<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-25 12:27:19ĐạoCấy>
CHƯƠNG SÁU.
Chiếc máy kéo chạy đến trước cửa trường tiểu học của nông trường bộ thì bỗng dưng chết máy, chiếc rơ-móc chồm lên một cái rồi mới dừng hẳn.
- Lái cái con b….! – Chú Lý nhảy ra khỏi ca-bin, đưa chân đá một cái vào chiếc bánh hơi – Cái đồ vứt đi này mà còn bắt dùng, ở nước ngoài người ta thải mẹ nó đi từ lâu rồi.
Mặt trời đã lặn hết. Vầng trăng to, tròn vành vạnh đã hiện ra trên bầu trời. Không có mây, không có ráng chiều, cũng không có một vì sao. Tôi bỗng phát hiện ra cảnh vật chung quanh còn rõ hơn cả lúc hoàng hôn. Hai bên cổng trường là hai câu ngữ lục sơn đỏ: “ Mọi công tác của nhà trường đều nhằm làm chuyển biến tư tưởng của học sinh ”. Phía bên kia là: “Đội công nhân tuyên truyền sẽ ở lại lâu dài trong trường học, tham gia toàn bộ nhiệm vụ đấu tố, phê phán và cải tạo trong nhà trường, và vĩnh viễn lãnh đạo nhà trường ”. Dưới ánh trăng lời Mao chủ tịch ngời ngời lấp lánh.
Thì ra học sinh đến trường không phải là để học kiến thức, mà là để chuyển biến tư tưởng. Hẳn là để chuyển biến “ sự hồn nhiên trong trắng thành thói gian trá đểu cáng ”? Hay là chuyển biến “ tư tưởng tư sản thành tư tưởng vô sản ”?
Trẻ con lên bảy đã có tư tưởng tư sản, và nhiệm vụ của nhà trường này là bắt chúng chuyển biến lập trường? Tôi cảm thấy một cơn gió lạnh thổi tới buốt căm căm.
Đã muộn lắm rồi. Gió lạnh từ trên vầng trăng kia thổi xuống…..
Trước đầu máy kéo, chú Lý đang hổn hà hổn hển kéo dây cu-roa, hòng khởi động nó lần nữa. Trên mặt trăng kia hiện rõ từng vệt đen dài. Đó là những đại lục trên mặt trăng ư? Hay đại dương trên đó?….Tôi như người trên cung trăng rơi xuống, đối với mọi thứ trên trái đất này đều cảm thấy ngỡ ngàng ngơ ngác. Dần dần tôi không còn hiểu biết tí gì về mọi việc trên trái đất này nữa. Và mỗi lúc cảm thấy mình đến gần mặt trăng hơn, gần thêm, gần mãi. Trước mặt tôi trăng mỗi lúc một to, mỗi lúc một rõ.
- Đ. mẹ! Đếch chạy được nữa – Chú Lý bước tới, đu người lên thành rơ-móc, thò đầu vào hỏi tôi – Làm thế nào bây giờ hả, anh Chương ơi?
Tôi nằm ngửa trong rơ-móc, dưới lưng lót một chồng bao tải, rất êm, rất thoải mái.
- Không chạy được thì cậu thử kéo xem – Tôi đáp, mắt vẫn không rời khỏi vầng trăng.
- Đ.mẹ! Anh chỉ được cái nói kháy là không ai bằng. Anh xuống mà kéo đi xem nào?
- Tớ chỉ quen ăn no vác nặng thôi, không biết lái máy kéo. Tớ mà biết lái, thì tớ đã lái béng đi cho cậu từ đời tám hoánh nào rồi.
Chú Lý vẫn tần ngần bên thành xe, chép miệng liên hồi:
- Chậc, chậc, làm thế nào bây giờ?
Tan ca chiều bí thư Tào bảo tôi làm thêm ca đêm, theo máy kéo chú Lý ra ga xe lửa chở phân lân.
- Tối nay cậu chịu khó đi một chuyến, ngày mai, ngày kia cho cậu nghỉ bù thêm hai ngày. – Tào Học Nghĩa nói – Ngày mai nông trường bộ họp đại hội cả ngày, toàn thể công nhân viên chức đều tham gia. Trên lại kêu gọi học tập lý luận chuyên chính vô sản, phê phán Tống Giang Tống Giếc gì ấy….
Nếu cử một công nhân viên chức đi làm ca đêm, thì tất nhiên ngày sau anh ta không đi dự đại hội được. Còn các phần tử địa chủ, phú nông, phản động hữu phái, và phần tử xấu thì không được quyền dự đại hội; nên điều tôi đi làm thêm ca đêm là thích hợp nhất, vừa khỏi lỡ việc chăn ngựa, một mình chàng Câm chăn cũng được, lại vừa khỏi ảnh hưởng đến không khí sôi nổi của đại hội ngày mai “ một trăm phần trăm đến dự đại hội, một trăm phần trăm nhất trí hô vang ”….Về phần tôi, làm thêm một ca đêm được nghỉ bù hai ngày, thì làm quá đi chứ! Ban ngày cô ấy đi làm, tôi ở nhà một mình càng hay.
- Này! – Chú Lý lượn một vòng quanh máy kéo, lại quay về bên chiếc rơ-móc, nhăn nhở bảo tôi – Thôi, anh em mình vào quách trường tiểu học tìm một chỗ ngon lành đánh một giấc đi.
