📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

MỘT NỬA ĐÀN ÔNG LÀ ĐÀN BÀ 🔒

54 trả lời, 5.493 lượt xem — Trang 2 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-25 12:27:19ĐạoCấy>
                                                                CHƯƠNG SÁU.
 
Chiếc máy kéo chạy đến trước cửa trường tiểu học của nông trường bộ thì bỗng dưng chết máy, chiếc rơ-móc chồm lên một cái rồi mới dừng hẳn.
 - Lái cái con b….! – Chú Lý nhảy ra khỏi ca-bin, đưa chân đá một cái vào chiếc bánh hơi – Cái đồ vứt đi này mà còn bắt dùng, ở nước ngoài người ta thải mẹ nó đi từ lâu rồi.
Mặt trời đã lặn hết. Vầng trăng to, tròn vành vạnh đã hiện ra trên bầu trời. Không có mây, không có ráng chiều, cũng không có một vì sao. Tôi bỗng phát hiện ra cảnh vật chung quanh còn rõ hơn cả lúc hoàng hôn. Hai bên cổng trường là hai câu ngữ lục sơn đỏ: “ Mọi công tác của nhà trường đều nhằm làm chuyển biến tư tưởng của học sinh ”. Phía bên kia là: “Đội công nhân tuyên truyền sẽ ở lại lâu dài trong trường học, tham gia toàn bộ nhiệm vụ đấu tố, phê phán và cải tạo trong nhà trường, và vĩnh viễn lãnh đạo nhà trường ”. Dưới ánh trăng lời Mao chủ tịch ngời ngời lấp lánh.
Thì ra học sinh đến trường không phải là để học kiến thức, mà là để chuyển biến tư tưởng. Hẳn là để chuyển biến “ sự hồn nhiên trong trắng thành thói gian trá đểu cáng ”? Hay là chuyển biến “ tư tưởng tư sản thành tư tưởng vô sản ”?
Trẻ con lên bảy đã có tư tưởng tư sản, và nhiệm vụ của nhà trường này là bắt chúng chuyển biến lập trường? Tôi cảm thấy một cơn gió lạnh thổi tới buốt căm căm.
Đã muộn lắm rồi. Gió lạnh từ trên vầng trăng kia thổi xuống…..
Trước đầu máy kéo, chú Lý đang hổn hà hổn hển kéo dây cu-roa, hòng khởi động nó lần nữa. Trên mặt trăng kia hiện rõ từng vệt đen dài. Đó là những đại lục trên mặt trăng ư? Hay đại dương trên đó?….Tôi như người trên cung trăng rơi xuống, đối với mọi thứ trên trái đất này đều cảm thấy ngỡ ngàng ngơ ngác. Dần dần tôi không còn hiểu biết tí gì về mọi việc trên trái đất này nữa. Và mỗi lúc cảm thấy mình đến gần mặt trăng hơn, gần thêm, gần mãi. Trước mặt tôi trăng mỗi lúc một to, mỗi lúc một rõ.
- Đ. mẹ! Đếch chạy được nữa – Chú Lý bước tới, đu người lên thành rơ-móc, thò đầu vào hỏi tôi – Làm thế nào bây giờ hả, anh Chương ơi?
Tôi nằm ngửa trong rơ-móc, dưới lưng lót một chồng bao tải, rất êm, rất thoải mái.
- Không chạy được thì cậu thử kéo xem – Tôi đáp, mắt vẫn không rời khỏi vầng trăng.
- Đ.mẹ! Anh chỉ được cái nói kháy là không ai bằng. Anh xuống mà kéo đi xem nào?
- Tớ chỉ quen ăn no vác nặng thôi, không biết lái máy kéo. Tớ mà biết lái, thì tớ đã lái béng đi cho cậu từ đời tám hoánh nào rồi.
Chú Lý vẫn tần ngần bên thành xe, chép miệng liên hồi:
- Chậc, chậc, làm thế nào bây giờ?
Tan ca chiều bí thư Tào bảo tôi làm thêm ca đêm, theo máy kéo chú Lý ra ga xe lửa chở phân lân.
- Tối nay cậu chịu khó đi một chuyến, ngày mai, ngày kia cho cậu nghỉ bù thêm hai ngày. – Tào Học Nghĩa nói – Ngày mai nông trường bộ họp đại hội cả ngày, toàn thể công nhân viên chức đều tham gia. Trên lại kêu gọi học tập lý luận chuyên chính vô sản, phê phán Tống Giang Tống Giếc gì ấy….
 Nếu cử một công nhân viên chức đi làm ca đêm, thì tất nhiên ngày sau anh ta không đi dự đại hội được. Còn các phần tử địa chủ, phú nông, phản động hữu phái, và phần tử xấu thì không được quyền dự đại hội; nên điều tôi đi làm thêm ca đêm là thích hợp nhất, vừa khỏi lỡ việc chăn ngựa, một mình chàng Câm chăn cũng được, lại vừa khỏi ảnh hưởng đến không khí sôi nổi của đại hội ngày mai “ một trăm phần trăm đến dự đại hội, một trăm phần trăm nhất trí hô vang ”….Về phần tôi, làm thêm một ca đêm được nghỉ bù hai ngày, thì làm quá đi chứ! Ban ngày cô ấy đi làm, tôi ở nhà một mình càng hay.
- Này! – Chú Lý lượn một vòng quanh máy kéo, lại quay về bên chiếc rơ-móc, nhăn nhở bảo tôi – Thôi, anh em mình vào quách trường tiểu học tìm một chỗ ngon lành đánh một giấc đi.
- Đánh một giấc? Cậu dám nghĩ như vậy à? Thế còn nhiệm vụ thì sao?
- Nhiệm với chả vụ! Bỏ mẹ nó cái nhiệm vụ của anh đi nhá – Chú Lý nhẩy cẫng lên dưới ánh trăng – Máy kéo già cốc đế, như răng bà lão ấy, đáng cho vào bảo tàng từ lâu rồi. Tôi chịu thôi, ai tài giỏi thì đi mà lái.
Tôi bò dậy, leo lên thành rơ-móc, nhảy xuống đất.
- Thì cậu phải báo cáo lên trên chứ. Máy hỏng, chúng mình vỗ đít đánh một giấc, nhỡ thằng cha căng chú kiết nào đến gỡ hết phụ tùng thì sao?  Với lại, xảy ra việc gì, người ta không truy cậu mà lại cho là tớ phá hoại máy nữa cơ.
Chú Lý gãi lên mũ, mồm cứ liến thoắng:
- Làm sao bây giờ? Làm thế nào bây giờ?
Cậu là con trai cưng của phó chủ nhiệm Ban chính trị nông trường bộ, có cái ô to tướng, nhưng không lên mặt chuyên chính với tôi, mà còn lo thay cho tôi.
- Vậy thì anh đi ngủ đi, để tôi ở đây trông máy cho.
- Thế cũng không ổn. Cái máy kéo này đến sáng mai cũng không nhúc nhích được đâu, mà bí thư Tào thì cứ yên trí là chúng mình đang làm việc cơ. Tớ tính thế này nhé, cậu cứ ngủ trong ca-bin ấy, để tớ về báo cáo tình hình này. Trước là chúng mình làm cho tròn trách nhiệm, sau nữa là tớ có thể dắt hai con ngựa tới kéo khởi động máy. Cậu thấy thế nào?
- Trời ơi! Thế thì khổ thân anh quá. Từ đây mà về tới đội, bỏ rẻ cũng mất hai chục cây số chứ chả ít.
- Không sao, tớ đi chăn cừu quen rồi; hôm nay lại có trăng. Muộn nhất thì mười hai giờ đêm tớ cũng về đến nhà, sau đó cưỡi ngựa đến đây thì nhanh thôi. Cậu cứ ngủ đi, tớ sẽ trở lại đây kéo cậu dậy trước lúc trời sáng.
Trăng đã lên đỉnh đầu. Dưới ánh trăng, đi giữa đồng không mông quạnh tưởng chừng như đi trên mặt trăng vậy, tít tắp tới tận đường chân trời đen sẫm kia, hoàn toàn vắng tanh vắng ngắt, không một bóng người. Có cảm tưởng như đi đến đường chân trời ấy, rồi bước thêm một bước nữa thì sẽ rơi vào bầu trời mênh mông bát ngát. Lúc này tôi đã trở về với môi trường quen thuộc của tôi, bồng bềnh trong trạng thái không trọng lượng, toàn thân lâng lâng, bước chân thoăn thoắt. Tôi rất thích ban đêm một mình đi bách bộ dưới trăng. Thì ra, con người ta đi từ thế giới này sang một thế giới khác không có gì khó, bất quá chỉ là trái đất từ phía này quay sang phía kia mà thôi.
Khoảng hơn mười một giờ đêm, tôi về tới đội sản xuất. Cái xóm nhỏ tôi đã êm đềm ngủ say trong ánh trăng. Từng dãy nhà đất màu vàng khè, giờ đây nằm dài ngay ngắn đều đặn giữa đồng ruộng, cũng một màu vàng đất ấy. Hệt như những người nông dân lam lũ sau một ngày làm lụng cực nhọc. Trong giải rừng bên kia, tôi thấy dãy nhà đầu tiên có hai ngọn đèn sáng chói. Một ngọn là văn phòng của đội sản xuất, còn một ngọn nữa là nhà kho của đội sản xuất trước đây, nay là nhà tôi. Khuya thế này rồi mà cô ta vẫn chưa đi ngủ, một tình cảm ấm áp, một nỗi niềm xót thương bỗng dâng lên dào dạt trong tôi.
Đến văn phòng đội báo cáo với Tào Học Nghĩa đã chăng? Hay là về nhà thăm cô trước đã, bảo cô đi ngủ đi kẻo muộn? Tôi rời đường cái, đi vào con đường mòn xuyên qua giữa rừng dương thưa thớt. Cành lá dương khô mục rụng xuống từ năm trước xào xạc dưới chân tôi. Gió đêm mát lạnh lùa trên những ngọn cây, nghe rõ tiếng chim non giật mình kinh hãi chiêm chiếp liên hồi trên các tổ chim gi, chim sẻ.
Xung quanh rừng dương là một dãy liễu quế hương. Liễu quế hương là giống cây đặc sản vùng tây bắc, vỏ cây nâu sẫm như cây me, thân cây cong queo đầy gai; lá tro mốc thếch, nhưng hoa vàng lấm tấm như những hạt gạo, lại có hương thơm ngào ngạt lạ thường. Giống cây này mọc được cả vùng đất mặn cằn cỗi, không đòi hỏi thiên nhiên phải cung cấp nhiều mưa, lại hào phóng hiến dâng hương thơm cho đời không chút dè sẻn.
Mùa này hoa liễu quế hương đã tàn, trên cành lúc lỉu những chùm quả xanh non. Sang thu cả tán cây sẽ là một màu vàng óng ả. Tôi đi qua dưới từng cây liễu quế hương, sắp đến cuối rặng cây thì thấy đèn văn phòng chợt tắt. Có cảm tưởng như cái xóm nhỏ của tôi bỗng nhắm lại một mắt. Từ văn phòng một bóng người đi ra, dưới ánh trăng vằng vặc, tôi nhận ngay ra là Tào Học Nghĩa. Anh ta không đi về phía nhà anh ta ở dãy sau, mà nhắm về phía nhà kho, tức là nhà tôi. Giữa lúc tôi đang ớ ra vì kinh ngạc, thì anh ta đã đẩy cửa đi lọt vào nhà tôi. Ánh đèn trong cửa vụt hắt ra, một vệt sáng dài loé ra tận ngoài đồng. Nhưng loáng cái, cửa đã đóng lại.
Tôi tiến thêm mấy bước nữa, trong nhà đèn cũng tắt phụt.
Trước mặt tôi giờ đây, cái xóm nhỏ của tôi đã nhắm nghiền cả hai mắt.
Cả cái xóm nhỏ đều đã ngủ say. Tôi đã bị gạt bỏ lại bên ngoài, chỉ một mình tôi thức.
Cái việc ấy rốt cuộc đã sảy ra.
Chân tôi bủn rủn, tôi ngồi bệt xuống gốc cây liễu quế hương. Tôi nghe rõ tiếng vỏ cây đầy gai cào sồn sột lên chiếc áo choàng bằng vải bạt của tôi, nhưng lưng tôi chẳng còn mảy may tri giác.
Nhớ lại những nỗi nhục nhã đã từng nếm chịu, và đem so với mọi cảnh bất hạnh của mọi kẻ bất hạnh. Duy có nỗi nhục nhã này, tôi chưa từng nếm mùi bao giờ khiến tôi kinh ngạc, cảm thấy không ngờ, không tin rằng số phận lại hậu hĩ với tôi như vậy. Dường như trời sinh ra tôi là đã định sẵn rằng tôi phải nếm trải mọi nỗi đau khổ, phải đi xuyên suốt toàn bộ hoả ngục đày đoạ dựng lên bằng nước và lửa, bằng gươm đao và rắn độc. Mấy hôm nay, tôi bắt đầu dự cảm lờ mờ rằng cái ngày tôi phải chịu đựng nỗi nhục nhã đó e chừng sắp đến.
Từ lâu tôi đã như con chó đói bị dồn đến chân tường co lưng, quắp đuôi, hai mắt đỏ ngầu tia máu tuyệt vọng nhìn lên cây gậy đã giơ cao, đớn hèn bất lực chờ cái giây phút nó sẽ giáng xuống đầu mình. Duy chỉ cầu mong có một điều là nó đừng đập vụn xương tôi ra, để cho tôi còn bò lê được, còn ăn được, còn băng bó vết thương được, may ra còn khỏi được.
Đến giờ phút này, cái gậy đã rốt cuộc giáng xuống.
Tôi lại một phen nghiệm thấy được trực giác của mình.
Tôi rã rời đổ xuống dưới gốc cây liễu quế hương, hai tay tôi điên dại vầy vò lớp vỏ cây đầy gai, lòng bàn tay rách bươm toé máu, dường như tôi làm thế là để phục hồi lại tri giác, đặng kiểm tra mức độ tổn thương của mình.
- Này, cớ sao ngươi lại nằm đây? - Bỗng nhiên một bóng ma từ trên không trung lướt tới, đá vào lưng tôi một cái – Hãy đi cầm lấy cái rìu đẵn củi! Sau cánh cửa nhà các ngươi vẫn có một cái đấy thôi? Trong túi ngươi có sẵn chìa khoá, mở toang cửa ra mà xông vào. Đại trượng phu đứng trong trời đất, há có thể chịu được nỗi ô nhục nhường kia ư?!
Tôi ngẩng đầu lên. Bóng ma mặc quan phục nhà Tống, da ngăm ngăm đen, vóc người lùn béo, mắt phượng mày ngài. Bóng ma khe vuốt chòm râu, bảo:
- Anh em của ta quyết không bao giờ đớn hèn như nhà ngươi, như đại ca Võ Nhị Lang có biệt hiệu là “ đinh ba tấc ”, còn quyết liều sống chết với loài gian phu dâm phụ, huống chi nhà ngươi thân cao bảy thước, sức dài vai rộng, đường đường một đấng tài trai. Nhà ngươi nín nhịn mối nhục tày trời đó thì mặt mũi nào nhìn thấy cha mẹ nhà ngươi nơi chín suối?
Cái này có thể thử được đấy! Cái hôm cưới, ở trên tường đã chẳng ngổn ngang xác chết đó sao? Phải chăng là điềm báo trước?
Nhưng….
- Tống đại ca ơi! – Tôi kêu lên – Nhưng mà, thời đại đã đổi khác. Đại ca giết Diêm Bà Tích mà vẫn nhở nhơ ngoài vòng pháp luật, chứ còn tôi? Ngày nay chẳng có Lương Sơn Bạc….
- Theo ta, thời buổi này của các ngươi cũng chẳng khác thời Tuyên Hoà là mấy - Tống Giang nói – Chúa thượng hôn dung, sói hùm chắn lối, bậc trung lương bị hãm hại, lúc này không dựng gậy làm cờ mà nổi lên thì còn đợi đến lúc nào? Lương Sơn Bạc thì cũng do các hảo hán lập ra đấy chứ….
- Thưa đại ca, mỗi thời một khác – Tôi vội thưa - Tập đoàn lãnh đạo hiện nay phức tạp hơn thời xưa của đại ca lắm lắm. Ngay nội bộ tập đoàn ấy đã có biết bao nhân vật yêu nước thương dân, họ đang làm việc trong cảnh gian nan, mong đưa nước nhà lên con đường chính đáng. Dân chúng bên dưới dẫu có liều lĩnh làm bừa thì thật ra cũng chẳng ích gì.
- Thiển cận quá, thiển cận qúa! - Tống Giang cười ha hả - Trên dưới kết hợp, nội công ngoại kích, trong triều ngoại nội cùng lo thì mới mở ra được cái mà nhà ngươi gọi là con đường chính đáng. Nếu không có lực lượng phía dưới, lực lượng ngoại kích, lực lượng ngoại nội, thì những bậc khanh sĩ trong triều yêu nước thương dân, mà nhà ngươi nhắc đến trên kia cũng sẽ lâm vào cảnh đơn thương độc mã, một bàn tay vỗ sao kêu được, cuối cùng sói hùm dọn sạch, tống vào ngục trời. Nhà ngươi mau mau tập hợp lấy một cánh quân, chi viện các bậc trung lương trong triều, để “ thanh quân tróc, chính triều cương ”, lọc sạch tả hữu của nhà vua, sửa ngay cương kỷ của triều đình.
- Thưa đại ca, cánh quân mà đại ca nói đó, ngày nay chúng tôi gọi là “ tổ chức cách mạng ”. Bộ máy chuyên chính thời nay nhân danh giai cấp vô sản lập lên, không giống như bọn sai dịch ở nha môn thời đại ca đâu! Ngay từ khi những “ tổ chức cách mạng ” như vậy chưa kịp hình thành, thì chúng nó đã ra tay trước. Hành động vây bắt của chúng còn nhanh hơn cả hành động của tổ chức mình. Hơn mười năm nay, chúng nó thà bắt nhầm hàng nghìn người chứ không để bỏ xót một người. Năm 1968, tôi vừa mới ra khỏi đội lao cải, chẳng biết mô tê gì cũng tưởng là có một “ bộ tư lệnh Lưu - Đặng ” thật, bèn liều mạng lao đi tìm, nhưng chẳng những không được ích gì, mà còn bị chụp mũ tống vào trại giam ngay. Đại ca tưởng dễ lắm sao? Chẳng hạn như đại ca đấy, qua đời mấy trăm năm nay, mà chúng vẫn cứ lôi đại ca ra mà phê mà đấu đấy thôi. May mà đại ca không hiện về ban ngày đấy, nếu không cũng bị bắt trói ngay tại chỗ rồi.
- Ôi! Thật đúng là mỗi thời mỗi khác! - Tống Giang ngửa mặt than dài - Kể nói như thế, thì một con kiến mối như nhà ngươi quả không có cách nào cứu nguy cho xã tắc. Vậy thì cắt quách cổ đôi gian phu dâm phụ kia đi, rồi sau tự sát, cũng là một cách răn đe trừng phạt những quân gian ác trên đời.
- Đấy tuy đáng kể là một cách sửa chữa thói đời, nhưng Tống đại ca còn chưa biết đấy thôi, tôi với cô ta tiếng là vợ chồng, song thực ra chẳng phải vợ chồng gì, tôi cũng chả bỏ liều tính mạng mình với chúng, dẫu rằng tôi chẳng còn mảy may luyến tiếc cuộc sống hôm nay…
Một trận gió ù ù nổi lên, cành lá các cây liễu quế hương, cây dương thảy đều vật vờ nghiêng ngả. Những cái bóng lờ mờ của chúng in trên mặt đất giờ đây rối tung lên, thành một đám khói đen mù mịt. Trên không trung lại vang lên giọng bi thiết của một u hồn khác.
- Chỉ tại cái mặt trăng kia đi chệch quỹ đạo, đi sát địa cầu hơn thường ngày, bởi thế làm cho loài người đều điên rồ hẳn đi – U hồn này có bộ mặt đen sì, khoác chiến bào của quân nhân Vơ-ni-dơ thời cổ đại. Thì ra là u hồn của Ô-ten-lô xứ Mô-rơ. Ông ta lướt đi giữa sương mù đen đặc, đôi mắt đờ đẫn, dáng vẻ tự nhiên như không biết có ai khác – Dũng khí của ta cũng bỏ ta mà đi. Kẻ hèn nhát yếu đuối nào cũng có thể cướp được gươm ta. Nhưng một khi gian ác đã thắng được chính trực, thì làm gì còn có vinh dự được nữa. Hãy để cho tất cả đều quy về hủy diệt.
Ở dưới địa ngục ông ta đã bị giày vò đến phát điên. Cái giày vò ông ta chính là lương tâm và lòng hối hận. Giọng nói sắc lạnh của ông như có ý răn đe, bất cứ kẻ nào mưu toan giết vợ rồi tự sát.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-25 12:16:33ĐạoCấy>
Sương mù dần dần tan đi, hai u hồn đều đã biến mất, không còn bóng dáng đâu nữa.
Lát sau, trăng lại tỏ, bầu trời lại sáng trong. Cơ thể tôi cỡi trên ánh mắt tôi, xuyên qua bầu trời xanh đen đi ngao du bốn cõi. Dưới gốc cây liễu quế hương này, tôi dường như có thể đối thoại trực tiếp với bất cứ thiên thể nào trong vũ trụ. Hơn thế nữa, tôi vươn tay ra hoặc giơ chân lên đều là ở trong vũ trụ bao la đó. Tôi đã lao mình vào trong vũ trụ.
- Ôi! – Tôi gào thét vào bầu trời thăm thẳm - Mạnh Tử bảo rằng: trời sắp giao trách nhiệm lớn cho người nào thì tất trước làm cho gân cốt người ấy phải mệt, cơ thể người ấy phải đói, tâm trí người ấy phải khổ, công việc người ấy phải loạn. Mệt, đói, khổ, loạn tôi đều đã nếm trải, nhưng biết đến lúc nào mới coi là kết thúc? Nếu như mọi thứ từng trải ấy không có một mục đích, thì tôi thà kết liễu cái sinh mệnh của mình ngay tại đây còn hơn. Đây cũng có thể coi là  một kiểu kết thúc….
- Với con cá sống dưới đáy giếng không thể luận bàn về biển cả, ấy là vì hạn chế bởi không gian; con sâu mùa hạ không thể đàm đạo về băng giá, ấy là vì bị chế ước về thời gian; với gã thư sinh quê mùa không thể bàn đạo lý lớn, ấy là vì anh ta bị ràng buộc bởi lễ giáo – Trên trời cao có một giọng nói sang sảng trả lời tôi - Giờ đây, ngươi đã khỏi sông và nhìn thấy biển cả, biết được cái xấu xa của chính ngươi, như vậy mới có thể cùng ngươi luận bàn những đạo lý lớn lao.
- Vâng ạ, mong tiên sinh chỉ giáo. Con xin vâng mệnh – Tôi biết người đang nói chuyện với mình là Trang Tử, mặc dù không nhìn thấy hình thể Người.
- Lời nói ấy của Mạnh Kha, có điều bất thông là ở chỗ ông ta cho rằng tạo hoá luôn có mục đích định trước. Ta từng nghe người có thành tựu lớn nói rằng: kẻ tự khoe mình thì chẳng có công tích gì, kẻ đã thành công mà không biết thoái lui thì sẽ rơi vào thất bại, kẻ tiếng tăm hiển hách ắt sẽ bị tổn thương. Người nào biết vứt bỏ công danh mà trả lại chúng nhân, đạo lớn lưu hành mà không khoe khoang công mình, đức hạnh đầy đủ mà không cầu tiếng tăm, thì mới có thể không cầu xin gì ở người khác, người khác cũng không cầu xin gì ở mình. Mệt, đói, khổ, loạn của ngươi chính là đã tham dự vào công việc tạo hoá của trời đất. Bậc chí nhân không cầu mục đích, không cầu tiếng tăm, cớ sao ngươi lại ham thích nó mà chăm chăm tìm kiếm?
- Đạo lý của tiên sinh cực kỳ sâu sắc – Tôi nói – Nhưng không khác với con lắm. Con không hề coi tiếng tăm hiển hách là mục đích của mệt, khổ, đói, loạn. Con biết rằng tiếng tăm hiển hách có thể mang lại nỗi đau buồn mới. Con chỉ mong làm nên được một chút gì đó….
- Ha! Ha! – Trang Tử cả cười – Ngươi phải biết rằng không làm gì cả thì mới có thể làm nên được một chút gì đó, mà không làm gì chính là không có cái gì không làm. Người tù khổ sai đã không kể gì sống chết cho nên leo lên cao mà không sợ sệt, bị đe doạ trả thù mà vượt lên trên sự phân biệt mình với người khác . Mà vượt lên trên sự phân biệt mình với người khác, tức là đã đạt tới cõi “ thiên nhân hợp nhất ”. Cho nên con người như vậy có thể đạt tới chỗ được người ta sùng kính mà không hớn hở vui mừng, bị người ta khinh nhờn mà không oán hờn giận dữ. Chỉ có hợp với trạng thái hoà khí của tự nhiên mới có thể được như vậy. Khí giận tuy phát sinh nhưng không phải là cố tình tức giận, vậy thì khí giận phát sinh ở vô tâm; làm được một chút gì trong tình trạng vô vi, thì làm việc đó chính là không làm gì cả. Muốn yên tĩnh thì phải giữ cho khí được bình, muốn dốc lòng chăm chú thì phải giữ cho tâm được thuận, có làm mà muốn đắc đạo thì phải gửi gắm ở điều bất đắc dĩ, đối với việc bất đắc dĩ mà thuận ứng với việc tạo hoá của trời đất, chính là đạo của thánh nhân đó.
Khắp người tôi sởn gai ốc, mồ hôi lạnh toát ra đầm đìa:
- Đa tạ tiên sinh đã chỉ giáo. Con đã hiểu được đại thể đạo lý làm người của tiên sinh. Con nhất định sẽ không mừng rỡ, không giận dữ, muốn có được sở vi thì nên có sở bất vi, tức như tiên sinh vẫn dạy “ tiểu bất nhẫn tất loạn đại mưu ”, không chịu nhẫn nhục điều nhỏ, thì sẽ làm hỏng cả mưu đồ lớn. Tuy vậy con vẫn mong tiên sinh dạy thêm, cho một đôi điều đạo lý cụ thể nữa, có được không ạ?
Tiếng Trang Tử từ vũ trụ vọng xuống:
- Rùa thần có thể báo mộng cho Nguyên Quân, nhưng lại không thể thoát khỏi lưới đánh cá của Dư Khả; Cơ Trí biết bói bẩy mươi hai quẻ, không quẻ nào là không ứng nghiệm, nhưng lại không thoát khỏi cái vạ khoét ruột. Xem như thế thì Cơ Trí cũng có lúc khốn, thần linh cũng có chỗ bất cập. Dẫu cho có mưu trí cao siêu nhất thì cũng cần có chúng nhân cùng mưu hoạch. Cá không biết sợ lưới mà sợ chim cốc; người ta có thể bỏ điều hiểu biết nhỏ mà điều hiểu biết lớn tự khắc sáng ra, vứt thói tự cho là thiện thì điều thiện tự nó tỏ rõ. Trẻ con sinh ra chưa có thầy dạy bảo thì đã biết nói, là vì ở cùng với người biết nói. Ta chuyên nghiên cứu đạo trời nên ít chú ý người. Ngươi muốn biết đạo lý cụ thể việc người, thì hãy tìm bậc đạo sư am hiểu phương diện đó mà thỉnh giáo.
Giọng nói của Trang Tử biến mất giữa bầu trời. Giữa bầu trời treo một vầng trăng vằng vặc, bóng cây chập chờn, muôn vật trở lại thanh tịnh như cũ.
Bỗng từ vầng trăng vành vạnh, Các-Mác thong thả bước ra.
- Con ơi, ta đã nghe tiếng lòng con thổn thức – Mác thọc một ngón tay vào túi áo gi-lê – Nhưng e rằng về phương diện này ta không giúp gì được cho con. Con biết đấy, Jen-ni là người đàn bà mà ta yêu quý, ta là người đàn ông nàng quý nàng yêu, lẽ tất nhiên ta không có kinh nghiệm xử lý loại vấn đề mà con đang vấp phải…
- Kính thưa bậc thầy vĩ đại, con xin không thỉnh giáo ngài về việc đó. Vấn đề ấy, tự con nghĩ đã thông suốt. Con sẽ bình tĩnh ôn hoà giải quyết, không để tổn hại đến đạo đức của mình. Điều con muốn thỉnh giáo ngài là nước nhà của chúng con, xã hội của chúng con, tức là rồi đây về phương diện con người sẽ ra sao? Bởi vì….
- Ha, ha! – Mác phá lên cười thoải mái – Con ơi, con nói rằng con nghĩ đã thông suốt, thật ra là con chưa thông. Điều căn bản của triết học nhân sinh phương Đông là tu thân dưỡng tính, vươn tới sự hoàn chỉnh của đạo đức, trả con người về với tự nhiên, tức là giao lưu với tinh thần của trời đất, đạt tới chỗ “ thiên nhân hợp nhất ”. Theo ta, con nên suy nghĩ kỹ về phía đó, đối xử với người khác bằng thái độ bình đẳng và tôn trọng. Quan niệm phương Tây là tự do bình đẳng, quan niệm phương Đông là đạo đức và danh dự. Ở đây ta không muốn phân tích quan niệm nào hơn quan niệm nào, chúng thuộc về những thời kỳ lịch sử khác nhau. Hơn nữa, theo sự phát triển xoáy trôn ốc của lịch sử, triết học phương Đông của các người rồi sẽ được phát huy rực rỡ trên thế giới. Ở đây ta chỉ muốn vạch ra rằng, con với cô ta là vợ chồng, nhưng con đã không hoàn thành nổi nghĩa vụ làm chồng, thì con có quyền gì ngăn trở cô ta đi tìm khoái lạc trong chốc lát? Con tưởng rằng con đã tha thứ cho cô ta, là con khoan dung độ lượng về đạo đức, nhưng thật ra ngay cả cái quyền tha thứ cho cô ta con làm gì có? Cái kiểu tự phong thánh thiện ấy cũng không hợp với đạo của thánh nhân theo quan niệm phương Đông đâu.
- Vâng ạ - Tôi bây giờ mới vỡ lẽ ra, cảm thấy mọi điều đều sáng tỏ lạ thường – Kính thưa thầy, xin ngài hãy dạy tiếp.
- Được – Mác vén vạt sau của chiếc áo đuôi én lên, ngồi xuống gốc cây đối diện tôi – Trước hết, ta yêu cầu con đối với ta phải giữ thái độ bình đẳng, để hai con người hai thời đại khác nhau nói chuyện với nhau như những người bạn. Ta sở dĩ gọi con là “ con ”, chỉ vì dẫu sao tuổi tác của ta hơn con nhiều lắm. Ở đây không có bậc thầy, không có đạo sư. Xưa nay ta không hề tự phong cho mình như vậy, ta cũng không chủ trương bịt miệng đời sau, đó chính là điều khiến ta khổ não mãi nơi thiên đường. Vĩ nhân sở dĩ là vĩ nhân, chính là vì tự ta quỳ xuống. Ta nhớ rằng từ lâu ta đã nói với các người điều đó. Tiếc rằng, người đời sau rất ít nghe lời ta….
- Ấy chết! – Tôi sửng sốt thưa - Cố nhiên là có nhiều kẻ đã xuyên tạc học thuyết của ngài, hoặc giả núp dưới ngọn cờ của ngài để hành động theo ý riêng của họ, nhưng số người tuân theo lời dạy của ngài thì đông hơn gấp bội chứ ạ! Tại sao ngài lại cho rằng người đời sau rất ít nghe lời của ngài? Điều này quả là con không rõ lắm.
- Con ơi! Đó cũng chính là điều ta hằng lo lắng ở trên thiên đường. Hạng người thứ nhất mà con nói đó, họ viện dẫn lời ta theo lối tầm chương trích cú để làm vũ khí lý luận vì lợi ích riêng của họ, hoặc để tranh dành quyền lực, hoặc để đàn áp quần chúng. Thế nên trong trí tưởng của đám quần chúng thường ít am hiểu lý luận đó, bộ mặt ta hiện ra thật là dễ sợ, bởi vì những kẻ kia đã biến ta thành ra là một người dường như ở đâu cũng đối lập với lợi ích của quần chúng.
- Ôi, cứ nghĩ đến mà ta cứ giật mình kinh hoàng! Thế nhưng, những kẻ đó thường dành những thắng lợi, dẫu là những thắng lợi tạm thời thôi. Vậy thì, nguyên nhân là do đâu? Thì chính là ở chỗ chúng đã làm được công việc của chúng! Còn hạng người thứ hai mà con nói đến, họ hồn nhiên ngây thơ nhất nhất theo lời ta, thì lại thường hay vấp váp, thất bại, nguyên nhân lại chính là ở chỗ họ đã không làm được công việc của họ…
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-25 12:24:40ĐạoCấy>
- Con có điều chưa hiểu rõ. Lời của ngài há chẳng phải là chân lý đó sao? Vì sao những kẻ không làm theo lời ngài, chỉ hành động theo ý riêng của họ thì có thể thành công, dù chỉ thành công tạm thời? Còn những ai răm rắp theo lời ngài thì thường vấp váp, thất bại?
- Con đừng sốt ruột, hãy nghe ta nói tiếp – Mác đặt bàn tay rắn chắc lên đầu gối tôi – Thành quả quan trọng nhất suốt cuộc đời nghiên cứu của ta, chẳng qua chỉ có hai điều mà người bạn chí thân của ta là Ăng-ghen đã quy nạp trong bài phát biểu trước mồ ta: một là phát hiện ra nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, một nữa là phát hiện ra phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện đại và nhưng quy luật vận động đặc thù của xã hội tư bản do phương thức sản xuất ấy đẻ ra. Còn thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng thì đó là điều xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu của ta. Nếu nói chân lý thì chân lý là chỗ đó.
- Nhưng hai loại người mà con vừa nhắc đến thì dù thiện ý hay ác ý, họ lại đều chỉ đi tìm kiếm những kết luận có sẵn trong quá trình nghiên cứu của ta, chứ không phải là qua toàn bộ công trình nghiên cứu của ta mà đúc rút ra phương pháp luận. Ta rất tán thưởng mệnh đề “đắc ý vong ngôn ” trong triết học phương Đông của các người. Nếu như đắc cái ý tức là thấu hiểu nội dung tư tưởng của ta thì có thể vong cái ngôn tức là quên phắt đi cái vỏ ngôn ngữ của ta. Song sau khi ta và Ăng-ghen đã về thiên đàng, thì rất nhiều người chỉ đắc cái ngôn mà vong cái ý của ta. Đó chính là cái mà triết học phương Đông của các người gọi là “ tiểu trí bất cập đại trí ” đó, thế thì còn nói gì là chân lý.
- Con đã có phần sáng tỏ. Thế nhưng tại sao ngài lại nói rằng “ họ làm việc họ ” thì có thể thành công được? Vậy ý nghĩa chỉ đạo của học thuyết là ở chỗ nào?
- Con vẫn chưa sáng tỏ lắm - Một nụ cười mỉm thoáng hiện ra trong chòm râu rất rậm của Mác – Ta đã nói, những phát triển của ta nếu quả có ích cho hậu thế, thì chính là chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng đã nói lúc nãy. Người đời sau muốn dành được thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, ta nghĩ rằng phải nên vận dụng cái phương pháp luận đó mà làm lấy công việc của mình.
- Hậu thế chúng con quyết kế thừa sự nghiệp của ngài…. – Tôi vội vàng an ủi vong linh của Mác.
Mác bật lên tiếng cười trí tuệ nhìn xa trông rộng.
- Con ơi, con đừng đánh giá thấp trí thông minh của ta. Ta chẳng ngốc nghếch đến nỗi tưởng rằng việc làm của hậu thế là kế thừa sự nghiệp của ta đâu. Sự nghiệp của ta đã hoàn thành năm 1883 rồi. Mỗi thế hệ chỉ làm công việc mà thế hệ mình làm nổi do lịch sử quy định. Công việc giải phóng nhân loại là sự nghiệp mà mỗi thế hệ phải phấn đấu không ngừng. Bất cứ quốc gia nào, bất cứ dân tộc nào, bất cứ một đảng nào cũng không thể bao biện làm thay, chứ đừng nói chỉ một người nào. Chỉ có ai mắc chứng già lẩm cẩm thì mới dám nhận để cho người ta tôn mình làm lãnh tụ của cách mạng thế giới, và đòi hỏi hậu thế hoàn thành cái gọi là sự nghiệp của mình thôi. Hãy nhớ kỹ con ơi, Hê-ghen nói câu này rất chí lý: “ Các dân tộc và các chính phủ của họ, không hề học được điều gì trong lịch sử cả. Xét về điều này, mỗi thời kỳ đều quá ư đặc thù ”.
- Có nghĩa là, mỗi một thời đại đều có hoàn cảnh hết sức riêng biệt, mỗi thời đại đều là một trạng thái hết sức đặc thù, đến mức cần phải và cũng chỉ có xuất phát từ trạng thái đó, lấy nó làm căn cứ thì mới phán đoán được thời đại đó, xử lý được công việc của thời đại đó mà thôi. Bởi thế cho nên, những kẻ trương ngọn cờ của ta lên mà “ làm công việc của họ ” lại thường có thể thành công, lý do chính là ở đó. Tuy nhiên nếu ta còn sống, nếu ta còn có quyền phát ngôn, thì ta sẽ yêu cầu kẻ ấy rằng: “ Xin lỗi ngài, ngài cứ nói bằng ngôn ngữ của chính ngài đi, có được không? Ngài cứ lấy cái ý của tôi một cách không tự giác, rồi khư khư bám lấy cái lời của tôi một cách rất tự giác, đến nỗi làm cho lời của tôi nhiều lúc tưởng đúng mà hoá ra sai, hà tất phải làm như thế? ”. Thật ra, nếu con không cho là ta huyênh hoang, ta có thể nói rằng: phàm là sự nghiệp cách mạng được thành công, thì đều là kết quả của việc tự giác hoặc không tự giác vận dụng duy vật lịch sử và duy vật biện chứng. Ví bằng chỉ khư khư bám lấy dăm câu ba chữ của ta, thì coi như bắt ta phải chết lần thứ hai vậy. Này con ơi, chết chẳng phải là điều vui vẻ gì đâu. Nhất là khi tận mắt thấy người ta đem xử tử cái tinh thần của ta, mà chẳng có cách gì làm khác được.
- Vâng, chính con cũng từng có cảm giác như vậy, mặc dù con không khi nào dám so với ngài. Vậy, về quang cảnh tương lai của xã hội của chúng con, ngài có thể chỉ giáo cho con đôi điều chăng? Bởi vì vấn đề này chẳng những liên quan đến việc con đối xử với cuộc đời như thế nào, mà còn quan hệ đến kiếp sống và cái chết của con.
- Kinh tế! – Mác lập tức đón lấy câu hỏi mà trả lời - Phải xét vấn đề trên phương diện kinh tế. Quan điểm lịch sử của chủ nghĩa duy vật, ta có trình bày trên những nét lớn. Đó là: sức sản xuất vật chất của xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định thì sẽ nẩy sinh mâu thuẫn với quan hệ sản xuất đang có, vốn cùng nó hoạt động trong xã hội ấy. Thế là những quan hệ đó từ chỗ là hình thức phát triển của sức sản xuất đã trở thành gông cùm trói buộc nó. Đó là thời đại của cách mạng xã hội. Cùng với sự biến đổi của cơ sở kinh tế, toàn bộ kiến trúc thượng tầng đồ sộ bên trên không sớm thì muộn cũng biến đổi theo. Ta phải nói cho con hay, quan điểm lịch sử đó còn có một mặt khác nữa, khi mà sức sản xuất bị suy thoái thu hẹp lại, khi đã không thể duy trì sự sống còn của xã hội nữa, thì thời đại của cách mạng xã hội sẽ đến, để cứu vãn lấy sức sản xuất đã kề miệng hố diệt vong. Và xem ra, loại cách mạng xã hội này lại bắt đầu từ kiến trúc thượng tầng trước, rồi từ biến đổi kiến trúc thượng tầng mà tiến tới thay đổi quan hệ sản xuất.
Hiện nay, sức sản xuất của các người đã bị cắt cụt, ngay năng lực tái sản xuất cũng không còn nữa, nay chỉ gắng gượng thoi thóp bằng hô hấp nhân tạo kiểu hà hơi thổi ngọt mà thôi. Điều nực cười là ở cái thời đại của các người hiện nay, không phải là khối óc cũng không phải bàn tay mà chính là cái miệng mới là cơ quan đặc biệt phát triển. Con cứ nghĩ mà xem, một thời đại như vậy thì liệu còn kéo dài được bao lâu nữa?…..
Mác vừa nói đến đó thì cánh cửa nhà tôi bật mở. Từ trong khung cửa đen ngòm, Tào Học Nghĩa chui ra, trên mình khoác cái áo bộ đội cũ thường ngày. Cùng một lúc chui ra, còn có con mèo mun nhà tôi, Tào Học Nghĩa vấp phải con mèo, loạng choạng mấy cái rồi cắm đầu đi vội về phía nhà anh ta. Con mun kêu lên một tiếng rõ to rồi tót lên ngay nóc nhà.
Kẻ vừa húc đầu xúc phạm vào vong linh vĩ đại kia là một đảng viên cộng sản cơ đấy! Thật không còn hiểu ra làm sao nữa.
 
