📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

hiệu đính Nhạc PHi diễn nghĩa 🔒

81 trả lời, 10.755 lượt xem — Trang 1 / 3
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-03 08:56:13Hoàng Dung>
truyện dịch Trung Hoa
NXB thế giới
biên dịch: Kiều Mai
đánh máy : cao thủ vnthuquan.net (Lucern, matnabac, ran_oo, phuonguyen, Hoàng Dung  )
(hình bìa :bổ sung sau)



LỜI GIỚI THIỆU
Bộ truyện Nhạc Phi thuộc loại sử truyền, được chép và lưu  hành vào đời nhà Thanh, nhưng nội dung chuyên lại xảy ra vào đời nhà Tống, cách đấy hơn nửa thế kỷ. Đó là thời kỳ suy vong của dân tộc Hán (Trung quốc).
Nhạc Phi một áng văn đề cao tinh thần anh hùng cứu quốc mà người Trung Hoa rất sùng bái. Tiêu biểu là người anh hùng dân tộc Nhạc Phi, nhân vật chính trong truyện. (sau này được dân chúng tạc tương và thờ ngang hàng với Đức Khổng Tử), vì thế Nhạc Phi truyện có một giá trị tinh thần rất cao trong tâm trí người Trung Hoa.
Đối lập với người anh hùng Nhạc Phi là Tần Cối, một đại gian thần bán nước cầu vinh, nguy hiểm nhất mà người Trung Hoa cùng căm ghét và khinh bỉ. .
Triều Tống thời các vua Huy Tông, Khâm Tông, Cao Tông triều đình đốn mạt, nhân dân bị đàn áp điêu đứng, trong khi đó lại cúi đầu chịu sự thống trị của nước Kim, một phiên quốc ở phương Bắc, bị chúng coi như lê. Vua Khâm Tông chẳng khác gì một tên tay sai, triều thần toàn kẻ vô dụng thối nát, cúi đầu nhục nhã trước ngoại bang, đến mức để chúng bắt một lúc cả hai vua Tống sang giam cầm ở sa mạc nước Kim.
Bao lần quần chúng nổi dậy chống xâm lăng đều bị triều đình đàn áp thẳng tay, nên đất nước mới đầy rẫy những Sơn vương, thảo khấu, xưng hùng xưng bá.
Người anh hùng Nhạc Phi đã đứng ra cứu nước, tập hợp được quần chúng. thu phục mọi nhân tài, đã đánh cho quân Kim thất bại nặng nề.
Song Cao Tông lại tôn sùng Tần Cối, nghe lời y xúc xiểm, tạo ra vụ án giả, giết hại một cách hèn hạ người anh hùng dân tộc Nhạc Phi và biết bao vị trung thần ái quốc khác.
Thực ra thủ phạm chính trong vụ oan án này là vua Cao Tông, Tần Cối chỉ là công cụ của ông vua bất nhân, bất nghĩa này.
Tài năng, uy tín và lòng ngưỡng mộ của nhân dân đối với Nhạc PHi đã làm Cao Tông lo ngại cho chiếc ngai vàng đang ngồi vì thế Cao Tông qua tay Tần Cối, đã giết hại vị đại công thần Nhạc Phi để trừ hậu họa.
Bộ truyện Nhạc Phi nhằm đề cao lòng yêu nước của người dân Trung Hoa, đồng thời cũng bóc trần bộ mặt thật của các triều đại phong kiến thối nát, ươn hèn.
Cũng như nhiều bộ sử trung ~ ung Quốc lúc ấy, Nhạc Phi cũng có nhiều yếu tố thần thoại, mê tính được lưu truyền, người đời sau sưu tập, tu chỉnh thành bộ truyện mạch lạc.
Tuy nhiên, điều đó không làm mất đi giá trị nhân văn của tác phẩm, mà càng làm cho ta thấy rõ chế độ khắc nghiệt của triều đại phong kiến Trung Quốc, cố tình bưng bí sư thật, trấn áp tiếng nói chân chính của nhân dân. Để lên án những ông vua tham tàn, bất công thời đó, tất nhiên tác giả phải dùng các yếu tố thần thoại để che mắt vua quan, và cũng để dễ dàng châm biếm, đả kích bọn chúng.
Nhạc Phi truyền được chép và lưu hành vào cuối đời Mãn Thanh đã gián tiếp lên án triều đình đương thời. Tuy cách xa nhau hơn nửa thế kỷ, nhưng hai triều đại 'Tống - Mãn này có những nét tương đồng, cũng (vua tối, tôi gian, cung phụng ngoại bang, đàn áp dân chúng".
Lấy chuyện xưa để nói chuyện nay, truyện Nhạc Phi đã gửi một thông điệp yêu nước tới nhân dân Trung Quốc lúc đó.
Nhạc Phi đã phần nào làm thỏa mãn lòng yêu nước chân chính của nhân dân, nên nó vẫn là một bộ truyện có giá trị.
Xin trân trong giới thiệu với bạn đọc.
NHÀ XUẤT BẢN THẾ GIỚI
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-02 20:45:44Hoàng Dung>
đánh máy: Lucern
Hồi thứ nhất 
Xích Tu Long hạ giới phá Tống
Đại Bàng điểu giáng phàm cứu dân

Vào cuối đời Đường thiên hạ đại loạn, giặc giã nổi dậy khắp nơi, dân tình khổ cực. Sớm thì dân thuộc về nhà Lương, chiều thì dân lại thuộc về nhà Tần, dân chúng chẳng biết theo ai, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ!
Thuở ấy tại núi Tây Nhạc Hoạ có ông Trần Đoàn tức Hi Di tiên sinh ở ẩn trong núi, dày công tu luyện trở nên một vị tiên cao đạo, đức dày.
Hi Di tiên sinh cưỡi lừa đi ngang qua cầu Thiên Hán chợt thấy một đám mây ngũ sắc bay ngang qua. Ông biết ngay điềm lành đem đến cho dân chúng, vội ngước mặt lên trời nhìn sững hồi lâu rồi buông một chuỗi cười khoái trá đến nỗi ngã nhào xuống đất lúc nào không hay mà cứ vẫn cười ngặt nghẽo!
Mọi người thấy thế lấy làm lạ xúm lại xung quanh tiên sinh hỏi nguyên do. Ông bảo:
- „Ha, ha…Ai bảo đời này không có vui hiền? Chỉ có một thai mà sinh hạ những hai rồng cơ đấy“.
Mọi người ngơ ngác không hiểu gì cả, nhưng câu nói của tiên ông đầy ý nghĩa, vì ông biết rằng hiện nay tại dinh Giáo mã của quan Tư đồ Triệu Hoàng Ân, có phu nhân là Đỗ Thị vừa sinh được một người con trai tên là Khuông Dẫn. Khuông Dẫn, vốn là Thích Lịch Đại Tiên người của Thiên giới xuống phàm trần đầu thai nên có hào quang chiếu sáng và mây lành che chở.
Sau này Trịnh Khuông Dẫn lớn lên, sở trường sử dụng cây roi, chỉ với hai bàn tay trắng mà thu phục các châu quận, lập nên cơ nghiệp hơn ba trăm năm, xưng quốc hiệu là Đại Tống, đóng đô tại Biện Lương.
Kể từ khi Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn mở mang bờ cõi truyền ngôi cho đến đời vua Huy Tông, tổng cộng là tám đời vua (Thái Tổ, Thái Tông, Chân Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Yết Tông, Thần Tông và Huy Tông).
Vua Huy Tông vốn là người thượng giới, do Trường Mi Đại Tiên giáng thế nên tính tình ưa thích những việc thần tiên, xưng hiệu Đạo Quân Hoàng Đế. Lúc bấy giờ thiên hạ thái bình, nhà nhà an lạc, gươm giáo cất kỹ vào kho, lại nhờ mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, thiên hạ ấm no.
Thật quả là:
Khải hoàn đất Thuấn trời Nghiêu
Chúng dân no đủ, kinh triều yên vui
Mưa hoà, gió thuận khắp nơi
Chẳng ai còn nhớ tới thời can qua

Chắc ai cũng thừa hiểu bên Tây Trúc là nơi cực lạc. Hôm ấy tại chùa Lôi Âm, Phật Tổ Như Lai ngự tại Cửu phẩm liên đài, hai bên có bốn vị Đại Bồ Tát, tám vị Đại Kim Cương, năm trăm vị La Hán, ba nghìn vị Yết Đế, cùng chư vị Hộ pháp thánh thần chầu chực để nghe Phật Tổ giảng du diệu pháp chân kinh.
Khi giảng đến chỗ tuyệt hay, người ta có cảm tưởng như mùi hoa thơm bay khắp mọi nơi, chẳng khác châu ngọc gieo vãi khắp cõi hồng trần.
Trong lúc ai nấy đang chăm chú lãnh giáo, bỗng dưới liên đài có một vị Tinh quân là sao Nữ Thổ Bức (con dơi cái) chẳng biết vô tình hay hữu ý, phát ra một tiếng trung tiện (rắm) khá to, tuy vậy, Phật Tổ Như Lai là bậc đại từ đại bi nên không thèm để ý đến việc vô lễ ấy. Nhưng trên liên đài có một vị Hộ pháp Thần Kỳ tên là Đại Bàng Kim Sĩ Minh Vương đôi mắt bỗng ngời lên ánh giận dữ, lòng đầy phẫn nộ. Hộ pháp không thể tha thứ cho hành động vô lễ của vị Nữ Thổ Bức này được, bèn quạt cánh bay thẳng xuỗng mổ Nữ Thổ Bức chết tươi, khiến linh hồn nữ Tinh quân rời khỏi chùa Lôi Âm, bay qua Đông Độ đầu thai, làm con gái gã họ Vương.
Về sau người con gái họ Vương này được gả cho Tần Cối, nên mới có dịp hại kẻ trung lương để trả cái mối thù sâu nặng này.
Chuyện này sẽ nói sau, bây giờ quay lại chuyện tại chùa Lôi Âm, Phật Tổ Như Lai thấy sự tình như vậy đưa mắt nhìn Đại Bàng Kim Sinh than thở:
- Ngươi đã thọ giáo cùng ta, sao không giữ việc quy y ngũ giới lại hành động hung ác như vậy? Thế thì ngươi đành phải trải qua một giai đoạn nhân quả, nghĩa là ngươi phải xuống hồng trần để trả cho xong cái oan trái ấy, rồi mãn kiếp lại tiếp tục tu hành cho thành chánh quả.
Đại Bàng Kim Sinh cúi đầu vâng pháp chỉ bay vọt ra khỏi chùa Lôi Âm bay thẳng qua Đông Độ đầu thai.
Nói về việc tu hành của Trần Đoàn tiên sinh. Ông chỉ có ngủ mà rốt cuộc thành tiên, nên người thế gian thường nói:
“Trần Đoàn nhất hốt khốn thiên niên”.
Ngày kia tiên sinh đang ngủ tại giường mây, hai tiểu đồng của ông là Thanh Phong và Minh Nguyệt bàn với nhau:
- Thầy ta đã ngủ rồi, biết chừng nào thầy ta dậy? Chi bằng chúng tar a núi dạo chơi một chập cho vui.
Rồi cả hai đằng vân ra đi dạo qua không biết bao nhiêu là cụm núi, hưởng thú nước Nhược non Bồng.
Khi hai người đến Bàn Xà Thạch bỗng thấy một bàn cờ, Thanh Phong như nhớ lại việc gì liền hỏi Minh Nguyệt:
- Sư đệ, còn nhớ ai đánh cờ ở chỗ này không?
Minh Nguyệt đáp:
- Tôi còn nhớ năm ấy có Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn đi Quảng Tây, băng ngang qua đường này, sư phụ ta thấy thế vội hô phong nổi lên một trận gió rước người lên núi đánh cờ, thắng cờ, người được hai trăm lượng bạc rồi ép Thái Tổ làm giấy bán đứt núi Hoạ Sơn này. Trong lúc ấy có Tiểu Thanh Long là Sài Vinh và Ngoạ Hồ Tinh là Trịnh Ân cùng đứng ra làm chứng. Về sau Triệu Khuông Dẫn lên ngôi báu, sư phụ ta mang văn khổ ấy xuống kinh đô chúc mừng và yêu cầu cho dãy núi này từ nay về sau không phải đóng thuế cho nên bàn cờ tàn này đến nay vẫn còn.
Thanh Phong gật đầu khen:
- Sư đệ nhớ dai thật, thôi bây giờ đang lúc rảnh rỗi, chúng ta hãy cùng đánh cờ chơi cho khuây khoả.
Hai người ngồi xuống vừa sắp cờ xong, bỗng nghe trên chín tầng không có tiếng ồn ào vang động. Cả hai ngửa mặt lên trời trông thấy phía Tây Bắc có hắc khí kéo đầy trời bay thẳng qua hướng Đông Nam.
Thanh Phong biến sắc mặt bảo:
- Nguy tai! Tôi sợ trời nghiêng đất sụp rồi sư đệ ơi!
Rồi cả hai vội vã chạy thẳng về, vừa vào đến sân đã quỳ xuống kêu lớn:
- Thầy ôi! Hãy thức dậy ngay, vì hình như trời nghiêng đất sụp rồi thầy ạ!
Hi Di tiên sinh đang ngủ ngon lành bỗng nghe hai đồ đệ gọi thất thanh, giật mình thức dậy chạy ra ngoài động, ngửa mặt nhìn lên trời xem mây và bảo:
- Đám mây quả là điềm dữ, kẻ trần gian sẽ không tránh khỏi vận sát kiếp.
Thanh Phong và Minh Nguyệt thấy thầy ra vẻ lo âu vội chắp tay thưa:
- Tại sao có điềm dữ dằn như vậy xin thầy giải thích cho chúng con việc nhân quả ra làm sao, vì chúng con còn mê muội chưa thấu rõ.
Tiên sinh trầm giọng nói:
- Hai người tu hành còn ít ỏi, hiểu sao cho nổi, để ta giải thích cho mà nghe.
Ngừng lại giây lát, lão tổ bắt đầu kể:
- Nguyên trong lúc Tết Nguyên đán, vua Huy Tông làm lễ tế Nam Giao có viết sớ tâu cùng Ngọc Hoàng. Khi viết đến “Ngọc Hoàng Đại Đế”, thay vì chấm chữ Ngọc mà chấm lầm ở chữ Đại, cho nên trở thành bốn chữ “Vương Hoàng Khuyển đế”. Vì vậy khi đọc sớ, Ngọc Hoàng thấy vậy giận lắm phán bảo:
- “Vương Hoàng khả khứ, khuyển đế nan nhiêu”.
Ngài liền sai Xích Tu Long (tức rồng râu đỏ) xuống trần đầu thai nơi Bắc Địa, tại Nữ Chân Quốc, phù Hoàng Long để sau này đánh phá bờ cõi Trung Nguyên, phá tan giang sơn nhà Tống làm cho dân tình khốn khổ. 
Hai tiên đồng lại hỏi:
- Thưa thầy, nếu vậy hắc khí xông lên đầy trời ấy là Xích Tu Long đi đầu thai đó sao?
Lão Tổ lắc đầu đáp:
- Không phải thế đâu, đó là Phật Tổ Như Lai vì sợ con Xích Tu Long xuống trần thế không ai trừ nổi nên vội sai Đại Bàng Điểu xuống để giữ gìn giang san nhà Tống cho đủ mười tám đời vua.
Nói đến đây, Hi Di tiên sinh giơ tay chỉ lên trời nói:
- Con Đại Bàng Điểu đã bay gần tới kia kìa, hai đứa bay hãy coi sóc trong động, để ta theo dõi xem hắn đầu thai tại xứ nào cho biết.
Dứt lời tiên sinh vội đạp tường vân bay theo Đại Bàng Điểu thì thấy nó sà xuống sông Hoàng Hà chín khúc.
Hoàng Hà chín khúc là con sông chạy quanh co ước chừng đến chín nghìn dặm. Thuở trước đời Đông Tấn có ông Hứa Chân Quân chém chết con giao long ở đấy, nên sau con giao long này hoá ra một vị tú tài cải tên là Thuận Lang, vào làm rể ông Cổ Thứ Sử ở đất Trường Sa. Về sau bị ông Hứa Chân Quân bắt được cột hắn tại cây đại thọ gần cái giếng phía Nam thuộc về tỉnh Giang Tây. Vợ hắn là nàng Cổ thị sau đi tu tại núi Ô Long, sanh đặng ba đứa con. Ông Hứa Chân Quân chém chết hai đứa, còn đứa thứ ba thoát khỏi, chạy xuống mé sông Hoàng Hà, về sau tu hành đắc đạo tự xưng là Thiết Bối Cù Vương.
Ở đây, con Thiết Bối thường thường hoá ra một bạch y Tú Sĩ tập trung loài tôm cá huấn luyện thành binh tướng lập nên trận đồ gần bên chân núi.
Vì vậy, khi Đại Bàng Điểu vừa bay đến chợt trông thấy đã biết ngay là yêu quái. Đại Bàng Điểu đáp xuống mổ một cái thật mạnh trúng con mắt phía bên phải văng tròng mắt ra, máu chảy đầm đìa. Con Thiết Bối đau quá, hét lên thảm thiết, rồi chạy lùi xuống tận đáy sông Hoàng Hà trốn tránh. Còn lũ binh tôm tướng trạch thấy thế cũng cả kinh chạy trốn không dám ho hoe, chỉ riêng có một tên là Đoàn Ngư Tinh tính khí ương ngạnh, ỷ mình có sức mạnh chẳng biết sợ ai. Hắn vung cặp song ngạc sáng ngời nhìn Đại Bàng Điểu quát to như sấm nổ:
- Yêu quái kia, ngươi ở đâu dám đến đây hành hung như vậy?
Hắn vừa nói dứt câu đã bị Đại Bàng Điểu mổ một cái trúng ngay giữa đỉnh đầu chết không kịp ngáp. Linh hồn nó bay thẳng qua Đông Độ đầu thai, sau hắn là Vạn Sĩ Hoa, mưu hại Nhạc Phi trong ngục ở Phong Ba đình để trả mối hận thù ấy.
Nhưng đây là việc về sau, bây giờ xin nhắc đến chuyện ông Trần Đoàn xem thấy sự tình vội thở dài than:
- Than ôi! Nghiệt súc đã bị đày xuống phàm trần mà còn hung hãn như vậy thì chắc chắn oan oan sẽ tương báo chẳng biết chừng nào cho xong.
Than xong lão tổ nương mình nương theo vầng mây bạc tiến sát Đại Bàng Điểu.
Khi Đại Bàng bay đến tỉnh Hà Nam phủ Tương Châu, liền xà cánh xuống đậu trên nóc nhà kia, rồi chỉ một lát sau không tìm thấy bóng Đại Bàng Điểu đâu nữa. Trần Đoàn bèn hoá ra một nhà sư, tay cầm gậy vào nhà hỏi thăm, mới hay nhà này là một Viên ngoại họ Nhạc tên Hoà, vợ là Diêu An Nhân, tuổi đã bốn mươi vừa sinh được một mụn con trai, bọn tôi tớ trong nhà chạy ra báo hỉ mừng rỡ vô cùng, còn ông Nhạc Hoà nay đã năm mươi tuổi mới được một mụn con trai nên càng vui mừng hơn nữa, ông ta thắp nhang khấn vái tạ ơn trời đất tứ phương.
Khi Trần Đoàn hoá thân thành nhà sư già vào đến trước cửa vừa trông thấy người lão bộc, vội cúi đầu xá một vái rồi nói:
- Tôi là kẻ tu hành, đi lỡ đường bụng đói, đến cầu một bữa cơm chay, xin người làm phúc.
Người lão bộc chắt lưỡi than thở:
- Thật rủi cho hoà thượng quá. Nhà viên ngoại của tôi xưa nay thường hay làm phúc, dù cho đôi mươi người lỡ bước như hoà thượng đến đây cũng sẵn sang giúp đỡ tận tình, ngặt vì hôm nay bà chủ tôi mới sinh con nên bếp núc không được tinh khiết, vậy xin lão sư phụ đến nhà khác.
Trần Đoàn Lão tổ lại nói:
- Tôi là khách từ phương xa tới đây, cũng còn chút việc cần muốn gặp gia chủ, nhờ ông vào nói hộ, không biết có được chăng?
- Thế thì lão sư phụ hãy ngồi đây chờ tôi một lát để tôi vào thưa với Viên ngoại xem sao.
Người lão bộc vội vã chạy vào nhà chắp tay thưa cùng Viên ngoại:
- Có một nhà sư vào nhà mình xin một bữa cơm chay.
Viên ngoại cau mày bảo:
- Ông đã có tuổi mà sao không hiểu biết gì cả vậy? Hôm nay trong nhà ta sinh sản uế tạp, còn người ta là nhà tu hành nếu để cho người ta mất sự tinh khiết có phải tội ấy nhà mình phải mang với trời phật không?
Người lão bộc chạy ra thuật lại lời của Viên ngoại, Trần Đoàn thản nhiên bảo:
- Ông làm ơn thưa lại với Viên ngoại rằng, việc ấy không can chi, nếu có tội lỗi chỉ tôi xin hứng chịu.
Lão bộc lại trở vào phân trần cùng Viên ngoại lần nữa, Viên ngoại bảo:
- Không phải tôi tiếc một bữa cơm chay, nhưng vì tôi thấy việc bất tiện nên mới từ chối.
Người lão bộc khẩn khoản:
- Xin Viên ngoại hãy xem xét lại, vì chỗ này là nơi hoang thôn dã địa không có quán xá gì thì người ta biết tìm nơi nào mà lót dạ? Hơn nữa lời xưa có nói: “xuất tiểu bất toa tội” thì Viên ngoại đã làm phúc chẳng lẽ lại mang tội sao?
Suy nghĩ hồi lâu, Viên ngoại gật đầu bảo:
- Ngươi nói có lý lắm, thôi hãy ra mời người ta vào đây.
Người lão bộc mừng rỡ chạy ra nắm tay nhà sư dắt vào nhà trong. Viên ngoại trông thấy Trần Đoàn Lão Tổ râu tóc bạc phơ, dung mạo cốt cách khác người phàm, liền bước ra tiếp đón một cách lễ phép.
Sau khi an toạ, Viên ngoại lên tiếng:
- Chẳng phải tôi muốn chối từ, xong chỉ vì tôi quá ngại ngùng về việc vợ tôi mới sinh sản chỉ sợ làm phiền các vị tu hành đó thôi.
Trần Đoàn Lão Tổ cười xoà nói:
- Phàm làm việc lành tuy không ai rõ, nhưng trời đất thì biết ngay. Chẳng hay Viên ngoại tên họ là chi?
Nhạc Hoà đáp:
- Tôi họ Nhạc tên Hòa, ông bà tôi tự bao đời nay vẫn ở xứ Tương Châu này, nơi đây là xóm Hiếu Đễ, làng Vĩnh Hoà. Chỉ vì tôi có ít mẫu đất cùng chút đỉnh sản nghiệp nên người ta gọi tôi là Viên ngoại đó thôi, còn tính danh của hoà thượng là gì? Hiện tu ở chùa nào xin cho tôi biết với.
Trần Đoàn Lão Tổ nói:
- Tôi biệt hiệu là Hi Di tiên sinh thường tiêu dao khắp bốn bể, nay tình cờ đến đây gặp trong nhà có việc sinh sản thì cũng là cái duyên hiếm có đấy, chẳng hay Viên ngoại có vui lòng bồng thằng bé mới lọt lòng ấy ra đây cho tôi xem thử, như rủi có yêu ma quấy phá, tôi sẽ có cách ếm giúp giùm cho.
Nhạc Hoà lấy làm vui mừng, nhưng lại tỏ vẻ ngại ngùng:
- Nếu được như vậy thì còn gì quý hoá cho bằng. Song tôi chỉ ngại uế tạp có thể xâm phạm đến đấng tam quan thì cả tôi lẫn hoà thượng đều mang tội đấy chứ chẳng phải chơi đâu.
Lão Tổ lắc đầu:
- Không hề chi đâu, chỉ cần lấy dù che cho nó thì không can gì cả.
- Thế thì hay lắm, vậy hoà thượng hãy ngồi đây để tôi vào nói với vợ tôi đã.
Nhạc Hoà liền gọi gia đinh bảo soạn một mâm cơm chay cho tử tế, đoạn vào nhà trong hỏi bà An Nhân:
- Mẹ con có được mạnh giỏi không?
Bà ta đáp:
- Nhờ ơn Trời Phật phù hộ, mẹ con tôi vẫn mạnh giỏi vô sự, ông xem thằng bé con chúng ta ra thế nào?
Viên ngoại bồng thằng bé vào trong lòng âu yếm rồi bảo vợ:
- Có một nhà sư đến cầu chay, tu hành đã lâu năm biết phép ếm trừ ma quái, ông ta có bảo bồng thằng bé ra cho ông xem nếu có bề gì ông ta sẽ ếm trừ giùm cho.
Bà An Nhân khoả tay:
- Sợ e con mình chưa được sạch sẽ có thể mắc tội với trời phật đấy.
- Tôi cũng đã tỏ ý kiến ấy rồi nhưng ông ta bảo chỉ cần lấy dù che cho nó rồi bồng ra thì không can gì cả.
Bà An Nhân nghe nói mừng rỡ vội gọi gia đinh đem dù vào che cho đứa bé rồi trao cho Viên ngoại bồng ra nhà ngoài.
Lão Tổ trông thấy tướng mạo đứa bé tỏ lời khen ngợi và hỏi:
- Đã đặt tên cho nó chưa?
- Cháu mới sinh còn chưa kịp đặt tên.
- Vậy thì tôi đặt tên nó giùm cho, ông có bằng lòng không?
Nhạc Hoà gật đầu tỏ ý hài lòng:
- Được lão đặt tên cho nó thì còn gì hân hạnh cho bằng.
Lão Tổ nói:
- Tôi xem tướng mạo của nó khá khôi ngô, chắc chắn sau này lớn lên sẽ “viễn cử cao phi vạn lý”, nên tôi muốn đặt tên nó là Phi tự là Bàng Cử, chẳng biết Viên ngoại có bằng lòng không?
Nhạc Hoà tạ ơn rối rít ra vẻ vui mừng khôn xiết.
Sau đó Lão Tổ sợ ở đây gió máy nên bảo Viên ngoại bồng đứa bé trả lại cho mẹ nó.
Cơm chay đã dọn lên, Viên ngoại đứng dậy mời Lão Tổ, Lão Tổ lại nói:
- Hiện tôi có người đồng đạo cùng đi, cũng cầu chay như tôi, người ấy có bảo rằng: “Nếu có vị thí chủ nào hảo tâm thì phải tin cho nhau biết để cùng hưởng, để tôi đi tìm kiếm mới được!”
Dứt lời Lão Tổ từ từ bước ra khỏi nhà, Viên ngoại nối gót tiễn chân và dặn:
- Nếu tìm thấy vị đồng đạo đó, xin sư phụ sớm quay lại đây kẻo tôi mong.
o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-02 20:44:39Hoàng Dung>
đánh máy: Lucern
Hồi thứ hai 
Cù Vương rửa hận, dâng lũ lụt
Vương viên ngoại nhận nuôi Nhạc Phi  

