📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Nam thiên nhất tuyệt kiếm- Trần Phiên Ngung 🔒

57 trả lời, 6.125 lượt xem — Trang 2 / 2
Dương Tiêu mưu trí khôn lường, nắm lấy quyền sinh sát, từ đời Thái Tổ đến đời Thành Tổ, trải dài mấy chục năm, ra tay cai trị hết sức khắc nghiệt, gây nên bao cuộc binh đao, sinh linh đồ thán. Ngoài ra y còn tổ chức " Thất Sát đoàn", gây biết bao tội lỗi trong trăm họ; ngay cả đến các môn phái, bang hội võ lâm, y cũng ra tay hạ độc thủ. Thất Sát đoàn làm trăm vạn điều gian ác, vô luân làm cho Minh giáo thêm một lần nữa trở thành "Hắc ám đại biểu ác thần", vì thế cho nên "Ỷ Thiên" chẳng thể nào không tái xuất cho được!
Lãnh Thiềm tiếp:
- Sở dĩ Dương Tiêu lộng hành, vì y biết trong thiên hạ không còn ai là địch thủ của y nữa ngoài Giáo chủ ra, mà Giáo chủ thì trên ba mươi năm tuyệt tích, còn mất chẳng hay. Cánh tay y vươn dài tới cả đến tứ Di, bát Hoang, đến cả Nam Việt, lộng hành không kể xiết!
Ngô Quán Trung nói thêm:
- Chúng ta, không thể gây thành một cuộc binh biến, vì không nên để trăm họ tương tàn, chúng ta cũng không đủ lực để đối đầu với thiên binh vạn mã của Triều đình, chúng ta chỉ còn cách duy nhất để tiêu diệt y mà không thành họa binh đao, đó là: gọi đích danh y mà thách thức!
Nhan Bổn từ nãy.giờ ngồi im, lên tiếng hỏi:
- Nhưng nếu y biết có Giáo chủ xuất hiện, y kéo binh mã đến bao vây Đại hội thì sao?
Kiến Nghiệp đại sư nói:
- Dĩ nhiên y chẳng thể đến một mình, nhất định y mang theo binh triều và bọn thuộc hạ Thất Sát đoàn, nhưng chẳng thể vì việc riêng mà y điều động đại binh được, cùng lắm chỉ dăm ba ngàn là nhiều. Chúng ta có cách đối phó!
Quán Trung nói:
- Trong Ngũ Hành 'Kỳ, chỉ còn có Hỏa Liệt Kỳ Nhan Bổn và tại hạ, Kim Mộc Kỳ . Hậu Thổ Kỳ Lâm Kỳ Sơn đã về phe Dương Tiêu; hai vị Mộc Tinh Kỳ, Thủy Thanh Kỳ không còn không còn tại thế, bây giờ làm thế nào?
Đại sư tiếp:
- Trong số Ngũ Tảng Nhân, chỉ còn một mình Lãnh Thiềm, Bành Oánh Ngọc, Châu Điên, NÓI-KHÔNG-ĐƯỢC đã lần lượt qua đời. Hân Dã Vương thì trở về tái lập lại Bạch Mi giáo, nay tuổi cũng đã cao. Tứ đại Hộ Pháp Vương trong ba chục năm nay thì Tía Sam Lang Vương, Bạch Mi ưng Vương đã qua đời, Kim Mao Sư Vương trở thành đệ tử của Phật gia, Thanh Dực Bức Vương tuyệt tích giang hồ kể từ trận đánh ở Sơn Đông. Thực lực của Minh giáo chẳng còn lại gì!
Bần tăng, mấy năm nay, đi lại giang hồ, gom góp giáo chúng cũ, quảng bá, thu nạp thêm giáo chúng mới, lựa người, đưa vào nắm giữ những vai trò then chốt, giữ gìn giềng mối của Minh giáo, đến nay đã trên mười năm. Thành quả tuy nhỏ, nhưng phẩm chất rất đáng kể, do đó có thể hy vọng trỏ thành nền tảng cho mai hậu. Bần tăng cũng gài được người vào Thất Sát đoàn để dò la tin tức, để kịp thời ngăn chặn những hành vi bạo tàn, đồng thời nắm vững được guồng máy tổ chức, địa điểm, từng nhân vật then chốt trong tổ chức ấy.
Thần y trầm ngâm suy nghĩ, cuối cùng ông nói:
- Tôn chỉ của Minh giáo là Thiện, ác phân định, lấy cái quang minh để khu trừ điều hắc ám, lấy yêu thương xóa bỏ hận thù; nhưng trong sự tương tranh, tức thời đã ẩn chứa trong cái thiện, có cái ác. Đại sư nghĩ lại xem, như Nghĩa phụ của tại hạ năm xưa , vì quá yêu thương nên lòng thù hận, vì quá căm giận cái ác, nên biến thành cực ác. Thế mới biết, điều gì thái quá tất sinh điều ngược lại . Yêu thương quá thành hờn ghen. Thiện, ác cách nhau như sợi tóc. Nay, giả như tại hạ, vì giang hồ thiên hạ, múa ỷ Thiên vào chốn bụi trần, ai hiểu được lòng ta, hay cũng chỉ cho rằng cùng họ Dương tranh giành này nọ, Minh giáo tương tranh,' thật là khó nghĩ!
Kiến Nghiệp đại sư nói:
- Cũng bởi vì lẽ ấy nên bần tăng mới lập Đại hội Kình Dương, vì chính khí của võ lâm mà quét sạch cửa ngõ. Đó chính là quang minh vậy!
Lãnh Thiềm e dè hỏi Thần y:
- Hai mãnh kiếm gãy ỷ Thiên, Giáo chủ còn giữ được chăng?
Thần y mặt thoáng buồn, bao nhiêu hình ảnh thuở thiết thời tràn ngập lòng ông: những khuôn mặt thân yêu, những cảnh đời điên đảo, những lòng dạ vô thường; đến nay kẻ còn, người mất, như một đám phù vân. Thở dài, ông nói:
Ta vẫn còn giữ được!
Nhan Bổn thưa:
- Xin Giáo chủ cho chúng thuộc hạ được bái kiến thánh mộ của Quận Chúa phu nhân!
Nét buồn vẫn chưa tan trên khuôn mặt của ông, giờ bỗng như đậm thêm từng nét nhăn:
- Cảm tạ tấm lòng của quí liệt vị đã nhớ đến tiện nội, chỉ hiềm một nỗi, tại hạ đã an táng một nơi sâu kín trong lòng Trường Bạch Sơn, có đến cũng chẳng nhìn thấy gì, tấm lòng của các vị ta xin cảm nhận cũng đã đủ !
Ngô Quán Trung biết Trương giáo chủ không muốn gợi lại những buồn đau cũ, nên hỏi lãng:
- Thuộc hạ được nghe Lãnh Tảng Nhân nói Giáo chủ sinh hạ một công tử và một tiểu thư, xin cho được gặp mặt?
- Làm sao Lãnh huynh biết được?
Lãnh Thiềm cười nói:
- Chẳng dấu gì Giáo chủ, cũng vì Tiểu thư rất giống Quận Chúa năm xưa, nên thuộc hạ mới dò la được manh mối của Giáo chủ!
Vừa lúc ấy, Trường Cung Hoa và Thể Dung đi câu trở về, thấy cha có khách, cả hai rất ngạc nhiên, vì suốt từ thuở lớn khôn, chưa bao giờ thấy cha mình có khách thăm viếng mà chỉ là những bệnh nhân, nên Thể Dung, tay xách xâu cá, đang ríu rít bên Cung Hoa bỗng im bặt, cả hai toan thối lui.
- Các con vào đây ta bảo!
Nghe tiếng cha gọi, cả hai e dè bước vào khách sảnh, cúi đầu chào khách. Bốn người đứng dậy đáp lễ.
Thần y nói:
- Đây là những người thân thiết cũ của ta, các con hãy lạy mừng các bậc tiền bối đi!
Cung Hoa và Thể Dung bước lại gần toan hành đại lễ, Kiến Nghiệp đại.sư nhỏ nhẹ nói:
- Các cháu đừng khách sáo vậy. Bọn ta với Thân phụ các cháu tình thân hơn ruột thịt, xa cách đã trên ba mươi năm, nay mới được gặp lại. Ta họ Phạm, vị này họ Lãnh, họ Ngô và họ Nhan!
Cung Hoa và Thể Dung cúi đầu vái chào từng người rất cung kính. Thần y nói:
- Thằng lớn này là Cung Hoa, con bé đó là Thế Dung!
Nhan Bổn gật gù nói:
- Quả nhiên Thể Dung tiểu thư giống Quận Chúa năm xưa như tạc, chẳng ngạc nhiên khi gặp mặt, vì vậy mà Lãnh Tảng Nhân nhờ đó truy ra được tung tích của Giáo chủ!
Lãnh Thiềm cười nói:
- Cô bé kia, có nhớ kẻ ăn xin năm trước mà cháu đã cho hai con cá lớn nhất đó không?
Thể Dung nhìn đăm đăm Lãnh Thiềm, một lát reo lên:
- Cháu nhớ ra rồi, cháu nhớ rồi. Bác cứ đòi hai con cá lớn nhất của cháu, đúng là ăn mày đòi xôi gấc. Cháu đã toan không cho, nhưng thấy mặt bác đói nhăn như bị, nên động lòng trắc ẩn!
Thần y quát:
- Thể Dung! Không được ăn nói hỗn láo như thế!
Lãnh Thiềm cười ha hả, nói:
- Đừng ngại, đừng ngại, bác cháu mình còn có dịp đi câu khác bác trả lại cho cháu bốn con!
Thể Dung bị cha la mắng, xịu mặt nói:
- Cháu chẳng cần bốn con cá của bác, đến bốn ngàn con cũng không bằng hai con cá kia của cháu. Bác đã ăn mất rồi, lấy đâu mà trả được!
Cung Hoa mắng em:
- Thể Dung, không được nói năng như thế!
Trong đầu óc Cung Hoa, bốn chữ " Quận Chúa, Giáo chủ" làm cho chàng băn khoăn. Mẹ chàng là Quận chúa? Cha chàng là Giáo chủ? Sao lại là Quận chúa, Giáo chủ? Từ năm lên năm tuổi, mẹ chàng đã qua đời, chàng chỉ còn một hình ảnh rất mờ nhạt về người mẹ yêu dấu của chàng. Chàng và Thể Dung đã lớn lên trong vòng tay dấu ái của cha. Khi vừa bảy tuổi, cha chàng bắt chàng quỳ lạy trước bàn thờ mẹ, hứa không được dùng võ nghệ bừa bãi, và không được tỏ cho người khác biết là mình có võ công, cha chàng bắt đầu truyền dạy cho chàng. Đến khi khôn lớn, Cung Hoa lòng vô cùng thắc mắc về thân phụ.
Với một thân võ học siêu đẳng như vậy, cớ sao cha chàng lại tìm nơi hẻo lánh này ẩn thân, ngoài ra, có một tài năng tuyệt vời về y học, mà ông cam phận làm một lão sơn nhân, sống cuộc sống bình dị và gần như mai một? Điều thắc mắc ấy cứ bám lấy chàng, nhưng Cung Hoa không dám tìm hiểu, vâng lời cha, không dám để lộ cả bản lãnh võ công ra với bất cứ ai, kể cả Thể Dung.
Chàng chuyên cần tiếp thu ở cha toàn bộ vốn võ học tuyệt đẳng, tiếp thu mọi tinh hoa trong y học. Tuy nhiên, về y học, Thể Dung lại vượt hơn chàng, vì ngoài giờ luyện võ cam khổ, chàng không còn thấy thì giờ rảnh rỗi. Một hôm chàng hỏi ông:
- Sao cha không truyền thụ võ công cho Thể Dung?
Cha chàng thở dài, lắc đầu:
- Hạnh phúc của một người đàn bà không phải tìm thấy được ở nơi bão cát, mà là ở trong cánh cửa thôi con ạ. Tính tình Thể Dung cương cường, hay đa sự, lại sắc sảo. Nếu em con học võ, sẽ gây ra rất nhiều tai ách cho chính mình và cho đời!
Ông nhớ đến hình ảnh Diệt Tuyệt sư thái, Kim Hoa bà bà, Chu Chỉ Nhược, Thù Nhi và cả hiền thê của ông. Bằng đó những nhân vật nữ trong võ lâm kia, ngoài vợ ông, mấy ai được hạnh phúc, hay chỉ tràn đầy khổ ải. Thần y tiếp:
- Ta rất hài lòng thấy con tính tình khoan hòa, nhân hậu. Người học võ phải biết yêu người mà hành xử với đời, khoan dung với kẻ địch. Nhân thế nào, thì quả thế ấy. Con nên nhớ lời ta dạy!
Cho đến hôm nay, chàng lờ mờ đoán được, những người khách của cha đang đứng ở trước mặt chàng, đều là những hảo thủ của võ lâm, đều là những người dưới quyền cha chàng năm trước, căn cứ theo thái độ cung kính của họ. Vậy thì đã một thời, ông và mẹ chàng có một quá khứ lừng lẫy, một thân phận cực cao. Chắc hẳn phải vì một nỗi đau buồn, chán nản nào mới khiến cho cha mẹ chàng tìm về nơi thanh sơn hẻo lánh này để ẩn dật. Cùng một lúc, chàng linh cảm rằng, hơn ba mươi năm yên tĩnh của ông cũng đã vừa chấm dứt.
o0o
 

0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-25 03:06:30Hoàng Dung>
chương mười saú
Khoảnh khắc vô tình gặp
Thiên thu hữu ý gần.
 
Chia tay cùng Kiến Nghiệp đại sư, Ngô Quán Trung và cha con Hà Thiết, Trần Nguyên Huân nhắm hướng Yên Kinh ngày đi đêm nghỉ, một tháng sau chàng đã đến Yên thành.  Không hổ danh là một Hoàng thành, kinh đô của một Triều đại nơi đầu não của quyền lực, nơi phát xuất niềm hoan lạc hoặc đau thương của trăm họ.
Yên thành tọa lạc trên một khu vực rộng lớn, tường thành cao ngất và kiên cố, vọng địch lâu san sát, quân lính tuần tra, canh phòng nghiêm ngặt. Dân chúng nội, ngoại thành ra vào tấp nập, việc buôn bán cực kỳ sầm uất, nhưng cũng bị kiểm soát gắt gao. Tất cả mọi người dân nếu không có lệnh, đều không được mang vũ khí bên người.
Nguyên Huân giấu Bạch Hạc kiếm trong cây gậy bằng nứa dùng để gánh hành lý toong teng trên vai, qua được mắt bọn lính gác cổng thành. Chàng theo đoàn người buôn bán đi sâu vào trong thành. Nơi điện đài san sát, phố xá tấp nập đông đúc, đó là khu vực của Hoàng thành. Bao quanh là khu dinh thự của các Vương, Hầu và quan lại nội triều, và chàng đã nhìn thấy, khu dinh thự biệt lập của Quang Minh Vương phủ, tọa lạc kế cận Hoàng thành.
Chàng vào một tửu lầu sang trọng, đây là địa điểm lý tưởng nhất để xuất phát những chuyến thăm dò sau này. Nguyên Huân chọn một căn phòng trên lầu, từ đó, chàng có thể nhìn bao quát một khu vực rộng. Mỗi tầng lầu đều có phòng ăn rộng lớn, đầy đủ các sơn hào hải vị và những loại rượu quý, phía dưới cửa sổ là một con đường rộng lát bằng đá phiến.
Nguyên Huân tắm rủa, thay y phục, rũ sạch bụi đường. Chàng cài cửa và đến phòng ăn. Phòng ăn trên lầu dành cho những bậc Vương tôn công tử hay bọn giàu có . Nhìn thấy lối ăn mặc giản dị của chàng, bọn tửu bảo nhìn chàng ra chiều rẻ rúng. Chàng gọi một tên tửu bảo đến, và nói:
- Mang cho ta vài món ăn ngon nhất, một bình rượu nhỏ!
Tên tửu bảo nhìn chàng nghi ngờ:
- Bản quán có đủ những món ăn sang trọng, nhưng giá hơi đắt đấy!
Nguyên Huân thản nhiên bảo:
- Ta không cần sang trọng, chỉ cần ngon miệng, đắt rẻ không đáng kể!
Nói xong, chàng thò tay vào túi lấy ra một thỏi vàng, chừng mười lượng, hỏi:
- Chừng nầy đủ không?
Thấy thỏi vàng, tên tửu bảo xóa hết mọi vẻ khinh thị trên nét mặt, xum xoe nói:
- Xin công tử thứ lỗi, bằng này ăn cả tháng cũng chưa hết được tiểu nhân có mắt như mù!
- Thôi được, nhà ngươi dọn ngay cho ta. Đây là phần của ngươi!
Được hai lạng bạc cho riêng, y mừng rỡ nhét ngay vào túi Trước mắt y, đây quả thực là một Vương tử cải dạng. Y làm ở đây lâu năm, tiếp đủ hạng người sang trọng, giàu có và quyền quý, nhưng chưa một ai dám cho y một số tiền thưởng hào phóng như vậy. Từ đấy, trong suốt quãng ngày Nguyên Huân trọ ở Thiên Dung tửu lầu này, tên tửu bảo có tên là A Thực trở thành tai, mắt của chàng.
Hôm chàng lên đường, Qui Loan Cô Cô đã đưa cho chàng một túi nặng, gồm vàng và ngọc quý. Bà cầm một viên hồng ngọc tuyệt đẹp nói:
- Chỉ một viên này đáng giá bằng một gia tài, con cứ cầm lấy và nên nhớ ta dặn con điều này: Tiền bạc mở được hết mọi cánh cửa, ngay cả lòng người. Vì vậy con không nên tiết kiệm, hãy xử dụng nó như một kẻ nô bộc, và đừng bao giờ làm nô bộc cho nó. Ta không bảo con phí phạm, nhưng phải dùng đúng lúc và đúng chỗ! Và quả thật, chàng đã dùng nó đúng lúc.
Ngồi trên lầu cao, ngó qua hàng lan can bằng danh mộc được đánh bóng nổi vân mầu hồng đậm, đó là loại Giáng hương mộc của phương Nam. Phía dưới là một phòng ăn rộng cũng sang trọng không kém, ồn ào thực khách.
Đã vào mùa đông, trời Yên Kinh đầy mây xám, và những cơn gió lạnh buốt thổi từ phương Bắc xuống. Tuy cái nóng, lạnh đối với chàng lúc này không ảnh hướng là mấy, vì công lực chàng đã tới mức có thể điều hòa thân nhiệt theo ý muốn, nhưng Nguyên Huân không muốn mọi người để ý đến mình, nên vẫn lấy chiếc áo khinh cừu quý giá ra mặc. Chiếc áo này Cô Cô cho chàng lúc Nguyên Huân lên đường.
Mùa đông này nữa là mùa đông thứ năm, và cũng là tròn bốn năm chàng rời xa Tổ quốc. Nguyên Huân nhớ đến Đoàn lục thúc, đến Uyển Thanh, đến Dư lão tứ, đến trời Mộc Châu những ngày vào đông. Không biết giờ đây ba người thân yêu ấy có còn nơi chốn cũ, hay chiến tranh đã xô đẩy họ về một phương nào khác. Và các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Đại Việt đã có được những thắng lợi nào, hay vẫn chỉ là những cuộc nổi dậy lẻ tẻ.
Cơm nước xong, Nguyên Huân gọi tửu bảo thanh toán tiền ăn, và trả trước tiền phòng một tháng. Chàng hỏi A Thực về lối đi lại trong phố phường Yên Kinh; A Thực chỉ vẽ cho chàng mọi điều, cuối cùng y hỏi:
- Công tử, trời lạnh thế này, đêm nay có một tiểu cô nương xinh đẹp lắm, công tử có cần người an ủi không?
Nguyên Huân thẹn đỏ mặt, nhưng vẫn lấy giọng bình tỉnh đáp:
- Cám ơn A Thực, hôm nay trong người ta hơi mệt, khi nào cần ta nói nhé!
Nói xong, chàng dúi thêm cho y một nắm bạc vụn, rồi bước vội ra đường.
Nguyên Huân đi rảo khắp các đường phố của Kinh thành, từ những khu quyền quý, dinh thự khang trang, đến các khu của những người dân nghèo nàn, nhà cửa lụp xụp, tối tăm. Chàng đến cả những khu vực, nơi đóng quân của các đạo Túc vệ, Cẩm Y vệ, Ngự lâm, là những đơn vị bảo vệ Hoàng thành, Tử Cấm thành và Hoàng tộc. Các đạo quân này được lựa chọn và huấn luyện kỹ lưỡng, hết sức tinh nhuệ, ngoài ra còn có bốn đạo quân hộ thành rất đông dưới quyền của Cửa Môn Đề Đốc.
Tường thành cao, dày, kiên cố, được xây bằng đá tảng, phía ngoài là hào sâu, cắm chông nhọn, đầy nước. Kể cả thành ngoại, cũng như Hoàng thành, đêm ngày được canh phòng, tuần tiểu rất nghiêm nhặt. Trong Hoàng thành là nơi làm việc của các bộ, là guồng máy hành chánh và quân sự. Và trong đó là khu Tử Cấm thành, nơi cung điện Nhà Vua và Hoàng tộc.
Nguyên Huân nhận thấy rõ, việc đột nhập vào Hoàng thành và Tử Cấm thành, nơi cung cấm của Hoàng đế đã là việc hết sức khó khăn, việc tìm kiếm ra nơi chứa sách vở, văn thư, nghĩa là nơi dùng làm thư khố, hoặc Ngự thư phòng còn khó khăn gấp bội. Vì tính cách quan trọng của công việc, chàng không thể xem thường và khinh xuất; đành rằng với công lực và với khinh công hiện nay, chàng có thể lọt vào nội cung không. mấy khó khăn.
Suốt cả ngày, chàng quan sát kỹ khu Hoàng thành, và những địa điểm, mà từ đó chàng có thể xử dụng để xâm nhập. Bỗng chàng nhớ lúc chia tay, Kiến Nghiệp đại sư có dặn chàng:
"Thiếu hiệp không nên khinh xuất, hiện nay tuy Vinh Lạc (Minh Thành Tổ) đã xuất chinh, quyền nhiếp chính giao cho Thành Vương coi giữ. Quân Cẩm Y vệ, quân Cấm vệ và đội Ngự Lâm đã rút bớt một số lớn để 'theo hộ giá, nhưng ở Kinh đô số còn lại không phải là nhỏ; nhất là Dương Tiêu được trao quyền gìn giữ an ninh và bảo vệ Hoàng thành, Tử Cấm thành. Thiếu hiệp không nắm rõ được sơ đồ của nội cung, thì chẳng thể nào tìm ra nơi cất giấu Bí kíp. Nếu kẻ địch biết được, chúng mang đi chôn dấu, thì việc tìm kiếm sẽ chỉ là vô vọng. Bởi vậy phải cực kỳ thận trọng.
Trần thiếu hiệp, trong số Thái giám coi Ngự trù phòng, bần tăng có cài vào đó một nhân vật của Minh giáo, để giám sát và theo dõi mọi hành vi, tình hình trong nội cung; và vị Công công này mỗi tháng trở về nhà một lần, vào hai ngày của đầu tháng. Thiếu hiệp có thể gặp y, cứ nói mật hiệu, y sẵn sàng giúp cho Thiếu hiệp bất cứ việc gì. Đây là mảnh giấy. bần tăng ghi địa chỉ và mật hiệu, Thiếu hiệp xem kỹ, nhớ lấy, và tiêu hủy ngay. Bần tăng có việc phải lên phương Bắc, và hy vọng có thể trở về Yên Kinh vào đầu tháng tới, mong gặp lại."
Nguyên Huân thầm nhớ lại. Bây giờ mới là ngày mười, vậy còn hai mươi ngày nữa vị Công công ấy mới được phép trở về nhà. Trong thời gian chờ đợi này, chàng nhân lúc rảnh rỗi đi thăm một số thắng cảnh của Kinh đô nhà Đại Minh.
Một buổi sáng xong, sau khi ngồi vận công điều tức, như thường lệ, Nguyên Huân lại ra phố, nhìn thiên hạ đi lại cho qua thời gian nhàn rỗi vô vị. Đang đi, chàng bỗng giật mình vì những tiếng huyên náo ở phía sau; chỉ một thoáng, dân chúng kéo nhau ra đầy nghẹt hai bên đường, chàng ngơ ngác thấy mọi người reo hò mừng rỡ và quây lấy quanh một thiếu phụ và một thiếu nữ. Có khoảng tám người mặc thường phục dẹp lối nhưng cũng thật khó khăn. Hai bên lầu phố, hoa được quăng xuống đám đông từ những ô cửa sổ. Tiếng reo hò vẫn không ngớt:
- Vương phi, Vương phi, chúc Vương phi trường thọ!
Giữa đám đông vây quanh, một thiếu phụ tuổi chừng trên bốn mươi, tuy ở tuổi trung niên, nhưng nhan sắc của bà còn tuyệt đẹp. Thiếu nữ đi cạnh bà giống bà như đúc, tuổi nàng khoảng mười sáu, mười bảy. Cả hai, trang phục thật giản dị, nhưng không những không làm mất đi vẻ xinh đẹp, mà như còn tăng thêm nét ôn nhu, nhân hậu. Nguyên Huân nhận thấy người thiếu nữ đi bên cạnh trung niên thiếu phụ kia, có rất nhiều nét giống Uyển Thanh của chàng, nhưng gương mặt và đôi mắt dịu dàng của nàng thuần hậu hơn Uyển Thanh.
Một ý nghĩ thoáng qua trong óc chàng, chưa kịp hình thành, thì đã nghe tiếng vó ngựa dồn rập và tiếng roi nẹt đường cùng với tiếng quát tháo, thoáng đã đến gần. Đám đông đang nói cười bỗng chốc không còn một bóng người, cả dãy phố lặng ngắt. Nguyên Huân chưa kịp ngạc nhiên thì trước mắt chàng, bảy, tám người trên lưng ngựa đã hiện ra. Người dẫn đầu là một thanh niên tuổi chừng hai mươi, ăn mặc diêm dúa, tóc cột cao phía sau bằng một dải lụa màu xanh biếc, xõa xuống sau lưng, một con bướm được kết bằng những viên ngọc lóng lánh điểm trên búi tóc, sau lưng đeo một thanh trường kiếm. Y vận y phục màu vàng, trước ngực thêu một cặp chim loan, phượng bằng kim tuyến. Bảy người trên ngựa theo sau đều là những võ tướng, kim khôi, giáp trụ, trang bị đao thương .kiếm kích.
Thanh niên gò cương ngựa, đôi mất âm hiểm, dâm đảng nhìn khắp trước khi nhảy xuống mình ngựa, bọn võ tướng vội vả xuống theo. Tay vung vẩy chiếc roi ngựa, y bước đến trước mặt người thiếu phụ và thiếu nữ. Thiếu phụ bước tới một bước vòng tay nói:
- Tiện thiếp kính chào Thái tử!
Gã thanh niên cũng chào đáp lại:
- Không dám, xin kính chào Vương phi và Quận chúa!
Vị Quận chúa là thiếu nữ xinh đẹp, nghiêng mình chào nhưng không nói gì, vẻ mặt nàng không được vui.
- Hôm nay Quận chúa có gì không được hài lòng vậy!
- Điện hạ thứ cho tiện nữ, chắc vì đi bộ mệt nên vẻ mặt biếng vui vậy thôi!
Vương phi đỡ lời, rồi quay nhìn con gái:
- Hoài Nam, con ra mắt Thái tử đi chứ!
Hoài Nam Quận chúa thoáng cau mày, cúi đầu nhỏ nhẹ:
- Xin ra mắt Điện hạ!
Thái tử long lanh ánh mắt, cười toác miệng:
- Không dám, Quận chúa mạnh khỏe chứ!
- Xin cảm ơn Điện hạ!
Tám người dẹp đường cho Vương phi lúc nãy cũng biến mất, thì ra họ chỉ là những thường dân, thấy bóng hung thần nên sợ hãi lãng tránh. Đệ lục Thái tử Chu Nguyên Khánh được Thành Tổ cưng chìu nên tự do hoành hành, tác oai tác quái không coi Vương pháp vào đâu, dân chúng kinh thành xem y không khác gì hung thần ác sát.
Chu Nguyên Khánh nhìn Vương phi:
- Ta đã thưa với Vương phi nhiều lần, là không nên ra phố một mình. Vương phi cùng Quận chúa lại còn đi bộ như thế nữa, làm cho bọn dân đen nhơ bẩn kia lờn mặt. Nghe tin, ta vội vã đến đây để bảo vệ Vương phi và Quận chúa đó!
- Xin tạ ơn Thái tử. Hôm nay là ngày Vọng, mẹ con thiếp đi chùa dâng hương cúng Phật, mà đối với Phật Tổ, ai cũng như nhau, nên không dám nghênh ngang xe ngựa!
- Cũng phải khác nhau chứ, ta với Đức Phật cũng như anh em, ông ta ngày xưa là Thái tử, ta cũng là Thái tử. Nhân tiện, cũng ghé thăm ông Phật một chút, nên xin được tháp tùng Vương phi!
Vương phi sợ hãi, không biết nói gì. Đang vênh vang, tự đắc Chu Nguyên Khánh bỗng cau mày quát lớn:
- Thằng dân đen chó chết kia, mi không còn muốn sống nữa rồi! Lôi cổ hắn lại đây, ta dạy cho hắn biết phép tắc của bản triều!
Vương phi và Hoài Nam cùng quay lại, và nhìn thấy một thiếu niên đứng cách đó không xa. Biết bản tính tàn ác của Chu Nguyên Khánh, mặt Hoài Nam tái đi vì sợ. Riêng Vương phi, vừa nhìn thấy chàng trai, bà giật mình. Bà nhíu mày cố nhớ lại, nhớ lại một cái gì mà bà chưa kịp hiểu là mình muốn nhớ điều gì, chỉ biết là nó vừa thoáng hiện trong trí bà như sau một đám mây mù.
Nguyên Huân, vì tò mò, nên đáng lẽ bỏ đi như mọi người, thì chàng lại đứng tại chỗ dõi theo câu chuyện giữa Vương phi và đám người ngựa sang trọng, quên mất lẻ hơn thiệt, phiền phức, đến khi nghe tiếng quát của Đệ lục Thái tử Nguyên Khánh, Nguyên Huân mới biết mình đã quá khinh xuất Thật ra, đối với chàng, Nguyên Huân thật chẳng coi gã Thái tử hống hách, ngu xuẩn kia ra gì, kể cả bảy tên võ tướng. Nhưng như thế, tất phải xảy ra việc động thủ, gây trở ngại cho công việc của chàng sắp tới, do đó, Nguyên Huân quyết định nhịn nhục.
- Kẻ tiện dân bấy lâu nay nghe uy danh Thái tử, bởi nay tình cờ được gặp, được thấy "dung nhan" nên sung sướng mà quên quỳ lạy, mong Thái tử lượng thứ cho!
Trong ánh mắt thương xót lẫn lo sợ của Hoài Nam, giờ bỗng thay bằng tia nhìn thương hại, nếu không muốn nói là khinh bỉ, nhưng rồi nàng cũng hiểu và thông cảm cho thân phận của người dân, vì mạng sống mà phải làm những điều trái với lòng mình. Chu Nguyên Khánh, thông thường được bọn thuộc hạ vây quanh tâng bốc, nay lại gặp dịp được một tên dân nịnh hót trước mặt người đẹp, y đổi giận làm vui, y múa roi ngựa vun vút trên đầu chàng, lấy giọng oai nghi:
- Tên dân ngu xuẩn kia, đã biết uy danh của ta, lại biết lỗi mình ngu muội. Ta tha cho, cút đi!
Nguyên Huân vái ba vái, rồi đứng lên đi thẳng. Vương phi nghĩ thầm: "Thiếu niên này ta thấy gương mặt quen thuộc lắm, nhìn phong thái con người y, ta chắc y xuất thân không phải tầm thường. Y dùng chữ "dung nhan" thật mỉa mai và đúng nữa. Chữ này dùng để chỉ nhan sắc đàn bà, con gái; một là y ngu dốt, hai là y cố tình châm biếm?"
Vương phi nghĩ thế, và quay nhìn Thái tử, nói:
- Mẹ con thần thiếp đi bộ, chẳng dám vô lễ để Thái tử cùng đi bộ theo, xin Thái tử đến trước dâng hương, thần thiếp cùng hài nữ xin đến sau một bước!
Chu Nguyên Khánh nghĩ đến đoạn đường từ đây cho đến Châu thành phía Bắc, nơi Sơn Quang Tự tọa lạc, đường xa, mà đi bộ y không quen, cưỡi ngựa đi kèm thì khiếm nhã với người đẹp, nên y vui vẻ nói:
- Vương phi nói cũng phải, để ta đến trước sắp xếp cho Vương phi và Quận chúa dâng hương cúng Phật!
Nói xong, đôi mắt hấp háy nhìn Hoài Nam Quận chúa bằng ánh mắt say mê, rồi nhảy lên ngựa phóng đi. Hoài Nam nói với mẹ :
- Thưa mẹ , quay về đi !
- Con không muốn nhìn thấy y làm nhơ bẩn cửa Phật, để đến kỳ sau vậy; vã lại Bảo Thư hôm nay khó ở, con muốn quay về!
Vương phi ngẫm nghĩ rồi gật đầu, nói:
- Thôi, ta về ! Phật Tổ cũng hiểu mà tha thứ cho mẹ con ta ?
Hìnhh ảnh Hoài Nam Quận chúa bám mãi trong đầu óc Nguyên Huân. Suốt đêm ấy chàng thao thức. Có một điều gì đấy lờ mờ, ẩn hiện trong ý nghĩ của chàng. Khuôn mặt của Hoài Nam và Uyển Thanh. Và Vương phi, Vương phi nào? Người đàn bà kia là vợ của vị Vương gia nào trong Triều đình của Vĩnh Lạc Hoàng đế?
Chàng ngồi dậy, mở toang cửa sổ. Từng cơn gió lạnh buốt như kim châm lùa vào phòng. Phố xá chìm trong yên tỉnh, chìm trong ánh sáng trắng đục lạnh lẽo. Đột nhiên, trong cái tĩnh mịch của đêm đông, chàng vừa thoáng nghe có tiếng chéo áo phất nhẹ trong khí lạnh. Ai đã xử dụng khinh công đi lại vào lúc này? Nhất là đêm nay trời vẫn sáng vì có trăng rằm, tuy bị những đám mây xám phủ kín bầu trời, nhưng đêm rằm vẫn sáng bàng bạc một màu sữa đục.
Một thoáng suy nghĩ, Nguyên Huân tung người qua cửa sổ vượt lên mái nhà. Cách chàng một quãng xa, một bóng mờ vút đi dưới ánh trăng khuya, chàng tung người đuổi theo. Với bộ võ phục màu vàng, hòa vào ánh trăng chiếu nhờ nhờ, thân pháp chàng phóng vút như một mũi tên; khoảng cách mỗi lúc một gần, nhưng rồi, tuy đã vận hết cước lực, chàng vẫn không rút ngắn thêm khoảng cách.
Bóng trắng vút về hướng Bắc, về hướng Sơn Quang Tự, rồi mất hút trong những tàn cây của ngôi đại tự cổ kính. Còn đang ngơ ngác, thoáng nghe tiếng gió phía sau, biết có người tập kích, nhanh như chớp, Nguyên Huân xoay mình lại, cùng lúc, đầu một ngọn roi như rắn mổ từ dưới bóng tối của tàn cây đánh đến. Đầu roi chưa tới mà kình lực đã ập đến phong tỏa các huyệt đạo trên nhân mạch của chàng.
Không chậm trễ, chàng vận Hỏa Vân công, phối hợp Nhật Nguyệt Tam hóa Thần công, giở Triệt Di thủ pháp hóa giải và phản công tức khắc. Thân ảnh chàng như bóng mờ, xuyên qua đảo lại trong trùng trùng bóng roi, kình lực của ngọn roi mỗi lúc một tăng thêm, tiếng roi rít ngược và mổ xuống nhắm vào các tử huyệt trên người chàng, đường roi như chẳng biết dung tình, liên tục tấn công không dứt. Nguyên Huân vận thêm nội lực, hai bàn tay chàng như biến theo muôn vạn đầu roi, chụp, bắt, búng, đẩy, xô, cuốn... dần dần đường roi như giảm hẳn uy thế.
Từ khi bước chân đi lại chốn giang hồ, lần đầu tiên chàng gặp phải một cao thủ đáng sợ như vậy. Nếu không có thời gian công phu quý báu ở Tuyệt Tình Đàm, và nhất là Tý lực của chàng sau những ngày luyện kiếm dưới thác nước, chắc chàng không thể nào địch nổi với đường roi hiểm ác này.
Thoắt chốc, hai bên đã giao thủ đến ba, bốn trăm chiêu, vẫn không kềm chế nhau được. Đường roi rút ngắn dần, càng ngắn, kình lực càng mạnh thêm. Bấy giờ, Nguyên Huân đã nhận ra đối thủ của chàng có một thân hình nhỏ nhắn, mặc bộ dạ hành tuyền trắng, mặt bịt một vuông khăn cùng màu, do vậy, cả thân người như chìm lấp trong không gian màu sữa. Như muốn dứt điểm, bóng người đổi thế công, đầu roi quái dị mổ đến như cùng lúc từ cả ba hướng, tả, hữu và trực diện khiến Nguyên Huân phải lui lại một bước. Bỗng nhiên áp lực đột ngột biến mất, ngọn roi đã thu gọn trong tay của đối thủ .
- Mô Phật! Công lực của Trần thí chủ tăng tiến đến thế là cùng!
Bóng trắng vừa nói vừa cởi chiếc khăn bịt mặt.
- Sưthái!
Nguyên Huân mừng rỡ reo lên. Tâm Hư sư thái mỉm cười:
- Mấy hôm nay, ta thấy Thiếu hiệp qua lại Hoàng thành mấy lần. Ban ngày không tiện gặp nơi tửu lầu, nên đêm nay có việc ngang qua đây, muốn thử công phu Thiếu hiệp một phen. Thật quả võ công của Thiếu hiệp tăng tiến nhanh thật, ta không ngờ đấy!
Nguyên Huân vòng tay thưa:
- Đa tạ Sư thái quá khen!
Tâm Hư nói:
- Bần ni đến đây đã trên nửa tháng rồi, ngụ tại ngôi Sơn Quang Tự này. Mời thí chủ quá bộ ghé lại, ta có vài việc muốn nói!
Nguyên Huân theo Sư thái vào khuôn viên ngôi cổ tự bằng lối sau. Trời bắt đầu sáng dần. Một lát sau, Tâm Hư sư thái trở lại trong bộ đồ tu hành:
- Thiếu hiệp ăn, ở nơi sang trọng thật!
Nguyên Huân ngượng ngùng thưa:
- Bạch Sư thái, chẳng qua là vạn bất đắc dĩ, mong Sư thái hiểu cho!
Tâm Hư cười, nói:
- Ta có trách móc gì thí chủ đâu. Chỉ vô tình nói thế thôi, Thiếu hiệp đừng quan tâm nhé !
Nguyên Huân hỏi:
- Công việc của Sư thái đã xong chưa?
Tâm Hư nhìn ra ngoài trời, ngàn cây đẫm hơi sương lạnh lẽo, không gian cô tịch.
- Bần ni có chút việc riêng của bản phái, mà trên ba mươi năm bần ni bôn tẩu khắp thiên hạ vẫn chưa hoàn thành được; Suốt dãy Hoa Nam, Hoa Bắc, Tứ Di, nội, ngoại thành, đế tâm nghe ngóng, tìm kiếm không ngừng kể từ ngày trao chức Chưởng Môn cho Sư muội đến nay, vậy mà vẫn tuyệt âm vô tích!
Nguyên Huân e dè hỏi:
- Sư thái tha lỗi cho vãn bối tò mò . Chẳng hiểu Sư thái có thể cho vãn bối giúp ích gì được chăng?
- Việc này cũng không có gì bí mật cả. Ngày xưa trên giang hồ xuất hiện hai báu vật. Đồ Long đao và Ỷ Thiên kiếm, vốn do Quách đại hiệp tạo thành bởi khối Huyền thiết trong Thủy động, và là nơi cất giấu hai báu vật giang hồ cũng do Quách đại hiệp tìm được, một là bộ Cửu âm Chân kinh, chép trên tấm da người của xác đồng Trần Huyền Phong, đã vô tình lọt vào tay đại hiệp ngày đại hiệp còn ở sa mạc Mông Cổ. Hai là bộ Vũ Mục Di Thư, do Vũ Mục Nhạc Phi, một danh tướng của Tống triều trước tác, sau Nhạc Phi bị giết bởi tay Tần Cối. Di Thư sau đó lọt vào tay Thiết Chưởng bang của Thiết Chưởng Thủy Thượng Phiêu Cửu Thiên Nhân, và được cất giữ trong thánh địa bất khả xâm phạm của bang Thiết Chưởng; đó là một hang động dùng làm nơi tọa diệt của các đời Bang chủ. Hang động đó nằm ở đốt thứ ba của ngọn núi chính trong năm ngọn núi có thế dựng đứng như bàn tay, nên gọi là Chưởng Phong Sơn, hay Thiết Chưởng Sơn cũng vậy.
Tổ sư bản phái Quách Tường, vốn là con gái của Quách Hoàng nhị hiệp, nên báu vật này là báu vật trấn sơn của Nga Mi. Hiện nay Vũ Mục Di Thư không biết mất về phương nào. Trước đây, Giáo chủ Minh giáo, người họ Trương, đã thu hồi được Vũ Mục Di Thư và trao cho Từ Đạt, Từ Đạt nhờ vào Di thư trở thành danh tướng, đánh đâu thắng đấy, phò Chu Nguyên Chương dựng nên nhà Minh, vì họ Chu vốn là người của Minh giáo. Sau khi Từ Đạt bị sát hại, bộ Di Thư không biết lạc về đâu.
Khi Sư phụ còn sống, người bắt ta làm xong bốn điều, là thu hồi được báu vật về cho Nga Mi. Trong ba mươi năm qua, ta mới làm xong được một. Ba việc còn lại, một là Vũ Mục Di Thư, hai là Đồ Long đao đã được Nhan Bổn năm xưa hàn lại, ba là ỷ Thiên kiếm, đã bị gãy lìa. Nay bần ni biết Thiếu hiệp mưu toan xâm nhập Thư khố và Ngự thư phòng tìm kiếm Bí Kíp của tổ tiên, ta cũng muốn nhân cơ hội này, chúng ta cùng liên thủ tìm kiếm, thí chủ nghĩ sao?
Nguyên Huân đáp:
- Xin Sư thái cứ tin vào vãn bối, nếu trong lúc lục soát Thư khố hoặc trong Ngự thư phòng, vãn bối phát giác được Di Thư Vũ Mục, thế nào cũng thu hồi về cho quý phái!
Tâm Hư nói:
- Bần ni thay mặt bản phái Nga Mi tạ ơn Thiếu hiệp!
- Xin Sư thái đừng nói vậy, đó là bổn phận trong võ lâm mà thôi!

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-25 03:12:12Hoàng Dung>
chương mười bẩy
Ngổn ngang dạ đất, lòng trời
Ngẩn ngơ bóng cá, tơi bời dáng chim.


Từ hôm gặp Quận chúa Hoài Nam, lòng Nguyên Huân không lúc nào không nghĩ đến nàng, nhất là đôi mắt. Chàng cũng không hiểu tại sao, cố xua hình ảnh nàng ra khỏi tâm trí thì đôi mắt ấy lại càng hiện ra rõ rệt, như một ám ảnh dịu dàng. "Sao ta lại có thể như thế này, ta thực chẳng đáng làm người nữa. Trách nhiệm ta chưa thành, Tổ quốc ta còn quằn quại dưới gót chân bọn xâm lược, thì ta, ta lại đem lòng tơ tưởng đến một người con gái của kẻ thù. Biết đâu nàng chẳng là bà con cật ruột với một trong những tên tướng giặc đang dày xéo Giang sơn, Tổ quốc ta...
Không, ta không thể như thế, không thể phản bội Uyển Thanh của ta được, dẫu là trong ý nghĩ..."
Nguyên Huân tự sỉ nhục mình mỗi khi chàng thoáng bắt gặp chàng, như đang nhớ, đang đắm chìm vì đôi mắt ấy.
Một buổi, Nguyên Huân gọi A Thực vào phòng, móc túi cho y hai lạng bạc, A Thực cúi đầu tạ ơn, và nhìn chàng nói:
- Công tử có điều gì dạy bảo, xin cứ nói, tiểu nhân, dẫu việc khó đến đâu cũng chẳng từ nan!
Nguyên Huân cười nói:
- Ta không nhờ ngươi việc chi khó khăn lắm đâu. Ta thấy ngươi đối với ta có lòng nên giúp ngươi chút đỉnh, để thêm vào chi phí cho vợ con ngươi đó mà!
- Tấm lòng của công tử đối với tiểu nhân dẫu chết cũng chẳng quên. Mấy bữa nay công tử đi chơi có gì vui không?
- Ta đi thăm mấy chốn danh lam thắng cảnh, vì chẳng mấy khi về Kinh đô. à, hôm nọ, ta có gặp một trung niên thiếu phụ tuyệt sắc, và một thiếu nữ đi cùng bà cũng đẹp không kém. Cả hai người ăn mặc giản dị, nhưng dân chúng thì tỏ ra quý trọng vô cùng. Hình như đó là thê thiếp của một vị Vương nào trong triều thì phải?
A Thực tươi hẳn nét mặt vì có cơ hội tỏ sự hiểu biết của mình, tuy vậy cùng lúc y nghĩ nhanh trong đầu: "Chàng công tử chắc hẳn mê cô Quận chúa mất rồi, thể nào ta gạ đưa mỹ nữ đến cũng chẳng thiết." Y giải thích cho Nguyên Huân nghe một hơi:
- Bọn con Vua, cháu Chúa, Vương tôn công tử, thê thiếp những nhà đại gia quyền quý ở đất Yên Kinh này ai chẳng ăn diện, trang điểm. Người mà công tử hỏi đó là Vương phi và Quận chúa của Quang Minh Vương phủ. Nghĩ cũng thật lạ, Pháp Vương quyền khuynh thiên hạ, lại vô cùng ... vô cùng... khắc nghiệt, thế mà Vương phi và Quận chúa lại là những người hết sức nhân hậu và bình dị. Công tử chắc hẳn chưa biết, Vương phi nổi tiếng ở đất Yên Kinh này là đệ nhất mỹ nhân đấy, dẫu bà đã trên bốn mươi rồi. Còn Quận
chúa nhan sắc đang vừa độ, đẹp chẳng kém mẹ bao nhiêu, công tử cũng đã nhìn thấy rồi, tiểu nhân chẳng cần phải xưng tụng nữa. Ấy, công tử biết không, đệ lục Thái tử say mê Quận chúa Hoài Nam, đeo đuổi bao nhiêu năm, nhưng Quận chúa chẳng đoái hoài; cũng may là Dương Vương quyền uy nghiêng trời, võ công lệch đất, nếu không úy kỵ thì đời nào Thái tử chịu lụy. Thái tử mà để ý đến ai, thì đừng hòng thoát khỏi, dẫu người ta có chồng hay chưa chồng...
Nguyên Huân ngắt lời tên tửu bảo lắm chuyện:
- Cảm ơn A Thực, ta hỏi cho biết vậy thôi, vì một vị Vương phi và Quận chúa mà ra phố, đi bộ, ăn mặc giản dị như thế, thật là cổ kim hiếm thấy. Ta nghĩ có thể Hoài Nam Quận chúa... Đang nói, Nguyên Huân thết nhiên im bặt nửa chừng. Chàng giật mình nhớ lại, trước hôm chàng lên đường, Đoàn lục thúc có nhắc đến người vợ yêu dấu của ông đã bị kẻ thù bất mang đi biệt tích. Đó là một thiếu phụ xuân sắc ở độ tuổi hai mươi lăm, một " Tây Bắc đệ nhất mỹ nhân". Có thể nào Vương phi chính là Thúc mẫu của chàng, là mẹ của Uyển Thanh?, và Hoài Nam cũng chính là đứa con của bà và Lục thúc? Ngày hai người xa nhau là ngày bà đã hoài thai. Và Hoài Nam, Hoài Nam, nhớ phương Nam. Phải rồi, một cái tên mang nổi nhớ về một phương trời.
Nguyên Huân sung sướng khi chàng hiểu ra được nguyên nhân vì cớ sao mà người thiếu nữ này đã làm thao thức tâm trí chàng như vậy, chính vì dung mạo của nàng phảng phất hình ảnh của Uyển Thanh, đôi mắt và khuôn mặt.
Giờ đây, làm sao để có thể gặp được bà? Chàng không thể đường đột đến tìm bà nơi Vương phủ, và bà, liệu bà có còn nhớ gì đến quê cha đất tổ, đến chồng, con nữa không? Hay vì được sống trong nhung lụa, quyền uy mà quên hết mọi sự! Chàng buồn lòng tự hỏi.
Nhưng Hoài Nam, Hoài Nam? Nỗi nhung nhớ về một phương trời đã xa vời vợi, nỗi xót xa nung nấu từng tháng, ngày, đã bật thành tiếng gọi trên môi? Và bà vẫn còn là bà của lúc này? Ngày bà đặt tên cho con, cách đây đã mười sáu mười bảy năm, bây giờ nỗi nhớ ấy có còn chăng, hay đã nhạt phai, " Ô không, chàng nghĩ, Thúc mẫu sống trong quyền uy nhung lụa, nhưng chính mắt ta, ta đã thấy bà dung dị, giản đơn biết là chừng nào. Chẳng gấm vóc, trang sức, chẳng ngựa xe võng lọng. Một vị Vương phi ra phố, đi bộ để gần gũi đám dân đen. Một tâm hồn, một con người như thế, chẳng thể nào đổi thay được". Nguyên Huân bỗng thấy lòng mình nhẹ nhõm.
Và như thế, Hoài Nam chính không chừng lại là em gái cùng cha, cùng mẹ với Uyển Thanh; nhưng ở Hoài Nam, nàng có đôi mắt ôn nhu, thuần hậu và dáng đi uyển chuyển hơn chị . Chàng tự nhủ " Em của Uyển Thanh cũng là em ta vậy!"
Nhưng cũng từ đó, Nguyên Huân nhận ra là càng ngày hình ảnh của Hoài Nam càng đậm nét trong tâm trí chàng. Nguyên Huân cố hình dung về Uyển Thanh, về những tháng ngày đã lớn không bên nhau, và ngày chia tay, nước mắt của Uyển Thanh làm lạnh vai áo chàng; nhưng chỉ một phút sau, hình ảnh thân thương ấy chìm đi, nhường cho đôi mắt, đôi mắt đã chiếm lĩnh tâm hồn chàng. Đôi mắt dịu dàng, thăm thẳm kia như đọng mãi trong hồn như bóng đêm, bóng đêm vây chặt lấy chàng và chàng chìm đi trong bóng đêm huyền diệu ấy. Nguyên Huân cố cưỡng lại với chính mình bằng tất cả ý chí, nhưng rồi chàng lại như ngạt thở bởi nỗi đau đớn êm đềm ấy phủ vây. . . "ôi, tình yêu ! Phải chăng?" Và chàng, giờ đây mới hiểu được nỗi đớn đau của Bảo Thư, mới hiểu được sự kỳ diệu, sự dịu dàng, nhưng mạnh hơn cái chết, hơn tất cả đất lẫn trời, trời lẫn đất hợp lại.
"Không! Ta không thể! Ta không thể?", đã bao nhiêu lần chàng tự nhủ, tự dày vò, và cũng bấy nhiêu lần chàng rã rời bất lực. Tình yêu, hạnh phúc, như nỗi chết này chăng? Đất trời gom nhỏ lại khi chàng nhớ Hoài Nam. "Núi non kia xuống thấp, và biển biếc chợt vô cùng khi ta nghĩ đến em."
"Uyển Thanh, lẽ nào em bỏ ta chiến đấu một mình, lẽ nào em bỏ ta trong sương phủ, để mặc ta trong đêm tối muôn trùng. Không, ta không thể phụ Uyển Thanh, Uyển Thanh trông ngóng ta từng phút, ta không thể là một con người như thế này được!" Nhưng, sao đôi mắt kia lại như cố tình hiển hiện trong mắt chàng khép kín, như cuốn xoáy vào nỗi nhớ không rời! Đã bao nhiêu lần chàng trỗi dậy trong bóng đêm, muốn tìm cách lọt vào Vương phủ, chỉ để mong nhìn thấy đôi mắt kia một lần; nhưng một điều gì tự trong sâu kín của ý thức đã giữ chàng lại.
Lần đầu tiên trong đời, Nguyên Huân hiểu thế nào là tình yêu, và nhớ nhung. Trước đây chàng cũng nhớ Uyển Thanh, nhưng nỗi nhớ ấy dịu nhẹ như nhớ về một vùng trời, vùng đất, nhớ đến một người thân xa cách. Chàng yêu thương Uyển Thanh như yêu thương tình ruột thịt. Và giờ đây, chàng phải dùng mọi ý lực để nhớ rằng, Uyển Thanh đã đặt trọn vẹn niềm tin yêu vào chàng, Uyển Thanh là người vợ chính thức của chàng; Hoài Nam, chỉ là một tình yêu gởi theo bóng mây, suốt đời câm nín.
Nhưng dẫu sao, chàng cũng sẽ phải gặp Vương phi, sẽ tỏ bày cùng bà thân thế của mình, sẽ gợi lại cho bà nhớ lại Đoàn lục thúc và Uyển Thanh, chồng con bà, nếu bà đã quên. Ôi, nếu bà không còn nhớ đến quá khứ nữa, chàng sẽ phải nói thế nào, thuật lại thế nào với Đoàn lục thúc của chàng; và ngược lại, nếu bà muốn trở về Đại Việt với chồng, với con, sẽ làm thế nào để có thể đưa bà trong an lành. Nhiệm vụ chàng quả thật vô cùng nặng nề, chưa hoàn thành được lấy muôn một, lòng chàng xốn xang trăm nỗi!
Buổi chiều, như mọi chiều, Hoài Nam sang Bích Thảo Cung thăm mẹ. Thấy mẹ ngồi một mình im lìm, đơn chiếc trong bóng chiều, ngó mông ra khu hoa viên lạnh lẽo, ánh mất thẩn thờ, vô định, nàng trông bà không khác gì một pho tượng đá câm lặng. Hoài Nam đến bên mẹ quỳ xuống, ngước nhìn khuôn mặt bà, đôi mắt bà đăm đăm như chìm trong suy tư Nàng dịu dàng hỏi mẹ:
- Mẹ! Mẹ có điều chi suy nghĩ vậy?
Vương phi đưa tay vuốt tóc con gái, im lặng không nói. Tâm hồn bà đang chìm lắng trong đầy ắp nổi ngậm ngùi. Bao nhiêu năm trời qua đi theo tuổi đời của đứa con gái yêu quý bà những tưởng đã nguôi ngoai, những tưởng một đời bà cũng chìm sâu vào quá vãng; nhưng sau bao nhiêu ngày đêm, từ lúc nhìn thấy gã thanh niên trẻ tuổi ngoài đường phố, nét mặt y đã làm bà trăn trở, y đã làm bà nhớ đến một người nào đó, bà đã vận dụng trí nhớ của mình, và rồi chiều hôm nay, đột ngột trong óc bà mở bừng một hình ảnh. . . và cả một quá khứ đã trở về cùng bà , như nước triều dâng, như cơn sóng dậy...
Cách nay đã mười tám năm, cũng vào chiều mùa đông như hôm nay, một toán người võ trang lạ mặt xông đến gia trang của người họ Trần, Tam ca của chồng bà. Trận đánh diễn ra khốc liệt, từng toán binh lính của giặc, chen lẫn những tên bịt mặt bằng vải đủ màu, đã ra tay chém giết, đốt phá...Bà ngất đi trong nổi kinh hoàng. Khi tỉnh dậy, thấy mình ở nơi hoàn toàn xa lạ, chồng và con bà không biết ra sao? Bà khóc lóc thê thảm, và bị dẫn đi ngày, đêm về phương Bắc cùng một số tù nhân khác, gồm phần lớn là đàn ông, những người đứng tuổi. Rồi một đêm kia, giữa con đường xuyên sơn, một toán người đã xông vào tấn công bọn quân binh, một người đã cứu bà thoát khỏi gông cùm, một lần nữa bà lại ngất đi. Khi tỉnh lại, bà thấy mình đang nằm trong một căn phòng trần thiết cực kỳ sang trọng, với một đám thể nữ vây quanh săn sóc cho bà. Người đàn ông cứu bà, chính là Quang Minh Dương Vương.
Dương Vương đối với bà hết dạ ân cần, chăm sóc bà với tấm lòng độ lượng, khoan dung. Ông hứa sẽ cho điều tra về vụ thảm sát mà ông cho biết là do một đám quan quân lộng hành làm bậy. .. Mấy ngày sau, Dương Vương thông báo cho bà biết, bọn quan quân vô kỷ luật kia đã bị trừng phạt nặng nề, và ông cũng tỏ lòng đau đớn cho bà biết, trong vụ thảm sát kia, người sống sót duy nhất là bà, chỉ một mình bà.
Theo lệnh của Hoàng đế, tất cả mỹ nhân, nghệ nhân, nhân tài của Đại Việt bị bắt giữ phải giải giao về Kim Lăng, nhưng chính ông, không bằng lòng với chính lệnh ấy, ông đã giết hết bọn quân binh dẫn độ, thả hết tù nhân; riêng bà bị ngất đi, nên ông đem về đây cứu chữa.
Thế là chồng con bà đã chết, cả gia đình Trần tam ca với chú bé năm tuổi, con của Tam ca cũng không còn sống sót. Bao nhiêu lần bà muốn quyên sinh, nhưng còn bào thai trong bụng, bà không thể nào chết được, vì đó là đứa con còn lại duy nhất của chồng bà, giọt máu cuối cùng của dòng họ Đoàn. Bà phải sống, với niềm hy vọng mong manh, một ngày nào trở về cố hương.
Và cảm vì tấm lòng của Dương Vương, nên bà nhận lời làm vợ ông để có nơi nương tựa cho con sau này. Thoắt chốc đã mười tám năm trôi qua, hình ảnh đầy máu lửa ấy còn in đậm nét trong lòng bà . Suốt trong bằng ấy năm, bà cố quên đi mà chẳng thể nào quên được...
Và rồi nay thì người thiếu niên tuấn tú ấy đột ngột hiện ra trước mắt bà, đã dần đưa bà nhớ lại người anh kết nghĩa thứ ba của chồng bà, Trần Nguyên Lữ. Người thiếu niên của buổi sáng hôm ấy, giống Trần tam ca như tạc. Ngày bà về làm vợ Đoàn Chính Tâm, chính Trần tam ca đã đứng ra lo lắng mọi thứ, khi cô gái họ Lý, tên Yến Phi về nhà chồng... Khuôn mặt, vầng trán, chiếc mũi, đôi mắt của chàng thanh niên giống Trần tam ca từng nét một. Đây có phải chăng là đứa con trai được năm tuổi của ông khi trước? Không, chẳng thể nào như thế được ! Từ Yên Kinh về Đại Việt đường xa vạn dặm... Và cậu bé ấy với đứa con gái đầu lên ba của bà đã chết trong buổi chiều đông lửa loạn ấy. Không! Đây chỉ là người giống người đấy thôi... và bà ngồi như thế suốt buổi chiều bên hoa viên lạnh giá. Xót xa, thờ thẩn...
Nhìn nét mặt lo lắng của con, bà ôn tồn âu yếm nói:
- Hoài Nam, tính mẹ lúc này thường như thế, con đừng lo cho mẹ !
Hoài Nam nắm lấy bàn tay như búp ngọc của mẹ:
- Mẹ có điều gì dấu con phải không mẹ?!
Vương phi nhìn sâu vào đôi mắt tuyệt đẹp của con, áy náy hỏi:
- Sao con lại có ý nghĩ ấy?
- Con linh cảm thấy có điều gì đấy mà mẹ không nói ra, và bởi con thấy mẹ, đường đường là một Vương phi, tại sao mẹ lại sống khắc kỷ với bản thân mẹ như thế?
Vương phi cố gắng mỉm cười, vỗ vai con gái:
- Thế còn con, sao con lại sống giản dị như vậy?
- Tại con thích thế!
- Thì mẹ cũng vậy!
- Không, mẹ ạ ! Bên Vân Trang cung, tuy con sống giản dị, nhưng không đến nỗi buồn tẻ, bình dân như bên Bích Thảo cung của mẹ. Mẹ không chịu cho ai hầu hạ mẹ, săn sóc mẹ. Chắc chắn là mẹ có nỗi buồn nào đấy mà mẹ giấu con, phải không mẹ?
Vương phi im lặng. Phải, bà đã giấu con gái bà tất cả. Bà không muốn Hoài Nam buồn phiền vô ích, khi tất cả đã chẳng còn gì, chẳng còn một hy vọng gì ! Bà sẽ mang bí mật của đời bà xuống mộ sâu, không tỏ bày cùng ai, ngay cả với con. Bà cố nén đau đớn, bảo con:
- Không đâu, con gái yêu của mẹ, chẳng có điều gì mẹ giấu con!
- Nhưng, này mẹ ! Sao mẹ chẳng một lần thuật cho con nghe thời con gái của mẹ, trước khi mẹ về làm vợ cha con!?
Bà thở dài:
- Có gì đâu mà kể! Thời con gái của mẹ bình dị lắm, mẹ vốn là người ... Vân Nam, mẹ mang thai con những ngày ở đấy nên mới đặt tên con là Hoài Nam!
Kim Lăng, cố đô của Hoàng đế, có gần quê mẹ không?
- Cũng gần con ạ! Và mẹ vì thế mới gặp cha con!
- Này mẹ, con có bà con, thân thuộc, cậu dì không mẹ?
- Không con ạ ! Mẹ chỉ có một mình, những người thân nay chẳng còn ai nữa!
Hoài Nam thở nhẹ:
- Tội nghiệp mẹ! Chắc ngày mẹ bằng tuổi con, mẹ khổ lắm phải không mẹ?
Không đâu con, có một thời mẹ hạnh phúc... Thôi, Hoài Nam, mẹ mệt quá, để hôm khác, mẹ kể cho con nghe nhé...
- Vâng, mẹ đi nghỉ đi, trời lạnh lắm!
- Có lẽ sắp có tuyết rồi đấy !
- Ở quê mẹ có tuyết không hở mẹ?
- Không, con ạ! Cũng có mùa đông, nhưng không bao giờ có tuyết cả!
- Con mong ước có ngày về quê mẹ...
- Mẹ chẳng còn hy vọng gì, nhưng mẹ chỉ mơ ước thôi!
Hoài Nam nhìn mẹ:
- Sao mẹ không nói với cha con? Mẹ thấy đấy, mẹ muốn điều gì, cha con đều làm theo ý mẹ!
- Không, mẹ không bao giờ...
Vương phi rời cửa sổ, Hoài Nam dìu bà vào phòng trong:
- Mẹ đã dùng cơm chiều chưa?
- Mẹ đã ăn rồi, còn con?
- Con ăn xong trước khi sang đây. Này mẹ, mẹ có nhớ người thanh niên hôm nọ không? Y hèn nhát quá!
- Không đâu con, mẹ không nghĩ vậy; mẹ không thấy vẻ sợ hãi trên nét mặt y, chỉ vì y không muốn sinh chuyện đó thôi!
- Có lúc con cũng nghĩ rằng y không hèn nhát, vì lẽ gì đó mà y nhịn nhục thôi, con có cảm tường con đọc thấy điều này trong ánh mắt y, mẹ có nhận thấy như vậy không?
- Mẹ thấy, trong lúc mọi người bỏ chạy hết, y vẫn điềm nhiên đứng lại!
- Có lẽ vì y không biết đó thôi!
vương phi nhìn Hoài Nam, ngạc nhiên:
- Y không biết cái gì vậy con.
- Chắc là y ở xa đến, nên không biết gì về Đệ lục Thái tử và tính tàn bạo cửa gã!
- Mẹ có cảm tường y ở nơi rất xa mà đến...
- Tại sao mẹ lại có cảm tưởng ấy?!
- Mẹ cũng không biết nữa, mẹ đoán vậy !
Vương phi nằm xuống giường, kéo chăn đắp. Hoài Nam buông mùng cho mẹ và hỏi:
- Thể nữ hầu hạ mẹ đâu hết cả?
- Mẹ cho họ lui cả rồi. Mẹ đâu có việc gì cần thiết giờ này để họ phải túc trực!
- Mẹ ạ! Nếu cha con biết được, chắc chắn cha sẽ giết họ đấy, nhưng... sao cha con đối với mẹ, con và Bảo Thư thì độ lương, hiền hậu thế, còn đối với mọi người thì ra tay lại quá tàn độc...?
- Làm sao con lại nói vậy?
- Bởi con biết, và cả mẹ, mẹ cũng biết...
- Không, mẹ không biết gì về những chuyện của cha con, và mẹ không muốn biết!
Hoài Nam vẫn tiếp tục:
- Bảo Thư nói với con, trong thiên hạ, mọi người đều oán hận cha con. Tại sao vậy mẹ?
- Mẹ đã bảo với con là mẹ không biết gì hết. Làm sao mà mẹ biết được! Thôi, Hoài Nam, con về nghỉ đi, trời lại lạnh nữa. Mẹ muốn nằm một mình. Về đi con!
- Vâng, con xin nghe lời mẹ ! Con cầu cho mẹ được ngon giấc!
Hoài Nam cúi xuống hôn lên trán Vương phi, rồi quay ra. Nàng lại tự hỏi: "Chẳng là việc liên quan đến ta, sao gã thanh niên, mà vẻ mặt, ánh mắt y lại làm cho ta bận tâm đến thế!"

 o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-29 21:34:00Hoàng Dung>
chương mười tám
 Nguyên Huân thu hồi Vũ Mục Di Thư
Phượng Thánh trọng thương âm Hàn Ngọc Chướng.


