự cải biến, tự điều chỉnh để thích ứng với trình độ và quy mô tăng trưởng mới của lực lượng sản xuất xã hội…
Ở bình diện đời sống xã hội cụ thể trực tiếp, mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản giữa lao động và tư bản, vô sản và tư sản không hề thay đổi ngay cả sau Tuyên ngôn 160 năm. Trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản, trên thế giới ngày nay – dù đã sang đầu thế kỷ XXI –vẫn có đến 1,2 tỉ con người phải tiếp tục chịu nghèo đói, tật bệnh, mù chữ, chiến tranh, hưởng mức thu nhập dưới 1 USD/ngày; 2,5 tỉ người nghèo có tổng thu nhập chỉ bằng thu nhập của 250 tỉ phú, triệu phú lớn nhất thế giới gộp lại; 1/3 lực lượng lãnh đạo trên thế giới, tức là khoảng 1 tỉ người bị thất nghiệp ở các mức khác nhau; tại hơn 100 nước đang hoặc kém phát triển, mức thu nhập bình quân đầu người giảm đi so với 2 thập niên trước; cũng các nước này hàn năm thâm hụt thương mại quốc tế lên đến khoảng 100 tỉ USD, còn hàng ngày thì có đến 30.000 trẻ em chế bệnh mà lẽ ra có thể được cứu sống, và số người lớn mù chữ lên đến hơn 800 triệu người…
Gắn liền với thực trạng đó, địa vị của giai cấp công nhân xét trên quy mô toàn bộ nền sản xuất tư bản chủ nghĩa thế giới – nhất là trong “kỷ nguyên toàn cầu hóa” – vẫn không thay đổi. Tại các nước phương Tây, người công nhân có mức sống cao hơn trước đáng kể, có hình thức lao động được trí thức hóa rõ rệt, có tài sản cá nhân được “trung lưu hóa” ít nhiều, có cơ cấu ngành nghề thay đổi lớn so với trước (bộ phận kỹ thuật viên, quản trị viên cao cấp tăng lên cả tuyệt đối lẫn tương đối,…). Nhưng về bản chất họ vẫn chỉ là người làm thuê, kể cả khi được tham gia vào phần việc quản lý, hoặc nắm giữ một tỷ lệ nhất định cổ phần sản xuất. Bởi vì khi đó, thực ra họ vẫn chỉ là một nhóm thiểu số người làm thuê tương đối được ưu đãi hơn (bởi lợi ích kinh tế chứ không phải bởi quyền lực chính trị - xã hội nào), và do đó, có một mức sống tương đối cao hơn so với phần đa số người làm thuê khác trong phạm vi quốc gia – dân tộc và đặc biệt là ở quy mô quốc tế.
Như vậy, từ những thập niên chuyển giao giữa hai thế kỷ XX – XXI, thật ra nhân loại đã chứng kiến sự thay đổi không phải là của một thời đại. Cái đã thay đổi chỉ là thời cuộc, thời thế, cục diện thế giới. Cả trong chiều sâu của quy luật lịch sử cũng như theo diễn biến sinh động đầy kịch tính của đời sống xã hội, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội mở đầu bởi Cách mạng Xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại vẫn đang tiếp diễn mà không một thế lực nào có thể đảo ngược được. Chủ nghĩa tư bản vẫn còn đó với những mâu thuẫn bên trong không thể khắc phục được của nó. Xã hội tư bản không dễ biến màu bản chất của mình chỉ bằng lối xưng danh mới “phi hệ tư tưởng hóa” như “xã hội hậu tư bản”, “xã hội hậu công nghiệp”, “xã hội tin hóa”, “xã hội kinh tế tri thức hóa”. Tương tự như thế, giai cấp công nhân ngày nay – giai cấp vô sản hiện đại – cũng không thể một sớm một chiều biến đổi thành tầng lớp “phi vô sản hóa”, “hữu sản hóa”, “trung lưu hóa” cho dù ở phạm vi quốc gia – dân tộc tại riêng các nước phương Tây, hay trên quy mô toàn cầu.
Không phải ngẫu nhiên – và đây cũng là điều vừa khá sâu sắc vừa rất lý thú – mà một học giả tư sản, nhà sử học có tiếng người Pháp Rô-giê Mác-ten-li, khi bác bỏ thẳng thừng “Dự thảo Nghị quyết chống Cộng sản ” của Hội đồng Nghị viện châu Âu hồi đầu năm 2006, đã đồng thời còn nhấn mạnh rằng: chế độ áp bức là mâu thuẫn và trái ngược với lý tưởng sâu sắc của chủ nghĩa cộng sản; rằng ngày nay chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa đang áp đặt trật tự của họ, tuy nhiên trật tự này không có sức sống bởi chính nó lại gây ra tình trạng mất trật tự nguy hại; rằng đã đến lúc phải nghĩ đến một chủ nghĩa cộng sản “suy nghĩ lại” hoặc “xây dựng lại”… Liên quan đến dự cảm tiến bộ, khá nhạy bén và đáng hoan nghênh này – cho dù đi sau Tuyên ngôn rất xa – là một thực tế mới mẻ, rộng lớn, khá tích cực và rất đáng chú ý khác. Đó là hiện tượng các lực lượng cánh tả (mà trong nhiều trường hợp thì tự tuyên bố là đi theo con đường của chủ nghĩa xã hội) lên cầm quyền ở hàng loạt nước thuộc khu vực Trung và Nam Mỹ. Hiện tượng này, hay như cách nói của báo giới nước ngoài là “làn sóng hồng Mỹ la-tinh”, tuy có thể chưa là “đáp án” xã hội chủ nghĩa cho các quốc gia – dân tộc tại đó, nhưng rõ ràng đã và đang ngày càng là “đối án” kiên quyết bác bỏ thứ chủ nghĩa tư bản “tự do mới” được phương Tây cổ súy, bác bỏ chủ nghĩa tư bản đế quốc cường quyền và độc quyền, can thiệp và áp đặt đang ra sức lấn lướt ở nhiều khu vực trên thế giới ngày nay.
