📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tin Việt Nam

THÀNH TỰU VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC HƠN NỬA THẾ KỶ QUA

0 trả lời, 504 lượt xem — Trang 1 / 1
THÀNH TỰU VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC HƠN NỬA THẾ KỶ QUA
Ksor Phước
http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=7255212&news_ID=1235572


Cách đây hơn 60 năm, ngày 3-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 58 và ngày 9-9-1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng đã ký ban hành Nghị định số 359 thành lập Nha Dân tộc thiểu số. Đây là cơ quan đầu tiên của Chính phủ làm công tác dân tộc - tiền thân của Uỷ ban Dân tộc hiện nay. Hơn 60 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng với sự nghiệp cách mạng của cả nước, công tác dân tộc đã có những bước phát triển và trưởng thành vững mạnh.
Trong chín năm kháng chiến trường kỳ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, nhân dân ta đã làm nên nhiều chiến công vang dội; trong đó, có rất nhiều chiến công hiển hách, gắn liền với vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, Khu V, Nam Bộ…, để rồi cả dân tộc ta làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ - chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, chấm dứt gần 100 năm nước ta bị thực dân Pháp đô hộ.
Sau năm 1954, cả nước bước vào giai đoạn cách mạng mới: vừa xây dựng bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa là hậu phương lớn của cả nước, vừa tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, công tác dân tộc vừa tập hợp đoàn kết dân tộc, vừa chăm lo phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi ở phía Bắc, các vùng căn cứ địa ở miền Nam; đồng thời, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng đưa cán bộ dân tộc thiểu số của cả nước tăng cường vào các vùng dân tộc ở miền Nam.
Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”. Trải qua 20 năm đấu tranh anh dũng, kiên cường, dân tộc ta đã làm nên chiến thắng lịch sử vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc 30 năm chiến tranh khốc liệt nhất đối với dân tộc ta. Đất nước thống nhất, toàn dân tộc Việt Nam bắt tay vào xây dựng đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.
Công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước ta bước vào giai đoạn mới với những nội dung, yêu cầu mới. Để đáp ứng với tình hình, nhiệm vụ của các giai đoạn cách mạng, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước có những văn bản quan trọng về công tác dân tộc, miền núi. Đó là: ngày 14-5-1979, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có Quyết định số 38/QĐ-TW “Về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức Ban Dân tộc Trung ương và của các tỉnh” để kiện toàn tổ chức, cải tiến chế độ làm việc theo Nghị quyết lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IV. Nhận thức được tầm quan trọng và xác định miền núi là địa bàn chiến lược về kinh tế và quốc phòng, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 27-11-1989 “Về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi; Quyết định số 72- QĐ/HĐBT, ngày 13-3-1990 của Hội đồng Bộ trưởng “Về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi, để kiện toàn, củng cố cơ quan làm công tác dân tộc; Chính phủ ban hành Nghị định 11/CP ngày 20-2-1993 “Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban Dân tộc và miền núi”, hợp nhất Ban Dân tộc Trung ương Đảng với Văn phòng Miền núi và Dân tộc, thuộc Hội đồng Bộ trưởng thành cơ quan Ủy ban Dân tộc và miền núi; Chính phủ ban hành Nghị định 59/1998/NĐ-CP ngày 13-8-1998 “Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban Dân tộc và miền núi” thay thế cho Nghị định 11/CP. Hiện nay, Ủy ban Dân tộc có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức theo Nghị định 51/2003/NĐ-CP ngày 16-5-2003 của Chính phủ; các địa phương được kiện toàn cơ quan làm công tác dân tộc cấp tỉnh theo Nghị định số 53/2004/NĐ-CP của Chính phủ. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, đã thông qua nhiều vấn đề quan trọng và tiếp tục khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta... Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới.. Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số”.
Với tính sát thực của các nghị quyết, quyết định... đã ban hành, thành tựu về kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi cả nước trong những năm qua đã đạt được những kết quả quan trọng trên các mặt, đặc biệt là từ khi đổi mới đến nay.
1. Về phát triển kinh tế
Có thể khẳng định, trong thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ các khóa, nhất là từ năm 1989 (sau khi có Nghị quyết 22/NQTW của Bộ Chính trị) đến nay, các thế hệ cán bộ lãnh đạo và công chức của cơ quan công tác dân tộc từ trung ương đến địa phương đã tích cực nắm tình hình đời sống kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, tâm tư nguyện vọng của bà con, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước có chính sách, cơ chế thiết thực và có hiệu quả đầu tư phát triển vùng dân tộc và miền núi nhằm xóa đói, giảm nghèo, tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc và miền núi tiến kịp miền xuôi; từng bước hòa nhập vào sự phát triển chung của cả nước. Kết quả, trong vòng 12 năm trở lại đây, các tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số có tốc độ tăng trưởng GDP từ 8% đến 10%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng: giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp; tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ. Hoạt động chuyển giao khoa học, công nghệ, chế biến và tiêu thụ sản phẩm được tích cực thực hiện, góp phần thúc đẩy sản xuất và tăng thu ngân sách cho các địa phương. Kinh tế lâm nghiệp chuyển từ khai thác tự nhiên là chủ yếu sang trồng rừng kinh tế, trồng mới, khoanh nuôi và bảo vệ rừng. Diện tích và trữ lượng rừng đến nay đã dần dần được phục hồi, tỷ lệ che phủ đạt trên 38%. Các ngành nghề truyền thống của các dân tộc được