Thoắt đã đến đầu tháng chạp, khí trời càng lúc càng giá buốt, tuyết trắng đầy trời, kinh thành co ro trong cái không gian lạnh lẽo. Sinh hoạt phố xá vì thế mà giảm đi, đã cuối giờ Thìn, đường sá vắng người qua lại. Tuy trời giá buốt, rét mướt như thế, Nguyên Huân vẫn thức dậy vào lúc tiếng trống điểm canh tư. Trong suốt mười mấy năm trời, chàng không hề bỏ dở việc luyện tập, giờ đã thành thói quen. Dù bất kỳ nơi đâu, bất kể điều kiện thời tiết nào, chẳng một lần lơ là việc tinh luyện võ công; chính vì sự chuyên cần khổ luyện ấy chàng đã đạt được một cách hết sức nhanh chóng những thành tựu về võ học.
Sau khi dùng điểm tâm, Nguyên Huân khoác lên người chiếc áo khinh cừu, bước ra trời tuyết lạnh. Chàng đi đến địa điểm mà Kiến Nghiệp đại sư đã ghi trong giấy.
Nơi chàng tìm đến là một căn nhà cổ kính, khuất sau những hàng cây và một hoa viên nhỏ. Một gia nhân bước ra, co ro vì giá lạnh, nét mặt cau có; nhưng khi nhìn thấy tấm áo khinh cừu quý giá trên người chàng, y liền tươi ngay nét mặt, hỏi:
- Công tử có việc gì cần?
Nhìn người gia nhân già nua đang run rẩy trong cái buốt giá lạnh cóng của buổi mạnh đông, Nguyên Huân động lòng trắc ẩn, chàng thò tay vào túi, lấy ra thoi bạc chừng bốn, năm lượng đưa cho lão:
- Trời lạnh quá, lão cầm lấy uống rượu cho ấm!
Lão gia nhân trố mắt nhìn Nguyên Huân, đôi mắt mệt mỏi bỗng sáng lên:
- Công tử cho lão nhiều thế, lão thực áy náy lắm!
Tuy nói vậy nhưng bàn tay nhăn nheo đã cầm lấy thoi bạc nhanh như cắt.
- Xin lão trượng cho biết Thái công công đã về chưa?
Lão gia nhân nói:
- Công công đã về hồi hôm, chắc giờ còn đang ngủ. Mời công tử vào, tuyết xuống nhiều quá!
Dẫn Nguyên Huân vào một khách phòng rộng, lão rót nước mời chàng:
- Mời công tử dùng trà cho ấm!
Nguyên Huân nói:
- Nếu Thái công công đã thức, xin lão trượng bẩm với Thái công công là có người từ Hắc Mai Sơn ở Hàng Châu tới thăm!
Chỉ một lát sau, lão gia nhân bước ra cung kính:
- Thưa công tử, chủ nhân có lời mời.
Nguyên Huân đứng lên, đi theo người lão bộc, xuyên qua một hành lang rộng, đến một căn nhà xinh xắn; lão đẩy cửa bước vào ra dấu cho chàng đi theo. Người đàn ông có tuổi, không râu, tóc đã lốm đốm bạc, ngồi lọt trong chiếc ghế rộng, đôi mắt lim dim dưới hàng lông mày thưa, như còn ngái ngủ ; nhưng chàng bắt gặp, rất nhanh, một ánh tinh quang lóe lên rồi lại tắt ngay. Lão đứng dậy đón chàng, Nguyên Huân vòng tay thi lễ:
- Tại hạ họ Trần, xin được Thái công công tiếp kiến!
- Lão hủ chính là Thái Hòa đây ? Chẳng hay công tử gặp lão hủ này có chuyện gì vậy?
May mắn quá! Tại hạ từ Hắc Mai Sơn ở Hàng Châu ghé ngang đây, nghe Công công là người tâm phúc trong cung, nên có chút báu vật muốn bán vào cung. Chẳng hay Công công có giúp cho được không?
- Điều này có thể được, lấy ra thì khó thật, nhưng bán vào thì cũng dễ thôi!
"Lấy ra thì khó, bán vào thì dễ". Nguyên Huân biết lão lang tra hỏi mật khẩu chàng:
- "Báu vật tùy người mà đến", kẻ có phúc thì "không cầu cũng tới", "Vinh bất chiêu nhi tự lai, nhục bất trục nhi tú khứ".
(Cái vinh không cầu cũng tới, cái nhục không trục cũng đi).
Nguyên Huân đọc lời ở chương Hiếu Hạnh trong sách Thuyết Uyển.
- Nhưng công tử có báu vật gì'? "Sao bán đi mà không tiếc"?
- Tại hạ "Không còn phúc thì giữ làm sao được" vì " ngọc quý giống như mỹ nhân, không có đức thì nên họa". Món hàng của tại hạ gồm "Lam ngọc", "Uyên ương hồng bảo ngọc và " Ngũ Hành kỳ hỏa ngọc".
- Vậy thì đưa "Ngũ Hành kỳ đến đi!"
Nguyên Huân tươi cười ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh, Thái Hòa công công nói:
- Hữu sứ vẫn mạnh chứ! Công tử có gì xin cứ nói.
- Tại hạ mới chia tay với Đại sư khoảng hai tháng nay, lão sư có việc cùng Ngô kỳ sứ đi Trường Bạch Đại sơn, có lẽ cũng sắp ghé Yên Kinh!
Nguyên Huân trình bày lý do mà chàng đến đây và những hành sự cần thiết của mình. Thái công công nghe xong, nói:
- Lão hủ coi về Ngự trù, tức là nơi nấu món ăn cho Nhà Vua, hàng tháng được ra phố để thanh toán tiền bạc với các nguồn cung cấp thực phẩm cho Hoàng cung. Thực ra lão hủ cũng có thể dàn cảnh để đưa công tử vào nội cung, nhưng chỉ có thể ở lại trong khuôn viên của nhà bếp, chứ không được đi lại tự do, vậy cũng chẳng giúp ích gì cho công từ. Vã lại, lão hủ đã theo Minh giáo gần bốn mươi năm nay, khi mới mười bảy, mười tám tuổi, được lệnh của Hữu sứ, làm người kề cận, giám sát và thu lượm tin tức từ khi Thành Tổ lên ngôi.
Trải qua mấy chục năm làm nghề Thái giám, phải hủy mình đi, thì còn tiếc tấm thân già này làm gì, chỉ e vì khinh xuất mà làm hỏng đại cuộc, chẳng làm trọn vai trò của mình. Nay leo lên đến chức Tổng Quản Ngự trù phòng cũng là điều đau lòng không ít; lão hủ giờ đã già, gia đình không có ai, có chết cũng chẳng quản; dẫu nguy hiểm thế nào, lão cũng cố gắng giúp cho công tử!
Vì công việc được giao, lão không dám để lộ tông tích. Nay công tử muốn biết sơ đồ của nội cung; tuy rằng sống trong cung đã lâu, nhưng từ Kim Lăng về Yên Kinh chưa đầy ba năm, nên lão cũng chưa nắm được sơ đồ, địa hình. Công tử ráng chờ lão dăm ba ngày, để lão còn có thì giờ phối kiểm mới được. Công tử nghĩ thế nào?
Nguyên Huân mừng rỡ đáp:
- Được lão anh hùng tận tình giúp đỡ như thế này, đến chết vãn bối cũng không quên ơn đức cao dày của Tôn giá!
Thái Hòa trầm ngâm nói:
- Công việc xâm nhập Hoàng thành rất nguy hiểm, kẻ tầm thường không thể nào làm nổi. Công tử chắc hẳn phải công lực phi phàm mới dám liều mình như thế! Hiện giờ quân Cấm vệ, Cẩm Y vệ canh giữ nội cung không dưới vạn người, Thánh Hoàng đi thân chinh cũng chỉ mang theo một nửa. Tất cả lực lượng còn lại trong tay Pháp Vương điều động, thêm một số cao thủ trợ lực. Không những thế, trong đạo quân Cẩm Y vệ, số cao thủ không phải là ít. Lúc này trời mưa tuyết, việc canh phòng cũng có phần lơi lỏng; lão sẽ cố gắng hoàn tất sơ đồ để công tử còn có thì giờ hành sự trong những đêm mưa tuyết, và áo quần dạ hành phải cho tiệp với màu trắng của tuyết, như vậy mới dễ ẩn thân được. ..
- Xin cảm ơn lão anh hùng đã chỉ dạy!
Tám ngày sau, chàng nhận được sơ đồ Hoàng thành và nội cung, do người lão bộc đưa tới:
- Lão Công công có dặn, công tử xem xong, nhớ cho kỹ rồi hủy ngay đi. Lão nô phải chờ cả một buổi mới gặp được công tử, không dám đường đột vào tửu lầu!
Nguyên Huân nhìn người lão bộc hóa trang lem luốc trong võ bọc một người bán than, chàng cảm động, tặng lão một thỏi vàng chừng bốn lạng, nói:
- Tại hạ xin cảm ơn lão trượng! Có chút đỉnh mong lão nhận cho. Đây không phải là sự tạ ơn, chỉ có chút tấm lòng nhỏ đấy thôi . . .
Người lão bộc rưng rưng nước mắt:
- Công tử cho lão hậu quá, lão không biết nói gì thêm được! Từ lâu lão chỉ ao ước cổ áo quan, bây giờ công tử đã chu tất cho!
Người lão bộc già nua vái chàng rồi quay đi.
Suốt hai ngày trời, Nguyên Huân nghiên cứu sơ đồ, đến khi nhắm mắt có thể hình dung được, chàng đốt sơ đồ; đợi đêm xuống, mặc bộ dạ hành, từ đầu đến chân đều trắng như tuyết Chàng nai nịt gọn gàng, mang theo những vật quý giá, đề phòng trường hợp biến động nào đó mà chàng không thể quay lại được. Đến cuối giờ Hợi, Nguyên Huân mở cửa sổ phóng ra ngoài.
Trăng mùng chín khuất trong cơn mưa tuyết dày đặc, những cánh tuyết rơi trong không gian như lông ngỗng. Kinh đô chìm trong im lặng, lạnh lẽo, buốt giá. Giờ này, ngoài chàng chắc không còn ai dám ló đầu ra khỏi nhà ; thỉnh thoảng chỉ còn nghe lẻ loi những tiếng trống cầm canh rời rạc vang lên trong đêm lạnh... Nguyên Huân xử dụng Hoán Ảnh thân pháp đến mức chót, thân ảnh như bóng mờ, lẫn vào màn đêm dày đặc loang loáng sáng mờ bởi từng đợt bông tuyết rơi theo từng cơn gió thổi mạnh... Đến chân Hoàng thành, chàng chọn một ngọn cây cao đang trĩu xuống dưới lớp tuyết dày nặng, ẩn mình nhìn vào...
Điện đài như bát úp, ẩn hiện lờ mờ sau màn tuyết rơi, thỉnh thoảng thấp thoáng ánh lửa, chàng đoán là do những người lính canh và tuần tra đốt lửa sưởi . Nguyên Huân phóng qua mặt thành như cơn gió thoảng, ẩn dưới tàn cây, rồi nhún người lên trên chục ba một thân cây lớn . Vừa lúc đó, toán quân tuần tiểu xách đèn lồng đi tới, chúng chụm vào nhau cho bớt lạnh. Có tiếng người trong đám:
- Lạnh buốt thế này, ở nhà rúc đầu vào nách vợ là nhất; nghĩ chẳng biết con vợ già đêm nay nó có chịu nằm một mình không?
- Con vợ ngươi già khú đế, đứa nào nó thèm thuồng mà ngươi sợ!
- Tôn huynh chẳng biết gì, nồi nào úp vung nấy chứ, chẳng nhẽ bà xã của tôn huynh mới đáng lo hay sao?
- Ta đã khóa chặt cửa rồi còn sợ gì!
Tiếng người thứ ba chen vào:
- Đàn bà mà đã muốn, dẫu có bỏ vào chai vào hủ, nó vẫn lăng nhăng được như thường!
Một đứa khác gắt:
- Lạnh chết mẹ mà còn nói nhăng cuội. Hừ? Đêm lạnh thế này, có ma nào dám mò đến mà tuần phòng. Tường cao, hào sâu, có đến tiên cũng chẳng lọt vào được!
Đợi cho toán tuần tra đi qua, Nguyên Huân định hướng, phóng vút đi. Chàng kiểm tra địa điểm toàn bộ, lọt vào đến nội cung, thân pháp như ảo ảnh. Chủ đích chàng đêm nay là thám sát, nhận định tình hình, việc tìm kiếm sẽ vào đêm khác.
Qua đêm thứ hai,trời cũng như đêm trước nên Nguyên Huân cũng lọt vào dễ dàng. Ngự Thư phòng nằm trong Thiên Cực cung; nơi này vì là chỗ Hoàng đế ngự, cho nên việc canh phòng cực kỳ cẩn mật, nhưng hiện nay, vì Hoàng đế đã thân chinh, do đó có phần lỏng lẻo, nhất là trong những đêm giá buốt như thế này. Nguyên Huân lọt vào không mấy khó khăn sau khi đã phải vượt qua bảy, tám vọng gác. Một lần, lúc phóng qua vọng gác thứ năm, chàng nghe một lính gác kêu lên với bạn:
- Quái lạ! Mày có nghe thấy cơn gió lạ không, bông tuyết bị cuốn đi như có trận cuồng phong, kỳ lạ thật?
- Mày thắc mắc làm gì? Trời đất nhiều lúc vẫn có những điều kỳ lạ!
- Tao phải để ý xem mới được, gió gì kỳ quái vậy!
Ngự Thư phòng nằm ở hướng đông nam Thiên Cực cung, đó là nơi Hoàng đế đọc sách, hoặc nghe quan Thị Giảng Đại Học sĩ giảng giải kinh, sách; nhưng đời Thái Tổ và Thành Tổ. lập Ngự Thư phòng cho có vẽ văn học, nhà Vua ít khi bước chân tới. Bởi vậy, quanh năm, cánh cửa sơn son thếp vàng, chạm trổ long phượng đóng im ỉm. Nguyên Huân nhảy lên cao, lựa chỗ, gỡ những thanh gỗ, chui vào.
Căn phòng rộng mênh mông, bốn phía là kệ sách. Có chủ tâm từ trước, chàng đã xin Qui Loan Cô Cô cho chàng hạt Dạ Minh Châu, viên ngọc quý xanh biếc, tỏa ánh sáng mờ ảo. Với thị lực của chàng, ánh sáng mờ ấy đủ cho chàng tìm thấy một chiếc kim dưới đất, và việc đi lại tìm kiếm trong Thư phòng cũng khó có ai phát giác.
Cả đêm, chàng lục tìm không để sót một nơi nào, đến nỗi trời đã sáng bạch mà chẳng hay. Biết mình không thể ra khỏi Thư phòng, ra khỏi cung cấm vào lúc ban ngày, Nguyên Huân nghĩ nhanh: "Hoàng đế đi chinh chiến, mà dẫu có ở nhà cũng không hề ghé vào đây, bởi những thư mục rõ ràng đã rất lâu không có dấu đụng tới, nhưng bằng vào việc các kệ sách, bàn ghế sạch sẽ, không một hạt bụi; những kẻ quét dọn vẫn vào đây làm bổn phận hàng ngày, la phải tìm chỗ ẩn thân mới được!"
Chàng đưa mắt nhìn quanh. Không một chỗ ẩn mình. San sát nhau chỉ toàn là kệ sách kê đến sát xà ngang; và cũng vì thế Nguyên Huân tìm thấy nơi ẩn thân cực tết: một thanh xà ngang cực lớn, hình khối chữ nhật, nằm vắt ngang chính giữa trần phòng cao, bề mặt dày đến ba gang tay đủ cho một người nằm, ở dưới dẫu cho có nhìn lên cũng không thể trông thấy được. Nguyên Huân tung người nhẹ nhàng nhảy lên, một lớp bụi lả tả từ phiến gỗ rơi xuống; chàng nằm sấp xuống dọc theo. thanh xà, đưa mắt nhìn sang kệ sách, và, đôi mắt chàng bỗng sáng lên, chú ý nhìn phía trên kệ sách. Kê sát tường, là một chiếc tủ nhỏ, mà nếu vô tình không để ý, đứng dưới đất, hoặc dù có trèo lên cao cũng không thấy được. Trên cánh tủ sơn son, bốn chữ vàng lộng lẫy: "Thái Tổ Di Vật", Nguyên Huân với tay, vừa đủ chạm cánh tủ, cánh tủ không khóa, theo bàn tay chàng, mở ra, cùng lúc chàng nghĩ thầm: "Di vật của Thái Tổ tại sao lại để tại chốn này, đáng lẽ phải để nơi điện thờ mới phải !"
Chàng có biết đâu rằng, khi mới dời đô, Thành Tổ không muốn bất cứ ai, bất cứ vị Thân Vương nào nhìn thấy những di vật này, vì có những điều bất tiện, mà từ khi lên ngôi, chính vì quá khứ của Thái Tổ, Thành Tổ đã mang mặc cảm, cái mặc cảm khó chịu nhất của con người là mặc cảm tự ti. Khi vua Thái Tổ băng hà, lập Hoàng tôn là Kiến Văn, con của trưởng Thái tử Chu Nguyên Tiêu đã chết. Kiến Văn ham thích văn chương, cho rằng nguồn gốc xuất thân của Thái Tổ là một điều đáng quý trọng, vì từ đó, đã nói lên được rằng có phúc trạch rất lớn. Từ trong cửa Phật bước ra là gồm thâu thiên hạ, đó chẳng phải là mệnh trời sao, nên gom góp những di vật của Thái Tổ, cất giữ trong điện thờ. Đến khi Thành Tổ cướp ngôi của cháu. Thành Tổ vốn là con thứ của Thái Tổ, không ưa văn học, chỉ thích võ công, vì vậy, tuy không dám hủy di vật của cha, nhưng chẳng muốn một ai biết tới, mới đem cất dấu ở Ngự Thư phòng.
Nguyên Huân thấy trong đó: Một bộ áo cà sa đã cũ, một đôi dép bằng da trâu, một chuỗi hạt bồ đề, một chiếc mũ ni bằng len màu nâu đã rách tổ chở, và trong số di vật ít ỏi kia, một cuốn sách, một cuốn sách khá dày, bìa bằng loại da mềm, màu đen.
Mở vào trong, giấy sách đã ố vàng, nhưng chữ còn đọc rõ. Trang đầu ghi bốn chữ: " Vũ .. . Di Thư ', chữ thứ hai đã bị mối gậm nhấm, nhưng Nguyên Huân nhận ra ngay, đó là cuốn Vũ Mục Di Thư của Nhạc Phi, một báu vật truyền đời của Nga Mi phái mà mấy chục năm nay Tâm Hư sư thái đã tốn bao nhiêu công phu tìm kiếm. Cuốn sách này trước đây Trương Vô Kỵ, Giáo chủ Minh giáo trao cho Từ Đạt dùng để đánh đuổi quân Nguyên Mông, khi đại sự đã thành, Thái Tổ êen ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Hồng Võ để nhớ đến Hỏa giáo, vốn là khởi thủy của Minh giáo, đồng thời thu hồi Vũ Mục Di Thư lại, sợ lọt vào tay người khác.
Nguyên Huân vội thu lấy quyển sách quý cất giấu vào người, khép lại cánh tủ, vừa lúc nghe tiếng cửa phòng mở.
Đó là những Thái giám vào làm công việc lau dọn Ngự Thư phòng. Họ lăng xăng quét lau có vẻ vội vàng, khẩn cấp. Một người nói:
- Hôm nay Thiên tuế thanh sát tất cả nội, ngoại Hoàng cung; nghe đâu Thánh thượng sắp sửa hồi loan?
- Trước đây Khẩu Phúc mang quân chinh di, đánh trận nào bại vong trận nấy. Từ ngày Thánh thượng xuất chinh, đánh luôn chín trận, thắng cả chín; đuổi con cháu Thuận đế đến tận Hưng An, bọn chúng phải chạy trốn khỏi vùng thảo nguyên Hắc Long Giang.
- Nhưng bọn chúng quay lại mấy hồi! Theo ý ta, Thánh thượng chưa thể hồi loan ngay được, còn phải làm cho con cháu Bản Nhã Thất Ly và A Lỗ Đài tuyệt đường quật khởi, mới ổn định được phía Bắc lâu dài được. Nếu có trở về, ít ra cũng phải một, hai năm nữa!
- Ôi thôi, chuyện đó không phải việc chúng ta lo, các người bảo quét cứ quét, bảo dọn, cứ dọn, đừng có vớ vẩn già non, chết không kịp ngáp!
Bọn Thái giám làm công việc rất nhanh rồi rút lui. Nguyên Huân trong dạ vừa buồn phiền, vừa mừng rỡ. Lúc thấy quyển sách bìa đen, chàng những tướng tình cờ tìm thấy được báu vật của Tổ tiên, không ngờ lại là của Nga Mi phái, nhưng dù sao, chàng cũng hiểu rằng, khi quân Minh kéo sang Đại Việt, thì ngày ấy Thái Tổ đã băng hà, nên việc gom thu sách vở tài vật nhân tài của nước Nam, chắc chắn không do lệnh của Thái Tổ.
Khoảng đầu giờ Tỵ, cửa Ngự Thư phòng lại mở, Nguyên Huân ghé mắt nhìn xuống. Bọn Thái giám hàng Tổng Quản bao quanh một người tướng mạo phương phi, khoảng trên bốn mươi, dáng người cao lớn, ăn mặc theo phẩm phục Vương gia, nhìn bao quát khắp phòng, người này lên tiếng hỏi:
- Ngự Thư phòng gồm tất cả bao nhiêu quyển sách?
Một viên Thái giám kính cẩn thưa:
- Khải trình Thiên tuế, số sách tại nơi đây gồm đủ loại, do quan Đại Học sĩ Thị Giảng lựa chọn. Theo thống kê, gồm một vạn bốn ngàn tám trăm quyển, ngoài ra còn lưu trữ chế biểu dưới triều Thái Tổ!
Nguyên Huân dự đoán người này có lẽ là Nhiếp Chính Thành Vương Thoán, y bước đến chiếc long kỷ kê trên bục cao, bên cạnh chiếc bàn chân quỳ Long Ly Quy Phượng hình chữ nhật, hai đầu uốn cong, trên để văn phòng tứ bảo toan ngồi xuống, nhưng nghĩ sao lại thôi. Y nhìn quanh một lúc rồi nói:
- Thánh thượng rất ít khi ghé nơi đây, phải không?
- Bẩm vâng!
Viên Thái giám Tổng Quản đáp.
- Người ít khi đến đây, chỉ có dám lần từ ngày dời đô đến nay!
- Bẩm Thiên tuế! Theo trong thư mục thì đủ mọi loại, không thiếu một loại nào, được tuyển lựa từ Thư khố đem đến theo lệnh của quan Thị Giảng!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-29 21:43:17Hoàng Dung>
Thành Vương Thoán ngửa mặt nhìn lên nói:
- Các người phải cho quét dọn luôn luôn mới được, ngay cả trên các xà ngang nữa, lâu bụi đóng, gặp cơn gió lùa, bụi rơi xuống lúc ngài Ngự đang nghe giảng sách thì khổ thân cho các người đấy!
- Bẩm vâng, nội trong ngày nay hạ thần cho người quét dọn liền!
- Thôi được! ấy là ta nói vậy, để đến mai, mốt làm cũng không muộn!
Nói xong, y vội vã bước ra, bọn Thái giám theo sau. Cửa Ngự Thư phòng đóng lại. Nguyên Huân hồi hộp suốt một ngày dài. Ví thử bọn Thái giám, ngày hôm nay đến tổng vệ Ninh toàn bộ trên nóc và đà ngang, chàng không biết sẽ đối phó ra sao? Mãi đến chiều tối, chàng mới yên tâm, và cho cho đến đầu giờ Hợi, chàng lại tìm tòi lục soát cho đến gần sáng, nhưng không thấy dấu vết gì về Vạn Kiếp Bí Truyền. Chàng cũng tìm thấy quyển Thư mục dày cộp, xem từ đầu, vẫn không thấy được điều chàng muốn kiếm..
Ra khỏi Hoàng thành, và về đến tửu lầu, trời bắt đầu sáng; lòng buồn chán và thất vọng, Nguyên Huân lăn mình ra giường, đầu óc căng thẳng với bao ý nghĩ, bao nhiêu dự đoán, rồi chìm đi trong giấc ngủ mệt mỏi.
Nguyên Huân thức giấc vào khoảng giờ Ngọ. Nghe tiếng gõ cửa, chàng bước ra mở, A Thực bước vào rụt rè hỏi:
- Cả ngày hôm qua không thấy công tử ra dùng cơm, đêm qua tiểu nhân gõ cửa cũng không thấy động tỉnh, cửa trong lại cài kỷ. Sáng nay lại chẳng thấy công tử điểm tâm, tiểu nhân định gõ cửa lần này, nếu không thấy công tử lên tiếng, e rằng có điều không hay xảy ra, sẽ phá cửa mà vào. Công tử làm sao vậy?
- Hôm qua ta bị cảm nằm mê mệt, không hay biết gì, sáng nay mới thấy bớt !
- Chết, lao công tử không gọi tiểu nhân để rước thầy lang!
- Cảm ơn A Thực, ta không sao cả, giờ đã bớt nhiều rồi; cho ta ăn cơm trong phòng này nhé!
- Công tử dùng cháo nhé?
- Không cần, ta dùng cơm bình thường như mọi bữa!
- Trời lạnh quá, công tử có cần đốt lò sưởi cho bớt lạnh không?
Nguyên Huân dịu dàng nói:
- Không! Cảm ơn A Thực, ta chịu lạnh quen rồi. Ta dặn riêng ngươi điều này, giữ kín nhé; ta có việc riêng, nên có thể ra đi bất chợt, bất cứ lúc nào. Tiền phòng ta đã trả trước cả tháng, nếu trong hai ngày, ngươi không thấy ta ra dùng cơm, hoặc không gọi gì, ngươi cứ cầm chìa khóa này và mở cửa. Đồ đạc còn lại ngươi giữ dùm ta, và ngươi báo cho chủ nhân là ta đã trả phòng nhé!
A Thực nhìn chàng tò mò, nhưng không dám hỏi:
- Vâng, thưa công tử, tiểu nhân sẽ làm đúng những gì công tử dặn  dò!
- A Thực, đây là chút tiền bạc trả công cho A Thực những ngày ta ở đây. Nếu lúc ta đi không gặp, một ngày nào đó ta sẽ trở lại!
- Tiểu nhân xin đội ơn công tử!
- A Thực, bây giờ dọn cơm cho ta, lẹ lên nhé; ta đói lắm rồi đấy!
Vậy là chỉ còn một địa điểm nữa là nơi có thể hy vọng, đó
là Thư khố. Mỗi ngày qua đi, Nguyên Huân càng thấy niềm hy vọng ấy vơi dần. Nếu Vạn Kiếp Bí Truyền không được cất giấu ở Thư khố, chàng sẽ phải tìm kiếm ở nơi nào đây! Đáy bể mò kim. Nếu chàng không tìm lại được di vật của Tổ tiên, chàng sẽ chẳng bao giờ quay về Tổ quốc nữa; chỉ nghĩ đến quãng đời tha phương đằng đẳng, lòng chàng quặn đau.
Cơm nước xong, chàng ra phố. Tuyết đã ngừng rơi, nhưng mật trời bị che lấp sau lớp mây xám nặng nề . Phố xá lác đác người qua lại, co ro trong những tấm áo lạnh. Nguyên Huân nhắm hướng Sơn Quang Tự tiến bước. Đến nơi, chàng có thời giờ nhìn ngắm quang cảnh ngôi cổ tự dưới bóng nắng nhạt. Ngôi chùa cổ được xây dựng trên một ngọn đồi thấp, phía Bắc thành. Phong cảnh u nhàn, tịch mịch, ẩn dưới những hăng thông già, cành lá còn trĩu nặng dưới lớp tuyết phủ. Con đường dẫn lên cổng tam quan được lát bằng đá tảng. Từ chân đồi, những bậc đá rêu phong dẫn đến cổng chùa, hai bên là những hàng tùng bách cổ thụ nhởn nhơ trong những lớp tuyết lạnh.
Chàng ngồi xuống trên một tảng đá dưới gốc tùng già, trong lòng chàng, không dưng nhen nhúm một niềm vui êm à, thấy như dịu đi những cảm giác chán chường, vô vọng. Chàng không tin rằng Vạn Kiếp Bí Truyền lại có thể cất giấu ở Thư khố, nơi chàng hy vọng nhất là Ngự Thư phòng, nhưng đã không tìm được. Trời đất bao la, chàng biết tìm ở nơi nào? Bỗng nhiên, chàng nghĩ: Di vật đang nằm trong tay Dương Tiêu, xâm nhập vào Ngự Thư phòng thì dễ, nhưng đoạt được từ trong tay Dương Tiêu thì trăm lần khó khăn. Chàng hoạch định trong đầu trăm phương ngàn kế, nhưng chẳng thấy kế nào thực hiện có kết quả nếu tiếp cận được Dương Tiêu, Nguyên Huân tự nhủ : Dẫu sao ta cũng phải lục soát Thư khố mới được, biết đâu!
Phải, biết đâu, nơi tưởng rằng có thì hóa không, nơi tưởng rằng không lại hóa có. Đầu óc chàng suy nghĩ miên man, cho đến lúc nhận ra tiếng bước chân người đi tới.
- Trần thí chủ sao lại ngồi đây?
Trước mặt chàng là Tâm Hư sư thái, Nguyên Huân đứng bật dậy:
- Vãn bối mãi nghĩ ngợi nên không biết Sư thái đến!
- Thân thủ võ công đến mức như thí chủ, mà người đến gần chẳng hay; chắc thí chủ đang có điều phiền não?
- Vãn bối quả thật có điều bận tâm. Sư thái đi đâu vậy?
- Bần ni đang định đi tìm gặp thí chủ, thì thí chủ đã tới đây Xin vào trong chùa!
Nguyên Huân theo chân Sư thái. Tâm Hư hỏi:
- Thí chủ đến gặp bần ni có điều gì hệ trọng không?
Nguyên Huân lấy trong người ra cuốn sách bìa đen, hai tay đưa lên:
- Vãn bối đã tìm được Di Thư cho Sư thái!
Tâm Hư mừng rỡ cầm lấy cuốn sách, mở xem vài trang; bà ôm vào ngực và nhắm mắt, từ hai khóe mắt, hai dòng lệ lăn dài... Một lúc sau, Sư thái mở mắt, giọng bà xúc động:
- Thí chủ đã ban cho bần ni và Nga Mi phái một niềm vui vô giá, bần ni không biết lấy gì đền đáp công ơn trời biển này cho đủ, chỉ biết xin Trời Phật phù trì cho thí chủ được mọi điều an lạc!
Nguyên Huân nói:
- Xin Sư thái đừng nói thế, chẳng qua chỉ là nhân tiện đó thôi!
Nói xong chàng kể tất cả những việc đã trải qua trong hai ngày đêm, lục tìm trong Ngự Thư phòng, cùng nổi tuyệt vọng của mình. Tâm Hư sư thái an ủi:
- Trời Phật chẳng phụ lòng người, xin thí chủ chớ phiền não, biết đâu thí chủ chẳng tìm thấy di vật Tổ tiên trong lúc tình cờ nhất; tất cả mọi điều đều có căn duyên cả!
Thở dài, bà tiếp:
- Thật sự ra, đối với bản thân của bần ni, Vũ Mục Di Thư, hay bất cứ một cái gì, chẳng có gì để bần ni bận tâm đến, nhưng vì đó là di vật của Tổ sư bản phái. Cũng bởi những việc như thế, có khi uổng phí cả một đời người. Trong bốn lời thề kia, ba mươi năm mới hoàn thành được một nửa. Còn Đồ Long đao và ỷ Thiên kiếm giờ vẫn chưa biết lưu lạc nơi nào? Có khi cho đến chết, cũng không hoàn thành được tâm nguyện của ân sư!
Nguyên Huân chợt nhớ:
- Tại hạ có lần được nghe, Đồ Long đã được hàn lại, Ỷ thiên vẫn gãy rời, chắc hẳn nằm trong tay của Giáo chủ Minh giáo!
- Đúng vậy! Bần ni biết điều đó, nên hơn ba mươi năm nay, bần ni vẫn truy tầm tông tích của Trương Giáo chủ, và người vẫn tuyệt tích...
Nguyên Huân nói như reo:
- Vãn bối có được nghe Kiến Nghiệp đại sư nói là đã tìm được nơi ẩn cư của Trương Giáo chủ . Việc này Sư thái không biết sao?
Tâm Hư sư thái giật mình:
- Thí chủ có biết hiện giờ...Trương Giáo chủ ẩn cư tại đâu không?
- Vãn bối không được rõ, chỉ biết Đại sư và Ngô kỳ sứ tìm lên Trường Bạch Đại Sơn, Đại sư có nói sẽ trở về Yên Kinh vào đầu tháng chạp!
- Hôm nay đã gần hết nửa tháng chạp rồi, bần ni phải đi tìm Đại sư mới được. Trần thí chủ, thí chủ có định tìm kiếm thêm trong Thư khố không?
- Dù có dù không, vãn bối cũng phải lục soát cho thật kỹ mới yên lòng được!
- Thí chủ phải thận trọng!
- Vâng, thưa Sư thái, vãn bối vâng theo lời dặn!
Đêm hôm đó, Nguyên Huân lại vượt thành vào Hoàng cung và đến Thư khố. Chàng kiểm soát tất cả, công văn, giấy tờ... Cách sắp xếp ở đây không được thứ tự như ở Ngự Thư phòng, nên việc tìm kiếm thật phức tạp, khó khăn. Và trong ba đêm tiếp theo, chàng cố gắng tra cứu thư mục, lục lọi không bỏ sót chỗ nào, nhưng tuyệt nhiên không hề thấy tăm tích Vạn Kiếp Bí Truyền. Qua đêm thứ tư, tuyết rơi nhiều hơn mấy đêm trước, chàng yên tâm ra đi. Sau khi vượt qua thành, Nguyên Huân đi về hướng Tây Bắc. Những dãy nhà san sát nhau, nơi làm việc của các bộ. Có ba dãy nhà chứa sách vở, công văn giấy tờ, các biểu chương lưu trữ.
Nguyên Huân vừa đặt chân lên bậc thềm Thư khố, một tiếng pháo bỗng nổ vang trời, và đèn đuốc thắp chiếu sáng rực chung quanh khu vực chàng đang đứng. Tiếng trống nổi lên inh tai, tiếng la hét vang lừng, khu dân cư ở sát chân Hoàng thành giật mình thức dậy, nhìn nhau nghi hoặc...
Nguyên do của sự phát hiện nay, cũng do từ sự sơ ý của Nguyên Huân. Trong lúc lục soát, chàng đã vô tình làm xô lệch sách vở, mất dấu niêm phong. Viên Thủ thư phát hiện ra điều bất thường, bèn trình lên Thông Chính ty, việc điều tra được mở ra khẩn cấp. Tất cả bọn quân canh trong những đêm qua đều bị tra hỏi, một tên lính gác đêm khai báo, một lần y đã từng thắc mắc về luồng quái phong mãnh liệt lướt nhanh qua, xoáy mạnh những bông hoa tuyết như có sức hút...
Mọi sự, được trình lên Dương Vương, người đảm trách vấn đề an ninh của Triều đình và Hoàng tộc. Dương Vương biết ngay, một nhân vật giang hồ thượng thừa đã xâm nhập Hoàng thành, và mục đích là tìm kiếm điều gì đấy trong các Thư khố đồng thời quan Chưởng Ngự Thư phòng cũng báo lên, có dấu vết cạy phá trên trần phòng. Nhưng sau một ngày khẩn trương để kiểm kê lại toàn bộ cả hai nơi, không thấy mất mát gì, Dương Vương đi đến nhận xét, là gian phi chưa đạt được mục đích, có thể sẽ còn quay lại. ông điều động một số cao thủ của Thất Sát đoàn và ba ngàn Cẩm Y Vệ phục kích, bao vây kín mít khu vực.
Biết đã bị phát hiện, và sa vào ổ phục kích như tường đồng vách sắt của quân Triều đình, Nguyên Huân bình tĩnh, chàng tung người lên mái điện. Ngay lập tức khi vừa đặt chân xuống, chàng nghe tiếng phèn la gióng lên, từ bốn phía, hăng ngàn mũi tên nhắm chàng bay tới như mưa. Nguyên Huân vội xử dụng Vân Hà Tỏa Kiếm phá tiễn thức, một luồng ánh sáng lấp lánh rít lên, kiếm quang như một giải lụa bạch vây kín người chàng. Từng đợt tên lao đến, gặp bức tường kiếm khí đánh tạt ra, tên rơi lả tả..
Hơi nóng của hàng trăm ngọn đuốc làm khí lạnh ấm dần; tuyết tan, tỏa như hơi sương, như cơn mưa bụi, cháy xèo xèo trên những thân đuốc lớn... Vòng vây trùng trùng. Toán quân hộ thành cũng được điều động đến, càng lúc càng đông, vây hãm chàng như nêm, tưởng rằng dẫu chim muông, cái kiến cũng khó lòng thoát khỏi hãm địa.
Đứng ở trên cao bất lợi, Nguyên Huân tỏa rộng đường kiếm, đánh văng những mũi tên dạt ra bốn hướng, có nhiều mũi tên bị kiếm đánh bật ngược. phóng thẳng về phía lớp quân lính đứng vây như nêm cối, nhiều tên không tránh được, bị trúng tên, rú lên ngã lăn ra đất. Lợi dụng cơ hội, Nguyên Huân tung mình nhảy xuống, toan phá trùng vây để thoát thân...
Những tên Thị vệ hung hãn, mong lập công, lao vào chàng. Nguyên Huân hiển lộ thần uy, múa Bạch hạc kiếm, tiếng rít như lụa xé, những thây người gục ngã... Nhìn thấy cảnh máu đổ đầu rơi dưới tay mình, Nguyên Huân hết sức đau lòng, những chàng chẳng còn phương cách nào khác, ngoài sự chém giết để đột phá trùng vây. Chàng như mãnh hổ giữa đàn dê, như cánh thần ưng trước bầy chim sẻ. Lớp tuyết trên sân đã biến thành màu hồng, nhưng chiếc áo khinh cừu trên người chàng không một giọt máu vấy. Nguyên Huân đánh dồn về mặt Nam, lớp Cẩm Y Vệ dạt ra, trùng trùng như sóng cuộn. Chúng không cản nổi chàng, nhưng tiếng la hét đốc thúc, tiếng thị uy, như muốn đè bẹp tinh thần kẻ địch thủ ngoan cố.
Giữa lúc chưa thể tìm được một lối thoát, mà để đến lúc trời sáng sẽ càng bất lợi; trước mặt chàng, bảy bóng người vùn vụt lao xuống như bảy con chim ưng, lần lượt trước sau, đã đứng dàn ngang giữa khoảng cách chàng và bọn quân binh Thị vệ. Nhìn thân pháp bọn này, Nguyên Huân biết ngay đó là các cao thủ số một của Thất Sát đoàn lâm chiến. Và cùng một lúc, không hiểu vì sao, có lửa bốc cháy tại phía Tây Hoàng thành, ngay khu vực Võ Hiển điện; ngọn lửa có vẻ cháy nhanh, vì khói đã bốc lên cuồn cuộn. Tiếng kêu cứu chữa cháy vang dội một góc trời, tiếng phèng la, tiếng trống ngũ liên đùng đùng như sấm dậy, hơi nóng ngùn ngụt bốc lên, tuyết bỗng dưng biến mất.
Bảy cao thủ của toán Thất Sát vừa nhảy vào trận địa, chúng lập ngay Thất Tinh trận pháp, vòng vây bủa lấy Nguyên Huân, và bảy thanh trường kiếm, chiếu theo bộ vị các tử huyệt trên người chàng, đánh ra cùng một lúc. Bảy mũi kiếm loang loáng như sao sa, rồi đột biến thành trăm vạn bông hoa dưới ánh sáng của những ngọn đuốc, mũi kiếm chưa đến mà nội lực đã tràn như thác.
Không dám khinh xuất, Nguyên Huân vận toàn bộ nội gia chân khí của Tiên Thiên Công, phối hợp với Hỏa Vân Công, chân đạp vào bộ vị cửu cung, xử dụng Hoán Ảnh thân pháp, đường kiếm Bạch Hạc lóe lên, thân hình chàng mờ đi như sương khói, theo lẽ sinh khắc của Thất Tinh trận, khống chế không cho trận pháp Thất Tinh phát huy uy lực.
Biết gặp phải tay đại địch, bảy tên cao thủ Thất Sát giở hết toàn bộ tuyệt học mong áp đảo, nhưng lạ thay, càng lúc chúng càng cảm thấy hơi thở trở nên khó khăn, một luồng kình lực phản chấn mạnh như di sơn, đảo hải đè nặng lên bảy mũi kiếm như một áp lực không rời... Đột ngột, Nguyên Huân hét lớn, thanh Bạch Hạc như chớp giật, đánh ra một lúc hai mươi tám thế kiếm liên hoàn cực độc, nhằm vào bảy thân thủ vây quanh mình. Nhũng tiếng thét đau đớn, rùng rợn vang lên. Ba tên đã bị trúng kiếm. Lập tức thế trận rối loạn. Nhưng dường như ngay lập tức, một toán bảy tên khác lao vào, bao vây tấn công chàng không dứt; lớp đến sau võ công thâm hậu hơn toán trước, và cứ thế, chúng liên tục tấn công chàng đến lớp toán thứ sáu. Sáu lần phá tan Thất Tinh kiếm trận, Nguyên Huân giết chết mười bảy tên cao thủ.
Nguyên Huân biết không thể kéo dài được nữa. Đến lúc toán thứ bảy của Thất Tinh trận vừa nhảy vào, chúng chưa kịp hình thành thế trận, chàng cướp vội tiên cơ, tung mình vọt lên như pháo; thoáng như bóng mờ, chân chàng điểm trên đầu những ngọn giáo, trên những chỏm mũ của bọn lính Cẩm Y, lao vút về phía Nam như vệt khói, vượt khỏi trùng vây...
Chạy đến một khu đất trống dưới chân một bức tường cao, chàng phóng mình toan vượt qua tường, Nguyên Huân bỗng cảm thấy sau lưng mình một luồng kình lực cực kỳ mãnh liệt và lạnh buốt hơn băng tuyết ập đến. Không kịp suy nghĩ, chần chờ, chàng vận dụng Cửu Dương, Hỏa Vân Công đánh tạt nghiêng một chưởng. Một tiếng "Bùng" vang lên, thân hình Nguyên Huân bị đánh tung ngược trở lại, cánh tay chàng tê dại, chân khí trong cơ thể nhộn nhạo không ngừng; chàng lộn thêm một vòng để hóa giải luồng kình khí và đặt chân xuống đất...
Trước mặt chàng là một người mặc bộ đồ trắng, thân thể cao lớn, giữa ngực áo thêu một ngọn lửa đỏ, tay trái đeo găng trắng, tuổi chừng trên bảy mươi, da mặt hồng hào, râu năm chòm đen nhánh; ánh mắt loang loáng xanh rờn. Tay không vũ khí, buông thỏng hai bên sườn, miệng quát:
- Tiểu tử! Mi là ai mà lại biết " Điêu Phong thân pháp" nhà họ Dương? Nói mau!
Tuy không biết mặt, nhưng bằng vào võ công, và là kẻ đã ngay lập tức nhận ra Điêu Phong thân pháp, Nguyên Huân biết . không thể có ai khác hơn, người đứng trước chàng chính là Quang Minh Dương Vương, là Pháp Vương của Thành Tổ nhà Đại Minh, là kẻ đứng đầu mọi thế lực đen tối, đứng đầu của mọi tội ác, và là nhân vật có võ công kỳ tuyệt thiên hạ.
Nguyên Huân không lên tiếng trả lời, bởi mắt chàng đang dán chặt vào bàn tay trái mang găng của y; bàn tay đủ năm ngón. Nguyên Huân trong bụng phân vân... Nếu người này là hung thủ thảm sát gia đình chàng năm xưa, thì bàn tay trái chỉ còn lại hai ngón, ngón trỏ và ngón cái. Nhưng tại sao y lại mang găng, trong khi bàn tay phải lại để trần! Chàng chợt hiểu ngay, không cần phải suy đoán: bàn tay trái đủ năm, vì có ba ngón giả, và y mang găng để che giấu.
Giáp mặt, nhìn tận mặt kẻ thù trong lúc không ngờ nhất, ruột gan chàng bỗng đau như dao cắt, mối hận thù bốc lên ngút trời, Nguyên Huân thét lớn:
Tên họ Tiêu khốn kiếp kia, ngươi không cần biết ta là
ai, chỉ biết hôm nay ta liều chết với ngươi...
Dương Tiêu giật mình kinh hãi. Không một ai trên thế gian này biết được tông tích của hắn, vốn là họ Tiêu của dân tộc Khiết Đan. Tên tiểu tử này là ai, vào lục soát, tìm kiếm gì trong Ngự Thư phòng và Thư khố, và vừa chạm mặt, hắn lại biết ngay được bí mật lai lịch thân thế của y. Chắc chắn tiểu tử này phải có liên hệ đến một người nào đó biết rõ về y Người đó là ai mà thông thuộc cả thân pháp " Điêu Phong" của nhà họ Dương, và cũng là thân pháp của chính y?! Do sự phân tâm ấy, nên Dương Tiêu nhất thời không khám phá ngay được tên thiếu niên đứng trước mặt y là ai.
Nhìn nét mặt y, Nguyên Huân nghĩ vội, nếu ta xử dụng Kiếm pháp, y có thể nhận ra lai lịch ta một cách dễ dàng, điều này ta cần phải che giấu. Nghĩ thế Nguyên Huân tra kiếm vào vỏ.
Dương Tiêu trầm giọng:
- Tiểu tử, ngươi xâm nhập Ngự Thư phòng có mưu đồ gì, lập tức nói ngay. Ta sẽ vì đức hiếu sinh mà cho ngươi được chết toàn thây! Ngươi là ai, từ đâu tới?
Nguyên Huân như đổ thêm dầu vào lửa:
- Ta đã nói, ngươi chẳng cần biết ta là ai, điều duy nhất, họ Tiêu kia, ta chỉ cần lấy cái mạng của ngươi!
Nguyên Huân biết rằng, trong giờ phút này, nếu chàng để sự căm giận phát tác, nó sẽ đồng nghĩa với cái chết. Chàng hít một hơi dài, tự dặn mình phải lấy lại sự bình tĩnh, sáng suốt Đối diện với chàng là một địch thủ tối thượng về võ công, thiên hạ võ lâm úy kỵ... Chàng vận dụng toàn bộ chân khí vào đơn điền, tâm lặng như chân không, lòng như biển rộng, bát mạch mở ra như trường giang, Tinh, Khí, Thần hợp nhất. Và lòng chàng như trống không, không buồn lo, không giận hờn, không yêu thương, căm ghét...
Thế Đại định đã đạt, Tam Hoa tụ về đỉnh; Thần lực phát sinh. Bàn tay chàng để hững hờ trên ngực, Tiên Thiên công, Tam Hóa Nhật Nguyệt thần công đã vận dụng đến mức chót. Một cảm giác hưng phấn nở tràn, nhẹ nhàng, phiêu diêu như một cánh bướm vờn trên đài hoa một sáng xuân hồng...
Dương Tiêu nhìn thấy thần khí của chàng thanh niên lạ mặt. Trong suốt cuộc đời ông cho đến ngày hôm nay, duy nhất chỉ có mỗi một người làm cho ông úy kỵ, đó là Giáo chủ Minh giáo Trương Vô Kỵ. Nhưng đã trên ba mươi năm nay, Trương Giáo chủ tuyệt tích giang hồ, không biết sống chết ra sao! Cả võ lâm thiên hạ, không còn ai là tay đối thủ.
Hôm nay, ông gặp người thiếu niên này là duy nhất, trong lúc bất thần, đã tránh thoát được Hàn Ngọc âm chường, môn võ công âm nhu tuyệt độc của ông, một điều khiến ông không ngờ được, hắn còn xử dụng thân pháp của nhà họ Dương ở Chung Sơn, và nhất là hắn biết rõ cả nhân thân ông.
Tuy nhiên, gã trẻ tuổi này, công lực và hỏa hầu chưa đủ, nhưng nếu để đến mai sau, tất sinh hiểm họa. Trong lòng nổi sát cơ, ông quyết giết cho bằng được gã này để diệt trừ hậu họa. Do đó Dương Tiêu không bận tâm nghĩ đến vai vế và khí cốt giang hồ, ông vận hết mười thành chân lực của Hàn Ngọc âm chưởng, phất tay tấn công.
Nguyên Huân chợt thấy bóng Dương Tiêu chợt mờ đi như ảo ảnh, mờ đi như áng mây tan, thì một luồng âm hàn buốt lạnh hơn băng tuyết ập đến, bóng chưởng trùng trùng. . .
Nguyên Huân lòng lặng như mặt nước hồ, chàng vận Tiên Thiên công và Nhật Nguyệt Tam Hóa thần công, là hai công phu thuần dương, phản công tức khắc. Từ đầu ngón trỏ, kình khí vụt thoát ra, thoắt biến thành trăm ngàn chỉ phong, tấn công vào các huyệt đạo trên người Dương Tiêu. Dương Tiêu bị Nhất Dương Chỉ phản công, kình khí như mũi nhọn khoan núi, cùng lúc Nhật Nguyệt Tam Hóa thần công hóa giải, luồng âm hàn lập tức phân tán, tan hòa vào khí lạnh của trời đất thiên nhiên. Dương Tiêu hoảng hồn, ông không dám coi thường được nữa, ông tự hỏi "không biết gã tiểu tử này có xuất xứ từ đâu, mà xử dụng thuần thục được cả võ công của Đoàn Nam đế khi xưa, cũng là một tuyệt học của nước Đại Lý, từng làm khiếp đảm Tây Độc Âu Dương Phong, cách nay gần hai trăm năm. ông biết, nếu đêm nay, ông không giết được gã thiếu niên này, thì mai sau, chính ông sẽ bị giết chết bởi bàn tay y. ý nghĩ ấy càng khiến ông quyết tâm tận sát cho bằng được Nguyên Huân, hai lòng bàn tay từ màu đỏ tía của âm chướng biến dần sang tím bầm, chiêu sát thủ tận tuyệt.
Kình lực của Hàn Ngọc âm chưởng tỏa ra lạnh buốt tạo nên một điều kỳ dị. Phía Dương Tiêu, tuyết rơi xuống mỗi lúc một dày, chỗ Nguyên Huân tịnh không một bông tuyết. Lúc đầu, chàng có thể phản công, nhưng càng về sau, chàng biết mình đã !âm vào tuyệt lộ, khó lòng thoát khỏi cái chết; chàng giở hết bình sinh sở học để cầm cự, dùng Hoán Ảnh và Điêu Phong thân pháp, luồn lách trong bóng hàn chướng chập chùng, xử dụng toàn chiêu độc thủ để đối phó: "Ta chết, mi cũng chết", chuyện sống chết để ngoài tai...
Hai môn công phu thuần dương chàng đã vận đến độ chót, bao quanh chàng một màn chân khí nóng hổi, khí nóng tỏa ra, tuyết gặp nhiệt khí tan ra, tiêu tán. Không một ai chứng kiến trận kịch đấu này, phân biệt được, chỉ thấy hai bóng trắng mơ hồ như khói tỏa, bóng chướng, chỉ pháp trùng trùng... Bàn tay phải của Dương Tiêu bỗng dưng cong lại như móng chim ưng, ông bắt đầu xử dụng đến " Cửu âm Vạch Cốt trảo", ưng trảo tàn độc trong Cửu âm Chân kinh, quyết giết địch thủ cho kỳ được.
Trên đỉnh đầu Nguyên Huân, một luồng khói trắng bốc lên, mỗi lúc một dày thêm, dấu hiệu của nội gia chân khí đã vận đến mức cùng tuyệt. Trên mái tóc bạc của Dương Tiêu, khói trắng cũng bốc lên như sợi chỉ. Bọn quan binh, không chịu được khí lạnh của âm chưởng, tuy đứng ở xa, trang phục trên người dày cộm, vẫn bị cái khí băng hàn xâm nhập, rét run cầm cập, tay không còn giữ binh khí được nữa. Toàn bộ trận địa yên lặng, không một tiếng động, tất cả như đông cứng lại. Những cặp mắt mở to, kinh dị.
Cửu Âm Bạch Cốt trảo như năm vuốt chim ưng chụp xuống, đồng thời tả chưởng của Dương Tiêu đánh thốc từ dưới lên, Nguyên Huân lâm vào tuyệt địa. Nguyên Huân không chịu nhắm mắt chờ chết, chàng thu hết tàn lực chân khí vào ngón trỏ, bất kể sống chết, điểm ngay huyệt Ấn đường, giữa hai hàng lông mày của Dương Tiêu. Nếu Dương Tiêu không thu trảo về, ông có thể bóp vỡ đầu địch thủ, nhưng như thế, huyệt ấn đường sẽ bị điểm trúng; tuy không tuyệt mạng, nhưng toàn bộ võ công gần sáu mươi năm khổ luyện của ông sẽ bị phế ngay tức khắc. Người luyện võ, thà chết, chứ không thể để võ công bị phế hủy.
Dương Tiêu tức khắc xoay ngược cổ tay, biến trảo sang cầm nã. Đại Cầm Nả thủ pháp toan bóp vo bàn tay Nguyên Huân. Chàng biết thế nguy, xoay ngửa bàn tay, ngón Thái dương điểm nhanh vào huyệt Thiên đột, nằm giữa ngực trên của Dương Tiêu, tuy nhiên ngực chàng đã trúng phải tả chưởng của Dương Tiêu; toàn thân chàng bốc lên cao, một luồng khí âm hàn buốt nhức óc xâm nhập vào cơ thể, cùng lúc có hai tiếng quát cất lên:
- Dương Tiêu! Ngươi tàn độc lắm!
Hai bóng người, một cao lớn, một nhỏ bé, vừa dứt tiếng quát, chia hai bên tả hữu liên thủ tấn công vừa ra tay đắc thủ, Dương Tiêu nổi hào khí, toan nhảy theo kết liễu tính mạng Nguyên Huân, lúc ấy đang như một trái bóng hắt tung lên cao, thì bất chợt một luồng kình lực như Thái Sơn đánh ập xuống huyệt Kiên tỉnh ở vai trái, đồng thời, phía bên phải, một đường roi rít lên, khống chế huyệt Khí xá, Trung phủ, Phong trì và Ê phong. Nhận ra kẻ thù, Dương Tiêu quát lớn:
- Phạm Dao, Chỉ Nhược, được lắm!
Y vừa quát, vừa xoay người như một vệt khói, thoát ra khỏi vùng ảnh hướng của chưởng phong và kình khí của đường roi cực độc.
Nguyên Huân, tuy bị thương, nhưng nhất thời nội lực chưa bị phân tán, chàng xử dụng Điêu Phong thân pháp, dang đôi cánh tay như con thần diệu, chân nọ điểm vào chân kia, tung mình lên bờ tường, rồi vọt lên như tên bắn, nhảy lên mái ngói, lao vút về phía Nam. Chạy được một quãng xa, hàn khí trong người chàng phát tác, chân tay tê cứng, chàng chỉ còn đủ thời gian dùng Cửu Dương công, đưa chân khí thuần dương về bao bọc lấy trái tim, mắt chàng bỗng dưng tối sầm lại, không còn điều khiển thân thể được nữa, Nguyên Huân ngã lăn từ trên mái ngói xuống, thân hình chưa chạm đất, chàng đã mê man bất tỉnh.

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-29 22:17:47Hoàng Dung>
chương mười chín
Hổ phù tín vật, lệ chứa chan đau
Bảo kíp về Nam, Châu về Hiệp Phố


Tiếng reo hò, tiếng pháo nổ, tiếng trống giục xen lẫn tiếng phèn la, và lửa cháy rực trời từ khu vực Hoàng thành, khiến dân chúng kinh đô rúng động. Hoài Nam đang thiu thiu ngủ, quấn mình trong chăn ấm. Trong căn phòng ấm cúng, dưới ánh đèn lồng tỏa một màu hồng nhạt, Hoài Nam đang ngủ mơ. Trên đôi môi thắm như hoa đào, hé nở nụ cười tràn niềm hạnh phúc. Nàng mơ thấy mình đang ở giữa hoa viên, chung quanh, cỏ cây đương độ xuân nồng, những đóa hoa mãn khai rung rung trong nắng sớm, tiếng chim hót ríu rít trên cành cao giữa hương thơm ngào ngạt. Và Quận chúa đã nhìn thấy chàng. Trên khuôn mặt cương nghị, là đôi mắt nồng nàn, chàng đang nhìn Quận chúa đăm đăm. Hoài Nam e thẹn, nép mình sau khóm hồng nhung còn đọng sương mai. Chàng bước đến, cầm lấy tay nàng, ân cần như nâng một nụ hoa quý. Nàng e thẹn và chàng đắm đuối; cả không gian đầy nắng, nắng vàng như lụa, thời gian như ngừng trôi...
Tiếng quân lính la hét, tiếng chân chạy, và bao nhiêu âm thanh hỗn tạp, kéo Hoài Nam ra khỏi giấc mơ ngọt ngào... Hoài Nam vùng ngồi dậy, ngơ ngác và sợ hãi. Giấc mơ còn đọng trong trí nàng. Phải một lúc, nàng mới tỉnh ngủ hẳn, Hoài Nam cất tiếng gọi Ngọc Trân và Tố Hoa, vẫn đang ngủ mê mệt. Ngọc Trân, Tố Hoa; hai thể nữ vốn được nàng yêu quý xem gần như là bạn bè giữa nơi cung cấm: Ngoài mẹ, Hoài Nam Quận chúa đặc biệt thương yêu hai nàng cung nữ cùng tuổi này, không hề xem họ là kẻ hầu người hạ. Hai thể nữ nghe tiếng gọi thoảng thốt của Hoài Nam, cùng giật mình thức dậy, chạy sang phòng Quận chúa.
Ngọc Trân , Tố Hoa, hai em có nghe thấy gì không?
Nhìn khuôn mặt ngơ ngác, lo sợ của hai người thể nữ chưa tỉnh ngủ hẳn, Hoài Nam thương hại:
- Làm gì mà hoảng hết quá vậy! Ngọc Trân , bình tỉnh lại chứ!
Tố Hoa là cô gái bạo dạn, cứng cỏi hơn, nghiêng tai nghe ngóng, giọng thì thầm:
- Quận chúa, hình như có đánh nhau đấy!
Ngọc Trân giật thót người:
- Chắc là... giặc công thành...
Hoài Nam rời khỏi giường, làn tóc mây óng mượt xỏa trên bờ vai nhỏ, Tố Hoa lấy chiếc áo ngự hàn khoác lên tấm thân mềm mại của Hoài Nam:
- Quận chúa! Quận chúa đi đâu vậy?
- Ta muốn ra ngoài xem có chuyện gì?!
- Ngoài trời lạnh lắm, Quận chúa ra làm chi...
- Ta phải xem chuyện gì xảy ra mới được!
Hoài Nam đưa đôi bàn tay ngọc chuốt nâng chiếc then cài mở bung cánh cửa. Một cơn gió buốt lùa những bông tuyết tung vào phòng; nàng rùng mình, kéo cao cổ áo. Và nàng nhìn thấy ánh lửa cháy sáng rực một phương, lửa bốc lên cao, khói cuồn cuộn tỏa.
- Cháy lớn ở khu Võ Hiển điện!
Quang Minh Vương phủ nằm về phía Nam của Hoàng thành, nên tiếng la hét vọng tới nghe rõ mồm một; âm thanh của tiếng quát, tiếng gươm giáo va chạm, tiếng kêu rú thất thanh làm cho Hoài Nam sợ hãi.
- Trong cung có nội biến!
Tuy sợ nhưng cả ba thiếu nữ đều tò mò, bước ra khỏi phòng, nép mình sau hàng hiên rộng. Phía trước là một vườn hoa, cùng thảm cỏ rộng, giờ bị tuyết phủ, chỉ còn thấy một màu trắng xóa. Thết nhiên, tiếng gươm đao ngưng bặt, tất cả như chìm trong yên lặng sau một tiếng quát, mà Hoài Nam nhận ra tiếng của Dương Vương, cha nàng:
- Tiểu tử! Ngươi là ai! Từ đâu tới?
Tiếp theo sau là tiếng vù vù của chưởng phong. Hoài Nam biết rằng cha nàng đang kịch đấu với một kẻ lạ mặt..., kẻ này đã cả gan vào tận Hoàng thành với mục đích là diệt trừ ông? Đã bao nhiêu lần, nàng đau lòng khi được nghe những việc làm tàn bạo của ông, qua những lời ta thán trong dân gian, và sự lẩn tránh, với những khuôn mặt vừa khiếp sợ, vừa căm ghét của mọi người khi chợt thấy cha nàng từ xa...
Một đôi lần, Hoài Nam đã khóc lóc, van xin cha nghĩ lại, bớt đi những hành xử tàn nhẫn của ông, nhưng ông chỉ cười mà không nói. Cuối cùng, Hoài Nam chỉ còn biết cầu xin Phật Tổ nhân từ độ trì cho cha sớm giác ngộ để quay về nẻo thiện.
Mỗi một lần cha nàng nổi giận, là ít nhất có một sinh mạng lìa đời, nàng đã từng chứng kiến cái chết của một thể nữ vô ý làm trái ý ông; lần ấy nàng lâm bệnh đến gần nửa tháng. Cái chết của thể nữ Tâm Hạnh ám ảnh nàng trong những giấc mộng khủng khiếp. Rồi những câu chuyện Bảo Thư đã kể với nàng về Ngoại Tổ của mình. Những việc làm của Thất Sát đoàn, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của cha nàng... đến nổi chính Bảo Thư và gia đình, môn phái nàng cũng trở thành nạn nhân của bọn người khát máu, bất nhân, lạnh lùng ấy. Hoài Nam đã từng khóc với mẹ, Vương phi chỉ thở dài, lắc đầu không nói.
Khi nàng còn nhỏ, Hoài Nam còn thấy được cha, mẹ nàng trò chuyện; nhưng từ khi khôn lớn, đủ hiểu biết, nàng để ý thấy mẹ nàng thường lẩn tránh cha nàng nếu có thể, hoặc chỉ là im lìm không nói. Kỳ lạ thay, cái con người tàn bạo ấy, lại yêu mẹ nàng đến đổi ông không dám làm trái ý bà, hoặc luôn luôn cố làm vừa lòng bà, nhưng đó chỉ là những việc quẩn quanh trong Vương phủ; còn ngoài ra, mọi việc làm của ông, ông đều giấu bà. Những hành vi của ông trong thiên hạ đều được ông che đậy bằng sự dịu dàng đối với mẹ con nàng. Có lẽ, cha nàng biết được, ngoài mẹ con nàng ra, trong thiên hạ, không tìm được người thứ ba có sự chân thực đối với ông. Ngay cả đến Bất Hối, trưởng tỷ của nàng, cũng giận cha mình, đến nổi không muốn về thăm hàng trên mười năm trời đăng đẳng Gia gia của Bảo Thư khinh ghét, căm giận Nhạc phụ mình đến độ không muốn bất cứ ai nhắc đến tên của Nhạc phụ.
Thật sự, Dương Tiêu chính thật là một con người cô đơn và lẻ loi sự đơn độc ấy càng làm cho ông trở nên tàn bạo, và càng tàn bạo ông càng cô đơn; ông chỉ có những kề xu nịnh, những miệng lưỡi bề ngoài, những sự sợ hãi của những người gần gũi quanh ông. Điều đáng sợ nhất có lẽ là sự dịu dàng của ông trước khi giết người. Không một ai biết ông sẽ giết họ lúc nào!
Khi ông gọi Tâm Hạnh tới, mặt ông không một sắc giận, dịu dàng nói:
- Tâm Hạnh! Ngày hôm qua ta đã bảo với con là phải lấy thứ trà Tuyết sâm pha cho ta mỗi sáng, sao con lại bắt ta uống cái thứ trà Trảm mã này?
Có thế thôi ông đã ra tay giết chết người thể nữ mà mặt văn không đổi sắc, còn ngay chính nạn nhân cũng không thể biết được mình sẽ bị giết. Hoài Nam đã rùng mình lo sợ, ông có thể giết mẹ nàng, giết nàng cũng trong sự dịu dàng, nồng hậu ấy một cách hết sức bất chợt.
Từ ngày Tâm Hạnh chết, Vương phi đã không sống tại Hưng Khánh cung với ông nữa, bà trở về Bích Thảo cung sống như một người dân tầm thường.
Đang suy nghĩ, bỗng Hoài Nam chú ý đến một bóng trắng xuất hiện từ xa, chạy trên nóc nhà đối diện, rồi như không gượng được nữa, bóng người lảo đảo, chân trượt khỏi mái và rơi xuống, cả thân người vùi trong đống tuyết lạnh, không còn cử động.
Hoài Nam đoán rằng cha nàng vừa giao đấu với bóng trắng này, và đã bị ông đánh trọng thương, người này cố chạy đến đây thì ngã xuống. Hoài Nam vừa sợ hải, vừa lo âu Bóng trắng còn sống hay đã chết? Nếu còn sống, rồi cũng sẽ bị giết bởi tay cha nàng. tuy sợ, nhưng lòng thương người lớn hơn, nàng không thể để người kia chết mà không cứu, nàng gọi:
- Tố Hoa, Ngọc Trân theo ta !
Ba thiếu nữ chạy đến chỗ bóng người rơi xuống. Dưới cơn mưa tuyết bay đầy trời, Hoài Nam nhận ra đó là một thanh niên; khi nàng cởi bỏ chiếc khăn che ngang mũi chàng trai, Hoài Nam nhíu mày. Dưới ánh sáng của đêm trăng mười bảy, phản chiếu ánh lửa chập chờn từ xa, nàng nhìn rõ khuôn mặt của chàng trai hình như đối với nàng không lạ lắm, nàng đã nhìn thấy ở đâu đó, nhưng trong lúc này, nhất thời nàng không thể nhớ ra. Nhưng ngay lập tức, Hoài Nam thấy mình vô lý, vì cả đời nàng, nàng chưa từng quen biết với một thanh niên nào.
Người thanh niên, bận một bộ dạ hành màu trắng, bên ngoài là chiếc áo khinh cừu quý giá cùng màu, như tuyết mịn. Hoài Nam thật sự bối rối, nàng không biết phải làm thế nào trong trường hợp này; mang người thanh niên này giấu vào đâu!? Chàng ta bị tổn thương hết sức trầm trọng, cơ thể lạnh toát, hơi thở chỉ còn thoi thóp. Nàng biết chắc rằng, nếu không mau cứu chữa, chỉ trong khoảnh khắc thời gian, cái chết sẽ mang người thanh niên này ra đi; và cha nàng sẽ gây thêm một tội ác nữa. Cuối cùng, Hoài Nam mím môi,cương quyết nói:
-Hai em, chúng ta khiêng người này vào trong phòng của chị!
Tuy ngạc nhiên, nhưng hai người thể nữ, vì đã quen với những quyết định đầy tính chất bất chợt và cũng rất cả quyết của nàng Quận chúa xinh đẹp và quyền quý này, nên cả hai quên cả sợ hãi, e lệ, thẹn thùng; quên cái giá lạnh dưới trời đêm!
Cuối cùng, cả ba mang được người thanh niên vào căn phòng ấm cúng của Hoài Nam. Và sau giây phút đắn đo, Hoài Nam biết rằng, chưa bắt hoặc giết được hung thủ, cha nàng sẽ huy động quân lính lục soát tất cả Hoàng thành và Vương phủ ; nàng đã cứu người thì không thể quản ngại. Hoài Nam quyết định giấu gã thanh niên ngay trên giường nàng, sau tấm màn gấm bao quanh, tránh cái lạnh lọt qua khe cửa. Trước con mắt kinh sợ và tròn xoe vì ngạc nhiên của Ngọc Trân và Tố Hoa. Hoài Nam đẩy chàng thanh niên sát vào vách tường, nàng kéo tấm gấm dày buông xuống che cho chàng. Nếu đứng từ ngoài nhìn vào, không một ai biết được, sau bức trướng gấm kia, một gã tuổi trẻ nằm trên mé giường của nàng Quận chúa ngọc điệp kim chi này.
Hoài Nam bắt Tố Hoa đổ hết cả một chai dầu nóng vào ngực người thanh niên, đồng thời kéo đống chăn nệm phủ lên người gả trẻ tuổi, chỉ chừa chiếc mũi để thở. Nàng bảo Ngọc Trân bỏ thêm củi vào lò sưởi; ngọn lửa bùng lên, dần xua tan cái lạnh trong căn phòng. Hoài Nam tự mình ra ngoài, xóa hết dấu vết và vết chân còn để lại trên tuyết, và sau đó phủ lấp trong lớp tuyết trắng. Tuyết rơi mỗi lúc một dày...
Quận chúa dặn hai người thể nữ thân tín:
- Mọi việc đã có chị, hai em hãy bình tỉnh, đừng để lộ vẻ lo sợ trên mặt như thế; phải tỏ ra thật thản nhiên kể cả khi cha ta đích thân đến nơi này kiểm soát!
Hoài Nam quay vào phòng riêng, đến trước cửa phòng nàng còn dặn thêm:
- Các em lên giường và làm như đang ngủ say nhé, nếu có người gọi thì đợi đến lần gọi thứ ba, hãy lấy giọng ngái ngủ mà lên tiếng đáp! Nhớ đấy!
Nói xong, nàng e thẹn nhìn vào phòng mình. Chốc nữa nàng sẽ phải nằm cạnh người thanh niên anh tuấn này, ý nghĩ ấy làm nàng nóng bừng hai má, và lan ra cả toàn thân. Nhưng dù sao nàng cũng phải đóng cho xong vở kịch này một cách trót lọt, duy nhất chỉ có nàng mới cứa được chàng trai này.
Nàng ngồi ghé xuống thành giường, lắng tai nghe tiếng củi nổ lách tách trong lò sưởi. Bên ngoài, từng cơn gió rít ào ào qua mái ngói; mơ hồ trong tiếng gió có những tiếng quát tháo, tiếng gọi nhau ơi ới... Hoài Nam đoán chắc cuộc truy lừng đang tiến về hướng này. Có tiếng gõ cửa rụt rè:
- Xin vui lòng mở cửa !
Gọi đến lần thứ ba, giọng Tố Hoa ngái ngủ vang lên:
Ai đấy! Ai gọi gì đấy, giữa đêm hôm thế này?
Có tiếng người vui vẻ đáp:
- Tố Hoa nương tử đấy à! Nương tử ơi! Làm ơn mở cửa dùm kẻ hèn này chút đi, có lệnh của Vương gia lục soát toàn bộ Vương phủ đấy!
Cánh cửa mở ra, tuyết theo gió ùa vào phòng cùng với cái lạnh xé da, cào thịt. Tố Hoa lui lại tránh cơn gió tuyết:
- Bành đội trưởng đấy à! Bác làm gì mà dẫn lính đi đông thế, giữa đêm thế nầy?
- Nương tử ơi, ngủ gì mà ngủ kỹ thết Sướng thật, chẳng bù cho cái thân bảy thước này, nghĩ đến các cô ăn sung, mặc sướng, ngủ kỹ mà thấy ứa gan. Giọng người đội trưởng họ Bành đùa cợt.
- Ái chà, lão Bành này dám ứa gan với cả Quận chúa à !
Có tiếng của Hoài Nam, giọng còn ngái ngủ:
- Tố Hoa, cái gì vậy?
Tố Hoa thưa :
- Bẩm Quận chúa,  Bành đội trưởng nói có lệnh của Vương gia đến lục soát cung Vân Trang!
Hoài Nam mở cửa phòng bước ra, người đội trưởng và đám quận binh của hắn cung kính vòng tay cúi chào. Hoài Nam hỏi:
- Bành thúc, có chuyện gì mà đường đột vậy? Các vị hãy vào trong đi, ngoài trời lạnh lắm!
Cả bọn vâng lệnh bước vào trong. Tại Vương phủ, cũng như dân chúng Kinh thành, hầu như tất cả đều yêu mến và kính trọng Vương phi và Quận chúa, kể cả bọn quân binh bảo vệ và phục dịch. Chính nhờ có Vương phi và Quận chúa, không khí trong Vương phủ bớt đi sự căng thẳng, cứng nhắc nơi chốn quan quyền. Hai người đối xử với họ như chỗ thân tình, dịu dàng và .ân cần, cộng với nếp sống giản dị. Nhưng không phải vì thế mà họ dám lấn, ngược lại, họ lại càng giữ lễ và kính yêu hơn:
- Xin Quận chúa thứ lỗi cho tiểu tướng làm khinh động đến Quận chúa giữa đêm khuya. Bởi có gian tế xâm nhập Hoàng thành, hắn đã bị Vương gia đả bại đến trọng thương. Hắn tẩu thoát được nhưng có lẽ còn đang lẩn trốn quanh đây Vương gia hạ nghiêm lệnh phải lục soát toàn Vương phủ.
Hoài Nam ra vẻ ngạc nhiên, nói:
- Vậy mà ta có hay biết gì đâu, Bành thúc thi hành bổn phận đi. Khuya khoắt, giá lạnh thế này mà Bành thúc và anh em vất vả quá !
Bành Phi Hổ và đám binh lính nghe Quận chúa nói điều an ủi, cảm thấy như được uống dược thần, mặt mày ai nấy như tươi tỉnh hẳn.
- Tố Hoa, em dẫn Bành tướng quân đi lục soát các phòng cho kỹ nhé! Bành thúc cứ tự nhiên thi hành nhiệm vụ!
Nói xong, nàng mở cửa phòng ngủ, bước vào trong, và đế nguyên cánh cửa không khép lại. Bành Phi Hổ và đám quân lính đi soát toàn bộ Vân Trang cung, một khắc sau ông ta trở lại, cung kính thưa:
- Tiểu tướng xin đa tạ Quận chúa đã không trách cứ. Tiểu tướng không phát hiện được gì, xin Quận chúa an tâm!
Hoài Nam nói:
- Bành thúc, còn phòng này nữa, sao Bành thúc không cho lục soát?
Họ Bành sợ hãi nói:
- Bẩm Quận chúa, tiểu tướng được lệnh lục soát là để giữ an ninh cho Quận chúa, chứ đâu dám vô lễ, dám mong Quận chúa hiểu cho!
Hoài Nam bước ra, giọng nàng dịu dàng, nhỏ nhẹ:
- Ta cám ơn Bành thúc và các anh em vất vả . Xin đợi cho một chút!
Nàng quay vào phòng, và trở ra với một thoi bạc trên tay:
- Đêm nay các vị vì Vương phủ mà gian lao, có chút lòng, Bành thúc và anh em cầm lấy, để sáng mai uống rượu cho bớt cái lạnh đêm nay!
Vì vẫn được nàng và Vương phi thỉnh thoảng ban thưởng, nên tất cả không lạ lùng và khách sáo, Bành Phi Hổ vòng tay đỡ lấy:
- Xin đội ơn Quận chúa đã ban!
Rồi cả đội lính khom người:
- Kính chúc Quận chúa khang an!
Toán lính vừa đi khỏi, Hoài Nam thở dài nhẹ nhõm; tuy nhiên linh tính báo cho nàng biết, việc kiểm tra vẫn chưa hoàn tất, nếu gian tế chưa bị bắt giữ. Hoài Nam trở vào phòng, vén màn xem tình trạng sức khỏe của chàng thanh niên lạ mặt. Người thanh niên ấy chính là Nguyên Huân.
Nguyên Huân vẫn nằm bất tỉnh, vầng trán vuông rộng lạnh ngắt, hơi thở vẫn rất yếu, khuôn mặt cương nghị của chàng tái xanh, và trong thoáng chốc, đôi mắt nhìn đăm đăm của nàng khẽ chớp. Hoài Nam đã chợt nhớ ra, đã nhận ra chàng thanh niên này, chính là chàng trai trẻ mà nàng đã coi thường khi y khúm núm trước mặt đệ lục Thái tử Chu Nguyên Khánh. Bỗng dưng trong lòng nàng phát sinh một niềm vui.
Có thế chứ, chàng chẳng phải là một tên hèn nhát. Giữa đêm khuya, dám đột nhập vào Hoàng thành, bị bao vây, bị tấn công nơi hang hùm hổ huyệt, và đã giao đấu với cha nàng, một Quang Minh Dương Vương, nức tiếng cả về võ công và sự tàn bạo. Chàng chẳng phải là một kẻ hèn nhược, mà trái lại, một con người có bản lãnh như thế, chịu cúi đầu nhịn nhục trước một tên Thái tử điếm đàng, là để thực hiện một mục đích lớn, một việc làm mà có lẽ xưa nay chưa ai dám làm: đơn thân độc mã xâm nhập Hoàng thành. Sự nhẫn nhục ấy đã mang một tính chất cao cả, và Hoài Nam, nàng thấy lòng mình rộn lên một niềm xúc cảm kỳ lạ mà nàng không thể nào hiểu nổi! Nó giống như nụ hồng vừa cựa mình hé nở một sáng xuân sang... như khói sương phủ giăng một chiều thu muộn, như dòng nước nao nao của Trường giang sóng gợn, như bóng mây phiêu du về tụ trên ngọn đỉnh trời! Ôi, bí mật thay trái tim người thiếu nữ thuở đầu đời, như cánh bướm non run rẩy...
- Bái kiến Vương gia!
Tiếng của hai thể nữ đồng cất lên, Hoài Nam giật mình. Dương Vương đã lới trước cửa.
- Quận chúa các người có bình an không!
Hoài Nam chạy ra. Dương vương vừa trông thấy con gái toan quỳ lạy mình, ông bước tới đưa tay nắm lấy bàn tay run rẩy của con, đỡ dậy âu yếm nói:
- Đừng sợ, con gái của ta, có cha đây, không ai dám làm gì con đâu !
Hoài Nam nắm lấy tay áo của Dương Vương:
- Gia gia ơi, có chuyện gì vậy? Sao cha lại cho người lục soát cả Vân Trang cung thế?
Dương Vương vỗ nhẹ lên vai con, đáp:
- Có gian tế xâm nhập Hoàng thành con ạ, nhưng cha đã đánh đuổi chúng rồi, con đừng lo. Hừ! Tên này võ công không thể xem thường, y bị đánh trọng thương mà vẫn chạy thoát được. Y nhạy về hướng này, bởi vậy nên cha lo cho con quá. Con đừng sợ, dẫu rằng y đủ sức tẩu thoát, và ẩn núp ở đâu đó nhưng dù có công lực phi phàm, y vẫn không thể thoát chết, chỉ sau một ngày!
- Vậy mà lúc ấy con ngủ say chẳng biết gì, mãi đến lúc quân lính đến lục soát con mới biết. Đến giờ con vẫn còn sợ!
- Hoài Nam, con đừng sợ, và đừng buồn, bọn chúng làm việc là do lệnh của cha, cũng là lo cho sự an nguy của con nữa. Tên gian tế này cha không thể xem thường!
- Không, con buồn giận gì đâu, con hiểu cha lo cho con !
- Mùi dầu nóng ở đâu thế con?
- Lúc nãy mở cửa cho quân binh vào lục soát, gió lạnh lừa vào, con sợ cảm lạnh nên đổ chút dầu vào phòng, giống như mùi hương quế đó cha . . .
- Tội nghiệp, con yếu đuối quá. Bảo con luyện tập võ công cho thân thể cứng cáp, mà nào con có nghe!
- Con đã nghe rồi đấy, cha ?
- Nhưng cũng muộn quá. Con thấy cháu Bảo Thư của con không, nó khỏe mạnh như một con cheo ấy, cha vừa ghé qua chỗ nó...
- Bảo Thư có sao không cha?
- Không sao con ạ, võ công nó khá lắm. Bất Hối, mẹ nó ngày xưa cũng như con, không chịu luyện võ. Con có thích Bảo Thư không?
- Con yêu Bảo Thư lắm!
- Nó có vô lễ với con không?
- Không đâu cha, Bảo Thư yêu quý con như em gái đó cha!
Dương Vương mỉm cười :
- Con gái cha lại lầm lẫn rồi, con là em gái của mẹ nó, là A di của nó, con không nhớ à?!
- Con biết chứ, nhưng Bảo Thư hơn tuổi con nhiều mà ?
- Hơn tuổi cũng vẫn là cháu, nó là con gái của người chị con, phải có tôn ti trật tự chứ!
Hoài Nam vuốt nhẹ lưng Dương Vương:
- Cha ơi, cha già rồi, cha phải giữ gìn sức khỏe. Trời lạnh thế nầy, cha không mặc áo ấm, lỡ cha cảm bệnh thì sao!
Nói xong, nàng chạy vào phòng, lấy ra chiếc áo ngự hàn khoác lên người Dương Vương. Dương Vương cảm động, ôm cánh tay con gái nói:
- Con thương cha lắm phải không?
- Sao cha lại hỏi thế! Con không thương cha thì thương ai; cha vào trong này với con cho ấm đi cha, trong phòng con có lò sưởi đó.
Dương Vương theo chân con gái vào phòng. Hoài Nam dấy lên nổi bối rối và lo sợ, nàng tướng rằng nói thế để ông nhớ đến giờ khắc và sẽ ra về cho nàng yên nghỉ, nàng không ngờ ông vào thật. Võ công của ông cực cao, một hơi thở nhẹ sẽ không qua mặt được ông; nếu ông khám phá ra nàng đang che giấu thù nhân của ông thì sẽ ra sao! Hoài Nam dừng lại:
- Con buồn lắm cha có biết không?
Sắp bước qua ngưỡng cửa phòng con gái, nghe Hoài Nam nói vậy ông ngừng lại, nhìn con, hỏi:
- Ai! Ai làm cho con buồn, nói cho cha nghe; mà con buồn điều gì?
Hoài Nam ứa nước mắt:
- Con đã xin cha, vì mẹ con và con mà giữ gìn sức khỏe. cha già rồi, mà còn lặn lội trong chốn binh đao, lỡ có mệnh hệ nào con và mẹ sống làm sao được?
Nét mặt Dương Vương thoáng bối rối:
- Nhiệm vụ của cha mà! Với lại trong thiên hạ, chẳng có ai gây nguy hiểm được cho cha đâu!
Hoài Nam nức nở:
- Vâng, con cũng biết thế, nhưng lòng con vẫn cứ lo sợ; vã lại cha giết người nhiều quá, mà con gái thì hưởng phúc cha, con trai mang phúc mẹ, cha không thương con sao cha!
Dương Vương mỉm cười, che lấp sự bối rối. ông vỗ vai con gái:
- Ồ, cha thương con lắm chứ. Thôi, tay con run quá, lạnh lắm phải không. Hãy vào phòng nghỉ đi con, cha phải sang thăm mẹ con một chút!
- Cha ở lại với con đi, cha!
- Cha còn bận nhiều việc lắm, con vào nghỉ đi. Thị nữ, đỡ Quận chúa vào nghỉ!
Nói xong, ông quay phắt ra khỏi phòng, vội vã như lẫn tránh. Hoài Nam chạy đến khép chặt cửa ngoài, lấy tay lau nước mắt, nhoẻn cười. Nàng quay lại, thấy hai người thể nữ mặt mũi nhợt nhạt, sợ hãi. Nàng đưa tay lên môi ra dấu cho cả hai cùng im lặng. Tố Hoa hai bàn tay run rẩy, dìu Hoài Nam vào phòng ngủ, quay ra mà hai tay còn run bần bật. Hoài Nam cảnh giác nói lớn:
- Thôi, đi ngủ đi các em, ta mệt quá!
0
Nhưng rồi cả ba đã lại quay quần bên lò sưởi, Tố Hoa thì thào:
- Quận chúa, làm sao bây giờ?
- Hãy đợi đã, bây giờ chưa có cách gì được, Vương phủ vẫn còn đang bị lục xét. Ngọc Trân, em lấy cho ta chai dầu quế, chai Quế tinh còn nguyên đấy, mang lại đây!
Hoài Nam bước lại giường, nơi Nguyên Huân còn thêm thiếp hôn mê. Nàng ngại ngùng cởi đôi giày của chàng, đổ dầu quế vào hai chân, mang lại giày, xong lấy thêm chăn quấn chặt. Nàng tiếp tục đổ dầu khắp người Nguyên Huân, lên trán, lên mái tóc, nhưng không dám xoa bóp; cả người chàng được quấn thêm chăn dày, chỉ để chừa khuôn mặt, sắc diện chàng đã đỡ nhợt nhạt. Cả ba chẳng ai nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, ngồi canh đến khi trời sáng.
Nhân viên của Trù phòng dâng điểm tâm, Hoài Nam ăn qua loa đôi chút, nàng dặn hai thể nữ:
- Hai em thỉnh thoảng vào thăm chừng người thanh niên kia, nếu y hồi tỉnh, hai em cho y biết hoàn cảnh thực tại của y. Ta sang thăm Vương phi, rồi sẽ trở về ngay. Các em đừng sợ cốt yếu là phải giữ bình tĩnh mới được!
Nói xong nàng bước ra, khép cửa lại. tuyết đã ngừng rơi, bầu trời xám ngắt một màu. Nàng đưa mắt nhìn lại chỗ người thanh niên rơi xuống đêm qua, tuyết rơi vần vũ cả đêm xóa sạch mọi dấu vết. Hoài Nam đi dọc theo dãy hành lang sơn son, sang Bích Thảo cung thăm mẹ.
Vương phi đang dùng điểm tâm. Hoài Nam chào mẹ và ngồi xuống cạnh bà . Gương mặt Vương phi có vẻ trầm tư, cả dáng ngồi toát lên nét sầu muộn. Bỗng dưng Hoài Nam thấy thương mẹ xót xa. Tâm hồn mẹ nàng đẹp như hương thơm của một loài hoa quý, làm sao hòa hợp được với mùi nồng tanh của máu thấm đẫm tâm hồn cha nàng! Sự kết hợp tàn nhẫn của hai thái cực, làm sao mẹ nàng không u uất, chua xót. Bà đã phải chịu. đựng từ bấy lâu nay, và còn gì nữa trong tâm hồn u uất ấy, nàng chỉ biết được một cách mơ hồ khi nhìn vào đôi mắt thăm thầm u buồn của mẹ.
Nàng nhẹ nhàng ôm lấy mẹ. Vương phi hỏi:
- Hoài Nam, đêm qua con có sợ không? Có điều gì con sang đây sớm thế?
- Con sang vấn an mẹ, đêm qua chắc mẹ mất ngủ?
Trừ đôi mắt, gương mặt Vương phi như đá tạc, bà trả lời con mà như nói với mình:
- Mẹ không sao đâu, con đừng bận tâm. Vã lại mẹ đâu có sợ chết, ai giết mẹ làm gì; mà có thế đi nữa, có bị giết chết  vì oán thù do cha con gây ra, thì điều ấy cũng là sự giải thoát cho mẹ!
Giọng bà trĩu buồn.
Hoài Nam chẳng biết làm sao an ủi mẹ, nàng khẽ nói:
- Thôi mẹ ạ! Sức khỏe mẹ yếu lắm đấy, mẹ đừng nghĩ ngợi nữa. Đêm qua cha con có ghé thăm mẹ không?
- Có, cha con có đến, cùng với bọn quân binh đứng đầy ngoài hoa viên!
- Cha cũng có sang chỗ con, cha có nói gì không mẹ?
- Cha con bảo có gian tế xâm nhập, đốt cháy Võ Hiển điện. Cha con có vẻ tức giận lắm!
- Này mẹ !
- Gì thế con?
Hoài Nam ngần ngại nói:
Có chuyện này con muốn thưa với mẹ !
- Con nói đi, chuyện gì vậy?
Hoài Nam đứng dậy khép cửa phòng, xong quay trở lại, Vương phi ngạc nhiên nhìn con:
- Chuyện gì vậy con, nói cho mẹ nghe đi !
- Đêm hôm qua, tên gian tế bị cha con đánh trọng thương, chạy qua Vân Trang cung thì bất tỉnh, mẹ gầy, con đã cứu y!
Vương phi kinh hoàng nhìn con gái:
- Sao con liều lĩnh vậy?
- Không còn cách nào khác mẹ ạ ! Con không muốn bàn tay cha con nhúng thêm vào tội lỗi!
- Bây giờ con giấu y ở đâu?
Trong phòng của con. Y còn hôn mê, ít nhất là cho đến lúc con sang đây thăm mẹ, con muốn mẹ giúp con... !
- Chuyện này phải tuyệt đối bí mật. Các thị nữ bên cung Vân Trang có tin tường được không? Chuyện này, cha con mà biết được thì khổ cho mẹ con mình lắm đấy!
- Chỉ có con và hai thị nữ thân tín, mẹ đừng lo!
- Nhưng chỉ sợ chúng vô ý . . .
- Mẹ đừng lo lắng quá, chúng là bầu bạn của con trong bao năm trời nay, tâm tính chúng con biết?
Vương phi đứng dậy, bà nói:
- Ta đi ngay đi con, không thể để chậm trễ, tình trạng người ấy ra sao?
Hoài Nam ấp úng:
- Mẹ!
Gì con!
- Người này chính là gã thanh niên mà mẹ con mình đã gặp, chính hôm Chu Nguyên Khánh dọa nạt y ở ngoài đường phố ấy!
- Con nói sao? Chính y à!
- Vâng, con chắc thế!
Đôi mắt Vương phi như khép lại, và lòng bà tràn nỗi âu lo Hoài Nam nói tiếp:
- Toàn thân y lạnh buốt như băng, con đã đổ hết một chai Quế tinh dầu lên người y và quấn chăn mấy lớp, y mê man và hơi thở rất yếu!
Đi con, mình đi thôi, và chớ hở ra cho Bảo Thư biết nhé !
- Con nghĩ là không sao đâu, Bảo Thư cũng như con!
- Con ạ! Lòng người như chiếc lá, thoắt xanh và thoắt úa, ta làm sao biết được!
Vương phi và Hoài Nam, như người đi dạo, rất thong thả; trở về Vân Trang cung. Nguyên Huân nằm thiêm thiếp, hơi thở đã khá hơn, da mặt bớt màu xanh tái. tuy nhiên trên trán và hai hố mắt, hiện rất rõ những quầng xanh xám. Vương phi sai Tố Hoa canh ở hành lang, và Ngọc Trân đứng ở cửa ngoài. Bà khép chặt cửa phòng của Hoài Nam, xong chuyển Nguyên Huân ra giữa giương. ánh đèn lồng tuy không đủ sáng, nhưng tạo sinh khí ấm cúng trong phòng.
Vương phi đặt tay lên trán Nguyên Huân, trán chàng lạnh ngắt như một xác chết. Mạch ở cổ tay trầm và thưa, bà dùng dầu nóng xoa trên các huyệt Thái dương, Hạ quan, Phong trì Toản trúc, Ngự yên. Bà dùng mảnh thủy tinh nhỏ, cắt nhẹ và nặn máu bầm trên các huyệt, vừa xoa dầu. Bà cởi áo chàng lể trên các huyệt Kỳ môn, Đàn trung và dọc theo Nhâm mạch: Thiên đột, Cự khuyết, Khí hải, Đan điền, Trung quản...
Hoài Nam bỗng thấy bàn tay của mẹ nàng đột nhiên run rẩy, sắc mặt bà tái đi, đôi mắt mở lớn nhìn trừng trừng vào chiếc đầu cọp được xâm trên bộ ngực rộng của chàng trai, và bàn tay bà từ từ, như một người mộng du, sờ đến sợi dây đeo trên cổ, ở đó, là một viên ngọc lớn sáng lấp lánh màu đỏ sẩm... Từ đôi mắt mở lớn của Vương phi, hai dòng lệ tuôn rơi...
Hoài Nam nhìn mẹ, vừa ngạc nhiên vừa sợ hãi. Tại sao mẹ nàng như thế kia, điều gì khiến mẹ nàng xúc động, sự xúc động ấy có ý nghĩa gì? Cả người bà như đang run bắn. Nàng đứng nhìn, sững sờ, ngơ ngác.
Vương phi như người tỉnh mộng, bà im lặng không nói, tiếp tục đổ dầu xoa trên ngực chàng trai, và dùng một vật kim khí chà xát mạnh. Sau đó, bà lật sấp Nguyên Huân lại, xoa dầu đấm trên lưng, trên bả vai, dọc theo xương sống, lấy trong người một vật như đồng xu, cạo khắp trên các khớp xương, bà nói với con:
- Chàng trai này trúng hàn nặng lắm, mẹ chữa trị theo cách cạo gió ở quê mẹ; nhưng e rằng, nếu không có lương y chữa trị thì khó lòng...
Bà hầu như nghẹn lời, và nước mắt lại tuôn đẫm trên hai gò má trắng xanh. Hoài Nam càng lúc càng kinh ngạc. Chưa bao giờ, từ khi khôn lớn, nàng thấy mẹ nàng xúc động đến như thế. Thường thường Hoài Nam chỉ thấy bà yên lặng và mắt nhìn xa xăm với cái nổi buồn nào đó thầm kín trong lòng bà, nàng chưa thấy mẹ khóc, dẫu chỉ một lần. Có lẽ nỗi buồn chất chứa trong tâm tư như đã đặc quánh lại, như một khối sầu, nhấn chìm bà trong cõi im lắng. Và giờ đây, có phải niềm đau tích tụ ấy đã vỡ òa thành nên những dòng lệ chan chứa? Hoài Nam ôm lấy hai vai mẹ im lặng. Vương phi kéo con gái ngồi xuống cạnh bà, cầm lấy tay nàng, giọng bà nghẹn ngào:
- Con có biết con đã làm một việc lớn lao không con!
- Người con trai này là cháu mẹ, con của người anh của ta, đứa con còn sót lại cuối cùng của một giống họ kiệt liệt!
Hoài Nam mở mắt thật to, vừa kinh ngạc, vừa tò mò:
- Mẹ, mẹ nói sao? Người thanh niên này gọi mẹ bằng cô? Sao mẹ từng nói với con là mẹ không còn ai thân thích!?
- Phải , đúng thế! Ta cũng không ngờ Trời Phật còn giữ cho giống họ ấy một người... Giọng ngậm ngùi, bà nói tiếp.
- Sau cái đêm thảm sát kinh hoàng ấy, ngày ta trở thành vợ của cha con, ngày ta rời bỏ quê hương, nó mới tròn năm tuổi; bây giờ đã mười tám năm trôi qua. ôi, ta đâu có tin được, có ngày ta gặp lại nó!
- Mẹ, sao mẹ biết đúng người này là cháu mẹ?
- Con ạ, trong giống họ ấy, con trai lúc lên bốn tuổi phải xăm hình Hổ Phù trên ngực, và chiếc đầu cọp trên ngực anh con đây là do chính ta vẽ...
Và bà như thì thầm cùng chàng: "Nguyên Huân, ngày con còn nhỏ, con và Uyển Thanh ríu rít bên ta như đôi chim nhỏ... Đột ngột bà dừng lại, bà thấy trên cổ chàng còn một sợi dây đeo khác, có móc một chiếc túi gấm nhỏ phong kín. Vương phi quyết định mở ra, và trên bàn tay đang run lên của bà, là một mảnh ngọc tám cạnh màu xanh biếc được mài giũa rất công phu, trên mặt ngọc khắc tám thanh kiếm bao quanh một mặt trăng tròn. Vương phi úp mảnh ngọc vào mặt khóc nức nở, Hoài Nam.ôm lấy mẹ:
- Mẹ! Mẹ đừng đau lòng nữa, mẹ phải vui lên mới phải vì gặp được cháu của mẹ...
- Nhưng Hoài Nam, liệu nó có còn sống được không? Ôi oan khiên! Chính tay cha con giết nó. Bây giờ thì mẹ hiểu, đau đớn cho mẹ biết đường nào!
Mảnh ngọc này là thế nào mà mẹ đau lòng thế?
- Đó là tín vật của " Bát Đại Danh gia" uy danh một thời lừng lẫy. Nhưng mà thôi, một ngày nào rồi con sẽ hiểu!
Một tiếng rên nhẹ, Nguyên Huân từ từ mở mắt; trước mắt chàng, một đám sương mù.. . dần dần, đám sương tụ lại thành khuôn mặt một người đàn bà, đang cúi xuống nhìn chàng bằng đôi mắt âu lo, với những giọt lệ còn đọng trên mi, trên má.
Nguyên Huân giật mình, một câu hỏi cất lên bằng chính ngôn ngữ quê hương chàng:
- Công tử người họ Trần?
Nguyên Huân chăm chăm nhìn người thiếu phụ cực kỳ xinh đẹp trước mắt, chàng cau mày, và chàng hiểu tất cả:
- Thúc mẫu! Ôi có phải Thúc mẫu đó không?
Vương phi nức nở ôm lấy mặt chàng, nghẹn ngào:
- Nguyên Huân , chính ta đây, chính ta đây con ơi!
Chàng trở mình toan ngồi dậy, nhưng cả thân thể đau nhừ. Vương phi ôm hai vai chàng, đau đớn:
- Huân nhi, con hãy nằm im, con bị trọng thương, rất nặng!
Nguyên Huân đưa mắt nhìn Hoài Nam, cũng đang đứng nhìn chàng, Vương phi hiểu ý, nói:
- Đoàn Hoài Nam, em con đó. Nó đã cứu con. Ta thật đội ơn Trời Phật!
Hoài Nam đứng nghe hai người đối đáp, nàng thật không hiểu gì. Giọng nói, tiếng nói hoàn toàn xa lạ. Nàng ngạc nhiên, mẹ nàng đang nói gì nàng không thể hiểu, nhưng nghe tuyệt vời như tiếng chim hót; âm điệu trầm bỗng như nhạc điệu.
Ôi, tiếng nói nơi quê hương của mẹ nàng, lần đầu tiên nàng được nghe trong một tình huống nàng không ngờ tới.
Tiếng nói mang âm hưởng ríu rít của tiếng chim, như có mật ngọt thoát thai từ giọng nói . . . Tuy không hiểu, nhưng từ trong đáy lòng Hoài Nam, ngôn ngữ kỳ diệu của quê ngoại như đang lay động cả tâm hồn nàng, rung động trên từng cảm xúc...
- Nguyên Huân, sao ta lại gặp con ở đây? Nói cho ta biết đi Nói cho ta biết thực trạng sau đêm kinh hoàng ấy...
- Thúc mẫu, Uyển Thanh đã lớn và xinh đẹp. Thúc phụ con còn sống, nhưng đau ốm triền miên, và Dư thúc nữa. Tất cả chỉ còn có thế! Cách đây bốn năm, con tìm sang đây để tìm thâu báu vật của nhà họ Trần, và tìm kiếm Thúc mẫu. Con xâm nhập Hoàng thành đã mấy đêm nay, đêm cuối cùng thì bị phát giác?
Tiếng chàng hết sức mệt mỏi:
- Thúc mẫu, con bị trúng Hàn Ngọc âm chưởng như Thúc phụ ngày xưa, từ nay có sống cũng như chết, bổn phận không làm xong, làm sao còn dám quay nhìn Tổ quốc nữa! Đoàn thúc con sở dĩ còn gượng sống đến ngày nay vì còn kỳ vọng ở nơi con. Nay trở thành người vô dụng, con không còn muốn sống làm gì nữa!
Nguyên Huân mệt mỏi nhắm mắt lại, hai hàng nước mắt ứa ra, chảy xuống thái dương. Vương phi nắm vội bàn tay Nguyên Huân, giọng bà thoảng thốt:
- Có phải con muốn nói đến "Vạn Kiếp Bí Truyền" của Tổ phụ con? Con ạ! Đừng tuyệt vọng thế, ta đã thu hồi được từ hai năm trước, từ ngày dời đô về Yên Kinh, và hiện đang giữ bên mình!
Nguyên Huân mở bừng mắt, đôi mắt linh hoạt, đầy sức sống:
- Thúc mẫu, Thúc mẫu vừa nói gì?!
- Ta nói, " Vạn Kiếp Bí Truyền" của Tổ phụ con, hiện đang ở trong tay ta!
Như có phép mầu, một luồng sức mạnh bừng nở trong người, Nguyên Huân ngồi bật dậy, chộp lấy bàn tay Vương phi:
- Thúc mẫu, làm sao Thúc mẫu biết và lấy lại được Di vật của Tổ phụ hài nhi?
- Ta chỉ tình cờ thôi, ta nhìn thấy một ít sách quý trong phòng Dương Vương, vừa trông thấy nó, ta biết ngay đó là một danh tác của họ Trần, ta vội lén giữ lấy. Hình như Dương Vương cũng vô tình chưa để ý đến, vì ngày ấy công việc chuyển vận về Yên Kinh còn bề bộn lắm!
Thúc mẫu, hiện giờ Thúc mẫu để ở đâu?
- Ta đã cất giấu kỹ, con cứ yên tâm. Hiện tại phải tìm phương cách chữa thương cho con càng sớm càng tốt!
Giọng Nguyên Huân buồn bã:
- Thúc mẫu, con bị trúng Hàn Ngọc âm chưởng, khó lòng thoát chết. Con còn mang nặng mối gia thù chưa trả . Kẻ thù đã ở trước mắt con...
Chàng ứa nước mắt.
- Nguyên Huân, con đừng vội tuyệt vọng. Ta đã xem qua Vạn Kiếp Bí Truyền, trong đó, Tổ phụ con có ghi phần luyện công và trị thương, ta hy vọng có ích cho con đấy. Điều trước mắt bây giờ là con không thể ở nơi đây được nữa. Trước khi đến đây, dẫu chưa biết người bị truy đuổi là ai, chỉ vì muốn giúp Hoài Nam cho trót, ta cũng đã có chủ ý . ở nơi ta ở, một lần chỉ vì tình cờ, ta tìm ra một căn thạch thất được thiết kế trong lòng hòn non bộ nằm giữa khuôn viên của Bích Thảo cung, hòn giả sơn này có lẽ đã có từ lâu lắm, vì nơi này trước kia, cũng vốn là một Vương phủ của một Thân vương dưới thời nhà Tống. Ta sẽ đưa con đến đó ẩn náu tạm thời, chờ khi con phục hồi, sẽ tìm cách ra khỏi Yên Kinh. Con nên kiên tâm, nhẫn nại, đừng tuyệt vọng con ạ!
Căn thạch thất đã được Vương phi vô tình khám phá trong một lần bà đi dạo quanh khuôn viên, đến trước hòn giả sơn, bà ngồi xuống thảm cỏ, tựa lưng vào một phiến đá lớn, trơn nhẵn và mát rượi. Lúc lấy thế đứng dậy, lưng bà tựa mạnh vào bà chợt cảm thấy phiến đá như có sự chuyển dịch nhẹ , bà quay nhìn nhưng chẳng thấy có gì khác lạ; bà phân vân, đưa cả hai tay xô mạnh vào, phiến đá nhúc nhích thật sự. Ngạc nhiên, Vương phi dùng cả sức mình vừa đẩy mạnh vừa xoay chuyển; quả nhiên, phiến đá bắt đầu xoay theo chiều từ trái sang phải, khi giáp vòng, có tiếng rè rè nổi lên, phiến đá lớn từ từ hạ xuống, để lộ một vòm cửa.
Tò mò, bà bước vào trong, trước mặt bà lại có một tảng đá hình đầu rồng, hiếu kỳ, Vương phỉ xoay thử, lúc xoay ngược chiều, tiếng động lại nổi lên, sau lưng Vương phi, phiến đá lại nhô lên nhẹ nhàng, lấp kín lối vào mật thất.
Đêm ấy, một mình với ngọn đèn lồng, bà trở lại gian thạch thất. Căn phòng tương đối rộng, có cả giường nằm và những vật dụng cần thiết; nhưng tất cả đã hư mục, cả những thùng chứa thực phẩm, rã nát, mốc meo; duy có nước vẫn còn đầy trong bể chứa.
Những đêm sau, bà lặng lẽ một mình đi, đến quét dọn, thay thế mùng màn chăn chiếu Gian thạch thất được chiếu sáng từ trên đỉnh non bộ, được phản chiếu bởi những tấm gương ghép nối, có cả hơi gió mát thoảng vào qua những lỗ thông hơi theo chiều ghép nhô ra hõm vào, của các tảng đá quanh chân hòn non bộ.
Vương phi đã nghĩ đến một ngày cuối của đời mình, bà sẽ vào nơi này, giấu mình ở đó, và yên nghỉ nghìn đời. Giờ đây, bà sẽ dùng làm chỗ náu thân cho Nguyên Huân trong thời gian dưỡng thương, quả là thuận lợi.
Đêm sau, Vương phi và Hoài Nam bí mật đưa Nguyên Huân đến thạch thất. Bà hóa trang cho chàng thành một nữ tỳ theo hầu. Cả ba đi thong thả, chẩm rải, cũng bởi Nguyên Huân cũng chẳng còn chút hơi sức nào. Các huyệt đạo trọng yếu trong người chàng đều bị hàn khí trấn ngự, vô cùng đau nhức. Trời đêm lạnh giá, tuyết rơi mịt mùng, hành lang dài dẫn đến Bích Thảo cung phải băng qua những thâm cỏ, những hoa viên ướt lạnh. Chỉ đến khi bước chân vào gian thạch thất ấm cúng, cả ba người nhìn nhau xúc động...
Mọi vật dụng cần thiết Vương phi đã lo chu đáo từ trước, đêm hôm sau, bà mang vào cho Nguyên Huân một cuốn sách cũ, bìa là một loại giấy bản, những trang sách được đính vào nhau bằng nhựa của cây trái. Nguyên Huân sung sướng đến nghẹn lời khi chàng quỳ xuống đón lấy cuốn sách từ tay của Vương phi.
Sách đã quá cũ theo thời gian, bốn chữ "Vạn Kiếp Bí Truyền" được viết bằng lối chữ thảo, chữ tuyệt đẹp, nét sắc như đao kiếm, Nguyên Huân cảm động nhìn ngắm nét chữ mà chàng cho rằng đích thân Tằng Tổ chàng đã viết, Đức Thượng phụ Tiết Chế Thượng Quốc công, Bình Bắc Đại Nguyên Soái Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Quyển sách khá dày, chữ viết nhỏ, chân phương, giấy đã ố vàng nhưng chữ còn đọc rõ . Phần đầu là thiên Binh Pháp, phần thứ hai là Võ học: sáu chữ viết bằng kim nhủ "Sát Na Vô Lượng Thần Công" và "Vân Hà Tỏa Kiếm". Phần cuối cùng tương đối mỏng: Y dược và phần luyện công trị thương, tất cả đều có kèm theo đồ họa từng chi tiết các huyệt đạo và kinh mạch trên cơ thể; nhưng Nguyên Huân suýt kêu lên, chàng hết sức ngạc nhiên, tất cả các huyệt đạo và kinh mạch của con người trên đồ họa, bộ vị hoàn toàn nghịch đảo!
Chàng đã náo nức vô cùng khi có bí kíp trên tay. Chàng vẫn mong có ngày rời khỏi nơi này, kiếm một nơi an toàn, đem hết công phu luyện tập. Chàng bị trọng thương, khí âm hàn chế ngự toàn bộ huyệt đạo, chân khí không thể vận hành, như dòng sông bị phù sa lấp kín. Ngay việc tích tụ nội gia chân khí vào đơn điền cũng hết sức khó khăn. Giờ đây, so với căn nguyên chỉ dẫn từ trong sách, với bộ .vị hoàn toàn thay đổi, nếu chàng ham mê luyện tập, có thể sẽ đưa đến tẩu hỏa nhập ma, sẽ đưa đến cái chết. Nguyên Huân nghĩ mình không thể bừa bãi, nên không dám xem xét đến nữa.
Chàng mở qua thiên Luyện công trị thương, thiên này chia ra từng loại thương tổn khác nhau: Dưỡng thần, Bồi nguyên, Điều tức, Khu trừ độc dược, Phục hồi chân lực, Trị ngoại thương; đến chương cuối cùng, Nguyên Huân vô cùng mừng rỡ: Khu trừ hàn độc khí.
" Trong thiên hạ, kẻ có công phu âm độc không nhiều, bởi vì, những người luyện tập phải hết sức kiên trì hơn người, mới mong thành tựu. Trong võ lâm từ xưa, đã thấy xuất hiện các môn chưởng pháp âm hàn, như. Băng Tâm Miêu chưởng, Huyền Minh thần chưởng, và Hàn Ngọc âm chưởng. Chiêu thức chưởng pháp hết sức quái dị, đem theo khí lạnh buốt xương hòa trộn với độc công. Kẻ bị trúng loại âm độc công này, ngoài cái lạnh tiềm ẩn trong kinh kỳ bát mạch, còn bi khí độc xâm nhập, toàn thân đau nhức, đưa đến tử vong. Người luyện công trị thương, phải là người có hai điều kiện sau đây: một là ăn được Chu Cáp mảng cổ, một loại động vật cực dương, hoặc Hỏa Chi quả thuần dương; hai là đã luyện được công phu của Phật gia: Cửu Dương thần công, mới có thể chế ngự được.
Tuy nhiên, nếu có một cao thủ, với nội lực mạnh hơn nội lực của người đả thương, dùng Cửu Dương thần công khu trừ hàn khí ra khỏi kinh kỳ bát mạch. Sau khi khu trừ được độc khí mới hy vọng sông sót. Kẻ bị đả thương Hàn âm độc công, tùy theo nội lực mà có thể bảo vệ mạng sống của mình dài, ngắn khác nhau, nhưng không . thể kéo dài được quá mười ngày, nếu không biết cách khu trừ độc khí, tách độc khí ra khỏi âm hàn.
Độc khí giống như rác rưởi phủ một dòng chảy, còn khí hàn âm giống như cát sỏi; rác rưởi thì dễ vật, cát sỏi khó đào Sau khi dụng công khu trừ độc khí, kẻ trúng Hàn độc âm chưởng kéo dài sự sống thêm được sáu tháng, qua vòng sáu tháng, thân nhiệt sẽ tắt, toàn thân đóng băng chết..." Nguyên Huân bỏ qua đoạn luận về sự sống chết.
"... Trong đời ta, vì việc quân quốc trọng sự, nên không đi sâu vào tình hình võ lâm thiên hạ. Nhưng dưới thời Nam Tống suy vi, dòng họ Hoàn Nhan nước Kim từ phía đông bắc tràn xuống, chia Trung Nguyên làm đôi, lấy Trường Giang mà phân tranh; võ lâm Trung Nguyên một phen náo động. Bảy mươi hai tuyệt kỷ của Thiếu Lâm, cũng vì những biến động ấy, nhiều pho sách của Đạt Ma Sư Tổ để lại, đã mất mát. Trong số ấy, có Cửu Dương Chân Kinh. Giác Viễn đại sư chùa Thiếu Lâm, là người thông tuệ, đọc thuộc gần hết toàn bộ Chân Kinh trong Tàng Kinh các, nhưng lại không bao giờ luyện tập. Tính tình của Đại sư như đứa trẻ thơ, vì năng gánh nước mà luyện thành công lực. Khi bị truy đuổi, đã đọc lại Cửu Dương Chân Kinh cho hai người trẻ tuổi, đó là Trương Quân Bảo và Quách Tường, mỗi người nhớ được một phần, gọi là Cửu Dương Công; nhờ đó mà tạo dựng nên hai đại phái, là Võ Đang và Nga Mi. Từ đó Cửu Dương Thần Công không còn nữa.
Người luyện được Cửu Dương Công chỉ đủ làm tiêu tán một phần của Hàn âm độc chưởng, không thể khu trừ toàn bộ."
Đoạn dưới là cách chỉ dẫn luyện công khu trừ độc khí, và một phần của khí âm hàn. Những ngày kế tiếp, Nguyên Huân ngâm mình trong bể nước. Ngày đầu tiên, chàng đã nhen nhúm được chân khí trong đơn điền huyệt, từ từ dẫn qua kinh kỳ, bát mạch. Lúc đầu còn khó khăn, sau hai ngày kiên trì Nguyên Huân đã đưa chân khí vòng hết một chu thiên, từ đó, chân khí mỗi lúc một sinh cường, xua dần độc khí thoát ra năm đầu ngón tay, từ các huyệt Trung xung, Thiếu trạch, Lao cung, Hợp cốc, và những huyệt ở Nội đình, Bộc than, Đại đôn, Nhiên cốc, Dũng tuyền ở gan bàn chân. Qua ngày thứ sáu, chàng cảm thấy các khớp xương và các huyệt trọng yếu đã bớt đau nhức, nhưng huyệt ân đường vẫn còn màu xanh xám. Hàn khí vẫn khống chế các huyệt đạo. Chàng chiếu theo đồ hình, vận Tiên Thiên công và Cửu Dương công, bắt đầu từng chút một, đẩy khí âm hàn thoát theo các huyệt Nhũ căn để giải tỏa khu Phế nang và Tâm du.
Nước được đun nóng, bỏ vào đó rất nhiều dược liệu mang dương tính. Nguyên Huân phải chịu đựng, từ độ nóng bỏng của nước, dần dần chuyển sang lạnh buốt. Chàng biết rằng, khí âm hàn bị tống ra ngoài cơ thể.
Đến ngày thứ tư thì nước không còn lạnh nữa, nhưng hai huyệt, Sinh Tử Huyền Quan và Bách Hội huyệt vẫn thỉnh thoảng còn đau nhức; có nghĩa là, với Tiên Thiên và Cửu Dương công phối hợp, cũng không thể xua được hết khí âm hàn ra khỏi các huyệt đạo trọng yếu.
Tuy võ công có phục hồi được bốn, năm thành, nhưng trong khoảng thời gian luyện công chữa thương ấy, tùy theo công lực nông, sâu mà sự phát tác sớm hay muộn, võ công sẽ mất hết, người chỉ còn da bọc xương, chết dần trong suy nhược. Nguyên Huân mang chuyện này nói với Vương phi, Vương phi nói:
- Cái sống, cái chết đều có căn phần cả. Khi khí số đã tuyệt thì không cần hoạn nạn, đau yếu. Nếu số chưa đến ngày tuyệt tận, thì trong tận cùng gian nguy vẫn có lối ra, con đừng lo lắng mà hại đến sức khỏe!
Tính ra, Nguyên Huân đã trị thương trong thạch thất mười hai ngày. Khi sức khoẻ đã tương đối hồi phục, chàng kể lại cho Vương phi biết tất cả những diễn biến xảy ra sau ngày bi thảm đó, về tình trạng sức khỏe cạn kiệt của Đoàn lục thúc, về Uyển Thanh, không sót điều gì ; kể cả nỗi nhớ thương của Đoàn thúc phụ...
Vương phi toàn thân run rẩy, nhưng bà không còn khóc nữa. Nỗi đau đớn hành hạ bà những đêm thức trắng. Chỉ có mấy ngày mà mái tóc đen mướt của bà đã lốm đốm sợi bạc.
o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-29 22:59:53Hoàng Dung>
chương hai mươi
Tâm Hư khích tướng Dương Vương
Bảo Thư xiêu lòng Quận chúa.


