📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tin Việt Nam

Trước phiên xử 11.05

0 trả lời, 187 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-08 23:45:26saigonthangtu>
.
Tin BBC
Trước phiên xử 11.05





Hai bị cáo có chung luật sư bào chữa

Trước phiên tòa xử hai luật sư bất đồng chính kiến ở Hà Nội, có thêm một số dấu hiệu gia tăng căng thẳng.


[/align]Trên mạng Internet lưu truyền hai tờ đơn khiếu nại được coi là của thân nhân của hai luật sư.
Một là của bà Vũ Minh Khánh, vợ của luật sư Nguyễn Văn Đài, và một là của bà Trần Thị Lệ, mẹ của luật sư Lê Thị Công Nhân.
Cả hai đơn đều gửi cho các lãnh đạo cao cấp nhất Việt Nam, bao gồm cả chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, xin "ra lệnh hoãn phiên sơ thẩm" vì có những chi tiết cho thấy quyền lợi hợp pháp của các bị cáo sẽ không được bảo đảm đúng mức.
Hai lá đơn này xuất hiện gần như cùng thời điểm với bài báo trên An Ninh Thế Giới, nêu tên của hai thân nhân này.
Bài báo cho rằng bà Lệ và bà Khánh đã gặp dân biểu Thụy Điển Goran Lindblad tại khách sạn Horizon hồi tháng Ba vừa qua.
"Trong cuộc tiếp xúc này, bà Lệ, bà Khánh ngoài việc vu khống Chính phủ Việt Nam đàn áp nhân quyền, thì còn cho rằng tính mạng của họ, của người thân họ đang 'gặp nguy hiểm'." - Một đoạn bài báo viết như vậy.
Bài báo của An Ninh Thế Giới có nội dung về cái được họ gọi là "Những trò bịp bợm của đảng Việt Tân", mà cuộc tiếp xúc đó cũng được ghép chung.
Hai lá đơn của bà Lệ và bà Khánh, trong phần cuối, nêu ra chuyện các đài truyền hình VTV1 và VTC chiếu hình ảnh thân nhân họ mặc quần áo tù nhân, dù chưa bị tòa kết án.
----------------------------------------------------------------
Mai, Florida, Hoa Kỳ
Chuyện luật với lệ ở VN thì thật khó lòng hiểu hết được, vì (có lẽ) nó khác xa với luật lệ chung của thế giới văn minh. Nhưng suy nghĩ theo cách bình thường thì, ít nhất, tòa phải cho luật sư biện hộ có đủ thời gian chuẩn bị hồ sơ, tìm đủ chứng cứ để phản biện. Đàng nầy thì chính LS đại diện cũng năm lần bảy lượt mới được cấp phép và chỉ có một tuần chuẩn bị hồ sơ và một lần duy nhất được gặp mặt thân chủ . Phương Tây thì ngược lại. Vụ án nào gai góc thì các LS rất hãnh diện tranh cãi vì họ sẽ được nổi tiếng. Đàng nầy các LS VN, đủ trình độ tranh cãi, nhưng không ai dám nhận lời biện hộ. Thái độ nầy tự nó đã nói lên nỗi sợ của người dân dưới sự thống trị độc tài của đảng CSVN

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/05/070508_hanoi_court.shtml

____________


Hai luật sư bất đồng chính kiến ở Hà Nội
Bill Hayton
BBC News, London





LS Nguyễn Văn Đài bắt đầu hết ảo tưởng về đảng cộng sản từ 1989

Thứ Sáu tuần sau hai luật sư tranh đấu cho nhân quyền sẽ ra trước tòa về tội tuyên truyền chống nhà nước và có thể phải chịu đến 20 năm tù.


[/align]Phải ra trước vành móng ngựa cùng ngày nhưng con đường của hai người có khác nhau.
Nguyễn Văn Đài năm nay 38 tuổi, bắt đầu hết ảo mộng về đảng cộng sản Việt Nam từ khi chế độ cộng sản bắt đầu sụp đổ ở châu Âu năm 1989, khi anh đang lao động hợp tác ở Đông Đức.
Anh nhìn thấy diễn biến tương tự ở Việt Nam và khi nhà máy ở Đức đóng cửa thì về Việt Nam và theo học trường luật Hà Nội với ý định "làm gì đó cho nước tôi".
Năm 1997 anh cùng người bạn là các ứng cử viên độc lập đầu tiên trong cuộc bầu cử quốc hội.
Khoảng cuối năm 1999 luật sư Nguyễn Văn Đài đại diện cho một phụ nữ bị tù về tội làm lễ Thánh trái phép tại nhà.
Thân chủ thua kiện nhưng sau đó anh "cảm thấy lời Chúa gọi" cho nên gia nhập Hội thánh Tin lành hợp pháp ở Hà Nội.
Tháng Tư năm 2004 anh cùng tham gia nhóm "Luật sư vì công lý" gồm 12 thành viên nhưng sau đó tất cả 11 luật sư còn lại đều rút tên vì sợ bị thu giấy phép hành nghề luật.





