Ở NƯỚC TA, DÂN CHỦ
CHỈ ĐƯỢC BẢO ĐẢM TRONG MỘT NỀN
CHÍNH TRỊ NHẤT NGUYÊN Phạm Ngọc Quang *
Ý thức sâu sắc vai trò của dân chủ trong quá trình đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta đã dành sự quan tâm đặc biệt cho vấn đề phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế. Thành quả đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta đã đưa tới kết luận rằng, để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà một trong những tiền đề của nó là đa dạng hóa thành phần kinh tế trên cơ sở đa dạng hóa về sở hữu đối với tư liệu sản xuất. Những kết quả to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa trong 15 năm qua là bằng chứng khẳng định tính đúng đắn của chủ trương đó. Song, lúc này hay lúc khác, một số người vẫn cho rằng, thích ứng với nền kinh tế "đa nguyên", chính trị không thể "nhất nguyên", không thể duy trì sự lãnh đạo của một đảng duy nhất. Do vậy, theo họ, dân chủ phải đi liền với đa nguyên về chính trị.
Việc làm rõ bản chất đích thực của cái gọi là thể chế dân chủ đa nguyên về hình thức, nhất nguyên trong thực tế trong chủ nghĩa tư bản và làm rõ sự thống nhất nội tại giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhất nguyên chính trị tương ứng sẽ giúp cho ta có quan điểm đúng đắn, có định hướng khoa học trong quá trình thiết định và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
1 - Về cái gọi là dân chủ trong chế độ đa nguyên về chính trị trong chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn hiện nay.
Để mở đường cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời và phát triển, trong những thế kỷ XVII, XVIII, giai cấp tư sản ở nhiều nước đã giương cao ngọn cờ dân chủ nhằm chống lại chuyên chế phong kiến và ách nô dịch của ngoại bang. Trong cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân bắc Mỹ (1775 - 1781) những dân tộc thuộc địa của Anh đang sinh sống trên mảnh đất này đã thông qua Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ, trong đó có đoạn: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Cách mạng tư sản Pháp nêu cao khẩu hiệu: "Tự do, bình đẳng, bác ái”. Nhờ khẩu hiệu đó, giai cấp tư bản Pháp không những thu hút được đại đa số nông dân, mà cả công nhân đi theo mình - nhân tố cơ bản mang lại thắng lợi cho cuộc cách mạng mang tính triệt để nhất trong toàn bộ lịch sử ra đời của chủ nghĩa tư bản. Đạt được thắng lợi, Cách mạng Pháp năm 1791 đã công bố bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, ở đó có luận điểm nổi tiếng được Chủ tịch Hồ Chí Minh trích lại ngay trong phần mở đầu Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Phản ánh vị trí tiến bộ của chủ nghĩa tư bản so với xã hội phong kiến, một số người đại diện cho giai cấp tư sản thời kỳ còn ít nhiều mang tính cách mạng đã ý thức được tầm quan trọng của nhân dân, của dân chủ như là động lực phát triển của xã hội mới. A. Bra-ham Lin-côn đã nêu ra luận điểm cho rằng nhà nước mới đó (nhà nước tư sản) phải là nhà nước của dân, do dân, vì dân; ông xem "tình cảm của quần chúng là tất cả. Thiếu tình cảm của quần chúng thì bất cứ cái gì cũng thất bại và không thể thành công".
Ngày nay, mặc dù giai cấp tư sản cùng thể chế tư bản chủ nghĩa mà giai cấp đó là người đại diện không còn giữ được vị thế tiên tiến, cách mạng, nhưng vì sự tồn tại của giai cấp mình, của thể chế mà nó đại diện, giai cấp tư sản đã không hề giảm đi trong việc nhấn mạnh vai trò của dân chủ. Các học giả tư sản luôn coi những yêu cầu, chuẩn mực dân chủ đạt được trong chủ nghĩa tư bản là những cái chung, cái phổ biến cho mọi giai cấp, cho mọi quốc gia trong thời đại hiện nay và tương lai, cho nên nó là "mẫu mực" mà nhân loại hướng tới, là đỉnh cao nhất của dân chủ mà loài người có thể tạo ra (!).
Vạch trần sự lừa bịp về bản chất phi giai cấp và tính phổ biến tuyệt đối của dân chủ tư sản, Lê-nin đã chỉ ra rằng, ngay ở giai đoạn phát triển nhất của dân chủ tư sản trong chế độ cộng hòa dân chủ, thì chế độ dân chủ ấy bao giờ cũng bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột tư sản và do đó, thực ra nó luôn chỉ là chế độ dân chủ đối với thiểu số mà thôi. Chế độ dân chủ ấy bị chi phối bởi nhà nước, các nhóm lợi ích và các phương tiện thông tin đại chúng. Trong khi ấy, nhà nước tư sản chỉ là công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản đối với quảng đại quần chúng nhân dân; nó chỉ là thiết chế chính trị bảo vệ lợi ích của các nhà tư sản. Các lợi ích đó lại luôn bị chi phối bởi nhóm chóp bu chính trị và doanh nhân. Các phương tiện thông tin đại chúng hầu hết nằm trong tay những thế lực giàu có, luôn cổ xúy cho chế độ tư bản chủ nghĩa, nhồi nhét vào đầu óc nhân dân tư tưởng và quan điểm của giai cấp tư sản cầm quyền, đề cao vai trò tuyệt đối của tổng thống, biến các cuộc cạnh tranh trong bầu cử thành những cuộc cạnh tranh thương mại. Kết quả là nó đã và đang trở thành những công cụ phục vụ đắc lực cho một thiết chế dân chủ mà ở đó, hoạt động chính trị là lĩnh vực của riêng những người giàu có. Ộở các nước tư bản chủ nghĩa, đa nguyên về chính trị không có nghĩa các chính sách quốc gia được quy định bởi quần chúng, mà ngược lại bởi tầng lớp được gọi là "giới tinh hoa" trong bộ máy nhà nước, trong các nhóm lợi ích, trong các hãng truyền hình và báo chí. Phổ thông đầu phiếu chỉ là sự hợp pháp hóa quyền lực của những người có thế lực thuộc giai cấp tư sản. Tóm lại, nền dân chủ tư sản bị quy định sâu sắc bởi giới thượng lưu của quyền lực kinh tế và chính trị.
