📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tin Việt Nam

Mẹ và Anh ruột Bác sĩ Lê Nguyên Sang trả lời phỏng vấn RFA sau phiên tòa

0 trả lời, 168 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-11 19:39:27Ngọc Lý>
.

Mẹ và Anh ruột Bác sĩ Lê Nguyên Sang trả lời phỏng vấn RFA sau phiên tòa
2007.05.10
Việt Hùng, phóng viên đài RFA

 
Vào sáng ngày hôm nay thứ Năm mùng 10 tháng 5 Toà án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã kết án ba thành viên đảng Dân chủ Nhân dân là Bác sĩ Lê Nguyên Sang, Ký giả Huỳnh Nguyên Đạo và Luật sư Nguyễn Bắc Truyển, vi phạm điều 88 Bộ luật hình sự “tuyên truyền chống phá nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.

Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này
Tải xuống để nghe



    [/align]
    Bác sĩ Lê Nguyên Sang. file photo




    [/align]Ngay sau phiên toà, bà Nguyễn Thị Giàu, thân mẫu của Bác sĩ Lê Nguyên Sang đã nói với Việt Hùng của đài chúng tôi nguyên do nào mà con trai bà chọn con đường dấn thân.

    Bà Nguyễn Thị Giàu: Tôi cũng bức xúc từ quá lâu, con trai tô cũng bức xúc từ năm 1994–1997 con tôi không có chỗ ở, đi lang thang, không có hộ khẩu vì gia đình tôi bị cưỡng chế nhà, con tôi bị cắt hộ khẩu, họ cưỡng chế đuổi con tôi đi nên nó rất bức xúc, tôi cũng rất bức xúc…
    Tôi cũng làm đơn đưa đi khắp nơi nhưng cũng chẳng nơi nào giải quyết cho gia đình tôi, tôi cũng chẳng biết trông mong vào đâu, đưa đơn đi hết phường, quận… nhiều năm rồi mà chẳng nơi nào giải quyết cho gia đình tôi, chúng tôi rất bức xúc.
    Tôi năm nay tuổi già sức yếu, tôi đã ngoài 70 tuổi, tai một bên điếc, mắt thì mờ không thấy đường, chân thì đau… nhà thì không có. Mỗi tháng đi tiếp tế cho con tôi hai lần, cũng chẳng biết nương nhờ vào ai.
    Việt Hùng: Chúng tôi xin được chia sẻ nghịch cảnh mà gia đình bà đang phải gánh chịu. Thưa bà Nguyễn Thị Giàu, sáng nay khi Toà tuyên đọc bản án phản ứng của con trai bà như thế nào?
    Bà Nguyễn Thị Giàu: Nó có nói chi đâu, tôi muốn gặp để ôm con tôi nhưng họ đâu có cho tiếp xúc. Tôi chỉ được nhìn thấy cháu thôi, tôi cũng buồn lắm…
    Việt Hùng: Bà có nghĩ con trai bà phạm vào điều 88 tội tuyên truyền chống Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa hay không?
    Bà Nguyễn Thị Giàu: Tôi cũng nói thiệt tôi dân quê mùa… nên cũng không hiểu mọi chuyện đâu. Con tôi từ năm 1994 (khi gia đình bị cưỡng chế) bị mất quyền công dân, đi lang thang sống chỗ này chỗ kia, hai mẹ con sống đùm bọc lẫn nhau. Kể từ ngày con tôi bị bắt đã 9 tháng nay không ai lo cho tôi…
