<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-11 20:10:20Ngọc Lý>
.
Hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê thị Công Nhân bị tuyên án tù 2007.05.11
Gia Minh, phóng viên đài RFA
Toà án Nhân dân thành phố Hà Nội, hôm nay tiến hành phiên xét xử hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê thị Công Nhân về tội danh tuyên truyền chống nhà nước Cộng hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, theo điều 88 Bộ luật Hình sự. Gia Minh trình bày những thông tin liên quan phiên xử vào sáng này hôm nay.
Bấm vào đây để nghe bài tường trình này
Tải xuống để nghe
[/align]
Nữ luật sư Lê Thị Công Nhân
tại phiên toà xét xử hôm 11-5-2007.
AFP PHOTO
[/align]Sau hơn hai tháng bị bắt giam, hôm nay luật sư Nguyễn Văn Đài và Luật sư Lê Thị Công Nhân xuất hiện chính thức trước trước toà để nghe tuyên án về các họat động của họ lâu nay.
Những cáo buộc mà phía công tố và toà nêu ra không có điểm gì khác so với những điều mà các cơ quan truyền thông trong nước loan tải lâu nay về những họat động của luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân. Họ bị truy tố với tội danh tuyên truyền chống nhà nước Cộng hoà XHCN VN.
Sau gần bốn tiếng làm việc trong đó có việc công tố hỏi hai bị cáo, một số nhân chứng phát biểu, và luật sư biện hộ, chánh án phiên xử là ông Nguyễn Hữu Chính tuyên đọc bản án với hình phạt năm năm tù và bốn năm quản chế dành cho luật sư Nguyễn Văn Đài, còn luật sư Lê thị Công Nhân là bốn năm tù và ba năm quản chế.
Luật sư Trần Lâm, người nhận biện hộ cho hai bị can, sau khi phiên xử kết thúc đưa ra nhận định về bản án vừa tuyên cho hai thân chủ của ông:
“Nói về mặt luật là nặng nhưng nói về chính trị là không nặng. Vụ này họ nhìn về mặt chính trị; tôi có cãi về mặt luật pháp nhưng họ không chịu. Nhìn về mặt chính trị thì có nguy hiểm thật; nhưng về luật pháp thì chưa đến mức như vậy. Trong phiên xử đấu tranh giữa hai quan điểm đó.”
Bản thân hai bị can trong quá trình xử án khi được hỏi đều cho rằng họat động của họ không phải là tội, không vi phạm luật pháp của Việt Nam mà chỉ hành xử các quyền tự do phát biểu và lập hội mà thôi. Trước khi phiên xử kết thúc, luật sư Lê Thị Công Nhân, phát biểu phản đối phiên toà, cho rằng không chính đáng.
Báo giới trong và ngoài nước cùng một số nhà ngọai giao phương Tây được theo dõi phiên toà qua màn ảnh truyền hình từ một phòng khác.
Hai thân nhân được cho vào dự phiên toà là bà Trần Thị Lệ, mẹ của luật sư Lê Thị Công Nhân và bà Vũ Minh Khánh, vợ của luật sư Nguyễn Văn Đài; dù rằng họ không có giấy mời của toà trước đó. Ngoài ra không thân nhân nào khác được vào như trường hợp của em gái luật sư Lê Thị Công Nhân là cô Lê Thị Minh Tâm, đã bị công an bắt đưa về cơ quan công an phường Trần Hưng Đạo, cô cho biết:
“Em đến những họ không cho vào. Em trình bày là luật sư Trần Lâm bảo là thân nhân xuất trình chứng minh thư chứng minh là người thân thì được vào. Nhưng khi em đến thì họ không cho vào. Giằng co một lúc thì họ kêu công an và dân quân đến lôi đi và cho xe đển chở đến chổ này ( Đồn công an Phường Trần Hưng Đạo).”
Còn một người em của luật sư Nguyễn Văn Đài được mời làm nhân chứng tại toà và người này cho biết:
“Tôi được mời làm nhân chứng, và ngồi tại phòng bên cạnh không có màn hình. Tôi được gọi làm chứng nhưng không được hỏi. Có một số nhân chứng là học sinh.”
Lật sư Nguyễn Văn Đài
tại phiên toà xét xử hôm 11-5-2007.
AFP PHOTO
[/align]Phiên xử hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê thị Công Nhân được mô tả là một phiên xử được giữ gìn an ninh khá chặt chẽ.
Trong khi phiên xử diễn ra thì nhà của một số nhân vật bất đồng chính kiến đang sinh sống ở Hà Nội cũng bị theo dõi như lời kể của ông Nguyễn Khắc Toàn:
“Từ chiều qua tất cả tư gia của những nhà tranh đấu dân chủ đều có chốt gác. Hiện nhà tôi cũng có chừng 8 công an vừa mặc thường phục và sắc phục ngồi ở quán đối diện.”
Ngay sau khi bản án được tuyên thì phản ứng của những nhà ngọai giao phuơng Tây ở Việt Nam là kêu gọi nhà cầm quyền Hà Nội trả tự do cho hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê thị Công Nhân. Lý do là họ chỉ hành xử quyền tự do bày tỏ ý kiến một cách ôn hoà khi đưa ra những giải pháp khác cho chế độ độc đảng hiện thời.
Một người dân trong nước cho biết ý kiến về việc bắt giam và kết án hai luât sư chỉ vì họat động đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền trong nước:
“Việc làm của công an như vậy là vi phạm pháp luật, nhân quyền. Bắt luậtt sư vào ngày 8 tháng 3 là xúc phạm phụ nữ. Họ vu khống để ngăn chặn những người đấu tranh cho dân chủ. “
Bản thân hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân còn là người theo đạo Tin Lành, nên vào ngày 7 tháng 5 vừa qua, mười người vừa la mục sư vừa là giáo sĩ của đạo này đã gửi thư kiến nghị đến các vị lãnh đạo nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam yêu cầu trả tự do cho hai bị can. Mục sư Nguyễn Công Chính, một người đồng ký tên trong bản kiến nghị cho biết:
“Chúng tôi thấy việc bắt và qui cho tội vi phạm điều 88 thì chúng tôi thấy không hợp lý. Chúng tôi phản đối mạnh mẽ về việc bắt giam. Luât sư Đài là mục sư nhậm chức của giáo hội Menonite, luật sư Công Nhân cũng là một tín hữu, và những việc làm của họ là chính đáng; còn tội tuyên truyền chống đối nhà nước là không phù hợp nên chúng tôi làm thư kiến nghị để đấu tranh đòi hỏi sự công bằng về mặt pháp lý, và trả tự do cho hai người.”
Hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê thị Công Nhân đều tham gia vào Khối 8406, là nhóm đưa ra Tuyên ngôn Dân chủ Nhân quyền cho Việt Nam. Luật sư Nguyễn Văn Đài còn là người sáng lập ra Ủy Ban Nhân Quyền Việt Nam. Luật sư Lê Thị Công Nhân là phát ngôn nhân của Đảng Thăng Tiến.
[/align][/align]Các tin, bài liên quan
Điều 88 Luật Hình sự Việt Nam có phù hợp với Hiến pháp hay không?
2007.05.02
Lê Dân, phóng viên đài RFA
Gần đây và sắp tới, có những vụ án mà công dân Việt Nam bị xét xử chiếu theo điều 88 của Luật Hình sự, quy định về tội tuyên truyền chống phá Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa.
Bấm vào đây để nghe cuộc trao đổi này
Tải xuống để nghe
[/align]Do tính chất quan trọng của công cụ mà Nhà nước Việt Nam sử dụng để tước quyền công dân và sự tự do của một số người, chúng tôi tìm hiểu thêm về tính hữu lý của điều khoản này qua cuộc trao đổi với chuyên gia pháp luật Lê Đình Thông, hiện đang giảng dạy luật tại đại học Paris-Nanterre bên Pháp.
Bài do Lê Dân thực hiện. Và chúng tôi xin nói thêm là nhận định của giáo sư không nhất thiết phản ảnh quan điểm của đài Á châu Tự do.
Mâu thuẫn với Điều 53 của Hiến pháp
Lê Dân: Thưa giáo sư, gần đây có những vụ án mà bị cáo là những người mạnh dạn nêu lên, nói ra, những điều không phù hợp với những gì Nhà nước muốn người dân biết. Điển hình như vụ linh mục Nguyễn văn Lý, và sắp tới là phiên xử các luật sư Nguyễn văn Đài, Lê thị Công Nhân, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy.....