Kiến Nghiệp Đại Sư và Tâm Hư Sư Thái kịch chiến với Dương Tiêu đã trên ngàn chiêu. Dương Vương giở thức thú bốn của Càn Khôn Đại Na Di tâm pháp, đẩy đường roi của Sư thái đánh vào Kiến Nghiệp đại sư. Cả hai không lạ gì võ công của Dương Vương, nhưng không ngờ công lực của y ngày nay lại cao thâm đến thế. Kiến Nghiệp không dám chần chừ, ông vận dụng Bối Diệp thần công và Hiên Viên thập bát giải chưởng pháp, hai môn công phu mà ông ít khi dùng đến. Đó là hai môn võ học tuyệt vời của Phật gia.
Năm xưa, ông được một dị nhân, sống trong một hang động trong dãy Thiên Sơn, cách đây hàng mấy trăm năm, cách thế truyền cho. Hiên Viên thập bát giải là một loại võ công rất cổ, cực kỳ quái dị nhưng biến hóa khôn cùng.
Tâm Hư Sư thái vận dụng Cửu âm Chân Kinh đối kháng lại Hàn Ngọc âm chướng, đường roi của bà như một trời mây mù, phủ xuống, Dương Vương phải luôn vận Điêu Phong thân pháp và Càn Khôn Đại Na Di tâm pháp đến mức cao nhất, mới giữ được thê quân bình. Trận kịch chiến trời sầu đất thảm.
Kiến Nghiệp đã mang hết tuyệt học để khống chế các công phu của Dương Vương, nhưng chỉ ép được y không thể phát huy đến chỗ tinh diệu nhất của Càn Khôn Đại Na Di tâm pháp. Nhớ đến mối thù năm xưa của Diệt Tuyệt sư thái đối với Dương Tiêu, người đã làm cho uy danh của Nga Mi bị sứt mẻ, trong nỗi đau đớn của Kỷ Hiểu Phù, sư tỷ của bà ngày nào, Tâm Hư dồn toàn bộ tuyệt học mà bấy lâu nay đã luyện thành trong Cửu Âm Chân Kinh ra đối địch. Nói về nội gia chân lực, bà có thua sút Dương Tiêu và Kiến Nghiệp, nhưng công phu của Cửu Âm Chân Kinh thì vô cùng âm độc quái dị, đến nổi năm xưa, Quách Tỉnh đã nhất định không chịu luyện, dù lão Ngoan Đồng Châu Bá Thông có ép buộc đến thế nào cũng mặc.
Nhờ vào tâm pháp Càn Khôn Đại Na Di, Dương Vương đẩy bớt sức tấn công về phía đối phương, hai địch thủ của y phải luôn hoán chuyển để tránh tự gây thương tổn cho nhau, trận chiến vì thế, người ngoài nhìn vào không khác gì một trận hỗn đấu, chứ không phải là hai đang tấn công một nữa; vì vậy cho nên thế quân bình của trận đấu trông thật kỳ dị. Kiến Nghiệp đại sư biết rõ tình trạng đó, bởi khi truyền lại lớp thứ ba của Càn Khôn Đại Na Di tâm pháp cho ông, cả hai vị Dương, Trương giáo chủ đã nói rõ cái linh diệu của môn công phu này do ba chữ " Đại Na Di " mà ra. ông biết trận đấu có kéo dài cũng không ích gì, và cả Dương Tiêu công nhận thấy như vậy.
Với hai cao thủ tuyệt đại này, bao nhiêu lớp binh triều và các võ sĩ thuộc hạ của y dẫu có bao vây cũng chẳng thể thay đổi được cuộc diện. Tâm Hư sư thái cũng đã nhận ra tình trạng ấy, nên khi Kiến Nghiệp đại sư quát lớn:
- Ngừng tay đã!
Thì cả ba đều tung người vọt ra phía sau giải tỏa kình lực. Kiến Nghiệp đại sư nhìn Dương Tiêu, y vẫn ung dung, không tỏ ra hao kiệt công lực trong hai lần giao đấu, trong lòng ông thầm nể phục.
- Người anh em cũ, mạnh khỏe chứ?
Dương Tiêu hỏi Kiến Nghiệp bằng giọng dịu dàng, Tâm Hư sư thái hắng giọng, nói:
- Dương Tiêu, ngươi khách khí làm chi. Võ công ngươi ngày nay cao thâm, đáng phục đấy, nhưng ngươi phải biết, ngoài tầng trời này còn có tầng trời khác.
Dương Vương cười ha hả, đáp:
- Chu nương nương, bà vẫn như ngày nào? Tâm muốn tiến đến chỗ hư, không phải là điều dễ. Ta xin hỏi, hôm nay nhị vị ghé vào Vương phủ ta có điều chi dạy bảo. Sao lại đến giữa đêm hôm khuya khoắt, lén lút như kẻ trộm vậy? Dương Tiêu này có quên bạn cũ bao giờ!
Kiến Nghiệp đại sư nói:
- Dương Vương, bọn ta giao đấu trực diện với ngài, cớ sao gọi là kẻ trộm. Đã trên ba mươi năm nay ngài chẳng có gì thay đổi cả! Ta rất tiếc, hai lần ngài lãnh đạo Minh giáo,  đều đưa Minh giáo đi vào chỗ tối tăm, tà mị. Ta đến gặp ngài hôm nay không để chỉ nói có bấy nhiêu, điều ấy ngài hẳn biết; và cũng không phải để ấn chứng võ công với ngài, mà có nhiều điều muốn tỏ cùng ngài. Ta chẳng giấu giếm ngài làm gì, đêm nay, cũng như mấy đêm trước, ta đã theo dõi để trợ thủ cho vị tiểu thí chủ mà ngài vừa đánh bại, ta rất tiếc đã đến chậm mất một bước. Sự hiện diện của Tâm Hư sư thái tại đây cũng là sự tình cờ.Dương Tiêu cười nhạt:
- Hừ? Túc hạ nói mình không phải là kẻ trộm, vậy mà đi hổ trợ cho một tên ăn trộm, chẳng hóa ra cũng cùng một cuộc đó sao!
Tâm Hư sư thái quát:
Dương lão tà, sao ngươi hồ đồ thế? Bọn ta đến đây thu hồi báu vật, sao lại gọi là kẻ trộm được?
Dương Tiêu cười gằn hỏi:
- Báu vật nào của Nga Mi lại ở nơi đây?
Tâm Hư sư thái đáp:
- Ngươi không nhớ hay cố ý tảng lờ? Đồ Long đao và Ỷ Thiên kiếm không phải do Quách đại hiệp năm xưa đúc nên sao? Quách Tổ sư của bản phái không phải là hậu duệ của Quách, Hoàng nhị hiệp là gì?
- Kẻ hồ đồ không phải là ta, mà là ngươi. Nơi đây không tàng trữ hai món binh khí đó!
- Dương Tiêu, nếu không có Vũ Mục Di Thư trong Đồ Long đao, ngày xưa Trương giáo chủ trao cho Từ Đạt, thì làm gì có nhà Minh ngày nay, và ngươi vẫn chỉ là một tên già vô lại làm nhơ bẩn Minh giáo, một tệ hại cho võ lâm; ngày nay ngươi trở thành Dương Vương, trở thành tên ác quỷ của trăm họ. Ta cùng vị thiếu hiệp ấy thu hồi lại Di thư của Nhạc Nguyên soái, sao ngươi dám bảo là phường trộm cắp?
- Ta không hề biết Vũ Mục Di Thư ở đâu, và cũng chẳng hề quan tâm đến thứ vô dụng ấy!
- Thật đúng là ngươi. Ta không thèm đối thoại với một tên già vô lại như ngươi làm chi nữa!
Dương Tiêu cả giận quát:
- Chu Chỉ Nhược! Ngươi thóa mạ ta đó chăng?
- Chẳng nhẽ ngươi muốn ta nhắc lại?
- Kiến Nghiệp đại sư chen vào:
- Vai vế của túc hạ không cho phép túc hạ nói những lời vô ơn ấy. Cái mà túc hạ gọi là đồ vô dụng kia, cộng với xương máu của trăm họ mới tạo dựng nên triều đại này. Ta không muốn tranh luận với túc hạ điều ấy, ta chỉ muốn hỏi túc hạ điều này...
- Phạm quân, suốt trên ba mươi năm nay, giữa ta và Phạm quân không có sự hiềm thù; vậy Phạm quân muốn hỏi ta điều chi?
Kiến Nghiệp đại sư hỏi:
- Dương Vương, trong tim của ngài không có chút nào lửa hồng yêu thương, vốn là thiên thần của Minh giáo; ngày nay, ngài đã đạt được điều ngài muốn, cớ sao vẫn còn mặc y phục của giáo đồ Minh giáo, để làm gì?
Dương Tiêu nổi nóng:
- Phạm Dao! Sao ngươi lại nói ta không còn là giáo đồ Minh giáo. Chính ngươi, tên phản giáo kia, ngươi mới không còn là giáo đồ của Minh giáo với bộ đồ tăng bào trên người!
- Dương thí chủ, bất cứ ai, trong người có ngọn lửa hồng ấm áp đều là tín đồ của Minh giáo cả . Chính thí chủ là kẻ đã dập tắt nó, đã biến nó thành Ma giáo. Chẳng nhẽ thí chủ còn chối cãi nữa hay sao?
- Các ngươi tự rời bỏ Minh giáo, các ngươi không có quyền hạn gì thẩm vấn ta cả. Ta điều khiển, lãnh đạo Minh giáo thế nào là quyền của ta!
- Không! Ngươi không có quyền biến Minh giáo thành một lũ sát nhân!
- Ngươi làm gì được ta ? Ta muốn giết ai là việc của ta, cả đến sinh mạng của ngươi, ta muốn lấy lúc nào chẳng được!
- Dương Tiêu, ta sợ chết đã chẳng đến đây. Ngươi tưởng rằng bọn quan quân, bọn thuộc hạ vô lại của ngươi có thể gây khó dễ được với ta sao? Kể cả ngươi, tuy võ công của ngươi cao diệu thật, nhưng muốn giữ ta ở đây, chẳng phải ngươi muốn là được ! Nếu ngươi muốn phân tài cao thấp, chúng ta còn có dịp, ngươi có dám chăng?
Tâm Hư sư thái nói:
- Phạm Hữu Sứ đừng trông chờ gì ở tên vô lại này, một kẻ ném đá giấu tay hèn mạt, y làm gì còn khí cốt võ lâm giang hồ; y chui rút trong hang ổ, ỷ đông hiếp cô, chẳng nhẽ Hữu Sứ không biết hay sao. Đời nào y dám nhận lời Hữu Sứ!
Dương Tiêu cười nhạt đáp:
- Chẳng nhẽ ta lại sợ hạng tép riu như lũ chúng bay sao? Trong thiên hạ, còn ai đáng là tay đối thủ với ta. Phạm Dao, người phải tự hiểu như thế chứ! Nhưng dẫu sao, ta nhận lời ngươi thách thức, không chỉ với ngươi, mà cùng khắp anh hùng thiên hạ!
- Dương Pháp Vương quả là khẩu khí đầy trời, ta thay mặt anh hùng thiên hạ, một ngày không xa, gửi thiếp mời đích danh Dương Tả Sứ hội kiến, với chỉ cá nhân ngài mà thôi, ngài thấy thế nào?
- Ta nhận, bây giờ các vị hãy rời khỏi nơi đây, cứ đường hoàng mà đi!
Rời khỏi Hoàng thành, Tâm Hư sư thái nghĩ đến tính mạng Nguyên Huân, lòng đầy lo lắng, không biết an nguy ra sao, nên cất tiếng hỏi Đại sư Kiến Nghiệp:
- Đại sư! Không rõ tình trạng của Nguyên Huân thế nào?
Kiến Nghiệp trầm ngâm, một lúc sau lên tiếng:
- Dương Tiêu quả là lợi hại, bần tăng đến trễ một chút. Thật đáng lo ngại, công phu Hàn Ngọc âm chưởng của y kịch độc, trên thiên hạ ngày nay, ngoài Trương giáo chủ ra, e không còn ai xứng tay đối phó. Hiện giờ chúng ta không làm cách nào khác được. Võ công của Trần thí chủ không phải tầm thường, bị trúng một chưởng vẫn tung người tẩu thoát được, thật là một điều kỳ lạ. Bất cứ một người nào khác chỉ đi được dăm bước, máu huyết và cơ bắp bị âm hàn độc khí phát tác, tức khắc sẽ đông lại. Nhưng bần tăng vẫn tin rằng mỗi một con người đều có số mạng cả, muốn sống, muốn chết, chẳng phải là điều dễ ; mặc dù giữa sống và chết, cách nhau mong manh như sợi tóc!
- Bạch Đại sư, nội tạng của Trần thí chủ đặc biệt lắm, kinh mạch nghịch đảo, lục phủ, ngũ tạng đều thay đổi bộ vị, có lẽ vì thế mà việc nhiễm độc khí âm hàn chậm hơn mọi người khác chăng?!
Kiến Nghiệp đại sư đưa mắt nhìn trời:
- Thượng đế sinh ra con người quả thật là kỳ diệu, sức chịu đựng của con người so với muôn loài, tuy mong manh, yếu ớt nhưng có lúc lại hết sức lớn lao, diệu kỳ; chúng ta không thể lấy cái bình thường mà xét được. Chỉ mong Trần thí chủ có mạng lớn...
- Đại sư bây giờ ta tính sao?
- Chúng ta chưa thể tính gì được vào lúc này. Biến cố vừa gây ra có tầm mức lớn, Hoàng thành và Tử Cấm thành chắc chắn đang được canh phòng cẩn mật, chẳng thể vào do thám; dù muốn, chúng ta cũng phải chờ đợi thôi!
Tâm Hư sư thái buồn bực:
- Trần Nguyên Huân có ơn rất lớn với bản phái, bần ni không thể không đáp đền được; dù có phải vào chốn chông gai, tử lộ, bần ni cũng cam đành, chứ không thể bỏ mặc mà không cứu, xin Đại sư hiểu cho!
-  Bần tăng cảm thông tấm lòng của Sư thái, nhưng không thể khinh xuất được. Chúng ta kín đáo dò la tin tức xem thế nào, rồi mới có thể vạch kế hoạch giải cứa. Bần tăng tin chắc rằng, dù không đến nỗi mất mạng, nhưng tình trạng của Trần thí chủ cực kỳ khó khăn. Kẻ trúng phải Hàn Ngọc âm chưởng, nặng thì mất mạng tức khắc, nhẹ thì võ công bị phế hủy, đưa đến cái chết lần mòn. Trong thiên hạ chỉ duy nhất một người có khả năng khu trừ độc khí âm hàn này, và phục hồi võ công cho Trần thí chủ.
Tâm Hư sư thái động tâm, nói:
- Tiểu ni cũng rõ điều đó, người ấy chính là Trương giáo chủ của quý giáo. Cửu Dương thần công của Trương giáo chủ mới cứu được tính mạng Trần thiếu hiệp; nhưng từ trên ba mươi năm nay, ông ta đã giang hồ tuyệt tích, biết tìm thế nào được...
Kiến Nghiệp đại sư vô tình đáp nhanh:
- Sư thái đừng lo lắng, bần tăng đã gặp được người...
Tâm Hư sư thái mừng rõ không nói nên lời nhưng trong giây phút mừng rỡ ấy, một niềm xót xa vừa chợt đến. Noi xót xa, cay đắng và buồn phiền trộn lẫn. Trên ba mươi năm qua, quá khứ như đã chết trong lòng, bỗng dưng sống lại. Hình ảnh ngày xưa, hai lần người đàn ông ấy đã mang cái chết ra tặng bà, đã giao sinh mạng của chính mình cho bà. Hai lần, ỷ Thiên kiếm đã đẫm máu ông và biết bao những đau xót, hờn ghen, những chán chường và tuyệt vọng. Bà đã phạm rất nhiều lầm lỗi trong tình yêu, đã thù hận, gây nên cái chết cho đứa con trai của Tống Viễn Kiều, người đại đệ tử của Trương chân nhân. Bà đã vô ơn, nếu không có Trương chân nhân, bà sẽ chỉ vĩnh viễn là một đứa con mồ côi của một giáo đồ Minh giáo.
Chính Trương chân nhân đã đem bà lên Nga Mi sơn, và trở thành đệ tử của Diệt Tuyệt sư thái. Bà đã quên đi cội nguồn của chính bà, đã quên cả ơn sâu chỉ vì lòng hờn ghen, từ ngày người đàn ông ấy, giữa lúc làm lễ tơ hồng, đã bỏ mặc bà, chạy theo nàng Quận chúa của Nguyên triều. Lòng thù hận kia đã giết chết con người dịu hiền trong bà, và đến nỗi Trương chân nhân đã phải tự tay giết chết đứa nghịch tôn của người.
Cái chết của Tống Thanh Thư ngày ấy, đối với bà như một sự trả thù; cũng vì bà, mà Tống Thanh Thư đã làm ô danh Võ Đang sơn; vì yêu bà mà y giết chết thất hiệp Mạc Thanh Cốc, người sư đệ thứ bảy của cha y. Hỡi ơi, tình yêu thật là đáng sợ! Mặt trái của tình yêu là lòng thù hận. Mối hờn ghen đã khiến bà ra tay rạch nát gương mặt của Hân Ly, đã đổ lên đầu Triệu Minh bao nhiêu hàm oan, hòng ly gián Quận chúa và Vô Kỵ. Dĩ nhiên, một phần, bà cũng vì nhiệm vụ do Sư phụ bà trao phó, là cướp đoạt lại Cửu Âm Chân Kinh, được giấu trong thanh kiếm Ỷ Thiên.
Bao nhiêu việc làm ấy, trong suốt ba chục năm dư, bà thầm ăn năn khôn dứt. Và chính vì thế, bà cố quên hết, quên mọi ân oán trong cuộc tình xót xa, để tìm lại cho chính bà, trái tim yên tỉnh của hư không. Ôi khó là dường nào! Dương Tiêu đã giễu cợt bà, làm cho lòng bà tan nát. Làm sao còn có được Tâm Hư!
Trên ba chục năm trường, công lao tu hành sám hối, một thoắt chốc, nghe tin người đàn ông ấy còn sống, bỗng tiêu tan như bọt nước Trường Giang. Bà muốn hỏi thăm người một thuở của dấu yêu, với muôn ngàn lòng tưởng nhơ, mà chẳng dám. Bà thẩn thờ hỏi:
- Trương giáo chủ bình an chăng?
Nhìn vẻ thờ thẩn của Tâm Hư sư thái, Kiến Nghiệp đại sư chợt hiểu.
- Trương phu nhân đã qua đời từ hai mươi năm trước!
Một thoáng, bà tự trách bà ích kỷ bởi một niềm vui vừa dâng nhẹ trong lòng... Suốt hai mươi năm nay, ông ta sống lẻ loi và hiu quạnh. Tự đáy lòng, bà bùi ngùi thương cảm. Và những giọt lệ của phiền muộn, của xót xa, thống khổ, suốt ba mươi năm cố cầm nén, cố lãng quên, bây giờ như không giữ được, đã chan chan dòng lệ:
- Tội nghiệp!
Bà tội nghiệp cho Triệu Minh, cho chàng, hay cho chính đời bà. Bây giờ chỉ còn lại những ngày bóng xế, chỉ còn lại nỗi già nua, sự cô quạnh. ôi Nga Mi, Nga Mi ! Tổ sư Quách Tường, ngày xưa cũng vì thất tình với Dương Qua, mà sáng lập ra Nga Mi phái. Sư phụ bà cũng vì mối hận tình với Ngân tiên sinh và Kim Hoa Bà Bà, tức Tía Sam Long Vương Đại Tỷ Ti, mà trở thành nộ danh Diệt tuyệt; và ngày nay tới phiên bà... Và mai này, mai này nữa, những vị Chưởng môn của Nga Mi bất hạnh kia, còn những ai?!
Kiến Nghiệp đại sư nói, như nói với chính mình:
- Hạnh phúc, khổ đau cõi hồng trần, chẳng biết thế nào mà nói được. Họa với Phúc, Phúc với Họa, oan nghiệt vô thường của cõi phù sinh. Mọi cái đều là không, mà mọi nổi đau thương, thống khổ lại dường như từ cái không kia mà có; hạnh phúc dường như có mà lại không. Nếu chúng sinh lấy cái bất hạnh làm nên cái hạnh phúc, thì hạnh phúc vô vàn... Tâm Hư tự nhủ, chẳng còn bao lâu nữa cho một đời người. Một đời thoắt chốc mà dài lê thê.

 Đời như lá, thoắt xanh rồi thoắt úa
Ta như rêu mọc giữa lối đi này
Cơn gió nổi một đêm nào nghiệt ngã
Sớm mai đây còn lại chút hương phai
Ta tự nhủ, mai đây đời sẽ hết
Cửa trăm năm khép nhẹ cánh không dưng
Dẫu cay đắng, xót xa, ngậm ngùi, hối tiếc
Dẫu đau buồn, dẫu có cũng là không
Bởi vội vã mới nên đời ngắn bước
Bởi trông chờ nên mới có trăm năm.


Lòng kẻ tu hành bỗng dưng dịu lại, bà mỉm cười trong hàng nước mắt rưng rưng. Tâm Hư quay lại, vòng tay thưa:
- Đa tạ Đại sư đã điểm hóa cho đệ tử!
Buổi sáng hôm sau, Dương Minh Vương quay lại Bách Hoa cung. Bảo Thư đang luyện kiếm,. thấy Ngoại tổ đến, khuôn mặt biểu hiện nhiều lo lắng, suy nghĩ, Bảo Thư đình bộ, bước ra lạy chào. Dương Vương nói:
- Bảo Thư, ông có chuyện muốn nói với con?
Bảo Thư nhìn ông ngạc nhiên. Dương Vương ngồi xuống một phiến đá, ra hiệu cho Bảo Thư đến bên. Dương Vương xoa đầu cháu:
- Bảo Thư, đêm qua Hoàng thành và Tử Cấm thành có gian tế xâm nhập, như cháu đã biết lúc hồi đêm ông đến gặp cháu. Chúng đốt cháy rụi Võ Hiển điện, mười bảy cao thủ và gần ba trăm Cẩm y thị vệ thương vong. Gian tế gồm ba người, một là Phạm Dao Quang Minh Hữu Sứ của Minh giáo; ngày ấy, ông và lão ta hợp thành Quang Minh Tả, Hữu Sứ của Quang Minh Đỉnh. Người thứ hai là Chưởng môn của phái Nga Mi, Chu Chỉ Nhược, pháp danh là Tâm Hư, vốn cùng với Ngoại tổ mẫu của con là Kỷ Hiểu Phù có tình tỷ muội đồng môn. Võ công của họ không hổ danh là nhân vật số một của võ lâm. Người thứ ba, là người chủ chốt, cứ theo âm thanh giọng nói, thì tuổi y còn rất trẻ, y che khăn ngang mặt nên ông không nhận ra là ai...
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-30 19:44:49Hoàng Dung>
Bảo Thư ngắt lời:
- Ngoại tổ, căn cứ theo chiêu số thì ngoại tổ có thể đoán được xuất xứ chứ!
Dương Vương trầm ngâm, một lúc sau nói:
- Y còn trẻ tuổi, võ công lại cực cao. Ngày bằng tuổi y, đi lại trên giang hồ, ông nổi danh là Ngọc Diện lang quân, vậy mà công lực, võ học ngày ấy, so với y bây giờ, ông còn kém xa lắm. Võ công, nội lực của y cao thâm, không đoán xuất xứ của y được. Y xử dụng võ học của các danh gia một cách hết sức viên thành: Tiên Thiên công của phái Toàn Chân, Nhất Dương chỉ của Đoàn Nam Đế, Cửu Dương công của Võ Đang, Nhật Nguyệt Tam Hóa thần công của người thứ hai trong nhóm Bát Đại Danh Gia, Hỏa Vân công của Tiêu Đại Hùng nước Đại Lý, và nhất là Điêu Phong thân pháp của nhà họ Dương nơi Tuyệt Tình Đàm, làm ông không thể đoán được sư môn chính thức của y. Y còn xử dụng cả Đạn Chỉ thần công, một môn ám khí của Hoàng đảo chúa Đào Hoa đảo. Bằng đó tuổi dù có được từng người của bằng ấy môn phái truyền thụ cho, thì dẫu y có luyện võ công từ ngay trong bụng mẹ, cũng chẳng thể nào có công lực ấy được. Ta đã phải vận đến tuyệt mức sở học, và tuyệt chiêu, mới đánh y trọng thương.
- Cháu phải biết là, trúng Âm hàn Ngọc chướng, thì không ai tránh được cái chết, dẫu công lực thâm hậu thế nào mặc dù, thế nhưng y vẫn đào thoát được. Ta đã cho người lục soát khắp nơi trong Vương phủ mà chẳng thể tìm ra, lạ thật?
Dương Tiêu liếc nhìn khuôn mặt trắng bệch của cô cháu gái, và hai bàn tay run rẩy của Bảo Thư, ông xoay người, nhìn vào mắt nàng, nghi ngờ, hỏi:
- Cháu biết y là ai chăng?
Bảo Thư nhanh trí, đáp:
- Có lẽ là y ông ạ! Ngày cháu ở ứng Thiên phủ, bị bọn Thất Sát đoàn dùng mê hồn hương trói bắt, toan làm hỗn, cháu được một thanh niên tuổi chừng hai hai, hai ba giải cứa Y có võ công và công lực cao diệu không lường; nhờ y mà cháu không bị làm nhục. Y giải cứu rồi tất tả ra đi, không cho cháu tạ ơn và hỏi tên tuổi...
- Bảo Thư! Có việc ấy à? Sao cháu không cho ông biết. Ông sẽ ra lệnh giết sạch bọn ứng Thiên phủ phân đoàn, không chừa một đứa!
- Ông ạ ! Y đã giết chết bảy tên, và một tên đầu đảng, vốn là một nhà sư Tây Vực !
- Hừ! Bọn này không thể dung thứ được!
- Này Bảo Thư, con có biết Gia gia con và Dư sư bá, có thâu nhận người đệ tử nào như thế không?
Bảo Thư làm ra vẻ ngẫm nghĩ, rồi nói:
- Bọn đệ tử đời thứ ba của Võ Đang, công lực tuy có thể liệt vào hàng cao thủ, gọi là Võ Đang Thất Kiếm, có bảy người: Thanh Phong, Minh Nguyệt, Tạ Chí Dương, Liễu Thọ Cương, Tăng Duy Hạ, Tăng Thế Phương và Quách Miêu Nghi, thì võ công cũng ngang với anh em cháu thôi, chứ không có ai trẻ bằng gã thiếu niên ấy cả !
- Thôi được, cháu đừng lo, dù bản lãnh gả tiểu tử ấy có cao tuyệt đến mấy, mạng sống nhất thời không quá mười ngày, dẫu y có đào thoát được!
Nói xong Dương Vương bỏ đi. Bảo Thư đoán chắc người trai trẻ ấy chẳng ai khác hơn là chàng. Lòng Bảo Thư rối bời, đau đớn. Nàng oán hận cả trời xanh, cả ông ngoại của nàng, cả Thánh Thần, Tiên , Phật. Bảo Thư chạy vào phòng khóc nức nở. Bảo Thư tự trách mình, sao nàng lại có thế không đoán ngay được, người xâm nhập vào nơi hổ huyệt chính là chàng, là Nguyên Huân của nàng. Những ngày còn ở Võ Đang Sơn, nàng đã mong manh biết được đôi điều...
Bây giờ chàng bị thương nặng, không hiểu tính mạng ra sao, đang ẩn trú nơi nào? Cứ theo như lời của Ngoại tổ nàng, thì Nguyên Huân không thể nào tránh khỏi cái chết đang chờ chàng; lòng dạ Bảo Thư quặn thắt.
Từ mấy tháng nay, Bảo Thư đã cố gắng xóa đi một hình ảnh... Nhưng càng cố quên, nàng lại càng nhớ thương chàng khôn nguôi. Nỗi nhớ nhung, lòng khao khát được nhìn lại chàng càng thiêu đốt tâm can của nàng. Nàng phải tìm bằng được Nguyên Huân, dẫu còn sống hay đã chết. Trong lòng nàng phát sinh một niềm an ủi, nếu Nguyên Huân, một ngày nào còn trên cõi đời này thì dẫu chỉ là sống trong đau khổ tuyệt vọng, nàng sẽ sống để giữ lấy hình bóng chàng; nếu Nguyên Huân đã chết, nàng sẽ theo chàng về đất lạnh, được gần chàng phía bên kia thế giới. Nàng cương quyết tìm bằng được Nguyên Huân.
Từ hôm ấy, mọi người trong Vương phủ thấy cô cháu gái của Dương Vương, với đôi mắt buồn chứa chan, tha thẩn đi cùng khắp trong phủ, nhưng chẳng hỏi, chẳng nói với một ai. Qua ngày thứ ba, thầm kín tìm kiếm vô vọng, Bảo Thư ghé thăm Hoài Nam.
Kể từ hôm có sự biến động trong Hoàng thành, cũng không thấy Hoài Nam đến Bách Hoa cung để luyện võ cùng nàng. Vừa đến Vân Trang cung, từ xa, Bảo Thư nhìn thấy Hoài Nam tất tả đi ra, nàng có vẽ vội vàng, hấp tấp làm Bảo Thư chú ý. Giáp mặt Bảo Thư bất ngờ, Hoài Nam bối rối, nhưng nàng trấn tỉnh lại ngay. Tuy vậy, nàng không qua được mắt Bảo Thư:
- A-di, A-di đi đâu mà vội vả thế?
Hoài Nam như lúng túng, nàng đáp vội:
- Hoài Nam sang thăm mẹ!
A-di, Ngoại tổ mẫu làm sao thế!
- Bà không được khỏe đã ba hôm nay!
- Sao A-di không bảo cho Bảo Thư biết!
Nói xong, Bảo Thư khoác tay Hoài Nam, cùng đi sang Bích Thảo cung. Gặp Vương phi, Bảo Thư sụp lạy chào, và nàng vô cùng ngạc nhiên. Chỉ mới ba ngày không gặp, mà tướng sắc Vương phi thay đổi ghê gớm. Mái tóc óng mượt của bà đã điểm bạc, khuôn mặt xanh xao, và đôi mắt buồn của bà giờ dường như buồn hơn, như trĩu nặng u uẩn.
- Ngoại tổ mẫu đau ốm sao không cho hài nhi biết để hài nhi hầu hạ Tổ mẫu?
Vừa nói nàng vừa ươm rướm nước mắt.
- Ngoại tổ mẫu bệnh tình thế nào? Ngoại tổ đã biết chưa. Hài nhi phải trách cứ ngoại tổ mới được !
Nói xong nàng định quay đi, Vương phi vội gọi lại:
- Bảo Thư, con lại đây ta nói đã ?
Bảo Thư quay lại, nàng ngồi xuống ôm lấy chân bà :
- Ngoại tổ mẫu, con nghe đây!
- Bảo Thư ạ! Con đừng làm phiền đến Vương gia, ta không có bệnh hoạn gì đâu!
- Không có bệnh hoạn gì, cớ sao tóc Tổ mẫu lại bạc nhanh vậy thần sắc suy nhược võ vàng thấy rõ!
- Ta có chuyện buồn con ạ! Bảo Thư, con đừng hỏi ta buồn chuyện gì ? Nỗi khổ tâm của ta không thể nói cùng ai, ngay cả với Hoài Nam. Con thương ta, hãy để cho ta được yên , con nhé !
- Có phải Ngoại tổ mẫu buồn Ngoại tổ phụ? Con cũng buồn lắm, cha mẹ con cũng buồn lắm; nhưng biết làm thế nào được!
Vương phi im lặng không nói, bà vuốt tóc nàng, nước mắt Bảo Thư chứa chan.
- Bảo Thư! Con đừng vì thương ta mà phiền lụy như thế, lòng ta chẳng yên. Hãy để ta tỉnh dưỡng vài ngày là trở lại bình thường thôi con ạ!
Bà nhìn ra ngoài trời, đôi mắt xa xăm. Chỉ còn mười ngày nữa là đến Tết Nguyên Đán, thời tiết càng ngày càng lạnh. Bảo Thư và Hoài Nam trớ về Vân Trang cung. Nhìn thấy vẻ bồn chồn trên gương mặt Hoài Nam, Bảo Thư hỏi:
- Hoài Nam, có chuyện gì mà Hoài Nam giấu Bảo Thư vậy?
Hoài Nam bối rối:
- Hoài Nam có giấu Bảo Thư cái gì đâu!
Nhưng hai gò má ửng đỏ của nàng chẳng qua được một Bảo Thư tinh ý, Bảo Thư thở dài, đứng dậy:
- Nếu A-di chẳng tin ở điệt nữ, điệt nữ xin cáo từ!
Nói xong nàng ứa nước mắt bước đi. Hoài Nam bối rối sợ hãi, chạy theo níu lấy áo Bảo Thư, khóc nói:
Bảo Thư, Bảo Thư, ta nói, ta nói...
Bảo Thư quay lại, ôm lấy Hoài Nam:
- Nếu đó là nổi khổ tâm không thể tỏ bày với người ngoài, xin A-di đừng nói ra...
- Không đâu Bảo Thư ơi, Hoài Nam, ngoài má má và Bảo Thư ra, thì còn ai là người thân yêu, tín cẩn nữa. Sở dĩ Hoài Nam giấu Bảo Thư, chỉ vì không muốn để Bảo Thư liên lụy đó thôi!
- Sao Hoài Nam lại nói thế, Hoài Nam coi Bảo Thư này là hạng người nào!
Vẻ giận hờn của Bảo Thư làm Hoài Nam luống cuống; nàng kéo Bảo Thư vào tận phòng riêng, đóng cửa lại, nói: .
- Việc này có liên quan đến vụ biến động ba đêm trước. Gian tế một chàng trẻ tuổi, bị Gia gia đả thương trí mạng, chạy đến đây thì bất tỉnh, Hoài Nam không thể không cứu...
Chưa dứt lời, Hoài Nam ngơ ngác và sợ hãi khi thấy Bảo Thư quỳ sụp xuống lạy mình vừa nức nở:
- Ôi đội ơn A-di, đội ơn A-di, đội ơn Hoài Nam muôn vàn!
Hoài Nam đỡ Bảo Thư dậy, không hết ngơ ngác:
- Bảo Thư làm sao thế?
- Người mà Hoài Nam cứu được, chính là người bạn, không... là người em kết nghĩa của Bảo Thư đó. Ôi, tạ ơn Trời Phật!
Hoài Nam tròn xoe mắt, kinh ngạc:
- Kỳ dị thật!
- Sao lại kỳ dị?
- Thật là một sự tình cờ kỳ dị, nhờ cứu được y, má má nhận ra y là cháu bà, nhờ vào bức Hổ phù xâm trên ngực, và tín bài của Bát Đại Danh Gia mà y giữ trong người. Hoài Nam phải gọi y là huynh trưởng, y lại là tiểu đệ của Bảo Thư, không kỳ dị là gì nữa?
Bảo Thư hỏi nhanh:
- Tình trạng của Nguyên Huân hiện giờ thế nào?
- Đã tưởng chết rồi, đêm ấy Hoài Nam sợ và hồi hộp muốn chết. Bây giờ Huân ca đã đỡ hơn, nhưng còn phải luyện công trị thương chín, mười ngày nữa, và rồi sau đó...
- Huân đệ giờ ở chỗ nào?
- Trong thạch thất.
Bảo Thư ngạc nhiên:
- Trong thạch thất? Huân đệ đã được đưa ra ngoại thành rồi sao?
- Không, Huân ca còn ở đây.
- ở đây? Trong thạch thất? Tại Vương phủ?
Phải, trong thạch thất của hòn non bộ bên Bích Thảo cung, má má đã tình cờ tìm ra từ lâu; đó là nơi dùng làm hầm bí mật của một Thân Vương đời nhà Tống khi xưa, khi bị quân Kim vây hãm Yên Kinh!
- Hoài Nam đưa Bảo Thư tới nhé!
Bảo Thư này, nghe má má nói, trong thời gian. luyện công trị thương, rất nguy hiểm nếu bị phân tâm, có thể cái gì ma mà chết, nên cấm không được xúc động; cơm nước hàng ngày, đích thân má má đem vào. Bảo Thư chờ vài ngày nữa đi, Hoài Nam cũng muốn vào thăm mà chưa được!
- Hoài Nam có nghe Huân đệ nhắc đến hai người trong bọn đêm ấy không?
- Không thấy Huân ca nói gì về hai người này cả, có điều má má lo lắng, là cứ theo lời của Huân ca, luyện công trị thương chỉ là nhất thời, không được Cửu... cái gì công khu trừ được khí hàn âm, thì không tránh khỏi cái chết!
- Cửu Dương thần công phải không?
- Đúng rồi, Cửu Dương thần công, phải đó!
Bảo Thư nghĩ: "Trên đời này, Cửa Dương thần công đã tuyệt tích cùng với Trương giáo chủ, tức Trương ca ca của nàng, biết làm sao mà tìm kiếm". Bảo Thư chợt nhớ đến Tâm Hư sư thái tức Chu Chỉ Nhược, và Kiến Nghiệp đại sư, là những người quen thân, là thuộc hạ của Trương giáo chủ. Phải làm thế nào gặp được họ, vì nàng tin rằng, giữa Nguyên Huân và hai vị này có liên hệ với nhau. Ngoài ra Tâm Hư sư thái còn là Chưởng Môn nhân của Nga Mi phái, là sư muội của Ngoại tổ mẫu của nàng; phải báo cho bà biết tình trạng của Nguyên Huân mới được.
Ngay chiều hôm đó, mặc cho trời mưa tuyết, giá lạnh, nàng ra phố, đi quẩn quanh khắp chỗ, mong cầu tìm kiếm được bà, vì nàng tin rằng nếu quả thật Sư thái liên hệ gần gũi với Nguyên Huân, chắc chắn Sư thái vẫn quẩn quanh trong khu vực này, thế nào nàng cũng gặp được bà.
Qua ngày thứ hai, Bảo Thư bước vào một tửu lầu ngồi nghỉ chân. Một tửu bảo đến bên nàng, không phải chờ nàng gọi thức uống, mà lại hỏi nàng:
- Bẩm Công nương, xin hỏi Công nương có phải là người họ Hân chăng?
Bảo Thư nhìn tên tửu bảo, khẽ gật đầu:
- Ngươi hỏi làm chi vậy, ta là Hân Bảo Thư!
Tên tửu bảo mừng rỡ nói:
- Có một người họ Chu, ở Sơn Quang Tự, dặn tiểu nhân là nếu Công nương có ra, thì đến thăm vị họ Chu này ở Cổ tự Sở dĩ tiểu nhân biết mặt Công nương, vì thấy Công nương và Quận chúa tháp tùng theo Vương phi mấy lần. Người họ Chu là một vị nữ tu, tiểu nhân chỉ biết có thế!
- Sơn Quang Tự ở đâu?
- Không xa lắm, về hướng đông bắc trong nội thành!
Bảo Thư đứng dậy, thưởng cho tên tửu bảo một đỉnh bạc lớn, không kịp chờ y lạy tạ, nàng vội vã ra đi.
o0o
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-30 19:46:22Hoàng Dung>
chương hai mươi mốt
Gặp Bảo Thư, Nguyên Huân thoát khỏi Hoàng Thành
Cùng Hoài Nam, Vương Phi giải bày uẩn khúc.


Nguyên Huân đang tọa công, điều tức dưỡng thần thì Bảo Thư và Hoài Nam bước vào. Đôi mắt vẫn nhắm nghiền, nghe bước chân của hai người, Nguyên Huân hỏi:
- Quận chúa! Ngoài trời lạnh lắm phải không?
Không nghe tiếng trả lời, Nguyên Huân mở mắt nhìn. Trước mặt chàng là ánh mắt đọng buồn của Hoài Nam, phía sau nàng là Bảo Thư. Chàng chưa kịp bàng hoàng, Bảo Thư đã chạy ùa đến, ôm lấy cánh tay Nguyên Huân nghẹn ngào:
- Huân đệ, em tiều tụy đến thế này sao?
- Thư tỷ ! Sao chị lại ở đây?
Bảo Thư cười đau đớn:
- Huân đệ, em còn nhớ ta là Ngoại tôn nữ của Dương Vương không? Em có thù hận ta không?
Nguyên Huân xúc động:
- Thư tỷ, không đâu, sao tiểu đệ lại thù ghét Thư tỷ cho được?
- Nguyên Huân, ta đau lòng lắm, ta đã dặn đệ không được khinh xuất, sao không nhớ lời ta, khiến xảy ra nông nổi này! Huân đệ, trong người em cảm thấy thế nào?
Nguyên Huân mỉm cười, cố làm vui lòng Bảo Thư và Hoài Nam:
- Mười phần đã bớt được sáu, bảy, chỉ còn đau nhức đôi chút thôi! Gặp lại em, ta mừng lắm!
Nguyên Huân chợt nhớ đến tâm sự của Bảo Thư, chàng lại hỏi một cách vô tình:
- Thư tỷ, Thư tỷ đã gặp được người ấy chưa?
Sự chân thật đến vô tình của Nguyên Huân như động đến quả tim đau, Bảo Thư bật khóc:
- Có, ta đã gặp chàng, bởi chàng luôn ở trong ta, nhưng chàng tệ lắm!
Nói xong, Bảo Thư bấm chặt năm ngón tay vào cánh tay Nguyên Huân, nàng dụi mắt vào bả vai chàng, nước mắt như mưa. Nguyên Huân an ủi:
- Thư tỷ y tệ như thế, Thư tỷ nhớ đến y làm gì! Y không xứng đáng với tấm lòng của Thư tỷ đâu!
Lời nói vô tình nhưng đầy ý nghĩa này lại làm cho Bảo Thư càng bi lụy và đau đớn hơn. Hoài Nam thấy vậy, ngồi xuống tấm thạch bàn, ôm lấy vai Bảo Thư, dịu dàng:
- Bảo Thư ơi, có chuyện gì vậy? Nói cho Hoài Nam biết đi đừng bi lụy nữa!
Bảo Thư gục đầu lên vai Nguyên Huân, nước mắt nàng ướt đẫm vai áo chàng, Bảo Thư biết đây là giây phút duy nhất trong đời nàng có được, " Huân lang, chàng vô tình đến vậy!,, nhưng đồng thời trong lòng Bảo Thư bỗng dưng nẩy sinh một niềm an ủi...
Nguyên Huân trả lời thay cho Bảo Thư:
- Hoài Nam hiền muội, Thư tỷ đau lòng và người ta đối xử với Thư tỷ chẳng ra gì!
Hoài Nam ngơ ngác, ngây thơ hỏi:
- Người ta là ai vậy? Ai đối xử với Bảo Thư tệ bạc vậy, Bảo Thư nói đi!
Bảo Thư lắc đầu:
- Hoài Nam ơi, Bảo Thư cũng chẳng biết chàng là ai nữa!
Hoài Nam càng ngơ ngác hơn, nàng nhìn Nguyên Huân thầm hỏi, chàng nhè nhẹ lắc đầu. Nguyên Huân được biết Hoài Nam đã liều mạng cứa mình, chàng thọ ơn cứu tử mà không biết phải nói thế nào để tạ ơn nàng, bởi vì nếu nói ra miệng, thì lời nào cũng chẳng đủ được. Đôi lần chàng định nói với nàng: "ơn cứu tử của hiền muội, suốt đời cho đến khi nhắm mắt, ta ghi khắc mãi trong xương cốt.. .", chỉ có bấy nhiêu mà không tài nào chàng nói được; vì chàng thấy rằng, lời nói, dẫu có súc tích đến đâu cũng không đủ tạ ơn nàng trong muôn một.
Mỗi lần thấy Hoài Nam bước chân vào thăm chàng, lòng Nguyên Huân bất chợt ngây ngất một niềm vui kỳ lạ, mọi nỗi lo toan, nỗi đau đớn trong thân xác tự khắc như tan biến.
Ôi đôi mắt nàng, có phải như vực sâu chôn chặt linh hồn chàng! Niềm vui ấy, nỗi xôn xao ấy, chàng chưa hề được hưởng một cách êm ái như thế bao giờ. Một niềm hoan lạc như nở bừng trong trái tim chàng, như nụ hoa vừa hé nở ngây ngất hương say, chàng như quên cả đất lẫn trời, và nhịp tim chàng hầu như ngừng đập, khi hình ảnh nàng vừa hiện ra trước khung cửa thạch thất.
Cũng có lúc Nguyên Huân nhớ về Uyển Thanh và nhớ về quê hương giờ xa vời vợi, chàng tự trách mình. Nhưng  làm sao được, Nguyên Huân chẳng thể cưỡng nổi niềm vui bừng dậy khi Hoài Nam có mặt, hoặc là nỗi buồn rầu, quạnh vắng khi nàng rời xa... Hoài Nam như ánh sáng rực rỡ trong hồn chàng. Và Hoài Nam, nàng dường như đọc được điều đó trên gương mặt, trong đôi mắt của Nguyên Huân mỗi khi nàng đến. Chính nàng, có phải chính nàng cũng từng đợi mong bóng chiều mau phủ xuống, để từng bước chân nàng xôn xao dẫm đạp trên lớp tuyết lạnh mà tưởng như vừa băng mình qua một bãi cỏ non . . .
Khi ở bên Nguyên Huân, ngồi im nhìn chàng luyện công, một nỗi ấm áp dịu dàng len lỏi vào trái tim nàng, tâm hồn nàng như một dòng sông mơ êm đềm gợn sóng. Nàng nhố đến giấc mơ đêm nào đã làm nàng thao thức. Nàng thoắt buồn thoắt vui, nghe như có một điều gì đang nhen nhúm trong nàng. Hoài Nam sợ cái cảm giác kỳ diệu ấy. Nàng thấy mình ngơ ngác, lẻ loi khi rời xa chàng, cùng lúc nàng cảm thấy như chưa bao giờ nàng có được niềm vui, xao xuyến diệu kỳ mỗi khi nhìn thấy Nguyên Huân.
Bảo Thư hình như ngủ thiếp đi trên vai Nguyên Huân, một điều gì rất mơ hồ bất giác nẩy sinh trong lòng Hoài Nam như một sự hờn giận . Nàng yêu Bảo Thư như một người chị, như một người bạn quý, vậy cớ sao Hoài Nam lại có cái cảm giác khó chịu khi nhìn thấy khuôn mặt u buồn của Bảo Thư áp trên vai chàng, dù nàng biết rằng Nguyên Huân coi Bảo Thư như chị, và ngược lại Bảo Thư ân cần với Nguyên Huân cũng bằng tấm lòng ấy, ít ra trong cách xưng hô của hai người.
Vương phi đã vào từ lúc nào. Bà đứng lặng nhìn. Tất cả không qua khỏi con mắt tinh đời của bà. Bà hiểu hết, bà đã nhìn thấu rõ mọi ngóc ngách trong tâm hồn hai thiếu nữ. Bà mỉm cười buồn bã.
Trong suốt cuộc đời bà, bà đã sống tận cùng trong u uẩn của nỗi khổ đau, bà thương cảm cho Bảo Thư. Bà biết rằng nàng đã chuốc lấy mối tình câm nín ấy, là chuốc lấy nỗi sầu lụy đọa đày nàng cho đến hết cuộc đời.
Bảo Thư như tỉnh cơn mê, nhưng mắt nàng vẫn nhắm nghiền, "Huân lang, hãy cho em sống với giây phút này, một lần rồi mãi mãi. Hãy cho em cái ảo tưởng của một hạnh phúc đời người, suốt đời em sẽ chỉ sống bằng đó dù với cõi lòng cay đắng. Một chút hồi tưởng cho mai sau...". Bảo Thư ngây ngất trong cơn ảo tưởng tuyệt vời, nàng thở nhẹ, và hít đầy lồng ngực hương nồng tình yêu. ôi, một lần đến cuối đời, Huân lang ơi, Huân lang ơi!
Bảo Thư gọi thầm tên chàng trong trí, nàng quên bẵng thực tại. Toàn thân nàng như có mật ngọt, như có men nồng. "Ôi, Huân lang, em gởi cho chàng tất cả, tâm hồn em, thể xác em...", cả người nàng ngất ngây trong một cảm giác hết sức lạ lẫm, nước mắt nàng lại âm thầm tuôn rơi trên vai áo Nguyên Huân.
Vương phi nhẹ nhàng gỡ lấy bàn tay của Bảo Thư vẫn đang bấu chặt vai Nguyên Huân, những ngón tay móng nhọn cắm vào da thịt chàng. Nguyên Huân cắn răng chịu đau, vì chàng biết Thư tỷ đang mang trong lòng nôi đau buồn mà chàng không hiểu được vì đâu. Vương phi ân cần ôm lấy Bảo Thư, Bảo Thư gục đầu vào ngực bà:
- Ôi con khổ lắm!
- Ta biết, ta biết con ạ ! Nhưng chính nỗi câm lặng âm thầm sẽ làm cho ta trong sáng hơn con ơi. Ta thương con lắm Bảo Thư, hãy nguôi ngoai đi, giữ cho lòng thanh tĩnh, đừng để đớn đau sầu muộn làm vẩn đục hồn con. Con có nghe ta không?
Bảo Thư biết Vương phi thấu hiểu được lòng nàng, trong thoáng chốc, nỗi buồn như vơi đi; nàng được cảm thông, nàng được chia sẻ... Vương phi nói:
- Các con không còn nhớ đêm nay là đêm trừ tịch Pháo đang nổ rộn rã ngoài kia dù trời đêm còn lạnh giá. Mùa xuân đã tới, khởi đầu năm Quý Mão. Giọng bà như ấm lại. Mười tám năm, một đời người, hãy xin mùa xuân nở đầy lộc mới, ta chúc mừng các con!
Bảo Thư lau nước mắt còn đọng trên mi, nàng mĩm cười ôm lấy Vương phi:
- Con chúc Tổ mẫu một năm mới hạnh phước tràn đầy!
Vương phi cười:
- Cảm ơn con, cả con nữa nhé!
Giọng Bảo Thư thoảng nhẹ:
- Vâng, cả con nữa, cho đến bao giờ...
- Hoài Nam ngước nhìn mái tóc lốm đốm bạc của mẹ, nàng ngậm ngùi:
- Mẹ ạ ! Tóc mẹ bạc nhanh quá, mà mùa xuân thì đến muộn màng, đầy trời tuyết phủ...
- Không đâu các con, mùa xuân chẳng bao giờ đến muộn, cũng chẳng bao giờ đến sớm. Chỉ có riêng ta, riêng cuộc đời là muộn màng đấy thôi. Nguyên Huân, giờ này ở quê hương, trống, chiêng và pháo nổ dậy trong đình làng. Sáng mai là mùng một, nêu cao, pháo đỏ, bánh chưng xanh, thịt mỡ, dưa hành và câu đối. Cứ mỗi mùa xuân tới, ta có được một đời...
Thôi nhé, mùa xuân còn đó, ta đi vào việc chính. Bảo Thư đã liên lạc được với Tâm Hư sư thái và Kiến Nghiệp đại sư; ngày mai, tuy Thánh thượng xuất chinh, nhưng Nhiếp Chính Thành Vương chủ tế ở Thái Miếu, nên tất cả văn võ bá quan phải có mặt. Ta và các con, khi Vương gia vào triều, chúng ta cùng đi lễ Phật ở Sơn Quang Tự. Nguyên Huân, con phải cải trang mới được!
Nguyên Huân băn khoăn:
- Giữa ban ngày, làm sao có thể cải trang dễ dàng?!
Bảo Thư lên tiếng:
- Huân đệ người tầm thước, dung mạo còn hơn cả bọn nhi nữ bình thường, ta và Hoài Nam sẽ dễ dàng hóa trang cho Huân đệ. Chỉ khó là cách đi đứng, Huân đệ chịu khó cố gắng, chỉ cần qua khỏi cổng thành. Bọn thể nữ đi theo là những người tâm phúc!
Vương phi nói:
- Vã lại chẳng ai để ý đến đâu!
Hoài Nam che miệng cười, mắt nàng long lanh nhìn Nguyên Huân:
- Huân ca, Bảo Thư mà vẽ mắt, tô son, Huân ca sẽ biến ra là một mỹ nhân ngay. Khéo có chàng công tử nào đi theo thì mệt đấy!
Vương phi mắng át con gái:
- Hoài Nam, không được đùa thế. Bây giờ phải ra về thôi, các con cứ nói sang vấn an ta đầu năm và cùng ta hái lộc ở Bích Thảo cung . Có thể Vương gia cũng ghé đến đây ! Không được để cho sự nghi ngờ nào xảy ra, nhớ đấy!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-30 19:51:20Hoàng Dung>
Ba người ra khỏi thạch thất. Mùa xuân đã về, tuy trời rét lạnh, nhưng tuyết đã ngừng rơi. Trời đầy sao lấp lánh. Bảo Thư và Hoài Nam theo Vương phi vào khu hoa viên, ngắt những chồi nụ biếc. 'Vừa ra khỏi khu vườn hoa, đã thấy một toán người cầm đèn lồng đi đến, Vương phi nhận ra ngay Dương Vương. Bà mím môi, dằn lòng tiến lại. Dương Vương thấy Vương phi, con gái và cháu ngoại, tay mỗi người cầm một chồi lộc non, bèn rẽ đám tùy tùng, tiến đến. Vương phi cúi đầu ra mắt:
- Năm mới, thiếp xin kính chúc Phu quân một năm an khang!
- Hài nhi kính chúc Vương phụ, năm mới tràn đầy niềm hoan lạc mới!
- Con kính chúc Ngoại tổ may mắn trong năm mới này!
Dương Vương cười ha hả, nói:
- Ta sang chúc mừng hiền thê, chưa kịp chúc thì đã được nhận. Năm nay ta đã bảy mươi bảy tuổi rồi, ba năm nữa là tròn tám mươi. Ta cầu chúc hiền thê và con cháu mãi mãi có mùa xuân! Sáng mai ta phải vào triều, cùng bá quan văn võ hầu tế điện Thái Miếu và chúc thọ Thái hậu và Hoàng hậu, Vương phi cùng đi chăng?
- Thiếp hủ lậu, không quen nghi lễ, xin Phu quân thứ cho, khỏi phải vào chốn cung đình. Nhân tiện ngày mai, xin Phu quân cho thiếp cùng Hoài Nam và Bảo Thư đi lễ Phật, để cầu cho Phu quân mãi mãi an khang!
Dương Vương cảm động nói:
- Tùy ý hiền thê định liệu, chiều ngày mùng hai, Bất Hối và Vân Hạc sẽ tới Yên Kinh.
Bảo Thư reo lên:
- Má má và huynh trưởng con về thăm Ngoại tổ, vui quá. Ngoại tổ có vui không?
Dương Vương nói :
- Đã mười bốn năm qua nó không muốn nhìn ta, lần này lai kinh là do mi mà ra cháu ạ! Nhưng dù sao ta cũng mừng, ta sửa soạn để nó cằn nhằn. Hiền thê, đỡ cho ta với nhé. Hoài Nam, con sẽ được gặp đại tỷ và thằng cháu Vân Hạc, lần trước mày còn nhỏ xíu!
Hoài Nam cười nói:
- Tạ ơn Vương phụ, con mừng lắm!
- Ừ ai cũng mừng hết. Ta với Bất Hối thường xung khắc nhau, ta thương nó nên ráng nhịn. Chắc lần này là lần cuối cùng cha con gặp nhau!
Bảo Thư nói:
- Ngoại tổ, má má con thương Ngoại tổ lắm, đêm nào niệm Phật, cũng cầu xin Đức Thế Tôn độ trì cho Ngoại tổ. Má má con không về luôn được là vì đường sá xa xôi, Má má con sức khỏe lại không được tốt, đi lại vất vả lắm!
- Ta cũng biết, con nào chẳng thương cha mẹ, cha mẹ nào không thương con cháu. Ta đã phái người đi đón Má má con và Vân Hạc từ tháng trước, khi được thư của Bất Hối gửi về Ta không muốn nói, sợ mày mong!
- Ngoại tổ, Ngoại tổ lì xì cho A-di và con đi chứ!
- Tao sẽ lì xì cho mày một Thân vương, chịu không?
Bảo Thư nói:
- Ngoại tổ, con đã nói là con đi tu, con không muốn chuyện ấy. Ngoại tổ cho A-di đi, con già rồi !
- Mẹ mày, hai mươi mấy tuổi mà già nỗi gì. Thôi được, không muốn thì ông không ép, nhưng rồi sau này đừng trách ông đấy!
- Ồ con ở vậy hầu hạ ông, có được không?
Dương Vương cảm động gắt:
- Đừng có lẻo mép, rồi lại quên ngay đấy!
o0o
Sau khi khám nghiệm cho Nguyên Huân, Kiến Nghiệp đại sư nói với Sư thái:
- Cơ thể của Trần thí chủ thật kỳ lạ, nhưng cũng nhờ vậy mà thí chủ không chết ngay dưới tay Dương Tiêu. Toàn bộ kinh mạch cũng như bộ vị lục phủ, ngũ tạng đều hoán đổi cả, không như người bình thường như chúng ta. Tuy nhiên, ba trọng huyệt trên người: Đan điền huyệt ở dưới rốn một thốn, Bách hội huyệt ở đỉnh đầu, Sinh Tử Huyền Quan ở sau ót vẫn giữ nguyên vị thế. Ba trọng huyệt này bị tổn thương rất nặng, bị khí âm hàn làm ngưng trệ, chiếm ngự, rất khó lòng khu trừ, phân hóa. Tuy nhất thời chưa đến nỗi tử vong, nhưng nếu không chữa trị sớm, e sau này công lực bị tiêu tán, âm độc hàn khí phát tác, toàn thân sẽ không còn thân nhiệt. Việc này không thể coi thường được.
Tâm Hư sư thái lo âu hỏi:
- Trên thiên hạ có môn thần công chân lực nào chữa trị được chăng?
- Hàn Ngọc âm chưởng thuộc loại cực âm, sở dĩ gọi là Hàn Ngọc là bởi Ngọc là tinh chất được kết cấu bởi cái âm hàn muôn nghìn năm của đất trời. Nếu xử dụng cực dương thuần khiết chân khí mà xung phá, thì chẳng khác chi hai cao thủ đánh nhau trong căn nhà kính, bày toàn những thú mỏng manh, liệu có toàn vẹn chăng? Việc này, Trương giáo chủ với tài hoa tuyệt học y tánh của Hồ Điệp tiên sinh năm xưa may ra có thể chữa trị được, ngoài ra không còn cách nào khác!
Tâm Hư sư thái hỏi:
- Các linh vật trong thiên hạ mang tính cực dương có ích gì cho sự khu trừ âm hàn chăng?
- Những linh vật cực dương đệ nhất trong đất trời là: Chu Cáp Mãng cổ, Linh Hỏa điểu, Hản Huyết Bảo câu, Hỏa Xà huyết, và nhất là Chu Hùng Trường Đảom, nhưng từ xưa đến nay chưa ai thấy gấu lông đỏ tía bao giờ. Mật gấu tía là đệ nhất. Nhưng bao giờ cũng thế, có lợi tất sinh hại, cái gì đến chữ thái, tất phải biến, nên cái lợi và cái hại rất khó phân lường. Người làm thuốc sở dĩ được tôn xưng là Thần y vì thấu đáo cái sinh hóa của muôn vật, và cái dung hòa của dược tính.
Tâm Hư hỏi:
- Đại sư tính thế nào?
- Bần tăng buộc lòng phải mang Nguyên Huân đi xa một chuyến. Đường sá xa xôi, Trần thí chủ còn đang cơn bạo bệnh, bần tăng muốn nhờ Thượng tọa chủ trì Sơn Quang Tự thuê cho một chiếc xe và cặp ngựa tốt!
Nguyên Huân lên tiếng:
- Bạch Đại sư, vãn bối hiện có mang theo người một ít vàng bạc và bảo ngọc, ta nên mua đứt thì hơn!
Kiến Nghiệp đại sư nhìn Nguyên Huân, cái nhìn như dò xét, Nguyên Huân hiểu ngay, chàng nói:
- Xin Đại sư yên tâm, vãn bối không làm gì tệ hại. Mấy phen ra vào cung cấm, muốn lấy gì chẳng được, nhưng vãn bối chẳng làm thế bao giờ. Đây là do một lần vãn bối lạc vào một mật động ở vùng Nam Sơn, ở đấy vãn bối phát hiện một số đá quý và vàng bạc, vãn bối lấy một ít để chi dụng trên đường!
Nói xong, Nguyên Huân đưa chiếc túi chứa những viên ngọc quý. Tâm Hư sư thái cầm xem, nói:
- Chỉ một viên nhỏ này đã là một gia tài lớn. Thí chủ có phước, nhưng nếu không biết dùng vào việc nghĩa, tất sinh bất nghĩa. Nhìn tướng mạo Trần thí chủ, bần tăng quyết thí chủ không phải là hạng người đó. Vàng bạc tuy quý, nhưng lúc đói lòng, nó chẳng bằng một nắm xôi. Cứ như thế suy ra, tất sẽ hiểu ngay vật gì cũng có cái quý giá của nó. Trời đất sinh ra muôn vật, mọi thứ đều có chỗ đắc dụng!
Lúc Nguyên Huân rời khỏi y phòng, Vương phi lễ Phật vừa xong. Thiện nam tín nữ đông như kiến, nhận ra bà, người nào cũng cố chen đến gần Vương phi để lạy mừng; trong số đó có những người Đại Việt bị bắt sang Kim Lăng thuở trước, họ kín đáo đến chúc mừng bà, chúc mừng Hoài Nam và Bảo Thư. Nhìn bà với mái tóc đã pha sương, lòng họ đầy thương cảm. Hoài Nam Quận chúa dịu dàng, nàng giản dị và gần gũi chào hỏi mọi người, không tỏ ra một chút gì kiêu sa của một nàng Quận chúa lá ngọc cành vàng. Lúc đầu, mọi người còn e dè vì có sự hiện diện của Bảo Thư công nương, nhưng thấy nàng cũng tỏ ra bình dị không khác gì Hoài Nam nên vây quanh chẳng muốn rời.
Bảo Thư chứng kiến cảnh này, nàng cảm động vô cùng, và lòng kính trọng vì phẩm chất của Vương phi và Hoài Nam càng tăng thêm trong lòng nàng. Bảo Thư cảm thấy hết sức xót xa, nàng nghĩ, nếu Ngoại tổ của nàng cũng có được sự thương yêu chân tình của dân chúng ở mọi nơi như thế này thì nàng sung sướng biết ngần nào! Vua quan, Vương hầu nào có gì khác họ, quyền uy, phú quý chẳng qua là thời vận cả mà thôi.
Vương phi cùng Hoài Nam và Bảo Thư phải khó khăn lắm mới vào được đến trai phòng. Bà không mang theo quân hầu, chỉ có vài nàng thị nữ. Nhìn những người ăn xin rách rưới, áo mỏng quần tưa rét mướt vạ vật, kiếm miếng ăn ở chốn thiền môn, lòng Vương phi quặn thắt. Bà đã đem hết niên bổng dành cho một bậc Vương phi để cứu giúp đám ân nghèo khó chốn Kinh thành. Lòng bà thì như biển lớn, à khả năng thì có hạn. hông nghĩ ngợi, bà tháo nốt vòng ngọc thạch trên cổ ay, món nữ trang cuối cùng của riêng bà,'bà thưa với ngài hượng tọa chủ trì, dùng đổi lấy thực phẩm và vải mặc để uôi dưỡng họ trong những ngày đầu xuân. Nguyên Huân iết việc làm ấy, chàng giữ lại một ít vàng bạc đủ chi tiêu rên đường bôn tẩu, giữ lại hai viên ngọc quý tặng Hoài am và Bảo Thư, số còn lại, chàng dâng lên Thương tọa, in bảo bọc cho những người khốn khổ, già nua và bệnh tật.Chàng mong muốn nhà chùa xây cất những dãy nhà để nuôi dưỡng họ, không lang thang rét lạnh ngoài trời.
Đại sư hết sức hài lòng về việc làm của Nguyên Huân, ông quay sang mẹ con Vương phi nói lời tạ từ. Trước lúc ra về Vương phi dặn bảo Nguyên Huân từng chút. Hoài Nam, Bảo Thư nắm lấy tay chàng bịn rịn, Hoài Nam buồn bã:
- Huân ca, tất cả chờ mong Huân ca từng ngày, đừng quên !
Bảo Thư nước mắt đọng đầy bờ mi:
- Không biết ngày nào mới gặp lại, Huân đệ ráng bảo trọng lấy thân. Hãy nhớ đến ngu tỷ. Vĩnh biệt!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-30 19:50:05Hoàng Dung>
Nói xong, nàng quay bước đi như chạy trốn.
- Tội nghiệp!
Vương phi thầm nói.
Hoài Nam không nỡ rời chân. Nàng đứng im với cõi lòng hiu hắt. Ngày mai chàng đi, bao giờ gặp lại ! Nghĩ đến những ngày xa vắng ấy, Hoài Nam đã thấy lòng mình ngẩn ngơ ngay tự lúc này. Và trên hai gò má thanh xuân, từng giọt lệ nồng ấm đầu đời của thời con gái nàng, đã tuôn rơi, long lanh như châu ngọc. Hoài Nam thết nhiên lên tiếng, giọng nàng nhẹ như hơi thở:
- Huân ca, khi nào Huân ca chữa khỏi bệnh, Huân ca có trở lại nơi đây không?
Nguyên Huân cầm tay nàng, nhìn sâu vào đôi mắt ướt:
- Nhất định, nhất định ngu huynh sẽ trở lại, có thể lâu lắm là hai năm. Làm sao ngu huynh không trở lại cho được!
Vương phi nói:
- Nguyên Huân, ta còn muốn nói cùng hiền điệt nhiều điều nhưng hiện giờ chưa tiện. Ta cũng mong chờ con trở lại đừng để ta mong đợi?
Vương phi và Hoài Nam quay gót, người nữ tỳ thưa:
- Bảo Thư công nương nói với nô tỳ bẩm lại, Công nương nhức đầu nên xin phép về trước!
Vương phi gật đầu không nói gì, Hoài Nam hỏi:
- Má má, Bảo Thư có điều gì buồn phiền vậy?
Vương phi thở dài:
- Bảo Thư rất quý mến Nguyên Huân, coi y như... em ruột, và nó cũng rất yêu thương ông Ngoại, giữa hai người thân yêu ấy lại có mối hận thù, nó không buồn sao được?
- Mẹ, con cũng buồn lắm chứ, đáng lẽ còn buồn hơn là khác. Nhưng con nghĩ rằng, nếu cha con biết Huân ca là cháu của mẹ, chắc chắn cha con cũng yêu quý Huân ca; vã lại Huân ca là người khoáng đạt, rộng lượng, mối thù chắc cũng nguôi ngoai, có gì trầm trọng đâu mẹ?
Vương phi chau mày suy nghĩ, một lúc nói:
Việc này không giản dị như con nghĩ, về Vương phủ, mẹ sẽ nói cho con biết!
Từ lúc lên kiệu, suốt quãng đường về, lòng Hoài Nam trĩu buồn. Nàng nhớ Nguyên Huân. Sáng ngày mai chàng lên đường, bao nhiêu năm chàng mới trở lại ? Nghĩ đến quãng thời gian dằng dặc trước mặt, lòng nàng héo hắt. Và rồi, một ngày chàng trở lại, mà giữa cha mình và chàng, mối hận thù trói buộc biết làm sao cởi? Nàng biết sẽ chọn ai? Cha nàng, đối với người ruột thịt thì ân cần, dịu dàng, thương yêu, nhưng đối với kẻ thù thì lại vô cùng tàn độc. Chỉ đối với lương dân thôi, mà ông còn khắt khe như thế. Phận làm con nàng biết nói sao đây! Cõi lòng Hoài Nam tràn ngập u sầu. Hoài Nam chợt băn khoăn, mẹ nàng chưa thổ lộ với nàng điều gì?
Không phải mới hôm nay, mà Hoài Nam đã thắc mắc tơ khi nàng có đủ trí khôn để nhận xét và phán đoán. Nàng luôn thấy mẹ có nét buồn u uẩn trên gương mặt. Nỗi sầu đau nào luôn dai dẳng trong lòng bà? Nhất là từ ngày bà gặp Nguyên Huân, bà càng tỏ ra câm nín hơn.
Trước đây, thấy mẹ buồn phiền, nàng chỉ cho rằng bà buồn vì những việc làm độc ác, bất nhân của chồng mình. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn ngủi sau này, tâm sự nào, nổi đau đớn nào, đã khiến bà trở nên u uất, và làn tóc mây đã chóng đổi màu. Nàng theo mẹ về Bích Thảo cung. Vào phòng riêng, Hoài Nam nắm lấy tay mẹ:
- Mẹ, mẹ hãy cho con biết mẹ có điều gì đau lòng, mẹ có điều gì giấu con?
Vương phi không nói, bà nhìn sâu vào đôi mắt Hoài Nam, cái nhìn như vừa thương xót, vừa yêu dấu, vừa như đang chìm đắm trong suy tư:
- Hoài Nam! Đã mười tám năm nay, mẹ không tỏ lộ cùng ai thân phận đau buồn của mẹ, nhưng giờ này, với con, mẹ không có quyền để che giấu nữa. Mẹ phải nói thật, dù có làm con đau lòng, con phải can đảm mà nhận lấy. Sự thật có làm con xót xa, tủi cực thì cũng vẫn là sự thật. Hoài Nam, con có biết, tại sao con mang cái tên này không?
- Có mẹ ạ! Mẹ đã nói với con, là mẹ đặt tên con như thế để tưởng nhớ đến phương Nam, nơi mẹ sinh ra, nơi quê hương của mẹ!
- Đúng vậy, nhưng đó chỉ là một phần... Hoài Nam! Con hãy nghe đây: Con không phải là người họ Dương?
Đôi mắt Hoài Nam mở to, nàng nhìn mẹ như không hiểu bà nói gì. Lát sau nàng lên tiếng, giọng thoảng thốt:
Mẹ! Mẹ vừa nói gì ? Mẹ nói sao? Con không là... Vương phụ... Dương Vương không là cha con?
Đôi mắt nàng nhìn mẹ ai oán, vừa như tuyệt vọng, vừa như oán trách, vừa như đổ vỡ; cái nhìn như từ một tấm gương soi rạn vỡ. Vương phi đau đớn nói:
- Đúng vậy Hoài Nam, con quả thật không phải là con đẻ của Dương Vương, nhưng điều này chỉ có mình mẹ biết. Ông ấy đã cướp mẹ từ tay của cha con?
Giọng bà cay đắng: Ngày ấy, ngày ấy mẹ vừa hoài thai con chưa đầy tháng, và mẹ đã mang thai con dài gần mười hai tháng con mới ra đời. Vì con, mẹ kéo dài kiếp sống đến ngày hôm nay. Việc Dương Vương làm điều tàn độc ấy, đến gần đây mẹ mới hiểu. ông ta đã đóng kịch là một người ơn, là kẻ đã cứu, đã giải thoát cho mẹ . Cũng vì cảm tấm lòng ơn nghĩa, vã lại ông ta đối xử rất tốt với mẹ, chưa bao giờ làm điều gì phật ý mẹ, mẹ gượng sống vì con, chính vì con, chú không vì mẹ!
Hoài Nam, cha con và cha của Nguyên Huân là anh em kết nghĩa, tình thân hơn ruột thịt, cùng trong "Bát Đại Danh Gia" nổi danh lừng lẫy một thời. Cha con là một Vương tủ họ Đoàn, nước Đại Lý, là người đứng hàng thứ sáu trong số tám người. Tam ca, cha của Nguyên Huân, thuộc dòng dõi anh hùng đệ nhất thiên hạ, mà hơn một trăm năm trước, đã khiến cho đạo quân khét tiếng tàn bạo và hùng mạnh của con cháu Thành Cát Tư Hãn, vị chúa tể phải vỡ mật bay hồn. Nguyên Huân là đời thứ năm của vị anh hùng đệ nhất ấy: Thượng Phụ, Thượng Quốc Công Bình Bắc Đại Nguyên soái Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn của Đại Việt.
Trần Tam ca nhận mẹ làm em nuôi, và gả cho Lục đệ của mình, họ Đoàn tên Chính Tâm. Và một đêm xưa...
Vương phi nước mắt tuôn tràn, bà đau đớn kể hết cho con nghe cái đêm thảm sát đó, và số phận đắng cay bà chịu đựng cho đến ngày nay...
- Sự thật là như vậy, và con có tin hoặc không tùy ở con!
Hoài Nam nức nở, Vương phi đau đớn. Bà nhìn thấy trong đôi mắt của đứa con hiền hậu của bà ánh lên tia căm thù. Bà biết Hoài Nam đau đớn còn hơn bà.
- Mẹ, con đã nhận giặc làm cha...
Vương phi Lý Phi Yến vuốt tóc con:
- Con không có lỗi gì cả, lỗi là ở mẹ. Hoài Nam, tuy ông ta không phải là cha của con, nhưng lại là người có công nuôi nấng con suốt mười tám năm nay...
- Mẹ, con đâu có muốn điều đó, con đâu có cần điều đó ?
Vương phi tái mặt:
- Con tha lỗi cho mẹ!
Hoài Nam biết nàng vừa nói một câu vô ơn với mẹ . Chính vì nàng, bà đã kéo dài sự sống trong nhục nhằn cay đắng. Nàng quỳ xuống chân mẹ, ôm bàn chân nhỏ nhắn của bà nức nở:
- Mẹ, mẹ tha lỗi cho con, mẹ đừng nói thế, con lạy mẹt
Vương phi đỡ con dậy:
- Hoài Nam, mọi việc con đã rõ. Con phải nghe lời mẹ.
Nếu mẹ biết trước ông ta là kẻ thù, mẹ quyết cùng con mà chịu chết. Mãi gần đây, Nguyên Huân nói ra, mẹ mới hiểu tất cả ngày ấy mẹ có biết gì đâu, giờ đã lỡ!
Hoài Nam, bằng mọi giá, mẹ sẽ đem con về quê hương, con phải gặp lại cha con và chị Uyển Thanh của con.
- Con muốn đi ngay, rời khỏi nơi này lập tức !
- Không, không thể hồ đồ như thế được. Phải chờ một cơ hội. Mẹ đã dặn dò Nguyên Huân, và con, con đừng để lộ ra cho ai biết việc này, con phải coi như không có gì xảy ra, vẫn như trước, đừng để cho ông ta nghi ngờ, nếu không, mẹ con ta không thể thoát thân được, con có hiểu không?
Hoài Nam sụt sùi:
- Vâng, con xin nghe lời mẹ, nhưng con... mẹ ơi, làm sao con có thể giữ được sự bình tâm trước con người... khó cho con quá...!
- Không, Hoài Nam, con phải giữ đúng vai trò của con, con vẫn phải sống bình thường, không được thay đổi dù một chút nhỏ nào, con hứa với mẹ không?
- Con... con hứa với mẹ!
- Mẹ tin, mẹ tin ở con. Tổ quốc của cha con, nhẫn nhục đã gần hai trăm năm, sự nhẫn nhục chảy trong huyết quản của con, mẹ tin ở con của mẹ!
 o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-30 19:58:13Hoàng Dung>
chương hai mươi hai
Trần Nguyên Huân bái kiến Thần y
Chu Chỉ Nhược tương phùng Vô Kỵ