- Đánh một giấc? Cậu dám nghĩ như vậy à? Thế còn nhiệm vụ thì sao?
- Nhiệm với chả vụ! Bỏ mẹ nó cái nhiệm vụ của anh đi nhá – Chú Lý nhẩy cẫng lên dưới ánh trăng – Máy kéo già cốc đế, như răng bà lão ấy, đáng cho vào bảo tàng từ lâu rồi. Tôi chịu thôi, ai tài giỏi thì đi mà lái.
Tôi bò dậy, leo lên thành rơ-móc, nhảy xuống đất.
- Thì cậu phải báo cáo lên trên chứ. Máy hỏng, chúng mình vỗ đít đánh một giấc, nhỡ thằng cha căng chú kiết nào đến gỡ hết phụ tùng thì sao? Với lại, xảy ra việc gì, người ta không truy cậu mà lại cho là tớ phá hoại máy nữa cơ.
Chú Lý gãi lên mũ, mồm cứ liến thoắng:
- Làm sao bây giờ? Làm thế nào bây giờ?
Cậu là con trai cưng của phó chủ nhiệm Ban chính trị nông trường bộ, có cái ô to tướng, nhưng không lên mặt chuyên chính với tôi, mà còn lo thay cho tôi.
- Vậy thì anh đi ngủ đi, để tôi ở đây trông máy cho.
- Thế cũng không ổn. Cái máy kéo này đến sáng mai cũng không nhúc nhích được đâu, mà bí thư Tào thì cứ yên trí là chúng mình đang làm việc cơ. Tớ tính thế này nhé, cậu cứ ngủ trong ca-bin ấy, để tớ về báo cáo tình hình này. Trước là chúng mình làm cho tròn trách nhiệm, sau nữa là tớ có thể dắt hai con ngựa tới kéo khởi động máy. Cậu thấy thế nào?
- Trời ơi! Thế thì khổ thân anh quá. Từ đây mà về tới đội, bỏ rẻ cũng mất hai chục cây số chứ chả ít.
- Không sao, tớ đi chăn cừu quen rồi; hôm nay lại có trăng. Muộn nhất thì mười hai giờ đêm tớ cũng về đến nhà, sau đó cưỡi ngựa đến đây thì nhanh thôi. Cậu cứ ngủ đi, tớ sẽ trở lại đây kéo cậu dậy trước lúc trời sáng.
Trăng đã lên đỉnh đầu. Dưới ánh trăng, đi giữa đồng không mông quạnh tưởng chừng như đi trên mặt trăng vậy, tít tắp tới tận đường chân trời đen sẫm kia, hoàn toàn vắng tanh vắng ngắt, không một bóng người. Có cảm tưởng như đi đến đường chân trời ấy, rồi bước thêm một bước nữa thì sẽ rơi vào bầu trời mênh mông bát ngát. Lúc này tôi đã trở về với môi trường quen thuộc của tôi, bồng bềnh trong trạng thái không trọng lượng, toàn thân lâng lâng, bước chân thoăn thoắt. Tôi rất thích ban đêm một mình đi bách bộ dưới trăng. Thì ra, con người ta đi từ thế giới này sang một thế giới khác không có gì khó, bất quá chỉ là trái đất từ phía này quay sang phía kia mà thôi.
Khoảng hơn mười một giờ đêm, tôi về tới đội sản xuất. Cái xóm nhỏ tôi đã êm đềm ngủ say trong ánh trăng. Từng dãy nhà đất màu vàng khè, giờ đây nằm dài ngay ngắn đều đặn giữa đồng ruộng, cũng một màu vàng đất ấy. Hệt như những người nông dân lam lũ sau một ngày làm lụng cực nhọc. Trong giải rừng bên kia, tôi thấy dãy nhà đầu tiên có hai ngọn đèn sáng chói. Một ngọn là văn phòng của đội sản xuất, còn một ngọn nữa là nhà kho của đội sản xuất trước đây, nay là nhà tôi. Khuya thế này rồi mà cô ta vẫn chưa đi ngủ, một tình cảm ấm áp, một nỗi niềm xót thương bỗng dâng lên dào dạt trong tôi.
Đến văn phòng đội báo cáo với Tào Học Nghĩa đã chăng? Hay là về nhà thăm cô trước đã, bảo cô đi ngủ đi kẻo muộn? Tôi rời đường cái, đi vào con đường mòn xuyên qua giữa rừng dương thưa thớt. Cành lá dương khô mục rụng xuống từ năm trước xào xạc dưới chân tôi. Gió đêm mát lạnh lùa trên những ngọn cây, nghe rõ tiếng chim non giật mình kinh hãi chiêm chiếp liên hồi trên các tổ chim gi, chim sẻ.
Xung quanh rừng dương là một dãy liễu quế hương. Liễu quế hương là giống cây đặc sản vùng tây bắc, vỏ cây nâu sẫm như cây me, thân cây cong queo đầy gai; lá tro mốc thếch, nhưng hoa vàng lấm tấm như những hạt gạo, lại có hương thơm ngào ngạt lạ thường. Giống cây này mọc được cả vùng đất mặn cằn cỗi, không đòi hỏi thiên nhiên phải cung cấp nhiều mưa, lại hào phóng hiến dâng hương thơm cho đời không chút dè sẻn.