 
 
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-30 05:19:04ĐạoCấy>
                                                                                PHẦN BỐN.
                                                                             CHƯƠNG MỘT.
 
- Anh làm gì ở đấy?
- Tôi đang ngắm trăng. Cô nhìn mà xem, trăng tròn rồi nay trăng lại khuyết.
- Rõ vớ vẩn! Chao ôi là giời! Sao tôi lại lấy phải anh nhỉ? Thật khổ hết chỗ nói.!
Trừ lúc đi ngủ, tôi cố tránh không vào gian buồng trong ấy nữa. Từ sau bữa phát hiện ra việc ấy, gian buồng như chỗ nào cũng giữ lại dấu vết Tào Học Nghĩa, cái mùi Tào Học Nghĩa, bóng dáng Tào Học Nghĩa. Chúng nó….ở đâu? Ở đầu giường đằng nào? Chắc không ở phía tôi vẫn ngủ chứ? Tôi cố chộp bắt trong không khí gian buồng từng động tác từng cử chỉ của chúng: Tào Học Nghĩa lẻn vào thế này, cô ta bước ra đón thế kia; đứa nào với tay giật công tắc đèn? Cô ta, hay thằng kia? Rồi chúng nó ôm nhau lăn trên giường như thế nào? Động tác của cô thì tôi vẫn quen thuộc, kể cả cái cách cô rên ư ử, vậy thì phải chăng cô lại diễn trọn cái quá trình ấy trong vòng tay Tào Học Nghĩa?….Tôi biết mình vớ vẩn, nhưng lại không kìm giữ được mình nên cứ vẫn tưởng tượng như vậy hết lần này đến lần khác. Đến nỗi có lúc nửa đêm giật mình tỉnh dậy, tôi cứ khịt mũi: quái lạ, có mùi gì lẩn quất đâu đây?
Bởi thế sau khi chăn ngựa về, ăn cơm tối xong, tôi thường ra ngồi trên khoảng sân tự tay tôi san phẳng kia để hóng mát.
Còn viết luận văn cóc khô gì nữa?! Cái con mụ Diêm Bà Tích này còn nguy hiểm hơn cả tên Chu Thụy Thành cơ! Với lại, tôi chẳng qua là đồ phế thải, là người có một nửa, tôi đã mất gần hết hứng thú với công việc đó.
 Còn biết vất vưởng sống thừa mà nghe ngóng và chờ đợi.
Mùa hè oi ả đã đến, lúa mì đã gặt về. Gió nóng hầm hập lùa qua trên cánh đồng đang cày lật, mang đến mùi bùn đất tanh nồng. Bên kia, chiếc máy kéo Đông phương hồng đang ầm ầm gầm rít, tiềng sắt thép mà nghe như tiếng con quái vật nào gào thét, lại nửa như có tiếng hồn ma run rẩy. Cả đến sắt thép cũng đã trộn lẫn với thiên nhiên. Phía trước mảnh sân không có rào giậu che chắn gì kia là dải rừng dương với hàng liễu quế dương thẳng tắp. Chúng là những người làm chứng trung thực, mãi sừng sững trên ghế nhân chứng của tòa án thiên nhiên, không hề lùi bước, không hề né tránh, trong gió chiều xào xạc có lúc chúng còn tỏ ra bực bội giận dữ với tôi.
Tôi ngắm hoài vầng trăng thượng huyền ủ ê đầu hôm treo cao ở phía nam bầu trời, rồi lặn khuất lúc nửa đêm.
Tôi ngắm mãi mảnh trăng non ủ dột mọc lên phía tây khi mặt trời còn chưa lặn, mảnh trăng chạy đuổi theo ánh nắng chiều rồi chìm khuất bên kia núi gần như cùng lúc với mặt trời.
- Anh cứ trông cái thân anh, hồi này vừa đen vừa gầy đi bao nhiêu – Cô vừa thu từng chiếc quần áo phơi trên dây, vừa nói với giọng nửa quan tâm, nửa như trách móc - Người ta nhìn anh, người ta lại tưởng là tôi bắt nạt gì anh! Anh đói ăn ư? Hay là anh thiếu uống?
Phải rồi trong con mắt người ta, tôi bây giờ chỉ còn có mỗi hai việc là ăn và uống mà thôi.
- Tạng người gầy thì biết làm thế nào được! – Tôi thều thào uể oải – Còn đen thì cô biết đấy, nắng gắt như thế kia…..
- Thế anh không biết chúi vào bóng cây mà ẩn ư? Làm cái thân chăn ngựa mà cứ tích cực cho lắm vào! Người như anh thật hiếm có!
Trên trời, sao bắt đầu lấp lánh những tia sáng yếu ớt. Còn trên đỉnh núi đằng tây, một vệt ánh sáng màu da cam chưa tắt hẳn, lặng lẽ rọi chiếu xuống sườn non đang tối dần.
- Cô vào bê chiếc ghế đẩu ra đây mà ngồi một lát. Đây cô xem, đêm đẹp biết mấy….
- Tôi còn trăm thứ việc, lòng dạ nào mà tối tối ngồi đếm sao như anh được…..
Cô ôm một đống tướng quần áo, vén mành cửa đánh xạch một tiếng đi vào nhà. Chiếc mành cửa nhân tiện tôi đi chăn, cưỡi ngựa ra tận cửa hàng cung tiêu cách ba chục cây số mua về. Cô tỉ mẩn đột từng mũi kim viền một đường vải trắng quanh mép.
- Thế này thì phải dùng được mấy năm! – Cô bảo.
Cô còn nghĩ đến chuyện mấy năm.
Khi tôi bước vào gian trong, cô đang ngồi khâu đế giầy.
- Khâu cho ai thế? – Tôi bắt chuyện một cách gượng gạo.
- Còn ai vào đây nữa? Nhà có hai người, anh bảo còn khâu cho ai?
Cô giơ tay lên, gại gại mũi kim lên da đầu, động tác khéo léo gọn gàng, cánh tay mềm mại duyên dáng. Hệt như một vai đào lẳng lơ trong kinh Kịch, phẩy tay áo thụng có diềm lụa viền phơ phất.
Cái đế giầy thật to, rõ rằng là khâu cho tôi.
Tôi cởi áo nằm xuống giường. Giường đất về mùa hè đến tối nằm mát lạnh như ánh mặt trăng ấy! Chiếc lưng trần áp xuống lần đệm mỏng, như nổi trên mặt nước phẳng lặng. Tôi là một chiếc lá rụng, mặc cho làn gió nhẹ thổi vật vờ đến đâu thì đến. Có lúc tôi đã nghĩ: “ Hỡi đàn bà, ta phải dần dần hiểu rõ mi! ”. Nhưng ba tháng trời đã trôi qua, mà chỉ có mỗi mình cô tôi vẫn thấy lạ lẫm hơn, khó nắm bắt, khó lường biết hơn cả khi mới bắt đầu tiếp xúc. Nhà nữ triết học chân to nói rất đúng: Anh suy ngẫm sao cho thấu hiểu được con người? Đặc biệt là người đàn bà!
Sáng sớm hôm ấy, chú Lý lái máy kéo trở về, tôi đứng trong chiếc rơ-móc không. Sau rơ-móc, còn buộc hai con ngựa. Máy kéo đằng trước đủng đỉnh, theo tốc độ của ngựa đi bước một, còn hai con ngựa ở đằng sau mỗi bước một khật khưỡng cái đầu, như người ngủ gật chưa đã thèm. Vừa lúc đại đội ra đồng làm việc, tất thảy công nhân nông trường đã chứng kiến đội hình kỳ quái của chúng tôi.
Chú Lý mau mồm mau miệng, còn cách đoàn người khá xa đã hét toáng lên:
- Mẹ kiếp! Máy với chả móc?! Chưa chạy đến trạm máy đã chết dí, thế là tôi bị treo giò giữa bãi hoang, may mà có anh Chương, anh ấy chạy bộ cả đêm về dắt ngựa ra mới kéo về được. Nếu không thì cả hai anh em đã bị sói ăn thịt từ lâu rồi! Đ.mẹ! Không tính cho hai anh em tôi, hai đứa bốn công thì đừng có trách. Thằng nào tài giỏi đến đây mà lái, đây phải về nông trường bộ đánh một giấc đã!
Chú Lý nhảy xuống, bỏ máy kéo đấy, phốc lên xe đạp, đạp vèo về chỗ ông bố có chức có quyền để đánh một giấc. Trong đoàn người ra đồng, tôi bắt gặp ánh mắt cô nghi nghi hoặc hoặc nhìn chằm chằm vào mặt tôi.
 - Tối hôm qua, anh trở về dắt ngựa đi đấy à? – Cô cười ngượng nghịu.
- Không tôi thì ai vào đấy – Tôi sầm nét mặt, đứng cởi dây cương cho ngựa.
- Vậy… sao anh không về nhà? – Cô đi theo sau lưng tôi.
- Hừ! – Tôi cười khẩy một tiếng. Từ ngày lấy nhau, tôi chưa từng cười như thế bao giờ - Hình như trong nhà không chỉ có mỗi mình cô!
Tôi đốp chát một câu thật bình tĩnh, rồi nhảy phắt lên lưng ngựa không đóng yên, phóng thẳng về chuồng.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-30 05:32:52ĐạoCấy>
Từ đó về sau, cô bắt đầu nói với tôi bằng một giọng nửa quan tâm nửa trách móc. Anh muốn hiểu sao cũng được, song dẫu sao thì nghe ra cũng có phần dễ chịu hơn cái giọng chỉ độc có trách móc. Trước đây cô nói với tôi bao giờ cũng chỉ rặt một giọng trách móc và chế giễu.
Và cô chăm giặt quần áo cho tôi hơn, có lúc khiến tôi cảm thấy không cần thiết phải như thế.
- Tôi sống độc thân quen rồi – Tôi bảo với cô – Cô cứ trông người ta, còn bẩn hơn tôi nhiều ấy chứ!
- Anh quen nhưng tôi không quen! – Cô bắt tôi phải bỏ cái áo choàng bằng vải bạt dày cồm cộm ra – Cái mồ hôi ngựa đầy người của anh khắm lắm, đi đến đâu người ta cũng bịt mũi đấy! Lúc nào cũng trông người ta, người ta chết thì anh cũng lao vào chết theo chắc?
Có thể là như vậy!
Cũng từ đó, dẫu tôi có ăn bao nhiêu thì cô cũng không giở cái giọng đe dọa “định lượng của nhà mình không đủ đâu ” như trước kia nữa.
Bây giờ cô lại khâu giầy cho tôi, đang đột từng mũi kim làm đế. Cô kêu bận, chính là bận công việc này đây.
Thế nhưng tôi lại cảm thấy bất nhẫn. Việc gì cứ phải lằng nhằng với cô thế này mãi nhỉ?
- Hương Cửu này – Tôi nằm ngửa trên giường, mắt nhìn thẳng lên trần nhà – Cô sợ vừa mới cưới đã ly hôn, mang tiếng không hay, thì chúng ta tạm yên ổn với nhau một năm vậy. Sang năm, cô viết đơn cũng được mà tôi viết đơn cũng được, chúng ta hợp được thì tan cũng được. Còn lý do, thì bảo là tình cảm không hợp. Không nữa, thì bảo là người miền Nam, người miền Bắc tập quán không sao hoà hợp được. Cô thấy thế nào?
Cô không trả lời. Trong gian phòng chỉ còn tiếng kim khâu đế giầy sồn sột.
Một con bọ xít va đánh bộp vào cửa kính, chừng muốn đâm đầu vào đèn, nhưng lại ngã ngửa trên bệ cửa sổ, cánh đập vù vù.
Loa phóng thanh đã vang lên hiệu kèn tắt đèn, đã mười giờ đêm. Đó là nề nếp mới có từ ngày “ Cả nước học tập Quân giải phóng ”. Dẫu ở nơi xóm nhỏ khỉ ho cò gáy này thì giờ giấc ăn làm, nghỉ ngơi cũng nhất nhất chỉ huy bằng kèn nhà binh cả. Hiệu kèn đã thu vào đĩa hát: kèn báo thức, kèn đi làm, kèn tan tầm, kèn tắt đèn…..Cô phát thanh của nông trường bộ không phân biệt được nên thường là đến giờ đi làm thì phát hiệu kèn tan tầm, đến giờ tan tầm thì lại nổi hiệu kèn báo thức.
Nhưng hôm nay cô phát đúng: kèn tắt đèn.
Cô thoăn thoắt quấn rất nhanh sợi dây gai quanh chiếc đế giầy khâu dở, rồi quay mình cầm lấy cái chiếc chổi quét sạch mặt đệm, chưa kịp nằm xuống đã giật công tắc đèn đánh tách một tiếng.
Thời gian trôi đi trong bóng đêm. Sự sống cũng tan biến theo. Con bọ xít vẫn đập cánh vù vù trên bệ cửa sổ, mãi cũng không lật sấp lại được. Cũng có thể nó mãi mãi không bao giờ lật lại nữa đâu, nhưng nó vẫn cố cựa quậy mãi. Một lát sau, tiếng đập cánh vù vù của con bọ xít đã hoà lẫn với tiếng máu chảy dồn căng trong màng nhĩ của tôi, không còn phân biệt được đâu là tiếng cánh bọ xít và đâu là tiếng máu chảy dồn nữa. Thế là tôi cảm thấy dường như mình chính là con bọ xít ấy. Lưng tôi tê dại đi, tôi cảm thấy mệt mỏi vô cùng, chân tay tôi nặng trịch…. Nhưng giữa lúc tôi đang mơ màng sắp ngủ thiếp đi, thì cô bỗng lên tiếng:
- Anh có thể đi bệnh viện khám thử xem sao. Em nghe nói bệnh ấy chữa được đấy.
Cuối cùng tôi đã nhận rõ tiếng cô. Tôi cố hết sức tìm kiếm lại tinh thần của mình, điều chỉnh lại thần kinh một chút. Để cố tỏ ra ôn tồn bình tĩnh, tôi buông một tiếng cười gượng gạo.
- Bệnh viện bây giờ có khám chữa gì bệnh này đâu? Chỉ có nạo thai với thắt…..
- Thì đi bệnh viện to - Giọng nói của cô nghe như cách tôi rất xa – Không thì tìm mấy ông lang đi chữa rong ấy.
- Đùa! – Tôi đáp lời cô mà như tự nhủ mình – Đi bệnh viện to thì phải có giấy giới thiệu, đừng nói là nông trường bộ chẳng đời nào chịu cấp cho tôi một giấy giới thiệu như vậy, mà cho dù có cấp, thì bệnh viện cứ trông vào cái lý lịch tiền sử của tôi, và thấy là bệnh đó thì đến cái giấy ghi tên họ cũng chẳng cho chứ nói gì đến khám và chữa! Còn các ông lang chữa rong ư? Bây giờ làm gì còn ông lang chữa rong nào nữa đâu. Người ta đã cắt béng “ cái đuôi tư bản chủ nghĩa ” từ lâu rồi!
Sau khi trở lại tỉnh táo, tôi chợt phát hiện ra rằng trong thâm tâm tôi từ lâu đã nẩy nở dần cái ý nghĩ không thể tiếp tục cuộc sống với cô nữa. Tôi dứt khoát từ chối mọi cơ hội có thể khiến tôi chữa khỏi; tôi quyết đào sâu thêm cái hố ngăn cách này, cho vỏ trái đất nứt toác ra ở giữa tôi và cô.
Lại im lặng một lúc lâu. Đúng, nói chuyện trong bóng đêm là thật nhất, rõ nhất, tôi nghĩ thế. Mọi thứ đều nẩy sinh trong bóng đêm: mọi thứ trong bóng đêm đều thật. Bóng đêm quả thật là một cõi kỳ diệu: trong bóng đêm người ta có thể làm tất cả, có thể nói tất cả. Chẳng phải lời nói giả dối sợ ánh sáng mặt trời đâu, mà chính là lời nói thật mới sợ ánh mặt trời! Một trạng thái đặc thù biết bao!
- Nói dối! Em chẳng thấy em với anh tình cảm không hoà hợp. Làm gì có chuyện người miền Nam, người miền Bắc?!  Anh đã đi cải tạo bao nhiêu lần, làm gì còn tập quán miền Nam? Anh không ăn được mì sợi hay không ăn được bánh xèo? Không khéo đưa cho anh nắm cám anh cũng ăn ngon lành ngọt xớt đi chứ lỵ! Em làm gì có tập quán của người miền Bắc? Hễ khỏi được, thì cái gì em cũng có thể theo như người khác….
- Nhưng tôi thì không khỏi được! – Tôi vội vàng bày tỏ nỗi tuyệt vọng của mình.
- Vậy thì anh đừng có trách em! – Cô nói, và tôi hiểu được ý của cô.
- Tôi không hề trách cô. Tôi chỉ mong rằng trong năm nay, chúng mình sống với nhau cho yên ổn êm thấm – Tôi tin cô hiểu được mấy chữ “ yên ổn êm thấm ” nghĩa là như thế nào - Nếu cô cảm thấy không thích hợp, thì có thể viết đơn sớm hơn, viết ngay ngày mai cũng được.
- Thôi thôi! – Cô bắt đầu bực bội – Em nói không lại anh. Anh là người có học thì lắm chữ nghĩa lý lẽ lắm!
- Cô cũng là người có học đấy chứ. Đã học hết sơ trung, thì hẳn cô cũng biết đạo lý, biết quan hệ lợi hại như thế nào chứ. Với lại, cô chẳng chú ý danh dự lắm đó sao?
- Anh đừng mỉa mai tôi nhá! – Cô cáu, nhưng cơn cáu giận xem ra chưa đủ liều lượng - Muốn viết đơn thì anh đi mà viết! Tôi không viết đâu. Mà đơn xin kết hôn cũng anh viết đấy chứ.
Ả đàn bà này đích thực là con dâm phụ. Tôi nghĩ mà cứ tức anh ách. Tôi nín nhịn thì cô tưởng là tôi yếu đuối, cô lấy tôi làm cái bung xung để làm việc lòng thòng bậy bạ, bây giờ lại cứ bám lấy tôi không buông, mà còn toan bám lằng nhằng như thế này mãi……
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-30 05:41:55ĐạoCấy>
                                                                           CHƯƠNG HAI.
 
Mưa rào suốt một ngày một đêm. Trận mưa này không như mọi lần, thoạt đầu lắc rắc mấy hạt để báo động cho người ta, mà là ngay tức khắc trên trời ào ào trút xuống không ai kịp trở tay.
May là lúa mì đã gặt xong cả, không thì đến ngâm ở ngoài đồng; đất vàng, cỏ xanh, cây cối, tất cả đều sũng nước, thay màu, chương lên. Đất pha cát vốn hút nước rất khoẻ, bây giờ cũng thành vũng bùn. Bùn chảy tràn ra bốn phía, khỏa lấp hết những hố trũng to nhỏ chung quanh. Đá sỏi trên đồng hoang được mưa rào gột rửa, đá vân màu trắng muốt và đá thạch anh trong suốt phơi cả ra trên mặt đất, làm cho các bãi đất nổi lên giữa mặt nước có vẻ thanh khiết lạ thường. Những cành cây đã no nước không còn chịu đựng nổi những cơn mưa liên tiếp dội xuống nữa, tất cả đều ủ rũ cúi đầu, xuôi vai rũ rượi; cỏ xanh um tùm hết lớp này đến lớp khác nằm rạp trên mặt đất, trộn lẫn với bùn nước, ngọn cỏ ngoan ngoãn xuôi theo chỗ trũng, hệt như loài rong ở lòng sông. Nhìn qua cửa sổ, cảnh vật bên ngoài trở nên hết sức lạ lẫm, con người như thình lình lạc vào thế giới khác. Ai nấy thấy lòng thắc thỏm, tựa hồ như đất sắp sụt dưới chân mình.
Xóm làng nằm trên mọi doi đất quá cao nên chưa bị ngập, nhưng như một cái đĩa chứa đầy nước, cái nước bùn đục ngầu kéo theo đủ thứ từ hố xí, từ chuồng lợn, từ tàu ngựa của mọi nhà chảy tràn ra chung quanh. Trong đĩa là một bãi nước đục ngầu láng nền nhà và còn đang dâng lên nữa. Có những bức tường bắt đâu nứt vỡ, có những ngôi nhà bắt đầu đổ sụp. May mà những nơi đó đều không có người ở. Lợn mẹ, lợn con chạy nháo nhác khắp xóm tìm chỗ trú mưa. Cuối cùng chúng nằm bẹp trên doi đất dưới mái hiên khu nhà tập thể, mà lo lắng nhìn lên bầu trời.
Tôi dồn hết cả hơn hai chục con ngựa do tôi chăn vào tất trong ngôi nhà kho to thường ngày vẫn lấy làm hội trường. Lúc đó lúa mì chưa tuốt, rơm mới chưa cắt nên nhà kho vẫn bỏ không. Đàn ngựa đứng chen chúc dưới tấm biểu ngữ chăng ngang, như đang sắp sửa lắng nghe bản báo cáo “ phê Tống Giang ” tràng giang đại hải. Gà vịt của các gia đình công nhân nông trường lúc này đều ướt sướt mướt, đứng rụt cổ trong chuồng, chẳng còn hơi sức mà quang quác lên nữa.
Lúc vừa bắt đầu mưa, tôi kéo hai cây gỗ tròn ở chuồng ngựa về làm hai cây cột chống bên ngoài gian nhà ọp ẹp của tôi, đỡ lấy vách sau và vách hồi đã nghiêng nghiêng chực đổ. Nhờ vậy, dẫu có mưa tiếp mấy hôm cũng chẳng lo. Người tôi sũng nước từ đầu đến chân. Tôi chạy vào nhà, cô hết sức ân cần đi xách nước, lấy xà bông khăn mặt cho tôi và đỡ lấy trong tay tôi từng chiếc quần áo ướt tôi cởi ra.
- Nhà có đàn ông vẫn hơn! – Cô cười vui vẻ thoả mãn.
- Đàn ông thì cô có thể kiếm đâu chả được một người. Bây giờ chỉ vật tư mới khan hiếm, chứ người thì lại quá thừa, thừa nhất là đàn ông.
- Cái đó thì chưa chắc – Cô bỗng thân mật với tôi khác hẳn thường ngày, véo một cái vào vai tôi – Đàn ông được như anh thì hiếm lắm.
Tôi nguẩy lưng về phía sau, ẩy cô ra xa.
- Thôi đi đi! Với cô thì miễn cứ đàn ông là được.
Tôi cảm thấy dường như cô đớ người ra đằng sau lưng tôi, và sau đó, suốt cả buổi chiều không nói không rằng, cứ âm thầm khâu đế giầy, âm thầm làm cơm, tối đến sau khi đi ngủ, âm thầm buông một tiếng thở dài.
Buổi tối không có điện. Nghe đâu vì sợ nước xói đổ cột điện thì nguy hiểm, nên nông trường ngắt hẳn cầu dao chung. Ngoài cửa sổ tối om om, trong nhà cũng tối mò mò. Nằm cuộn mình trong chăn, tôi nghĩ bụng: các bậc hiền triết đã dạy bảo tôi như thế, sao tôi còn nói những lời đay nghiến cô làm gì? Và tôi cũng âm thầm buông một tiếng thở dài.
Giờ ngọ hôm sau, giữa lúc mọi người còn tưởng mưa nữa, thì bỗng nhiên trời tạnh, tạnh dứt khoát, tựa hồ như trên trời cũng có một chiếc cầu dao chung đóng mở nước mưa vậy. Trên trời không có lấy một giọt nước, chỉ có làn gió ẩm sì làm rung lên những gợn sóng lăn tăn trên mặt đất lúc này đã hoá thành ao hồ. Trên đỉnh đầu còn âm u, nhưng đằng chân trời đã hửng. Từng đám mây đen khổng lồ cuồn cuộn trôi đi, dần dần tan biến ở chân trời hửng sáng. Mây đen thưa dần, bầu trời mỗi lúc một quang đãng.
Nhưng mọi người mới thở phào nhẹ nhõm một chút, thì bốn bề thôn xóm bỗng rít lên những hồi còi lanh lảnh. Tiếng còi rất vang và kéo dài, tựa như những chiếc dùi sắt gõ liên hồi vào màng nhĩ người ta.
- Mau lên! Mau lên! Mương cái vỡ bờ rồi!
- Lên mương ngay! Lên mương ngay! Toàn nông trường tập hợp!
- Mang theo cuốc xẻng, sọt đất….
- Mau lên, mau lên! Không ai được ở nhà….
Các trung đội trưởng, tiểu đội trưởng chân đất giẫm bùn lép bép vừa chạy vừa hét. Công nhân nông trường đàn ông đàn bà đều chui ra khỏi nhà, đứng cả dưới những giọt gianh còn long tong chảy mà hỏi thăm nhau, nghe ngóng tình hình. Thật ra chẳng còn phải nghe ngóng gì nữa, năm nào cũng một lần như vậy: mùa hè hễ có mưa rào thì mương chính nhất định tràn. Nhưng lần này xem ra khác hẳn mọi lần, công nhân chần chừ hỏi nhau:
- Làm thế nào? Đ.mẹ, bỏ đi cả thì ai trông nhà?
- Chỉ giỏi bốc phét! Đ.mẹ, ra cái lệnh cũng không nên hồn!
- Để xem mấy ông đầu nậu có đi không đã, mấy ông đầu nậu không đi thì chúng mình cũng đếch đi.
- Phải đấy! Chứ nếu thật vỡ đê mương cái, lũ về thì trong nhà cái bát ăn cũng chẳng còn!
- Lại còn lũ nhóc nữa chứ, làm thế nào bây giờ?
Cánh đàn bà gào khóc.
Nhưng các đầu nậu sau lúc thổi còi đều vác cuốc xẻng chạy cả ra đường cái bùn nước lõng bõng. Tào Học Nghĩa khoác cái áo mưa vải nhựa bộ đội, ngoác mồm ra hét lớn:
- Mau! Đàn ông đi tất! Đàn bà ở lại trông nhà. Nhất thủy nhì hỏa, lụt thì lút cả làng, không chừa một ai, không nhà nào thoát được đâu!
Gào lên một thôi một hồi như vậy, gào đến lạc cả giọng đi, mọi người mới vỡ nhẽ là sự thể quả cực kỳ nghiêm trọng. Thế là tất cả cánh đàn ông vác cuốc vác xẻng, khiêng lồng khiêng sọt, lội bùn bì bõm, dồn cả lên phía tây xóm. Đàn bà vội vã chạy vào nhà, bế con ẵm cái, leo hết lên giường ngồi.
Tiểu đội trưởng chăn nuôi dẫn cánh chăn ngựa, chăn cừu, chăn bò, nuôi lợn….đến nhà kho ôm bao tải ra xúc cát đổ vào để ném xuống chỗ đê vỡ. Còn cách rất xa, đã nghe tiếng la hét om sòm, quát tháo ầm ĩ phía đập mương cái, đến khi họ bò lê bò lết lên đến nơi, thì ở đó đã đông nghịt người. Bà con trong công xã cũng kéo đến, còn đông hơn cả công nhân nông trường chúng tôi, đội nào đội nấy chỉ lo bồi đắp gia cố đoạn đập nhằm đúng ngay vào xóm mình. Làm như là nếu vỡ đoạn khác thì nước chẳng tràn về xóm mình. Người ta trèo lên trèo xuống trên bờ đập mương cái, cứ như một đàn kiến vỡ tổ.
Mương cái chưa vỡ, nhưng ở phía tây bờ đập, thì quả là mênh mông như biển cả. Từ bờ đập tôi đang đứng cho đến tận chân núi, chẳng còn thấy một bãi đất một ngọn cây nào.Trên mặt nước màu nâu nhạt, lều bều một đám bọt trắng xoá, như từng tảng băng sơn lênh đênh ở chân Nam cực vậy. Những đám củi rều, cây mục cỏ dại và phân dê phân cừu trên núi trôi xuống bị sóng đánh dồn vào thành đống, quay tròn trên mặt nước như đang tìm lối ùa ra. Chỉ cần một làn gió nhẹ thoảng qua là mặt nước dềnh lên, những đợt sóng lớn, vỗ ì oạp vào sườn đập. Quanh cảnh thật là dữ dội và khủng khiếp đối với người nông dân Tây Bắc, từ thưở cha sinh mẹ đẻ chưa trông thấy biển bao giờ.
Không phải nước trong mương dâng lên, mà là lũ trên núi tràn về. Đập mương cái lúc này đóng vai trò một con đê chắn lũ. Lúc này, nước lũ cách mặt đập chỉ có không đầy một thước. Nếu đập bị vỡ một chỗ, bất cứ ở chỗ nào, thì nước lũ ở mấy trăm ký lô mét vuông từ đây đến chân núi sẽ lập tức ào xuống cuốn băng đi hết cả mấy chục xóm làng bên phía đông đập.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-30 05:50:00ĐạoCấy>
Giờ đây chẳng còn cách nào khác: trên mương tưới không có cửa ngầm xả lũ, vả lại nước lũ mênh mông bể sở thế kia cũng không thể xả đi đâu cho hết được, chỉ có cách chở đất lên mặt đập đắp cao lên mãi mà thôi. Mọi người nháo nhào làm dồn dập một thôi một hồi rồi bắt đầu sắp xếp dần dần có tổ chức hơn. Từ mặt đập đến chân đập, người ta đứng thành những dây chuyền dài: người ở chân đập xúc đất, người ở giữa chuyền tay nhau những sọt đất, còn người ở trên mặt đập thì san, đầm.
- Nước thế này rồi thôi không dâng lên nữa thì còn được….
- Đ.mẹ! Lũ to thế này mà tràn xuống, thì chạy cũng không kịp!
- Đằng ấy có biết bơi không?
- Chúng mình toàn là một lũ gà tồ cả, có ai biết bơi đâu?
Đúng thế dân làm ruộng và chăn nuôi ở miền núi và hoang mạc này, chẳng mấy ai biết bơi.
- Lo gì, chết rồi thế nào cũng nổi lên thôi ấy mà! – Có ai đó đùa tếu cho mọi người đỡ căng thẳng.
- Xác chết trôi ấy mà, đàn ông thì nằm sấp, đàn bà thì ngửa bụng lên trời.
- Lại còn phân biệt đàn ông đàn bà ư?
- Chứ không à! Thì cũng như trên giường ấy chứ sao….
Chợt trên mặt đập có tiếng người thét lên:
- Kìa, trông cái gì kia? Người chết hay sao ấy?
Mọi người trên mặt đập nhìn theo tay người ấy trỏ, quả nhiên là một xác chết, mặc áo màu cỏ úa, đang rập rờn trên mặt nước mênh mông.
- Ái chà! Xác nằm sấp, chắc là một anh chăn cừu?
- Đ.mẹ! Thế cừu đâu? Sao không thấy cừu chết?
- Hay là người của sở kiểm lâm ở trên núi kia?
Thấy có người chết, mọi người càng hoảng sợ.
- Mau lên, mau lên! Đất đâu? Đất đâu?
- Cố lên nào! Đập này mà vỡ, thì chúng ta cũng như thằng thằng cha kia ráo.
Tôi giữ việc san, đầm trên mặt đập, từng sọt đất chuyền đến tay tôi, tôi lần lượt đổ xuống mé ngoài đập, rồi cả tay lẫn chân cứ thế tôi hùng hục vừa đắp vừa dận cho thật chắc. Chẳng biết niềm hưng phấn nào đã tăng thể lực tôi lên gấp bội, gió rét căm căm nhưng mồ hôi tôi vã ra đầm đìa mà không hề thấy mệt.
- Nhanh lên! – Tôi gào luôn miệng - Dồn người lại đằng này, dồn thêm người lại đằng này….
Ai làm hăng thì được quyền chỉ huy người khác. Ở đây chẳng còn phân biệt đội trưởng, bí thư hay công nhân, mọi người chỉ nghe theo người nào làm giỏi nhất. Đây là giờ phút nguy hiểm giữa cái sống và cái chết, mọi quan hệ cấp trên cấp dưới hằng ngày đều bị đảo lộn tuốt.
- May rồi – Tôi bảo mọi người - Nước không dâng lên nữa rồi.
- Sao? Sao? Làm sao anh lại biết?
- Lúc vừa mới lên đây, tôi đã đánh dấu rồi. Đây thôi, hơn một tiếng đồng hồ rồi mặt nước vẫn ở nguyên mức cũ.
- Hì! Mới biết ông Chương nhà ta khôn thật! Chúng mình thì cứ chúi mũi vào làm – Đám công nhân nông trường cười hể hả.
- Tốt rồi! – Tào Học Nghĩa vẫn chuyền đất ở giữa chừng, lúc này cũng reo lên – Bây giờ có thể có thể xả hơi một chút rồi đấy. Ai có thuốc thì hút nhá.
- Đào đâu ra thuốc? Ngâm nuớc hết cả rồi!
- Thì hút thuốc của bí thư, bí thư có thuốc lá cao cấp đấy…
- Không hút thuốc được đâu! - Từ trên cao tôi trừng mắt nhìn Tào Học Nghĩa – Bây giờ nguy nhất là thẩm lậu rò rỉ. Chỉ cần lỗ rò bằng ngón tay, là cả con đập sẽ vỡ đấy!
- Đúng đấy! – Tào Học Nghĩa vội vã cất hộp thuốc vừa moi trong túi ra - Tất cả hãy tỏa ra kiểm tra xem…..
Anh ta vừa dứt lời, thì quãng đập của bà con công xã cách chúng tôi không đầy một trăm mét, có tiếng hô hoán khủng khiếp:
- Nước vào rồi! Nước vào rồi!….
- Trời đất ơi! Bịt ngay lại, lấp ngay lại!….
- Chuyển gùi đất lên đây….
- Người ngồi luôn vào đấy…..
- Đội trưởng ơi có phải thúc chiêng không?
Bà con xúm đông xúm đỏ ở chỗ ấy, túm tụm lại trước cái lỗ rò. Người của đại đội chúng tôi cũng chạy tới. Vỡ chỗ ấy thì xóm làng của bà con và đại đội chúng tôi gánh chịu tai hoạ trước nhất.
Lỗ rò to bằng cái thùng gánh nước, một luồng nước lũ phun vọt ra, nước bùn đục ngầu réo lên ào ào, nghe mà sởn gai ốc. Nước dường như không phải chất lỏng, mà là một cột kim loại rắn chắc, đã quật đổ tất cả những lùm cây bụi cỏ trước mặt nó và còn đang xói thành một đường rãnh to trên gò đất đối diện. Đất tảng và sọt đất bà con xã viên vứt xuống lập tức hoá thành bùn nhão và bị tống bay đi. Mấy chục cái sọt hết nhẵn đất bị luồng nước xói sạch như lau như chùi, lúc chìm lúc nổi vật vờ giữa dòng nước xiết; mấy bác xã viên lúc đầu ngồi trên bờ lỗ rò bị tống đi xa mấy chục thước, lúc này đang lồm cồm bò lên gò đất.
- Lấp bên trong không ăn thua! – Tôi thét lên - Bịt bên ngoài, bịt bên ngoài!
Quan hệ cấp trên, cấp dưới lộn tùng phèo, ranh giới công xã với nông trường cũng xoá nốt. Công nhân nông trường với bà con xã viên hoà làm một, cùng giáp mặt đối phó với lỗ rò khủng khiếp kia.
Đất trên miệng lỗ cứ sụt lở từng mảng. Lỗ rò đang bị khoét to ra từng giây từng phút.
Nhưng nước bên mé ngoài đập to quá, sâu quá, không sao nhìn thấy được dấu vết của xoáy nước hút vào lỗ rò kia. Miệng ngoài của lỗ rò là ở chỗ nào?
Có mấy bác xã viên đứng trên mặt đập lầy lội, thò cán cuốc, thò đòn gánh xuống nước dò tìm miệng lỗ, nhưng ngập cả cánh tay vẫn không mò được đến nơi.
Bờ đập có nguy cơ bị đổ xô tới nơi.
Đứng trên mặt đập nhìn về phía đông, có thể nhìn thấy bốn năm cái xóm nhỏ ướt như chuột lột đang dần dần lấy lại sinh khí dưới bầu trời bắt đầu quang đãng trở lại. Có mấy chiếc ống khói đã bắt đầu ùn lên những làn khói đen dầy dặc vì củi đun ướt.
- Để tôi xuống – Tôi nói – Các anh kiếm một sợi dây buộc vào lưng tôi đi.
Mấy xã viên không biết bơi vội vàng tháo dây quang trên mấy chiếc sọt ra nối lại buộc vào người tôi. Tôi nhẩy ùm xuống dòng nước lũ.
Nước ở ngoài đập dễ sâu đến lút ba đầu người, đáy nước mấp mô lồi lõm. Tôi đằng nào cũng đã khắp người ướt đẫm mồ hôi rồi nên lúc này cũng chẳng thấy rét nữa. Tôi lao đầu lặn xuống đáy nước, mò được vách ngoài của bờ đập, vừa mò được mấy mét thì có luồng sức hút ghê gớm kéo mạnh hai chân, và một chân tôi hút vào miệng lỗ.
Ai đã từng trông coi đập đều hiểu rõ, khi có lỗ rò thì miệng lỗ phía nước vào bao giờ cũng bé hơn, không bao giờ to hơn phía nước ra, do sức phá của nước.
Tôi rẽ đám cỏ dại và củi rều ngoi lên mặt nước.
- Không sao! – Tôi gào lên - Miệng lỗ lúc này mới chỉ to hơn cái chậu rửa mặt một chút thôi. Buộc ngay cho tôi một bó rơm và một bao tải đất, mau lên!
Trên bờ đập liền quẳng xuống một bó rơm buộc rất chặt và một bao tải đất lèn thật căng. Tôi ghìm bao tải đất đè lấy bó rơm lặn xuống đáy, đưa đến gần lỗ rò, tôi chưa kịp nhồi thì cả bao tải lẫn bó rơm đã tuột khỏi tay tôi, được dòng nước xiết cuốn vào bịt chặt lấy miệng lỗ rò như người ta đậy cái nút chai vậy.
Lần thứ hai tôi ngoi lên mặt nước thì đã nghe thấy tiếng reo hò vui sướng ở mé bên kia đập.
- Bịt được rồi! Bịt được rồi!
- Đ.gì! Trong lỗ rò còn réo ầm ầm đấy!
- Bây giờ thì đổ đất vào, đổ đất vào nhanh lên đi!
- Đồng chí ấy ở đơn vị nào thế? Chiến sĩ giải phòng quân hà?
- Giải phóng quân cái đếch gì đâu! Tay chăn ngựa của nông trường đấy mà. Tôi vẫn gặp tay ấy ở ngoài bãi luôn.
- Cũng đã có hồi chăn cừu…..
- Phải viết thư biểu dương đồng chí ấy….
Một người chìa tay ra kèo tôi lên. Tôi ngẩng lên nhìn, thì ra là Tào Học Nghĩa.
0
                                                                      CHƯƠNG BA.
 