Nhìn chung, trong hầu hết các bản hiến pháp và nhiều văn bản pháp luật khác trong các nước tư bản chủ nghĩa đều ghi rất nhiều quyền dân chủ, nhân quyền của công dân. Nhưng trong thực tế, do nhiều ràng buộc khác mà đại đa số những người lao động không có khả năng được hưởng nhiều điều khoản về dân chủ được ghi trong các văn bản đó. Khoảng cách giữa dân chủ được ghi trong Hiến pháp, pháp luật và thực tế hiện hóa nó không chỉ như vậy, nhiều cơ chế khác cũng góp phần làm giảm tối đa dân chủ, nhân quyền của nhân dân trong thực tế. Không ý thức rõ hoặc cố tình không ý thức rõ tính hạn chế của dân chủ tư sản, nhiều chính khách hoặc học giả tư sản vẫn ra sức tô son trát phấn cho nó; tìm mọi cách để quảng bá quan điểm, giá trị và những công nghệ dân chủ tư sản.
Trong các nội dung dân chủ nhân quyền, thì yêu cầu đầu tiên, sơ thiểu của mọi dân tộc là được sống trong hòa bình, độc lập, ấm no, hạnh phúc, công bằng, bình đẳng trong một môi trường an toàn,... Nhưng, ngay tại Mỹ - nơi được nhiều tư tưởng gia tư sản xem là mẫu mực của dân chủ - lại là nơi tiêu thụ 50% lượng cô-ca-in trên thế giới; trong vòng 10 năm thu nhập của 10% giàu có nhất tăng 25%, nhưng cũng trong cùng thời gian đó, thu nhập của 10% người nghèo nhất giảm 10%; tình trạng phạm tội giết người cao gấp 5 lần; tỷ lệ phạm tội hiếp dâm cao gấp 7 lần so với Tây Âu. Cũng tại Mỹ hiện có khoảng 38 triệu người sống dưới mức nghèo khổ, trong khi đó, 1% nằm ở đỉnh tháp dân cư kiểm soát 50 - 70% thu nhập của nền kinh tế; 20% dân số thuộc loại nghèo chỉ được hưởng 3,7% tổng thu nhập quốc dân, trong khi đó, 20% dân số thuộc loại giàu có chiếm 50%. Chính Brê-din-xki cũng xem việc sản sinh ra một nhóm nhỏ những người giàu có thâu tóm mọi quyền hành trong tay là một trong 20 khuyết tật của chủ nghĩa tư bản.
Xét trên bình diện quy mô thế giới, chúng ta cũng thấy rằng khoảng cách giàu nghèo ở các nước tư bản chủ nghĩa ngày càng gia tăng: năm 1820 khoảng cách giữa nước giàu nhất và nước nghèo nhất là 3/1; năm 1870 là 7/1; năm 1913 là 11/1; năm 1960 là 30/1; năm 1990 là 60/1; năm 1997 là 74/1. Năm 1997, các nước giàu nhất chiếm 20% dân số lại nắm 86% GDP, 82% xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, 93,3% người sử dụng Ụnternet, trong khi đó các nước nghèo nhất với hơn 20% dân số thế giới thì nắm có 1% GDP; 0,2% sử dụng Ụnternet.
Đúng là, trong nền dân chủ tư sản, chế độ đa nguyên chính trị (mang tính hình thức), đa đảng đang trở thành phổ biến. Nhưng thực tế, trong chủ nghĩa tư bản, sự lãnh đạo chính trị tập trung, cứng rắn luôn được giai cấp tư sản thống trị cố sức giữ vững. Điều đó thể hiện ở chỗ, những vấn đề lớn của nhà nước đều do đảng tư sản có thế lực nhất quyết định, thể hiện ở vai trò quản lý tập trung bằng hiến pháp và pháp luật của nhà nước pháp quyền tư sản.
Trong cái gọi là đa nguyên chính trị, biểu hiện thành đa đảng, các đảng đều có quyền tự do tranh luận, ứng cử, tranh cử, v.v., nhưng về thực chất, đều là nhất nguyên chính trị. Vì tất cả đảng này đều từ một nguồn gốc, một mục đích là thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp tư sản. Thực tế cho thấy mức độ sâu sắc của những chuẩn mực dân chủ được pháp luật dân chủ tư sản ghi nhận cũng như mức độ hiện thực hóa các chuẩn mực đó phụ thuộc trước hết và chủ yếu vào cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động. Những giá trị dân chủ đạt được trong chủ nghĩa tư bản không phải là sự ban phát của giai cấp tư sản cho xã hội, chúng trước hết là thành quả của nhân dân. Ngay chế độ nhất nguyên hay đa nguyên về chính trị trong thực chất trong chủ nghĩa tư bản cũng là sản phẩm của mối tương quan lực lượng giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội. Trong chủ nghĩa tư bản, kẻ nắm được hầu hết tư liệu sản xuất trong tay là giai cấp tư sản. Giành được sự thống trị về kinh tế, giai cấp tư sản cũng nắm luôn vai trò thống trị trên lĩnh vực chính trị - tinh thần, trong đó có lĩnh vực dân chủ. Do vậy, dân chủ trong chủ nghĩa tư bản mang bản chất giai cấp tư sản sâu sắc trong nội dung cơ bản của mình.
2 - Dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta và sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam
Việc giai cấp công nhân giành được chính quyền và từng bước xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa - cũng là điểm bắt đầu hình thành nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Nhiệm vụ của cách mạng vô sản là sau khi giành được chính quyền, phải biết sử dụng có hiệu quả quyền lực nhà nước đó để xây dựng thiết chế kinh tế, chính trị - xã hội mới, mà ở đó nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, từng bước trở thành người chủ của xã hội; là chủ thể tối cao và duy nhất của mọi quyền lực. Tư tưởng đó nói lên bản chất dân chủ của xã hội mới mà giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang hướng tới.