Mùa này hoa liễu quế hương đã tàn, trên cành lúc lỉu những chùm quả xanh non. Sang thu cả tán cây sẽ là một màu vàng óng ả. Tôi đi qua dưới từng cây liễu quế hương, sắp đến cuối rặng cây thì thấy đèn văn phòng chợt tắt. Có cảm tưởng như cái xóm nhỏ của tôi bỗng nhắm lại một mắt. Từ văn phòng một bóng người đi ra, dưới ánh trăng vằng vặc, tôi nhận ngay ra là Tào Học Nghĩa. Anh ta không đi về phía nhà anh ta ở dãy sau, mà nhắm về phía nhà kho, tức là nhà tôi. Giữa lúc tôi đang ớ ra vì kinh ngạc, thì anh ta đã đẩy cửa đi lọt vào nhà tôi. Ánh đèn trong cửa vụt hắt ra, một vệt sáng dài loé ra tận ngoài đồng. Nhưng loáng cái, cửa đã đóng lại.
Tôi tiến thêm mấy bước nữa, trong nhà đèn cũng tắt phụt.
Trước mặt tôi giờ đây, cái xóm nhỏ của tôi đã nhắm nghiền cả hai mắt.
Cả cái xóm nhỏ đều đã ngủ say. Tôi đã bị gạt bỏ lại bên ngoài, chỉ một mình tôi thức.
Cái việc ấy rốt cuộc đã sảy ra.
Chân tôi bủn rủn, tôi ngồi bệt xuống gốc cây liễu quế hương. Tôi nghe rõ tiếng vỏ cây đầy gai cào sồn sột lên chiếc áo choàng bằng vải bạt của tôi, nhưng lưng tôi chẳng còn mảy may tri giác.
Nhớ lại những nỗi nhục nhã đã từng nếm chịu, và đem so với mọi cảnh bất hạnh của mọi kẻ bất hạnh. Duy có nỗi nhục nhã này, tôi chưa từng nếm mùi bao giờ khiến tôi kinh ngạc, cảm thấy không ngờ, không tin rằng số phận lại hậu hĩ với tôi như vậy. Dường như trời sinh ra tôi là đã định sẵn rằng tôi phải nếm trải mọi nỗi đau khổ, phải đi xuyên suốt toàn bộ hoả ngục đày đoạ dựng lên bằng nước và lửa, bằng gươm đao và rắn độc. Mấy hôm nay, tôi bắt đầu dự cảm lờ mờ rằng cái ngày tôi phải chịu đựng nỗi nhục nhã đó e chừng sắp đến.
Từ lâu tôi đã như con chó đói bị dồn đến chân tường co lưng, quắp đuôi, hai mắt đỏ ngầu tia máu tuyệt vọng nhìn lên cây gậy đã giơ cao, đớn hèn bất lực chờ cái giây phút nó sẽ giáng xuống đầu mình. Duy chỉ cầu mong có một điều là nó đừng đập vụn xương tôi ra, để cho tôi còn bò lê được, còn ăn được, còn băng bó vết thương được, may ra còn khỏi được.
Đến giờ phút này, cái gậy đã rốt cuộc giáng xuống.
Tôi lại một phen nghiệm thấy được trực giác của mình.
Tôi rã rời đổ xuống dưới gốc cây liễu quế hương, hai tay tôi điên dại vầy vò lớp vỏ cây đầy gai, lòng bàn tay rách bươm toé máu, dường như tôi làm thế là để phục hồi lại tri giác, đặng kiểm tra mức độ tổn thương của mình.
- Này, cớ sao ngươi lại nằm đây? - Bỗng nhiên một bóng ma từ trên không trung lướt tới, đá vào lưng tôi một cái – Hãy đi cầm lấy cái rìu đẵn củi! Sau cánh cửa nhà các ngươi vẫn có một cái đấy thôi? Trong túi ngươi có sẵn chìa khoá, mở toang cửa ra mà xông vào. Đại trượng phu đứng trong trời đất, há có thể chịu được nỗi ô nhục nhường kia ư?!
Tôi ngẩng đầu lên. Bóng ma mặc quan phục nhà Tống, da ngăm ngăm đen, vóc người lùn béo, mắt phượng mày ngài. Bóng ma khe vuốt chòm râu, bảo:
- Anh em của ta quyết không bao giờ đớn hèn như nhà ngươi, như đại ca Võ Nhị Lang có biệt hiệu là “ đinh ba tấc ”, còn quyết liều sống chết với loài gian phu dâm phụ, huống chi nhà ngươi thân cao bảy thước, sức dài vai rộng, đường đường một đấng tài trai. Nhà ngươi nín nhịn mối nhục tày trời đó thì mặt mũi nào nhìn thấy cha mẹ nhà ngươi nơi chín suối?
Cái này có thể thử được đấy! Cái hôm cưới, ở trên tường đã chẳng ngổn ngang xác chết đó sao? Phải chăng là điềm báo trước?
Nhưng….
- Tống đại ca ơi! – Tôi kêu lên – Nhưng mà, thời đại đã đổi khác. Đại ca giết Diêm Bà Tích mà vẫn nhở nhơ ngoài vòng pháp luật, chứ còn tôi? Ngày nay chẳng có Lương Sơn Bạc….