    Chuyện của nó làm tôi không biết, tôi có nói với họ chuyện đó nó tự ý làm chứ tôi không biết.
    Việt Hùng: Khi toà tuyên đọc bản án xong họ có cho con trai bà nói điều gì hay không?
    Bà Nguyễn Thị Giàu: Tại phiên toà không có ai bào chữa cho con trai tôi. Kể từ lúc bị bắt tôi không được gặp mặt con tôi, tôi đã nhiều lần đưa đơn nhưng không được gặp, mới gặp hồi sáng nay.
    Việt Hùng: Sau phiên toà họ có cho bà và gia đình có những giây phút nào được nói chuyện với con bà không?
    Bà Nguyễn Thị Giàu: Dạ không, khi xong là họ đẩy con tôi ra ngoài lên xe ngay, tôi cố nắm tay con tôi nhưng họ đẩy ra không cho tôi nói một lời nào.
    Giờ thì tôi cũng muốn nói mà không biết nói với ai đây? Họ kêu án con tôi 5 năm và giờ tôi cũng chẳng biết nhờ ai, tôi giờ tuổi gia sức yếu, bệnh, không biết nhờ cậy đâu để tôi gặp lại con tôi đây…
    Việt Hùng: Vì quá xúc động nên bà Nguyễn Thị Giàu, thân mẫu của bác sĩ Lê Nguyên Sang không thể tiếp tục câu chuyện, chúng tôi đã hỏi chuyện em trai bác sĩ Sang là ông Lê Nguyên Thành và được ông tiếp tục trình bày.
    Ông Lê Nguyên Thành: Thì tất cả ba người gồm anh trai tôi, cũng như anh Nguyễn Bắc Truyển và Huỳnh Nguyên Đạo bên Viện Kiểm Sát họ nói anh tôi là người hoạch định chiến lược của đảng Dân chủ Nhân dân nhưng anh tôi yêu cầu được đối chất với bên Viện Kiểm Sát.
    Việt Hùng: Nhưng toà họ có anh trai ông tự bào chữa hay không?
    Ông Lê Nguyên Thành: Khoảng thời gian để được lên nói rất ngắn, anh trai tôi có nói là đã rải truyền đơn, đòi xóa, gạch chéo số 4, điều 4. Anh trai tôi có nói nội dung trong tờ truyền đơn là đòi thả tù nhân chính trị, chống tham nhũng và vấn đề cục bộ… chứ không có vấn đề tuyên truyền. Anh có nói anh ấy rải 1600 tờ truyền đơn.
    Việt Hùng: Phiên toà hôm nay họ cho phép gia đình tới tham dự, có sự hiện diện của phóng viên báo chí quốc tế hay không thưa ông?
    Ông Lê Nguyên Thành: Theo tôi thấy, trước tôi có một người nước ngoài vô nhưng họ không cho vô, chỉ có gia đình thân nhân của ba bị cáo thôi, trong phiên toà thấy có phóng viên báo chí trong nước chụp hình… còn người nước ngoài thì tôi không thấy ai hết.
    Việt Hùng: Sau khi toà tuyên đọc bản án anh trai ông và những người bạn đồng chí hướng của anh trai ông không phát biểu hay không được phát biểu?
    Ông Lê Nguyên Thành: Khi kết thúc phiên toà, đọc xong bản án là dừng phiên toà và họ dẫn ba bị cáo đi ra cửa khác, thân nhân đi cửa khác và khi ra đến xe thì mới gặp được một lát thôi.
    Việt Hùng: Thay mặt quí thính giả của đài chúng tôi xin được cám ơn ông Lê Nguyên Thành.