Tôi là người sau cùng về đến nhà.
Bà con trong làng đưa cơm đưa thịt ra cho các xã viên chống lũ cứu đập, còn có cả rượu. Các cụ cứ nhất định giữ bằng được tôi ở lại đánh chén. Mới biết làng xóm vẫn giàu tình người hơn ở nông trường. Cấp dưỡng nông trường thì chỉ đến giờ nấu ba bữa cơm xong là nghỉ, chống lũ chống liếc gì mặc anh.
- Đồng chí không ăn cơm thì cũng làm với anh em tôi bát rượu, cho nó át cái rét đi chứ - Một người dáng chừng là cán bộ ở làng cứ một hai chèo kéo - Vẫn biết các anh ở nông trường sinh hoạt cao, lương phát đều hàng tháng, chứ không như bà con xã viên chúng tôi, ngày công chỉ có năm xu……
- Chén rượu đào nỡ nào từ chối! - Một người bên cạnh nói chen vào - Đồng chí không uống là đồng chí coi thường anh em chúng tôi đấy.
- Công nông liên minh cơ mà - Một bác không biết nói thế nào hơn – Công nhân các đồng chí là anh cả của chúng tôi….
Thế là tôi đành ở lại và mấy miếng cơm, nhấp một ngụm rượu.
Đến buổi hoàng hôn, phía mặt trời lặn có ánh ráng chiều, con đường đất lầy lội có vẻ như sáng sủa hơn cả ban chiều, và cũng khô ráo hơn nhiều. Muỗi, dĩn chẳng hiểu sao không bị mưa cuốn đi, lúc này chúng ở đâu ùa ra mà đông thế, bay từng đàn từng đám, vo ve nhặng xị cả lên. Ếch nhái cũng bắt đầu gào, bốn bề nhao nhao tiếng ì ọp nghe vui vẻ đáo để. Trông chừng, ngày mai có lẽ đẹp trời.
Tối nay đã có điện. Trời chưa tối hẳn, ở ngoài đường cái nhìn vào, đã thấy trong xóm nhà nào nhà nấy đèn sáng trưng, có vẻ như để bù lại tối hôm qua bị cắt, lại cũng có vẻ nhà nào nhà nấy ăn mừng tai qua nạn khỏi.
Ôi! Tôi là đồ phế thải! Tôi chẳng qua chỉ là đồ phế thải! Là con ngựa thiến….! Mọi cố gắng đều là công cốc, đều là vô nghĩa! Thế nhưng con người ta vẫn cứ còn sót lại một chút anh hùng rơm đến là nực cười. Chút anh hùng rơm ấy chẳng phải để cứu vớt ai khác, mà là để cứu vớt chính mình. Có lẽ tôi đã được cứu vớt? Không đến nỗi tuyệt vọng chăng? Duy chỉ có điều an ủi cỏn con này. Điều an ủi sao mà nhỏ nhoi đáng thương!
Tôi khật khưỡng bước đi. Cơm rượu nguội lạnh của bà con xã viên như đóng băng lại trong bụng tôi, đè nặng giữa ngực tôi. Cái thứ rượu không phải nấu bằng gạo mà có lẽ bằng hạt cỏ kê hay khoai tây gì đó, vừa đắng vừa chát, giờ đây chẳng những không xua tan cái rét mà trái lại làm tôi ớn lạnh, rồi run lên cầm cập.
Tôi đẩy cửa bước vào, rồi đổ kềnh xuống nền nhà.
 - Trời đất ơi! Anh trông cái thân anh kìa…..
Cô đang nhào bột cạnh lò. Trong con mắt tôi, cô chẳng khác nào một khối sắt nung đỏ. Cô bỏ công việc đấy lao ra phía tôi. Tôi cảm thấy cô khỏe vô cùng, vừa ẵm vừa lôi, cô xốc nách ngay tôi vào nhà, bế tôi lên giường. Đôi bàn tay khéo léo của cô, thoăn thoắt cởi tuột hết bộ quần áo ướt sũng cho tôi, kéo tấm chăn có thêu hình chiếc máy kéo kia đắp lên thân hình tôi.
- Biết anh tài giỏi rồi! – Cô vừa làm vừa kể tội tôi - Việc gì mà anh phải ra tay hiệp sĩ thế?! Thiếu ối gì người, người ta thành phần cơ bản, giác ngộ cao, sao người ta không nhảy xuống nước? Em ở nhà đã nghe người ta kể lại cả rồi. Em đang rủa thầm anh trong bụng: ngốc ơi là ngốc! Thật chỉ có cái đồ ngớ ngẩn như anh thì mới đi làm cái việc như thế! Sao anh không biết khoanh tay trước ngực đứng trên bờ mà nhìn nhỉ! Nhìn những kẻ thường ngày vẫn ra rả hô to “ cách mạng ” nỏ mồm nhất ấy để họ xuống họ làm…..
Cô lại chạy ra ngoài, bưng vào một bát nước gừng nóng hôi hổi.
- Nào, đang nóng đây, uống cạn một hơi đi. Em đã chưng sẵn cho anh đây, chờ anh mãi chẳng thấy anh về! Em lại nghĩ hay là anh chết chìm dưới nước rồi….
Nghe cô vừa kêu lên kinh hãi vừa lầu bầu kể lể, tôi thấu hiểu tình cảm tha thiết lo lắng của cô. Đàn bà thật kỳ lạ, không sao hiểu nổi, không biết đường nào mà lần! Xót xa thương hại chăng? Đồng tình chăng? Hay đó là tình yêu như người ta thường nói? Hay là mỗi thứ đều có một tí nhưng lại chẳng hề có gì cả? Hay chỉ là nghĩa vụ giúp đỡ nhau khi tối lửa tắt đèn giữa những người ở cùng một nhà?
Húp hết bát ô tô nước gừng cay sè, trong bụng đã ấm lại nhiều, cái tảng băng đè giữa ngực tôi lúc nãy đã tan đi, nhưng da tôi vẫn lạnh buốt, tưởng như vẫn còn ngâm trong nước lũ. Trên mình tôi nổi từng đám từng đám da gà, rồi như người lên sởi, cả hai quai hàm tôi đều run lên cầm cập. Thế là cô quỳ trên giường, hai tay day xát thật lực trên mỏ ác và hai cánh tay tôi.
- Đáng đời chưa! Sao lại không chết chìm quách đi?! Chết chìm đi thì người ta còn làm lễ truy điệu, biết đâu còn truy nhận làm đảng viên cộng sản cơ đấy!….. Đi mà tranh cái công ấy, xem có ai khen anh một câu không nào?! Chưa biết chừng người ta còn vu cho anh âm mưu khoét to cái lỗ rò ấy ra cũng nên! Kinh nghiệm bao nhiêu năm rồi, anh vẫn chưa nếm đủ hay sao? Thật cứ như con lợn ấy, nhớ ăn chứ không nhớ đòn…..
Da ngực và hai cánh tay tôi đã căng ra, ửng hồng lên, tôi bỗng có cảm giác lâng lâng trên mây trên gió, và tâm hồn như có phần thảnh thơi êm dịu. Gương mặt cô chập chờn trước mặt tôi, lượn qua lượn lại, như cánh diều giấy thật đẹp…..Nhà có người đàn bà vẫn hơn! Cô cũng chẳng nói thế là gì? “ Nhà có người đàn ông vẫn hơn ”. Té ra là cái cảnh hai hộ riêng lẻ ghép thành một tổ hợp tác mà cô đã nói trước kia đây! Nghĩ đến thế tôi bất giác mỉm cười.
- Anh cười cái gì thế? Em nói không đúng sao? – Cô khẽ tát lên má tôi – Ôi! Kìa anh, má anh vẫn lạnh như băng ấy….Nào áp vào ngực em đây này….
Hai tay cô cầm lấy hai đuôi vạt áo, giằng ra hai bên, dãy khuy bấm trước ngực áo mở toang ra. Không phải là tiếng dãy khuy bấm tách ra, mà là tiếng xé phăng da thịt cô: Cô đâu chỉ vạch toang chiếc áo, cô đã mở toang cả lồng ngực mình! Trước mặt tôi, hai bầu vú đầy căng như hai bông sen to trắng phau phơi bày lồ lộ, hoa vẫn đang rập rờn giữa hồ nước trong. Cả hoa lẫn nhụy dường như to hơn, tươi non hơn, thần tiên hơn cả những gì tôi có trong ký ức.
Huyền bí và kỳ diệu thay! Tôi bỗng thấy trào dâng một niềm rạo rực xưa nay tôi chưa từng có bao giờ. Là tình yêu đó chăng? Tôi đưa tay ghì lấy cô…..
- Anh khỏi rồi! - Tiếng của cô đâu từ dưới đáy nước sâu thẳm nổi lên.
- Đúng thế……Anh cũng không biết….. –Tôi bật cười.
Một cái cười xót xa tê tái trộn lẫn với mừng rỡ si cuồng, một cái cười của kẻ động kinh. Tiếng cười mỗi lúc một to, cười rung cả mình mẩy, cười giàn giụa nước mắt.
- Anh còn……được nữa không? - Giọng nói mơ hồ lại từ đáy nước nổi lên.
- Được chứ! – Tôi trả lời thật dữ dằn.
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-31 05:54:19ĐạoCấy>
                                                                             PHẦN NĂM.
                                                                          CHƯƠNG MỘT.
 
      Trung tuần tháng mười, lúa đã gặt xong toàn bộ. Trên chiếc sân phơi vắng tanh vắng ngắt nổi bật giữa bãi hoang, thình lình mọc lên mười mấy đống thóc lù lù. Nhìn từ đằng xa, những con quái vật màu vàng óng ả ấy, hệt như những công trình kiến trúc bằng đá ghép thời cổ đại đứng sừng sững giữa cánh đồng bằng phẳng bát ngát mênh mông. Đến nhá nhem tối, chúng lại thay màu áo da cam mềm mại, trông như từng đám ráng chiều sắp tan biến dần vào làn sương đêm xanh ngăn ngắt.
Trên đồng ruộng, trên bãi cỏ hoang, trong đám cây tạp nhạp bên dải rừng, tất cả đều tràn trề ánh sáng trong suốt, phẳng lỳ, cởi mở phóng khoáng. Thiên nhiên đã thành thục, nên tự nguyên phơi bày hết chân tơ kẽ tóc trước mắt mọi người, và vì thế đã ôm trọn cả thế giới vào lòng. Trên đồng ruộng đã thu hoạch xong hết hoa màu vụ thu kể cả lúa nước, ngô và đậu vàng, bây giờ là bò, là dê, là cừu, là ngựa, tất cả đều thả rong. Cả những chú lợn đen có, trắng có, cũng dúi mõm khắp nơi sục tìm thóc rơi thóc vãi.
Trời đất đổi mùa, lũ cào cào châu chấu cũng đổi từ màu xanh lá sang màu vàng, hung hăng vênh váo, nhẩy loi choi trên gốc rạ, nghe rào rào như lửa cháy, như mưa rơi. Gà vịt mọi nhà từ tờ mờ sáng đã kéo nhau từng đàn ríu rít chạy ra. Đến trưa con nào con nấy no căng cả diều, nằm rỉa lông rỉa cánh trong bóng râm bên dải rừng.
Dải cao nguyên hoàng thổ của chúng tôi, một bên giáp với sa mạc Nội Mông, bên kia tiếp liền với khu vực lòng sông Hoàng Hà, là những cánh đồng bao la, nhấp nhô lượn sóng toả tràn một sức sống thanh xuân, nhịp nhàng đều đặn. Cái giai điệu ấy vừa mênh mang vừa nhún nhẩy. Vó ngựa gõ lốc cốc trên đó như gõ dồn những nhịp sống sôi nổi không sao dừng lại được. Không, mùa thu đâu phải là một mùa già cỗi.
Những ngọn cỏ tranh, những cây lau cây cói, những cành hồi dại chớm đổi sang màu trắng cùng những chiếc lá vàng trên ngọn cây dương, cây liễu quế hương chưa kịp rụng xuống, khác nào những sợi bạc trên mái tóc người đứng tuổi, là dấu hiệu của thông minh và suy ngẫm. Một cơn gió đầu thu trên dãy núi tây thổi về, tất cả cành lá cỏ cây ngoài đồng nội đều xạc xào vươn dậy chống đỡ, cố níu giữ lấy sinh mệnh, níu giữ lấy quyền sống của mình.
Nùa hè oi ả đã qua đi, nhưng chưa đến mùa sương gió, đồng ruộng trên cao nguyên hoàng thổ tươi đẹp, khác nào bộ ngực nở căng của cô. Mặt nước trong các ao đầm, mương rãnh đều phẳng lặng lạ thường, trong các đám lau bụi cói, mặt nước tưởng chừng như kết bằng tinh thể rắn chắc. Tôi thích đánh ngựa lội qua ao đầm cho bốn bề bắn toé lên vô số những chùm hoa bạc lấp lánh. Những chùm hoa ấy tung toé trên mặt nước sáng như gương, khiến bầu trời xanh thẳm phản chiếu trong đó như vỡ tan thành vô số mảnh vụn lung linh.
Có lúc tôi buông lỏng dây cương, mặc cho ngựa chạy rông một hồi lâu trên bãi cỏ, rồi thình lình siết mạnh dây cương, cho nó chồm tung hẳn hai vó trước, như xông thẳng lên trời cao. Những giây phút ấy, bên tai tôi vang lên tiếng gào thét của quỷ Sa-tăng trong kiệt tác “ Mất cõi cực lạc ” của Milton*.
   ….Với đấng quyền uy tối thượng.
   Họ gào lên giận dữ, và ngọn dáo trên tay.
   Họ gõ lên chiếc mộc cho lời hô quyết chiến tung bay.
   Lòng căm giận nhắm thẳng tới trời cao thách thức.
Bầu trời lung linh trong suốt. Ngàn mây cũng trong suốt lung linh. Mặt trời rực sáng và ấm áp. Tâm hồn tôi cũng trở nên trong trẻo lạ thường.
- Hỡi người chăn thân mến của tôi, tôi đã cảm nhận được sự đổi thay trong con người của anh rồi đó – Con Xám vạm vỡ bỗng lên tiếng dưới hông tôi - Ngọn roi của anh vụt mạnh lắm, bắp đùi của anh ghì khoẻ lắm, máu của anh đã pha thêm nhiều chất hoang dã nguyên thuỷ, anh đã gần với loài động vật lắm rồi, cho nên anh đã có tiến hoá đấy.
- Đúng thế - Tôi đáp - Bởi thế tớ muốn ra đi! Tớ sẽ ra đi! Tớ khát khao hành động, tớ khát khao thoát khỏi mọi trói buộc áp đặt lên mình tớ! Phơ-bách* nằm ru rú ở quê nhà suốt một thời dài đã làm hạn chế bước phát triển của tư tưởng triết học. Tớ quyết băng mình vào giữa trời đất bao la xem sao?
Ở đây há chẳng phải là bao la đó sao? – Con Xám vọt một bước qua khỏi con mương – Anh hãy nhìn bầu trời này, ruộng đồng này, thảo nguyên này….
- Đó chính là điều chú mày không hiểu được! Tớ muốn đến những nơi có đông người ở! Tớ muốn được nghe tiếng nói của nhân dân, tớ muốn nói tư tưởng của tớ cho mọi ngưởi được biết.
- Thế còn cô vợ của anh thì làm thế nào? – Con Xám ngẩng cao đầu.
- Hiện nay tớ đang nghĩ cách ly hôn với cô ta đây! Một là tớ không thể để liên lụy thêm đến cô ta nữa, hai là tớ chung sống với cô ta thì vẫn không sao thoát khỏi một nỗi mặc cảm tâm lý luôn luôn ám ảnh. Thôi được, không nói chuyện đó nữa nhé, chúng mình hãy rong ruổi một hồi đi. Chú mày hãy nghe tiếng gió kìa. Nếu nhắm mắt vào, tớ sẽ cho rằng chú mày đang bay lượn giữa trời cao, và chú mày thực sự là một chú ngựa thần.
Từ sau khi tôi đang là người có một nửa biến thành một con người hoàn chỉnh, không còn là đồ phế thải nữa, thì đồng thời một ngọn lửa rừng rực bốc cháy giữa lồng ngực tôi. Tôi cảm thấy mọi hành vi của tôi trước kia, kể cả việc tôi thông cảm tha thứ cho cô, đều không phải do tôi được giáo dục, có trình độ văn hoá nhất định và làm theo những lời dạy bảo của các bậc hiền triết, mà là bắt nguồn tự sự đớn hèn của loài ngựa thiến. Một sự đớn hèn nhục nhã! Tôi đã đi vào cuộc sống gia đình bình thường, không khí tiểu gia đình êm ấm do cô sắp đặt an bài đã bao vây lấy tôi, hòng bắt tôi tan chảy vào trong đó.
Nhưng tôi lại muốn đập nát tất cả những thứ đó. Chưa đạt được thì háo hức mong ước, nắm được trong tay rồi thì lại chực vứt bỏ; lúc chưa bước vào thì khao khát được chen chân, bước vào rồi thì ước ao một thế giới rộng lớn hơn. Tôi luôn ở trong tình trạng cáu gắt, ghen tuông và hối hận khó gọi tên ra được, đồng thời trước mặt lại có một niềm hy vọng mơ hồ đang quyến rũ tôi. Cáu gắt, ghen tuông và hối hận chỉ có thể được bình phục trong một cơn thoả mãn. Cô đã cho tôi thoả mãn. Nhưng sau thoả mãn lại cáu gắt, ghen tuông và hối hận hơn, tôi lãnh đủ sự giày vò của hy vọng.
Với kẻ kia; cô cũng như vậy chắc? Kẻ kia cũng đã từng thoả mãn với cô ư? Thế là tôi bỗng dưng sửng cồ lên, hành vi yêu đương đã hoá thành sự trả thù thô bạo…..
- Nếu anh cảm thấy không công bằng, thì anh cứ đi kiếm các cô nào khác mà ngủ với họ vài lần cũng chả sao…- Một buổi tối cô rụt rè bảo tôi như vậy.
- Tôi không như cô đâu – Tôi ngắt lời cô – Cô thì với thằng đàn ông nào cũng được, chứ tôi thì không phải bạ con đàn bà nào cũng xong đâu.
- Vậy anh bảo em làm thế nào bây giờ? – Cô e lệ khép nép toan chui vào lòng tôi một lần nữa.
- Không có cách nào đâu – Tôi đáp lại rất lạnh lùng – Chúng mình chẳng thể lâu dài được, sớm muộn gì cũng phải chia tay nhau thôi.
Tình yêu của tôi đối với cô xen lẫn bao nhiêu là tạp chất: lực hút và lực đẩy hợp lại thành một, sức hội tụ và sức khuếch tán cũng hợp lại làm một; vừa toan vỗ về lại vừa muốn giày vò, vừa thương lại vừa giận cô…..những tình cảm trái ngược cứ xoắt xuýt lấy nhau, không tài nào tách chia ra được. Đó là con rắn hai đầu đang cắn xé trái tim tôi.
- Đi đi! – Có lúc tôi ẩy cô ra khỏi chăn – Trên mình cô giờ đây tôi vẫn ngửi thấy cái mùi của mấy thằng đàn ông kia của cô.
Cô khóc lên rưng rức. Tiếng khóc phát ra từ đáy lòng. Căn buồng tối om như một nấm mồ. Ánh sáng bàng bạc ngoài song kia chỉ là một làn tử khí lạnh lẽo nơi âm phủ. Chúng tôi đang ở nơi giáp ranh âm phủ với dương gian. Nơi đây đang nằm cạnh nhau hai con người sống nhưng đã chết rồi, hoặc giả là hai cái xác chết đang còn sống.
Không có ý thức, không có lý tính, không cả thời gian và không gian, không cả tương lai và quá khứ. Chỉ có hiện tại, chỉ có những cảm giác xoắn xuýt vào nhau không sao phân biệt được. Không phải là tình cảm, mà là cảm giác, cảm giác thuấn tuý do bản năng của thần kinh tiếp nhận mà thôi. Thứ cảm giác biến hoá muôn màu trong chớp mắt…..
- Thôi! Cô đừng khóc nữa. Cô khóc nghe nẫu ruột lắm. Thôi vào đây mà ngủ.
- Câu vừa rồi là anh tức khí nói dỗi đấy chứ? – Cô cẩn thận dò la ý tứ.
- Ừ! Con người mà lỵ, tất nhiên là phải có khí* chứ. Không có khí thì sống làm sao được?.
 
-----------
* “ Mất cõi cực lạc ” ( Paradise Lost ) bản trường ca tuyệt tác của nhà thơ Anh vĩ đại John Milton ( 1608 – 1674 ) sáng tác trong 28 năm trời từ khi ông 32 tuổi cho đến năm 59 tuồi ( 1667 ) mới hoàn thành, kể chuyện Adam và Eva vì ăn quả cấm mà từ cõi cực lạc bị đày xuống hạ giới. Nội dung cao đẹp, lời thơ hùng tráng, là tác phẩm cổ điển quý giá của nền văn học Anh.
* Feuerbach.
* Nguyên văn: hữu khí. Tác giả chơi chữ, khó dịch. Khí trong tiếng Hán vừa có nghĩa là hơi thở, vừa có nghĩa là sự giận dỗi.  
0
Thần kinh đang run rẩy, như một chiếc mạng nhện trước gió hiu hiu. Cô cố lấy hết cam đảm, dịu dàng bảo tôi:
- Ngay từ đầu chúng mình đã chẳng giao hẹn là không bới lại chuyện quá khứ đó sao?
- Không bới lại chuyện quá khứ! – Tôi lại đùng đùng nổi đoá. Cái màng nhện đã rách toang - Thế còn chuyện về sau? Cái chuyện sau ngày cười thì sao? Bây giờ tôi mới hối hận là sao lúc đó tôi lại không xông vào khi cả hai người….
- Đừng làm thế anh ơi! Anh đừng làm thế! – Cô sợ hãi bò dậy quỳ ở cuối giường – Em đáng tội chết! Em hư đốn quá! Em chỉ trót dại một lần ấy thôi. Em xin thành khẩn khai với anh như vậy. “ Thành khẩn được hưởng khoan hồng, chống cự thì bị nghiêm trị ” mà anh, có được không anh?
- Hừm! Cô thì ngoài mấy câu đầu lưỡi của tù lao cải với nhân viên hỏi cung ra, có nói được điều gì nên hồn.
Câu nói vô tình bất giác gợi nhớ về bao nhiêu là chuyện cũ, như từng pha, từng pha trong một cuốn phim lại hiện ra trước mắt. Vốn dĩ chúng tôi cùng ở một nơi mà đến đây. Tơ nhện khẽ phất phơ trước gió. Tôi rầu rĩ vỗ vào gối.
- Thôi cô ngủ đi. Lúc ấy….tôi….tôi chỉ giận cô lẽ ra cô không nên…. với hắn……Cô nghĩ xem hắn là hạng người nào? Hắn có như tôi với cô đâu, hắn khác….
- Vâng… vâng….- Cô nức nở - Em đáng tội chết! Thế nhưng anh không biết chứ….em đã….với mấy người, song chỉ có…..với anh là….cảm thấy khác hẳn.
- Cảm giác của cô nhậy bén quá đấy.
- Đúng thế - Cô vội phân trần – Anh nghe em nói đã….
- Tôi không nghe cô đâu! Những cái chuyện thối ấy của cô, tôi cũng chẳng muốn biết làm gì! – Tôi trở mình, quay lưng lại – Tôi chỉ nghe người ta bảo, đừng có lấy gái nạ dòng, vì gái nạ dòng bao giờ cũng đem chồng sau ra so với chồng trước…
- Thì chính là nhờ có so sánh mới biết….- Cô đưa ngón tay út di khẽ trên vai tôi thành hình những vòng tròn, vòng nọ nối tiếp vòng kia -…..mới cảm thấy anh là hơn chứ.
- Cái đó thì chưa chắc. Cô có thể so sánh tiếp hết người này đến người khác.
- Thật đấy mà! Không phải đến bây giờ đâu, mà là chín năm về trước cơ! – Hơi thở nóng hổi của cô phả vào tấm lưng trần của tôi – Cái hôm ở giữa bãi lau lách của đội lao cải ấy, em đã cảm thấy anh không giống như những người khác.
- Cũng may là tôi không giống những người khác đấy, không thế thì ít ra tôi cũng phải gia hạn thêm những ba năm tù! – Tôi bật lên tiếng “ hừ ” lạnh lùng – Cô nói những câu gì, có lẽ cô quên hết rồi chăng?
- Hồi đó em đâu có nói thật….
- Tôi làm sao biết được câu nào là cô nói thật, câu nào giả vờ! Thôi đủ rồi, đừng đóng kịch nữa ngủ đi.
Nhưng cô vẫn sụt sịt khóc lóc. Nước mắt đàn bà là dòng suối nhỏ ri rỉ, âm thầm yếu ớt, hiền lành mà bào mòn được mọi góc cạnh cứng rắn nhất của nham thạch. Những hòn sỏi chính là do nước mắt đàn bà bào mòn mài nhẵn, và khổ nỗi, cũng chỉ ngâm trong nước mắt đàn bà thì đá sỏi mới trở thành lung linh đẹp đẽ.
- Nào! – Tôi quay mình trở lại bảo.
…….
 