APEC giúp các nhà bất đồng chính kiến "dễ thở"

Cuối năm đó luật sư Đài lại nhận bào chữa tiếp cho 6 thành viên của một giáo hội Mennonite bất hợp pháp phạm tội "chống người thi hành công vụ", và đến tháng Tư năm 2005 đứng ra bào chữa cho những người bất đồng chính kiến.
Từ đó trở đi Nguyễn Văn Đài trở thành một trong số ít những nguồn tin chính về những gì xảy ra đối với phong trào bất đồng chính kiến ở Việt Nam.
Nhiều người tự hỏi tại sao anh có thể duy trì hoạt động lâu như vậy và không bị bắt như những người được anh biện hộ.
Một số người trong các tổ chức quốc tế thậm chí còn nghĩ rằng anh là người của cơ quan an ninh Việt Nam.
Trong những năm qua, phong trào bất đồng chính kiến ở Việt Nam, dù còn rất nhỏ, bắt đầu có các hành động thống nhất, điển hình là khối 8406.
Lê Thị Công Nhân, nữ luật sư trẻ hơn Nguyễn Văn Đài chừng 10 tuổi, cảm thấy thích thông điệp của khối 8406.
"Tôi xếp hàng giữ chỗ cho bố mẹ trước hiệu bách hóa năm 1986 và tự hỏi tại sao phải làm như vậy". - Cô nói với phóng viên BBC Bill Hayton mùa thu năm ngoái rằng cô trở thành nhà bất đồng chính kiến từ năm 7 tuổi.




Luật sư Công Nhân nói thành người bất đồng chính kiến từ năm lên bảy

Lê Thị Công Nhân chính thức là luật sư từ tháng Tám năm 2006 và trở thành thành viên của 8406 "sau một thời gian dài suy nghĩ".
Gần như ngay tức thời cô được các sĩ quan của A42 viếng thăm, cơ quan phụ trách chính trị của Bộ công an.
Cảnh sát đưa cô về đồn, nói cô phạm tội âm mưu lật đổ chính quyền và thẩm vấn trong vòng 3 ngày.
Sau đó Lê Thị Công Nhân không chịu đi thẩm vấn và bị công an gọi điện và gửi hàng loạt tin nhắn dọa bắt.
Nhưng bất ngờ chiến thuật của công an lại thay đổi, 'họ tặng hoa, mời đi ăn tối và xem phim, thậm chí còn tặng điện thoại mới".
Mọi chuyện thay đổi khi cô Công Nhân định sang Warszawa để dự hội thảo phát động lập công đoàn độc lập ở Việt Nam.
Ra đến chân máy bay thì cô bị chặn lại và ngày hôm sau khi phóng xe máy đi đổi vé thì bị đẩy gần ngã, mà cô tin là do người của A42 làm.



Luật sư Nguyễn Văn Đài (bên trái) và Lê Thị Công Nhân sẽ bị đem ra xử cùng ngày

Lê Thị Công Nhân không đi được Ba Lan, bị văn phòng luật sa thải và chuyển sang làm cho văn phòng của luật sư Nguyễn Văn Đài.
Một số ý kiến cho rằng giai đoạn nở hoa nho nhỏ của các nhầ bất đồng chính kiến ở Việt Nam trong năm 2006 phần nào là kết quả của chính sách "lỏng tay".
Trong giai đoạn chuẩn bị cho hội nghị thượng đỉnh APEC ở Hà Nội vào tháng Mười Một, họ hoạt động dễ dàng hơn.
Nhưng đầu năm 2007, khi Việt Nam đã được chính thức công nhận là thành viên của WTO, chính quyền bắt đầu chiến dịch mà Human Rights Watch mô tả là "thuộc loại tệ nhất trong 20 năm qua".
Khởi điểm của vụ bắt giữ hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân là các lớp huấn luyện về nhân quyền cho sinh viên ở Hà Nội.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/05/070504_dissident.shtml

________________




CÁC LUẬT SƯ NGUYỄN VĂN ĐÀI VÀ LÊ THỊ CÔNG NHÂN BỊ TRUY TỐ VỀ TỘI TUYÊN TRUYỀN CHỐNG NHÀ NƯỚC
Luật Sư NGUYỄN HỮU THỐNG


Theo bản cáo trạng, các Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân bị truy tố ra Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Hà Nội về tội tuyên truyền chống Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chiếu Điều 88 Khoản 1 Điểm (a) và (c) Hình Luật mà hình phạt có thể đến 12 năm tù.

Các Luật Sư bị trách cứ đã có những hành vi phỉ báng chính quyền và chống Nhà Nước bằng tuyên truyền xuyên tạc, và tàng trữ, phát hành các tài liệu có nội dung chống Nhà Nước CHXHCNVN.

Khoản 1 Điểm (b) kết án tội “dùng chiến tranh tâm lý để tuyên truyền gây hoang mang trong nhân dân”. Đây là một tội lỗi thời, tàn tích của thời chiến tranh lạnh. Người Cộng Sản thường lầm lẫn luật pháp với chính trị. Họ đã sáng chế ra những tội danh giả tạo phi pháp lý như phản động hay phản cách mạng, địa chủ hay cường hào ác bá v...v...Vì đối với họ,  chính trị là thống soái và luật pháp là công cu.ï Bộ Luật Hình Sự 1985 trong Lời Nói Đầu cũng xác nhận điều đó: “Trong hệ thống pháp luật của nước Cộng Hòa XHCNVN, luật hình sự là một công cụ sắc bén của Nhà Nước chuyên chính vô sản để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, đấu tranh góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội”.