Công cụ của Nhà nước viện dẫn để kết án những người từng được quốc tế ca ngợi là dũng cảm đó, là điều 88 trong Luật Hình sự Việt Nam. Theo giáo sư, nếu xét theo những tiêu chí, quy phạm pháp luật của nhiều nước trên thế giới thì điều 88 đó có hữu lý và minh bạch không?
Gs Lê Đình Thông: Điều 88 không hợp lý. Bởi vì theo quy định của nó thì những ai phát tán thông tin chỉ trích chính quyền, phổ biến những thông tin xuyên tạc làm hoang mang dư luận, hoặc là làm ra hoặc tán phát những tài liệu có nội dung chống lại Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa thì đều bị phạt tù.
Bởi vậy tôi mới nói điều 88 ví như đôi còng số 8, nó đi ngược lại với điều 53 của Hiến pháp Việt Nam, cho phép người dân được quyền phát biểu về những vấn đề chung của đất nước. Mặt khác, điều 69 của Hiến pháp còn cởi trói xích xiềng, cho phép người dân được quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, rồi tự do hội họp, lập hội, biểu tình.
Điều 146 của Hiến pháp Việt Nam quy định rõ ràng là các văn bản lập pháp, như trường hợp luật Hình sự Việt Nam và các văn bản lập quy đều phải phù hợp với Hiến pháp. Vậy mà, tôi xin nhấn mạnh là, điều 88 của luật Hình sự rõ ràng là trái ngược với điều 146 của Hiến pháp.
Tôi xin nói thêm, Hiến pháp trong bất cứ một quốc gia nào, cũng là luật tối thượng. Tôi xin nói thêm, là Việt Nam cũng đã phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị đã được Liên Hiệp Quốc chấp nhận vào năm 1966, có hiệu lực từ năm 1976 và đã được 144 nước trên thế giới phê chuẩn. Tôi xin nhấn mạnh là trong danh sách các nước phê chuẩn có nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều 2 khoản 3 của Công ước đã quy định những nước đã tham gia, như trường hợp Việt Nam, phải bảo đảm cho những ai bị phạt tù chỉ vì họ hành xử những quyền tự do được hiệp ước công nhận, thì những người đó có quyền kiện ngược lại chính quyền.
Nói một cách cụ thể, thì theo Công ước Quốc tế về Những quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam đã phê chuẩn, thì Việt Nam có nghĩa vụ phải tuân thủ hiệp ước này, thì linh mục Nguyễn văn Lý có quyền khởi tố để phản đối những bản án của Tòa án Nhân dân Thừa Thiên-Huế. Điều 88 còn hòan toàn trái ngược với điều 69 của Hiến pháp Việt Nam....
Công cụ để ‘bịt miệng’ dân chúng
Lê Dân: Thưa giáo sư Lê Đình Thông, trên thế giới có những nước nào khi ban hành luật, họ chỉ quy định chung chung, mơ hồ, để rồi sau đó nhà cầm quyền ban hành thông tư, nghị định hướng dẫn thi hành luật tùy theo nhu cầu của họ tùy theo từng thời điểm hay không?
Gs Lê Đình Thông: Xét về kỹ thuật pháp lý thì những quy định pháp luật về một tội danh cần có một văn bản áp dụng, quy định rõ những yếu tố cấu thành tội trạng, tiếng Pháp gọi là éléments constitutiques.
Tại những nước tự do, dân chủ, đã phê chuẩn hiệp ước về những quyền dân sự và chính trị, thì việc quy định đó rất là quan trọng, nên cần phải có những yếu tố cụ thể để việc xét xử được công minh.
Cũng tại các nước tự do, dân chủ, tôi xin nói rõ là tội tán phát thông tin sai lạc, được coi là tội phạm tài chính, trừng phạt những người biết trước các thông tin liên quan đến chứng khoán để thủ lợi cho mình, thuật từ pháp luật gọi là délis bénéfíes.
Còn tại Việt Nam, nhà nước dùng tội tán phát thông tin để bịt miệng những người bất đồng chính kiến. Nhà nước hành động như vậy là đã đi ngược lại sự tiến hóa của lịch sử...
Lê Dân: Thưa giáo sư, chúng tôi xin hỏi là tại nước Pháp, nơi ông sinh sống và giảng dạy luật, có điều luật nào tương tự như điều 88 luật Hình sự Việt Nam hay không?
Gs Lê Đình Thông: Nếu điều 88 được áp dụng trên nước Pháp thì không phải chỉ có 1 linh mục Nguyễn văn Lý vào tù, mà sẽ có tới 99,06% người Pháp sẽ phải vào tù tội chỉ vì họ dám nói lên sự thật....
Luật hình sự đi ngựơc với Hiến pháp
Lê Dân: Con số 99,06% mà giáo sư vừa nhắc tới có phải là số cử tri Pháp trong kỳ bầu cử vừa qua đã không bỏ phiếu nào cho các ứng viên của đảng Cộng sản phải không ? Quay lại Việt Nam, giáo sư đã nói rằng điều 88 của luật Hình sự đi ngược lại tinh thần một số điều trong Hiến pháp, cụ thể ra sao?
Gs Lê Đình Thông: Tôi xin phân tích điều 88 với các quy định khác trong luật Việt Nam. Điều 126 của Hiến pháp Việt Nam đã quy định là các Tòa án Nhân dân, viện Kiểm sát Nhân dân... có nhiệm vụ bảo vệ đời sống tự do, bảo vệ danh dự và nhân phẩm của người dân. Bản án linh mục Nguyễn văn Lý và những vụ án sắp được xét xử chứng tỏ là hệ thống tư pháp Việt Nam đã không thực hiện đúng những nhiệm vụ vừa kể.
Lê Dân: Vậy thì theo tiêu chuẩn quốc tế, các bản án loại đó có hiệu lực pháp lý, có công bằng và minh bạch cho những cá nhân bị cáo buộc hay không, thưa Giáo sư?
Gs Lê Đình Thông: Muốn làm sáng tỏ chỉ có cách là đối thoại, chúng ta đều biết như vậy.Phải tôn trọng hai nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự được điều 14 của hiệp ước quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị công nhận.
Hai nguyên tắc đó là công bình và công khai. Tòa án nhân dân đã không tôn trọng nguyên tắc hỏi đáp, oralité, trong xét xử.
Bởi vì khi công an bịt miệng linh mục Lý, khi chứng kiến, các thẩm phán xét xử vẫn giữ thái độ yên lặng, không có một ý kiến nào, chứng tỏ rằng tòa án Nhân dân Thừa Thiên đã không tôn trọng điều 126 và những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự. Vì vậy bản án của linh mục Lý hoàn toàn vô hiệu, nullité.
Lê Dân: Xin cám ơn giáo sư Luật Lê Đình Thông của đại học Paris-Naterre, Pháp quốc. Chúng tôi xin thỉnh ý giáo sư thêm về những việc khác vào dịp thuận lợi.
© 2007 Radio Free Asia
[/align][/align]
LỜI MỞ ĐẦU Xét rằng việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới,
Xét rằng việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đă đưa tới những hành động dă man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, được giải thoát khỏi sự sợ hăi và khốn cùng, được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của con người,
Xét rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền,
Xét rằng điều cốt yếu là phải phát triển những tương quan hữu nghị giữa các quốc gia,
Xét rằng, trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các dân tộc đă tái xác nhận niềm tin vào những nhân quyền căn bản, vào phẩm cách và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, cùng quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xă hội và nâng cao mức sống trong một môi trường tự do hơn,
Xét rằng các quốc gia hội viên đă cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc để phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản,
Xét rằng một quan niệm chung về tự do và nhân quyền là điều tối quan trọng để thực hiện trọn vẹn cam kết ấy.
Công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xă hội luôn nhớ tới bản tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc gia hội viên hay thuộc các lănh thỗ bị giám hộ.
Điều 1: Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái.
Điều 2: Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xă hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác.
Ngoài ra không được phân biệt về quy chế chính trị, pháp lý hay quốc tế của quốc gia hay lănh thổ mà người đó trực thuộc, dù là nước độc lập, bị giám hộ, mất chủ quyền hay bị hạn chế chủ quyền.