Và lúc này đây, trong bóng đêm hẳn là có biết bao âm mưu đang được tính toán sắp đặt; biết bao quỷ kế và những ý đồ trốn tránh quỷ kế đang hình thành một cách thầm lặng; dưới ánh đèn sáng trưng, người ta đang hồi hộp căng thẳng lục tìm bao nhiêu hồ sơ nhân sự, bên trong hàng rào sắt đang giam cầm bao nhiêu tù tử hình chờ ngày hành quyết; bao nhiêu quảng trường đang dán bài báo chữ to phê phán và đấu tố suốt đêm; mái tóc của biết bao nhiêu người đang bạc đi trong phút giây này đây….
Mưa!.
Trên đồng ruộng bao la rộng phẳng, mây kéo đến rất nhanh, mưa cũng ào đến rất nhanh, bởi vì trên đường đi chúng chẳng gặp cái gì cản trở. Mùa thu, lại là mùa sẵn mưa, lúc nào cũng có thể mưa được.
Giữa lúc mây đen còn đang mỏng manh chưa kịp che khuất mặt trời thì cơn mưa đã nôn nóng ào tới. Hạt mưa to bằng hạt đậu như đạn bắn xuống mặt đất, in từng đám rỗ hoa trên nền đất cát. Trên bãi cỏ hoang cũng như trên đồng ruộng, lập tức bốc lên một lớp bụi mù trắng xoá trộn lẫn bụi đất và hơi nước. Gió vẫn thổi.
Trên đồng bãi xuất hiện một cảnh đẹp kỳ lạ: mặt trời chói chang và ấm áp toả ánh sáng chọc thủng làn mây đen, khác nào những chùm tơ ngù vàng óng phất phới trên không trung; những hạt mưa xuyên qua ánh nắng rơi xuống, mang theo màu sắc chói lọi của cầu vồng; những lá cói, lau lách, lá rau tai lợn và lá ngưu bàng đang già cỗi bỗng trở lại tràn trề sức sống, đẹp một màu vàng rực rỡ đến nao lòng.
Nhưng cả đàn ngựa bỗng nhớn nhác. Đó là một cơn mưa lạnh. Những giọt mưa buốt như băng khác nào những ngọn roi quất xuống mình chúng vừa bị phơi nắng đến rộp lên. Tôi với chàng Câm hai mũi giáp công, cố sức dồn chúng vào trong dải rừng cây. Nhưng bị ướt mưa, chúng cứ quay cuồng cả lên, húc đầu vào nhau, chèn ép lẫn nhau. Vó con trước chồm lên thì bùn bắn vào mắt con sau, rồi vó con sau lại chồm lên đạp vào đầu con trước, và giữa lúc đó thì một chú ngựa con hốt hoảng lồng lên.
Nó lìa đàn chạy lung tung, húc bừa loạn xạ lên. Đó là một chú ngựa con ương bướng, xấu tính xấu nết, cổ còn đeo cả cái gông bằng gỗ chúng tôi dùng để trị nó. Và chính cái gông này làm nó càng hoảng sợ thêm. Nó cứ đưa vó trước gõ lộp bộp lên gông, nghe rõ tiếng khô không khốc của gỗ gõ vào xương. Hẳn là nó đau lắm nên nó mới chạy lồng lên, vừa chồm vừa rống như vậy. Tôi phóng con Xám đi đón đầu nó, quát nó ầm ầm, nhưng nào nó có chịu nghe tôi chỉ huy. Nó quay đầu bỏ mặc tôi đứng đấy; lao như bay về phía chuồng ngựa.
Không được để nó sổng ra chạy lung tung! Nó mà sổng ra được đến sân phơi thì thóc lúa trên sân sẽ bị giày xéo tan nát bừa bãi hết.
- Đó là vì chưa thiến nó đấy mà - Chớp lấy giây phút rỗi rãi giữa lúc vô cùng bận rộn, con Xám bảo tôi - Cứ thiến quách đi là nó sẽ ngoan ngoãn ngay.
- Chạy nhanh lên – Tôi quất cho nó một roi - Đừng lắm lời.
- Anh quên rằng tôi với anh đã từng có một buổi thảo luận về triết học rồi sao? – Con Xám trách móc tôi – Ôi, anh đã khác trước mất rồi!
Chú ngựa non vẫn lồng như bay về chuồng. Thì ra nó đúng là chưa bị thiến, dẫu sao thì với sức vóc non trẻ vẫn hơn, nó chạy nhanh hơn con Xám của tôi. Kìa, nó đã sắp phi đến bãi cây dương và cây liễu quế dương, trồng làm rừng phòng hộ phía trước sân phơi rồi.
- Mau lên! – Tôi lại quất cho con Xám một roi.
Nhưng, giữa lúc chú ngựa non sắp chạy tọt vào rừng phòng hộ, thì thình lình từ trong rừng băng ra một bóng người mặc quần áo trắng, trong mưa gió mịt mùng đứng dang hai tay ra cản giữa đường chạy của nó.
- Đừng chặn nó như thế! Coi chừng đấy! – Tôi gào lên - Nắm lấy cái gông của nó.
Chú ngựa non vẫn chồm bốn vó lên lao về phía trước, tưởng chừng như trước mặt nó chẳng hề có gì ngăn cản, cứ thế xông thẳng tới cái bóng trắng kia. Nhưng người kia vừa khoẻ vừa nhanh, chờ nó lao gần đến nơi, liền né người tránh sang một bên rồi theo đà chồm tới nắm được chiếc gông trên cổ nó.
Chú ngựa non sững lại, lắc lắc cái cổ dài ngoẵng, rồi vẫn bướng bỉnh lồng lên, có điều là đổi sang hướng khác, toan chạy chéo ra đồng cỏ. Người kia cố sức ghì chặt cái gông đánh bệt đít xuống đất để cho nó kéo đi. Mảnh vải nhựa làm áo mưa, trên đầu rơi tuột xuống, bây giờ mới nhận ra là Hương Cửu.
- Nhanh! – Tôi kẹp chặt con Xám, thúc nó băng nhanh tới bên chú ngựa non, vồ lấy sợi dây thừng buộc trên cái gông, mới kìm nó dừng lại được.
- Cô chạy đi đâu thế? – Tôi nhảy xuống ngựa, vừa đưa tay vỗ về chú ngựa non, lúc này các cơ bắp còn rùng rùng run rẩy, vừa hỏi cô ta.
Cô đứng lên, khắp người bê bết bùn. Cô nhặt vải nhựa về, thở hổn hà hổn hển:
- Thấy đội thổi còi gọi mọi người ra sân phơi để che đậy thóc lúa. Em trông chừng sắp mưa, vơ vội cho anh chiếc áo chạy tới đây….Mặc mẹ nó chứ! Tào Học Nghĩa thấy em chạy ra đằng này cũng chẳng gọi nữa. Bây giờ thì mọi người đang bận túi bụi ở đằng sân phơi ấy…..
 Cô phấn khởi vừa tự hào nhìn chằm chằm  vào mặt tôi hỏi:
- Em khá đấy chứ hả anh? Em khá đấy chứ?
- Cô khá đấy, cô khá đấy! Cô là anh hùng nữa cơ!
Tôi vội cởi bỏ chiếc gông treo lủng lẳng trước ngực chú ngựa non, tay cầm lấy dây cương dắt nó và nhảy lên mình con Xám. Cơn mưa rào sắp qua, những hạt mưa thưa thớt rơi lác đác quanh mình. Quần áo chúng tôi đều đã sũng nước.
- Lên đây – Tôi chìa bàn tay kia ra đón lấy cái bọc nhỏ cô đang ôm trong lòng, rồi kéo luôn cả cô lên lưng ngựa.
- Đi đâu thế này? Sao không về nhà ngay? – Cô ngồi sau ôm chặt lấy lưng tôi, hỏi.
- Mưa sắp tạnh rồi. Chàng Câm còn ở trong rừng, mọi người còn đang ở sân phơi, chúng mình về nhà bây giờ chưa tiện – Tôi giật cương cho ngựa quay đầu – Chúng mình cũng vào rừng cây kia trú mưa thôi.
Mưa rào chưa kịp ướt bãi đất trong rừng. Dưới tán rừng tranh tối tranh sáng, không khí lúc này thật trong trẻo và mát dịu, thoang thoảng mùi thơm của các thứ lá cây. Trên đầu chúng tôi, các thứ cây dương, cây hoè, cây liễu quế dương, cành lá chằng chịt rậm rạp, che một lớp tán dày. Dưới đất, cây niệt, cây dong rừng và các thứ cây dại mọc um tùm, chừng như chúng náu mình ở đây có thể vĩnh viễn thoát khỏi gió dập mưa vùi xơ xác. Chim chóc tụ tập trên cành, ríu ra ríu rít, nửa như nháo nhác hoảng sợ, lại nửa như hớn hở vui mừng. Chúng bay chuyền trong cành lá, làm rơi những giọt mưa to tròn lạnh giá, lộp bộp trên lá dong lá niệt, những lùm cỏ dại đẫm nước càng mượt mà xanh biếc.
- Cô thay quần áo đi – Tôi buộc hai con ngựa vào một gốc bạch dương, ném cho cô gói quần áo, cô bọc trong chiếc bao ni-lông đựng phân hoá học mang đến.
- Thế còn anh? – Cô đứng giữa lùm cỏ, hai cánh tay khuỳnh ra, tóc xoã tung, vẻ ngây dại.
- Tôi có bị bê bết bùn từ đầu đến chân như cô đâu. Cô trông này, quần áo tôi vẫn khô đấy chứ. Cô thay ngay đi kẻo cảm lạnh đấy.
- Ở đây có ai không? Chàng Câm ở đâu?
- Có ma – Tôi bảo – Chàng Câm ở cánh đồng bên kia cơ.
Cô rút trong bao ni-lông ra bộ quần áo của tôi, rồi nhìn tôi, cười rất tươi. Đoạn, không chút ngượng ngùng với tôi, cô cởi tuột hết quần áo ướt trên mình. Tôi ngồi trên một lùm cỏ dại, châm một điếu thuốc say sưa ngắm nhìn.
 - Em vẫn đẹp lắm – Tôi thốt lên.
Một lát sau, cô mặc xong quần áo đến đứng trước mặt tôi, dang hai cánh tay, xoay quanh một vòng thật uyển chuyển duyên dáng.
- Vậy anh có còn đòi bỏ em nữa không? - Giọng cô hết sức nũng nịu.
Cô biết rất rõ ưu điểm của mình. Chưa một lần sinh nở, lại lao động chân tay nhiều năm, cô vẫn giữ được vóc dáng cân đối khoẻ mạnh của thời con gái. Quần áo rộng thùng thình của tôi khoác lên mình cô, trông càng xinh xắn và trẻ ra. Cô vuốt mái tóc sũng nước ra sau gáy, lấy mùi xoa buộc túm lại. Như vừa tắm gội xong, trên gương mặt thanh tú với làn da rất mịn, ánh lên nét tươi cười tinh nghịch quyến rũ. Không trả lời cô, tôi đứng dậy, quẳng đầu mẩu thuốc lá đi, và ghì chặt cô vào lòng.
Trong phút giây ấy, dường như không phải tôi ôm cô, mà là ôm một áng mây, một khối hơi nước ấm nóng mờ ảo. Chính chiếc áo rộng thùng thình đã gây nên cái xúc giác kỳ diệu ấy! Cô ngoan ngoãn và thận trọng nằm xuống thảm cỏ. Chỗ bụng dưới của cô cho tôi cảm giác chắc lẳn và ấm áp. Tôi dúi mặt vào khoảng giữa cái cổ tròn trịa và bờ vai mềm mại của cô. Mùi thơm trên tóc cô, da thịt cô cùng với mùi lá niệt, lá dong rừng lẫn mùi đất bùn chung quanh, hợp lại thành một hương vị lạ lùng say đắm.
0
Một con bọ xít không biết ở đâu vù vù bay đến. Trên cây mấy chiếc lá vàng lững lờ rơi xuống. Hai con ngựa gõ móng khe khẽ, mũi thở phì phò. Một thứ âm thanh xào xạc tí tách đâu đây, như tiếng sóng xa xăm nào dâng lên từng đợt, khác nào “ vũ khúc Pô-lai-lô ” của Ra-ven* trên nền một tiết tấu cố định, hai giai điệu luân lưu đắp đổi, trở đi trở lại mãi…..
Ôi, hãy tha thứ cho anh, hãy hiểu cho lòng anh! Em có hiểu được và tha thứ cho anh không? – Linh hồn chẳng bao giờ được yên ổn của tôi lại xốn xang dữ dội; bên cạnh tôi luôn nghe văng vẳng tiếng ai đó kêu gọi nơi phương xa - Nơi đây sao mà ngạt thở. Đây là một cái xóm nhỏ khiến con người mỏi mòn đi, hệt như cái khoảng hõm quyến rũ giữa cái cổ tròn trịa và bờ vai mềm mại của em vậy. Em đã cho anh sức sống, chính em đã khiến tuổi xuân của anh sáng bừng lên trở lại, nhưng rồi sức sống ấy lại thôi thúc anh rời bỏ em! Tuổi xuân lần này cũng sẽ không thuộc về em nữa….
Một lúc sau chúng tôi phờ phạc mà khoan khoái nằm duỗi dài trên thảm cỏ.
- Anh đang nghĩ gì thế? – Cô hỏi tôi.
- Không!
- Anh không nghĩ gì cả ư?
- Ừ!
- Anh muốn có một đứa con không? – Cô trở mình nằm sấp lại, chống khuỷu tay xuống đất.
Nhớ lại lời Hà Lệ Phương nói với mình, tôi đáp:
- Muốn.
- Thế thì chúng mình xin một đứa đi.
- Việc gì phải xin con nuôi? Cô đẻ một đứa có hơn không.
- Chúng mình đều đã luống tuổi cả rồi!… - Cô nói – Xin một đứa nhơn nhớn, chúng mình cũng đỡ được mấy năm vất vả…Bây giờ ở nhà quê, khối trẻ nhà nghèo bố mẹ không nuôi nổi đấy. Cùng lắm thì chúng mình bỏ ra một ít tiền.
- Tiền đâu ra?
- Em có đấy! – Cô cười hì hì.
- Thôi đi – Tôi không muốn làm cô khó nghĩ – Không có con vẫn hơn.
- Sao vậy anh? – Cô níu lấy vai tôi hỏi – Anh vẫn nghĩ cách không sống với em nữa chứ gì! Không có con cái càng đỡ vướng víu chứ gì?
Tôi im lặng không đáp. Đôi mắt đen láy của cô lo lắng dò tìm ý tứ trong mắt tôi. Nhưng tôi không thể nhắm mắt lại. Trong rừng cảnh tranh tối, tranh sáng dường như đã xua tan phần nào, tựa như một cốc nước trà pha loãng. Tôi nghe thấy tiếng chim vỗ cánh. Tôi đã nghe thấy tiếng chim hót vang mà chỉ có giữa khoảng trời bao la mới vang được như thế. Có lẽ trời đã tạnh hẳn.
- Chúng mình sống trong một thời buổi thật gian nan – Tôi bảo cô – Tôi không thể nào làm tròn được trách nhiệm của một người bố, dù là con mình đẻ ra hay là con nuôi xin được. Một gia đình đang yên lành êm ấm, thế mà bỗng dưng một đêm vợ con tan tác, làm đến nguyên soái rồi cũng không chắc thoát khỏi cảnh đó, nhưng tình cảnh như vậy tôi đã chứng kiến quá nhiều rồi – Tôi nắm lấy bàn tay nhỏ bé ấm áp của cô – Hương Cửu ạ, bây giờ chẳng phải thời buổi có thể giữ riêng cái tổ ấm nhỏ nhoi của mình như lũ kiến kia được đâu.
- Tại sao? – Cô vẫn nằm sấp, hai bàn tay đỡ lấy cằm, hai bàn chân co lên khua khoắn trên không – Anh bao giờ cũng nghĩ khác người ta! Thời buổi gian nan thì cứ mặc nó gian nan chứ! Chúng mình kém người ta cái gì nào? Mặc không bằng người ư? Ăn không bằng người ư? Đến chàng Câm còn nuôi được cả đàn con kia thôi! Chúng mình không nuôi nổi một đứa sao, em không tin?
- Vấn đề chẳng phải nuôi nổi hay không nuôi nổi. Mà vấn đề là bản thân tôi có bền vững được không? Ai mà biết được đến một lúc nào đó, người ta lại phát động một phong trào đấu tố gì đấy, tôi lại bị tóm vào tù.
- Người ta tóm cổ anh vào, thì mẹ con em chờ anh ra.
Tôi bất giác phì cười:
- Ấy chết! Cô chớ nên quên rằng, cô cũng vừa mới ra khỏi đấy thôi! Thôi được, chúng mình đừng tranh luận nữa, bao giờ có thể có con, tôi sẽ bảo cô sau.
Cành cây khẽ lay động. Qua kẽ lá tôi nhìn thấy một mảnh trời màu xám. Trong nháy mắt, mảnh trời đã biến mất. Mấy chùm quả liễu quế hương đỏ quạch lủng lẳng trên cành. Tôi biết bên trong cái vỏ khô rúm nhăn nheo kia là lớp cùi mọng nước. Tôi thấy trong miệng mình ngòn ngọt. Một ít nước mưa trên cành lá rơi xuống, đọng thành những giọt long lanh trên mảnh vải nhựa chúng tôi đang đắp, lăn đi lăn lại như những giọt thủy ngân nghịch ngợm. Cơ thể chúng tôi áp sát vào nhau. Sinh mệnh của anh nương tựa vào sinh mệnh của em. Sự sống của em nương tựa vào sự sống của anh. Tình em nồng cháy và tình anh nóng bỏng dồn tụ lại cùng thiêu đốt, mới khiến chúng mình được siêu thoát linh hồn.
Trong giây phút ấy, chúng mình thậm chí quên hết rằng có anh và có em, mà chỉ có chúng mình, chỉ còn lại chúng mình mà thôi. Chúng mình hoà làm một, chúng mình có một sinh mệnh chung. Đó là ý nghĩa của tình yêu, là nội dung của tình yêu, nỗi sướng vui của tình yêu, chủ nghĩa duy vật của tình yêu. Nhưng giây phút ấy qua đi, giữa chúng mình với nhau, giữa anh và em lại có những kẽ hở, có những toan tính giả dối, có những dòm ngó nhỏ nhen, có cái mầm ly dị. Em toan bao vây anh, anh quyết thoát ra ngoài, ý thức quyết phản kháng vật chất. Tình yêu khác nào một tấm lưới êm ấm, muốn dệt được nó, phải rất bền bỉ kiên trì, vậy mà trái tim anh lại như một con chim sẻ, em xem kìa, nó đang thắc thỏm  thảng thốt nhảy nhót  bay chuyền. Trên trời kia, mây đen đang vần vũ, đang cuồn cuồn lên xiết bao hung dữ, thế mà chúng mình ở dưới trời mây ấy ôm hôn nhau, làm tình với nhau, có họa chúng mình là một cặp hồn ma sống lên từ địa ngục?
- Đen đã về rồi – Cô bỗng bảo.
- Ừ!
- Em mua cho anh một cái này hay lắm. – cô bỗng sôi nổi lên, bò lên ngực tôi nói – Nhưng bây giờ em không nói cho anh biết đâu.
Tôi cũng không nóng lòng muốn biết, nhưng vẫn hỏi:
- Cái gì vậy?
- Anh đoán thử xem một thứ mà từ lâu anh vẫn mong có.
- Anh chịu không đoán nổi – Tôi chẳng còn nhớ là mình có nói gì, mình mong có vật gì.
Một chú chim khách lông ức trắng như bông, hót ríu rít trên đầu chúng tôi, cái đầu tí hon xinh xắn hết nghiêng bên nọ lại nghẹo bên kia nhìn chúng tôi, tôi có cảm giác nó là một nhà động vật học, đang chăm chú quan sát nghiên cứu hai động vật nằm dưới này.
- Hình như chúng mình có tin mừng đấy - Giọng cô như lạnh lùng. Im lặng một lát cô lại hỏi - Tối nào anh cũng viết cái gì vậy?
- Có gì đâu.
- Nhật ký phải không?
- Phải.
- Cuộc đời này của chúng mình thì có cái gì mà phải ghi, ngày nào chẳng như ngày nào. Thế mà em thấy anh ngày nào cũng viết đến mấy tờ to.
Tôi đẩy cô ra và ngồi dậy:
- Hương Cửu này, anh bảo cho em biết, không được nói với bất cứ ai rằng anh đang viết lách gì đâu nhé, không được hé răng để lộ một tí gì. Em hiểu không?
Cô ngồi trong lùm cỏ, khẽ nghiêng mình, vém lại mớ tóc lòa xòa bằng một động tác hết sức duyên dáng:
- Em hiểu! Tm chưa hề nói với ai bao giờ. Cơ mà, anh bỏ bớt những điều lo nghĩ vớ va vớ vẩn ấy đi có hơn không? Anh hơi đâu mà nghĩ đến “ pháp quyền tư sản ” với chả “ pháp quyền vô sản ”! Pháp quyền tư sản thì liên quan gì tới chúng mình?
- Em đã đọc những cái anh viết rồi ư?
- Chưa đâu. Mà em đọc cũng chẳng hiểu, chỉ mới đọc được mỗi câu “ pháp quyền của giai cấp tư sản cao hơn của phong kiến ”, gì gì ấy.
- Đọc không hiểu thì bận sau đừng đọc nữa! – Tôi đứng dậy – Thôi, chúng mình mặc quần áo vào đi. Hết mưa rồi đấy.
Chúng tôi dắt ngựa chui ra khỏi rừng. Sau một cơn mưa rào, bầu trời trong sáng lạ thường. Đằng tây đã hiện ra một vạt nắng vàng óng, nổi bật trên nền mây màu chì và trên những đỉnh núi xanh sẫm. Chàng Câm dở khôn dở dại đã lùa ngựa lên bãi từ bao giờ.
- Mẹ kiếp! – Tôi cỡi lên con Xám – Vừa mưa xuống xong cho ngựa ăn cỏ ướt, nó đau bụng chết ráo cả bây giờ. Nào, lên đây!
- Em ngồi trước lòng anh cơ! – Cô nũng nịu cười.
- Thế thì ra làm sao? Thôi, ngồi lên sau này.
- Sợ quái gì? Vợ chồng với nhau ai nói gì được. Mà em đang muốn thiên hạ nhìn thấy đây.
- Thôi lên đây, lên đây! Đừng nhõng nhẽo nữa! Không có thì giờ nói chuyện vớ vẩn nữa đâu! – Tôi kéo cô lên, ngồi đằng sau tôi.
- Hễ vào tới đầu làng là Đen ôm ghì lấy Hà Lệ Phương mà hôn đấy. Cô ta bảo các cậu cười gì nào? Ở Bắc Kinh, ngay giữa đường phố, người nước ngoài họ đều thế cả! - Giọng cô hờn dỗi trách móc - Chỉ có anh sợ thế này sợ thế nọ.
- Người nước ngoài là người nước ngoài.
Đi qua khu ruộng lúa mì, cô lại buông một tiếng thở dài, nhưng không có gì là ra vẻ phiền muộn.
- Dào! Đen nó bảo về mừng quốc khanh xong là lên, cuối cùng quá phép đến hơn hai chục hôm, cũng chẳng ai dám trừ của nó một đồng xu nào, cũng chẳng hé răng nói nó một câu gì. Phải mà rơi vào đầu chúng mình ấy à, thì cứ gọi là….Hứ!..
- Đúng thế. Em phải luôn luôn nhớ chúng mình là người như thế nào? Chúng mình ấy à, chẳng những việc người nước ngoài được làm, chúng mình không được làm, mà ngay cả những việc người Trung Quốc khác được làm, chúng mình cũng không được làm. Đó chính là số phận của chúng mình. Vắt! – Tôi thúc con Xám chạy nhanh hơn.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-03 09:10:59ĐạoCấy>
                                                                               CHƯƠNG HAI.
 
Trong chuồng ngựa có một người lạ mặt, dáng chừng là cán bộ công xã, khoác một chiếc áo cánh kiểu Trung Quốc bằng vải xanh đã ướt sũng, đang đứng dựa vào lan can chuồng ngựa cùng với Tào Học Nghĩa.
- Đã về đấy à, ướt sũng hết rồi chứ? – Tào Học Nghĩa cười tít cả mắt, lên tiếng chào tôi.
Tôi cứ phớt lờ anh ta, lùa cả đàn ngựa vào trong cái chuồng đẫm nước, giúp chàng Câm buộc từng con ngựa một vào bên máng.
Tào Học Nghĩa cùng người cán bộ công xã kia bước lại.
- Đây, tất cả đây, có hai mươi tư con ngựa cả thảy – Tào Học Nghĩa nói với người kia - Bác xem đi.
Người kia vẻ rất sành sỏi ngắm nghía từng con ngựa, thành thạo đưa tay vạch mõm từng con ra xem răng, vừa xem vừa lắc đầu chép miệng:
- Chẳng ra làm sao, con nào cũng kém!
- Ông làm gì thế? – Tôi hỏi – Mua ngựa phải không?
- Phải - Người cán bộ công xã ngước mắt nhìn tôi.
- Thôi đi ông ơi! – Tôi nói - Ở nông thôn các ông có ngựa như thế này không? Ngựa ở làng thì toàn là giống ngựa “ ba nhanh nhạy cả thôi ”. Một là ngã xuống nhanh hơn đứng dậy, hai là ỉa chảy nhanh hơn kéo xe, ba là sống lưng nhạy sắc hơn cả dao dầu. Ông xem con ngựa này đây! – Tôi vỗ vỗ vào bụng chú Xám – Ông có muốn mua tôi cũng không bán đâu!
- Thôi được rồi – Tào Học Nghĩa nói – Xem ông ta ưng con nào thì để cho ông ta con nấy, nếu ưng tất thì lùa đi tuốt.
- Sao? – Tôi kinh ngạc hỏi – Nông trường không cần ngựa nữa ư?
- Hì, hì! – Tào Học Nghĩa hất hàm – Trên cho biết năm 1980 toàn quốc thực hiện cơ giới hoá nông nghiệp, ở dưới còn hăng hơn nhiều, mục tiêu định ra là hoàn thành trước thời hạn ba năm. Bây giờ chưa khoanh xong một nửa con số 8, thì đã bắt đầu giết thịt ngựa rồi. Tao xem, đ. mẹ nó, hết 5 năm có thực hiện nổi cơ giới hóa hay không?….Nhưng mà, đến lúc đó, chúng ta lại vào công xã xin mua ngựa chứ lo gì. Với lại, đẩy tới, đẩy lui rồi cũng là tiền của nhà nước cả, lo đếch gì!
- Thôi được.
Câu chuyện vừa rồi của Tào Học Nghĩa dường như đã rút ngắn khoảng cách giữa tôi với anh ta.
Về đến nhà, thì vợ chồng Đen và chàng Câm cùng người đàn bà chân to đã lục tục kéo đến.
- Cậu Chương này, đ.mẹ nó! Tớ vừa về đến nhà là bắt luôn tớ viết bài phê phán ngay – Đen nói – Bí quá! Cậu viết hộ vợ chồng tớ mỗi đứa một bài vậy nhé.
- Cả vợ chồng tôi cũng thế! - Người đàn bà chân to vùng Nội Mông cũng nói – Các ông các bà nói thử xem thế nay là thế nào? Lại bắt cả chàng Câm cũng phê phán Tống Giang, mà Tống Giang là ai thế nhỉ? Chả biết mắc phải sai lầm gì?
- Tống Giang là Phó chủ tịch trung ương đảng đấy – Đen vỗ vỗ vào vai người đàn bà chân to – Sai lầm của ông ta thì cũng y hệt như chàng Câm nhà bà vậy, suốt ngày câm như thóc.
- Ủa! Câm như thóc suốt ngày cũng là sai lầm ư? - Người đàn bà chân to cầm trong tay một thếp giấy trắng. Đó là giấy của tiểu đội chăn nuôi phát cho bà ta để viết bài phê phán. Giấy viết bài phê phán có khuôn khổ và mẫu mã thống nhất phải nộp đúng kỳ hạn, giống như nộp thóc thuế vậy.
- Chứ lại không ư! – Đen nói rất nghiêm chỉnh – Nói quá nhiều và câm như thóc đều là sai lầm. May cho chàng Câm nhà bà chỉ là một thắng chăn ngựa hôi rình, chứ nó mà làm quan, thì chúng lôi ra phê phán một mẻ đấy!
Người đàn bà chân to nửa tin nửa ngờ, lầu bầu trong miệng:
- Cái thời buổi gì mà kỳ cục, thật không còn biết làm thế nào mà sống nổi nữa?….
Hà Lệ Phương hôm nay vừa tắm gội xong, trông trắng trẻo nõn nà hẳn ra. Cô ta cười bảo:
- Thôi đi! Anh Đen đừng thấy bác ấy thật thà mà đùa dai mãi. Bác ơi, đem giấy của bác góp vào đây, mỗi người chúng mình đều góp một tờ.
Nói đoạn, giằng lấy thếp giấy trắng trong tay người đàn bà chân to.
- Ngần này đủ chưa? Ngần này đủ chưa?
Người đàn bà chân to có ý tiếc rẻ.
- Bà cứ tưởng, đ. mẹ nó, phải viết tràng giang đại hải như Diêu Văn Nguyên ấy sao? – Đen trả lời - Mỗi người góp mẹ nó một tờ, để mà che mắt cấp trên là được rồi!
- Còn em nữa chứ, để dành cho em một tờ với – Hương Cửu đang bận làm cơm, bây giờ mới xen vào được một câu - Ở tiểu đội em, họ cũng bảo em viết đấy. Thế mà em quên không bảo anh Chương. Cứ như anh Chương nhà này với bà Mã mà lại hay, đang có mũ trên đầu thế là khỏi phải phê phán Tống Giang Tống Giếc…
Tôi rửa mặt xong bước đến bên bàn nói:
- Ừ! Phải đấy, cô thì quả nên phê phán Tống Giang, bởi vì Tống Giang đã giết mụ vợ lẳng lơ đĩ thõa của ông ta đấy.
Hương Cửu lẳng lặng véo trên lưng tôi một cái nên thân.
Hà Lệ Phương mím môi, ném cho Đen một cái nguýt thật sắc.
Anh chàng Đen thật thà phổi bò so với trước khi đi Bắc Kinh, trông có đẫy ra. Anh ta bò người qua bàn ăn thầm thì bảo tôi:
- Ở Bắc Kinh, đ. mẹ nó, lắm tin vỉa hè thế, không biết được! Nghe đâu phê Chu Công, phê Tống Giang gì gì đó…đều là đánh vào Chu thủ tướng và Đặng Tiểu Bình đấy.
- Hả? – Tôi ngước mắt lên nhìn.
- Chứ lại không à! Rồi cậu xem, cuộc “Đại cách mạng văn hoá ” này còn chưa kết thúc, thì cứ gọi là không làm cho thiên hạ đại loạn, trời đất tối mù, tan nát tơi bời ra thì chớ kể tớ là người!
Tôi trải giấy trắng lên bàn, thận trọng nói:
- Chúng mình viết nhé. Trước khi tơi bời tan nát, thì cậu vẫn cứ phải tuân theo ý họ mà phê phán đi đã chứ!
- Ừ, đúng thế! – Đen móc túi ra hai tờ báo – Đây, cho cậu làm tài liệu tham khảo. Cậu cứ theo đó mà chép lại là được. Nhưng đừng có chép tờ nào cũng y hệt nhau, cái đó thì cậu thừa khả năng chứ gì, câu sau đảo lên trước, câu trước ngoặc ra sau……Đây, cậu xem câu ngữ lục này: “ Tống Giang đầu hàng, tức là thi hành chủ nghĩa xét lại ”. Thế này là cái chó chết gì? Ngay cả tớ cũng biết, mẹ nó chứ, rằng ở cái thời Tống Giang thì chủ nghĩa Mác cũng còn chưa ra đời, đào đâu ra chủ nghĩa xét lại? Thế chẳng phải là chỉ gà mắng chó, chặt bụi tre nhè bụi chuối ư?….
Tôi cười bảo:
- Cậu biết rõ thế thì để tớ viết theo ý cậu, đảm bảo là sẽ có một bài phê phán cực hay.
- Ấy chớ, ấy chớ…. – Đen làm ra vẻ khiếp hãi, đoạn thích chí cười hì hì - Người dân Bắn Kinh họ bảo, trên thực hành “ chính sách ngu dân ”, thì ở dưới này chúng mình lại thực hành “ chính sách ngu trên ”; quanh đi quẩn lại thì cũng là ông cai bịp tớ, tớ lại bịp giả lại ông cai thôi! Có ai nói thật với ai đâu!
- Trời! – Tôi nhấc bút lên, vừa viết vừa nói – “Đại cách mạng văn hoá ” trước hết không phải làm tan nát nhà nước, mà là làm bại hoại đạo đức của dân tộc Trung Hoa chúng ta. Đúng là sẽ di họa cho con cháu không biết mấy trăm năm!
Đen giẫm chân lên một chiếc ghế đẩu, tuyên bố một cách rất tự đắc:
- Sống vô đạo đức thì dễ! Sống có đạo đức thì khó lắm!
Quả đúng như vậy!   
0
Tôi nhanh chóng chép xong năm bản phê phán Tống Giang, Đen hớn hở ra mặt cầm lấy hai tờ, phần của vợ chồng cậu ta.
- Được lắm! Nào các ông các bà nghe đây: “ Kết hợp chặt chẽ việc phê phán Tống Giang với nông nghiệp học Đại Trại, kiên định một lòng học tập bần nông và trung nông lớp dưới ”. Cậu Chương này, mẹ kiếp, thật là may nhờ có cậu. Đây, bà chị, của vợ chồng bà chị đây. Đến mai, em xin học tập đến nơi đến chốn cái ông anh Câm của bà chị đấy. Chàng Câm mới đúng là “ bần nông trung nông lớp dưới ” thứ thiệt.
Những người khách đều hả hê vui vẻ ra về. Cô bưng cơm lên bàn, nói với một giọng đầy tự hào:
- Anh viết nhanh thật đấy! Chứ để người khác viết ấy à, bỏ rẻ cũng phải mất hai ngày rưỡi.
Tôi lắc đầu cười cay đắng:
- Chúng ta sống thật là gian nan nhưng cũng thật là tiện lợi. Mọi thứ đều được người ta sửa soạn sẵn cho rồi, đến bộ óc của chúng ta cũng chả cần hoạt động suy nghĩ gì nữa.
Hóa ra là cô đã gửi Đen về tận Bắc Kinh mua cho tôi một chiếc máy thu thanh bán dẫn.
Cô cứ xoắn lấy tôi, bắt tôi đoán lên đoán xuống mãi, mà tôi không tài nào đoán trúng được. Có ma quỷ mới biết được những phù phép trong lòng dạ đàn bà! Đến lúc tôi đoán mãi đã chán ngấy rồi, cô mới lôi trong hòm ra.
- Anh xem cái gì đây này? – Cô cười tay nâng cao cái hộp giấy – Đen, nó bảo mất hơn một trăm đồng đấy, anh bảo có đến giá ấy không? Chớ để hắn lại úm được chúng mình!
- Đến, đến giá ấy đấy.
Đây là việc duy nhất từ trước tới nay cô làm mà khiến tôi mừng rỡ ra mặt. Tôi vội vàng tháo ngay hộp ra.
- Em xem đây này, đây là ba sóng ngắn, lại còn ăng ten cần câu này, tai nghe này…. Tốt quá! Làm sao mà em nhớ ra thế?!
- Anh đã bảo em rồi đấy thôi – Cô chồm người bíu lấy vai tôi, không nhìn vào máy, mà chỉ nhìn vào tôi – Anh nói với em câu gì rồi anh cũng quên, nhưng em thì em để ở trong lòng.
- Được rồi, được rồi! – Tôi đẩy cô ra – Đi kéo rèm cửa sổ lại.
Chẳng biết bắt đầu từ bao giờ, máy thu thanh được gắn liền với “đặc vụ ” và “ phản cách mạng ”. Ý thức đó thấm vào tận tế bào dây thần kinh của mỗi người, bất cứ nhà nào có máy thu thanh đều có thể gây ra cảnh giác đặc biệt của những người xung quanh. Một cái hộp đen bé tí xíu, vậy mà sâu thẳm không lường, chứa đựng trong đó cả một thế giới tội ác. Còn thế giới cách mạng quang minh chính đại thì chỉ tồn tại trong cái loa to đùng, mỗi ngày phát thanh ba buổi. Ngoài cái loa ấy ra, tất cả đều nói dối, đều là lời rủa nguyền của ma quỷ tuốt. Nhưng khoa học kỹ thuật vẫn ngày đêm chọc thủng mọi biên giới quốc gia nghiêm mật nhất, chọc thủng mọi giới hạn về hình thái ý thức tưởng chừng như không thể vượt qua. Bằng làn sóng vô tuyến điện mà mắt người không nhìn thấy được, nó bủa lên cả thế giới này một tấm lưới cực kỳ bền chặt, thít lại, nghiền nhét tất cả những nắm đất manh mún rời rạc khắp nơi thành một khối thống nhất.
Tôi xúc động lắp pin vào, kéo ăng ten cần câu lên, đeo tai nghe vào. Trong giây phút đó, chính bản thân tôi cũng có cảm giác phạm tội, mặc dù tôi vẫn nghĩ rằng nghe đài chẳng có gì là tội lỗi cả - đã tin mình nắm chân lý trong tay, thì việc gì còn sợ nhân dân nghe những lời nói dối – nhưng mấy đầu ngón tay tôi vẫn run như cầy sấy, không sao ngăn nổi, đầu ngón tay tôi đang dò tìm từng quãng sóng. Làn sóng điện xuyên qua bầu trời Thái Bình Dương, Địa Trung Hải, Biển Đỏ, vượt qua đỉnh cao nhất trên dãy Hi-ma-lai-ya, mang theo tiếng rú gào của bão bùng giông tố truyền đến màng nhĩ tai tôi. Đêm hôm đó, tôi nghe mãi cho đến khi tất cả các buổi phát thanh tiếng Hoa đều kết thúc.
Kết quả khiến tôi thất vọng.
Bọn tây đầm thừa ăn thừa mặc ở bên trời Tây kia, ba chục năm nay hình như chẳng tiến thêm được một chút nào, chẳng hề trưởng thành chín chắn được tí gì. Cái con người máy móc đồ sộ ấy, nếu đem so với chúng ta những con người từng trải hết mọi lo âu hoạn nạn, nếu đem so với những con người khổng lồ trưởng thành lên trong khổ nạn này, thì đầu óc chíng trị của hắn chẳng qua chỉ ở trình độ vườn trẻ mẫu giáo. Đối với cái chính trị thần bí chủ nghĩa dưới sự chỉ đạo của huyền học phương Đông, đối với cái tâm lý quanh co vòng vèo và cả phương thức biểu hiện vòng vèo quanh co của những con người được tạo thành trong môi trường chính trị ấy, họ mù tịt chẳng hay biết gì cả, cũng giống như người dân Trung Quốc chịu không tài nào hiểu nổi vì sao một ông tổng thống nước Mỹ lại chỉ nghe trộm một cuộc nói chuyện của người khác lại bị la ó hạ bệ như vậy.
Họ bình luận tình hình Trung Quốc, chỉ có thể xuất phát từ trật tự hiện hành và bằng cách đưa tin được gọi là khách quan mà thôi. Và cái thứ khách quan ấy, thì chính là hiện tượng có tính chất bề ngoài hơn cả, còn chưa sâu sắc bằng nhận thức của Đen và Tào Học Nghĩa. Tuy nhiên, buổi phát thanh hôm nay của đài trung ương ở Bắc Kinh lại tiết lộ một tin rất quan trọng. Trong một bài ký tên Trì Hằng, với tiêu đề “ Kết hợp bình luận Thủy Hử, học tập lý luận sâu sắc hơn nữa ”, có nói “ Phái đầu hàng, đường lối theo chủ nghĩa đầu hàng, trên lịch sử đã từng có, thời hiện đại đang có, và sau này vẫn sẽ có ”. Hai tiếng “ sau này ” ấy rõ ràng không phải là vu vơ, mà là bắn tên có đích đấy….
- Mẹ kiếp!
Tôi gỡ bỏ tai nghe, mệt mỏi vứt chiếc máy bán dẫn ra giường.
- Sao thế?
Bên cạnh tôi, cô cựa mình, mơ mơ màng màng hỏi tôi
- Chả đáng! – Tôi đáp
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-05 05:58:18ĐạoCấy>
                                                                                  CHƯƠNG BA.
 