- Theo ta, thời buổi này của các ngươi cũng chẳng khác thời Tuyên Hoà là mấy - Tống Giang nói – Chúa thượng hôn dung, sói hùm chắn lối, bậc trung lương bị hãm hại, lúc này không dựng gậy làm cờ mà nổi lên thì còn đợi đến lúc nào? Lương Sơn Bạc thì cũng do các hảo hán lập ra đấy chứ….
- Thưa đại ca, mỗi thời một khác – Tôi vội thưa - Tập đoàn lãnh đạo hiện nay phức tạp hơn thời xưa của đại ca lắm lắm. Ngay nội bộ tập đoàn ấy đã có biết bao nhân vật yêu nước thương dân, họ đang làm việc trong cảnh gian nan, mong đưa nước nhà lên con đường chính đáng. Dân chúng bên dưới dẫu có liều lĩnh làm bừa thì thật ra cũng chẳng ích gì.
- Thiển cận quá, thiển cận qúa! - Tống Giang cười ha hả - Trên dưới kết hợp, nội công ngoại kích, trong triều ngoại nội cùng lo thì mới mở ra được cái mà nhà ngươi gọi là con đường chính đáng. Nếu không có lực lượng phía dưới, lực lượng ngoại kích, lực lượng ngoại nội, thì những bậc khanh sĩ trong triều yêu nước thương dân, mà nhà ngươi nhắc đến trên kia cũng sẽ lâm vào cảnh đơn thương độc mã, một bàn tay vỗ sao kêu được, cuối cùng sói hùm dọn sạch, tống vào ngục trời. Nhà ngươi mau mau tập hợp lấy một cánh quân, chi viện các bậc trung lương trong triều, để “ thanh quân tróc, chính triều cương ”, lọc sạch tả hữu của nhà vua, sửa ngay cương kỷ của triều đình.
- Thưa đại ca, cánh quân mà đại ca nói đó, ngày nay chúng tôi gọi là “ tổ chức cách mạng ”. Bộ máy chuyên chính thời nay nhân danh giai cấp vô sản lập lên, không giống như bọn sai dịch ở nha môn thời đại ca đâu! Ngay từ khi những “ tổ chức cách mạng ” như vậy chưa kịp hình thành, thì chúng nó đã ra tay trước. Hành động vây bắt của chúng còn nhanh hơn cả hành động của tổ chức mình. Hơn mười năm nay, chúng nó thà bắt nhầm hàng nghìn người chứ không để bỏ xót một người. Năm 1968, tôi vừa mới ra khỏi đội lao cải, chẳng biết mô tê gì cũng tưởng là có một “ bộ tư lệnh Lưu - Đặng ” thật, bèn liều mạng lao đi tìm, nhưng chẳng những không được ích gì, mà còn bị chụp mũ tống vào trại giam ngay. Đại ca tưởng dễ lắm sao? Chẳng hạn như đại ca đấy, qua đời mấy trăm năm nay, mà chúng vẫn cứ lôi đại ca ra mà phê mà đấu đấy thôi. May mà đại ca không hiện về ban ngày đấy, nếu không cũng bị bắt trói ngay tại chỗ rồi.
- Ôi! Thật đúng là mỗi thời mỗi khác! - Tống Giang ngửa mặt than dài - Kể nói như thế, thì một con kiến mối như nhà ngươi quả không có cách nào cứu nguy cho xã tắc. Vậy thì cắt quách cổ đôi gian phu dâm phụ kia đi, rồi sau tự sát, cũng là một cách răn đe trừng phạt những quân gian ác trên đời.
- Đấy tuy đáng kể là một cách sửa chữa thói đời, nhưng Tống đại ca còn chưa biết đấy thôi, tôi với cô ta tiếng là vợ chồng, song thực ra chẳng phải vợ chồng gì, tôi cũng chả bỏ liều tính mạng mình với chúng, dẫu rằng tôi chẳng còn mảy may luyến tiếc cuộc sống hôm nay…
Một trận gió ù ù nổi lên, cành lá các cây liễu quế hương, cây dương thảy đều vật vờ nghiêng ngả. Những cái bóng lờ mờ của chúng in trên mặt đất giờ đây rối tung lên, thành một đám khói đen mù mịt. Trên không trung lại vang lên giọng bi thiết của một u hồn khác.
- Chỉ tại cái mặt trăng kia đi chệch quỹ đạo, đi sát địa cầu hơn thường ngày, bởi thế làm cho loài người đều điên rồ hẳn đi – U hồn này có bộ mặt đen sì, khoác chiến bào của quân nhân Vơ-ni-dơ thời cổ đại. Thì ra là u hồn của Ô-ten-lô xứ Mô-rơ. Ông ta lướt đi giữa sương mù đen đặc, đôi mắt đờ đẫn, dáng vẻ tự nhiên như không biết có ai khác – Dũng khí của ta cũng bỏ ta mà đi. Kẻ hèn nhát yếu đuối nào cũng có thể cướp được gươm ta. Nhưng một khi gian ác đã thắng được chính trực, thì làm gì còn có vinh dự được nữa. Hãy để cho tất cả đều quy về hủy diệt.
Ở dưới địa ngục ông ta đã bị giày vò đến phát điên. Cái giày vò ông ta chính là lương tâm và lòng hối hận. Giọng nói sắc lạnh của ông như có ý răn đe, bất cứ kẻ nào mưu toan giết vợ rồi tự sát.