Điều 3: Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể.
Điều 4: Không ai có thể bị bắt làm nô lệ hay nô dịch; chế độ nô lệ và sự mua bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm chỉ.
Điều 5: Không ai có thể bị tra tấn hay bị những hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm.
Điều 6: Ai cũng có quyền được công nhận là con người trước pháp luật bất cứ tại đâu.
Điều 7: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này.
Điều 8: Ai cũng có quyền yêu cầu tòa án quốc gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản được hiến pháp và luật pháp thừa nhận.
Điều 9: Không ai có thể bị bắt giữ, giam cầm hay lưu đầy một cách độc đoán.
Điều 10: Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một toà án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghiă vụ của ḿnh, hay về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc.
Điều 11:
Điều 12: Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy.
Điều 13:
Điều 14:
Điều 15:
Điều 16:
Điều 17:
Điều 18: Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng ḿnh hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.
Điều 19: Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vào những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.
Điều 20:
Điều 21:
Ai cũng có quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình, hoặc trực tiếp hoặc qua các đại biểu do ḿnh tự do lựa chọn.
Ai cũng có quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.
Ýnguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia; ý nguyện này phải được biểu lộ qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương thức phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự.
Điều 22: Với tư cách là một thành viên của xă hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xă hội, cũng như có quyền đ̣i được hưởng những quyền kinh tế, xă hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của ḿnh, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia.
Điều 23:
Điều 24: Ai cũng có quyền nghỉ ngơi và giải trí, được hưởng sự hạn định hợp lư số giờ làm việc và những ngày nghĩ định kỳ có trả lương.
Điều 25:
Điều 26:
Điều 27:
Điều 28: Ai cũng có quyền được hưởng một trật tự xă hội và trật tự quốc tế trong đó những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này có thể được thực hiện đầy đủ.
Điều 29:
Điều 30: Không một điều khoản nào trong Tuyên Ngôn này có thể giải thích để cho phép một quốc gia, một đoàn thể, hay một cá nhân nào được quyền hoạt động hay làm những hành vi nhằm tiêu hủy những quyền tự do liệt kê trong Tuyên Ngôn này.
Về đầu bài
[Tiếng Anh]
Lời giới thiệu
Lời nói đầu
Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền
Quyền Dân Sự, và Chính Trị
Quyền Kinh Tế, Xă Hội, và Văn Hóa
Phần Diễn Giải
Nhân Quyền Bậc 1
Nhân Quyền Bậc 2
Quyền An Cư
Quyền Lạc Nghiệp
Nhân Quyền Bậc 3
Phụ Đính 1
[/align]
Các Quốc Gia Hội Viên ký kết Công Ước này:
Xét rằng, chiếu theo những nguyên tắc công bố trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng và bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền móng của tự do, công lý và hoà bình thế giới.
Nhìn nhận rằng những quyền này xuất phát từ phẩm giá bẩm sinh của con người.
Nhìn nhận rằng, chiếu theo Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, lý tưởng về một con người tự do được hành xử những quyền dân sự và chính trị cũng như được giải phóng khỏi sự sợ hăi và khốn cùng, chỉ có thể đạt được nếu hội đủ những điều kiện thuận tiện để con người được hưởng những quyền dân sự và chính trị cũng như những quyền kinh tế, xă hội và văn hoá.
Xét rằng nghiă vụ của các quốc gia hội viên theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc là phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do của con người.
Nhận định rằng con người có nghiă vụ đối với những người khác cũng như đối với cộng đồng, nên có trách nhiệm phải phát huy và tôn trọng những quyền được nhìn nhận trong Công Ước này.
Đồng chấp thuận những điều khoản sau đây:
Điều 1:
Điều 2:
Bảo đảm cho các nạn nhân quyền được đền bù hay đ̣i bồi thường thỏa đáng khi những quyền tự do của họ bị vi phạm, dầu rằng người vi phạm là một viên chức chính quyền.
Bảo đảm cho các nạn nhân quyền được khiếu nại tại các cơ quan tư pháp, hành chánh hay lập pháp quốc gia, hay tại các cơ quan có thẩm quyền và phát triển quyền khiếu tố trước toà án.
Bảo đảm các cơ quan thẩm quyền phải thi hành nghiêm chỉnh những sự đền bù hay bồi thường đă tuyên cáo.
Điều 3: Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ trong việc hành xử những quyền dân sự và chính trị ghi trong Công Ước.
Điều 4:
Trong khi tuyên bố tình trạng khẩn trương công cộng vì lý do quốc gia bị đe doạ, Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này có thể ban hành một số biện pháp đình chỉ thi hành các nghiă vụ của quốc gia ấn định trong Công Ước này. Tuy nhiên những biện pháp này phải có tính cách thật cần thiết vì nhu cầu của tình thế, và không vi phạm các nghiă vụ của quốc gia phát sinh từ luật pháp quốc tế, và cũng không được dùng để kỳ thị chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo hay nguồn gốc xă hội.
Trong mọi trường hợp những quyền dân sự và chính trị ghi trong các điều 6, 7, 8 (khoản 1 và 2), và trong các điều 11, 15, 16, 18 của Công Ước không thể bị đình chỉ thi hành.
Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này phải lập tức thông báo qua vị Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc cho các quốc gia hội viên kết ước khác hay biết những điều khoản nào trong Công Ước đă bị đình chỉ thi hành, và vì lý do gì. Ngay sau khi chấm dứt t́nh trạng khẩn trương công cộng, họ cũng phải thông báo theo thủ tục nói trên.
Điều 5:
Không một quốc gia, một phe nhóm hay một cá nhân nào có quyền giải thích các điều khoản trong Công Ước này để cho phép họ hoạt động hay làm những hành vi nhằm tiêu diệt những quyền tự do đă được Công Ước thừa nhận, hoặc để giới hạn những quyền tự do này quá mức ấn định trong Công Ước.
Các quốc gia hội viên kết ước nào đă thừa nhận một số nhân quyền căn bản trong luật pháp quốc gia, công ước, quy chế hay tục lệ, sẽ không được quyền giới hạn hay đình chỉ thi hành các nhân quyền căn bản đó, viện cớ rằng Công Ước này không thừa nhận những nhân quyền đó, hay chỉ thừa nhận trong một phạm vi hạn hẹp hơn.
Điều 6:
Mọi người đều có quyền sống. Đây là một quyền bẩm sinh được luật pháp bảo vệ. Không ai có thể bị tước đoạt quyền sống một cách độc đoán.
Trong các quốc gia chưa băi bỏ hình phạt tử hình, toà án chỉ được tuyên án tử hình đối với những tội hình sự nghiêm trong nhất chiếu theo luật pháp áp dụng trong thời gian phạm pháp và không trái với những điều khoản của Công Ước này và của Công Ước Ngăn Ngừa và Trừng Phạt Tội Diệt Chủng. Hình phạt tử hình chỉ có thể được thi hành chiếu theo một bản án chung thẩm của một tòa án có thẩm quyền.
Điều luật này không cho phép các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này được giải trừ các nghiă vụ ghi trong Công Ước Ngăn Ngừa và Trừng Phạt Tội Diệt Chủng trong trường hợp sự hành quyết hay sát nhân cấu thành tội diệt chủng.
Các bị cáo bị tuyên án tử hình có quyền xin ân xá hay ân giảm hình phạt. Lệnh đại xá, ân xá hay ân giảm hình phạt có thể được ban hành trong mọi trường hợp.
Án tử hình không được tuyên đối với các bị cáo chưa đủ 18 tuổi khi phạm pháp, và cũng không được thi hành đối với các phụ nữ mang thai.
Điều luật này không thể được viện dẫn để trì hoăn hay ngăn cản việc băi bỏ hình phạt tử hình tại các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này.
Điều 7: Không ai có thể bị tra tấn, hoặc phải chịu những hình phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp phẩm giá con người. Đặc biệt là, nếu không có sự ưng thuận tự do của đương sự, không ai có thể bị dùng vào những cuộc thí nghiệm y học hay khoa học.
Điều 8:
Không ai có thể bị cưỡng bách lao động.
Khoản 3 (a) nói trên không được áp dụng tại các quốc gia trong đó luật pháp cho phép toà án có thẩm quyền tuyên án tù khổ sai.