Rốt cuộc, con Xám đã bị người ta bán mất. Không phải cái ông cán bộ công xã tôi đã từng tiếp chuyện ấy, mà là người của công xã khác, nghe đâu ở miền núi ở tận phía Nam lên. Họ đến cả thảy bốn người, toàn nông dân, mua sạch cả hai mươi tư con ngựa.
Một ngày âm u, ngày âm u đầu tiên kể từ khi sang đông, nhưng xem ra chưa có vẻ gì là sắp có tuyết cả. Gió buốt căm căm, mà lại hanh. Cát bụi, lá vàng, cọng rơm vụn và cứt ngựa khô nát bay tơi tả, quẩn quanh trên đường cái, trên sân bãi bỏ không, trong các góc tường, các xó nhà, không tìm được nơi yên nghỉ. Trên bầu trời xám ngoét màu chì, thỉnh thoảng một vài con quạ vội vã bay qua. Cánh đồng mới vào nước vụ đông lấp xấp đã bắt đầu đóng băng, co rúm nứt nẻ. Mặt đất một màu trắng xanh lạnh lẽo. Tất cả mọi cành cây đều đã đổ hết lá, trơ khốc, trong phút chốc già cỗi đi bao nhiêu! Chỉ trên một đôi cành liễu quế hương, còn lác đác một vài trái cây run rẩy lẩy bẩy trong gió. Những ngày âm u, những ngày mùa đông ảm đạm thế này đem lại cho người ta cái cảm giác là mọi thứ đều đông cứng lại, kể cả hồi sức và ước mơ, dường như từ khi con người ta sinh ra thì trời đất đã như vậy rồi, và trời đất cũng như vậy mãi chẳng bao giờ biến hoá đổi thay.
Con Xám đã bị lùa đi cùng các bạn của nó trong một buổi tiết trời như vậy. Ra khỏi tàu ngựa, bước đi trên con đường mòn quen thuộc rồi rẽ ngoặt ra đường cái, nó còn dừng lại một lát, quay đầu lại đưa mắt nhìn tôi, như có ý ngạc nhiên sao tôi không cùng đi với chúng. Nhưng một người nông dân đã tiện tay quất cho nó một roi, nó giật bắn mình lên, lắc lắc cái đầu, cuối cùng lầm lũi đi về phía người nông dân dẫn lối. Phía cuối đường cái mờ khuất đi, nơi chân trời màu xám. Sau lưng đàn ngựa, bụi đất vàng nặng nề cuộn lên chầm chậm.
Thôi vĩnh biệt chú Xám của ta! Chú mày biết rõ bao điều thầm kín của ta, ta đã thố lộ với chú mày biết bao tâm sự! Chú mày đã cùng ta trải qua những giờ phút ưu phiền, chú mày đã chứng kiến cái phút ta trở lại làm một con người ra sao. Chú mày đi rồi thì có lẽ ta cũng sắp đi đây. Ta không thể như chú mày chờ người ta đem roi đến lùa vào trại giam lần nữa, mà mọi thứ triệu chứng đều cho thấy rằng cái giờ phút như vậy lại sắp đến rồi. Một thời kỳ hoà hoãn cực kỳ tạm bợ đã sắp đến giờ chót.
Tiễn chú Xám xong, trên đường về đại đội, tôi đi qua chuồng cừu. Bên cạnh đàn cừu sắp hành quân lên núi, tôi gặp Chu Thụy Thành
- Ngựa bán hết rồi, thì cậu nhẹ nhõm quá nhỉ?
Chu Thụy Thành mỉm cười chào hỏi tôi. Cái cười của anh là cái cười gượng, cái cười xin xỏ của kẻ hành khất. Đã lâu lắm không để ý nhìn anh ta, hôm nay gặp lại, phát hiện ra rằng anh ta đã già yếu nhiều. Khoác cái áo ngoài bằng da dê đã sờn, cái lưng anh ta khòng khòng, người như gập một nửa xuống đất. Tôi bất giác đi đến bên anh ta, ngồi xổm xuống cùng anh dưới chân tường phía kín gió của chuồng cừu.
- Cái áo này là cái áo tớ mặc năm ngoái đấy – Tôi lật cái vạt áo của anh ra xem – Năm nay lên núi muộn hơn. Năm ngoái ở tầm này, chúng tớ đã cắm trên núi được hơn một tháng rồi.
- Đúng thế. Chỉ vì không tìm được người. Chẳng có ai chịu lên núi. Năm nay thế là cậu thoát được rồi, bởi vì cậu đã có gia đình. Năm nay đến lượt tớ với chàng Câm lên núi.
- Không sao đâu – Tôi an ủi anh – Trên núi kể cũng khí buồn và vắng vẻ, chứ thật ra sinh hoạt rất khá, thịt cừu chén thoải mái…..
- Hì hì! Cuộc sống há lại chỉ có chén thịt cừu thôi ư? – Cái mồm chuột chù của anh chẳng ra cười cũng chẳng ra mếu.
Tôi sững cả người, cái giọng này xem ra không giống kiểu giãi bày tâm sự thường ngày. Tôi hiểu ý, vỗ một cái lên đầu gối anh
- Thì cậu xách cái nhị lên, lúc nào buồn tình thì cũng có nó giải khuây. Mùa đông sẽ qua nhanh thôi mà.
- Đúng là mùa đông sắp qua đến nơi, nhưng mùa xuân thì sẽ chẳng bao giờ tới nữa.
Tôi lại càng kinh ngạc, đưa mắt liếc anh một cái. Qủa thật là “ Sĩ biệt tam nhật đương quát mục dĩ đãi ” kẻ sĩ xa nhau ba hôm là phải nhìn bằng con mắt khác! Tôi chợt lý giải được hàm ý trong cái cười gượng như kẻ hành khất của anh: anh muốn tôi cùng anh chuyện trò chốc lát. Tôi móc thuốc ra, châm lửa, nhả một hơi khói, hỏi anh:
- Đơn từ khiếu nại của cậu có kết quả không?
- Vứt mẹ nó đi nhá! – Khác hẳn với thái độ thường ngày, anh bỗng chửi đổng rất tục – Còn khiếu nại cái con mẹ gì? Bây giờ tớ thực sự hối hận! Cậu vẫn chưa biết gì ư? Bắc Kinh lại triển khai cái gọi là “ phản kích luồng gió lật lại vấn đề ” gì đấy? Bắt đầu là từ giới nhà giáo. Cậu vẫn chưa rút được kinh nghiệm ấy à? Phong trào gì gì thì cũng khai đao nơi văn hoá giáo dục trước, sau đó mới chém giết toàn bộ.
“ Chém giết ”! Anh lại dám dùng đến cái động từ máu me ròng ròng nhưng vô cùng chuẩn xác ấy ư? Tôi bất giác xích lại gần anh thêm, để anh khỏi hét toáng lên.
- Cứ như cậu thế mà lại hay – Anh nói tiếp - Dốc đến tận đáy nhá, cứ dứt khoát là đi lao cải, chụp luôn mũ cao lên, chẳng còn nghĩ cái quái gì nữa, chẳng thèm hy vọng cái đếch gì nữa, trong lòng lại hoá ra thảnh thơi dễ chịu.Chứ như tớ: cứ lửng lơ lơ lửng, chân không bén đất, cật không đến trời, giở cái chính sách cái gậy với củ cà rốt ra với tớ, cuối cùng là tớ mới vỡ nhẽ là rỗng tuếch, là tay trắng tuốt! Cậu bảo thế tớ có đau không cơ chứ?! Bây giờ tớ mới hiểu ra một điều là họ phát minh ra thuật ngữ chính trị thật thâm thuý, họ bảo: ” chính trị quải soái ”, “ quải ” có nghĩa là treo, có nghĩa là họ muốn bắt người ta treo cổ lên xà nhà!
Một cảnh ngộ tồi tệ đọa đày đến mấy rồi cũng có người ao ước, đó chính là nét đặc sắc trong đời sống đương đại của chúng ta! Nhưng anh đến tận bây giờ vẫn cứ nghĩ rằng tôi “ không nghĩ cái quái gì, chẳng thèm hy vọng đếch gì ”, điều đó có nghĩa là từ trước tới nay, trước mặt anh tôi đã nguỵ trang rất khéo, vậy thì lúc này tôi cũng chẳng việc gì phải bỗng chốc phơi bày gan ruột ra với anh.
- Đừng nên nghĩ vậy – Tôi nói rất ngay ngô thật thà - Cậu dẫu sao cũng đã từng lập công! Thế nào rồi người ta cũng có ngày nhớ ra cậu và sẽ giải quyết vấn đề cho cậu.
- Cứt – Anh nhổ đánh toẹt một bãi nước bọt ngay trước mặt. Con người này phút chốc đã biến đổi đến kỳ lạ, so với trước kia có thể nói đã là một con người khác hẳn. Anh nói - Lập công cái con mẹ gì, chỉ có những thằng ngốc si, ngốc sứt như tớ mới làm cái trò như vậy! Chúng nó ép kiệt hết mọi điều tớ biết, cho tớ mắc tội khắp lượt với mọi người, rồi thì quẳng tớ vào đây như một cục bã đậu, chẳng thèm đoái hoài gì nữa.
Đàn cừu thấy người chăn vẫn chưa cất bước, bèn nằm hết ra cả đất, hoặc kiếm một xó xỉnh nào kín gió nằm trầm tư mặc tưởng. Hôm nay chuẩn bị lên núi, sáng sớm đã cho chúng ăn rồi nên chúng chẳng vội gì. Một chú cừu già nhìn tôi với cặp mắt lưu luyến, có lẽ nó nhận ra tôi chắc?
Chu Thụy Thành nhíu chặt đôi lông mày, ánh mắt u ám, cái mồm chuột chù khẽ động đậy! Anh đã chìm đắm hẳn vào trong hồi ức xa xăm.
- Cậu tưởng tớ sung sướng lắm sao? Bắt đầu từ năm 51, có phong trào “ trung thành thú nhận ” là tớ lập tức biết gì nói nấy, biết đến đâu nói đến đấy, nói bằng hết mới thôi, cho mãi đến thời “Đại cách mạnh văn hoá ”, nào kiểm điểm ư, nào vạch trần ư! Thoạt tiên là nộp cho lãnh đạo, sau đó là nộp cho phái tạo phản….Tớ bảo thật cậu, thằng đi tố giác, còn khổ gấp mấy thằng bị tố giác….
- Cái đó thì tớ không đồng ý!
Tôi vội vàng tranh cãi. Trong vấn đề này tôi không được phép giả ngô giả ngọng.
- Thì cậu hẵng nghe tớ nói đã – Anh đặt tay lên bàn tay cầm thuốc lá của tôi, tôi cảm thấy rõ tay anh đang run lên - Thằng bị tố giác chỉ khổ trong giây phút mà tài liệu tố giác được phơi bày trước mặt nó thôi, chứ còn thằng tố giác thì bắt đầu từ cái phút nó viết bản tố giác trở đi là nó mất hết thanh thản. Tớ viết bản tố giác hết lần này đến lần khác, một đời tớ, tớ đã viết bao nhiếu bản tố giác tớ cũng không nhớ được nữa. Chỉ biết rằng lãnh đạo biết rằng tớ vâng lời, lại biết nhiều chuyện, nên cứ bắt tớ viết, viết hoài, viết mãi. Cứ bỏ rẻ cứ mỗi lần có một phong trào chính trị nào đầy, tớ viết năm chục bản đi, thì tính ra đến nay tớ đã viết cả thảy năm trăm bản rồi. Cứ mỗi lần viết xong bản tố giác, thì tâm lý tớ lại nhận thêm một tầng sức ép.
- Cậu Chương này, tớ bảo thật cậu, hồi trẻ tớ là một con người như thế nào cậu biết không? Tớ sôi nổi lắm, hoạt bát lắm, thú vị lắm! Nào nhị, nào ắc-coóc, nào vi-o-lông, thứ nào tớ cũng biết kéo, kèn cũng thổi được vài bài, sân bóng rổ không chiều nào vắng mặt tớ, cây bỏ rổ làm bàn! Tớ còn biết nhảy giao tế vũ cơ! Thế nhưng mỗi bản tố giác viết xong, lại tước đi của tớ một phần sức sống. Để mong cứu lấy bản thân mình, để mình được sống phẳng lặng yên ổn, tớ đã vứt mất cái quý giá nhất trên đời, để bây giờ đến nông nỗi này, người chẳng thành người, quỷ chẳng ra quỷ. Sớm biết nông nỗi này, thì tớ dí b… vào, đếch viết những bản tố giác kia! Cùng lắm bất quá cũng đến nước này thôi chứ gì…..
0
Ở góc mép anh hiện ra vết nhăn chếch xuống cằm như vệt dao chém, kiên quyết mà tàn nhẫn. Anh đang dồn hết mọi nỗi căm phẫn dồn chứa bấy lâu, chẳng phải kiếm chác sự đồng tình, nhưng tôi vẫn lật bàn tay tôi dười tay anh lên, nắm chặt lấy bàn tay gầy guộc khô đét của anh.
- Đừng nghĩ thế cậu ạ! Đó đều là chuyện đã qua rồi. Theo tớ được biết, có kẻ vu cáo người khác, đưa người ta đến tù tội, thậm chí đưa người ta ra pháp trường, thế mà hôm nay kẻ đó vẫn sống nhởn nhơ, thơm tho ngọt sớt đấy!
- Cậu nhầm rồi – Anh rút tay ra, vung lên một cách xúc động, nhấn mạnh thêm sự phủ định của anh đối với tôi – Như thế mà cũng có thể gọi là thơm tho ngọt sớt được ư? Tớ dám nói rằng, những kẻ ấy cũng giống như tớ, xưa nay chưa từng bao giờ được biết thế nào là niềm hạnh phúc của con người vô lo vô nghĩ, không xấu hổ với lương tâm mình. Cũng có thể những kẻ đó tự cảm thấy tốt lành, nhưng cuộc đời họ thì cũng giống như tớ là cuộc đời của những con chuột. Con chuột khi chưa bị mèo vồ, thì tự nó có lẽ cũng cảm thấy là tốt lành lắm lắm…
Lúc này chàng Câm đeo trên lưng một cái gói con, mình khoác chiếc áo choàng da dê đã cũ, lóc cóc một mình leo lên sườn dốc, vừa đi vừa ho sù sụ trước gió. Một năm nay, chàng Câm gầy rộc hẳn đi, tuy anh ta vẫn đi với tôi, nhưng tôi chẳng để anh phải làm việc nặng bao giờ. Có ma mới biết anh đang nghĩ những gì trong bụng? Giá mà anh cũng được dốc hết bầu tâm sự, thổ lộ được mọi điều uất ức dồn nén bấy lâu như Chu Thụy Thành hôm nay, thì có lẽ anh sẽ dễ chịu hơn chút đỉnh, khốn nỗi anh chưa từng học hành, nên chỉ có thể rúc mãi vào cái sừng trâu không lối thoát.
Chu Thụy Thành đứng lên, nhún vai, khoác lại ngay ngắn chiếc áo choàng trên mình. Động tác rất có phong độ quân nhân, tôi tưởng như nhìn thấy dáng vẻ anh tuấn nhanh nhẹn của anh hai ba chục năm về trước.
- Chuyến lên núi này là chính tớ tự yêu cầu đấy chứ - Anh nói - Tớ vui lòng tình nguyện đi. Chưa biết chừng sau khi trở xuống thì ở dưới này đã biến thành một thế giới khác cũng nên. Chao ôi! “ Sơn trung phương nhất nhật, thế thượng dĩ thiên niên ”, trong núi mới một buổi, ngoài đời đã ngàn năm mà lại.
- Thế cậu có dự đoán sẽ biến thành một thế giới như thế nào không? – Tôi nheo mắt hỏi anh.
- Cậu có biết mũi giáo của họ chuyến này chĩa vào ai không? – Anh vặn lại tôi.
- Không biết – Tôi muốn để tự anh nói ra trước.
- Chu và Đặng! – Anh đưa tay che miệng, ho ra ba tiếng rồi bỏ tay xuống. Cặp mắt tí hí loé lên những tia buồn ảm đạm – Hai ông này mà đổ nữa, thì tia hy vọng cuối cùng của đảng cộng sản cũng tắt ngấm. Lúc đó thì cũng giống như trong Hồng Lâu Mộng đã viết: “ Tam xuân khứ hậu chư phương tận, các tự nhu tầm các tự môn ”, xuân đã qua rồi hoa rụng hết, ai ai tìm lấy chốn nương thân.
- Thế cậu định thế nào? – Tôi tò mò hỏi.
- Tớ thì chẳng việc đếch gì, trước mắt họ tạm thời chẳng làm gì tớ sất – Anh thẳng thắn nhìn vào tôi - Bởi vì tớ không như cậu: thứ nhất, chưa hề đi lao cải; thứ hai, tớ không có mũ; thứ ba, xuất thân dân nghèo thành thị, còn cậu là tư sản; thứ tư, cho đến giờ họ vẫn chưa tước phăng tư cách cán bộ của tớ, còn cậu thì là một công nhân nông trường hạng bét. Tớ lại đã từng học quân sự, chưa biết chừng sau này còn có đất dụng võ cơ. Còn cậu – anh lấy lại cái vẻ khiêm nhường bề trên, xỉa ngón tay vào ngực tôi - Cậu em ơi, cậu có nhớ cái hồi chúng mình ngồi tù với nhau, đội trưởng chỉ vào mũi cậu mắng như thế nào không? Lão ta bảo: Chương Vĩnh Lân, mày đừng có mà mơ trời sập, hễ ngoài kia mà có động tĩnh gió lay cỏ lướt gì, thì trước hết sẽ đem mày ra chém đầu thị chúng!
- Tất nhiên, lúc đó lão ta chỉ doạ bóng doạ gió cậu một tí thế để bắt cậu ngoan ngoãn phục tùng thôi. Nhưng lão ta nói thế cũng có phần đúng đấy, cậu nên đề phòng một chút; họ quật chết cậu thì cũng như giết chết một con rệp mà thôi, chẳng cần chịu trách nhiệm trước bất cứ cơ quan nào và bất cứ ai.
Chàng Câm đủng đỉnh leo mãi vẫn chưa hết dốc, gió thổi vạt áo choàng quá dài cứ quấn lấy chân anh ta. Chu Thụy Thành thu ánh mắt lại, nhìn tôi và nói tiếp:
- Cậu không thấy ư? Hồ Thế Dân và Lý Nghĩa Quân, cứ lấy hai người ấy mà suy, đó là những thí dụ hết sức rõ ràng. Hồ Thế Dân là trưởng phòng tuyên truyền của sư đoàn bộ, tham gia công tác năm 49, không có tiền án, họ hành anh ta đến chết, thế là lúc minh oan, chẳng những làm lễ truy điệu, đền tiền xin lỗi, mà đội trưởng còn bị mất chức, không thế thì Tào Học Nghĩa đừng hòng đến được đây. Tớ nghe nói vụ kiện cáo này mãi đến giờ vẫn chưa xong đâu. Còn Lý Nghĩa Quân thì sao, chẳng qua là một công nhân nông trường như cậu, cũng như cậu vậy thôi đã từng đi lao cải, đầu có mũ cho nên họ quật chết anh ta thì thôi chứ, bây giờ có ai mở miệng ra thanh minh cho anh ta được câu nào đâu?
Cái anh chàng thường này rụt rè khép nép, im hơi lặng tiếng ấy, mà té ra cái gì cũng nhìn thấy rất rõ, cái gì cũng nhớ như in vào lòng!
- Đúng thế - Tôi bóp cái đầu mẩu thuốc lá đến nát vụn - Thật ra Lý Nghĩa Quân chết còn oan ức hơn Hồ Thế Dân nhiều. Hồ Thế Dân còn có thể ít nhiều đổ cho là ốm chết, chứ Lý Nghĩa Quân thì rõ rành rành là bị họ đấu cho chết tươi.
- Rất đúng. Những điều đó chẳng phải chính mắt chúng mình nhìn thấy trong nhà tù đó sao?
- Thế cậu bảo tớ làm thế nào bây giờ - Con người này chắc chắn là rất nhiều mưu mẹo, tôi thật sự muốn xin ý kiến anh ta.
- Này cậu em – Cái mồm anh nhọn ra đến là buồn cười, nhưng giọng nói thì hết sức thành khẩn - Thế mới biết lời Mao chủ tịch là đúng cậu em ạ: “Đừng có lo sợ vỡ mất cái chum cái vại ”. Trước kia, tớ cứ sợ đập vỡ mất cái chum cái vại nhà mình, muốn giữ cho cuộc đời yên ổn, rốt cuộc là…- Anh xoè hai bàn tay ra, và nhắc lại một câu - …đến nông nỗi này đây. Cậu là người khôn ngoan, hẳn là cậu đã biết: “ tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách ”,” cây bứng thì héo, người khéo chạy thì sống ” mà…
Chàng Câm đã đến gần, anh bỏ lửng câu nói, ra đón lấy chàng Câm, cùng chàng Câm vung chiếc roi chăn cừu, đi lùa từng con cừu một…
Tôi giơ roi ngựa ra giúp họ dồn cừu vào lối đi lên núi. Lúc chia tay, tôi cười bào anh:
- Cậu ở với chàng Câm thì thật là tuyệt! Thời buổi này cứ như chàng Câm là bảo đảm yên tâm nhất.
- Chưa chắc – Anh ngoảnh đầu lại, lườm tôi một cái đầy ý nghĩa – Cũng sắp đến cái ngày chàng Câm mở miệng rồi.
Chú Xám đi về phía đông, đàn cừu đi về phía tây, đi về phía núi cao bao phủ lớp lớp mây mù, dọc đường rơi vãi ra bao nhiêu là phân cừu. Trong lớp không khí lạnh buốt và hanh khô, thoang thoảng mùi cừu hoi hoi, nhưng cuối cùng cái mùi hoi hoi ấy cũng loãng dần, loãng dần. Từ nay, bóng hai người và đàn cừu, mãi mãi biến mất trong tầm nhìn của tôi.
0
                                                                            CHƯƠNG BỐN.
 