    [/align]







    Điều 88 Luật Hình sự Việt Nam có phù hợp với Hiến pháp hay không?
    2007.05.02
    Lê Dân, phóng viên đài RFA
     
    Gần đây và sắp tới, có những vụ án mà công dân Việt Nam bị xét xử chiếu theo điều 88 của Luật Hình sự, quy định về tội tuyên truyền chống phá Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa.

    Bấm vào đây để nghe cuộc trao đổi này
    Tải xuống để nghe



    [/align]Do tính chất quan trọng của công cụ mà Nhà nước Việt Nam sử dụng để tước quyền công dân và sự tự do của một số người, chúng tôi tìm hiểu thêm về tính hữu lý của điều khoản này qua cuộc trao đổi với chuyên gia pháp luật Lê Đình Thông, hiện đang giảng dạy luật tại đại học Paris-Nanterre bên Pháp.

    Bài do Lê Dân thực hiện. Và chúng tôi xin nói thêm là nhận định của giáo sư không nhất thiết phản ảnh quan điểm của đài Á châu Tự do.

    Mâu thuẫn với Điều 53 của Hiến pháp

    Lê Dân: Thưa giáo sư, gần đây có những vụ án mà bị cáo là những người mạnh dạn nêu lên, nói ra, những điều không phù hợp với những gì Nhà nước muốn người dân biết. Điển hình như vụ linh mục Nguyễn văn Lý, và sắp tới là phiên xử các luật sư Nguyễn văn Đài, Lê thị Công Nhân, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy.....


    Công cụ của Nhà nước viện dẫn để kết án những người từng được quốc tế ca ngợi là dũng cảm đó, là điều 88 trong Luật Hình sự Việt Nam. Theo giáo sư, nếu xét theo những tiêu chí, quy phạm pháp luật của nhiều nước trên thế giới thì điều 88 đó có hữu lý và minh bạch không?


    Gs Lê Đình Thông: Điều 88 không hợp lý. Bởi vì theo quy định của nó thì những ai phát tán thông tin chỉ trích chính quyền, phổ biến những thông tin xuyên tạc làm hoang mang dư luận, hoặc là làm ra hoặc tán phát những tài liệu có nội dung chống lại Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa thì đều bị phạt tù.

    Bởi vậy tôi mới nói điều 88 ví như đôi còng số 8, nó đi ngược lại với điều 53 của Hiến pháp Việt Nam, cho phép người dân được quyền phát biểu về những vấn đề chung của đất nước. Mặt khác, điều 69 của Hiến pháp còn cởi trói xích xiềng, cho phép người dân được quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, rồi tự do hội họp, lập hội, biểu tình.

    Điều 146 của Hiến pháp Việt Nam quy định rõ ràng là các văn bản lập pháp, như trường hợp luật Hình sự Việt Nam và các văn bản lập quy đều phải phù hợp với Hiến pháp. Vậy mà, tôi xin nhấn mạnh là, điều 88 của luật Hình sự rõ ràng là trái ngược với điều 146 của Hiến pháp.

    Tôi xin nói thêm, Hiến pháp trong bất cứ một quốc gia nào, cũng là luật tối thượng. Tôi xin nói thêm, là Việt Nam cũng đã phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị đã được Liên Hiệp Quốc chấp nhận vào năm 1966, có hiệu lực từ năm 1976 và đã được 144 nước trên thế giới phê chuẩn. Tôi xin nhấn mạnh là trong danh sách các nước phê chuẩn có nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Điều 2 khoản 3 của Công ước đã quy định những nước đã tham gia, như trường hợp Việt Nam, phải bảo đảm cho những ai bị phạt tù chỉ vì họ hành xử những quyền tự do được hiệp ước công nhận, thì những người đó có quyền kiện ngược lại chính quyền.

    Nói một cách cụ thể, thì theo Công ước Quốc tế về Những quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam đã phê chuẩn, thì Việt Nam có nghĩa vụ phải tuân thủ hiệp ước này, thì linh mục Nguyễn văn Lý có quyền khởi tố để phản đối những bản án của Tòa án Nhân dân Thừa Thiên-Huế. Điều 88 còn hòan toàn trái ngược với điều 69 của Hiến pháp Việt Nam....

    Công cụ để ‘bịt miệng’ dân chúng

    Lê Dân: Thưa giáo sư Lê Đình Thông, trên thế giới có những nước nào khi ban hành luật, họ chỉ quy định chung chung, mơ hồ, để rồi sau đó nhà cầm quyền ban hành thông tư, nghị định hướng dẫn thi hành luật tùy theo nhu cầu của họ tùy theo từng thời điểm hay không?


    Gs Lê Đình Thông: Xét về kỹ thuật pháp lý thì những quy định pháp luật về một tội danh cần có một văn bản áp dụng, quy định rõ những yếu tố cấu thành tội trạng, tiếng Pháp gọi là éléments constitutiques.

    Tại những nước tự do, dân chủ, đã phê chuẩn hiệp ước về những quyền dân sự và chính trị, thì việc quy định đó rất là quan trọng, nên cần phải có những yếu tố cụ thể để việc xét xử được công minh.

    Cũng tại các nước tự do, dân chủ, tôi xin nói rõ là tội tán phát thông tin sai lạc, được coi là tội phạm tài chính, trừng phạt những người biết trước các thông tin liên quan đến chứng khoán để thủ lợi cho mình, thuật từ pháp luật gọi là délis bénéfíes.