Trong chiều hướng đó Quốc Hội đã ban hành những đạo luật hình sự  quy định những tội trạng bịa đặt giả tạo và cưỡng ép lố bịch với những yếu tố cấu thành tội trạng hết sức bao quát và mơ hồ,  như các tội tuyên truyền chống nhà nước, tuyên truyền chống chế độ, lợi dụng quyền tự do dân chủ, phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, phá hoại chính sách đoàn kết quốc tế, gián điệp, phản nghịch hay hoạt động nhằm lật đổ chính quyền v...v... Nếu Hình Luật Hoa Kỳ cũng quy định những tội bịa đặt giả tạo và cưỡng ép lố bịch tương tự như vậy, thì ngày nay rất nhiều ứng cử viên thuộc Đảng Dân Chủ đối lập sẽ có thể bị truy tố và kết án về các tội tuyên truyền chống Nhà Nước, phỉ báng chính phủ, phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, lợi dụng quyền tự do dân chủ, và đặc biệt là tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền vào tháng 11 tới đây.

Những yếu tố cấu thành tội (bịa đặt) “tuyên truyền chống nhà nước”, như tuyên truyền xuyên tạc, nói xấu hay phỉ báng chính quyền, lưu trữ phát hành các tài liệu chống chính phủ cũng có thể dùng để kết tội “phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia” của Điều 87 mà hình phạt có thể đến 15 năm tù. Vì các yếu tố tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền hay lưu trữ phát hành các tài liệu chống Nhà Nước cũng có thể được tòa án nhân dân coi là những hành vi cố ý gây chia rẽ giữa nhân dân và chính quyền, giữa các giáo dân và chính quyền, là những yếu tố cấu thành tội (giả tạo) “phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia”.
Từ thập niên 70, nhà cầm quyền Cộng Sản đã bắt giam tại các trại cải tạo những người đối kháng có những hành vi bị coi là tuyên truyền chống chế độ như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế hay Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt v...v.... Từ thập niên 1980, họ đã dùng tòa án để truy tố cũng về tội tuyên truyền chống chế độ (Điều 82 cũ), và đã kết án 3 người con của cố Luật Sư Trần Văn Tuyên là Trần Vọng Quốc, Trần Tử Thanh và Trần Tử Huyền, và tiếp theo là Luật Sư Đoàn Thanh Liêm.

Qua thập niên 1990, họ đã truy tố về tội (cưỡng ép), phản nghịch hay hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 73 cũ), và đã kết án  Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt, Giáo Sư Nguyễn Đình Huy v...v.... Cũng trong thời gian này, họ đã truy tố về tội (giả tạo) phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, và đã kết án Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Giáo Sư Hoàng Minh Chính v...v... Trước đó, năm 1983, Linh Mục Nguyễn Văn Lý cũng bị truy tố và kết án về tội này.

Từ năm 2000, họ đã truy tố về tội (cưỡng ép) gián điệp, và đã kết án Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn và Nguyễn Vũ Bình. Đồng thời họ cũng truy tố và kết án Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Trần Dũng Tiến, Nguyễn Đan Quế v...v... về tội (giả tạo) lợi dụng quyền tự do dân chủ.

Năm 2005, họ đã đệ đơn yêu cầu Tòa Án Thái Lan truyền dẫn độ Lý Tống về Việt Nam vì đã rải truyền đơn chống chính phủ tại Saigon, để trả lời về tội (bịa đặt) xâm phạm an ninh lãnh thổ quốc gia. Đầu tháng tư năm nay Tòa Phúc Thẩm Bangkok đã bác đơn xin dẫn độ của nhà cầm quyền Hà Nội.

Và ngày 30 tháng 3 vừa qua họ đã kết án Linh Mục Nguyễn Văn Lý về tội (giả tạo) tuyên truyền chống nhà nước. Năm 2002 Lê Chí Quang cũng bị truy tố và kết án về tội này.

Hiện nay, ngoài các Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, có thêm 4 luật sư khác cũng đang bị điều tra truy tố là các Luật Sư Lê Quốc Quân, Bùi Kim Thành, Nguyễn Thị Thùy Trang và Nguyễn Bắc Truyền. Trái với dư luận thông thường, đây không phải là một chiến dịch nhằm tước đoạt quyền biện hộ của luật sư trước tòa án. Vì tòa án nhân dân đâu có đếm xỉa đến những lời biện hộ của luật sư. Các luât sư có tính độc lập nên không ưa chuyên chính.  Họ sớm có ý thức nhân quyền, am hiểu Luật Quốc Tế Nhân Quyền nên thường tha thiết với công cuộc đấu tranh đòi Công Lý và Nhân Quyền.

Ngày nay, cũng như luật pháp, tòa án đã biến thành một công cụ của Đảng Cộng Sản với nhiệm vụ bạc bẽo là củng cố chính quyền và bảo vệ chế độ độc tài toàn trị của Đảng.

VỀ MẶT TỘI TRẠNG

Tuyên truyền chống chế độ hay tuyên truyền chống Nhà Nước là những tội giả tạo bịa đặt không tìm thấy trong bất cứ bộ hình luật nào của các quốc gia văn minh trên thế giới. Vì tuyên truyền chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng và tự do phát biểu quan điểm đã được luật pháp quốc gia và công pháp quốc tế thừa nhận. Từ giữa thế kỷ 19 khi Các Mác công bố bản Tuyên Ngôn Cộng Sản kêu gọi vô sản toàn thế giới đứng lên đấu tranh võ trang để lật đổ chế độ và nhà nước tư bản chủ nghĩa,  ông ta cũng không bị Tòa Án Luân Đôn truy tố về tội tuyên truyền chống chế độ tư bản. Và từ hơn một thế kỷ rưỡi nay, các quốc gia văn minh cũng không truy tố các môn đệ của Mác về tội này.