Tóm lại, cần phải khẳng định rằng, những tư tưởng của Tuyên ngôn vẫn đang sống và ngày càng sống động hơn theo nhịp tiến lên của nhân loại tiến bộ, của xã hội loài người đang vững bước đi vào thế kỷ XXI. Sức mạnh tư duy vạch thời đại của C.Mác-Ph.Ăng-ghen trong tác phẩm này vẫn được thực tiễn lịch sử toàn thế giới khảo nghiệm và minh chứng rực rỡ trong thời đại ngày nay.
Đối với cách mạng Việt Nam, Tuyên ngôn nói riêng và chủ nghĩa Mác – Lê-nin nói chung cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam dẫn đường. Trên cơ sở giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng ta đã vạch ra đường lối chiến lược giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản mà C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra trong Tuyên ngôn; đã vận dụng tư tưởng cách mạng không ngừng của C.Mác để xây dựng đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội; đã thấm nhuần tinh thần biện chứng của Tuyên ngôn để năng động, sáng tạo trong xã hội xã hội mới và trong công cuộc đổi mới tròn hai thập kỷ vừa qua… Trên con đường đi tới tương lai xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, mục tiêu phấn đấu của Đảng và nhân dân ta – Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh – là mục tiêu mang tính hiện thực khả thi của chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nó kết hợp nhuần nhuyễn hợp lý trong nội dung của mình những mối quan hệ biện chứng giữa tương lai và hiện tại, của lâu dài và trước mắt, cái chung và cái riêng, thời đại và dân tộc, quốc tế và trong nước… Trong thế giới toàn cầu hóa đầy thời cơ và thách thức đan xen – cái thế giới mà chính C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã dự báo trong Tuyên ngôn, Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục tìm thấy ở Tuyên ngôn chỉ dẫn thế giới quan và phương pháp luận quý báu; vẫn thấy ngời sáng những giá trị vững bền của tác phẩm lý luận và cương lĩnh bất hủ.
Nắm vững tư tưởng cách mạng vô sản triệt để, tinh thần nhân đạo cộng sản cao cả và phương pháp biện chứng khoa học của C.Mác – Ph.Ăng-ghen vĩ đại trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản bất hủ, công tác tư tưởng của chúng ta trong giai đoạn hiện nay cần được đổi mới tích cực, toàn diện cả về nội dung và phương thức. Ở đây, cần đảm bảo nguyên tắc tính khách quan, khoa học sâu sắc kết hợp với tính sinh động, thuyết phục cao. Một mặt cần chống xu hướng chủ quan, đơn giản, áp đặt, mà thực chất là quan liêu và “tả” khuynh muốn đem những điều chỉ một số ít người làm được buộc tất cả mọi người phải làm, đem những điều chỉ làm được ở một số thời điểm, hoàn cảnh buộc phải làm trong mọi lúc, mọi nơi… Mặt khác cũng cần chống xu hướng cơ hội, thỏa hiệp, hữu khuynh trước thực tế có nhiều biến động phức tạp, lắm nguy cơ thác thức. Cần đưa công tác này hướng tới khối đông đảo quần chúng, làm lay động được nhận thức và tình cảm của hàng triệu người, cổ vũ các tầng lớp nhân dân ra sức học tập quán triệt tin tưởng đường lối chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, phấn khởi nhiệt tình lao động sản xuất, đưa đất nước ta, dân tộc ta vào con đường phát triển nhanh, mạnh, bền vững, con đường hiện thực hóa lý tưởng cộng sản chủ nghĩa mà C.Mác – Ph.Ăng-ghen đã vạch ra trong Tuyên ngôn.
[/align]
* PGS.TS. Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương
(1) C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Nxb Chính trị quốc gia, H, t.21, tr.518
(2) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Sđd, t.4, tr.603
(3) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Sđd, t.4, tr.605, 610
(4) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Sđd, t.4, tr.605, 610
(5) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Sđd, t.4, tr.607, 644
(6) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Sđd, t.4, tr.607, 644
(7) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Sđd, t.4, tr.626
(8) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Sđd, t.4, tr.628
(9) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Sđd, t.4, tr.628
(10) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Sđd, t.4, tr.626-627
(11) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Sđd, t.4, tr.626-627
(12) C.Mác – Ph.Ăng-ghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản , Nxb CTQG, H, 2004, tr.37.
(13) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Sđd, t.4, tr.617,618,619
(14) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Sđd, t.4, tr.617,618,619
(15) V.I.Lê-nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1974, t.2, tr.10
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
GIÁ TRỊ LỚN LAO, SỨC SỐNG BỀN VỮNG CỦA TUYÊN NGÔN ĐẢNG CỘNG SẢN
 