    Còn tại Việt Nam, nhà nước dùng tội tán phát thông tin để bịt miệng những người bất đồng chính kiến. Nhà nước hành động như vậy là đã đi ngược lại sự tiến hóa của lịch sử...

    Lê Dân: Thưa giáo sư, chúng tôi xin hỏi là tại nước Pháp, nơi ông sinh sống và giảng dạy luật, có điều luật nào tương tự như điều 88 luật Hình sự Việt Nam hay không?


    Gs Lê Đình Thông: Nếu điều 88 được áp dụng trên nước Pháp thì không phải chỉ có 1 linh mục Nguyễn văn Lý vào tù, mà sẽ có tới 99,06% người Pháp sẽ phải vào tù tội chỉ vì họ dám nói lên sự thật....

    Luật hình sự đi ngựơc với Hiến pháp

    Lê Dân: Con số 99,06% mà giáo sư vừa nhắc tới có phải là số cử tri Pháp trong kỳ bầu cử vừa qua đã không bỏ phiếu nào cho các ứng viên của đảng Cộng sản phải không ? Quay lại Việt Nam, giáo sư đã nói rằng điều 88 của luật Hình sự đi ngược lại tinh thần một số điều trong Hiến pháp, cụ thể ra sao?


    Gs Lê Đình Thông: Tôi xin phân tích điều 88 với các quy định khác trong luật Việt Nam. Điều 126 của Hiến pháp Việt Nam đã quy định là các Tòa án Nhân dân, viện Kiểm sát Nhân dân... có nhiệm vụ bảo vệ đời sống tự do, bảo vệ danh dự và nhân phẩm của người dân. Bản án linh mục Nguyễn văn Lý và những vụ án sắp được xét xử chứng tỏ là hệ thống tư pháp Việt Nam đã không thực hiện đúng những nhiệm vụ vừa kể.

    Lê Dân: Vậy thì theo tiêu chuẩn quốc tế, các bản án loại đó có hiệu lực pháp lý, có công bằng và minh bạch cho những cá nhân bị cáo buộc hay không, thưa Giáo sư?

    Gs Lê Đình Thông: Muốn làm sáng tỏ chỉ có cách là đối thoại, chúng ta đều biết như vậy.Phải tôn trọng hai nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự được điều 14 của hiệp ước quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị công nhận.

    Hai nguyên tắc đó là công bình và công khai. Tòa án nhân dân đã không tôn trọng nguyên tắc hỏi đáp, oralité, trong xét xử.

    Bởi vì khi công an bịt miệng linh mục Lý, khi chứng kiến, các thẩm phán xét xử vẫn giữ thái độ yên lặng, không có một ý kiến nào, chứng tỏ rằng tòa án Nhân dân Thừa Thiên đã không tôn trọng điều 126 và những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự. Vì vậy bản án của linh mục Lý hoàn toàn vô hiệu, nullité.

    Lê Dân: Xin cám ơn giáo sư Luật Lê Đình Thông của đại học Paris-Naterre, Pháp quốc. Chúng tôi xin thỉnh ý giáo sư thêm về những việc khác vào dịp thuận lợi.


    © 2007 Radio Free Asia


    [/align][/align]





    Các tin, bài liên quan

    __________________

    TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN (1948)

    LỜI MỞ ĐẦU
     
    Xét rằng việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới,
     
    Xét rằng việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đă đưa tới những hành động dă man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, được giải thoát khỏi sự sợ hăi và khốn cùng, được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của con người,
     
    Xét rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền,

    Xét rằng điều cốt yếu là phải phát triển những tương quan hữu nghị giữa các quốc gia,
     
    Xét rằng, trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các dân tộc đă tái xác nhận niềm tin vào những nhân quyền căn bản, vào phẩm cách và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, cùng quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xă hội và nâng cao mức sống trong một môi trường tự do hơn,
     
    Xét rằng các quốc gia hội viên đă cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc để phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản,
     
    Xét rằng một quan niệm chung về tự do và nhân quyền là điều tối quan trọng để thực hiện trọn vẹn cam kết ấy.