Trong phạm vi khoản này, không được coi là "lao động cưỡng bách":
Ngoài trường hợp nêu ở khoản (b) trên đây, những công tác hay dịch vụ mà các tù nhân phải làm trong thời gian bị giam giữ chiếu theo một bản án hợp pháp của toà án, hay phải làm trong thời gian được phóng thích có điều kiện.
Nghiă vụ quân sự, hay nghiă vụ quốc gia áp dụng cho những người được luật pháp cho miễn thi hành nghiă vụ quân sự v́ lư do lương tâm.
Nghiă vụ cộng đồng trong trường hợp khẩn trương hay thiên tai đe doạ đời sống hay sự an lạc của cộng đồng.
Những nghiă vụ dân sự thông thường.
Điều 9:
Ai cũng có quyền tự do thân thể và an ninh thân thể. Không ai có thể bị bắt giữ hay giam cầm độc đoán. Không ai có thể bị tước đoạt tự do thân thể ngoại trừ những trường hợp và theo những thủ tục luật định.
Khi bị bắt giữ, bị cáo phải được tức thời thông báo về lý do bắt giữ, và phải được thông báo không chậm trễ về tội trạng bị cáo buộc.
Bị cáo bị bắt giữ hay giam cầm về một tội hình sự phải được dẫn giải không chậm trễ tới một vị thẩm phán (hay một viên chức có thẩm quyền tư pháp theo luật), để được xét xử trong một thời hạn hợp lý hay được phóng thích. Theo thông lệ, không nhất thiết phải câu lưu bị cáo trước ngày toà xử. Tuy nhiên để bảo đảm sự hiện diện của bị cáo trong phiên xử hay trong các giai đoạn thẩm vấn, và để thi hành bản án, nếu cần, sự phóng thích tạm bị cáo đòi hỏi phải có bảo đảm.
Những người bị bắt giữ hay giam cầm đều có quyền yêu cầu toà án thụ lý không chậm trễ về tính hợp pháp của sự giam giữ, và phải được phóng thích nếu sự giam giữ được xét là bất hợp pháp.
Các nạn nhân trong những vụ bắt giữ hay giam cầm bất hợp pháp có quyền khiếu tố và đòi bồi thường thiệt hại.
Điều 10:
Những người mất tự do vẫn phải được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm.
Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt, các bị cáo chưa được xét xử phải được giam giữ cách biệt với những người đă can án, và phải được đối xử theo quy chế của những người không can án.
Các bị cáo thiếu nhi phải được giam giữ cách biệt với người lớn và phải được xét xử trong thời hạn sớm nhất.
Chế độ lao tù phải đặt trọng tâm vào việc cải huấn tù nhân, tạo cho họ cơ hội cải hoá và hội nhập vào đời sống xă hội. Các thiếu nhi phạm pháp phải được giam giữ cách biệt với người lớn, và phải được đối xử tuỳ theo tuổi tác và t́nh trạng pháp lư của chúng.
Điều 11: Không ai có thể bị giam giữ chỉ vì không có khả năng thi hành một nghiă vụ khế ước.
Điều 12:
Những người cư trú hợp pháp trong lănh thổ một quốc gia đều có quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú trong lănh thổ.
Mọi người đều được quyền tự do rời khỏi một quốc gia, kể cả quốc gia của mình.
Những quyền tự do ghi trên không thể bị giới hạn, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ công cộng, đạo lý, hay những quyền tự do của người khác, và nếu không trái với những quyền tự do khác được thừa nhận trong Công Ước này.
Không ai có thể bị tước đoạt quyền hồi hương một cách độc đoán.
Điều 13: Ngoại kiều cư trú hợp pháp trong lănh thổ các quốc gia hội viên kư kết Công Ước này chỉ có thể bị trục xuất do một quyết định hợp pháp. Trừ trường hợp có lư do cưỡng thúc về an ninh quốc gia, người bị trục xuất có quyền trình bày lý do để chống lại quyết định trục xuất, và có quyền nhờ người biện hộ nạp đơn xin tái xét hồ sơ trục xuất tại các cơ quan hay người đại diện cơ quan có thẩm quyền.
Điều 14:
Được tức thời thông báo tội trạng với đầy đủ chi tiết bằng ngôn ngữ mà họ thông hiểu.
Quyền có đủ thời gian và phương tiện để chuẩn bị sự biện hộ và được quyền liên lạc với luật sư do ḿnh lựa chọn.
Được xét xử mau chóng, không diên trì quá đáng.
Được hiện diện trong phiên xử để tự biện hộ hay nhờ luật sư biện hộ do mình lựa chọn; được thông báo về quyền này trong trường hợp tự biện hộ; và được quyền có luật sư biện hộ miễn phí vì nhu cầu công lý nếu bị cáo không có phương tiện mướn luật sư.
Được đối chất với các nhân chứng buộc tội và được quyền đ̣i nhân chứng và chất vấn các nhân chứng gỡ tội cho ḿnh, theo cùng một thủ tục.
Được quyền có thông dịch viên miễn phí, nếu bị cáo không nói hay không hiểu ngôn ngữ của toà.
Được quyền không khai, để khỏi phải tự buộc tội mình, hay khỏi phải thú nhận tội trạng.
Điều 15:
Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đă làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế áp dụng hồi đó; mà cũng không bị tuyên một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp. Tuy nhiên bị cáo được quyền hưởng hìnhphạt khoan hồng hơn chiếu theo luật mới ban hành sau ngày phạm pháp.
Điều luật này không có tác dụng ngăn cản việc xét xử hay tuyên phạt một bị cáo vì đă làm hay không làm những hành vi cấu thành tội hình sự chiếu theo những nguyên tắc luật pháp tổng quát được thừa nhận bởi cộng đồng các quốc gia trong thời gian đương sự phạm pháp.
Điều 16: Ai cũng có quyền được công nhận là con người trước pháp luật bất cứ tại đâu.
Điều 17:
Không ai có thể bị xâm phạm trái phép hay độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xúc phạm trái phép đến danh dự và thanh danh.
Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy.
Điều 18:
Điều 19:
Mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can thiệp.
Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia.
Việc hành sử quyền tự do phát biểu quan điểm (ghi ở khoản 2 nói trên) đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu:
Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh của người khác.
Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lư.
Điều 20:
Mọi hình thức tuyên truyền, cổ võ chiến tranh phải bị luật pháp cấm chỉ.
Mọi hình thức gieo rắc căm hờn, xúi giục kỳ thị, hiềm khích, kích thích bạo động giữa các quốc gia, các chủng tộc hay các tôn giáo phải bị luật pháp cấm chỉ.
Điều 21: Quyền hội họp có tính cách hoà bình phải được thừa nhận. Việc hành xử quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi luật pháp, vì các nhu cầu cần thiết trong một xă hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý, hay những quyền tự do của người khác.
Điều 22:
Điều 23:
Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản trong xă hội và phải được xă hội và quốc gia bảo vệ.
Thanh niên nam nữ đến tuổi thành hôn có quyền kết hôn và lập gia đ́nh.
Hôn thú chỉ được thành lập nếu có sự ưng thuận hoàn toàn tự do của những người kết hôn.
Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này phải ban hành những biện pháp để bảo đảm sự bình đẳng về quyền lợi và trách nhiệm của vợ chồng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú, cũng như khi ly hôn. Trong trường hợp ly hôn phải quy định những biện pháp bảo vệ quyền lợi của các con.
Điều 24:
Điều 25:
Được tham gia vào việc điều hành chính quyền, hoặc trực tiếp hoặc qua những đại biểu do ḿnh tự do tuyển chọn.
Được bầu cử và ứng cử trong những cuộc tuyển cử tự do và công bằng theo định kỳ, bằng phổ thông đầu phiếu kín, bảo đảm trung thực ý
nguyện của cử tri.
Được quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.
Điều 26: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Trên phương diện này, luật pháp cấm mọi kỳ thị và bảo đảm cho tất cả mọi người quyền được bảo vệ một cách bình đẳng và hữu hiệu chống mọi kỳ thị về chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc quốc gia hay xă hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào.
Điều 27: Đối với các cộng đồng thiểu số về chủng tộc, tôn giáo, hay ngôn ngữ tại các quốc gia hội viên, Công Ước này bảo đảm cho các thành phần thiểu số cũng với những người khác trong cộng đồng của họ được quyền hưởng văn hoá riêng, được truyền giáo và hành đạo riêng, và được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ.