Trần Quang Nhiếp
(Cập nhật: 6/2/2007)
 



Trên cơ sở khái quát về mặt lý luận và thực tiễn lịch sử phát triển xã hội loài người, của phong trào công nhân cách mạng, C. Mác và Ph.Ăng-ghen đã xây dựng một học thuyết khoa học và cách mạng về vai trò lịch sử thế giới của giai cấp công nhân, về sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, về học thuyết đấu tranh cách mạng, về vai trò của Đảng cộng sản… được đánh dấu bằng sự ra đời tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản tháng 2 năm 1948.
Ngay từ khi mới ra đời, các nhà học giả tư sản đã coi Chủ nghĩa cộng sản như một bóng ma ám ảnh Châu Âu và họ hô hào hãy xóa bỏ bóng ma ấy. Đồng thời “Chủ nghĩa cộng sản đã được tất cả các thế lực Châu Âu thừa nhận là một thế lực”. Cho nên những người cộng sản mà C.Mác và Ph.Ăng-ghen là người đại diện phải công khai trình bày trước toàn thế giới những quan điểm, mục đích, ý đồ của mình. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản ngoài các mục đích trên còn nhằm đập lại câu chuyện hoang đường về bóng ma cộng sản. Đây là những mục tiêu như hai ông đã tuyên bố. Mặc dù tới nay đã 160 năm trôi qua, lịch sử thế giới chứng kiến vô vàn những biến động lay trời, chuyển đất, song “bóng ma” ấy không những không bị xua tan mà trái lại, không gian Mác ngày càng tỏa rạng khắp hành tinh. Điều đó khẳng định sức sống bền vững bởi những giá trị lớn lao của Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, của Chủ nghĩa Mác. Cho nên, chúng ta đề cập tới những nội dung cốt lõi, những giá trị cơ bản của chủ nghĩa Mác ở những điểm chính sau:
- Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đề cập tới các vấn đề chủ yếu có tính khái quát lớn về giai cấp tư sản và giai cấp vô sản là hai giai cấp chính trong xã hội hiện đại. Lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của C.Mác và Ph.Ăng-ghen tới nay vẫn còn nguyên giá trị. Song, chỉ có điều chúng ta cần nhận thức rõ tính chất, hình thức của các giai cấp và đấu tranh giai cấp đã biến đổi cho phù hợp với thời đại ngày nay. Trên cơ sở những quan điểm lý luận cơ bản của tác phẩm, hai ông chú ý phân tích sự vận động, phát triển của các giai cấp, các tầng lớp và của toàn xã hội bằng quan điểm “động”. Ngay trong nội dung này, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã chỉ dẫn trong tư duy và hoạt động mà con người phải không ngừng đổi mới, tránh sự “cứng đờ và hoen rỉ” bằng “con mắt tỉnh táo”. Hai ông cũng chỉ rõ xu hướng toàn cầu của xã hội tương lai do quy luật phát triển của sức sản xuất và không ngừng mở rộng thị trường quốc tế làm cho các quốc gia dân tộc ngày càng phụ thuộc vào nhau. Vì thế với những giá trị khoa học và tính thời sự, tính dự báo chiến lược của tác phẩm không thể coi chủ nghĩa Mác là lỗi thời như những người nào đó đã phủ nhận một cách giản đơn, dễ dãi, thiếu thận trọng với ý đồ xấu của họ.
- Tuyên ngôn của Đảng cộng sản được hai ông chỉ rõ mục tiêu, nhiệm vụ của những người cộng sản là tổ chức họ lại thành giai cấp đấu tranh giải phóng mình khỏi mọi ách áp bức, bóc lột. Hai ông chỉ rõ “Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản”. Hoặc là “Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác”. Hai ông không chỉ luận giải về sự đối kháng giai cấp, sự đấu tranh giai cấp về mục tiêu của giai cấp vô sản… mà còn khẳng định quy luật giải phóng con người đạt tới sự tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.