khôi phục, phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm góp phần tăng thu nhập. Một số ngành, nghề tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và du lịch, văn hoá đang phát triển trong nhiều vùng các dân tộc thiểu số. Về kết cấu hạ tầng, đã có hơn 97% số xã có đường ô tô đến được trung tâm; 100% các huyện, thị xã, hơn 84% xã vùng dân tộc, miền núi đã có điện và hơn 64% hộ dân tộc sử dụng điện. Nhiều vùng miền núi, vùng cao, hệ thống các công trình thủy lợi được xây dựng để tưới tiêu, tăng thêm diện tích đất canh tác. Các công trình thủy lợi kết hợp với thủy điện như Hòa Bình, Trị An, Ya Ly, Sông Rác… đã phát huy tác dụng trên hai phương diện: tưới tiêu và sản xuất điện phục vụ cả nước và cho đồng bào dân tộc, miền núi. Mạng lưới điện thoại đã vươn đến tất cả các tỉnh, huyện và 100% số xã ở miền núi. Mạng lưới bưu chính cũng được củng cố và phát triển với gần 800 điểm bưu điện-văn hoá xã, bước đầu đáp ứng được nhu cầu thông tin, văn hoá của đồng bào các dân tộc. Hệ thống chợ phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu thông thương, trao đổi trong sinh hoạt và sản xuất của đồng bào các dân tộc và cả nước; tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ hơn 55% năm 1998 xuống còn dưới 20% năm 2005 (theo tiêu chí cũ).
2. Về lĩnh vực xã hội
Đến nay đã có 100% số xã về cơ bản hoàn thành phổ cập tiểu học trong độ tuổi; các bản ở xa trung tâm đều có lớp cắm bản. Những huyện có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, ngoài hệ thống trường phổ thông chung, còn có trường trung học cơ sở dân tộc nội trú. Tỉnh có trường phổ thông trung học nội trú để ưu tiên đào tạo cán bộ nguồn cho các dân tộc thiểu số ở địa phương. Đồng thời, Nhà nước thực hiện chính sách cử tuyển đối với học sinh các dân tộc thiểu số ở vùng đồng bào khó khăn; nhờ đó, đã đào tạo được hàng vạn cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học là người dân tộc thiểu số. Hoạt động văn hoá, xã hội ở vùng dân tộc thiểu số thời gian qua đã đạt được những thành quả quan trọng, từng bước nâng cao đời sống văn hoá của các dân tộc thiểu số. Đồng thời, các dân tộc đã tích cực tham gia tổ chức “Ngày văn hoá các dân tộc” trên mọi miền đất nước, đặc biệt là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, tạo điều kiện để các giá trị văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc ngày càng ăn sâu vào cuộc sống thường ngày của nhân dân địa phương. Qua đó cả nước và bạn bè quốc tế hiểu thêm về bản sắc dân tộc Việt Nam, về sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với đồng bào dân tộc, miền núi. Việc chăm lo phát triển sự nghiệp y tế, nâng cao sức khỏe cộng đồng, đã từng bước nâng cao chất lượng dân số vùng dân tộc thiểu số. Đến nay, tất cả các huyện đều có trung tâm y tế. Hơn 95% số xã miền núi vùng sâu, vùng xa có trạm y tế và phục vụ công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho đồng bào các dân tộc. Nhiều xã, bản, ấp đã có bác sĩ, y sĩ, y tá cao cấp, hộ sinh; có tủ thuốc và từng bước được đầu tư nâng cao thiết bị y tế. Các hộ nghèo và trong diện chính sách được miễn, giảm viện phí, cấp thẻ bảo hiểm y tế; nhờ đó mà cả nước, về cơ bản, đã chấm dứt được các dịch bệnh nguy hiểm như: sốt rét, dịch hạch, tả, lỵ, lao, từng bước đẩy lùi các bệnh xã hội nguy hiểm khác. Những kết quả đó từng bước thực hiện góp phần mong muốn lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là: “Đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.
3. Về công tác tổ chức, đào tạo cán bộ
Việc xây dựng, củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị và chăm lo công tác cán bộ vùng dân tộc thiểu số luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Đến nay, tất cả các tỉnh, huyện, xã có đông đồng bào các dân tộc thiểu số, đều được Nhà nước tạo điều kiện và quan tâm sâu sắc đến việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc cho đội ngũ cán bộ người dân tộc. Cán bộ vùng các dân tộc thiểu số tham gia trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị tăng dần ở các cấp. Tỷ lệ đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số tăng từ 10,2% (khóa I) lên 17,2% (khóa XI); Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ gần 10% (khóa X). Đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở vùng dân tộc ngày càng trưởng thành, gắn bó với nhân dân, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ, như tổ chức vận động đồng bào dân tộc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hoá, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, quốc phòng và an ninh vùng dân tộc thiểu số.
Hơn sáu mươi năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác dân tộc không ngừng trưởng thành, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ mà Trung ương Đảng và Chính phủ giao phó. Việc ban hành các nghị quyết, quyết định trong những năm qua thể hiện một bước tiến quan trọng trong công tác dân tộc; là hệ quả của một quá trình hoạt động thực tiễn và tư duy lý luận về vấn đề dân tộc, về công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới của Đảng và Nhà nước, nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác dân tộc và miền núi trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Phát huy kết quả đạt được về công tác dân tộc trong thời gian qua, Ủy ban Dân tộc sẽ căn cứ vào nội dung công tác dân tộc đã được Đại hội X thông qua để cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, thành những nhiệm vụ thiết thực của cơ quan làm công tác dân tộc từ trung ương đến địa phương. Nâng cao ý thức trách nhiệm trước Đảng và nhân dân, gắn bó hơn nữa với đồng bào các dân tộc, thực hiện tốt nội dung nhiệm vụ công tác dân tộc trong tình hình mới, góp phần đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp phát triển toàn diện, bền vững cho các dân tộc và vùng đặc biệt khó khăn của cả nước, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.[/align]  [/align]  * Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc [/align]
Đăng nhập để trả lời
0