Chiếc máy kéo chạy đến trước cửa trường tiểu học của nông trường bộ thì bỗng dưng chết máy, chiếc rơ-móc chồm lên một cái rồi mới dừng hẳn.
- Lái cái con b….! – Chú Lý nhảy ra khỏi ca-bin, đưa chân đá một cái vào chiếc bánh hơi – Cái đồ vứt đi này mà còn bắt dùng, ở nước ngoài người ta thải mẹ nó đi từ lâu rồi.
Mặt trời đã lặn hết. Vầng trăng to, tròn vành vạnh đã hiện ra trên bầu trời. Không có mây, không có ráng chiều, cũng không có một vì sao. Tôi bỗng phát hiện ra cảnh vật chung quanh còn rõ hơn cả lúc hoàng hôn. Hai bên cổng trường là hai câu ngữ lục sơn đỏ: “ Mọi công tác của nhà trường đều nhằm làm chuyển biến tư tưởng của học sinh ”. Phía bên kia là: “Đội công nhân tuyên truyền sẽ ở lại lâu dài trong trường học, tham gia toàn bộ nhiệm vụ đấu tố, phê phán và cải tạo trong nhà trường, và vĩnh viễn lãnh đạo nhà trường ”. Dưới ánh trăng lời Mao chủ tịch ngời ngời lấp lánh.
Thì ra học sinh đến trường không phải là để học kiến thức, mà là để chuyển biến tư tưởng. Hẳn là để chuyển biến “ sự hồn nhiên trong trắng thành thói gian trá đểu cáng ”? Hay là chuyển biến “ tư tưởng tư sản thành tư tưởng vô sản ”?
Trẻ con lên bảy đã có tư tưởng tư sản, và nhiệm vụ của nhà trường này là bắt chúng chuyển biến lập trường? Tôi cảm thấy một cơn gió lạnh thổi tới buốt căm căm.
Đã muộn lắm rồi. Gió lạnh từ trên vầng trăng kia thổi xuống…..
Trước đầu máy kéo, chú Lý đang hổn hà hổn hển kéo dây cu-roa, hòng khởi động nó lần nữa. Trên mặt trăng kia hiện rõ từng vệt đen dài. Đó là những đại lục trên mặt trăng ư? Hay đại dương trên đó?….Tôi như người trên cung trăng rơi xuống, đối với mọi thứ trên trái đất này đều cảm thấy ngỡ ngàng ngơ ngác. Dần dần tôi không còn hiểu biết tí gì về mọi việc trên trái đất này nữa. Và mỗi lúc cảm thấy mình đến gần mặt trăng hơn, gần thêm, gần mãi. Trước mặt tôi trăng mỗi lúc một to, mỗi lúc một rõ.
- Đ. mẹ! Đếch chạy được nữa – Chú Lý bước tới, đu người lên thành rơ-móc, thò đầu vào hỏi tôi – Làm thế nào bây giờ hả, anh Chương ơi?
Tôi nằm ngửa trong rơ-móc, dưới lưng lót một chồng bao tải, rất êm, rất thoải mái.
- Không chạy được thì cậu thử kéo xem – Tôi đáp, mắt vẫn không rời khỏi vầng trăng.
- Đ.mẹ! Anh chỉ được cái nói kháy là không ai bằng. Anh xuống mà kéo đi xem nào?
- Tớ chỉ quen ăn no vác nặng thôi, không biết lái máy kéo. Tớ mà biết lái, thì tớ đã lái béng đi cho cậu từ đời tám hoánh nào rồi.
Chú Lý vẫn tần ngần bên thành xe, chép miệng liên hồi:
- Chậc, chậc, làm thế nào bây giờ?
Tan ca chiều bí thư Tào bảo tôi làm thêm ca đêm, theo máy kéo chú Lý ra ga xe lửa chở phân lân.
- Tối nay cậu chịu khó đi một chuyến, ngày mai, ngày kia cho cậu nghỉ bù thêm hai ngày. – Tào Học Nghĩa nói – Ngày mai nông trường bộ họp đại hội cả ngày, toàn thể công nhân viên chức đều tham gia. Trên lại kêu gọi học tập lý luận chuyên chính vô sản, phê phán Tống Giang Tống Giếc gì ấy….
Nếu cử một công nhân viên chức đi làm ca đêm, thì tất nhiên ngày sau anh ta không đi dự đại hội được. Còn các phần tử địa chủ, phú nông, phản động hữu phái, và phần tử xấu thì không được quyền dự đại hội; nên điều tôi đi làm thêm ca đêm là thích hợp nhất, vừa khỏi lỡ việc chăn ngựa, một mình chàng Câm chăn cũng được, lại vừa khỏi ảnh hưởng đến không khí sôi nổi của đại hội ngày mai “ một trăm phần trăm đến dự đại hội, một trăm phần trăm nhất trí hô vang ”….Về phần tôi, làm thêm một ca đêm được nghỉ bù hai ngày, thì làm quá đi chứ! Ban ngày cô ấy đi làm, tôi ở nhà một mình càng hay.
- Này! – Chú Lý lượn một vòng quanh máy kéo, lại quay về bên chiếc rơ-móc, nhăn nhở bảo tôi – Thôi, anh em mình vào quách trường tiểu học tìm một chỗ ngon lành đánh một giấc đi.