- C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra sự khác biệt để nhận rõ bản chất, tính đích thực của các thứ chủ nghĩa xã hội như chủ nghĩa xã hội phong kiến phản động, chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản phản động, sự giả dối của chủ nghĩa xã hội Đức hay chủ nghĩa xã hội “chân chính”, chủ nghĩa xã hội biểu tượng - phê phán… để chúng ta có cách nhìn đúng đắn, khoa học trước những trào lưu phức tạp của chủ nghĩa xã hội. Tiếp thu những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng-ghen , Hồ Chí Minh đã khẳng định, ngày nay chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều, chỉ có chủ nghĩa Mác - Lê-nin là chân chính nhất, khoa học nhất.
- Hiện nay, chúng ta đang sống trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, được mở đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Suốt 90 năm, chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng soi đường của học thuyết Mác, đã đạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt, góp phần làm thay đổi đời sống các dân tộc trên hành tinh.Tuy nhiên, lịch sử thường rất phức tạp, không theo con đường thẳng tắp, mà trải qua những khúc quanh. Hệ thống xã hội chủ nghĩa sau một giai đoạn phát triển mạnh mẽ, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan đã tạm đi vào thoái trào. Những người đối địch với chủ nghĩa xã hội, đối địch với chủ nghĩa Mác, coi đây là “thời cơ vàng”, ra sức bác bỏ chủ nghĩa Mác, bác bỏ chủ nghĩa xã hội. Họ rêu rao “chủ nghĩa Mác đã lỗi thời”, “chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không phải là đích mà loài người hướng tới”, “nền văn minh tin học không dung nạp chủ nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa Mác là sản phẩm của nền văn minh cơ khí, nó chỉ thích hợp ở thế kỷ XIX chứ không hợp với thời đại ngày nay”, “sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội trên một mảng lớn trên thế giới, chứng tỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một sai lầm”… Những luận điểm đối địch thiếu căn cứ khoa học ấy của họ đã khiến nhiều người dao động, mất phương hướng, giảm lòng tin vào con đường xã hội chủ nghĩa. Đó chính là thách thức lớn nhất đối với chủ nghĩa Mác hiện nay. Vì thế, việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác là nhiệm vụ quan trọng, bức thiết của chúng ta hiện nay.
Như đã phân tích, sức sống của Tuyên ngôn của Đảng cộng sản thể hiện ở nhiều lĩnh vực, nhưng bao trùm ở chỗ nó giải đáp những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của loài người đặt ra, soi sáng các nhiệm vụ lịch sử đã chín muồi của nhân loại, đó là nhiệm vụ giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, khỏi mọi sự tha hóa của con người. Sức sống của Tuyên ngôn của Đảng cộng sản và của học thuyết Mác cũng được thể hiện trong thực tiễn đời sống xã hội hiện đại, mặc dù đời sống xã hội trải qua những thăng trầm, quanh co, khúc khuỷu, song vẫn không ra ngoài những quy luật phổ biến đã được trình bày một cách khoa học, sáng tạo trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản; mặc cho người ta thừa nhận hay không thừa nhận điều đó. Cho nên nếu không có Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, không có học thuyết Mác, sẽ không hiểu được chủ nghĩa tư bản hiện đại, không hiểu được xu hướng biến đổi và phát triển của thời đại ngày nay. Những dự báo trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản về chủ nghĩa tư bản hiện đại về sự hình thành những tập đoàn kinh tế lớn xuyên quốc gia điều khiển thị trường thế giới đang là hiện thực. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản cũng dự báo về sự phát triển không ngừng của sức sản xuất, của tiến bộ khoa học - kỹ thuật làm thay đổi thế giới chuyển xã hội loài người sang nhịp sống mới một cách mạnh mẽ.