Khi tiếp cận dân chủ từ góc độ là một hình thức nhà nước, Lê-nin đặc biệt nhấn mạnh tính giai cấp của dân chủ. Trong sự đối lập với quan điểm dân chủ “thuần túy”, dân chủ nói chung, Lê-nin đòi hỏi những người mác-xít không bao giờ được quên mà không hỏi rằng, đó là dân chủ cho giai cấp nào. Tiếp cận với dân chủ từ quan điểm như vậy, Lê-nin đã nêu ra một trong những tiêu chí phân biệt dân chủ vô sản với các loại dân chủ trước đó: “Dân chủ vô sản là chế độ thống trị của đa số với thiểu số, vì lợi ích của đa số...”. Dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo Lê-nin, là chế độ dân chủ vì lợi ích của đa số; nó bao quát tất cả các mặt của đời sống xã hội, trong đó dân chủ trên lĩnh vực kinh tế là cơ sở, dân chủ đó đưa quảng đại quần chúng nhân dân lên địa vị người chủ chân chính của xã hội.
Trong khi mở rộng dân chủ tới mức tối đa với mọi tầng lớp nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hành vi đi ngược lại những chuẩn mực dân chủ, vi phạm những giá trị dân chủ chân chính của nhân dân, gây nguy hại cho tiến trình phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Do vậy, trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ và chuyên chính không thể tách rời nhau. Khi nhấn mạnh sự cần thiết của chuyên chính để bảo vệ và phát triển thành quả dân chủ của nhân dân, văn kiện Đại hội IX của Đảng viết: “Phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế”. Gắn liền với vấn đề vừa nêu, dân chủ ở nước ta chỉ đạt được dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Giữ vững sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản là điều kiện tiên quyết để nhân dân thực hiện quyền lực của mình - nội dung cốt lõi của dân chủ xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải là một cuộc bạo động tự phát, mà là hành động cách mạng có ý thức, thấu hiểu về lý luận và có tính tổ chức cao. Nhờ vậy mới có thể kết hợp nhiệt tình cách mạng, lòng hăng hái hy sinh với niềm tin sắt đá vào tính tất thắng của nền dân chủ đó. Chỉ có đảng cộng sản chân chính mới có thể đưa những tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản khoa học và tính tổ chức vào phong trào quần chúng, làm cho cuộc đấu tranh vì lý tưởng giải phóng con người được thực hiện một cách triệt để. Ăng-ghen nhấn mạnh rằng, để cho giai cấp vô sản có sức mạnh và có thể chiến thắng trong quá trình đấu tranh, nó phải lập ra một đảng mới, tách biệt và đối lập với tất cả các đảng khác, và ý thức được mình là đảng của giai cấp.
Thực tế cho thấy, lãnh đạo chính trị của giai cấp vô sản đối với sự phát triển xã hội là công việc khó khăn, phức tạp nhất trong hoạt động xã hội - chính trị. Để đảm đương một cách thực tế, trực tiếp trọng trách đó, chức năng lãnh đạo của giai cấp vô sản được trao cho những người, nhờ tầm cao trí tuệ, nhờ năng lực tổ chức và tập hợp quần chúng..., mà họ có thể giải quyết hữu hiệu những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Lê-nin đã nhiều lần nhấn mạnh, sự lãnh đạo đó được thực hiện thông qua đảng cộng sản, lực lượng đứng ở tầm cao trí tuệ, có năng lực tổ chức, đứng ở tầm cao đạo đức để quần chúng noi theo. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ, để giải phóng được giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam, trước hết cần phải có đảng cách mạng, để trong thì tổ chức và vận động quần chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi.
Là kết quả hoạt động tự giác của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ có được với điều kiện tiên quyết là bảo đảm vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng mác xít-lê-nin-nít. Bởi vì, nhờ nắm vững hệ tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và đưa nó vào quần chúng, đảng đó mang lại cho phong trào quần chúng tính tự giác cao trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục của mình mà đảng góp phần quyết định trong việc nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, trình độ văn hóa dân chủ của nhân dân để họ có khả năng thực hiện hữu hiệu những yêu cầu dân chủ phản ánh đúng quy luật phát triển xã hội; chỉ dưới sự lãnh đạo của đảng, nhân dân mới đấu tranh có hiệu quả chống lại mọi mưu đồ lợi dụng dân chủ vì những động cơ đi ngược lại lợi ích của nhân dân.
Bảo đảm vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng cộng sản như là nhân tố bảo đảm xây dựng và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta được thể hiện ở chỗ :
- Nhờ được trang bị chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng ta đưa ra được những quyết sách chính trị đúng cho quá trình đổi mới. Chính đó là cơ sở cho sự đoàn kết, thống nhất về quan điểm, ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân; phát huy cao độ tính năng động, sáng tạo của nhân dân trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
- Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng, nó mang tính tự giác rất cao. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố mang lại tính tự giác đó cho quá trình này.
- Nhờ những kinh nghiệm dày dạn đã được tích lũy, Đảng ta không chỉ có khả năng hoạch định đường lối, chủ trương đúng, mà còn có kỹ năng đưa các quyết định đó vào quần chúng, tổ chức thực hiện thông qua phong trào quần chúng và hoạt động của Nhà nước để biến những chủ trương đúng đắn đó thành những sự thay đổi tích cực trong hiện thực phù hợp với quy luật phát triển của xã hội ta theo hướng dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Với những ý nghĩa như vậy, ở nước ta hiện nay, dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhất nguyên về chính trị, bảo đảm vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam không bài trừ nhau. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là điều kiện cho dân chủ xã hội chủ nghĩa có thể ra đời, tồn tại và phát triển. Không thể có dân chủ xã hội chủ nghĩa mà lại thiếu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Thực tiễn hơn 70 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam nói chung, 15 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước nói riêng, là những bằng chứng hùng hồn để khẳng định điều đó.