Từ thập niên 1990, với cuộc Cách Mạng Dân Chủ tại Đông Âu và Liên Xô, chế độ mệnh danh là xã hội chủ nghĩa đã bị vứt vào thùng rác lịch sử. Để củng cố chính quyền, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã giảo hoạt thay đổi tội danh, từ tuyên truyền chống chế độ (Điều 82 cũ) thành tuyên truyền chống nhà nước (Điều 88).

Chiếu Điều 15 Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị “không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế, luật pháp quốc tế là những nguyên tắc luật pháp tổng quát dược thừa nhận bởi cộng đồng các quốc gia”. (cụ thể là những nguyên tắc ghi chú trong Luật Quốc Tế Nhân Quyền do Liên Hiệp Quốc ban hành). Nguyên tắc này cũng đã được ghi trong Điều 11 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Việt Nam đã gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1977 nên có nghĩa vụ pháp lý phải tôn trọng và thực thi những điều khoản ghi trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Việt Nam đã ký kết tham gia Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị năm 1982, nên có nghĩa vụ pháp lý phải tôn trọng và thực thi những điều khoản ghi trong Công Ước này. Chiếu Điều 2 Công Ước, các quốc gia hội viên tham gia Công Ước này cam kết sẽ tôn trọng và bảo đảm thực thi những quyền tự do cơ bản đã được thừa nhận trong Công Ước cho tất cả mọi người sống trong lãnh thổ quốc gia. Trong trường hợp những quyền tự do ghi trong Công Ước này chưa được quy định thành văn trong luật pháp và hiến pháp quốc gia, các quốc gia hội viên ký kết hay tham gia Công Ước có nghĩa vụ phải ban hành các đạo luật bổ túc theo tinh thần và bản văn các điều khoản nhân quyền của Công Ước để các quyền này được thực sự thi hành. Trong trường hợp quốc gia hội viên kết ước không quy định những quyền này trong luật pháp hay hiến pháp thì những điều khoản về nhân quyền và về những quyền tự do cơ bản của người dân ghi trong Công Ước vẫn có hiệu lực chấp hành và phải được áp dụng trước các tòa án quốc gia và quốc tế.

Ngày nay Việt Nam đã quy định thành văn trong Hiến Pháp hầu hết các nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của người dân, như quyền tự do tôn giáo (Điều 70), quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 52), quyền bình đẳng cơ hội tham gia chính quyền (Điều 53), quyền tự do bầu cử và ứng cử (Điều 54), quyền tự do đi lại và cư trú (Điều 68), quyền tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tự do hội họp, tự do lập hội, quyền biểu tình (Điều 69), quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được luật pháp bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm (Điều 71), quyền được suy đoán là vô  tội (Điều 72), quyền riêng tư (Điều 73), quyền khiếu nại, khiếu tố các cơ quan chính quyền khi có sự lạm quyền phi pháp (Điều 74) v...v... Tuy nhiên quyền tự do tư tưởng không được quy định trong Hiến Pháp vì Đảng Cộng Sản đòi nắm giữ độc quyền tư tưởng, buộc toàn dân phải “theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh" (Điều 4). Điều này là một nghịch lý trong Hiến Pháp. 

Theo Điều 2 Hiến Pháp “Nhà Nước thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà Nước thuộc về nhân dân”. (Chứ không thuộc về một đảng độc tôn, độc quyền là Đảng Cộng Sản)
Theo Điều 3 Hiến Pháp “Nhà Nước bảo đảm quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, và nghiêm trị mọi hành động xâm phạm những (quyền và)ø lợi ích của nhân dân”. (dầu rằng kẻ thường xuyên xâm phạm chính là Đảng Cộng Sản)

Theo Điều 6 Hiến Pháp “nhân dân sử dụng quyền lực Nhà Nước thông qua Quốc Hội là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. (Do đó Quốc Hội không thể là sản phẩm và công cụ của Đảng Cộng Sản. Hơn nữa Quốc Hội của nhân dân phải sinh hoạt theo nguyên tắc dân chủ pháp trị chứ không thể theo “nguyên tắc dân chủ tập trung” phản dân chủ).

Theo Điều 11 Hiến Pháp “công dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cách tham gia công việc của Nhà Nước và xã hội”. (Muốn thế phải thiết lập chế độ dân chủ pháp trị để Dân được quyền làm chủ, lãnh đạo và quản lý Nhà Nước sau khi bãi bỏ chế độ độc tài toàn trị trong đó Đảng Cộng Sản độc quyền lãnh đạo Nhà Nước).

Theo Điều 52 Hiến Pháp “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.” (Do đó Đảng và Nhà Nước Cộng Sản không được kỳ thị về chính kiến, hay đối xử phân biệt với các chính đảng đối lập không cộng sản.)
Theo Điều 53 Hiến Pháp “công dân có quyền tham gia quản lý Nhà Nước” (bằng cách hành sử quyền đối kháng, quyền tham gia chính quyền và quyền tự do tuyển cử là những hình thức của quyền Dân Tộc Tự Quyết).