Sự khẳng định xu hướng tất yếu của toàn cầu hóa, của thị trường chung thế giới, làm cho các dân tộc quan hệ phụ thuộc lẫn nhau như một thứ khó tránh khỏi bởi tính khách quan của quy luật kinh tế đang diễn ra. Hiện nay chính nhiều nhà học giả tư sản cũng đặt ra, loài người sẽ đi tới sự phát triển như Mác đã nêu chứ không phải chủ nghĩa tư nhân là đích cuối cùng. Bởi vì dưới ánh sáng của Tuyên ngôn Mác, người ta nhìn rất rõ và đầy đủ những mâu thuẫn chủ nghĩa tư bản không thể khắc phục được. Vì vậy chừng nào chủ nghĩa tư bản còn, chủ nghĩa đế quốc còn tồn tại, chừng nào khát vọng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp của nhân loại còn, chừng nào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới chưa hoàn thành thì chủ nghĩa Mác - lý luận về sự giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động các dân tộc vẫn còn giá trị lý luận và thực tiễn to lớn.
Sức sống và giá trị bền vững của Tuyên ngôn của Đảng cộng sản còn thể hiện ở chỗ nó giúp những người cộng sản, những người lao động nhận rõ chân tướng, nhận rõ bản chất kẻ thù của mình. Quan trọng hơn, nó giúp họ có được phương pháp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại thoát khỏi nạn áp bức, sự bần cùng hóa đời sống con người.
- Tuyên ngôn của Đảng cộng sản cũng chỉ rõ quá trình phát triển của công nghiệp, quá trình tích tụ tư bản, quá trình đô thị hóa… làm cho guồng máy lao động, sản xuất và đời sống xã hội phụ thuộc lẫn nhau, phân hóa mạnh mẽ và cách biệt ngày càng sâu rộng hơn. Tình trạng giành giật quyền lực, liên kết các tập đoàn kinh tế mạnh, các nước lớn càng chi phối các nước nhỏ, nước yếu, buộc họ bị thua thiệt về nhiều mặt. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản cũng vạch rõ âm mưu quỷ quyệt của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc với lòng tham lam và tàn bạo, bất chấp mọi đạo lý, lẽ phải, sẵn sàng đàn áp, gây chiến tranh xâm lược đối với bất cứ nước nào vì mục tiêu kiếm lời.
Từ những phân tích, luận giải trên cho thấy sức sống và giá trị của Tuyên ngôn của Đảng cộng sản nằm ngay trong những quan điểm lý luận sâu sắc, đầy tính thuyết phục của C.Mác và Ph.Ăng-ghen  đối với hàng trăm triệu người trên khắp hành tinh, giúp họ có được thế giới quan, nhân sinh quan khoa học, cách mạng và tiến bộ. Từ đấy họ là nhân cốt tuyên truyền, vận động, giác ngộ, cổ vũ tiếp theo hàng chục triệu, hàng trăm triệu người giác ngộ về kẻ thù, giác ngộ về quyền lợi dân tộc của mình mà đứng lên đấu tranh. Cho nên sức sống của Tuyên ngôn của Đảng cộng sản có thể hiểu chính là lời cổ vũ “vô sản toàn thế giới đoàn kết lại”. Đây là cuộc đấu tranh trường kỳ và tất yếu sẽ chiến thắng của sức mạnh các dân tộc khi họ đã kết thành một khối.
Tuy nhiên, thực tiễn luôn luôn biến đổi, phát triển nên học thuyết Mác cũng không ngừng bổ sung, phát triển. Những tư tưởng của Tuyên ngôn của Đảng cộng sản nói riêng, của chủ nghĩa Mác nói chung là một hệ thống “mở”, một khoa học phát triển về sự phát triển của thế giới và xã hội loài người. Cho nên, không ngừng phát triển chủ nghĩa Mác vừa là yêu cầu của thực tiễn xã hội, vừa là yêu cầu nội tại của bản thân học thuyết Mác. Bởi vậy, một cách khách quan cần khẳng định có phát triển và thông qua phát triển, chủ nghĩa Mác mới tự bảo vệ và phát huy sức mạnh đối với thời đại, trong bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp hiện nay.
Nhận thức một cách sâu sắc về những giá trị và sức sống của chủ nghĩa Mác, Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau đều khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Đồng thời đề ra cho mình nhiệm vụ bảo vệ và phát triển nó một cách sáng tạo trong quá trình tiếp thu, vận dụng vào điều kiện nước ta.