Sau một thời gian ẩn trốn dưới sông Hoàng Hà tu luyện hơn mấy mươi năm trời, con Giao long tinh mới tự xưng Thiết Bối Cù Vương, ngỡ là tài ba đã lỗi lạc, sức lực hơn người, dè đâu bị Đại Bàng Điểu mổ mù một con mắt, oán hận thấu chín tầng mây không thể nào nguôi được, vì vậy về sau hắn không từ bỏ một thủ đoạn độc ác nào, ấy cũng tại thiên số và một phần do Đại Bàng Điểu gây ra.
Trần Đoàn Lão Tổ biết rõ huyền cơ, sợ Đại Bàng đầu thai xuất hiện chốn phàm trần không người bảo hộ, nếu có bề gì sẽ không ai phò trợ cho giang sơn Nhà Tống, vì vậy Trần Đoàn Lão Tổ phải thân hành đến nơi săn sóc đứa hài nhi cùng đặt tên cho hắn vì hắn chính là hiện thân của Đại Bàng Điểu.
Sau khi Lão Tổ kiếu từ Nhạc Hoà, vừa bước ra khỏi nhà chợt thấy bên giếng nước có hai cái chum lớn, vốn là của Nhạc Hoà mới mua về tính để nuôi cá chơi, song chưa kịp đổ nước. Lão tổ cầm cây gậy chỏ vào hai chiếc chum, giả vờ bảo:
- Hai cái chum này vẽ vời đẹp quá!
Vừa nói Lão tổ vừa âm thầm niệm chú hoạ phù vào hai cái chum ấy rồi kiếu từ ra đi. Nhạc Hoà cũng theo chân Lão tổ tiễn đưa ra khỏi cửa.
Lão tổ quay lại nói:
- Tôi là người đã xuất gia tu hành, không khi nào dám nói dối. Như tôi đi đến chỗ khác gặp vị thí chủ nào hảo tâm thì tôi sẽ ở lại đó thụ hưởng, xin Viên ngoại khỏi phải chờ đợi mất công.
Nhạc Hoà nói:
- Nếu lão sư tìm được đồng đạo thì trở lại đây ở chơi cùng với tôi vài bữa nhé!
- Vâng, xin cảm ơn, nhưng có một điều tôi cần nói cho Viên ngoại rõ, như trong ba hôm nữa mà con ông vô sự thì thôi, bằng có điều chi trắc trở, ông hãy bảo bà bồng đứa bé vào trong cái chum này mới có thể bảo toàn tính mạng được, xin ông hãy nhớ lấy lời tôi.
- Vâng, tôi sẽ vâng lời chỉ giáo!
Lão tổ từ tạ rồi bước ra khỏi ngõ biến mất dạng.
Nhạc Hoà trong lòng vui mừng như hoa nở, đến ngày thứ ba khắp nhà treo đèn kết hoa, bạn hữu khắp nơi đến chúc mừng. Viên ngoại bày tiệc thiết đãi ăn uống vui vẻ.
Một số bạn bè ông nói:
- Viên ngoại hãy bảo bà nhà bồng cháu nhỏ ra đây cho chúng tôi xem thử.
Viên ngoại vào nhà nói cho vợ là An Nhân hay, rồi lấy chiếc dù che cho đứa bé bồng ra cho chúng bạn xem.
Mọi người trông thấy đứa bé trán rộng, miệng vuông, mũi ngay mắt sáng, ai nấy đều tấm tắc ngợi khen. Bỗng trong đám bạn bè có một chàng trai chạy đến nắm tay đứa bé bảo:
- Thằng bé này dễ thương quá nhỉ!
Nói chưa dứt lời, bỗng thấy thằng bé khóc thét lên. Chàng trai vội nói với Nhạc Hoà:
- Có lẽ thằng bé đòi bú đấy.
Nhạc Hoà vội vã bế đứa bé vào nhà trong ngay. Mọi người nhìn chàng trai tỏ lời trách móc:
- Viên ngoại đã nửa đời mới sanh được một mụn con trai coi bằng vàng ngọc, thế mà chú làm cho nó khóc, cả nhà không yên, mất cả sự vui vẻ.
Nói rồi hỏi thăm bọn gia nhân xem đứa bé đã nín chưa, mới hay đứa bé vẫn khóc hoài không chịu bú, bạn bè buồn bã lục tục kéo nhau ra về.
Thấy con khóc hoài không chịu nín, ông Nhạc Hoà buồn rầu than thở. Cuối cùng ông sực nhớ lời của nhà sư căn dặn: trong vòng ba hôm nếu có điều gì bất trắc thì phải bồng đứa bé bảo vào trong cái chum kia thì tự nhiên bình yên vô sự.
Ông ta vội bảo vợ bồng đứa bé để vào trong chum ngay, nhưng bà An Nhân phải thay quần đổi áo cho đứa bé và lót nệm vào trong rồi mới yên dạ bồng con vào.
Thì lạ thay, khi bà ta bồng đứa bé vào trong chum thì bỗng dưng trời long đất lở, nước lụt ào đến mênh mông như biển cả, người vật khắp thôn đều trôi theo dòng nước lũ.
Dòng nước này là do con Thiết Bối Cù Vương mang mối hận thù cùng với Đại Bàng Điểu khi trước. Nay nghe Đại Bàng đầu thai nhà Viên ngoại họ Nhạc nên đem binh tôm tướng cá đến làm gió làm mưa dâng nước giết hại người vật trọn một hôm. Quả là một hành động phạm đến luật thiên đình. Ngọc Hoàng thấy thế vội sai Đồ Long Lực Sĩ đón tại Hoa Long đài chém chết con quái ấy. Nhưng hồn linh của nó vẫn chưa hết giận, bay thẳng vào Đông Độ đầu thai. Đó chính là Tần Cối. Về sau hắn dùng mười hai tấm kim bài, triệu Nhạc Phi về triều rồi hãm hại tại Phong Ba đình để trả mối thù xưa, nhưng việc này sau sẽ nói.
Bây giờ xin nhắc lại việc đứa bé Nhạc Phi theo lời dặn của vị lão sư được bồng vào trong cái chum đã hoạ phù, trấn ếm, nên mới khỏi chết, còn ông Nhạc Hoà cũng nắm vành chum nương theo dòng nước. Bà An Nhân bồng con ngồi trong chum nước mắt chảy ròng ròng than thở:
- Ôi! Tai hoạ gì mà xảy đến bất ngờ như thế này!
Nhạc Hoà cũng cất tiếng than:
- Số trời đã định vậy, bà hãy ráng mà gìn giữ lấy con, tôi xin gửi lại cho bà, cố mà nuôi dưỡng nó để sau này còn một chút nối dõi tông đường thì tôi có chết cũng ngậm cười nơi chín suối.
Vừa dứt lời trăng trối, Nhạc Hoà vuột tay trôi theo dòng nước còn mẹ con bà An Nhân ngồi trong cái chum, dòng nước cuốn tới làng Kỳ Lân, xứ Hà Bắc, cách kinh thành chừng ba mươi dặm.
Nơi đây có một nhà Viên ngoại họ Vương tên Minh, vợ là Hà thị, vợ chồng trạc tuổi ngũ tuần. Ngày kia vào buổi sớm mai, Vương Minh gọi gia đinh vào bảo:
- Chúng bay hãy đến kinh thành đón thầy bói về đây cho ta xem một quẻ. Tên gia đinh Vương An thưa:
- Con xin vâng lời đi đón thầy bói, nhưng nếu may mắn gặp người sáng sủa chẳng nói làm chi, bằng gặp phải người đui tối đi đứng chậm chạp, hơi đâu Viên ngoại chờ, chẳng biết Viên ngoại đón thầy bói về làm gì mà gấp vậy?
Vương Viêng ngoại nói:
- Chỉ vì đêm qua ta nằm chiêm bao nên muốn mời thầy về đoán mộng xem sao.
Vương An vui vẻ đáp:
- Tưởng bói khoa thì con không biết chứ đoán mộng thì con rành lắm, nhưng có ba điểm không thể nào bàn được.
- Ba điểm gì mà người bảo không thể bàn được?
- Thưa viên ngoại, phàm nằm mộng vào lúc canh một, canh hai và canh tư, canh năm thì thấy trước quên sau không thể nào đoán trúng được, nếu chiêm bao vào canh ba thì bàn mới thiệt.
Vương Minh gật đầu đáp:
- Phải rồi, hồi lúc canh ba ta trông thấy lửa cháy đỏ rực lưng trời, rồi giật mình thức dậy không biết là điềm lành hay điềm dữ.
Vương An đáp ngay không nghĩ:
- Thế thì con xin chúc mừng cho Viên ngoại đấy, vì hễ thấy lửa cháy ắt gặp quý nhân.
Vương Minh tỏ vẻ không tin:
- Làm sao mi biết được ta sẽ gặp quý nhân? Ta đoán chắc ngươi vì lười biếng nên khéo kiếm chuyện để lừa ta phải vậy không?
Vương An nghiêm sắc mặt, lễ phép nói:
- Thưa viên ngoại, con đâu dám xảo ngôn lộng ngữ. Chỉ vì khi trước con đi với Viên ngoại xuống huyện nộp thuế, lúc đi ngang qua hàng sách có mua một quyển sách giải mộng. Nếu Viên ngoại không tin thì con đem ra cho Viên ngoại xem.
Dứt lời, hắn chạy vào trong nhà lấy ra một quyển sách giải mộng bìa vàng lật ra từng trang một cho Viên ngoại xem, thì quả nhiên trong ấy nói y như lời hắn không sai.
Tuy vậy, Vương Minh vẫn nửa tin nửa ngờ, bỗng nghe ngoài cửa có tiếng la hét om sòm. Viên ngoại biến sắc mặt, giục Vương An chạy ra xem.
Một lát sau Vương An vào thưa:
- Không biết nước lụt ở đâu mà cuốn trôi đồ đạc đến đây nhiều lắm, tiếng la ồn ào ấy chính là tiếng thiên hạ tranh nhau vớt đồ đấy.
Vương Minh nghe nói vội đi cùng Vương An ra xem thì quả nhiên thấy nước lụt cuốn trôi không biết bao nhiêu mà kể, ông chắt lưỡi than thở cho tai trời ách nước đã làm cho bà con lâm cảnh khốn cùng.
Chợt Vương An trông thấy xa xa có vật gì trôi bồng bềnh mà loài chim Oanh lại bay quấn quýt theo vật ấy hình như để che chở vậy.
Vương An trỏ về phía ấy chỉ cho Viên ngoại xem và bảo:
- Vật kia là gì mà chim Oanh lại bao quanh nhiều đến thế?
Vương Minh cũng lấy làm lạ chăm chú nhìn theo vật ấy, chỉ trong chốc lát vật ấy trôi giạt vào bờ. Thì ra là một cái chum lớn bên trong có người đàn bà bồng đứa trẻ.
Than ôi! Thiên hạ lo vớt đồ đạc, túi tham con người không đầy có ai nghĩ đến việc cứu người!
Vương An chạy đến thì bầy chim Oanh bay mất hết, hắn gọi Viên ngoại nói lớn:
- Đây chẳng phải là quý nhân là gì, thưa Viên ngoại.
Viên ngoại bước đến nhìn thì thấy một phu nhân đang bồng đứa hài nhi trên tay rồi nói với Vương An:
- Người này là ai mà ngươi lại bảo là quý nhân?
Vương An thưa:
- Người này bồng con trôi trong dòng nước lụt mà không chết thì không phải là quý nhân là gì? Cổ nhân có nói “Lãm nạn bất tử tắc hữu hậu lộc”, hơn nữa người này lại có bầy chim Oanh bay theo che chở thì chắc chắn thằng bé này về sau phải là một kỳ nhân trong thiên hạ vậy.
Vương Minh gật đầu cho là phải, vội bước đến nhìn người đàn bà, cất tiếng hỏi:
- Hỡi người kia, ngươi ở đâu mà trôi nổi đến nơi đây?
Nhưng hỏi đi hỏi lại đôi ba lượt bà vẫn không đáp, Vương Minh lấy làm lạ nhủ thầm:
- “Hay là mụ này điếc chăng?”
Nhưng ông có biết đâu bà An Nhân mới sinh có ba ngày mà bị sóng gió dập vùi khiến toàn thân mê man không biết gì cả.
Vương An thấy thế liền chõ miệng vào lu hét lên:
- Hỡi bà kia, bà có điếc không mà Viên ngoại tôi hỏi đôi ba lần vẫn không đáp?
Bấy giờ bà An Nhân mới nghe văng vẳng bên tai có tiếng người liền quay mặt ngó lại, đôi mắt bà bỗng tuôn trào nước mắt. Bà khẽ hỏi:
- Đây chẳng phải là chốn âm ty sao?
Vương An thấy bà ta hỏi ngớ ngẩn như vậy cũng cười xoà còn Viên ngoại hiểu ngay bà ta chỉ vì quá hôn mê chứ không phải điếc nên giục Vương An chạy vào nhà bên cạnh xin chén nước trà nóng cho bà ta uống. Trong giây lát hồi tỉnh lại, Viên ngoại mới hỏi:
- Đây không phải là âm ty như bà lo sợ mà là xứ Hà Bắc tại làng Kỳ Lân đây, còn bà nguyên ở xứ nào mà trôi giạt đến đây?
Bà An Nhân vừa khóc vừa đáp:
- Tôi là người ở Tương Châu, huyện Thang Âm, làng Vĩnh Hoà, thôn Hiếu Đễ. Bị nước lụt cuốn trôi, không biết hiện chồng tôi trôi giạt nơi nào, sự nghiệp gia sản của tôi trôi hết theo dòng nước rồi, một mình tôi bồng con trôi nổi đến đây mong người ra tay tế độ, vớt người trầm luân.
Nói dứt lời bà ta khóc oà khiến thầy trò viên ngoại động lòng thương xót.
Tuy thế Vương Minh cũng lo ngại, kề tai nói nhỏ với Vương An.
- Tại sao người này ở xa xôi quá mà có thể trôi đến đây thật là một việc lạ lùng không thể nào tưởng tượng nổi.
Vương An nói:
- Viên ngoại hãy làm phúc cứu mẹ con người này đem về nuôi dưỡng kẻo tội nghiệp.
Viên ngoại gật đầu rồi bước tới bảo bà An Nhân:
- Tôi là Vương Minh, nhà cũng gần đây, nếu bà không chê, tôi xin đem bà về ở đỡ nhà tôi một thời gian, tôi sẽ sai người dò thăm tin tức chồng bà để giúp đỡ cho gia đình bà được đoàn viên sum họp, bà có bằng lòng không?
Bà An Nhân cúi đầu đáp:
- Ân công có lòng nhân đức như vậy, ơn ấy sánh bằng người sinh thành, tôi vô cùng cảm kích.
Vương Minh bảo Vương An đỡ bà An Nhân ra khỏi chum rồi dìu về nhà. Mọi người thấy thế bụm miệng cười thầm, họ bảo “Lão Viên ngoại này là kẻ điên rồ, không thiếu chi đồ đạc đáng giá lại không vớt về làm của mà vớt gì mụ ấy về nhà để ăn hại”.
Vương An chạy về trước báo cho vợ Vương Minh là Viện Quân hay, nên khi bà An Nhân vừa đến nhà thì bà Viện Quân ra đón mời trọng vọng.
Sau khi vào nhà, bà An Nhân tỏ hết sự tình hoạn nạn cho mọi người nghe, ai nấy đều tỏ ý thương hại. Bà Viện Quân vội bảo gia đinh dọn một cái phòng riêng rất tươm tất cho bà An Nhân nghỉ.
Bà Viện Quân đối đãi rất thân mật và cung kính, còn Viên ngoại Vương Minh thì lo sai người dò la tin tức gia đình của Viên ngoại họ Nhạc.
Bọn gia đinh trở về báo:
- Hiện nay nước đã rút cả rồi nhưng chúng tôi không tìm thấy ông Viên ngoại họ Nhạc lẫn người nhà ông ta đâu cả.
Bà An Nhân nghe tin ấy khóc sướt mướt, bà Viện Quân phải khuyên giải mãi mới thôi. Từ đấy hai người đối đãi với nhau thân mật như chị em ruột thịt.
Biết Vương viên ngoại không có con, một hôm bà An Nhân khuyên nhủ bà Viện Quân nên cưới cho Viên ngoại một nàng thiếp vì trong ba điều hiếu thì việc có con nối dòng là hệ trọng nhất.
Bà Viện Quân cho là phải nên cưới một nàng thiếp cho chồng ngay. Quả nhiên cách năm sau sinh được một đứa con trai đặt tên là Vương Qưới. Vương Minh cảm tạ bà An Nhân đã đưa ý kiến hay nên hôm nay mới có kẻ nối dõi.
Thế rồi ngày tháng trôi qua như thoi đưa, thấm thoát Nhạc Phi lên bảy tuổi còn Vương Qưới cũng được sáu năm tròn. Vương Viên ngoại bèn đón thầy về dạy cho hai trẻ học.        
Trong lúc ấy có hai ông bạn họ Thang và họ Trương cũng đem con là Thang Hoài và Trương Hiển đến xin học. Nhưng trong việc học hành này chỉ có Nhạc Phi là cố công dùi mài kinh sử thôi, còn ba trò kia đến trường chỉ lo chơi bời tụ tập với nhau rượt quyền đánh võ. Ông thầy lại chỉ quở phạt qua loa, nên mấy trò ấy lại càng coi thầy không ra gì, lắm lúc thầy muốn đánh mắng, nhưng ngặt nỗi chúng là con cưng của người ta không thể đánh được, tức mình quá đành bỏ đi mất.
Sau đó Vương Minh tiếp tục đón thầy khác về dạy bảo nhưng thầy nào cũng chịu không nổi, Vương Minh không biết tính sao đành nói với bà An Nhân:
- Nay cháu nó đã lớn tuổi rồi nếu ở luôn đây bất tiện lắm, hiện tôi có mấy căn phố, chi bằng chị đem con ra ở đó thấy tiện hơn, không biết chị nghĩ sao?
Bà An Nhân chắp tay thưa:
- Tôi xin đa tạ anh chị đã có lòng cứu giúp mẹ con tôi, nay lại còn tính việc cho tôi được ở riêng thì tiện lắm.
Vương Viên ngoại bèn sắm sửa vật dụng sẵn sàng chọn ngày lành tháng tốt cho bà An Nhân dời chỗ đến đó may vá kiếm ăn qua ngày.
Một hôm, bà An Nhân nói với Nhạc Phi:
- Nay con đã bảy tuổi rồi, chẳng nên chơi bời hư thân mất nết, phải tập làm ăn cho quen. Mẹ sắm cái rựa và đôi giỏ đây, ngày mai con lên rừng kiếm củi nhớ.
Nhạc Phi cúi đầu vâng lời mẹ, rồi sáng sớm hôm sau, cơm nước xong, Nhạc Phi quảy giỏ lên vai từ biệt mẹ lên đường.
Khi đi, Nhạc Phi không quên dặn mẹ:
- Không có mặt con ở nhà, xin mẹ hãy đóng cửa lại, chớ nên tiếp xúc với ai mà sinh chuyện lôi thôi đấy.
Bà mẹ Nhạc Phi vốn con nhà thế phiệt danh gia, chồng chết một lòng theo con, nên nghe con dặn bảo như vậy liền đóng cửa lại ở trong nhà than thở một mình:
- Phải chi cha nó còn, thì nay ắt đã đón thầy về dạy nó học hành có đâu phải đi đốn củi cực khổ như vậy
Còn Nhạc Phi tuy vâng lời mẹ đi đốn củi nhưng thật ra không biết có nơi nào có củi mà đi, đành liều nhắm mắt đưa chân lần đến chỗ thổ sơn, nhưng nhìn xem bốn bề không có củi.
Cậu leo dần lên trên đỉnh núi. Nơi đây vắng vẻ vô cùng mà củi lại không có bao nhiêu, chỉ thấy đá dựng trập trùng và nhiều cây đại thụ to đến hai ba người ôm không xuể.
Nhạc Phi lần sang trái núi bên kia chợt thấy bảy tám đứa trẻ đang vui vầy chơi với nhau. Trong đó có hai đứa ở gần nhà Vương Viên ngoại tên là Trương Tiểu Ất và Lý Tiểu Nhi nên chúng quen mặt, vừa trông thấy Nhạc Phi chúng đã reo lên:
- Kìa Nhạc Phi, cậu đi đâu đó?
Nhạc Phi đáp:
- Ta vâng lời mẹ đi hái củi đấy.
- Hừ, hái củi làm gì cho nhọc sức, hãy ở đây chơi với anh em ta một lúc có hơn không?
Nhạc Phi lắc đầu đáp:
- Ta đã vâng lời mẹ đi hái củi, hơi đâu mà chơi với các ngươi.
Một tên lớn nhất trong bọn trợn mắt quát:
- Thật ngươi cứng đầu không chịu chơi với chúng ta phải không? Nếu vậy đừng trách chúng ta sao độc ác đấy nhé.
Vừa nói, hắn vừa giơ nắm đấm lên ra vẻ hăm doạ Nhạc Phi, nhưng Nhạc Phi vẫn thản nhiên đáp:
- Chúng bay đừng cậy đông bắt nạt, ai kia chớ Nhạc Phi này đời nào biết sợ ai.
Trương Ất vung tay hùng hổ:
- Ngươi không sợ chúng ta, há chúng ta lại sợ ngươi sao?
Lý Nhi lại xem vào:
- Thôi đừng nói nhiều với hắn nữa vô ích, hãy tặng cho hắn ít thụi cho hắn biết mặt chúng ta.
Dứt lời, tám đứa trẻ áp tới vây quanh Nhạc Phi đấm đá túi bụi, nhưng Nhạc Phi không hề nao núng, hai tay cậu gạt ngang qua một cái, cả bọn ngã nhào ra bốn bên, đứa thì u đầu, đứa trầy da, đứa lở trán. Rồi Nhạc Phi bỏ chạy mất.
Khiếp sợ trước sức mạnh của Nhạc Phi, tám đứa trẻ đứng dậy chửi rủa om sòm nhưng không dám chạy theo chỉ doạ sẽ về mách bà An Nhân.
o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-02 20:42:19Hoàng Dung>
đánh máy: manabac
hồi thứ ba
Châu Đồng dốc lòng tạo anh tài
An Nhân dạy con sống trung hiếu