Theo Điều 54 Hiến Pháp “công dân được quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc Hội”. (Do đó Đảng và Nhà Nước Cộng Sản không thể tước đoạt quyền tự do ứng cử của người dân bằng những ngăn cản do hiệp thương của các tổ chức ngoại vi, hay do sự thanh lọc của địa phương. Và quyền ứng cử và bầu cử trong cuộc đầu phiếu phải có tính phổ thông (phổ cập) cho tất cả mọi công dân).

Những điều khoản Hiến Pháp nói trên tuyên dương quyền Dân Tộc Tự Quyết, quyền Đối Kháng, quyền Tham Gia Chính Quyền và quyền Tự Do Tuyển Cử của công dân. Vì Nhà Nước thuộc về nhân dân, nên chỉ có nhân dân mới có quyền lãnh đạo và quản lý nhà nước, Đảng Cộng Sản không thể tự ban cho mình những quyền này. Trong khi đó, Điều 4 Hiến Pháp dành độc quyền lãnh đạo Nhà Nước và xã hội cho Đảng Cộng Sản, nên đã tước đoạt của nhân dân quyền được bình đẳng cơ hội tham gia chính quyền với tư cách cá nhân hay với tư cách đảng viên của các chính đảng.

Vì những lý do nêu trên, Điều 4 Hiến Pháp  phải bị xóa bỏ vì  nó đi trái với tinh thần và bản văn của các Điều 2, 3, 6, 11, 52, 53, 54 Hiến Pháp, và đi trái với quyền Dân Tộc Tự Quyết. Quyền này đã được Luật Quốc Tế Nhân Quyền thừa nhận trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (các Điều 1 và 55), trong Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Phần Mở Đầu), trong các Công Ước về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị và về Những Quyền Kinh Te,á Xã Hội và Văn Hóa (Điều Thứ Nhất).

Về mặt quốc nội, Dân Tộc Tự Quyết là quyền của người dân được tự do lựa chọn chế độ chính trị của quốc gia (như Quân Chủ Lập Hiến, Cộng Hòa Dân Chủ hay Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa), và được quyền tự do ứng cử và tự do bầu lên các đại biểu của mình trong chính quyền để thực thi chế độ đó.
Về mặt quốc tế công pháp, các công ước quốc tế như Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị là những hiệp ước quốc tế đã được chính phủ ký kết và quốc hội phê chuẩn nên có giá trị pháp lý cao hơn luật pháp và hiến pháp quốc gia. Trong trường hợp có những điều khoản mâu thuẫn giữa Luật Pháp Quốc Gia và Công Ước Quốc Tế thì tòa án phải tham chiếu và áp dụng những điều khoản của Công Ước Quốc Tế.

Hơn nữa, chiếu Điều 5 Công Ước Dân Sự Chính Trị, tòa án không được giải thích xuyên tạc luật pháp quốc gia hay công ước quốc tế để cho phép chính phủ hay tòa án làm những hành vi hay tuyên những bản án nhằm phủ nhận và tước đoạt của người dân những quyền tự do cơ bản đã được luật pháp quốc gia và công ước quốc tế thừa nhận.

Điều 88 Hình Luật quy định tội tuyên truyền chống nhà nước với những yếu tố cấu thành tội trạng như tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền, tàng trữ và phát hành các tài liệu có nội dung chống Nhà Nước.

Như đã trình bày, tuyên truyền không phải là một tội hình sự dù là tuyên truyền chống chính phủ hay chồng Nhà Nước. Đây chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng, tự do phát biểu, quyền đối kháng và quyền thay thế chính quyền bằng tự do tuyển cử. Những quyền này đã được nhân loại văn minh đề xướng và tôn trọng từ thế kỷ 18:

Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp 1789 quan niệm “quyền tự do phát biểu là một quyền cao quý nhất của con người. Và mục đích của sự thành lập quốc gia là để bảo vệ cho người dân những quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm như quyền tự do, quyền tư hữu, quyền an ninh và quyền đối kháng bạo quyền”.

Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776 minh thị quy định: “Khi chính quyền vi phạm dân quyền, người dân có quyền đứng lên đối kháng lật đổ chính quyền để thay thế bằng một chính quyền mới thuận lợi cho việc bảo đảm an ninh và hạnh phúc của người dân”.

Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng thừa nhận quyền đối kháng và quyền thay thế chính quyền là những hình thức của quyền Dân Tộc Tự Quyết: “Điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ dân chủ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng phải đứng lên đối kháng chống áp bức và bạo quyền” (Lời Mở Đầu).

Ngày nay, trong những cuộc vận động tuyển cử, muốn hành sử quyền tham gia chính quyền, các ứng cử viên đối lập có quyền tự do phát biểu, tuyên truyền, phê bình, chỉ trích hay lên án chính sách của Nhà Nước. Và quốc dân sẽ là người trọng tài để phán xét xem những lời phê bình chỉ trích này có xác đáng không. Nếu không có sự trình bầøy xuyên tạc và có chứa đựng những sự thật chính trị và xã hội, cử tri có quyền quyết định thay thế chính quyền cũ bằng một chính quyền mới đủ khả năng và thiện chí để đáp ứng những nguyện vọng và nhu cầu của nhân dân trong giai đoạn mới.