Để làm được điều đó, chúng ta phải làm sáng tỏ những vấn đề, các đặc điểm chủ yếu, các xu hướng của thời đại và những vấn đề đặt ra đối với chủ nghĩa Mác, những giá trị và yêu cầu phát triển chủ nghĩa Mác trong thời đại hiện nay.
Trước tình trạng khủng hoảng chung của chủ nghĩa xã hội, Đại hội VI của Đảng đã xác định, đối với Việt Nam, đổi mới là những yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng và là vấn đề có ý nghĩa sống còn. Nhưng muốn đổi mới, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 20 năm qua đã chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, thể hiện sự trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Tiếp tục quán triệt chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đại hội X của Đảng khẳng định toàn Đảng, toàn dân tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, phát triển nhanh, bền vững, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.
Mặc dù đã 160 năm trôi qua, nhất là sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, lịch sử thế giới đang ở trong một “khúc quanh” phức tạp của sự phát triển, song chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn tỏ rõ sức sống của mình trong đời sống hiện thực của nhân loại. Những giá trị tinh thần, tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác ngày càng được thực tiễn khẳng định về sự đúng đắn, sức sáng tạo của nó. Đối với cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa Mác luôn luôn là ngọn đuốc soi đường, là nền tảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho hành động. Đó là nhân tố quyết định, đảm bảo cho sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Điều quan trọng là người tiếp thu, vận dụng chủ nghĩa Mác phải với tinh thần sáng tạo, biết kế thừa, phát huy những luận điểm trước đây và hiện nay vẫn đúng; biết sửa chữa những nhận thức sai về các luận điểm đúng; biết vượt qua những luận điểm gì trước đây đúng nhưng ngày nay không còn phù hợp, những luận điểm gì mới cần được bổ sung vào lý luận do thực tiễn mới đặt ra… Tất cả đều biết vượt qua lối tư duy máy móc, xáo mòn, rập khuôn một cách cứng nhắc, đồng thời phải hết sức tránh mọi biểu hiện xa rời, thoát ly chủ nghĩa Mác một cách cực đoan, máy móc dưới danh nghĩa “đổi mới tư duy”.
Có thể hiểu Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là sự kết tinh những giá trị, những tư tưởng và nội dung chính yếu của chủ nghĩa Mác. Đây là một học thuyết khoa học và cách mạng, nó trang bị cho chúng ta thế giới quan, phương pháp luận tiến bộ. Vì thế, đây là vấn đề luôn luôn mới và việc nhận thức đó không ngừng phải nâng lên ở những tầng bản chất sâu và cao hơn. Thực tiễn sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam đã chứng minh chủ nghĩa Mác không thể thiếu được và bao giờ nó cũng là ánh sáng soi đường, là nhân tố quyết định bảo đảm cho thắng lợi cuối cùng. Có thể nói, không có chủ nghĩa Mác - Lê-nin, không có tư tưởng Hồ Chí Minh thì không có con đường giải phóng dân tộc, không có con đường cách mạng đúng đắn của Việt Nam. Điều đó đặt ra cho những người cộng sản chân chính Việt Nam nhiệm vụ không ngừng học tập, nghiên cứu để nắm vững, vận dụng, bảo vệ và phát triển tích cực chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay./.[/align] [/align]* PGS, TS[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
Kỷ niệm 189 năm Ngày sinh của Karl Marx (5-5-1818 - 5-5-2007)[/align]Mãi mãi sáng ngời tư tưởng Karl Marx[/align]