- Đánh một giấc? Cậu dám nghĩ như vậy à? Thế còn nhiệm vụ thì sao?
- Nhiệm với chả vụ! Bỏ mẹ nó cái nhiệm vụ của anh đi nhá – Chú Lý nhẩy cẫng lên dưới ánh trăng – Máy kéo già cốc đế, như răng bà lão ấy, đáng cho vào bảo tàng từ lâu rồi. Tôi chịu thôi, ai tài giỏi thì đi mà lái.
Tôi bò dậy, leo lên thành rơ-móc, nhảy xuống đất.
- Thì cậu phải báo cáo lên trên chứ. Máy hỏng, chúng mình vỗ đít đánh một giấc, nhỡ thằng cha căng chú kiết nào đến gỡ hết phụ tùng thì sao? Với lại, xảy ra việc gì, người ta không truy cậu mà lại cho là tớ phá hoại máy nữa cơ.
Chú Lý gãi lên mũ, mồm cứ liến thoắng:
- Làm sao bây giờ? Làm thế nào bây giờ?
Cậu là con trai cưng của phó chủ nhiệm Ban chính trị nông trường bộ, có cái ô to tướng, nhưng không lên mặt chuyên chính với tôi, mà còn lo thay cho tôi.
- Vậy thì anh đi ngủ đi, để tôi ở đây trông máy cho.
- Thế cũng không ổn. Cái máy kéo này đến sáng mai cũng không nhúc nhích được đâu, mà bí thư Tào thì cứ yên trí là chúng mình đang làm việc cơ. Tớ tính thế này nhé, cậu cứ ngủ trong ca-bin ấy, để tớ về báo cáo tình hình này. Trước là chúng mình làm cho tròn trách nhiệm, sau nữa là tớ có thể dắt hai con ngựa tới kéo khởi động máy. Cậu thấy thế nào?
- Trời ơi! Thế thì khổ thân anh quá. Từ đây mà về tới đội, bỏ rẻ cũng mất hai chục cây số chứ chả ít.
- Không sao, tớ đi chăn cừu quen rồi; hôm nay lại có trăng. Muộn nhất thì mười hai giờ đêm tớ cũng về đến nhà, sau đó cưỡi ngựa đến đây thì nhanh thôi. Cậu cứ ngủ đi, tớ sẽ trở lại đây kéo cậu dậy trước lúc trời sáng.
Trăng đã lên đỉnh đầu. Dưới ánh trăng, đi giữa đồng không mông quạnh tưởng chừng như đi trên mặt trăng vậy, tít tắp tới tận đường chân trời đen sẫm kia, hoàn toàn vắng tanh vắng ngắt, không một bóng người. Có cảm tưởng như đi đến đường chân trời ấy, rồi bước thêm một bước nữa thì sẽ rơi vào bầu trời mênh mông bát ngát. Lúc này tôi đã trở về với môi trường quen thuộc của tôi, bồng bềnh trong trạng thái không trọng lượng, toàn thân lâng lâng, bước chân thoăn thoắt. Tôi rất thích ban đêm một mình đi bách bộ dưới trăng. Thì ra, con người ta đi từ thế giới này sang một thế giới khác không có gì khó, bất quá chỉ là trái đất từ phía này quay sang phía kia mà thôi.
Khoảng hơn mười một giờ đêm, tôi về tới đội sản xuất. Cái xóm nhỏ tôi đã êm đềm ngủ say trong ánh trăng. Từng dãy nhà đất màu vàng khè, giờ đây nằm dài ngay ngắn đều đặn giữa đồng ruộng, cũng một màu vàng đất ấy. Hệt như những người nông dân lam lũ sau một ngày làm lụng cực nhọc. Trong giải rừng bên kia, tôi thấy dãy nhà đầu tiên có hai ngọn đèn sáng chói. Một ngọn là văn phòng của đội sản xuất, còn một ngọn nữa là nhà kho của đội sản xuất trước đây, nay là nhà tôi. Khuya thế này rồi mà cô ta vẫn chưa đi ngủ, một tình cảm ấm áp, một nỗi niềm xót thương bỗng dâng lên dào dạt trong tôi.
Đến văn phòng đội báo cáo với Tào Học Nghĩa đã chăng? Hay là về nhà thăm cô trước đã, bảo cô đi ngủ đi kẻo muộn? Tôi rời đường cái, đi vào con đường mòn xuyên qua giữa rừng dương thưa thớt. Cành lá dương khô mục rụng xuống từ năm trước xào xạc dưới chân tôi. Gió đêm mát lạnh lùa trên những ngọn cây, nghe rõ tiếng chim non giật mình kinh hãi chiêm chiếp liên hồi trên các tổ chim gi, chim sẻ.
Xung quanh rừng dương là một dãy liễu quế hương. Liễu quế hương là giống cây đặc sản vùng tây bắc, vỏ cây nâu sẫm như cây me, thân cây cong queo đầy gai; lá tro mốc thếch, nhưng hoa vàng lấm tấm như những hạt gạo, lại có hương thơm ngào ngạt lạ thường. Giống cây này mọc được cả vùng đất mặn cằn cỗi, không đòi hỏi thiên nhiên phải cung cấp nhiều mưa, lại hào phóng hiến dâng hương thơm cho đời không chút dè sẻn.