Khi nhân dân ta còn trong tình cảnh "một cổ, hai tròng" thì yêu cầu đầu tiên về dân chủ là "Độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dân cày". Ịêu cầu dân chủ đó đã được bằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cải cách ruộng đất, thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp. Khi đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị đối lập nhau, yêu cầu thiêng liêng về dân chủ của tất cả cộng đồng các dân tộc Việt Nam là được sống trong một đất nước hòa bình, tự do, thống nhất. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của một đảng duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã lập nên chiến thắng vĩ đại mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước. Ịêu cầu được sống trong một đất nước độc lập, thống nhất được thực hiện trọn vẹn; một môi trường hòa bình, ổn định cơ bản được bảo đảm. Những thành tựu dân chủ đạt được trong 15 năm đổi mới cũng không thể có được, nếu không giữ vững được ổn định chính trị nội dung căn bản của nó là giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước. Những thắng lợi đó nhân dân ta có được đều nhờ sự lãnh đạo duy nhất của Đảng ta. Đó là những sự thật không thể phủ nhận. Giờ đây cũng có đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn để sớm khẳng định rằng việc đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thực hiện yêu cầu dân chủ, nhân quyền của nhân dân được sống trong một xã hội "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” để sánh vai với các cường quốc năm châu sẽ không thể đạt được nếu thiếu sự lãnh đạo duy nhất của Đảng ta - Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh.
Trong khi khẳng định sự thống nhất hữu cơ giữa quá trình xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam với sự lãnh đạo duy nhất của Đảng ta, chúng ta cũng ý thức rõ rằng "Bất kỳ tấm huy chương nào cũng có mặt trái của nó". Trong điều kiện một đảng duy nhất lãnh đạo, nếu đảng đó không tự ý thức rõ nguy cơ áp đặt ý chí của mình cho nhà nước, cho xã hội, tự đặt mình trên nhà nước và pháp luật, các đảng viên có chức quyền dễ sa vào đặc quyền đặc lợi, tham nhũng cửa quyền... thì đảng sẽ trở thành vật cản trên con đường xây dựng một xã hội thực sự dân chủ. Ý thức rõ nguy cơ đó và có biện pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu nó là nhân tố quyết định để xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền.
3 - Để có một Đảng cộng sản duy nhất lãnh đạo mà có dân chủ xã hội chủ nghĩa, phải phát huy sức mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.
Trong khi khẳng định sự thống nhất hữu cơ của quá trình xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa với sự lãnh đạo duy nhất của Đảng ta, cũng cần thấy rằng nhiều yêu cầu dân chủ, nhân quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân không chỉ được thực hiện trực tiếp bằng Đảng, qua các cơ quan của Đảng. Khi xem xét “dân chủ xã hội chủ nghĩa" từ giác độ một vấn đề chính trị - giai cấp, nhân dân thực hiện các yêu cầu dân chủ của mình bằng Nhà nước, qua Nhà nước là phương thức quan trọng nhất, có ý nghĩa trực tiếp nhất. Nhân dân còn thực hiện dân chủ, nhân quyền của mình qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội do nhân dân lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các đoàn thể chính trị - xã hội trong sự thống nhất hữu cơ cùng những cơ chế quan hệ qua lại giữa các thiết chế đó tạo thành hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Do vậy, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa đóng vai trò là cơ chế bảo đảm dân chủ xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta. Không thấy rõ điều đó, tuyệt đối hóa vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng cũng không có dân chủ xã hội chủ nghĩa với nội dung đầy đủ của nó.
Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, đảng cộng sản vừa là một bộ phận cấu thành, vừa là tổ chức có vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội nói chung. Nhà nước là thiết chế có chức năng trực tiếp nhất trong việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện những yêu cầu dân chủ chân chính của nhân dân. Không những thế, nó cũng là công cụ sắc bén nhất trong cuộc đấu tranh với mọi mưu đồ đi ngược lại lợi ích của nhân dân; là thiết chế tổ chức có hiệu quả việc xây dựng xã hội mới; là công cụ hữu hiệu để vai trò lãnh đạo của đảng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội được thực hiện. Chính vì vậy, Đảng ta xem trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa thì Nhà nước là "trụ cột", là một "công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân".
Sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội là một yêu cầu tất yếu để có dân chủ xã hội chủ nghĩa. Sự lãnh đạo đó cần được thực hiện bằng những phương pháp vốn có của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Thông qua tuyên truyền, thuyết phục, giáo dục, nêu gương của đảng viên và các tổ chức cơ sở đảng làm cho Nhà nước, các tổ chức quần chúng cùng toàn thể nhân dân thấy rõ tính đúng đắn trong các quyết định chính trị của mình. Muốn giữ vững được sự lãnh đạo đối với hệ thống chính trị, khâu then chốt là Đảng phải tăng cường bản chất giai cấp công nhân của mình, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhà nước và nhân dân, chăm lo hoàn thiện Nhà nước, thực sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Đảng phải trở thành tấm gương về dân chủ, quy tụ được những người có đức, có tài. Chính bằng cách đó, Đảng trở thành biểu tượng về danh dự, lương tâm, trí tuệ của dân tộc. Vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng được xã hội thừa nhận đến đâu - điều đó trước hết và chủ yếu tùy thuộc mức độ đạt được những điều đòi hỏi nêu trên.
Để có dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của chúng ta phải được xây dựng theo nguyên tắc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Muốn vậy, một mặt vừa phải xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước, Nhà nước đó phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, có chức năng thể chế hóa quan điểm chính trị của Đảng và tổ chức thực hiện chúng; mặt khác, mọi chủ trương và chính sách của Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân.
Để phát huy quyền dân chủ của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội khác của nhân dân cũng cần được đổi mới theo hướng: đoàn kết tất cả mọi người thuộc các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở trong nước và định cư ở nước ngoài. Xóa bỏ mọi thành kiến, mọi mặc cảm, lấy mục tiêu "giữ vững độc lập thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” làm điểm tương đồng.
Xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay, để sự lãnh đạo duy nhất của Đảng ta thực sự là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với việc thiết định và phát huy có hiệu quả nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, toàn Đảng cần tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng với quyết tâm và nỗ lực cao hơn, tạo chuyển biến cơ bản trên ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức.