Nhạc Phi gánh hai giỏ đầy ắp củi về nhà nhưng vừa bước vào nhà đã thấy bà An Nhân nghiêm sắc mặt, trách mắng:
- Mẹ bảo con đi đốn củi chứ mẹ có bảo con đi đánh nhau với người ta đâu? Để cho người ta đến nhà mách với mẹ thì xấu hổ cho nhà ta biết bao nhiêu? Con lại đi hái củi khô thế này tất nhiên phải leo trèo, rủi ro trượt chân té ngã chết đi thì biết lấy ai nuôi mẹ trong lúc tuổi già xế bóng này?
Nhạc Phi thấy mẹ giận dữ, vội quì lạy, thưa:
- Con mới lỡ lần đầu tiên, mong mẹ tha thứ cho, con nguyện ngày mai sẽ không hái củi khô nữa.
Bà An Nhân thấy con mình biết hối lỗi rất cảm thương vội bước tới đỡ dậy và an ủi:
- Thôi ngày mai con cũng khỏi phải đi đốn củi nữa, vừa rồi mẹ tìm được vài bộ sách, để ngày mai mẹ bắt đầu dạy con.
Thế rồi qua ngày hôm sau bà An Nhân đem sách ra giảng dạy cho con. Nhạc Phi vốn có tư chất thông minh nên bài nào cũng chỉ đọc qua vài lần là thuộc làu ngay.
Bà An Nhân còn cố dành dụm tiền nong đưa cho Nhạc Phi bảo đi ra chợ mua giấy về tập viết, nhưng Nhạc Phi sợ tốn tiền vội tỏ lời từ chối:
- Thưa mẹ, con đã có giấy mực sẵn sàng để tập viết rồi xin mẹ chớ lo.
Bà mẹ lấy làm lạ không biết con mình tìm đâu ra giấy mực nhưng bà cũng làm thinh để xem sao, thì thấy Nhạc Phi lấy khay đem xuống mé sông xúc cát đem về, đoạn bẻ một nhành dương liễu mang vào thưa với mẹ:
- Thưa mẹ, đây không phải giấy mực để tập viết là gì? Đã khỏi tốn tiền mà lại dùng không bao giờ hết có hơn không?
Bà An Nhân mừng rỡ khen con mình sáng ý, hèn bảo:
- Thế thì hay lắm, mẹ khá khen cho con đấy.
Rồi bà cầm tay con tập viết, chẳng bao lâu Nhạc Phi viết thạo. Từ đó Nhạc Phi cứ ở nhà chăm lo học tập không một giây phút nào xao lãng.
Lại nói đến chuyện con Vương Viên ngoại là Vương Quới mới lên sáu tuổi mà khí lực mạnh mẽ khác thường. Một hôm cậu đi cùng tên gia đinh Vương An ra sau vườn chơi, khi đến chỗ Bá Huê đình chợt thấy trên ghế có một bàn cờ, cậu hỏi Vương An?
- Cái gì đây mà trên mặt mỗi cái đều có mỗi chữ vậy?
Vương An giải thích:
- Đây chính là cờ tướng dùng cho hai người đấu trí với nhau để tiêu khiển, trong cuộc chơi này sẽ có kẻ thắng, người bại, một cuộc chơi cao thượng và vui thú nhất trần đời:
Vương Quới lại hỏi:
- Ăn thua bằng cách nào?
Vương An mỉm cười bảo:
- Việc ăn thua rất đơn giản, nghĩa là hễ bên nào giết được tưởng bên kia là kẻ ấy thắng, ngược lại bên nào bị mất tướng tức là bên ấy thua.
Vương Quới ngẫm nghĩ giây lát rồi bảo:
- Vậy thì có khó chi đâu. Ta với ngươi hãy thử chơi một bàn xem sao.
Vương An gật đầu rồi bắt đầu sắp lại vị trí các.quân cờ, đoạn giao cho Vương Quới cầm quân đỏ còn hắn thì cầm quân đen.
Vương An nói:
- Cậu hãy đi trước đi.
Vương Quới ra vẻ suy nghĩ rồi cười ha hả bảo:
- Nếu ta đi trước thì ngươi phải thua rồi.
Vương An lấy làm lạ:
- Sao tôi lại thua?
Vương Quới bèn cầm ông tướng của mình ăn phắt ông tướng của Vương An đi rồi nói lớn:
- Thế không phải ngươi thua rồi sao?
Vương An cười xoà đáp:
- Đánh cờ gì mà lạ lùng vậy? Thôi để tôi dạy cách đánh cho.
Vương Quới ngắt lời quát:
- Thế ngươi khinh ta không biết đánh cờ sao?
Dứt lời, Vương Quới xách luôn bàn cờ vụt lên đầu Vương An.
Bị cú đánh bất ngờ nên Vương An không kịp đề phòng, cạnh bàn cờ đập vào đầu bể một miếng da, máu tuôn lai láng, Vương An ôm đầu vừa chạy vừa kêu trời, còn Vương Quới vẫn không hết giận, ra sức rượt theo.
Vương An chạy đến hậu đường, Vương Viên ngoại biết chuyện cả giận trỏ vào mặt con, quát mắng:
- Tên súc sinh kia, sao mi còn nhỏ mà tính tình lung hăng đến thế?
Vừa nói, ông ta đánh Vương Quới hai tát tai nẩy lửa, cậu vội vã chạy vào phòng mếu máo nói với mẹ.
- Mẹ ơi, cha đánh con gần chết đây này!
Bà Viện Quân thấy vậy vội bảo gia đinh đem bánh tới cho con ăn rồi dỗ dành lắm Vương Quới mới nín. Kế thấy Vương Viên ngoại hầm hầm sắc giận chạy thẳng vào phòng, bà Viện Quân bênh con vội đứng cản trước cửa phòng, Viên ngoại trợn mắt hét lớn:
- Thằng nghiệt súc ấy chạy đi đâu rồi?
Bà Viên ngoại quá thương xót thằng bé bị đánh nên nắm ngay vạt áo chồng khóc lóc:
- Lâu nay ông than thở không có con trai nối dõi tông đường, may nhờ bà An Nhân khuyên bảo tôi đi tìm vợ bé cho ông mới sinh được một mụn con, thế mà nay ông nỡ lòng nào muốn giết chết con đi sao? Như ông muốn giết nó, xin hãy giết chết tôi trước đã.
Vừa khóc, bà ta vừa liều lĩnh ngã nhào vào mình Vương Viên ngoại. Bọn đày tớ gái phải xúm lại đỡ bà dậy dìu thẳng vàn phòng khuyên giải.
Còn Vương Minh thì không nguôi cơn giận, ông ta hằn học:
- Đúng là con hư tại mẹ, ngày sau nó không ra gì là tại mụ đó thôi.
Dứt lời ông ta hờn dối bỏ ra nhà ngoài trong lòng hậm hực không yên, bỗng thấy tên gia đinh vào báo:
- Dạ có Trương Viên ngoại đến thăm, hiện người còn đứng nhà ngoài.
Vương Minh phất tay ra hiệu bảo:
- Hãy mời tiên sinh vào.
Trương Viên ngoại bước vào thấy nét mặt bạn mình hơi buồn vội hỏi:
- Nếu tôi đoán không lầm thì chắc hiền đệ có việc chi bất bình, nên khí sắc không vui phải không?
Vương Minh gật đầu đáp:
- Trương huynh đoán quả không sai, chỉ vì Vương Quới con của đệ mới tí tuổi đầu mà tính tình hung hăng ngỗ ngược quá, dạy dỗ không được nên mới đem lòng phiền muộn như vậy.
Trương Viên ngoại cũng thở dài nói:
- Ối thôi! chính thằng con tôi là Trương Hiển nó cũng không khác gì. Nhân lúc tôi đang có bệnh phong thấp không thể đi bộ được nên phải sắm con ngựa để tiện việc đi lại. Vậy mà cả ngày nó bắt con ngựa cưỡi chạy khắp nơi, đạp đổ đồ đạc của người ta làm tôi phải bồi thường lại còn bị mất mặt vì thằng con khó bảo. Hôm qua nó lại cho ngựa dẫm phải người, tôi phải chạy tiền cơm tiền thuốc tốn kém mấy lượng bạc mới yên chuyện. Tôi giận quá đánh nó ít roi để răn dạy, chẳng ngờ mẹ nó bệnh con gây chuyện cãi cọ với tôi, thành thử tôi bực mình qua đây chơi cho khuây khỏa.
Câu chuyện vừa đến đây, bỗng bên ngoài có người dáng hấp tấp vừa bước vào vừa thở hôn hển. Thì ra người nảy chính là Thang Văn Trọng, trên mặt hiện lên đầy vẻ giận dữ không biết vì đâu.
Hai nhà Viên ngoại vội chào đón và hỏi:
- Việc chi mà trông sắc mặt hiền đệ có vẻ giận dữ như vậy. Thang Viên ngoại đáp:
- Chẳng giấu chi các tôn huynh, chỉ vì thằng Thang Hoài con tôi nó quá ngỗ nghịch, ngày nào nó cũng đến căn phố của vợ chồng Kim Lão ở trước nhà tôi phá phách. Nhà người ta làm bánh bán nó đã hung hăng lôi hết bánh của người ta ra ăn lại còn hăm dọa đánh đập họ nữa, tôi phải bồi thường và năn nỉ mãi vợ chồng Kim Lão nể mặt mới cho êm chuyện. Ai ngờ đêm hôm qua nó vác đá chất vào cửa. Khi vợ chồng Kim Lão mở cửa ra bị đá đè tý nữa thì toi mạng. Vợ chồng Kim Lão đến khóc lóc với tôi tôi phải đánh nó ít roi để răn dạy và bồi thường cơm thuốc cho người ta. Chàng dè mẹ bênh con giằng co cãi lộn với tôi, hai huynh nghĩ thử có tức không?
Cả hai đều cười xoà đáp:
- Thế thì chúng ta cũng cùng chung một cảnh ngộ cả.
Rồi thuật lại chuyện Vương Quới và Trương Hiển cho Thang Viên ngoại nghe. Ba người thở vắn than dài cảm thấy mình bất lực trong việc dạy dỗ con cái.
Trong lúc đàm đạo bỗng có gia nhân vào báo:
- Có Châu Đồng tiên sinh ở Hiệp Tây đến thăm.
Cả ba mừng rỡ vội chạy ra đón vào rót nước mời uống. Vương Minh hỏi:
- Đã lâu rồi không gặp tiên sinh lòng hằng mong nhớ, nay tiên sinh ở tận Đông Kinh không quản đường xa, cực nhọc đến đây thăm, đệ thật lòng cảm kích vô cùng.
Châu Đồng nói:
- Tôi nay tuổi đã già yếu nên lâu nay vẫn nương náu với Lưu gia tại Phủ thành. Tôi cũng có chút ít ruộng nương tại đây nên đến đây trước là thăm ruộng, sau là thăm các bạn bè rồi phải về gấp.
Vương Minh nói:
- Lâu ngày vắng mặt, nay đại huynh đã đến đây thì hãy ở chơi ít hôm cho thoả tình bằng hữu, vội gì mà về gấp vậy?
Rồi bảo gia đinh làm cơm thết' đãi. Ba ông Viên ngoại cùng Châu Đồng chén tạc chén thù, có vẻ rất tương đắc.
Rượu được vài tuần, Vương Minh hỏi Châu Đồng:
- Tiên sinh cách biệt hơn hai mươi năm rồi, chẳng hay gia quyến hiện ở nơi nào?
Châu Đồng đáp:
- Vợ tôi qua đời đã lâu, còn con tôi thì theo người học trò cũ của tôi là Lưu Tuấn Nghĩa đi đánh giặc Phiên cũng chết trận cách đây ít lâu. Về sau, Lưu Tuấn Nghĩa cũng bị bọn gian thần hãm hại nên nay tôi tứ cố vô thân, còn các hiền đệ năm nay con cái thế nào?
Ba ông Viên ngoại nghe hỏi cùng thở dài:
- Ba anh em tôi, mỗi người đều có một đứa con trai nhưng chúng ương ngạnh quá không thể nào dạy dỗ được, thật là một việc đáng buồn.
Rồi ai nấy đều thuật lại việc hư đốn của con mình cho Châu Đồng nghe. Châu Đồng nói:
- Mấy cháu cũng đã lớn tuổi rồi, sao không mời thầy dạy dỗ nó.
- Có chứ, chúng tôi đã đón rất nhiều thầy về dạy chúng nhưng ông nào cũng bỏ đi mất hết, phần vì chúng không chịu học, phần vì chúng xấc xược chẳng coi thầy ra gì.
Châu Đồng bĩu môi:
- Chỉ vì mấy ông thầy ấy chẳng biết cách dạy dỗ nên mới xảy ra tình trạng ấy, tôi không phải khoe tài chứ tôi mà được ở đây dạy chúng nó, xem chúng nó có dám không nghe lời tôi không.
Ba ông Viên ngoại nghe nói mừng rỡ như bắt được
của, nói:
- Nếu vậy xin đại huynh ở lại đây dạy dỗ lũ cháu cho nên người, thì ơn này chúng tôi tạc dạ ghi xương.
Châu Đồng ngẫm nghĩ giây lâu rồi gật đầu, nói:
- Được tôi cũng vì tình anh em, bè bạn nhận lời ở lại đây dạy dỗ chúng nó xem sao.
Cơm nước xong, hai ông Trương, Thang ra về vui mừng vô hạn. Một tên gia đinh chạy đến nói với Vương Quới:
- Hôm nay ông nhà ta có mời một ông thầy đến dạy học đấy, sắp tới chắc các cậu không thể chơi bời hung hăng như trước được đâu.
Vương Quới nghe nói vội chạy đi tìm Thang Hoài và Trương Hiển chúng bàn với nhau, chuẩn bị đoản côn, thước sắt để đánh lão thầy mới.
Hôm sau, ba ông Viên ngoại dắt con đến cho chúng lạy ra mắt thầy. Châu Đồng bảo:
Ba ông hãy về nghỉ đi, để chúng nó cho tôi dạy dỗ.
Ba người từ biệt về rồi, Châu Đồng gọi Vương Quới lên bảo giở sách ra đọc thử.
Vương Quới trợn mắt đáp:
- Khách chưa đọc, lẽ nào chủ nhân lại đọc trước sao?
- Ông ăn nói bất thông như vậy thì làm thầy ai được?
Dứt lời Vương Quới rút cây thước sắt ra nhắm đầu Châu Đồng đánh xuống, nhưng Châu Đồng đã lanh lẹn tránh khỏi, rồi một tay bắt cây thước sắt, một tay nắm lưng Vương Quới vật xuống lấy roi đánh túi bụi.
Vương Quới là con nhà giàu có từ bé chưa từng bị ăn đòn bao giờ, nay bị mấy roi đau quá, đành chịu phép cho Châu Đồng dạy dỗ, còn Thang Hoài và Trương Hiển thấy thế cũng sợ hãi, vội giấu hết binh khí không dám ngỗ nghịch như trước nữa.
Thế là từ đấy ba đứa trẻ vâng phục lời thầy lo học tập không dám xao lãng.
Nhạc Phi nghe Châu Đồng đến dạy học nên thường lẻn đến nấp sau vách tường nghe giảng, lòng cậu hâm mộ vô cùng.
Bữa nọ có tên tá điền Vương Lão đến xin ra mắt Châu Đồng và nói:
- Tôi làm ruộng của tướng công suốt mười năm, nhưng đến nay mới gặp được tướng công. Tuy vậy, năm nào bán lúa, tôi vẫn để dành bạc, nay nghe Tướng công ở đây nên tôi đến xin Tướng công tính giùm cho để tôi hoàn số bạc lại cho Tướng công.
Châu Đồng nói:
- Ngươi quả là một kẻ tâm phúc ít ai bì kịp.
Rồi ông gọi Vương An dọn mâm cỗ thết đãi người tá điền. Châu Đồng lại hỏi Vương Lão:
- Thế mùa màng năm nay ra sao?
Vương Lão thưa:
- Mấy năm trước hoa màu cũng thường, duy có năm nay chẳng biết tại sao lúa trổ hai bông, tôi đoán đó là điểm tốt cho Tướng công đấy.
Châu Đồng gật đầu:
- Người đoán đúng lắm, lúa trổ hai bông thì chắc chắn ta sắp được gặp quí nhân rồi, thôi thế ngày mai ta với ngươi đi xem thử.
Cơm nước xong xuôi Vương Lão nghỉ lại một đêm, sáng ra Châu Đồng gọi ba trò lại, căn dặn:
- Ta đi có việc cần, các trò hãy ở nhà cố gàng làm bài rồi ta về chấm chữa cho.
Ba người học trò vâng dạ, Châu Đồng thay quần áo đi thăm ruộng.
Chờ cho Châu Đồng đi khỏi, Nhạc Phi bước vào trường. Vương Quới trông thấy mừng rỡ nắm tay Phi giới thiệu cùng Trương Hiển và Thang Hoài:
- Đây là anh Nhạc Phi, người mà cha tôi thường ca ngợi cho là thông minh nhất đời đấy. Nay thầy ta đi vắng lại ra đề để lại bảo chúng ta phải cố gắng làm cho xong, chi bằng mượn anh Nhạc Phi làm hộ, hai anh nghĩ sao?
Hai người kia đều gật đầu tán thưởng.
Nhạc Phi tỏ ý khiêm nhường:
- Tôi chỉ sợ làm không trúng ý của thầy.
Ba người cùng bước tới nắm tay Nhạc Phi.
- Chúng tôi đã nghe tiếng anh nhiều rồi, chớ có khiêm nhường, hãy làm hộ cho chúng tôi đi, chúng tôi tin chắc bài anh làm, thầy tôi không thể chê được đâu.
Vương Quới còn sợ Nhạc Phi từ chối bỏ về nên dắt Nhạc Phi vào thư phòng và căn dặn:
- Nếu anh có đói thì đã có món ăn tôi để sẵn trên gác đó.
Nói rồi đóng cửa khoá chặt nhốt Nhạc Phi ở trong rồi cả ba chạy đi chơi mất hút.
Nhạc Phi lục lại xem các văn bài của ba người đã làm lâu nay để xem tâm khí của họ như thế nào, đoạn lục lại xem các thi văn của Châu Đồng.
Xem văn của Châu Đồng, Nhạc Phi thích chí vỗ bàn nói lớn:
- Nhạc Phi này mà được người này chỉ giáo thì lo chi ngày sau chẳng nên danh?
Dứt lời chàng đứng phắt dậy lấy bút đề ngay tám câu thơ trên vách rồi ra về chẳng đợi bọn Vương Quới quay lại.
- Được tiên sinh cho gọi đến thì còn gì hân hạnh cho bằng, chẳng biết tiên sinh có điều gì chỉ giáo?
Châu Đồng thấy Nhạc Phi tướng mạo khôi ngô, tuổi còn nhỏ mà ăn nói lễ phép, cử chỉ đoan trang nên đem lòng thương mến ngay. Ông bảo Vương Quới kéo ghế mời Nhạc Phi ngồi rồi hỏi:
- Bài thơ trên vách kia có phải cậu viết không?
Nhạc Phi sợ hãi đáp:
- Tiểu tử còn thơ dại nên nhất thời cuồng vọng, xin tiên sinh tha tội.
Châu Đồng lại hỏi:
- Cậu đã có biệt hiệu gì chưa?
- Thưa, thuở mới chào đời, có một tiên sinh đến chơi đặt cho danh hiệu là Bàng Cử.
Châu Đồng gật đầu khen:
- Danh hiệu như thế là hay lắm rồi, còn văn học thì được thầy nào dạy cho?
Nhạc Phi thưa:
- Chỉ vì nhà quá nghèo nên mẹ tiểu tử phải mua sách về dạy và lấy cát bỏ vào khay tập viết cho đỡ tốn tiền.
Ngẫm nghĩ hồi lâu, Châu Đồng nói:
- Cậu về thưa với thân mẫu, mời bà đến đây cho ta hầu chuyện nhé.
Nhạc Phi lắc đầu:
- Không thể được, mẹ cháu là góa phụ, đâu có thể đi như thế được?
Châu Đồng nói:
- Cậu nói đúng lắm, chính ta đã lỡ lời rồi?
Rồi cho gọi Vương Quới vào bảo:
- Trò về thưa với thân mẫu là, nay ta muốn mời bà An Nhân đến đây bàn chút việc học hành cho Nhạc Phi, vậy xin mời lịnh đường đến đây cho có bạn với bà.
Vương Quới vội chạy đi mời bà Viện Quân, Châu Đồng lại bảo Nhạc Phi:
- Ta đã cho mời bà Viện Quân đến, vậy cậu có bằng lòng về thưa với lệnh đường đến đây cho ta thưa chuyện không?
Nhạc Phi vâng lời về thưa với mẹ:
- Châu tiên sinh muốn mời mẹ đến thưa chuyện, người cũng có mời bà Viện Quân đến cho mẹ có bạn, chẳng biết mẹ có vui lòng đến đó không?
Bà An Nhân gật đầu đáp:
- Nếu có bà Viện Quân thì mẹ cũng đến đó thử xem Châu tiên sinh dạy việc gì cho biết.
Rồi bà ta lập tức thay quần áo đi cùng Nhạc Phi thẳng đến nơi tiên sinh Châu Đồng dạy học.
Vừa đến nơi, đã thấy bà Viện Quân có mặt, bước ra tiếp đón nồng hậu.
Sau khi mọi người an toạ, Châu Đồng nói với bà An Nhân:
- Hôm nay tôi mời bà đến đây chỉ vì tôi thấy lệnh lang tướng mạo phương phi, tâm trung xán lạn nên đem lòng mến thương muốn đem tài sở học của mình truyền đạt lại cho cháu. Vậy xin bà cho Nhạc Phi làm con nuôi tôi chẳng biết bà có bằng lòng không?
Bà An Nhân nghe nói lắc đầu, sa nước mắt đáp:
- Khi tôi sinh nó ra mới được ba ngày thì bị nạn lụt khủng khiếp, trong lúc lâm nguy, chồng tôi phó thác nó cho tôi nuôi dưỡng, may nhờ có ân công là vợ chồng Vương Viên ngoại ra tay cứu giúp, ơn ấy mẹ con tôi chưa trả được. Hơn nữa tôi chỉ có một chút con nối dòng họ Nhạc nên việc ấy khó vâng lời, xin tiên sinh chở chấp.
Châu Đồng phân trần:
- Lẽ ra tôi không nên hỏi vậy, nhưng trong văn thơ thấy lệnh lang có chí khí lớn, ngày sau ắt nên danh vọng, tiếc thay không có thầy hay dạy dỗ, cung như ngọc kia không được giũa mài cũng thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi. Chẳng phải tôi dám khoe tài, song tôi đã từng dạy hai đứa học trò làm nên danh phận, chỉ vì rủi ro bị kẻ gian thần hãm hại. Nay nhận lời của Vương viên ngoại dạy ba đứa này xét ra chí khí thua kém Nhạc Phi xa. Nếu được bà ưng thuận, tôi chỉ gá tiếng là dưỡng phụ mà thôi, chớ không dám cải danh diệt tính. Còn việc xưng hô cha con là để cho tăng phần thân mật, tôi mới có thể đem hết bình sinh sở học truyền đạt lại cho cháu và sau này tôi có cười hạc quy tiên thì có người chôn cất là đủ rồi, xin bà hãy an tâm.
Bà An Nhân còn suy tính chưa biết nên trả lời bằng cách nào cho phải thì Nhạc Phi đã chạy ra, chắp tay thưa với Châu Đồng:
- Nếu kết tình phụ tử mà không phải thay tên, đổi họ thì con xin ưng thuận, vậy xin gia gia hãy ngồi lại cho con tạ lễ.
Dứt lời, Nhạc Phi quỳ lạy tám lạy.
Nhạc Phi hành động như vậy chẳng phải là không tuân lời mẹ song cũng vì chàng ái mộ tài học của Châu tiên sinh đã lâu, muốn cho người giáo huấn thi thơ, thụ truyền võ nghệ. Ngờ đâu trong tám lạy ấy mà sau này Nhạc Phi làm đến chức Võ Xương Khai Quốc Công, Thái Tử Thiếu Bảo, Tổng Đốc bình lương, thống thuộc văn võ Đô Đốc Đại Nguyên Soái. Nhưng đó là chuyện của mấy chục năm sau. Hãy quay lại chuyện Nhạc Phi quỳ lạy nhận dưỡng phụ.
Lạy xong, Nhạc Phi còn làm lễ lạy vợ chồng Vương Viên ngoại và mẹ chàng nữa. Bà An Nhân nửa buồn nửa vui, nhưng vì con bà đã ưng thuận bà cũng đành phải chấp thuận theo.
Vợ chồng Vương Viên ngoại sai bày tiệc đãi đằng, mời cả Trương Đạt, Thang Văn Trọng đến dự rồi ai về nhà nấy.
Hôm sau Nhạc Phi vào trường học, Châu Đồng cho bốn trò kết nghĩa anh em, ai nấy đều tỏ cho cha mẹ mình hay, các ông bà ấy thảy đều mừng rỡ.
Từ đó Châu Đồng đem hết mười tám môn võ nghệ truyền đạt cho Nhạc Phi, chàng sẵn có khiếu thông minh hơn người nên tiếp thu rất chu đáo.
Ngày tháng thoi đưa, bóng thiều quang thấm thoắt, hạ hết thu sang, Nhạc Phi đã lên mười ba tuổi, mấy anh em cũng đều ở lại thư phòng, sớm tối chăm lo học tập, chẳng bao lâu ai nấy đều võ nghệ tinh thông, văn chương uyên bác.
Một hôm vào tiết tháng ba, khí trời mát mẻ, Châu Đồng gọi Nhạc Phi vào, bảo:
- Hôm nay thầy bận đi thăm một người bạn là ông Chí Minh trưởng lão ở tại Lịch Tuyền, con hãy ở nhà cùng với mấy anh em đừng xao lãng học tập nhé?
Nhạc Phi thưa:
- Đường đi từ đây đến Lịch Tuyền xa xôi lại vắng vẻ, gia gia đi một mình e bất tiện, chi bằng cho chúng con đi với và để thăm tiên sinh luôn thể.
Châu Đồng gật đầu vui lòng, rồi năm thầy trò sắm sửa hành trang lên đường thẳng đến Lịch Tuyền.
Đường đi phải băng qua nhiều khu rừng rậm rạp, cây cối um tùm, chim kêu vượn hú trên cành, càng tăng thêm cảnh vắng vẻ của rừng sâu.
Khi đi qua một hòn núi nhỏ, Châu Đồng trông thấy nơi ấy địa thế rất đẹp, bên đứng lại ngắm nghía hồi lâu rồi hỏi:
- Chẳng biết chỗ này là đất của ai?
Vương Quới thưa:
- Nơi đây là đất của phụ thân con, nếu thầy xem phong cảnh này có hợp ý thì sau này thầy có quy tiên, chúng con sẽ đem thầy đến đây làm nơi an giấc.
Nhạc Phi lườm Vương Quới một cái và nói:
- Gia gia tôi đang sống thế này mà sao anh dám loạn ngôn như vậy?
Châu Đồng khoả tay:
- Không hề chi, người đời ai mà khỏi chết? Nếu sau này thầy có mãn phần rồi, các con đem xác thầy đến chỗ này chôn cất thì thầy mãn nguyện vô cùng.
Đi chẳng bao lâu nữa, gia trang của trưởng lão Chí Minh đã hiện ra trước mặt, tuy không đồ sộ nguy nga lắm song cũng rộng rãi mát mẻ, nấp dưới lùm cây cổ thụ hoa quả tốt tươi trông ngoạn mục lắm.
Châu Đồng gõ cửa, một tiểu đồng từ bên trong chạy ra vái chào, Châu Đồng bảo:
- Phiền cháu vào thưa lại với tiên sinh Chí Minh răng có người ở Hiệp Tây tên là Châu Đồng đến thăm.
Tiểu đồng cúi đầu vâng dạ rồi chạy thẳng vào trong, chỉ trong chốc lát đã thấy trưởng lão Chí Minh chống gậy bước ra tiếp đón niềm nở.
Mọi người vào nhà, trưởng lão mời ngồi đãi trà nước, có hai học trò đứng hầu hai bên.
Trong lúc đàm đạo văn chương, trưởng lão Chí Minh liếc thấy Nhạc Phi tướng mạo khôi ngô, cốt cách phi phàm, ông ta tấm tắc khen thầm rồi ông gọi tiểu đồng đem thức ăn lên thết đãi.
Đêm hôm ấy, thầy trò Châu Đồng nghỉ lại ở gia trang, rạng ngày sau mới từ tạ ra về. Trưởng Lão nằng nặc mời ở lại dùng cơm rồi mới cho đi. Khi tiểu đồng bưng trà lên, Châu Đồng vui miệng hỏi:
- Tôi có nghe người ta đồn rằng ở đây có suối Lịch Tuyền dùng nước suối ấy nấu trà uống ngon lắm phải không?
Trưởng lão đáp:
- Đúng đấy, nước trong suối Lịch Tuyền mà dùng nấu nước trà uống thì ngon tuyệt, nước ấy nếu đem rửa mặt thì mắt mờ sẽ sáng ngay. Lâu nay hễ có khách, tôi vẫn dùng nước ấy nấu nước trà đãi, ngờ đâu gần đây có một con quái không biết từ đâu đến, thường ngày nó hay phun một thứ khói độc làm hôn mê, nên không ai dám bén mảng đến đó nữa.
Châu Đồng chắt lưỡi than:
- Thế thì tại tôi vô duyên nên đến đây gặp trở ngại không được dùng nước Lịch Tuyền.
Nhạc Phi nghe nói nghĩ thầm:
"Quả nước Lịch Tuyền quí giá như vậy thì dù con quái vật ấy có lợi hại đến đâu ta cũng quyết đến đó lấy nước cho kỳ được. Hay là tiên sinh Chí Minh tìm cách nói đùa chăng? Nhất định phen này ta phải đến đó lấy nước đem về để gia gia ta rửa mặt mới được.
Nghĩ đoạn, Nhạc Phi hỏi tiểu đồng thăm dò đường đi đến suối Lịch Tuyền, rồi bưng chén trà lớn đi thẳng ra phía sau am.
Đi quanh co hồi lâu, chàng trông thấy tại cửa núi có một vòi nước phun ra nước trong vắt, phía trên có một tảng đá lớn bên trên có khắc một hàng chữ:
- "Lịch Tuyền kỳ phẩm".
Đây chính là bút tích của ông Tô Đông Pha viết, bên trong vòi nước ấy có một động đá, trong động ló ra một chiếc đầu rắn khổng lồ, đôi mắt rắn sáng chói như hai chiếc đèn pha, miệng rắn há hốc ra để lộ mấy hàm răng gớm ghiếc, nước bọt từ trong miệng rắn nhỏ xuống từng giọt một màu trắng đục.
Nhạc Phi lẩm bẩm:
- Con quái xà này từ đâu đến đây phá rối, để ta giết quách cho thiên hạ nhờ.
Nói đoạn, chàng để chén xuống, nhặt một viên đá lớn nhắm ngay đầu rắn ném một cái thật mạnh. Viên đá trúng ngay chính giữa đỉnh đầu rắn, nhưng không thấy con rắn nao núng gì cả, nó liền phun ra một chất khói lam, đồng thời há miệng thè chiếc lưỡi đỏ loét, quăng mình tới mổ Nhạc Phi, nhưng chàng đã lanh lẹ tránh khỏi, với tay nắm lấy đuôi rắn chàng toan vụt một cái, nhưng lạ thay, Nhạc Phi xem kỹ lại thì trong tay cái đuôi rắn biến đâu mất mà chỉ có một cây thương láng bóng, trên cán có chạm một hàng chữ "Lịch Tuyền Thần Mâu".
Nhạc Phi mừng rỡ khôn xiết, chàng xách chén cầm thương chạy thẳng về am. Kể lại mọi chuyện cho Châu Đồng nghe, ai nấy đều mừng rỡ. Trưởng Lão Chí Minh nói:
- Cây thương "Lịch Tuyền thần mâu" này là vật báu của thần linh nay đã về tay lệnh lang ắt sau này sẽ được đăng đài bái tướng đấy chứ chẳng chơi đâu.
Ngừng giây lát, trưởng lão nói:
- Sẵn đây tôi có cuốn sách binh thư bí truyền trong đó có truyền đầy đủ thương pháp và cách bày binh bố trận nữa, nhưng sách này chỉ người nào có binh khí  thần linh mới có thể dùng được, nay lệnh lang đã có duyên như vậy tôi xin trao sách ấy cho, hãy xem trong ấy cố mà luyện tập, bây giờ tôi phải trở về ở tại Ngũ Đài sơn, chắc có lẽ khó mà gặp mặt nhau được. Chí Minh trưởng lão nói, hai mươi năm về sau, học trò tôi là Đạo Duyệt sẽ đến tại Kim Sơn để gặp lệnh lang, mong lang hãy nhớ lời tôi dặn và xin cáo biệt ngay đây.
Châu Đồng nói:
Nói vậy thì tôi làm lỗi với tiên sinh rồi.
Trưởng lão nói:
- Không phải, đó là do nơi tiền định có tội gì đến ngài đâu?
Nói đoạn Chí Minh trưởng lão vào phòng lấy cuốn binh thư giao cho Châu Đồng, rồi Châu Đồng giao cho Nhạc Phi cất giữ. Thầy trò từ biệt xuống núi về nhà.
Sáng hôm sau, Châu Đồng hỏi Thang Hoài:
- Ngươi muốn học môn gì?
Thang Hoài đáp:
- Con thấy Nhạc huynh múa thương tốt lắm, nên con cũng muốn học thương.
Thế là Châu Đồng dạy thương pháp cho Thang Hoài. Còn Trương Hiển lại bảo:
- Thương thì tốt lắm, nhưng con lại muốn sử dụng thứ vũ khí gì đã đâm lại móc lại được nữa cơ. Vũ khí ấy chính là câu liêm thương đây, để ta vẽ kiểu cho con đến thợ rèn đặt làm một cái đem về ta dạy cho.
Vương Quới lại bảo:
- Thưa thày, con chỉ muốn sử dụng cây đại đao thôi vì đại đao chém chết được nhiều mạng hơn.
Châu Đồng biết Vương Quới là kẻ dũng phu nên cười thầm và nói:
- Được nếu con thích đại đao thì thầy sẽ dạy cho.
Từ đó về sau hễ hai ngày học văn thì một ngày luyện võ. ông Châu Đồng trước kia là người làm đến chức Đầu mục, cai quản tám mươi ngàn cấm quân tại Đông Kinh nên võ nghệ cao cường, ông đã từng dạy người học trò xuất chúng tên là Lưu Tuấn Nghĩa, nay lại có Nhạc Phi tuổi còn nhỏ mà có sức mạnh phi thường, ông ta vô cùng hoan hỉ, đem hết mười tám môn võ nghệ truyền đạt cho Nhạc Phi, nếu so sánh với hai người học trò trước kia, Nhạc Phi còn hơn gấp bội.
Một hôm Vương Viên ngoại cùng Châu Tiên sinh đi dạo chơi giải buồn, bỗng có lý trưởng sở tại đến ra mắt và thưa:
- Huyện đường ta sắp có cuộc khảo thi võ nghệ, tôi cũng muốn hiển vinh cho làng xóm nên đã đem tên bốn vị tiểu tướng công đến đăng vào xin ứng thí, vậy nay bổn chức xin tin cho chư vị biết để sắm sửa vào ngày rằm tháng này tựu trường.
Vương Minh cau mày nhìn lý trưởng bảo:
- Ông muốn đem con cháu chúng tôi ra ứng thí, ít ra cũng phải cho chúng tôi biết trước đã chớ, phỏng như chúng nó chưa đủ tư cách ra thí võ với người thì sao?
Châu Đồng xen vào nói:
- Chẳng hề chi đâu, tôi xét ra ông lý đây làm như vậy là tốt bụng và thịnh tình, tuy đồ đệ tôi còn nhỏ tuổi, nhưng trò nào cũng đủ tư cách ra tỷ thí với người cả rồi.
Châu Đồng lại căn dặn ba ông Viên ngoại về sắm sửa cho con mình đi thi võ. Hôm sau về trường, lại gọi các trò đến bảo:
- Các con hãy chuẩn bị áo quần tử tế và mang theo vũ khí sở trường đúng ngày rằm tháng này, đến trường thi võ đấy nhé!
Vương Quới, Thang Hoài, Trương Hiển vâng lời vội trở về nhà ngay, Châu Đồng lại bảo Nhạc Phi về thưa  với thân mẫu sắm sửa đồ đạc lên đường.
Nhạc Phi thưa:
- Chắc khoa này con không đi được, xin hẹn lại khoa khác.
Châu Đồng ngạc nhiên:
- Tại sao vậy?
- Thưa gia gia, riêng phận con nghèo nàn rách rưới lấy chi sắm được ngựa và áo quần để đi với người ta? Vì vậy con xin chờ khoá sau thì hơn.
Châu Đồng suy nghĩ giây lâu, gọi Nhạc Phi bảo:
- Thôi con hãy vào phòng lấy chiếc áo Tố Bạch của ta đem về thưa cùng lệnh đường sửa chữa lại cho vừa mà mặc. Con nhớ lấy cả dây Hồng Lan nữa nhé. Còn ngựa thì không lo gì, con cứ việc lấy con ngựa của ta mà dùng.
Nhạc Phi bước vào phòng lãnh áo rồi bước ra lạy tạ trở về nhà thưa lại với mẹ. Bà An Nhân vui mừng khôn xiết.
Hôm sau, Châu Đồng đang ngồi xem sách bỗng nghe phía trước có tiếng động, vội nhìn ra thì thấy Thang Hoài đến. Anh ta xúng xính trong bộ quần áo mới cưỡi con ngựa ô, lưng đeo cung tiễn trông oai vệ lắm. Chàng lạy thầy một lạy và thưa:
- Xin thầy xem con ăn mặc thế này đi ứng thí với người ta có được không?
Châu Đồng gật đầu khen ngợi, rồi Vương Quới và Trương Hiển cũng lần lượt đến làm lễ thầy, người nào cũng nai nịt chỉnh tề, lưng đeo cung tiễn trông ra dáng con nhà võ lắm.
Châu Đồng bảo:
- Ba trò hãy về thưa lại với phụ thân, đến ngày ấy cứ việc tự nhiên đến trường thi, đừng đợi ta làm gì, miễn khi đến tỉnh thành, chúng tạ gặp mặt nhau là đủ rồi.
Ba trò vừa bái tạ ra về thì Nhạc Phi đến, ông Châu Đồng vỗ vai chàng bảo:
- Ngày mai ta sẽ sang dùng cơm bên nhà con rồi cùng đi luôn.
Nhạc Phi lấy làm ái ngại:
- Nhà con nghèo nàn biết lấy chi đãi gia gia cho xứng đáng!
- Con chớ nên ngại việc ấy, chúng ta đã kết tình phụ tử thì có gì dùng nấy mới thân mật chứ.
Nhạc Phi về thưa lại với mẹ, rồi sáng hôm sau, khi cơm nước xong xuôi, Châu Đồng cùng Nhạc Phi dắt nhau xuống tỉnh thành. Nơi đây thiên hạ đông đảo, nhan nhản những phòng trà quán rượu có đủ hạng người, náo nhiệt và vui vẻ vô chừng. Cha con Nhạc Phi ghé vào tiệm uống trà nghỉ mát, còn ba ông Viên ngoại là người giàu có, nên vào ngay tửu lầu gọi những thức ăn cao lương mỹ vị thết đãi bạn bè đồng thời cho người đi tìm Châu Đồng và Nhạc Phi.

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-03 02:51:04Hoàng Dung>
đánh máy: manabac
hồi thứ tư
Làng Kỳ Lân, Châu Đồng nhận nghĩa tử
Suối Lịch Tuyền, Nhạc Phi được thần mâu

Nhạc Phi vừa ra khỏi thư phòng thì bọn Vương Quới cũng kịp về nhà.
Châu Đồng bước vào phòng không để ý mọi việc xung quanh, chỉ cúi đầu suy nghĩ:
"Lúa trổ hai bông là một chuyện lạ lùng, chẳng lẽ trong cái thôn bé nhỏ, hẻo lánh thế này lại có quí nhân sao?".
Đang suy nghĩ, bỗng thấy ba cuốn vở để trước mặt Châu Đồng bèn giở ra xem, thì lạ thay, văn bài của ba người học trò mình hôm nay từ lý rất thông, nét chữ lại sắc sảo tiên sinh nghĩ thầm:
"Lẽ nào ba đứa này học hành lại mau tấn tới đến thế Hay là thời vận ta' may mắn nên chúng mau giỏi chăng?".
Châu Đồng lại đem những bài cũ của học trò ra so sánh thì thấy các bài cũ chẳng thông suốt tý nào cả nên lại nghĩ:
"Hay là trong khi ta đi vắng, ở nhà chúng nó mượn ai làm cũng nên, nhưng kẻ nào làm đây phải là người tài giỏi, chí khí hơn người, để ta hỏi xem cho biết".
Nghĩ đoạn Châu Đồng gọi Vương Quới hỏi:
- Khi ta đi vắng, có ai đến thư phòng không?
Vương Quới thưa:
- Thưa thầy, con không thấy ai đến đây cả.
Đang lúc ngờ vực. Châu Đồng vụt nhìn lên trên vách thấy bài thơ của Nhạc Phi, vội bước đến xem. Bài thơ viết:

Phục thầy, hạ bút đôi câu
Công hầu, khanh tướng biết đâu mà cười
Tâm trong Tiêu Hán sẵn rồi
Còn chờ cảnh ngộ rạng ngời Đẩu Ngưu
Anh hùng chí cả noi theo
Rồng mây gặp hội, thỏa điều ước mong
Công danh hai chữ chưa xong
Tiếu đàm thiên hạ, bận tâm làm gì.