[Tiếng Anh]
Lời giới thiệu
Lời nói đầu
Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền
Quyền Dân Sự, và Chính Trị
Quyền Kinh Tế, Xă Hội, và Văn Hóa
Phần Diễn Giải
Nhân Quyền Bậc 1
Nhân Quyền Bậc 2
Quyền An Cư
Quyền Lạc Nghiệp
Nhân Quyền Bậc 3
Phụ Đính 1
[/align]
Hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê thị Công Nhân bị tuyên án tù 2007.05.11
Gia Minh, phóng viên đài RFA
Toà án Nhân dân thành phố Hà Nội, hôm nay tiến hành phiên xét xử hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê thị Công Nhân về tội danh tuyên truyền chống nhà nước Cộng hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, theo điều 88 Bộ luật Hình sự. Gia Minh trình bày những thông tin liên quan phiên xử vào sáng này hôm nay.
Bấm vào đây để nghe bài tường trình này
Tải xuống để nghe
[/align]
Nữ luật sư Lê Thị Công Nhân
tại phiên toà xét xử hôm 11-5-2007.
AFP PHOTO
[/align]Sau hơn hai tháng bị bắt giam, hôm nay luật sư Nguyễn Văn Đài và Luật sư Lê Thị Công Nhân xuất hiện chính thức trước trước toà để nghe tuyên án về các họat động của họ lâu nay.
Những cáo buộc mà phía công tố và toà nêu ra không có điểm gì khác so với những điều mà các cơ quan truyền thông trong nước loan tải lâu nay về những họat động của luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân. Họ bị truy tố với tội danh tuyên truyền chống nhà nước Cộng hoà XHCN VN.
Sau gần bốn tiếng làm việc trong đó có việc công tố hỏi hai bị cáo, một số nhân chứng phát biểu, và luật sư biện hộ, chánh án phiên xử là ông Nguyễn Hữu Chính tuyên đọc bản án với hình phạt năm năm tù và bốn năm quản chế dành cho luật sư Nguyễn Văn Đài, còn luật sư Lê thị Công Nhân là bốn năm tù và ba năm quản chế.
Luật sư Trần Lâm, người nhận biện hộ cho hai bị can, sau khi phiên xử kết thúc đưa ra nhận định về bản án vừa tuyên cho hai thân chủ của ông:
“Nói về mặt luật là nặng nhưng nói về chính trị là không nặng. Vụ này họ nhìn về mặt chính trị; tôi có cãi về mặt luật pháp nhưng họ không chịu. Nhìn về mặt chính trị thì có nguy hiểm thật; nhưng về luật pháp thì chưa đến mức như vậy. Trong phiên xử đấu tranh giữa hai quan điểm đó.”
Bản thân hai bị can trong quá trình xử án khi được hỏi đều cho rằng họat động của họ không phải là tội, không vi phạm luật pháp của Việt Nam mà chỉ hành xử các quyền tự do phát biểu và lập hội mà thôi. Trước khi phiên xử kết thúc, luật sư Lê Thị Công Nhân, phát biểu phản đối phiên toà, cho rằng không chính đáng.
Báo giới trong và ngoài nước cùng một số nhà ngọai giao phương Tây được theo dõi phiên toà qua màn ảnh truyền hình từ một phòng khác.
Hai thân nhân được cho vào dự phiên toà là bà Trần Thị Lệ, mẹ của luật sư Lê Thị Công Nhân và bà Vũ Minh Khánh, vợ của luật sư Nguyễn Văn Đài; dù rằng họ không có giấy mời của toà trước đó. Ngoài ra không thân nhân nào khác được vào như trường hợp của em gái luật sư Lê Thị Công Nhân là cô Lê Thị Minh Tâm, đã bị công an bắt đưa về cơ quan công an phường Trần Hưng Đạo, cô cho biết:
“Em đến những họ không cho vào. Em trình bày là luật sư Trần Lâm bảo là thân nhân xuất trình chứng minh thư chứng minh là người thân thì được vào. Nhưng khi em đến thì họ không cho vào. Giằng co một lúc thì họ kêu công an và dân quân đến lôi đi và cho xe đển chở đến chổ này ( Đồn công an Phường Trần Hưng Đạo).”
Còn một người em của luật sư Nguyễn Văn Đài được mời làm nhân chứng tại toà và người này cho biết:
“Tôi được mời làm nhân chứng, và ngồi tại phòng bên cạnh không có màn hình. Tôi được gọi làm chứng nhưng không được hỏi. Có một số nhân chứng là học sinh.”
Lật sư Nguyễn Văn Đài
tại phiên toà xét xử hôm 11-5-2007.
AFP PHOTO
[/align]Phiên xử hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê thị Công Nhân được mô tả là một phiên xử được giữ gìn an ninh khá chặt chẽ.
Trong khi phiên xử diễn ra thì nhà của một số nhân vật bất đồng chính kiến đang sinh sống ở Hà Nội cũng bị theo dõi như lời kể của ông Nguyễn Khắc Toàn:
“Từ chiều qua tất cả tư gia của những nhà tranh đấu dân chủ đều có chốt gác. Hiện nhà tôi cũng có chừng 8 công an vừa mặc thường phục và sắc phục ngồi ở quán đối diện.”
Ngay sau khi bản án được tuyên thì phản ứng của những nhà ngọai giao phuơng Tây ở Việt Nam là kêu gọi nhà cầm quyền Hà Nội trả tự do cho hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê thị Công Nhân. Lý do là họ chỉ hành xử quyền tự do bày tỏ ý kiến một cách ôn hoà khi đưa ra những giải pháp khác cho chế độ độc đảng hiện thời.
Một người dân trong nước cho biết ý kiến về việc bắt giam và kết án hai luât sư chỉ vì họat động đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền trong nước:
“Việc làm của công an như vậy là vi phạm pháp luật, nhân quyền. Bắt luậtt sư vào ngày 8 tháng 3 là xúc phạm phụ nữ. Họ vu khống để ngăn chặn những người đấu tranh cho dân chủ. “
Bản thân hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân còn là người theo đạo Tin Lành, nên vào ngày 7 tháng 5 vừa qua, mười người vừa la mục sư vừa là giáo sĩ của đạo này đã gửi thư kiến nghị đến các vị lãnh đạo nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam yêu cầu trả tự do cho hai bị can. Mục sư Nguyễn Công Chính, một người đồng ký tên trong bản kiến nghị cho biết:
“Chúng tôi thấy việc bắt và qui cho tội vi phạm điều 88 thì chúng tôi thấy không hợp lý. Chúng tôi phản đối mạnh mẽ về việc bắt giam. Luât sư Đài là mục sư nhậm chức của giáo hội Menonite, luật sư Công Nhân cũng là một tín hữu, và những việc làm của họ là chính đáng; còn tội tuyên truyền chống đối nhà nước là không phù hợp nên chúng tôi làm thư kiến nghị để đấu tranh đòi hỏi sự công bằng về mặt pháp lý, và trả tự do cho hai người.”
Hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê thị Công Nhân đều tham gia vào Khối 8406, là nhóm đưa ra Tuyên ngôn Dân chủ Nhân quyền cho Việt Nam. Luật sư Nguyễn Văn Đài còn là người sáng lập ra Ủy Ban Nhân Quyền Việt Nam. Luật sư Lê Thị Công Nhân là phát ngôn nhân của Đảng Thăng Tiến.
- Tiếng Việt
© 2007 Radio Free Asia
[/align][/align]Các tin, bài liên quan
- Nhận xét của người Việt hải ngoại về phiên toà xét xử 3 nhà bất đồng chính kiến
- Phản ứng của dư luận về phiên tòa xử 3 thành viên đảng Dân chủ Nhân Dân
- Mẹ và Anh ruột Bác sĩ Lê Nguyên Sang trả lời phỏng vấn RFA sau phiên tòa
- Việt Nam trả tự do cho một tù nhân chính trị
- Về tội Chống Nhà nước và tội Phá rối an ninh
- Cập nhập vụ xử hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân sắp tới
- Thân nhân 2 Luật sư Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài đề nghị hoãn phiên xử ngày 11-5
- Ý kiến của ông Đỗ Công Thành về phiên toà xét xử sắp tới
- Nói chuyện với em trai bác sĩ Lê Nguyên Sang về phiên toà xét xử sắp tới
___________________
Điều 88 Luật Hình sự Việt Nam có phù hợp với Hiến pháp hay không?