    Vì vậy,
     
    ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC
     

    Công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xă hội luôn nhớ tới bản tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc gia hội viên hay thuộc các lănh thỗ bị giám hộ.
     
    Điều 1:
    Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái.
     
    Điều 2:
    Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xă hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác.
     
    Ngoài ra không được phân biệt về quy chế chính trị, pháp lý hay quốc tế của quốc gia hay lănh thổ mà người đó trực thuộc, dù là nước độc lập, bị giám hộ, mất chủ quyền hay bị hạn chế chủ quyền.
     
    Điều 3:
    Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể.
     
    Điều 4:
    Không ai có thể bị bắt làm nô lệ hay nô dịch; chế độ nô lệ và sự mua bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm chỉ.

    Điều 5:
    Không ai có thể bị tra tấn hay bị những hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm.
     
    Điều 6:
    Ai cũng có quyền được công nhận là con người trước pháp luật bất cứ tại đâu.
     
    Điều 7:
    Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này.
     
    Điều 8:
    Ai cũng có quyền yêu cầu tòa án quốc gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản được hiến pháp và luật pháp thừa nhận.
     
    Điều 9:
    Không ai có thể bị bắt giữ, giam cầm hay lưu đầy một cách độc đoán.
     
    Điều 10:
    Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một toà án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghiă vụ của ḿnh, hay về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc.
     
    Điều 11:

    1. Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ.
    2. Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đă làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành; mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp.



    Điều 12:
    Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy. 
     
    Điều 13:

    1. Ai cũng có quyền tự do đi lại và cư trú trong quản hạt quốc gia.
    2. Ai cũng có quyền rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả quốc gia của ḿnh, và có quyền hồi hương.


    Điều 14:

    1. Khi bị đàn áp, ai cũng có quyền tìm nơi tị nạn và được hưởng quyền tị nạn tại các quốc gia khác.
    2. Quyền này không được viện dẫn trong trường hợp sự truy tố thực sự chỉ căn cứ vào những tội trạng không có tính cách chính trị hay vào những hành động trái với mục đích và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.


    Điều 15:

    1. Ai cũng có quyền có quốc tịch.
    2. Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán.


    Điều 16:

    1. Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đ́nh mà không bị ngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền b́nh đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú cũng như khi ly hôn.
    2. Hôn thú chỉ có giá trị nếu có sự thuận tính hoàn toàn tự do của những người kết hôn.
    3. Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xă hội, và phải được xă hội và quốc gia bảo vệ.


    Điều 17:

    1. Ai cũng có quyền sở hữu, hoặc riêng tư hoặc hùn hiệp với người khác.
    2. Không ai có thể bị tước đoạt tài sản một cách độc đoán.


    Điều 18:
    Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng ḿnh hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.

    Điều 19:
    Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vào  những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.

    Điều 20:

    1. Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hoà bình.
    2. Không ai bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn.


    Điều 21:

    1. Ai cũng có quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình, hoặc trực tiếp hoặc qua các đại biểu do ḿnh tự do lựa chọn.
    2. Ai cũng có quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.
    3. Ýnguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia; ý nguyện này phải được biểu lộ qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương thức phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự.


    4. Điều 22:
      Với tư cách là một thành viên của xă hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xă hội, cũng như có quyền đ̣i được hưởng những quyền kinh tế, xă hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của ḿnh, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia.

      Điều 23:

      1. Ai cũng có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp.
      2. Cùng làm việc ngang nhau, mọi người được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử.
      3. Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đ́nh một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xă hội khác.
      4. Ai cũng có quyền thành lập nghiệp đoàn hay gia nhập nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của ḿnh.


      Điều 24:
      Ai cũng có quyền nghỉ ngơi và giải trí, được hưởng sự hạn định hợp lư số giờ làm việc và những ngày nghĩ định kỳ có trả lương.

      Điều 25:

      1. Ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đ́nh kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch vụ cần thiết; ai cũng có quyền được hưởng an sinh xă hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ư muốn.
      2. Sản phụ và trẻ em được đặc biệt săn sóc và giúp đỡ. Tất cả các con, dầu là chính thức hay ngoại hôn, đều được hưởng bảo trợ xă hội như nhau.