Vì con người không phải là á thánh nên xã hội cần phải có chính quyền. Và vì nhà cầm quyền cũng không phải là á thánh nên luật pháp phải dành cho người dân quyền đối kháng để kiểm soát, chế tài và thay thế những chính quyền bất xứng. Nếu không có thông tin tuyên truyền, phê bình chỉ trích thì không thể có dân chủ. Nếu không được quyền thay thế hay lật đổ chính quyền bằng lá phiếu trong những cuộc tổng tuyển cử tự do và công bằng, thì đảng cầm quyền sẽ sa đọa thành độc tài, tham nhũng, bất công hay bất lực.

Như vậy, tuyên truyền chống chính phủ và lên án nhà nước độc tài tham nhũng, bất công hay bất lực là những hành vi chính trị cần thiết trong một chế độ dân chủ pháp trị. Những hành vi này không cấu thành tội hình sự. Tại các quốc gia dân chủ, luật pháp và tòa án không cấm phổ biến những tài liệu hay tác phẩm cổ võ lý thuyết cộng sản (chủ trương lật đổ chế độ tư bản để thiết lập chế độ độc tài vô sản). Tòa cho đó chỉ là việc hành sử quyền tự do phát biểu để truyền bá những lý thuyết chủ nghĩa về mặt trừu tượng (abstract doctrine). Chỉ khi nào hô hào lật đổ chính phủ bằng võ trang, tập hợp võ trang và khởi sự hành động võ trang gây nguy hiểm rõ rệt trước mắt cho an ninh quốc gia thì các đương sự mới bị truy tố ra tòa. Không phải về tội (giả tạo) tuyên truyền chống nhà nước, mà về tội phản nghịch. Tiêu chuẩn là phải có yếu tố nguy hiểm rõ rệt trước mắt thì tội trạng mới cấu thành. Nếu chỉ bằng lời nói hay bài viết để tuyên truyền, phê bình, chỉ trích hay lên án chính quyền,  thì chỉ là việc hành sử công khai, ôn hòa và hợp pháp quyền tự do phát biểu, tự do tư tưởng, và quyền đối kháng. Nếu những quyền này bị luật pháp ngăn cấm và chế tài thì không thể có xã hội dân chủ.

Theo luật pháp phổ thông người dân, với tư cách cá nhân hay hội viên của các hội đoàn dân sự hay chính trị, có quyền và có trách nhiệm truyền bá các kiến thức nhân quyền cho quảng đại quần chúng, đề xướng tranh thủ sự thực thi và bảo vệ nhân quyền và những quyền tự do cơ bản của người dân. Đồng thời, Nhà Nước có trách nhiệm tiên khởi và nghĩa vụ phải bảo vệ, đề xướng và thực thi nhân quyền và những quyền tự do cơ bản, bằng cách tạo các điều kiện và các cơ chế cần thiết về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và luật pháp để tất cả mọi người trong nước được thực sự hưởng dụng những quyền tự do này với tư cách cá nhân hay thành viên của các hội đoàn dân sự và chính trị. Mục đích để truyền bá, phổ biến những kiến thức nhân quyền cho tất cả mọi người, đặc biệt để góp phần loại trừ hữu hiệu các vi phạm về nhân quyền và về những quyền tự do cơ bản của người dân (Phần Mở Đầu và các Điều l và 2 Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc).

Do đó các Luật Sư có quyền tổ chức các khóa học tập và thảo luận về những vấn đề nhân quyền và vi phạm nhân quyền cũng như những vấn đề chung của đất nước cho các học sinh sinh viên (đặc biệt là các sinh viên Trường Cao Đẳng về truyền thông, phát thanh và truyền hình). Đồng thời truyền bá sự thật (lịch sử và xã hội) và truyền bá nhân quyền cho các cộng tác viên (ở đây là các nhân viên Văn Phòng Luật Sư). Những hành vi này không cấu thành tội hình sự.

Trong hiện vụ, để qui định tội trạng của các bị can, Tòa Án phải phân biệt những trường hợp theo trình tự như sau:

1. Tuyên truyền chính trị bằng lời nói về tư tưởng và ý thức hệ   (chống chế độ tư bản hay vô sản chuyên chính) chỉ là việc hành sử quyền    tự do tư tưởng và tự do phát biểu quan điểm, không cấu thành tội hình sự.

2.  Tuyên truyền chính trị bằng cách in ấn và phát hành các tài liệu sách báo cộng sản hay chống cộng sản cũng chỉ là việc phổ biến chủ nghĩa lý thuyết trừu tượng (abstract doctrine), không cấu thành tội hình sự.

3.  Tuyên truyền chính trị bằng cách kêu gọi những người khốn cùng  tập hợp võ trang đứng lên lật đổ  chế độ tư bản,  như Các Mác đã làm tại Luân Đôn hồi giữa Thế kỷ19, cũng không cấu thành tội hình sự.

4.   Rải truyền đơn kêu gọi kích động nói xấu chính quyền và hô hào dân chúng đứng lên lật đổ chính quyền cũng không cấu thành tội hình sự (phản nghịch) nếu không có tập hợp võ trang và không có khởi sự hành động võ trang. Vì những hô hào kích động này không có hậu quả gây nên sự Nguy Hiểm Rõ Rệt Trước Mắt cho an ninh quốc gia (Clear and Present Danger).