* GS, TS, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
http://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=4&ID=177
CHỈ ĐƯỢC BẢO ĐẢM TRONG MỘT NỀN
CHÍNH TRỊ NHẤT NGUYÊN Phạm Ngọc Quang *
Ý thức sâu sắc vai trò của dân chủ trong quá trình đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta đã dành sự quan tâm đặc biệt cho vấn đề phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế. Thành quả đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta đã đưa tới kết luận rằng, để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà một trong những tiền đề của nó là đa dạng hóa thành phần kinh tế trên cơ sở đa dạng hóa về sở hữu đối với tư liệu sản xuất. Những kết quả to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa trong 15 năm qua là bằng chứng khẳng định tính đúng đắn của chủ trương đó. Song, lúc này hay lúc khác, một số người vẫn cho rằng, thích ứng với nền kinh tế "đa nguyên", chính trị không thể "nhất nguyên", không thể duy trì sự lãnh đạo của một đảng duy nhất. Do vậy, theo họ, dân chủ phải đi liền với đa nguyên về chính trị.
Việc làm rõ bản chất đích thực của cái gọi là thể chế dân chủ đa nguyên về hình thức, nhất nguyên trong thực tế trong chủ nghĩa tư bản và làm rõ sự thống nhất nội tại giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhất nguyên chính trị tương ứng sẽ giúp cho ta có quan điểm đúng đắn, có định hướng khoa học trong quá trình thiết định và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
1 - Về cái gọi là dân chủ trong chế độ đa nguyên về chính trị trong chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn hiện nay.
Để mở đường cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời và phát triển, trong những thế kỷ XVII, XVIII, giai cấp tư sản ở nhiều nước đã giương cao ngọn cờ dân chủ nhằm chống lại chuyên chế phong kiến và ách nô dịch của ngoại bang. Trong cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân bắc Mỹ (1775 - 1781) những dân tộc thuộc địa của Anh đang sinh sống trên mảnh đất này đã thông qua Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ, trong đó có đoạn: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Cách mạng tư sản Pháp nêu cao khẩu hiệu: "Tự do, bình đẳng, bác ái”. Nhờ khẩu hiệu đó, giai cấp tư bản Pháp không những thu hút được đại đa số nông dân, mà cả công nhân đi theo mình - nhân tố cơ bản mang lại thắng lợi cho cuộc cách mạng mang tính triệt để nhất trong toàn bộ lịch sử ra đời của chủ nghĩa tư bản. Đạt được thắng lợi, Cách mạng Pháp năm 1791 đã công bố bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, ở đó có luận điểm nổi tiếng được Chủ tịch Hồ Chí Minh trích lại ngay trong phần mở đầu Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Phản ánh vị trí tiến bộ của chủ nghĩa tư bản so với xã hội phong kiến, một số người đại diện cho giai cấp tư sản thời kỳ còn ít nhiều mang tính cách mạng đã ý thức được tầm quan trọng của nhân dân, của dân chủ như là động lực phát triển của xã hội mới. A. Bra-ham Lin-côn đã nêu ra luận điểm cho rằng nhà nước mới đó (nhà nước tư sản) phải là nhà nước của dân, do dân, vì dân; ông xem "tình cảm của quần chúng là tất cả. Thiếu tình cảm của quần chúng thì bất cứ cái gì cũng thất bại và không thể thành công".
Ngày nay, mặc dù giai cấp tư sản cùng thể chế tư bản chủ nghĩa mà giai cấp đó là người đại diện không còn giữ được vị thế tiên tiến, cách mạng, nhưng vì sự tồn tại của giai cấp mình, của thể chế mà nó đại diện, giai cấp tư sản đã không hề giảm đi trong việc nhấn mạnh vai trò của dân chủ. Các học giả tư sản luôn coi những yêu cầu, chuẩn mực dân chủ đạt được trong chủ nghĩa tư bản là những cái chung, cái phổ biến cho mọi giai cấp, cho mọi quốc gia trong thời đại hiện nay và tương lai, cho nên nó là "mẫu mực" mà nhân loại hướng tới, là đỉnh cao nhất của dân chủ mà loài người có thể tạo ra (!).
Vạch trần sự lừa bịp về bản chất phi giai cấp và tính phổ biến tuyệt đối của dân chủ tư sản, Lê-nin đã chỉ ra rằng, ngay ở giai đoạn phát triển nhất của dân chủ tư sản trong chế độ cộng hòa dân chủ, thì chế độ dân chủ ấy bao giờ cũng bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột tư sản và do đó, thực ra nó luôn chỉ là chế độ dân chủ đối với thiểu số mà thôi. Chế độ dân chủ ấy bị chi phối bởi nhà nước, các nhóm lợi ích và các phương tiện thông tin đại chúng. Trong khi ấy, nhà nước tư sản chỉ là công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản đối với quảng đại quần chúng nhân dân; nó chỉ là thiết chế chính trị bảo vệ lợi ích của các nhà tư sản. Các lợi ích đó lại luôn bị chi phối bởi nhóm chóp bu chính trị và doanh nhân. Các phương tiện thông tin đại chúng hầu hết nằm trong tay những thế lực giàu có, luôn cổ xúy cho chế độ tư bản chủ nghĩa, nhồi nhét vào đầu óc nhân dân tư tưởng và quan điểm của giai cấp tư sản cầm quyền, đề cao vai trò tuyệt đối của tổng thống, biến các cuộc cạnh tranh trong bầu cử thành những cuộc cạnh tranh thương mại. Kết quả là nó đã và đang trở thành những công cụ phục vụ đắc lực cho một thiết chế dân chủ mà ở đó, hoạt động chính trị là lĩnh vực của riêng những người giàu có. Ộở các nước tư bản chủ nghĩa, đa nguyên về chính trị không có nghĩa các chính sách quốc gia được quy định bởi quần chúng, mà ngược lại bởi tầng lớp được gọi là "giới tinh hoa" trong bộ máy nhà nước, trong các nhóm lợi ích, trong các hãng truyền hình và báo chí. Phổ thông đầu phiếu chỉ là sự hợp pháp hóa quyền lực của những người có thế lực thuộc giai cấp tư sản. Tóm lại, nền dân chủ tư sản bị quy định sâu sắc bởi giới thượng lưu của quyền lực kinh tế và chính trị.