Thơ tuy chẳng hay lắm song thi pháp đáng khen, lại có khí chất anh hùng, cuối cùng lại đề rõ danh tự Nhạc Phi. Châu Đồng mới biết đây là người mà ông Vương Viên ngoại khen là kẻ thông minh hiếm có trên đời.
Châu Đồng trợn mắt nhìn Vương Quới quát mắng:
- Rõ ràng có Nhạc Phi đến thư phòng viết thơ trên vách đây sao các ngươi lại chối quanh? Hèn chi ba bài văn của chúng bay hôm nay khác xa, đúng là Nhạc Phi làm hộ cho chúng bay rồi. Thôi hãy đi mời hắn đến đây cho ta bảo gấp.
Vương Quới cúi đầu vâng dạ rồi chạy thẳng đến nhà Nhạc Phi bảo:
- Lúc nãy anh đến thư phòng chúng tôi chơi, nhưng không biết anh viết những gì trên vách mà thầy cho đi mời anh. Chắc thế nào thầy tôi cũng đánh anh đấy.
Bà An Nhân nghe nói thì kinh hãi, nhưng khi nghe Vương Quốc nói: "Thầy bảo đi mời" thì lòng mới bớt lo. Bà bảo Nhạc Phi.
- Con có qua thì phải hết sức lễ phép với người nhé!
Nhạc Phi chắp tay:
- Con xin vâng lời mẹ, con quyết không khi nào làm phiền lòng mẹ đâu.
Rồi Nhạc Phi theo chân Vương Quới đến thư phòng ra mắt Châu Đồng. Sau khi xá bốn vái, Nhạc Phi đứng tránh một bên chắp tay thưa:- Được tiên sinh cho gọi đến thì còn gì hân hạnh cho bằng, chẳng biết tiên sinh có điều gì chỉ giáo?
Châu Đồng thấy Nhạc Phi tướng mạo khôi ngô, tuổi còn nhỏ mà ăn nói lễ phép, cử chỉ đoan trang nên đem lòng thương mến ngay. ông bảo Vương Quới kéo ghế mời Nhạc Phi ngồi rồi hỏi:
- Bài thơ trên vách kia có phải cậu viết không?
Nhạc Phi sợ hãi đáp:
- Tiểu tử còn thơ dại nên nhất thời cuồng vọng, xin tiên sinh tha tội.
Châu Đồng lại hỏi:
- Cậu đã có biệt hiệu gì chưa?
- Thưa, thuở mới chào đời, có một tiên sinh đến chơi đặt cho danh hiệu là Bàng Cử.
Châu Đồng gật đầu khen:
- Danh hiệu như thế là hay lắm rồi, còn văn học thì được thầy nào dạy cho?
Nhạc Phi thưa:
- Chỉ vì nhà quá nghèo nên mẹ tiểu tử phải mua sách về dạy và lấy cát bỏ vào khay tập viết cho đỡ tốn tiền.
Ngẫm nghĩ hồi lâu, Châu Đồng nói:
- Cậu về thưa với thân mẫu, mời bà đến đây cho ta hầu chuyện nhé.
Nhạc Phi lắc đầu:
- Không thể được, mẹ cháu là góa phụ, đâu có thể đi như thế được?
Châu Đồng nói:
- Cậu nói đúng lắm, chính ta đã lỡ lời rồi?
Rồi cho gọi Vương Quới vào bảo:
- Trò về thưa với thân mẫu là, nay ta muốn mời bà An Nhân đến đây bàn chút việc học hành cho Nhạc Phi, vậy xin mời lịnh đường đến đây cho có bạn với bà.
Vương Quới vội chạy đi mời bà Viện Quân, Châu Đồng lại bảo Nhạc Phi:
- Ta đã cho mời bà Viện Quân đến, vậy cậu có bằng lòng về thưa với lệnh đường đến đây cho ta thưa chuyện không?
Nhạc Phi vâng lời về thưa với mẹ:
- Châu tiên sinh muốn mời mẹ đến thưa chuyện, người cũng có mời bà Viện Quân đến cho mẹ có bạn, chẳng biết mẹ có vui lòng đến đó không? .
Bà An Nhân gật đầu đáp:
- Nếu có bà Viện Quân thì mẹ cũng đến đó thử xem Châu tiên sinh dạy việc gì cho biết.
Rồi bà ta lập tức thay quần áo đi cùng Nhạc Phi thẳng đến nơi tiên sinh Châu Đồng dạy học.
Vừa đến nơi, đã thấy bà Viện Quân có mặt, bước ra tiếp đón nồng hậu.
Sau khi mọi người an toạ, Châu Đồng nói với bà An Nhân:
- Hôm nay tôi mời bà đến đây chỉ vì tôi thấy lệnh lang tướng mạo phương phi, tâm trung xán lạn nên đem lòng mến thương muốn đem tài sở học của mình truyền đạt lại cho cháu. Vậy xin bà cho Nhạc Phi làm con nuôi tôi chẳng biết bà có bằng lòng không?
Bà An Nhân nghe nói lắc đầu, sa nước mắt đáp:
- Khi tôi sinh nó ra mới được ba ngày thì bị nạn lụt khủng khiếp, trong lúc lâm nguy, chồng tôi phó thác nó cho tôi nuôi dưỡng, may nhờ có ân công là vợ chồng Vương Viên ngoại ra tay cứu giúp, ơn ấy mẹ con tôi chưa trả được. Hơn nữa tôi chỉ có một chút con nối dòng họ Nhạc nên việc ấy khó vâng lời, xin tiên sinh chở chấp.
Châu Đồng phân trần:
- Lẽ ra tôi không nên hỏi vậy, nhưng trong văn thơ thấy lệnh lang có chí khí lớn, ngày sau ắt nên danh vọng, tiếc thay không có thầy hay dạy dỗ, cung như ngọc kia không được giũa mài cũng thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi. Chẳng phải tôi dám khoe tài, song tôi đã từng dạy hai đứa học trò làm nên danh phận, chỉ vì rủi ro bị kẻ gian thần hãm hại. Nay nhận lời của Vương viên ngoại dạy ba đứa này xét ra chí khí thua kém Nhạc Phi xa. Nếu được bà ưng thuận, tôi chỉ gá tiếng là dưỡng phụ mà thôi, chớ không dám cải danh diệt tính. Còn việc xưng hô cha con là để cho tăng phần thân mật, tôi mới có thể đem hết bình sinh sở học truyền đạt lại cho cháu và sau này tôi có cười hạc quy tiên thì có người chôn cất là đủ rồi, xin bà hãy an tâm.
Bà An Nhân còn suy tính chưa biết nên trả lời bằng cách nào cho phải thì Nhạc Phi đã chạy ra, chắp tay thưa với Châu Đồng:
- Nếu kết tình phụ tử mà không phải thay tên, đổi họ thì con xin ưng thuận, vậy xin gia gia hãy ngồi lại cho con tạ lễ.
Dứt lời, Nhạc Phi quỳ lạy tám lạy.
Nhạc Phi hành động như vậy chẳng phải là không tuân lời mẹ song cũng vì chàng ái mộ tài học của Châu tiên sinh đã lâu, muốn cho người giáo huấn thi thơ, thụ truyền võ nghệ. Ngờ đâu trong tám lạy ấy mà sau này Nhạc Phi làm đến chức Võ Xương Khai Quốc Công, Thái Tử Thiếu Bảo, Tổng Đốc bình lương, thống thuộc văn võ Đô Đốc Đại Nguyên Soái. Nhưng đó là chuyện của mấy chục năm sau. Hãy quay lại chuyện Nhạc Phi quỳ lạy nhận dưỡng phụ.
Lạy xong, Nhạc Phi còn làm lễ lạy vợ chồng Vương Viên ngoại và mẹ chàng nữa. Bà An Nhân nửa buồn nửa vui, nhưng vì con bà đã ưng thuận bà cũng đành phải chấp thuận theo.
Vợ chồng Vương Viên ngoại sai bày tiệc đãi đằng, mời cả Trương Đạt, Thang Văn Trọng đến dự rồi ai về nhà nấy.
Hôm sau Nhạc Phi vào trường học, Châu Đồng cho bốn trò kết nghĩa anh em, ai nấy đều tỏ cho cha mẹ mình hay, các ông bà ấy thảy đều mừng rỡ.
Từ đó Châu Đồng đem hết mười tám môn võ nghệ truyền đạt cho Nhạc Phi, chàng sẵn có khiếu thông minh hơn người nên tiếp thu rất chu đáo.
Ngày tháng thoi đưa, bóng thiều quang thấm thoắt, hạ hết thu sang, Nhạc Phi đã lên mười ba tuổi, mấy anh em cũng đều ở lại thư phòng, sớm tối chăm lo học tập, chẳng bao lâu ai nấy đều võ nghệ tinh thông, văn chương uyên bác.
Một hôm vào tiết tháng ba, khí trời mát mẻ, Châu
Đồng gọi Nhạc Phi vào, bảo:
- Hôm nay thầy bận đi thăm một người bạn là ông Chí Minh trưởng lão ở tại Lịch Tuyền, con hãy ở nhà cùng với mấy anh em đừng xao lãng học tập nhé!
Nhạc Phi thưa:
- Đường đi từ đây đến Lịch Tuyền xa xôi lại vắng vẻ, gia gia đi một mình e bất tiện, chi bằng cho chúng con đi với và để thăm tiên sinh luôn thể.
Châu Đồng gật đầu vui lòng, rồi năm thầy trò sắm sửa hành trang lên đường thẳng đến Lịch Tuyền.
Đường đi phải băng qua nhiều khu rừng rậm rạp, cây cối um tùm, chim kêu vượn hú trên cành, càng tăng thêm cảnh vắng vẻ của rừng sâu.
Khi đi qua một hòn núi nhỏ, Châu Đồng trông thấy nơi ấy địa thế rất đẹp, bên đứng lại ngắm nghía hồi lâu rồi hỏi:
- Chẳng biết chỗ này là đất của ai?
Vương Quới thưa:
Nơi đây là đất của phụ thân con, nếu thầy xem phong cảnh này có hợp ý thì sau này thầy có quy tiên, chúng con sẽ đem thầy đến đây làm nơi an giấc.
Nhạc Phi lườm Vương Quới một cái và nói:
- Gia gia tôi đang sống thế này mà sao anh dám loạn ngôn như vậy?
Châu Đồng khoả tay:
- Không hề chi, người đời ai mà khỏi chết? Nếu sau này thầy có mãn phần rồi, các con đem xác thầy đến chỗ này chôn cất thì thầy mãn nguyện vô cùng.
Đi chẳng bao lâu nữa, gia trang của trưởng lão Chí Minh đã hiện ra trước mặt, tuy không đồ sộ nguy nga lắm song cũng rộng rãi mát mẻ, nấp dưới lùm cây cổ thụ hoa quả tốt tươi trông ngoạn mục lắm.
Châu Đồng gõ cửa, một tiểu đồng từ bên trong chạy ra vái chào, Châu Đồng bảo:
- Phiền cháu vào thưa lại với tiên sinh Chí Minh rằng có người ở Hiệp Tây tên là Châu Đồng đến thăm.
Tiểu đồng cúi đầu vâng dạ rồi chạy thẳng vào trong, chỉ trong chốc lát đã thấy trưởng lão Chí Minh chống gậy bước ra tiếp đón niềm nở.
Mọi người vào nhà, trưởng lão mời ngồi đãi trà nước, có hai học trò đứng hầu hai bên.
Trong lúc đàm đạo văn chương, trưởng lão Chí Minh liếc thấy Nhạc Phi tướng mạo khôi ngô, cốt cách phi phàm, ông ta tấm tắc khen thầm rồi ông gọi tiểu đồng đem thức ăn lên thết đãi.
Đêm hôm ấy, thầy trò Châu Đồng nghỉ lại ở gia trang, rạng ngày sau mới từ tạ ra về. Trưởng Lão nằng nặc mời ở lại dùng cơm rồi mới cho đi. Khi tiểu đồng bưng trà lên, Châu Đồng vui miệng hỏi:
- Tôi có nghe người ta đồn rằng ở đây có suối Lịch Tuyền dùng nước suối ấy nấu trà uống ngon lắm phải không?
Trưởng lão đáp:
- Đúng đấy, nước trong suối Lịch Tuyền mà dùng nấu nước trà uống thì ngon tuyệt, nước ấy nếu đem rửa mặt thì mắt mờ sẽ sáng ngay. Lâu nay hễ có khách, tôi vẫn dùng nước ấy nấu nước trà đãi, ngờ đâu gần đây có một con quái không biết từ đâu đến, thường ngày nó hay phun một thứ khói độc làm hôn mê, nên không ai dám bén mảng đến đó nữa.
Châu Đồng chất lưỡi than:
Thế thì tại tôi vô duyên nên đến đây gặp trở ngại
không được dùng nước Lịch Tuyền.
Nhạc Phi nghe nói nghĩ thầm:
"Quả nước Lịch Tuyền quí giá như vậy thì dù con quái vật ấy có lợi hại đến đâu ta cũng quyết đến đó lấy nước cho kỳ được. Hay là tiên sinh Chí Minh tìm cách nói đùa chăng? Nhất định phen này ta phải đến đó lấy nước đem về để gia gia ta rửa mặt mới được.
Nghĩ đoạn, Nhạc Phi hỏi tiểu đồng thăm dò đường đi đến suối Lịch Tuyền, rồi bưng chén trà lớn đi thẳng ra phía sau am.
Đi quanh co hồi lâu, chàng trông thấy tại cửa núi có một vòi nước phun ra nước trong vắt, phía trên có một tảng đá lớn bên trên có khắc một hàng chữ:
- "Lịch Tuyền kỳ phẩm".
Đây chính là bút tích của ông Tô Đông Pha viết, bên trong vòi nước ấy có một động đá, trong động ló ra một chiếc đầu rắn khổng lồ, đôi mắt rắn sáng chói như hai chiếc đèn pha, miệng rắn há hốc ra để lộ mấy hàm răng gớm ghiếc, nước bọt từ trong miệng rắn nhỏ xuống từng giọt một màu trắng đục.
Nhạc Phi lẩm bẩm:
- Con quái xà này từ đâu đến đây phá rối, để ta giết quách cho thiên hạ nhờ.
Nói đoạn, chàng để chén xuống, nhặt một viên đá lớn nhắm ngay đầu rắn ném một cái thật mạnh. Viên đá trúng ngay chính giữa đỉnh đầu rắn, nhưng không thấy con rắn nao núng gì cả, nó liền phun ra một chất khói lam, đồng thời há miệng thè chiếc lưỡi đỏ loét, quăng mình tới mổ Nhạc Phi, nhưng chàng đã lanh lẹ tránh khỏi, với tay nắm lấy đuôi rắn chàng toan vụt một cái, nhưng lạ thay, Nhạc Phi xem kỹ lại thì trong tay cái đuôi rắn biến đâu mất mà chỉ có một cây thương láng bóng, trên cán có chạm một hàng chữ "Lịch Tuyền Thần Mâu".
Nhạc Phi mừng rỡ khôn xiết, chàng xách chén cầm thương chạy thẳng về am. Kể lại mọi chuyện cho Châu Đồng nghe, ai nấy đều mừng rỡ. Trưởng Lão Chí Minh nói:
- Cây thương "Lịch Tuyền thần mâu" này là vật báu của thần linh nay đã về tay lệnh lang ắt sau này sẽ được đăng đài bái tướng đấy chứ chẳng chơi đâu.
Ngừng giây lát, trưởng lão nói:
- Sẵn đây tôi có cuốn sách binh thư bí truyền trong đó có truyền đầy đủ thương pháp và cách bày binh bố trận nữa, nhưng sách này chỉ người nào có binh khí thần linh mới có thể dùng được, nay lệnh lang đã có duyên như vậy tôi xin trao sách ấy cho, hãy xem trong ấy cố mà luyện tập, bây giờ tôi phải trở về ở tại Ngũ Đài sơn, chắc có lẽ khó mà gặp mặt nhau được. Chí Minh trưởng lão nói, hai mươi năm về sau, học trò tôi là Đạo Duyệt sẽ đến tại Kim Sơn để gặp lệnh lang, mong lang hãy nhớ lời tôi dặn và xin cáo biệt ngay đây.
Châu Đồng nói:
- Nói vậy thì tôi làm lỗi với tiên sinh rồi.
Trưởng lão nói:
- Không phải, đó là do nơi tiền định có tội gì đến ngài đâu?
Nói đoạn Chí Minh trưởng lão vào phòng lấy cuốn binh thư giao cho Châu Đồng, rồi Châu Đồng giao cho Nhạc Phi cất giữ. Thầy trò từ biệt xuống núi về nhà.
Sáng hôm sau, Châu Đồng hỏi Thang Hoài:
- Ngươi muốn học môn gì?
Thang Hoài đáp:
- Con thấy Nhạc huynh múa thương tốt lắm, nên con cũng muốn học thương.
Thế là Châu Đồng dạy thương pháp cho Thang Hoài. Còn Trương Hiển lại bảo:
- Thương thì tốt lắm, nhưng con lại muốn sử dụng thứ vũ khí gì đã đâm lại móc lại được nữa cơ.
- Vũ khí ấy chính là câu liêm thương đây, để ta vẽ kiểu cho con đến thợ rèn đặt làm một cái đem về ta dạy cho.
Vương Quới lại bảo:
- Thưa thày, con chỉ muốn sử dụng cây đại đao thôi vì đại đao chém chết được nhiều mạng hơn.
Châu Đồng biết Vương Quới là kẻ dũng phu nên cười thầm và nói:
- Được nếu con thích đại đao thì thầy sẽ dạy cho.
Từ đó về sau hễ hai ngày học văn thì một ngày luyện võ. ông Châu Đồng trước kia là người làm đến chức Đầu mục, cai quản tám mươi ngàn cấm quân tại Đông Kinh nên võ nghệ cao cường, ông đã từng dạy người học trò xuất chúng tên là Lưu Tuấn Nghĩa, nay lại có Nhạc Phi tuổi còn nhỏ mà có sức mạnh phi thường, ông ta vô cùng hoan hỉ, đem hết mười tám môn võ nghệ truyền đạt cho Nhạc Phi, nếu so sánh với hai người học trò trước kia, Nhạc Phi còn hơn gấp bội.
Một hôm Vương Viên ngoại cùng Châu Tiên sinh đi dạo chơi giải buồn, bỗng có lý trưởng sở tại đến ra mắt và thưa:
- Huyện đường ta sắp có cuộc khảo thi võ nghệ, tôi cũng muốn hiển vinh cho làng xóm nên đã đem tên bốn vị tiểu tướng công đến đăng vào xin ứng thí, vậy nay bổn chức xin tin cho chư vị biết để sắm sửa vào ngày rằm tháng này tựu trường.
Vương Minh cau mày nhìn lý trưởng bảo:
- Ông muốn đem con cháu chúng tôi ra ứng thí, ít ra cũng phải cho chúng tôi biết trước đã chớ, phỏng như chúng nó chưa đủ tư cách ra thí võ với người thì sao?
Châu Đồng xen vào nói:
- Chẳng hề chi đâu, tôi xét ra ông lý đây làm như vậy là tốt bụng và thịnh tình, tuy đồ đệ tôi còn nhỏ tuổi, nhưng trò nào cũng đủ tư cách ra tỷ thí với người cả rồi.
Châu Đồng lại căn dặn ba ông Viên ngoại về sắm sửa cho con mình đi thi võ. Hôm sau về trường, lại gọi các trò đến bảo:
- Các con hãy chuẩn bị áo quần tử tế và mang theo vũ khí sở trường đúng ngày rằm tháng này, đến trường thi võ đấy nhé!
Vương Quới, Thang Hoài, Trương Hiển vâng lời vội trở về nhà ngay, Châu Đồng lại bảo Nhạc Phi về thưa ' với thân mẫu sắm sửa đồ đạc lên đường.
Nhạc Phi thưa:
- Chắc khoa này con không đi được, xin hẹn lại khoa khác.
Châu Đồng ngạc nhiên:
- Tại sao vậy?
- Thưa gia gia, riêng phận con nghèo nàn rách rưới lấy chi sắm được ngựa và áo quần để đi với người ta? Vì vậy con xin chờ khoá sau thì hơn.
Châu Đồng suy nghĩ giây lâu, gọi Nhạc Phi bảo:
- Thôi con hãy vào phòng lấy chiếc áo Tố Bạch của ta đem về thưa cùng lệnh đường sửa chữa lại cho vừa mà mặc. Con nhớ lấy cả dây Hồng Lan nữa nhé. Còn ngựa thì không lo gì, con cứ việc lấy con ngựa của ta mà dùng.
Nhạc Phi bước vào phòng lãnh áo rồi bước ra lạy tạ trở về nhà thưa lại với mẹ. Bà An Nhân vui mừng khôn xiết.
Hôm sau, Châu Đồng đang ngồi xem sách bỗng nghe phía trước có tiếng động, vội nhìn ra thì thấy Thang Hoài đến. Anh ta xúng xính trong bộ quần áo mới cưỡi con ngựa ô, lưng đeo cung tiễn trông oai vệ lắm. Chàng lạy thầy một lạy và thưa:
- Xin thầy xem con ăn mặc thế này đi ứng thí với người ta có được không?
Châu Đồng gật đầu khen ngợi, rồi Vương Quới và Trương Hiển cũng lần lượt đến làm lễ thầy, người nào cũng nai nịt chỉnh tề, lưng đeo cung tiễn trông ra dáng con nhà võ lắm.
Châu Đồng bảo:
- Ba trò hãy về thưa lại với phụ thân, đến ngày ấy cứ việc tự nhiên đến trường thi, đừng đợi ta làm gì, miễn khi đến tỉnh thành, chúng tạ gặp mặt nhau là đủ rồi.
Ba trò vừa bái tạ ra về thì Nhạc Phi đến, ông Châu Đồng vỗ vai chàng bảo:
- Ngày mai ta sẽ sang dùng cơm bên nhà con rồi cùng đi luôn.
Nhạc Phi lấy làm ái ngại:
- Nhà con nghèo nàn biết lấy chi đãi gia gia cho xứng đáng!
- Con chớ nên ngại việc ấy, chúng ta đã kết tình phụ tử thì có gì dùng nấy mới thân mật chứ.
Nhạc Phi về thưa lại với mẹ, rồi sáng hôm sau, khi cơm nước xong xuôi, Châu Đồng cùng Nhạc Phi dắt nhau xuống tỉnh thành. Nơi đây thiên hạ đông đảo, nhan nhản những phòng trà quán rượu có đủ hạng người, náo nhiệt và vui vẻ vô chừng. Cha con Nhạc Phi ghé vào tiệm uống trà nghỉ mát, còn ba ông Viên ngoại là người giàu có, nên vào ngay tửu lầu gọi những thức ăn cao lương mỹ vị thết đãi bạn bè đồng thời cho người đi tìm Châu Đồng và Nhạc Phi.

o0o
0
 
đánh máy: ran_oo

hồi thứ năm
Xem Nhạc Phi trổ tài thiện xạ
Phục tài, tri huyện Lý gả con

Ngờ có con ngựa quen buộc ở ngoài quán nước, bọn gia đinh mới tìm được thầy trò ông Châu Đồng khẩn khoản mời ông về chỗ các Viên ngoại, nhưng ông Châu Đồng từ chối và bảo:
- Người về nói với ba trò ta, cơm nước cho xong rồi đến trường thi chờ sẵn, để đến lúc nhập trường cho mặt, khi nghe kêu đến tên Nhạc Phi hãy bảo còn đi sau nhé.
Ba trò hiểu ý riêng của thầy nên cơm nước xong kéo nhau đến trường thi. Từ bốn phương tám hướng, các thí sinh kéo đến rầm rập, ai ai cũng vọng tưởng hai chữ công danh.
Sau ba hồi trống báo hiệu, quân lính đến sắp hàng hai bên giáo đường, gươm giáo cầm trong tay rất nghiêm trang. Phía trước cửa, ông thơ lại tay ôm quyển sổ cao giọng xướng danh. Các võ sinh lần lượt vào trường thi, ai nấy đều cung mã chỉnh tề.
Châu Đồng ngồi uống trà nóng, lắng tai nghe trong trường thi tiếng cung lắp tên, kêu lắc cắc, tiếng tên bay vo vo hồi lâu, bỗng ông buông tiếng cười dài.
Nhạc Phi ngạc nhiên hỏi:
- Tại sao gia gia lại cười?
Châu  Đồng đáp:
- Thế con không nghe gì cả sao? Tiếng cung bắn bôm bốp, tiếng tên bay vo vo mà không nghe tiếng trống chiêng chi cả, chẳng phải buồn cười sao?
Quan huyện gọi đến tên Nhạc Phi đôi ba phen vẫn không thấy ứng tên, ông gọi đến Thang Hoài rồi Vương Quới và Trương Hiển, ba trò dõng dạc bước vào trường thi, còn ba ông Viên ngoại đứng ngoài thấp thỏm nhìn xem con mình liệu có chiếm được bảng vàng hay không?
Quan Huyện Lý Xuân thoáng thấy ba trò này tướng mạo và cử chỉ có khác hơn những võ sinh kia nên ông rất ưng ý.
Sau khi làm lễ xong, quan Huyện hỏi:
- Trong bọn các trò còn tên Nhạc Phi sao không đến?
Thang Hoài chắp tay thưa:
- Nhạc huynh chúng tôi hãy còn đi sau.
Ông ta gật đầu:
- Thế thì bây giờ khảo thí ngươi trước.
Thang Hoài đứng bên tấm bia, chàng cảm thấy thi cử gì mà bia dựng gần quá làm sao đo được tài cán của mình nên vội lên tiếng xin dựng bia xa thêm nữa.
Huyện quan cười gằn bảo:
- Bia dựng xa đến sáu mươi bước, hồi mai đến giờ các võ sinh bắn sai hết, chắc gì trò bắn trúng mà bảo dựng xa thêm nữa?
Thang Hoài vẫn khăng khăng:
- Nhưng sức tiểu sinh bắn có thừa, xin cứ việc dời bia ra xa.
Huyện quan truyền dời ra xa tám chục bước. Trương Hiển đứng ngoài lớn tiếng xen vào:
- Đối với chúng tôi như thế vẫn còn gần lắm.
Huyện quan truyền đem bia xa hàng trăm bước.
Vương Quới lại nói:
- Vẫn còn gần lắm, dời xa nữa cơ.
Quan Huyện Lý Xuân mỉm cười sai quân dời bia ra xa đến hai trăm bước. Bấy giờ ba người mới bắt đầu phi ngựa trương cung trổ tài.
Thang Hoài bắn trước, kế đến là Trương Hiển rồi mới đến Vương Quới, tiếng cung bay vun vút hòa lẫn với tiếng chiêng trống vang dậy. Mọi người đứng chung quanh cất tiếng khen nức nở.
Quan Huyện cũng đứng nhìn không chớp mắt và nghĩ thầm:
- “Không biết ba trò này là đồ đệ của ai mà thiện xạ đến nỗi không bắn sai mũi nào cả”.
Ông hỏi bọn Vương Quới:
- Ai dạy các trò cung tiễn ấy?
Vương Quới bước đến thưa:
- Tiên sinh chúng tôi dạy đấy!
- Nhưng tiên sinh trò là ai mới được chứ?
- Dạ tiên sinh tôi là sư phụ.
Thấy Vương Quới trả lời quanh quất, quan Huyện cười ha hả:
- Tuy ngươi võ nghệ cao cường song ăn nói còn thật thà lắm. Ta muốn hỏi sư phụ ngươi tên gì cơ.
Thang Hoài bước tới lễ phép thưa:
- Thầy chúng tôi là người ở Hiệp Tây tên là Châu Đồng.
Quan huyện Lý Xuân gật đầu lia lịa:
- Thế thì thầy là người bạn thân thiết của ta đấy. Đã lâu không gặp mặt, chẳng biết bây giờ người có đi cùng các trò đến đây không?
Thang Hoài thưa:
- Thầy tôi đang ngồi uống trà bên quán gần đây.
Quan huyện Lý Xuân bèn sai người mời Châu Đồng đến. Giây phút sau Châu Đồng và Nhạc Phi đến, quan huyện thân hành ra tận cổng đón rước nồng hậu.
Sau khi đã phân chủ khách an tọa, quan Huyện nói:
- Lâu nay tiên sinh mở trường dạy học trong huyện tôi, sao không đến thăm tôi?
Châu Đồng đáp:
- Chẳng phải tôi coi nhẹ tình bằng hữu đâu, song ở đây người ta thường hay thưa kiện thì bạn thân không nên đến cửa quan, e rằng quốc pháp không được nghiêm minh có phương hại đến tư cách một ông quan, chi bằng đừng đến thì hay hơn.
Quan Huyện gật đầu:
- Tiên sinh quả là người nhìn xa, trông rộng.
Châu Đồng hỏi:
- Chúng ta cách biệt đã lâu, không biết lão đệ hiện nay được mấy cháu?
Quan Huyện đáp:
- Vợ đệ đã qua đời để lại một cháu gái, nưy được mười sáu tuổi. Chẳng hay tẩu tẩu năm nay có mạnh giỏi không, xin nói cho tôi mừng.
Châu  Đồng thở dài:
- Vợ tôi qua đời lâu rồi.
- Thế con cái ra sao?
Châu Đồng giơ tay ngoắt Nhạc Phi đến bảo:
- Con hãy làm lễ ra mắt thúc phụ con đi.
Nhạc Phi vâng lời bước ra lễ bái quan Huyện Lý Xuân, ông ta thoáng thấy chàng tướng mạo phi phàm, cốt cách đoan trang, liền hỏi:
- Chẳng hay đại huynh sinh lệnh lang hồi nào mà tôi không hay biết?
Châu Đồng cười đáp:
- Lệnh ái thì lão đệ thân sinh, còn trẻ này là minh linh chi tử, tên hắn là Nhạc Phi, vậy xin lão đệ hãy khảo thí xem trình độ cung tiễn của hắn ra thế nào?
Quan huyện nói:
- Mấy trò kia của đại huynh dạy còn hay giỏi dường ấy, huống chi hắn là con của đại huynh thì cần chi phải khảo hạch?
Châu Đồng tỏ vẻ không bằng lòng:
- Đây là quốc gia lựa chọn anh tài, chẳng nên vị tình, nếu làm như vậy thì làm thế nào cho lòng người khâm phục?
Quan huyện vội truyền dựng bia lên, Nhạc Phi xin dời bia ra xa hơn nữa.
Quan huyện hỏi:
- Chẳng hay sức bắn của lệnh lang được mấy chục bước?
Châu Đồng ngỏ lời:
- Trẻ tuy còn nhỏ song thần lực mạnh mẽ, sức bắn gần ba trăm bước.
Quan huyện phục thầm, nhưng lòng chưa tin, bèn cho quân dời bia ra xa hai trăm tám chục bước. Nhạc Phi bước xuống thềm cưỡi ngựa khai cung. Chàng bắn luôn chín mũi đến trúng đích, tiếng trống đang vang dậy một góc trời, mọi người vỗ ta không ngớt.
Người lính kiểm bia đến chắp ta thưa với quan huyện:
- Tiểu tướng công này bắn hay lắm, chín mũi tên ấy lấy ra, chỉ có một lỗ rách mà thôi.
Quan huyện hỏi Châu Đồng:
- Năm nay lệnh lang được bao nhiêu tuổi và đã kết nghĩa châu trần đâu chưa?
Châu Đồng lắc đầu:
- Năm nay cháu nó mới lên mười sáu nên chưa vội định thân.
Quan huyện nghe nói mừng thầm, vội tỏ lời hơn thiệt:
- Đệ thấy cháu nó nên người nên muốn gả con gái của đệ cho cháu, xin đại huynh nghĩ tình bằng hữu, chớ có từ chối. Vậy ý đại huynh thế nào xin cho đệ biết mà mừng với.
Châu Đồng ra vẻ băn khoăn đáp:
- Nếu lão đệ có lòng đoái tưởng đến con tôi, thì còn gì hân hạnh bằng. Nhưng thiết tưởng kẻ nghèo hèn mà kết duyên với bậc cao sang, e không xứng đáng?
Quan huyện trầm giọng bảo:
- Chúng ta là bạn thâm giao từ thuở bé đến giờ, việc tiền nong, địa vị có nghĩa gì với chúng ta? Đại huynh cần gì phải khiêm nhường. Miễn đại huynh không chê thì sáng mai đây tôi xin viết canh thiếp giao cho đại huynh ngay.
Châu Đồng vội gọi Nhạc Phi, bảo chàng lạy mừng nhạc phụ rồi từ tạ trở ra cùng các viên ngoại trở về nhà.
Rạng ngày hôm sau, quan huyện lo xong việc quan vội viết canh thiếp sai một tên nha lại cưỡi ngựa thẳng đến làng Kỳ Lân trao cho Châu Đồng, thưa rằng:
- Tôi vâng lệnh lão gia đến đây dâng canh thiếp của tiểu thư cho ngài thâu nạp.
Châu Đồng vui mừng tiếp lấy hai tay rồi trao lại cho Nhạc Phi và nói:
- Đây là canh thiếp của Lý Tiểu thư, con hãy cất giữ cho cẩn thận.
Nhạc Phi đem canh thiếp về dâng cho mẹ, bà An Nhân mừng rỡ khôn cùng vội để lên bàn thờ thắp nhang đốt đèn làm lễ ông bà rồi mới lấy canh thiếp giở ra xem. Bà thấy Lý Tiểu thư cũng cùng sinh ra một năm, một tháng, một ngày, một giờ như con mình bà lấy làm lạ, nghĩ thầm:
- “Hay là hai trẻ có lương duyên trong kiếp trước, nên trời cho đi đầu thai một lượt chăng”.
Nghĩ vậy, bà xếp canh thiếp cất vào nơi kín đáo.
Trong lúc Nhạc Phi trở về nhà, Châu Đồng lo sắm chút lễ vật gói vào một miếng giấy đỏ trao cho viên nha lại và khiêm nhường bảo:
- Tôn huynh chẳng ngại đường sá xa xôi, lặn lội đến đây lại phải trở về gấp, không kịp cơm nước gì. Vậy xin tôn huynh hãy niệm tình thâu nhận chút lễ mọn này để cho lòng tôi được thỏa nguyện.
Lão nha lại giả vờ từ chối lia lịa, nhưng tay thì đón lấy lễ vật bỏ vào túi từ tạ về ngay.
Hôm sau Châu Đồng sắm sửa lễ vật gọi Nhạc Phi vào bảo:
- Con hãy cùng cha qua bên huyện để tạ ơn nhạc phụ con nhé.
Nhạc Phi tuân lệnh theo Châu Đồng thẳng đến dinh, gửi danh thiếp vào huyện đường. Quan huyện vội vã ra tận ngoài cổng đón cha con Nhạc Phi vào trà nước, đãi đằng trọng thể.
Sau khi Nhạc Phi làm lễ tạ ơn nhạc phục xông xuôi, quan huyện bảo gia đinh dọn tiệc đãi đằng vị thông gia, đồng thời dọn thêm một mâm phía ngoài cửa.
Châu Đồng biết ý, vội khỏa tay nói:
- Cha con tôi đi bộ đến đây chẳng mang theo kẻ tùy tùng, xin lão đệ khỏi lo điều ấy.
Quan huyện Lý Xuân vừa hớp xong ngụm rượu, cất tiếng thân mật:
- Nay hiền tế nó sang viếng thăm, tôi muốn cho hắn vật gì để tỏ tình phụ tử, song không biết cho vật gì cho xứng, sẵn nhà có thừa con ngựa tốt, để tôi cho rể đi đỡ chân.
Châu Đồng cười ha hả:
- Thế còn gì quí hóa cho bằng. Nhạc Phi nó đang thao luyện võ nghệ mà thiếu con ngựa, nay lão đệ cho nó thì quả là làm một việc hợp tình, hợp nghĩa vô cùng.
Hai ông thông gia cùng chén tạc chén thù tưởng không có gì tương đắc cho bằng. Bỗng thấy gia đinh dắt con ngựa đến có thắng yên cương, quả là con tuấn mã hiếm có trên đời.
Châu Đồng trỏ con ngựa bảo Nhạc Phi:
- Ngựa này là của nhạc phụ con tặng đấy, con có thích không?
Lý Xuân thấy Nhạc Phi ra vẻ thờ ơ không đáp, vội hỏi:
- Nếu con không thích con ngựa này, thì con ra ngoài chuồng, tùy con lựa một con vừa ý.
Nhạc Phi cúi đầu tạ ơn rồi cùng gia đinh đi chọn ngựa, nhưng chàng xem qua cả chuồng có hằng mười mấy con mập mạp mà chàng chẳng thích con nào cả.
Chàng trở vào thưa lại:
- Những con ngựa ấy to lớn, mập mạp thật, nhưng chỉ để cho những bậc giàu có nhàn nhã tra yên, gắn lạc cho đẹp để cưỡi đi chơi chứ không phải loại ngựa dùng đến để xông pha nơi tên đạn, dẹp loạn phò nguy, an bang tá quốc, dựng nên nghiệp cả, nên con không chọn được con nào ưng ý.
Lý Xuân lắc đầu, lè lưỡi:
- Nếu tìm hạng ngựa ấy thì e nội xứ ngày khó mà tìm được.
Trong khi ấy bỗng nghe phía bên kia vách có tiếng ngựa hí vang rền, tiếng hí khác với ngựa thường, ai nấy đều ngạc nhiên. Nhạc Phi vội nói:
- Con ngựa ấy mới là ngựa vừa ý con, nhưng không biết ngựa ấy của ai?
Châu Đồng chau mày hỏi:
- Con chưa thấy ngựa, chỉ nghe nó hí sao con biết nó tốt?
Nhạc Phi đáp không cần nghĩ ngợi:
- Thưa gia gia, cứ theo tiếng hí của nó cũng có thể biết được nó đủ sức xông pha ngoài trận mạc.
Lý Xuân cất tiếng khen:
- Quả vậy, hiền tế nghe tiếng ngựa giỏi lắm. Ngựa ấy là của tên gia thuộc Châu Thiên Lộc mua tận bên Bắc Địa, trong vòng một năm nay nó cứ vượt chuồng chạy về với chủ đã năm sáu phen rồi. Con ngựa ấy, ở đây không ai trị nổi nó nên mới nhốt riêng một chuồng bên kia.
Nhạc Phi thưa:
- Vậy xin nhạc phụ cho phép con được xem ngựa, và thử cưỡi nó ra sao?
Quan huyện Lý Xuân gật đầu:
- Ta chỉ sợ hiền tế không trị nổi nó mà mang hại vào thân, chứ nếu hiền tế dùng được thì ta sẵn sàng tặng cho ngay.
Nhạc Phi theo tên giữ ngựa ra chưa đến chuồng, tên giữ ngựa đã quay lại căn dặn:
- Xin tiểu tướng công hãy cẩn thận mới được, vì con ngựa này đã làm hại nhiều người rồi.
Nhạc Phi thản nhiên bước đến, chàng thấy con ngựa này cao lớn và hết sức hung dữ. Nhạc Phi phải tránh né lanh lẹ lắm mới thoát khỏi đôi vó độc hiểm của con vật, rồi trở qua một bước giơ tay nắm chặt lấy chiếc bờm ghì xuống đánh cho một hồi. Quả là “mềm nắn, rắn buông”, con ngựa tỏ ra hiền lành, cúi đầu chịu thuần phục.