      Điều 26:

      1. Ai cũng có quyền được hưởng giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí ít nhất ở cấp sơ đẳng và căn bản. Giáo dục sơ đẳng có tính cách cưỡng bách. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được phổ cập. Giáo dục cao đẳng phải được phổ cập cho mọi sinh viên trên căn bản b́nh đẳng, lấy thành tích làm tiêu chuẩn.
      2. Giáo dục phải nhằm phát huy đầy đủ nhân cách, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản; phải đề cao sự thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các quốc gia, các cộng đồng sắc tộc hay tôn giáo, đồng thời yểm trợ những hoạt động của Liên Hiệp Quốc trong việc duy tŕ hoà b́nh.
      3. Cha mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn giáo dục cho các con.


      Điều 27:

      1. Ai cũng có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng ngoạn nghệ thuật, được hưởng các tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ ấy.
      2. Ai cũng được bảo vệ bởi những quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ những sản phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật của ḿnh.


      Điều 28:
      Ai cũng có quyền được hưởng một trật tự xă hội và trật tự quốc tế trong đó những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này có thể được thực hiện đầy đủ.

      Điều 29:

      1. Ai cũng có nghiă vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của ḿnh có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ.
      2. Trong khi hành xử những quyền tự do của ḿnh, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngơ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đ̣i hỏi chính đáng về đạo lư, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xă hội dân chủ cũng được thỏa măn.
      3. Trong mọi trường hợp, những quyền tự do này không thể hành xử trái với những mục tiêu và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.



      Điều 30:
      Không một điều khoản nào trong Tuyên Ngôn này có thể giải thích để cho phép một quốc gia, một đoàn thể, hay một cá nhân nào được quyền hoạt động hay làm những hành vi nhằm tiêu hủy những quyền tự do liệt kê trong Tuyên Ngôn này.



      (Phỏng theo bản dịch của Trung Tâm Việt Nam Về Nhân Quyền
      với sự tu chính của Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Nhân Quyền.)
       
      Về đầu bài
        [Tiếng Anh]

      Lời giới thiệu
      Lời nói đầu
      Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền
      Quyền Dân Sự, và Chính Trị
      Quyền Kinh Tế, Xă Hội, và Văn Hóa
      Phần Diễn Giải
      Nhân Quyền Bậc 1
      Nhân Quyền Bậc 2
         Quyền An Cư
         Quyền Lạc Nghiệp
      Nhân Quyền Bậc 3
      Phụ Đính 1








      Lấy toàn bài: [Microsoft Word 277Kb] [Zipped MS DOC 45Kb]
      Lời giới thiệu: [Microsoft Word 29Kb] [Zipped MS DOC 6Kb]
      Lời nói đầu: [Microsoft Word 32Kb] [Zipped MS DOC 7Kb]
      Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, phần mở đầu: [Microsoft Word 52Kb] [Zipped MS DOC 10Kb]
      Công Ước Quốc Tế về những Quyền Dân Sự, và Chính Trị: [Microsoft Word 84Kb] [Zipped MS DOC 14Kb]
      Công Ước Quốc Tế về những Quyền Kinh Tế, Xă Hội, và Văn Hóa: [Microsoft Word 54Kb] [Zipped MS DOC 10Kb]
      Phần Diễn Giải: [Microsoft Word 31Kb] [Zipped MS DOC 6Kb]
      Nhân Quyền Bậc 1: [Microsoft Word 37Kb] [Zipped MS DOC 8Kb]
      Nhân Quyền Bậc 2: [Microsoft Word 24Kb] [Zipped MS DOC 5Kb]
      Quyền An Cư: [Microsoft Word 34Kb] [Zipped MS DOC 8Kb]
      Quyền Lạc Nghiệp: [Microsoft Word 40Kb] [Zipped MS DOC 9Kb]
      Nhân Quyền Bậc 3: [Microsoft Word 37Kb] [Zipped MS DOC 8Kb]
      Phụ Đính 1: các điều khoản nhân quyền trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc: [Microsoft Word 26Kb] [Zipped MS DOC 5Kb]







      http://www.vietnamhumanrights.net/viet/vintbill/phanmodau.htm
      http://www.vietnamhumanrights.net/index.html
      Đăng nhập để trả lời
      0