2007.05.02
Lê Dân, phóng viên đài RFA
Gần đây và sắp tới, có những vụ án mà công dân Việt Nam bị xét xử chiếu theo điều 88 của Luật Hình sự, quy định về tội tuyên truyền chống phá Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa.
Bấm vào đây để nghe cuộc trao đổi này
Tải xuống để nghe
[/align]Do tính chất quan trọng của công cụ mà Nhà nước Việt Nam sử dụng để tước quyền công dân và sự tự do của một số người, chúng tôi tìm hiểu thêm về tính hữu lý của điều khoản này qua cuộc trao đổi với chuyên gia pháp luật Lê Đình Thông, hiện đang giảng dạy luật tại đại học Paris-Nanterre bên Pháp.
Bài do Lê Dân thực hiện. Và chúng tôi xin nói thêm là nhận định của giáo sư không nhất thiết phản ảnh quan điểm của đài Á châu Tự do.
Mâu thuẫn với Điều 53 của Hiến pháp
Lê Dân: Thưa giáo sư, gần đây có những vụ án mà bị cáo là những người mạnh dạn nêu lên, nói ra, những điều không phù hợp với những gì Nhà nước muốn người dân biết. Điển hình như vụ linh mục Nguyễn văn Lý, và sắp tới là phiên xử các luật sư Nguyễn văn Đài, Lê thị Công Nhân, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy.....
Công cụ của Nhà nước viện dẫn để kết án những người từng được quốc tế ca ngợi là dũng cảm đó, là điều 88 trong Luật Hình sự Việt Nam. Theo giáo sư, nếu xét theo những tiêu chí, quy phạm pháp luật của nhiều nước trên thế giới thì điều 88 đó có hữu lý và minh bạch không?
Gs Lê Đình Thông: Điều 88 không hợp lý. Bởi vì theo quy định của nó thì những ai phát tán thông tin chỉ trích chính quyền, phổ biến những thông tin xuyên tạc làm hoang mang dư luận, hoặc là làm ra hoặc tán phát những tài liệu có nội dung chống lại Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa thì đều bị phạt tù.
Bởi vậy tôi mới nói điều 88 ví như đôi còng số 8, nó đi ngược lại với điều 53 của Hiến pháp Việt Nam, cho phép người dân được quyền phát biểu về những vấn đề chung của đất nước. Mặt khác, điều 69 của Hiến pháp còn cởi trói xích xiềng, cho phép người dân được quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, rồi tự do hội họp, lập hội, biểu tình.
Điều 146 của Hiến pháp Việt Nam quy định rõ ràng là các văn bản lập pháp, như trường hợp luật Hình sự Việt Nam và các văn bản lập quy đều phải phù hợp với Hiến pháp. Vậy mà, tôi xin nhấn mạnh là, điều 88 của luật Hình sự rõ ràng là trái ngược với điều 146 của Hiến pháp.
Tôi xin nói thêm, Hiến pháp trong bất cứ một quốc gia nào, cũng là luật tối thượng. Tôi xin nói thêm, là Việt Nam cũng đã phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị đã được Liên Hiệp Quốc chấp nhận vào năm 1966, có hiệu lực từ năm 1976 và đã được 144 nước trên thế giới phê chuẩn. Tôi xin nhấn mạnh là trong danh sách các nước phê chuẩn có nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều 2 khoản 3 của Công ước đã quy định những nước đã tham gia, như trường hợp Việt Nam, phải bảo đảm cho những ai bị phạt tù chỉ vì họ hành xử những quyền tự do được hiệp ước công nhận, thì những người đó có quyền kiện ngược lại chính quyền.
Nói một cách cụ thể, thì theo Công ước Quốc tế về Những quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam đã phê chuẩn, thì Việt Nam có nghĩa vụ phải tuân thủ hiệp ước này, thì linh mục Nguyễn văn Lý có quyền khởi tố để phản đối những bản án của Tòa án Nhân dân Thừa Thiên-Huế. Điều 88 còn hòan toàn trái ngược với điều 69 của Hiến pháp Việt Nam....
Công cụ để ‘bịt miệng’ dân chúng
Lê Dân: Thưa giáo sư Lê Đình Thông, trên thế giới có những nước nào khi ban hành luật, họ chỉ quy định chung chung, mơ hồ, để rồi sau đó nhà cầm quyền ban hành thông tư, nghị định hướng dẫn thi hành luật tùy theo nhu cầu của họ tùy theo từng thời điểm hay không?
Gs Lê Đình Thông: Xét về kỹ thuật pháp lý thì những quy định pháp luật về một tội danh cần có một văn bản áp dụng, quy định rõ những yếu tố cấu thành tội trạng, tiếng Pháp gọi là éléments constitutiques.
Tại những nước tự do, dân chủ, đã phê chuẩn hiệp ước về những quyền dân sự và chính trị, thì việc quy định đó rất là quan trọng, nên cần phải có những yếu tố cụ thể để việc xét xử được công minh.
Cũng tại các nước tự do, dân chủ, tôi xin nói rõ là tội tán phát thông tin sai lạc, được coi là tội phạm tài chính, trừng phạt những người biết trước các thông tin liên quan đến chứng khoán để thủ lợi cho mình, thuật từ pháp luật gọi là délis bénéfíes.
Còn tại Việt Nam, nhà nước dùng tội tán phát thông tin để bịt miệng những người bất đồng chính kiến. Nhà nước hành động như vậy là đã đi ngược lại sự tiến hóa của lịch sử...
Lê Dân: Thưa giáo sư, chúng tôi xin hỏi là tại nước Pháp, nơi ông sinh sống và giảng dạy luật, có điều luật nào tương tự như điều 88 luật Hình sự Việt Nam hay không?
Gs Lê Đình Thông: Nếu điều 88 được áp dụng trên nước Pháp thì không phải chỉ có 1 linh mục Nguyễn văn Lý vào tù, mà sẽ có tới 99,06% người Pháp sẽ phải vào tù tội chỉ vì họ dám nói lên sự thật....
Luật hình sự đi ngựơc với Hiến pháp
Lê Dân: Con số 99,06% mà giáo sư vừa nhắc tới có phải là số cử tri Pháp trong kỳ bầu cử vừa qua đã không bỏ phiếu nào cho các ứng viên của đảng Cộng sản phải không ? Quay lại Việt Nam, giáo sư đã nói rằng điều 88 của luật Hình sự đi ngược lại tinh thần một số điều trong Hiến pháp, cụ thể ra sao?
Gs Lê Đình Thông: Tôi xin phân tích điều 88 với các quy định khác trong luật Việt Nam. Điều 126 của Hiến pháp Việt Nam đã quy định là các Tòa án Nhân dân, viện Kiểm sát Nhân dân... có nhiệm vụ bảo vệ đời sống tự do, bảo vệ danh dự và nhân phẩm của người dân. Bản án linh mục Nguyễn văn Lý và những vụ án sắp được xét xử chứng tỏ là hệ thống tư pháp Việt Nam đã không thực hiện đúng những nhiệm vụ vừa kể.
Lê Dân: Vậy thì theo tiêu chuẩn quốc tế, các bản án loại đó có hiệu lực pháp lý, có công bằng và minh bạch cho những cá nhân bị cáo buộc hay không, thưa Giáo sư?
Gs Lê Đình Thông: Muốn làm sáng tỏ chỉ có cách là đối thoại, chúng ta đều biết như vậy.Phải tôn trọng hai nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự được điều 14 của hiệp ước quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị công nhận.
Hai nguyên tắc đó là công bình và công khai. Tòa án nhân dân đã không tôn trọng nguyên tắc hỏi đáp, oralité, trong xét xử.
Bởi vì khi công an bịt miệng linh mục Lý, khi chứng kiến, các thẩm phán xét xử vẫn giữ thái độ yên lặng, không có một ý kiến nào, chứng tỏ rằng tòa án Nhân dân Thừa Thiên đã không tôn trọng điều 126 và những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự. Vì vậy bản án của linh mục Lý hoàn toàn vô hiệu, nullité.
Lê Dân: Xin cám ơn giáo sư Luật Lê Đình Thông của đại học Paris-Naterre, Pháp quốc. Chúng tôi xin thỉnh ý giáo sư thêm về những việc khác vào dịp thuận lợi.