Nhìn chung, trong hầu hết các bản hiến pháp và nhiều văn bản pháp luật khác trong các nước tư bản chủ nghĩa đều ghi rất nhiều quyền dân chủ, nhân quyền của công dân. Nhưng trong thực tế, do nhiều ràng buộc khác mà đại đa số những người lao động không có khả năng được hưởng nhiều điều khoản về dân chủ được ghi trong các văn bản đó. Khoảng cách giữa dân chủ được ghi trong Hiến pháp, pháp luật và thực tế hiện hóa nó không chỉ như vậy, nhiều cơ chế khác cũng góp phần làm giảm tối đa dân chủ, nhân quyền của nhân dân trong thực tế. Không ý thức rõ hoặc cố tình không ý thức rõ tính hạn chế của dân chủ tư sản, nhiều chính khách hoặc học giả tư sản vẫn ra sức tô son trát phấn cho nó; tìm mọi cách để quảng bá quan điểm, giá trị và những công nghệ dân chủ tư sản.
Trong các nội dung dân chủ nhân quyền, thì yêu cầu đầu tiên, sơ thiểu của mọi dân tộc là được sống trong hòa bình, độc lập, ấm no, hạnh phúc, công bằng, bình đẳng trong một môi trường an toàn,... Nhưng, ngay tại Mỹ - nơi được nhiều tư tưởng gia tư sản xem là mẫu mực của dân chủ - lại là nơi tiêu thụ 50% lượng cô-ca-in trên thế giới; trong vòng 10 năm thu nhập của 10% giàu có nhất tăng 25%, nhưng cũng trong cùng thời gian đó, thu nhập của 10% người nghèo nhất giảm 10%; tình trạng phạm tội giết người cao gấp 5 lần; tỷ lệ phạm tội hiếp dâm cao gấp 7 lần so với Tây Âu. Cũng tại Mỹ hiện có khoảng 38 triệu người sống dưới mức nghèo khổ, trong khi đó, 1% nằm ở đỉnh tháp dân cư kiểm soát 50 - 70% thu nhập của nền kinh tế; 20% dân số thuộc loại nghèo chỉ được hưởng 3,7% tổng thu nhập quốc dân, trong khi đó, 20% dân số thuộc loại giàu có chiếm 50%. Chính Brê-din-xki cũng xem việc sản sinh ra một nhóm nhỏ những người giàu có thâu tóm mọi quyền hành trong tay là một trong 20 khuyết tật của chủ nghĩa tư bản.
Xét trên bình diện quy mô thế giới, chúng ta cũng thấy rằng khoảng cách giàu nghèo ở các nước tư bản chủ nghĩa ngày càng gia tăng: năm 1820 khoảng cách giữa nước giàu nhất và nước nghèo nhất là 3/1; năm 1870 là 7/1; năm 1913 là 11/1; năm 1960 là 30/1; năm 1990 là 60/1; năm 1997 là 74/1. Năm 1997, các nước giàu nhất chiếm 20% dân số lại nắm 86% GDP, 82% xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, 93,3% người sử dụng Ụnternet, trong khi đó các nước nghèo nhất với hơn 20% dân số thế giới thì nắm có 1% GDP; 0,2% sử dụng Ụnternet.
Đúng là, trong nền dân chủ tư sản, chế độ đa nguyên chính trị (mang tính hình thức), đa đảng đang trở thành phổ biến. Nhưng thực tế, trong chủ nghĩa tư bản, sự lãnh đạo chính trị tập trung, cứng rắn luôn được giai cấp tư sản thống trị cố sức giữ vững. Điều đó thể hiện ở chỗ, những vấn đề lớn của nhà nước đều do đảng tư sản có thế lực nhất quyết định, thể hiện ở vai trò quản lý tập trung bằng hiến pháp và pháp luật của nhà nước pháp quyền tư sản.
Trong cái gọi là đa nguyên chính trị, biểu hiện thành đa đảng, các đảng đều có quyền tự do tranh luận, ứng cử, tranh cử, v.v., nhưng về thực chất, đều là nhất nguyên chính trị. Vì tất cả đảng này đều từ một nguồn gốc, một mục đích là thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp tư sản. Thực tế cho thấy mức độ sâu sắc của những chuẩn mực dân chủ được pháp luật dân chủ tư sản ghi nhận cũng như mức độ hiện thực hóa các chuẩn mực đó phụ thuộc trước hết và chủ yếu vào cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động. Những giá trị dân chủ đạt được trong chủ nghĩa tư bản không phải là sự ban phát của giai cấp tư sản cho xã hội, chúng trước hết là thành quả của nhân dân. Ngay chế độ nhất nguyên hay đa nguyên về chính trị trong thực chất trong chủ nghĩa tư bản cũng là sản phẩm của mối tương quan lực lượng giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội. Trong chủ nghĩa tư bản, kẻ nắm được hầu hết tư liệu sản xuất trong tay là giai cấp tư sản. Giành được sự thống trị về kinh tế, giai cấp tư sản cũng nắm luôn vai trò thống trị trên lĩnh vực chính trị - tinh thần, trong đó có lĩnh vực dân chủ. Do vậy, dân chủ trong chủ nghĩa tư bản mang bản chất giai cấp tư sản sâu sắc trong nội dung cơ bản của mình.
2 - Dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta và sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam
Việc giai cấp công nhân giành được chính quyền và từng bước xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa - cũng là điểm bắt đầu hình thành nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Nhiệm vụ của cách mạng vô sản là sau khi giành được chính quyền, phải biết sử dụng có hiệu quả quyền lực nhà nước đó để xây dựng thiết chế kinh tế, chính trị - xã hội mới, mà ở đó nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, từng bước trở thành người chủ của xã hội; là chủ thể tối cao và duy nhất của mọi quyền lực. Tư tưởng đó nói lên bản chất dân chủ của xã hội mới mà giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang hướng tới.