Trường Cung Thần y khám thân thể, kinh mạch của Nguyên Huân hết sức kỹ lưỡng, ông nhíu mày nói:
- Kinh kỳ, bát mạch của Trần thiếu hiệp quả thật vô cùng đặc dị, trong Vạn Dược kinh cũng có ghi sơ lược, nhưng trong đời ta mới được thấy lần đầu. Độc khí âm hàn tuy đã được thiếu hiệp dùng công lực thuần dương tách rời, nhưng các huyệt Bách hội, Sinh Tử Huyền Quan vẫn còn tồn đọng một lượng khí âm hàn rất mạnh.
Rất may, thiếu hiệp đã không hấp tấp dùng Tiên Thiên công hóa giải để phục hồi công lực, bởi vì, nếu công lực thiếu hiệp mà tìm lại được tám thành, thì âm hàn khí độc gia tăng gấp ba lần; không một ai trong võ lâm có công lực ấy mà khu trừ, tống xuất hàn khí ra khỏi cơ thể được.
Hiện nay, công lực thiếu hiệp mới chỉ phục hồi được bốn thành, tuy nhất thời đi lại được, nhưng cứ vào đầu giờ Tý, khí âm cực thịnh, huyệt Bách hội nhức buốt, Sinh Tử Huyền Quan tê dại, nửa mặt bên trái mất hết cảm giác, thay vì nửa mặt bên phải của người có kinh mạch thuận, chân khí bình thường đi từ đan điền ngược kinh Nhâm mạch, qua Ấn đường, lên Bách hội huyệt, là nơi phân ranh giữa Nhâm và Đốc vòng xuống Sinh Tử Huyền Quan, chuyển xuống Tỳ khu huyệt, đến Khí hải, giáp vòng thuận. Nhưng người có kinh mạch đảo ngược như thiếu hiệp, chân khí thay vì đi từ âm sang dương, thì lại di ngược từ dương xuống âm; nghĩa là vòng qua Trung cực huyệt, Khúc cốt huyệt, qua Tỳ khu, lên Mạnh môn, qua Đại trùy xung phá Sinh Tử Huyền Quan, thoát ra Bách hội.
Ngày thiếu hiệp trúng thương, nếu là người bình thường, thương vong ở vùng ngực, khí âm hàn xâm nhập, lên đến Bách hội, dẫn về Sinh Tử Huyền Quan. Đoạn đường từ huyệt Đản trung đến Sinh Tử Huyền Quan ngắn hơn theo chiều nghịch, nghĩa là vòng qua Khúc cốt, Tỳ khu, do đó nặng hơn người có kinh mạch nghịch đảo; thiếu hiệp giữ được mạng sống là do đó mà ra.
Tuy nhiên, hiện Sinh Tử Huyền Quan chứa nhiều hàn khí, mà Sinh Tử Huyền Quan là cửa ngõ giữa cái sống và cái chết, cực kỳ mong manh, mong manh thì dễ vỡ. Nay lão phu phải xung phá Sinh Tử Huyền Quan cho thiếu hiệp, nếu công lực lão phu đủ thì thiếu hiệp sống, nếu không đủ, cái chết sẽ đến tức khắc cho thiếu hiệp. Đó là lời chân thực, lão phu không giấu, cũng chẳng ngại hao tổn nguyên khí, hao tổn nội gia chân lực mà thoái thác. Thiếu hiệp tự lựa chọn!
Nguyên Huân đưa mắt nhìn Kiến Nghiệp đại sư ngồi kế bên, Đại sư nhìn lại chàng:
Việc liên hệ đến sống chết, thí chủ phải tự quyết định. Nếu không chữa trị, không đi vào cái chết để tìm cái sống, thì cho dù theo hiện trạng, có thể sống được chín, mười năm, nhưng chỉ là cái sống vô dụng!
Nguyên Huân vòng tay thưa:
- Vãn bối không màng đến chuyện sống chết, sống mà vô ích thì có chết vẫn hơn. Dám xin Đại phu hỷ xả mà cứu giúp; dẫu thành, dẫu bại tiểu tử chẳng dám quên ơn!
Trường Cung Thần y cười dễ dãi nói:
- Thiếu hiệp hà tất phải nói đến ơn nghĩa. Làm người thấy kẻ lâm nạn mà còn so đo lợi hại, ơn nghĩa, thì làm sao còn gọi là con người được. Thiếu hiệp đã phó thác sinh mạng vào tay lão phu, thì lão phu cũng đem hết khả năng mà chữa trị cho thiếu hiệp, xin thiếu hiệp hãy an tâm!
Có một điều lão phu phải căn dặn, bỏ sự sống cái chết ngoài tai, không lý đến, tâm hồn thư thái để bước vào cõi tâm hư, đại định, đó là điều thứ nhất. Việc thứ hai là phải làm theo đúng mọi điều trong lúc trị thương. Kiên trì với một ý chí ham sống mãnh liệt, có như thế mới đem đến thành quả tốt đẹp được!
Nguyên Huân nhất nhất vâng lời.
Ngay buổi chiều hôm đó, chàng bắt đầu nhịn ăn, ngâm mình trong dòng nước lạnh buốt. Chàng vận dụng toàn bộ ý chí để chịu đựng, vì không được vận dụng đến công lực nội thân. Chàng đưa trí tướng đến những vùng trời sa mạc, với ánh mặt trời bỏng cháy, những ngọn hỏa sơn phun lửa rực trời những ngày hè đốt thiêu vạn vật, cỏ cây... trí tướng chàng cứ miên man như thế, để chịu đựng cái lạnh bên trong và bên ngoài cơ thể tương khắc. âm cộng âm sinh dương, ngày qua ngày, thân nhiệt tự nhiên phát tác. Sự kỳ diệu của đại định đã phát sinh thần lực.
Thực ra, thân nhiệt không phải tự nhiên mà có, bởi lẽ, khí âm hàn khi bị cái buốt lạnh từ bên ngoài xâm nhập tự khắc, từ Sinh Tứ Huyền Quan tỏa ra khắp châu thân, cái lạnh hai bên dần tương đồng, nên cảm giác ấm áp do đó mà có.
Qua ngày thứ năm, Nguyên Huân được đưa vào một thạch động nằm sâu trong lòng núi Trường Bạch. Thạch động thiên nhiên, có ánh sáng từ đỉnh cao chiếu xuống. Đường vào dài hun hút và hẹp, càng đi ánh sáng càng mờ nhạt. Hai vách và trần động có lúc thu hẹp lại chỉ vừa một người ới lọt, có lúc nở phình ra. Đường đi càng lúc càng chúi xuống, và không khí dày đặc một mùi lưu huỳnh và diêm sinh. Có tiếng động như tiếng sấm vang vang, ì ầ m bất tận, có lúc như tiếng sóng vỗ vào bờ đá dựng những ngày biển động...
Nguyên Huân bỗng thấy dưới chân xâm xấp nước, nhưng nước không lạnh như những con suối khác mà nóng ấm, Mạc On Tuyền, Nguyên Huân nghĩ thầm.
Thần y đi ở phía trước, không nói năng; dáng đi của ông nhẹ như mây, ung dung và nhàn nhã. Cây gậy trúc xanh bóng trên tay ông chỉ như một vật trang trí. Nguyên Huân, từ lúc đi vào vùng bóng tối, chàng lấy viên Dạ minh châu cầm trong tay, viên ngọc tỏa ánh sáng xanh dịu nhẹ, đủ cho nhãn lực cả hai người nhận thấy chung quanh.
Thần y bỗng lên tiếng:
- Chúng ta đang ở năm dặm dưới mặt đất, trong ruột của Trường Bạch đại sơn. Sở dĩ có tên gọi này là vì đỉnh núi vạn niên tuyết phủ, cái lạnh không thua gì ngọn cao nhất trong dãy Hy Mã Lạp Sơn. Nhưng tận trong lòng núi này là một túi lửa lớn. Những tiếng ầm ì như sóng vỗ là do sự trở mình của túi dung nham. Thiên nhiên có những công trình hết sức kỳ diệu.
Từ đây lên đến đỉnh núi, có độ cao không dưới mười lăm dặm, mười lăm dặm của đá núi. Và sau bức vách đá trắng mà chúng ta sẽ tới, cũng ít nhất trên bốn dặm đá cứng của chiều dày bao bọc túi lửa khủng khiếp. Vách đá tuy dày ta vẫn nghe được sự cuộn sôi sùng sục, vì tiếng động truyền đi trong đá cứng lớn hơn rất nhiều lần trong không khí. Vách núi dày trên bốn dặm mà cái nóng vẫn truyền tới như thế này... Nơi đây chính là Thuần Dương động phủ, không một cỏ cây sinh vật nào sống nổi. Ta tình cờ đến được nơi đây tù hai mươi năm trước, ta có dụng tâm làm mộ địa cho ta mai hậu. Sở dĩ thiếu hiệp chưa cảm thấy cái nóng, vì toàn thân thiếu hiệp hiện thời chứa đầy khí thuần âm.
Và đây là điều ta muốn nói với thiếu hiệp, trong khu Hỏa động này đây, ta đã gặp một loài cây thật kỳ dị, thân cây như thạch nhủ, lá như đá, có hoa đỏ như lửa; từ đóa thạch hoa nay, toát ra một mùi hương rất thơm, người hít vào cảm thấy vô cùng khoan khoái. Trong Vạn Độc Chân Kinh, gọi loại hoa nay là Thạch Hỏa Trầm Hoa, nó có đặc tính cực dương. Sở dĩ nó được xếp vào loại độc, vì dương tính của nó quá mạnh. Hoa không bao giờ tàn, từ nhụy hoa tỏa hương, chảy ra từng giọt như sửa, rớt xuống đá và bị hút ngay, phiến đá dưới tàn hoa vì thế óng lên một màu hồng nhạt, nhạt hơn nhiều lần màu sắc của cánh hoa. Không ai có thể mang những giọt sửa hoa nay ra khỏi cây thạch hỏa, không vật gì đựng nó được vì sức thẩm thấu của nó nhục dị thường.
Chừng một khắc sau, cả hai người đã đứng trước cây hoa đá Cây cao bằng đứa bé bảy tuổi, một bông hoa duy nhất to bằng chiếc đấu, màu đỏ như lửa. Hoa có năm cánh. Từ đài hoa, một mùi hương nhẹ tỏa ra thơm ngọt ngào, và cũng từ nơi đài hoa, từng giọt lệ ứa ra màu trắng hồng, nhỏ xuống rất chậm. Thân cây như gắn chặt vào phiến đá, một phiến đá lớn, phẳng như gương, ánh lên một màu hồng dịu; phiến đá hâm hấp nóng.
Thần Y nói:
- Thiếu hiệp cởi bỏ hết quần áo ra, trầm mình trong suối nước, cơ thể buông thả tự nhiên, dẫu có cảm giác gì cũng không được sợ hãi và cử động!
Nguyên Huân làm theo, chàng dựa đầu trên phiến đá, thả người thuận theo dòng nước. Chỉ một lúc, chàng cảm thấy như có những bầy kiến bò trên thân thể, tê ngứa, và lan dần vào các huyệt đạo. Chàng thả lỏng cơ thể, tâm trí như lạc vào cõi hư không, một cảm giác khoan khoái và êm dịu kỳ lạ. Từ từ, chàng nhận ra từ huyệt Bách hội, Ngọc chẩm, Đại trùy và Sinh Tử Huyền Quan những nhói buố liên tiếp, các tử huyệt còn lại cũng cảm giác ấy, tuy có ít hơn. Cảm giác nhức buốt mỗi lúc một tăng.
Mắt nhắm nghiền, Nguyên Huân đưa trí nhớ về vùng trời Mộc Châu rợp mây trắng, nhớ bờ trúc, lấy tre và mặt hồ Vân Mộng. . . Chàng nghĩ đến Động Đình Hồ thuộc tỉnh Hồ Nam, cũng có tên là Vân Mộng Hồ... Và cứ thế, chàng như lãng quên thân xác mình.
Nhớ ngày xưa, thời Tam Quốc, Quan Vân Trường đánh cờ cùng Hoắc Tuấn, để cho Hoa Đà cạo xương. Thế mới biết thần khí mãnh liệt là dường nào? Chàng chìm đi trong cơn mơ im vắng của buổi trưa hè với tiếng gió lao xao trên giậu trúc nơi quê nhà, và chàng mơ hồ nghe tiếng gọi, tiếng gọi... tiếng Trường Cung Thần y gọi chàng...
Nguyên Huân mở bừng mắt, Thần y đang cúi xuống dịu dàng:
- Thiếu hiệp, ý lực của Thiếu hiệp có một không hai. Đã qua giai đoạn đầu rồi đấy. Bây giờ hãy đứng dậy, đến nằm ngửa người trên tấm hồng thạch, dưới đóa thạch hỏa; làm thế nào để cho lệ hoa nhỏ đúng miệng, tiếp nhận hương nồng, và không được phân tâm trong lúc lão phu điều trị.
Giọt sửa hoa đầu tiên nhỏ vào miệng, một vị thơm như sửa ngọt, như mật ong; hương thơm ngọt ngào tan vào trong chàng. Một luồng khí nóng tỏa ra từ Đơn điền, mỗi lúc một nóng ran như lửa. Thần y phóng nhanh những mũi kim vàng vào các huyệt thuộc Nhâm mạch, trên các' huyệt thuộc kinh Tâm bào, kinh Đại tràng, kinh Tiểu tràng, kinh Bàng quang, Tam tiêu, Tâm kinh, Phế kinh, Đởm kinh, Can kinh, Tỳ kinh, chạy dài suốt tay và chân. Hơi nóng từ Đơn điền chạy suốt kinh kỳ, bát mạch, nhập vào lục phủ, ngũ tạng, như một luồng lửa ấm, theo chiều nghịch âm Dương chuyển tiếp Tỳ khu Phần trước ngực, từ giá lạnh, chuyển sang ôn nhu.
Trường Cung Thần y, thủ pháp nhanh như chớp, thu hồi các cây kim vàng trên phần Nhâm mạch. Khi Nguyên Huân tiếp nhận đủ tám giọt sửa hoa, ông xoay người chàng cho nằm sấp, tiếp tục điểm những kim vàng vào các huyệt trên Đốc mạch: Hạ, Trung, Thứ, Thương, Liêu, dồn đến Mệnh môn huyệt, là huyệt thứ mười một nằm trên đốt xương sống thứ bảy. Giai đoạn cực kỳ quan trọng đã đến. Luồng hơi nóng lan dần lên Phong thủ huyệt, ngang qua Sinh Tử Huyền Quan, bỗng nhiên như bị ngăn lại.
Thần y lên tiếng:
- Thiếu hiệp, giai đoạn cực kỳ nghiêm trọng đã tới, nay lão phu xử dụng Cửu Dương Thần công tăng cường cho luồng nhiệt khí, làm chất xúc tác để hóa giải. Khi âm hàn, dương nhiệt trung hòa, thiếu hiệp vận Tiên Thiên công tiếp thu chân khí, làm vốn cho nội khí, lấy của người làm của mình, hòa với Tiên Thiên công, đưa dần kình khí xung phá Sinh Tử Huyền Quan.
Thiếu hiệp phải hiểu, với người luyện công bình thường, phải có đủ tám mươi năm hỏa hầu mới có thể tự mình xung phá được Sinh Tử Huyền Quan, lúc đó nội lực đã tiến đến tối thượng. Sinh Tử Huyền Quan được khí thông, kinh kỳ bát mạch cũng được khai thông, ý nghĩ đến, là nội gia kình lực đến. Người luyện kiếm gọi là tâm, hoặc ý kiếm. Người luyện chướng pháp gọi là tâm chưởng. Nay, thiếu hiệp còn trẻ, Sinh Tử Huyền Quan khi được xung phá, và có nội gia chân khí của lão phu truyền tặng, thiếu hiệp sẽ có ít nhất thêm bốn mươi năm hỏa hầu công lực.
Giai đoạn đi qua ải sống chết phải thận trọng, không nên vội vã Nếu thấy nhức buốt là phải ngưng ngay, lão phu sẽ tùy cơ mà tăng, giảm nội lực cần thiết.
Hữu chưởng của Thần y dồn sang cơ thể chàng qua Kỳ môn huyệt, một luồng chân khí nóng hổi ào như thác cuốn, tỏa ra khắp châu thân chàng trên phần Đốc mạch, xuyên qua Phong thủ huyệt; đến khi đi vào cửa ải Sinh Tử Huyền Quan, thì chân khí Cửu Dương Thần công bỗng như sợi chỉ xuyên qua, gặp luồng chân khí của nội thân cũng vừa đến, hòa nhập làm một. Luồng khí âm hàn;trấn ngự ở Sinh Tử Huyền Quan lập tức phát tác, ngăn chặn. Luồng nhiệt khí, rất nhẹ nhàng, xuyên qua, hòa vào âm hàn khí, trung hòa. Một luồng khí ôn nhu, do âm dương tương sinh, như chạy nhẹ lên đỉnh đầu, xoay tròn ở bốn huyệt " Tứ Thần Thông" nằm xung quanh Bách hội huyệt, giải tỏa hàn khí, và độc khí theo Bách hội huyệt mà tán xuất. . . Trên đỉnh đầu Nguyên Huân, xuất hiện một làn khói xanh xám, rất nhẹ, từ Bách hội huyệt tỏa ra. Luồng ôn khí xuôi xuống ân đường, Nhân trung, Yết hầu, Đản trung, vượt qua Khí hải huyệt, giáp một chu thiên.
Ngày hôm sau, Trường Cung Thần y giúp cho Nguyên Huân vận hành đủ một trăm lẻ tám chu thiên. Sinh Tử Huyền Quan ngày càng mở rộng, và luồng chân khí của Nguyên Huân đã như thác, tràn ngập châu thân chàng. Nguyên Huân bỗng thấy thân thể chàng nhẹ như bông, khu thạch động như sáng ngời; nội công chàng vừa tiến một bậc rất xa, bằng mấy chục năm khổ luyện.
Công lực, nội gia chàng vốn thuần dương, Tinh hỏa của Thạch hoa đã giúp chàng tăng cường công lực. Trương Vô Kỵ, Giáo chủ Minh giáo, nhân vật huyền thoại của võ lâm Trung Thổ, Thiên hạ đệ nhất kỳ nhân đã tặng chàng công lực Nguyên Huân tiếp tục vận công điều khí.
Trong lúc này, thần sắc của Trường Cung Thần y hết sức mệt mỏi, ông cũng ngồi yên nhắm mắt dưỡng thần, thu hồi công lực đã mất. ông biết rằng ít nhất hai năm sau, ông mới phục hồi trọn vẹn.
Chàng nhìn Thần y, lòng vô cùng cảm kích, không biết phải nói năng thế nào cho phải. Thần y mở mắt, chạm cái nhìn ái ngại của Nguyên Huân, ông gượng cười mệt mỏi:
- Hà tất thiếu hiệp phải ái ngại. Ta mừng cho thiếu hiệp đã qua khỏi tai kiếp, võ công lại tăng tiến. Với công lực hiện nay, thiếu hiệp có thể luyện thành bất cứ một môn công phu nào một cách dễ dàng và mau chóng. Ta chỉ có một lời khuyên, cả trăm năm mới có người có được căn cốt kỳ tuyệt như thiếu hiệp. Nay Sinh Tử Huyền Quan đã được xung phá, đó là nỗi ao ước của bất cứ ai luyện công phu võ học. Đạt được ước muốn ấy, trăm năm hồ dễ có một; ta chỉ mong ở thiếu hiệp có một điều: vì công đạo võ lâm mà duy trì chính pháp, chớ nên khai sát nghiệp!
Việc gì lấy tấm lòng mà cảm hóa được thì không nên dụng võ. Có nhân thì tất có quả, lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà chẳng lọt ! Thiếu hiệp nếu giữ được cái chính tâm thì con cháu tránh được tai ương. Họa, phúc trùng trùng, hiểu trời sao thấu!
Nguyên Huân cung kính thưa:
- Đa tạ Đại phu đã ban cho sự sống. Công tái sinh ấy thật như trời biển, vãn bối xin khắc cốt ghi tâm lời dạy bảo vàng ngọc!
- Không dám, lão phu chỉ có mấy lời thô thiển ngỏ cùng thiếu hiệp đó thôi!
Ngày thứ bảy, kể từ lúc đi vào hang động, trên đường đi ra khỏi lòng núi, Thần y nói:
- Tuy thiếu hiệp đã khu trừ hẳn Hàn Ngọc âm chưởng, nhưng nội tạng vẫn còn chưa ổn định, thiếu hiệp cần tịnh dưỡng và dùng thuốc luôn chín ngày, cần nhất không được vọng động. Trong tất cả các huyệt, huyệt Ngọc chẩm bị tổn thương nặng nhất, phải nên thận trọng. Suốt ba chục năm nay, lão phu có tinh luyện được mười tám viên thuốc, tuy không thể gọi là thần dược, linh đơn, nhưng cũng rất hiệu nghiệm trong chữa trị nội thương, nay tặng thiếu hiệp ba viên; cứ ba ngày, ngậm một viên, xử dụng nội khí chuyển vào các kinh Tâm, Phế, Đại, Tiểu tràng kinh, Thận kinh, Can kinh, để cho lành hẳn; nhất là Phế kinh, mong thiếu hiệp nhớ lấy!
Ra khỏi cửa động, Thần y đi thẳng đến tảng đá dùng để che lấp cửa thạch động, nói với Nguyên Huân:
- Thiếu hiệp, phiến đá này nặng ước một vạn cân, không ai có sức giở nổi. Trước khi uống hoàn thuốc " Kim Thân ngọc hoàn" này, thiếu hiệp hãy thử vận công chuyển nó xem sao!
Nguyên Huân nhìn phiến đá cực lớn, lắc đầu nói:
- Phiến đá quá nặng, vãn bối không thể lay chuyển nỗi !
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-30 20:02:29Hoàng Dung>
Thần y cười đáp:
- Nếu lấy sức mà chuyển, thì chẳng ai làm nỗi, lấy kình khí của ý lực mà làm, há chẳng được sao?
Nguyên Huân hiểu ý, chàng đến bên phiến đá, xuống tấn, vận toàn bộ nội gia chân lực vào đơn điền. ý vừa động, kình lực đã cuồn cuộn. Chàng lắng đọng tinh thần, tâm hồn phơi phới như một người thoát tục, điều tức hơi thở, và bám lấy phiên đá. ý lực vừa phát sinh, kỳ lạ thay, phiến đá bắt đầu chuyển động theo đôi cánh tay chàng...
Lấp kín xong cửa thạch động, Nguyên Huân mừng rỡ, chàng đứng ngẩn người:
- Kỳ diệu thật!
Thần y cười nói:
- Đại định mà thành, thần lực phát sinh là như vậy!
Nguyên Huân vừa mừng vừa xúc động, chàng sụp xuống toan quỳ lạy, gặp luồng phản khí kềm chế, chàng biết ý Thần y muốn khảo hạch công lực, chàng vận toàn bộ chân khí phản ứng lại. Tuy chàng không thể quỳ xuống được như ý nhưng Thần y cũng không thể bắt chàng đứng thẳng dậy được Hai người, một già, một trẻ trong một tư thế trông thật kỳ dị.
Thần y từ từ thu hồi đại lực. Nguyên Huân cũng giảm bớt từng thành. Thần y trong lòng thầm kinh ngạc: "Thân thủ của gã trẻ tuổi này còn tiến xa hơn nhiều. Ta đã có người thay ta, ta không cần phải dấn thân vào chân bụi trần nữa."
Kiến Nghiệp đại sư thấy Nguyên Huân từ trong sơn cốc đi ra, mặt mũi chàng hồng hào, quầng khí đen trên Ấn đường đã biến mất, Đại sư hết sức vui mừng:
- Bần tăng có lời mừng thí chủ!
Nguyên Huân vòng tay thưa:
- Vãn bối có được ngày hôm nay là do Đại sư toàn thành cho, xin cho được lạy một lạy để vãn bối tỏ lòng biết ơn!
Nói xong, chàng quỳ xuống, đập đầu binh binh ba lần, mặc cho Đại sư vận khí công ngăn lại.
- Kỳ diệu ! Thật là kỳ diệu !
Ông ngẩn ngơ nhìn Nguyên Huân, chỉ thết được bấy nhiêu lời Qua ngày thứ chín, chàng đã uống xong ba viên " Kim Thân ngọc hoàn".
Trong suốt bốn ngày, Đại sư Kiến Nghiệp cùng Trường Cung Thần y bàn luận về việc tổ chức "Kình Dương Đại hội". Đại hội sẽ được khai triển sau đại hội của các đại phái danh gia khoảng chừng một tháng. Địa điểm được chọn lựa là một vùng núi thuộc tỉnh Hà Nam. Thời gian tổ chức sẽ được thông báo trong thiếp mời, gửi đến từng nhân vật danh tiếng trong võ lâm Trung Thổ.
Đại sư từ giã ra đi, Nguyên Huân tạm thời ở lại cho đến khi hồi phục hẳn. Trong suốt chín ngày ấy, Nguyên Huân được gặp Trường Cung Hoa, con trai của Thần y. Hai chàng trai hết sức tương đắc. Nguyên Huân ngày càng yêu mến Cung Hoa bởi tính tình trầm tĩnh, chín chắn. Hai người cùng trạc tuổi nhau. Tuy Trường Cung Hoa không hề đá động đến võ công, nhưng Nguyên Huân biết chắc rằng, Cung Hoa đã được Thần y chân truyền toàn bộ võ học, và đã đạt đến tinh hoa nội liễm, người có con mắt tầm thường không thể nhận biết được.
Thể Dung là gái, nhưng tính tình nàng rất khoáng đạt, không bị ràng buộc quá đáng trong qui luật khắt khe của nền đạo đức, do đó, nàng cùng với anh trai trò chuyện với Nguyên Huân hết sức cởi mở và hồn nhiên. Thể Dung mang trong người nàng giống máu của sa mạc, của bộ tộc du mục Mông Cổ; nên nàng vừa có cái duyên dáng của Hán tộc, vừa có cái mộc mạc bình dị của Nguyên tộc. Nàng thường rủ anh trai và Nguyên Huân đi câu cá. Thể Dung câu rất giỏi, nàng bảo Nguyên Huân:
- Huân đại ca, tiểu muội đi câu cá với huynh trưởng chán chết đi được. Cả ngày ngồi trầm ngâm như một cụ già, sau này cô nào mà vớ phải thì thật là tội nghiệp!
Cung Hoa bảo em:
- Chứ ai lại như hiền muội bao giờ, con gái mà lúc nào cũng cười cười, nói nói!
Thể Dung cãi lại:
- Tiểu muội có miệng để cười, để nói những điều đáng nghe, chứ có phải có miệng để ăn như huynh trưởng đâu!
Cung Hoa trêu em gái:
- Nhưng mà hiền muội ăn cũng vào hàng cao thủ đấy!
- Ấy đấy, Huân đại ca nghe có lọt tai không? Có ăn thì phải có nói, có cười, nghĩa là ăn cũng phải thanh cao như cười nói vậy, chứ ai lại cứ lầm lì ăn uống, thấy mà phát chán!
Nguyên Huân cười, giải hòa:
- Thể Dung cô nương vui tính thật, nhưng mỗi người mỗi lính, trời sinh ra vậy, biết làm sao được!
- Trời đất gì đâu, chẳng qua là lại nhớ vị cô nương nào đấy, nên tương tư không nói không cười. Cuộc đời quạnh hiu lắm, cười nói là liều thuốc bổ!
- Huân ca nói với cái con nhỏ lẻo mép ấy làm gì, mệt đứt hơi đi ấy!
- Ái chà! Huynh trưởng nhớ nhé, dám nói tiểu muội lẻo
mép. Được rồi, hôm nào phụ thân khảo hạch y lý, gặp chỗ bí, đừng có mong mà năn nỉ người ta!
Nói xong, Thể Dung xụ mặt, nhưng chỉ được một lát, giật được chú cá lớn, tính hồn nhiên và vui vẻ trở lại ngay với nàng:
- Con này là con thứ tám, huynh trưởng được những một con, lớn bằng ngón tay; thế mới biết cá nó cũng lựa người dễ ưa mà đến. Huân đại ca được mấy con rồi?
- Tại hạ được ba con, tài nghệ còn thua cô nương xa lắm!
- Cái đó là điều dĩ nhiên, tiểu muội nổi danh sát cá ở vùng này, Huân đại ca bì làm sao được!
Nguyên Huân cười nói:
- Có lẽ cá nó thích tính tình của cô nương nên chúng mới tranh nhau đớp mồi, để cô nương được vui chăng?
- Đúng đấy, chứ cá nào nó thèm chơi với người chậu bậu bao giờ. Ái chà, lại một chú nữa. Cắn câu mạnh vào... Thế đó ! A ha, chú thứ chín này hám ăn quá . Hám ăn thì chết, chú mấy không biết hay sao?
Thể Dung bỏ con cá vào giỏ, cuốn dây câu, nói:
' - Con số chín là con số lớn nhất. Con số ba cũng lớn, con
số một lại càng lớn hơn, có phải không huynh trưởng?
- Chứ còn sao nữa, số một không lớn sao lại đứng đầu, cái con bé dốt nát kia !
Thể Dung chu mỏ, trợn mắt nói:
- Hay quá! Một con cá nhiều hơn chín con cá, thế mới biết huynh trưởng giỏi thật, tiểu muội thua là phải!
Trường Cung Hoa làm nghiêm, quay sang Nguyên Huân:
- Tình trạng sức khỏe của huynh đài ra sao?
- Cảm ơn Trường Cung đại ca đã hỏi, tiểu đệ đã hoàn toàn bình phục. Sáng mai, tiểu đệ xin phép Lão nhân gia, huynh đài .và Trường Cung cô nương cho phép tiểu đệ lên đường. Tiểu đệ thật lòng không dám mở lời cảm ơn, vì ơn đức của chư vị ban cho lớn như trời bể. Chỉ mong có ngày báo đáp...
Thể Dung nheo mắt nói:
- Huân đại ca khách sáo vừa thôi chứ, ai làm ơn mong được trả ơn bao giờ. Đại ca khi nào nhớ nơi này, trở về thăm chúng tôi thế là đủ, hà tất phải nghĩ ngợi lôi thôi như thế!
Trường Cung Hoa thấy em gái mình bộc trực như vậy, nên vỗ vai Nguyên Huân, cười nói:
- Tính tình Thể Dung như thế, nghĩ gì nói vậy, mong huynh đài đừng để tâm!
Nguyên Huân vội vàng đáp:
- Không đâu, cô nương nói chí phải, tính tình cô nương rất dáng quý, có gì đâu mà tiểu đệ phải bận tâm!
Thể Dung bỉu môi nói:
- Huân đại ca nói thực lòng không đấy? Đã là chỗ quen biết, thật tình người ta đã gọi, một điều Huân đại ca, hai điều Huân đại ca, mà đại ca khách sáo đáng ghét. Một điều cô nương, hai điều cô nương. Sao không gọi quách là đại cô nương đi cho rồi !
Nguyên Huân lúng túng, không biết phải làm sao, ấp úng:
- Tiểu đệ gọi cô nương là tỷ tỷ được không?
Thể Dung vui mừng nói:
- Ái chà, chú em này khá lắm, Huân... Huân đệ tự ý chú không có ai ép đâu đấy nhé !
Trường Cung Hoa nghiêm sắc mặt:
- Thể Dung không được vô lễ, năm nay hiền muội baonhiêu tuổi?
- Chẳng nhẽ huynh trưởng không nhớ sao, tiểu muội đã hai mươi sáu rồi đấy.
- Hay thật! Ta đây chưa đến hai sáu tuổi, hiền muội là em mà lại hơn tuổi thì nghĩa là sao?
- Hừ! Huynh trưởng thật không biết gì. Hai, ba năm nữa thì tiểu muội cũng hai mươi sáu tuổi, có gì là lạ?
Nguyên Huân cười đáp:
- Dẫu Thể Dung tỷ tỷ mười chín, hai mươi hoặc lên bảy, lên tám, ngu đệ gọi bằng tỷ tỷ cũng có sao đâu!
 
Thể Dung tươi ngay nét mặt:
- Phải rồi, phải nói như vậy mới là người lịch sự, cứ như huynh trưởng thì suốt đời ở giá!
Có bóng người đi tới, Nguyên Huân nhận ra Sư thái, chàng mừng rỡ kêu to:
- Sư thái, vãn bối đã hồi phục rồi!
Tâm Hư sư thái bước nhanh đến chỗ ba người, bà chăm chú nhìn Nguyên Huân, nét mừng lộ ra mặt:
- Ta có lời chia vui cùng thí chủ, thật là không ngờ, trời xanh còn ngó lại. Thật là hữu phúc hữu duyên!
Bà quay sang hai anh em Cung Hoa:
- Chẳng hay hai vị này là ai thế?
Nguyên Huân lên tiếng xin lỗi, và đáp:
- Trường Cung nhị vị, Sư thái đây pháp danh Tâm Hư, là Chưởng Môn nhân của Nga Mi phái. Hai vị này, là Trường Cung Hoa và Trường Cung Thể Dung, trưởng nam và thứ nữ của Trường Cung Thần y!
Cả hai cúi đầu làm lễ tương kiến. T^am Hư sư thái nhìn Cung Hoa và Thể Dung đăm đăm, bà nghĩ thầm: "Giống thật, nhất là con bé , giống mẹ như đúc". Tự nhiên trong lòng bà phát sinh một cảm giác u buồn. Sư thái không muốn để cho lòng phiền muộn nảy sinh, bà nói:
- Cô nương và công tử, bần ni vốn cùng lệnh phụ và lệnh mẫu là chỗ quen biết. Thể Dung cô nương giống phu nhân như tạc!
Thể Dung nghe nói reo lên:
- Sư thái, Sư thái quen biết mẫu thân của điệt nữ đó sao! Ôi chao, khi mẫu thân qua đời, cháu còn nhỏ lắm. Sư thái, sư thái nói về Má má của cháu đi?
Tâm Hư sư thái bỗng dưng thấy quý mến người thiếu nữ hồn nhiên này, bà trìu mến cầm bàn tay Thể Dung:
- Không những cô nương giống lệnh phu nhân về hình dạng, nhan sắc, mà ngay cả tính tình nữa!
Thể Dung sung sướng, nàng ôm lấy tay Sư thái:
- Sư thái gọi chúng cháu bằng cháu đi. Sư thái, huynh trưởng của cháu có giống Má má cháu chút nào không?
Tâm  Hư mỉm cười :
- Trương công tử giống tướng công nhiều hơn!
Thể Dung tròn mắt, ngạc nhiên hỏi:
- Sao Sư thái lại lầm lẫn vậy? Gia gia cháu họ Trường Cung cơ mà!
Sư thái lắc đầu nói:
- Không phải đâu, Gia gia cháu thuở xưa họ Trương, tên Vô Kỵ, một thiên hạ kỳ nhân đấy, cháu không biết sao?
- Thế còn Má má cháu?
- Phu nhân là một vị Quận chúa của Nguyên triều!
Cung Hoa điềm đạm thưa:
- Xin mời Sư thái ghé lại tệ gia, Gia gia chúng cháu chắc sẽ rất mừng khi được gặp lại Sư thái!
Thể Dung có vẻ đăm chiêu, nàng níu tay bà nói:
- Việc này đến nay Sư thái không nói ra, chúng cháu cũng chẳng làm sao biết được. Cháu phải hỏi Gia gia cho ra nhẽ, họ Trương có gì là xấu mà phải đổi họ...
Thể Dung đột ngột im bặt; rồi nàng lên tiếng, giọng nhẹ đi. Cháu hiểu rồi, thì ra chữ Trương, chiết tự thành ra là Trường Cung. Nhưng cháu chưa hiểu được tại sao Gia gia phải làm thế? Sư thái quen biết với Gia gia cháu từ khi nào vậy?
Tâm Hư sư thái nghe lòng mình nhói buốt, bà kín đáo thở dài:
- Lâu lắm rồi cháu ạ! Ngày ấy ta là cô bé mới năm, sáu tuổi còn Gia gia cháu khoảng bảy, tám tuổi. Đã năm mươi năm qua rồi !
Thể Dung hồn nhiên đùa:
- Vậy mà ngày ấy cháu không biết đấy.
Cung Hoa mắng em:
- Em không được đùa giỡn vô lễ như thế!
Thể Dung khoác tay dìu Sư thái Tâm Hư đi, bỏ cần câu, bỏ cả cá; Nguyên Huân phải lễ mễ mang, xách cho nàng.
Tâm Hư sư thái chợt thấy lòng an ủi, bà hỏi:
- Thể Dung, Gia gia con có mạnh khỏe không?
- Gia gia sống âm thầm như chiếc bóng, cả ngày chăm sóc vườn dược thảo. Mấy chục năm, không nghe nói có bạn bè, không thấy bà con thân thuộc đến thăm!
Sư thái nói:
- Gia gia của con có nỗi khổ tâm riêng, nên mới thâm sơn ẩn tích. Thay tên đổi họ là vì thế. Con có học võ công không?
- Không, con chỉ học y, dược thôi !
- Vậy là hạnh phước đấy con ạ !
Sư thái, không biết tại sao, mới gặp lần đầu mà con thấy yêu quý Sư thái thế!
Tâm Hư mỉm cười, cảm động nói:
- Thể Dung! Cảm ơn con, ta mừng lắm!
Trời đã vào xuân, những cành cây khẳng khiu đã nhú mầm, đâm chồi nẩy lộc dưới ánh nắng hồng dịu dàng. Trên cao, rải rác những đám mây trắng, như bông nõn, nhởn nhơ trôi nhẹ trong không trung; đất lẫn trời êm êm ẩn niềm mong đợi Trường Cung Thần y chống gậy trúc bước ra cửa, đôi mắt ông dừng lại trước một dáng người sư nữ cũng vừa đặt chân vào cổng trúc.
Tâm Hư sư thái thoáng rùng mình. Người đàn ông trước mặt bà, đúng là chàng thuở trước. Chàng của chí tình và chàng bội bạc! Tay bà run nhẹ trong bàn tay Thể Dung. Thể Dung hết nhìn Sư thái lại nhìn cha già. Đôi bạn cũ đầy bí ẩn, bao nhiêu năm trời gặp lại!
Thần y bước những bước nặng nề và dừng lại. Trước mắt ông, vị Sư thái, đôi mắt đầy u uẩn, ông đã nhận ra bà, dẫu cách xa đã trên ba mươi năm, không phải bằng trí nhớ, mà bằng cảm xúc. Cả hai đứng im nhìn nhau, trong đôi mắt Thần y thoáng như có một trời quá khứ, trong đôi mắt người sư nữ đầy ắp nỗi xót xa, đớn đau và hờn tủi, và hai dòng lệ, không dấu được đã bao năm trời nay, tuôn tràn trên đôi má ; dòng lệ chất chứa những ân tình, nhớ nhung, và oán hờn, thù hận.
Ba người trẻ tuổi đứng đó, biết rằng, giờ phút gặp gỡ giữa hai người bạn cũ, giờ đã già nua, có một điều gì vô cùng trân quý, nên cả ba nín lặng. Thần y bước thêm hai bước lại gần, con người khét tiếng thiên hạ đệ nhất nhân năm xưa, giò đây như không chịu nỗi gánh đời quá nặng, ông lên tiếng như hơi gió thoảng:
- Chu hiền muội, có phải hiền muội đó không?
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-30 20:04:13Hoàng Dung>
Tâm Hư sư thái dường như đã quên bẵng mình, như quên tất cả chỉ còn lại trong bà một vùng trời quá khứ; chỉ còn lại trong bà nỗi thương yêu và nỗi giận hờn, bà nghẹn ngào:
- Vô Kỵ ca ca... Vô Kỵ ca ca...!
Bà không nói thêm được câu nào, cả hai lại rơi vào sự im lặng. Thần y lên tiếng phá tan không khí nặng trĩu:
- Hiền muội, trên ba mươi năm mới gặp, không ngờ còn có ngày nay!
Đôi mắt đầy trách móc, Sư thái nhằm Thần y:
- Vô Kỵ ca ca, ca ca không ngờ được, nhưng tiểu muội, tiểu muội vẫn tin là có. Suốt trên ba mươi năm, tiểu muội đi tìm ca ca khắp cả Tứ di, Bát hoang, suốt cả nẻo Trường Giang, nên mới có ngày nay... !
Thần y cúi đầu không nói, cây gậy trúc đập nhè nhẹ lên nền gạch, âm vang lóc cóc vang lên lẻ loi trong buổi sáng xuân tỉnh lặng. Một lúc sau, ông nói:
- Chu muội, thôi đừng trách nhau làm chi, ngày ấy...
Tâm Hư cướp lời:
- Xin đừng nhắc đến, hãy để quá khứ ngủ yên trong mộ sâu Tiểu muội không còn nhớ gì nữa cả. Đã trên ba mươi năm trôi qua, bao nhiêu lượng nước đã qua cầu; mà tiểu muội chỉ có một thời để sống. Vô Kỵ ca ca, điều gì không nhớ được, thì đừng nên cố nhớ, điều gì phải quên thì hãy quên đi. Chỉ một điều tiểu muội trách ca ca. Ngày Trương Chân Nhân, trước lúc viên tịch, nhìn tiểu muội đứng hầu bên gối, Người đã tha thứ cho tiểu muội những lỗi lầm. Ngày ấy tại sao ca ca không trở về? Chẳng nhẽ mọi điều phù sinh kia lại hơn được đôi mắt mỏi mòn của Thái Sư phụ hay sao?! Trường Cung Thần y ngậm ngùi:
- Tiểu muội trách ta như thế còn chưa đủ, quả thật ta...
Tâm Hư sư thái cay đắng:
- Ca ca, chẳng ai hiểu được điều ca ca muốn nói. Không phải đến hôm nay, tiểu muội tìm kiếm ca ca khắp cùng thiên hạ, chỉ là để nói có bấy nhiêu? Ngày Trương Chân Nhân đem ca ca lên Thiếu Lâm, vì ca ca mà phải đi qua cửa nhỏ. Một tông sư của một đại môn phái có khi nào chịu vậy! Rồi Chân Nhân giao ca ca cho Thường thúc thúc đi tìm Hồ Điệp tiên sinh... Năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày ấy, ca ca còn nhớ không?
Thần Y giọng đau đớn:
- Chu muội , ta nhớ hết !
- Đáng lẽ ca ca phải quên đi, để trọn một điều! Điều gì ca ca cũng nhớ cả, thì suốt đời ca ca chẳng trọn được điều gì.
Thần y đau khổ đáp:
- Quả vậy, ta đã không trọn được điều gì; điều gì cũng lỡ dở, ân oán bất phân minh, ân nghĩa không tròn... chỉ có mỗi một điều, suốt mấy chục năm trời, ta...
Mấy chục năm trời đối với ca ca như chớp mắt, với tiểu muội thì đằng đẳng.. . Thôi, ca ca ơi, có nhớ cũng bằng không, có trách cũng bằng không. Chút hương phai tàn của quá khứ, sau bằng ấy năm của một đời người, thì vẫn còn nguyên đấy Hôm nay, tiểu muội đến đây có làm cho ca ca phiền não không?
- Chu muội, xin đừng nói thế, vào trong nhà đã!
- Vâng, chả lẽ trên ba mươi năm tìm kiếm ca ca, đến khi gặp lại, ca ca lại chẳng muốn tiếp tiểu muội hay sao?
Thần y quay lưng bước vào nhà, Tâm Hư sư thái lặng lẽ theo sau. Bọn Nguyên Huân, Cung Hoa và Thể Dung trước sau, nghe hai người đối đáp, chỉ biết nhìn nhau, ngỡ ngàng vị nữ tu này đã trên ba mươi năm tìm kiếm Thần y, và những lời lẽ đau buồn, hờn giận, chua chát, "Chuyện gì đã xảy ra giữa vị Sư thái này và cha ta trên ba mươi năm về trước?", Thể Dung tự hỏi, nàng muốn biết, nhưng không được lệnh của cha, nên không dám theo Sư thái vào khách sảnh.
Dường như cả Sư thái và Thần y đã lấy lại bình tỉnh, Tâm Hư nhìn đăm đăm Thần y một lát, rồi nói:
- Con gái của ca ca dễ thương thật, cô bé giống mẹ như đúc; sao ca ca không truyền thụ võ công cho nó?
Thần y thở dài bảo:
- Chu muội tha lỗi cho, người con gái học võ nghiệp, đi lại giang hồ, mấy ai được hạnh phúc!
- Thuở trước, tiểu muội có tầm sư học đạo đâu. Mỗi người đều có số phận an bài!
Thần y đắn đo một lúc, rồi nói:
- Chu hiền muội, hiền muội lặn lội tìm ta, hẳn có điều quan trọng?
Tâm Hư sư thái nhìn Thần y bằng ánh mắt giận hờn đáp:
- Giả dụ chẳng có việc gì quan trọng, tiểu muội tìm gặp ca ca có được không?
- Sao lại chẳng được ? Sở dĩ ta không đi lại giang hồ nữa, vì đã có lời thề Bởi không còn ham muốn, dính líu đến những chuyện thị phi, chứ trong thâm tâm ta, lúc nào cũng nhớ tới hiền muội!
- VÔ Kỵ ca ca, ca ca nói thật chứ!
- Chẳng lẽ ta lại biết nói dối sao?
- Cảm ơn ca ca, tiểu muội chỉ muốn biết bấy nhiêu là đủ. Thuở trước, tiểu muội đối với ca ca cũng có nhiều điều không nên không phải, ca ca còn giận không?
- Chính vì vụ Tống Thanh Thư mà ta phiền giận hiền muội, bây giờ thì không còn giận nữa, nhưng nỗi buồn thì khó nguôi ngoai lắm!
Tâm Hư sư thái cúi đầu ngậm ngùi:
- Tình yêu thật đáng sợ, lòng hờn ghen càng đáng sợ hơn. Ngày ấy, tiểu muội chỉ muốn trả thù ca ca, nên mới thành nông nỗi, chứ thật lòng... có bao giờ quên được ca ca!
Đôi mắt như nhìn vào cõi xa xăm, Thần y nói, như nói với chính mình:
- Thân thể ta mang hai vết thương của ỷ Thiên, đến bây giờ ta còn trân quý nó... Dường như chợt nhận ra mình lỡ lời, ông vội tiếp:
- Thoắt chốc đã gần bốn mươi năm, ta và Chu muội mỗi người mỗi cảnh, tất cả đã già đi, nhưng kỷ niệm dẫu có thế nào vẫn đẹp. Chu muội, ta xin lỗi đã làm Chu muội nhớ đến những điều đã quên...
- Tiểu muội đã mong điều ấy, pháp đanh của tiểu muội là Tâm Hư. Thế mới biết, thật khó khăn lắm thay ! Vô Kỵ ca ca, hôm nay tiểu muội đến đây còn một việc khác nữa!
Thần y ân cần hỏi:
- Chu muội, Chu muội nói đi, việc gì thế?
Tâm Hư cúi đầu, hai giọt lệ chảy dài trên gò má, bà vẫn im lặng... Thần y áy náy hỏi:
- Chuyện gì khiến Chu muội đau lòng, Chu muội nói ra đi cho nhẹ bớt, đừng khóc nữa!
- Vô Kỵ ca cao ngày ở Vạn Bảo tháp, bị vây khốn trong lửa đỏ, ân sư căm giận ca ca, bắt tiểu muội thề độc là phải làm xong hai việc, thu hồi hai bảo vật cho môn phái rồi mới được nghĩ đến thân mình, và phải nhận chức Chưởng Môn Nga Mi. Suốt trên ba mươi năm nay, lời thề độc địa trói buộc tiểu muội, đến nỗi quên cả đời mình, đến nỗi làm cho ca ca ghét bỏ. Thế mà đến ngày nay vẫn chưa làm xong. Những điều chẳng ra gì, thế mà trói buộc, làm tan tác một đời. VÔ Kỵ ca ca, ca ca có thấu chăng?
Thần y an ủi:
- Việc này ta có nghe thiên hạ mơ hồ nhắc đến, nhưng chẳng rõ lời thề ấy thế nào?
- Thu hồi Ỷ Thiên và Đồ Long, vốn là báu vật truyền nhân của bản phái. Tổ sư Quách Tường là con của Quách, Hoàng nhị hiệp. ỷ Thiên và Đồ Long do Quách đại hiệp dùng khối huyền thiết trong thủy động ở Kinh đô Lâm An đúc thành... Ca ca ơi, xin ca ca giải lời thề ấy cho tiểu muội!
- Ỷ Thiên và Đồ Long trước đây đã ... làm hai. Đồ Long được Chưởng Kỳ Sứ Hỏa Liệt Kỳ Nhan Bổn hàn lại, còn Ỷ Thiên thì y nhất định không chịu hàn, bởi y hận cánh tay bị Ỷ Thiên chặt đứt trong trận Quang Minh năm xưa . Gần đây, Phạm Hữu Sứ cùng Nhan Bổn có đến đây, nhắc đến lời thơ truyền tụng:

" Bảo đao Đồ Long
Võ lâm chí tôn
Hiệu lệnh thiên hạ
Mạc khai bất tòng
Ỷ Thiên tái xuất
Thùy dữ tương phong. .."

Ngày nay Thành Vương bạo ngược, cha y nắm được trong tay linh hồn của Đồ Long đao, nên đã đưa Chu Nguyên Chương lên ngôi báu, thu đoạt thiên hạ. Thực là "Hiệu lệnh thiên hạ".
Đến đời y, nghe lời Dương Tiêu, làm nhiều điều hà khắc, bạo tàn, gây nạn binh đao, sinh linh đồ thán; nhất là bọn " Lạc Hộ" bị đày ải, đớn đau không sao kể xiết. Thế cho nên hai câu cuối của bài thơ phải được thực hiện "ỷ Thiên tái xuất Thùy Dữ tương phong". Do đó, Nhan Bổn đã vừa hàn lại Ỷ Thiên để tái xuất giang hồ. Cả hai món binh khí ấy, ta hiện đang giữ. Nay trao lại cho Chu muội là đúng lắm, bởi chính ta cũng không muốn dây dưa đến chuyện giang hồ, lại nữa, Dương Tiêu vốn là Tả Sứ của Minh giáo, đối với ta có chút phận dưới trên, ta không thể cầm gươm đọ sức cùng y được, thiên hạ sẽ cho ta vì cá nhân mình mà danh xưng thiên hạ, điều ấy ta khó nghĩ vô cùng. Cứ theo lời Phạm Dao, võ công của Dương Tiêu cao diệu lắm, mà ta đã gần bốn mươi năm nay, không hề đụng đến kiếm đao, chỉ tu đạo mà di dưỡng tinh thần, e cùng y khó bề đối địch.
Sư thái nói:
- Chính tiểu muội cùng với Kiến Nghiệp đại sư liên thủ giao đấu với y mà không phân được thắng bại, vậy nên đơn độc giao thủ với y, trên giang hồ chỉ còn duy có mình ca ca . là có thể làm cho y thành bại tướng. Ngoài ca ca, quả thực chẳng còn ai!
- Chu sư muội, lớp sóng sau đè lớp sóng trước. Thiên ngoại hữu thiên, ngoài vòm trời này có vòm trời khác, biết thế nào được! Thiếu niên anh hùng đời nào chẳng có!
- Ý của ca ca là thế nào?
- Danh có chính thì ngôn mới thuận, danh mà còn có chỗ bị thiên hạ hiểu lầm, thì ngôn làm sao thuận. Chỉ có một người, danh ngôn đều thuận, võ học cũng không phải tầm thường!
- Người này là ai vậy?
- Một thanh niên người phương Nam, dòng dõi anh hùng vô địch một thời, là con trai duy nhất của Tam gia, trong nhóm "Bát Đại Danh Gia" năm xưa, người họ Trần.
- Có phải ca ca muốn nói đến Trần Nguyên Huân?
- Phải, chính y.
- Y có danh thuận là thế nào?
- Thứ nhất, dân tộc Đại Việt của y đang bị xâm lấn, đô hộ; chính sách cai trị tàn bạo, tài nguyên của cải bị thu vét, dân Đại Việt oán hận thấu trời xanh. Bàn tay của Thành Tổ, Dương Tiêu vấy đầy máu đỏ. Thứ hai, Thân phụ y, cả gia tộc y bị Dương Tiêu đích thân ra tay sát hại. Thứ ba, Dương Tiêu vốn họ Tiêu, người nước Khiết Đan, được Dương Ly Cát lão tiền bối nhận làm dưỡng tử. Dương lão tiền bối vốn là đích tôn của Thần Điêu Hiệp Lữ và Tiểu Long Nữ thuở xưa. Y được người họ Dương ở núi Chung Nam này chân truyền võ học, nhưng sau đó y giết chết Dương lão tiền bối sau khi đã tiếp thu toàn bộ sở học. Tội khi sư diệt tổ không thể dung tha!
- Vô Kỵ ca ca, việc sau có liên hệ gì đến Nguyên Huân?
- Liên hệ lắm chứ! Việc này, sở dĩ ta biết ra được là do Nguyên Huân kể lại. Bởi vì Nguyên Huân được nhận làm dưỡng tử đời thứ tư của Tuyệt Tình Đàm, bơn đời là : Long, Ly, Qui, Phượng; Y được lão nhân Dương Long Điêu truyền thụ khẩu quyết võ học nhà họ Dương, nhưng chưa có thời gian luyện thành. Y là Phượng Thánh, Dương Phượng Thánh! Chu muội còn nhớ cô gái áo vàng năm xưa không? Đó là Dương Qui Loan!
- Tiểu muội còn nhớ Hoàng y nữ hiệp, võ công của cô ta na ná như tiểu muội!
- Đúng thế, cùng một mối mà ra !
Tâm Hư sư thái kinh ngạc:
- Ca ca nói gì vậy?
Thần y cười đáp:
Chu muội học được võ công trong Cửu âm Chân Kinh,
cô ta cũng thế. Chu muội có biết ai đã truyền Cửu Âm Chân Kinh cho Quách đại hiệp không?
- Trong tộc phổ phái Nga Mi, thì Quách đại hiệp tình cờ lấy được Cửu Âm Chân Kinh trong người của xác đồng Trần Huyền Phong, y cùng với Mai Siêu Phong thây sắt, làm một cặp vợ chồng, thiên hạ gọi là Hắc Phong Song Sát, đệ tử của Đào Hoa đảo chúa Đông Tà Hoàng Dược Sư, một trong Võ Lâm Ngũ Bá năm xưa. Xem đó, thì Quách đại hiệp có ai truyền thụ cho đâu!
- Nhưng khi biết Cửu Âm Chân Kinh quá sức ác độc, Đại hiệp không chịu luyện. Châu Bá Thông, khi tự giam mình trong hang đá ở đảo Đào Hoa, đã truyền thụ cho Đại hiệp khẩu quyết nói thác là truyền một môn võ học khác: "Phàm trong trời đất, điều gì thừa thì dùng chẳng đủ, thiếu thì dùng khôn cùng", do đó Đại hiệp mới mắc bẫy mà thuộc.Bản chính thì do Châu Lão Ngoan Đồng giữ, sau khi rời Đào Hoa đảo thì hủy đi, bản phụ chép trên một tấm da người, còn một bản nữa do Phu nhân của Hoàng Dược Sư chép lại, nhưng những đoạn sau không đầy đủ. Do đó, Châu Bá Thông, vì dạy cho Quách Tỉnh mà thuộc lòng Cửu Âm Chân Kinh. Sau này Châu lão kết nghĩa với Thần Điêu Hiệp Lữ Dương Qua, bởi thế mà nhà họ Dương cũng có công phu này. Tuy nhiên Chu muội, ngày ấy, vì buồn đau căm giận nên chiêu số biến thành tàn độc. Thiện, ác, chính, tà, lành, dữ, tất cả đều do cái tâm mà ra...
Sư thái nín lặng không nói. Một lúc lâu, bà hỏi:
- Vẫn biết Nguyên Huân có ba điều danh thuận, nhưng bản lãnh của y làm sao địch lại Dương Tiêu?
Thần y mỉm cười tiếp:
- Ngày xưa, Thái Sư Phụ ta có kể lại: Khi Người còn nhỏ, có được nghe nói đến một công phu võ học kinh người, đó là "Sát Na Vô Lượng Thần Công", có điều đó là một môn công phu dị đặc, người có căn cốt, nội tạng khác người mới luyện thành.. . Loại người này, trong Y kinh cũng có nhắc đến, hàng trăm ngàn may ra có một.
Cách đây hai trăm năm, một người đã luyện thành môn công phu đó, người này là một đại anh hùng của Đại Việt, đã lãnh đạo nhân dân đánh tan ba cuộc xâm lược của con cháu Thành Cát Tư Hãn, tước hiệu của ông ta dài đến nổi xưa nay ít có: Thượng Phụ, Tiết Chế Thượng Quốc công, Nhập Nội Hành Khiển, Bình Bắc Đại Nguyên soái, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Đó là ông Tổ năm đời của Trần Nguyên Huân. Bí kíp " Sát Na Vô Lượng" lưu truyền trong con cháu, nhưng không một ai luyện thành, tuy rằng trong dòng họ không thiếu những người võ công lừng lẫy, như thân phụ của Nguyên Huân chẳng hạn. Không một ai luyện được Bí kíp truyền đời nay.
Và Dương Tiêu biết được, y xúi giục Thành Tổ khởi động cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt . Đích thân y đã giết chết Tam gia, Thất gia, Bát gia, đả thương trầm trọng Lục gia trong nhóm Bát Đại Danh gia. Sách quý " Vạn Kiếp Bí Truyền", trong đó có lưu Bí kíp " Sát Na Vô Lượng Thần công" cũng thất lạc mất tích từ đó...
Đến nay, hai trăm năm sau trong dòng tộc của họ Trần, như Chu muội đã thấy, Nguyên Huân là người hội đủ căn cốt để có thể luyện tập. Điều đáng mừng hơn nữa, là y đã thu hồi được bảo kíp của Tổ tiên, của Đại vương Trần Hưng Đạo Cơ duyên nào thì Trần Nguyên Huân sẽ nói cho Chu muội rõ!
Công lực của Nguyên Huân hiện nay đã có đủ hỏa hầu. Vừa rồi trị thương cho y, ta đã đả thông Sinh Tử Huyền Quan, âm hàn độc khí đã được tống xuất, đồng thời ta giúp y đôi chút chân lực của ta, tương đương với bốn mươi năm công phu khổ luyện. Do đó, ta hy vọng chắc chắn chỉ trong vòng thời gian một năm, y có thể thấu luyện môn võ học bí truyền của Tổ tiên. Nếu đạt thành, y sẽ là một nhân vật với võ công tuyệt kỷ. Đến như ta, vị tất sau này đã là đối thủ của y! Nay ta để cho y, vì võ lâm thiên hạ, vì công đạo mà rửa hờn cho nước, rửa thù cho cha, quét sạch cửa ngõ môn hộ, giải ách thống trị hà khắc cho lương dân. Đúng là danh chánh, ngôn thuận. Chu muội nghĩ sao?
- Việc này ca ca đã nói với Nguyên Huân chưa?
- Ta chưa kịp nói, nhưng ta biết y sẽ vô cùng hoan hỷ để nhận lãnh trọng trách vinh dự này. Bởi vậy, ta sẽ giao lại cho Chu muội thanh đao Đồ Long, còn Ỷ Thiên kiếm, ta tạm giao cho y, nhân danh thiên hạ mà hành sự. Hiền muội có đồng ý không?
- Ngày nay được gặp lại ca ca, ca ca dạy thế nào tiểu muội cũng vâng theo!
o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-30 19:31:28Hoàng Dung>
chương hai mươi ba
Theo lời dặn, Nguyên Huân vào thạch động
Nhập Sát Na, tuấn kiệt luyện Thần Công.