Tan tầm, tôi về nhà dựng xẻng vào sau cánh cửa, nhìn thấy chiếc roi ngựa còn treo trên vách, chiếc roi đã bám đầy một lớp bụi mỏng. Tôi liền kéo cả roi nhổ cả đinh xuống, bẻ gãy đôi ra, ném thẳng ra ngoài cửa.
- Anh đã về đấy à?
Cô ngồi ở ghế đẩu, trước mặt là một chiếc giỏ đựng đầy trứng vịt, cười hỏi tôi.
- Ừ! Vừa mới về.
- Bán mất ngựa anh tiếc lắm nhỉ?
Cô nhặt từng chiếc trứng vịt xếp vào trong vại. Vại đựng nước muối đã đun sôi, để nguội vừa phải.
- Có gì mà tiếc? Đến người, anh cũng chẳng tiếc nữa là!
Căn phòng nóng hừng hực, chiếc nắp lò đốt đến rực hồng. Tôi đưa tay trên lò để sưởi ấm một lát, rồi nhắm hai mắt lại, đưa tay áp lên má. Tôi cảm thấy một cơn choáng váng ngây ngất đến là dễ chịu. Đây chính là chút ấm áp nhỏ bé đến thảm hại mà ai ai cũng cần có. Nhưng con người sáng tạo ra tất cả, thì cũng bị tất cả những gì nó sáng tạo ra buộc chặt lấy. Ngọn lửa lò chiều đông này, những cái vại cái chum kia, cho đến hai gian buồng đây, đêu dành cho tôi hưởng thụ, nhưng tôi phải đem tự do của mình ra trả giá.
- Em đang ủ trứng muối cho anh đấy, anh xem này!
Cô nói sau lưng tôi.
- Có gì mà phải xem!
Tôi mở to hai mắt, liếc nhìn cô với vẻ thờ ơ.
Cô không hề cụt hứng, ngừng một lát, lại cười bảo:
- Ngày giờ thấm thoát đến là nhanh, mới ngày nào chúng mình mới cưới nhau, mua mấy ả vịt con, bây giờ đã đẻ hơn bao nhiêu là trứng rồi.
Đúng thế. Con mèo con đã lớn, giờ đây đang ung dung nhàn nhã nằm trên bệ lò, lim dim mắt ngáy o o. Nó chính là con mèo mun chui qua dưới háng Tào Học Nghĩa cái đêm hôm ấy! Cũng như con ngựa Xám, nó đã chứng kiến biết bao nhiêu là sự việc. Ở trên đời này, con người ta sợ nhất là con người, chứ không phải là con vật, kể cả loài thú dữ.
Cô cúi đầu, tiếp tục nhặt trứng xếp vào vại. Trứng không chịu chìm xuống, cứ nổi lập lờ trong muối, thành một lớp trắng ngà. Cô hỏi bằng một giọng hân hoan:
- Em nghe nói, người miền Nam đều thích ăn trứng muối, có đúng thế không?
Tôi hứ một tiếng bằng mũi, rồi bảo:
- Em nghe được nhiều quá đấy!
Cô ngẩng đầu lên lườm tôi một cái, cặp mắt như tối sầm lại. Một lát sau, cô xị mặt rụt rè trách móc tôi:
- Em nói câu gì anh cấm có quên!
- Nói thì có thể dễ quên, nhưng việc làm thì khó mà quên được lằm!
Nói đoạn, tôi vém rèm cửa bước vào gian trong, ngồi xuống cạnh chiếc bàn làm bằng cánh cửa của tôi, lôi cuốn sổ ghi chép ngoài bìa in dòng chữ “ Nhật ký Hồng vệ binh ” ra, giở ra trước mặt.
Niềm vui, viết lách không hoàn toàn ở chỗ viết ra được cái gì, mà quá nửa là ở trong quá trình viết. Phân tích, tổng hợp, suy lý, phán đoán, những hoạt động ấy của đại não, cũng tựa như vận động thể dục, chẳng cứ phải dành được ngôi thứ mới khiến người ta vui sướng, mà chính là trong hoạt động cúa các bộ phận cơ thể, người ta được hưởng niềm vui của việc phát huy sức sống. Ngót hai chục năm nay ngoài những thứ như “ bản tự kiểm điểm ”, “ tờ kiểm thảo ”, “ báo cáo tư tưởng ” hằng tuần,” báo cáo ” xin thêm tiêu chuẩn gạo và lá đơn “ xin kết hôn ” kia, cùng với những bài “đại phê phán ” chép hộ người khác ấy ra, tôi chưa hề viết được một dòng chữ nào hẳn hoi đứng đắn. Có lẽ, đây chính là thủ đoạn cải tạo tôi và mục đích tôi chịu cải tạo? Bóc rời văn hoá ra khỏi con người cũng giống như lột da con thú vậy, quá trình đó đối với con người bị bóc mà nói thì thật là đau khổ, nhưng về phía thợ săn mà nói thì lại là nhất thiết phải tiến hành. Nhưng bốn tháng trước đây, sau khi nguy cơ nước lũ đã qua đi, sau khi tôi lại trở thành con người bình thường, tôi đã bắt đầu cầm lấy cây bút.
Mấy hôm đầu, ngòi bút sao mà khó khăn ngắc ngứ thế, cơ hồ như viết được một chữ lại ngừng mất một lúc, có lẽ người xưa khằc chữ lên thẻ tre cũng giống như vậy thôi. Bộ máy truyền động giữa đại não với ngón tay đã phát sinh sự cố nghiêm trọng, đã han gỉ, hơn thế nữa đã gỉ kết lại. Những điều đã nghĩ được ở trong óc, những lời đã có thể nói ra được đầu lưỡi, mà không tài nào biến thành chữ viết một cách suôn sẻ, hai mắt cứ phải chong chong rướn lên, mãi nhìn vào không trung tìm kiếm từng chữ một. Nhưng chẳng bao lâu, nhờ vận động thường xuyên, bộ máy truyền động ấy đã dần dần trở nên nhạy bén hơn. Những con chữ mới lạ cũng thành ra quen thuộc trở lại trường hợp mà con người chưa được chuyện trò giao tiếp thoải mái, thì việc một mình ngồi viết đã trở nên thủ đoạn trợ lực cho tư tưởng có hiệu quả nhất. Một khái niệm nào đó trong óc, xuống đến đầu ngòi bút, hoá thành một con chữ khối vuông ghép bằng những chấm, ngang, sổ, hất, móc..v..v.., lập tức biến thành một tồn tại khách quan độc lập bên ngoài chủ thể, tự nhiên buộc anh đi tìm tòi nghiên cứu mối liên hệ của nó với những khái niệm khác. Sau đó ghép những con chữ khối vuống ấy với nhau, xâu chuỗi nó lại. Những suy nghĩ lung tung lộn xộn, điều linh cảm của lý tính giây lát, bước đột biến của nhận thức nẩy sinh từ một câu nào đọc được trong sách, thậm chí những điều sằng bậy của người ngớ ngẩn, những tiếng ú ớ của kẻ ngủ mê, đều có thể qua ngòi bút mà sắp đặt ngay ngắn, ngăn nắp hàng lối hẳn hoi.
Ngoài cái sung sướng của thị giác, thính giác, vị giác và xúc giác ra, còn có cái sung sướng của lý trí được vận hành. Niềm vui sướng ấy chẳng phải là do có được một kết quả tư tưởng nào đó, mà là do nhìn thấy một ánh chớp của lý tính chỉ riêng con người mới có, nhìn thấy được ánh chớp ấy ở ngay cái nơi mà thị giác không thể thấu tới được, ở ngay cái nơi sâu thẳm thường bị cái gánh nặng cuộc đời che lấp đi. Hơn thế nữa, bị gạt ra ngoài nhân quần chẳng phải là điều gì tệ hại ghê gớm mà chính là dành được quyền tự do của tư tưởng, khiến lý tính được hoàn toàn thuần khiết. Lý tính được thuần khiết ấy ban đầu chỉ lập loè như ma trơi, sau đó thì mạnh dần lên mãi. Nó không khai phá con đường đi, nhưng nó có thể rọi sáng phía trước.
Nhưng con đường đi về phía trước càng hiểm trở gian nan hơn.
Hôm nay, tôi không định viết cái gì cả. Nói là tư tưởng rất loạn thì không hẳn đúng, phải nói là đang ấp ủ quyết tâm cho chín mùi thì đúng hơn. Tôi gấp cuốn sổ vào, chẳng buồn cởi áo bông, cứ thế nằm kềnh ra giường. Cái cổ áo bông mềm mềm cọ vào má tôi. Cái áo bông này là do cô tỉ mẩn từng mũi kim khâu cho. Đúng như cô từng nói một cách đắc ý: “ Dễ thường hai chục năm nay, anh chưa bao giờ được mặc chiếc áo bông ấm áp như thế này nhỉ ”. Dĩ nhiên là Mã Anh Hoa cũng đã từng khâu cho tôi một chiếc quần ấm bằng dạ, nhưng chuyện ấy đã xa xôi mờ nhạt như xảy ra từ đầu thế kỷ trước, mờ nhạt và xa xôi đến nỗi tôi nghi nghi hoặc hoặc, không biết việc ấy có xảy ra hay không. Còn giờ đây, chiếc áo bông này thì có thực một trăm phần trăm. Đàn bà thật khéo biết dùng mũi kim sợi chỉ khâu chặt anh vào cơ thể họ. Cứ mặc đến nó, là tự nhiên anh nhớ tới cái dáng dấp đặc biệt rất đàn bà của cô, ngồi cặm cụi dưới ngọn đèn kia, ngón tay cái và ngón trỏ kẹp chặt lấy cái kim, còn ngón tay út thì khều sợi chỉ lên. Bởi thế từng mũi kim sợi chỉ ấy đã khâu vào cả mùi hương thơm thoang thoảng, cả tình cảm dịu dàng lẫn tâm hồn phong cách của cô. Không phải là vải và bông đang phủ ấm ngực anh, mà là đôi tay xinh xắn ấm nóng hừng hực của cô đang ôm ghì và ấp ủ anh đó.
“ Cuộc sống há lại chỉ có chén thịt cừu thôi ư? ”. Thế nhưng, ăn rốt cuộc vẫn rất quan trọng, đặc biệt là đối với người nghèo chúng ta. Mỗi người ở nông trường, hai tháng chỉ được cung cấp một lạng dầu ăn. Cứ đến đầu tháng, Hà Lệ Phương lại chửi đổng:
- Mẹ nó chứ! Chúng mình đi lĩnh dầu ăn thì chỉ đem cái lọ thuốc đau mắt đi là đủ. Mỗi bữa xào rau thì nhỏ vào chảo một giọt là được.
Vậy mà Hương Cửu lại nhịn mốt cái lạng dầu ăn ấy để nhường cho tôi. Cô chưng riêng chỗ dầu ăn ấy lên, rắc hành vào, thành một thứ nước hàng ngầy ngậy, mỗi bữa ăn lại rưới một tí vào bát mì sợi của tôi. Cô không hề ăn một tí nào, mỗi lần rưới nước hàng vào bát tôi xong, chỉ liếm qua cái cùi dìa. Động tác ấy có phần quê kệch khó coi, nhưng nó lại biểu hiện lòng yêu thương chăm sóc của cô dành cho tôi. Cô là người đàn bà quyết biểu hiện ra cho bằng được tình yêu của cô, để anh biết cho thật rõ ràng và chính xác sức nặng và mức độ tình yêu của cô. Chút thịt ít ỏi đến thảm hại nông trường chia cho, cô cũng chẳng ăn bao giờ, chỉ gặm cái xương thôi.
Tôi thường cảm thấy tình yêu như vậy đối với tôi là một sức ép, là một sự chịu đựng, nhưng cô lại thường an ủi tôi rằng:
- Em không ăn thịt, không ăn dầu vẫn khoẻ như thường, anh không thấy bây giờ em béo đẫy ra đấy ư? – Cô bắt tôi nắn thử cánh tay cô – Em nghe nói, đàn ông tiêu hao nhiều hơn đàn bà. Anh đã ở đội lao cải mãi, còn không biết hay sao?
Đúng, năm 60 chết trong đội lao cải, phần lớn là đàn ông.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-08 09:51:37ĐạoCấy>
Tóm lại sau khi kết hôn với cô, những thói quen của tôi trước kia hồi còn độc thân nay bỗng nhiên bị ngắt đứt đi để chắp vào đó tập quán sinh hoạt gia đình. Nói cho thật chính xác, thì những tập quán sinh hoạt gia đình ấy đều là do cô bồi dưỡng cho tôi. Và nếu nói cho sâu sắc hơn, thì mọi thứ trong sinh hoạt của tôi đều dựa hẳn vào cô; tôi đã bị cô cưng chiều thành ra mất nết đi rồi. Tấm áo bông ấm áp này, chiếc áo lót giặt sạch thơm phứt kia, chăn này, đệm này, khăn trải giường này, cho đến cả chiếc giường lò, và mọi thứ trong nhà, thậm chí cả chiếc lọ kem thoa mặt trắng muốt như ngọc, chiếc rèm cửa sổ may bằng vải hoa rẻ tiền kia, tất cả đều một tay cô sắm sửa, nhưng lại đã làm nên nội dung cuộc sống của tôi. Cô đã sáng tạo nên cái tổ ấm gia đình xinh xắn này, một cách hoàn toàn tự chủ theo đúng quan niệm của cô về gia đình, rồi thả tôi vào trong đó, và tôi cũng đã thích ứng với nó, trở thành một bộ phận của nó. Muốn thoát khỏi nó đâu phải dễ dàng, bởi vì như vậy trước tiên tôi phải thoát khỏi chính mình.
Tâm trí hoàn toàn trống rỗng, tôi ngước nhìn lên cái trần nhà dán bằng giấy báo. Trên đó chi chít toàn chữ là chữ, nhưng không có lấy một dòng nào giải thích về cuộc sống và chỉ dẫn cho con người ta nên sống như thế nào. Mười mấy năm nay, người ta đã nói hết sức đứng đắn nghiêm chỉnh biết bao điều vô bổ cùng với biết bao điều khoác lác, mà nói cứ như thật ấy! Vô số những điều vô bổ và những điều dối trá ấy đã thêu dệt nên một thế giới hư ảo mà cũng là một thế giới thật rùng rợn. Tôi như đang sống giữa hai thế giới, một thế giới chân thực, tức là cảnh ngộ tôi hiện tại, và một thế giới giả dối, như chính cái thế giới giả dối ấy lại chi phối cuộc đời tôi, quyết định cuộc sống và cái chết của tôi. Tôi chẳng những phải thoát khỏi cái thế giới ấy, mà còn phải vượt ra ngoài cái thế giới đó. Giữa lúc tiền đồ còn mờ mịt, mưa gió hãi hùng này, cái thế giới này há cũng chẳng đáng cho tôi lưu luyến lắm sao…
Cô bất chợt vén rèm cửa lao vào.
- Tôi nói cho anh biết – Cô ngồi xuống giường sắc mặt hầm hầm – Anh đừng có mà ôm khư khư lấy cái việc cũ kia của tôi, không chịu buông tha. Anh cũng có cái để cho người ta túm gáy đấy!
Cô còn đang cài váy, nên bộ ngực đầy đặn của cô càng nhô cao lên khác thường, hai bàn tay bôi đầy kem nẻ, xoa lấy xoa để, như đang vặn vẹo đôi tay mình một cách đau khổ.
- Cái gì cơ?
Tôi ngồi ngay dậy, không hiểu đầu cua tai nheo ra sao. Tôi đã quên phứt câu nói của tôi xúc phạm cô vừa rồi.
- Tôi nói cho anh biết, anh mà cứ túm chặt lấy chuyện cũ của tôi để nằng nặc đòi ly hôn với tôi, thì tôi cũng sẽ túm chặt lấy cái việc hiện nay của anh, cả hai chúng mình rồi chẳng ai tốt đẹp gì đâu!
Đôi mắt cô nẩy lửa, chất chứa oán hờn, không hề có một giọt nước mắt, nhưng xem chừng sắp khóc đến nơi.
- Tôi….tôi hiện nay có việc gì?
Lẽ ra tôi phải lường trước được rằng cô sắp nổi cơn tam bành. Cô thường khi cứ dịu dàng ngoan ngoãn, giống như dòng nước êm đềm kia, nhưng vẫn dần dần tích tụ sức lực cho đền khi đủ mạnh thì thình lình phá vỡ tung toé. Cơn tam bành này của cô, có lẽ đã được tích tụ ngay từ khi cô đang ngâm trứng muối kia, trứng ngâm xong thì cơn giận đã được tích tụ đầy đủ.
- Hừ! Tối nào anh cũng cặm cụi hí húi viết, anh viết cái gì thế? Tôi xem ra cái nhà này rồi đến bại hoại tan nát trong bàn tay anh mất thôi!
- Buổi tối không có việc gì làm, tôi viết mấy dòng, thì liên quan gì đến cô.
Tôi cố làm ra vẻ bình tĩnh hỏi lại cô.
- Tất nhiên là có liên quan đến tôi chứ! Liên quan quá đi chứ! – Cô gào lên – Anh phải biết rằng, bây giờ anh chẳng phải có một thân một mình đâu; anh đã có gia đình, trong gia đình có hai người…
Tôi hít vào một hơi thật sâu: quả có thế, là hai con người! Điều này tại sao lâu nay tôi không nghĩ tới nhỉ? Lại dấu béng đi một người, rồi bắt cô phải gánh lấy trách nhiệm. Nhưng cô đã nói tiếp:
- Hừ! Anh đừng tưởng tôi không biết nhá! Đêm đêm, người anh nằm trên bụng tôi, nhưng lòng dạ anh thì bay đi tận đẩu tận đâu, ai mà biết được!
 Tôi nhếch mép cười khinh bỉ, và lập tức bỏ ngay cái ý định toan nói rõ hết mọi điều với cô.
- Buồn cười nhỉ! – Tôi nói – Tôi đã nói từ lâu, rằng cảm giác của cô nói kỳ lạ lắm, khác người lắm!
- Anh đừng có mà đánh trống lảng! – Cô nói với một sắc mặt rất nghiêm chỉnh – Tôi đã nói với anh ngay từ đầu rằng, chúng mình đừng nên sinh sự với nhau, đừng nên bới chuyện ra, nhưng anh không chịu nghe, cứ đi mua cái chết! Có biết bao nhiêu người chỉ vì trót viết nhật ký mà bị tống cổ vào đội lao cải rồi, anh còn không biết ư? Tội vạ ấy anh è cổ ra chịu chưa đủ hay sao?
- Chưa đủ! - Tôi nói liều một cách lỳ lợm.
- Thế cũng được. Miễn là anh bỏ qua chuyện cũ cho tôi, thì có phải chết, tôi sẵn sàng chết theo anh.
Trong giây phút đó, tôi cảm thấy tình cảm mình xúc động. Đó là câu chuyện từ xa xưa cho mãi đến thời hiện đại vẫn lặp đi lặp lại mãi. Hay là cứ nói quách cho cô rõ tôi đang nghĩ gì, tôi đang làm gì? Nhưng liệu cô có phải là người như vậy không? Rất tự nhiên, tôi liếc nhìn cô một cách vô ý thức: xinh đẹp, khêu gợi, nhưng lại ngu xuẩn. Cô luôn có thể khêu gợi sự thích thú của những gã đàn ông loại như Tào Học Nghĩa, và dễ dàng bị cám dỗ. Trong óc tôi hiện lên hình ảnh một con người, một anh giáo viên tiểu học đã từng viết một bài thơ ca ngợi tình yêu. Anh ta cũng bị tống vào đội lao cải với tôi trong ba năm vì tội “ ngôn luận phản cách mạng ” mà người tố giác chính là vợ anh ta. Tôi bĩu môi đáp:
- Thôi được rồi, có gì ghê gớm đến thế đâu? Thật thà mà nói; tôi chỉ sợ, quên hết chữ nghĩa học được ngày xưa, nên mới viết nhăng cuội đấy thôi….
- Anh chẳng bảo những chuyện trước kia anh không thể nào quên đó sao? – Trên gương mặt cô thoáng một nét cười cay độc, nhưng chỉ thoáng qua rồi tan biến đi ngay, để lộ hai hàm răng trắng muốt. Cô nói với một giọng rất hung hăng - Viết mấy câu nhăng cuội! Anh viết cái gì thì chỉ có anh biết lấy! Có chữ nào dòng nào của anh mà không chống đối lại việc phê phán pháp quyền tư sản, phê phán Tống Giang kia chứ?! Chẳng gì thì tôi cũng đã học đến trung học rồi! Chưa hết đâu! Tôi mua cho anh cái đài, tưởng để anh nghe kịch nghe hát cho đỡ buồn, nhưng mà anh thì tối nào cũng chụp cái tai nghe lên, y như thằng đặc vụ ấy, anh làm cái gì thế?….
- Thôi được, thôi được! Tôi không định cãi nhau với cô!
Tôi hốt hoảng ngăn cô đừng to tiếng ầm ỹ lên, rồi nằm hẳn xuống giường tỏ ý đình chiến.
- Thế anh định làm gì? Anh định làm cái gì? – Cô quay người lại, nhìn thẳng vào tôi, hỏi dồn một chập. Tôi nhìn thấy mắt cô ươn ướt. Nhưng cô đã kìm nước mắt không để nó ứa ra.
“ Tôi định rời bỏ cô! Chẳng những rời bỏ cô, tôi còn muốn rời bỏ nơi này! ”. Nhưng tôi không nói ra, hai mắt tôi đăm đăm nhìn ra ngoài cửa sổ. Ở nơi xa tít tắp kia, trên bầu trời cao cao màu tro kia, có cái gì đó khiến lòng tôi nôn nao. Bên ngoài cửa sổ chỉ có một chú chim sẻ đang chiêm chiếp kêu, bay lướt qua trong gió rét. Căn buồng này thật ấm áp, nhưng tôi sẵn sàng đánh đổi với chú chim kia.
- Tôi những tưởng rằng anh không như những thằng đàn ông khác, anh biết điều biết nghĩ hơn, anh không nhỏ nhen tẹp nhẹp như họ - Cô ngồi bên mép giường kể lể - Tôi nói cho anh biết, bao nhiêu lần những khi anh ngủ say, tôi ngồi bên cạnh anh, tôi sờ anh, tôi thơm anh…nhưng kết quả là anh cũng như những thằng đàn ông vô học kia thôi! Bây giờ anh khỏi rồi, anh bây giờ đã là người hẳn hoi rồi, tôi chỉ trót dại có lần ấy thôi, vậy mà anh cứ túm chặt lấy không tha, cứ nẹt nhau mãi. Tôi nói cho anh biết, không dễ dàng như thế đâu! Những việc anh làm đó, chỉ cần tôi hé ra một tiếng với trên, thì Chương Vĩnh Lân chẳng còn là Chương Vĩnh Lân nữa đâu! Hứ! Anh tưởng rằng tôi ngốc lắm sao? Anh tưởng tôi không biết những ngày này anh có những mưu ma chước quỷ gì ư? Anh tưởng gái này dễ mà phủi bỏ lắm sao?….Không tin anh cứ thử xem!
Những điều kể lể con gà con kê của cô vừa khiến tôi mủi lòng, lại vừa khiến tôi bực bội. Tôi không muốn nhìn cô, nhưng cô cứ nhất định nhìn chằm chằm vào mặt tôi. Lúc dịu dàng ngoan ngoãn thì cô là một con mèo nhỏ, nằm gọn trong lòng anh, mặc anh tha hồ sờ mó vuốt ve. Nhưng lúc gây sự thì cô là con dế bất trị, cứ nằng nặc mặt đối mặt, đầu đối đầu, chọi nhau với anh một phen sống chết.
Đôi mắt cô thâm trầm mà kiên quyết, nhưng trên má đã ngoằn ngoèo hai dòng lệ yếu đuối. Đúng cô chính là như vậy đấy, đấy chính là cô! Ôi tình yêu! Hai tiếng ấy, bao nhiêu cuốn tiểu thuyết dày cộm đã nhắc đi nhắc lại hàng triệu lần hàng tỉ lần, hai tiếng ấy miệng cô chưa từng thốt lên bao giờ. Thế nhưng, đây đích thực là tình yêu của cô, cô yêu đến mức dã man và độc đoán. Tình yêu, quả là thứ vừa khiến người ta quyến luyến vừa khiến người ta chán ghét. Không có không ổn, nhưng thừa thãi quá thì chịu không nổi!
- Hừ! – Tôi lạnh lùng cười khẩy - Chỉ trót dại một lần ấy thôi! Giết người thì cũng chỉ cần một nhát dao là đủ. Chỉ một lần của cô cũng đủ chết điếng cả trái tim tôi rồi. Không sao lành được nữa. Cô lại còn toan đi tố giác tôi, tôi xem cô có dám? Hễ cô hé răng nói với ai một tiếng, thì chúng ta chẳng còn vợ chồng gì nữa hết!
- Rồi anh xem tôi dám hay không dám! – Cô nói. 
0
Trong đôi mắt cô có một thoáng ngập ngừng, một tia bối rối. Cô không biết làm thế nào cứu vãn tình thế bây giờ, nhưng lại không muốn tỏ ra yếu thế. Cô đã nhận ra vẻ lạnh lùng nghiêm khắc trong ánh mắt tôi, nhưng chưa thấy được nguyên nhân của sự nghiêm khắc lạnh lùng ấy. Cô không hiểu tôi. Cô chỉ coi tôi như một phần của cô, bởi thế cô không hiểu được cả bản thân cô.
- Hễ anh còn nhắc đến chuyện cũ của tôi, thì anh sẽ biết tôi dám hay không dám – Cô nhắc lại.
- Cô thật không hiểu gì cả. Việc của tôi với chuyện của cô là hai cái hoàn toàn khác nhau! Thế nào? Cô còn muốn lấy việc đó ra để bắt nẹt tôi nữa không?
- Đấy! Thì tôi cứ nhất định bắt nẹt anh đấy! – Cô bỗng đổi giọng, giở trò ăn vạ lý sự cùn – Anh định thế nào? Anh tưởng muốn rảy tôi ra là dễ lắm đấy phỏng?
- Tôi vốn chẳng hề muốn rãy cô, thế nhưng cô đã giở đến cái giọng ấy, thì dù cô chưa làm như vậy, tôi cũng dứt khoát không rảy cô đi không xong! Tự trong lòng cô, cô biết rõ đấy: ý định cáo giác tôi, cô đã nuôi sẵn trong lòng từ lâu! –Tôi co hai đầu gối lại và rút ra một điếu thuốc lá. Không có cái cớ nào tốt hơn như vậy để tôi rời khỏi cô, tôi nghĩ vậy.
Mặt cô bỗng nhiên bệch ra, tái đi vì tức giận, ngúng ngoảy mấy cái trên giường, rồi cuối cùng quyết định nhảy chồm dậy như một con mèo. Tôi tưởng cô sẽ chồm tới vồ lấy tôi, nhưng không, cô lao ra chiếc bàn viết làm bằng cánh cửa, vồ lấy quyển sổ ghi chép của tôi ghì chặt vào ngực.
Tôi nhỏm dậy, trỏ ngón tay vào cô:
- Cô chả việc gì phải ghì chặt thế, không ai thèm dành với cô đâu!
Nói xong, tôi lại nằm xuống châm thuốc, quẳng que diêm ra cửa, tiện tay trỏ ra cửa nói:
- Tôi xem cô có đặt bước chân ra ngoài không chỉ cần một bước thôi!
Tôi biết cô sẽ không bước ra ngoài, nhưng tôi vẫn mong cô làm như vậy. Tôi cần có một hành vi trái lẽ của cô để an ủi lương tâm của tôi. Lúc định rời khỏi một con người, tốt nhất là để cho người ấy làm một việc gì đó tổn hại đến anh trước.
Cô ngập ngừng do dự, trong chốc lát không biết làm thế nào cho phải. Tôi lại chỉ tay ra cửa:
- Cô có giỏi! Tôi chờ cô bước ra một bước đấy!
- Thế anh còn nhắc lại chuyện cũ của tôi nữa không? – Cô hỏi.
- Sao lại không nhắc? Tôi đã nói rồi, chuyện của cô với việc của tôi hoàn toàn khác hẳn nhau.
Khuôn mặt cô vụt thay đổi hẳn, cơ hồ không nhận ra được nữa, trở nên hoàn toàn xa lạ. Đó là một khuôn mặt đã mất hết lý trí. Cô ôm lấy quyển sổ ghi chép của tôi chạy ra cửa thật rồi, vừa chạy vừa khóc tức tưởi. Tôi ngồi dậy, quẳng thuốc lá, lắng nghe động tĩnh của cô. Cô chạy đến gian nhà ngoài thì dừng lại, nằm bò ra chiếc bàn ăn mà bù lu bù loa lên. Chiếc bình hoa rung lên lanh canh. Cái hố ngăn cách đã được khơi ra, nên lấp hay đào sâu thêm? Tôi đứng bên bờ miệng hố ấy, nhìn xuống phía dưới, đầu choáng mắt hoa, nhưng dưới đáy hố dường như có một lực hút rất mạnh.
Tôi chỉ lao mình xuống dưới đó thì mới thoát ra khỏi hai cái thế giới kia, để đến một vùng trời đất mới hoặc giả lại lao đầu vào cái địa ngục mà tôi từng quen thuộc. Thế là tôi bèn làm ra vẻ hoảng hốt, nhảy từ trên giường lò xuống, bước hai bước ra đến gian ngoài, làm bộ như muốn giằng lấy cuốn sổ.
Cô vốn chỉ dừng lại ở đó, tôi đã không đánh giá sai tình hình: thấy tôi xông ra ngoài, cô lập tức nhảy lên, lại ôm lấy cuốn sổ của tôi, toan mở cửa buồng ngoài, tựa hồ như sắp cầm cái bằng chứng phạm tội đó chạy đi tố cáo. Tôi đưa tay tóm được lấy cô, cô càng ra sức vùng vẫy giãy giụa trong vòng tay tôi. Tấm thân kiều diễm từng kích thích tình dục tôi nổi lên đó, lúc này đây trở nên cứng đờ, thô bạo dữ dằn, đầy thù hằn, vừa dễ ghét vừa dễ sợ. Tôi định cướp lấy quyển nhật ký kia, còn cô hai tay ghì chặt, giữ riệt lấy không buông. Chúng tôi, kẻ kéo qua, người lôi lại. Tấn trò mới diễn đến đó, thì kịch bản bị đứt nửa chừng. Diễn viên chẳng biết nên diễn tiếp ra sao nữa, đành ai nấy bằng vào bản năng của mình mà nhập vai diễn rất thật cái tấn trò giả ấy.
Giữa lúc đó, cửa bật mở. Đen ở đâu nghiêng người lách vào. Chúng tôi đều quá bất ngờ, không kịp đề phòng, vẫn giằng co nhau. Chỉ nhác trông qua, cậu ta đã biết ngay là chúng tôi đang giằng nhau cái gì. Cậu ta khẽ tách các ngón tay của cô ra và nói rành rọt:
- Cứ bỏ ra! Hoàng Hương Cửu, có chuyện gì cứ nói cho hẳn hoi chư!
Cô nhét cuốn nhật ký vào áo tôi, rồi vừa khóc vừa chạy vào buồng trong. Đen đưa mắt cho tôi hiểu ý.
Tôi nhét cuốn sổ ghi chép vào túi áo bông, điều chỉnh lại nhịp thở, rồi theo Đen đi ra ngoài. Gió mùa đông đang khoe hết uy lực của mình, gầm rít dữ dội, thổi tung cỏ khô từ ngoài bãi hoang vào trong xóm nhỏ, và xua hết rác rưởi trong xóm ra đồng. Con đường đất ngoài xóm, cuộn tung đất bụi vàng khè, từng trận mù mịt phả vào rừng cây trơ cành trụi lá.
Hai chúng tôi kiếm được một góc kín gió, ngồi xổm xuống bên nhau, mỗi đứa đều xoay xoay để chắn gió, châm thuốc hút. Rít xong mấy hơi thuốc, Đen nheo nheo mắt nói:
- Tớ thì không trông thấy gì, cũng chưa biết chuyện gì cả. Tớ cũng chẳng hỏi cậu chép cái gì trong đó – Anh đắn đo một chút, nhổ một bãi nước bọt – Nhưng đại loại những việc như vậy tớ đã từng đã trải qua, đ.mẹ nó chứ, cái hồi tớ đang là Hồng vệ binh ấy, trên đường phố Bắc Kinh, đ.mẹ nó, có một con mẹ chó chết đưa cuốn sổ tay sổ tiếc gì đó của chồng đến nộp vào tay tớ. Mẹ kiếp, tớ lúc đó cũng ngu, liền kịp thời nộp lên trên không chút chậm trễ. Cuối cùng là thằng chồng bị kết án, con mẹ chó chết ấy, được giấy chứng nhận ly hôn…..
- Cậu Chương này, tớ bảo, đàn bà nó có lười một chút, ăn tham một chút cũng không sao, nhưng nhất thiết không được để nó thành ra ong trong tay áo! Cậu nghĩ xem, đêm đêm cậu cứ ôm lấy quả mìn định giờ ấy mà ngủ thì ghê tởm biết chừng nào! Tớ đã bảo cậu từ lâu rồi: con này phải nện mới được! Tớ cũng đã nói cho cậu biết: con mẹ chó chết này có tình ý với thằng cai. Lúc đó tớ thấy cậu có vẻ khiếp hãi, cứ tưởng cậu có cái gì hớ hênh để nó túm được gáy. Hoá ra là cái của nợ này! Cậu Chương này, cái này không phải là chuyện chơi đâu! Cái con mẹ chó chết này, cậu còn giữ làm quái gì! Chưa biết lúc nào nó lại tống cậu vào tù đấy. Cậu cứ gọi là, phải tìm cách mà rảy nó ra….
Đường làng hoàn toàn vắng vẻ, gió tưởng chừng thổi bay cả người đi. Tôi chưa rít được mấy hơi, nhưng trong gió điếu thuốc đã cháy hết một nửa. Ai hiểu nổi tình cảm phức tạp của tôi lúc này? Thần kinh không nối liền được mạch tựa như đường dây điện bị đứt, cảm giác không truyền được cho người khác, bởi thế, công việc của người trong cuộc bao giờ cũng hết sức đơn giản trong con mắt của bất cứ một người ngoài cuộc nào.
- Cám ơn cậu! Cậu đã giúp mình đúng lúc. Nếu không, tớ chưa biết còn đi đến cái kết quả thảm hại ra sao. Nhưng còn chuyện cô ta thì…..
Đi đến kết quả thảm hại nào? Tôi thừa biết rằng cô cũng chỉ lồng lộn làm toáng lên một lúc thôi. Cái cơn tam bành của đàn bà nó cũng giống như dòng sông chảy trong sa mạc. Thoạt đầu thì ào ào cuồn cuộn, chảy mãi, về sau thì rồi mất tăm mất tích, chẳng thấy đâu nữa. Tức anh ách, tôi ném quách mẩu thuốc lá có dính mùi dầu tây, mẩu thuốc lăn đi vô tội vạ bị gió cuốn mãi ra xa.
- À! – Thình lình, chợt Đen rùng mình một cái bảo - Mẹ kiếp, con mẹ chó chết lồng lộn lên, tí tẹo nữa thì tớ quên mất! Tớ chạy đến tìm cậu là cốt để báo cho cậu một cái tin, chiều nay đi làm, loa phóng thanh truyền đi: Chu thủ tướng đã qua đời.
- Hả?
Tôi nhìn vào mặt cậu ta, một lúc lâu không nghe rõ cậu ta nói cái gì.
Chóng quá đi mất!
Tôi đẩy cửa ra, tiện tay cầm lấy cái xẻng vẫn để sau cánh cửa, chống cửa thật chặt. Rồi bước đến bên cạnh lò than, mở nắp lò ra. Than trong lò nổ tí tách, lửa bốc đỏ rực. Đó là con mắt của một con rồng chột. Tôi móc cuốn nhật ký trong túi áo bông ra, giật bỏ cái bìa ni lông, xé ruột giấy ra từng tập mỏng, nhét vào trong con mắt chột ấy: đây mày xem đi! Mày kiểm duyệt đi!
Giấy thè ra những cái lưỡi lửa hồng hồng, rồi chuyển sang màu đen, cuối cùng là một màu trắng xám. Tro tàn rơi xuống những hòn than đang cháy, còn lóe lên những đốm sáng, dường như nó đã hoá thành một hồn ma biết hít thở khí trời. Nó là một sinh vật có sinh mệnh, nó là tâm huyết của tôi, nó là thứ hợp chất trong đại não của tôi. Giờ đây nó nằm trong lò lửa, nhưng nó vẫn còn trăn trở, còn vật vã không yên. Đốt thì cứ đốt đi, chứ những ký hiệu trên xác ngươi đó, đã vĩnh viễn ghi khắc trong óc ta rồi. Dù ta có phiêu bạt đến chân trời góc biển nào, dù ta có phải ngồi sau song sắt, ta sẽ còn nhớ được ngươi, giống như người mẹ vẫn nhận ra con mình vậy. Và chắc chắn sẽ có ngày, ta sẽ đem ngươi ra công bố trước nhân dân.
 “ Mùa đông sẽ qua đi rất nhanh, nhưng mùa xuân sẽ không bao giờ đến nữa ”. Không! Mùa xuân rồi sẽ đến.
Cô vẫn ở trong gian trong, nhưng không thấy động tĩnh gì cả. Được một lát, có lẽ ngửi mùi khét giấy, cô vén chiếc màn cửa bằng vải trắng bước vội ra.
- Anh làm cái gì thế kia?
Cô rùng mình một cái, lao tới giằng lấy một chút giấy rách còn sót lại trong tay tôi.
Tôi giơ cánh tay lên ngăn cô lại.
- Cô định làm gì nào? Còn toan cầm đi để tâng công chắc?
Cô mở to mắt, trừng trừng nhìn tôi như hết sức xa lạ. Rồi liền đó, cô bủn rủn ngã vật xuống ghế.
- Chương Vĩnh Lân ơi! Tôi nói cho anh biết, rồi anh sẽ chết không nhắm được mắt! Anh đã phụ lòng người quá. Anh cứ tưởng tôi làm như vậy thật sao? Tôi cũng là người chứ!
Mười đầu ngón tay cô vò xé vặn vẹo một cách đau khổ, môi cô dệch ra hai bên một cách giận dữ và đau xót, cặp mắt đỏ hoe đờ đẫn nhìn vào ngọn lửa, nước mắt lặng lẽ trào ra.
Tôi biết cô không bao giờ làm như vậy, nhưng tôi lại không thể không hành động thế kia. Chính vì tôi yêu cô, cho nên tôi không thể nào yêu cô được. Tôi cần phải làm tổn thương cô, tổn thương đến mức cô có thể hoàn toàn quên tôi đi.
Hết rồi! – Tôi nhét tập giấy cuối cùng của cuốn nhật ký vào trong lò lửa – Hai ta cũng đã hết rồi!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-14 06:08:08ĐạoCấy>
                                                     CHƯƠNG NĂM.
 