Mùa này hoa liễu quế hương đã tàn, trên cành lúc lỉu những chùm quả xanh non. Sang thu cả tán cây sẽ là một màu vàng óng ả. Tôi đi qua dưới từng cây liễu quế hương, sắp đến cuối rặng cây thì thấy đèn văn phòng chợt tắt. Có cảm tưởng như cái xóm nhỏ của tôi bỗng nhắm lại một mắt. Từ văn phòng một bóng người đi ra, dưới ánh trăng vằng vặc, tôi nhận ngay ra là Tào Học Nghĩa. Anh ta không đi về phía nhà anh ta ở dãy sau, mà nhắm về phía nhà kho, tức là nhà tôi. Giữa lúc tôi đang ớ ra vì kinh ngạc, thì anh ta đã đẩy cửa đi lọt vào nhà tôi. Ánh đèn trong cửa vụt hắt ra, một vệt sáng dài loé ra tận ngoài đồng. Nhưng loáng cái, cửa đã đóng lại.
Tôi tiến thêm mấy bước nữa, trong nhà đèn cũng tắt phụt.
Trước mặt tôi giờ đây, cái xóm nhỏ của tôi đã nhắm nghiền cả hai mắt.
Cả cái xóm nhỏ đều đã ngủ say. Tôi đã bị gạt bỏ lại bên ngoài, chỉ một mình tôi thức.
Cái việc ấy rốt cuộc đã sảy ra.
Chân tôi bủn rủn, tôi ngồi bệt xuống gốc cây liễu quế hương. Tôi nghe rõ tiếng vỏ cây đầy gai cào sồn sột lên chiếc áo choàng bằng vải bạt của tôi, nhưng lưng tôi chẳng còn mảy may tri giác.
Nhớ lại những nỗi nhục nhã đã từng nếm chịu, và đem so với mọi cảnh bất hạnh của mọi kẻ bất hạnh. Duy có nỗi nhục nhã này, tôi chưa từng nếm mùi bao giờ khiến tôi kinh ngạc, cảm thấy không ngờ, không tin rằng số phận lại hậu hĩ với tôi như vậy. Dường như trời sinh ra tôi là đã định sẵn rằng tôi phải nếm trải mọi nỗi đau khổ, phải đi xuyên suốt toàn bộ hoả ngục đày đoạ dựng lên bằng nước và lửa, bằng gươm đao và rắn độc. Mấy hôm nay, tôi bắt đầu dự cảm lờ mờ rằng cái ngày tôi phải chịu đựng nỗi nhục nhã đó e chừng sắp đến.
Từ lâu tôi đã như con chó đói bị dồn đến chân tường co lưng, quắp đuôi, hai mắt đỏ ngầu tia máu tuyệt vọng nhìn lên cây gậy đã giơ cao, đớn hèn bất lực chờ cái giây phút nó sẽ giáng xuống đầu mình. Duy chỉ cầu mong có một điều là nó đừng đập vụn xương tôi ra, để cho tôi còn bò lê được, còn ăn được, còn băng bó vết thương được, may ra còn khỏi được.
Đến giờ phút này, cái gậy đã rốt cuộc giáng xuống.
Tôi lại một phen nghiệm thấy được trực giác của mình.
Tôi rã rời đổ xuống dưới gốc cây liễu quế hương, hai tay tôi điên dại vầy vò lớp vỏ cây đầy gai, lòng bàn tay rách bươm toé máu, dường như tôi làm thế là để phục hồi lại tri giác, đặng kiểm tra mức độ tổn thương của mình.
- Này, cớ sao ngươi lại nằm đây? - Bỗng nhiên một bóng ma từ trên không trung lướt tới, đá vào lưng tôi một cái – Hãy đi cầm lấy cái rìu đẵn củi! Sau cánh cửa nhà các ngươi vẫn có một cái đấy thôi? Trong túi ngươi có sẵn chìa khoá, mở toang cửa ra mà xông vào. Đại trượng phu đứng trong trời đất, há có thể chịu được nỗi ô nhục nhường kia ư?!
Tôi ngẩng đầu lên. Bóng ma mặc quan phục nhà Tống, da ngăm ngăm đen, vóc người lùn béo, mắt phượng mày ngài. Bóng ma khe vuốt chòm râu, bảo:
- Anh em của ta quyết không bao giờ đớn hèn như nhà ngươi, như đại ca Võ Nhị Lang có biệt hiệu là “ đinh ba tấc ”, còn quyết liều sống chết với loài gian phu dâm phụ, huống chi nhà ngươi thân cao bảy thước, sức dài vai rộng, đường đường một đấng tài trai. Nhà ngươi nín nhịn mối nhục tày trời đó thì mặt mũi nào nhìn thấy cha mẹ nhà ngươi nơi chín suối?
Cái này có thể thử được đấy! Cái hôm cưới, ở trên tường đã chẳng ngổn ngang xác chết đó sao? Phải chăng là điềm báo trước?
Nhưng….
- Tống đại ca ơi! – Tôi kêu lên – Nhưng mà, thời đại đã đổi khác. Đại ca giết Diêm Bà Tích mà vẫn nhở nhơ ngoài vòng pháp luật, chứ còn tôi? Ngày nay chẳng có Lương Sơn Bạc….