Đến ngõ Bắc Cốc, Nguyên Huân đứng trước những đống đá ngổn ngang, to nhỏ khác nhau. Tất cả tám mươi mốt đống trấn giữ phía trước một hang động. Trong khu vực nấy, những đống đá trông như được sắp đặt bởi thiên nhiên, vì rêu phong và cỏ cây mọc đầy, ẩn dưới tàn cây, bóng cả của khu rừng rậm rạp. Những đống đá có vẻ hiền lành ấy, nào ai biết chúng ẩn chứa một uy lực kinh người...
Thời Tam Quốc, cũng với tám mươi mốt đống đá trấn giữ ngõ Phúc Phố, mà đại binh của Đông Ngô dưới sự điều động của danh tướng Ngô vương là Lục Tích phải thối lui, không dám tiến qua để đánh vào Thành đô. Tám mươi mốt đống đá ấy được sắp xếp theo "Cửu Cung Bát Quái", trận đồ biến hóa khôn lường, dẫu trăm vạn quân cũng bị vây khốn. Những đống đá nay đây tuy nhỏ hơn, nhưng uy lực không phải nhỏ, người vô tình lọt vào, bị hãm trong trận, không thể thoát ra.
Nguyên Huân chiếu theo cửa sinh như lời dặn của Cô Cô, mà lần vào trận. Trái tám bước, sang phải năm bước, tiến lên mười bước, không dám sai sót. Sai một bước chân, ảo ảnh xuất hiện, và uy lực của trận đồ phát sinh tức khắc. Hùm beo, rắn rết; sông thẳm núi cao hiểm trở, trăm ngàn ghềnh thác ngăn lối, trời đất tối tăm, âm phong như địa phủ, tiếng quỷ gào, ma khóc vây quanh... Chính vì vậy, chẳng có ai có thể vào đến Tuyệt Tình Đàm, chưa kể, nếu có thông thuộc đường lối hiểm hóc khác mà lọt vào được, phải chống cự lại với bầy ong hàng triệu con, lớn bằng ngón chân cái, đen nhánh, nọc độc của chúng có thể giết cả trâu mộng. Đã đứng trước cửa động, Nguyên Huân nghe âm thanh vù vù tù trong động phát ra. Bầy ong sắp xuất hiện.
Không dám chậm trễ, chàng lấy trong túi ra một cây kèn nhỏ, đặt trên môi, vận chân khí mà thổi. Thật kỳ lạ! Không ai nghe một âm diệu nào từ cây kèn lưỡi gà phát ra, mà đàn ong đang tràn ra như một đám mây đen. bỗng từ từ dừng lại và tách dần ra làm đôi, bay về phía trước, tụ lại, vần vũ trên đầu Nguyên Huân như một chiếc tán khổng lồ, cuồn cuộn như những lớp sóng, rồi xoáy lên cao, lên cao nữa, tít tắp, như chào mừng, như đón mời...
Kỳ diệu thay công phu nuôi dạy loài ong của Châu Lão Ngoan Đồng tiền bối! Hai trăm năm đã trôi qua, muôn cuộc đời bầy ong đã sinh hóa, vậy mà di truyền tính đã truyền đến tận bây giờ. Tiếng kèn lưỡi gà, phát ra một tần số cực cao, siêu âm ấy, loài người không cảm nhận được, nhưng nó lại là lệnh truyền đến bầy ong dữ. Chỉ một bầy ong khổng lồ này, đủ sức đánh tan hàng ngàn vạn địch thủ.
Qua khỏi thạch động, một vùng trời bát ngát mở ra, cảnh sắc như cõi thần tiên. Mùa xuân, muôn sắc hoa ngào ngạt hương bay, mặt hồ lóng lánh như gương, bướm từng bầy, và chim từng đàn hót líu lo. Thấp thoáng, sau những hàng cây lớn là những căn nhà lợp ngói đỏ, bao quanh bởi những con suối nhỏ chảy vào mặt hồ lặng sóng. Không khí thanh tĩnh, mơn man dịu dàng của mùa xuân đương độ, nắng như mật, chiếu sáng trên ngàn cây một màu vàng óng. Dường như những gian khổ, những bụi bặm của cuộc đời đã rũ sạch phía sau lưng.
Từng đàn chim câu trắng lượn vòng trên đầu chàng, đậu xuống vai, nhảy nhót chung quanh; và một bầy ong, hai bầy ong, rồi bốn bầy, từ bốn phía bay đến khi nhận được âm lệnh của chàng. Chúng cuồn cuộn xoáy vòng lên cao tít, tiếng vù vù của hàng triệu con ong không làm cho bầy chim câu sợ hãi, vẫn nhởn nhơ quanh chàng. âm thanh như trận cuồng phong rít trên các khe đá, trên đỉnh núi cao, và âm vọng, theo bầy ong đang tỏa ra bốn hướng, xòa trên triền núi cao. Tiếng cồng bỗng vang lên từ ngôi nhà khách.
Ngay lập tức, hai hàng người áo vàng, từ hai con đường tiến đến, nhập làm một, mi tẻ ra hai bên; tiếng hô vang trong nắng sớm:
- Thiếu gia Đàm chủ đã về !
Nguyên Huân đi giữa hai lớp gia nhân cung kính. Dương Qui Loan từ đại sảnh đi ra, đôi mắt bà chan chứa hai dòng lệ nhưng trên môi, nụ cười làm khuôn mặt bà tươi như hoa nở. Nguyên Huân quỳ xuống, Dương Cô Cô ôm lấy vai chàng nâng dậy.
- Mẹ !
- Con, con của mẹ đã về!
- Tằng Tổ có an khang không mẹ?
- Nội Tổ ta vẫn chờ mong con, mau cùng mẹ vào bái kiến!
Dương Long Điêu ngồi trên chiếc ghế chạm hình " Long ẩn vân trung". Nguyên Huân bước vào quỳ lạy:
- Con là Phượng Thánh tham kiến Tằng Tổ lão nhân gia!
Một luồng kình lực mạnh như thác cuộn nâng chàng dậy, Nguyên Huân hiểu ngay Lão nhân gia muốn thử khảo sát võ công mình, chàng nhanh chóng vận chân khí cưỡng lại. Từ ngày đả thông Sinh Tử Huyền Quan, tiếp nhận chân lực của Vô Kỵ Thần y, và uống Lệ Hoa Thạch Hỏa, công lực Nguyên Huân là công lực của một cao thủ có sáu, bảy mươi năm hỏa hầu, trong đó là công phu khổ luyện của chàng là một sự tích lũy đáng kể.
Luồng chân lực của Long Điêu lão nhân giờ như thác đổ, chạm phải luồng chân khí của chàng, tách làm đôi, như hai con Giao long, cuốn rạp hàng cây lớn trước cửa đại sảnh, tiếng cây gãy răng rắc...
Nguyên Huân vẫn quỳ gối, tà áo chàng bay phất phơ. Dương lão nhân thu hồi kình lực, Nguyên Huân cung kính quỳ sát xuống dưới chân lão nhân, xong chàng đứng lên, đến đứng hầu một bên. Dương Qui Loan mừng rỡ, bà ôm lấy chàng vào vòng tay. Riêng Long Điêu lão nhân thì cực kỳ hoan hỷ:
- Giỏi thật! Ngươi hóa giải được nội lực của ta, ta mừng lắm cháu ạ! Trên giang hồ này, còn ai nữa còn ai nữa... ha ha...!
Tiếng cười của Lão nhân làm rung rinh mái ngói, bọn gia nhân phải bịt tai, mặt mày thất sắc. Nguyên Huân mang hết những thành quả, cùng những hiểm nguy, và toàn bộ tình hình võ lâm thuật lại, không thiếu một chi tiết.
Lão nhân nói:
- Thế là việc lớn nhất đã xong, những việc sau tự nhiên sẽ thành. Võ lâm thiên hạ giao cho cháu bổn phận duy trì công đạo là đúng lắm. Ngày mai, con sẽ phải gấp rút bước chân vào luyện Sát Na Vô Lượng Thần công. Ta sẽ giúp con toàn thành. ông cầm lấy thanh trường kiếm đen nhánh từ tay Nguyên Huân:
- Ỷ Thiên kiếm được đúc ra từ khối Huyền thiết, cũng như Huyền Thiên kiếm của họ Dương ta đấy, nhưng e là quá nhẹ đối với đại lực của con. ỷ Thiên ngày xưa Hoàng phu nhân xử dụng, Đồ Long đao Quách đại gia xứ dụng thì nặng hơn, Ỷ Thiên chỉ xứng với âm hàn nhu công thà thôi. Từ ngày mai con sẽ luyện tập Huyền Thiên kiếm pháp, uy lực lớn hơn nhiều! Ta muốn rằng con phải phế hủy tên phản đồ họ Tiêu kia bằng chính thanh Huyền Thiên, mới thỏa lòng con ta nơi suối vàng. Thôi con về nghỉ!
Nguyên Huân vâng lời cung kính lui ra, Qui Loan bước theo, hai mẹ con trở về dãy nhà, nơi trú ngụ của chàng.
Các gia nhân đã dọn tiệc ở ngoài sân, dưới một tàn hoa lớn, cho chàng và Qui Loan. Từ ngày rời khỏi Tuyệt Tình Đàm, căn buồng, dãy nhà dành riêng cho chàng, thường xuyên được quét dọn, lau chùi tươm tất. Dương Qui Loan ra lệnh cho toàn thể gia nhân mở tiệc, mừng ngày Nguyên Huân trở về Qui Loan ra hiệu cho bốn thể nữ hầu rượu lui ra nghỉ ngơi. Còn lại hai mẹ con, bà nói:
- Con ạ ! Mẹ khoác khoái mong con từng ngày. Ngày mai, mẹ sẽ thưa với Lão nhân gia, con bái mẹ làm mẹ, mẹ con ta sẽ trình trước anh linh của Tổ tiên con nhé!
- Thưa mẹ, con vâng theo ý mẹ!
- Con đi vào chốn gian lao, lòng mẹ lo âu từng giây khắc, ngày đêm cầu khẩn Phật, Trời độ trì cho con; nay con trở về, ta mừng vô hạn!
Nguyên Huân cầm tay bà:
- Mẹ, con sẽ ở lại đây cùng mẹ, từ một đến hai năm. Trách nhiệm con còn nặng, phải xa mẹ một thời gian, rồi con sẽ trở lại!
- Mẹ biết, mẹ biết điều ấy, con còn quê hương tổ quốc con, còn mối gia thù chưa trả, và bao nhiêu điều khác nữa. Mẹ chỉ mong khi cuối đời mẹ, mẹ có con bên cạnh...
Sáng ngày hôm sau, Long Điêu lão nhân cho người gọi Nguyên Huân đến, bảo:
- Phượng Thánh, phía tây của Tuyệt Tình Đàm có một khu thạch động. Bao nhiêu đời nay, nhà họ Dương đã dùng làm nơi bế quan luyện công, đã bố trí đầy đủ từ lương thực, nước uống và những dụng cụ cần thiết cho việc luyện tập công phu võ học. Nơi chốn ấy yên tĩnh, thoáng mát; bao bọc là một khu rừng trúc nhỏ. Con hãy lên đó, bế quan luyện tập cho thanh tịnh. Muốn lên thạch động, phải có thang dây để trèo lên một vách núi dựng đứng. Sẽ không một ai đến phiền nhiễu, gây gián đoạn việc luyện tập của con cả, ta sẽ điểm hóa cho con khi cần thiết!
Dương Qui Loan nói:
- Thời gian luyện công, con sẽ phải chịu đựng sự cô độc, một sự cô độc rất cần thiết. Sự tịch mịch khiến cho trí tuệ minh mẫn, cho tâm được định; để rọi thấu mọi lẽ huyền vi. Đức Thế Tôn vào rừng sâu ngồi thiền mà chứng ngộ, Đức Đạt Ma Sư tổ diện bích, xoay lưng với cõi bụi trần mà thấu được lẽ trời. Mọi điều trong tâm trí hãy gạt bỏ, hãy thảnh thơi. Con hiểu chứ!
- Vâng, con đã hiểu, mẹ hãy an tâm!
Trong không khí nghiêm cẩn, thành kính trước bàn thờ gia tiên, trước mặt Dương Long Điêu lão nhân; Nguyên Huân quỳ trước Dương Cô Cô lạy nhận bà làm mẹ. Dương Qui Loan nước mắt rưng rưng, bà ôm lấy chàng run giọng:
- Con trai của mẹ, mấy chục năm nay mẹ khao khát đến cháy lòng có được một người con. Cha con đã linh thiêng, cảm thông tấm lòng của mẹ, nên dẫn đường cho con đến đây cùng mẹ, để mẹ thay mẹ ruột của con, săn sóc và an ủi con; và con, con cũng là nguồn an ủi của mẹ. Hãy theo mẹ, Nguyên Huân...
Dương Qui Loan là người tài hoa rất mực, bà tự họa chân dung của Nguyên Lữ theo trí nhớ, và đặt bàn thờ ông trong phòng riêng của bà . Cùng Nguyên Huân quỳ xuống, bà thầm thì khan khứa:
- Nguyên Lữ, thiếp đội ơn chàng! Phía bên kia cuộc sống, trong cõi linh thiêng, xin chàng độ trì cho con luyện thành thần công, rửa mối gia thù!
Đúng giờ Ngọ, Nguyên Huân lên thạch động.
Trong ba ngày đầu, chàng tắm người trong dòng suối, nước trong vắt, chảy ngang hậu động. Sau thạch động là một khu đất cỏ xanh mượt, điểm đầy những loài hoa dại đủ màu. con suối từ trên cao chảy xuống, len lách qua khu rừng trúc, qua khu rừng mai già, lách ngang hậu động, đổ xuống một chiếc hồ nhỏ trong vắt và lạnh buốt. Nước trong hồ chẳng đầy chẳng vơi, chàng đoán có một mạch ngầm dẫn nước thoát đi.
Sau ba ngày tỉnh tâm, qua ngày thứ tư, Nguyên Huân thắp ba cây nhang, tế cáo trời đất; đến đầu giờ Thìn, chàng tọa thiền, lòng thanh thoát như mây trời, tay để lên Vạn Kiếp Bí Truyền, Nguyên Huân giở ra.
Sáu chữ " Sát Na Vô Lượng Thân Công" bằng kim nhủ lóng lánh, thần trí chàng như mở ra cùng trời đất. Có tiếng sấm nổ ì ầm trên đỉnh núi cao. Trận mưa xuân phơi phới sao có tiếng sấm? Mùa xuân không bao giờ có sấm sét! Kỳ lạ thay nỗi đất lòng trời, cơn mưa xuân thổi hương hoa đầy thạch động, cả vạn vật như được ướp hương.
Nguyên Huân nhắm mắt lại, tâm tỉnh như mặt hồ im gió, chàng thắp nén nhang để trước Di vật của Tổ tiên, và quỳ lạy Chàng bỗng như nghe có tiếng nói từ một cõi hư không nào vọng về, giọng nói uy nghiêm của tổ tiên, hay tiếng vọng đến từ Tổ quốc!
"Hỡi đứa con của Đại Việt! Hỡi đứa con của dòng họ kiêu hùng! Tổ quốc, giống nòi ngươi đang trăm nghìn thống khổ Hãy nhớ lấy, hãy nhớ lấy, đừng quên, đừng quên. . . đừng quên...!"
Tiếng vọng như từ bốn vách núi, lập lai, lập lại, lập lại, ồm ồm khắp thung lũng cỏ hoa, trong mưa xuân phơi phới... Nguyên Huân không suy nghĩ, chàng buông thả mọi ý niệm, bỏ lơi tâm thức, bước vào cõi như nhiên, hòa nhập từng lời trong Bí kiếp.
Sát Na là một đơn vị ngắn nhất của thời gian, gần như là không có. Do đó, Sát Na là ý niệm. Đất trời thì khôn cùng. Sinh hóa mà miên viễn. Không có cái tận cùng là vô cực. Thời gian qua đi không hề dừng lại, qua đi mà chẳng cùng. Hữu hạn cũng là không. Vô hạn cũng là không. Lấy cái Hữu hạn mà xét chính là không.
Một đời người dẫu có được tám trăm năm như Bành Tổ, đối với cái Vô hạn cũng là không. Vậy Sát Na cũng là không. Đối với cái Hữu hạn, tám trăm năm là có, và Sát Na cũng là có Trong cái tĩnh, có cái cực động. Vật chất dẫu như sắt, đá vẫn có luân lưu. Cực động vì đó hóa nên tĩnh, cực tĩnh hóa thành động. Thời gian thì qua mau, thân thủ thì chậm chạp mới nên bị hủy diệt. Cái động đến cực đại thì thời gian đứng im, tĩnh lặng.
Thời gian mà đứng im không chuyển vận, là đạt đến cực động. Nếu thời gian không còn vận hành, thì lâu, mau, nào có nghĩa gì ! Tám trăm năm cũng là một Sát Na, Sát Na trong cái tĩnh của thời gian biến thành vô cực, dẫu hẹp mà thành rộng... Tỷ như đường kiếm múa nhanh, hóa nên đứng một chỗ. Vật chất chuyển xoay đến chỗ nhanh cùng cực thì thành chậm. "Sát Na Vô Lượng Thần Công" căn nguyên là ở đó. Cực động thì kéo nở thời gian, nở thời gian không phải làm cho nó nhanh hơn, mà là đứng lại, thời gian đứng lại thì Sát Na thành mênh mông. Chiếm được cái mênh mông trong khoảng cực kỳ nhỏ hẹp là đã bước vào cõi huyền vi, không tĩnh không động, không sinh không hóa.
Thời gian mà dừng lại, thì thân ảnh tất cũng ngưng theo, chậm mà hóa nhanh, nhanh mà thành chậm. Người luyện "Sát Na Vô Lượng Thần công" lấy cái tâm mà ngộ, lắng chìm cái tuệ, cái vọng, rời bỏ cái vô thường. Không nghe đến bất biến, đó chính là Tâm kinh. Tâm mà ngộ, ngộ là gặp là thấy, bước vào được cái ngộ thì thân hóa thần, thần hóa khí, khí hóa không mà nhập..."
Nguyên Huân đắm mình trong cái cảm xúc mênh mông, lòng chàng mở ra cùng đất trời, vạn vật. Ngày tháng cứ thế trôi đi, đại tuệ một ngày bất chợt hé mở, cùng lúc với thần thức sáng ngời; thế đại định như nhiên đã thành, càn khôn chợt hẹp lại, khoảnh khắc bỗng lớn ra, lé hằng thường đã mất, lẽ hóa sinh đã tỏ. Âm dương không còn hai, tứ tượng không còn bốn, lòng yên như là Không. Tâm vọng tâm, thức hóa thức, thần khí tụ làm căn, cội rễ hóa thành ngọn. Thân khí như trời mây, đơn điền như biển lớn.
Thức thứ nhất cực kỳ quan trọng đã qua đi, trời đã gần cuối hạ, sen đã nở đầy hồ, phượng trên cành rực rỡ, mây trắng tản đầy trời... Tâm chuyển thành ý, ý chuyển thành thân, thân hóa thành thức, cuồn cuộn trong kinh kỳ, bát mạch nhẹ như khói vương, mạnh như thác lũ, nhanh như đứng im một chỗ, chậm như chớp giật, mắt thấu suốt tâm thân, thần lực vừa phát sinh, bóng đêm tối tăm chợt sáng, giá lạnh như gió mát, nắng bỏng như bóng râm; nghịch đảo thay, chuyển xoay thay!
Trời vừa qua đông, tuyết bắt đầu rơi, trời đầy mây xám đục; lá cành trơ trụi. Thời gian lướt nhanh ngoài kia, dừng lại trong tâm trí, đọng lại quanh thạch động... Xuân lại về, hoa lại nở, chim ríu rít trên cành,- mưa xuân phơi phới, hương hoa sực nức cành, ngào ngạt trong nắng mai, chan hòa trong gió sớm, đầy một trời, ắp một động, ngào ngạt trong lòng chàng. Thời gian như dừng lại, mây trắng ngày hạ vàng trên đỉnh trời cao như ngừng bay, vạn vật dường như bất biến trong lẽ hằng thường tồn sinh hủy diệt; mọi cõi tối tăm của tâm thức như tỏ rõ, quán triệt vô lượng.
Vân Hà Tỏa Kiếm hóa thành tâm, khẩu quyết ảo diệu của Huyền Thiên kiếm trở nên giản dị, nhập thành ý, biến thành thần, hóa thành tâm...Và một buổi sáng của đất trời, chàng bước vào Sát Na. ôi, Sát Na mênh mông như biển. Con chim ngoài cửa động trong tư thế vươn cánh bay lên... Chàng nhớ đến thân mình, như con chim lìa tổ, xao xác một góc trời... Chàng nghĩ đến lẽ trường, đoản của hưng, thịnh, của suy, vong; bao nhiêu điều, trăm nghìn nỗi dạt dào và mênh mông trôi đi, cuốn lại, trong nổi hồi tướng không ngừng...
Thời gian có hay không... mà sao con chim kia chưa vươn nổi đôi cánh mỏng? Ngoại vật chậm là dường nào. . . ! ý niệm, tâm cơ của chàng sao nhanh dường ấy ! Sát Na Vô Lượng đã viên thành!
Chàng lui khỏi' Sát Na, trở lại cõi hằng thường; cánh chim bay vút lên trời cao, nô đùa trong gió hạ. Chàng mỉm cười. Tình yêu và nguồn sinh lực phấn chấn đào dạt trong lòng chàng. Cánh bướm nhởn nhơ còn cố níu lấy thời gian, chập chờn trên đài sen vừa hé nở. Chàng hóa thân làm mây bay, làm gió mát, trái tim chàng nồng nàn êm dịu. Trái tim chàng, đôi mắt chàng nở thành nụ cười. Và cả vũ trụ như chuyển mình trong từng dòng huyết quản của Nguyên Huân...

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-30 19:40:10Hoàng Dung>
chương hai mươi bốn
Bụi hổng còn nhớ ngày Đông tuyệt
Thạch động buồn chăng buổi tiễn hành.

Nguyên Huân trở lại Yên Kinh vào một ngày cuối hạ. Hơn một năm xa cách Hoài Nam, lòng nôn nao mong nhớ, chàng khát khao được gặp lại nàng. Từ lúc rời khỏi Tuyệt Tình Đàm, chàng đã đổi đến bốn lần ngựa, ngày đêm không nghỉ, để sớm được nhìn thấy và được chìm đi vào đôi mắt thăm thẳm mong chờ. .. Hoàng thành, và nhất là Quang Minh Vương phủ được canh gác vô cùng cẩn mật. Trên gương mặt những người lính canh, chàng nhìn thấy những nét lo âu và mệt mỏi.Nguyên Huân trở lại Thiên Dung tửu lầu. Một tháng trời trên lưng ngựa, chẳng cần được nghỉ ngơi. A Thực, gả tửu bảo nhận ra chàng, y mừng rỡ:
- Trời đất! Tiểu nhân cứ nghĩ là công tử không bao giờ trở lại nữa, nhưng mà đồ đạc của công tử, tiểu nhân còn giũ nguyên vẹn!
Nguyên Huân hài lòng:
- Đồ đạc có gì đáng kể đâu, ta cho ngươi đấy !
Tửu bảo rối tít cảm ơn chàng, y săn đón:
- Công tử nghỉ lại đây chứ! Căn phòng cũ vẫn trống đấy!
- Ta đang đói, ngươi dọn cho ta vài món. Lần này ta chỉ ớ lại chừng đôi ngày thôi, phòng nào cũng được. À này, A Thực, kinh thành có chuyện gì không mà ta thấy không khí có vẻ căng thẳng thế?
A Thực lấm lét nói:
- Quang Minh Vương phủ lúc này bị quấy nhiễu luôn, nên tăng cường canh phòng và xét hỏi kỷ lắm. Đánh nhau hoài, chết chóc vô số!
- Ai đánh nhau với ai?
- Tiểu nhân làm sao biết được. Canh phòng cẩn mật như thế mà bọn gian tế, thích khách vào ra như chỗ không người, toàn là bọn võ lâm cao thủ cả; dân chúng lại càng khổ sở hơn, vì bọn áo màu trong Vương phủ nghênh ngang quấy nhiễu, chẳng coi Vương pháp ra gì!
- Bọn áo màu là bọn nào?
- Ối chà, bọn Hắc y, Xích y, Hoàng y, Thanh y, Bạch y, Tử y, đủ thứ y có mặt  trong Vương phủ . . .
- Chúng có bịt mặt không?
- Không! Mặt mũi đứa nào cũng hung dữ như quỷ. Bản quán bị chúng nó ăn quịt hoài, có mặt chúng khách khứa chẳng ai dám đến ăn uống, kẹt lắm công tử ơi!
- Thôi được ta sẽ chu tất cho ngươi chút ít, rồi mọi chuyện cũng sẽ qua đi!
Nguyên Huân đưa mắt nhìn quanh, ánh mắt chàng dừng vào một lão nhân ngồi cách chàng hai dãy bàn, đôi mắt đang nhìn chàng đăm đăm. Chàng nhận ra Trưởng lão Cái Bang Quan Thiên Sách. Chàng tiến sang, cúi đầu chào:
- Quan lão tiền bối có nhận ra vãn bối không?
Quan Thiên Sách vui mừng đáp:
- Trần thiếu hiệp, lão phu nhận ra Thiếu hiệp ngay từ lúc mới bước vào!
- Lão tiền bối đến Yên Kinh lâu chưa?
- Lão phu mới đến đây độ vài ngày, hiện ngụ tại nhà một người quen. Hôm nay vì có hẹn nên mới đến đây, tình cờ gặp lại Thiếu hiệp!
- Không biết sự có mặt của vãn bối có làm trở ngại cho cuộc gặp gỡ của Lão tiền bối chăng?
- Không sao, chỗ quen biết cả. Nhưng đã quá giờ hẹn mà không thấy y đến, chắc có gì trắc trở! Từ hơn năm nay, Thiếu hiệp ở đâu, làm gì?
Nguyên Huân kể cho Quan Thiên Sách nghe, từ ngày chàng đến ưng Thiên phủ, rồi trên đường về Yên Kinh, và bị trọng thương khi giao đấu với Dương Tiêu, được Trường Cung Thần y cứu chữa như thế nào, nhất nhất kể lại. Quan Thiên Sách nói:
- Lão phu mừng cho Thiếu hiệp đã tìm lại được Bảo kiếp của Tổ tiên, nhưng trong thời gian hơn năm bế quan luyện công, chắc Thiếu hiệp không hay biết gì về tình hình Trung Nguyên, có phải vậy không?
Nguyên Huân đáp:
- Vãn bối quả thật không hay biết gì hết, xin Lão tiền bối cho nghe được chăng!
Quan Thiên Sách trầm ngâm như sắp xếp lại toàn bộ rồi chậm rãi kể lại:
- Đường Trại Nhi và Đặng Mậu Thất đã khởi nghĩa ở Sơn Đông và Phúc Kiến, gây rất nhiều khó khăn cho binh triều, quan quân dẹp mãi không được; hiện nay ảnh hưởng lan sang cả Triết Giang. Họ Đường có nói với lão phu cách đây hai năm: Nhờ có Thiếu hiệp chặn lại được những tin tức của Ứng Thiên phân đoàn báo cáo lên, nhờ thế mới giữ được bí mật tận đến giờ khởi nghĩa!
Nguyên Huân hỏi:
- Vì đâu Đường Trại gia lại biết được?
- Thành Sử Nghiệp là người của Kiến Nghiệp đại sư nên y đến báo cho Đường trang chủ. Hơn một năm nay Kiến Nghiệp đại sư hoạt động tích cực lắm, đã gây lại được thanh thế, tổ chức lại được nội tình Minh giáo!
Hiện nay tình hình võ lâm rối loạn. Một số môn phái nhỏ bị Dương Tiêu hủy diệt dễ dàng bởi không thần phục y, một số môn phái khác thì chia rẽ, chém giết lẫn nhau như phái Bạch Hạc, phái Long Môn, cả Điểm Thương lẫn Thanh Thành. Tháng vừa qua, Đại hội võ lâm Bạch đạo đã họp tại chùa Thiếu Lâm để tìm cách đối phó. Đại hội thống nhất bầu Viên Nhẫn đại sư, Phương trượng chùa Thiếu Lâm làm Minh chủ. Phía bên Minh giáo cũng đã gửi thiếp mời quần hào đến dự Đại hội Kình Dương vào trung tuần tháng chín tới đây Để đối phó lại, Dương Tiêu dùng tiền bạc, lợi danh lôi kéo về với y hầu như toàn bộ bọn cao thủ của phe Hắc đạo và một số cao thủ của Bạch đạo, vì sợ hãi hoặc vì danh lợi cũng đi theo y!
Trong số bọn cao thủ Hắc đạo, có mấy tên đại ma đầu, võ công cực kỳ cao siêu, đã lâu ẩn tích, bỗng dưng xuất hiện: Âm Dương Song Hung, cặp vợ chồng này một thời nổi tiếng ác nhân, với em Dương Nghịch Đảo kiếm pháp, hết sức quái dị, tàn độc. Tên sư huynh của Thiên Ái Nương nương là Tâm Xà lang quân Mã Cốt Ngạc, Tây Vực Thần tăng Mộ Khuyết, Miêu tộc Tiêu Dao Giáo chủ là Bành Dục Nương nương. Trong số này, đáng sợ nhất là Bành Dục, vì mụ ta chuyên sử dụng độc, không biết thế nào mà lường. Tất cả những tên ma đầu ấy, võ công đều ngang bằng hoặc cao hơn các vị Chưởng Môn nhân của các đại phái.
Hiện Dương Tiêu đã qui tụ về Quang Minh Vương phủ trên dưới năm trăm tên cao thủ, phần lớn là bọn Thất Sát đoàn được đưa về đây. Có ai ngờ được, trong số hai mươi tên cao thủ của Ứng Thiên phủ, mà lại có đến sáu, bảy tên là người của Thất Sát đoàn!
- Sao Lão tiền bối biết được?
- Chúng được triệu tập về Vương phủ không cần che giấu hình tích nữa, như bọn Thôi Sơn Thái, Bảo An Hóa Long, Nhất Kiếm trấn Tứ Di Lý Ngọc Hưng, Thiết Đạn tử Hạ Hầu Thành, Thiết chưởng Lôi Chấn Hoa, đệ tử của Thiết chưởng Bang chủ Phùng Tất Hoạt mới chết.
Ngay thực trạng của Cái Bang cũng bị phân rẽ: Hoài trưởng lão, Trần trưởng lão, ngay cả Chấp Pháp trưởng lão là Vương Hạc Thu cũng kéo một số đệ tử của Cái Bang theo về với Dương Tiêu. Riêng Võ Đang Sơn thì Dư nhị hiệp đã già, không còn đi lại giang hồ nữa, Hân lục hiệp với Dương Tiêu có cái tình Nhạc phụ và Tế tử, cũng vì thế mà đứng giữa; chỉ cử Võ Đang Thất Kiếm do Thanh Phong cầm đầu đến tham dự Thiếu Lâm Đại hội mà thôi.
Thực lực bên Danh môn, Chính phái, cao thủ Bạch đạo, có chiều yếu kém hơn. Nếu Kình Dương Đại hội của Minh giáo kết hợp với võ lâm chính phái thì may ra có thể lập được thế cân bằng; chưa kể hiện nay, các cao thủ của danh môn chính phái cứ bị tỉa dần. Kiến Nghiệp đại sư lo âu lắm, có dặn lão phu là nếu gặp được Trần thiếu hiệp, thì nhớ nhắc Thiếu hiệp lời cam kết giữa Thiếu hiệp với Đại sư và một người khác nữa. Trần thiếu hiệp còn nhớ không?!
Lần này, Kình Dương Đại hội được tổ chức tại lăng Hoa Cương, thuộc địa phận tỉnh Hà Nam, vào ngày rằm tháng chín, Thiếu hiệp nhớ đến dự.
Nguyên Huân đáp:
- Lời dặn của Lão tiền bối, vãn bối xin nhớ kỹ!
Quan Thiên Sách thở dài:
- Thành Tổ đã dẹp yên phương Bắc, nghe đâu trên đường ban sư từ Tuy Viễn về, bốn mươi vạn quân và hai nghìn mãnh tướng, là một lực lượng đáng sợ cho cuộc khởi nghĩa của Đường, Đặng! Thành Tổ là người dũng liệt, lại hết sức khắc nghiệt, nếu y mà chết đi, Thái tử là Duệ lên ngôi thì mới có nhiều cơ hội tết được, vì Duệ là người không ham chinh chiến, ghét động binh đao. Nhưng nếu Thái tử út là Khánh lên ngôi, thì thật là tai hại!
- Vãn bối nghe nói ít lâu nay, Hoàng thành và Quang Minh Vương phủ canh phòng cẩn mật lắm, có biến động gì vậy?
- À, chuyện này, lão phu nghe nói có một nhóm cao thủ không biết thuộc môn phái nào, đột nhập vào Vương phủ toan hành thích Dương Tiêu và toàn gia y!
Nguyên Huân giật mình, biến sắc, hỏi:
- Họ có làm nên công chuyện gì không?
- Hai lần, một lần tám người, một lần bảy người, đều bị giết chết cả, chưa kịp làm nên công tích gì!
Nguyên Huân thở ra:
- Vãn bối nghe nói, Vương phi và Quận chúa là hai người hết sức hiền đức, họ cũng định hành thích sao?
- Đã liều mạng vào Vương phủ, tất có mối huyết thù với Dương Tiêu, nào họ có phân biệt tết xấu. Hiện nay nghe nói Hân phu nhân và công tử, tiểu thư còn ở lại trong Vương phủ, chưa về Võ Đang Sơn!
Nguyên Huân ngồi im lắng nghe, không hỏi gì nữa, trong lòng chàng xáo trộn bao ý nghĩ, và mối lo âu đầy ắp. Đêm nay, bằng mọi giá, chàng phải gặp Thúc mẫu, phải gặp Hoài Nam; dẫu có nguy hiểm thế nào mặc lòng.
Hoài Nam thức giấc hơi trễ so với thường lệ, nàng vẫn nằm im trên giường. Trong phòng sực nức hương dạ lan còn vương lại trong đêm. Bao nhiêu ngày, bao nhiêu đêm đã trôi qua, kể từ khi Nguyên Huân rời xa nàng, rời xa căn thạch động bây giờ đã lạnh lẽo. Nàng ôm trong lòng nổi phiền muộn, nhớ nhung...
Kể từ ngày biết tường tận những uẩn khúc của đời nàng, những u uẩn đớn đau của Mẫu thân bao năm trời đăng đẳng, niềm vui hồn nhiên trong cuộc sống, trong con người nàng đã biến mất. Chỉ còn lại những buồn phiền. Nàng trở nên âm thầm như chiếc bóng, biếng nói, biếng cười. Vương phi hiểu được những tình cảm của Hoài Nam, bà chỉ biết nhìn con thương xót. Nỗi niềm cô đơn và đau đớn đang dằng xé lòng nàng, phụ tử tình thâm bỗng chốc trở thành là hai kẻ tử thù, trời chung không thể đội. Thế mà nàng vẫn phải thản nhiên đối mặt, phải cố giấu đi ánh mắt căm hờn, phải nói, phải cười, với tiếng gọi "Vương phụ đắng chát trên môi. Hai mẹ con nàng phải kéo dài tình thế u uất này cho đến bao giờ? Và Nguyên Huân, liệu chàng có cơ may giữ được tính mạng và phục hồi công lực? Chàng ra đi biệt vô âm tín, và nàng âm thầm thương nhớ ngày đêm...
Riêng Bảo Thư, với linh cảm của một người phụ nữ, nàng biết Hoài Nam cũng yêu Nguyên Huân, nhưng mối tình ấy sẽ đưa Hoài Nam đến đâu? Nàng biết rằng giữa Nguyên Huân và Ngoại.tổ nàng, thân phụ của Hoài Nam, đã nặng một mối thù bất cộng đái thiên, và như thế, mối tình của Hoài Nam cũng chỉ là tuyệt vọng? Chính nàng, Bảo Thư cũng không biết sẽ phải thế nào, khi ngày mai đây, một người trong hai kẻ tử thù kia sẽ chết dưới tay nhau, bất cứ ai trong hai người nàng đều không muốn!
Nguyên Huân có cái danh chính của chàng, chẳng thể ngăn cản không cho chàng trả mối gia thù, nhưng nàng cũng không muốn Ngoại tổ nàng vì thế mà phải chết, mặc dù tội lỗi ông gây ra cho thiên hạ quả thật quá lớn...
Bảo Thư cảm thông với Hoài Nam, nên càng thương xót A-di của mình; nhưng cớ sao nàng chỉ gặp được ở Hoài Nam sự im lặng mỗi khi nàng lựa lời gần xa để an ủi? Bảo Thư nghĩ rằng, Hoài Nam buồn chỉ bởi tuyệt vọng cho một tình yêu trớ trêu không lối thoát, nàng lại càng thấy thương Hoài Nam hơn. "Ta thương xót ta, hay thương xót Hoài Nam?"
Bảo Thư tự hỏi, và những giọt nước mắt đêm đêm chan hòa trên gối, thay cho câu trả lời kia.
Nhưng dẫu sao, Hoài Nam được chàng yêu lại, nàng tin thế, còn ta, ta ôm mối ẩn tình này; đến ngày nào chàng mới biết cho! "Chàng có biết, dường bằng chẳng biết, lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi". Dẫu sao, xin chàng hãy biết được lòng ta, nhưng đừng thương xót ta, "Nguyên Huân ơi, chị chỉ xin em cho chị một giọt lệ, giọt lệ duy nhất, cũng đủ để chị sống hết một kiếp lẻ loi này".
Hoài Nam càng héo muộn, nàng sống trong nỗi nhớ nhung thơ dại, cùng trăm ngàn nỗi đau vò xé lòng nàng. Nguyên Huân phải trả mối thù cho gia đình chàng, cho quê hương và đồng bào Đại Việt, cho chính sự tan tác của gia đình nàng nữa. Nhưng Dương Tiêu, kể từ khi nàng có đủ trí khôn để nhớ, ông ta đã đối đãi với mẹ con nàng cực kỳ thương yêu và trân trọng; có công dưỡng dục nàng từ thuở chào đời, và nàng đã thương yêu ông không kém. Người mà bấy lâu nàng tướng là cha mình, bây giờ là kẻ thù bỗng chốc. Nỗi đau ấy hành hạ nàng gấp bao nhiêu nỗi buồn câm của Bảo Thư! Nàng không muốn lòng mình vấy đục bởi bất cứ mối oán thù, bất cứ sự căm giận nào, "Yêu thương làm cho ta lớn lên, làm cho ta thanh khiết, và cho ta nguồn vui. Hận thù chỉ là vực sâu của đày đọa", nàng không muốn nuôi lòng thù hận. Ngay từ khi còn nhỏ, trái tim nàng đã nồng nàn yêu thương. Bây giờ, mẹ con nàng sống giữa bạo lực, giữa hận oán, và chém giết, Hoài Nam đau buồn vô kể, nàng biết làm sao đây! Ngổn ngang trăm mối dày vò...
Nàng chỉ ước mẹ con nàng tìm đến một nơi thanh khiết, u tĩnh, dẫu có đói nghèo, dẫu vất vả và lam lũ, miễn là được sống một đời trong chan hòa của yêu thương, của bình yên; đó chính là hạnh phúc. Còn Nguyên Huân, chàng có trách nhiệm của chàng với gia đình và Tổ quốc... Giờ này chàng nơi nào? Sự sống, chết, sức khỏe và buồn vui, nàng khao khát được chia sẻ cùng chàng biết mấy! Nhưng Hoài Nam biết mình chỉ là một cô gái yếu đuối, nhỏ bé và hiu quạnh, nàng chẳng thể giúp gì được cho chàng.
Trời đã sáng từ lâu, nàng không thể nằm thêm được nữa, Hoài Nam sang Bích Thảo cung thăm mẹ. Mẫu thân nàng không được khỏe kể từ ngày Nguyên Huân xuất hiện, kể từ ngày chàng rời nơi này ra đi biền biệt. Hoài Nam giật thót người khi thấy trên mặt bàn ngủ của nàng, một mũi phi tiêu nhỏ, có tua ngũ sắc, cột theo một mãnh giấy. Nàng run rẩy tháo tờ giấy nhỏ, bốn câu thơ được viết bằng nét chữ như kiếm sắc, mãnh liệt như Giao long, dịu dàng như Phượng múa:

"Mây nhớ trời Nam, lá nhớ cành
Hạ nồng còn nhớ buổi xuân xanh
Bụi hồng có nhớ ngày đông tuyết
Thạch động buồn chăng buổi tiễn hành?"

Bài thơ này đúng là gửi cho nàng, đúng là của chàng gửi cho nàng! Hoài Nam run rẩy toàn thân, chàng đã trở lại vào lúc nàng không ngờ nhất... "Thạch động buồn chăng buổi tiễn hành?", Hoài Nam không ngờ Nguyên Huân cả văn lẫn võ đều tuyệt vời đến vậy. Bài thơ bao hàm cả ý lẫn từ làm cho nàng xúc động "Trời ơi! Chàng đã trở về, chàng đã đến đây trong đêm và để thơ lại... Chàng đã vượt qua hàng rào quân canh, đã qua mặt bọn cao thủ đông như kiến trong Vương phủ".
Vương phủ bây giờ không còn yên tĩnh như xưa nữa. Dương Vương đã cho canh phòng nghiêm ngặt để bảo vệ cho những người thân của ông. Nàng và Mẫu thân không còn được tự do đi lại như trước, mỗi bước đi, đều có bọn cao thủ đi theo hộ vệ. Nguyên Huân đã vào được Vương phủ, cớ sao không gặp nàng? Một ý nghĩ lóe lên trong đầu "Phải rồi, chàng hẹn cùng ta ở thạch động..." "Thạch động buồn chăng buổi tiễn hành..." Hoài Nam giấu bài thơ vào túi áo, nàng vội vã rửa mặt, trang điểm qua loa rồi sang Bích Thảo cung. Đến trước hòn giả sơn, Hoài Nam nửa muốn vào báo tin cho mẹ, nửa muốn vào thạch động cùng chàng. Cuối cùng, nàng quyết định gặp Nguyên Huân trước. Hoài Nam không gặp trở ngại bởi bọn cao thủ được lệnh không được lai vãng vào nơi chốn cư ngụ riêng biệt của Vương phi.
Nguyên Huân, quả đúng là chàng, chàng đã đứng đón nàng ngay sát cửa động. Nét mặt Nguyên Huân rạng rỡ niềm vui Hoài Nam xúc động, nàng muốn ôm lấy chàng, muốn gục đầu vào vai chàng cho vơi nổi nhớ nhung mà vì ngượng ngùng, nàng không dám. Hoài Nam chỉ kêu lên được một tiếng:" Huân ca..." rồi đứng sững nhìn chàng với đôi mắt đỏ hoe. .. Nguyên Huân cũng không hơn gì, chàng luống cuống:
- Hoài Nam... !
Cả hai cứ thế, đứng nhìn nhau không nói; nhưng trong
đôi mắt của nhau là cả vạn lời thương nhớ khôn nguôi. Một
lúc lâu Nguyên Huân lên tiếng:
- Nam muội, Thúc mẫu bình an chứ?
- Mẫu thân không được khỏe lắm, Huân ca!
- Vương phủ canh phòng cẩn mật, ta không thể gặp Nam muội ở Vân Trang cung, đành hẹn đến đây, hiền muội có giận ta không?
Hoài Nam nhìn Nguyên Huân, đôi mắt nàng thăm thẳm:
- Không, Huân ca! Sao tiểu muội lại có thể giận Huân ca được chứ!
- Nam muội, huynh muốn gặp Thúc mẫu ngay bây giờ, có điều muốn nói, hiền muội giúp ta nhé!
Một lúc sau, Vương phi đến. Bà vô cùng xúc động khi Nguyên Huân bất ngờ trổ lại nơi này. Nhìn Nguyên Huân rắn rỏi, khỏe mạnh, bà ôm lấy cánh tay rắn như thép của chàng, ứa lệ :
- Huân nhi, con đã hoàn toàn hồi phục rồi phải không, ta mừng lắm...
Nguyên Huân nhìn bà thương yêu:
- Vâng, con đã hoàn toàn khỏe mạnh, hơn nữa, con đã không phụ lòng Tổ phụ và Gia gia con, Bảo kíp của Tổ tiên con đã luyện thành. Con vội trở về đây, vì con muốn bàn với Thúc mẫu một chuyện...
- Chuyện gì vậy con?
Nguyên Huân nhìn sâu vào đôi mắt bà:
- Thúc mẫu có nghĩ đến việc trở về quê hương không?
Vương phi ứa nước mắt đáp:
Cáo chết trăm năm quay đầu về núi, huống chi là con người. Nhưng biết làm sao?!
Bà quay sang Hoài Nam:
- Ý con thế nào?
Hoài Nam nhìn mẹ:
- Mẹ, sao mẹ lại hỏi con như thế! Con mong điều ấy từng ngày mẹ biết không. Mẹ con ta phải rời khỏi chốn này, dù đường sá có xa xôi nghìn dặm. Nhưng. . . nhưng làm sao Dương Vương cho mẹ con mình...
Nguyên Huân chen lời, hỏi:
- Thúc mẫu, con có nghe nói Hân phu nhân sửa soạn trở về Võ Đang Sơn có phải không?
Vương phi gật đầu:
- Bất Hối, Vân Hạc và Bảo Thư, ngày mốt sẽ lên đường.
- Thúc mẫu, con có ý kiến này, nhân dịp Vương phủ bất an, Thúc mẫu trình ý với Dương Vương, xin được cùng Hân phu nhân về thăm Võ Đang Sơn; con chắc thế nào hắn cũng bằng lòng! Thúc mẫu sẽ cùng với Hân phu nhân xuôi bằng đường biển, ra cửa Lữ Thuận, theo hướng nam đến Triết Giang, theo Trường giang mà về Hán Khẩu. Thúc mẫu ghé lại Nam Kinh, và chờ con ở đó!
Mọi việc, Thúc mẫu khi đến Nam Kinh rồi, hãy tỏ thật với Bảo Thư. Con nghĩ, Hân phu nhân, Vân Hạc và Bảo Thư sẽ cảm thông cùng Thúc mẫu!
Vương phi suy nghĩ một lúc rồi đáp:
- Việc này có thể được, nhưng ta chờ con ở đâu?
- Con có một chỗ quen biết, ở cách phía nam thành Nam Kinh chừng bốn, năm dặm. Đó là Bảo gia trang. Thúc mẫu cứ đưa thư của con cho Bảo trang chủ, Thúc mẫu sẽ được đón tiếp trân trọng. Nơi này rất đáng tin cậy, Thúc mẫu nghĩ sao?
- Vậy thì được. Nhưng còn con, bao giờ con đến?
- Từ đây, theo thuyền về đến ứng Thiên phủ cũng phải mất ba, bốn tháng; dĩ nhiên thế nào Dương Vương cũng cho người tâm phúc theo hộ tống. Đến Nam Kinh, Thúc mẫu giả bệnh để lại chữa trị, Hân phu nhân chắc sẽ về Võ Đang Sơn trước. Từ nay, đến ngày con gặp Thúc mẫu, lâu nhất có thể là sáu tháng!
Chàng tiếp:
- Con có nhiều việc chưa làm xong, nhưng nhất định con sẽ đến Nam Kinh kịp thời gian đã định, Thúc mẫu và Nam muội hãy an tâm!
- Ta tin ở con, dẫu có hiểm nguy, vất vả đến thế nào, ta cũng chẳng ngại!
Trong đôi mắt đẹp của Lý Phi Yến long lanh hình ảnh của quê hương Đại Việt thân yêu và một trời quá khứ đọng đầy.

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-31 20:57:44Hoàng Dung>
chương hai mươi lăm
Kình Dương đại hội, hào kiệt tranh hùng
Quả báo gia cừu, Vân Hà tỏa kiếm.