Sau buổi đi vãi phân ngoài đồng, tan tầm trở về, trên con đường đất đầy bụi vàng khè, đám công nhân nông trường đi thành từng tốp hai ba người. Họ đi rất nhanh, rất hăng hái, chút hơi sức để dành được trong cả buổi làm việc, bây giờ mới bắt đầu phát huy ra.
Hà Lệ Phương cố rảo bước đuổi kịp tôi.
- Anh Chương này, nghe nói anh sắp li dị Hương Cửu đấy à?
- Làm sao cô biết?
- Làm sao em không biết? – Cô ta phì cười, làm như đó là một việc vui mừng lắm không bằng - Mọi người đều biết cả rồi! Hôm ấy Hương Cửu chạy qua nhà chúng em khóc lóc, nhờ anh Đen nhà em sang khuyên can anh.
- Đen bảo sao?
- Đen cứ mặc kệ cô ta.
- Thế còn cô?
- Em trông chị ấy thương ghê cơ.
Hà Lệ Phương vẫn gửi đứa con độc nhất ở Bắc Kinh, còn bản thân cô ta thì cả ngày cứ nhởn nhơ phất phơ ở đội, có lúc sáng bảnh mắt ra tóc chưa chải, mặt không rửa cứ thế ngồi lê đôi mách.. Cô ta khoái nhất là việc ăn uống với chuyện nam nữ.
- Tại sao anh lại ly hôn với chị ấy?
Cô ta cứ hỏi dần từng nấc một.
- Việc gì mà tôi cứ phải báo cáo với cô nhỉ, cô có phải là lãnh đạo đâu.
Cô ta cười hì hì:
- Anh không nói thì em cũng biết!
- Biết rồi thì còn hỏi làm gì nữa!
- Dào, đàn bà mà lị - Cô liếc nhìn tôi một cái rất tình tứ - Anh Chương ơi, anh chẳng hiểu phụ nữ chúng em một chút nào cả. Dù cho chị ấy có ngủ với biết bao nhiêu đàn ông đi nữa, lòng chị ấy cũng chỉ yêu có một người mà thôi. Anh có tin không nào?
Tôi cứ phớt lờ cô ta cắm đầu bước.
- Cứ như em đây này – Cô hào hứng chuyển ngay câu chuyện sang bản thân mình – Em nói giấu gì anh, em ngủ với mấy người đàn ông rồi đấy chứ, nhưng lòng em thì chỉ yêu có mỗi mình anh Đen thôi. Anh có tin không nào?
- Tôi tin.
- Thế thì xong rồi còn gì!
Cô cho là vấn đề đã được giải quyết.
- Nhưng tôi không thể hiểu được, cô chỉ yêu có mỗi mình Đen, tại sao cô còn đi ngủ với người khác?
Cô không hề thấy ngượng mồm chút nào, cười lên khanh khách.
- Vậy là anh không hiểu đàn bà chúng em rồi!
- Chịu không hiểu được! – Tôi thừa nhận.
Hôm nay nắng đẹp lạ thường, cứ như trời đầu xuân ấy. Trên dãy núi đằng tây không hề có một đám mây, cũng không có lấy một chút sương mù. Tận nơi xa tít mù tắp kia, vẫn nhìn rõ được từng mõm đá trần trụi trên đó. Bằng giờ năm ngoái, tôi còn chăn cừu ở trên đó, vậy mà hôm nay, lại đang nói chuyện ly hôn trên con đường này. Đã quen với cuộc sống khô cứng mười năm như một ngày, nhịp đổi thay này khiến người ta chóng mặt. Tôi lại cảm thấy một năm qua hệt như một giấc chiêm bao. Phàm mọi việc gì chưa tới cũng lại hệt như chiêm bao…
- Cơ mà, đàn bà như chị ấy thì anh không thể chung sống mãi được.
Hà Lệ Phương tự nhiên lại khuyên tôi như vậy.
- Sao thế?
- Thứ nhất chị ấy không biết đẻ; thứ hai anh không nghe người ta nói đó sao: “ Trai bỏ vợ, càng bỏ càng sợ; gái bỏ chồng, càng bỏ càng lỳ ”. Đàn bà đã bỏ mấy đời chồng rồi thì chẳng có gì yên ổn nữa, không như em. Thứ ba là…..
- Thôi, thôi! – Tôi đứng dừng lại, chau mày vung tay – Thôi cô đi đằng cô đi! Cô đừng có ám người ta nữa!
- Ơ kìa! Cái anh này – Cô vẫn toét miệng cười trơ trẽn – Em phải dạy anh chứ, đàn bà ấy mà…
- Cô có đi không thì bảo? – Tôi bỏ chiếc xẻng trên vai xuống, khuyên cô ta – Đàn bà, tôi còn hiểu hơn cô nhiều!
Cô vẫn không hề lấy làm phiền, cứ trông tôi mà nhe răng cười, rồi ư ử trong miệng bài “ Tặng anh một đoá hoa hồng ”, cứ thế mà bước đi.
Tôi cứ tường mình đi sau cùng, hóa ra sau tôi lại còn bà Mã nữa kia.
Trong cánh tay khòng khòng của bà vẫn có một bó củi khô như thường lệ. Trong dáng đi, biết là bà đang cố theo cho kịp tôi. Tôi đứng lại bên đường chờ bà ta.
- Rõ khổ….!
Còn cách rất xa, bà đã lên tiếng ca cẩm, giọng dài ra du dương như cô đào Kinh kịch. Nhưng trông nét mặt bà, thì lại chẳng thấy qua một nét nào chứng tỏ bà cảm thấy khổ. Khuôn mặt đầy những vết nhăn chi chít vẫn mỉm một nụ cười: bà đầu ngẩng cao, ngực vươn tới, hai bàn chân giẫm lạch bạch liên hồi cứ như lừa cái đá hất hai vó sau. Tôi nhớ lại câu bà thường nói “ Tục ngữ có câu: đàn ông cúi đầu, đàn bà nghển cổ. Tôi khổ là tại cái dáng đi ấy ”. Kỳ thật, câu tục ngữ ấy là nói về tính cách của đàn bà với đàn ông, chứ có liên quan gì đến số phận với dáng đi đâu. Nhưng bà cứ muốn hiểu như vậy, thì cũng đành tuỳ, bà đã tìm được căn nguyên nỗi khổ của mình, cho nên mới cảm thấy trong khổ có vui.
- Cậu Chương này, tại sao cậu cứ nhất định ly hôn với cô Hoàng thế?
Bà ta đuổi theo kịp, cất tiếng hỏi tôi.
- Chuyện ấy thì bà đừng hỏi nữa, ban nãy đã có mấy người hỏi tôi rồi. Lạ thật! Thời buổi bây giờ, mọi người cứ thích rỗi hơi để ý tới những chuyện không đâu của người khác.
- Mọi người ai cũng quan tâm đến cậu đấy – Bà liếc mắt nhìn sang tôi – Tuy cậu có cái mũ ở trên đầu, nhưng chẳng ai để ý tới nó đâu, cứ coi như không có cái mũ ấy….
- Đúng quả có thế, mọi người đối xử với tôi rất tốt – Tôi trả lời bằng giọng nhạt nhẽo – Nhưng mà hễ có phong trào đấu tố mới là lập tức trở mặt, cánh tay vặn sao nổi bắp đùi. Ai cũng lo giữ cái thân mình mà. Bao nhiêu năm nay rồi bà còn chưa rõ hay sao? Mặt người ta cũng như con thỏ kéo xe ấy mà, bảo quay là quay.
- Lại có phong trào mới rồi phải không?
Bà dẩu môi ra, thầm thầm thì thì hỏi tôi với vẻ kín đáo.
- Bà cũng phải nhạy tin lên một chút chứ! – Tôi cười – Đã có phong trào mới rồi, gọi là “ Phản kích làn gió hữu khuynh, lật lại vấn đề ”. Này thế thư kêu oan của bà ra sao rồi, đã có hồi âm chưa?
- Chưa, cũng may mà chưa có! – Bà lại mừng rơn, y như người trúng xổ số - Hồi ấy, cô Hoàng viết chưa xong, nhờ cậu viết thì cậu lại không viết cho. Tôi định nhờ Chu Thụy Thành, nhưng lão ta cứ ậm à ậm ừ, nay khất mai, mai lại khất tới ngày kia. Tôi bực mình, thôi quách! Số phận thế nào thì phải chịu thế ấy vậy!
- Số bà xem ra vẫn còn khá! – Tôi chúc mừng bà – Không thì phen này cầm chắc bà thành ra một điển hình “ lật lại vấn đề ” trong đội rồi.
- Thế còn cậu?
Bà vươn dài cái cổ ra, hỏi.
- Tôi thì còn phải nói? Tôi không viết thư kêu oan thì cũng cứ gọi là “ lật lại vấn đề ”. Trong xã hội, tôi là cái loại ghi sổ rồi.
- Chao ơi! Vừa mới yên yên được một năm – Bà thở dài bảo.
Tôi bật cười thành tiếng bảo bà:
- Ấy, câu ấy bà chớ nói với ai khác nhé, có một câu ngữ lục mới, lại nhắm đúng vào cái câu bà vừa nói đấy. Đâu như là: “ Lấy ba điều chỉ thị làm cương lĩnh, yên ổn đoàn kết không có nghĩ là không còn đấu tranh giai cấp ”. Bà phải cẩn thận một chút.
- Ôi! – Bà lè lưỡi - Thế là thế nào? Vừa phải yên ổn, vừa phải đấu tranh….
- Cái ấy thì bà tự ngẫm nghĩ lấy!
- Trời đất, đã thế thì, cậu Chương ơi tôi bảo này, cậu đừng có mà ly hôn với cô Hoàng nữa! – Bà giơ một ngón tay lên tính toán cho tôi nghe - Nhỡ có điều gì rủi ro, nói đổ xuống sông xuống biển, lại tống cậu vào tù như cái đận năm 70 ấy, thì còn có người đưa liễn cơm, lo manh áo cho cậu chứ!
- Có vợ là để khi ngồi tù có người đưa cơm, cuộc đời này sao mà khó sống vậy!
La Tông Kỳ xui tôi lấy vợ, cốt để viết luận văn; bà Mã khuyên tôi chớ ly hôn để có người thăm tù, đưa cơm. Té ra cái quan niệm gia đình hiện đại là thế này đây! Tôi bất giác mỉm cười cay đắng.
- Ôi! Còn có cách nào được nữa? – Bà Mã cũng cười – Đó chính là cái số! Tôi nói cho cậu biết, cái cô Hoàng ấy số chẳng ra gì đâu….
- Ủa? Sao bà biết?
- Cậu không để ý cô ta sao? - Giọng bà trở nên thần bí – Trên đường nhân trung của cô ta, tức là ở giữa mũi với môi ấy, có một vệt ngang nhỏ mờ mờ….
Ồ! Thế mà tôi không để ý thấy – Tôi cười hì hì – Nào, để tôi xem xem bà có không nhé?
- Cậu lại tếu nữa rồi! – Bà cười gạt đi – Tôi làm gì có. Chỉ lấy có một đời chồng. Phải là đàn bà đã lấy mấy đời chồng thì mới có!
Giọng bà nghe như là ước ao được có một tiêu chuẩn đàn bà cao cấp như vậy.
- Chà chà! – Bà lại than thở - Cậu thật vô lương tâm quá, cô Hoàng với cậu cũng đáng gọi là cặp vợ chồng trong cơn hoạn nạn đó chứ?
- Chúng tôi đâu đáng được coi là vợ chồng trong cơn hoạn nạn? – Tôi cố nặn ra một vẻ mặt tươi cười – Lúc chúng tôi kết hôn, chính là lúc mà bà gọi là tương đối yên ổn đấy chứ. Bà quên rồi sao?
Dẫu sao thì cậu cũng có trái với lương tâm đấy! Cô Hoàng hầu cậu cái ăn, hầu cậu cái mặc, có điều gì không tốt nào? Cậu đã quên mất cái dáng điệu tội nghiệp khốn khổ của cậu ngày trước rồi: tan tầm về muộn một chút, là cắp cái bát xuồng ngồi xổm trước cửa nhà ăn, y hệt thằng ăn mày; còn cái mặc thì phía trước một mảnh, phía sau một mảnh, có khác gì con lạc đà rụng hết lông! Còn bây giờ thì…- Bà nhìn tôi một lượt từ đầu đến chân - Cậu xem, cậu đã gọn gàng tươm tất, nên người nên ngợm rồi!
0
Chừng như bà lại chạnh nghĩ tới số phận mình, trong ánh mắt toát ra một nét đau buồn chua xót.
Đúng thế, tôi làm sao quên được? – Tôi bâng khuâng như người mất của – Nhưng mà, tôi nói thực với bà: chẳng phải tôi vô lương tâm, cũng chẳng phải tôi làm trái lương tâm, mà là tôi dằn lòng làm như vậy. Vào cái lúc như thế này, tôi không thể dằn lòng như thế!
Cô ngồi một mình ở gian ngoài.
Mấy hôm nay cô không đi làm, không nằm ngủ trên giường thì cũng ngồi thẫn thờ trên chiếc ghế dài. Mọi thứ trong cả hai gian buồng, đã phủ lên một lớp bụi. Cả đến chiếc lọ đựng kem trắng muốt cũng đã mất đi vẻ sáng long lanh, cho nên bước vào phòng sẽ phát hiện ra ngay ánh sáng trong phòng đã ảm đạm đi nhiều lắm, mặc dù tiết trời đã ấm dần lên bên ngoài cửa sổ, và ánh nắng đã bắt đầu tán xạ ra sắc thái của mùa xuân.
Thấy tôi vào, cô trừng mắt nhìn một cách buồn bã và oán hờn, cặp môi khẽ mấp máy hồi lâu, nhưng không nói một câu nào. Cô chỉ ngồi như vậy; cô chỉ ngồi đấy…..Những ngày này, cô tiều tụy đi trông thấy, cũng giống như mọi vật trong nhà này u tối ảm đạm. Tôi đưa mắt quan sát cô kỹ càng, nhưng không hề phát hiện ra có một vệt ngang nào ở khoảng giữa mũi và môi cô, mà chỉ thấy trên vầng trán cô đã có thêm một nét nhăn đứt quãng, như một chuỗi dấu chấm lửng tỏ ý kể sao cho hết.
Tôi cố hết sức nén nỗi xúc động nôn nao toan đến vỗ về an ủi cô. Đã rắp tâm sẵn sàng hiến dâng cả tấm thân mình, thì hà tất còn để lại cho cô một quả đắng nhớ nhung. Tôi cởi áo bông ra. Rửa mặt xong, tôi xắn tay áo lên, cố làm ra vẻ bận rộn, cầm lấy chiếc chậu rửa mặt bỏ không trên bàn thớt, mở cái bao đựng mì sợi ra. Lúc này cô mới lên tiếng:
Anh không phải nấu nướng gì nữa đâu! Cơm em đã nấu cho anh rồi, để bên bệ lò ấy, chắc còn nóng đấy - Ngừng một lát cô nói tiếp – Anh yên tâm. Tâm địa của em có tồi tệ đến mấy, cũng chẳng đến nỗi bỏ thuốc độc vào cơm cho anh đâu.
Trên nồi cơm trắng tinh đầy ắp là một đĩa trứng rán. Mùa đông chẳng có thịt cá gì, trứng vịt trứng gà của nhà đẻ ra là thức ăn ngon nhất của công nhân nông trường rồi. Rán được đĩa trứng thế này thì ít ra cũng mất nửa lạng mỡ đây, tôi nghĩ bụng. Bên cạnh đĩa trứng rán, còn có một đĩa dưa chua đã xào lên, thái rất nhỏ, trên những sợi rau xanh sẫm có rắc mấy lát ớt tươi đỏ mọng. Đỏ, xanh, vàng, ba thứ màu cơ bản ấy hợp thành một sắc thái u uất đau buồn, khiến người ta xót xa. Ngày chúng tôi cưới nhau, bà Mã đã khen cô: “Đàn bà khéo tay, muối dưa ngon đáo để! ”, rồi hôm nay cũng chính bà nói cô “ có số khổ ”, có lẽ đúng là đàn bà khéo tay cũng như người trí thức đều là những người có “ số khổ ” cả chăng?
Tôi ngồi ăn sao mà khó nuốt quá. Đầu đũa cứ chọc từng hạt cơm một. Bỗng nhiên tôi hiểu rõ: mấy ngày nay, bữa nào cô cũng thổi cơm cho tôi, mặc dù chúng tôi chỉ được phát có tí tẹo gạo, có lẽ là cô có ý chiếu cố cái tì vị người miền nam của tôi chăng? Mặc dù tôi đã cải tạo hết cái thói quen của người miền nam từ lâu rồi. Tôi bất giác ngước mắt lên. Cô vẫn ngồi cạnh chiếc bàn ăn, quay lưng lại tôi, cái lưng hơi còng còng, hai bàn tay chồng lên nhau trên đầu gối, trông như một pho tượng của Mi-ken-ăng-gê-lô vậy. Ánh nắng đầu xuân từ ngoài cửa sổ rọi vào, vẽ thành một vòng sáng dìu dịu như cái quầng trăng xung quanh cô. Lúc đó, tôi chợt nghe trong tim mình vẳng lên một giọng nói rành rọt: “ Mày nhớ lấy nhé! Mày nhớ lấy nhé! Sau này rồi mày sẽ nhiều phen nhớ lại khung cảnh này, mày sẽ phải hồi tưởng lại mọi thứ này đây với một nỗi lòng đau khổ và buồn thương. Mày nhớ lấy nhé! Mày hãy ghi kỹ vào lòng tất cả mọi thứ này đi! ”….
Tối đến chúng tôi đi ngủ, không nói với nhau câu nào. Sau khi giật công tắc đèn, cô bỗng buông một tiếng thở dài rồi nói:
Cái nhà sắp tan rồi, tôi biết mà. Hôm nay, lũ vịt và con mèo nhà mình đều không thấy đâu nữa cả. Anh đừng tưởng, những sinh linh nhỏ bé thường nuôi trong nhà ấy, chúng nó khôn đáo để đấy! Nhà sắp tan, người trong nhà sắp ngộ nạn, chúng nó còn biết trước cả người cơ, chúng nó đều chạy trước cả người rồi đấy!
Không hiểu vì sao, tôi có cảm giác là tiếng nói của cô đã phải xuyên qua bóng tối rất dày đặc mới truyền tới tai tôi. Giọng nói đấy đã bị bóng đêm lọc hết mọi sắc thái tình cảm, trở nên bình tĩnh, khô khan và yếu ớt lạ. Nếu người chết mà nói được thì tiếng nói chắc cũng giống như thế. Tôi lạnh cả người đi. Thì ra trong hai gian nhà này đã có một sức mạnh thần bí siêu nhiên nào luồn vào, bí mật vén bức màn thời gian lên, phơi bày cho chúng tôi nhìn thấy trước viễn cảnh tương lai. Nằm trong ổ chăn, tôi nín hơi nhịn thở chờ đợi cô nói tiếp, nhưng cô không nói gì thêm.
Một lúc rất lâu, tôi cố lấy hết can đảm hỏi:
- Cả mèo và vịt đều không thấy nữa ư?
Cô không trả lời.
- Ngày hôm nay à?.
Cô vẫn không trả lời.
- Lạ nhỉ?
Cô vẫn không lên tiếng.
Tôi thấy sờ sợ. Nhưng tôi vẫn nghe thấy được nhịp thở rất khẽ, mong manh như sợi tơ nhện trước gió của cô, hơi thở ấy đang phập phồng thoi thóp trong cái nhà sắp tan này. Một lát sau nhịp thở lúc mạnh lúc yếu, nhịp nhàng liên tục, mong manh trước gió như tơ nhện ấy, dần dần cuộn tròn như một con rắn khoanh lại thành một vòng sáng xanh lè, tròn vành vạnh, thoạt trông rất giống với nguyệt thực toàn phần, nhưng định thần nhìn kỹ lại thì là một họng súng đen ngòm, một họng súng khủng khiếp, một họng súng khổng lồ trùm lên trời đất. Chính giữa vòng sáng ấy là một khoảng bóng đen sâu hun hút không biết đâu là đáy, trên đầu là một viên đạn, đang nhắm thẳng vào tôi. Tôi vô cùng kinh hoảng, vùng vẫy quẫy cựa toan chạy trốn. Trong cơn quẫy cựa vùng vẫy ấy tôi đã hoá thành con mèo mun – con mèo mun đã mất hút hôm nay ấy - chồm lên nhảy xuống hết bệ lò, bàn thớt lại đến bàn ăn.
Nhưng họng súng kia vẫn chĩa vào tôi. Thế là tôi lại biến thành những con vịt - những con vịt đã biến mất của chúng tôi – co đầu rụt cổ lại trong chuồng vịt, nhưng họng súng lại bịt đúng cửa chuồng, nhắm đúng vào cái xó tôi đang nấp. Hay là hoá thành con chuột vậy! Tôi vừa chợt nghĩ thế thì đã biến luôn thành con chuột. Nhưng vừa toan chui vào hang, thì từ trong hang đã ùa ra vô số những thằng người tí hon to vừa bằng hạt đậu vàng, tay cầm những lá cờ nhỏ xíu, giương những băng khẩu hiệu nhỏ li ti, ra khỏi hang là chạy lung tung bốn phía loạn xạ lên, như vô số những viên đạn bắn ra tua tủa. Chúng lại la hét ấm ĩ, cố hé to hết cỡ những cái miệng tí xíu đến nực cười, dường như vô cùng phẫn nộ. Tôi nghe không hiểu chúng la hét những gì, chỉ thấy lòng tôi thầm nhủ rằng chúng là những con người vừa mới hoá kiếp từ loài chuột sang, chúng vẫn nói bằng ngôn ngữ chuột. Trước con chuột khổng lồ là tôi, chúng vẫn coi như không nhìn thấy, chúng giận dữ kéo nhau từng bầy chạy qua trước mặt tôi, loáng cái đã chạy biến đi hết, cuối cùng chỉ còn lại một thằng người tí hon ngã lăn đùng ra đất, ngửa mặt lên trời, bốn chân quẫy đạp lung tung.
Tôi ghé mắt nhìn sát tận nơi thì mới phát hiện ra chẳng phải thằng người tí hon nào, hoá ra là đứa hài nhi bị vứt bỏ mà tôi bắt gặp, đã nhìn thấy trên đường đi Tân Cương năm 1960. Đứa hài nhi bị vứt bỏ ấy, da mặt nhăn nheo, như một ông già, nhưng lại không có râu, nó vừa khóc vừa gào lên: “ Tôi là mụ goá! Tôi là mụ goá!…. ”
Chẳng hiểu vì sao, đứa hài nhi ấy lại bị dòng nước mắt của chính nó chảy ra ăn mòn. Bị ăn mòn trước hết lẽ tất nhiên là đôi mắt nó, rồi đến cả khuôn mặt nó, thế là cái mặt của nó biến thành vô cùng gớm ghiếc rùng rợn. Cuối cùng cả người nó biến thành một vũng nước. Tôi cảm thấy dâm dấp ướt, tôi cảm thấy lạnh lẽo, cảm thấy có một bãi nước gì nhầy nhụa dính bết lấy chân tôi. Tôi cúi đầu nhìn xuống: nào phải thứ nước gì đâu, chính là một vũng máu tươi tràn trề lênh láng. Vũng máu ấy chẳng khác nào đầm ao mà bờ đất bị vỡ nát, đang bốc lên một mùi tanh thối lợm mửa. Tôi định vùng chạy ra khỏi vũng máu đã thành ao ấy, nhưng vừa ngẩng đầu lên, lại đã thấy cái họng súng xanh lè kia.
Nó vẫn chĩa vào tôi, nó từ đầu đến cuối luôn luôn chĩa vào tôi….Tôi đành liều lĩnh bước về phía nó, lòng mang nặng nỗi bi ai, chứa đầy tình cảm dữ dội. Tôi đi tới nó mỗi lúc một gần, nó thì lại mỗi lúc một nhỏ đi. Họng súng thép xanh lè ấy bỗng nhiên mềm nhũn đi, buông thõng xuống, dần dần thành ra một cái thòng lọng treo cổ có hình thù một giọt nước mắt, một sợi dây treo cổ trơn bóng đáng yêu. Cùng lúc đó, một tiếng nói rất to rất vang, bảo tôi:
- Đây là chốn yên nghĩ của nhà ngươi! Đây là chốn nhà ngươi yên nghỉ!
Tôi giật mình bừng tỉnh, tiếng thét kia dường như hãy còn dư âm chưa dứt: “Đây là chốn yên nghỉ của nhà ngươi! Đây là chốn nhà ngươi yên nghỉ!…. ”. Trước mắt cái thòng lọng kia vẫn treo y nguyên trong bóng đêm. Cái miệng vỏ chăn tì đúng vào cổ tôi, cho tôi cái cảm giác đang thắt cổ. Tôi kéo đầu chăn xuống phía dưới, vẫn nằm yên không nhúc nhích, để cho cơn ác mộng khủng khiếp ấy tự tiêu tan dần.
Lúc này, tôi lại nghe nhịp thở khe khẽ, mong manh như tơ nhện trước gió của cô, nhịp thở ấy lan toả mãi vào trong đêm. Tôi bỗng cảm thấy hơi thở cô sao mà thân thiết, sao mà êm tai, sao mà quặn lòng da diết. Ôi! Anh muốn hít lên làn hơi em thở ra đó vào thật sâu trong hai lá phổi của anh, để anh mang nó đến chân trời góc biển, để nó lắng vào hồn anh, cho mãi tới khi anh lao xuống nơi an nghỉ mà số mệnh đã dành cho anh, cho mãi tới khi anh sẽ hoá thành tro bụi….
 
 
 
 
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-14 12:05:38ĐạoCấy>
                                                                CHƯƠNG SÁU.
 
La Tông Kỳ rút trong ngăn kéo ra mấy tờ giấy trắng, đẩy tới trước mặt tôi.
- Cậu thật là kỳ quặc vô cùng!
Vẻ mệt mỏi, anh dựa lưng trên chiếc ghế mây, đưa mắt nhìn tôi:
- Tớ là người đảng viên cộng sản, tớ làm sao có thể cấp giấy giới thiệu khống chỉ cho cậu được?
Trên giấy trắng, con dấu đỏ chói đã đóng sẵn ở góc dưới bên phải theo đúng quy cách. Cái tiêu đề trên đầu tờ giấy viết thư cũng như con dấu ở phía dưới đều là của cái nông trường do anh lãnh đạo. Mấy tờ giấy trắng kia vì đã có sẵn con dấu đỏ roi rói kia mà trở nên vô cùng quý giá. Từ trên bàn viết, tôi cầm mấy tờ giấy lên, gập lại cẩn thận, đút vào túi ngực trong chiếc áo bông, ý tứ trả lời:
 - Cậu không cho tớ cũng chẳng sao. Thời buổi bây giờ nhân viên điều đi chuyển lại khắp cả gầm trời này, cái thứ giấy giới thiệu khống chỉ này thì đầy ra đấy, nhặt ở ngoài đường cũng có.
Nhà anh vẫn như một năm về trước, mom không khác mấy, duy có gian bếp anh chái thêm năm ngoái thì đã có phần cũ nát, vách đất dạo mưa to ấy đã bị xói trơ cả rơm ra. Trong nhà, tuy đồ đạc bày biện vẫn thế, không giảm bớt cái thứ gì, nhưng trong con mắt tôi, dường như tiêu điều xơ xác đi nhiều lắm. Bức chân dung thủ tướng Chu Ân Lai do một phóng viên I-ta-li chụp năm xưa treo trên tường nhà phía bắc, trên khung ảnh thắt một băng lụa đen, hai đầu buông rũ xuống, quét trên chiếc bồn trong có một khóm trúc hoa võ vàng mất hết sinh khí. Chiếc sô-pha tự tay anh căng đệm lấy, đã mất hết sức đàn hồi từ bao giờ, tôi ngồi lên đó mà như ngã xuống hố đất. Còn bản thân anh thì cũng gầy rộc hẳn đi so với một năm về trước, hai mai đã mọc đấy tóc bạc, đã thế anh lại ngồi trên chiếc ghế mây cót ca cót két, càng gợi trong tôi một cảm giác lạnh lẽo thế nào ấy.
Đã sang xuân rồi, mà khắp nơi, đâu đâu cũng đem lại cho người ta một cảm giác lạnh lẽo băng giá.
Diễn xong màn kịch trên đây, anh nói:
- Thư cậu gửi cho tớ, mất năm hôm mới tới nơi. Chỉ có bốn mươi dặm đường, mà làm sao đi lâu thế? Tớ cầm lấy phong bì xem đi xem lại, chỉ sợ thư đã bị kiểm duyệt rồi – Anh cười với một nét mặt thật khổ sở - Cậu đừng thấy tớ bây giờ đã là trại trưởng, thật ra vẫn suốt ngày lo ngay ngáy, chẳng khác gì khi còn ở trong tù….
- Thì chúng mình từ trước tới nay có ra khỏi nhà tù bao giờ đâu – Tôi nói.
- Đúng thế - Anh thở dài đau xót - Mấy năm nay, tớ cũng đã thành kẻ thối mồm mất rồi, cứ nói gở câu nào là y như rằng đúng câu ấy; còn có nói câu nào mong muốn điều tốt lành thì cấm có được thực hiện bao giờ! Cậu có nhớ những gì tớ nói với cậu năm ngoái không nào?
- Sao lại không nhớ! Có điều là sự việc ập tới sao mà chóng thế?
- Cậu còn cảm thấy chóng ư? Tớ cảm thấy lâu quá là đằng khác – Anh nói giọng ngao ngán - Mấy năm nay, đất nước chúng mình cứ như tảng đá lăn xuống dốc, càng về sau càng lăn nhanh. Tớ xem ra bây giờ coi như đã lăn xuống đến vực rồi.
Anh ngẩng đầu lên, hai mắt ngước nhìn lên trần nhà, cánh mũi mấp máy, dường như ngửi thấy cái mùi gì ở đâu bay đến. Trong cặp mắt anh là cả một nỗi chán chường bi đát, đúng dáng vẻ của một người đã trải qua nhiều cay đắng, đã chịu quá nhiều giày vò của những lần hy vọng mà cuối cùng mất hết. Tôi hiểu được nỗi lòng đó.
- Đúng là sắp đến tận đáy rồi – Tôi đáp – Có điều là, tôi cảm thấy sẽ còn một phong trào nữa, một cuộc vận động thực sự thuộc về nhân dân.
- Còn có một phong trào nào thực sự thuộc về nhân dân đâu? – Anh cáu kỉnh xoay mình trên chiếc ghế mây – Bao nhiêu năm nay chúng ta đều đã vận động quần chúng, nhưng lại nói là phong trào quần chúng.  Một phong trào thực sự thuộc về nhân dân ư? Thế thì lại sẽ bị quy chụp cho là sự kiện “ phản cách mạng ”! Cậu không tin thì rồi chúng mình sẽ cùng xem.
- Dù cho có bị quy chụp là sự kiện gì đi nữa, nhưng một phong trào đích thực của nhân dân nhất định sẽ đến! – Tôi đã nói ra được những điều mấy ngày nay vẫn ấp ủ trong lòng – Chu thủ tướng đã qua đời, Đặng Tiểu Bình lại bị hạ bệ rồi, kế đó là triển khai cuộc “ phản kích làn gió hữu khuynh lật lại vấn đề ”, hết loạt này đến loạt khác những người thuộc phái dân chủ như cậu đều sẽ đổ hết. Những lớp bình phong che chắn cho nhân dân đều đã sụp đổ cả rồi, giờ này đây nếu như nhân dân Trung Quốc vẫn không tự mình đứng ra lên tiếng, không bước lên tuyến đầu tranh đấu, thì một nghìn triệu người Trung Quốc sẽ không còn tư cách để sinh tồn trên trái đất này nữa! Thì chúng ta đúng là dân tộc khiếp nhược nhất, yếu hèn nhất, kém cỏi nhất trên thế giới này! – Nói đến đây, mắt tôi không nén nổi những giọt lệ trào ra – Chúng ta đã bị sỉ nhục mười mấy năm, bị bỡn cợt mười mấy năm nay, lẽ nào đến cái lúc thí nghiệm thất bại và ném chúng ta vào cái chỗ chết, mà chúng ta cũng không kêu lên được một tiếng “Ôi đau quá! ” hay sao? Con người mà tê liệt đến nỗi không kêu lên được một tiếng “ đau ” nữa, thì thực sự quả là con người chết cũng đáng kiếp!…
Cổ họng nghẹn tắc lại, tôi ngồi đờ ra trong cái hố của chiếc sô-pha tự tạo. Anh cũng ngồi im không nhúc nhích trên chiếc ghế mây. Cả căn nhà phút chốc yên tĩnh lạ thường. Nhưng những đợt sóng cồn tình cảm đã trào dâng, ầm ầm chuyển động. 
Một hồi lâu, anh mới đắn đo hỏi tôi:
- Vậy thì, cậu định làm gì nào? Đi ư? Đi tới đâu?
- Tớ vẫn chưa có kế hoạch nhất định – Tôi cố hết sức lấy lại bình tĩnh, cười lạnh lùng – Đây là những năm tháng rối ren, đến cả nước cũng không có kế hoạch, chứ đừng nói cá nhân! Tớ chỉ biết rằng, ở đây thì không thể nào nán thêm được nữa. Cả hai khái niệm “ hữu ” và “ lật lại vấn đề ” đều liên quan đến tớ, hễ phong trào mà thâm nhập, thì tớ sẽ là thằng đầu tiên bị tống giam vào ngục y như cái năm 70 ấy thôi. Để cho ngọn lửa sinh mệnh dần dần lụi tàn đi trong tù ngục, thì sao bằng chịu cho gió bão dập vùi trong một cơn giông tố! Mặt khác cậu biết đấy, hồi năm 68 tớ ở đội lao cải ra đã từng ngây ngô khờ khạo đi tìm kiếm bộ tư lệnh Lưu - Đặng, tất nhiên lúc đó thì chỉ có thể kết thúc bằng thất bại mà thôi. Nhưng còn bây giờ, tớ nghĩ, nếu như những người thuộc phái dân chủ các anh mà không đưa con mắt nhìn vào quần chúng nhân dân, vẫn chờ để chịu đòn như lâu nay, chờ người ta tóm cổ các anh tống hết vào tù, còn các anh thì cứ chổng mông lên cúi đầu nhận tội, thì những người thuộc phái dân chủ các anh có chết rục chết mòn cũng là đáng kiếp!…
- Ờ! – Anh giơ tay một cánh lên, cười gượng - Cậu đừng có viết chúng tớ như vậy chứ, tớ ít ra cũng đã tạo cho cậu một chút phương tiện nào đó….
- Đúng! - Một cách tiềm thức, tôi sờ lên ngực – Chính vì cậu đã tạo cho tớ một chút phương tiện, cho nên chúng mình có thể tưởng tưởng mà xem: trong cái lúc hai đứa chúng mình đang ngồi ở đây, thì cả đất nước này cũng đang âm thầm tiến hành biết bao công việc giống như hai chúng mình đang làm đang nói ở đây! Chúng mình không thể là những hiện tượng ngẫu nhiên cô lập. Một đảng viên cộng sản và một phần tử phái hữu, đã hai chục năm nay ai đi đường nấy, thế mà rồi về sau lại đi đến những số phận và tâm tình na ná như nhau, ngồi kề vai dốc bầu tâm sự với nhau ở đây, nếu không thừa nhận là do lịch sử tạo nên, thì làm sao có thể giải thích nổi? Cho nên tớ cảm thấy, không khí cả toàn Trung Quốc hiện nay đang thai nghén một cuộc vận động thực sự của nhân dân. Đất nước chúng ta và Đảng cộng sản Trung Quốc chỉ có thể bắt đầu cuộc sống mới qua cuộc vận động đó.
Cặp mắt sâu thẳm của anh bỗng nhiên nhìn xoáy vào tôi một cách cảnh giác:
- Cậu đã chuẩn bị xong rồi ư? Có….có liên hệ với ai chưa?
- Không – Tôi cười thản nhiên – Làm sao mà có liên hệ gì được? Liên hệ với ai? Cố gắng lớn nhất của chúng ta mười mấy năm nay không phải là cải thiện mối quan hệ giữa người với người, mà là cắt đứt mọi sự qua lại chiều ngang giữa con người với con người. Thậm chí tớ cho rằng đó là điều tai họa lớn nhất mà chúng đã gây ra. Chúng đã phá hoại sạch trơn mọi thứ tin cậy, thiện ý, nhân đạo và nghĩa hiệp khí khái giữa con người với con người, đã biến con người thành cáo và chó sói. Tình trạng đạo đức suy đồi ấy cũng chỉ có thể gột sạch trong một phong trào nhân dân chân chính, xây dựng nên mối quan hệ mới giữa con người với con người….cho nên cậu không phải sợ, không phải lo rằng tớ hiện đã có mối liên hệ với người nào. Cậu đi làm cách mạng mấy chục năm, giữa cậu với các chiến hữu cũ trước kia, hiện có mối kiên hệ riêng tư nào không? Có thể phơi bày gan ruột với nhau được không?
- Không – Anh thừa nhận – Toàn là “ người xa, trà nguội ”, đã đi là thôi hết! – Anh thở dài một tiếng, đầy cảm khái – Cũng đừng nên nói là không có đi lại, đi lại thì có đấy, nhưng toàn do người ngoài giật dây cả thôi. Một số chiến hữu lâu năm bẵng tin của tớ, thế rồi phải qua miệng người khác mới biết được ở đâu, giờ đây đang có vấn đề gì….
Bỗng nhiên một nỗi buồn sâu lắng không sao ngăn được, bất thần ập đến hai chúng tôi. Hoá ra chúng tôi đang sống giữa một bãi sa mạc, một bãi sa mạc tự nó đang bị vùi dập, và cũng đang vùi dập chúng tôi, mà chúng tôi hoàn toàn bất lực trước nó. Lúc đó, bên kia tường, bên ngoài mảnh sân nhỏ nhà anh, có một người nào đó cất giọng hát lên một cách cô quạnh: “ Gió đông thổi. Trống trận ầm ầm bên tai. Cõi đời hôm nay, rồi ai phải sợ ai…”. Chúng tôi yên lặng lắng nghe, tưởng chừng như sẽ nhận được một điều gợi ý nào đó từ trong lời ca. Nhưng chẳng có điều gợi ý nào hết. Thời buổi này, phàm những tiếng nào gào lên được, hát to lên được thì đều chẳng có nội dung gì, chẳng có ý nghĩa gì sất.
Trầm mặc hồi lâu, anh nói tiếp:
- Có điều là, tớ phải bảo cậu, cái điều mà cậu nghĩ đó…sẽ không có kết quả tốt đẹp nào đâu. Bởi vì – Anh giơ một ngón tay chỉ lên phía trên – Ông cụ hãy còn. Một khi mà ông cụ còn sống, thì mọi thứ đừng hòng thay đổi.
Tôi hiểu – Tôi ngả người trên sô-pha, than thở - Nhưng Chu thủ tướng đã từng nói “ Nhân sinh nan đắc kỷ hồi bác ”, cuộc đời khí được vật bao keo. Toàn bộ tình thế hiện nay đều đã quyết định tớ phải đi vật một keo đây. Người khác có thể chờ đợi, tớ cũng muốn chờ đợi, thế nhưng tớ thì trong ổ cũng không thể ngồi yên được nữa rồi, gậy sắp choảng vào giữa ổ rồi, làm sao còn chờ đợi được nữa? Với những người phái dân chủ như cậu, thì có muốn làm thẳng tay đi nữa, chúng nó cũng còn phải dán mấy tờ báo chữ to lên đã, còn phải phát động quần chúng một chút, còn phải gây thanh thế một tẹo. Chứ còn muốn trị tớ thì những trò hình thức bề ngoài ấy cũng chả cần đến, chúng cứ việc xách cái còng xích tay đến là xong. Mười năm nay, hạng người như tớ bao giờ cũng được dùng làm nền cho hạng người cậu, mà là để đánh đòn phủ đầu. 
0
- Hừ, hừ! – Anh cười gượng gạo - Đấy gọi là trước tiên quét sạch vòng ngoài.
Tôi cũng cười:
- Cũng có thể gọi là trước tiên đập tan cơ sở xã hội của bọn cậu! Mười mấy năm nay tớ vô cùng vinh hạnh được làm cơ sở xã hội của rất nhiều hạng người khác nhau. Trước hết là cơ sở xã hội của bộ tư lệnh Lưu - Đặng, sau đó là cơ sở xã hội của 16 tháng 5, rồi đến cơ sở xã hội của Lâm Bưu và lão hai Khổng. Bây giờ lại vòng trở lại, là cơ sở của “ làn gió hữu khuynh lật lại vấn đề ”, nghĩa là vẫn của Đặng Tiểu Bình. May mà cái lưng tớ luyện mãi bây giờ đã dày như mu rùa, chứ không thì đã bị đạp bẹp dúm.
Nhắc đến “ rùa ”, tôi hơi bị chạm nọc, bất giác đỏ bừng cả mặt. Vừa may lúc đó Chu Thục Quân đã bưng mâm vào, mời chúng tôi ăn cơm. Trên gương mặt chị có một nét bồn chồn lo lắng cố kìm nén và cả một bóng đen sầu khổ. Không khí hồ hởi một năm trước đây không còn nữa. Nhất cử nhất động, chị dường như đều sợ gây nên tiếng động, làm như La Tông Kỳ sắp phải vào ngồi tù đến nơi. Thật ra, chẳng hề có việc gì sảy ra, mọi việc đều chưa sảy ra, nhưng báo đài, mọi thứ công cụ tuyên truyền đã phả luồng hơi độc đến tận từng gia đình, khiến tất cả đàn ông đều ưu tư rầu rĩ, còn tất cả đàn bà thì hồn vía lên mây. Tôi ngồi ăn món bánh rán nhân thịt nạc mà “ thực bất tri kỳ vị ”, chẳng biết mùi vị nó ra sao, chỉ một mực nghĩ thầm trong bụng: quyết tâm của tôi là đúng.
Ăn xong, Chu Thục Quân thu dọn bát đĩa, băn khoăn lo lắng hỏi tôi:
- Anh đi thì cứ đi, chứ việc gì phải ly hôn? Hay là cô ấy?…
- Cô ấy rất tốt! – Tôi vội ngắt lời chị. Tôi không thể nói cô ta xấu, hơn nữa cũng không muốn để người khác ngờ cô ta có điều gì không tốt. Tôi lựa lời cân nhắc từng chữ:
- Có những cặp vợ chồng ly hôn là vì không có tình cảm, có những cặp ly hôn lại là vì tình cảm quá phức tạp. Có thể là, dù tôi không đi, thì chúng tôi cũng phải ly hôn thôi – Tôi cười một cách nhạt nhẽo nói tiếp - Những cặp vợ chồng sống được với nhau đến lúc bạc đầu, có lẽ chính là những cặp biết điều hoà tình cảm ở mức độ thích hợp chăng?
Ngoài cổng, người đàn ông lúc nãy hát vang kia bây giờ đã quay lại, khẽ ngân nga một ca khúc cách mạng khác. Đúng là một con người vui sướng! Tôi nghĩ thế.
Với sự nhạy cảm đặc biệt của đàn bà, Chu Thục Quân dường như đã hiểu, nên không hỏi tiếp nữa. La Tông Kỳ không hiểu được, nhưng cũng không hỏi. Thế là, không khí như đông đặc lại. Tôi cảm thấy vừa đúng lúc nên cáo từ.
- Tôi đi đây!
La Tông Kỳ lập tức rời ghế mây, lật đật đứng dậy. Hình như anh vẫn chưa ra khỏi cảnh tưởng tượng nào đó của anh, bụng dạ vẫn để đâu đâu, cặp mắt thất thần sờ sạc. Một lúc sau, anh mới đưa tay ra, dường như rất ngượng nghịu, bắt tay tôi một cái. Lòng bàn tay anh râm rấp nóng, có lẽ là anh ốm thật rồi.
- Cậu đi nhé – Anh nói.
Ra đến cổng, tôi ngoảnh lại gật gật đầu với Chu Thục Quân, thay cho lời chào từ biệt. Chị đứng giữa nhà, hết sức băn khoăn lo lắng, đưa mắt tiễn tôi ra cổng. Trong chớp mắt, tôi nhìn quanh cả ngôi nhà một lần nữa, nhìn một lần nữa cái gia đình đã cho tôi tình bạn ấy, nhìn một lần nữa cái nơi tôi được nói tất cả những gì muốn nói mà không lo bị tố giác. Có thể là từ nay về sau tôi sẽ không còn trở lại được nữa.
La Tông Kỳ tiễn tôi ra sân. Bên ngoài phía trước một lối đi bằng phẳng là một hàng cây bạch dương cao lớn, đứng sừng sững như một hàng vệ binh, lớp vỏ cây màu bạc đã thấp thoáng nổi lên màu xanh lá. Bên kia hàng bạch dương, mới là con đường cái rải đá cấp phối. Tôi sẽ đi theo con đường cái đi ra cánh đồng.
- Cậu Chương này, tớ tặng cậu vật này nhé! – Anh đưa mắt nhìn bốn phía không có ai, chợt nhớ ra, anh cởi chiếc đồng hồ trên tay – Cái đồng hồ này, chạy vẫn rất đúng, cậu ra đi chắc chắn là rất cần đến nó.
Tôi nhận lấy chiếc đồng hồ. Chiếc kim giây đang hối hả chạy, dường như phía sau có vật gì đang đuổi. Cái này quả là rất cần thiết, số phận kẻ chạy trốn thường là được quyết định ở từng giây. Tôi không từ chối, nhét nó vào túi ngực, cùng với tờ giấy giới thiệu khống chỉ.
- Cám ơn cậu! -  Tôi nói.
Anh xua tay rối rít, miệng lẩm bẩm:
- Ơn huệ gì?…Xem ra mọi thứ đều sẽ giải quyết bằng thời gian….Nếu có việc gì, nhớ viết thư nhé.
- Được, nếu như tớ còn viết thư được.
Tôi đi bộ mười mấy dặm trên con đường đá cấp phối, không hề gặp một chiếc ô tô nào, chỉ có mấy chiếc xe bò chạy ngược chiều, lướt qua. Mấy anh chàng đánh xe vung vẩy chiếc roi trong tay, lưng gập xuống, mặt nặng trĩu lo âu. Họ đi lên phố chở gạch, gạch vụn đỏ cả ván sàn xe. Từ đây có thể nhìn thấu cuối đường cái: một chấm đen nhỏ xíu dưới bầu trời xanh lam.
Đó là một thành phố ồn ào, huyên náo, một thành phố đang khạc lửa dữ dội vào mọi người. Lúc đầu còn dùng chữ nghĩa lời lẽ, nhưng tiếp ngay sau đó là gậy gộc và súng đạn. Phía bắc, con đường mất hút vào trong sa mạc, giống như một dòng sông, rẽ ra thành nhiều nhánh, cho nên cũng không thể nói được đâu là ngọn nguồn của nó. Hai bên đường cái, là những lối mòn nho nhỏ, người ta đi mãi thành đường, vươn dài mãi tới tận cánh đồng. Tôi đi đến một dòng muơng cái cạn nước, thì bắt đầu lên con đường nhỏ chạy về phía đại đội chúng tôi.
Thảo nguyên đã bị những con người học “ Đại Trại ” phá cho tan nát. Khắp nơi trên cánh đồng trống là những thửa ruộng bị bỏ hoá, phủ dày một lớp phèn, giống như một bãi tuyết bẩn thỉu, giống như những đứa trẻ mồ côi buộc dây chuối để tang vậy. Tuy đã trải qua bao phen mưa gió dãi dầu, vẫn nhìn thấy rõ những rãnh cày chằng chịt như những vết thương rạch ngang dọc chồng chéo trên da thịt cánh đồng trống. Cả thiên nhiên lẫn con người phải chịu roi vọt: kết quả của việc học “Đại Trại ” là tạo ra thêm nhiều những bãi trọc, những khu đất chua mặn đến một ngọn cỏ cũng không mọc nổi. Gió xuân hớn hở từ trên bờ sông Hoàng thổi về, thình lình tạt xuống nơi đây nức nở, tỏ lòng đau xót cho thảo nguyên.
      Ôi! Đó là đồng ruộng của tôi.
Đi qua bãi đất chua mặn, xuyên qua những ao đầm đã khô kiệt, là đến một bãi cỏ đã phủ cát. Xung quanh những búi rễ cỏ niệt, đã bám đầy cát sỏi, và gió vẫn còn tiếp tục tung cát tới mãi, càng ngày càng dày, càng ngày càng cao. Thế là những sinh mệnh màu xanh lá cây ấy đã nghẹt thở, chìm lấp và chết. Màu xanh lá cây đang thu hẹp dần không sao cưỡng lại được: sự sống đang biến mất một cách yếu ớt bất lực. Xuân đã về đây. Nhưng nàng Xuân không tìm được chỗ đặt chân. Bởi thế trên mảnh đất màu vàng này không hề có mùa xuân.
Tôi vẫn đi, tôi đi qua cánh đồng chua mặn, đi qua cánh đồng trống phủ cát. Tôi đã rèn luyện được đôi chân quen với những luồng cát chạy. Đôi bàn chân này lúc sinh ra vừa non mềm vừa trắng trẻo, đối với chúng, tất nào giầy nào cũng thô ráp quá, chúng chỉ có thể ủ ấm trong đôi bàn tay của mẹ, nhưng giờ đây chúng đã quen để trần bước qua sỏi đá, bước qua gai góc, lội qua đầm lầy đen nhánh, lội qua đất chua mặn vẫn thường ăn rỗ gót chân người….
Bên kia đất chua mặn và cánh đồng trồng mới là ruộng lúa mì. Ven ruộng lúa mì, vẫn có thể thấy dấu phèn trắng xoá, cây lúa mì mọc lên thưa thớt. Đây là dải đất tranh chấp giữa cái sống và cái chết, ai thắng ai còn khó mà đoán trước được. Đi nữa vào trong, cây lúa mì mới xanh tốt hơn hẳn. Bờ ruộng đã nhú những mầm non của loài cỏ đắng, và có cả cỏ xanh mềm mại. Đất mùa xuân không cần tưới cũng vẫn ẩm ướt, mềm mại. Trong không khí có một luồng hơi thở màu xanh lá cây. Mùa xuân năm ngoái, cũng tiết này, tôi trở về đại đội cũng bằng con đường này. Cảnh sắc lúc đó so với bây giờ chẳng có gì khác nhau, dường như suốt một năm qua chẳng xảy ra việc gì hết, mọi thứ chẳng qua chỉ là ảo giác của tôi, chỉ là chiêm bao của tôi..
Trước kia, khi đứng trước tai họa thình lình ập đến không sao hiểu nổi, tôi thường hay ảo tưởng, giá mà thời gian có thể quay ngược lại được, giá có thể cho tôi được bắt đầu lại cuộc đời từ một ngày một năm nào đó, thì hay quá. Như vậy thì tôi sẽ có thể khôn hơn một chút, trốn thoát cơn tai họa hoàn toàn có thể tránh khỏi này, hoặc giả chuẩn bị được đầy đủ hơn để đón tiếp cơn tai họa không sao tránh khỏi được ấy. Vậy thì, giờ đây phải chăng vẫn để cho thời gian quay ngược lại, quay ngược về giờ này năm ngoái.
Không!
Cho dù có phép thuật nào có thể giúp tôi bắt đầu lại cuộc đời kể từ lúc đó, thì sau khi đi từ đây về đại đội, tôi vẫn sẽ cầu hôn với cô ta giống như năm ngoái vậy. Một năm nay là thời gian đẹp nhất trong cả cuộc đời ngắn ngủi của tôi. Dự cảm báo cho tôi hay, tất cả mọi thứ đó sẽ không bao giờ tái diễn. Từ nay về sau tôi sẽ không còn vấp phải nỗi nhục nhã như vậy nữa, không thể chịu lại nỗi đau tinh thần như thế nữa, nhưng cũng từ nay sẽ không bao giờ sướng vui và hạnh phúc như vậy nữa.
Những cảm thụ nhất định nào đó trong cả đời người chỉ có thể có được một lần.
Tôi vẫn đi, sải những bước chân nặng nề.
Tôi đang đi về nhà. Sau khi trở về thì sẽ ly hôn, điều này cũng giống như việc trước đây chúng tôi nhất định phải kết hôn với nhau vậy, đều là có số cả.
Ôi! Cánh đồng trống của ta, bãi đất chua mặn của ta, ruộng vườn đã phủ cát của ta, cao nguyên hoàng thổ bao la của ta, ta sắp phải từ biệt ngươi. Ngươi cũng như cô ta vậy, từng bị người ta vùi dập, bị người ta chà đạp, nhưng cũng đã từng mình trần như nhộng, cam tâm tự nguyện nằm dưới kẻ khác. Ngươi đã từng bất trinh với ta, từng lừa dối ta, giày vò ta, ngươi là một bãi đầm lầy khô kiệt, bao nhiêu mồ hôi ta đổ xuống tưới lên ngươi đều chẳng để lại chút dấu vết nào. Ngươi xấu xa đê tiện như vậy, nhưng lại đẹp đẽ đền gần như là thần kỳ. Ta nguyền rủa ngươi, nhưng ta lại yêu ngươi. Ngươi, đất đai như ma quỷ, và đàn bà như ma quỷ, ngươi đã hút kiệt mồ hôi ta, nước mắt ta, cũng đã hút kiệt tình yêu của ta, bởi thế, ngươi cũng đã hoá thành hồn ta rồi đó.
Tôi vẫn đi, bất giác để rơi một giọt nước mắt cuối cùng, thấm vào đất đai màu vàng dưới bàn chân tôi giữa ngày xuân.
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-17 10:56:40ĐạoCấy>
                                                                               CHƯƠNG BẢY.
 