- Theo ta, thời buổi này của các ngươi cũng chẳng khác thời Tuyên Hoà là mấy - Tống Giang nói – Chúa thượng hôn dung, sói hùm chắn lối, bậc trung lương bị hãm hại, lúc này không dựng gậy làm cờ mà nổi lên thì còn đợi đến lúc nào? Lương Sơn Bạc thì cũng do các hảo hán lập ra đấy chứ….
- Thưa đại ca, mỗi thời một khác – Tôi vội thưa - Tập đoàn lãnh đạo hiện nay phức tạp hơn thời xưa của đại ca lắm lắm. Ngay nội bộ tập đoàn ấy đã có biết bao nhân vật yêu nước thương dân, họ đang làm việc trong cảnh gian nan, mong đưa nước nhà lên con đường chính đáng. Dân chúng bên dưới dẫu có liều lĩnh làm bừa thì thật ra cũng chẳng ích gì.
- Thiển cận quá, thiển cận qúa! - Tống Giang cười ha hả - Trên dưới kết hợp, nội công ngoại kích, trong triều ngoại nội cùng lo thì mới mở ra được cái mà nhà ngươi gọi là con đường chính đáng. Nếu không có lực lượng phía dưới, lực lượng ngoại kích, lực lượng ngoại nội, thì những bậc khanh sĩ trong triều yêu nước thương dân, mà nhà ngươi nhắc đến trên kia cũng sẽ lâm vào cảnh đơn thương độc mã, một bàn tay vỗ sao kêu được, cuối cùng sói hùm dọn sạch, tống vào ngục trời. Nhà ngươi mau mau tập hợp lấy một cánh quân, chi viện các bậc trung lương trong triều, để “ thanh quân tróc, chính triều cương ”, lọc sạch tả hữu của nhà vua, sửa ngay cương kỷ của triều đình.
- Thưa đại ca, cánh quân mà đại ca nói đó, ngày nay chúng tôi gọi là “ tổ chức cách mạng ”. Bộ máy chuyên chính thời nay nhân danh giai cấp vô sản lập lên, không giống như bọn sai dịch ở nha môn thời đại ca đâu! Ngay từ khi những “ tổ chức cách mạng ” như vậy chưa kịp hình thành, thì chúng nó đã ra tay trước. Hành động vây bắt của chúng còn nhanh hơn cả hành động của tổ chức mình. Hơn mười năm nay, chúng nó thà bắt nhầm hàng nghìn người chứ không để bỏ xót một người. Năm 1968, tôi vừa mới ra khỏi đội lao cải, chẳng biết mô tê gì cũng tưởng là có một “ bộ tư lệnh Lưu - Đặng ” thật, bèn liều mạng lao đi tìm, nhưng chẳng những không được ích gì, mà còn bị chụp mũ tống vào trại giam ngay. Đại ca tưởng dễ lắm sao? Chẳng hạn như đại ca đấy, qua đời mấy trăm năm nay, mà chúng vẫn cứ lôi đại ca ra mà phê mà đấu đấy thôi. May mà đại ca không hiện về ban ngày đấy, nếu không cũng bị bắt trói ngay tại chỗ rồi.
- Ôi! Thật đúng là mỗi thời mỗi khác! - Tống Giang ngửa mặt than dài - Kể nói như thế, thì một con kiến mối như nhà ngươi quả không có cách nào cứu nguy cho xã tắc. Vậy thì cắt quách cổ đôi gian phu dâm phụ kia đi, rồi sau tự sát, cũng là một cách răn đe trừng phạt những quân gian ác trên đời.
- Đấy tuy đáng kể là một cách sửa chữa thói đời, nhưng Tống đại ca còn chưa biết đấy thôi, tôi với cô ta tiếng là vợ chồng, song thực ra chẳng phải vợ chồng gì, tôi cũng chả bỏ liều tính mạng mình với chúng, dẫu rằng tôi chẳng còn mảy may luyến tiếc cuộc sống hôm nay…
Một trận gió ù ù nổi lên, cành lá các cây liễu quế hương, cây dương thảy đều vật vờ nghiêng ngả. Những cái bóng lờ mờ của chúng in trên mặt đất giờ đây rối tung lên, thành một đám khói đen mù mịt. Trên không trung lại vang lên giọng bi thiết của một u hồn khác.
- Chỉ tại cái mặt trăng kia đi chệch quỹ đạo, đi sát địa cầu hơn thường ngày, bởi thế làm cho loài người đều điên rồ hẳn đi – U hồn này có bộ mặt đen sì, khoác chiến bào của quân nhân Vơ-ni-dơ thời cổ đại. Thì ra là u hồn của Ô-ten-lô xứ Mô-rơ. Ông ta lướt đi giữa sương mù đen đặc, đôi mắt đờ đẫn, dáng vẻ tự nhiên như không biết có ai khác – Dũng khí của ta cũng bỏ ta mà đi. Kẻ hèn nhát yếu đuối nào cũng có thể cướp được gươm ta. Nhưng một khi gian ác đã thắng được chính trực, thì làm gì còn có vinh dự được nữa. Hãy để cho tất cả đều quy về hủy diệt.
Ở dưới địa ngục ông ta đã bị giày vò đến phát điên. Cái giày vò ông ta chính là lương tâm và lòng hối hận. Giọng nói sắc lạnh của ông như có ý răn đe, bất cứ kẻ nào mưu toan giết vợ rồi tự sát.