Lăng Hoa Cương là một ngọn đồi cạo, rộng. Hai mặt Tây và Bắc là dốc dựng đứng. Phía Đông nằm sát một dòng sông tuy không rộng, nhưng rất sâu, nước chảy xiết, thuyền bè khó qua lại. Phía Nam là dải đất thoai thoải lên đến tận đỉnh. Mặt đồi rất rộng, bằng phẳng; gần mép đồi phía Bắc có một ngôi chùa cổ, không biết được dựng lên từ đời nào, ngôi chùa bỏ hoang đã từ lâu. Trước sân chùa rộng mênh mông là cửa Tam quan, nhưng nay chỉ còn là một đống gạch vụn đổ nát.
Từ giữa tháng Bẩy, một bọn khoảng hai ngàn người, vũ trang bằng đủ loại khí giới, kéo về đây, mang theo rất nhiều vật dụng: cuốc, xẻng, búa rìu, và những hòm lớn sơn đỏ... Vừa đến nơi, ngay lập tức đốn hạ những cây lớn quanh sân chùa, dọn dẹp sân chùa quang đãng. Sân chùa được lót bằng những phiến đá lớn, tu sữa những nơi hư hỏng. Cả ngôi cổ tự trong, ngoài được quét dọn sạch sẽ; bàn thờ, tượng Phật Tổ cũng được sơn phết lại.
Chẳng bao lâu, hàng dãy nhà dài hai phía đông và Tây được dựng lên. Một khán đài to lớn xoay lưng sát cửa chùa, quay mặt về hướng Nam. Hai khán đài phụ, hợp với khán đài chính, thành hình chữ Môn. Chỉ trong vòng hơn tháng, quang cảnh đã đổi khác.
Khán đài chính ghi rõ nơi thủ tọa của các hảo thủ giang hồ, võ lâm đại phái; giữa là chiếc ghế bành, phủ da cọp trắng, sau lưng ghế, cắm một cây cờ nhỏ, đề: "Võ lâm Bạch đạo Minh chủ Thiếu Lâm Viên Nhẫn thần tăng", về bên phải của chiếc ghế này là chỗ của " Võ Đang Chưởng môn Dư Chân Nhân", ghế được lót gấm quý . Cứ theo thứ tự, người ta đọc được những lá cờ nhỏ ghi chú "Nga Mi phái, Chưởng môn nhân Tâm Hư thần ni", " Côn Lôn phái Chưởng môn nhân Hà đại nhân", "Chưởng môn Không Động Chu đại hiệp"...
Bên tay trái của chủ tọa Viên Nhẫn Thần tăng, một chiếc ghế màu vàng, phủ lụa vàng, với một lá cờ nhỏ ghi hàng chữ sắc như đao " Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm, Đệ tứ đại Dương Phượng Thánh, Trần thiếu hiệp."
Liên tiếp như thế về hai phía trái và phải, hàng trăm tên của các hảo thủ danh tiếng võ lâm Trung Nguyên và bằng hữu các dị tộc: "Bát Đại danh gia, Nhị gia Thiên Hư đạo trưởng", "Bát Đại danh gia, Đại gia Hoạt Phật đại sư ', " Bát Đại danh gia, Tứ gia Điền Hoành Thứ Lang, Đại hiệp Phù Tang chi bảo", " Đại Lý, Hỏa Vân Kỳ khách Tiêu Đại Hùng", "Nhất Chưởng trấn Giang Tây Bạch Khởi Hùng đại hiệp", "Cửu Tiết thần côn, Cái Bang trưởng lão, Quan Thiên Sách đại hiệp"... phía sau hàng ghế chính là các môn đồ của từng đại phái, đại gia.
Nơi khán đài phía Đông, một hàng chữ đề tổng quát: "Quang Minh Pháp, Dương Vương đồng thuộc hạ" cũng những hàng ghế tương xứng nhưng không đề tên.
Trên khán đài phía Tây, hàng chữ màu đỏ như lửa trên nền giải lụa bạch "Quang Minh đại biểu Thiện Thần Minh Giáo chí tôn".
Một chiếc ghế đầu hổ, kê trên bục cao, phủ lông điểu thử, và các hàng ghế thấp hơn, hai bên tả, hữu: Tả Sứ Quang Minh Thần giáo Trương thiếu hiệp, Hữu Sứ Quang Minh Thần giáo Phạm đại hiệp; rồi chức vị của 'Tứ Đại Hộ Phát Vương: Tâm Thánh Vương, Trí Cự Vương, Tuệ Thức Vương Đại Lực Vương, đến các Ngũ Tảng nhân: Quang Minh tảng nhân Bạch Mi Giáo chủ Hân Dả Vương, Quang Minh tảng nhân Lãnh Thiềm, và các chức sắc của giáo chúng Minh giáo: Chưởng Kỳ sứ Hậu Thổ Kỳ, Chưởng Kỳ sứ Kim Nhuệ Kỳ, Chưởng Kỳ sứ Hỏa Liệt Kỳ, Chưởng Kỳ sứ Mộc Tinh Kỳ, Chưởng Kỳ sứ Thủy Thanh Kỳ. Giữa sân là kỳ đài, lá cờ lớn bằng mươi chiếc chiếu, ghi hàng chữ chân phương: "Kình Dương Đại Hội"
Chạy quanh rìa ngọn đồi, là một dãy lũy ôm lấy bờ Nam, lũy cao hai trượng, cắm cờ la liệt. Một tòa Thạch Môn được xây dựng, lợp ngói đỏ, bốn chữ đại tự thếp vàng rộng lẫy "Quang Minh Chí Tôn", hai cánh cửa mở rộng, đá phiến lót từ cửa Thạch Môn, từng bậc xuống tận chân đồi.
Dưới chân đồi, cứ cách nhau chừng một trăm trượng đi lên, dựng những căn nhà nhỏ để tiếp và hướng dẫn quan khách, mỗi khách trạm có tám người phụ trách. Nơi đây thật quả là một địa điểm lý tướng cho một cuộc đại hội võ lâm. Quanh ngọn đồi rộng là rừng xanh, núi cao, sông sâu bao bọc, xa hẳn dân cư. Người được giao nhiệm vụ dựng xây và tổ chức là Chưởng Kỳ sứ Hậu Thổ Kỳ Lưu Tú Long, Mộc Tinh Kỳ Hàn Phi Hạc đôn đốc giáo chúng dựng đài, lót nền, làm đường, Nhuệ Kim Kỳ Ngô Quán Trung trách nhiệm nghi lễ đón tiếp, và Thủy Thanh Kỳ Hoàng Phủ Liêm lo việc lương thực. Lão nhân Hỏa Liệt Kỳ Nhan Bổn tổng quát việc bố phòng, những ống dẫn lửa Hỏa long, Hỏa hổ; cả địa lôi cũng được bố trí kín đáo ở những nơi hiểm yếu.
Tất cả giáo chúng trong Ngũ Hành kỳ ước chừng hơn hai ngàn người, được huấn luyện thành thạo cả về phương diện chiến đấu, lẫn những kỷ thuật sở trường của từng Hành kỳ.
Suốt gần hai tháng, công việc đã hoàn tất, bọn giáo chúng được phân phối di chuyển thiếp mời đến các môn phái, các đại gia. Tổng dàn phục hưng của Minh giáo tạm thời đóng tại Lăng Hoa Cương trong thời gian Đại hội. Chức sắc của Minh giáo và thực lực giáo chúng quy tụ toàn bộ về nơi này.
Trường Cung Hoa từ Trường Bạch Sơn về đây đã gần một tháng, chàng được Kiến Nghiệp đại sư mời giữ chức vị Quang Minh Tả sứ thay cho Dương Tiêu. Chàng là người đôn hậu, nhân từ, vâng theo ý cha mình mà nhận lãnh địa vị này, tuy nhiên tin tức về Minh giáo Giáo chủ Trương Vô Kỵ vẫn giữ kín vì chưa tiện công bố.
Năm ngày trước Đại hội, Hữu sứ Phạm Dao hết sức bồn chồn lo lắng, vì hình tích của Nguyên Huân vẫn biệt tăm.
Buổi chiều, ông được phi báo, có Cửu Tiết thần côn Quan Thiên Sách đã đến. Phạm Dao đón họ Quan vào khách phòng. Nhìn y phục của Quan Thiên Sách bám đầy bụi đường, chứng tỏ ông đã trải qua một đoạn đường dài không nghỉ, liền hỏi:
- Quan huynh, có điều gì hệ trọng chăng?
- Tiểu đệ đã gặp người anh em họ Trần ở Yên Kinh.
Phạm Hữu sứ mừng rỡ:
- Huynh có nhắn y về ngày giờ và địa điểm khai diễn Đại hội Kình Dương, cùng lời mời của bọn ta chăng?
- Tiểu đệ có nói rồi, y thật chẳng hay biết gì về tình hình của võ lâm cả!
- Bấy lâu nay y ở đâu?
- Trần thiếu hiệp bế quan luyện công suốt gần hai năm, không ra đến bên ngoài. Y đã luyện thành Sát Na Vô Lượng thần công!
Phạm Dao vui mừng hỏi thêm:
- Quan huynh chắc từ Yên Kinh xuống?
- Phải, tiểu đệ từ Yên Kinh tới đây. Chuyện động trời, Phạm huynh có biết không? Cũng vì thế mà tiểu đệ bất kể ngày đêm đến đây gặp Phạm huynh...
Phạm Dao cau mày hỏi:
- Chuyện gì vậy? Có liên quan tới Đại hội không?
- Có và không. Chẳng riêng gì Đại hội Kình Dương mà liên quan đến cả võ lâm nữa! Minh Thành Tổ đã chết trên đường từ Tuy Viễn trở về. Xác được đem về Yên Kinh rồi mới phát tang. Triều đình loan tin là bị bệnh giữa đường mà băng hà. Đại Thái tử lên tức vị, tức Minh Nhân Tôn, hôm rằm tháng tám. Việc này Phạm huynh biết rồi chứ!
- Việc Nhân Tôn lên ngôi đã có biết qua!
- Dương Vương nhân cơ hội ấy, trình tâu với Nhân Tôn, là mọi điều đều do các nhân vật của võ lâm gây nên, y đã xin được điều động năm ngàn Ngự lâm quân, Cẩm Y thị vệ , và hai trăm cao thủ, hỏa tốc kéo xuống Hà Nam, định bao vây Kình Dương Đại hội, quyết hết trọn ổ một phen. Bởi thế tiểu đệ phải cấp báo với Phạm huynh để Phạm huynh định liệu. Đội quân Dương Tiêu thống lĩnh, chỉ trong vài ngày nữa là đến đây!
Phạm Dao lo lắng nói:
- Chuyện này quan trọng thật!
Nói xong, ông bước ra khỏi khách phòng. Một lát sau, toàn bộ chức sắc của Minh giáo đã tề tựu đông đủ. Phạm Dao thuật lại mọi điều Quan Thiên Sách cấp báo, rồi ông kết luận:
- Thiếp mời đã gửi đi, thời gian khai mở Đại hội đã kề cận, không thể làm thế nào khác được, các vị có ý kiến gì không?
Nhan Bổn nói :
- Ngày xưa Thiếu Lâm Đại hội cũng bị Đệ lục Vương gia kéo quân vây hãm. Nhờ có Trương Giáo chủ giải tỏa, việc đó Hữu sứ còn nhớ không?
- Ta nào có thể quên, nhưng tình hình hiện nay khác hẳn. Ngày ấy, tuy có bọn Lạt Ma giáo hổ trợ, nhưng bản thân Triệu Vương và con trai y thì võ công tầm thường, nên Giáo chủ uy hiếp dễ dàng. Ngày nay, tình thế khác xưa, Dương Tiêu không là kẻ tầm thường, võ học y trong thiên hạ không người đối địch; không thể lấy kinh nghiệm từ trận vây hãm năm xưa mà suy luận được!
Kim Nhuệ Kỳ Ngô Quán Trung nói:
- Có một điều là chúng ta không thể hoãn Kình Dương Đại hội lại được, và vì danh dự, chúng ta càng không thể giải tán mà bỏ chạy, chỉ còn cách quyết chiến mà thôi!
Hậu Thổ Kỳ Lưu Tú Long nói:
- Tại sao chúng ta không điều động Ngũ Hành Kỳ đột kích, đánh ngăn chặn địch từ xa?
Trường Cung Hoa Tả sứ lắc đầu:
- Năm ngàn Ngự Lâm quân và Cẩm Y thị vệ được điều động, chắc chắn đã được tuyển lựa, đó là một lực lượng hùng hậu, chưa kể đến bản thân Dương Tiêu, và hai trăm cao thủ. Lực lượng tấn công ít ra phải gấp ba lần thì mới có thể thủ thắng được. Nay ta với hai ngàn năm trăm tay kiếm của Ngũ Hành Kỳ, cùng với địa hình bao quanh, chúng ta dựa vào đó mà phòng ngự, thì dẫu là năm ngàn kỵ binh, chưa chắc đã làm. gì được! Còn nếu chúng ta lấy ít mà tấn công thì quả là bất lợi.
Hàn Phi Hạc, Chưởng Kỳ sứ Mộc Tinh Kỳ, nói:
- Lấy đoản mà đánh trường, trong binh pháp đã từng, nay ta dùng kỵ binh, xuất kỳ bất ý mà tấn công, có thể thủ thắng được!
Hân Dã Vương, lắc đầu nói:
- Đó là xét theo khía cạnh một đạo quân bình thường.Đây lại là một đạo kỵ binh, được hổ trợ bởi hai trăm cao thủ do Dương lão tà chỉ huy. Y là con cáo già, lẽ đâu y không biết điều đó, lại nữa, chiến thuật Ngũ Hành của Minh giáo ta, y còn lạ gì. Chúng ta mà khinh xuất, có khác nào trúng kế "Nhử rắn ra khỏi hang mà đập đầu", ý kiến của Trường Cung Tả sứ là đúng !
Lãnh Thiềm tức khí chen vào:
- Mặc kệ, chúng ta cứ đánh nhầu một chuyến, đến đâu thì đến; chẳng lẽ ngồi khoanh tay mà chịu chết!
Trường Cung Hoa mỉm cười:
- Dĩ nhiên chúng ta không thể khoanh tay chịu chết. Theo ý của ngu hạ, chúng ta phải bố trí lại việc phòng ngự. Nơi đây hai mặt là triền đồi dốc đứng, bọn kỵ binh không thể trèo lên từ hướng Tây Bắc, nhưng bọn cao thủ của Dương Tiêu thì có thể đột nhập từ hai hướng dễ dàng. Riêng hướng Đông là dòng sông Cẩm Hà, vách cũng dựng đứng, chúng ta phải dự liệu đến chuyện rút lui. Phiền Hoàng Phủ huynh và anh em trong Thủy Thanh Kỳ lo liệu thuyền bè, giấu kín một chỗ, phòng khi chúng ta phải rút, bọn quân triều không thể qua sông truy kích được!
Riêng về lực lượng của Đại hội, số cao thủ của chúng ta thì không đủ để chọi lại địch, nhưng nếu cộng thêm cao thủ các môn phái và hào khách, thì gọi là có thể tương đồng. Còn với hai ngàn năm trăm giáo chúng, vốn đã được huấn luyện về vấn đề phòng thủ, thì việc cầm chân năm ngàn binh triều xông lên núi, không phải là việc không làm được. Tuy nhiên, Hậu Thổ Kỳ phải tức khắc đào ngay một con hào rộng, lấy nước ở Cẩm Hà vào. Nhớ là hào phải rộng, không
cho địch phi ngựa phóng qua, và phải đủ sâu để người, ngựa sa xuống, dưới đáy hào cắm chông nhọn. Chúng ta bắc qua hào một chiếc cầu tạm, khi cần có thể phá bỏ đi!
- Việc này Lưu Tú huynh nghĩ sao?
Lưu Tú Long suy nghĩ, tính toán rồi nói:
- Chỉ với năm trăm giáo đồ trong Hậu Thổ Kỳ thì không làm kịp công trình gấp rút này. Nếu điều động toàn bộ Ngũ Hành Kỳ thì có thể hoàn thành kịp thời.
Hữu sứ Phạm Dao nói:
- Trường Cung Tả sứ trình bày ý kiến hết sức xác đáng. Ngay bây giờ, Thủy Thanh Kỳ lấy một phần ba số người làm thuyền bè, xong việc trong vòng ba ngày; còn tất cả, bất kỳ ai, đều phải tham gia công việc phòng ngự, các vị thấy thế nào?
Lãnh Thiềm nóng nảy nói:
- Đúng vậy, chúng ta phải tức tốc làm ngay mới được, không bàn cãi lôi thôi nữa!
Nói xong, đứng dậy ngay, bước ra ngoài; một thoáng đã có tiếng tù và tụ quân vang lên. Chưa đầy hai khắc trôi qua, đã có tiếng địa lôi nổ rầm trời. Hỏa Liệt Kỳ đang dùng chất nổ phá đất đá, đào hào. Hoàng Phủ Liêm quay vào, gặp Phạm Dao, nói:
- Trình Phạm Hữu sứ, sông Cẩm Hà tuy sâu nhưng không rộng, nước chảy xiết, thuyền bè qua lại khó khăn, thuộc hạ cho bắc cây cầu dây có được không?
- Cầu dây chỉ để xử dụng cho các cao thủ, nếu tất cả lực lượng rút qua bằng phương tiện này, e có thể bị đứt, vậy cứ phải tiến hành hai biện pháp. Ngũ Hành Kỳ sẽ qua sông bằng thuyền bè, phần còn lại rút đi sau bằng cầu dây vậy!
Hoàng Phủ Liêm tuân hành, lui ra . Quay sang Quan Thiên Sách, Phạm Dao nói:
- Việc này ta đã có dự trù từ trước, nhưng không dè . Dương Tiêu mượn gió bê măng, điều động được cả một đạo quân triều đình đông như thế. Ta chỉ sợ, nếu đạo quân ấy đến trước ngày khai diễn Đại hội thì rất phiền, vì quần hào chưa kịp đến, đã bị chia cắt.
Quan Thiên Sách nói:
- Từ Yên Kinh tới đây rất xa, tiểu đệ phải đi ngày đêm không nghỉ nên đến sớm. Dương Tiêu không thể đem đạo quân của y tới trước ngày mười lăm được, Phạm huynh hãy yên lòng! Với những nỗ lực tối đa, chỉ trong ba ngày như dự tính, công trình đào hào đã hoàn tất, do ý kiến của Nhan Bổn dùng chất nổ phá đất đá, và giáo chúng Ngũ Hành Kỳ làm đêm ngày không nghỉ.
Trưa ngày mười ba tháng chín, Phạm Hữu sứ cho mở tiệc khao, một phần để mừng công trình phòng thủ hoàn thành, một phần là bồi bổ cho sức khỏe của mọi người đã hao kiệt. Minh giáo chỉ kiêng cử duy nhất là thịt heo, dù là heo rừng. Buổi tiệc kéo dài đến tận chiều. Các hảo thủ trên giang hồ đã lục tục kéo đến, có cả một số không được mời, những người này cũng thuộc giới Bạch đạo, họ' tìm đến bởi ngưỡng vọng oai danh của Trương Giáo chủ, cũng có người vì tò mò do tính cách quan trọng của Đại hội Kình Dương; Phạm Hữu sứ đón tiếp và thết đãi ân cần.
Đến chiều ngày mười bốn, quần hào đã tới gần cả ngàn người. Trong số người đông đảo ấy, có những tay cao thủ tính tình quái dị, nửa chính, nửa tà, hành vi theo hứng mà làm, nhưng bản chất của họ là những con người chân thật, hào khí, phóng khoáng. Tất cả được tiếp đãi trọng hậu, không hề phân biệt.
Đoàn thám mã đi về nườm nượp, báo cáo từng chi tiết về cuộc chuyển quân của Dương Tiêu, cũng như các nhân vật của các môn phái. Sáng tinh mơ của ngày mười lăm, tiếng pháo nổ râm ran từ trạm khách tiền tiêu vọng lên, tiếng loa đưa truyền lên:
- Thiếu Lâm Phương trượng thần tăng, cùng Thập Bát Kim cương La Hán tới!
- Võ Đang Chưởng môn nhân Dư đại hiệp, cùng Võ Đang Thất kiếm tới!
- Nga Mi Chưởng môn nhân Tâm Hư thần ni cùng môn đệ tới!
Phạm Hữu sứ, Trường Cung Tả sứ dẫn các chức sắc của Minh giáo xuống tận chân đồi đón rước. Hai bên cung kính vấn an, Trường Cung Hoa đến trước Dư Chân nhân quỳ lạy:
- Hài tôn xin tham kiến Thái Sư bá!
Dư Liên Châu đỡ Cung Hoa dậy, ông mừng ro kêu lên:
- Ôi con giống Vô Kỵ năm xưa như tạc. Cha con đâu?
- Cha con có đến không?
Cung Hoa cúi đầu thưa:
- Kính trình Thái Sư bá, Gia gia hài tôn không đến được, mong Thái Sư bá hiểu cho! Cha con cho con thay mặt người để cung nghinh Thái Sư bá và các vị Thúc, Bá!
Các môn đồ Võ Đang Sơn từ lâu vẫn nghe uy danh chấn động võ lâm của Trương Vô Kỵ, chỉ riêng có Thanh Phong, Minh Nguyệt là biết mặt người sư đệ lừng danh ấy, nên nghe Cung Hoa nói chuyện cùng Dư Chân nhân, biết chàng là hài tử của Vô Ky, tất cả vây lấy chàng, ân cần hỏi han hết sức thân ái. Thanh Phong thương yêu nhìn chàng hỏi:
- Cung Hoa, năm nay cháu bao nhiêu tuổi?
- Năm nay cháu vừa đúng hai mươi lăm.
Minh Nguyệt chen vào:
- Cha cháu dốc túi chân truyền võ công cho cháu, cháu Lĩnh hội đầy đủ không?
- Thưa Bá phụ, tư chất hài nhi tối tăm, nên sợ phụ lòng nong mỏi, trông chờ của các vị Thúc bá !
- Cháu tới đây đại diện cho cha cháu chăng?
- Thưa không! Cháu nào dám thế!
Mọi người vào khách phòng nghỉ chân, dùng trà. Phạm Dao trình bày sơ lược việc Thành Tổ đột ngột băng hà, Nhân Tôn lên ngôi, và Dương Tiêu hiện đã dẫn hai trăm cao thủ, năm ngàn kỵ binh, đang trên đường đến Lăng Hoa Cương. Viên Nhẫn Thần tăng nghe xong, nói:
- Mô Phật! Việc.này bần tăng cũng có dự đoán, nhưng không dè nó lại có qui mô lớn như vậy. Sở dĩ bần tăng và chư vị bằng hữu đến tham dự Đại hội Kình Dương, một phần là muốn nhân cơ hội, giải quyết một cách hòa bình những bất ổn của võ lâm và hòa giải những hiềm khích, tránh cho võ lâm Trung Nguyên một phen tanh máu, sắp xếp lại trật tự giang hồ. Nhưng không ngờ tình hình lại biến chuyển sang một hướng khác, hết sức bất lợi như vậy, bần tăng lấy làm lo âu lắm!
Dư Chân nhân lên tiếng tiếp:
- Bần đạo đã trên ba chục năm không đi lại giang hồ, và Võ Đang phái cũng không muốn dây dưa vào những chuyện thị phi. Nhưng xét rằng Dương Tiêu gần đây đã lộng hành quá mức, tự xem mình thiên hạ vô địch. Mục đích của y là muốn thống lĩnh toàn bộ võ lâm thiên hạ, lên làm Minh chủ, nhằm mưu đồ chuyện lớn hay chỉ để thỏa lòng tự hào mà đẩy võ lâm vào chỗ tương tranh, phân hóa. Chính ngay bản phái, y cũng không tha, nên chẳng thể ngồi yên một chỗ!
Nay sự thể đã vậy, chúng ta không thể bỏ mặc Minh giáo cáng đáng được. Việc này, tuy là chuyện có tính cách nội bộ của Minh giáo, nhưng xét ra, nó liên đới không nhỏ đến tương lai và tiền đồ võ lâm chúng ta. Dẫu thế nào, Võ Đang Sơn của bần đạo cũng không thể bỏ đi được!
Viên Nhẫn Thần tăng nói:
- Dư Chân nhân xét đoán rất đúng, nhưng dẫu sao, đưa võ lâm vào cơn họa kiếp, bần tăng lòng dạ xót xa lắm, chứ chẳng phải vì hiểm nguy mà từ nan!
Tâm Hư sư thái nói:
- Mọi điều trong trời đất, mọi sự kiện đều có căn nguyên, có cội rễ; nay cứ rễ mà trừ, mọi việc đều xong cả!
Viên Nhẫn thở dài:
- Nhưng cái rễ này thật là khó bứng, võ công của Dương Vương đã đến chỗ hoàng viễn, trong chúng ta đây e rằng không ai là địch thủ của y; mà cương vị chúng ta, không cho phép ta liên thủ giao đấu. Hơn nữa, Càn Khôn Đại Na Di Tâm pháp của y, chuyên chủ khắc chế sự liên thủ giao tranh, y sẽ là người đứng giữa, chuyển đòn của người này sang người khác, kéo đòn của người nọ sang người kia, cuối cùng sức lực y chẳng phí bao lăm. Cứ xem trận giao đấu năm xưa trên Quang Minh đỉnh, giữa Trương Giáo chủ và quần hào thì biết. Ngày ấy, Trương Giáo chủ còn trẻ, vậy mà khi bị trọng thương mê man, gần như bất tỉnh, vẫn hóa giải được độc chiêu của Không Động nhị lão, nhị lão ra chiêu mà cứ như đánh vào nhau. Thật là khó nghĩ!
Phạm Dao nói:
- Điều mà Thần tăng vừa đề cập đến, quả là như vậy! Lão phu đã có lần liên thủ với Sư thái đây, ngăn chặn y, để cứu cho một người tuổi trẻ, thì điều đó quả đúng! Lão phu trước đây có học được hai lớp trong Đại Na Di Tâm pháp, chỉ mới bước qua được Càn Khôn, chưa qua được lớp Đại Na Di; nhưng cũng may, Dương Tiêu y cũng chưa với tới được Tâm pháp.
Dư Chân nhân nói:
- Biết đâu, nếu y thấu đáo được Tâm Pháp, thì cái tâm của y đã chẳng vọng động!
Tâm Hư sư thái quay sang hỏi Phạm Dao:
- Phạm lão tiền bối, tin tức của Nguyên Huân thế nào?
Từ khi khai mở Đại hội Kình Dương, ổn định lại Minh giáo, Kiến Nghiệp đại sư đã tạm thời rời bỏ tăng bào, mặc y phục của Minh giáo để giữ đúng chính danh, nên Tâm Hư sư thái mới xưng hô như vậy.
Lão phu quả đã biết được tin tức của y qua Quan Thiên Sách. Y nói thế nào cũng tới, chắc có điều chi trễ nãi đây!
Dư Chân nhân nói:
- Nguyên Huân là một trang tuấn kiệt, tính tình nhân hậu và chí tình, văn võ toàn tài. Ngày ở Võ Đang Sơn trên một năm, bần đạo biết y rất rõ. Y mang trong người rất nhiều tuyệt học võ công của thiên hạ, có điều công phu hỏa hầu thì chưa đủ. Nay y đã luyện thành Sát Na Vô Lượng Thần công. Công phu này chỉ nghe kể lại, nên không rõ uy lực thế nào. Nhưng bằng vào công phu bản thân, y luyện đến mức viên mãn, thì võ công của y cũng chẳng thua gì Dương Tiêu!
Tiếng ồn ào từ ngoài khán đài vọng tới, mỗi lúc một náo nhiệt thêm. Tiếng chào hỏi, tiếng xướng danh những nhân vật võ lâm tên tuổi vừa đến của Ngô Quán Trung, vang lên liên tục, tiếng vỗ tay chào mừng như sấm dậy, nhất là khi nghe xướng danh Hoạt Phật đại sư, Thiên Hư đạo trưởng, Điền Hoành Thứ Lang trong Bát Đại Danh gia.
Đến giữa giờ Thìn, mặt trời lên khỏi ngọn cây, tiếng pháo nổ rộn rã báo hiệu giờ Hoàng đạo. Phạm Hữu sứ đứng dậy mời Viên Nhẫn Thần tăng, Dư Chân nhân, Tâm Hư sư thái cùng mọi người ra lễ đài. Đoàn người do Hữu sứ hướng dẫn, vòng về phía Nam, từ dãy nhà phía Tây sau lưng khán đài chính, theo con đường lát đá đi vào sân.
Tiếng của Ngô Quán Trung vang vang mời Minh chủ võ lâm, Thiếu Lâm Phương trượng Viên Nhẫn Thần tăng, Chưởng môn đại phái Võ Đang Dư Chân nhân, Chưỏng môn Nga Mi đại phái Tâm Hư sư thái, cùng các chức sắc, quần hào cao trọng vào chủ tọa khán đài... Tiếng pháo nổ, tiếng vỗ tay rộn lên như sấm.
Ở khán đài phía Đông, dành cho Minh Dương Vương vẫn trống vắng... Ba vị Môn chủ của ba đại phái, đứng giữa đài, vòng tay hành lễ ra mắt, chào mừng Kình Dương Đại hội với lời lẽ ngắn gọn và khiêm tốn. Tiếng pháo đã dứt, mọi người đã yên vị. Tiếng Ngô Quán Trung vang lên lồng lộng trong gió:
- Giờ Hoàng đạo đã điểm, mở đầu cho Đại hội, xin phép chư vị anh hùng cho Ngũ Hành Kỳ Minh giáo chúng tôi được trình diện trước chư vị !
Tiếng bước chân chuyển rầm rập, hai ngàn năm trăm giáo chúng, áo trắng, với ngọn lửa đỏ trên ngực, theo chân các Chưởng Kỳ sứ, thứ tự xếp hàng ngay ngắn trước khán đài trên sân chùa rộng. Năm đạo, mỗi đạo đứng sau cây đại kỳ mang từng chữ riêng biệt: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, với vũ khí khác nhau mang trên vai, Kim đeo kiếm, Mộc đeo đao, Thủy mang trường thương, Hỏa mang đoản kích, Thổ mang đại phủ ( búa). Tất cả đứng im như tượng!
Phạm Dao ngước mắt lên kỳ đài, lá cờ trắng lớn khổng lồ, giữa là một ngọn lửa đỏ rực, phần phật trong gió. Phạm Hữu sứ bước lên một đài cao, đối diện với khán đài, ông đứng một phút nhìn khắp. Tướng người Hữu sứ cao to, mặc bộ y phục Minh giáo trắng tuyền chạy chỉ kim tuyến, ngọn lửa đỏ thêu trên ngực như đang bốc cháy. ông vòng tay cúi đầu chào mọi người, đợi cho tiếng vỗ tay lơi bớt, ông cất tiếng như sấm dậy:
- Hôm nay nhằm ngày lành, Minh giáo chúng tôi khai mạc Đại hội Kình Dương, ra mắt cùng chư vị anh hùng, bằng hữu giang hồ trong võ lâm. Thay mặt Trương Giáo chủ, vì một lý do đặc biệt không thể có mặt hôm nay, Trương Giáo chủ đã cho trưởng tử của Người là Trường Cung Hoa, trong chức vị Tả sứ, thay thế Dương Tiêu, ra mắt và làm lễ tương kiến chư vị anh hùng...
Cung Hoa bước lên đài, đứng bên Phạm Hữu sứ. Phong mạo chàng uy nghiêm nhưng đôn hậu, chiếm ngay được cảm tình của mọi người, tiếng vỗ tay lại vang lên nồng nhiệt, tiếng vỗ tay như đón chào một hình ảnh của Vô Kỵ ngày xưa. Cung Hoa cảm động, chàng vận công lực, đưa âm thanh tiếng nói vang xa:
- Kính thưa chư vị tiền bối, cùng với toàn thể anh em quần hào. Phụ thân của vãn sinh vì một lý do riêng, không đến đây làm lễ hội kiến cùng chư vị ngày hôm nay, vãn sinh được lệnh Gia phụ sai chuyển lời kính cẩn chào mừng và vấn an đến từng vị tiền bối, trưởng thượng cùng toàn khắp chư vị anh hùng bằng hữu, cộng thêm lời xin chư vị miễn thứ cho sự vắng mặt bất đắc dĩ của Gia phụ !
Nói xong, chàng vòng tay cúi đầu, hướng khắp mọi hướng xá một xá. Phạm Dao lần lượt giới thiệu các chức sắc của Minh giáo, cuối cùng ông nói:
- Kính thưa cùng chư vị : Lẽ hưng, thịnh bao giờ chẳng có, nay Minh giáo chúng tôi gặp buổi suy vi, đã hai phen thăng trầm, trôi nổi. Lần đầu, Dương Giáo chủ đời thứ ba mươi chín tuyệt tích, Dương Tiêu nắm quyền thống trị, đã đưa Minh giáo vào con đường sa đọa, tà ma, đắc tội cùng thiên hạ. Đến khi Trưởng Giáo chủ đời thứ bốn mươi, lấy lại được chính khí, chấn hưng được uy danh, đã vực Minh giáo lên từ vực tối Nhưng vì lòng người tham bạo, đa đoan, mất cả ân nghĩa; do đó Trương Giáo chủ chán nản lòng người, bỏ đi quy ẩn, thoắt chốc đã gần ba mươi năm. Một lần nữa, Dương Tiêu, dựa vào thế lực Triều đình, biến Minh giáo thành công cụ bạo tàn, gây nên trăm mối tai ương, đắc tội cùng đồng đạo giang hồ. Tội lỗi ấy chẳng thể dung tha lần nữa. Bởi thế Trương Giáo chủ chúng tôi không thể ngồi yên làm ngơ, và Minh giáo đã tổ chức Đại hội hôm nay, nhằm những mục đích sau đây:
Thừa mệnh Giáo chủ, khai trừ Dương Tiêu và đồng bọn ra khỏi Minh giáo.
Tổ chức và ổn định lại Minh giáo, chấn hưng và hoằng bá chủ trương của Minh giáo; lấy Quang Minh làm nền tảng, lấy cứu khốn phò nguy làm phương châm hành sự, lấy yêu thương làm tâm hồn. Từ nay, giáo chúng Minh giáo đi lại giang hồ, có làm điều gì sái quấy, miễn là có bằng chứng, xin liệt vị anh hùng cứ ra tay trừng trị, để Minh giáo chúng tôi đời đời giữ được chủ trương:" Quang Minh đại biểu Thiện Thần", ơn đức ấy chúng tôi không dám quên.
Mục đích thứ ba của chúng tôi hôm nay là đòi Dương Tiêu đến hội kiến cùng chư vị, lấy lời phải mà cảm hóa, nếu y nghe ra thì thật là phúc trạch cho võ lâm. Y phải giải tán tức khắc bọn thuộc hạ, với những hành vi, chủ đích tàn độc của y, tạ lỗi cùng chư vị anh hùng thiên hạ dứt bỏ mọi mưu toan khuấy động võ lâm.
Đó là những điều mong mỏi. Còn nếu hôm nay, y vẫn giữ lòng hung bạo; Minh giáo cùng bằng hữu anh em đồng đạo, chúng ta có bổn phận và có quyền trị, diệt tận căn. Đó là những lời tâm huyết xin thưa!
Cùng lúc với tiếng hoan hô, tiếng vỗ tay vang dậy một góc trời; những tiếng pháo cực đại từ xa, nổ lớn, chấn động cả mặt đất, bụi khói bốc cao mịt mù, từ bìa rừng dưới chân đồi, trước mặt khán đài chính nhìn xuống, một hàng quân kỵ binh đã dàn hình chữ nhất đông nghẹt... Số quân này ước trên năm ngàn người, và đứng trước đoàn quân, uy nghi một chiếc kiệu to lớn, do tám lực sĩ khiêng trên vai, xung quanh là sáu nhân vật cỡi ngựa đi kèm.
Nối tiếp sau lưng kiệu, cả một rừng màu sắc sặc sỡ: vàng, đỏ đen, tím, xanh, nâu, trắng, ước khoảng hai trăm tên ngồi trên lưng ngựa theo đội ngũ sắc màu. Một rừng gươm đao phản chiếu lấp lánh dưới bầu trời nắng tươi.
Tiếng chiêng trên đồi nổi lên dồn dập, Ngũ Hành Kỳ lạnh lùng tỏa ra, vào các vị trí chiến đấu. Không khí cực kỳ căng thẳng nhưng không chút xao động, có chăng là những ánh mắt phẫn nộ chăm chăm nhìn xuống chân đồi. Một tiếng pháo lệnh nổ vang, đoàn kỵ binh rùng rùng chuyển động. Chiếc kiệu và toán người ngựa áo màu chuyển thành hàng dọc, từ từ tiến sát chân đồi, ngừng một lát rồi tiếp tục tiến lên. Tiếng loa truyền vọng đến:
- Minh triều Quang Minh Pháp Vương, Dương Thiên tuế đến . . . !
Trong đám bọn áo màu, tiếng đàn sáo, kèn hiệu cất lên, phụ họa cho lời loa truyền. Cổ kiệu tiến thẳng lên ngọn đồi, vượt qua Thạch môn, và tiến vào sân chùa, dừng lại trước khán đài chính. Chiếc kiệu sơn son thếp vàng, rèm châu phủ che, thấp thoáng bóng người ngồi, nhưng rất lâu, không thấy người ấy bước ra . Tiếng xôn xao căm phẫn của quần hào nổi lên. Trong đám bọn áo màu, có bốn người tách khỏi hàng, đến trước kiệu, trải xuống một tấm thảm màu đỏ, và một cuộn gấm dài được trải tiếp từ tấm thảm đỏ, kéo thẳng đến khán đài ở phía Đông. Một tên, đến chiếc ghế chạm trổ đã đặt sẵn trên đài, phủ lên ghế một tấm da lông điểu trắng muốt, cực quý giá.
Kiệu đi vào giữa tấm thảm, từ từ hạ xuống. Sáu người, ăn mặc quái dị, trong đó có một nữ nhân tuổi chừng bốn mươi, mặt hoa da phấn, đôi mắt lóng lánh như thu ba, đầy vẽ dâm đãng. Tất cả mọi người đều nhận ra, đó chính là Giáo chủ Tiêu Dao giáo của Miêu tộc, Bành Dục nương nương. Năm tên còn lại, chính là cặp vợ chồng Âm Dương Song Hung, Tâm Xà Lang Quân Mã Cốt Ngạc, Tây Vực Mộ Khuyết Thần tăng, và một tên không rõ lai lịch. Sáu tên ma đầu đứng dàn hàng, mặt quay về phía khán đài chính, dọc theo đường gấm trải.
Từ trong kiệu, một bàn tay thò ra, vén rèm châu. Dương Tiêu bước ra khỏi kiệu, râu năm chòm phất phơ trước gió. Bộ võ phục trắng múa chạy chỉ vàng, giữa ngực, một con ó đen xòe cánh với những hạt châu đính long lanh. Thân hình dong dõng cao, khoác chiếc khăn choàng rộng màu đỏ rực, phía trong lót nền đen tuyền, y đứng im, ngửa mặt nhìn khắp, miệng mỉm cười khinh thị.
Cặp mắt quét tia nhìn như điện chớp, lóe ánh tinh quang như mắt mèo trong đêm tối, y nhìn nhanh hai lên hai khán đài và y tinh mắt nhận ra tức khắc: Trên khán đài chính, một chiếc ghế kê bên trái Viên Nhẫn Thần tăng vẫn còn để trống, và chiếc ghế chạm đầu cọp bên khán đài phía Tây, kê cao hẳn mọi chiếc ghế khác: không có người ngồi. Bất giác y cất tiếng cười: Ha... Ha... !
Trong bầu không khí khô đặc, nặng nề, tiếng cười của y cất lên làm cây lá xao động, chim muông vỗ cánh bay tan tác; người có công lực non yếu, cảm thấy hai màng tai lùng bùng, nhói buốt. Tiếng cười cứ thế tuôn ra ha hả không dứt, ngay sau đó, sáu tên đại ma đầu, không hẹn, cũng cất tiếng cười theo như điên dại, tạo thành như một sự khinh thị . Những tiếng cười như quyện vào nhau, xoắn lấy nhau, âm thanh như những mũi tên bắn vào tai chủ vị hào khách. Nhiều người phải vận công để chịu đựng, nhất là đám khách không mời mà đến, công phu non kém, phải bưng chặt lấy tai.
Một tiếng gầm từ trên khán đài chính. Tiếng gầm như long ngâm cất lên, tiếng gầm như của cọp báo, mạnh như thác vỡ, tỏa rộng thanh âm cùng khắp bốn hướng; nhưng lạ thay, tức khắc, mọi người cảm thấy nhẹ nhõm. Âm thanh như cọp rống quyện lấy tiếng cười nhức buốt như sát phạt và hóa giải. Tiếng gầm nồm nồm không dứt từ miệng của Viên Nhẫn Thần tăng...
Viên Nhẫn Phương trượng đã phải xử dụng đến Sư Tử Hống, một công phu tối thượng của Phật gia, để hóa giải Thiên Ma Tiếu Công của bọn ma đầu. Thanh âm tiếng cười của Dương Tiêu vẫn cất cao, cao ngất trong khi tiếng cười của bọn ma giáo đã tắt ngấm. Tiếng rống từ Viên Nhẫn cũng vút theo, như quyện lấy nhau trên không trung tít tắp rồi dần mất hút...
Dương Tiêu quay ngoắt người bước lên khán đài, sáu tên ma đầu bước theo; đồng thời bọn áo màu chia ra làm ba mươi toán, mỗi toán bảy người, bảy màu khác nhau, cũng bước lên theo, chia nhau thứ tự ngồi xuống.
Viên Nhẫn Thần tăng bỗng thoáng thấy từ khán đài phía Đông, một luồng khói mỏng xanh nhạt, khó nhìn ra, thoát từ tay áo của Bành Dục, Giáo chủ Tiêu Dao, nhằm về khán đài chính bay đến. Một mùi tanh bốc lên thoang thoảng trong không khí... Cùng lúc ấy, có tiếng quát từ nơi khán đài phía Tây, tiếng quát của Trương Cung Hoa:
- Tâm Ty cổ độc trùng!
Thoáng nghe đến Tâm Ty cổ độc trùng, mọi người đều rùng mình, sởn óc. Đó là loại độc trùng có cánh rất nhỏ, mắt thường không thấy được . Nếu một số lượng nhiều được phóng ra, sẽ có một màu xanh lơ rất mỏng, nhưng cũng may là loại trùng này không giấu được mùi chúng tiết ra, hết sức tanh tưới nhờ thế, mới có thể phát giác ra chúng được. Người trúng loại độc trùng này, trong bảy ngày, chúng đã len vào lục phủ ngũ tạng, toàn thân chết dần vì bị rửa nát, ra chất nước màu vàng. Không ai có thể thoát chết, bởi chẳng có thứ thuốc nào cứu chữa được.
Trong Vạn Độc Chân Kinh, liệt loại trùng này là loại kịch độc, đứng đầu vạn độc. Hồ Điệp tiên sinh đã nghiên cứu và tìm ra một loại thuốc diệt trừ chúng khi chúng còn chưa xâm nhập vào cơ thể; đó là một loại phấn hoa màu vàng của loài hoa có tên là Huyết Hoa Hoàng, loài hoa nay rất hiếm, chỉ mọc ở các vùng lam sơn chướng khí, cánh hoa màu đỏ. Để bảo tồn sự sống, chúng tự tiết ra một loại phấn màu vàng trên nhụy, bất cứ loại động, độc vật gì, khi chạm vào nhụy, đều bị tiêu hóa.
Một vật nhỏ bằng quả chanh, bay ra từ tay Trương Cung Hoa, khi đến gần đám khói xanh lơ, bỗng nổ tách một tiếng, và một đám khói vàng tỏa ra, lan rộng, với những tiếng lách tách liên hồi... Đám khói xanh càng nhạt dần và biến mất, toàn bộ cổ trùng độc Tâm Ty đã bị khu trừ.
Đám khói vàng với những hoạt nhỏ li ti, theo hướng gió, tỏa ra, cùng một luồng âm nhu đẩy đến, len lỏi vào khán đài phía Đông, hướng về và phủ lên thân người Bành Dục. Mụ phát hiện và chưa kịp phản ứng thì toàn bộ độc khí, độc vật mang trên người đã bị hóa giải; đám phấn hoa màu vàng rơi xuống, nở bung như hoa cải.
Bành Dục nương nương biết mình đã bị Huyết Hoa Hoàng được phấn phá hủy độc vật, độc khí trên người, mụ nổi giận, phóng vút ra giữa sân , chỉ mặt Trương Cung Hoa quát lớn:
- Chính mi, tên tiểu tử khốn kiếp kia, mi là thằng chó con nào mà dám phá hủy Tâm Ty cổ trùng của ta. Mau xuống đây nạp mạng cho bản giáo chủ!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-31 21:27:20Hoàng Dung>
Cung Hoa chưa biết đối phó ra sao, e làm hỏng đại sự, Viên Nhẫn Thần tăng đã đứng dậy, rời khỏi chỗ ngồi, tiến ra sân, nói:
- A Di Đà Phật ! Xin Bành Giáo chủ bớt giận, bần tăng có vài điều xin thưa cùng Dương Vương!
Tiếng Dương Tiêu vọng đến ngạo nghễ:
- Thiếu Lâm Phương trượng có gì cứ nói nghe thử!
- Dương Vương gia, bần tăng vì sự yên nguy của võ lâm, và hạnh phúc của trăm họ, có mấy lời muốn nói cùng Vương gia!
- Viên Nhẫn, ngươi muốn nói điều gì ta biết rồi. Nay đại quân ta đến đây, có nói gì thì cũng đã muộn. Nếu muốn sống, các ngươi chỉ còn một cách là tự trói mình để ta giải về triều, Hoàng đế sẽ xét xử; bằng không, ngày hôm nay quyết chẳng để một tên nào lọt lưới!
Viên Nhẫn Thần tăng vẫn nhịn nhục, nói:
- Bần tăng không phải vì sự sống chết mà nói...
- Dương Tiêu quát lớn:
- Thôi, đừng mở miệng nói nhăng nữa!
Viên Nhẫn biết đại sự đã hỏng, ông lặng lẽ cúi đầu thở dài chán nản!
Tâm Hư sư thái phóng mình xuống sân, đến gần Thần tăng thưa:
- Xin Phương trượng đừng phí lời vô ích với y, ta e rằng chính y mới phải làm việc tự trói mình, khấu đầu để van xin sự sống!
Tâm Hư quay sang Bành Dục nương nương nói:
- Bành thí chủ, phái Nga Mi và Tiêu Dao giáo các ngươi vốn không thù oán, vậy mà ngươi đã hạ sát của bản phái bốn đệ tử hồi năm ngoái. Ta chưa tiện gặp ngươi để hỏi việc nầy, nay ngươi đến đây, hãy nói cho biết!
Bành Dục nhướng cặp lông mày cong vút, lẳng lơ đôi mắt, đáp:
-Tâm Hư, chính ngươi đã xúc phạm đến danh dự môn đồ của ta, chả lẽ ngươi đã quên. Ta không bao giờ tha thứ cho bất cứ ai làm thương tổn bản giáo. Bốn môn đồ ngươi bị ta giết là quá ít, đúng ra ngươi phải cảm ơn bản giáo chủ mới phải, còn than van nỗi gì?
Đường roi của Tâm Hư sư thái như chớp giật phóng ra, tiếng rít xé lụa, nhằm vào các trọng huyệt trên người của Bành Dục đánh tới. Bành Dục quát lớn:
- Con tiện tỳ này...
Quát chưa dứt câu, mụ phải uốn cong người tránh đường roi của Sư thái , trong tay mụ từ lúc nào đã xuất hiện một cây roi bằng một loại cương ty đen nhánh, tung ra phản công tức thời. Hai người đàn bà mở đầu trận đánh mịt mù trời đất, kình lực từ hai đường roi rít lên ào ào như cuồng phong, thân ảnh của hai như bóng mờ...
Đường roi của Tâm Hư càng lúc càng vi diệu, chỉ nghe tiếng vu vu nổi lên, đầu roi như hàng vạn con rắn mổ đến. Bành Dục cũng không vừa, con roi trong tay mụ lúc cuốn, lúc đẩy, quấn lấy đường roi của Sư thái phản công; cả hàng ngàn người im lặng theo dõi trận mở đầu hào hứng.
Lần đầu tiên trong đời gặp tay kình địch, Bành Dục giở hết bình sinh tuyệt học mong đánh bại đối phương, dương uy trong thiên hạ. Hôm nay, nếu mụ hạ được một trong những Đại chưởng môn của võ lâm Trung Nguyên, uy danh mụ sẽ lừng lẫy, bởi vậy, mụ vận dụng toàn bộ công lực, giở hết độc chiêu, roi pháp của mụ ào ào như thác, lúc tỏa rộng như đám mây, lúc thu nhỏ như vệt khói, mong uy hiếp Tâm Hư vào hạ phong.
Tâm Hư sư thái đã giở đến tám, chín thành công lực, mọi chiêu thức đều bị Bành Dục hóa giải, trong lòng bà không khỏi thầm phục đối thủ. Tâm Hư càng lúc càng thu gọn đường roi kình lực vì thế ngày càng mãnh liệt.
Thấy đánh mãi không thể thủ thắng, sát cơ trong lòng bà nổi lên, Cửu Âm Chân Kinh từ lâu lắm bà đã không dùng đến, bỗng dưng phát tác, đường roi đột ngột như cơn lốc xoáy tít, chỉ thấy một vòng mờ ảo, những chiêu kịch độc quái dị tuôn ra liên tục, Bành Dục bấn loạn, thối lui liên tiếp Mụ đã vận dụng toàn lực nội gia chân khí, trên đỉnh đầu khói trắng bốc lên, y thị luôn bị ngộ hiểm. Cửu Âm Xuyên Sơn Quyết, đòn cực độc trong Cửu A^m Thần công được xử dụng, bóng roi mờ đi, nhưng như thác vỡ phủ kín người Bành Dục, và bỗng dưng biến mất, xuất hiện một đường thẳng như mũi tên đen phóng đến huyệt Tề mi nhanh hơn chớp giật. Bành Dục chỉ thấy nhói lên một cái, đầu roi đã xuyên thủng sọ, Bành Giáo chủ Tiêu Dao giáo chết không kịp ngáp.
Bọn cao thủ phía Đông ùa ra sân như bầy sói, cặp vợ chồng Âm Dương Song Hung vung Âm Dương kiếm vây chặt Viên Nhẫn Thần tăng đồng bộ tấn công. Tây Vực Mộ Khuyết Thần tăng, toàn thân một màu vàng chói cùng Mã Cốt Ngạc từ hai hướng tấn công Sư thái Tâm Hư. Bọn Thập Bát Kim Cương La Hán bị năm toán Thất Sát đoàn chia cắt bao vây. Dư Chân nhân giao thủ cùng một tên khác, không biết y là ai, nhưng luồng quái phong của y có sức mạnh di sơn, tà áo của Chân nhân bay tung phần phật như đứng trong cơn bão. Dư Chân nhân quát hỏi:
- Mi là ai! Nói mau!
Y trả lời, giọng lạnh lẽo:
- Ta ta họ Âu Dương. Từ Tây Vực tới. Hàm Mô Thượng Nhân Âu Dương Thái Hạ là ta!
Dư Chân nhân giật mình nghe thầm: "Tên này quả là hậu duệ của Tây Độc Âu Dương Phong, ta không thể coi thường", nghĩ xong ông già ngay Vô Cực kiếm tấn công tức khắc. Dương Tiêu, đến lúc nay y mới tung người khỏi khán đài. Thân thủ y như một con chim ưng, từ bàn tay trái vút lên cao một vật dài, đến độ cao hai mươi trưởng, nở bung thành một vệt lửa đỏ rực. Nhận được hiệu lệnh, tiếng tù và và tiếng trống thúc quân từ dưới chân đồi vang rền như sấm dậy. Năm ngàn quân kỵ, chưa kể số bộ binh vừa tham chiến vừa phục dịch, cuồn cuộn lên đồi, mở cuộc tấn công.
Dương Tiêu vừa đặt chân xuống đất, tay phải của y đã đánh ra một chướng, trúng một đệ tử của Nga Mi, vỡ tung lồng ngực.
Phạm Dao nhìn bao quát trận chiến, ra lệnh cho toàn bộ chức sắc của Minh giáo, lãnh đạo toàn thể giáo chúng, chặn đạo quân của Triều đình đang mở cuộc tiến.công. Thêm một đệ tử của Côn Lôn chết về tay Dương Tiêu. Y giống như một con mãnh sư ùa vào đàn dê, ra tay đánh giết. Trương Cung Hoa không thể chần chờ, chàng tung người nhảy vào chặn Dương Tiêu, giở ngay Cửu Dương Thần công và Càn Khôn Đại Na Di Tâm pháp lớp thứ bảy tấn công liền, đẩy Dương Tiêu thối lui hai bước. Dương Tiêu không ngờ đến việc này, y kinh ngạc nhìn người trai trẻ, miệng thốt:
- Ngươi . . . Ngươi . . . !
Cung Hoa đáp:
- Tại hạ là Trương Cung Hoa, thay mặt Gia phụ bồi tiếp Vương gia!
Biết gặp đại địch, Dương Tiêu không dám xem thường, y giở ngay Hàn Ngọc âm chưởng hợp với Càn Khôn Đại Na Di, xử dụng thân pháp Điêu Phong, tấn công liền để cướp lấy tiên cơ.
Hơn hai trăm tên trong bọn Thất Sát, đều là những tay cao thủ bậc nhất, tuyển từ các môn phái: Bạch Hạc, Điểm Thương, Thanh Thành, Long Môn, Cái Bang, và các tên cường đạo có võ công vào hàng số một số hai trong giang hồ, chúng chia ra bao vây Hoạt Phật đại sư, Thiên Hư đạo trưởng, Điền Hoành Thứ Lang, Hà Thái Hoàng, Chưởng môn nhân phái Côn Lôn, Chu Thần Toán, Chưởng môn nhân phái Không Động, Hỏa Vân kỳ khách Tiêu Đại Hùng, Bạch Hùng Khởi Quan Thiên Sách. Số còn lại, chúng chặn đánh những đệ tử của các môn phái và các cao thủ khác đến dự Đại hội. Trận loạn chiến diễn ra mờ đất.
Viên Nhẫn bị cặp âm Dương Song Hung tấn công, kiếm pháp âm Dương nghịch đảo của cặp vợ chồng này tương sinh tương khắc, biến hóa vô cùng ảo diệu, nội gia chân khí của chúng cũng hết sức dũng mãnh. Thần tăng giở vội Kim Cương Bất Hoại thần công, dồn chân khí tạo thành vô hình cương khí bảo vệ thân thể. Áo bào của ông phình ra như chiếc trống lớn, tay phải xử dụng Long Trảo thủ, tay trái vận Nam Hoa chỉ pháp, phản công. Công lực của Thần tăng đã đến mức siêu tuyệt, đối địch với hai địch nhân, ông vẫn ung dung, tuy chưa chiếm được thượng phong, nhưng chỉ phong của ông đánh bật Âm Dương kiếm của cặp vợ chồng ma đầu này không mấy khó khăn.
Tâm Hư sư thái bị Mã Cốt Ngạc cùng Mộ Khuyết Thần tăng liên thủ tấn công. Tâm Hư vừa hạ được Bành Dục, hào khí nổi lên, bà vận Cửu Âm Chân Kinh vào đường roi đang tỏa rộng. Công lực và võ học của hai tên ma đầu này không phải tầm thường, chúng không thua kém gì Bành Dục; hai tên hợp sức tấn công, trận đấu ác liệt hơn.
Trong đám sáu tên ma đầu này, riêng Âu Dương Thái Hạ là cao siêu hơn hết, tài nghệ của y giao đấu với Dư Chân nhân quả là kỳ phùng địch thủ. Cả hai đã đến giai đoạn sinh tử. Âu Dương Thái Hạ ngồi xổm trên đất, vận dụng công phu Hàm Mô, ngửa bàn tay nhả kình lực, giữa lòng bàn tay y một màu xanh tía. Sử dụng đến mức tối thượng Cửa Dương công, phối hợp Vô Cực kiếm, đường kiếm mỗi lúc một chậm, càng chậm kình lực càng lớn, Dư Chân nhân ngăn chặn kình lực như mũi dùi của địch thủ; cả hai đang trong tình trạng đấu nội lực nghiêm trọng...
Hoạt Phật đại sư, Thiên Hư đạo trưởng, bị bảy tên Thất Sát đoàn, vốn là cao thủ của năm môn phái hợp lại giao thủ, nhưng dù chúng có đem hết khả năng bình sinh, vẫn chưa chiếm được tiên cơ trước hai vị tiền bối của hai Đại phái. Hoạt Phật và Thiên Hư đạo trưởng xuyên đi, đảo lại trong bóng kiếm của Thất Tinh trận, nhàn nhã, ung dung. Điền Hoành Thứ Lang là đối phó có vẽ chật vật, ông phải vận dụng đến ngoại đẳng Hanshi mới giữ được quân bình, dù vậy bọn Thất Sát vẫn dần đi đến thế thượng phong...
Riêng về Thanh Phong và Minh Nguyệt, võ nghệ và nội lực, không thua sút với bất cứ một cao thủ nào trong võ lâm chính phái; với Thiên Cang Bắc Đẩu trận, cùng với đồng môn, đã loại được ba tên Thất Sát ra khỏi vòng chiến, ba tên khác vội vung kiếm trám vào, do đó thắng, bại chưa ngã ngũ. Ngoài ra, tất cả các cao thủ còn lại, đều bị Thất Tinh trận pháp của bọn Thất Sát áp đảo, nhất thời chưa bị đại bại, nhưng nếu kéo dài, khó bề chống nổi...
Ở góc sân bên trái, Dương Tiêu chưa thể chiếm được thế thượng phong trước một Cung Hoa tuấn nhã, thế trận vẫn ngang ngửa. Dương Tiêu, tuy chỉ luyện được đến lớp thứ bốn của Càn Khôn Đại Na Di, thua hẳn Trương Cung Hoa ba lớp, nhưng kinh nghiệm giao đấu một đời của y thì Cung hoa không thể bì kịp. Nội lực của y lại sung mãn hơn và Điêu Phong thân pháp cực kỳ ảo diệu. Hàn Ngọc Âm chưởng vừa tàn độc, vừa kỳ ảo, cùng với Cửu Dương công tương khắc tương sinh, bởi thế cả hai đã giao thủ trên ngàn chiêu mà vẫn ở thế quân bình.
Dương Tiêu càng đấu càng tự tin, y liếc nhanh, thấy nội bộ áp đảo đối phương có mòi thắng thế, hào khí y nổi lên, y vận âm chưởng Hàn Ngọc đến độ chót, tấn công và hóa giải Cửu Dương công, tuy không dễ dàng, nhưng y tiên liệu đối thủ không thể đủ chân lực để kéo dài trận đấu.
Trương Cung Hoa, chàng lần đầu tham chiến, lúc đầu có sự bỡ ngỡ, nhưng dần dần chàng đã thuần thục trong cách đối phó với một địch thủ tay trên già dặn. Mấy lần chàng trực diện đối chưởng với Dương Tiêu, Cung Hoa nhanh chóng nhận ra mình chân lực còn thua sút, nên cố tránh không để cho Dương Tiêu có dịp tạo thành việc giao đấu nội lực, chính vì thế, trận đấu vẫn giữ được sự cân đồng..
Lưng chừng đồi, hai ngàn năm trăm giáo chúng và các chức sắc của Minh giáo, năm lần đẩy lui được năm đợt tân công của quân Triều đình, lần thứ sáu, chúng dùng cây cối, đất đá lấp được một đoạn đường hào, tràn sang; tuy vậy, do bởi phạm vi khai mở không đủ rộng, thế tràn không ồ ạt, nên vẫn bị giáo chúng Ngũ Hành Kỳ tận diệt, xác người xác ngựa nằm xếp lớp dưới chân đồi, máu chan hòa mặt đất.
Bọn bộ binh đi theo, bắt đầu sử dụng cung tên xạ kích, giáo chúng phải tìm nơi ẩn núp dưới đường giao thông hào được Thổ Hậu kỳ đào đắp. Lợi dụng cơ hội, bọn chủ tướng xua quân mang theo cây rừng và đất đá tiếp tục lấp đường hào; chỗ hào lấp được ngày một rộng thêm, bọn kỵ binh và bộ chiến ùa sang mỗi lúc một nhiều hơn, giáo chúng Minh giáo liều chết đánh bật ra, số thương vong càng lúc càng tăng cho cả hai phía. Những chiếc áo trắng của các chức sắc trong Minh giáo đã nhuộm đỏ máu đào, mà cường độ tấn công vẫn không hề giảm, mỗi lúc mỗi điên cuồng thêm.
Bọn quân triều cuối cùng đã lập được đầu cầu, chúng ra sức đẩy lùi giáo chúng bật trở lên, tiếng la hét, tiếng địa lôi nổ, tiếng ầm ầm của đá gỗ lăn xuống như động đất, đợt này, số binh triều bị loại khỏi vòng chiến gần ba ngàn, nhưng bên giáo chúng cũng thiệt hại nhân số đến ba, bốn trăm người...
Trên sân đồi rộng bát ngát trước ngôi cổ tự, trận kịch đấu giữa các cao thủ võ lâm dường như cũng đi vào giai đoạn cuối Một số lớn môn đồ của các võ phái đã bị tàn sát, phần lớn bị giết dưới bàn tay của bọn Thất Sát đoàn. Viên Nhẫn đại sư không hổ danh là Phương trượng của Thiếu Lâm Tú Võ Lâm Bắc Đẩu của Trung Nguyên. Đại sư Phương trượng đã dồn cặp vợ chồng Song Hung vào tử địa của Kim Cương Bất Hoại thần công, một trong bảy mươi hai tuyệt kỷ của Thiếu Lâm Tự; Long Trảo thủ đã bóp vỡ bả vai phải của Âm Hung, chỉ phong Nam Hoa điểm trúng Kỳ môn huyệt của Dương Hung.
Loại được đôi này, quét mắt nhìn, thấy Tâm Hư sư thái đang giao thủ với cùng lúc hai đại địch đã có chiều khó khăn, Đại sư phóng mình tới nói nhanh:
- Sư thái để hai gã này cho bần tăng, mau tiếp tay cho Tiêu Đại Hùng!
Quả thật, Tiêu Đại Hùng đang lâm vào tuyệt địa. Họ Tiêu đã vận đến độ cuối của Hỏa Vân công, cùng với bảy mươi hai đường Thiểm Điện kiếm, ông đã loại được vài ba tên Thất Sát khỏi vị trí trận pháp của chúng, nhưng những tên đứng ngoài đã kịp thời nhảy vào, tiếp tục giữ vững liên hoàn thế thất tinh và tấn công ngay; đã vậy, Thất Tinh trận lại là một trận pháp biến hóa ảo diệu, chúng ráo riết tấn công liên tục. Trên đầu Tiêu Đại Hùng, khói trắng đã bốc lên mờ mờ, đôi mắt ông không còn tinh anh, sức phản kích đã bắt đầu rời rạc.
Tâm Hư sư thái tung người vào giữa trận, đường roi của bà kịp lúc đánh bật đường kiếm vô cùng lợi hại của gã Địa Kiếp, áp lực giảm xuống. Sư thái nói nhanh:
- Tiêu lão anh hùng, nhường chúng cho bần ni!
Vừa nói, bà chuyển uy lực vào đường roi, xoay trái người, bổ mạnh đầu roi vào đỉnh đầu gã bịt khăn trắng đang tấn công, Khốc Hư gục xuống không kêu được một tiếng. Trận pháp chúng rối loạn trong phút chốc, nhưng nhanh như cắt, hai tên khác đã nhảy vào ngay, thế chỗ cho Khốc Hư và Địa Kiếp. Tiêu Đại Hùng hít một hơi dài chân khí, ngưng thần, thu hồi nội lực, đồng thời nhìn thấy ngay Điền Hoành Thứ Lang cũng đang ở tình thế bị áp đảo dữ dội, không chần chừ, ông nhảy vào vòng chiến, vừa nói:
- Điền tứ gia, có lão phu trợ thủ !
Hoạt Phật đại sư đã lần lượt giết chết năm tên, Thiên Hư loại khỏi vòng chiến ba tên, nhưng bọn dự bị luôn không để trống trận pháp, trận chiến cứ thế giằng co không dứt...
Chu Chưởng môn phái Không Động đã tử trận, một phần ba số đệ tử cũng cùng một phần số. Chướng môn nhân phái Côn Lôn, Hà Thái Hoàng, cũng ở vào tình trạng ngộ hiểm, trong lúc trận đấu giữa Dương Tiêu và Trương Cung Hoa bước sang giai đoạn căng thẳng, sở học đã vận dụng đến mức chót...
Ngoài sườn đồi, trận chiến càng lúc càng trở nên khốc liệt Khoảng gần tám trăm giáo chúng của Minh giáo đã tử trận, số còn lại vẫn liều chết chống lại quân số Triều đình đang cố tiến qua Thạch Môn, một số đã vượt qua được thành lũy ngăn chặn hai bên. Mặt trời đã quá Ngọ. Tình thế ngàn cân treo sợi tóc...
Một tiếng hú từ xa vọng lại, thanh âm tiếng hú liên tục, không dứt, như khẩn trương, như báo hiệu... A^m thanh nội lực thật đáng sợ, càng gần, nghe chừng như xoắn óc; và từ bìa rừng dưới ngọn đồi, một bóng người thoắt như con Thần Điêu lướt gió, phóng mình lên đồi như một vệt khói. Và lạ lùng, là phía sau bóng người, một đám mây đen vần vũ bay theo. Bóng người lộn một vòng trên không như đại bàng cuốn gió, đáp xuống đỉnh Thạch Môn, trên người là bộ võ sinh một màu vàng rực, giữa ngực thêu một con chim Phượng tung đôi cánh rộng. Phượng Thánh = Trần Nguyên Huân đã đến.
Nguyên Huân đưa mắt nhìn khắp sân chùa rộng với tình trạng cực kỳ hỗn loạn đang diễn ra. Chàng đưa chiếc còi vô thanh lên miệng. Đám mây đen, bây giờ đã rõ là một bầy ong khổng lồ, như được hiệu lệnh, bay xòa xuống thấp, tỏa rộng vào .đám binh Triều. Đang thắng thế, đột nhiên bị bầy ong dữ tấn công, đội quân đông đúc hoảng loạn. Những vết chích như dùi nung đỏ châm vào khắp trên da thịt, nhức nhối . Sự hỗn loạn òa đến, chúng quay cuồng với bầy ong vò vẽ vì không thể đối phó, hàng ngũ đội quân tan rã nhanh chóng, chúng bỏ ngựa, vất khí giới, ôm đầu chạy tán loạn bất kể phương hướng. Bầy ong vẫn bay ùa theo, một số ngã lăn người xuống hào sâu có cắm chông nhọn, một số nhảy đại xuống dòng sông Cẩm Hà, bị lòng nước sâu cuồn cuộn chảy xiết, nhận chìm. Chỉ trong khoảnh khắc, cả một đạo quân triều hùng mạnh vỡ tan...
Ngũ Hành Kỳ còn lại được trên một ngàn bảy trăm người. Phạm Dao là người đầu tiên nhận ra Nguyên Huân, ông mừng rỡ hô lớn:
- Trần thiếu hiệp đã tới!
Tiếp theo là cả gần hai ngàn cái miệng reo hò mừng đón chàng thanh niên còn đứng trên đỉnh Thạch Môn. Nguyên Huân chỉ kịp vòng tay bái kiến. Chàng đứng yên một lúc rồi ngửa cổ lên trời, dồn hơi cất tiếng hú, tiếng hú cất cao, lan xa, rền rĩ, vọng đến những khu rừng xa, vọng đến những dãy núi xa, và thinh âm như vọng trở lại, hòa lẫn, uôm uôm không dứt... Chàng tung người lên cao, một tay là Huyền Thiết kiếm, tay kia là ỷ Thiên kiếm. Thân ảnh như vệt khói vàng, chỉ nghe tiếng kiếm phong rít lên, bọn Thất Sát chưa kịp nhận định, chưa kịp nhìn thấy gì, chỉ thấy mắt hoa lên, đầu đã lần lượt rơi khỏi cổ. Trên bốn mươi tên trong Thất Sát đoàn đã bị loại! Trận chiến thay đổi tức khắc.
Nguyên Huân lướt đến bên Dư Chân Nhân, chàng đình bộ, vái chào:
- Dư Lão tiền bối! Thứ lỗi cho cháu đã đến trễ...
Au Dương Thái Hạ, vừa nhìn thấy chàng thanh niên, y không nói không rằng, ngửa lòng bàn tay, nhả Hàm Mô kình lực Nguyên Huân khẽ cau mày, hữu chưởng xòe ra, một tiếng bùng vang lên, thân hình Thái Hạ Au Dương bị đánh tung lên cao, và khi rơi xuống trúng ngay đỉnh kỳ đài, mũi ngọn cờ xuyên suốt qua ngực y, lửng lơ chết giữa trời cao.
Nguyên Huân cất tiếng quát:
- Tất cả hãy ngừng tay!
Trương Cung Hoa lạng người nhảy khỏi vòng chiến. Nguyên Huân thoắt cái, đã đứng trước mặt Dương Tiêu lúc này vẫn còn đang sững sờ. Y nhìn chàng im lặng, một lát sau, cất tiếng hỏi:
- Tôn giá người họ Dương ở Chung Sơn?
- Xin Dương vương chớ vội! Ngài hãy cứ bình tâm vận công điều tức lấy lại nguyên khí. Chúng ta còn nhiều thì giờ để nói!
Dương Tiêu không nói, y ngồi xuống sân chùa nhắm mắt tọa công, khoảng bảy mươi tên Thất Sát còn lại trong hai trăm tên, đứng rút một chỗ sau lưng Dương Tiêu, những đôi mắt không lộ cảm xúc.
Nguyên Huân quay bước, chàng đi đến trước mặt Thiên Hư đạo trưởng và Điền Hoành Thứ Lang toan quỳ lạy.
Thiên Hư nói:
- Địệt nhi, khoan đã !
Nói xong, ông chỉ tay sang hướng Hoạt Phật đang đi đến, nói:
- Nguyên Huân! Đây là Đại ca của bọn chúng ta, là người đứng đầu trong Bát Đại Danh Gia đó!
Nguyên Huân chạy vội đến, chàng xúc động quỳ xuống dưới chân ông, đầu đập xuống đá binh binh kêu lên:
- Đại Bá phụ! Đại Bá phụ!...
Rồi nghẹn lời.
Hoạt Phật đại sư nâng Nguyên Huân dậy, trên đôi má ông, những giọt nước mắt như sương, nghẹn ngào nói:
- Tam đệ ta có được đứa con trai như thế này, hẳn cũng mỉm cười nơi chín suối...?!
Phạm Dao bước lại gần, cầm tay Nguyên Huân:
- Thiếu hiệp đến quá trễ, những tưởng không còn có ngày để mà tái kiến!
Nguyên Huân vòng tay thủ lễ, vừa như tạ lỗi, đáp:
- Chỉ vì đàn ong mà đến trễ - không thể bắt chúng bay liên tục được, xin... xin... Phạm tiền bối thứ lỗi cho!
- Sao Thiếu hiệp lại nói thế! Võ lâm Trung Nguyên hôm nay sở dĩ còn tồn tại cũng là nhờ Thiếu hiệp đó thôi!
Ông quay sang Trường Cung Hoa vừa bước đến:
- Xin phiền Tả sứ điều động thu dọn cho mọi việc. Xác quân binh ta dồn xuống hào sâu mà lấp đất lại tử tế, còn các môn đồ, đệ tử chẳng may của các môn phái, đại gia, xin cho biết ý chung để tùy nghi !
Ông dừng lại, thở dài:
- "Tội nghiệp?"
Nguyên Huân bước đến chỗ Viên Nhẫn Thần tăng, làm lễ tương kiến:
- Vãn bối Trần Nguyên Huân, xin bái kiến Phương trượng!
Viên Nhẫn Thần tăng từ bi chắp tay, đáp:
- Bần tăng thật vui mừng được gặp mặt Trần thí chủ, mong có ngày bản tự được đón tiếp thí chủ !
Chàng quay sang các nhân vật trong các đại phái và giang hồ, ân cần chào hỏi. Nguyên Huân nhìn lên kỳ đài, thấy xác của Âu Dương Thái Hạ còn nằm rủ trên đỉnh cột, chàng sử dụng thân pháp Điêu Phong, nhún người, bay vút lên như con Thần Điêu, đỡ lấy thi thể của hắn, nhẹ nhàng đáp xuống trước những con mắt thán phục của quần hùng.
Đến trước Viên Nhẫn, Nguyên Huân vòng tay thưa:
- Bổn phận của vãn bối còn chưa xong, xin Phương trượng cho phép được làm tròn!
- Trần thí chủ cứ tự nhiên hành sự!
Nguyên Huân chậm rãi đi đến giữa sân chùa, lúc này những xác chết đã được mang đi, quỳ xuống, ngước mặt lên trời cao, mắt nhắm lại, hai hàng lệ chan hòa, chàng khấn:
- Xin anh linh của Phụ thân chứng giám cho đứa con bất hiếu. Con, Nguyên Huân, ngày hôm nay: trả thù cho nhà, rửa hờn cho nước!
Chàng hướng về phương Nam, quê hương đất tổ Đại Việt lạy tám lạy. Đứng lên, Nguyên Huân sãi từng bước, từng bước chậm tiến đến chỗ Dương Tiêu ngồi, đứng trước mặt y, chàng ôn tồn lên tiếng:
- Vương gia, Vương gia cảm thấy sức khỏe như thế nào?
- Tại hạ quyết không khi nào thừa nước đục thả câu!
- Nội lực ta cũng sắp thu hồi!
Nguyên Huân nói:
- Bây giờ đã quá Ngọ, cuối giờ Mùi có được không?
Dương Vương nhếch mép:
- Lúc nào cũng được! Ngươi xử sự anh hùng như vậy có khi nào ân hận chăng?
Nguyên Huân mỉm cười:
- Dẫu chết cũng không khi nào. Một lời đã nói ra, sao phải ân hận?!
- Thôi được, ngươi... nhưng thôi, ta lúc nào cũng săn sàng!
Chưởng Kỳ sứ Kim Nhuệ kỳ Ngô Quán Trung mời toàn bộ quần hào về dãy nhà phía Tây dùng cơm, ông cũng thông báo, dãy nhà phía Đông cũng sẵn sàng cơm nước, nếu ai trong bọn Dương Tiêu có đói, cứ tự nhiên.
Phạm Dao cắt cử cao thủ, ngầm giám sát mọi hành động
của Dương Vương và bọn thuộc hạ. Đã giữa giờ Mùi, quần hùng kéo ra khán đài chờ đợi . Dương Vương và đồng bọn, từ phía Đông cũng bước ra, tất cả bọn áo màu im lìm ngồi trên khán đài. Dương Vương một mình bước ra giữa sân chùa, Nguyên Huân cũng bước đến đối diện.
Chàng chắp tay xá ba xá, nói:
- Xin Vương gia nhận cho ba xá này, đây là để tỏ lòng kính trọng đối với những người thân thuộc của Vương gia mà vãn bối đã được quen biết!
Cách cư xử của Nguyên Huân vô cùng đĩnh đạc và có đạo nghĩa phân minh, quần hùng vừa kinh ngạc lại vừa kính phục. Thốt nhiên sắc mặt chàng trở nên nghiêm nghị, cất tiếng nói lớn:
- Dương Tiêu, lúc nãy ông hỏi tên ta là gì? Ta họ Trần, tên Nguyên Huân, đứa con trai còn sót lại của Gia gia ta là Trần Nguyên Lữ. Cái tên này có gợi nhớ cho ông điều gì không?
Dương Tiêu nhíu mày suy nghĩ, y đáp:
- Ta quá bận rộn nhiều việc, nên chẳng quan tâm đến những diều nhỏ nhặt!
Nguyên Huân cười gằn hỏi:
- Ông không nhớ đó là quyền của ông, nhưng ba ngón tay của bàn tay trái của ông bị chặt đứt, hẳn ông chẳng thể quên?
Dương Tiêu tái mặt:
- Vậy ra, ngươi từ Đại Việt tới?
- Phải, để ta nhắc cho ông nhớ!
Một đêm cách đây mười chín năm, ông đã vì lòng tham mà giết hại cả một gia đình không có gì thù oán với ông, và cũng chính ông, vì lòng tham đó, đã xui giục Minh Thành Tổ xâm lược Tổ Quốc ta, tàn phá đất nước ta, sinh linh trăm họ Đại Việt như chim muông tan tác, sống như kiếp ngựa trâu..
Chàng lạnh lùng nói tiếp:
- Hôm nay, ta có ba việc khép ông vào tội chết:
Một là, mối gia thù giết hại cha ta, và hai vị Thúc thúc của ta, đả thương một vị khác trong nhóm Bát Đại Danh gia cùng gây nên cảnh binh đao chết chóc cho dân lành Đại Việt ông có dám nhận điều đó chăng?
- Đúng, ta nhận; ta có sợ gì mà không dám nhận!
Nguyên Huân cười cay đắng:
- Phải, ông ngạo nghễ và can trường lắm!
Việc thứ hai, ông là một tên phản đồ. Năm xưa, ông bái Dương Ly Cát lão nhân làm sư phụ, lão nhân đã nhận ông làm đệ tử, và quý hơn nữa là nhận ông làm nghĩa tử. ông vốn người họ Tiêu, thuộc dòng giống Khiết Đan, sau đổi ra họ Dương để bái phụ, và lấy họ Tiêu làm tên. Tên cũ của ông là Tiêu Ngọc Lang ( con chồn ngọc nhà họ Tiêu). Sau khi được Dương Ly Cát lão nhân truyền thụ hết võ công tuyệt học, ông đã ám toán Lão nhân một cách hèn mạt. Điều này ông có dám nhận chăng?
- Ngươi... làm sao ngươi biết được?
- Đó là lời thú nhận! Ta đây chính là dường tử đời thứ tư, Dương Phượng Thánh của Tuyệt Tình Đàm. Ta được Dương Long Điêu Lão Thái gia sai quét sạch cửa ngõ, vậy danh ta có thuận hay không?
Nguyên Huân ngừng một lát, tiếp:
- Thôi được ông không cãi tức là đã nhận. Còn điều thứ ba, ông là một con người cớ quá nhiều cuồng vọng, chính vì ông mà dân trăm họ Trung Nguyên bi cuốn vào vòng binh lửa, chính vì ông mà "Chính biến Tĩnh Nạn" năm xưa xảy ra, chính vì ông mà giang hồ vô lâm vấy máu, hôm nay, cũng chính vì ông mà bao nhiêu mạng người phải thác oan. Ta vì công đạo võ lâm, nhận lời ủy thác của Giáo chủ Minh giáo Trương đại nhân, cũng là của vô lâm chính phái Sư thái Tâm Hư truyền đến; vì công đạo ra tay. ông còn điều muốn nói chăng?
Dương Tiêu cười ha hả nói:
- Chú em, ngươi tự thị thái quá, bản lãnh ngươi bao lăm mà lớn lối lắm vậy, e quá đáng đó chăng ? Ngươi là bại tướng dưới tay ta, ngươi chớ lộng ngôn!
Nguyên Huân thản nhiên đáp:
- Hôm nay ta vì bằng ấy nghĩa vụ và bổn phận mà trả thù, ta có điều này muốn nói để ông yên tâm: Ta sẽ không hề sử dụng bất cứ một môn võ học nào của Trung Nguyên, ngay cả của nhà họ Dương, để trừng phạt ông. Ta chỉ dùng võ công thuần nhất của Đại Việt, và không nhờ bất cứ sự trợ thủ nào. Nếu ta không thắng nổi ông, ta sẽ tự sát ngay trước mắt ông!
Và đây là lời cuối cùng, ta sẽ sử dụng cây kiếm Ỷ Thiên để giao đấu cùng ông, cho hợp với ý trời "Ỷ Thiên tái xuất. Thùy dữ tương phong". Còn ông, có quyền lựa chọn sở trường của ông!
Dương Tiêu xòe tay đưa ra:
- Với ta, chỉ có hai bàn tay, còn ngươi, ngươi sẽ hối hận vì sự tự thị cao ngạo này!
Nguyên Huân lạnh lùng đáp:
- Sự lựa chọn tùy ở ông, ông có thể ngưng đấu để thay đổi quyết định ban đầu của mình!
Dương Tiêu biết rõ, ông đang đứng trước một bậc kỳ tài của thiên hạ, ông gạt bỏ mọi ý niệm của tức giận, của âu lo, để lòng lắng xuống yên tĩnh, như mặt hồ im gió. Nguyên Huân dịu dàng mời:
- Xin mời Vương gia ra tay!
Nói xong, chàng xuôi hai bàn tay chờ đợi. Hàng ngàn con người nín thở, hàng ngàn cặp mắt mở lớn. Suốt một vùng mênh mông của đấu trường im lìm căng thằng, hình như mọi người đã quên đi trận chiến tàn khốc và kinh hoàng đẫm máu vừa qua. Bây giờ đây, hai tuyệt nghệ cao thủ đang đứng im lặng trước mặt nhau mà như thấy trùng dương cuộn sóng.Trận quyết đấu một sống một chết, không còn con đường nào khác.
Nguyên Huân chợt nhớ về vùng trời xanh của quê nhà, những trưa hè im vắng, tiếng gió rì rào qua ngọn cây trong cái yên ả của những trưa nồng, dưới tàn trúc, sau lũy tre, tiếng kẻo kẹt của võng đưa, tiếng ngái ngủ của bà mẹ ru con; tất cả những hình ảnh êm đềm ấy đã đi qua, đã ngủ yên im lìm trong ký ức. Trong lòng chàng, nỗi êm ả nào lắng đọng, và cùng lúc như quên hết mọi điều... chìm dần trong hư tịch . . .
Hình ảnh trước mắt chàng, Dương Tiêu, cũng bình lặng như thế. Cái tĩnh đã tận cùng tất sinh cực động. Mọi người chỉ thấy bóng Dương Tiêu mờ đi, và như cùng một lúc, thân ảnh Nguyên Huân dường biến mất. Cuồng phong bốc lên, tiếng rít như xé lụa cùng lúc cũng nổi lên.
Thoắt một cái cả hai cùng đình bộ. Bàn tay trái của Dương Tiêu mở ra phía trước, chỉ lên trời cao, hữu chường để ngang ngực, chân đạp vào bộ vị bát quái, làn gió thổi xòa chiếc áo choàng màu đỏ thẩm...
Ỷ Thiên kiếm trong tay Nguyên Huân chúc mũi xuống đất, hững hờ. . . Kiếm từ từ nhích lên, dựng đứng trước mặt, từ từ ngã về phía trước, chĩa vào đối thủ, đôi mắt chàng loang loáng đảo những tia nhìn trên thân thể Dương Tiêu...
Kềm chế mọi huyệt đạo, Dương Tiêu đổi bộ vị liên tiếp, kình khí làm căng phồng áo quần bên trong, đẩy tà áo choàng bay dạt về phía sau; Dương Tiêu đã vận tận cùng nội gia chân lực của Hàn Ngọc âm chưởng và lớp thứ tư của Càn Khôn Đại Na Di.
Thoắt như bóng mờ, lúc tụ lại, lúc tan đi, Nguyên Huân đã nhập thần vào kiếm, hóa ý thành thân, Vân Hà Tỏa Kiếm khởi động, tiếng rít của kiếm phong rợn người, đường kiếm chém gió đã đến độ cực nhanh; nhưng mà với hàng ngàn người đang trố mắt nhìn, sao Ỷ Thiên kiếm dường như càng lúc càng chậm lại, trong khi kiếm phong nghe càng lúc càng mãnh liệt như bão táp? Trên đầu chàng, xung quanh chàng, xuất hiện một vòm mờ nhạt như khói nhẹ bao quanh, phản chiếu ánh nắng chiều từng luồng sáng nhỏ, to, dài, ngắn vây phủ toàn thân như hào quang; vậy mà đường kiếm Ỷ Thiên sao quá chậm!
Viên Nhẫn Thần tăng thết kêu lên:
- Ôi chao! Kiếm đã nhập ý, đang đến tận cùng cái động!
Hoạt Phật đại sư thì thầm:
- Chiêu Linh Quang Phá Vọng trong Vân Hà Tỏa Kiếm của Tam đệ ta sao kỳ dị làm vậy!
Trên trán của Dư Chân nhân, từng giọt mồ hôi tươm ra, ông quên hết mọi người chung quanh, nói một mình:
- Nhãn kiếm, Tâm kiếm, ý kiếm là đây chăng?
Trương Cung Hoa nhắm nghiền mắt lại, rồi mở bừng ra, mặt ướt đẫm mồ hôi, trán cau lại, rồi đôi mắt lại nhắm, lại mở ra, mà đường kiếm trên tay Nguyên Huân không hề di chuyển nữa, chỉ biến mất rồi dừng lại ở bộ vị khác chiếu trên người Dương Tiêu. Bỗng Trương Cung Hoa nói như reo:
- Ái chà! Tuyệt kiếm!
Nguyên Huân vẫn đình bộ, trên môi chàng như có nụ cười Dương Tiêu, như một đám khói đỏ dưới ráng chiều, không ai nhìn thấy rõ hình dạng, chiêu thức và bộ vị của y nữa . Lớp khí mỏng quanh người Nguyên Huân như mở rộng, tỏa ra, lúc như dồn nén lại, lúc như dòng sông êm xuôi dòng, lúc gợn lên như những con sóng nhỏ. Thiên Hư đạo trưởng nhìn sững giây lát rồi bất chợt reo lên:
- Đúng rồi, đúng rồi, đấy mới thật là Vân Hà Tỏa kiếm! Kỳ diệu thay !
Một luồng khói trắng như sợi chỉ mỏng cũng vừa xuất hiện trên đỉnh đầu Dương Tiêu, mỗi lúc một cao hơn; những cao thủ thượng thừa, có nhãn lực mới nhìn thấy giải khói mờ như có như không. Y đã dũng hết bình sinh tuyệt học của Hàn Ngọc Âm chưởng, Điêu Phong thân pháp, Lăng Ba vi bộ, cùng toàn bộ võ học của nhà họ Dương, Như ý Thần công biến trảo thành chỉ, biến chỉ thành kiếm, biến chưởng thành trảo; vậy mà, từ khởi thủy, ông ta chỉ mới tấn công đối thủ được ba chiêu khởi đầu, rồi hơn ngàn chiêu đã xuất thủ, chỉ là để xô, cuốn, chuyển, tránh những mũi kiếm như quỷ mị lúc có lúc không. ông không thể bắt kịp đường kiếm của địch thủ dầu trong ý nghĩ. Vậy mà, người ngoài cuộc cớ sao chỉ thấy kiếm Ỷ Thiên đứng im một chỗ, hoặc xoay chuyển
chậm chạp!
Nhiều võ lâm cao thủ hạng hai, ba trên giang hồ nhìn thấy hiện tượng trước mắt, lấy làm nghi hoặc; họ không biết phán đoán ra sao nữa, mà trận quyết đấu này, dĩ nhiên không ai nghĩ đó là trò đùa.
Viên Nhẫn Thần tăng ngồi im lìm như tham thiền nhập định, sắc mặt ông càng lúc càng bình thản, ánh mắt nhìn trận đấu như mơ màng... Cùng lúc ấy, như đã bước vào cõi không, thân ảnh Nguyên Huân chợt biến đi, với chàng, chỉ còn là tâm ảnh: Sát Na Vô Lượng Đại Định. Chỉ thấy Viên Nhẫn thoảng thết kêu lên:
- Chết! Lành thay!
Thân hình Dương Tiêu bắn tung ra xa, và thân hình Nguyên Huân ngưng tụ . Dưới chân Nguyên Huân, một cánh tay bị đứt lìa khỏi thân thể, những ngón tay vẫn còn co giật. Dương Tiêu ôm lấy cánh tay trái bị đứt gần sát bả vai, nhưng không một giọt máu cháy. Nguyên Huân nói:
- Vương gia chớ sợ, tại hạ đã điểm huyệt cầm huyết cho ngài rồi!
Trên huyệt Ấn đường của Dương Tiêu, một vệt đen như chàm xuất hiện: Võ công của y đã bị Nguyên Huân phế hủy. Dương Tiêu ngồi bệch xuống đất, hai mắt nhắm nghiền. Nguyên Huân nổi:
- Cánh tay trái của ngài đã đả thương Lục thúc của ta suốt đời thành phế nhân, nay ta hủy nó đi, bây giờ ngài có điều cuối cùng cần nói chăng?
Dương Tiêu mở đôi mắt nhìn, vẻ mệt mỏi:
- Có nhân tất có quả. Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu Đó là ý trời!
Giữa lúc ấy, một bóng người áo trắng chạy bay vào sân chùa, ngừng lại, nhìn ngơ ngác, tóc mây xỏa trong gió, Nguyên Huân nhận ra Bảo Thư, chàng kêu lên:
- Bảo Thư tỷ tỷ!
Bảo Thư đã nhìn thấy Dương Tiêu, Ngoại tổ của nàng, cụt một tây, mặt nhợt nhạt, đang ngồi xếp bằng dưới nền đá sân chùa. Nàng chạy ùa đến, quỳ xuống ôm cánh tay còn lại của Dương Tiêu, kêu lên đau đớn:
- Ngoại tổ ơi! Ngoại tổ ơi!
Nước mắt ràn rụa, Bảo Thư gục đầu lên vai Dương Tiêu khóc nức nở. Dương Tiêu nở nụ cười héo hắt:
- Bảo Thư, cháu đó ư! Cuối cùng chỉ một mình cháu nhớ đến ông!
- Ngoại tổ ơi, đã bao lần cháu van xin Ngoại tổ, mà Ngoại tổ có nghe cháu đâu! Ngoại tổ có thương cháu đâu, có thương ai đâu...!
- Thôi cháu, đã muộn rồi, cháu còn nói làm chi, ông rất
mừng là trước khi chết ông được gặp cháu ?
Bảo Thư đột ngột ngưng tiếng khóc, nàng đứng lên, quay sang Nguyên Huân, và bước về phía chàng. Đến trước Nguyên Huân, Bảo Thư quỳ sụp xuống, Nguyên Huân hết hoảng quỳ xuống bên nàng. Bảo Thư nức nở:
- Trần thiếu hiệp, tiện nữ không dám có lời trách cứ Thiếu hiệp. Việc làm của Thiếu hiệp là đứng đắn, tiện nữ đâu dám mở miệng van xin, nhưng Thiếu hiệp ơi, tiện nữ lẽ nào không đau lòng cho được... !
Nguyên Huân đỡ lấy bàn tay của Bảo Thư, đau xót nói:
- Tỷ tỷ ơi, lẽ nào tiểu đệ lại không có trái tim hay sao, lẽ nào tiểu đệ lại không nhớ đến tấm lòng của Phu nhân, của Vân Hạc ca ca và tỷ tỷ đối với tiểu đệ hay sao? Nhưng vì thù nhà quá nặng, nợ nước quá sâu, công đạo võ lâm quá trọng, tiểu đệ biết làm sao, biết xử thế nào bây giờ !
Bảo Thư nói, giọng nàng ngậm ngùi lẫn chua xót:
- Tiện nữ cầu xin Thiếu hiệp, cho tiện nữ được chết dưới tay Thiếu hiệp thay cho Ngoại tổ của tiện nữ. Tiện nữ xin được chết thay cho Người. Tiện nữ không hề oán trách, mà sẽ nhớ ơn Thiếu hiệp, độ trì cho Thiếu hiệp trọn đời!
Nguyên Huân nước mắt lưng tròng, chàng đứng lặng nghẹn ngào. Dư Chân nhân và Viên Nhẫn Thần tăng bước ra, Bảo Thư chạy đến ôm lấy chân của Dư Chân nhân, khóc:
- Sư Bá ơi, Sư Bá ơi, sao con khổ thế này. .. !
Nguyên Huân quỳ xuống giữa sân, ngửa mặt lên trời, chàng thầm khấn với hương hồn Gia phụ. Một lát sau chàng đến trước mặt Dương Tiêu. Bảo Thư mặt tái mét, đôi mắt mở lớn; nàng chờ đợi cái chết đến với Ngoại tổ của nàng. Nguyên Huân nhìn Dương Tiêu đăm đăm, chàng nói:
- Vương gia, nhân nào quả nấy. Xưa nay Vương gia tham tàn bạo ngược, cái kết quả ngày nay là điều không tránh khỏi Nhưng Vương gia đã có một hạt giống tốt, tuy chỉ phát sinh từ sự ích kỷ, Vương gia đã yêu thương cháu, chắt, vợ, con bằng một tấm lòng chân thật. Vì vậy, quả của nó nhỏ vào hạt giống tết bù trừ mà bớt xấu đi. Nay võ công của Ngài đã bị tại hạ phế hủy, tuổi đã cao, sống chết không còn bao lâu nữa. Thân đã tàn, lòng người tết xấu rồi Vương gia sẽ hiểu. Nay riêng cá nhân ta, mối thù đã rửa, như thế coi như là đã đủ!
Nói xong, chàng nhìn bọn Thất Sát, từ đầu đến giờ, đứng im thin thít sau lưng Dương Tiêu. Chàng nói:
- Các vị suốt đời lầm lẫn, đi vào con đường bạo ngược, bất nhân, hãy nhìn chung cục mà sáng mắt ra. Từ nay, ta mong các vị sửa đổi tính tình, cải tà quy chính, ấy là cái phúc của các vị chưa dứt, cũng là phúc trạch cho võ lâm, thiên hạ. Giờ các vị có thể an nhiên mà ra đi, hãy mang theo Vương gia của các vị!
Bọn Thất Sát thấy không còn đất sống, nay được lời của Nguyên Huân, như chui từ đáy mộ ra, chúng kéo nhau đến trước mặt Viên Nhẫn Phương trượng, Dư Chân Nhân, Nguyên Huân, dập đầu quỳ lạy, xong đứng lên. Đi ngang qua chỗ Dương Tiêu ngồi, một vài tên đứng lại, nhổ một bãi nước bọt, rồi lẳng lặng bỏ đi, chẳng còn tên nào.
Dương Tiêu nhắm mắt, vẻ mặt cực kỳ đau khổ. Riêng Bảo Thư, nàng ngồi ngất lịm trong vòng tay của Sư thái Tâm Hư, bà điểm vào các huyệt Nội quan, ấn đường, ế phong, cứu nàng hồi tỉnh. Bảo Thư tỉnh lại, ngơ ngác nhìn. Nàng rời khỏi vòng tay Sư thái, chạy vội đến trước Nguyên Huân, chắp tay cúi lạy:
- Huân đệ, hãy nhận cho ngu tỷ những lạy này!
Nguyên Huân vội vàng bước tránh sang một bên, đỡ Bảo Thư đứng dậy, nói:
- Thư tỷ, sao Thư tỷ làm vậy. Sao Thư tỷ ghét bỏ tiểu đệ thế!
Bảo Thư mắt mơ màng, như nhìn vào cõi không quạnh:
- Thư tỷ cũng ao ước được ghét bỏ Huân đệ lắm chứ! Thà ghét bỏ, thù hận mà hơn...
Trên đôi môi của người thiếu nữ mặn chát những giọt lệ nóng đã tràn mi...

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-31 22:38:33Hoàng Dung>
chương hai mươi sáu
Dứt uẩn tình, Bảo Thư đầu Phật
Thâu đệ tử, Sư thái đọc thơ.

Bảo Thư theo thân mẫu xuống thuyền vào một buổi sáng để trở về Võ Đang Sơn. Mẫu thân nàng, Vương phi, Vân  Hạc và Hoài Nam phải dỗ dành mãi nàng mới chịu theo về . Hân phu nhân ôm con gái, lau những giọt nước mắt trên đôi gò má xanh xao của nàng, bà dịu dàng nói:
- Mẹ chỉ có một mình con là gái, chẳng lẽ con lại không thương mẹ. Chính vì con, mẹ đã vạn dặm lặn lội về đây... Con đừng sợ, cha. con tuy nghiêm khắc, nhưng ông yêu thương con hơn cả chính thân ông. Việc con bỏ ra đi, cha con tuy có buồn giận thật, ông tủi hổ và đau xót; nhưng nếu con không muốn lấy chồng, cha mẹ cũng không ép con làm gì.Ngày xưa, mẹ mười lăm tuổi đã về làm vợ cha con, và mẹ đã sống hạnh phúc. Mẹ biết hạnh phúc không thể tìm mà có, muốn mà được. Nhưng hạnh phúc cũng tự mình mà ra, do duyên nghiệp mà nên; lựa chọn, tìm kiếm làm thế nào được!
Vương phi hiểu nỗi buồn của Bảo Thư, nỗi buồn giấu kín ấy bà hiểu là vì sao, Vương phi nói:
- Phu nhân nói thế là đúng lắm. Khi xưa Đức Thế Tôn, vì chúng sinh trầm luân trong cõi Ta bà, Người rời bỏ ngôi báu, thê nhi, quyết tìm ra con đường để cứu độ chúng sinh, Người nói: Sắc tức thị không, không tức thị sắc, vô tướng, vô tâm, vô sinh, vô diệt, chẳng qua dạy cho ta thấy cái phù du của một đời người. Đời người tuy ngắn mà dài, tuy dài mà ngắn, nào có gì đâu! Hạnh phúc, hoan lạc có giới hạn, mà đau khổ thì vô bờ. Bảo Thư, ta thương con lắm, ta hiểu con. Ta mong con hạnh phúc, nghĩa là con hãy quên đi hết mọi điều, tìm cho mình sự thư thái. Rồi hạnh phúc sẽ mở ra trong tận cùng nổi đau buồn mà mình gánh chịu. Cuộc đời có muôn ngàn mặt, điều ta tưởng rằng là châu ngọc, muốn giữ lấy, nhưng rồi chỉ toàn là nước mắt. Con hãy nghĩ lời ta nói, vì ta hiểu lòng con, Bảo Thư!
Hoài Nam ôm lấy Bảo Thư:
- Bảo Thư không thương Hoài Nam hay sao mà không muốn cùng Hoài Nam về thăm Võ Đang, thế là lẽ gì vậy !
Vân  Hạc nào biết nỗi buồn u uẩn trong lòng em gái, tưởng Bảo Thư ngại ngần vì đã làm buồn lòng Gia phụ, chàng an ủi khuyên giải mãi, Bảo Thư đành phải đổi buồn làm vui.
Theo những lời căn dặn của Nguyên Huân, Vương phi tỏ bày ý muốn, chuyến đi theo Hân phu nhân về thăm Võ Đang Sơn bằng phương tiện hải trình, Dương Vương vui vẻ bằng lòng ngay, ra lệnh trưng dụng một chiến thuyền cùng một đội thủy thủ tâm phúc để đưa gia đình ông về Nam. Chiến thuyền được thiết trí lại toàn bộ thành một chiếc du thuyền lộng lẫy, đầy đủ tiện nghi. Vì thế chuyến lên đường phải hoãn lại cả nửa tháng. Thuyền được lệnh đậu sẵn ở cửa bìển Lữ Thuận.
Mọi người bắt đầu chuyến đi trên một con thuyền nối trước và sau là bốn chiếc thuyền của quân binh đi theo hộ tống, cả đoàn xuôi theo dòng sông mất gần nửa tháng mới đến cửa Lữ Thuận. Thuyền bè san sát đậu, biển mênh mông tít tắp.. Lần đầu tiên được nhìn thấy biển cả bao la, ai cũng thấy e ngại trong lòng. Trần Thế Kiệt, viên võ quan thu quân được chỉ định làm thuyền trưởng này là người tâm phúc của Dương Vương, ông nhìn thấy nét lo âu của mọi người trấn an:
- Bẩm Vương phi, và Phu nhân, con thuyền này vốn tiền thân là một soái thuyền được tu sửa, nên sẽ không có gì đáng lo ngại cho việc hành trình, tiểu tướng sẽ cho chạy gần bờ, Vương phi , Phu nhân, cùng Quận chúa và các vị Công nương, Công tử hãy an tâm.
Trần Thế Kiệt là con trai của Trần Trí, hiện đang sung giữ chức Tổng binh, chỉ huy quân Minh, đang xâm lăng Đại Việt. Vốn là tay chân, phe cánh, nên Dương Vương mới trao cho y trách nhiệm đưa vợ con, thân thuộc về Võ Đang Sơn. Võ công của y cũng vào loại không thể xem thường, cộng với lòng trung thành, nên y được Dương Vương có phần biệt đãi. Mọi chuyện, mọi tin tức của chốn Triều đình y đều biết rõ. Y kể cho hai anh em Vân Hạc việc Minh Thành Tổ vừa băng hà trên đường từ biên ải lai kinh, Nhân Tôn lên ngôi, cũng như sự việc Dương Tiêu thân lãnh năm ngàn quân kỵ, một số bộ binh cùng hai trăm tướng binh, cao thủ đi tiểu trừ bọn đại phái võ lâm đang mở Đại hội. có mời đích danh Dương Vương tại Lăng Hoa Cương ở Hà Nam.
Được tin này, Bảo Thư hết sức lo lắng cho phái Võ Đang của cha, và nhất là sự an nguy cửa Nguyên Huân. Nàng phải lên đường, phải báo tin ngay cho mọi người đang tham dự Đại hội. Mọi người đang lâm nguy, nàng không thể không cứu. Nàng không muốn Ngoại tổ của nàng phạm thêm tội ác gây thêm nợ máu với võ lâm đồng đạo. Nàng để thư lại cho Mẫu thân, cho Vân Hạc lý do nàng ra đi.
Nửa đêm, Bảo Thư lén rời thuyền lên bờ, vào thị trấn biển tìm mua ngựa, rồi một thân, một kiếm lên đường. Đường từ Lữ Thuận đến Lăng Hoa Cương xa hơn từ Yên Kinh tới. Bảo Thư đến trễ. Máu mọi người đã đổ, và tính mạng của Dương Tiêu, Ngoại tổ nàng - tấm thân già ngập nợ máu đang đợi chết dưới tay Nguyên Huân...
Dương Vương đã được tha chết, Bảo Thư mang lệnh bài của ông triệu tập đám quân binh còn lại. Nàng cẩn trọng giao Ngoại tổ cho bọn họ đưa ông về Yên Kinh. Bọn quân binh bị một trận ong đốt dữ dội, trong lòng còn đầy hoảng hốt, mặt mũi sưng vù nhức nhối. Một trận đánh, một đoàn quân trở về thảm hại.
Quang Minh Tả sứ Pháp Minh Dương Vương đã không về tới Yên Kinh. Trên đường trở về, một đêm, ông đã âm thầm bỏ ra đi; từ đó về sau, không còn ai trông thấy, không còn nghe nói đến ông nữa...
 
***

 
Khu vực Lăng Hoa Tự đêm ấy, đèn đuốc được đốt sáng rực, Giáo chúng Ngũ Hành Kỳ đã dọn dẹp sạch những vết tích của trận chiến để lại. Những người chết được chôn cất tử tế đa số người bị thương tích đưa vào dãy nhà sau, Trường Cung Hoa kế thừa nghề y dược của cha, chàng tận tình săn sóc, chữa trị không ngơi tay. Trước khi một đại tiệc được mở ra, ăn mừng ngày giang hồ lặng sóng, Viên Nhẫn Phương trượng niệm kinh giải oan cho những người vừa khuất bóng. Minh giáo thắp hương tưởng niệm số giáo đồ đã hy sinh.
Tiệc được đặt ra giữa sân chùa rộng bát ngát dưới ánh trăng thu trải vàng lên vạn vật. Mọi người tuy mừng vui, hoan hỉ, nhưng vẫn không giấu được nổi buồn kẻ còn người mất, như một thoáng chiêm bao.
Bảo Thư âm thầm ngồi lặng lẽ riêng một góc, ngước mắt nhìn bóng trăng vằng vặc giữa trời, cơn phiền não trong nàng dần như dịu đi. Đứng lên, Bảo Thư hướng về căn phòng nhỏ nằm trong dãy nhà phía sau chùa, nàng bước vào, lẳng lặng đến trước mặt Tâm Hư sư thái sụp lạy...
Khi Chu Chỉ Nhược lên Nga Mi Sơn, người Sư tỷ của nàng là Kỷ Hiểu Phù đã lớn, còn nàng chỉ mới là một cô bé lên bảy. Từ đó đến nay thoắt đã năm mươi năm qua, bà không hề được biết mặt người Sư tỷ bất hạnh kia; đến khi lớn lên, bà thường được nghe các ni sư đồng môn lén lút, thầm thì nhắc đến cái chết đau đớn của Kỷ sư tỷ. Sư phụ bà, Diệt Tuyệt sư thái, đã tự tay giết chết người môn đệ mà bà thương yêu nhất. Chính Mẫn Quân sư tỷ đã kể lại cái chết tức tưởi của người con gái bất hạnh ấy. Vì vậy, nó ảnh hưởng đến bà không nhỏ.
Chu Chỉ Nhược đã yêu Trương Vô Kỵ ngay lần đầu gặp lại Khi Thường Ngộ Xuân thúc thúc dẫn bà ra đi, trao bà cho Trương Chân nhân và nhận Vô Kỵ đem đi chữa bệnh. Mười ba năm kể từ lần chia tay nơi bến sông ấy, thế mà khi gặp lại, bà nhận ra ngay, chú bé tám, chín tuổi năm xưa nào, giờ là một chàng trai tuấn tú, thông minh nhưng có phần xanh xao...
Bây giờ đây, Bảo Thư, cháu ngoại của Kỷ sư tỷ đang lạy chào bà với gương mặt đầy muộn phiền. Chỉ một liếc mắt, Tâm Hư sư thái hiểu ngay nỗi u uẩn nào trĩu nặng trong lòng người thiếu nữ... "Thư tỷ cũng ao ước được ghét bỏ Huân đệ lắm chứ! Thà ghét bỏ, thù hận mà hơn..."
Gần bốn mươi năm trước, bà cũng đã từng ao ước như thế, đã tỏ ra vẽ như thế, để che đậy nỗi đớn đau vò xé lòng bà. ôi, tình yêu oan nghiệt, mỗi người mỗi cảnh, chẳng ai giống ai; nhưng nỗi đớn đau thì bao giờ chẳng thế? Sư thái xót thương cho Bảo Thư, cho chính mình, cho Sư phụ, cho Tổ sư Quách Tường, người khai sáng ra Nga Mi phái.
Nguyên Huân đã trao cho bà thanh Ỷ Thiên kiếm trong lúc mọi người đang quần tụ quanh các bàn tiệc. Ngôi cổ tự đã được giáo chúng Minh giáo tu sửa lại trước ngày Đại hội. Bàn thờ Phật phảng phất hương hoa, Sư thái kính cẩn thắp nhang cắm vào lư đồng. Sau lưng bà, Bảo Thư cúi đầu quỳ gối, im lặng.
Buổi tối, khi Bảo Thư xin bà thí phát cho nàng quy y, ước muốn được nương bóng Thiền môn, lấy câu kinh tiếng kệ để lãng quên cõi trần tục đa đoan, bà đã nhìn sâu vào mắt nàng và nói: "Không câu kinh tiếng kệ nào tiêu trừ hay giải thoát mọi nỗi đau khổ của chúng sinh, không thể giải thoát cho con, cho ta được. Chỉ có chính bản thân mình, chính tâm mình, mới giải trừ cho chính mình mà thôi.."
Sư thái nhớ lại chính bà, suốt bốn mươi năm, giờ đây tâm nguyện của ân sư mới được hoàn thành, bà mới giải được lời thề độc ngày cũ. Nhưng bốn mươi năm trôi qua ấy, đã qua hết một đời người, lời thề được giải, nhưng bà chẳng còn lại gì ngoài chân tóc đã bạc, với tấm lòng héo hắt. Bà nhìn lên đôi mắt, nụ cười, khuôn mặt tự tại của đấng giải thoát bỗng như xóa sạch mọi ngõ ngách của cơn mê, cõi lòng Sư thái bỗng dưng thanh thoát. Bà quay lại, Bảo Thư vẫn quỳ sau lưng, tay chắp ngang ngực. Sư thái thương cảm nói:
- Bảo Thư ạ! Con hãy suy nghĩ kỹ đi, nếu đây chỉ là nhất thời trong lúc lòng con phiền não, sự thí phát quy y phỏng có ích gì!
Bảo Thư ngậm ngùi thưa:
- Bạch Sư thái, ý con đã quyết từ lâu. Cuộc trần ai hiu quạnh lắm, chỉ làm cho con chán chường mọi nỗi. Xin Sư thái thương xót lấy con!
- Bảo Thư, ta nói thật cùng con rằng, Thiền môn không phải là nơi trốn chạy, chẳng phải chỗ ẩn mình; mà nơi ấy sẽ cho con nhìn thấu cõi vô minh, Phật pháp sẽ soi tỏ cho con mọi điều; tất cả như giấc mộng, mọi thứ đều là không, để rũ hết bụi trần. Từ đó, chính con mới giải thoát cho mình được, mới an nhiên, mới thanh thản! Ta thương xót con, cũng như ta từng thương xót ta. Nếu đã là tâm nguyện của con, ngay bây giờ ta sẽ thí phát cho con, con đã sẵn sàng chưa?
- Bạch Sư thái, con đã luôn luôn sẵn sàng!
- Vậy thì, con hãy nghe ta nói: Nhục thể ta chỉ là một túi da nhơ bẩn, mỗi sợi tóc là một dây oan trói buộc ta trong chốn ngục hình bằng những sợi dây của tham, sân, si, của thất tình lục dục. Khi diệt được nó đi, linh hồn ta sẽ bay bỗng, tuệ trí ta sẽ sáng ngời. Nhưng muốn diệt được nó, ý thì không thể thành, tâm thì dễ động; tâm mà động thì bão tố nổi lên, thuyền ắt phải lênh đênh vùi dập... Bể khổ mênh mông, quay lại là đến bờ, ấy là biết vượt cái mê, về bến giác, con có hiểu không?
- Thưa con đã lấy cái tâm mà hiểu...
Tâm Hư sư thái dịu đàng:
- Không đâu con, không có gì ép mà được, cố mà nên, hãy để nó thuận theo dòng. Gượng vui thì buồn thêm, gượng quên lại càng nhớ. Con hãy nhớ điều ấy!
Cả hai quỳ trước bàn Phật. Bảo Thư phục mình xuống đất: "Lạy đức Thế Tôn, lạy mẹ Quan Thế Âm cứu khổ, xin phù trì cho linh hồn con yên nghỉ, xin cho con vượt qua cơn mê muội, để bình yên nơi Bến Giác.."
Sư thái cũng âm thầm khấn, xong, bà đứng dậy; trên tay bà, một thanh trủy thủ ánh thép xanh như nước, bà nói:
- Nam Mô A Di Đà Phật, xin cứu độ chúng sinh. Bảo Thư, Sư phụ thí phát cho con!
Từng sợi tóc mây rơi xuống lả tả, nước mắt Bảo Thư ràn rụa . Tâm Hư sư thái bỗng ngẩng đầu lên, bà nhìn thấy Nguyên Huân vừa bước vào Phật điện. Chàng sững người, kinh ngạc lẫn sợ hãi. Chạy đến bên Tâm Hư sư thái, Nguyên Huân thoảng thết kêu lên:
- Bảo Thư... Thư tỷ...
Một nửa mái tóc đã rơi xuống vai, xuống nền đất, nghe tiếng gọi vừa thoảng thết lẫn xót thương, đau đớn của Nguyên Huân, Bảo Thư rùng mình, song sau đó, gương mặt nàng chợt rạng rỡ:
- Huân đệ, hãy lại đây cùng chị! Giờ phút này đối với chị thiêng liêng là dường nào. Hãy lại đây, chung cùng với chị niềm vui này!
Nàng ngước lên nhìn Sư phụ:
- Bạch Sư phụ, xin cho Huân đệ của con thí phát cho con bên mái tóc còn lại này có được không?
Tâm Hư sư thái ngần ngừ một lát, rồi gọi:
- Trần thí chủ, hãy lại đây!
Nguyên Huân bước lại gần, Tâm Hư sư thái đưa con dao cho chàng nói:
- Bảo Thư muốn thí chủ giúp cho Báo Thư nửa mái đầu còn lại.
Nguyên Huân run rẩy xúc động cầm lấy con dao. Bảo Thư nói, giọng nàng hiền hòa, ôn nhu:
- Huân đệ, em hãy vui cùng chị, giúp chị thanh tẩy, để chị được yên lòng trong quãng đời tu hành. Hãy cất đi giùm chị, bởi mỗi sợi tóc là một nỗi khổ đau, mỗi sợi tóc là sợi dây trói buộc đời người, treo đời chị vào vực thẳm của tăm tối Hãy làm theo lời chị , một ước muốn cuối cùng chị có thể... Ôi Huân đệ của chị, Trời Phật độ trì đã khiến em đến cùng chị, chị chỉ còn mong ước có thế...
Giọng Bảo Thư nhỏ nhẹ, trầm tĩnh. Sư thái biết lòng nàng như dao cắt. Sự trầm tĩnh ấy chỉ là trạng thái của một tâm hồn đầy ắp nỗi đau.
Nguyên Huân đưa bàn tay vuốt lên mớ tóc mây. Bảo Thư rùng mình, nàng nhắm mắt lại. Nguyên Huân để rơi từng giọt nước mắt thương cảm lên mái tóc nàng, thấm xuống vai nàng; như có một phép màu, cõi lòng Bảo Thư dường ấm lại dịu đi và gương mặt nàng thanh khiết như một đóa sen. Nguyên Huân run run nói:
- Vâng... vâng... em xin chia vui cùng chị, em vâng theo lời chị, Bảo Thư yêu quý của em!
Đường dao mát lạnh da đầu nàng, mái tóc mây vĩnh viễn giã từ Bảo Thư. Nhắm mắt, lệ ứa mi, Bảo Thư thì thầm:
- Nguyên Huân, cảm ơn em!
Nguyên Huân cúi xuống thu nhặt mớ tóc của Bảo Thư gói lại, giữ nó trong tay và đứng lặng. Trên bàn Phật, mùi hương trầm ngào ngạt, ánh nến lung linh...
Tâm Hư sư thái phá tan sự yên lặng:
- Bảo Thư, con hãy đứng dậy, nghe ta nói đây!
Bảo Thư đứng lên, khuôn mặt nàng trang nghiêm, đôi mày cong vút hạ xuống, chắp tay, cúi đầu. Sư thái nói:
- Con hãy sang đây !
Bảo Thư theo Sư thái qua bàn thờ Tổ sư. Bà nhìn nàng:
- Ta đặt pháp danh cho con là BẢO THƯ, nghĩa là không thay đổi gì. Cuốn sách quý, ta mong vậy thay! Lát nữa đây, con sẽ đi cùng ta, sẽ rời bỏ chốn bụi trần bão lốc nay về một nơi thanh tịnh. Ta muốn thu nhận con làm đệ tử chân truyền Y Bát. Vậy con hãy làm lễ trước Linh vị Tổ sư, như Ngoại Tổ mẫu con, trên sáu mươi năm trước, đã hành lễ này!
Bà thắp sáu nén nhang, trao cho nàng ba cây, bà quỳ xuống khấn:
- Đệ tử là Chu Chỉ Nhược, Thái Chưởng môn đương đại, và là Chưởng Môn nhân đời thứ ba của Nga Mi phái, nay khấu đầu trước Tổ sư khẩn cầu, cho phép đệ tử thu nhận vị sư nữ nhỏ bé này làm môn đệ. Đệ tử tuyên đọc Môn quy bản phái, xin Tổ sư chứng giám lời thệ nguyện của tân môn đồ của Người.
Bà đứng dậy, quay lại Bảo Thư quỳ sau lưng, nói:
- Nay trước Linh vị của Đấng sáng lập môn phái, ta thừa mệnh người xưa, nhân danh Chưởng Môn nhân đời thứ ba của Nga Mi, thu nhận Hân Bảo Thư làm đệ tử chân truyền đời thứ tư Bảo Thư, con hãy lắng nghe Môn quy, và hãy thề trước Linh vị Người, nghiêm giữ Môn quy bản phái.
- Con xin vâng lời dạy!
Đợi Bảo Thư làm lễ xong, Sư thái trao cho nàng chiếc tăng bào của bà và xâu chuỗi bồ đề, bà khoác chiếc áo tu hành lên vai Bảo Thư, dịu dàng ôn tồn nói:
- Ta chúc con hoàn thành ý nguyện, ta tặng con hai câu thơ nầy:
"Trăng sáng núi cao, lòng tựa gió.
Nghìn năm tụ giữa hạt sương trong..."

Ngay đêm nay, cùng ta trở về nơi thanh tịnh. Lẽ biến thiên của ngàn năm, của đời người là thoáng chốc, trôi qua và tụ lại, trong suốt như giọt một sương mai... Tạm biệt Trần thí chủ, trước bàn thờ Tổ sư bản phái, bần ni xin được nói lời thâm tạ, từ nay, nếu thí chủ có điều gì cần đến, Nga Mi phái dẫu bước chân vào lửa đỏ, nguyện không dám từ nan!
Bảo Thư ngước mắt nhìn Nguyên Huân, phân vân một chút, rồi ôn nhu nói:
- Huân đệ, xin Huân đệ thưa lại với Mẫu thân cùng Thân phụ bần ni, Bảo Thư từ nay đã tìm được niềm an lạc. Bần ni chúc Huân đệ mọi điều như ý. Thôi, vĩnh biệt!
Nguyên Huân không biết nổi sao, chàng lặng lẽ đứng im, nhìn theo Tâm Hư sư thái và Bảo Thư âm thầm ra đi, không từ giả một ai. Trời đêm đã khuya, tiệc mừng chưa tàn. Trăng vành vạnh trên đỉnh trời cao, sương mù trên cánh rừng phía xa, thấm lạnh vai áo người đi...
o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-31 22:44:10Hoàng Dung>
chương hai mươi bẩy
Đường về đất Mẹ xa xôi quá
Thương nhớ lòng riêng tận cuối mây.


Sáng hôm sau, giang hồ hào khách lần lượt từ tạ lên đường. Nguyên Huân khiêm nhường tiễn đưa từng người. Ai ai cũng muốn được cùng chàng kết giao. Nguyên Huân được mọi người yêu kính bởi chính phẩm cách của mình. Và từ đó tên tuổi Nguyên Huân vang khắp võ lâm Trung Nguyên; mọi người kể về chàng, nói về chàng do lòng yêu mến nể vì chứ không phải vì úy kỵ, người thì gọi chàng là Thiên hạ đệ nhất nhân, Nam thiên đệ nhất kiếm, nhưng với chàng, chàng chỉ là một phần thân thể của Tổ quốc Đại Việt.
Khi mọi người phần lớn đã ra về, chỉ còn lại một số quan khách đặc biệt ở lại do lời mời của Phạm Hữu sứ, để bàn bạc về sự ổn định, và hàn gắn vết thương của võ lâm Trung Nguyên do Dương Tiêu gây ra. Và chàng, là người được yêu mến mời chào một cách trân trọng.
Sau khi mọi việc đã được bàn bạc, Viên Nhẫn đại sư, cùng mười tám vị Kim Cương La Hán, trước khi lên đường về Thiếu Lâm Tự, đôi ba lần, hẹn mời chàng ghé thăm núi Thiếu Thất. Phương trượng nói:
- Thiếu hiệp, phong cách và tấm lòng rộng dung của Thiếu hiệp khiến cho bần tăng hết lòng kính mến. Thiếu Lâm Thiền môn mong có ngày mở rộng cửa để đón tiếp Thiếu hiệp!
Dư Chân nhân, Chưởng môn Võ Đang buồn bã bảo chàng:
- Hiền điệt, việc Bảo Thư xuống tóc quy y, riêng ta đó là đại phúc, nhưng vợ chồng Lục đệ ta chắc sẽ buồn lắm. Ta mong có ngày con trở lại Võ Đang Sơn. Ta cũng đã già lắm rồi, chẳng còn bao lâu nữa, ta mong mỏi ngày con trở lại!
Bọn Võ Đang Thất kiếm vây lấy chàng, bịn rịn không rời. Nguyên Huân hứa với họ ngày nào, khi đất nước chàng thoát khỏi ách đô hộ, chàng sẽ trở về núi Võ Đang thăm viếng. Tiêu lão anh hùng bảo chàng:
- Nguyên Huân, mọi việc đã xong, ngươi có về Mộc Châu không?
- Nghĩa phụ, con mong ngày đêm được trở về quê hương...
Tiêu Đại Hùng cười nói:
- Ta cứ nghĩ ngươi không còn nhớ đến Uyển Thanh nữa chứ. Chỉ sợ có vị cô nương nào buộc tóc vào cổ chân ngươi rồi! Lần này, còn lâu lắm ta mới gặp lại ngươi và Nhạc phụ ngươi đấy !
Nguyên Huân chộp lấy bàn tay ông:
- Nghĩa phụ còn phải đi đâu? Xin hãy trở về cùng con!
Vẻ mặt Tiêu Đại Hùng bỗng dưng có đám mây che phủ, ông buồn bã nói:
- Việc khôi phục lại Tổ quốc cũ của ta, nay không còn một chút hy vọng. Hai trăm năm đã trôi qua, lòng người mấy ai côn nhớ đến cố quốc! Chuyến này, ta theo Điền tứ thúc của ngươi sang Phù Tang một chuyến, không biết ngày nào trở lại.  Điền Hoành Thứ Lang nói:
- Trần hiền điệt, ta với Nhị ca mới từ Đại Việt về cùng với Đại ca ta và Nghĩa phụ con. Đất nước ngươi đang chuyển mình, đang cần đến tấm thân vũ dũng của ngươi. Ta đã cùng Đại ca, Nhị ca, tế mộ Tam ca và Thất, Bát đệ. Ta rất vui mừng có ngày hôm nay! Lần này ta mời cả Đại ca ta về quê hương ta một chuyến, chúng ta già cả rồi, chỉ mong sao con cháu nên người hữu dụng. Trong đời còn lại, chắc gì gặp lại con lần nữa, đó là lẽ thường tình!
Hoạt Phật đại sư cười nói:
- Chúng ta đã trót sinh ra trong gió bụi, thì phân ly cũng là chuyện bình thường, Tứ đệ lưu luyến làm chi; nay Tam đệ có người nối dõi anh hừng như thế, chúng ta cũng được thơm lây!
Thiên Hư đạo trưởng giọng cảm khái:
- Lục đệ, Tam đệ và Thất, Bát đệ an thần ở phương Nam. Tiểu đệ, Đại ca và Tứ, Ngũ đệ phiêu hết nơi phương Bắc; Bát Đại Danh gia chúng ta một thời oanh liệt. Từ nay nhìn Nam Tào, Bắc Đẩu là thấy nhau. Huân nhi, có phải thế không?
Tiêu Đại Hùng nói:
- Huân nhi, ta quên chưa nói lại cho ngươi biết, một năm sau ngày ngươi ra đi, ngôi nhà cũ đã không còn ở được, Nhạc phụ và Uyển Thanh ngươi phải đến Gia Hưng tá túc với Xa Khả Tham " Xích Y Nghĩa quân thủ lĩnh". Uyển Thanh tham gia chiến đấu trong hàng ngũ nghĩa quân, lập được nhiều chiến công, nhưng... Thôi, dài dòng làm chi...!
Khi ta và Hoạt Phật đại ca rời Đại Việt, thì Đoàn Nhạc phụ ngươi có nói với ta sẽ trở về nơi căn nhà cũ bên Vân Mộng Hồ. Nếu có về, cho ta, cho chúng ta gửi lời chào y. Nay y và vợ con sẽ sum họp một nhà, ta cũng tiếc là không có mặt. Thôi bọn ta đi đây!
Hôm Nguyên Huân lên đường xuôi Nam, toàn bộ chức sắc và giáo chúng Minh giáo đưa tiễn đến ngoài hai mươi dặm, tất cả đều tỏ ra quyến luyến. Trương Cung Hoa luôn sánh bước bên chàng, tình bạn cao quý của đôi bằng hữu anh hùng theo thời gian, ngày càng sâu đậm.
Phạm Dao lúc chia tay với Nguyên Huân, ông nói:
- Minh giáo đã quyết định chọn Lăng Hoa Cương làm Tổng Đàn để nhớ mãi những giờ phút nguy nan. Có được ngày hôm nay, ân đức của Thiếu hiệp đối với bản giáo thật là quá trọng. Mong một ngày nào, Thiếu hiệp ghé thăm, Minh giáo chúng tôi nặng lòng chờ đợi!
Nguyên Huân vòng tay tạ từ nói:
- Xin Hữu Sứ đừng nói như thế! Tấm thân của vãn bối còn có ngày hữu dụng chính là nhờ Hữu Sứ và Giáo chủ đã ban cho, dẫu có nát thân cũng chưa báo đáp được muôn một!
Chàng nói xong, cung mình vái chào tất cả rồi tung người lên mình ngựa. Chạy được một quãng xa, quay nhìn lại, thấy giáo chúng của Minh giáo vẫn đứng im nhìn theo cho đến khi cây rừng che khuất...
Từ Lăng Hoa Cương, Nguyên Huân trở về Tuyệt Tình Đàm. Nghĩa mẫu thấy chàng trở về, bà mừng rơi lệ:
- Mấy đêm rồi mẹ nằm mơ thấy con. Mẹ cứ nghĩ chuyến này con ra đi, phải lâu lắm mẹ mới gặp lại được con!
Nguyên Huân mang tất cả những sự việc chàng trải qua kể lại. Dương Qui Loan ôm lấy cánh tay chàng, thần thái., rạng rỡ:
- Thế là từ nay trong giới võ lâm Trung Nguyên con vang danh, mà còn...
Nguyên Huân gạt đi, nói:
- Mẹ, có phải con muốn vung kiếm lập danh đâu, con chỉ vì bổn phận, vì nghĩa vụ, vì trọng trách, con không nghĩ gì khác ? Nghĩa vụ lớn hơn còn chờ con ở quê nhà. Mẹ ạ, không biết Nội tổ, khi biết con tha chết cho Dương Tiêu, người có trách mắng không?
- Mẹ nghĩ là không đâu! Cái sống, cái chết, đối với một người đã dấn thân vào chốn giang hồ nào có đáng kể. Nay y thân tàn ma dại, võ công chẳng còn, người đời khinh thường xa lánh, như thế chết còn hơn sống, một kiếp sống thừa đầy tủi nhục. Con xem, đối với một nhân vật quyền khuynh thiên hạ như y, thì có hình phạt nào đau đớn hơn nữa ! Con đã rửa được mối thù cho hai họ Dương, Trần một cách xứng đáng, mà vẫn được tiếng là nhân hậu, rộng lượng, làm sao mà Lão nhân gia lại trách cứ con được!
Quả đúng như lời Nghĩa mẫu, Dương lão gia nói:
- Ngươi quả xứng đáng với lòng kỳ vọng của ta. Con đã hài tội y một cách minh bạch, phế hủy võ công, tha chết cho y như một con chó ghẻ . Hương hồn con ta từ nay đã được rửa hờn, và ta, ta cũng thấy cuộc sống của ta cũng là quá đủ !
Nói xong, ông cất tiếng cười, tiếng cười dường xô dạt mái ngói, xao xác chim muông, vút tận trời cao, cao mãi, rồi bỗng dưng dừng lại đột ngột: Dương Qui Loan hết hoảng nhận ra ông đã viên tịch. Dương lão nhân đã sống dài hơn hai lần người khác. Ông chết trong tiếng cười thanh thỏa, hào sảng và bình yên, như một người trở về quê thật của mình. Lão nhân được an táng trong một thạch động nằm ẩn sâu dưới đáy Tuyệt Tình Đàm, nơi ngày xưa, Thần Điêu Hiệp Lữ Dương Qua đã đến đây tự trầm, nhưng đã tìm lại được người mà ông suốt đời yêu dấu, trong lòng thạch động thần tiên này. Từ đó, những người trong họ Dương lìa trần được an táng nơi đây, với tất cả kỷ vật trong suốt đời họ. Nơi này, vì thế được xem như một thánh địa.
Hai mươi ngày sau cái chết của Dương Long Điêu lão nhân, Dương Qui Loan thấy nghĩa tử của bà có vẽ bồn chồn, đứng ngồi không yên, bà gọi Nguyên Huân đến, nói cùng chàng:
- Con ạ ! Mẹ biết con còn nhiều nghĩa vụ với đất nước con, mẹ biết lòng con xốn xang, trăn trở lắm, mẹ thấy con không cần chờ đủ thất tuần của Thái gia nữa con ạ. Chúng ta là những người của võ lâm, không nên câu nệ tiểu tiết. Mẹ chỉ mong, khi thành toàn nghĩa vụ, con sớm trở về thăm mẹ. Mẹ không có quyền giữ con lâu hơn một ngày, khi đất nước con còn đang điêu linh, tổ quốc Đại Việt của con còn trong vòng xiềng xích!
Suốt đêm hôm ấy, hai mẹ con ngồi dưới gốc mai già, bà dặn dò từng chút; Nguyên Huân nhìn Nghĩa mẫu tràn ngập thương yêu, chàng hứa với bà, một ngày đất tổ phương Nam sạch bóng quân Minh, chàng sẽ quay trở lại...
 