Tại các quốc gia dân chủ văn minh, tòa án độc lập không truy tố và kết án người dân về những tội tuyên truyền chính trị, dầu là tuyên truyền chống chính phủ, chống chế độ hay chống Nhà Nước.

Như vậy các Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân không thể bị kết án về tội (giả tạo) tuyên truyền chống Nhà Nước.

Luật Sư NGUYỄN HỮU THỐNG

(Ngày 5-5-2007)

http://www.canh-en.de/index.php?id=123&tx_mininews_pi1

___________________

Lê Thị Công Nhân có tội hay vô tội?


Ngày 06 tháng 3 năm 2007  Cơ quan an ninh điều tra, Công an Hà Nội đã khởi tố, bắt tạm giam thời hạn 4 tháng đối với Luật sư Lê Thị Công Nhân sinh năm 1979, trú tại phòng 48 A7 tập thể Văn phòng Chính phủ, Đống Đa, Hà Nội về tội “Tuyên truyền chống Nhà Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.

Lê Thị Công Nhân, phát ngôn nhân Đảng Thăng Tiến Việt Nam từ tháng 9 năm 2006. Từ đó cô đã nhiều lần bị A42 và sau đó là An ninh điều tra Công an Hà Nội triệu tập thẩm vấn nhiều lần ngay cả nhà riêng cũng bị khám xét, thậm chí có lúc cô còn bị giam lỏng ở nhà với lực lượng Công an chìm nổi từ Bộ cho đến khu vực ( đặc biệt trong thời kỳ diễn ra Hội nghị APEC ) trước khi bị bắt tam giam. Từ đó đến nay người nhà của cô chưa được phép gặp cô mà chỉ được tiếp tế đồ dùng cá nhân và ít thức ăn mua tại căng tin của Trại tạm giam số 1, Xuân Phương Cầu Diễn Hà Nội.

Gia đình luật sư LTCN đã mời một số luật sư theo nguyện vọng của luật sư LTCN nói với mẹ khi cô còn được gặp bà trước khi bị đưa đến trại tạm giam nhưng các vị này khéo léo từ chối vì đây là một vụ án phức tạp và “nhạy cảm”. Cuối cùng được sự giới thiệu của những nhà đấu tranh dân chủ từng bị cầm tù trước đây, Bà Trần Thị Lệ, mẹ luật sư LTCN đã mời  luật sư Trần Lâm là một luật sư đã từng bào chữa cho những vụ án chính trị trước đây. Luật sư Trần Lâm đã nhận lời và ông đã làm những thủ tục bước đầu để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận bào chữa nhưng đến nay vẫn chưa có phúc đáp từ phía cơ quan Nhà nước.

Từ khi Luật sư LTCN bị bắt đến nay, báo đài báo ảnh phát thanh truyền hình Việt Nam đã đưa tin về cô như cô là một tội phạm trong khi vụ án chưa đưa ra xét xử mặc dù điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “ Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.” Điều dễ hiểu là các cơ quan ngôn luận này đều nằm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản VN, đảng chính trị được quy định trong điều 4 Hiến pháp 92 là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Trong khi đó thông tin bên ngoài đặc biệt là ở Châu Âu, Châu Mỹ...người ta phản đối việc bắt giam này họ cho là chính quyền VN vi phạm nghiêm trọng về Nhân quyền mà chính họ đã ký kết tham gia từ năm 1982.

Vậy ta hãy thử xem luật sư LTCN tham gia Đảng Thăng Tiến Việt Nam với tư cách là Phát ngôn nhân và đã có hoạt đông tích cực cho đảng này là có tội hay không có tội chỉ với những quy định pháp luật do chính Nhà nước Việt Nam ban hành.

1.               Hiến pháp 1992 và Bộ Luật hình sự không có điều nào cấm một đảng chính trị được thành lập cũng như hoạt động tại VN. Người dân thì được phép làm những gì mà Pháp luật không cấm. Vậy việc thành lập một đảng chính trị khác không phải là việc làm sai pháp luật.

Dưới thời chủ tịch Hồ Chí Minh VN là một nước đa đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam không biết “Sống, học tập và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại” như thế nào mà bây giờ lại khẳng định ở VN chỉ có thể có duy nhất một đảng đó là đảng Cộng sản? Còn các đảng khác đều bị coi là bất hợp pháp, thành viên của các đảng khác bị bắt tù đày.

2.               Điều 88 nằm trong chương 11 thuộc phần “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia”. Quốc gia là một nước gồm 3 yếu tố: lãnh thổ, nhân dân và chủ quyền. Cương lĩnh Đảng Thăng tiến Việt Nam cũng như sau này là thành viên của Liên đảng Lạc Hồng đều xác định phương thức đấu tranh của họ là BẤT BẠO ĐỘNG không vũ trang, giữ gìn vẹn toàn lãnh thổ và nhân dân thực sự có nhân quyền, đất nước có chủ quyền. Ở đây họ chỉ đấu tranh cho một chế độ đa đảng, mà đa đảng không có nghĩa là triệt tiêu đảng Cộng sản, họ chỉ đối lập với đảng Cộng sản. Như vậy tham gia một đảng chính trị khác chắng có gì xâm phạm an ninh quốc gia. Chỉ có đảng Cộng sản sợ bị mất quyền lãnh đạo độc tôn của mình nên quy kết các đảng chính trị khác là xâm phạm an ninh quốc gia để triệt tiêu họ mà thôi.