[/align]ND - Ngày 5-5-1818, tại thành phố Trier thuộc miền tây nước Ðức đã sinh ra một con người mà tên tuổi, sự nghiệp đã đi vào lịch sử nhân loại: Karl Marx.[/align]


Thời gian càng lùi xa, dẫu đã và đang trải qua bao biến động, thăng trầm của đời sống chính trị - xã hội thế giới, nhưng tư tưởng của Karl Marx, học thuyết Marx vẫn mãi mãi tỏa sáng.[/align]

Với Karl Marx, mọi lời ngợi ca đều không đủ. Một thí dụ rất sinh động gần đây nhất: Chuẩn bị kết thúc thế kỷ 20, một hãng truyền thông nổi tiếng vào loại bậc nhất Tây Âu đã tổ chức thăm dò dư luận, đánh giá những nhà tư tưởng nào có ảnh hưởng nhất của thế kỷ, thì người đứng số 1 cũng chính là Karl Marx.[/align]

Giai cấp công nhân, nhân dân lao động trên toàn thế giới luôn luôn ghi nhận những cống hiến vô giá của Karl Marx, bằng hoạt động khoa học và hoạt động cách mạng không mệt mỏi của ông cho cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, để "thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người" (Tuyên ngôn của Ðảng Cộng sản).[/align]






Chủ nghĩa Marcism - Leninism soi phương hướng, đường lối cho chúng ta đi. Có phương hướng đúng thì làm việc mới đúng. Hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc, bất kỳ việc to việc nhỏ cũng nhằm mục đích ấy; đó là chủ nghĩa Marcism - Leninism. Nếu không hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư tự lợi, như thế là trái với chủ nghĩa Marcism - Leninism.[/align]
[/align]

Là nhà khoa học thiên tài đồng thời là nhà cách mạng lỗi lạc, Karl Marx đã để lại một kho tàng lý luận đồ sộ, một di sản vô giá cho giai cấp công nhân, các đảng cộng sản và nhân dân lao động trên toàn thế giới.[/align]

Với lý luận này, Karl Marx đã biến chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học. Cũng từ đó, chủ nghĩa xã hội khoa học - một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Marx đã ra đời. V.I.Lenin đã quan niệm rằng: Ðiều cốt yếu của học thuyết Marx là nó đã soi sáng vai trò lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân là người xây dựng xã hội chủ nghĩa, thay thế xã hội tư bản chủ nghĩa.[/align]

Quá trình hình thành học thuyết Marx nói chung, chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng, được đánh dấu bằng sự ra đời của tác phẩm bất hủ - "Tuyên ngôn của Ðảng Cộng sản" - tác phẩm phổ biến nhất, có tính quốc tế nhất trong sách báo xã hội chủ nghĩa đương thời. Với tác phẩm vĩ đại này, bản Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của những người cộng sản và giai cấp công nhân đã được công bố. Từ đây, giai cấp công nhân, thông qua đảng cộng sản, đội tiên phong có tổ chức, có tư tưởng lý luận của mình đã thật sự đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người khỏi mọi áp bức bất công.[/align]

Bằng lý luận và thực tiễn cách mạng, Karl Marx và Friedrich Engels đã chỉ rõ: Trong quan hệ với giai cấp công nhân, những người cộng sản "tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản. Họ không đặt ra những nguyên tắc riêng biệt nhằm khuôn phong trào vô sản theo những nguyên tắc ấy" và "trong cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giới giai cấp vô sản". [/align]