o0o 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-03 03:00:56Hoàng Dung>
đánh máy: ran_oo
hồi thứ sáu
Nhạc Phi báo hiếu cho dưỡng phụ
Thảo khấu Ngưu Cao, kết anh em


Nhạc Phi dắt con ngựa ra ngoài chỗ trống trải ngắm nghía hồi lâu, quả con ngựa không có điểm nào đáng chê bai được cả. Thân nó cao gần một trượng, bốn móng tròn vo, đầu thon mắt ngời lên như thủy tinh, lưng rộng, đuôi thon đẹp đẽ muôn phần, chỉ có bộ lông nó lem luốc không biết là sắc lông gì.
Nhạc Phi gọi tên giữ ngựa đến bảo:
- Ngươi hãy đem con ngựa này xuống ao tắm rửa sạch sẽ cho ta.
Tên giữ ngựa lè lưỡi lắc đầu ra vẻ sợ hãi không dám lại gần. Nhạc Phi biết ý bèn đem hàm thiếc khớp miệng ngựa lại, tên giữ ngựa mới dám dắt đi tắm.
Khi tắm rửa sạch sẽ, Nhạc Phi mới thấy con ngựa ấy sắc kim, chàng mừng rỡ vô cùng, dắt đến tạ ơn nhạc phụ.
Quan huyện Lý Xuân cho đem yên cương thắng vào, ông ngắm đi ngắm lại tấm tắc khen con tuấn mã hiếm có trên đời. Ông Châu Đồng cũng nói:
- Đúng là “vật các hữu chủ”, ta mừng cho con được vinh hạnh làm chủ con vậy quí giá ấy.
Sau đó cha con Châu Đồng từ giã quan huyện Lý Xuân ra về. Quan huyện cùng lên ngựa tiễn khách ra khỏi thành mới trở lại.
Trên đường về, Châu Đồng bảo Nhạc Phi:
- Sao con không cho nó chạy nước đại xem thế nào?
Nhạc Phi vâng lời, thúc hai chân vào hông và ra roi, thức thì con ngựa cất bốn vó chạy như bay. Châu Đồng cũng cố thúc ngựa đuổi theo, nhưng không tài nào theo kịp.
Về đến nhà, Nhạc Phi vội vã đem ngựa về trình cho mẹ hay, chàng nói:
- Nhạc phụ con tặng cho con ngựa để gọi là chút tình phụ tử.
Bà An Nhân mừng rỡ và cảm ơn Châu tiên sinh đã có lòng nâng đỡ con mình.
Hôm ấy Châu Đồng về đến nhà, bỗng nghe trong mình bứt rứt khó chịu, đôi mắt hoa lên, trong đầu nhức nối, đứng ngồi không yên. Nhạc Phi hay tin, vội đến hầu hạ suốt ngày đêm không rời nửa bước. Chàng hết sức chạy thuốc thang, nhưng bệnh tình dưỡng phụ mỗi ngày một trầm trọng. Mấy cha con các vị viên ngoại cũng đến góp phần chăm sóc song vẫn không hiệu quả.
Châu Đồng bảo Nhạc Phi đem chiếc rương của mình ra soạn đồ đạc cho ông xem rồi ông sa nước mắt nói:
- Chư viên ngoại ôi, hôm nay tôi đã đến ngày tận số rồi, lẽ ra trước phút lâm chung tôi phải có món gì đáng giá tặng cho Nhạc Phi để gọi là chút tình phụ tử trong giờ phút sinh ly tử biệt này. Song tôi chỉ là kẻ phiêu bạt giang hồ chỉ có vài bộ quần áo để dành làm hậu sự mà thôi.
Ba ông viên ngoại đồng thanh đáp:
- Xin tôn huynh hãy an dưỡng tấm thân, đừng lo nghĩ gì cả. Dầu cho tôn huynh có bề gì, chúng tôi nỡ lòng nào để cho một mình Nhạc Bàng Cử lo liệu hay sao?
Châu Đồng lại quay qua nói với Vương viên ngoại:
- Tôi thấy phía Đông Nam núi Lịch Tuyền có hòn núi nhỏ cao ráo, tôi muốn an giấc tại đó, mà Vương Quới bảo đó là đất của hiền đệ, vậy hiền đệ hãy vui lòng để cho tôi nằm ở đó nhé?
- Được lắm, chúng tôi sẵn sàng vâng theo lời tôn huynh chỉ dạy.
Châu Đồng giơ tay ra hiệu bảo Nhạc Phi lạy tạ rồi điểm một nụ cười trên đôi môi khô héo. Ông ta nấc lên mấy cái rồi trút hơi thở cuối cùng.
Lúc bấy giờ vào đời Tuyên Hòa năm thứ mười một, ngày mười bốn tháng chín. Châu Đồng hưởng thọ được bảy mươi chín tuổi. Nhạc Phi thương tiếc nằm lăn ra khóc sướt mướt, ai nấy đều rơi lụy thương cho con người tài ba lìa bỏ cõi trần.
Ba ông viên ngoại lo tẩm liệu và đón nhà sư đến làm lễ thất trai, thất tuần xong mới đem đến núi Lịch Tuyền mai táng.
Nhạc Phi lo cất nhà mồ và ngày đêm ở đó gìn giữ. Ba ông viên ngoại cũng sai con mình đến đó bầu bạn với Nhạc Phi cho khuây lãng.
Ngày tháng đi nhanh như bóng câu qua cửa, mới đây mà đã đến tháng ba rồi. Trong tiết thanh minh, ba ông viên ngoại mang hương hoa, trà quả đến núi Lịch Tuyền trước là viếng thăm phần mộ, sau khuyên giải Nhạc Phi.
Ba ông viên ngoại nói:
- Nay Bàng Cử còn mẹ già ở nhà không ai nuôi dưỡng, ở đây mãi như vậy sao tiện? Hãy sắm sửa về nhà ngay mới phải.
Nhưng Nhạc Phi vì quá thương Châu Đồng nên không chịu về. Vương Quới nói:
- Cha không nên khuyên giải làm gì vô ích, để chúng con làm một kế, nhất định Nhạc Phi phải về ngay.
Dứt lời, Vương Quới quật ngã cây cột, Trương Hiền xô mái, Thang Hoài bẻ kèo, chỉ trong nháy mắt phá tan căn nhà. Túng thế, Nhạc Phi mới chịu trở về.
Ba ông viên ngoại nói:
- Chúng ta về trước, ba con hãy ở lại cùng về với Bàng Cử cho có bầu có bạn.
Dứt lời cả ba đều tung mình lên ngựa dời khỏi núi Lịch Tuyền. Vương Quới bảo gia đinh mang rượu ra uống cho giải buồn.
Thang Hoài vừa nâng chén vừa nói:
- Lâu nay bác ở nhà trông đợi, hôm nay Nhạc đại huynh trở về chắc là bác mừng lắm đấy.
Trương Hiền nói:
- Thầy ta vội khuất bóng bỏ lại anh em ta văn võ vẫn còn tầm thường lắm nên không dám mộng tưởng đến hai chữ công danh, riêng có Nhạc đại huynh thì chắc chẳng chóng thời chầy cũng chiếm được bảng vàng làm vẻ vang dòng họ.
Nhạc Phi thở dài nói:
- Nay dưỡng phụ ta qua đời rồi, ta còn lòng nào mơ tưởng đến công danh nữa!
Vương Quới nói:
- Đại huynh mà còn vô tâm vọng tưởng như vậy thì anh em tôi đây còn mong tưởng gì đến việc ấy?
Bốn anh em đang trò chuyện, bỗng nghe bên ngoài có tiếng động. Vương Quới lật đật bước ra xem thì thấy một người từ trong đám lau chui ra vẻ mặt lơ láo, chàng vội nhảy đến chộp lấy cánh tay quát hỏi:
- Ngươi là ai? Lén lút trong bụi này để làm gì?
Tên ấy run lẩy bẩy sụp lạy lia lịa, miệng van lạy:
- Xin đại vương tha tội cho.
Nhạc Phi thấy thế vội bước tới quát Vương Quới:
- Hãy buông người ta ra ngay. Dọa làm gì cho người ta sợ hãi đến thế?
Rồi chàng ôn tồn hỏi người ấy:
- Anh em ta nhân dịp thanh minh đi tảo mộ sao ngươi lại gọi là đại vương?
Tên ấy nhìn thẳng vào mặt Nhạc Phi hồi lâu mới nói:
- Thế ra chư vị tướng công là người đi chơi thanh minh sao? Thế mà tôi cứ tưởng...
Bấy giờ người ấy mới hết sợ, vội chui vào bụi rậm gọi đồng bọn bước ra. Cả bọn có đến hai mươi người, kẻ mang gói, người quảy đồ ai nấy đều cúm rúm ra vẻ sợ hãi lắm.
Tất cả đều đồng thanh bảo bọn Nhạc Phi:
- Chư vị tướng công chớ nên chơi lâu chốn này vì phí trước đây là xóm Loạn Thảo Cang có kẻ cướp nguy hiểm. Chỗ ấy trước đây yên ổn lắm, nhưng chẳng hiểu tại sao gần đây lại có ăn cướp chặn đường người qua, kẻ lại. Hiện giờ bọn chúng còn đang chặn một tốp người đi buôn, toan cướp của, chúng tôi thấy thế sợ quá vội lẻn qua đây trốn tránh, lại gặp chư vị ngỡ là đồng bọn với kẻ cướp nên mới sợ hãi đến thế.
Nhạc Phi hỏi:
- Thế các người định đi đâu vậy?
- Thưa chúng tôi là người đi buôn muốn đến Hoàng huyện.
Nhạc Phi bảo:
- Từ đây đến Hoàng huyện đường sá trống trải lắm rồi, các người cứ việc đi đi, không sao đâu.
Bọn khách buôn nghe nói mừng rỡ vội bái biệt lên đường. Nhạc Phi quay lại bảo ba anh em:
- Thôi, chúng ta sửa soạn đi về cho sớm.
Vương Quới thưa:
- Thưa đại huynh, từ bén đến giờ tiểu đệ chưa từng thấy tên ăn cướp ra thế nào cả, sẵn dịp này anh em ta đến đó xem cho biết.
Nhạc Phi nói:
- Quân ăn cướp, hắn cũng là người, nhưng lòng dạ độc ác tàn bạo, không muốn làm ăn lương thiện, chỉ biết ẩn núp chốn núi non rừng rậm để cướp giật của người khác, như vậy có tốt gì mà đi xem cho bẩn mắt?
Vương Quới vẫn năn nỉ:
- Thì đại huynh hãy cho tiểu đệ đi xem một chuyến thử nào!
Trương Hiền cũng muốn đi nên vội xen vào:
- Nếu có đi thì chúng ta bẻ mỗi ngà một nhánh cây để hộ thân, chẳng lẽ bốn anh em ta sợ chúng nó sao?
Thang Hoài cũng muốn đi nên nói khích:
- Chốn ấy dù có thiên binh vạn mã chúng ta cũng chẳng sợ thay, huống hồ một lũ ăn cướp thì việc gì mà chúng phải lo ngại? Hơn nữa chúng ta toàn là những tay hào kiệt mà đã nghe người ta mắc nạn há lại làm ngơ đi sao? “Thấy điều nghĩa không làm sao gọi là anh hùng hảo hán?”.
Nhạc Phi đang lúc buồn bực không muốn can dự việc gì cả, song thấy ba người bạn đều cương quyết như vậy, chàng nghĩ thầm:
- “Ba người đã muốn như vậy, nếu ta không chiều lòng, ta sẽ bị khinh là hèn nhát”.
Nghĩ đoạn, chàng bảo kẻ tùy tùng mang hành lý về trước, còn mấy anh em mỗi người đi bẻ một nhánh cây vừa cầm tay rồi cùng thẳng đến Loạn Thảo Cang.
Đến nơi, chợt thấy một tên ăn cướp mặt đen như than, thân hình to lớn lạ thường đang ngồi chễm chệ trên con ngựa ô, hai tay cầm song đoản đao. Hắn mặc áo giáp thiết tỏa liên hường, đầu đội thiết khôi, đứng hiên ngang giữa đường chặn một tốp khách buôn độ mười lăm người.
Tên cướp trợn mắt hét lên:
- Hãy gom góp hết tiền bạc nộp cho ta thì mới mong ta tha chết cho.
Bọn khách buôn run lẩy bẩy quỳ mọp hai bên đường năn nỉ:
- Nhờ đại vương bao dung, chúng tôi toàn là kẻ đi làm thuê làm mướn, tay làm hàm nhai, trong túi rỗng không biết lấy chi nạp cho đại vương?
Tên ăn cướp cười to lên như quỉ hú và trầm giọng:
- Nếu các người nhất định không chịu nạp tiền thì chớ trách ta sao ra tay độc ác.
Nhạc Phi thấy thế quay lại khẽ bảo:
- Mấy anh em hãy đứng đây để một mình ta đến đó trước, xem sự thể ra sao đã.
Thang Hoài nói:
- Tôi xem tên ăn cướp kia dữ dằn lắm, mà huynh trưởng không có khí giới trên tay làm sao chống cự lại nó?
Nhạc Phi thản nhiên đáp:
- Ta sẽ dùng lời lẽ thuyết phục hắn, chừng nào không được mới dùng đến võ lực. Lúc ấy các đệ sẽ xông đến tiếp chiến chứ lo gì.
Dứt lời, Nhạc Phi ung dung bước đến trước mặt tên ăn cướp ôn tồn gọi:
- Kìa hảo hán, xin hãy vị tình tôi mà tha cho bọn người khốn khổ kia một lần đi.
Tên cướp quay sang trông thấy Nhạc Phi tướng mạo phương phi, mặt đẹp như hoa, ra dáng một thư sinh, hắn há hốc mồm cười khanh khách:
- Hà hà... Chính bản thân người cũng vậy, hãy trao tiền cho ta gấp, bằng không thì phải chịu chung số phận như bọn người kia.
Nhạc Phi vẫn không chút giận dữ, chàng mỉm cười đáp:
- Tôi biết lắm, tục ngữ có câu: “Ở nước nhờ nước, ở rừng nhờ rừng. Làm nghề chi phải thời nghiệp ấy”. Tôi đã đi qua đây tất nhiên phải chuẩn bị nạp tiền rồi, cần gì phải đòi hỏi nữa?
Tên cướp lộ vẻ ngạc nhiên nhìn thẳng vào mặt Nhạc Phi hồi lâu rồi dịu giọng:
- Hay lắm, thế mới đúng là người biết điều chứ.
Nhạc Phi tiếp:
- Chẳng giấu chi, tôi vốn là kẻ buôn bán lớn, đoàn xe chở hàng hóa hãy còn đi sau, đợi một tí nữa xe đến tôi dâng hàng hóa và vàng bạn cho, còn bọn người này toàn là những kẻ khốn nhổ, tiền bạc có bao nhiêu mà hảo hán phải nhọc công đòi hỏi?
Tên cường đạo nghe Nhạc Phi nói êm tai, ngỡ thiệt phất tay ra hiệu cho phép bọn khách buôn đi qua.
Cả bọn mừng rỡ lạy tạ rồi vội vã chạy thẳng một mạch không dám ngoái cổ lại.
Đứng đợi hồi lâu không thấy, tên cướp hỏi Nhạc Phi:
- Xe chở hàng của ngươi đâu, sao lâu đến thế? Ngươi có bao nhiêu tiền trong túi hãy mang trao trước đây đã.
Nhạc Phi cười gằn đáp:
- Theo tôi còn có ba đứa tùy tùng nữa, chẳng biết chúng có bằng lòng trao tiền cho ông không.
Tên cướp xoe tròn đôi mắt hét:
- Ba đứa nào, chúng ở đâu mà không ra đây?
Nhạc Phi đưa tay trỏ Vương Quới, Trương Hiển và Thang Hoài đang đứng ngoài xa, bảo:
- Ba đứa kia kìa, nếu ngươi thắng được chúng, ta sẽ trao hàng hóa tiền bạc cho ngươi, bằng không thì đừng mơ ước hão huyền.
Tên cướp nổi giận xung thiên, hét:
- Nếu có đánh thì đánh với ngươi chứ ta đường đường thế này lại đánh với kẻ tùy tùng ngươi sao? Hừ, ngươi dám cả gan vuốt râu cọp ư? Được, ta sẽ cho ngươi biết tay ta, nhưng ta có thiết đoản trong tay còn nhà ngươi tay không, có thắng cũng chẳng anh hùng gì.
Dứt lời, hắn treo thiết đoản trên lưng ngựa rồi nhảy xuống đất dùng hai tay không nhắm ngay mặt Nhạc Phi đấm một quả thật mạnh quyết hạ ngay đối thủ ngay tại chỗ. Nhưng Nhạc Phi vẫn xem thường, chàng không đưa ta ra đỡ mà chỉ tránh qua một bên khiến tên cướp đánh hụt, quả đấm vụt vào không khí phát lên một tiếng “vù” nghe ghê rợn.
Tên cướp đánh hụt giận quá, hắn xoay mình vận hết thần lực bồi thêm một quả nữa. Nhạc Phi cũng chẳng thèm đỡ gạt, chàng phóng mình né sang bên tả khiến tên cướp mất thăng bằng, thừa dịp chàng đá một ngọn cước, tên cướp văng nhào ra xa.
Anh em Vương Quới đứng đằng xa thấy thế cùng vỗ tay khen ngợi, khiến tên cướp lồm cồm ngồi dậy vừa xấu hổ vừa tức giận, hắn rút gươm giơ lên toan tự vẫn.
Nhạc Phi vội nhảy tới ôm chặt hắn lại, hỏi:
- Hảo hán làm cái gì là vậy?
Tên cướp nói trong tiếng nghẹn:
- Từ xưa tới nay ta chưa bao giờ bị thảm hại đến nước này, ta nhục nhã quá còn sống làm sao được nữa.
Nhạc Phi khuyên nhủ:
- Sao hảo hán lại nóng nảy thế? Chỉ vì ngươi bị mất thăng bằng nên té ngã chứ chúng ta đã giao đấu với nhau đâu? Đừng liều mình như vậy, chết oan mạng lắm.
Tên cướp bị Nhạc Phi nắm chặt cố sức vùng vẫy mà không nhúc nhích nổi, hắn biết đối phương có thần lực phi phàm nên vội hỏi:
- Chẳng biết tôn huynh danh tính là chi, quê quán ở đâu xin cho đệ biết với.
Nhạc Phi vội đáp:
- Ta họ Nhạc tên Phi, hiện ngụ tại làng Kỳ Lân.
- Tôn huynh là người ở làng Kỳ Lân?
- Phải đấy.
- Thế tôn huynh có biết ông Châu Đồng không?
Nhạc Phi ngạc nhiên buông tên cướp ra nhìn thẳng vào mặt hắn đáp:
- Ông ấy chính là dưỡng phụ tôi, nhưng tại sao ngươi biết mà hỏi?
Tên cướp gật đầu mấy cái và nói:
- Hèn chi võ nghệ tôn huynh cao cường cũng phải. Tôi có ngờ đâu tôn huynh lại là con của Châu tiên sinh, sao tôn huynh không nói trước để cho tôi thất lễ như vậy?
Dứt lời, hắn quì xuống lạy Nhạc Phi và xin lỗi. Nhạc Phi vội cúi xuống đỡ dậy rồi cùng nhau ngồi xuống đất chuyện vãn.
Tên cướp nói:
- Chẳng giấu chi tôn huynh, tôi chính là người ở Hiệp Tây tên Ngưu Cao, cha tôi vốn xuất thân nhà võ. Lúc người sắp qua đời có dặn bảo mẹ tôi phải đem con đi tìm ông Châu Đồng thọ giáo thì sau này con mới nên danh phận được. Vì thế mẹ con tôi lìa bỏ quê hương đi tìm cho gặp mặt Châu tiên sinh.
Dọc đường tôi hỏi thăm người ta mới biết tiên sinh hiện ở làng Kỳ Lân thuộc Hoàng huyện nên tôi lần đến đây, bỗng gặp một bọn cướp đón đường. Tôi đánh chết thằng đầu đảng của nó, đoạt lấy khôi giáp và ngựa, còn dư đảng của chúng tôi đuổi đi hết.
Sau đo tôi thấy ở đây địa thế hiểm trở, lại có con đường đi qua tấp nập khách buôn nên thầm nghĩ:
“Nếu như may mắn gặp được Châu tiên sinh mà trong mình không có một xu, biết lấy chi nuôi sống để theo đuổi học hành?”
Nên tôi thừa dịp ở đây đón khách qua đường đoạt chút ít tiền bạc, trước là để nuôi miệng, sau là có dư làm lễ ra mắt thầy. May thay gặp tôn huynh ở đây, xin tôn huynh hãy theo tôi ra mắt mẹ tôi đặng mẹ con tôi cùng theo tôn huynh đến bái kiến tiên sinh cho tiện.
Nhạc Phi nghe qua lấy làm cảm kích, chàng đáp:
- Thế thì hay lắm, song tôi còn mấy người anh em bạn kia, để tôi gọi qua đây giới thiệu cho biết mặt.
Ngưu Cao dẫn anh em Nhạc Phi đến một hang đá gặp mẹ già và kể lại câu chuyện vừa xảy ra cho me. Bà ta mừng rỡ vội bước ra tiếp và mời anh em Nhạc Phi vào động.
Sau khi mời an tọa, bà ta bày tỏ gia cảnh chẳng khác nào lời bày tỏ của Ngưu Cao lúc nãy.
Nhạc Phi nghe nói động lòng gạt lệ, thưa:
- Dưỡng phụ của tôi đã lìa trần từ hôm tháng chín năm ngoái.
Ngưu mẫu nghe nói lấy làm đau xót, bà nước mắt than:
- Tôi vâng lời di chúc của tiên phu tôi, chẳng ngại đường xa muôn dặm tìm cho được tiên sinh; chẳng may đến đây tiên sinh đã qua đời, thật tôi vô phúc quá. Con tôi chắc bị thất giáo, còn mong chi hai chữ công danh.
Nhạc Phi khuyên nhủ:
- Xin lão mẫu bớt cơn phiền muộn, thật ra tài ba của tôi chẳng bằng dưỡng phụ tôi thật, song tôi cũng được người truyền dạy ít nhiều. Vậy nay lão mẫu đã đến đây rồi thì xin hãy về nhà tôi tá túc cho Ngưu đệ tiện bề luyện văn, tập võ với anh em chúng tôi.
Ngưu mẫu nghe nói thì vô cùng sung sướng, đổi buồn làm vui tỏ lời cảm tạ Nhạc Phi rối rít.
Ngưu Cao đỡ mẹ lên ngựa rồi cùng bọn Nhạc Phi trở về Vương gia trang.
Đến nơi Ngưu mẫu làm lễ ra mắt bà An Nhân rồi mời ba ông viên ngoại đến tỏ bày hoàn cảnh của mình. Ai nấy cũng đều cảm kích thương mến con người biết tầm sư học đạo.
Sau đó chư viên ngoại truyền dọn cơm mời mẹ con Ngưu Cao rồi để Ngưu mẫu ở chung với bà An Nhân cho có bạn sớm khuya trò chuyện.
Ngưu mẫu chọn ngày lành tháng tốt cho Ngưu Cao lạy Nhạc Phi kết nghĩa anh em rồi theo Nhạc Phi luyện tập văn chương và võ nghệ.
Một hôm, năm anh em Nhạc Phi đang thao luyện võ trong vườn Vương gia trang, Vương Quới thoáng thấy có kẻ rình xem, chàng bước ra trỏ mặt người ấy quát lớn:
- Ngươi ở đâu? Đến nhà người ta dòm ngó điều chi?
Người ấy giật mình bước vào vòng tay tay thi lễ đáp:
- Tôi là Lý trưởng sở tại đến đây có việc quan, nhưng thấy chư vị đang thao luyện võ nghệ, sợ quấy rầy chư vị nên đứng đây chờ đợi, sẵn xem chơi chớ chẳng phải kẻ gian phi.
Vương Quới lại hỏi:
- Việc quan là việc gì?
- Thưa có văn thư của Tiết Đạt Đô Viện sứ là Lưu đại nhân ở Tương Châu gửi đến.
Nói rồi trịnh trọng đưa tờ văn thư cho Nhạc Phi. Nhạc Phi giở ra đọc rồi mừng rỡ nói với mọi người: Ngài Đô Viện sứ triệu tập các võ sĩ phải tề tựu đến tỉnh để khảo thí. Khi đậu rồi mới đến kinh đô tranh tài giành chức Võ Trạng nguyên.

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-03 03:07:22Hoàng Dung>
đánh máy:ran_oo
hồi thứ bảy
Quan huyện Từ Nhân mơ thấy cọp
Năm trang hảo hán trổ võ công