© 2007 Radio Free Asia
[/align][/align]
TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN (1948)
LỜI MỞ ĐẦU
Xét rằng việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đă đưa tới những hành động dă man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, được giải thoát khỏi sự sợ hăi và khốn cùng, được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của con người,
Xét rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền,
Xét rằng điều cốt yếu là phải phát triển những tương quan hữu nghị giữa các quốc gia,
Xét rằng, trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các dân tộc đă tái xác nhận niềm tin vào những nhân quyền căn bản, vào phẩm cách và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, cùng quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xă hội và nâng cao mức sống trong một môi trường tự do hơn,
Xét rằng các quốc gia hội viên đă cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc để phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản,
Xét rằng một quan niệm chung về tự do và nhân quyền là điều tối quan trọng để thực hiện trọn vẹn cam kết ấy.
Vì vậy,
ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC
Công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xă hội luôn nhớ tới bản tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc gia hội viên hay thuộc các lănh thỗ bị giám hộ.
Điều 1: Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái.
Điều 2: Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xă hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác.
Ngoài ra không được phân biệt về quy chế chính trị, pháp lý hay quốc tế của quốc gia hay lănh thổ mà người đó trực thuộc, dù là nước độc lập, bị giám hộ, mất chủ quyền hay bị hạn chế chủ quyền.
Điều 3: Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể.
Điều 4: Không ai có thể bị bắt làm nô lệ hay nô dịch; chế độ nô lệ và sự mua bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm chỉ.
Điều 5: Không ai có thể bị tra tấn hay bị những hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm.
Điều 6: Ai cũng có quyền được công nhận là con người trước pháp luật bất cứ tại đâu.
Điều 7: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này.
Điều 8: Ai cũng có quyền yêu cầu tòa án quốc gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản được hiến pháp và luật pháp thừa nhận.
Điều 9: Không ai có thể bị bắt giữ, giam cầm hay lưu đầy một cách độc đoán.
Điều 10: Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một toà án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghiă vụ của ḿnh, hay về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc.
Điều 11:
- Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ.
- Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đă làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành; mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp.
Điều 12: Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy.
Điều 13:
- Ai cũng có quyền tự do đi lại và cư trú trong quản hạt quốc gia.
- Ai cũng có quyền rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả quốc gia của ḿnh, và có quyền hồi hương.
Điều 14:
- Khi bị đàn áp, ai cũng có quyền tìm nơi tị nạn và được hưởng quyền tị nạn tại các quốc gia khác.
- Quyền này không được viện dẫn trong trường hợp sự truy tố thực sự chỉ căn cứ vào những tội trạng không có tính cách chính trị hay vào những hành động trái với mục đích và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.
Điều 15:
- Ai cũng có quyền có quốc tịch.
- Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán.
Điều 16:
- Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đ́nh mà không bị ngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền b́nh đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú cũng như khi ly hôn.
- Hôn thú chỉ có giá trị nếu có sự thuận tính hoàn toàn tự do của những người kết hôn.
- Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xă hội, và phải được xă hội và quốc gia bảo vệ.
Điều 17:
- Ai cũng có quyền sở hữu, hoặc riêng tư hoặc hùn hiệp với người khác.
- Không ai có thể bị tước đoạt tài sản một cách độc đoán.
Điều 18: Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng ḿnh hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.
Điều 19: Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vào những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.
Điều 20:
- Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hoà bình.
- Không ai bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn.
Điều 21:
Điều 22: Với tư cách là một thành viên của xă hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xă hội, cũng như có quyền đ̣i được hưởng những quyền kinh tế, xă hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của ḿnh, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia.
Điều 23:
- Ai cũng có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp.
- Cùng làm việc ngang nhau, mọi người được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử.
- Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đ́nh một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xă hội khác.
- Ai cũng có quyền thành lập nghiệp đoàn hay gia nhập nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của ḿnh.
Điều 24: Ai cũng có quyền nghỉ ngơi và giải trí, được hưởng sự hạn định hợp lư số giờ làm việc và những ngày nghĩ định kỳ có trả lương.
Điều 25:
- Ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đ́nh kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch vụ cần thiết; ai cũng có quyền được hưởng an sinh xă hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ư muốn.
- Sản phụ và trẻ em được đặc biệt săn sóc và giúp đỡ. Tất cả các con, dầu là chính thức hay ngoại hôn, đều được hưởng bảo trợ xă hội như nhau.
Điều 26:
- Ai cũng có quyền được hưởng giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí ít nhất ở cấp sơ đẳng và căn bản. Giáo dục sơ đẳng có tính cách cưỡng bách. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được phổ cập. Giáo dục cao đẳng phải được phổ cập cho mọi sinh viên trên căn bản b́nh đẳng, lấy thành tích làm tiêu chuẩn.
- Giáo dục phải nhằm phát huy đầy đủ nhân cách, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản; phải đề cao sự thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các quốc gia, các cộng đồng sắc tộc hay tôn giáo, đồng thời yểm trợ những hoạt động của Liên Hiệp Quốc trong việc duy tŕ hoà b́nh.
- Cha mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn giáo dục cho các con.
Điều 27:
- Ai cũng có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng ngoạn nghệ thuật, được hưởng các tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ ấy.
- Ai cũng được bảo vệ bởi những quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ những sản phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật của ḿnh.
Điều 28: Ai cũng có quyền được hưởng một trật tự xă hội và trật tự quốc tế trong đó những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này có thể được thực hiện đầy đủ.
Điều 29:
- Ai cũng có nghiă vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của ḿnh có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ.
- Trong khi hành xử những quyền tự do của ḿnh, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngơ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đ̣i hỏi chính đáng về đạo lư, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xă hội dân chủ cũng được thỏa măn.
- Trong mọi trường hợp, những quyền tự do này không thể hành xử trái với những mục tiêu và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.
Điều 30: Không một điều khoản nào trong Tuyên Ngôn này có thể giải thích để cho phép một quốc gia, một đoàn thể, hay một cá nhân nào được quyền hoạt động hay làm những hành vi nhằm tiêu hủy những quyền tự do liệt kê trong Tuyên Ngôn này.
(Phỏng theo bản dịch của Trung Tâm Việt Nam Về Nhân Quyền
với sự tu chính của Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Nhân Quyền.)
với sự tu chính của Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Nhân Quyền.)
[Tiếng Anh]
Lời giới thiệu
Lời nói đầu
Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền
Quyền Dân Sự, và Chính Trị
Quyền Kinh Tế, Xă Hội, và Văn Hóa
Phần Diễn Giải
Nhân Quyền Bậc 1
Nhân Quyền Bậc 2
Quyền An Cư
Quyền Lạc Nghiệp
Nhân Quyền Bậc 3
Phụ Đính 1
[/align]
CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ
VỀ NHỮNG QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ (1966)
VỀ NHỮNG QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ (1966)
Lời Mở Đầu
Các Quốc Gia Hội Viên ký kết Công Ước này:
Xét rằng, chiếu theo những nguyên tắc công bố trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng và bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền móng của tự do, công lý và hoà bình thế giới.
Nhìn nhận rằng những quyền này xuất phát từ phẩm giá bẩm sinh của con người.
Nhìn nhận rằng, chiếu theo Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, lý tưởng về một con người tự do được hành xử những quyền dân sự và chính trị cũng như được giải phóng khỏi sự sợ hăi và khốn cùng, chỉ có thể đạt được nếu hội đủ những điều kiện thuận tiện để con người được hưởng những quyền dân sự và chính trị cũng như những quyền kinh tế, xă hội và văn hoá.
Xét rằng nghiă vụ của các quốc gia hội viên theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc là phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do của con người.
Nhận định rằng con người có nghiă vụ đối với những người khác cũng như đối với cộng đồng, nên có trách nhiệm phải phát huy và tôn trọng những quyền được nhìn nhận trong Công Ước này.
Đồng chấp thuận những điều khoản sau đây:
PHẦN I
- Các dân tộc đều có quyền tự quyết. Chiếu theo quyền này, họ được tự do quyết định về chế độ chính trị và tự do theo đuổi đường hướng phát triển kinh tế, xă hội và văn hoá.