Những chỉ dẫn của K.Marx và F.Engels về đảng cộng sản và xây dựng đảng mãi mãi là cơ sở lý luận của công cuộc xây dựng Ðảng ở Việt Nam hiện nay.[/align]

KỶ niệm 189 năm Ngày sinh Karl Marx, những người cộng sản Việt Nam không những nhận thức rõ hơn bao giờ hết bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết Marx, mà còn nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của việc vận dụng và phát triển sáng tạo những tư tưởng của K.Marx về đảng cộng sản trong điều kiện cụ thể của nước ta.[/align]

Văn kiện Ðại hội X của Ðảng Cộng sản Việt Nam xác định: "Ðảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc".[/align]

Ðiều đó đã thể hiện Ðảng ta luôn coi chủ nghĩa Marxism - Leninism, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Ðảng, đồng thời đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marxism - Leninism, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bản thân lý luận về Ðảng và trong hoạt động của Ðảng nói chung.[/align]

Hiện nay, xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh là khâu then chốt, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam. Ðể thật sự nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng trong tình hình mới đòi hỏi trước hết phải thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn Ðảng. Hàng loạt yêu cầu, nhiệm vụ rất mới mẻ và không kém nặng nề của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Ðảng đang đặt ra theo tinh thần Ðại hội X của Ðảng cần được nhận thức thật đầy đủ, sâu sắc trong toàn Ðảng. Trong đó, một số yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra bức thiết hiện nay là:[/align]

Một là: Nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Ðảng. Một mặt, đòi hỏi Ðảng phải kiên định chủ nghĩa Marxism - Leninism, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Mặt khác, phải vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marxism - Leninism, tư tưởng Hồ Chí Minh trong mọi hoạt động lý luận và thực tiễn của Ðảng. Yêu cầu bức xúc hiện nay là phải nâng cao trình độ trí tuệ, chất lượng nghiên cứu lý luận của Ðảng, tiếp tục làm sáng tỏ hơn những vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn của đường lối, chính sách của Ðảng trong thời kỳ mới. Ðổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị; củng cố, nâng cao chất lượng các cơ quan chuyên ngành về công tác tư tưởng, lý luận... Kiên quyết đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.[/align]

Ðấu tranh bảo vệ đường lối của Ðảng, phê phán bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch.[/align]

Hai là: Kiện toàn và đổi mới hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Mỗi tổ chức cơ sở đảng có trách nhiệm quy tụ sức mạnh của đơn vị, địa phương; làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý và giám sát đảng viên; đấu tranh kiên quyết chống mọi biểu hiện tiêu cực, suy thoái trong Ðảng. Xây dựng đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong gương mẫu, có phẩm chất đạo đức cách mạng, biết học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.[/align]

Ba là: Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong Ðảng; tăng cường quan hệ gắn bó Ðảng với nhân dân; nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Ðảng.[/align]

Vừa phát huy, mở rộng dân chủ trong Ðảng, vừa tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Ðảng. Mọi cán bộ, đảng viên có quyền tham gia quyết định công việc của Ðảng; quyền được thông tin, thảo luận, tranh luận, nêu ý kiến riêng bảo lưu ý kiến trong tổ chức; khi Ðảng đã có nghị quyết thì phải nói và làm theo nghị quyết.[/align]

Bốn là: Ðổi mới tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ. Sắp xếp, đổi mới tổ chức, bộ máy của Ðảng, đặc biệt là các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng ủy khối ở Trung ương và các địa phương, gắn với kiện toàn tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, bảo đảm tinh gọn, hoạt động thiết thực, hiệu quả. Ðổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, bảo đảm thật sự dân chủ, khoa học, công minh...[/align]

Năm là: Ðổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng.[/align]

Ðổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng phải đồng bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, đổi mới về kinh tế, xây dựng văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội. Trước hết, cần tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước. Ðảng lãnh đạo nhà nước bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết; lãnh đạo thể chế hóa, cụ thể hóa thành Hiến pháp, pháp luật, kế hoạch, các chương trình công tác lớn của Nhà nước, thông qua những cán bộ, đảng viên trong bộ máy Nhà nước,... Ðảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay, trái lại phải phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước trong quản lý đất nước và xã hội.[/align]
PGS, TS  Nguyễn Quốc Phẩm
(Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)

[/align]
Đăng nhập để trả lời
0