Ngưu Cao sốt ruột nói với Nhạc Phi:
- Ngày mai Nhạc huynh lên huyện cố nói với Nhạc lệnh đường ghi tên cho ngu đệ được kháo thí!
Hôm sau một mình một ngựa, Nhạc Phi đến ra mắt nhạc phụ và thưa:
- Chúng con sắp đến Tương Châu khảo thí, song trong bọn chúng con có người anh em bạn tên Ngưu Cao ngày trước không đi ứng thí nên không có tên trong danh sách thí sinh, vậy nhờ nhạc phụ ghi thêm tên người ấy vào để anh ấy được đi cùng chúng con luôn thể.
Ông huyện Lý Xuân gật đầu rồi gọi nha lại biên thêm tên Ngưu Cao và nói:
- Như hiền tế có đến Tương Châu ứng thí thì ta sẽ viết cho một phong thư mang đến trình cho người bạn ta tên Từ Nhân, người ấy làm quan thanh liêm chánh trực có tiếng, được ông Đô Viện yêu mến vô cùng. Phòng khi có gặp điều chi trở ngại thì ông ta sẽ giúp đỡ cho.
Nhạc Phi cúi đầu cảm tạ rồi lãnh thư ra về.
Khi về đến sân nhà Vương viên ngoại, chàng mừng rỡ reo lên:
- Tên của Ngưu Cao được ghi vào sổ rồi. Ngày mai chúng ta cùng đi xuống tỉnh ứng thí vui quá!
Mấy anh em đi dọc đường nói nói, cười cười, chỉ có Nhạc Phi sắc mặt buồn bã vì chàng nghĩ thầm:
- Ông bà ta ở huyện Thang Âm, ta phải phiêu bạt mười mấy năm ở xứ người.
Chàng càng nghĩ càng đau lòng, nước mắt nhỏ ròng ròng.
Vừa bước vào thành Tương Châu, Nhạc Phi đã thấy một cửa tiệm phía trước có đề hàng chữ mạ vàng: :Giang Chấn Tử An Ngự Khánh Thương Điếm”.
Bọn Nhạc Phi gò cương lại rồi xuống ngựa bước vào.
Chủ tiệm Giang Chấn Tử từ trong chạy ra niềm nở đón mời, bọn gia nhân kẻ xách hộ hành lý, kẻ dắt ngựa, riêng phần ông ta thì dắt năm anh em Nhạc Phi lên lầu dùng cơm.
Nhạc Phi hỏi Chấn Tử:
- Bây giờ là mấy giờ rồi?
- Thưa, bây giờ đã đúng giờ ngọ.
Nhạc Phi suy nghĩ giây lâu rồi lẩm bẩm:
- Thổi để mai đi cũng được.
Chấn Tử tò mò hỏi:
- Chẳng hay chư vị định đi đâu mà có ý gấp vậy?
Nhạc Phi đáp:
- Có thư gửi đến huyện này, do ta mang đến.
Chấn Tử gật đầu:
- Tuy bây giờ đã đúng ngọ, nhưng trong huyện hãy còn làm việc, vì ông huyện này đến làm quan tại đây đã hơn chín năm, có tiếng là thanh liêm chánh trực. Nghe đâu có tin đồn đổi đi chỗ khác, nhưng dân chúng quá thương mến, kêu nài ở lại đấy.
Nhạc Phi lại hỏi:
- Không biết đường từ đây đến huyện gần hay xa?
Chấn Tử đáp:
- Không xa mấy, chư vị đi thẳng chừng trăm bước rồi rẽ qua phía Nam thì trông thấy nha môn ngay.
Nhạc Phi thò tay vào bọc lấy thư rồi cùng bốn anh em đi thẳng đến huyện đường.
Nói qua ông huyện Từ Nhân đêm qua nằm mộng trông thấy một điềm chiêm bao không biết lành dữ thế nào, lấy làm lo ngại bèn gọi các đề lại tới và bảo:
- Đêm hô qua ta thấy một điềm chiêm bao rất lại nên kinh hãi, chẳng hay trong huyện đường nài có ai biết đoán mộng hay không?
Một viên thơ lại tên Bá Hiển bèn lên tiếng thưa:
- Tôi đoán mộng hay lắm, chẳng hay lão gia trông thấy chi vậy?
Quan huyện Từ Nhân nói:
- Vào khoảng canh ba ta thấy năm cọp năm sắc nhảy bổ vào phòng chộp ngay cổ ta, ta thất kinh giật mình thức dậy, mồ hôi toát ra ướt cả áo, chẳng biết điềm ấy lành dữ thế nào?
Bá Hiểu vui vẻ đáp:
- Thế thì xin mừng cho lão gia gặp điềm lành đấy. Xưa Châu Văn Vương cũng chiêm báo thấy gấu xông vào phòng mà có được ông Khương Tử Nha...
Bá Hiểu vừa nói đến đây, quan huyện bỗng đập bàn nạt lớn:
- Ngươi đừng nói bậy! ta là hạng người tầm thường, sao ngươi dám đem so sánh với bậc thánh hiền?
Bà Hiểu sợ hãi làm thinh không dám nói thêm nữa, bỗng có quân canh vào báo:
- Có năm người võ sĩ đến huyện đường xin ra mắt lão gia, để trao thư của quan huyện Lý Xuân gửi đến, hiện họ còn đứng ngoài đợi lệnh.
Quan huyện lập tức truyền quân canh mời vào. Năm người vào làm lễ xong, Nhạc Phi lấy thư trao ra.
Quan huyện Từ Nhân tiếp lấy thư, và thoáng thấy tướng mạo năm võ sĩ ấy vạm vỡ khôi ngô, nghĩ thầm:
- “Ta nằm chiêm bao trông thấy năm cọp, tượng trưng cho năm người này chăng?”
Quan huyện xem thư xong gật đầu:
- Được rồi, các ngươi hãy về nghỉ, để ta bảo Trung Quân Hồng Tiên giúp đỡ các ngươi trong việc này cho.
Bọn Nhạc Phi cúi đầu tạ ơn rồi cùng nhau ra về.
Qua hôm sau, anh em Nhạc Phi đến ra mắt Hồng Trung Quân xin khảo thí. Hồng Tiên quay lại hỏi hai bên tả hữu:
- Những võ sĩ này đã có lễ vật gì chưa?
- Thưa, không thấy ai mang lễ vật gì đến cả.
Nhạc Phi nghe nói vội chắp ta thưa:
- Kẻ võ sinh này lâu nay chưa biết qui củ thế nào nên không mang lễ vật theo, vậy xin ngài để tôi sai gia nhân về sắm sửa mang đến sau.
Hồng Tiên gằn giọng:
- Không được, ta bảo cho ngươi biết, lúc nào ngươi mang lễ vật đến ta sẽ khảo hạch cho, còn bây giờ không có hãy rút lui ngay, đừng xin xỏ uổng công vô ích.
Nhạc Phi tức giận bảo ra ngoài bàn bạc cùng anh em, bỗng thấy ông huyện Từ Nhân đi kiệu đến, mấy anh em Nhạc Phi vội bước xuống ngựa đến hầu.
Ông huyện Từ Nhân hỏi:
- Sao mấy anh em không đến Hồng Trung Quân cho người khảo hạch?
Nhạc Phi thưa lại mọi chuyện, ông huyện Từ Nhân bảo:
- Vậy thì các ngươi hãy theo ta đến ngay quan đầu tỉnh xin ứng thí.
Năm anh em vâng lời theo quan huyện đến viên môn gửi đơn vào xin ra mắt. Giây phút sau có người ra mời quan huyện vào. Quan huyện là lễ xong, quan đầu tỉnh Lưu Đô Viện mời ông ngồi. Ông huyện Từ Nhân thưa:
- Hiện có năm tên võ sinh ở Hoàng Huyện đến xin đại nhân khảo hạch cung mã, chẳng biết đại nhận có bằng lòng thu nhận không?
Ông Lưu Đô Viện nghe nói vội sai Kỳ bài quan ra mời năm người vào ngay. Bọn Nhạc Phi vội bước vào quì lạy. ông Lưu Đô Viện trông thấy tướng mạo năm người khôi ngô tuấn tú trong lòng mừng thầm, lại thấy Hồng Trung Quân bước vào.
Vừa thoáng thấy bọn Nhạc Phi, Hồng Trung Quân liền bẩm với quan đầu tỉnh:
- Năm tên này cung mã hãy còn tầm thường, phải về tập luyện thêm, khoa sau sẽ đến ứng thí. Sao chúng dám đến đây kêu nài với ngài, chẳng lẽ chúng dám khinh thường hạ quan đến thế?
Ông huyện Từ Nhân lớn tiếng nói:
- Đó chỉ là vì năm người này không đem lễ vật đến lo lót nên bị đuổi về chứ gì? Ta thiết tưởng ba năm mới có một kỳ thi, ai mà không vọng tưởng. Xin đại nhân xét lại kẻo tội nghiệp cho kẻ hậu sinh.
Hồng Tiên vẫn nằng nặc bẩm:
- Quả thật năm tên này tôi đã khảo xét rồi, võ nghệ tầm thường trói gà không chặt, sao ông lại dám cáo buộc tôi như vậy? Nếu ông bảo năm tên này võ nghệ cao cường thì thử hỏi chúng có dám tỉ võ cùng tôi không?
Nối đến đây Hồng Tiên nhìn bọn Nhạc Phi ra vẻ hằn học.
Nhạc Phi dõng dạc đáp:
- Nếu thượng quan cho phép thì tôi xin tuân theo vậy.
Ông Lưu Đô Viện thấy thế bèn cho phép hai người tỉ thí bộ chiến.
Hồng Tiên ra vẻ dương dương tự đắc sai quân về lấy binh khí Tam Cổ Thác Thiên Ngại đem đến rồi ông ra thế Ngũ Hổ Cầm Dương đứng hiên ngang giữa đấu trường lớn tiếng bảo Nhạc Phi:
- Ngươi có giỏi thì nhảy vào đây tỉ thí với ta xem nào.
Nhạc Phi chẳng chút sợ hãi, tay cầm Lịch Tuyền Thương mâu áp dụng thế Đơn Phụng Triều Tiên, thân chàng bay xẹt lại như con én liệng rồi nói:
- Xin thượng quan chớ chấp nhé.
Dứt lời chàng tiến sát người Hồng Tiên, lão ta đang cơn tức giận lập tức vận hết thần lực đánh xuống một nhát quyết đập nát thây Nhạc Phi lập tức. Nhưng Nhạc Phi tránh khỏi một cách dễ dàng khiến mọi người đứng xung quanh ai nấy đều khâm phục võ nghệ của chàng.
Hồng Tiên nổi giận sôi gan tránh sang một bên rồi quất ngang một roi, Nhạc Phi tung mình lên không rồi đáp xuống như một chiếc lá rơi. Chàng muốn đánh trả lại một thương nhưng lại nghĩ thầm:
- “Ta tỉ thí với lão để người ta trông thấy trình độ võ thuật của mình chứ ta có thù oán chi với lão mà ra độc thủ”.
Nghĩ vậy nên chàng tránh né hồi lâu rồi thối lui ra sau. Hồng Tiên thấy thế mừng rỡ reo lên:
- Thế là ngươi thua rồi.
Vừa reo Hồng Tiên vừa lao mình tới nhằm vào giữa lưng Nhạc Phi giáng xuống một roi định kết liễu đời chàng. Nhạc Phi nổi giận quay lại lấy thương gạt ngang một cái khiến lão ta bị giật lùi nửa bước, chàng thừa thế lấy cán thương đánh vào mình Hồng Tiên một cái rất nhẹ nhàng, nhưng Hồng Tiên mất thăng bằng nên ngã nhào xuống đất, binh khí rời khỏi tay văng ra xa. Quan quân đứng xung quanh đều vỗ tay khen Nhạc Phi võ nghệ cao cường.
Hồng Tiên vừa lồm cồm đứng dậy đã bị ông Lưu Đô Viện chỉ vào mặt, quát mắng:
- Võ nghệ của của ngươi kém cỏi như vậy mà làm quan Trung Quân sao được?
Rồi truyền quân lột áo đuổi khỏi nha môn tức khắc, đồng thời bảo bọn Nhạc Phi lần lượt biểu diễn cung mã cho ông xem.
Bốn anh em Vương Quới, Thang Hoài, Trương Hiển và Ngưu Cao đều biểu diễn cưỡi ngựa bắn cung hết sức điêu luyện, khiến mọi người vỗ tay rầm rộ, ông Đô Viện cũng tấm tắc khen thầm. Đến lượt Nhạc Phi ra biểu diễn thì tài cao xuất chúng khiến ông Đô Viện lòng như nở hoa. Ông bước tới vỗ vai Nhạc Phi bảo:
- Có phải ông là người ở Hoàng huyện không?
- Thưa đại nhân, nguyên tiểu sinh ở huyện Thang Âm làng Vĩnh Hòa xóm Hiếu Đễ. Nhưng khi mẹ tôi mới sinh tôi được ba ngày thì bị nước lụt, cả làng bị thủy tai, nhà cửa trôi hết. Mẹ tôi bồng tôi chui vào một cái chum lớn, nước trôi qua Hoàng huyện, nhờ có ân công tôi là Vương Minh cứu vớt cho mẹ con tôi tá túc từ bấy đến nay, lại nhờ có dưỡng phụ tôi là Châu Đồng truyền dạy văn võ cho năm anh em tôi mới được như ngày hôm nay. Xin quan lớn vui lòng cho giấy để anh em tôi được vào Đông Kinh thi hội. Nếu mai sau có đặng thành danh thì khi trở về quê cũ, ơn nghĩa của quan lớn rất cao dày.
Ông Lưu Đô Viện nghe Nhạc Phi phân tỏ đầu đuôi, lấy làm cảm kích và mừng rỡ vô cùng, bảo:
- Các ngươi được Châu tiên sinh dạy bảo hèn chi võ nghệ rất cao siêu. Lâu nay bổn quan đã từng nghe danh ông Châu Đồng văn võ tài toàn, và triều đình cũng đã cho đến thỉnh cầu đôi ba phen mà ông không chịu ra làm quan. Vậy các ngươi hãy về sửa soạn để ta giới thiệu ra kinh đô lập công danh.
Nói đến đây, ông quay lại bảo quan huyện Từ Nhân:
- Quan huyện hãy về điều tra kỹ quê quán của Nhạc Phi và tìm cho ra cái nền nhà cũ ấy ở đâu, để ta xuất bạc cho hắn xây cất lại nhà cửa, trở về quê cũ. Ta chắc Nhạc Phi sau này sẽ trở nên một danh nhân chớ chẳng không.
Quan huyện Từ Nhân chắp tay từ tạ rồi dẫn bọn Nhạc Phi trở về huyện đường, mở tiệc thết đãi và bảo:
- Ta đã sửa soạn nhà cửa thì cháu phải lo sắp đặt đưa lệnh đường trở về quê nhà.
Nhạc Phi tạ ơn rồi cùng mấy anh em trở về nơi quán trọ tính tiền cơm trả cho chủ tiệm, mới từ giã trở về nhà.
Nhạc Phi thuật lại hết đầu đuôi cho mẹ nghe, bà An Nhân vô cùng mừng rỡ. Mấy anh em cũng về thưa lại cho cha mẹ hay rằng Nhạc Phi được quan trên giúp đỡ cho trở về quê cũ. Mấy ông viên ngoại nghe nói nửa vui nửa buồn. Khi thấy Nhạc Phi đến, ông Vương Minh động lòng, sa nước mắt nói:
- Bàng Cử ôi, khi Châu tiên sinh còn sống thường bảo rằng: Sau này muốn cho bọn trẻ nên danh thì không nên rời xa Bàng Cử, thế mà hôm nay cháu trở về quê cũ, thì làm sao ta rời bỏ cho đành?
Nhạc Phi thưa:
- Chỉ vì Lưu đại nhân ân dày nghĩa trọng nên cháu chẳng dám trái lời. Nay cháu đành phải cách biệt thúc bá cùng chư huynh đệ, thật chẳng đành lòng, nhưng cháu chẳng biết tính làm sao cho vẹn toàn cả.
Ngẫm nghĩ hồi lâu, Trương viên ngoại nói:
- Ta có cách làm cho anh cháu chẳng phải xa cách nhau.
Thang viên ngoại hỏi vội:
- Cách gì vậy?
Trương viên ngoại thong thả nói:
- Chúng mình đây không phải có năm trai bảy gái gì, vậy thì của cải mỗi người nên chia làm hai phần, một phần để lại cho gia nhân ở lại coi sóc ruộng nương, còn bao nhiêu mang đến Thang Âm huyện ở với Bàng Cử. Con mình ngày sau được nên danh phận, chúng mình chẳng được vinh hiển hay sao?
Các ông viên ngoại đồng thanh nói”
- Ý kiến ấy hay lắm, vậy thì chúng ta nên thu xếp đi.
Nhạc Phi thưa:
- Gia sản của chư thúc bá quá lớn lao mà thu xếp như vậy e bất tiện chăng? Vậy xin chư thúc bá hãy suy tính lại.
Các ông viên ngoại đồng thanh đáp:
- Chúng ta đã quyết định như vậy rồi, Bàng Cử chớ lo.
Sáng sớm hôm sau, Nhạc Phi tạ từ mẫu thân xuống Hoàng huyện ra mắt nhạc phụ. Quan huyện Lý Xuân hỏi:
- Hiền tế đến Tương Châu thi cử thế nào?
Nhạc Phi thuật lại đầu đuôi câu chuyện, chàng không quên nói rõ việc Trung Quân đòi hối lộ và cuối cùng chàng được tỉ thí rồi được Lưu công giúp đỡ xây cất nhà cửa để trở về sống ở quê hương. Nhạc Phi đứng dậy chắp tay thưa:
- Mọi việc được may mắn và vinh hiển như hôm nay đều do công ơn của nhạc phụ, nên nay con đến để tạ ơn.
Quan huyện Lý Xuân nói:
- Hiền tế chớ nên nghĩ vậy, đây là nhờ ơn Lưu công nên hiền tế được về quê hương lập lại sự nghiệp của ông bà, ơn ấy rất trọng. Vậy ta muốn gửi lời hiền tế về thưa lại với lệnh đường rõ ý nguyện của ta.
Ngưng một lúc, quan huyện tiếp:
- Ta muốn cho ái nữ ta về cùng lệnh đường cho có mẹ có con và để người dạy dỗ. Bảy ngày nữa là ngày Hoàng đạo, ta muốn đưa nó về quê con rồi làm lễ thành thân. Người ta thường nói “an cư mới lạc nghiệp”, ta muốn hiền tế thu xếp ổn thỏa việc nhà trước lúc lên đường tìm lập sự nghiệp công danh.

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-03 03:09:44Hoàng Dung>
đánh máy: ran_oo
hồi thứ tám
Nhạc Phi cưới vợ, về quê cũ
Huynh đệ chờ thời, lập công danh


Nghe quan huyện Lý Xuân nói vậy, Nhạc Phi không khỏi bối rối trong lòng. Chàng thưa:
- Tiểu tế nhà nghèo, mọi thứ chưa sắm sẵn, sợ việc nghênh hôn quá gấp, không kịp ngày; xin nhạc phục cho hoãn lại để con xuống kinh kỳ hội thí rồi trở về nghênh hôn được không ạ?
Ông huyện Lý Xuân nói:
- Ta nay tuổi đã già, không con nối nghiệp, còn hiền tế thì đi xa. Nếu may ra thi đậu làm quan bổ đi nơi khác lại càng trở nên bất tiện hơn nữa. Chi bằng sẵn dịp trở về quê cũ nên nghênh hôn luôn thể là phải. Lòng ta đã định, hiền tế chớ nên từ chối, phải về sắm sửa, đến ngày ấy ta đưa con ta đến.
Nhạc Phi từ tà ra về đến làng Kỳ Lân trông thấy các viên ngoại đang bàn luận chuyện dời qua Thang Âm. Mấy ông vừa thấy Nhạc Phi vào vội hỏi:
- Bàng Cử đã từ tạ nhạc phụ rồi sao?
- Vâng, người hay tin cháu sắp trở về cố hương nên tính đưa tiểu thư cùng về cho tiện.
- Thếthì hay lắm đấy.
Nhạc Phi thở dài:
- Chư vị thúc bá nghĩ xem, nhà cháu thì nghèo, mà việc nghênh hôn gấp rút như vậy làm sao cháu biện liệu chu đáo được.
- Ồ, việc gì chớ việc ấy cháu khỏi lo, chúng ta sẽ mỗi người góp một tay lo liệu chu tất. Cháu hãy về thưa lại với lệnh đường nên dọn đến đây để bố trí tân phòng rộng rãi hơn.
Nhạc Phi tạ ơn ra về thưa lại cho mẹ hay, bà An Nhân lấy làm vừa ý vội sắp sửa dọn sang nhà Vương viên ngoại ngay.
Vương viên ngoại có tiếng là người mau tay, nhanh miệng, nên vội vã thúc gia đinh quét dọn trong ngoài, treo hoành, phủ trướng, treo kèn kết hoa, trang hoàng rực rỡ. Thiếp mời gửi đi khắp nơi, khách xa gần đến chúc mừng chật ních cả trong ngoài, đúng là lễ nghênh hôn của con nhà quyền quí.
Hôm ấy quan huyện Lý Xuân bệ vệ trong chiếc áo rộng thùng thình, theo sau là kẻ khiêng, người xách đưa dâu đến nhà Vương viên ngoại.
Họ nhà tra ra tiếp đón trọng thể, pháo nổ liên hồi, hai cô phù dâu đỡ tiểu thư đi thẳng vào tân phòng cùng Nhạc Phi làm lễ bái tại trời đất và lễ động phòng hoa chúc.
Sau khi chàng rể bái tạ nhạc phụ, chư viên ngoại cùng hai họ vào bàn tiệc.
Rượu được vài tuần, quan huyện Lý Xuân đứng dậy nói:
- Hiền tế hãy còn trẻ tuổi, nếu có việc chi sơ suất mong chư vị vui lòng dạy bảo. Nay sắp về quê, đáng lẽ tôi tiễn nó vài dặm đường mới phải, song công việc nha huyện hiện nay bề bộn bỏ đi chẳng tiện, nên sẵn đây tôi gửi gắm con rễ tôi cho chư viên ngoại và xin cáo từ luôn thể.
Chư viên ngoại biết có giữ lại cũng không được, nên phải đưa tiễn ông trở về huyện đường. Hôm sau Nhạc Phi đi với mấy anh em xuống huyện tạ ơn ngài.
Ông huyện sai bày tiệc thiết đãi, mấy anh em đồng môn ăn uống vui vẻ. Tiệc xong ông ta căn dặn:
- Hiền tế cùng các cháu có xuống kinh thành thi hội, kết quả ra sao sẽ cho ta biết sớm kẻo ở nhà ta trông tin đấy!
Mấy anh em cùng vâng dạ rồi từ tạ ra về.
Về đến làng Kỳ Lân, trông thấy nhà Vương viên ngoại tấp nập kẻ trong người ngoài lo dọn gia tài của ba viên ngoại chất lên xe lừa và xe tay đầy ắp, tính có hơn trăm xe vẫn chưa hết.
Khi sắp đặt đâu đó an bài, năm nhà vừa gái vừa tra hơn trăm người cùng khởi hành một lượt. Xe chở đồ đạc đi trước, người thủng thỉnh đi sau, rầm rộ nhắm Thang Âm thẳng đến. Trong đó có kẻ được về quê, có người lại phải cách xa quê nhà nhưng cuộc chia tay thật là vui vẻ, không đượm một chút u buồn.
Cứ ngày đi, đêm lại tìm chỗ nghỉ ngơi, qua ngày thứ ba, mặt trời đã lặn mà đoàn người vẫn còn lững thững chốn hoang vu, xung quanh không thấy nhà cửa chi hết. Nhạc Phi bèn thúc ngựa đến gọi mấy anh em bảo:
- Chúng ta mải lo việc đi cho mau đến, nên quên lo liệu chốn nghỉ ngơi. Ta còn phải đi đến bốn mươi dặm đường nữa mới có xóm nhà mà xe cộ ta bề bộn như vậy, trời lại sắp tối, không thể nào đến đó kịp. Còn nơi đây hoang dã, chỗ đâu cho mấy bà cùng thúc bá nghỉ lưng? Vậy anh em hãy phân nhau đi tìm kiếm quanh đây xem có chỗ nào tạm trú được qua đêm nay không?
Thang Hoài và Trương Hiển thúc ngựa chạy đi tìm kiếm hồi lâu mới trở lại thưa:
- Nơi đây quả là chống hoang dã, bọn đệ đã đi xa hàng mười dặm vẫn không thấy nhà cửa chi hết, chỉ có phía Tây cách đây ba dặm có một cái miếu sơn thần thổ địa, tuy đã hư hại song vẫn còn một đôi chỗ nghỉ ngơi được. Ngặt nỗi là trống trải lắm và không có chỗ nấu cơm ăn.
Vương Quới nói:
- Chẳng hề chi, ta có đem theo đủ thực phẩm, gạo thóc lại sẵn có chảo nồi, cứ việc đến đó rồi sai người đi kiếm củi về nấu cơm ăn đỡ một đêm cũng được.
Ngưu Cao lại xen vào:
- Hay lắm, hay lắm. Cứ việc đến đó nấu cơm lẹ đi chớ tôi đói bụng lắm rồi.
Nhạc Phi bảo Thang Hoài đi trước dẫn đường, còn chàng lo đốc thúc gia đinh đẩy xe, dắt lừa đến miếu thổ địa.
Đến nơi, chàng bảo đẩy những xe chở đồ đạc sắp hàng hai bên. Các bà An Nhân, Viện Quân cùng Lý tiểu thư và bọn a hoàn xúm xít nhau nghỉ trước điện.
Phía sau điện lại có vài ba căn nhà trống trải, bên trong có mấy chiếc quan tài hư mục rã rời mỗi nơi một mảnh, gần bên đó có dấu vết một căn nhà bếp nhưng bếp lò đã bể nát, cỏ bìm mọc phủ lên gần lấp mất.
Vương Quới và Ngưu Cao bụng đã đói như cào nên đốc thúc gia đinh dọn dẹp sạch sẽ, đứa thì lượm gạch chất làm ông táo, đứa thì xách nước, nổi lửa nấu cơm. Khi cơm dọn thì trời vừa chạng vạng.
Chư viên ngoại cùng gia quyến ngồi vào mâm. Bữa cơm ngoài trời tuy đạm bạc nhưng đầy thân mật và ngon đáo để, ai nấy đều ăn xong cả mà Ngưu Cao vẫn còn ngồi uống rượu tì tì.
Nhạc Phi đến bảo:
- Ngưu đệ không nên uống rượu thái quá vậy. Nơi đây là chốn đồng hoang cỏ dại lại trống trải lạnh lẽo, rủi đêm khuya gió máy thì biết tính sao? Hãy ráng đến Thang Âm yên ổn rồi muốn uống bao nhiêu cũng được.
Ngưu Cao vâng lời không dám uống rượu nữa, chỉ ăn cơm mà thôi.
Sau khi dọn dẹp tươm tất, chư viên ngoại và mấy bà đều an nghỉ hết, Nhạc Phi bèn kêu mấy anh em ra ngoài căn dặn:
- Bây giờ Thang và Trương hiền đệ phải nai nịt sẵn sàng ra phía sau miếu canh phòng, còn Vương hiền đệ canh phòng phía tả, Ngưu hiền đệ phía hữu. Chúng ta chớ nên sơ suất nhé.
Ngưu Cao tỏ vẻ bất bình, càu nhàu:
- Đi miết cả ngày mệt nhọc, trông cho đến chỗ nghỉ ngơi cho khỏe để mai còn đi nữa. Ở đây là chỗ không người trước sau vắng vẻ, đại ca sợ nỗi gì mà bắt chúng tôi canh phòng cho mệt xác? Các hiền huynh cứ đi nghỉ hết đi, có điều gì Ngưu Cao này chịu cho.
Nhạc Phi mỉm cười vỗ vai Ngưu Cao bảo:
- Vẫn biết vậy, nhưng ở đời việc gì cũng nên đề phòng trước là hay hơn. Nghèo khó thì chẳng lo chi chứ vàng bạc của chư viên ngoại hằng mấy xe thế này không lo sao được? Vả lại trên đường đi nếu có điều gì sơ suất, có phải người ta chê cười chúng mình là không đáng mặt anh hùng không? Vì vậy anh em phải nghe lời tôi, canh phòng cho nghiêm ngặt. Riêng tôi giữ phía trước, nếu có thiên binh vạn mã đến ta cũng chẳng nao núng. Tôi mong cho đi đến nơi về đến chốn, bình yên mới an dạ.
Ngưu Cao nói:
- Thôi được rồi, cứ để phía hữu đấy cho đệ canh giữ cho.
Chàng nói vậy sợ mếch lòng Nhạc Phi chứ trong bụng lại thầm nghĩ:
- Trong lúc thái bình như vầy, trộm cướp đâu mà đại huynh khéo lo xa cho vất vả!
Rồi Ngưu Cao dắt ngựa qua phía hữu buộc vào cây cột, đoạn dựa lưng vào vách ngủ ngon lành.
Khi bốn anh em đi rồi, Nhạc Phi đóng cửa và bưng cái lư hương bằng đá chặn lại cho chặt chẽ, tay cầm Lịch Tuyền thương đi rảo ra phía trước.
Đêm hôm ấy là đem hăm ba, không có trăng, bầu trời tối đen như mực, ngửa bàn tay không thấy.
Vừa bước qua đầu canh hai, bỗng nghe có tiếng người lao xao và tiếng ngựa hí rộn ràng, rồi phía trước có tiếng quát to như sấm:
- Hãy bao vậy đừng để cho Nhạc Phi thoát khỏi.
Nhạc Phi nghĩ thầm:
- “Ta có gây thù kết hận với ai đâu, sao có người gọi đích danh ta và quyết tính hãm hại như vậy?”.
Chàng trố mắt nhìn xem, đoàn người ngựa mỗi lúc một đến gần, đèn đuốc sáng choang, chàng mới rõ đây là bộ hạ của Hồng Tiên làm quan Trung Quân. Vốn tên này xuất thân là tướng cướp, ông Lưu Thế Quang thấy nó có sức khỏe hơn người lại có đôi chút võ nghệ nên cho làm đến chức Trung Quân. Nhưng tính tham lam hay ăn hối lộ và ghen ghét kẻ hiền tài nên vừa rồi tỉ võ với Nhạc Phi bị cách chức đuổi về, hắn vô cùng căm tức liền thu thập bọn lâu la cũ cùng bới hai con là Hồng Văn, Hồng Võ theo dõi Nhạc Phi để báo thù.
Nhạc Phi nghĩ thầm:
- “Ta nên thủ thế là hơn. Ta cố giữ chặt cửa lớn, còn các phía kia đã có mấy anh em, chắc chúng nó không thể phá được. Đánh một hồi không thắng được thì chúng phải bỏ đi thôi”.
Nghĩ đoạn, chàng gò ngựa cầm thương mắt đăm đăm nhìn ra phía trước để đề phòng mọi bất trắc có thể xảy ra.
Phía bên trái Ngưu Cao đang mê man trong giấc ngủ bỗng nhiên nghe tiếng động giật mình thức dậy. Chàng mở choàng mắt nhìn thẳng ra ngoài trông thấy đèn đuốc sáng lòa, vội đưa tay lên dụi mắt, miệng lẩm bẩm:
- “Đại huynh ta quả là người cao kiến, có bọn cướp đến rồi, nhưng chúng nó biết đâu bọn ta đã chuẩn bị đến kinh đô để giựt chức trạng võ đây, chúng bay vuốt râu cọp mà toi mạng đấy. Thôi để ta ra thử sức với bọn này một trận cho chúng biết tay”.
Nghĩ đoạn Ngưu Cao tung mình lên lưng ngựa, ta cầm song giản xông ra quát lớn:
- Quân đạo tặc lại dám cả gan đến chốn này? Quả thật chúng bay tới số rồi!
Vừa hét, Ngưu Cao vừa múa cây giản vun vút, xông vào đám đông như đến chỗ không người. Bọn lâu la Hồng Tiên đứa thì vỡ đầu, đứa thì gãy tay chết nằm la liệt, máu chảy lênh láng.
Vương Quới đứng canh giữ phía bên trái trông thấy quân cướp đến, chàng còn đang suy tính. Chợt thấy Ngưu Cao xông ra chém giết vô số nên thầm nghĩ:
- “Ta cũng nên ra tay gấp kẻo để Ngưu Cao nó giết hết thì uổng lắm”.
Nghĩ vậy, chàng vung cây Kim bối đao giục ngựa xông ra chém lia chém lịa, đầu quân cướp rụng như sung. Chợt nghe phía sau có tiếng hét lanh lảnh rồi một người cưỡi ngựa ô tay cầm Tam Thất Thiên Ngại xông ra, người này không ai khác chính là Hồng Tiên, một ông quan vừa bị giáng chức, lột áo đuổi về.
Hồng Tiên đối địch với Ngưu Cao, còn hai con hắn Hồng Văn và Hồng Võ thì chống cự với Vương Quới.
Ngưu Cao chỉ vào mặt Hồng Tiên mắng:
- Tên cướp kia, đã được đại huynh ta tha cho một phen rồi, nay còn đến đây nạp mạng nữa sao?
Vừa mắng chàng vừa xáp tới đánh túi bụi, bên kia Vương Quới cũng thét:
- Hôm nay ta để một trong hai đứa bay sống sót thì không phải là anh hùng.
Nhạc Phi đứng bên trong nghe vậy biết ngay các hiền đệ đã xông ra rồi, nên vội xô đổ chiếc lư đá, thúc ngựa xông ra. Thang Hoài và Trương Hiển thì vội vã quay vào miếu phi báo:
- Bọn cướp đã đến ngoài kia, nhưng xin cả nhà hãy yên tâm, chúng không làm gì nổi chúng con đâu.
Dứt lời, cả hai giục ngựa xông ra, một người cầm Câu liêm thương, một người cầm Lang ngân thương đánh bài “tẩu thạch phi sa”. Không một tên cướp nào thoát khỏi.
Hồng Võ đang đánh với Vương Quới liếc thấy cha mình không cự nổi Ngưu Cao bèn nhảy qua trợ chiến, để lại một mình Hồng Văn chống cự với Vương Quới nên chỉ qua lại vài hiệp đã bị Vương Quới chém một đao ngã nhào xuống ngựa. Bên kia Ngưu Cao cũng đánh trúng Hồng Võ một giản nát óc.
Hồng Tiên thấy hai đứa con mình đều chết hết trong lòng nóng như lửa đốt, đem hết sức bình sinh ra liều tử chiến với Ngưu Cao. Hai người đang giao chiến thì thấy Nhạc Phi đến hét lớn:
- Tên Hồng Tiên kia, ngươi còn nhớ Nhạc Phi này không?
Hồng Tiên trong lúc bối rối lại thấy có Nhạc Phi đến, trong lòng kinh hãi toan tẩu thoát để bảo toàn tính mạng, chẳng ngờ Trương Hiển vừa đến đâm một giáo ngã nhào xuống ngựa. Thang Hoài bồi thêm một đao nữa, toàn thân lão ta bất động.
Bọn lâu la thấy chủ trại mình chết rồi, liền bỏ chạy tán loạn. Ngưu Cao và Vương Quới đuổi theo mặc sức chém giết. Nhạc Phi thấy thế lớn tiếng gọi:
- Thôi, chư đệ hãy dừng tay. Hãy tha cho bọn chúng, chớ nên chém giết nữa!
Hai người đang hăng máu nên không nghe, cứ đuổi theo chém giết không biết bao nhiêu mà kể. Nhạc Phi phải dùng kế gọi lớn:
- Còn một tốp ăn cướp đến nữa kia kìa, chư hiền đệ hãy trở lại cho mau.
Hai người nghe vậy lật đật quay ngựa trở về. Vừa trông thấy mặt, Nhạc Phi đã trách mắng:
- Sao chưa đệ không chịu nghe lời tôi như vậy? Tội lỗi là ở tên cầm đầu chứ chúng là lâu la đã sợ chạy thì giết làm gì tội nghiệp! Hơn nữa chúng ta giết nhiều như vậy án mạng để lại cho người địa phương này khổ cực biết bao.
Sau đó mấy anh em trở về miếu, trong thấy bọ gia nhân chạy nấp mỗi đứa một nơi, mặt mày dáo dác, còn mấy ông viên ngoại cùng Lý tiểu thư đều tán đởm kinh hồn, toàn thân run lẩy bẩy.
Vừa thấy bọn Nhạc Phi về, ai nấy đều vui mừng xúm lại hỏi:
- Bọn ăn cướp đâu rồi?
- Thưa, chúng đã sợ hãi chạy cả rồi.
Các ông, các bà nghe nói mới hoàn hồn, lẩm bẩm vái tạ Trời Phật đã phù hộ cho tai qua, nạn khỏi.
Nhạc Phi ngước mắt nhìn trời rồi bảo:
- Trời gần sáng rồi mà ta giết người, thây bỏ đầy đường biết tính sao đây? Nếu người ta biết mình giết bọn cướp thì không sao, nhưng dù sao chuyện này đến quan quyền thì khó tránh được sự lôi thôi lắm.
Vương Quới nói:
- Chúng ta cứ việc bỏ đi quách, thân nhân chúng có muốn thưa kiện cũng chả biết ai mà thưa.
Nhạc Phi vẫn lo ngại:
- Xác chết thì nhiều quá, e rằng quan địa phương này tra xét thì nguy tai.
Ngưu Cao nói:
- Chư huynh đừng lo, việc này dễ ợt. Chúng ta cứ việc gom những thây chết ấy vào miếu rồi chất củi đốt hết, thần quỉ tìm cũng chẳng được huống chi là người.
Thang Hoài và Trương Hiển cùng vỗ tay khen:
- Ngưu Cao tính kế ấy hay lắm.
Nhạc Phi phì cười:
- Ngưu đệ khi trước ở tại Loạn Thảo Cang chặn đường giết người rồi đốt thây quen rồi chứ gì?
Mọi người đều cười xòa rồi mấy anh em cùng bọn gia đinh chia ra mạnh ái nấy vác thây chết đem về chất trong miếu.
Sau khi chất củi sẵn sàng, cho một mồi lửa cháy cất lên cao ngất trời rồi mới bỏ đi. Chỉ trong giây lát, nơi đây thành một đống tro tàn không còn trông thấy dấu vết gì cả.
Khi mọi người đến Thang Âm huyện, mấy anh em vào trình báo danh tính cho môn lại biết và xin ra mắt quan huyện.
Môn lại vào bẩm, quan huyện lập tức cho mời vào. Trà nước xong xuôi, Nhạc Phi kể lại việc ông Lý Xuân gả con gái cho mình, và hiện nay chàng trở về quê cũ có cả các ông viên ngoại theo mình.
Ông huyện Từ Nhân nói:
- Thế thì hay lắm, nhưng các vị đây quá bất ngờ, huyện đường không chuẩn bị đủ phòng the, e sẽ thất lễ chăng?
Năm anh em cùng thưa:
- Dạ chẳng dám làm phiền ngài, để mấy anh em tôi cất thêm ít căn nhà nữa để ở cũng xong.
Ông huyện Từ Nhân nói:
- Bây giờ điều cần nhất là phải lo sắp đặt chỗ ở cho mấy viên ngoại nghỉ ngơi.
Nói rồi, ông huyện từ lập tức lên ngựa thẳng đến lành Vĩnh Hòa, xóm Hiếu Đễ. Ông giơ tay chỉ một ngôi nhà mới cất nói với Nhạc Phi:
- Sau khi xét qua bản đồ tôi được biết miếng đất này là của họ Nhạc khi trước, nên có bẩm cùng ông Lưu Đô Viện rõ. Ông ta đã xuất bạc chuộc lại và sai thợ cất nhà, vậy nay hiền khiết hãy dọn về đây mà ở.
Nhạc Phi cảm kích vô cùng, ông huyện Từ còn dặn dò thêm mọi việc rồi mới trở về nhà.
Chỉ trong ngày hôm ấy, Nhạc Phi sai gia đinh dọn đồ đạc đến và mời gia quyến cùng đến đó ở.
Bà An Nhân về đến quê hương rồi, trong lòng xúc động, nước mắt nhỏ ròng ròng nói:
- Xưa kia sự nghiệp giàu có, cửa nhà khang trang, nay về thấy nhà cửa chật hẹp, và chẳng thấy mặt chồng đâu cả thì còn gì đau đớn cho bằng.
Bà Viện Quân khuyên giải mãi bà vẫn không nguôi, Nhạc Phi thưa:
- Xin mẹ bớt cơn phiền muộn, tuy nhà cửa chật hẹp, nhưng con sẽ lo cất thêm rộng lớn, việc ấy chẳng khó gì, xin mẹ an tâm.
Rồi bày tiệc ăn mừng, khánh thành nhà mới.
Ngày hôm sau Nhạc Phi cùng chư huynh đệ đến tạ ơn quan huyện Từ Nhân rồi dắt nhau ra tỉnh thành xin vào bái kiến ông Đô Viện.
Bọn Nhạc Phi quỳ lạy lễ tạ ơn ông Lưu Công, quan huyện Từ Nhân bẩm lại việc mấy anh em Nhạc Phi đã có chỗ ở yên ổn rồi.
Lưu Công nói:
- Mấy anh em không nỡ lìa nhau nên dời đến ở một chỗ, thật là tình bằng hữu quá đậm đà, trên đời này ít kẻ bì kịp. Thôi quan huyện hãy trở về nha môn đi, để bọn hiền khiết ở lại đây, ta còn có việc dặn bảo.
Quan huyện Từ Nhân ra về rồi, Lưu Công cho gọi Nhạc Phi vào đóng cửa lại, hỏi:
- Chừng nào hiền khiết xuống kinh kỳ ứng thí?
Nhạc Phi đáp:
- Thưa, ngày mai này, tiểu sinh sắm sửa khởi hành.
Lưu Công ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói nhỏ:
- Hôm trước ta có gửi thư cho ông Lưu Thú Tông Trạch nhờ ông ta giúp đỡ ngươi trong việc thi cử, nhưng ta sợ ông ta mắc nhiều việc có thể bỏ qua, nên nay ta muốn đưa ngươi một lá thư nữa đem đến trao tận tay ông ta trong ngày ấy mới được.
Nói rồi ông lấy bút mực ra viết thư trao cho Nhạc Phi và nhét vào tay chàng năm mươi lượng bạc, bảo:
- Hiền khiết hãy mang số bạc này làm lộ phí.
Nhạc Phi lãnh bạc và thư, lạy tạ rồi trở về huyện ngay. Quan huyện Từ Nhân nắm tay chàng bảo:
- Ta chẳng có chi tặng cháu, vậy ta hứa trong lúc cháu vắng mặt, ta sẽ giúp đỡ, đùm bọc cho gia quyến cháu. Cháu hãy ra đi chớ lo chi đến việc ở nhà.
Nhạc Phi cùng chư huynh đệ bái tạ ra về thưa cùng các viên ngoại:
- Anh em chúng con đi về kinh thi hội kỳ này không muốn đem kẻ tùy tùng theo làm gì cho phiền phức, nên anh em định cùng đi cho thong thả.
Rồi lo sắm sửa đồ hành lý, sáng sớm hôm sau anh em vào từ biệt các viên ngoại. Nhạc Phi còn dặn dò Lý tiểu thư và lạy mẹ rồi cùng nhau đi thẳng đến Trường An. Ngày đi đêm nghỉ, đi mãi hai ngày sau mới đến nơi.
Nhạc Phi gọi mấy anh em căn dặn:
- Đây là chốn kinh thành, không phải như trong làng xóm mình đâu, nên mọi việc cần phải thận trọng lắm và tránh mọi cử chỉ vô lễ kẻo mang vạ vào thân đấy.
Ngưu Cao cau mày nói:
- Nếu vậy con người ở chốn kinh thành hung dữ, hay ăn thịt người ta lắm sao?
- Không phải vậy đâu. Tôi nói thế có nghĩa là chốn này không thiếu chi hạng vương tôn công tử, nếu ta có cử chỉ lỗ mãng, sinh chuyện lôi thôi thì khó bề giải cứu.
Vương Quới nói:
- Không hề chi đâu, huynh trưởng hay lo xa vậy, chớ anh em mình vào thành rồi chẳng thèm hơn thua với ai hết thì việc gì mà sợ?
Thang Hoài xen vào:
- Nhưng đại huynh đề phòng trước là phải lắm, phàm việc gì chúng mình cũng phải khiêm nhường là hay hơn hết.
Năm người giục ngựa buông cương, kẻ trước người sau, chẳng mấy chốc đã đến trước cửa thành. Bỗng từ phía sau, có người ra sức chạy bộ tiến đến nắm lấy vạt áo Nhạc Phi vừa thở vừa nói:
- Ối, ông Nhạc Phi ôi, ông hại tôi nhiều lắm rồi, chẳng lẽ bây giờ ông lại không ngó ngàng gì đến tôi sao?
Nhạc Phi quay lại nhìn kỹ người này chính là Giang Chấn Tử, chủ tiệm ở tại Tương Châu.
Nhạc Phi hỏi:
- Lý do gì mà ông bảo chúng tôi báo hại mình?
Chấn Tử nói:
- Chẳng giấu chi ông, khi trước tại tỉnh Tương Châu, ông có ghé vào tiệm tôi nghỉ ngơi mấy ngày. Khi ông đi rồi, có Hồng Tiên dẫn một số lâu la đến tiệm tôi tìm ông không thấy, hắn hằn học bảo rằng vì ông mà hắn bị cách chức quan nên mang mối hận thù.
Thế là nó ra lệnh cho lâu la đập phá cửa tiệm tôi tan tành, còn đánh tôi một trận nhừ tử.
Nhạc Phi nói:
- Vậy ông định bắt đền chúng tôi vì chuyện đó hay sao?
Giang Chấn Tử phân trần:
- Sau vụ đó, vợ chồng tôi phải dắt díu nhau lên đây làm ăn. Gặp các ông đây, tôi muốn mời mấy ông vào quán tôi nghỉ ngơi.