Khi tiếp cận dân chủ từ góc độ là một hình thức nhà nước, Lê-nin đặc biệt nhấn mạnh tính giai cấp của dân chủ. Trong sự đối lập với quan điểm dân chủ “thuần túy”, dân chủ nói chung, Lê-nin đòi hỏi những người mác-xít không bao giờ được quên mà không hỏi rằng, đó là dân chủ cho giai cấp nào. Tiếp cận với dân chủ từ quan điểm như vậy, Lê-nin đã nêu ra một trong những tiêu chí phân biệt dân chủ vô sản với các loại dân chủ trước đó: “Dân chủ vô sản là chế độ thống trị của đa số với thiểu số, vì lợi ích của đa số...”. Dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo Lê-nin, là chế độ dân chủ vì lợi ích của đa số; nó bao quát tất cả các mặt của đời sống xã hội, trong đó dân chủ trên lĩnh vực kinh tế là cơ sở, dân chủ đó đưa quảng đại quần chúng nhân dân lên địa vị người chủ chân chính của xã hội.
Trong khi mở rộng dân chủ tới mức tối đa với mọi tầng lớp nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hành vi đi ngược lại những chuẩn mực dân chủ, vi phạm những giá trị dân chủ chân chính của nhân dân, gây nguy hại cho tiến trình phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Do vậy, trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ và chuyên chính không thể tách rời nhau. Khi nhấn mạnh sự cần thiết của chuyên chính để bảo vệ và phát triển thành quả dân chủ của nhân dân, văn kiện Đại hội IX của Đảng viết: “Phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế”. Gắn liền với vấn đề vừa nêu, dân chủ ở nước ta chỉ đạt được dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Giữ vững sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản là điều kiện tiên quyết để nhân dân thực hiện quyền lực của mình - nội dung cốt lõi của dân chủ xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải là một cuộc bạo động tự phát, mà là hành động cách mạng có ý thức, thấu hiểu về lý luận và có tính tổ chức cao. Nhờ vậy mới có thể kết hợp nhiệt tình cách mạng, lòng hăng hái hy sinh với niềm tin sắt đá vào tính tất thắng của nền dân chủ đó. Chỉ có đảng cộng sản chân chính mới có thể đưa những tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản khoa học và tính tổ chức vào phong trào quần chúng, làm cho cuộc đấu tranh vì lý tưởng giải phóng con người được thực hiện một cách triệt để. Ăng-ghen nhấn mạnh rằng, để cho giai cấp vô sản có sức mạnh và có thể chiến thắng trong quá trình đấu tranh, nó phải lập ra một đảng mới, tách biệt và đối lập với tất cả các đảng khác, và ý thức được mình là đảng của giai cấp.
Thực tế cho thấy, lãnh đạo chính trị của giai cấp vô sản đối với sự phát triển xã hội là công việc khó khăn, phức tạp nhất trong hoạt động xã hội - chính trị. Để đảm đương một cách thực tế, trực tiếp trọng trách đó, chức năng lãnh đạo của giai cấp vô sản được trao cho những người, nhờ tầm cao trí tuệ, nhờ năng lực tổ chức và tập hợp quần chúng..., mà họ có thể giải quyết hữu hiệu những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Lê-nin đã nhiều lần nhấn mạnh, sự lãnh đạo đó được thực hiện thông qua đảng cộng sản, lực lượng đứng ở tầm cao trí tuệ, có năng lực tổ chức, đứng ở tầm cao đạo đức để quần chúng noi theo. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ, để giải phóng được giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam, trước hết cần phải có đảng cách mạng, để trong thì tổ chức và vận động quần chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi.
Là kết quả hoạt động tự giác của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ có được với điều kiện tiên quyết là bảo đảm vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng mác xít-lê-nin-nít. Bởi vì, nhờ nắm vững hệ tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và đưa nó vào quần chúng, đảng đó mang lại cho phong trào quần chúng tính tự giác cao trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục của mình mà đảng góp phần quyết định trong việc nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, trình độ văn hóa dân chủ của nhân dân để họ có khả năng thực hiện hữu hiệu những yêu cầu dân chủ phản ánh đúng quy luật phát triển xã hội; chỉ dưới sự lãnh đạo của đảng, nhân dân mới đấu tranh có hiệu quả chống lại mọi mưu đồ lợi dụng dân chủ vì những động cơ đi ngược lại lợi ích của nhân dân.
Bảo đảm vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng cộng sản như là nhân tố bảo đảm xây dựng và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta được thể hiện ở chỗ :
- Nhờ được trang bị chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng ta đưa ra được những quyết sách chính trị đúng cho quá trình đổi mới. Chính đó là cơ sở cho sự đoàn kết, thống nhất về quan điểm, ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân; phát huy cao độ tính năng động, sáng tạo của nhân dân trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
- Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng, nó mang tính tự giác rất cao. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố mang lại tính tự giác đó cho quá trình này.
- Nhờ những kinh nghiệm dày dạn đã được tích lũy, Đảng ta không chỉ có khả năng hoạch định đường lối, chủ trương đúng, mà còn có kỹ năng đưa các quyết định đó vào quần chúng, tổ chức thực hiện thông qua phong trào quần chúng và hoạt động của Nhà nước để biến những chủ trương đúng đắn đó thành những sự thay đổi tích cực trong hiện thực phù hợp với quy luật phát triển của xã hội ta theo hướng dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Với những ý nghĩa như vậy, ở nước ta hiện nay, dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhất nguyên về chính trị, bảo đảm vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam không bài trừ nhau. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là điều kiện cho dân chủ xã hội chủ nghĩa có thể ra đời, tồn tại và phát triển. Không thể có dân chủ xã hội chủ nghĩa mà lại thiếu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Thực tiễn hơn 70 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam nói chung, 15 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước nói riêng, là những bằng chứng hùng hồn để khẳng định điều đó.