Mờ sáng hôm sau, chàng lên đường theo ngã Nam đạo. Xuyên qua khỏi thác nước, Nguyên Huân trở về chốn cũ. Chiếc khăn chàng bỏ quên trên một nhánh cây vẫn còn đấy, nhưng theo thời gian mưa nắng đã mục nát. Bốn năm đã trôi qua, kể từ ngày chàng tình cờ bắt gặp thanh Trủy Thủ của nhà họ Dương bên bờ thác. Bốn năm trôi qua như một giấc mộng. Bao nhiêu điều đã xảy ra, bao nhiêu gian lao, hiểm nguy. Và chàng, bằng tấm lòng và ý chí, chàng đã vượt qua và đạt được trọn vẹn những ước mơ, mong mỏi.
Giờ đây, trên con đường ngược về đất tổ, lòng chàng nôn nao như đang đi đến chỗ hẹn với người yêu... Nguyên Huân mĩm cười khi so sánh điều ấy, vì rằng Tổ quốc chàng đang chờ chàng, và... và... cả Hoài Nam cũng đang chờ chàng...
Nguyên Huân ngậm ngùi nhớ đến Bảo Thư, những hình ảnh cũ sống dậy trong lòng. Mớ tóc mây của Bảo Thư, chàng đã đưa lại cho nàng trước lúc giã từ:
- Thư tỷ, đây là mái tóc của chị, chị hãy giữ lấy, dẫu sao cũng là một phần đời chị đã đi qua; dẫu đắng cay, dẫu hạnh phúc, cũng là một khoảng đời chị đã sống, như một tiền kiếp!
Hoài Nam sẽ buồn biết mấy, vì chàng biết Hoài Nam rất yêu quý Bảo Thư, nhưng mỗi người một cảnh đời, một kiếp nghiệp, làm thế nào khác được.
Nguyên Huân tìm đến nhà lão tiều phu, ông lão nhận ra chàng ngay, vồn vã lão nói:
- Ái chà, sao công tử đi lâu quá vậy? Con ngựa vẫn còn khỏe mạnh lắm!
Nói xong lão chạy ra nhà sau dắt ngựa lên, con Hoa Tâm nhận ra chàng, nó hí lên tỏ vẽ mừng rỡ. Bốn năm gặp lại lão tiều đã già đi nhiều. Cuộc đời như dòng nước, chảy càng lúc càng xiết. Nhìn căn nhà lụp xụp, hoang lạnh, chàng ân cần hỏi ông:
- Gia đình đi đâu hết cả rồi?
Lão tiều buồn bã trả lời:
- Năm ngoái, trời làm hạn hán, đói kém, lại thêm giặc giã, trộm cướp, dân tình đói khổ, gia đình lão phải ly tán mỗi người mỗi ngả kiếm sống qua ngày, Tiện nội không kham nổi đã qua đời!
- Sao lão trượng không bán con ngựa này để độ nhật?
Lão tiều trợn mắt:
- Công tử nói gì vậy! Công tử giao cho lão chăn giữ, có phải của lão đâu mà lão dám tùy tiện!
Nguyên Huân xúc động vì tấm lòng chân chính của lão tiều già nghèo khổ, chàng nói:
- Đây là một con ngựa, bề ngoài rất bình thường, nhưng nó thuộc loại ngựa kỳ, ngựa ký, Bạch Long Câu đấy. Lão trượng chăm sóc được đến nay, vãn bối cảm ơn lắm!
Nói xong chàng lấy ra một thỏi vàng, chừng trên mười lượng, và một viên ngọc, đưa bằng hai tay chàng nói:
- Tấm lòng của Lão trượng thật đáng quý, giữa lúc lòng người điên đảo, băng hoại, Lão trượng vẫn giữ được sự ngay thẳng, trong sạch. Có nhân tất có quả. Vãn bối gọi là cũng có chút lòng, không dám nói là trả công, mà là kính biếu Lão trượng chút đỉnh. Viên ngọc này cũng khoảng trăm lượng vàng ròng, xin Lão trượng nhận lấy, quần tụ gia đình lại!
Lấy thêm trong bọc ba viên ngọc nữa, chàng đưa cho lão tiều, nói:
- Ứớc vọng của văn bối thì lớn, mà cánh tay thì quá ngắn, xin Lão trượng nhận thêm ba viên này, chẳng là bao, nhưng vãn bối xin Lão trượng, vì nỗi khốn khổ của dân chúng trong sơn thôn này, tùy nghi trợ giúp cho họ, để gia đình được đoàn tụ, một ngày nào đó vãn bối sẽ trở lại thăm viếng Lão trượng!
Lão tiều họ Hạng run run đỡ lấy món quà tặng, cảm động nói :
- Công tử, xin công tử cho chúng tôi được biết Thần danh, để đời đời ghi nhớ!
Nguyên Huân cười bảo:
- Xin đừng bận tâm điều ấy, vãn bối người họ Trần ở phương Nam, nơi ấy cũng thống khổ lắm. Lão trượng ở lại bình an, vãn bối xin kiếu từ!
Nói xong chàng lên ngựa, phóng nước đại, đi thẳng...
Nguyên Huân đến Nam kinh vào những ngày đông giá. Chàng đã xa rời đất tổ bước qua năm thứ bảy. Mùa đông này, cũng là một mùa đông của bảy năm trước, ngày chàng ra đi. Hình ảnh Uyển Thanh tiễn chàng lên đường, đôi mắt nàng buồn vời vợi, ướt lệ trông theo, như mới hôm qua đây, vậy mà đã bảy năm, chàng đã trưởng thành sau bảy năm gian khổ, bảy năm đăng đẳng với bao nhiêu tang thương biến cải, vậy mà:

"Ôi khung trời cũ, hồn tôi cũ,
Để thấy như là mới sớm nay. . ."

Nguyên Huân tìm tới Bảo gia trang, chàng rất mừng khi gia nhân cho biết Thúc mẫu và Hoài Nam đã đến đây hơn mười ngày trước.
Nghe gia nhân báo tin chàng đến, Hoài Nam không kịp trang điểm, chạy ùa ra, sự mừng rỡ tột cùng là những giọt nước mắt. Chạy băng qua hoa viên, áo nàng vướng vào một nhánh cây lảo đảo suýt ngã . Nhanh như một cơn gió, Nguyên Huân đã đỡ nàng trong tay. Hoài Nam thì thầm:
- Huân ca, tiểu muội lo lắng ngày đêm...
Lời nàng nói đơn sơ mộc mạc, nhưng Nguyên Huân như thấy cả một trời hạnh phúc, chàng buộc miệng:
- Nam muội, ta cũng thế!
Chợt nhìn thấy chiếc áo lụa mỏng bị rách, một đường xẻ từ từ cánh tay lên vai, để lộ làn da trắng nõn, bất giác Nguyên Huân chợt thấy lòng xúc động, niềm xúc động kỳ lạ, như choáng ngợp, như ngây ngất, trái tim chàng đập rộn rã... nhưng cùng lúc, chàng mơ hồ cảm thấy một điều gì như tội i Bỗng dưng thấy Nguyên Huân im lặng và đôi mắt chàng long lanh nhìn vào cánh tay nàng, Hoài Nam quay nhìn về chợt hiểu, nàng khẽ kêu lên một tiếng - như con thú hiền lành bị một vết thương êm ái - mặt nàng đỏ hồng, màu đỏ lan đến cả vành tai, nàng cuống quít lấy tay kéo kín vạt tay áo rách lại, thốt lên ngượng ngùng:
- Huân ca!
Cởi vội chiếc áo khinh cừu phủ lên vai Hoài Nam, Nguyên Huân dịu dàng nói:
- Trời lạnh thế này, sao Nam muội không mặc áo ấm, lần sau thế nữa, ta không bằng lòng đâu!
Hoài Nam không cảm thấy cái lạnh của buổi mạnh đông, hơi ấm của thân thể Nguyên Huân còn đọng lại trên chiếc áo ngự hàn cho nàng cảm giác ngây ngất, gò má nàng nóng ran, và Hoài Nam chợt hiểu: nàng đã yêu, ôi tình yêu như mật ngọt. "Kỳ diệu thay khi nghĩ đến chàng, biển bỗng hẹp, trời xanh kia bỗng thấp, đất trời có hay không, chỉ còn lại chàng đầy ắp trong hồn ta, chỉ còn lại mình chàng, như ánh sáng, như bóng đêm, như mưa bay, như tuyết phủ.." Hoài Nam thoảng thốt cất tiếng gọi thầm, và trong thoáng chốc, Hoài Nam chợt thấy mình khôn lớn. ơi, nỗi buồn nào dịu dàng len lén đi vào tâm hồn nàng thơ ngây, tình yêu nào làm rực rỡ trái vườn xuân nàng chín đỏ, Hoài Nam mơ hồ nghe tiếng Nguyên Huân êm dịu bên tai, và tiếng nàng cũng mơ màng thốt khẽ :
- Dạ!
Tiếng "dạ" ngọt ngào, nhu mì biết bao. Nguyên Huân như thấy khung trời bỗng hồng lên, không gian chất ngất hương bay. Chàng mĩm cười nhái lại:
- Dạ...
Hoài Nam cúi đầu, mái tóc xoa che nửa mặt hoa, bất giác Nguyên Huân khẽ nắm lấy tay nàng, khẽ gọi:
- Hoài Nam!
- Dạ!
- Em đó ư!
Không! Không phải em đâu, chàng đó...
Hai bàn tay nàng nằm gọn trong tay Nguyên Huân. Hai người im lặng nhìn nhau, cho đến khi thấp thoáng có bóng người xuất hiện sau bụi trúc ngà. Lý Phi Yến bước nhanh đến, Nguyên Huân chạy lại đón bà:
- Thúc mẫu, Thúc mẫu có khỏe không?
Đoàn phu nhân rạng rỡ:
- Nguyên Huân, con đã đến rồi ư! Ta hết sức lo lắng cho con, con có gặp Bảo Thư không?
- Con có gặp!
- Sao nó không về cùng con?
Dạ... Thư tỷ...
Phu nhân giọng hốt hoảng:
- Huân nhi, ta hỏi, Bảo Thư làm sao rồi?
- Thư tỷ vẫn mạnh khỏe, gửi lời chào Thúc mẫu và Nam muội!
- Nhưng sao nó không về đây cùng với con?
- Thư tỷ đã thí phát quy y và theo Tâm Hư sư thái về Nga Mi Sơn rồi!
- Con nói sao? Nguyên Huân, Bảo Thư đã quy y?
- Vâng, thưa Thúc mẫu, Thư tỷ đã tìm thấy niềm an lạc!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-31 22:51:46Hoàng Dung>
Phu nhân thở dài:
- Con có hiểu vì đâu không?!
- Con chỉ biết Thư tỷ có nỗi đau buồn riêng, nhưng chị ấy không bao giờ thổ lộ; nên con cũng không rõ Thư tỷ đau buồn điều gì!
- Ôi! Sao vô tình quá vậy!
Phu nhân buột miệng nói. Nguyên Huân ngơ ngác:
- Thúc mẫu nói sao cơ?
- Không, ta chẳng nói gì cả ! Thôi, vào đây con, kể cho ta nghe mọi chuyện!
Sau khi nghe Nguyên Huân thuật lại mọi việc, Phu nhân lại thở dài, bà nói:
- Con cư xử như thế là phải lắm, oán thù nên cởi chứ không nên buộc. Y là người gây oán khắp võ lâm thiên hạ, nhưng y cũng có điều tết, đó là tấm lòng đối với gia đình, con cháu!
- Tiêu Đại Hùng bá phụ, Hoạt Phật đại sư, Thiên Hư đạo trưởng và Tứ thúc Điền Hoành Thứ Lang gửi lời kính thăm Thúc mẫu, Thúc mẫu có còn nhớ họ không?
- Ồ, ta nhớ lắm chứ! Cách đây hai mươi lăm năm, ngày ta với cha Uyển Thanh, Hoài Nam nên giai ngẫu, các vị ấy đều có mặt. Hoạt Phật Đại sư ca, Điền Hoành tứ ca ở phía nhà gái, Tiêu thứ gia, Thiên Hư nhị ca bên phía nhà trai. Năm ấy cũng là năm con ra đời Nguyên Huân ạ! Thoáng đó mà đã hai mươi lăm năm, cuộc đời trùng trùng bất hạnh, mà hạnh phúc nào thấy đâu ? Bây giờ đây, ngày trở lại quê xưa, tóc đã bạc, chân một thời đã mỏi...
Bà ngồi im, cả một trời quá khứ dồn về, bà thầm thì với nỗi niềm riêng cùng quá khứ của bà:

"Chàng vẫn biệt, phải không, đời vốn chát!
Cõi trăm năm gom lại được bao ngày
Mà mái tóc nhuốm sương chừng đã bạc
Hạnh phúc đời chưa hái đã xa bay..."


Ôi, những bài thơ bà viết thầm, bà gọi thầm trong suốt bao năm, giờ trở về trong trí tưởng như những vết dao đâm nát trái tim bà. Tiếng nức nở nhẹ của Hoài Nam đưa bà ra khỏi cõi muộn phiền, bà bước đến bên nàng, vuố tóc con gái, dịu dàng hỏi:
- Sao con khóc, Hoài Nam của mẹ?
- Con thương cảm, con tội nghiệp Bảo Thư. Mẹ ạ, sao đời buồn đến vậy?!
- Không phải thế đâu con ạ, ngay trong niềm vui đã ẩn chứa nỗi phiền muộn, bất an. . . Và con hãy hiểu, trong sự đau khổ tột cùng, ta vẫn có thể tìm thấy được nguồn an lạc, con phải mừng cho Bảo Thư mới phải. Nàng đã tìm được bản thể mình, mà bản thể đích thực, con ạ, không phải là niềm vui là nỗi buồn, mà chính là sự "không dưng" đó con!
Hoài Nam vẫn phiền muộn, nàng nghĩ "Bảo Thư ạ, chị chẳng thể tìm được niềm an lạc cho tâm hồn bởi sự trốn chạy. Chị chỉ có thể ẩn trốn được cái thân, nhưng làm sao xóa đi được hình ảnh của ngoại vật vẫn hiển hiện trong tâm tư chị? Sợi tóc kia nào có tội tình gì? Tại sao sự đớn đau lại bắt nguồn từ một điều cao đẹp! Chị yêu chàng, vâng, em hiểu lắm, chỉ mình em hiểu chị, bởi chính em cũng đã yêu chàng. Và bởi chính chị yêu chàng, nên em cũng yêu chị. Tình yêu, em chẳng hiểu nó là mấy, nhưng nó không là của riêng, em chắc chắn vậy. Khi em yêu chàng, em thấy em thuộc về chàng, chứ chàng không thuộc về em. Em đã xóa em đi, hà cớ sao em phải phiền muộn? Em hiện hữu bởi
chàng, chàng vui em vui, chàng khổ sầu, làm sao em vui sướng. Chị biết không, chàng thuộc về người khác, chị ruột của em đấy! Hai người đã lớn lên bên nhau, tâm tình sâu đậm, và lại đã hứa hôn với nhau từ nhỏ, thế mà em nào thấy đớn đau. Em chỉ thấy em là dòng suối mát, là tia nắng ấm cho chàng. Em chỉ mong có thế, Bảo Thư, sao chị hãy không như em...!
Có bước chân ngoài hành lang và tiếng cười ha hả của trang chủ Bảo Vĩnh Khang:
- Trần thiếu hiệp, thiếu hiệp định tránh mặt lão già hủ lậu này đó sao!
Nguyên Huân chạy vội ra khỏi tiểu sảnh, vui mừng vòng tay chào:
- Vãn bối vừa mới tới, xin kính chào Bảo chủ!
Bảo trang chủ, tuổi chừng sáu mươi, râu năm chòm còn đen nhánh, tia nhìn như điện, thân thể cao lớn, da hồng hào không một vết nhăn.
- Chia tay đã bốn năm rồi, Thiếu hiệp trông phong sương hơn độ nào. Lão phu được nghe bằng hữu nhắc đến Thiếu hiệp, ngày đêm mong tái kiến!
Nói xong ông cầm tay kéo Nguyên Huân đi:
- Lên trên này đã. Bạch Khởi Phùng mới từ Lăng Hoa Cương về, ghé thăm lão phu ngày hôm kia. Tiếc thật, lão phu bỏ mất cơ hội ngàn năm một thuở. Lần này, Thiếu hiệp không thể đi ngay được, bằng hữu võ lâm ớ Nam Trường Giang nhất quyết chẳng để Thiếu hiệp rời chân ngay đâu. Lão phu mới đi săn cùng đám bằng hữu, nghe gia nhân báo, lão phu quay về ngay, khách khứa chật ở trên Đại sảnh. Hôm nay, quyết cùng Thiếu hiệp tửu đấu một phen, không thể nào khác được!
Nói xong một tràng dài, Bảo Vĩnh Khang cất tiếng cười hào sảng. Trên mười người, tuổi chừng bơn mươi trở lên, nghe tiếng cười của Bảo chủ, ùa ra khỏi phòng khách lớn. Bảo chủ la lớn:
- Anh em, ta tóm được rồi đây này, đó, con Phượng thần đang ở trước mặt các bạn đó !
Nguyên Huân cung kính vòng tay chào mọi người. Một lão nhân chừng đã trên bảy mươi, bước lại, cầm lấy tay Nguyên Huân:
- Lão phu họ Tiết, khi xưa có được quen biết với Trần tam gia; ôi chao, Thiếu hiệp giống Tam đại gia như đúc. Phúc đức thay!
Nghe Tiết Thượng Quan nói, Nguyên Huân vội vã khom người , vòng tay thi lễ :
- Vãn bối không được biết Lão tiền bối quen biết với Gia phụ khi xưa, nên không tìm đến viếng thăm, xin tiền bối lượng thứ!
- Thiếu hiệp đừng khách khí như thế! Đúng là lớp sóng sau đè lớp sóng trước, đại phúc, đại phúc!
Chàng quay sang số hào khách của Bảo trang chủ, khiêm tốn thưa:
- Vãn bối là kẻ hậu sinh, được các vị Thúc bá yêu mến thế này, thật là đắc tội!
Nói xong, chàng thấp mình cúi chào một lần nữa. Mọi người đứng quanh, quan sát chàng một cách kín đáo, một người trong bọn lên tiếng:
- Nếu việc xảy ra ở Kình Dương đại hội, không do Bạch đại hiệp kể lại, thì lão phu nhất định không tin được!
Một người khác tiếp lời:
- Thương Linh đại gia nói sai rồi, hổ phụ sinh hổ tử. Ngày trước Tiểu đệ có quen biết với Mạc thất gia, võ công của Mạc Thiên Bằng ngày đó cũng rất mực cao thâm, ai ngờ, cả Tam gia, Thất gia, Bát gia đều uổng mạng dưới tay Dương lão tà; ngày nay quả là trời còn có mắt! Trần thiếu hiệp, mong Thiếu hiệp đừng chê bọn anh em chúng tôi là già cả hủ lậu, anh em trong hai đạo Hà Nam và Giang Tây mong mỏi được cùng Thiếu hiệp đàm đạo một phen!
Nguyên Huân nói:
- Vãn bối là hàng con cháu, xin các vị Thúc bá, nếu yêu thương xem vào hàng con cháu cũng đã vinh dự lắm rồi, chứ đâu dám ngang hàng vô lễ như thế!
Một người mặt đen, râu quai nón tua tủa, tiếng nói như chuông đồng:
- Hoắc Chính Trung nói lên tấm lòng của bằng hữu anh em chứ không có ý gì khách khí... Hứa Viễn Chí này cũng như anh em giang hồ đồng đạo, sở dĩ yêu quý Thiếu hiệp vì phong cách và đức độ của Thiếu hiệp đó thôi, chứ tài giỏi mà vô đạo chỉ khiến cho thiên hạ " Kính nhi viễn chi " mà thôi!
Từ ngày hôm đó, võ lâm hai đạo hắc, bạch suốt một dải Nam Trường Giang tấp nập tới lui không ngớt. Nguyên Huân tỏ lòng ái ngại. Bảo Vĩnh Khang cười ha hả nói:
- Trần huynh đệ, sao lại áy náy như thế? Trần huynh đệ coi lão phu là người thế nào? Cũng nhờ Thiếu hiệp yêu mến mà dừng chân, lão phu mới có dịp kết giao bằng hữu trong thiên hạ, nếu không, cứ như lão hủ này, có mời, vị tất đã có ai bước chân đến Bảo gia trang làm chi, Thiếu hiệp đừng nói thế!
Mãi nửa tháng sau, Nguyên Huân mới xin phép cáo từ được Bảo trang chủ nói:
- Nếu không phải vì quý quốc còn trong cơn binh lửa, lão phu chưa để Thiếu hiệp lên đường ngay được, chỉ xin một điều: Cuộc xâm lược Đại Việt không phải do cái dị tộc mà phát sinh, mà chỉ do lòng tham vô đáy của bọn Vua chúa, xui khiến sinh linh trăm họ vào cơn binh lửa tàn khốc, vì vậy khi Thiếu hiệp vì đất nước mà ra tay, kẻ nào đáng giết thì giết, xin buông tha cho bọn quân lính vô tội, chúng cũng là những nạn nhân của những mưu toan bạo ngược mà thôi!
Nguyên Huân đáp:
Điều này vãn bối đã hiểu, tình người không phân biệt chủng tộc, màu da, tiếng nói, phong tục. Cái đạo làm người là yêu mến mọi người, chữ Nhân kia lớn biết bao! Xin Lão trang chủ chớ bận tâm áy náy. Đau thương, máu lửa, càng giảm đi được chừng nào, thì vận nước càng hưng thịnh, cái Nhân càng sáng tỏ...
- Không ngờ Thiếu hiệp có tấm lòng Nhân đạo Đại độ như thế, lão phu xin bái phục!
- Vãn bối là hàng con, cháu, xin Bảo chủ đừng nói vậy!
Ngay sáng ngày hôm sau, Bảo Vĩnh Khang tặng Đoàn phu nhân một cặp ngựa, cùng cổ xe lớn và một người mã phu. Trang chủ nói:
- Xin Phu nhân và Trần thiếu hiệp đừng từ chối. Từ đây về Đại Việt, đường xa ngàn dặm, chỉ là phương tiện đỡ chân cho Phu nhân và Tiểu thư, và lão phu cũng tỏ được chút tình đối với người bạn già họ Đoàn năm xưa!
Đoàn phu nhân, Nguyên Huân và Hoài Nam bái tạ Bảo trang chủ lên đường, theo đường Hà Nam, Quí Châu, Vân Nam mà đi.
Trời mùa đông lạnh cóng, sang đến Quí Châu, Vân Nam, đường gập ghềnh khó đi, nên phải ngày đi, đêm nghỉ. Suốt trên đoạn đường từ Hà Nam đến Quí Châu, trên nóc xe, phất phới một lá cờ trắng thêu chữ "Bảo" màu đỏ tía, bọn cường đạo, sơn tặc thấy lá cờ này đều lánh xa, không dám phiền nhiễu.
Xe qua khỏi thủ phủ Vân Nam, đã bước vào khu vực núi rừng trùng điệp của Thập Vạn Đại Sơn. Đường núi quanh co, khúc khuỷu ít người qua lại. Trước đây, những đoàn quân đi xâm lược Đại Việt, chia làm hai ngã, một theo ngã Quế Lâm, Quảng Tây tràn vào vùng Lạng Sơn, một ngã khác xuyên qua Thập Vạn Đại Sơn, chọc mũi dùi vào vùng Mộc Châu mà tiến. Thương khách và thường dân ít ai dám qua lại sơn đạo này. Dân Hán tộc thưa thớt, ngoài Miêu tộc, còn một số các thị tộc thiểu số khác cư ngụ; bọn cường đạo thường lấy khu vực này làm căn cứ sơn trại. Phần lớn, giáo chúng Tiêu Dao độc giáo hoành hành...
Lúc ở Lăng Hoa Cương, Trương Cung Hoa đã tặng cho Nguyên Huân tám viên Huyết Hoa đạn chứa hoàng dược phấn để đề phòng độc khí của lam sơn và độc vật. Bởi vậy, vừa vào khu vực rừng núi, để bảo vệ sức khỏe cho Thúc mẫu và Hoài Nam, Nguyên Huân đã rắc đầy trong xe loại phấn hoa nay, gặp khí độc của loài hoa cỏ lạ, phấn hoa nở bung thành những đài hoa như hoa cải vàng, tỏa mùi thơm nhẹ. Một hôm, Hàn Thiết Trụ, người mã phu bắt đầu cảnh giác, nói với chàng:
- Thiếu hiệp, chúng ta sắp sửa ngang qua khu vực của Tổng đàn Tiêu Dao giáo phái, võ công của chúng đối với Thiếu hiệp thì thật không đáng kể, nhưng tài đánh độc của chúng là rất đáng ngại, xin Thiếu hiệp đề phòng!
Nguyên Huân đưa cho người mã phu viên Huyết hoa, bảo:
- Hàn hảo hán cứ việc giữ lấy viên này, khi chúng xuất hiện, hãy cứ bóp vỡ Huyết hoa, tức khắc có chỗ diệu dụng!
Quả nhiên, qua ngày thứ ba, một nhóm người ăn mặc hết sức kỳ dị, dẫn đầu là một thiếu nữ mặt hoa da phấn, mắt long lanh tình tứ, trang phục hở hang, sặc sỡ, đứng chặn đường xe, quát hỏi:
- Chiếc xe kia đi đâu! Dừng lại cho bản cô nương xét hỏi!
Hàn Thiết Trụ dừng xe lại cách một quảng. Bọn người ùa đến toan bao vây, họ Hàn không dám để chúng đến gần, quát:
- Các vị là ai, sao lại chặn đường xe thế?
Người thiếu nữ, trên người quấn chéo tấm vải hoa sặc sỡ từ vai trái qua nách phải, để lộ một bả vai và khoảng ngực trắng hồng, cổ tay, cổ chân trang sức những vòng vàng lấp lánh, nói:
- Ngươi bất tất phải biết chúng ta là ai! Có điều muốn sống, toàn bộ người trên xe xuống hết. Hành trang, vật dụng, cổ xe và cặp ngựa thuộc quyền của bản giáo từ lúc này...
- À, thì ra các vị là bọn Độc giáo, ta biết ngay...
- Tên mã phu kia, ngươi biết cái gì! Chúng ta đây là Tiêu Dao Thần giáo, ngươi lại dám gọi là Độc giáo, số ngươi đã đến ngày tận, đừng oán trách gì!
Từ tay thiếu nữ, một vệt sáng bay ra, lưỡi Liễu điệp phi đao nhắm ngực của người mã phu như ánh chớp. Tay cầm cương của Hàn Thiết Trụ vẫn không cất lên, chỉ có bàn tay xoay ngang, chiếc roi ngựa phóng ra, chỉ nghe một tiếng " keng", lưỡi phi đao bị đánh văng trở lại, nhằm vào một tên giáo chúng, cắm phập bả vai, y ngã ập xuống, miệng méo xệch, da mặt thoắt đen như chàm, y chết tức khắc. Lưỡi phi đao có tẩm độc cực mạnh.
Bọn giáo chúng đồng la lên một tiếng và xông ùa lên.
Thiết Trụ tỏa rộng đường roi, ngọn roi xé gió đánh cản, nhưng nhằm vào mặt thiếu nữ điểm tới, y thị lách mình tránh, đường roi như một con rắn có mắt, uốn vòng ra sau lưng, điểm vào huyệt Đại trùy, thiếu nữ phải ngã người sát đất mới thoát hiểm, đầu roi dạt theo hướng trái, đánh trúng ngay vào thái dương huyệt của một tên khác, y vỡ toác màng tang, ngã ra chết tốt. Đường roi không dừng lại, giật nhẹ, tấn công như chớp vào tên trùng bên phải thiếu nữ Miêu tộc, tên này nhanh nhẹn vung tròn mũi kiếm đánh bật, nhưng ngọn roi đã quấn lấy cổ tay y giật mạnh, quăng tung tên giáo chúng lên không rơi người xuống triền núi...
Một bóng người từ dưới triền dốc đang phóng lên, nhận ngay tên giáo chúng bị hắt văng xuống, lập tức y phóng người lên cao, chụp lấy dây lưng của gả, nhẹ nhàng xoay người đặt chân xuống đất. Nhìn thấy Hàn Thiết Trụ với con roi trong tay cũng vừa điểm tới trước mặt, y cười gằn một tiếng:
- Hừ, được lắm!
Buông tên giáo chúng ra, tay phải xử dụng Cầm Nã thủ chụp lấy đầu roi, đầu roi uốn qua một bên đánh vào huyệt Đàn trung của gã, hắn né người và như chớp bắt được thân roi, chỉ nghe " bực" một tiếng, chiếc roi ngựa đã bị y giật đứt.
Nguyên Huân từ lúc đầu đến giờ vẫn ngồi im trong xe, thấy vậy, mở cánh cửa có lắp kính phía trước bước ra, cùng lúc người mới đến phi thân lướt đến tấn công Hàn Thiết Trụ, thân pháp y rất đẹp mắt, Nguyên Huân nhận ra đó là Phong Vân thân pháp của Tinh Môn phái của Đại Lý. Người này khoảng tứ tuần, mặt mày chính khí, không hiểu vì sao lại cùng bọn Tiêu Dao toa rập. Nguyên Huân vội xử dụng Tiên Thiên Công, xoay cổ tay thành một vòng tròn, kình khí ôn nhu như cơn lốc tụ, phát, hóa giải kình lực người này, đồng thời xoáy đẩy y lên cao, và từ từ hạ hắn xuống một cách êm ái, ngay bên phải thành xe.
Hắn kinh dị nhìn chàng, hỏi:
- Tôn giá là ai mà biết võ công của Đoàn Hoàng gia Đại Lý nước chúng tôi?
Nguyên Huân không trả lời vào câu hỏi, chàng điềm tĩnh:
- Các hạ là người chính khí, đệ tử của Tinh Môn phái, là một danh môn chính phái, lẽ nào đi theo bọn cướp đường?!
Người này có ý thẹn, đáp:
- Tại hạ không chủ ý làm việc này, nhân tiện ngang qua đây thấy người ngộ nạn nên ra tay giải cứu; chưa biết phải trái đã bị tấn công, nên không phân biệt trắng đen là thế. Tôn giá đoán biết được sư môn, chắc hẳn chẳng là người xa lạ. Tại hạ vốn người họ Chu, tên Cẩm Đoàn, cũng vì có chút ẩn tình, nên mới giao hảo cùng Giáo phái Tiêu Dao, chẳng qua cũng là vạn bất đắc dĩ!
Nguyên Huân mỉm cười nói:
- Mỗi người trong chúng ta đều có nỗi khổ tâm riêng, nếu không tiện, xin đừng nói!
- Đa tạ Tôn giá đã cảm thông cho. Đã gần hai trăm năm nay, trải qua sáu, bảy đời, chúng tôi ôm mối quốc thù, nên hành vi không phải do mình mà nên...
Nguyên Huân chợt hiểu:
Tại hạ vốn họ Trần của Đạo Việt, với Đoàn Hoàng gia, năm xưa và đến tận bây giờ, vẫn có mối giao tình rất trọng. . . Các hạ ôm mối cô trung với đất tổ, chắc chẳng phải là người xa lạ?
Chu Cẩm Đoàn lùi lại một bước, giật mình hỏi:
- Tôn giá có phải là Trần Nguyên Huân, vang danh trong thiên hạ là Đệ nhất kỳ nhân đó chăng?
Nguyên Huân lắc đầu, chàng nhún nhường nói:
- Không dám nhận lời khen ngợi ấy, tại hạ chính là Trần Nguyên Huân!
Chu Cẩm Đoàn bước nhanh lại chỗ thiếu nữ, dùng tiếng Miêu tộc nói với cả bọn, không biết họ Chu nói gì, chỉ thấy thiếu nữ và đồng bọn đứng ngơ ngẩn, miệng há hốc, mắt trợn tròn, mặt chúng tái đi vì sợ hãi, đoạn chắp tay xá Nguyên Huân rồi kéo rốc đi. Người thiếu nữ còn quay nhìn chàng, ánh mắt vừa nề trọng, vừa mê đắm.
Chu Cẩm Đoàn quay trở lại, cung kính hỏi:
- Tại hạ có mắt như mù, không thấy núi cao trước mặt. Trần thiếu hiệp chắc có quen biết cùng Tiêu nghĩa sĩ và Đoàn lục gia của Đại Lý chúng tôi?
- Không phải quen biết, vì Tiêu lão anh hùng chính là Nghĩa phụ của tại hạ, Người vì tuyệt vọng trong mưu đồ phúc quốc, nên đã chán nản bỏ sang Phù Tang cùng với Đại Bá phụ, Nhị Bá phụ, và Tứ thúc phụ của tại hạ. Hiện tại, có Đoàn thúc mẫu và Đoàn tiểu muội trên xe!
Chu Cẩm Đoàn nhìn Nguyên Huân kinh ngạc, hiểu ý, chàng nói:
- Chuyện này uẩn khúc dài dòng, xin các hạ đừng hỏi!
Chu Cẩm Đoàn hiểu ý Nguyên Huân, bước lại bên xe, làm lễ ra mắt:
- Tại hạ họ Chu, đời đời làm tôi các Hoàng đế nước Đại Lý, xin làm lễ tham kiến Nương Nương và Công nương!
Đoàn phu nhân đã nghe rõ chuyện giữa hai người, bà vẫn ngồi trong xe, ôn tồn nói:
- Lão phụ không dám nhận đại lễ của Tôn giá. Dám xin hỏi, Tôn giá có phải dòng dõi họ Chu trong Ngư, Tiều, Canh, Độc của Đại Hoàng đế nước Đại Lý năm xưa đó chăng?
Chu Cẩm Đoàn bùi ngùi thưa:
- Khải bẩm Nương Nương, thuộc hạ chính là con cháu đời thứ sáu của Ngư, Tiều, Canh, Độc năm xưa, tạ ơn Nương Nương đã không quên!
- Lão phụ ngày xưa có được nghe Phu quân thường nhắc đến, nên vẫn còn nhớ...
Chu Cẩm Đoàn không cầm được nước mắt, ngắt lời bà:
- Nương Nương, Đoàn Hoàng gia đang bị độc công phát tác, tính mạng ngàn cân treo, tiểu nhân phải lặn lội tìm đến Tổng đàn Tiêu Dao giáo để hy vọng xin được thuốc giải, nào ngờ nửa đường nghe tin Bành Giáo chủ của phái Tiêu Dao đã chết, đành trở về tay không. Đến đây, đất trời xui khiến gặp được Nương Nương, xin Nương Nương và Công nương khẩn cấp trở về , may ra còn gặp mặt Hoàng gia!
Nói xong quỳ xuống lạy. Nguyên Huân khom người đỡ họ Chu, chàng hốt hoảng hỏi:
- Chu anh hùng, Thúc phụ tại hạ ra sao?
Bị nhiễm độc tính, đồng thời độc công phát tác, không biết hiện giờ thế nào!
Nguyên Huân nghe tiếng Đoàn phu nhân khóc ở trong xe, vội nói:
- Chu anh hùng, ta mau mau trở về, khẩn cấp lắm rồi...
Cả hai tung mình lên xe, cổ xe phóng như bay, bất kể vực sâu núi cao - nhắm hướng Đại Việt, bất kể đêm ngày...

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-01 19:21:46Hoàng Dung>
chương hai mươi tám
Tương phùng lòng mây chưa thỏa
Thiên thu đã mở dấu giầy!


Sau năm ngày đêm rong ruổi không nghỉ, cổ xe đã vượt qua địa giới Đại Việt. ôi Đại Việt! ôi Tổ quốc, Quê hương, chàng đã xa cách bảy năm đằng đẳng:

"Đây rồi nhé, òa vui trời Đại Việt.
Núi rừng xưa bừng dậy chiến công xưa...
Sông Nhĩ ngẩn ngơ, Châu Mộc đón ta về,
Nghe trong gió nổi đau nào lẫn khuất..."


Nước mắt tràn trên gò má Đoàn phu nhân. Đây quê hương của bà, xa cách đã hai mươi năm... Trời đã vào xuân chưa mà cây rừng đang thay lá ? ôi, mùa xuân vừa trở lại trên đất nước thân yêu; còn bà, mùa xuân của bà, không bao giờ có nữa ! Hai mươi năm đã trôi qua và hai mươi lăm năm, kể từ ngày bà được gán cho mỹ hiệu "Tây Bắc đệ nhất Mỹ nhân" nay còn đâu. Hai mươi năm trở về lòng đau như muối xát, như dao cưa.
Quê hương yêu dấu của ta, bà thầm gọi. Đây mây trời, đây đỉnh núi gió ngàn, đây giống sông xưa, đường lối cũ. Nắng vàng ngày xuân thắm vẫn còn đây ? Bà nghe mơ hồ có tiếng cựa mình trong từng đọt búp non mừng rỡ đón bà trở lại nghe mây cuồn cuộn đau, nghe gió trăn trở thì thầm, và tiếng thác ào ào thiên thu trên vách đá... Tất cả vẫn như xưa Tất cả vẫn như xưa, ngày bà rời bỏ vùng trời Mộc Châu về làm vợ người đàn ông kiêu hùng một thuở! Bây giờ tóc đã bạc, lòng đã xanh xao, tấm thân đã uế tạp, làm sao nhìn núi non trời đất, làm sao nhìn thấy người đàn ông năm xưa mà không thẹn mặt! Nhưng bà phải sống, ít ra sau khi nhìn thấy chồng mình, và xin ông thứ tội; nhìn thấy giang sơn gấm vóc của tổ tiên, rồi tấm thân bà xin được vùi trong lòng đất quê hương nồng nàn yêu dấu...
Đoàn phu nhân gục đầu lên cánh tay, Hoài Nam khóc theo mẹ...Nàng lắng nghe tiếng chim hót trên quê ngoại, lắng nghe tiếng gió xào xạc thổi qua tàng cây, mơ màng nhìn dòng sông êm uốn mình lấp loáng. Quê hương của mình có gì khác lạ? Nó là nỗi đằm thắm và xôn xao trong trái tim nàng. Có một điều gì đó làm cho nàng thấy nắng vàng hơn, gió thơm hơn, trời xanh hơn, hoa cỏ mơn mởn hơn, trong lòng nàng, trong lòng của người trở về nơi quê mẹ! Đã trên hai năm nay, Hoài Nam đã được mẹ dạy cho tiếng mẹ đẻ Đại Việt. ôi, kỳ diệu làm sao âm điệu tuyệt vời của ngôn ngữ của Tổ quốc nàng...
Chiếc xe lao dọc theo con đường mòn hẹp. Đỉnh Liên Sơn sừng sững trước mắt, hoa đào nở rộ trên triền cao hồng tươi dưới. nắng... Căn nhà cũ vẫn còn nguyên vẹn, không hiểu tại sao bọn Thất Sát đã không quay trở lại độ ấy. Dư lão tứ đã già đi rất nhiều, dáng đứng còm cõi, ngơ ngác, nhìn cặp ngựa sùi bọt mép kéo cổ xe dừng lại trước sân.
Nguyên Huân tung người xuống, ôm lấy Dư Tứ kêu lên:
- Dư thúc, Dư thúc đó ư! Cháu đã về đây. ..
Đoàn phu nhân cũng nhận ra người nô bộc năm xưa, bà kêu lên thảng thốt:
- Dư Tứ, Dư Tứ đó ư!
Dư lão tứ ngơ ngẩn, một lúc mới òa lên mừng rỡ:
- Thiếu gia đã về, Thiếu gia đã về !
Ông bỗng quay mình nhìn người đàn bà vừa hỏi tên mình, một lúc lâu nghẹn ngào:
- Phu nhân, ôi Phu nhân đó ư ?!
Nói xong quỳ phục xuống đất. Nguyên Huân đỡ Dư Tứ dậy, nóng vội hỏi:
- Dư thúc, Đoàn Lục thúc của cháu đâu? Còn Uyển Thanh đâu rồi?
Dư Tứ ngậm ngùi, nói:
- Uyển Thanh chiều mới về, còn chủ nhân vừa mới thiếp đi, đã một tuần nay ông hầu không hề nhắm mắt!
Gương mặt Đoàn phu nhân tái xanh, mắt đẫm lệ, phải cố gắng lắm bà mới không ngất đi. Hoài Nam cũng chan hòa nước mắt dìu một bên mẹ. Nguyên Huân rón rén bước lên thềm, cánh cửa khép hờ, chàng đẩy nhẹ. Căn phòng chìm trong bóng tối mờ, leo lét ánh sáng của ngọn đèn dầu phộng, chiếc giường xưa vẫn còn nguyên chỗ cũ.
Đoàn Chính Tâm đang nằm thiêm thiếp, gương mặt gầy ốm xanh xao, đôi má hóp lại, tóc không còn sợi đen, đôi mắt trũng xuống. Phu nhân run rẩy quỳ bên giường, Hoài Nam quỳ bên cạnh mẹ, bà thều thào:
- Con ơi , cha con đó . . . !
Bà gục đầu lên bàn tay xương xẩu của người chồng oai chấn võ lâm năm xưa, giờ chỉ còn là tấm thân tiều tụy. Những giọt nước mắt chan chan bao nhiêu đau đớn, xót thương, bao nhiêu hận oán nhục nhằn của suốt hai mươi năm nuốt tủi che hờn, bây giờ theo đôi dòng lệ, chan hòa như suối... Riềm mi nặng nề của Đoàn Chính Tâm khẽ động đậy, Nguyên Huân áp bàn tay chàng vào đôi bàn tay của Đoàn Lục thúc, vận công truyền nội lực sang thân thể khô kiệt của ông, luồng nội lực nóng ấm sinh động... Có tiếng ông khẽ rên lên và từ từ mở mắt. ông vẫn nằm im, chưa nhận dạng được thực tại. Một lúc sau ông thều thào hỏi:
- Ai đây?
Nguyên Huân nước mắt như mưa, chàng khẽ gọi:
- Thúc phụ, con đây, Huân nhi của cha đã về đây!
Như có phép mầu, đôi mắt ông sáng lên, ông hỏi:
- Con đấy ư? Ta những tưởng không còn nhìn thấy con nữa...
Cùng lúc ông cảm nhận được một nguồn nội lực mạnh khôn tả trong cơ thể khô héo của mình, trên môi khô dường như thoáng nụ cười:
- Sao con?
Nguyên Huân hiểu ông muốn hỏi gì, chàng đáp:
- Thưa cha, con đã thực hiện được trọn vẹn mọi điều cha kỳ vọng...
- Thế ư con !
Đoàn phu nhân bỗng bật lên tiếng khóc cố nén, bà kêu lên như cánh chim bị thương:
- Chàng ơi! Chàng ơi ! . . .
Đoàn Chính Tâm ngơ ngác, rồi như chợt hiểu, ông nhắm mắt lại, đôi dòng lệ ứa ra. ông thầm gọi như hơi thở:
- Lý Phi Yến, em đã về đó ư?
- Vâng, thiếp đã về đây, cả con nữa !
Ông mở bừng đôi mắt, từ trong hố mắt sâu mù mịt, mệt mỏi, một tia sáng lóe lên:
- Con ư! Trai hay gái, nó đâu?
Hoài Nam ôm chầm lấy cha, khóc nức nở:
- Con gái của cha đây ! Cha ơi!
Ông để bàn tay nhăn nheo lên tóc nàng, bàn tay kia vẫn nằm trong tay Nguyên Huân:
- A, con ta, con đừng khóc, cho cha nhìn thấy con đi !
Hoài Nam ngẩng đầu lên, ông ngơ ngác, nói như reo:
- Ôi con, sao con giống mẹ con ngày xưa đến thế! Con tên là gì, con gái tội nghiệp của ta!
- Thưa cha, con là Đoàn Hoài Nam!
Hoài Nam, Hoài Nam... ông nhắm mắt lại:
- "Yến muội! xin thâm tạ lòng em...!"
Phu nhân khóc nức lên:
- Không, không chàng đừng nói thế, hãy tha thứ cho em, đáng lẽ em phải tự sát để giữ vẹn cùng chàng, nhưng vì con, vì con... Em xin chàng hãy tha thứ... !
- Em có lỗi gì đâu Yến muội, bởi vì ta không đủ tài sức để bảo vệ em, người có lỗi là ta. Yến muội ơi, em đừng nói thế, đã hai mươi năm, đã hai mươi năm ta không ngừng âm thầm xin em xá tội. .. Em hãy ngồi lên đây cạnh ta, để ta nhìn thấy em!
Đoàn phu nhân ngồi ghé xuống cạnh giường. Chiếc đèn lồng đã được thắp lên từ lúc nào. Dư Tứ mở một cánh cửa sổ, ánh nắng nhẹ buổi đầu xuân tràn vào.
- Em đừng khóc Phi Yến, em đừng khóc ! Tạ ơn trời đất kiếp này đã cho ta gặp lại em; tạ ơn con, Huân nhi, con đã mang mẹ con về cho ta, mang em con trở về. Ôi, Phí Yến, tóc em bạc cả rồi, nhưng em đẹp hơn xưa nhiều lắm, hãy ngồi sát bên ta, Phi Yến!
- Không, em không thể ngồi gần chàng được, em ô uế lắm, em không xứng đáng với lòng chàng dành cho em.
Không đâu em! Không có một bùn nhơ nào làm ô uế em cả. Em đã hy sinh vì con, vì ta. Sao em lại nói thế làm cho ta đau lòng, hãy ngồi gần lại đây đi em!
Đoàn phu nhân khóc nấc lên. Hoài Nam vừa đứng lên, cả Nguyên Huân cũng đứng lên từ lúc nào. Phu nhân gục đầu lên ngực chồng. Những giọt lệ tủi hờn, những dòng lệ sung sướng. Bà bỗng quên đi bao nhiêu đau khổ. Những nổi đắng cay, đau đớn suất hai mươi năm vò xé tim bà, theo từng dòng lệ trôi đi Bà thì thào trên ngực ông, bàn tay ông vuốt lên mớ tóc mây ngày nào bây giờ đã bạc trắng!
- Phi Yến, năm nay em bốn mươi lăm tuổi rồi, tóc em bạc quá sớm. Ta hiểu lòng em và kính trọng em. Phi Yến, em có nghe ta nói không?
- Có thiếp đang nghe chàng nói, thiếp thâm tạ ơn chàng.. . Phu quân ơi ! Uyển Thanh đi đâu?
Câu hỏi của bà đã chạm vào điều ông đau đớn nhất, nước mắt ông ứa lên mi:
- Ta xin em tha lỗi, Phi Yến. Ta đã không coi sóc, bảo vệ được con . . .
Phu nhân ngửng phắt lên, cả Nguyên Huân, cả Hoài Nam đứng dưới chân giường đều giật mình, sợ hãi. Một ý nghĩ khủng khiếp cho điều bất hạnh hiện lên trong ý nghĩ. Phu nhân không dừng được, bà kêu lên thoảng thốt:
- Uyển Thanh, Uyển Thanh làm sao rồi?
- Không, Phi Yến, con nó còn sống, nhưng... đã thành phế nhân...!
Phu nhân thết lên một tiếng, gục xuống ngực ông lịm đi.
Đoàn lão âm trầm, đau đớn nói:
- Đó là nguyên nhân làm cho ta hao kiệt như hôm nay...Uyển Thanh con nó cải nam trang, chiến đấu trong hàng ngũ của thủ lĩnh áo đỏ Xa Khả Tham. Nó bị trọng thương không lâu, mất một cánh tay, hỏng một mắt, trong một trận phản công của Nghĩa quân, đổi lại, nó đã cứu thoát cho cả đạo quân nghĩa dõng sắp phải rơi vào bẫy phục kích. Nó đã thay ta, thay cho chồng nó, chiến đấu không thua một nam nhi nào... !
Hoài Nam ôm chân mẹ khóc nấc:
- Mẹ ơi, tội nghiệp chị con...!
Đoàn lão thở dài:
- Thôi, con đừng khóc nữa, ta cũng đau lòng, nhưng nước mắt nào có được gì, con hãy chờ chị con về... Nguyên Huân,con lại đây, kể cho ta nghe bước đường con đã trải qua từ lúc con ra đi . . . !
Tiếng Nguyên Huân vang lên trong căn phòng im lặng, Đoàn lão chăm chú nghe, nét mặt ông càng lúc dần tươi lên, cuối cùng khi Nguyên Huân đã ngừng lời, ông nói, với một thần thái tươi tỉnh:
- Tạ ơn Trời Phật, ta không ngờ con đã đạt thành mọi điều ngoài cả ước nguyện của ta. Con đã toàn thành một thân thủ võ công tuyệt học, nếu có gọi là Thiên hạ đệ nhất nhân thì cũng xứng đáng. Con xứng đáng với tổ tiên, thân phụ mẫu con ở chốn suối vàng, xứng đáng với Ngũ ca, Thất, Bát đệ ta, được nở mặt mày bên kia thế giới, con làm đẹp lòng ta biết bao! Nhưng... con ơi, Uyển Thanh, Uyển Thanh...
Nguyên Huân ngắt lời ông:
- Thưa cha, con hãnh diện về vợ con, con hãnh diện vì Uyển Thanh. Xin cha hãy tin ở con, suốt đời con sẽ vì nàng, con không nghĩ đến con, bởi chính vì thay con, thay cho nghĩa vụ của con mà Uyển Thanh đã nhận lấy bất hạnh. Dù Uyển Thanh có thế nào thì chỉ làm cho con thương yêu hơn. Cái nghĩa của nàng quá lớn, con sẽ sống xứng đáng với tấm lòng của Uyển Thanh, mãi mãi...
"Ta không thể bội bạc với Uyển Thanh, dù ta có yêu Hoài Nam đến đâu đi chăng nữa, nàng chỉ còn có ta mà sống, mà được nâng đỡ, ta không có quyền nghĩ đến riêng ta. Ta phải trả hết đời ta cho cái nghĩa của nàng, đã vì ta mà gánh điều bất hạnh..." Nguyên Huân biết chàng đang cố dìm lấp nỗi đau đớn riêng tư đến tận cùng. Biết làm thế nào, chàng biết làm thế nào? ôi tình yêu trong chàng chỉ còn là nỗi đắng chát!
Hoài Nam cũng hiểu ra điều Nguyên Huân nói. Chàng nói với cha mẹ nàng, mà cũng là nói với nàng. Cõi lòng nàng tê dại vì nghịch cảnh, nhưng nàng nễ phục người nàng yêu "Ta yêu chàng chính vì chàng như thế, nếu chàng là kẻ có tấm lòng bội bạc, đổi thay, chàng chỉ đáng nhận lấy ở ta sự khinh khi... Mãi mãi ta yêu chàng, ta không còn hiện hữu trong tình yêu ta dành cho chàng, mà ta hòa nhập cùng chàng... Với chàng, với chị của ta, và ta, cùng là một..."
Uyển Thanh bước vào phòng cha già, đập vào mắt nàng trước nhất là Nguyên Huân, nàng sững sờ vài giây, rồi đột nhiên Uyển Thanh quay mình té chạy ra cửa, nhưng Nguyên Huân nhanh như cắt, đã ở sát bên nàng và ôm chặt lấy hình hài tàn tạ của Uyển Thanh trong vòng tay mình, người nàng đã rủ mềm, nàng ngất đi.
Nguyên Huân bế Uyển Thanh thẳng về nơi phòng riêng của nàng, vẫn là căn phòng cũ. Đặt nhẹ nàng lên giường, Nguyên Huân quỳ bên nhìn khuôn mặt xanh tái của Uyển Thanh, lòng chàng tràn ngập thương cảm, chàng điểm huyệt cho Uyển Thanh hồi tỉnh. Vừa mở mắt, Uyển Thanh đã ngồi bật dậy, Nguyên Huân hai mắt đỏ hoe, ôm lấy Uyển Thanh vào ngực mình và nhẹ vuốt lưng nàng. Uyển Thanh như được một trời yên ủi, nàng rung người theo mỗi tiếng nấc, nước mắt nàng đẫm ướt ngực áo Nguyên Huân.
Nguyên Huân dịu dàng nói, như bàn tay chàng đang dịu dàng vuốt tóc Uyển Thanh:
- Thanh muội, em đừng khóc nữa, ta vẫn là Nguyên Huân của em ngày nào, lòng ta thương yêu em không hề dời đổi. Nhan sắc em, dung nhan em chính là trái tim em, và ta cũng không phải là kẻ tham vàng phụ nghĩa; ta yêu quý những dấu tích này trên thân thể em, nó nói lên rằng em đã vì yêu ta mà thay ta, chiến đấu cho Đại nghĩa. Ta mãi mãi yêu thương, mãi mãi hãnh diện bởi em Uyển Thanh ạ!
Chàng nâng đầu Uyển Thanh khỏi ngực, hai mắt nàng nhắm nghiền, cánh tay phải còn lại quàng lên vai Nguyên Huân, mặt đầm đìa nước mắt. Nguyên Huân cúi xuống, hôn lên những dòng lệ nhạt nhòa trên mắt, trên môi nàng. Uyển Thanh rùng mình. Bao nhiêu năm nàng chờ đợi, và chàng đã trở về Lòng nàng dịu đi đón nụ hôn đầu đời, nụ hôn trên đôi môi đã héo hắt nụ cười suốt bảy năm qua, "ôi, chàng của ta, chàng đã trở về !"
Có tiếng bước chân, Hoài Nam và Đoàn phu nhân cùng bước vào. Nguyên Huân ngước mắt lên nhìn. Hoài Nam nhìn thấy trong đôi mắt chàng nhìn nàng thẩn thờ, như đau đớn, như muốn nói trăm điều không thể nói; và nàng nhìn chàng, cũng bằng ánh mắt, cũng bằng nổi câm lặng ấy... Đoàn phu nhân ngồi xuống đối diện với Nguyên Huân, bà nhẹ nhàng ôm Uyển Thanh vào lòng, tràn ngập thương cảm:
- Uyển Thanh, mẹ đây con, mẹ của con đây... !
Và bà òa khóc nức nở.
Nguyên Huân đứng dậy nhường chỗ cho Hoài Nam. Hoài Nam run rẩy đặt hai tay lên đôi vai gầy của chị, giọng nói nàng tràn ngập nước mắt:
- Chị Uyển Thanh, em đây, em là em của chị, em là em ruột của chị, em và mẹ đã trở về cùng với chị, chúng ta sẽ chẳng còn phải sống ly tan nữa chị ơi...!
Cánh tay cụt quàng áp sau lưng mẹ, Uyển Thanh dùng cánh tay còn lại ôm lấy em gái:
- Mẹ ơi, mẹ bỏ con đi suốt hai mươi năm, con nhớ mẹ ngày đêm... Em ơi, em gái của chị!
Phu nhân nói:
- Tên em con là Hoài Nam, Đoàn Hoài Nam, nó mười chín tuổi rồi, nó thua con năm tuổi, thua Nguyên Huân sáu tuổi!
Uyển Thanh đã bớt bi lụy, nàng ngước lên ngắm nhìn mẹ:
- Mẹ, tóc mẹ bạc hết rồi, tội nghiệp mẹ biết bao... ?
- Đừng tội nghiệp mẹ, mẹ bỏ con với cha con sống cô quạnh lẻ loi, con tha thứ cho mẹ!
- Không đâu mẹ ơi, đó chỉ là thảm họa...!
Uyển Thanh nhìn em gái chan chứa yêu thương:
- Hoài Nam, em đẹp lắm. Ngày xưa chắc mẹ cũng đẹp như em con, phải không mẹ?
Phu nhân vuốt tóc nàng:
- Ôi đẹp mà làm gì hả con? Tấm lòng mới là cao cả, mới là đáng kể, mới là cái đẹp không bao giờ tàn phai trong lòng người đàn ông con ạ! Nhan sắc chỉ làm ta đau khổ mà thôi, nào có ích gì.
- Mẹ đừng an ủi con, mẹ !
- Không, mẹ không hề có ý đó, mà là thật lòng mẹ. Chiến tích của con mới là cái đẹp sống mãi mãi không phai tàn trong lòng mọi người, cái đẹp của một đất nước, của một dân tộc...
Bệnh tình của Đoàn Chính Tâm mỗi ngày một nặng thêm, Nguyên Huân đã cố gắng cứu chữa cho ông. Chàng khám phá ra rằng, các huyệt đạo trong người ông đã hoàn toàn đình trệ. Một vài huyệt đã vỡ, chàng không thể tiếp chân khí cho ông được nữa, chân khí sẽ làm vỡ tan thêm các huyệt đạo Và khi mà Sinh Tử Huyền Quan bị vỡ nát, ông sẽ chết ngay tức khắc.
Nguyên Huân không nói ra điều ấy, nhưng Đoàn Chính Tâm, ông biết. ông hiểu bệnh tình của ông không còn cơ cứu chữa, dẫu tiên thánh cũng đành bó tay. Nhưng sao ông thấy lòng mình bình yên. ông đã mãn nguyện.
Những ngày cuối cùng này của đời ông, ông đã được bàn
tay của người vợ hiền chăm sóc. ông cười nói với Phu nhân:
- Hiền thê ạ! Thế là ta hoàn toàn mãn nguyện, đã có em ở bên ta lúc ta ra đi. Em cũng đừng buồn vì sẽ phải phân ly. Nguồn vui lớn nhất là vợ chồng ta đã được sum họp, được có nhau lúc cuối đời. Em hãy vui lên, đừng bi lụy như thế! Phi Yến, có nghe ta nói không! Đừng để ta ra đi mà không được yên lòng!
Phu nhân cúi hôn lên trán chồng:
- Tâm lang, thiếp vẫn là bên chàng mãi mãi... Thiếp không buồn, không khóc nữa đâu!
Chu Cẩm Đoàn vẫn quanh quẩn bên giường Đoàn Hoàng gia từ hôm trở về. Đối với Đoàn lão, họ Chu vẫn giữ trọn lễ của một tôi thần như trước một Hoàng đế còn tại vị. Hôm nay, Đoàn đại hiệp dường rất tỉnh táo. ông cho gọi mọi người đến bên giường. Phu nhân vực ông ngồi dậy, dựa lưng vào đống chăn gối bên thành giường, bà ngồi cạnh đỡ lấy bả vai gầy gò của chồng; Uyên Thanh và Hoài Nam quỳ dưới chân mẹ. Nguyên Huân vòng tay đứng sau lưng Uyển Thanh, họ Chu và Dư lão tứ đứng lặng lẽ cuối chân giường. Hôm ấy là ngày 24 tháng giêng năm Ất Tỵ.
Đoàn lão bắt mở tung các cánh cửa. Ngoài trời mưa bụi. Ông đưa đôi mắt bình thản nhìn cảnh vật bên ngoài, một lát sau cất tiếng, giọng rõ ràng:
- Hiền thê, hiền thê còn nhớ không, ngày ta gặp gỡ hiền thê cũng vào một ngày xuân mưa bụi thế này. Một năm sau, cũng vào tiết xuân, núi rừng nở rộ hoa đào, Tam ca đã đứng ra lo liệu cho chúng ta trở thành chồng vợ. Ngày ấy, hiền thê vừa hai mươi tuổi, còn ta, hơn hiền thê những hai mươi lăm tuổi Hiền thê không chê ta già và xấu, đối với ta một dạ kính yêu. Vợ chồng ta có được với nhau năm năm hạnh phúc thì chia lìa.
Trong suốt hai mươi năm, ta thương nhớ hiền thê, những tưởng không bao giờ còn gặp lại, thế mà trời còn thương ta, cho ta có được nàng những ngày cuối đời, thế cũng là đã đủ, chỉ hiềm một nỗi là để nàng lẻ loi nơi dương trần. Các con rồi chúng cũng theo chồng theo luật trời đất, chỉ tội nghiệp nàng...
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-01 19:25:34Hoàng Dung>
Ông dừng lại, điều hòa hơi thở, nói tiếp:
- Còn riêng ta, chẳng ngại gì cái chết, chỉ đau buồn là bao hoài bảo đã tiêu tan. Đã năm đời nay, tổ tiên ta mong có một ngày dựng lại tổ quốc, vậy mà cho đến đời ta, ta cũng chẳng làm được điều gì, cố quốc chỉ còn là trong tâm tưởng! Thế mới biết mệnh trời chẳng thể đoạt được !
Khi ta mất rồi, Tiêu lão nhị có về đây, nói cùng lão, ta chẳng còn biết cách nào để đền ơn tri ngộ, và mệnh trời đã như thế, có cưỡng lại cũng chỉ lao tâm khổ trí, vô ích mà thôi ! Ta gởi lời chào đến những người anh em của ta, chẳng bao lâu nữa, Bát Đại gia sẽ cùng sum họp... Sống gửi, thác về có gì đâu mà phiền não! Vậy hiền thê, các con, và hai vị huynh đệ của ta chớ than khóc làm chi, đừng nghi lễ rườm rà, hãy đưa ta đến nơi triền ngọn Liên Sơn, ngay bờ dốc xoải có cây tùng lớn nhất ấy. Hãy để mắt ta được nhìn về hướng Tây Bắc, để hồn ta bay về cố hương. Đừng bia đá tên đề, chỉ cần một chữ Đoàn giản dị. Ta sống đã một đời vô dụng, cũng xin được chết âm thầm... Các người khóc than ta, chính là đã muốn quên ta đó!
Nhìn qua Nguyên Huân, ông tiếp:
- Nguyên Huân! Ta coi con như con đẻ, yêu thương con hơn ta yêu bản thân mình, nay ta xin con, vì tình sâu ấy, mà săn sóc, phụng dưỡng mẹ của con. Chính hiền thê ta đã xâm hình hổ phù lên ngực con ngày con vừa lên bốn, ngày nay con đã khôn lớn, đã mang được một thân võ công tuyệt học, hãy lấy đức độ và bao dung làm đầu, lấy lòng thành mà đãi người, lấy nhân nghĩa thủy chung làm gốc, ta nói ít con hiểu nhiều!
Ông lại dừng, nhìn Uyển Thanh, lúc lâu tiếp:
- Uyển Thanh con, ta biết rõ Nguyên Huân, con đừng vì lẽ tàn phế mà đau buồn; chiến tích trên người con chính là niềm vinh dự. Sau khi ta mất sẽ trở ngại cho các con, nên ta muốn hai con làm lễ thành hôn, có sự chứng giám đầy đủ mọi người trong gia đình, và chỉ lạy tổ tiên là đủ. Các con hãy đứng lên, lạy nhau cho đủ ba lạy, để nên vợ nên chồng.. .
Nguyên Huân nghe lời, chàng đỡ Uyển Thanh dậy, mắt Uyển Thanh nhòa lệ. Đoàn lão nói:
- Ta biết con buồn, ai chẳng muốn làm cô dâu trong ngày cưới nhưng con ạ, hạnh phúc chính ở lòng các con, chứ chẳng phải bằng những nghi lễ long trọng ? Nghi lễ trang trọng nhất là các con yêu thương tôn kính nhau. Uyển Thanh, nếu con còn khóc, ta chết không nhắm mắt được!
Cả hai vâng lời cha già, hướng vào nhau lạy đủ ba lạy, xong hướng về Đoàn phụ mẫu toan quỳ xuống. Đoàn lão giơ tay ngăn:
- Khoan đã ! Dư lão đệ, lấy giùm ta ba nén nhang mang lại đây!
Ba nén hương phảng phất khói thơm trong hai bàn tay run run chấp lại, Đoàn lão nhắm mắt:
- Tam ca và tẩu tẩu, tiểu đệ tin rằng hương linh Đại ca và tẩu tẩu cùng Ngũ ca, Thất, Bát đệ đang quanh quẩn nơi đây, chứng kiến giờ phút tiểu đệ thay mặt, tác thành cho đôi trẻ theo như lời giao ước năm xưa. Xin hãy chứng giám và độ trì cho con cháu...!
Uyển Thanh và Nguyên Huân đỡ lấy nén hương từ tay  ông, lạy tám lạy rồi bước đến bàn thờ, sóng đôi làm đại lễ ra mắt tổ tiên, cắm nhang vào lư hương, xong quay trở lại giường  ông. Đoàn lão nói:
- Hoài Nam, sao con không đứng lên mừng cho anh chị con!
Hoài Nam như người đang phiêu linh, nghe cha nói, giật mình. Nàng đi đến trước Nguyên Huân và chị gái, cố lấy giọng vui mừng nói :
- Em chúc mừng, em cầu mong cho anh chị bách niên giai lão!
Nàng không dấu nổi đôi bàn tay run rẩy, Nguyên Huân liếc thấy chàng xót thương Hoài Nam vô bờ. Chàng biết làm sao, biết nói thế nào với người chàng yêu dấu??
Tiếng nói của Đoàn lão vẫn đều đều:
- Hoài Nam, con yêu quý của cha, cha con ta sum họp chẳng bao lâu thì lại phân lìa... đừng khóc con... Hãy can đảm lên con, trong mọi hoàn cảnh, cha nhắm mắt mới yên lòng được. Tình cha con tuy thời gian chẳng được là bao, nhưng cha tin tình phụ tử trong con sâu đậm như tình con thương mẹ!
Ông nắm chặt bàn tay Hoài Nam, và quay xuống nhìn hai người đàn ông đứng ở cuối giường. Hai người hiểu ý bước đến gần. Đoàn lão nói:
- Nhị vị hiền đệ, từ trước đến nay, ta vẫn coi hai hiền đệ như ruột thịt; hai em đã vì ta mà bỏ lỡ cả cuộc đời, vì ta mà chịu bao nhiêu gian nan vất vả. Ta chỉ còn tấm lòng này để tạ ơn tri kỷ. Ta mất rồi, hai hiền đệ có muốn trở về cố thổ, hay thế nào thì ta cũng chẳng dám có ý kiến, tùy ở hai hiền đệ mà thôi. Con chim trước khi chết cất tiếng thiết tha, hai hiền đệ hiểu lòng ta là đủ!
Hai người quỳ phục xuống đất. Chu Cẩm Đoan lên tiếng:
- Chúa công ơi, tổ tiên nhà thần đời đời giữ nghĩa thủy chung, tỏ trọn lòng trung liệt; nay Chúa công bỏ mà ra đi, cho thần được cùng theo hầu hạ Chúa công...
Đoàn lão cảm động nói:
- Quý thay! Tấm lòng của bốn dòng họ trong Ngư, Tiều, Canh, Mục. Chu lão độc ơi, không cần phải thế! Vợ con ta còn đây, ta trông nhờ vào sự quan tâm của nhị vị hiền đệ. Chu hiền đệ; hiền đệ còn trẻ, nên nghe lời cuối của ta, sau khi ta chết, ta muốn ngày thứ chín, hiền đệ hãy đón Bạc Thúy Miên về làm vợ; và hai vợ chồng, cùng Dư lão đệ ở cùng lại đây, cùng với vợ con ta đùm bọc lấy nhau... Hiền thê ạ, nàng nghe rồi đó, hãy vì ta mà lo việc này!
Nguyên Huân xin phép lui ra, một lúc trở vào, chàng lấy ra một viên hồng ngọc cực đẹp có sợi dây vàng, viên bảo ngọc của Nghĩa mẫu tặng chàng ngày ở Tuyệt Tình Đàm, choàng vào cổ vợ. Uyển Thanh nghe trong lòng an ủi, khẽ nói :
- Phu quân, thiếp cảm nhận ơn phu quân đã ban cho thiếp!
Chàng bóp chặt bàn tay còn lại của nàng, rồi đi lại trước Chu Cẩm Đoan cúi đầu nói:
- Chu Thúc phụ, trong túi này có mười viên hồng ngọc, tiểu điệt xin Thúc phụ thu dụng để làm sính lễ!
Đoàn lão cả vui nói:
- Chu Cẩm Đoan, hãy cầm lấy. Nhân danh ta, ban cho hiền đệ!
Ông nhìn Dư Tứ:
- Dư lão đệ, ta với em, trên ba mươi năm nay không rời nhau một bước, bây giờ sắp phải xa nhau nhưng chúng ta rồi sẽ gặp lại.. . Một trong những người ta thương yêu nhất là Dư đệ xin vì ta mà quan tâm đến gia đình ta, các con ta!
Dư Tứ khóc nói :
Lão nhân gia ơi! Dư Tứ này chỉ có một tấm lòng thiết tha vì chủ, ba mươi sáu năm nay đã gởi nó ở nơi này, lấy lại làm sao được! Chẳng lẽ Lão nhân gia không còn tin Dư Tú này nữa hay sao?!
- Không đâu, ta không tin ở tấm tình Dư đệ thì còn biết tin vào ai?!
Nói xong ông nhắm mắt, Phu nhân đỡ ông nằm xuống. Đến cuối giờ Tuất, ông mở mắt, không nói gì, lần lượt nhìn Phu nhân, các con và hai người tâm phúc, lại nhìn rất lâu vào đôi mắt người vợ yêu dấu, mỉm cười, và qua đời.
Đám tang của Đoàn đại hiệp diễn ra rất âm thầm và giản dị, không một tiếng khóc; lời trối trăng của ông được tuân thủ trọn vẹn... Một tảng đá hình chóp, cao hơn đầu người được Nguyên Huân chuyển đến để làm bia mộ, chỉ không theo lời yêu cầu của ông, người một đời ôm niềm đau không thực hiện nổi đại sự phục hồi cố quốc, chàng khắc trên đó hàng chữ: "Bát Đại Danh gia- Đoàn Lục Hiệp Hoàng Tôn Đệ Ngũ Đại - Đại Lý Đoàn Triều Chi Linh mộ", phía trên hàng chữ, Nguyên Huân vận Tiên Thiện Công ấn mảnh ngọc Nguyệt Kiếm tín phù, huy hiệu của Bát Đại gia lún sâu vào đá Vâng theo lời Đoàn Lục gia, không một ai kể cả Phu nhân được túc trực bên mộ theo tập tục đương đại.
Ngày tháng trôi qua, những mầm cỏ non đã nhú lên phủ xanh ngôi mộ. Đoàn phu nhân gương mặt bình thản, bà tiến hành việc cưới vợ cho Chu Cẩm Đoan; mọi người trong gia đình gượng làm vui, đón Bạc Thụy Miên về. Đó là một nữ lang thuộc dòng dõi quí tộc, xinh đẹp và hiền hậu. tuy bề ngoài, đôi vợ chồng họ Chu theo tình chị em mà xưng hô với Đoàn phu nhân như bà bắt buộc, nhưng bên trong họ vẫn giữ đúng lễ Chúa Tôi, cả với vợ chồng Nguyên Huân và Hoài Nam.
Nguyên Huân và Chu Cẩm Đoan bắt tay xây dựng thêm mấy ngôi nhà, lấy đá xây tường, bao bọc thành một dinh cơ.
Hoài Nam sống âm thầm như chiếc bóng quẩn quanh bên mẹ. Nàng cố tránh mặt Nguyên Huân trừ những bữa cơm trong gia đình. Nguyên Huân cũng giữ lễ trên, dưới của một gia đình; chàng cư xử với Hoài Nam như một người em gái, ân cần, trìu mến, với một nét mặt bình yên...
Uyển Thanh, từ ngày cha mất, xin với chồng cho nàng được cư tang để trọn đạo hiếu, nàng ngủ chung phòng với em gái, Nguyên Huân càng kính trọng nàng, chàng nào hiểu được tâm sự, những suy nghĩ day dứt của Uyển Thanh...
Hoài Nam nghe lời Nguyên Huân, dần dà nàng chịu tập luyện võ nghệ. Nguyên Huân cũng ra công chỉ dạy thêm võ công cho Chu Cẩm Đoan. Và Đoàn phu nhân, bà trao phó mọi việc trong nhà cho vợ chồng họ Chu điều động, quán xuyến. Thụy Miên thấy Hoài Nam có ý thích làm bếp, nàng chỉ dạy cho cô thiếu nữ nấu thành thục những món ăn của dân tộc. Hoài Nam dò ý Nguyên Huân, nàng làm những món hợp khẩu cho chàng: canh cua rau đay và cà pháo. Và những lần thấy Nguyên Huân ngon miệng, Hoài Nam không dấu nỗi vui mừng, đôi mắt nàng long lanh trên gò má còn hồng ánh lửa; nhưng nàng không biết rằng, những lúc ấy, Đoàn phu nhân càng thương xót con âm thầm. Bà biết tình yêu của Hoài Nam dù là vô vọng, nhưng nó không trở nên là bóng tối, là nỗi đau nhưng không héo úa, tàn rủ tâm hồn nàng, nhưng là nỗi ngậm ngùi khôn khuây!
Uyển Thanh càng ngày càng yêu quý người em gái xinh đẹp Tính tình Hoài Nam đôn hậu, dịu dàng. Uyển Thanh hoàn toàn tìm được nguồn vui sống... Uyển Thanh được an ủi rất nhiều bởi những chăm sóc, thương yêu của Nguyên Huân, chàng không buồn phiền gì về nàng bởi lời yêu cầu cho nàng được cư tang hiếu đạo ba năm.
Tuy con mắt trái của nàng không còn nhìn thấy, do sự chấn thương ở huyệt Ngự yêu, nhìn qua khó ai biết được, nhưng còn nổi đau buồn khác nàng giữ kín trong lòng không tỏ lộ cùng ai, cả với người mẹ hiền. Đó là huyệt Thận du của nàng bị trọng thương rất nặng, tuy đã được Đại Sư bá Hoạt Phật dốc tâm, dốc lực cứu chữa, và ông cũng không dấu nàng:
- "Con ạ, tuy tính mạng con không có gì nguy hiểm nữa, nhưng ta phải nói thật rằng con không còn có khả năng làm mẹ được nữa . . ."
Đó là nổi buồn lớn nhất của nàng! Và Nguyên Huân, hậu duệ cuối cùng của Hưng Đạo Đại Vương, chàng sẽ lâm vào trọng tội " Vô hậu vi đại". Điều ấy đã day dứt nàng suốt từ ngày nàng bình phục, và cho đến bây giờ. Vô hậu vi đại là tội lớn nhất đối với nhà chồng trong 'Thất xuất". Nàng yêu chồng, tình yêu ấy đã trải qua chín năm, từ ngày nàng mười lăm tuổi. Tình yêu ấy theo thời gian chẳng hề phôi pha. Giờ đã nên vợ nên chồng, nàng cũng chưa dám nói ra điều ấy cùng Nguyên Huân; ngày, tháng đi qua, nỗi đau đớn lại càng ray rứt dằn vặt tâm hồn Uyển Thanh, nước mắt theo niềm đau câm nín chảy ngược vào lòng...
Đoàn phu nhân ngày càng trở nên trầm lặng, cứ mỗi sáng, chiều, bà lên thăm mộ chồng một cách đều đặn. Tuy chỉ mới hai tháng từ ngày phu quân bà qua đời, mái tóc của Phu nhân đã bạc trắng như tuyết. Những nếp nhăn trên trán, vết chân chim nơi khóe mắt đã xuất hiện, và nỗi buồn lắng đọng trong đôi mắt héo hon, khiến bà như già đi hàng chục tuổi. Bộ quần áo xô gai làm tăng thêm dáng vẻ tiều tụy. Đâu rồi " Tây Bắc Đệ nhất Mỹ nhân" thuở nào!

"Đời như lá, thoắt xanh rồi thoắt úa,
Ta như rêu mọc giữa lôi đi này
Cơn gió nổi một đêm nào nghiệt ngã
Sớm mai đây còn lại chút hưng phai..."