o0o
0
đánh máy: ran_oo
hồi thứ chín
Tông Lưu Thủ khảo hạch võ sinh
Văn võ song toàn, chưa gặp vận

Năm anh em nối gót đến tiệm Giang Chấn Tử chọn một căn phòng rộng rãi nghỉ ngơi.
Nhạc Phi hỏi Chấn Tử:
- Ngươi ở đây có biết dinh ông Tông Trạch Lưu Thú không?
Chấn Tử đáp:
- Ở đây ai mà không biết nha môn ông Tông Lưu Thú!
Rồi giơ tay trở ra bên ngoài, tiếp:
- Cứ việc đi thẳng đường này chừng bốn năm dặm thì tới.
Chàng lại hỏi:
- Chẳng biết giờ này ông ta đã thăng đường chưa?
Chấn Tử ra chiều suy nghĩ rồi đáp:
- Ông ấy phần quán xuyến việc quân, phần thì lo lắng việc dân, không biết chừng giờ này ông vẫn còn tại triều đình lo bàn việc nước chưa về nhà đâu.
Nhạc Phi mở gói hành lý ra lấy phong thư gói lại tử tế, Thang Hoài thấy thế hỏi:
- Đại huynh sắp sửa đi đâu đấy?
- Hiền đệ không biết sao? Lúc ra đi, ông Lưu Đô Viện có gửi một phong thư bảo mang đến trao cho ông Tông Lưu Thú, vừa rồi hỏi thăm người chủ tiệm cho biết rằng ông ta quyền thế lắm, chắc chắn phen này anh em ta có chỗ nương nhờ rồi. Để tôi đi trao thư cho ông ta ngay mới được.
Ngưu Cao nói:
- Vậy thì mấy anh em mình cùng đi với nhai cho vui chớ.
Nhạc Phi lắc đầu:
- Không tiện đâu hiền đệ ạ. Ta nói thiệt, tính hiền đệ lỗ mãng, đến đó rủi hiền đệ sinh sự thì có thể họa lây đến ta.
Ngưu Cao giơ tay cả quyết:
- Không sao đâu, đệ hứa không nói năng gì cả, chỉ đứng trước cửa nha môn đợi đại huynh mà thôi.
Nhưng Nhạc Phi vẫn còn e ngại cứ lắc đầu mãi, không bằng lòng cho Ngưu Cao đi.
Vương Quới nói:
- Nếu Ngưu đệ muốn đi thì đại huynh hãy cho bọn đệ cùng đi cả, sẽ ngăn cản không cho Ngưu đệ sinh chuyện. Hơn nữa đệ có nghe nói dinh ông Tông Lưu Thú chạm trổ khéo lắm, cũng muốn đến đó xem cho biết.
Nhạc Phi gật đầu và căn dặn:
- Cũng được, nhưng có đi thì phải thận trọng lắm mới được. Nếu xảy ra ra chuyện gì lôi thôi thì nguy hiểm lắm đấy.
Năm anh em sửa soạn khăn áo chỉnh tề, gọi Chấn Tử vào bảo:
- Chúng ta đếm nha môn ông Tông Lưu Thú, một lúc rồi về ngay nhé.
Sau khi khóa cửa phòng, năm anh em đi bộ thẳng đến dinh ông Tông Lưu Thú. Quả thật là một dinh thự nguy nga và cổ kính, công trình kiến trúc hết sức to lớn và đẹp mắt.
Bọn Nhạc Phi còn đang tha thẩn trước cửa cổng thì đã thấy một người lính từ trong dinh bước ra. Nhạc Phi nhanh miệng hỏi:
- Thưa, không biết đại lão gia đã thăng đường chưa?
Người lính đáp:
- Quan lớn đã vào triều từ hồi sớm mai đến giờ vẫn chưa thấy về.
Nhạc Phi quay lại nói với anh em:
- Nếu vậy, anh em mình về nghỉ rồi mai sẽ đến.
Bọn Nhạc Phi trở về độ nửa dặm đường bỗng thấy phía trước người ta chạy qua lại xôn xao, hỏi ra mới biết ông Tông Lưu Thú đi chầu về.
Anh em đứng nép bên lề đường thì thấy quân lính khiêng một chiếc kiệu đẹp đẽ, phía trên ngồi chễm chệ một ông quan đại thần, một chiếc lọng che đầu phủ bóng mát, trước sau có quân lính theo hầu trông rất uy nghi.
Bọn Nhạc Phi bèn quay trở lại đi theo sau kiệu.
Về đến dinh, chẳng bao lâu đã nghe vang lên ban hồi trống báo hiệu cho mọi người biết rằng, quan lớn ra thăng đường. Ngoài nha môn quan kỳ bài chạy tới, chạy lui rộn ràng, nào là đem đơn từ giấy tờ cho ngài phê, nào là phát tờ phê cho đương sự.
Quan lớn hí hoáy phê chuẩn hồi lâu, bổng ngước mặt lên bảo quan kỳ bài:
- Hễ thấy có tên võ cử nào ở huyện Thang Âm tên là Nhạc Phi đến xin ra mắt thì phải cho vào lập tức nhé.
Viên kỳ bài chấp tay dạ ran rồi chạy ra ngoài ngong ngóng. Ấy cũng nhờ có thư tiến cử của Lưu Đô Viện nên ông ta mới biết đến cái tên Nhạc Phi, hằng trông con người ấy đến xem thử có phải là nhân tài xuất chúng y như lời trong thư không, đặng ông tiến cử cùng triều đình dùng trong lúc quốc gia hữu sự này, hay là Lưu Đô Viện ăn của hối lội của kẻ giàu tiến cử bừa bãi chăng?
Nhạc Phi đứng ngoài nhìn vào thấy tôn đường nghiêm chỉnh, ông Tông Lưu Thú ngồi trên bàn cao có kẻ tả hữu đứng hầu trông oai phong lẫm liệt, trong lòng chàng hồi hộp vô cùng.
Thang Hoài khẽ nói với Nhạc Phi:
- Vị đại thần đi chầu mới về mà không kịp nghỉ, lại thăng đường ngay, thế thì quả là một vị quan mẫn cán!
Nhạc Phi cũng lấy làm lạ, phụ họa:
- Ừ nhỉ, đi triều kiến thiên tử từ canh năm đến giờ, đáng lẽ phải nghỉ ngơi đôi chút chớ sao lại ra thăng đường vội vậy? Chắc có việc gì gấp lắm thì phải.
Anh em đang bàn luận phiếm, bỗng thấy viên kỳ bài quan cầm giấy tờ từ trong bước ra. Nhạc Phi bàn với mấy người:
- Sẵn dịp ta gặp viên kỳ bày này xin vào dâng thư cho tiện, nhưng ta mặc đồ tang lễ e có thất lễ với người chăng? Thôi để ta đổi áo của Trương hiền đệ nhé.
Nói rồi, Nhạc Phi lập tức cởi áo đổi cho Trương Hiển và căn dặn mấy người:
- Nếu ta vào hầu công việc êm xuôi thì chẳng nói chi, bằng có điều chi bất trắc, các đệ đứng ngoài này chớ nóng nảy, cứ việc làm thinh để một mình ta tùy cơ ứng biến, lo liệu cho xong thì thôi.
Thang Hoài thấy chuyện khó khăn quá, tỏ vẻ chán nản nói với Nhạc Phi:
- Thôi đại huynh ạ, chúng ta cứ lấy tài mà thi cử, đừng trao thư nhờ vả ai tiến cử làm chi. Làm như vậy mai sau dù có công thành danh toại sao khỏi mang tiếng rằng nhờ người ta đỡ đầu mới nên danh phận.
Nhạc Phi đáp:
- Hiền đệ chớ nên chán nản, để ta lo liệu chớ nên cản trở mà hỏng cả đại sự.
Dứt lời, Nhạc Phi đứng im chờ cho viên kỳ bài bước ra, chàng vái một vái và dõng dạc nói:
- Tôi là võ sinh ở Thang Âm huyện tên Nhạc Phi đến xin yết kiến đại lão gia.
Viên kỳ bài niềm nở đáp:
- Vâng, đạo lão gia có lòng trông đợi công tử, xin công tử đứng dậy, tôi vào bẩm báo rồi ra ngay lập tức.
Hắn vội vàng chạy vào phi báo:
- Bẩm lão gia, đã có tên võ sinh ở huyện Thang Âm đến xin yết kiến rồi, hiện còn đứng ngoài cổng chờ lệnh.
- Hãy cho hắn vào ngay.
- Vâng, xin tuân lệnh.
Thấy Nhạc Phi vào, quan Lưu Thú Tông Trạch nhìn chàng từ đầu đến chân rồi tươi cười hỏi:
- Ngươi đến đây hồi nào?
- Bẩm đại quan, tiểu sinh mới đến hôm qua.
Rồi chàng dâng hai tay bức thư của Lưu Đô Viện, ông Tông Lưu Thú vội tiếp lấy bóc ra xem. Rồi chẳng biết nghĩ sao, ông biến đổi sắc mặt, đập bàn quát lớn:
- Kìa Nhạc Phi, ngươi tốn bao nhiêu tiền mới có được bức thư này? Hãy thú thật thì ta tha cho, bằng ngoan cố ta gia hình lập tức.
Mấy anh em Nhạc Phi đứng ngoài trông ngóng, nghe thấy bên trong có tiếng nạt nộ la lối om sòm, ai nấy đều phập phồng lo sợ chẳng biết lành dữ thế nào.
Ngưu Cao nghiến răng kèn kẹt rồi nói lớn:
- Tôi đoán chắc dữ nhiều lành ít, sợi nguy tai đấy. Để tôi xông vào cướp huynh trưởng ra, nếu chúng có rượt theo, mấy anh em ra sức ngăn cản lại nghe không?
Thang Hoài thấy Ngưu Cao nóng nảy, vội nắm tay can:
- Không nên, để xem cớ sự thế nào đã. Làm càn như vậy xảy ra to chuyện đấy chứ chẳng chơi.
Trước thái độ giận dữ của ông Lưu Tông Thú, Nhạc Phi vẫn thản nhiên không có chút gì sợ hãi. Chàng bình tĩnh đáp:
- Bẩm đại quan, cha tôi người gốc ở Thang Âm huyện, xóm Hiễu Đễ. Mẹ tôi sinh tôi ra mới được ba ngày thì bị nước sống Hoàng Hà dâng cao tràn ngập như biển cả. Nạn thủy tai này đã làm nhà cửa của cải trôi hết, cha tôi cũng bị chôn vùi dưới lớp trùng dương. Nhờ mẹ tôi bế ngồi vào trong cái chum nên khỏi chết, nhưng lại bị trôi thẳng đến Hoàng huyện. Nhờ viên ngoại Viên Minh cứu vớt nuôi nấng mẹ con tôi. Khi tôi lên bảy tuổi lại may mắn gặp ông Châu Đồng người ở Hiệp Tây nhận làm con nuôi và truyền dạy nghề văn, nghiệp võ.
Khi tôi đến tỉnh ứng thí, ông Lưu Đô Viện thấy tôi là kẻ hàn sĩ nên đem lòng thương mến hỏi rõ tông tích và giúp tôi xây cất nhà cửa trở về cố hương. Vì thế đến hôm tôi sắp đến kinh kỳ thi hộ có đến biệt ngài để lên đường, ngài lấy năm mươi lượng bạc cho tôi làm lộ phí, lại trao một phong thư dặn mang đến dâng cho đại lão gia, nhờ lão gia giúp đỡ cho điều kiện xuất thân; chứ nghèo khổ như tôi, cơm không đủ ăn, tiền của đâu mà mua thư tiến cử?
Ông Tông Trạch thấy Nhạc Phi nói một hơi không vấp, lời lẽ lại thật thà, chân chất nên ngồi bấm trán nghĩ thầm:
- Đúng rồi, trước đây ta đã từng nghe danh Châu Đồng văn hay xuất chúng, võ nghệ siêu quần, đã mấy phen nhà nước cho người đi triệu thỉnh mà ông không chịu ra làm quan, chỉ vui theo thú giang hồi ẩn dật. Nay tên Nhạc Phi này bảo là con nuôi ông ấy chắc võ nghệ cao cường đấy chớ chẳng phải không đâu.
Tuy nghĩ vậy nhưng ông ta muốn thấy rõ hơn nên bảo Nhạc Phi:
- Thế thì bây giờ ngươi hãy theo ta ra ngoài giáo trường, biểu diễn cung mã xem trình độ võ thuật của ngươi đã đến bực nào cho biết.
Dứt lời quan Lưu Thú đứng dậy bước đi, Nhạc Phi cũng nối gót đi theo đến giáo trường.
Nơi đây có dựng bia sẵn sàng, hai bên quân lính đứng giàn hàng trông nghiêm chỉnh lắm. Ông Tông Trạch ngồi trên khán đài cao, lớn tiếng gọi Nhạc Phi bảo:
- Ngươi hãy đến chỗ treo cung, lựa một cái cho vừa tay bắn thử ta xem nào.
Nhạc Phi cúi đầu vâng dạ rồi bước đến giàn treo cung, lựa đi lựa mãi hết bó cung mà chàng chẳng thấy cây cung nào vừa tay chàng cả nên bước ra thưa:
- Những cây cung này yếu lắm, tiểu sinh sợ bắn chẳng được xa mà có thể gãy cung là khác.
- Thế thì sức ngươi dùng cây cung nặng độ mấy trăm cân?
- Bẩm thượng quan, tiểu sinh thường dùng cây cung nặng trên hai trăm cân và bắn xa lối chừng hai trăm bước.
Ông Lưu Tông Thú nghe Nhạc Phi nói, nửa tin nửa ngờ nên ông bảo:
- Được rồi, nếu vậy để ta cho quân lính về khiêng cây thần cung của ta nặng những ba trăm cân đến đây, thử xem ngươi có gương nổi không?
Nhạc Phi đáp:
- Nếu đại quan nhân cho phép, tiểu sinh cũng xin vô lễ giương thử.
Một lát sau người ta thấy tám tên lính ì ạch khiêng cây thần cung vào giáo trường để trước mặt Nhạc Phi. Rồi tiếp theo là hai tên lính khác khiêng ống tên bước vào.
Nhạc Phi ung dung bước tới cầm cây cung trông rất nhẹ nhàng, chàng lắp tên bắn luôn chín mũi trúng ngay vào hồng tâm, ai nấy đều vỗ tay tán thưởng.
Ông Tông Trạch lấy làm vui lòng, hỏi:
- Ngươi thường dùng món binh khí gì?
Nhạc Phi mạnh dạn đáp:
- Món binh khí nào tiểu sinh cũng sử dụng được cả, song tiểu sinh thường dùng chuyên cây thương.
Tông Trạch nghe nói vội sai quan kỳ bài về khiêng cây Điểm cang thương của ông ra cho Nhạc Phi biểu diễn.
Nhạc Phi vâng lệnh lãnh thương bước xuống thềm múa tung chẳng khác rồng bay phượng lượn. Chàng đánh tiếp ba mươi sáu thế phiên thân và trổ bảy mươi ngón biến hóa khiến người xem lóa mắt kinh hồn.
Quân sĩ trông thấy thương pháp của chàng khen không ngớt. Ông Tông Trạch cũng chăm chú nhìn không chớp mắt, ông không ngờ một thiếu niên trẻ tuổi như chàng mã võ nghệ siêu quần đến thế.
Nhạc Phi biểu diễn đường thương xong, chàng bước ra trông người vẫn khỏe khoắn như thường, không thấy mệt. Chàng đặt nhẹ cây thương vào chỗ cũ rồi bước lên thềm quy đợi lệnh.
Tông Trạch cất tiếng khen võ nghệ của Nhạc Phi thật là đúng bậc anh hùng xuất chúng, nhưng ông còn muốn biết qua mưu lược của chàng nên cất tiếng hỏi:
- Nếu như triều đình trọng dụng ngươi, phong ngươi làm tướng thì cách dụng binh của người thế nào?
Nhạc Phi đáp:
- Việc dùng binh là một vấn đề mưu lược nói sao cho cùng, vậy để tiểu sinh dâng lên đại nhân một bài thi để đại nhân xem có thể suy ra mà nhận xét được trình độ dụng binh của tiểu sinh.
Dứt lời, Nhạc Phi lấy bút viết nhanh tám câu dâng lên. Nguyên văn bài thi như sau:
Lệnh truyền, quân sĩ thi hành
Công minh thưởng phạt, đội hình nghiêm trang
Tướng tài trọng dụng mưu hơn,
Lên cao phòng khốn, xuống thường phòng sâu
Quân đi tề chỉnh trước sau
Sinh linh coi trọng, lọ cầu hư danh
Nguyên nhung, quốc biến, khi cần
Qyuết tâm đem lại thanh bình, du ca.
Xem xong, Tông Trạch bước xuống thềm đỡ Nhạc Phi dậy và nói:
- Ta đã nghĩ lầm hiền khiết nhờ đút lót để có lá thư tiến cử, nay mới rõ hiền khiết văn võ tài toàn.
Rồi sai quan đem ghế đến mời Nhạc Phi ngồi. Nhạc Phi khiêm tốn từ chối:
- Tiểu sinh đâu dám ngồi với đại lão gia.
Tông Trạch nắm tay chàng nói:
- Hiền khiết chớ nên khiêm nhường quá, hãy ngồi lại đây bàn về binh pháp nghe chơi.
Nhạc Phi xin thất lễ rồi khép nép ngồi xuống ghế. Lính hầu đem trà nước đến, Tông Trạch niềm nở mời chàng rồi hỏi:
- Võ nghệ của hiền khiết tưởng ít ai bì kịp, song chẳng biết phép điều binh khiển tướng cùng binh thư đồ trận, hiền khiết có được thông tuệ không?
Nhạc Phi cả quyết:
- Bẩm đại nhân, điều ấy tiểu sinh đã thuộc nằm lòng, song thiết tưởng binh thư đồ trận trong sách vở chẳng qua là phần lý thuyết, chỉ lấy đó làm căn bản mà thôi. Chứ đến lúc thực hành thì không nhất thiết y sách mà phải thiên biến vạn hóa cho phù hợp với thực tế.
Thấy Nhạc Phi không cho binh thư đồ trận là bảo bối nên Tông Trạch có ý không bằng lòng, nên hỏi vặn lại:
- Nói như vậy những binh thư đồ trận của thánh hiền đời xưa để lại chẳng lẽ vô dụng sao?
Nhạc Phi đáp:
- Bẩm đại nhân, theo sự hiểu biết của tiểu sinh thì phép hành binh xưa nay nhất định phải theo qui củ, nghĩa là bày binh bố trận trước rồi mới đánh. Nhưng khi ra trận tiền, nếu nhất nhất như vậy thì không khỏi có điều bất tiện, vì trong chiến trận, đối phương đâu có để cho mình tùy ý lựa chọn chỗ lập trận thế, mà hễ gặp đâu phải giao phong ở đó. Bởi vậy địa hình lúc đó có khi khác xa với lý thuyết. Có chỗ rộng rãi, có chỗ eo hẹp, có chỗ hiểm yếu núi non che chở, có chỗ lại trống trải binh sĩ không thể ẩn thân. Có khi gặp khe sông, có khi vào bụi rậm, nếu giáo điều áp dụng những trần đồ nhất định như trong sách vở chẳng là bất tiện lắm sao? Phương chi chiến thuật ngày nay khác với xưa nhiều, nên phép hành binh phải tùy cơ ứng biến. Mưu sâu, chước lạ phải sẵn sàng, “dĩ hư vị thiệt, dĩ thiệt vị hư”, làm cho tướng giặc đoán không nổi hành động của ta mới mong thắng địch. Gặp khi gấp rút như bị địch công kích bất ngờ hay tràn đến bủa vây tứ bề thì lúc ấy thời gian đâu mà lập trận thế? Vậy phép dùng binh cốt phải cần mẫn, lanh trí, lanh mắt, tùy lúc tùy thời mà biến hóa vô lường.
Lúc đầu Tông Trạch nghe không bằng lòng lập luận của Nhạc Phi, nhưng khi nghe chàng trình bày một hồi, quan Lưu Thú gật đầu khen phải và nói:
- Quả là tài thế an bang, đáng mặt rường cột nước nhà. Lưu Tiết Đạt thật có mắt tinh đời, xét người chẳng sai. Nhưng có một điều đáng tiếc là hiền khiết ra ứng thí khoa này rủi ro quá. Phải chi hiền khiết để ba năm nữa sẽ ra, hay ra trước đây ba năm thì phúc cho nhà nước và tốt cho hiền khiết biết bao nhiêu.
Nhạc Phi nghe nói lấy làm ngạc nhiên, chàng chẳng hiểu nguyên do thế nào vội hỏi:
- Đại nhân nói thế nghĩa là gì? Tiểu sinh ngu muội không hiểu gì cả, xin đại nhân vui lòng giải thích cho tiểu sinh rõ.
Tông Trạch nói:
- Điều ấy làm sao hiền khiết hiểu thấu. Nguyên trước đây mấy ngày, có Tiểu Vương Lương Sài Quế đến đây triều kiến thiên tử và tuyên bố với mọi người rằng khoa này người quyết ra tranh chức Võ trạng. Y vốn dòng dỗi Sài Thế Tông nhà Châu là Sài Vinh, bạn thân thiết với đức Thái Tổ thánh triều ta, lâu nay y nhậm chức Phan Vương ở tỉnh Điền Nam thuộc châu Nam Ninh nên triều đình kiêng nể Tiểu vương lắm.
Khoa này, thánh thượng đã xuống chỉ sai bốn vị giáo khảo, một là Thừa tướng Trương Bàng Xương, hai là Binh bộ Đại Đường Vương Đạt, ba là Hữu Quân Đô đốc Trương Tuấn và bốn là lão đây. Sài Quế hay được tuy nhiên ấy vội sắm bốn phần lễ vật rất hậu và viết bốn bức thư mang đến cho các vị giám khảo để chấm cho ông ta đậu chức Võ trạng lần này. Ba vị kia đều thâu nhận lễ vật cả rồi và quyết khoa này để cho Sài Vương giật giải. Riêng một mình ta không chịu nhận lễ vật, nhưng một mình ta thiểu số làm sao thăng nổi ba vị kia.
Nhạc Phi chắp tay thưa:
- Cúi xin đại lão gia đứng ra chủ trương việc này cho tiểu sinh nhờ.
Tông Trạch nói:
- Trong lúc quốc gia hữu sự, muốn chọn người tài để ta tế thế an bang thì lẽ tất nhiên phải lấy lẽ công bằng mà lựa chọn thì mới tìm ra anh tài. Nhưng hiền khiết cũng biết, thần thế của Phan Vương to lớn biết chừng nào, và nhất là ông ta lại chính là dòng dõi Sài Thế Tông nên việc này xem ra khó bề xoay chuyển. Nhưng dù sao ta cũng phải ráng hết sức xem sao.
Ngừng một lát, Tông Trạch tiếp:
- Hôm nay ta muốn lưu hiền khiết ở lại trong dinh để đàm đạo sâu hơn về văn chương, võ nghệ, song còn sợ miệng lưỡi thế gian dễ gieo rắc lời thị phi, vậy thì hiền khiết hãy lui về nghỉ rồi sau sẽ liệu.
Nhạc Phi lạy tạ ơn Tông Lưu Thú rồi lui ra. Anh em đứng ngoài đang ngóng trông, bỗng thấy chàng bước ra, ai nấy mừng rỡ xúm lại hỏi:
- Sao đại huynh ở trong ấy lâu thế? Ồ, sao xem thần sắc có vẻ kém vui, hay là bị ông Tông Lưu Thú quở trách điều chi rồi?
Nhạc Phi lắc đầu:
- Không phải thế đâu các hiền đệ ạ. Ông ta đã khảo hạch cung tiễn và binh pháp tôi, rồi người đem lòng quý mến. Để về nhà trọ tôi sẽ kể lại đầu đuôi cho mà nghe, chỗ này không phải là chỗ nói chuyện.
Anh em cùng nhau về đến nhà trọ thì trời vừa tối sẩm. Người chủ tiệm đã dọn rượu thịt lên mời năm vị võ sinh dùng bữa.
Ai nấy ngồi lại ăn uống vui vẻ lắng nghe Nhạc Phi kể lại đầu đuôi câu chuyện ra mắt ông Tông Lưu Thú. Chàng kể rõ từng ly từng tý, duy chỉ có việc Vương Sài Quế ra tranh chức Võ trạng thì chàng không đề cập đến vì sợ trong mấy anh em có người nóng nảy sinh ra chuyện lôi thôi. Tuy vậy trong lòng chàng không yên, sắc mặt lộ vẻ buồn bã khiến bốn người bạn lấy làm ngạc nhiên, nhưng không rõ nguyên cớ.
Sáng hôm sau, điểm tâm xong, bỗng thấy người chủ tiệm bước lại thưa:
- Lúc nãy quan lớn Tông Lưu Thú có sai người mang rượu thịt qua đây cho chư vị ăn uống và gửi lời rằng, ngài muốn mời chư vị vào dinh để đãi tiệc, song sợ thiên hạ gièm pha, xúc xiểm nên phải gửi gắm như vậy, xin chư vị chớ chấp.
Nhạc Phi nói:
- Vậy thì ngươi làm ơn dọn ra cho anh em ta vui say một bữa cho thỏa thích.
Chủ tiệm Chấn Tử gọi mấy tên tửu bảo vào sắp đặt cỗ bàn rồi đem thức ăn của ông Tông Lưu Thú dọn lên. Ngưu Cao trông thấy bàn tiệc đầy ắp những đồ cao lương mỹ vị, rượu ngon đầy mấy ché, chàng thèm nhỏ nước dãi, chẳng đợi ai mời và cũng chẳng cần mời ai hết, cứ việc bước tới lấy cái bát lớn rót ra uống lấy uống để chẳng biết mấy chục bát mà kể.
Vương Quới thấy vậy vừa cười vừa nói:
- Ồ, Ngưu đệ này uống rượu khan như vậy rủi say mèm thì mất vui rồi! Chi bằng chúng ta phải ra một hiệu lệnh rồi mọi người cùng uống mới vui chớ.
Thang Hoài gật đầu:
- Ý kiến ấy hay lắm, cứ việc ra lệnh đi, chúng tôi sẽ tuân theo mà thi hành.
Vương Quới lại nói:
- Tiệc này là là của Tông Đại Nhân vì mến đại huynh ta mà ban cho chúng ta hưởng chung, vậy nên cử huynh trưởng làm chủ tọa, và Trương ca thì ra lệnh.
Thang Hoài nói:
- Được lắm. Trương ca cứ việc xướng lệnh đi.
Trương Hiển nói:
- Thật tình tôi chẳng biết ra lệnh gì trong tiệc rượu này cho xứng đáng. Tôi chỉ muốn đến phiên người nào thì phải nhắc lại tên một vị anh hùng xưa, mà vị anh hùng ấy phải có tửu lượng cao mới được đấy nhé. Nếu người ấy mà đáng mặt anh hùng thì anh em ta mỗi người uống một chén để chào mừng, bằng không đáng mặt anh hùng thì người xướng danh sẽ bị phạt ba chén.
Anh em đều vỗ tay tán thành. Vương Quới vội rót một chén trao cho Trương Hiển. Trương Hiển tiếp lấy uống cạn chén rượu và nói:
- Chén này là chén của Quan Vân Trường đơn đao phó hội, ấy có phải là anh hùng uống rượu không?
Thang Hoài khen:
- Phải, quả thật là anh hùng. Anh em mình nên kính ngài mỗi người một chén đi.
Ai nấy đều nâng cốc uống cạn một hơi, rồi Trương Hiển lại rót ra một chén trao cho Thang Hoài, nói:
- Bây giờ đến lượt Thang đệ đây. Hãy nhận lấy và cho biết tên vị anh hùng xưa.
Thang Hoài tiếp lấy uống cạn và nói:
- Chén này là chén của Lưu Qui say chém rắn, có phải là vị anh hùng uống rượu không?
Anh em đều cho là phải, mỗi người kính một chén. Bây giờ đến lượt Vương Quới, chàng tự rót một chén bưng giơ cao lên và nói:
- Chén này là chén Hồng Môn hội yến của Sở Bá Vương. Vậy có thể gọi là anh hùng uống rượu được không?
Trương Hiển bắt bẻ:
- Sở Bá Vương anh hùng thật, song trong cuộc hội yến ấy sao chẳng bắt Lưu Cái chém đi, để chỉ về sau vì y mà binh cơ bại hoại, nước nhà ta nát, đến nỗi không còn chỗ dung thân? Ấy là thấp trí, phải phạt ba chén mới được.
Bây giờ đến lượt Ngưu Cao. Chàng chỉ cười xòa nói:
- Tích xưa chuyện cũ đệ đều mù tịt. Song nếu đệ uống một hơi cạn hết hai loại bát lớn mà chẳng nhăn mày nhíu mặt gì cả thì các huynh có gọi là anh hùng uống rượu không?
Anh em cùng cười rộ lên vui vẻ. Ngưu Cao y lời uống một hơi hết sạch hai bát rượu lớn.
Đến phiên Nhạc Phi, chàng vui vẻ nói:
- Chư hiền đệ đã rút chuyện anh hùng uống rượu đời nhà Hán, Ngụy cùng Tam quốc, bây giờ để ta rút chuyện thánh đời nhà Tống nói cho mấy hiền đệ nghe.
Dừng một lát, hớp một ngụm rượu, chàng tiếp:
- Năm Thiệu Hi đời Chân Tông Hoàng Đế có Trương Lạc thết đại yến cho mời hết thảy bá quan cùng anh hùng đến uống rượu. Có con ông Tể tướng Tào Bô là Tào Vĩ cũng đến dự phó yến. Trong lúc mọi người đang ăn uống vui vẻ bỗng thấy Tào vĩ bỏ đi đâu mất, mọi người lấy làm lạ. Chưa kịp hỏi nguyên do thì đã thấy Tào vĩ từ ngoài bước vào, tay xách thủ cấp tướng giặc ném giữa phòng tiệc rồi ngồi lại ăn uống như thường. Như vậy có đang cho là bậc anh hùng không?
Anh em đều khen:
- Đại huynh thuật tích ấy nghe sướng tai lắm.
Ngưu Cao là kẻ dốt nát nên ngồi giữa đám người bàn kinh luận sử chàng chẳng biết chi cả, nên đề nghị:
- Mấy hiền huynh biết tích xưa chuyện lạ, còn tôi thì không biết gì cả. Thôi bây giờ để tôi làm trò “xại mại” giúp cuộc rượu cho tăng phần vui nhộn nhé.
Vương Quới nói:
- Hay lắm. Ngưu đệ cứ việc khởi sự đi.
Rồi anh em cùng đánh tửu, kết cuộc Ngưu Cao cũng thua, bị phạt liên miên, nhưng anh ta đâu có sợ. Bị phạt uống nhiều chừng nào thì anh chàng càng khoái chừng ấy, cười to như sấm nổ.
Anh em ai nấy đều ăn uống vui vẻ, chỉ một mình Nhạc Phi mãi lo lắng chuyện tiểu Lương Vương ra tranh Võ trạng, không biết rồi đây giáo khảo có tư vị làm cho chàng lỡ bước công danh không? Nếu kết quả phũ phàng như vậy thì biết đến ngày nào mới nên danh phận với đời?
Vì nghĩ vậy nên chàng buồn, uống rượu hơi nhiều, đầu óc choáng váng phải bỏ ra trước ghế nằm cho cho mát rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay biết.
Mấy anh em ở trong này tiếp tục ăn uống và nói:
- Lạ thật! Mọi khi Nhạc đại huynh uống rượu với anh em mình thì hay đàm văn, luận võ với mọi người, cớ sao hôm nay lại ít nói quá vậy? Hay là có việc gì buồn riêng mà không cho anh em ta biết chăng?
Vì vậy, anh em chẳng còn vui, phần thì đã uống nhiều rượu nên dần dần đi nghỉ hết chỉ còn một mình Ngưu Cao ngồi lại tha hồ uống mãi.
Một lát sau Ngưu Cao giật mình ngước mặt lên thấy trong phòng vắng hoe mới biết mọi người đã đi ngủ hết nên nghĩ thầm:
- “Mấy anh em đã đi ngủ hết thì Ngưu Cao này sẽ được tự do phóng túng khỏi bị ai kềm giữ nữa. Ta sẽ đi ra ngoài dạo chơi thong thả cho sướng”.
Hàng ngày Ngưu Cao bị anh em kềm chế nên chẳng dám buông tuồng theo tính thô lỗ của mình được, nay chàng đi tự do một mình rất đỗi mừng rỡ. Chàng chạy xuống lầu bảo chủ tiệm Chấn Tử:
- Mấy anh tôi đã quá chén nên ngủ hết, phiền ông đừng làm mọi người kinh động. Tôi đi ra ngoài một lát rồi về ngay đấy nhé.
Chấn Tử tưởng thật nên bước theo chỉ đường:
- Tướng công hãy đi về phía Đông này sẽ gặp đồng không mát mẻ lắm.
Ngưu Cao nghe lời, đi thẳng qua hướng Đông, vừa đến ngã ba, chàng dừng chân ngẫm nghĩ:
- ‘”Bây giờ ta nên đi đường nào để tìm chỗ vui đây”.
Đang suy tính, bỗng thấy hai người từ xa đi lại. Một người mình cao chín thước mặc y phục màu trắng, còn người kia hơi thấp hơn một tý, mặc áo màu đỏ, vừa đi vừa chuyện trò.
Khi đến gần, Ngưu Cao nghe thấy người mặc áo đỏ nói:
- Tôi nghe đồn tại chùa Tướng Quốc bên Biện Kinh này vui vẻ lắm.
Người áo trắng đáp:
- Thế thì chúng mình cùng đến đó chơi đi.
Ngưu Cao nghe nói vậy, chàng nghĩ:
- “Đúng rồi, lâu nay ta cũng có nghe tiếng chùa Tướng Quốc ở Đông Kinh này là chốn phồn hoa, nhưng chưa biết đường đi. Sẵn dịp này ta theo họ cho tiện”.
Nghĩ đoạn, chàng đi theo hai người ấy, hồi lâu mới đến chùa Tướng Quốc. Nơi đây cửa hàng bày biện san sát, buôn bán chằng thiếu món chi, kẻ qua người lại tấp nập. Cũng có hạng giàu sang vương tôn quần áo lòe loẹt, cũng có hạng nghèo khổ cơ hàn, cũng có người quê mùa cục mịch. Xe cộ qua lại như mắc cửi, thật là một cảnh phồn hoa vui vẻ chưa từng thấy.
Ngưu Cao cứ lần bước theo hai người kia đi hết chỗ này đến chỗ khác, vừa xem vừa thích thú lẩm bẩm: “Vui thế này mà mấy anh em ta cứ giam mình trong nhà trọ, thật là phí quá!”. Bỗng trông thấy phía trước người ta đứng chật ních, hai người kia đưa tay gạt thiên hạ mà vào. Mọi người chẳng ai nói gì, nhưng cũng nhường đường cho họ.
 