3.                    Điểm a) khoản 1 điều 88 “Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân” thì cần phải khẳng định chính quyền ở đây là chính quyền do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Các thông tin qua mạng, khi trả lời phỏng vấn, những bài viết của Luật sư LTCN đều chỉ ra thực trạng của xã hội VN hiện nay, những tiêu cực, suy thoái cả về đạo đức, tham ô tham nhũng tràn lan mà báo chí cũng từng đề cập, ngay cả Trung ương đảng cũng phải phát động phong trào học tập đạo đức Hồ Chí Minh trong 4 năm(2007-2011). Đây không phải là tuyên truyền xuyên tạc mà là nói lên sự thật.

4.                    Điểm c) khoản 1 điều 88 “Làm ra, tàng trử, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Đảng chính trị nào cũng vậy họ cũng phải có tài liệu để hoạt động, mà họ đả đối lập với đảng Cộng sản đang là đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo Nhà nước nên bị quy vào tội chống phá Nhà Nước. Thật ra mục đích của họ chỉ muốn tạo dựng một Nhà nước tốt đẹp hơn.

5.                    Việc mở lớp dạy về dân chủ và nhân quyền ngày 03/02/2007 cho 3 sinh viên ở Hà Nam đã bị Cơ quan Công an chặn đứng khi chưa bắt đầu cho thấy là ở VN Nhà nước không muốn cho dân của họ hiểu biết về dân chủ và nhân quyền là những điều mà chính họ đã tham gia ký kết Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hiệp quốc năm 1982. Việc này cho thấy chính cơ quan Công an (đảng CS lãnh đạo) đã vi phạm quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận cũng như quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp vào của công dân.

6.               Báo chí những ngày gần đây trở lại đưa tin về việc hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, lần này có lẽ rút kinh nghiệm lần trước không còn bịa đặt trắng trợn nhằm nhục mạ bôi đen gây phản tác dụng làm cho độc giả không thể tin nổi, họ lại tìm cách tầm thường hóa những nhà đấu tranh dân chủ này. Họ cho đây chỉ là những người “bán nước cầu vinh”, chỉ là tay sai làm thuê cho kẻ địch bên ngoài. Họ nêu lên những món tiền mà NVĐ nhận (khoảng 80 nghìn USD) rồi gán cho những nhà đấu tranh cho dân chủ này chỉ vì ham tiền chứ chẳng có lý tưởng gì. Có thể nói không ai chỉ vì đồng tiền mà đổi cả sự tự do, cả cuộc đời của mình khi biết sự chuyên chính của chính quyền đang bị đảng Cộng sản này lãnh đạo là như thế nào.Còn việc hỗ trợ về mặt vật chất ở trong nước hay ơ nước ngoài để một đảng phải chính trị có thể hoạt động được tốt thì ở đâu trên thế giới này cũng có. Ngay cả đảng Cộng sản ngày trước còn có tên là đảng Lao động Việt Nam cũng vậy thôi.

7.               Nghe nói họ còn đề nghị thêm cho hai luật sư này tội danh “gián điệp”!!! Bản thân sự suy thoái về mọi mặt của Nhà Nước do đảng Cộng sản lãnh đạo này đã phá hoại chính cái Nhà nước của nó. Nó làm cho nhân dân mất lòng tin. Còn việc gọi là “cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài...” thì chỉ có vị nào trong TƯ đảng may ra thì mới biết, có lộ ra là do các vị ấy đưa ra thôi, còn hai luật sư phó thường dân này làm sao mà biết được “bí mật Nhà nước” này. Còn việc ”thu thập tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống NNCHXHCNVN” thì thử hỏi nếu NNCHXHCNVN thực sự tốt đẹp thì không ai có thể chống được.

8.                    Vợ luật sư Nguyễn Văn Đài và mẹ luật sư Lê Thị Công Nhân cũng bị quy là  có dấu hiệu phạm vào “Tội che dấu tội phạm”. Sao họ không nhớ điều 9 luật Tố tụng hình sự. Hiện nay hai luật sư này đã được xét xử đâu mà còn phải qua nhiều giai đoạn tố tụng mới có thể định họ là tội phạm hay không thế mà đã vội cho hai người thân này có dấu hiệu trên được sao?. Hơn nữa hai luật sư này hoạt động chính trị công khai, đặc biệt Đảng Thăng Tiến VN là một đảng công khai, Công Nhân đã quá tuổi vị thành niên cô đương nhiên chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình. Không thể quy những người thân họ vào tội này được. Hoạt động chính trị của họ là công khai thì người thân của họ che dấu để làm gi?

Như vậy, luật sư Lê Thị Công Nhân vô tội, cô chỉ là một người yêu nước, yêu nước vô cùng mới có thể hy sinh cả tuổi trẻ và tự do của mình để tham gia hoạt động chính trị và cô cũng biết trước là không khỏi bị tù đày. Và ở một đất nước mà tù chính trị bị cố tình xem như là thường phạm thì thử hỏi người dân còn có thể dám nói lên chính kiến của mình chăng?


Hà Nội,  ngày 21 tháng 4 năm 2007

Luật sư N. T. V. M.
Đăng nhập để trả lời
0