- Để đạt được mục tiêu này, các dân tộc có quyền tự do sử dụng các nguồn lợi thiên nhiên của ḿnh, miễn là không vi phạm những nghiă vụ phát sinh từ sự hợp tác quốc tế về kinh tế, đặt căn bản trên quyền lợi hỗ tương và luật pháp quốc tế. Trong mọi trường hợp các phương tiện sinh sống của nghiệp đoàn không thể bị tước đoạt.
- Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này, kể cả những quốc gia có trách nhiệm bảo hộ hay giám hộ các lănh thổ khác, phải tôn trọng và xúc tiến việc thực thi quyền dân tộc tự quyết chiếu theo các điều khoản của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.
PHẦN II
- Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết tôn trọng và bảo đảm thực thi những quyền được nhìn nhận trong Công Ước cho tất cả mọi người sống trong lănh thổ và thuộc thẩm quyền quốc gia, không phân biệt chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc quốc gia hay xă hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác.
- Trong trường hợp những quyền được nhìn nhận trong Công Ước này chưa được quy định thành văn trong luật pháp quốc gia, các quốc gia hội viên ký kết Công Ước cam kết sẽ ban hành các đạo luật theo thủ tục luật pháp quốc gia và theo các điều khoản của Công Ước để các quyền này có hiệu lực.
- Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết:
Điều 3: Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ trong việc hành xử những quyền dân sự và chính trị ghi trong Công Ước.
Điều 4:
Điều 5:
PHẦN III
Điều 7: Không ai có thể bị tra tấn, hoặc phải chịu những hình phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp phẩm giá con người. Đặc biệt là, nếu không có sự ưng thuận tự do của đương sự, không ai có thể bị dùng vào những cuộc thí nghiệm y học hay khoa học.
Điều 8:
- Không ai có thể bị bắt làm nô lệ; chế độ nô lệ và mọi hình thức buôn bán nô lệ đều bị cấm chỉ.
- Không ai có thể bị bắt làm nô dịch.
Điều 9:
Điều 10:
Điều 11: Không ai có thể bị giam giữ chỉ vì không có khả năng thi hành một nghiă vụ khế ước.
Điều 12:
Điều 13: Ngoại kiều cư trú hợp pháp trong lănh thổ các quốc gia hội viên kư kết Công Ước này chỉ có thể bị trục xuất do một quyết định hợp pháp. Trừ trường hợp có lư do cưỡng thúc về an ninh quốc gia, người bị trục xuất có quyền trình bày lý do để chống lại quyết định trục xuất, và có quyền nhờ người biện hộ nạp đơn xin tái xét hồ sơ trục xuất tại các cơ quan hay người đại diện cơ quan có thẩm quyền.
Điều 14:
- Mọi người đều bình đẳng trước toà án. Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án độc lập, vô tư và có thẩm quyền theo luật, để phán xử về những tội trạng hình sự mà ḿnh bị cáo buộc hay về những quyền lợi và nghiă vụ của mình trong các vụ tranh tụng khác. Báo chí và công chúng có thể không được tham dự một phần hay toàn thể phiên xử, vì nhu cầu đạo lý, trật tự công cộng hay an ninh quốc gia trong một xă hội dân chủ, hay để bảo vệ đời sống riêng tư của các đương sự tranh tụng, hay, trong những trường hợp thật cần thiết, khi toà án quyết định rằng xét xử công khai sẽ làm thiệt hại quyền lợi của công lý. Tuy nhiên các bản án hình sự và các bản án khác phải được tuyên đọc công khai trước toà, ngoại trừ trường hợp để bảo vệ quyền lợi của thiếu nhi hay của gia đ́nh trong những vụ tranh tụng về hôn nhân hay về việc giám hộ các con.
- Bị cáo về các tội hình sự có quyền được suy đoán là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội theo luật.
- Trong các vụ hình sự, tất cả các bị cáo đều được hưởng đồng đều những bảo đảm tối thiểu sau đây:
- Trong các vụ án thiếu nhi, thủ tục xét xử phải căn cứ vào tuổi tác của bị cáo và hướng về mục tiêu cải huấn can phạm.
- Các bị cáo bị tuyên phạt có quyền kháng cáo lên toà trên theo thủ tục luật định.
- Trong trường hợp bị cáo bị tuyên hình phạt chung thẩm và sau này bản án bị tiêu huỷ hay đương sự được ân xá vì có sự kiện mới phát giác cho biết bị cáo đă bị phạt oan uổng, người bị kết án có quyền đòi bồi thường thiệt hại theo luật, trừ phi có bằng chứng cho biết, sở dĩ sự kiện mới này không được phát giác trong thời gian xử án, một phần hay hoàn toàn tại vì bị cáo.
- Không ai có thể bị tái thẩm hay bị tuyên phạt một lần nữa về một tội trạng đă được toà án phán xử chung thẩm bằng cách tuyên phạt hay tha bổng, chiếu theo luật pháp và thủ tục h́nh sự hiện hành.
Điều 15:
Điều 16: Ai cũng có quyền được công nhận là con người trước pháp luật bất cứ tại đâu.
Điều 17:
Điều 18:
- Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo. Quyền này bao gồm quyền tự do theo một tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự thờ phụng, hành đạo, nghi lễ hay giảng dạy, hoặc riêng tư hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.
- Không ai bị cưỡng bách tước đoạt quyền tự do lựa chọn tôn giáo hay tín ngưỡng.
- Quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn theo luật, v́ nhu cầu bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý hay những quyền tự do căn bản của người khác.
- Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết tôn trọng quyền của cha mẹ hay người giám hộ trong việc giáo dục các con về tôn giáo hay đạo lý theo tín ngưỡng của họ.
Điều 19:
Điều 20:
Điều 21: Quyền hội họp có tính cách hoà bình phải được thừa nhận. Việc hành xử quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi luật pháp, vì các nhu cầu cần thiết trong một xă hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý, hay những quyền tự do của người khác.
Điều 22:
- Ai cũng có quyền tự do lập hội, kể cả quyền thành lập và gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình
- Việc hành xử quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi luật pháp, vì các nhu cầu cần thiết trong một xă hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý, hay những quyền tự do của người khác. Điều luật này không có tác dụng ngăn cấm việc ban hành các giới hạn luật định liên quan đến sự hành xử quyền tự do lập hội của các giới quân nhân và cảnh sát.
- Điều luật này không có hiệu lực cho phép các quốc gia hội viên ký kết Công Ước Lao Động Quốc Tế năm 1948 về Quyền Tự Do Lập Hội và Bảo Vệ Quyền Lập Hội, được ban hành hay áp dụng những đạo luật có tác dụng vi phạm những bảo đảm về những quyền tự do ghi trong Công Ước Lao Động Quốc Tế.
Điều 23:
Điều 24:
- Không phân biệt chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc quốc gia hay xă hội, tài sản hay ḍng dơi, các trẻ em, với tư cách vị thành niên, phải được gia đ́nh, xă hội và quốc gia bảo vệ.
- Trẻ em phải được khai sinh ngay sau khi sinh, và được đặt tên họ.
- Trẻ em có quyền thủ đắc quốc tịch.
Điều 25:
- Không bị kỳ thị (như đă quy định ở điều 2) và không bị giới hạn bất hợp lý, mọi công dân đều có quyền và có cơ hội:
nguyện của cử tri.
Điều 26: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Trên phương diện này, luật pháp cấm mọi kỳ thị và bảo đảm cho tất cả mọi người quyền được bảo vệ một cách bình đẳng và hữu hiệu chống mọi kỳ thị về chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc quốc gia hay xă hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào.
Điều 27: Đối với các cộng đồng thiểu số về chủng tộc, tôn giáo, hay ngôn ngữ tại các quốc gia hội viên, Công Ước này bảo đảm cho các thành phần thiểu số cũng với những người khác trong cộng đồng của họ được quyền hưởng văn hoá riêng, được truyền giáo và hành đạo riêng, và được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ.
(Với sự tu chính của Uỷ Ban Phối Hợp Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam)
[/align] [/align]Về đầu bài [Tiếng Anh]
Lời giới thiệu
Lời nói đầu
Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền
Quyền Dân Sự, và Chính Trị
Quyền Kinh Tế, Xă Hội, và Văn Hóa
Phần Diễn Giải
Nhân Quyền Bậc 1
Nhân Quyền Bậc 2
Quyền An Cư
Quyền Lạc Nghiệp
Nhân Quyền Bậc 3
Phụ Đính 1
[/align]