Và những đêm khuya, những canh khuya u tịch quặn thắt lòng bà: "Bao nhiêu năm gom lại một canh khuya!" Cái mặc cảm có lỗi với chồng dầy vò bà khôn dứt... Bà đã có một khoảng thời gian lãng quên ông mà sống với kẻ thù của chồng, hơn thế nữa, kẻ thù của nhân dân Đại Việt. Những cơn ác mộng hành hạ bà từng đêm!
Vậy mà ông, Đoàn lang của bà, suốt hai mươi năm chịu đựng căn bệnh trầm kha do kẻ thù gây ra, trong khi bà chung sống với y; với thời gian đăng đẳng ấy, ông đã thương nhớ bà không phút giây khuây lãng. Những câu chuyện Uyển Thanh vô tình kể lại, càng làm cho bà thêm kính yêu chồng, càng làm cho bà thêm đớn đau chất ngất... ông đã không khép tội bà, ông nhận cái phần lỗi ấy về ông. Có người đàn ông nào không đau đớn, khi biết người yêu của mình đã từng ở trong vòng tay kẻ khác; càng xót xa hơn khi biết được người vợ yêu dấu một đời, lại bị kẻ thù của chính mình ôm ấp! Chỉ trừ ông, Đoàn lang của bà, ông đã yêu bà bằng một tình yêu tự xóa, một tình yêu quên lãng bản thân mình... Ông độ lượng với bà như trời biển.
Những buổi chiều, ngồi nhặt cỏ úa trên mộ chồng, bà nói cùng ông, bà thì thầm cùng người dưới mộ những mặc cảm tôi lỗi giằng xé lòng bà. Những lần bà mãi mê than thở cùng ông, bà quên lãng cả thời gian, khiến Nguyên Huân và Uyển Thanh phải đi rước bà về. Có những đêm thao thức không ngủ, bà lại tìm lên mộ, ngồi đó với ông dưới bầu trời khuya long lanh những vì sao hiu quạnh, trong cái mênh mông yên tĩnh, lòng thấy dịu đi... Tiếng gió ngàn rì rào trên sườn non, tiếng ếch nhái dưới cỏ ướt, tiếng mơ hồ của đêm khuya có điều gì làm cho bà được thanh tỉnh, bình yên, hay chính ông, linh hồn đau thương ấy đã về quanh quẩn bên bà ! "Đoàn lang, sao không về cùng thiếp, sao không nói với thiếp một lời, mà im lìm đến vậy..."
Nỗi ao ước được gặp lại ông khiến bà đã bao lần muốn đi theo ông. Nhưng còn Hoài Nam tội nghiệp của bà! Nàng rời bỏ chốn trang đài gác tía, theo mẹ về quê cha, chịu làm thân một sơn nữ giữa núi rừng hiu quạnh, với nỗi đau thầm kín xót xa của một cuộc tình không lối thoát và với một Uyển Thanh tàn tật thiếu tình mẫu tử bao năm. Bà không thể để các con ở lại trong lẻ loi, mất cha rồi mất mẹ. Không, bà phải sống, phải xua tan ý nghĩ thiết tha muốn theo ông; bà thương xót các con, khấn hương hồn ông thấu hiểu cùng bà. Nhưng thời gian cứ bỏ đi, rũ theo sức khỏe của bà. ôi, nỗi tàn phai nào chẳng có!
Bà sống với hình ảnh một người chồng choáng ngợp tâm linh bà từng khắc một, và Uyển Thanh con bà, ấm áp với nghĩa vợ chồng, được thương yêu, được an ủi, vỗ về. Chỉ còn một Hoài Nam, nàng chỉ có mình bà làm nơi nương tựa. Còn ai đáng chọn mặt để gởi vàng?! Nhiều lúc, bà có ý nghĩ cho Hoài Nam và Uyển Thanh thờ chung một chồng, nhưng tính tình của Nguyên Huân bà hiểu, con người ấy, tâm hồn ấy, làm sao bà có thể nói ra!
Từ sau khi trở về, Nguyên Huân chăm chút, ân cần với Uyển Thanh, chàng biết chàng không thể không hy sinh mối tình của mình, chàng là lẽ sống của người vợ thương tật. Vả chăng, Đoàn phu nhân biết rằng, dù ý bà có muốn như thế, Nguyên Huân có bao giờ lại nhận cái ân huệ lớn lao dường ấy...
Thấm thoát đã trăm ngày mất của Đoàn lão, Phu nhân sắm sanh lễ vật hương hoa cùng mâm rượu lên tế mộ chồng. Trời đã vào hạ, mầu nắng vàng chảy êm bên triền núi xanh, trên bãi cỏ mướt dưới gốc những cây phượng già đã bắt đầu nở bung sắc thắm những chùm hoa rực rỡ, mây trắng trôi dịu dàng trong bầu không gian thanh nhẹ. ông nằm đây đã ba tháng mười ngày, nhưng với bà như đã hàng thế kỷ.
Dư, Chu nhị vị và các con bà đã hành lễ xong, đứng im lặng kính cẩn sau lưng bà. Đoàn phu nhân tỏ ý muốn ở lại một mình, tất cả dường ái ngại nhưng vẫn tuân lời bà ra về. Bà một mình ngồi với ông cho đến sáng hôm sau. Sau đêm ấy bà ngã bệnh, và từ đó trở đi, sức khỏe bà suy sụp. Nhưng ý chí phải sống vì các con đã giúp bà vượt qua cái chết dịu dàng chờ đợi bà, cưỡng lại sự mời gọi của cõi chết mà bà hằng khát khao, mong ước.
Một hôm, bà nhẹ nhàng trách cứ Uyển Thanh:
- Cha con là người giang hồ phóng khoáng, sở dĩ muốn hai con thành thân trước, cũng là để khỏi phải cư tang chờ đợi ba năm; nếu bây giờ con giữ hiếu đạo ấy, chẳng phải là đã làm ngược lại ý của cha con hay sao?
Uyển Thanh nức nở khóc, bà gạn hỏi, một lúc sau nàng mới thổ lộ điều uẩn khúc dày vò nàng. Suốt đêm ấy, Phu nhân suy nghĩ miên man và buồn phiền vô hạn. Cuối cùng, bà gọi riêng Uyển Thanh vào phòng, không ngần ngại, bà nói cho con gái biết về tình yêu thầm lặng mà sâu đậm của Hoài Nam, kể từ khi em gái nàng cứu thoát Nguyên Huân giữa trùng vây nguy khốn của kẻ thù. Uyển Thanh ngồi lặng, xót thương em gái, và nàng tán thành ngay ý định của mẹ. Hoài Nam sẽ cùng nàng săn sóc Nguyên Huân, cùng nàng chia xẻ nỗi lo âu trĩu nặng tâm trí. Hoài Nam sẽ thay nàng gánh trách nhiệm nối dõi dòng họ Trần. Phu nhân vẫn lo lắng:
- Mẹ chỉ e rằng Nguyên Huân nó chẳng chịu!
- Mẹ, cứ để mặc con!
Đêm ấy, Uyển Thanh sang cùng Nguyên Huân. Nàng nhu thuận trong vòng tay chồng như bao nhiêu người vợ tròn nghĩa gối chăn. Nguyên Huân nâng niu tấm thân tàn phế của vợ và hôn lên khuôn mặt nàng. Dưới bóng trăng dịu dàng chiếu qua khung cửa nhỏ, đôi mắt Uyển Thanh long lanh giọt lệ, Nguyên Huân ngỡ rằng vì niềm hạnh phúc dâng đầy, nhưng Uyển Thanh lại nức nở tiếng khóc. Thấy vợ có điều khác lạ Nguyên Huân ôm vợ xoa tấm lưng trần dỗ dành gạn hỏi, Uyển Thanh dấu mặt vào ngực chồng kể nổi niềm riêng nàng mang nặng, cùng lời nàng yêu cầu mong chàng chấp thuận.
Nguyên Huân ngồi lặng, chàng đau đớn, nhưng chàng cũng thấy thương Uyển Thanh khôn xiết; cuối cùng chàng mỉm cười, tay xoa nhẹ trên bờ vai thon của vợ, vuốt cánh tay trần lành lặn của nàng, dịu dàng nói:
- Mình ạ! Đó là điều đáng buồn thật, nhưng cũng chẳng đáng để cho mình ray rút như thế. Ta nhất định không thể phụ mình, cho dù là mình vui vì điều mình muốn. Không, ta vĩnh viễn coi Hoài Nam là em gái của ta, nếu mình còn nói nữa, ta giận đấy. ý la đã quyết, xin mình đừng nói nhiều!
Nói xong, Nguyên Huân bịt miệng nàng bằng một chiếc hôn. Uyển Thanh nồng nàn hạnh phúc trong vòng tay chồng.

o0o

 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-01 19:29:41Hoàng Dung>
chương hai mươi chín
Tây Đô, bảo kiếm bay hồn giặc
Hàm Quỷ, thần uy bạt vía thù.


Sau cái chết đột ngột của Minh Thành Tổ, và cuộc thảm bại của Pháp Vương Dương Tiêu, Minh Nhân Tôn lên ngôi, lòng hoang mang lo sợ. Đứng trước tình thế chiến tranh với Mông Cổ, với Ngõa Thích, và các cuộc nổi dậy ở trong nước, đã đưa đến những khó khăn hết sức nghiêm trọng, nên đã hạ chiếu chỉ:
. . . "Những việc ở Giao Chỉ như khai khẩn vàng bạc và tìm kiếm hương liệu các loại, đều đình chỉ hết. Các quan lại sai đi công cán, không được sách nhiễu dân tình. Phải khẩn cấp lai kinh, không được kiếm cớ ở lâu để làm điều bạo ngược. . ." ( Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, chương III. Trang 15.)
Trong một sắc chỉ khác, ra lệnh cho bọn Trần Trí ".. . Phải khéo léo vỗ về chiêu dụ. ..".
Bước qua mùa xuân năm Ất Tỵ ( 1425) Trần Hiệp là Binh bộ Thượng thư, đứng đầu hai ty Bố chính Và án sát, đã mật tâu về triều cấp báo về tình hình lớn mạnh của Nghĩa Quân và xin lệnh đánh. Trong bản mật tấu có ghi:
" Lê Lợi đã chiếm Trà Long, giao kết với Thổ quan Ngọc Ma và Tù trưng Lão Qua để cùng làm ác. Lại khiến bọn nghịch đảng Phan Liêu và Lô Văn Luật đến các châu Gia Hưng, Quốc Oai chiêu tập đồ đảng, thế càng ngày càng lan rộng. Nếu không tiêu diệt gấp, e không còn kịp nữa..."
Biết ý định tấn công phủ đầu của địch, Nghĩa Quân Lam Sơn quyết định ra tay trước, tiến quân đánh chiếm Nghệ An, đánh địch trên đường chúng hành quân. Từ Nghệ An lên Trà Long có hai đường, một đi dọc sông Lam, hai là đường thượng đạo qua Đỗ Gia Nếu địch tiến quân cả hai đường, Nghĩa Quân sẽ bị kẹt trong gọng kìm. Để phá tan chiến thuật của giặc, và giành thế chủ động, chủ tướng Lam Sơn đã sai Đinh Liệt mang hai ngàn quân theo đường thượng đạo đánh chiếm Đỗ Gia, để khống chế mũi dùi của địch. Đinh Liệt đóng quân tại Linh Cảm Sơn, ngay ngã ba sông Ngàn Phố và Ngàn Sâu chủ ý khống chế con đường thượng đạo từ Thanh Hóa và Tân Bình, Thuận Hóa; ngăn chặn mọi sự tiến quân của giặc tiếp viện, hoặc cứu nguy cho thành Nghệ An.
Toàn bộ thực lực của Nghĩa Quân chiếm đóng ải Khả Lưu trên đường vào Nghệ An - ải Khả Lưu hiểm trở, có núi cao và rừng rậm hai bên; mọi việc giao thông từ Nghệ An lên Trà Long phải đi qua Khả Lưu.
Giữa lúc đó Trần Trí và Phương Chính đem đại quân từ Nghệ An tiến lên Trà Long, dùng cả thủy quân ngược sông Lam mà tiến. Địch đến bờ Nam của Khả Lưu, chuẩn bị tiến đánh sang bờ Bắc. Đây là trận đánh then chết, lần đầu tiên một trận địa chiến, có thời gian cho hai bên chuẩn bị, có sự tham chiến cả hai quân thủy, bộ. Quân địch rất đông, mà Nghĩa Quân, quân số chỉ chừng ba mươi ngàn, nên cuộc đọ sức phải bằng mưu trí và tinh thần quyết tử của Nghĩa Quân, hơn là thực lực.
Nghĩa Quân Lam sơn dụng kế phô trương thanh thế để lừa địch. Một toán quân tinh nhuệ cùng với tượng binh lẻn qua sông phía Nam phục kích. Sáng hôm sau lúc còn mờ đất giặc tiến công doanh trại, Nghĩa Quân trá bại, lừa địch vào ổ phục binh, rồi từ bốn hướng, Nghĩa Quân đổ ập ra chém giết. Địch thua to, chết tại trận địa và chết đuối lên đến hàng ngàn tên; hào khí cuồn cuộn như sóng lớn, Nghĩa Quân tràn lên như nước vỡ bờ, tấn công đánh chiếm các nơi trong địa phận Nghệ An, thanh thế lừng lẫy.
Nguyên Huân đã tìm đến Lam Sơn giữa lúc khí thế của Nghĩa Quân đang trào sôi. Chàng có mặt trong hàng ngũ như một người lính bình thường.
Ngay từ khi trở về Đại Việt, Nguyên Huân có ý định tìm ngay đến Lam Sơn, nhưng thời gian này là giai đoạn hòa hoãn giữa Nghĩa Quân và địch. Giai đoạn hòa hoãn kéo dài hai năm. Sở dĩ quân Minh chấp nhận sự hòa hoãn này là do những biến động nghiêm trọng từ mẫu quốc: cuộc chiến tranh với Ngõa Thích ở phía Tây, sự nổi dậy của con cháu Thuận Đế khiến Thành Tổ phải thân chinh, và những cuộc nổi dậy của dân chúng Phúc Kiến và Sơn Đông do Đường Trại Nhi và Đặng Mậu Tuất lãnh đạo.
Tình hình kinh tế trong nước bị kiệt quệ, tình hình quân sự rối ren..: Tuy biết được nội tình địch, nhưng Nghĩa Quân Lam Sơn cũng đang ở trong tình trạng kiệt quệ không kém, hay đúng hơn là vô cùng trầm trọng.
Từ khi các cuộc khởi nghĩa lẻ tẻ trong suốt mười sáu năm đã hoàn toàn bị dập tắt, địch dồn mọi nỗ lực để hòng đê bẹp Nghĩa quân Lam Sơn. Rút về Chí Linh lần thứ ba, quân sĩ phải sống bằng măng giang, măng nứa, rau rừng, củ chuối, có khi phải giết cả chiến mã , chiến tượng mà ăn, tình thế hết sức bi đát. Trong suốt hai năm hòa hoãn với giặc, từ tháng 4 năm Quý Mão (1423), Nghĩa Quân đã cũng cố lại thực lực, xây dựng căn cứ, chiêu binh mãi mã, và trong hai năm cố gắng gian khổ ấy, cuối cùng nghĩa quân đã có được một thực lực đáng kể.
Trận đánh đầu tiên sau suốt hai năm án binh bất động, với chiến thắng lẫy lừng ở Khả Lưu, đã đưa tinh thần chiến đấu của quân sĩ lên cao ngùn ngụt, và tạo được niềm tin lớn trong lòng trăm họ. Hào kiệt các nơi theo về như nước chảy, thanh thế bùng lên.
Sau đêm ngà ngọc, Uyển Thanh vẫn phiền muộn trong lòng. Nàng cảm kích tấm lòng của chồng bao nhiêu thì càng đắng cay cho phận mình bấy nhiêu. Khả năng sinh nở không còn, nàng không bao giờ trở thành là người mẹ, không thể nào làm tròn bổn phận thiêng liêng với chồng, với gia đình chồng. ý nghĩa quan trọng nhất của cuộc đời làm vợ là làm mẹ, là có con để nối dõi tông đường... Lợi dụng giữa những lúc ân cần, nồng nàn, mật ngọt trong tay chồng, Uyển Thanh bao lần nài nỉ, nhưng Nguyên Huân vẫn nhất định không nghe.
Giữa lúc ấy, Nguyên Huân gặp lại Khô Nỗ Viết. Người nghĩa sĩ của dân tộc La Sát này đã sang Đại Việt ngay từ đêm chia tay với Nguyên Huân ở khu Lâm trạm ngoại thành Nam Kinh. Họ Khô đã tìm đến Xa Khả Tham bằng lá thư giới thiệu của Đoàn Chính Tâm.
Đứng trong hàng ngũ Nghĩa Quân áo đỏ, quả thực ông không được hài lòng vì chủ trương của Xa Khả Tham, tuy rằng ông rất cảm phục sự chiến đấu anh dũng, kiên cường, cùng tinh thần hy sinh vô bờ bến của nhân dân Đại Việt. Họ Khô thường xuyên đi về thăm hỏi và đàm đạo với Đoàn Lục gia, đã được gặp gỡ hai nhân vật đứng đầu của nhóm Bát Đại Danh gia: Hoạt Phật đại sư, Thiên Hư đạo trưởng, ông cũng gặp cả nêu Đại Hùng. Chính Khô Nỗ Viết là người đã cứu Uyển Thanh trong trận quân Minh phục kích Nghĩa Quân ở Gia Hưng. Uyển Thanh ngày ấy bị vây bởi một toán Thất Sát Từ đó trở đi, Khô Nỗ Viết thường năng ghé thăm Lục gia hơn.
Lần này trở lại, Khô Nỗ Viết rất đau lòng khi biết Đoàn Lục gia đã qua đời. ông sung sướng gặp lại Nguyên Huân. Trong một buổi rượu, có cả Chu Cẩm Đoan và Dư Tứ, Nguyên Huân hỏi:
- Khô nghĩa sĩ, các hạ đến Đại Việt được gần năm năm, tình hình khởi nghĩa của các lực lượng Nghĩa Quân gần đây thế nào? Tại hạ mới chân ướt, chân ráo trở về, lại gặp lúc Nhạc phụ qua đời, nên chưa nắm vững được diễn biến...
Khô Nỗ Viết nói:
- Điều tại hạ tâm phục nhất là tinh thần chiến đấu kiên trì của nhân dân Đại Việt. Tuy nhiên cho đến ngày tại hạ đặt chân lên đất nước này, thì các cuộc khởi nghĩa lẻ tẻ của các thủ lãnh địa phương đã bị dập tắt hết. Chỉ còn lại Xa tướng quân, lấy địa điểm hiểm yếu của vùng Gia Hưng mà cố thủ, là vẫn còn đứng vững. Nhưng Xa tướng quân không có chí mưu đồ việc lớn, không dám đẩy mạnh cuộc khởi nghĩa lan rộng ra toàn quốc, cứ như vậy, trước sau cũng bị tiêu diệt!
Nguyên Huân hỏi:
- Còn cuộc dấy binh của Chúa đất Lam Sơn thế nào?
- Cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi, từ năm Mậu Tuất, cũng không có nét đặc sắc, chỉ là sự bùng dậy của một nhóm người; không có kế sách lâu dài, cũng không có cả phương châm hành động, vì vậy nhiều phen đã tưởng chừng tan rã sau ba lần rút về Chí Linh, mất cả vợ con tuy rằng có tạo được một số chiến thắng lớn, lần lượt như trận Mường Thôi, Bến Lộng, Bồ Mộng, Quan Du, Kình Lộng, Bồ Thi Lang, Đèo ống; nhất là cuộc chiến thắng ở huyện Khôi vào tháng 2 năm Quý Mão. Tuy nhiên, những trận đánh đó không cá tính cách chiến lược, nên không thể từ đó mà khuếch trương chiến thắng để chiếm lĩnh những địa bàn khác...
Nguyên Huân ngắt lời:
- Chẳng lẽ Nghĩa Quân Lam Sơn không có nhân tài có tầm nhìn chiến lược sao?
Khô Nỗ Viết mỉm cười:
- Tại hạ đến đây vào cuối năm Canh Tý. Theo nhận xét thì quả thật mà nói, Lam Sơn cứ địa dũng sĩ thì dư, nhân tài chẳng thiếu, nhưng chỉ là hạng cầm quân ngoài mặt trận. Lam Sơn thiếu hẳn một nhân vật chủ chết, thần mưu, thánh kế, có tầm viễn kiến để hoạch định sách lược. Trong bất cứ một cuộc dấy binh khởi nghĩa nào, thiếu người như thế, thì chẳng hy vọng thành công được!
Dừng một lát, Khô Nỗ Viết nói tiếp, và nhận định rõ hơn:
- Từ năm Canh Tý đến năm Nhâm Dần, có thể cả ba, bốn năm trước đó nữa, Nghĩa quân nằm ở trong tình trạng luôn luôn chuyển dịch, không đứng yên được ở nơi nào; không gây được cơ sở lâu dài, không mở rộng được vùng giải phóng, không phát triển lực lượng thích đáng với nhu cầu chiến trường, nghĩa là không mở được phong trào toàn dân đánh giặc. Không có hậu phương nên đã bỏ lỡ nhiều cơ hội, vẫn chỉ thử sức với địch tại một vùng nhỏ hẹp... Thế nhưng, từ đầu năm Quý Mão, tình hình đã đổi khác...
- Nghĩa là tình thế đã được cải thiện? Nghĩa là đất Lam Sơn đã có người tài?
- Vâng, đúng thế, Ngọa Long tiên sinh đã rời lều cỏ mà đến cùng Lưu Bị... Thiếu hiệp, theo như Đoàn Lục gia thì người này với Thiếu hiệp có tình gia tộc!
Nguyên Huân chợt nhớ là trước khi chàng ra ới, Uyển Thanh một lần đã có nói đến một nhân vật, mà người này phải gọi chàng bằng cậu. Chàng suy nghĩ một lát rồi hỏi:
- Nguyễn Trãi, có phải là người ấy không?
- Đúng vậy, đúng là Ức Trai tiên sinh. Có thể nói, người này là một Khổng Minh Gia Cát của Đại Việt!
- Xin cho nghe tiếp!
- Theo tôi biết thì lúc Nguyễn tiên sinh đến với Chúa Lam Sơn ở Lỗi Giang vào cuối năm Nhâm Dần, thì tuy đã tạo được chiến thắng ở huyện Khôi do tinh thần liều chết của quân sĩ, nhưng Nghĩa quân Lam Sơn chỉ còn chưa đầy một Lữ, nghĩa là chỉ còn được khoảng năm trăm quân. Trước tình hình quân số bi đát đó, thì Tiên sinh xuất hiện, như một vì sao sáng trên bầu trời tăm tối. Chúa Lam Sơn được Nguyễn Trãi như được Ngọa Long, bèn phong làm Tuyên Phụng đại phu, Hàn Lâm thừa chỉ, kiêm Lại Bộ Thượng thư, coi việc Nội mật. Tiên sinh dâng lên Vương ba kế sách Bình Ngô. Phúc thay cho nhân dân Đại Việt, bởi trước khi đến với Chúa Lam Sơn, ông đã nhìn ra những đối sách cần thiết phải thực hiện để đuổi giặc. ông đề nghị với Vương tạm thời hòa hoãn với địch.
Lúc đầu Lê Lợi không chịu nghe theo, ông dùng lời thuyết phục: Hòa với giặc để củng cố lại lực lượng, chấm dứt những khó khăn về lương thực và quân số, cần nhất là tạo dựng những căn cứ địa quân sự vũng chắc để có điều kiện chiến đấu lâu dài. Vận động nhân dân từng vùng đứng dưới cờ đại nghĩa, kiên định tinh thần quân sĩ "Vì nước quên mình", chịu đựng gian khổ, khắc phục mọi khó khăn, từ đó phát động cuộc chiến sâu rộng trong toàn cõi Đại Việt, chứ không còn thu hẹp trong phạm vi địa phương.
Từ kế sách và những mục đích đó, ông cải tổ lại quân đội,tổ chức hình thành chính quyền, lợi dụng mọi cơ hội để làm lớn mạnh khí thế. Dùng tâm lý để đánh vào lòng địch, làm suy giảm tiềm năng sức mạnh của chúng. Chỉ trong vòng chưa đầy hai năm, khí thế Nghĩa quân đã vững mạnh. Một kế hoạch tiến công gồm ba bước đã được vạch ra.
Ngày 20 tháng 9 năm Giáp Thìn, Lê Lợi tung quân chiếm đồn Đa Căng, đánh tan quân cứu viện của địch. Diệt tướng giặc là Trần Trung và hai ngàn quân địch trong trận Bồ Đằng.
Tháng 11 cùng năm, hạ thành Trà Long. Hiện nay đang tiến thẳng ra Nghệ An để giải phóng toàn bộ vùng này, làm bàn đạp diệt địch trên toàn cõi, khí thế đang như thác vỡ... Thế mới biết, một tài năng lớn cần thiết là dường nào! Thiếu hiệp có ý định dưới cờ tụ nghĩa chăng?
Nguyên Huân đáp:
- Hy sinh thân mình là bổn phận và trách nhiệm. Đất nước vẫn chưa sạch bóng giặc thù, dân tộc vẫn còn trong xích xiềng nô lệ, tại hạ họ lại ngồi yên mà nhìn hay sao? Bởi chưa rõ được tình hình của các cuộc khởi nghĩa nên mới còn trù trừ đó thôi!
Ba ngày sau, Nguyên Huân lên đường tìm đến căn cứ kháng chiến, chàng không tìm ra mắt Lê Lợi, mà nhập ngay vào đội ngũ quân số của Nghĩa quân. Chàng tự nghĩ :" Vị trí nào cũng nằm trong ý nghĩa chiến đấu diệt giặc để cứa nước. Giá trị đóng góp của mỗi người ngang nhau, mỗi người mỗi trách vụ, đất nước chỉ cần ở ta tài năng và trí dũng..."
Chàng trở thành một Nghĩa binh vào tháng 6 năm ất Tỵ. Binh đội chàng dưới quyền chỉ huy của tướng Đinh Lễ, bàn chân chàng đã đi cùng khắp các huyện, hạt thuộc Diễn Châu, Thanh Hóa. Chàng đã tham dự tất cả những trận đánh và góp phần đem lại các chiến thắng lẫy lừng cho Nghĩa quân. Tướng giặc là Thôi Tụ kinh hồn bạt vía, đóng chặt cửa thành không dám ra đối chiến.
Nhưng với thời gian, Nguyên Huân nhận ra rằng, với địa vị của một người lính, cùng với những luật lệ ràng buộc, chàng không thể thi thố được hết khả năng của mình, không thể tự mình làm những điều vượt ra khỏi kỷ luật và phạm vi của một người lính. Khi xung trận, chàng không được rời bỏ hàng ngũ chiến đấu, không thể tự mình được phép truy kích địch. Chàng không thể hiển rộng thần uy, mà phải cơ nào đội nấy, tiến thoái theo trống trận. Bởi thế, trong suốt thời gian trong quân ngũ Nghĩa binh, chàng chỉ có thể cùng anh em trong cơ đội thi hành những mệnh lệnh của thượng cấp một cách chu toàn.
Trong những trận tấn công, chàng khéo léo không tỏ ra trội hơn các đồng ngũ, chàng chỉ có thể dùng đến võ công siêu tuyệt của mình âm thầm bảo vệ tính mạng cho đồng đội; do vậy, trong suốt những trận đánh, dẫu khốc liệt cách mấy, sự tổn hại về nhân mạng trong cơ đội của Nguyên Huân hầu như không đáng kể. Những Nghĩa binh đồng ngũ không ai biết gì về Nguyên Huân ngoài một nhận xét chung: chàng là một người kỳ dị, lúc xung trận, chỉ thấy bóng chàng thoắt chỗ này, thoắt lại chỗ khác, có mặt kịp thời cứu nguy đồng đội kịp lúc... Những Nghĩa binh trong cơ đội, mỗi người ít nhất cũng một lần được Nguyên Huân, dưới cái tên là Đoàn Nam Thanh, cứu mạng.
Một buổi chiều, ngang qua khu vực rừng núi Diễn Châu, cơ đội Nghĩa binh có lệnh nghỉ dưỡng quân, những người lính mỏi mệt ngồi tựa vào những thân cây rừng, dùng bữa bằng những gói lương khô, mặc cho những tiếng gầm à uôm từ sâu trong rừng thẳm vọng lại. Nguyên Huân, ngồi dựa bên cạnh một người lính Nghệ, đó là một người đàn ông to lớn khỏe mạnh; người lính với số tuổi ba mươi này, vốn thường tự hào là tay giỏi võ trong cơ đội, được đề bạt làm toán trưởng, trông coi mười Nghĩa binh dưới quyền. Toán trưởng Phạm Hữu từ lâu vẫn thường nghe trong cơ đội xì xào về Nguyên Huân, về những hành động cứu nguy đồng đội như quỷ mị của chàng. Riêng Phạm Hữu thì vẫn không tin, vì theo nhận xét của họ Phạm, khuôn mặt Nguyên Huân không tỏ lộ những nét đặc biệt của những người có thân võ học thượng thừa, gò thái dương không nổi cao như những người từng khổ luyện nội công, và đôi mắt, không long lanh ánh tinh quang, mà chỉ là tia nhìn ấm áp bình thường. Tuy rằng chẳng tin, nhưng Phạm Hữu vẫn băn khoăn khi nhớ lại trận phục kích nhỏ ở Đông Lũy.
Lần ấy, họ Phạm giao đấu chính với tên tùy tướng của giặc, võ công tên này thuộc hàng cao thủ, Phạm hữu không sao địch lại. Giữa khi luống cuống nguy nan, Đoàn Nam Thanh xuất hiện đột ngột, cứu nguy cho Phạm Hữu với một ngọn trường thương trên tay. Họ Đoàn múa may quờ quạng, nhưng địch thủ hầu như chẳng chạm được vào người. Rồi bỗng dưng chàng té ngồi xuống đất trong lúc tên tiểu tướng kia lại đứng trơ ra như phỗng, bị Phạm Hữu dùng thương đâm chết tết. Lúc ấy Phạm hữu vẫn cho là nhờ may mắn, chứ chàng lính họ Đoàn kia, nếu cho là biết võ công thì cũng là quá đáng.
Bây giờ, tình cờ cùng ngồi với nhau dưới gốc cây, Phạm Hữu nhìn đăm đăm Nguyên Huân một chốc, đoạn thân mật hỏi:
- Này, chú họ Đoàn, quê chú ở đâu?
- Tiểu đệ quê ở Xương Giang.
- Ta nghe trong cơ đội đồn với nhau là chú có phép phân thân phải không?
- Phép phân thân nghĩa là làm sao?
- Là có thể chia mình ra ở ba, bơn chỗ khác nhau cùng một lúc!
- Phạm đại ca tin như vậy à?
- Thì ta cũng nghe anh em nói vậy!
- Ai nói với đại ca thế?
- Anh em Nguyễn Giai, Nguyễn Tất. Anh em họ thuật lại cho ta nghe lần chú đã cứu cả hai gần như cùng lúc, trong khi ngộ hiểm ở hai nơi trong cùng một trận đánh..
- Úi chà, đại ca tin làm gì những chuyện nhảm nhí ấy...!
Một tiếng gầm vang lên ngắt ngang lời Nguyên Huân, đi theo là một mùi hôi thối nồng nặc, hai khối đen to lớn từ trong bụi cây rậm trước mặt phóng vụt ra, nhằm Nguyên Huân và họ Phạm chụp xuống... Phạm Hữu thất kinh, nhưng vốn là con nhà võ, y phản ứng rất nhanh, tràn người lăn xuống đất sang một bên lẹ như con vụ, cùng lúc họ Phạm nghe một tiếng rít rất lạ sát bên tai, và hai tiếng rống thảm thiết của hai con vật đồng lúc vang dội. .. Phạm Hữu xoay người lại, y vô cùng kinh ngạc, Nguyên Huân vẫn ngồi dựa vào gốc cây, trước mặt hai bên, hai con vật dữ chỉ còn là hai cái xác, máu phun ra từ một vết thương rất nhỏ trên ngực. Cả hai đã bị một vật gì đó, đâm xuyên qua tim.
Phạm Hữu sững sờ, hết nhìn Nguyên Huân lại nhìn xác hai con cọp to lớn. Nguyên Huân vẫn ngồi nhắm mắt tựa vào gốc cây như hóa đá...
Phạm Hữu không dừng được cất tiếng hỏi:
- Thế này là thế nào?!
Mắt Nguyên Huân mở ra:
- Tiểu đệ cũng như đại ca, không biết tại sao, chắc có ai đã cứu chúng ta!
Phạm Hữu im lặng không nói gì. Sự việc được trình lên, tướng Đinh Lễ thân đến quan sát, cũng không đoán được hai con vật bị giết bở loại khí giới gì, và ai đã tiếp cứu? Hai khối thịt đang đà phóng xuống, sức nặng cả ngàn cân, dường như bị đánh bật tung lên, lật ngửa về phía sau. Đinh Lễ gạn hỏi, Nguyên Huân một mực trả lời là lúc ấy vì quá hết hoảng chỉ biết nhắm nghiền mắt chờ chết, nên không còn biết được điều gì Đinh Lễ vốn là một dũng tướng trăm trận, nhưng ông không thể tin được trên đời lại có người có công lực thượng thừa dường ấy. Chỉ có Phạm Hữu, tuy không nói được gì, nhưng theo linh cảm, tin chắc con người kỳ tài ấy chính là Nguyên Huân.
Phần Nguyên Huân, chàng vẫn tự nghĩ, đóng góp công sức mình cho Tổ quốc có nhiều cách. Chàng không muốn ra mắt Bình Định Vương, hoặc Quân sư Nguyễn Trãi, hoặc là gặp Trần Nguyên Hãn; không phải chàng tự thị với tài năng của mình, nhưng là để có được một phương cách tiêu diệt kẻ thù hợp với năng lực, thiết thực và hữu ích hơn. Bây giờ, nếu bằng vào tài năng, được giao cho sứ mệnh của một viên tướng cầm quân, chàng vẫn cảm thấy có sự gò bó, vẫn cảm thấy một sự hạn chế nào đó. Khả năng của chàng không phải ở những vai trò này, và chàng cũng không cầu cái chức danh hạn hẹp, nghĩa là đứng ở vị thế cao hơn người khác. Chàng chỉ muốn xử dụng bằng hết cái năng lực hiện có.
Trong hàng ngũ đội quân xâm lược khổng lồ hung bạo kia, vẫn có những con người bị ép buộc đặt chân lên đất nước chàng để chém giết, còn chàng, Nguyên Huân, lại không thể nhắm mắt, cũng lấy chém giết làm phương châm hành động. Những tên lính giặc Minh kia, chúng nào có muốn rời bỏ quê cha đất tổ, rời bỏ vợ con, rời bỏ đời sống an lành để lao vào lửa máu chém giết ở một nơi chốn xa xôi, thí thân cho mộng cuồng điên, tham bạo của những tên chủ tướng, của bọn vua chúa ở trên ngôi cao; chàng không thể, không muốn, trút căm thù lên đầu những con người ấy. Kẻ thù, chính là những tên lấy quê hương chàng làm điều tàn bạo để mưu lợi, đem dân tộc chàng vào vòng nô dịch để bóc lột sức người, sức của, để làm giàu thêm cho đất nước của chúng; những tên đó đáng cho chàng dùng tài sức mà tận diệt.
Bọn Thất Sát trong hàng ngũ của quân Minh, chính là những: tên bạo lực then chết, là công cụ đắc lực nhất của Minh triều. Chúng hành động tàn bạo, cướp bóc và chém giết dân lành Đại Việt không ghê tay. Diệt trừ bọn Thất Sát là mục tiêu thiết yếu nhất, và như thế, chàng không thể tiếp tục kéo dài thời gian trong hàng ngũ chiến đấu của Nghĩa quân.
Từ khi tên cầm đầu chóp bu của chúng, là Dương Vương không còn nữa, bọn Thất Sát đoàn hầu như đã tan vỡ, hay đúng hơn, nó không còn được sử dụng trong khía cạnh tiêu diệt các môn phái võ lâm Trung Thổ, mà chúng được duy trì, xử dụng mạnh hơn nữa trong công cuộc xâm lược của bọn chủ tướng. Người chỉ huy cao nhất của chúng đang ở Đại Việt là Mã Kỳ, một trong những tên tướng tàn bạo nhất, và điều khiển trực tiếp đoàn Thất Sát trên chiến trường Đại Việt là hai tên: Tạ Cương và Vu Hán. Hai tên này, ngoài võ công cực kỳ cao siêu, là hai tên hung hiểm, bạo ác nhất. Thất Sát đoàn là những tên có nhiệm vụ do thám, những tên có bổn phận theo dõi, khám phá ra những cuộc nổi dậy của Nghĩa quân, để bóp chết từ trong trúng nước. Chúng toàn là bọn cao thủ, Nghĩa quân khó có người đủ sức chống trả... Chúng phải bị tiêu diệt, đó là trách nhiệm đúng với khả năng của chàng.
Nguyên Huân tạm rời hàng ngũ Nghĩa quân. Một thân một kiếm, chàng âm thầm bỏ đi, và từ đó Nguyên Huân trở thành nổi kinh hoàng cho bọn Thất Sát, gây ra trong hàng ngũ bọn giặc Minh những hoang mang, rúng động. Những nơi đóng quân của chúng, những đồn bót, những thành lũy, những doanh trại, nơi nào có mặt quân Minh là có mặt của Nguyên Huân.
Bọn Thất Sát tổn thất nhân số ngày càng nhiều, nhưng chúng càng ráo riết truy tầm hung tinh, thì kiếp sát để lại hiện trường lại càng làm cho chúng thêm run sợ. Nguyên Huân tận diệt chúng không chút xót thương, chàng không để cho một tên Thất Sát nào sống sót. Chúng là những tên xứng đáng phải chết, chàng không hề bị dằn vặt về sự tàn sát của mình. Chúng là những con rắn độc, không chỉ là nổi kinh hoàng cho dân tộc chàng, mà còn cho cả trăm họ Hán tộc Bị tiêu diệt quá nặng, số bọn Thất Sát còn lại co cụm về Tây Đô. Chúng không còn dám công khai đi lại xách nhiễu dân chúng nữa. Dưới trướng của Tạ Cương, Vu Hán, hơn hai ngàn tên Thất Sát được tung đi hành động rải rác trên đất nước phương Nam, giờ chỉ còn lại sáu, bảy trăm tên co rút về Tây Đô có hào có lũy...
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-01 19:33:51Hoàng Dung>
Được sự tăng viện của Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị, tướng Đinh Lễ kéo quân vây hãm Tây Đô. Bọn giặc Minh bị kẹp giữa hai gọng kìm của hai đạo quân với khí thế đang lên ngùn ngụt. Tây Đô là một thành trì hết sức kiên cố, tường cao hào sâu. Đây là nơi đầu não, bản doanh của địch.
Thành được Hồ Quý Ly xây dựng vào năm Đinh Sửu (1397), và bắt buộc vua nhà Trần cùng triều đình phải bỏ Thăng Long dời đô về đấy, nên gọi là Tây Đô. Sau khi tiêu diệt nhà Hồ, quân Minh đã biến Tây Đô thành một căn cú quân sự lớn để khống chế và kiểm soát cả một vùng rộng lớn từ Thanh Hóa, Nghệ An, đến Tân Bình, Thuận Hóa, do Mã Kỳ, một trong những tên võ quan cao cấp của địch, đầy mưa mô trấn giữ.
Dưới tay Mã Kỳ, ngoài sáu, bảy vạn quân, còn cả một lực lượng Thất Sát đoàn vô cùng lợi hại. Mã Kỳ cũng là một võ quan ở trên đất Đại Việt lâu nhất. Y vừa khôn ngoan, vừa tham tàn. Mã Kỳ tung hai vạn quân đón đánh hai đạo quân của Đinh Lễ và Lê Sát, Lê Nhân Chú, Bùi Bị nhưng bị Nghĩa binh đánh một trận tan tác, phải rút vào Tây thành cố thủ.
Đinh Lễ bủa quân vây thành, cho quân sĩ kêu réo đích danh Mã Kỳ chửi mắng. Mấy lần Mã Kỳ mở cửa thành ra nghênh chiến, nhưng lần nào cũng bị đại bại. Hai đạo Nghĩa binh để lại một bộ phận để hoàn thành, còn bao nhiêu đều tỏa ra hết các châu huyện đánh chiếm, chỉ vài ngày sau, toàn phủ Thanh Hóa đã hoàn toàn ở trong tay Nghĩa quân.
Tây Đô bị cô lập, quân số trong thành tuy đông, nhưng trước khí thế mờ Ngưu Đẩu của Nghĩa quân, chúng chỉ cố thủ liều chết giữ thành, chứ không mở được một trận phản công nào, tình thế cứ vậy kéo dài, tướng Đinh Lễ hết sức nóng ruột...
Một hôm, như thường lệ, Lê Sát cho quân khiêu chiến. Từ trong thành một tiếng pháo bỗng nổ vang, và cửa thành mở rộng. Trong thành, kéo ra một đạo quân, một đạo quân hết sức kỳ dị. Đi đầu là hai người ngồi trên lưng hai chiến mã , trên lưng ngựa đi đầu, một người ăn vận theo lối võ lâm Trung Nguyên, râu quai nón, không giáp trụ, giắt phía sau hai thanh trường kiếm, đôi mắt sáng như sao băng. Trên con ngựa kế, một người dáng nho nhã, mặc bộ quần áo trắng, tóc búi cao, đuôi tóc bỏ xõa xuống sau gáy, tay cầm một cây quạt ngà, tướng mạo như một thư sinh văn nhược, phong lưu. Theo sau hai nhân vật này là một đoàn người ăn mặc cũng kỳ dị không kém, không mũ mạo, giáp trụ, lưng đeo trường kiếm, mặc thường phục màu xanh xám, trên đầu bịt khăn võ sinh đủ các màu xanh, vàng, trắng, đỏ, tím,nâu, đen. Tất cả không quá tám trăm tên. Nghĩa binh vô cùng kinh ngạc, không hiểu chúng định giở trò gì với đạo quân ít ỏi ấy!
Kéo ra khỏi chân thành một quãng, tám trăm quân đủ màu sắc xếp thành một trận thế lộn xộn, không thứ tự, lớp lang gì. Đứng giữa trận là hai nhân vật võ lâm đi đầu, đối diện với các tướng binh Đinh Lễ, Lê Sát, Lưu Nhân Chú và Bùi Bị. Các mãnh tướng của đoàn Nghĩa quân hùng hậu bày thành trận Trường Xà.
Tướng Đinh Lễ cất tiếng quát:
- Hai tên giặc tên họ là gì? Mang một đoàn người quân chẳng ra quân, lính chẳng ra lính ra đây với mục đích gì?
Tên râu quai nón cười lớn, tiếng cười của y vang dội cả một vùng:
- Ta là ai? Ngươi muốn biết, ta cũng chẳng hẹp lượng gì. Ta là Bát Tý Na Tra Tạ Cương, người bên cạnh ta chính là Ngọc Diện Lang Vu Hán. Khắp cả võ lâm Trung Nguyên, không ai không nghe đến danh ta. Ta thấy bọn các người lăng xăng, ta ngứa mắt, nên hạ cố ra đây dạy dỗ một phen!
Lê Sát quát lớn:
- Không được vô lễ, thì ra hai đứa chúng bay là bọn cầm đầu Thất Sát đoàn, hãy cút đi, gọi Mã Kỳ ra đây. Một đám quân như thế này, ngươi làm gì được!
Nói chưa dứt lời, từ cây quạt trên tay của Vu Hán, lấp lánh một vệt sáng phóng ra, nhằm mặt Lê Sát. Họ Lê nghiêng người, lưỡi phi đao mỏng rít qua màng tang, bay thẳng như sao xẹt đánh trúng vào viên cận tướng đứng rất xa ở phía sau, ngã nhào xuống ngựa.
Từ trong hàng quân của Đinh Lễ, hai viên tướng chẳng chờ lệnh, phóng ngựa phi ra, vung đoản đao tấn công Tạ Cương cùng Vu Hán. Hai họ Đinh, Lê chỉ thấy Vu Hán mỉm cười giải lụa bạch trong tay y tỏa ra như một vệt mây trắng; chỉ nghe tiếng giải lụa quyện gió, tiếng rít lạnh người, một viên tùy tướng đã bị đánh vỡ đầu, ngã lăn xuống ngựa, cùng lúc có tiếng quát của Tạ Cương, thanh trường kiếm trên vai y đã rời khỏi vỏ, lưỡi kiếm như một đạo cầu vòng, chụp xuống, chặt đứt đôi đoản đao trên tay viên tướng Việt, hớt bay một bên bả vai. Viên tùy tướng chưa kịp giao thủ đã táng mạng.
Đinh Lễ giật mình kinh hãi. Võ công hai tên này thật là lợi hại, ông không dám coi thường, phất cờ hiệu toan ra lệnh cho cả hai đạo quân binh cùng xông lên tấn công; nhưng từ rất xa, một tiếng hú thoắt vọng đến. Càng đến gần âm thanh tiếng hú càng lồng lộng, đạo binh Nghĩa quân vừa chợt khởi động bỗng đứng im, ngàn cặp mắt chăm chú nhìn vào một bóng người vừa xuất hiện.
Thân pháp người mới đến như một con thần điêu xòe cánh, lộn một vòng trên không, rồi đặt chân lên đầu con ngựa của viên tùy tướng vừa tử trận, đang phi nhanh về hướng Nghĩa quân. Chiến mã ngừng lại cách tướng Đinh Lễ một quãng ngắn. Toàn bộ chiến trận vẫn im phăng phắc.
Đứng trên đầu ngựa là một thanh niên, mặc bộ võ phục màu vàng, giữa ngực in rõ hình một chim Phượng tím, đầu thanh kiếm nhô lên sau lưng. Nguyên Huân, chính là Nguyên Huân, vội nhảy xuống ngựa, chàng đến trước mặt Đinh Lễ, nghiêng mình:
- Xin tham kiến Tướng quân!
Tướng Đinh Lễ cau mày, trong trí nhớ, ông thấy người thanh niên này có nét quen thuộc, nhưng vẫn chưa thể nhớ ra, đành nghiêng đầu đáp lễ:
- Thiếu hiệp là ai? Có thể cho ta được biết mục đích đến đây được chăng?
- Tại hạ là người Đại Việt, xin thưa cùng Tướng quân một điều...
Ba tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị cùng phóng ngựa đến đứng quanh. Đinh Lễ điềm tỉnh cất tiếng:
- Xin cứ nói!
Nguyên Huân xoay người, chàng vòng tay thủ quyền chào ba vị tướng quân vừa tới, nói:
- Sở dĩ hôm nay tại hạ đến đây là vì hai tên kia, Vu Hán và Tạ Cương, cùng với bọn Thất Sát tay sai của chúng!
- ý ngươi là thế nào?
Lê Sát nóng nảy hỏi.
- Hai tên này vốn là tuyệt đại cao thủ của võ lâm Trung Nguyên. Bọn chúng được Pháp Vương Dương Tiêu chỉ định đứng đầu bọn Thất Sát tại Đại Việt. Mã Kỳ tuy là tên đầu sỏ, nhưng mọi sự điều động cho bọn Thất Sát là do ở hai tên này. Những việc làm của chúng chắc các vị Tướng quân chẳng được rõ lắm.
Thất Sát đoàn hiện diện trên đất nước ta là để thi hành nhiệm vụ do thám, ám sát, bắt cóc, bọn chúng xâm nhập mọi nơi để lấy tin tức, hoặc phá vỡ mọi mầm mống nổi dậy chống đối; cho nên chúng gồm toàn là những tay võ nghệ cao cường. Chúng liên hoàn từng nhóm với sở trường Thất Tinh Kiếm trận. Hiện diện tại nơi này, chỉ với tám trăm tên kia, nếu chúng khai mở Thất Tinh Liên Hoàn Kiếm trận, sẽ có uy lực lớn hơn cả mấy vạn quân, bởi chính vì thế mà tại hạ khẩn cấp đến đây!
Lưu Nhân Chú gằn giọng:
- Ngươi đến đây dùng lời để dương danh bọn chúng, và để làm nhụt nhuệ khí của quân binh ta chăng?
Mắt nhìn như tóe lửa vào đám cỏ gai Thất Sát trước mặt, Nguyên Huân vẫn ôn tồn đáp lời họ Chu:
- Việc quân binh là quan trọng, giặc đang ở trước mắt, xin Lưu tướng quân đừng nghi ngờ tại hạ. Tại hạ vì sợ chiến trận ngày hôm nay sẽ có sự tổn thất lớn, nên vội đến đây thưa thật để tránh sự khinh xuất, đó là lời thật. Xin chư vị Tướng quân cho phép tại hạ được cáng đáng việc này!
Nói vừa dứt, thân pháp chàng đã như vệt khói vàng tụ lại đứng sừng sững trước đầu ngựa Tạ Cương, hắn giật mình cho ngựa thối lui, vừa quát hỏi:
- Tên hoàng y cường tặc kia, có phải ngươi là thủ phạm đã lén lút ám hại các thủ hạ ta đó chăng?
Nguyên Huân nhếch mép cười nhạt:
- Tạ Cương, Vu Hán, cường tặc chính là bọn các người, là bọn ngoại xâm tham bạo. Còn ta, đường đường là một thần dân Đại Việt, ta bảo vệ cho xứ sở của ta mà ra tay trừ lang sói, sao lại gọi là lén lút?
Vu Hán không nói gì, hắn nhìn Nguyên Huân nở nụ cười, nụ cười và ánh mắt hắn thật kỳ lạ, thoáng có chút xao động trong lòng Nguyên Huân. Như chợt hiểu, chàng quắc mắt nhìn lại y. Tia nhìn dường như có uy lực, nụ cười trên môi hắn tắt ngấm. Nguyên Huân trầm giọng:
- Con sói trai lơ kia, đừng giở Nhiếp Hồn Pháp Ma công, đối với ta vô ích. Nếu hôm nay bọn chúng bay khấu đầu nhận tội lỗi, ta sẽ vì đức hiếu sinh mà để cho mang thân về nước. Biết ăn năn những hành vi tàn bạo, đó là cái phúc của tổ tiên các ngươi để lại đó!
Tạ Cương như không chịu nổi những lời lẽ của Nguyên Huân, y hét như sấm:
- Ngươi! Ngươi là cái thứ gì mà dám lớn lối đến như thế?
Quát chưa dứt Tạ Cương đã toan xuất thủ. Nguyên Huân giơ tay ngăn hắn lại:
- Ta nói cho ngươi biết, dẫu cả hai đứa liên thủ cũng không đáng cho ta động tay. Vu Hán, ta hôi, võ công ngươi với Tâm Xà Lang quân Mã Cốt Ngạc thế nào?
- Sao người biết được Sư bá ta?
- Vu Hán, ngươi là một tên khi sư diệt tổ, mặc dù Thiên ái sư phụ ngươi, cũng chỉ là một con ma đầu đáng chết. Có phải ngươi sợ Mã Cốt Ngạc truy sát mà lẩn sang Đại Việt ta rồi làm những hành vi tàn bạo như thế chăng? Bao nhiêu thiếu nữ trinh trắng đã bị ngươi dày vò, tội ấy quyết không tha được. Nhưng nếu người thật lòng ăn năn, ta cũng có thể tha thứ cho ngươi về cố quốc. Mã Cốt Ngạc thì đã bị giết rồi.
- Ngươi là ai mà biết những điều ấy! Đã thế, hôm nay không để cho ngươi sống được!
Nói xong, y ngẩng mặt huýt lên một tiếng dài như tiếng còi. Tám trăm tên Thất Sát nhất loạt khai triển Thất Tinh Liên Hoàn trận pháp bao vây Nguyên Huân vào giữa, đồng thời Tạ Cương, Vu Hán nhất tề xuất thủ.
Hai thanh kiếm trên tay Tạ Cương rít vèo vèo, dưới ánh nắng chói chang, bóng kiếm đảo ngược vào nhau như đôi rồng quẩy khúc, kình lực hết sức mãnh liệt, thật không hổ danh là Bát Tý Na Tra. Y tung người xuống ngựa, hai thanh kiếm tỏa rộng như có muôn vạn mũi kiếm tấn công vào các trọng huyệt của Nguyên Huân, chiêu thức kiếm pháp của y hết sức quái dị và tàn độc; trong khi giải lụa bạch trong tay Vu Hán tung ra đánh vào thượng bàn của chàng: giải lụa mong manh nhưng có uy lực không thua gì thiết côn, cùng lúc năm gả bịt khăn vàng, Kình Dương, nhất loạt nhảy vào hình thành kiếm trận Thất Tinh.
Nguyên Huân ngửa mặt lên trời, tiếng hú chàng như xoáy vào bầu không gian lồng lộng, tiếng hú như xoáy vào từng màng nhĩ của hàng vạn quân binh đang trố mắt theo dõi trận chiến lạ mắt, lần đầu tiên được thấy trong đời đang diễn ra.
Hốt nhiên, thân người Nguyên Huân thoắt trở thành một chiếc bóng vàng mờ nhạt xuyên giữa vùng kiếm ảnh; tức khắc năm chiếc đầu bịt mặt như cùng rơi xuống mặt đất cùng lượt. Chàng quyết tâm đại khai sát giới.
Hơn tám trăm tên Thất Sát bao vây lấy chàng như nêm cối. Như một con Thần điêu, Nguyên Huân tung mình xoay tròn trên cao, những chiếc đầu bịt khăn đủ màu sắc, những cánh tay còn cầm theo vũ khí bay văng lên trong khoảnh trời đầy nắng như những vật vô tri, nhuộm đầy máu đỏ, rơi xuống, lăn lông lốc, rồi bị đạp nhầu lên dưới chân của chính bọn đồng bọn. Những tiếng rú như bị nghẹt cứng trong cổ họng chưa kịp kêu lên... Nguyên Huân quyết tận diệt bọn Thất Sát không chừa một tên, rồi mới thanh toán hai tên đầu sỏ Tạ Cương, Vu Hán bám theo, quyết ngăn chặn không cho chàng tung hoành. Nguyên Huân quát:
- Ta đã cho hai đứa bay được sống thêm đôi khắc nữa, nhưng muốn đi trước dắt đồng bọn thì ta chẳng hẹp lượng gì!
Huyền Thiết kiếm thoắt như biến mất. Nguyên Huân vận Hỏa Vân Công vào Vân Hà Tỏa Kiếm, Sát Na Vô Lượng ra..., chỉ nghe những tiếng rú thê thảm liên tiếp, thân người ngã xuống như thân chuối đổ, đè chồng lên nhau. Tạ Cương, Vu Hán, thần kiếm chém đứt đôi người, Thất Tinh Kiếm trận đã vỡ hoàn toàn, trên trận địa, lúc này còn khoảng hai trăm tên Thất Sát kinh hoàng, thất thần ôm đầu tìm hướng chạy...
Trận chiến khủng khiếp diễn ra trước mắt mấy vạn Nghĩa quân. Cả tướng, sĩ đứng ngây người sững sờ như tượng. Bốn Tướng lĩnh Nghĩa quân như những kẻ ngủ mê, đến khi định thần thì cuộc chiến hầu như đã tàn. Nguyên Huân đứng giữa đám xác giặc ngổn ngang, uy dũng như một vị thần, chàng nhìn khắp rồi cung tay cất tiếng chào:
- Xin bái biệt!
Bóng vàng vút lên cao, thoáng chốc mất dạng. Đinh Lễ, thần trí còn ngơ ngẩn, nói một mình:
- Phải rồi, đúng là y, đúng là y, tiếc thay...
Lê Sát hỏi:
- Đinh huynh nói gì vậy?
Đinh Lễ thở dài nói:
- Tiểu đệ đã nhớ ra, y là một Nghĩa binh trong đạo quân của tiểu đệ. Tiểu đệ thật có mắt như mù. Y quả là con rồng thần, thấy đầu mà chẳng thấy được đuôi. Linh khí của Đại Việt ta đã hun đúc nên một kỳ nhân tuyệt vời, cuộc chiến này, chúng ta nhất định sẽ thành công...
Quả đúng như lời Tướng quân Đinh Lễ, hạ được Tây Đô, thanh thế của Nghĩa quân ào ào như sấm dậy. Suốt một dải đất từ Thanh Hóa, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa đều được giải phóng, giặc chỉ còn lại những thành trì cô độc như những cù lao giữa biển lớn, chúng liều chết cố thủ.
Nghĩa quân suy tôn Lê Lợi là "Đại Thiên Hành Hóa". Đại quân rùng rùng như thác vỡ bờ tiến thẳng ra Bắc. Những trận thắng lớn liên tiếp nổ vang dội làm nức lòng người: Trận Ninh Kiều ngày 12 tháng 8 năm Bính Ngọ, đánh tan đạo quân của Trần Trí; trên ngàn xác địch phơi thây tại trận đã mở đầu cho những chiến thắng khác do Phạm Văn Xảo lập công đầu.
Trận Cầu Mộc ngày 20 tháng 9 năm Bính Ngọ do Lý Triện chỉ huy, giết chết các tướng giặc Đào Sâm, Tiền Phụ và Triệu Trinh, chủ tướng giặc là Vi Lượng bị bắt sống với hàng ngàn thây giặc ngổn ngang khắp trận địa.
Trận Xa Lộc ngày 20 tháng 10 cùng năm đã làm uy thế Nghĩa quân càng lúc càng tăng. Trận đánh ở cầu Ba Na ngày 5 tháng 11 - Bính Ngọ, đánh Sơn Thọ, Trần Trí bại vong Trận Tốt Động, Chúc Động ngày 10 tháng 11  năm Bính Ngọ, giết chết 70.000 tên giặc, bắt sống 12.000 tên, một số tướng lĩnh của địch tử trận, trong đó có Thượng thư Trần Hiệp và Nội quan Lý Lương.
Đại quân Lam Sơn kéo ra vây đánh Đông Quan, đồng thời chia lực lượng đi giải phóng dần dần các miền phụ cận khác Bị vây ngặt ở Đông Quan, Vương Thông viết thư, sai hai người tâm phúc là Từ Thành và Vũ Nhàn, hai lần dâng gửi về triều. Trong thư có đoạn:
"Chớ tham chỗ đt một góc làm nhọc quân đi muôn dặm, nếu có được số quân nhiều như trước đây, và bảy, tám tướng giỏi như Trương Phụ, thì mới có thể đánh được; nhưng dù có đánh được cũng không thể giữ được"(Đại Việt Thông Sử của Lê Quý Đôn).
Lá thư này bị lọt vào tay quân ta ngày 10 tháng chạp năm Bính Ngọ. Được tin Vương Thông và đạo quân của y bị vây khốn ngày 26 tháng chạp cùng năm, Minh Nhân Tôn cử hai đạo binh sang cứu. Các đội quân ở Nam Kinh, Bắc Kinh, Trung Đô, Vũ Xương, Hồ Quảng, Giang Tây, Phúc Kiến, Triết Giang, Sơn Đông, Hồ Nam, Quí Châu, Quảng Đông, Quảng Tây được điều động để thành lập đạo viện quân thứ nhất.
Đạo quân tiếp viện thứ hai lấy quân ở Thành Đô, Tứ Xuyên,Vân Nam hợp thành. Hai đạo này rưng dụng quân ở khắp các nơi hết sức khó khăn, mới đủ số mười lăm vạn quân, và ba vạn ngựa với quân trang, vũ khí.
Từ nhiều năm qua, dân chúng Trung Hoa đã nổi lên chống lại Minh triều, như Đặng Mậu Thất, Đường Trại Nhi ở Sơn Đông, cuộc nổi dậy của nhân dân Quảng Tây, Vân Nam: Tích Lịch Đại Vương đã chiếm đất xưng đế, các xứ Tầm Châu, Giang Tả không giữ được. Cuộc nổi dậy của dân tộc thiểu số "áo Đỏ", Bình Lạc, Tư Ân, Nghi Sơn cũng nhất tề nổi dậy, và phủ Tư Minh cũng đem quân phản lại Minh triều. Do đó, mãi đến tháng 7 năm Đinh Mùi, hai đạo quân ấy mới tiến gần đến biên giới Hoa- Việt.
Đạo quân tiếp viện thứ nhất gồm 100.000 quân và 20.000 ngựa do An Viễn Hầu Liễu Thăng làm Tổng binh, Lương Minh làm Phó tướng, Binh bộ Thượng thư Lý Khánh làm Tham tán Quân vụ, Đô đốc Thôi Tụ làm Hữu Tham tướng, tiến theo đường Quảng Tây nhập Đại Việt.
Đạo thứ hai gồm 50.000 và 10.000 ngựa, do Kiềm Quốc công Mộc Thạnh làm Tổng binh, Từ Hanh làm Tả Phó Tổng binh, Đàm Trung làm Hữu Phó Tổng binh, theo đường Vân Nam mà tiến vào cửa Lê Hoa.
Mộc Thạnh là tên tướng già, dày kinh nghiệm chiến trường Đại Việt nên y hết sức thận trọng, không dám ồ ạt tiến sang, mà án binh, chờ đạo quân Liễu Thăng xung phá trước.
Khác với Mộc Thạnh, Liễu Thăng là một viên tướng trẻ, hung hăng, hiếu chiến, hiếu thắng, kiêu ngạo. Đã ba lần y tham chiến và đã thắng rất lẫy lừng ở biên giới phía Bắc, nên từ một Bách hộ phu tầm thường, y đã được thăng chức rất nhanh, lên Đô chỉ huy, rồi tước Bá, tước Hầu; nên khi nhận được thư gởi của Nguyễn Trãi, lá thư lời lẽ nhu thuận, y đánh giá cho rằng tinh thần nhân dân Đại Việt hèn nhát, khiếp nhược, y lại càng kiêu ngạo, ngông nghênh.
Ngày 15 tháng 9 năm Đinh Mùi, mười vạn quân Liễu Thăng đánh vào cửa ải Phả Lũy, tướng giữ ải là Trần Lưu phải lui về ải Lưu. Địch tiến đánh ải Lưu, Trần Lưu rút quân về Chi Lăng, là một cửa ải xung yếu, cách Phả Lũy khoảng một trăm dặm.
ải Chi Lăng là một ải đã có từ lâu đời, nằm trên một thung lũng nhỏ, bốn bề núi non hiểm trở bao bọc. Thung lũng hình bầu dục, dài khoảng sáu dặm, giữa phình ra, rộng chừng hai dặm; hai đầu thắt lại thành hai cửa vào ải. Cửa Bắc dựa vào Cai Kinh Sơn, một bên là Hàm Quỷ Sơn, còn gọi là Hàm Quỷ Quan, hay Quỷ Môn Quan. Cửa phía Nam, dựa vào Cai Kinh Sơn và Bảo Đài Sơn.
Hai bên sườn thung lũng là hai dãy núi chạy dài, núi non trùng điệp; dưới chân dãy Cai Kinh là con sông Thương nép mình uốn theo. Trong thung lũng còn có mấy ngọn núi nhỏ, phía Bắc có núi Phượng Hoàng và núi Vọng Phu, giữa thung lũng về phía Nam có núi Mã Yên cao khoảng hai mươi trượng, giữa là một cánh đồng lầy. Qua ải Chi Lăng tất nhiên phải đi qua cánh đồng lầy này, tại đây luôn luôn có một cây cầu bắc qua cánh đồng. Từ bao đời nay, Chi Lăng đã là nơi làm mồ chôn xác giặc, vào Chi Lăng là vào tử địa. Lê Hoàn và Hưng Đạo Đại Vương đã diệt địch tại đây.
Tại Chi Lăng có mười ngàn quân của Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Đinh Lễ, Đinh Liệt và Lê Thụ phục binh sẵn chờ địch; ngoài ra còn các toán dân binh địa phương phối hợp để cùng chiến đấu. Nguyên Huân cũng có mặt trong đám dân binh này, cùng với Lý Huề, người đứng đầu toán dân binh, là chỗ thân tình.
Trần Lưu được xử dụng làm mồi nhử Liễu Thăng, vừa đánh vừa rút chạy, nhử Liễu Thăng vào tử địa. Tên tướng Tàu càng sinh kiêu ngạo và coi thường quân Nam, hắn quyết tâm đuổi nã theo Trần Lưu.
Lang trung là Sử An và Chủ sự Trần Dung tìm đến Tham tán Quân vụ đại thần Lý Khánh, nói:
- Liễu tướng quân, từ lời nói đến sắc mặt đều kiêu ngạo, là điều binh gia rất kỵ. Địch có thể tỏ ra khiếp nhược, yếu mềm mà nhử quân ta vào chỗ chết. Sắc Thư đã căn dặn thiết tha là phải đề phòng mai phục, xin Ngài cố gắng khuyên can." ( Liễu Thăng truyện Minh Sử, quyển 154.)
Nhưng Liễu Thăng không nghe, bỏ ngoài tai lời can gián của tướng tá, đem mười ngàn quân đi trước mở đường tiến vào Chi Lăng, đó là ngày 20 tháng 9 năm Đinh Mùi ( tức tháng 10 năm 1427).
Thấy Chi Lăng bỏ trống, phấn khởi trước ảo tưởng bất chiến tự nhiên thành, Liễu Thăng, như bao lần xung trận ở Hắc Long Giang ngày trước, đích thân y dẫn theo một trăm kỵ binh truy đuổi quân Nam. Một trăm tên kỵ binh này là một trăm tay cao thủ kết nghĩa sống chết cùng nhau, được gọi là Bách Hùng và nhờ Bách Hùng mà Liễu Thăng dã trở thành một danh tướng của Minh triều. Bất cứ một tên nào trong nhóm Bách Hùng, võ nghệ có thể một mình địch nổi trăm tay kiếm. Bọn chúng xung sát dư trăm trận từ nhiều trận địa, chúng cũng kiêu ngạo không kém Liễu Thăng, vì chưa một lần chiến bại.
Bách Hùng theo chân Liễu Thăng ào qua cửa ải, đại đao, kiếm kích loang loáng, xông xáo như chỗ không người. Đến Mã Yên, Liễu Thăng và Bách Hùng thúc ngựa vượt qua cầu sang phía Nam cánh đồng lầy. Dưới vó ngựa dồn dập của chúng, chiếc cầu không chịu nổi gãy đổ xuống, chia cắt Liễu Thăng và bọn Bách Hùng đã bên này cầu với mười ngàn quân tiên phong ở phía sau...
Đột nhiên, tiếng tù và, tiếng trống trận nổi lên, tiếp sau là tiếng pháo nổ rầm trời, Nghĩa quân và dân binh phục binh bốn bề đổ ra chặn đánh. Liễu Thăng tuy chột dạ, nhưng vẫn cùng Bách Hùng, như trăm con cọp dữ, nhảy vào bầy dê.
Nghĩa binh hàng hàng lớp lớp đổ ra, Bách Hùng theo sát Liễu Thăng tả xông hữu đột, đánh dạt binh Nam. Các tướng của Lam sơn dồn lại vì không thể cự địch, nhiều người đã chết dưới cây đại đao loang loáng như một đạo hào quang của Liễu Thăng. Bọn Bách Hùng tỏa rộng ra hai bên, một trăm thanh kiếm rít gió đánh dạt Nghĩa quân ra hai phía. Tướng Đinh Liệt, Lê Thụ, Lưu Nhân Chú, nổi danh là những mãnh tướng cũng không kháng cự nổi.
Nguyên Huân đứng bên sườn núi nhìn xuống, chàng nói cùng Lý Huề :
- Lý đại ca, tên xử dụng đại đao chính là Liễu Thăng, tên cao đồ của Thiên Sơn phái, hắn quả là lợi hại!
- Trần thiếu hiệp, đã đến lúc ta phải ra tay, nếu không e chậm trễ, cuộc diện sẽ nguy mất!
Nguyên Huân ngẩng đầu, chàng cất tiếng hú xung trận...
Lúc này, Đinh Liệt và Lưu Nhân Chú, xuất hạn đầy mình. Cây đại đao của Liễu Thăng như con rồng thần, mình hắn cự địch với hai viên tướng vẫn chiếm thế thượng phong, bản đao rộng sắc nước như một vòng hào quang lóe mắt, bổ ập xuống mạnh tựa núi đổ. Đinh, Lưu hai tướng đã thở hồng hộc, rùn thấp người vung ngang trường thương...
Chợt nghe tiếng hú quen thuộc vọng đến tai, Đinh Liệt vô cùng mừng rỡ:
"Tên tiểu tết của ta đã tới!"
Như được tiếp sức, ông mang hết bình sinh gạt mạnh thế đao của Liễu Thăng, hai cánh tay ông tê rần, cây trường thương văng khỏi, vừa lúc đại đao đã quay ngược về, bổ mạnh xuống, Đinh Liệt nhắm mắt. . . Một tiếng "choang" sởn gáy thanh đại đao của Liễu Thăng bay tung lên theo một đường vòng rộng rồi rơi xuống, dư lực hất văng Liễu Thăng, niềm tự hào của triều đình nhà Minh, bay khỏi mình con ngựa lúc này đã sụm xuống vì gân cốt bị đứt Da bởi chường phong của Tiên Thiên Công. Nguyên Huân đạp nhẹ vào cán, cây trường thương của Đinh Liệt đã ở trong tay, chàng xoay người đâm mạnh, mũi trường thương xuyên lút vào ngực tên tướng giặc, Liễu Thăng không kêu lên được một tiếng. Bấy giờ là cuối giờ Mùi, ngày 20 tháng 9 năm Đinh Mùi (1427).
áo vàng phấp phới, Huyền Thiết kiếm trong tay tỏa rộng một đám sương mù, kiếm phong rít lên, bọn kiếm sĩ Bách Hùng, đủ một trăm tên, trở thành những cái xác bất động, hồn vía của chúng cùng một lúc theo Liễu Thăng về Tàu.
Tướng Đinh Liệt, như đang sống thêm một giấc mơ sau trận chiến ở thành Tây Đô còn ghi đậm trong trí nhớ. Lưu Nhân Chú cũng ngỡ ngàng không kém. Giữa rừng núi Chi Lăng, mấy vạn quân, tướng nhà Nam đứng lặng người, bàng hoàng nhằm cảnh tượng diễn ra trước mắt...
Giết xong tên Bách Hùng cuối cùng, Nguyên Huân hướng về mọi người, đầu chàng gật nhẹ. Rồi chân điểm lên xác một tên giặc, chàng phóng mình lên không, lao vút về hướng Bắc, thân pháp như một Thần điêu vươn cánh, đến nỗi Lê Sát đang chỉ huy toán quân phục kích diệt đạo quân tiền phong của Liễu Thăng phải chống kiếm ngẩn người nhìn...
Đinh Liệt vẫn chưa hết bàng hoàng, ông nói với Lưu Nhân Chú:
- Quả là " NAM THIÊN NHẤT TUYỆT KIẾM"! Tiếc thay y như con rồng thần, không có phúc làm sao mà gặp lại...!

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-01 19:40:30Hoàng Dung>
chương ba mươi
Người xưa cỡi hạc đi đâu
Mà nay hoang lạnh một bầu trời xuân!

Nguyên Huân về đến Vân Mộng Hồ. Lòng chàng nôn nao sau hai năm trời xa cách. Trong suốt hai năm gió bụi phong sương, chàng đã cố tâm quên đi một hình ảnh, hay chỉ là cố, xem nỗi nhớ nhung trong lòng mình, như là niềm nhớ thương về một người em gái... Thế nhưng, hai năm lao vào máu lửa, đôi mắt nào thăm thẳm buồn vẫn hiển hiện trong chàng... Những chiều dừng chân bên cánh rừng thưa đã nhạt nắng, những tối tựa mình vào vách đá núi dưới bóng trăng suông, kỷ niệm của bốn năm xưa trở về trong hồn chàng như một nỗi đày đọa.
Chàng hồi hộp bước qua cổng đá, qua con đường nhỏ lát đá phiến xanh dẫn vào căn nhà chính diện. Hình ảnh nào của hoài mong đang xao xuyến lòng chàng sẽ hiện ra trước mắt. Nguyên Huân chợt xúc động, dáng bé nhỏ của Hoài Nam đập mạnh vào mắt chàng. Nàng đang ngồi dưới tàn cây nguyệt quế.
Năm xưa, gần mười năm xưa, cũng nơi chiếc ghế đá này, chàng đã ngồi cùng với Uyển Thanh. Nguyên Huân chợt dừng lại. Hoài Nam, trong tay cầm một bông hoa nhỏ, bông hoa trắng mảnh mai, mái tóc nàng che nghiêng khuôn mặt thanh tú, dáng người nàng hình có nét phiền muộn.
Như linh tính có người đang nhìn mình, Hoài Nam ngước lên, và bắt gặp đôi mắt đang chiếu vào nàng những tia nhìn ấm áp đầy âu yếm. Hoài Nam run toàn thân bởi một xúc cảm đột ngột, nàng như muốn lả đi; nhưng một sức mạnh vô hình đẩy nàng lao về phía Nguyên Huân.
Trong vòng tay của người yêu dấu, Hoài Nam bất chợt kêu lên, tiếng kêu nửa như mừng rỡ, nửa như đau đớn, và rồi nàng ngất đi... Nghe tiếng kêu của Hoài Nam, Chu Cẩm Đoan, Bạc Thụy Miên và Dư lão tứ từ trong nhà chạy ra, cả ba sững sờ nhìn Nguyên Huân, và nhìn Hoài Nam đang ngất lịm trong tay chàng; rồi như sực tỉnh, ba người chạy vội đến vây lấy chàng, nhưng không ai thết nên lời. Cuối cùng, Bạc Thụy Miên rưng lệ nghẹn ngào:
- Thiếu gia! Thiếu gia đã về đấy ư!
Dư Tứ và Chu Cẩm Đoan vẫn đứng như trời trồng, Nguyên Huân nhìn quanh không thấy Uyển Thanh và Nhạc mẫu, linh tính báo cho chàng có chuyện chẳng lành, Nguyên Huân thoảng thốt hỏi:
- Có chuyện gì thế, Chu Thúc thúc?
Chu Cẩm Đoan buồn bã:
- Thiếu gia đỡ Tiểu thư vào nhà đã!
Đưa Hoài Nam vào nhà, Nguyên Huân điểm huyệt cứu nàng. Tỉnh lại, Hoài Nam ôm lấy Nguyên Huân khóc ngất.
Nàng nghẹn ngào:
- Huân ca...Ôi sao Huân ca về trễ thế, Mẹ và... Thanh tỷ còn đâu nữa!
Nguyên Huân sững sờ như chết đứng, chàng ôm lấy hai vai Hoài Nam dồn dập hỏi:
- Nam muội, Nam muội, thế là thế nào?! Mẫu thân đâu?
Uyển Thanh đâu? Đã có chuyện gì xảy ra?
Hoài Nam tức tưởi:
- Tháng Tư năm ngoái, chị Uyển Thanh bị rắn độc cắn, khi tìm ra chị thì đã muộn rồi, không còn còn kịp. Mẹ cũng vì cái chết của chị Uyển Thanh mà đau đớn, mẹ nằm liệt suốt hai tháng rồi cũng qua đời. Đau xót quá Huân ca ơi!
Nguyên Huân ngơ ngẩn nhìn mọi người:
- Nam muội, Dư thúc thúc, Chu thúc thúc, làm sao, làm sao mà nàng lại bị rắn độc cắn?
Bạc Thụy Miên cúi đầu đau đớn:
- Trong suốt buổi sáng hôm ấy không thấy Tiểu thư ra khỏi phòng, mọi người đổ đi tìm, đến bìa rừng thấy Tiểu thư ngồi dựa vào gốc cây, trong tay là một con rắn nhỏ màu vàng đã bị bóp nát đầu!
- Kim xà, trời ơi! Kim xà mà cắn thì không có cách gì cứu được cái chết đến rất nhanh... Tội nghiệp Uyển Thanh, tội nghiệp vợ ta, tội nghiệp cho em là dường nào Uyển Thanh ơi! Mẹ ơi!...
Nguyên Huân như đứt từng đoạn ruột, chàng úp hai bàn tay lên mặt khóc nức nở.
Dư lão tứ giọng trầm buồn:
- Trần công tử! Công tử có đau lòng thì cũng đã rồi, Uyển Thanh chẳng sống lại được. Ai cũng một lần chết, biết đâu, nó lại chẳng làm cho Uyển Thanh hạnh phúc hơn sao!
Nguyên Huân lẩm bẩm:
- "chẳng làm cho em hạnh phúc hơn sao!" Em buồn ta lắm sao? Ta không hề làm điều gì bất xứng với em cả !
Một lát sau chàng ngẩng đầu lên hỏi:
- Nam muội, trước đó chị Uyển Thanh của em có điều gì khác lạ không?
- Sao Huân ca lại hỏi điều ấy, chị vẫn thường cùng em nhắc đến anh, chị lo lắng cho anh trước mũi giáo, đường tên; em an ủi mãi chị mới thôi bớt lo lắng!
- Thế, trước lúc nhắm mắt, Mẹ có nhắn cho anh lời gì không?
- Có đó Huân ca ạ! Mẹ để lại một lá thư phong kín, Mẹ dặn không ai được mở ra, và trao lại cho anh. Mẹ vẫn luôn bảo với mọi người là Mẹ yêu quý anh như con trai của Mẹ!
Nguyên Huân ngồi trước bài vị của Nhạc mẫu và hiền thê Đã ba hôm nay chàng ngồi im lìm như thế, đầu chít khăn tang trắng, áo sô gai. Chàng để tang cho Nhạc mẫu như mẹ ruột của mình.
Hôm nay, qua ngày thứ tư, tất cả mọi người với đầy đủ lễ vật lên thăm mộ bên sườn đồi lộng gió... Ngôi mộ của Đoàn phu nhân và Uyển Thanh được an táng bên cạnh mộ của Đoàn đại hiệp. Nhìn ba ngôi mộ đá, lòng Nguyên Huân quặn đau. Hoài Nam quỳ sau lưng chàng, ba người thân trong gia đình kính cẩn quỳ ở phía sau hai người.
Nguyên Huân làm đại lễ trước ba ngôi mộ, trước ba người thân yêu nhất trong đời chàng. Khấn vái xong, chàng lấy lá  di thư mang trong mình, bóc ra, và đọc trước mộ:
"Con yêu dấu của Mẹ,
Từ ngày xưa, khi con còn nhỏ, khi con vẫn chưa lẫm chẫm  biết đi, Mẹ đã yêu thương và xem con như con đẻ của Mẹ. Mẹ .. để lại cho con thư này, vì Mẹ biết Mẹ không còn sống được bao lâu nữa.
Từ ngày trở về cố hương, Mẹ được nhìn thấy Cha con lần cuối Mẹ thật ao ước được đi theo Cha con, nhưng Mẹ đã vì các con, Mẹ không thể bỏ các con mà đi được; Mẹ gắng gượng mà sống. Đối với Mẹ, cuộc sống chẳng còn nguồn vui nào nữa, nếu không vì lòng thương yêu các con đã kéo Mẹ ở lại. . .
Huân nhi ạ! Con có một tâm lòng châu ngọc, con đã mang đến cho Uyển Thanh niềm an ủi của một kiếp người tàn tật, và con đã cư xử như chẳng một ai cư xử được cao đẹp như vậy! Mẹ biết con không hề yêu Uyển Thanh, mà chỉ là tấm thâm tình đối với một người em gái đã có tự ngày xưa. Vì giao ước xưa, mà các con nên vợ nên chồng; con đã vì Uyển Thanh mà hy sinh mi tình của con đối với Hoài Nam. Mẹ biết, và Mẹ còn biết rằng Hoài Nam cũng chỉ yêu con. Vậy mà, khi Uyển Thanh muốn cho Hoài Nam, cùng nó thờ chung một chồng, vì nó không còn khả năng sinh nở nhưng con, dù con yêu Hoài Nam biết bao, con đã nhất quyết từ chối. Con vừa tròn nghĩa với Uyển Thanh, vừa tôn quý Hoài Nam, giữ vẹn một tình trong sáng và cao đẹp. Mẹ quý trọng con chính vì điều ấy.
Đến nay, Uyển Thanh đã bạc phúc, Mẹ cũng chẳng còn sống được bao lâu, Mẹ để Hoài Nam bơ vơ lại một mình, Mẹ nhắm mắt cũng không yên, và Uyển Thanh cũng chưa thể siêu thoát; vì linh hồn nó, cả đời nó đã yêu thương con, và cũng yêu thương em gái Hoài Nam khôn xiết. Nếu nay, Huân nhi, con nghe lời Mẹ, con hãy nghe lời Mẹ, cùng Hoài Nam nên vợ nên chồng, điều ấy, Tứ Thân Phụ Mẫu, và người vbất hạnh của con chắc hẳn sẽ nhẹ đi được nổi lo buồn. Linh hồn Mẹ, linh hồn Uyển Thanh sẽ sung sướng và thanh thản. Mẹ tin rằng các con nghe theo Mẹ, và Mẹ tin các con sẽ hạnh phúc bên nhau. Nên các con nghe lời, chỉ cần lạy mộ Cha con, lạy mộ Uyển Thanh là đã nên duyên giai ngẫu, đừng bị ràng buộc bởi những nghi lễ không cần thiết.
Huân nhi! Con có nghe Mẹ không? Mẹ chờ đợi để được thấy các con Hạnh phúc. Uyển Thanh và Mẹ sẽ được nhẹ nhàng. Nếu không, vĩnh viễn linh hồn Mẹ và Uyển Thanh mãi sẽ vất vưởng trong đớn đau... "

Bức thư nhòa nước mắt của Nguyên Huân, chàng đưa cho Hoài Nam. Nàng đọc xong, nước mắt tuôn như mưa, tay bíu lấy thành mộ Uyển Thanh nức nở không dứt.
Nguyên Huân ôm lấy vai nàng:
- Nam muội, Huân ca có linh cảm là Uyển Thanh, vì hạnh phúc, vì dòng dõi của ta mà tự ý ra đi. Hôm nay, ta và em thành nghĩa vợ chồng, thâm tình yêu thương và sự rộng lượng của nàng thật như trời bể. Khi đã đủ ba năm cư tang, chúng ta sẽ làm lễ thành thân, em nghĩ sao?
Hoài Nam cúi đầu rồi ngẩng lên, đôi mắt đẹp của nàng còn ướt lệ:
- Huân lang! Em thâm tạ lòng chàng!
o0o
HẾT
Trần Phiên Ngung
 
0
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nmn2n0ntn31n343tq83a3q3m3237nvn

Truyện đã được Mọt Sách mang vào thư viện

Chúc Hoàng Bang chủ luôn vui [;)]

Thân thưong
0
«« « 1 2 » »»