                                                                           Ngữ lục Mao chủ tịch.
                                                                   Phải làm thật tốt đấu, phê, cải.
 
                                                                                       Đơn xin.
Nay chúng tôi là Chương Vĩnh Lân, Hoàng Hương Cửu, công nhân nông trường đội ba, từ năm ngoái kết hôn tới nay, luôn luôn tình cảm không hoà hợp, không thể thực hiện tốt đoàn kết gia đình. Tiếp tục như vậy nữa, không lợi cho việc sản xuất của nông trường, cũng không có lợi cho việc cải tạo của cá nhân. Hai chúng tôi đã bàn bạc và nhất trí đồng ý ly hôn. Việc xử lý tài sản lúc ly hôn, do hai chúng tôi giải quyết. Từ nay về sau, hai chúng tôi hứa phát huy sức lực nhiều hơn trong việc xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội và trong việc cải tạo của cá nhân. Nay kính xin, mong được lãnh đạo phê chuẩn cho!
                                                                                                                                       Kính chào.
                                                                                                                               Chương Vĩnh Lân.
                                                                                                                                Hoàng Hương Cửu.
                                                                                                                                 Tháng 3 năm 1976.
Tôi bày lá đơn trước mặt Tào Học Nghĩa.
Mắt Tào Học Nghĩa né tránh ánh mắt tôi, nhìn xoáy vào lá đơn; môi chúm lại, cặp lông mày khẽ chau lại. Anh ta xem đi xem lại, thoạt đầu không biết nên trả lời thế nào.
Tôi chẳng đợi anh ta mời, kéo ngay một cái ghế đẩu lại ngồi đối diện trước bàn giấy của anh ta, dựa lưng vào tường, châm một điếu thuốc lá. Mắt tôi không rời khỏi mặt anh ta một phút nào.
Anh ta bỏ chiếc mũ bộ đội màu xanh lá cây xuống, gãi gãi mớ tóc như bàn chải, rồi lại đội lên. Một chân anh ta rung rung, khiến bên vai lắc lư theo. Tay kia của anh ta lúc thì sờ sờ vào lọ mực, lúc lại xoay xoay tờ giấy trước mặt, có lúc cầm bút lên, nhưng giữa lúc tôi đinh ninh là anh ta sẽ hạ bút ký cho một bút ký “ vàng ngọc ” của anh ta, thì anh ta hạ bút xuống.
- Tôi có nghe nói. Tôi có nghe nói….
Cuối cùng anh ta làu bàu.
- Nghe ai nói vậy? – Toi hỏi dồn anh ta một chập khá căng – Nghe Hoàng Hương Cửu nói phải không?
- Đâu có, đâu có…..Không phải! – Anh ta vội vàng thanh minh - Mọi người đều đồn như vậy.
Tôi không nói gì nữa, ngồi chờ anh ta.
Tôi vẫn nghĩ rằng anh ta sẽ có thể vặn vẹo về câu ngữ lục chẳng ăn nhập gì với nội dung đơn, nhưng anh ta lại không chú ý gì đến nó. Thật ra tôi đã chuẩn bị sẵn đâu đấy, nếu anh ta bắt bẻ thật thì tôi sẽ “ thỉnh thị ” anh ta luôn, hỏi có câu “ ngữ lục Mao chủ tịch ” nào thích hợp cho đơn ly hôn. Trước lúc bỏ đi khỏi đây, tôi sẽ nổi một cơn i-xtê-ri chính trị để biểu thị một chút phẫn nộ vừa đáng thương lại vừa nực cười. Chờ đến khi họ đến bắt tôi, thì tôi đã cao chạy xa bay một cách đầy kịch tính. Nhưng anh ta đã không cho tôi một cơ hội làm người như vậy.
Bên ngoài văn phòng, ánh nắng rực rỡ. Trước cửa sổ có một bóng người lướt qua. Anh ta ngẩng đầu lên nhìn một cái. Giờ đây, anh ta đang mong có người nào vào để cắt ngang công việc. Nhưng tôi đã chọn đúng lúc như thế này, giờ này thì ngay cả Hoàng Hương Cửu cũng đang làm ở ngoài đồng.
- Liệu còn có….hoà giải được không? – Anh ta kẹp lấy tờ giấy ngoẹo đầu, chậm rãi hỏi tôi.
- Để ai đến hoà giải? – Tôi hỏi - Để nông trường bộ cử người đến chăng?
Anh ta đã nhận ra ý nghĩa của câu hỏi, nên cười hết sức gượng gạo:
- Việc gì phải nhờ đến nông trường bộ? Ở đội chúng mình, có ai thân với các bạn không? Chàng Đen thì thế nào?
- Tôi thấy, thôi cứ là người ngoài đường xen vào là tốt nhất – Tôi trả lời lạnh nhạt.
- Quả có thế! Thế cũng được…. – Anh ta tỏ ra vẻ đồng ý – “ Quan công minh cũng khó sử việc nhà mình ” mà!
Tôi muốn cầm lọ mực để trên bàn mà đập vào cái khuôn mặt chữ điền đen thui của anh ta. Nhưng đó chỉ là cơn điên khùng trong nháy mắt của tôi thôi. Tôi rất xấu hổ: trước mặt “ lãnh đạo ” mà thực hiện được cử chỉ của một trang nam nhi chân chính, e còn cần phải có một quá trình, còn phải “ cải tạo ” ngược trở lại. Giờ đây, trong lời nói của tôi tuy có xương, có ngạnh, nhưng tư thế ngồi của tôi thì không biết từ lúc nào đã trở nên khom lưng hơn. Mặc cảm thấp cổ bé miệng đã thấm vào dòng máu của tôi, trở thành thiên tính thứ hai của tôi mất rồi.
Nhẫn nại một chút, nhẫn nại một chút! Tôi cố suy nghĩ, theo hướng chống chế cho mình rằng tôi phải cố nhờ anh ta ký cho một chữ, tờ ly hôn này chủ yếu là vì sự an toàn của cô ta. Anh ta thì chỉ mong sao cho chúng tôi ly hôn, nhưng lại phải giả vờ làm bộ như vậy. Đây là một màn kịch che mắt thiên hạ.
- Hương Cửu đã đồng ý chưa?
Anh ta trầm ngâm một lúc, rồi hỏi.
- Tất nhiên là đồng ý rồi.
Tôi trả lời chắc chắn.
- Đây hình như không phải là chữ ký của chính cô ta – Anh ta ghé mắt vào tờ giấy nhìn một lúc, có vẻ như để nói rằng, đấy anh xem, tôi có trách nhiệm với các bạn biết mấy.
- Thế nào? Có cần gọi cô ta đến để ông hỏi không?
- Ờ, cái đó thì khỏi cần – Anh ta cười một cái cười nhạt nhẽo vô vị, hai tay xoa vào nhau thật lực – Tôi còn nhớ đơn xin kết hôn năm ngoái cũng là anh thay mặt viết.
- Bí thư Tào có trí nhớ tốt thật – Tôi đáp.
Anh ta đã tìm được căn cứ, bèn cầm bút lên.
- Nếu hai anh chị đều đồng ý, thì “ lãnh đạo ” phê nhé? Tự do hôn nhân mà lỵ, sau này nếu hai anh chị lại cảm thấy còn có thế tái hôn, thì khôi phục hôn nhân vẫn được. Bây giờ, ly hôn nhiều mà tái hôn cũng lắm.
“ Lãnh đạo ” tức là anh ta, anh ta tức là “ lãnh đạo ”. Nói đoạn, anh ta vạch từng nét một cái tên của anh ta.
Tôi có cảm giác mất mát như vừa đánh rơi một vật gì, vừa qúy giá lại vừa nặng nề, đứng lên theo bản năng cầm lấy tờ giấy. Con dấu với chữ ký, cái quyết địng số phận chúng tôi chính là những cái dấu hiệu nực cười đó. Tôi nói:
- Tôi muốn dọn trở lại gian buồng của Chu Thụy Thành kia, có được không ạ?
Trên khuôn mặt anh ta thoáng hiện lên một tia cảnh giác, nhưng liền ngay sau đó nói bằng giọng thông cảm:
- Tạm thời hãy khoan đã nhé. Gian buồng ấy lâu ngày không ai ở, suốt cả mùa đông không nhóm lửa. Để trời ấm lên một chút rồi hẵng dọn cũng được. Các bạn chẳng đang có hai gian đó sao? Các bạn hãy cứ một người gian trong, một người gian ngoài ở tạm đã, được không?
- Tôi nghĩ ra riêng sớm ngày nào hay ngày đấy.
- Thế thì tùy anh.
Anh ta vung tay một cái.
Cặp mắt anh ta cuối cùng có thể nói bị tôi chộp đúng quả tang. Lúc này tôi mới hiểu được, cái điều năm ngoái cô ta đã nói với tôi ở chuồng cừu. Nhưng anh ta đã ký vào đơn ly hôn, tôi còn có tư cách gì mà kỳ kèo mè nheo anh ta.
- Thôi mặc kệ mày – Tôi nói thầm trong bụng.
Ăn cơm tối xong rốt cục đêm đã đến. Đây là một đêm ảm đạm sầu muộn, khiến người ta hồn vía lên mây. Ánh sáng ban ngày lùi ra dần từng tí một qua khung cửa số bằng gỗ mộc đã cũ nát không quét sơn, như sự sống rời khỏi thể xác từng tí một. Và trong khi đó, hơi xuân lành lạnh cũng thấm dần từng tí một qua khung cửa sổ cũ nát, qua các kẽ hở li ti trên vách đất, khiến không khí trong phòng dần co lại, dần dần ngưng tụ, gian buồng cũng âm u lạnh lẽo như nơi phần mộ vậy.
Dải rừng ngoài đồng nội, tuy chưa nảy những chồi biếc, nhưng thân cây đã căng tràn nhựa sống mùa xuân. Cành đã trở nên mềm mại, rì rào những âm điệu tẻ nhạt trong làn gió đêm. Một buổi đêm khiến người ta thất vọng, nhưng cũng đem lại cho người ta những điều mong ước. Tôi gối đầu lên lòng bàn tay, nằm ngửa trên giường lò, một chú nhện con màu xám lặng lẽ bò trên trần nhà dán bằng giấy báo, tưởng chừng cũng giống như người ta, đang tìm kiếm câu “ ngữ lục ” đầu tiên thích hợp cho sự sống còn và phát triển của mình, thì ra hôm nay là tiết “ kinh trập ”, các loài sâu bọ hôm nay đều bò ra. 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-17 11:11:05ĐạoCấy>
Cô rửa xong nồi niêu bát đĩa ở nhà ngoài, vén chiếc rèm cửa bước vào, tiện tay giật công tắc bật đèn sáng lên. Từ trên trần nhà hắt xuống làn ánh sáng trắng loà chói chang. Tôi lim dim mắt, nhưng không dám nhìn mặt cô. Vẫn như mọi ngày, cô ngả người ngồi lên mép giường, hai tay xoa vào nhau lia lịa. Cô vừa xoa xong ít sáp nẻ người ta bán trong vỏ sò. Cô thích trang điểm, lại rất chú ý giữ da, khác hẳn với những người phụ nữ làm nghề nông từ bé. Giá không bị nhỡ nhàng mà phải đi lao cải, chắc cô đã có một số phận khác hẳn. Thế nhưng cô phải đi lao cải, luân lạc phong trần, đó phải chăng là số phận của cô sao?
Cô mải mê chăm chú xát mãi đôi bàn tay. Tôi đang đắn đo xem nên mở miệng ra sao.
Đàn bà có đức kiên nhẫn kỳ lạ. Đặc biệt là có tài im lặng. Rốt cuộc tôi không chịu nổi, phải hắng giọng một cái, rồi lên tiếng:
- Đơn xin của chúng mình hôm nay đã được duyệt.
Tôi đặc biệt nhấn trọng âm vào hai tiếng “ chúng mình ”.
Cô vẫn không nói gì, vừa bôi kem, vừa tỉ mỉ xem xét các ngón tay của mình, như thể phải tra kem vào từng cái kẽ móng tay vậy. Đây quả là một bãi mìn, nhưng tôi cần phải vượt qua bằng được, thì mới mong sang tới bờ bên kia. Tôi ngồi dậy, lấy tờ giấy cuộn tròn trong túi áo ra, vuốt phẳng, đặt lên mép giường trước mặt cô.
Cô không hề thay sắc mặt, chỉ liếc nhìn tờ giấy một cái, lại tiếp tục xoa tay một lúc nữa, rồi mới đưa hai ngón tay ra kẹp phắt lấy tờ giấy lên, gập lại xé đôi ra.
- Ấy!
Tôi giật mình kinh ngạc, khẽ kêu lên một tiếng, nhưng dừng ngay lại được.Tôi không dám nói tiếp nữa. Lớp băng lạnh giá này cực kỳ mỏng, chỉ sơ ý một chút là tôi sẽ rơi xuống đó, không sao ngoi lên được nữa. Tôi lo lắng sợ hãi nhìn vào mặt cô.
Cô không hề ngước mặt lên, vẫn nhìn vào mấy đầu ngón tay của mình, nói rất bình tĩnh:
- Cần quái gì cái trò trẻ con ấy? Ưng lấy nhau thì chẳng ai ngăn được, mà đã muốn bỏ nhau ra thì chẳng ai có thể buộc chặt vào lại được. Đã chẳng còn tình cảm nữa, thì dẫu không duyệt, cũng cứ tách bỏ được như thường chứ sao?
- Tất nhiên rồi, tất nhiên rồi! – Tôi vội vàng tỏ ý tán thành - Thế nhưng chúng mình chả là vẫn phải cầm “ cái trò trẻ con ” ấy lên nông trường bộ để làm thủ tục đó là gì?
- Xì! – Cô tỏ ý khinh bỉ ra mặt - Đầu óc anh làm sao dễ sai khiến thế? Năm ngoái chúng mình kết hôn có lên nông trường bộ làm thủ tục không?
Lúc này tôi mới sực nhớ ra. Năm ngoái, sau khi Đen cầm tờ giấy của Tào Học Nghĩa trả lời phê chuẩn về đưa cho chúng tôi, tôi chỉ sợ qua nhiều cấp thêm lằng nhằng, đại đội duyệt rồi, nhưng biết đâu cán bộ nông trường vẫn có thể gây khó dễ, nên khi được cô đồng ý, tôi không lên nông trường bộ làm thủ tục nữa. Với lại “ núi cao, vua ở xa ”, lúc người ta làm lễ cưới, khách khứa đến mừng cũng chẳng có ai bắt trình giấy chứng nhận kết hôn ra kiểm tra một lượt đã rồi vào dự, cho nên chúng tôi cứ thế là “ kết hôn ” với nhau.
Tôi bất giác bật lên một tiếng cười quái gở như con bệnh thần kinh. Hoá ra là cái thằng bị “ quần chúng quản chế ” này, một năm nay ở với cô như vợ chồng một cách phi pháp! Thừa nhận chúng tôi là vợ chồng chẳng qua chỉ có quần chúng, chỉ có thời gian, chỉ có tình cảm và tập quán của chúng tôi thôi. Rồi về sau, ngay cả tôi là đương sự cũng quên mất rằng chúng tôi chưa hề thực hiện thủ tục pháp lý! Thì ra như vậy là tất cả nhưng lo toan chạy vạy của tôi mấy hôm nay hoàn toàn là thừa, chứ muốn đi tôi cứ việc phủi đít là đi thôi.
Tôi thì tôi quên chứ cô vẫn nhớ! Cô ném cho tôi cái nhìn hờn ghét, nói bằng giọng giận dữ:
- Hừ! Ngay từ đầu khi kết hôn với tôi anh đã không thực lòng rồi!
Cặp môi vốn đầy đặn của cô bỗng trở nên mỏng dính, để lộ những chiếc răng cửa trắng muốt:
- Bụng dạ anh đầy âm mưu quỷ quyệt! Đến hôm nay tôi mới nhìn thấy rõ mặt anh!
Lời cô cứ như giọt mưa đá đập vào mặt tôi. Tôi nói bằng một giọng chán chường:
- Cô chớ hiểu nhầm, từ đầu tôi vẫn thực lòng ấy chứ, đâu phải là tôi giả dối. Tôi cười bởi vì chuyện này nó hài hước quá. Cậu Đen, cậu ấy bảo: cuộc đời vô đạo đức thì dễ sống, tôi xem ra, cuộc đời vô pháp luật kể cũng rất tiện lợi – Tôi thở dài một tiếng – Chúng mình thật giống như trong một tấn tuồng, giống như trong một giấc chiêm bao.
- Bây giờ thì trong giấc chiêm bao ấy, tôi đã tỉnh ra rồi – Cô đáp.
Cứ kể nói, tỉnh giấc chiêm bao ấy lẽ ra phải là tôi, thế mà giờ đây cô cũng bảo là cô đã tỉnh giấc chiêm bao. Tôi do dự rụt rè dừng lại trên lớp băng mỏng, không dám tiến lên một bước nào nữa. Tôi không biết, vậy thì cô nghĩ thế nào, rồi cô còn nói những gì nữa. Phải chăng là vợ chồng thì cả hai đều không được phép tỉnh táo, khi đã tỉnh táo thì sẽ phải chia tay, đường đi đôi ngã?
Cuộc sống vợ chồng chính là giấc mộng. Không phải giấc mộng vàng thì là cơn ác mộng. Nhất thiết không được tỉnh táo.
Cô như sực nhớ ra điều gì, đứng phắt ngay dậy, đến mở nắp rương, lôi từng chiếc quần áo của tôi ra, những thứ quần áo này không chiếc nào là không dính hơi cô. Cô rất bình tĩnh, ít ra thì cũng là bề ngoài có vẻ như vậy. Đối với việc ly hôn, cô hình như đã quen quá đi rồi.
- Người nghèo cũng có cái hay, vợ chồng nghèo ly hôn cũng đơn giản, của anh, của tôi, chưa chia đã xong rồi! – Không ngờ cô có cái giọng hài hước đến thế! Cuối cùng cô đặt cả cái đài bán dẫn vào đống quần áo của tôi – Cái này cũng phần anh, làm đặc vụ không thể thiếu cái khỉ gió này!
Tôi không biết làm thế nào chỉ bĩu môi một cái. Hiện thực đã vùi dập cuộc đời cô, chà đạp mọi thứ của cô, thế mà mọi hành động của người ta muốn chống lại số phận, muốn đi dò tìm trong hiện thực tàn nhẫn ấy một đôi chút kẽ nứt khe hở để lọt chút dưỡng khí vào cho mình, cô lại đều coi là “ phản cách mạng ”! Lúc cần thiết, cô cũng sẽ nắm chặt bàn tay nhỏ nhắn kia lại mà giơ lên hô: “Đả đảo những tên phản cách mạng ” đó. Tôi nói giọng khô khốc:
- Cái này là của cô mua. Tôi không thể lấy.
- Có cái gì mà không thể? – Cô cố làm ra vẻ kinh ngạc xoè hai tay ra, nói bằng một giọng lạnh như tiền - Mấy thứ này anh cứ mang đi; trong nhà những thứ gì không thể mang đi được thì anh để lại cho tôi. Tôi cũng chẳng khờ dại gì đâu, chả đời nào để cho mình phải chịu thiệt – Cô lại tiếp tục moi tìm trong chiếc rương đã mở toang. Nó hệt như một chiếc rương thần móc mãi không hết các thứ ở trong. Cô lấy ra một tệp giấy bạc gói trong chiếc mù soa con, đếm rất thành thạo lấy ra hai chục tờ - Đây, còn hai trăm bạc, anh cũng mang theo đi.
- Ấy! – Lúc này tôi kinh ngạc thực sự - Cô còn đưa tiền cho tôi làm gì? Chúng mình….chúng mình ăn ở với nhau một năm nay, có dành dụm được đồng nào đâu, tôi biết quá chứ.
Bỗng nhiên, cô dường như không thể chịu nổi nữa. Như những mẫu gỗ của đứa trẻ tỉ mẩn, chồng cao mãi lên làm nhà lầu thình lình bị đổ nhào, vẻ bề ngoài cố tỏ ra lạnh lùng băng giá, nghiêm khắc dữ dằn của cô trong phút chốc đã hoàn toàn sụp đổ tan tành. Cô đưa tay lên bưng miệng, khóc tu tu:
- Tôi bảo thật, anh Chương Vĩnh Lân ạ, anh đã thật nảy sinh lòng lang dạ sói rồi! Anh đi thì cứ việc đi, việc gì anh phải bày ra những trò hoa hoè hoa sói này với tôi?…. Thật ra với tôi, anh không cần phải giở cái trò ấy ra một mảy may nào hết! Anh cứ nói một câu: “ Tôi đi đây ”, thế là anh đi được rồi! Chẳng ai ngăn, chẳng ai níu chân anh lại đâu….
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-18 18:08:41Ct.Ly>
Đầu cô phờ phạc rũ xuống, tiếng nói ngắt quãng, đôi vai buông xõng rung lên từng đợt, trông chừng cô sắp bị nỗi đau quật ngã. Cô bưng mặt, đứng cạnh chiếc rương mà tôi có cảm tưởng mhư đó là một hồn ma vừa từ trong chiếc rương kia chui ra đến đòi mạng tôi vậy. Tư thế ấy rõ rằng là đang kêu gọi tôi tới an ủi cô, vỗ về cô, trả cho sòng phẳng món mợ tiền oan nghiệp chướng kia. Tôi còn đang do dự. Tôi biết mình không có cách nào giải thích rõ ràng với cô được. Tôi không thể nói rằng việc ly hôn của tôi - một hành động vừa là vì cô mà cũng vừa là để giải quyết cái tình cảm phức tạp của tôi – là đơn thuần chỉ vì sự an toàn của cô, hoặc đơn thuần chỉ là kết quả của việc tôi đã mất hết tình cảm với cô.
Đầu óc cô chỉ hiểu nổi đen là đen, trắng là trắng, còn những việc màu tro xám, những sự việc mơ hồ thì quá khó hiểu với cô, và cũng quá khó diễn đạt đối với tôi. Lý tính không thể thay thế được tình cảm, lý tính càng không phân tích nổi tình cảm. Trong mối quan hệ tâm hồn không cảm ứng được với nhau, thì bất kỳ ngôn ngữ nào cũng đều yếu ớt và bất lực. Mà cái gắn bó chúng tôi, xét tận gốc lại cũng chính là do nhu cầu tình dục khêu gợi lên, là sự tiếp xúc của xác thịt với xác thịt; còn chút tình ái kia là do khoái cảm cao độ thăng hoa thành mà thôi. Rời sự tiếp xúc xác thịt với xác thịt ra, thì chúng tôi mất ngay chỗ dựa để hiểu nhau và quan tâm săn sóc nhau.
Nhưng tôi vẫn buớc lại, đưa tay ra ôm lấy vai cô.
- Làm sao mà em biết tôi sắp ra đi? – Tôi hỏi.
- Sao em lại không biết? Trong bụng anh có mấy con giun, em còn biết nữa là! – Cô ngoan ngoãn áp mình vào lòng tôi, nghẹn ngào – Anh tưởng là em không nhận ra ư? Anh không ly hôn với em thì làm sao mà đi được? Anh ấy à, lao cải hơn hai mươi năm rồi vẫn còn nguyên cái lõi cậu ấm, muốn người ta hầu hạ anh cái ăn, hầu hạ anh cái uống. Nói thực cho anh biết, em vẫn để cho anh một con đường sống, để cho anh đi tìm chủ của anh, chứ không ý à, em không hé miệng cho anh ly hôn, thì anh đừng hòng mà ly được nhá! Thôi thì anh đi theo đế quốc Mỹ, hay bọn xét lại Liên Xô cũng được, anh đi theo Lưu Thiếu Kỳ - Đặng Tiểu Bình cũng được. Anh cứ yên tâm, anh phản cách mạng thành công rồi, vinh hoa phú quý rồi, em không chạy đến ăn theo, nhờ vả gì vinh hoa phú quý của anh đâu, việc gì mà anh phải giở trò nói dối lừa gạt em thế kia!
Cô vụng dại một cách đáng yêu, nhưng lại khôn ngoan một cách thật nực cười. Làm như trong hai mươi năm trời tôi đi lao cải, cô đều hầu hạ tôi từ đầu chí cuối! Và cô có cách lý giải của cô về con người và thế giới: cái gì nhặt được vào trong rổ thì đều là rau cả; phàm cái gì đối lập với đường lối “ cách mạng của Mao chủ tịch ” hiện nay, chẳng cần phân biệt xanh đỏ trắng đen gì hết, đều là “ phản cách mạng ” ráo.
Nhưng cô lại vẫn yêu thằng “ phản cách mạng ”.
Tôi bất giác cười không thành tiếng, lắc đầu bảo cô:
- Vinh hoa phú quý cái nỗi gì! Rất có thể chuyến đi này lành ít dữ nhiều, cho nên tôi mới….
- Hứ! – Cô nhăn mũi lại, dịu dàng nhìn vào mặt tôi bằng đôi mắt đẫm lệ, nhưng lại dẩu môi ra nói bằng giọng cay độc – Cái đó thì chưa biết chừng! Anh chắc chắn rồi phải chết bất đắc kỳ tử! Bởi vì anh đã phụ bạc một tấm lòng.
- Đúng đấy – Tôi cười đau xót – Đúng là phụ bạc một tấm lòng.
Cô như có phần dịu lắng xuống, gục đầu vào vai tôi, buông một tiếng thở dài:
- Vốn là lúc đầu, em định làm ầm lên với anh một phen, chạy đi tố giác vạch trần anh, cho anh lại đi ngồi tù lao cải một lần nữa. Nhưng về sau em nghĩ lại, anh cũng thật tội nghiệp, tài học đầy một bụng, thế mà phải bị nhốt vào đây cho người ta hành hạ; anh có nỗi khổ của anh…Thôi thì để chúng mình ly tán một cách êm thấm, để mỗi người còn giữ lại đôi điều để nhớ về nhau. Em nói thật cho anh biết, dù cho sau này anh có vinh hoa phú quý đến đâu, có bao nhiêu đàn bà con gái mỹ miều xinh đẹp sán vào vây lấy anh, thì anh cũng sẽ không tìm được một người đàn bà nào thương anh như em đâu! Còn về phần em? Em cũng đã nghĩ được rồi, bà Mã đấy một thân một mình mà vẫn sống được cả một đời đấy thôi, lại còn cười đùa nữa là đằng khác, em không sống được như bà ấy được sao?
- Không được đâu….Em còn trẻ, tìm lấy một người thích hợp hơn anh…- Tôi dối lòng mình, an ủi cô như vậy.
- Thôi đủ rồi, đừng cho nhau đi tàu bay giấy nữa! – Cô lau khô nước mắt trên má, cánh mũi đỏ ửng cứ mấp máy phập phồng, lông mày còn bết nước mắt như một cái quạt, như mặt hồ còn phủ một lớp mù ban mai, trông đến mà mủi lòng – Sau này em sẽ không còn tìm ai nữa đâu, không tìm ai nữa thật mà! Em nói dối anh, em là con chó! Còn tìm ai nữa cơ chứ? Cái số em không có được người chồng tử tế: đã kiếm được rồi mà vẫn không nhốt kỹ được vào lồng, để sổng mất! Chỗ tiền kia, anh mang theo đi, dọc đường có cái mà tiêu. Hai lần ly hôn trước, em đều lăn xả vào, em đòi tiền, đòi của, kiện cáo…Lần này ly hôn với anh, em lại tự nguyện đưa tiền tặng anh. Anh cứ cầm lấy đi, em hãy còn ba trăm đồng cơ.
Nói đoạn, cô quay người lại, áp đôi vú đầy sức đàn hồi của cô vào ngực tôi, nói bằng một giọng nảy lửa, như sẵn sàng quyết đấu:
- Lên giường đi! Tối nay em quyết để cho anh thỏa sức! Sao cho suốt đời chẳng bao giờ quên được em nữa!
Trăng đã lên đến đỉnh trời. Vừa tắt đèn trong buồng, thì ánh trăng thình lình ùa vào trong căn nhà đất này như thác đổ. Tiếng thầm thì đứt quãng của cô bập bềnh trong trăng.
- ….Em nói cho anh biết, anh sau này thế nào cũng bất đắc kỳ tử, bởi vì anh đã phụ bạc một tấm lòng….Nhưng dù có bao nhiêu người đi đám ma anh, tặng vòng hoa cho anh, thì trong lòng thực sự khóc anh cũng chỉ có mình em, anh có tin không?….Sau này, cứ đến tết thanh minh, dù em có ở đâu em cũng sẽ đốt vàng cho anh, anh cứ tìm đến em lấy tiền mà tiêu…Nào, cởi quần áo đi chứ, còn đứng ngẩn người ra đấy làm gì?
Tôi thấy có hai cánh tay nóng bỏng ôm ghì lấy tôi, kéo tôi xuống, kéo xuống mãi…chìm xuống đáy hồ đầy trăng. Bên tai, lại văng vẳng giọng nói nổi lên từ đáy nước.
- ….Anh đừng quên rằng, chính em đã biến anh thành đàn ông thứ thiệt….
Ôi! Trên thế giới này đáng yêu nhất là đàn bà!
Nhưng còn có những thứ quan trọng hơn đàn bà!
Đàn bà vĩnh viễn không bao giờ chiếm được người đàn ông mà mình đã sáng tạo nên.
…….       
Có một con sâu nhỏ bò lẹt xẹt ở góc tường.
À! Mùa xuân đã tới! Một tháng nữa là đến tết thanh minh.
Phải chăng tôi sẽ về đến bên cô để nhận đồ tế lễ?!
Trăng đến là to, đến là tròn!
                                                                                                                    Ngày 22 tháng 7 năm 1985.
 
 
 

 
Truyện Một nửa đàn ông là đàn bà, đã được mang vào thư viện
 
Xin cảm ơn ĐạoCấy đã góp sức cho thư viện VNTQ
 
Tình thân 
0
«« « 1 2 » »»