Khi nhân dân ta còn trong tình cảnh "một cổ, hai tròng" thì yêu cầu đầu tiên về dân chủ là "Độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dân cày". Ịêu cầu dân chủ đó đã được bằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cải cách ruộng đất, thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp. Khi đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị đối lập nhau, yêu cầu thiêng liêng về dân chủ của tất cả cộng đồng các dân tộc Việt Nam là được sống trong một đất nước hòa bình, tự do, thống nhất. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của một đảng duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã lập nên chiến thắng vĩ đại mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước. Ịêu cầu được sống trong một đất nước độc lập, thống nhất được thực hiện trọn vẹn; một môi trường hòa bình, ổn định cơ bản được bảo đảm. Những thành tựu dân chủ đạt được trong 15 năm đổi mới cũng không thể có được, nếu không giữ vững được ổn định chính trị nội dung căn bản của nó là giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước. Những thắng lợi đó nhân dân ta có được đều nhờ sự lãnh đạo duy nhất của Đảng ta. Đó là những sự thật không thể phủ nhận. Giờ đây cũng có đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn để sớm khẳng định rằng việc đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thực hiện yêu cầu dân chủ, nhân quyền của nhân dân được sống trong một xã hội "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” để sánh vai với các cường quốc năm châu sẽ không thể đạt được nếu thiếu sự lãnh đạo duy nhất của Đảng ta - Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh.
Trong khi khẳng định sự thống nhất hữu cơ giữa quá trình xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam với sự lãnh đạo duy nhất của Đảng ta, chúng ta cũng ý thức rõ rằng "Bất kỳ tấm huy chương nào cũng có mặt trái của nó". Trong điều kiện một đảng duy nhất lãnh đạo, nếu đảng đó không tự ý thức rõ nguy cơ áp đặt ý chí của mình cho nhà nước, cho xã hội, tự đặt mình trên nhà nước và pháp luật, các đảng viên có chức quyền dễ sa vào đặc quyền đặc lợi, tham nhũng cửa quyền... thì đảng sẽ trở thành vật cản trên con đường xây dựng một xã hội thực sự dân chủ. Ý thức rõ nguy cơ đó và có biện pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu nó là nhân tố quyết định để xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền.
3 - Để có một Đảng cộng sản duy nhất lãnh đạo mà có dân chủ xã hội chủ nghĩa, phải phát huy sức mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.
Trong khi khẳng định sự thống nhất hữu cơ của quá trình xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa với sự lãnh đạo duy nhất của Đảng ta, cũng cần thấy rằng nhiều yêu cầu dân chủ, nhân quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân không chỉ được thực hiện trực tiếp bằng Đảng, qua các cơ quan của Đảng. Khi xem xét “dân chủ xã hội chủ nghĩa" từ giác độ một vấn đề chính trị - giai cấp, nhân dân thực hiện các yêu cầu dân chủ của mình bằng Nhà nước, qua Nhà nước là phương thức quan trọng nhất, có ý nghĩa trực tiếp nhất. Nhân dân còn thực hiện dân chủ, nhân quyền của mình qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội do nhân dân lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các đoàn thể chính trị - xã hội trong sự thống nhất hữu cơ cùng những cơ chế quan hệ qua lại giữa các thiết chế đó tạo thành hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Do vậy, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa đóng vai trò là cơ chế bảo đảm dân chủ xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta. Không thấy rõ điều đó, tuyệt đối hóa vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng cũng không có dân chủ xã hội chủ nghĩa với nội dung đầy đủ của nó.
Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, đảng cộng sản vừa là một bộ phận cấu thành, vừa là tổ chức có vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội nói chung. Nhà nước là thiết chế có chức năng trực tiếp nhất trong việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện những yêu cầu dân chủ chân chính của nhân dân. Không những thế, nó cũng là công cụ sắc bén nhất trong cuộc đấu tranh với mọi mưu đồ đi ngược lại lợi ích của nhân dân; là thiết chế tổ chức có hiệu quả việc xây dựng xã hội mới; là công cụ hữu hiệu để vai trò lãnh đạo của đảng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội được thực hiện. Chính vì vậy, Đảng ta xem trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa thì Nhà nước là "trụ cột", là một "công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân".
Sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội là một yêu cầu tất yếu để có dân chủ xã hội chủ nghĩa. Sự lãnh đạo đó cần được thực hiện bằng những phương pháp vốn có của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Thông qua tuyên truyền, thuyết phục, giáo dục, nêu gương của đảng viên và các tổ chức cơ sở đảng làm cho Nhà nước, các tổ chức quần chúng cùng toàn thể nhân dân thấy rõ tính đúng đắn trong các quyết định chính trị của mình. Muốn giữ vững được sự lãnh đạo đối với hệ thống chính trị, khâu then chốt là Đảng phải tăng cường bản chất giai cấp công nhân của mình, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhà nước và nhân dân, chăm lo hoàn thiện Nhà nước, thực sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Đảng phải trở thành tấm gương về dân chủ, quy tụ được những người có đức, có tài. Chính bằng cách đó, Đảng trở thành biểu tượng về danh dự, lương tâm, trí tuệ của dân tộc. Vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng được xã hội thừa nhận đến đâu - điều đó trước hết và chủ yếu tùy thuộc mức độ đạt được những điều đòi hỏi nêu trên.
Để có dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của chúng ta phải được xây dựng theo nguyên tắc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Muốn vậy, một mặt vừa phải xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước, Nhà nước đó phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, có chức năng thể chế hóa quan điểm chính trị của Đảng và tổ chức thực hiện chúng; mặt khác, mọi chủ trương và chính sách của Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân.
Để phát huy quyền dân chủ của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội khác của nhân dân cũng cần được đổi mới theo hướng: đoàn kết tất cả mọi người thuộc các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở trong nước và định cư ở nước ngoài. Xóa bỏ mọi thành kiến, mọi mặc cảm, lấy mục tiêu "giữ vững độc lập thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” làm điểm tương đồng.
Xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay, để sự lãnh đạo duy nhất của Đảng ta thực sự là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với việc thiết định và phát huy có hiệu quả nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, toàn Đảng cần tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng với quyết tâm và nỗ lực cao hơn, tạo chuyển biến cơ bản trên ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức.
* GS, TS, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
http://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=4&ID=177
Ở đời, hãy luôn đứng về chính nghiã
Vì chính nghĩa là chân lý!
Vì chính nghĩa là chân lý!