o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-03 03:16:17Hoàng Dung>
đánh máy: ran_oo
       hồi thứ mười
Chùa Tướng Quốc, kể chuyện anh hùng
Chốn giáo trường, Nhạc Phi tranh trạng 


Ngưu Cao theo hai người ấy xen vào giữa đám đông thì thấy có một người đứng trên ghế cao nói thao thao bất tuyệt, thì ra người ấy đang kể một tích truyện xưa. Lời kể chuyện hết sức hấp dẫn khiến cho mọi người đứng xung quanh im phăng phắc lắng nghe, vô cùng thích thú.
Người kể truyện ấy thấy hai người kia và Ngưu Cao bước vào thì niềm nở mời:
- Xin ba vị tướng công ngồi tạm đây chơi.
Hai người kia ngồi xuống liền chứ không thèm khiêm nhường gì cả, Ngưu Cao thấy vậy cũng ngồi xuống đó mà nghe.
Người kể chuyện đến tích Kim Thương Đao Mã đời Bắc Tống, rồi đến lúc Thái Tông ngự giá đến Ngũ Đài sơn dâng hương bị Phan Nhân Mỹ dẫn dụ đến xem Tú Linh Bài, nhìn thấy bên U Châu tại Thúc Trang lầu của Tiêu Thái hậu có hào quang ngũ sắc hiện ra.
Thái Tông bèn phán:
- Trẫm muốn đi xem Thúc Trang lầu, chẳng biết có đi được không?
Phan Nhân Mỹ tâu:
- Bệ hạ giàu có bốn biển, muốn đi xem chỗ nào mà không được, sá gì chỗ U Châu mà đi xem không được. Xin cứ hạ chỉ sai Phan Long đến chỗ đó bảo chúng nó dọn đi chỗ khác để cho bệ hạ đến xem thì khó chi.
Khi đó có Khai Tống Kim Đao Lão Lệnh Công là Dương Nghiệp bước ra tâu:
- Xin chớ nên đi. Bệ hạ là vạn thặng chí tôn lại đi vào hang cọp thế sao?
Thái Tông nói:
- Trẫm đánh lấy đất Thái Nguyên người Liêu đã vỡ mật kinh hồn, ai còn dám ho he gì nữa mà ngại?
Phan Nhân Mỹ lại thừa thế tâu:
- Sao Dương Nghiệp dám vô lễ cản trở thánh giá như vậy? Bây giờ phải bắt giam cha con y lại, đợi lúc trở về sẽ mang ra trị tội.
Thái Tông gật đầu khen phải, truyền bắt cha con Dương Lệnh Công giam hết rồi hạ chỉ sai Phan Long đem thánh chỉ qua Tiêu bang. Thiên Khánh Lương lãnh chỉ rồi, bèn sai quân sư Tác Lý Mã Đạt vào nghị kế.
Tác Lý Mã Đạt nóii:
- Chúa công hãy thừa cơ này mà dụng kế tập trung hết quân của bảy mươi hai cù lao về cho đủ trăm vặn rồi mai phục bốn phía, đợi cho Tống Thái Tông đến phủ U Châu, như vậy có lo gì Nam Triều thiên hạ chẳng về tay chúa công?
Lương Vương cả mừng bèn y theo kế ấy mà làm. Sau khi khoản đãi Phan Long, lập tức dời đi chỗ khác để chờ thánh giá ngự đến thì đón vào.
Phan Long trở về phục chỉ, Thái Tông liền dẫn các đại thần dời Ngũ Đài sơn đi qua U Châu. Lương Vương ra nghênh tiếp vào thành. Chưa kịp ngồi bỗng nghe xung quanh la ó vang dậy, binh phục vậy chặt U Châu, mũi kim chen vào cũng không lọt. May nhờ có Bắc Lý Tinh San Vương là Hồ Tất Hiến giấu chiếu chỉ trong mình chạy thẳng ra ngoài nói dối với Thiên Khánh Vương:
- Xin để tôi về kinh sư lấy ngọc tỷ và đem hết đất Trung Nguyên đến dâng cho chúa công.
Nhờ vậy mới lừa ra khỏi vòng vây chạy được thẳng về Hưng Châu triệu thỉnh chín cha con Dương Lệnh Công dẫn binh qua U Châu mới giải vây được. Ấy là “tám cọp phá U Châu, Dương gia làm tướng” là vậy đó.
Người giảng chuyện nói đến đây chấm dứt một câu chuyện. Người áo trắng liền thò tay vào túi lấy ra hai đỉnh bạc trao cho người giảng truyện và bảo:
- Tôi rất cảm ơn tướng công.
Dứt lời, hai người đứng dậy dắt tay nhau ra đi. Ngưu Cao cũng lẽo đẽo đi theo sau lưng, chàng nghĩ thầm:
- Chẳng biết tại sao hai người họ lại cho người giảng truyện nhiều bạc như vậy?
Chính người áo đỏ đi trước cũng thắc mắc quay lại hỏi:
- Sao huynh lại cho tên giảng truyện đến hai đỉnh bạc mà còn gọi là ít? Chắc dù sao người xứ này họ cũng cho mình là “hơi khác người” đấy.
Người áo trắng nói:
- Hiền đệ chẳng nghe hắn nói chuyện tiên tổ của anh chính người đó sao? Tổ tông của anh ngày xưa, trăm vạn Quân Trung chẳng có ai đánh lại, hắn đã biết ca tụng thì mời đĩnh bạc cũng đáng cho, đừng nói chi hai đĩnh.
Người áo đỏ gật đầu lia lịa khen phải.
Bây giờ Ngưu Cao mới hiểu ra, chàng lẩm bẩm:
- “À thì ra người ta tán dương cha ông của hắn nên chi hắn khoái chí quăng bạc ra không tiếc. Nếu như họ đề cập đến tổ tông ta thì ta biết lấy tiền đâu mà cho họ đây?”.
Đang suy nghĩ, bỗng nghe người áo trắng vỗ vai người áo đỏ bảo:
- Họ nhóm họp một đám đông nữa kia kìa. Chúng ta đến đó xem chơi.
Rồi hai người lần đến ngay. Ngưu Cao cũng theo sát gót. Thì ra đây cũng là đám giảng truyện như hồi nãy.
Ba người bước vào cũng được mời ngồi tử tế. Người giảng này đang kể truyện Thuyết Đường, nói đến hồi Đường Vương Lý Thế Dân đánh trận Ngũ Long, đại hội tại Gia Tỏa sơn n có viên đại tướng mà thiên hạ gọi là anh hùng thứ bảy họ La tên Thành, vâng lệnh quân sư là Từ Mậu Công, có một mình mà bắt được Lạc Dương Vương là Vương Thế Xung, Sở Châu Nam Dương Vương là Châu Xáng Trương, Châu Bạch Ngư Vương là Cao Đàm Thánh, Minh Châu Hạ Minh vương là Đậu Kiến Đước, Tào Châu Tống Nghĩa Vương là Mạnh Hải Công.
Người giảng truyện vừa nói đến đây, bỗng người áo đỏ đứng dậy vỗ tay khen hay rồi thò vào túi lấy ra bốn đĩnh bạc cho và bảo:
- Tôi là khách đi đường, tiền bạc đem theo chẳng có bao nhiêu, kinh dâng chút đỉnh, xin anh chớ chê ít nhiều.
- Dạ, xin cảm ơn ông, dám đâu chê nhiều ít!
Rồi hai người từ biệt ra đi. Ngưu Cao cũng lúc thúc chạy theo sau. Chàng thầm nghĩ:
- Chắc người giảng truyện này lại ca tụng tổ tông của họ nên hắn mới cho tiền.
Tuy vậy, Ngưu Cao vẫn không biết hai người ấy.
Nguyên người áo trắng ấy họ Dương tên Tái Hưng, là cháu mấy đời của Dương Nghiệp. Còn người áo đỏ kia là cháu mấy đời của của La Thành tên là La Diên Khánh.
Lúc ấy Dương Tái Hưng hỏi La Diên Khánh:
- Sao hiền đệ cho hắn tới bốn đỉnh bạc?
La Diên Khánh đáp:
- Chớ hiền huynh không nghe hắn nêu cao tài năng dũng mãnh của tổ tông đệ sao? Ông tổ của đệ chỉ có một mình mà án ngữ nơi góc núi bắt được năm vị Phan Vương, chứ không phải của huynh tới chín người bảo hộ có một vị hoàng đế mà không tròn nhiệm vụ. Xét ra ông tổ của đệ giỏi hơn tổ tông của huynh nên đệ phải cho nhiều hơn hai đỉnh bạc chớ sao!
Dương Tái Hưng biến sắc mặt giận dữ quát:
- Ngươi dám coi thường tổ tông của ta sao?
La Diên Khánh trâm giọng:
- Chẳng phải tôi dám coi thường, nhưng tôi chỉ nói một sự thật hiển nhiên đó thôi!
Dương Tái Hưng hằn học:
- Được rồi. Nếu ngươi nói vậy, ta với ngươi trở về nhà đội mũ mang giáp, lên ngựa hẳn hoi thẳng ra tiểu giáo trường tỉ thí võ nghệ. Nếu ai hơn thì ở lại tranh chức Võ trạng, còn ai thua thì cút cho rồi chờ khoa sau sẽ đi ứng thí.
La Diên Khánh gật đầu:
- Được lắm! Tôi xin vui lòng lĩnh giáo.
Rồi hai người dắt nhau bỏ đi mất. Ngưu Cao đứng một mình vừa cười vừa nói lẩm bẩm:
- “May quá. Có ta đến đây nghe chúng nói mới biết, chứ nếu không thì khoa Trạng võ này, chắc hai thằng khốn ấy giựt mất của Nhạh đại huynh ta rồi”.
Ngưu Cao vội vã chạy thẳng về quán trọ, nhưng thấy mấy anh em còn đang ngủ vùi, chàng nghĩ thầm:
- “Thôi ta cũng chẳng cần gọi mấy anh em dậy làm chi. Để ta đi cướp chức Trạng võ đem về dâng cho đại huynh ta cũng được”.
Nghĩ đoạn, chàng rón rén lấy song giản giấu trong mình rồi xuống bảo người chủ tiệm:
- Anh hãy dắt con ngựa tôi ra để tôi đi có việc cần. Nhớ thắng yên lạc đầy đủ nhé.
Giang Chấn Tử vâng lời dắt ngựa ra cho Ngưu Cao. Chàng tung mình nhảy lên lưng ngựa phóng nước đại. Chàng cho ngựa chạy miết nhưng không biết đường nào cả. Chợt thấy hai lão già đang ngồi trước cửa nói chuyện, Ngưu Cao bèn gò cương ngồi chễm chệ trên lưng ngựa lớn tiếng gọi:
- Lão già kia, muốn đến tiểu giáo trường phải đi ngả nào?
Câu hỏi cộc lốc vô lễ ấy khiến hai ông già cảm thấy bực mình, không trả lời chỉ nhìn sững Ngưu Cao. Ngưu Cao cau mày hỏi vặn:
- Sao chẳng nói mau còn chần chừ gì nữa?
Hai lão già càng bực mình hơn nữa, liền giả lơ không đáp nửa lời. Ngưu Cao lại sừng sộ:
- Hai lão già này quả thật là ương ngạnh lạ đời. Ta có việc đi gấp, nêu không ắt không dung mạng đấy.
Một ông già lên tiếng nói:
- Người đâu mà ngang ngược thế kia. May mà mi gặp chúng ta đây già cả chẳng thèm hơn thua làm gì, chứ gặp phải trai tráng thì nãy giờ đã xảy ra đám đánh lộn to chuyện rồi. Thôi, cũng không chấp nhứt làm gì, để ta chỉ đường cho. Từ đây đi thẳng phía Đông, gặp con đường rẽ sang phía Nam vài trăm bước thì đến tiểu giáo trường.
Ngưu Cao nói:
- Chỉ có vậy mà làm như quan trọng lắm. Cái lão già này, nãy giờ không chịu chỉ phắt cho mau còn nói lôi thôi cho mệt. Nếu ta không sợ đại huynh ta thì ta cho một giản chắc đầu lìa khỏi cổ rồi.
Vừa nói, chàng vừa giục ngựa đi thẳng đến giáo trường.
Đến nơi, trông thấy hai người đang đánh nhau rất quyết liệt, Ngưu Cao trỏ vào mặt hai người nạt lớn:
- Chức Trạng võ là của đại huynh ta, sao hai đứa bay dám cả gan đến đây giành giựt? Hãy xem cây giản của ta đây.
Vừa nói, Ngưu Cao vừa nhắm ngay đầu Dương Tái Hưng đánh xuống một giản. Dương Tái Hưng vội tung thương gạt ra rồi bảo La Diên Khánh:
- Chẳng biết thằng khùng này ở đâu mà đến đây hành động lạ đời vậy? Thôi, hai ta dầu sao vẫn là anh em, đừng tỉ võ với nhau nữa, để cùng nhau chọc thằng này một trận cho vui.
La Diên Khánh gật đầu ưng thuận rồi vung thương đâm Ngưu Cao, Ngưu Cao vừa đỡ thì bên kia Dương Tái Hưng đâm lại một thương. Ngưu Cao phải đỡ trên, đỡ dưới, đỡ trước, đỡ sau nhưng vẫn bị hai người đánh đâm lia lịa khiến chàng phát quýnh lên.
Từ ngày Ngưu Cao bước ra khỏi cửa đến nay chưa từng gặp tay hảo hán, hôm nay gặp phải Dương Tái Hưng và La Diên Khánh là hai kẻ anh hùng vô địch, sức mạnh như thần thì làm sao Ngưu Cao đánh lại nổi. May nhờ hai người này chỉ đánh bằng cách chọc ghẹo để làm trò cười chơi chứ nếu thật tình ra tay thì Ngưu Cao ắt khó toàn tính mạng.
Ngưu Cao lính quýnh vùng la lớn:
- Nếu đại huynh không đến kịp thời thì chức Trạng võ chắc bị người khác đoạt mất rồi!
Nghe Ngưu Cao nói, hai người càng tức cười hơn nữa. La Diên Khánh nói:
- Thằng điên này nó gọi đại huynh nào ở đâu, hay là có tay hảo hán nào đây chăng? Vậy thì anh em mình giữ nó ở đây để đợi cái tên đại huynh của hắn đến xem thử thế nào cho biết.
Dứt lời, hai người càng vây chặt Ngưu Cao không cho tẩu thoát.
Bấy giờ tại quán trọ, Nhạc Phi thức giấc dậy trông thấy ba người kia đang ngủ, còn  Ngưu Cao thì chẳng biết đi đâu mất, bèn gọi tất cả dậy hỏi, nhưng cả ba người đều ngơ ngác đáp:
- Bọn đệ ngủ có hay biết gì đâu!
Bốn anh em vội vã chạy xuống hỏi người chủ tiệm, Chấn Tử đáp:
- Ngưu tướng công cưỡi ngựa đi rồi.
Nhạc Phi hỏi vội:
- Đi lâu mau rồi?
- Thưa, Ngưu tướng công đi độ hơn một canh giờ rồi.
Nhạc Phi quay lại bảo Vương Quới:
- Vương đệ hãy xem thử binh khí của Ngưu đệ còn đây không?
Vương Quới chạy vào xem xét rồi chạy ra bảo:
- Cặp giản treo trên vách mà bây giờ chẳng thấy đâu cả.
Nhạc Phi biến sắc mặt nói với Giang Chấn Tử:
- Không xong rồi! Xin ông hãy dắt hết mấy con ngựa của anh em tôi ra đây, còn mấy anh em ta phải nai nịt cho sẵn sàng, binh khí cầm tay ra đi gấp. Nếu không có việc gì thì thôi, bằng nó có gây họa thì anh em ta cứu hắn rồi trốn luôn cho tiện.
Sau đó ngựa đã thắng đủ yên cương, ai nấy đều nai nịt chỉnh tề. Nhạc Phi hỏi Giang Chấn Tử:
- Ông thấy Ngưu Cao đi đường nào không?
- Tôi thấy Ngưu tướng công cưỡi ngựa đi qua hướng Đông.
Bốn anh em vội tung mình lên ngựa phóng thẳng về hướng Đông. Đi đến ngã ba bỗng thấy hai ông già đang ngồi nói chuyện trước cửa, Nhạc Phi bèn xuống ngựa bước tới xá một vái và lễ phép hỏi:
- Thưa lão trượng, chẳng hay lão trượng có thấy một người cao lớn, mặt mũi đen đúa cưỡi con ngựa ô đi ngang qua ngả này không?
Lão già không đáp mà hỏi lại:
- Người đen đúa ấy là gì với tướng công?
- Dạ, hắn là em của tiểu sinh.
Ông già ra vẻ ngạc nhiên hỏi:
- Tướng công ra vẻ con nhà tư văn, ăn nói khiêm nhường lễ độ, sao có người em lại lỗ mãng cộc cằn quá vậy?
Rồi lão ta bèn đem việc Ngưu Cao hỏi thăm đường thuật lại đầu đuôi cho Nhạc Phi nghe và nói:
- May mà gặp lão đây chứ như gặp ai thì họ đã chỉ trật đi đường khác rồi. Nghe y nói đi đến giáo trường. Tướng công muốn đi tìm kiếm thì hãy đi thẳng về hướng Đông rồi rẽ sang phía Nam độ vài trăm bước thì trông thấy giáo đường ngay.
Nhạc Phi tạ ơn rồi cùng anh em lên ngựa đi theo con đường do ông lão chỉ dẫn.
Khi đến gần giáo trường, bỗng nghe tiếng Ngưu Cao la lớn:
- Nếu đại huynh không đến kịp thời thì chức Trạng võ chắc sẽ bị chúng đoạt mất.
Nhạc Phi quất ngựa chạy vào thì thấy Ngưu Cao mặt mày thất sắc, miệng chảy nước dãi lòng thòng, tay cầm song giản vừa chống cự với đối phương vừa thở hổn hển.
Bên kia một người áo trắng, cưỡi con ngựa ngựa bạch tay cầm trường thương tướng mạo phương phi, sắc mạnh như thần, còn người áo đỏ cũng chẳng kém phần dũng mãnh. Cả hai bao vây Ngưu Cao vào giữa khiến chàng ngăn đỡ không kịp. Nhạc Phi ra hiệu cho anh em đứng lại, một mình giục ngựa xông vào, kêu lớn:
- Hai người kia hãy dừng tay!
Dương Tái Hưng và La Diên Khánh thấy thế vội bỏ Ngưu Cao quay thương nhắm Nhạc Phi đâm tới một lượt.
Nhạc Phi bèn vung cây Lịch Tuyền thương đánh ập xuống một cái chạm phải hai cây thương đối phương vang lên một tiếng kêu chói tai. Hai mũi thương của Tái Hưng và Diên Khánh không chịu nổi sức mạnh cây thần thương nên chúi xuống đất.
Nhạc Phi thừa thế vội dùng tay bắt đầu thương đối phương, ngón võ này gọi là “bại thương”, không thể nào giải nổi.
Cả hai kinh hồn vội lui ra sau ba bước nhìn sững Nhạc Phi từ đầu đến chân rồi nói:
- Khoa thi này giải Trạng võ chắc sẽ về tay người này rồi, hai ta trở về cho xong.
Dứt lời, hai người giục ngưạ chạy dài. Nhạc Phi vội chạy theo gọi lớn:
- Nhị vị hảo hán, hãy dừng lại nói rõ danh tính cho tôi biết với.
Hai người quay lại đáp:
- Hai chúng tôi là Sơn Hậu Dương Tái Hưng và Hồ Quảng La Diên Khánh. Khoa Trạng võ này chúng tôi xin nhường lại cho tiên sinh, hẹn sau này sẽ gặp lại.
Dứt lời cả hai người phi ngựa đi mất. Nhạc Phi cho ngựa quay lại giáo trường, thấy Ngưu Cao còn đang thở hổn hển, vội hỏi:
- Tại sao hiền đệ lại đánh nhau với họ vậy?
Ngưu Cao cau mày:
- Sao đại huynh hỏi lạ vậy? Tiểu đệ đánh với chúng chỉ vì muốn đoạt chức Trạng võ cho đại huynh đấy thôi. Nhưng chẳng ngờ hai tay hảo hán này nó dữ dằn quá độ, đánh không lại. May đại huynh đến kịp thời đánh thắng chúng, vậy thì Trạng võ đã thuộc về tay đại huynh rồi.
Nhạc Phi thấy Ngưu Cao quá ngây thơ bèn cười xòa nói:
- Cảm ơn hiền đệ đã có lòng tốt với ta, song muốn giựt được chức Trạng võ ấy phải tỉ võ với hết thảy thiên hạ anh hùng, nếu không ai địch nổi mới được chớ đâu chỉ có hai ba người giành riêng với nhau?
Ngưu Cao giự nẩy người trố mắt nhìn Nhạc Phi nói:
- Nói vậy tôi ra sức đánh với hai tên ấy suốt nửa ngày mệt muốn đứt hơi chẳng là vô ích sao?
Anh em đều cười rộ rồi cùng nhau trở về quán trọ.
Sáng hôm sau, vừa điểm tâm xong, Thang Hoài, Vương Quới, Trương Hiển cùng nói với Nhạc Phi:
- Lâu nay bọn đệ muốn mua mỗi người một thanh gươm song chưa mua được. Hôm qua thấy hai người ấy đều có gươm mang theo, Ngưu đệ cũng đã có rồi. Vậy đại huynh chịu phiền đi với anh em, mỗi người mua một thanh mang chơi cho oai.
Nhạc Phi gật đầu đáp:
- Các hiền đệ nói cũng phải, song ta chẳng có tiền dư nên lâu nay không đề cập đến.
Vương Quới đáp:
- Không hề chi. Đại huynh chỉ xuất tiền mua một thanh cho đại huynh thôi, còn phần bọn đệ, mỗi người đều có chuẩn bị tiền bạc sẵn rồi.
- Thế thì hay lắm, chúng ta đi nào.
Sau khi đóng cửa phòng và dặn dò chủ tiệm, mấy anh em dắt nhau ra chợ, dọc theo đường lớn vào xem khắp các tiệm bán binh khí. Nhưng toàn là gươm thường, không vừa ý cái nào cả.
Nhạc Phi nói:
- Ở đây gươm xấu quá, hãy đi qua bên đường nhỏ kia xem có thanh nào tốt không?
Rồi dắt mấy anh em cùng rẽ sang cong đường nhỏ vào một tiệm kia, thấy có trưng bày rất nhiều đồ cổ, lại treo trướng liễn viết tên những bậc tiền bối có tên tuổi trong hàng võ nghệ, trên vách treo mười mấy thanh gươm.
Chủ tiệm trông thấy Nhạc Phi bước vào vội đứng dậy niềm nở hỏi:
- Chẳng hay chư vị tướng công muốn mua vật chi?
Nhạc Phi đáp:
- Ở đây có đao tốt hay gươm tốt xin cho coi thử.
- Dạ có chứ.
Vừa nói, chủ tiệm vừa lấy ra một thanh gươm sáng ngời trao cho Nhạc Phi. Chàng tiếp lấy xem kỹ hồi lâu rồi trả lại cho hắn, nói:
- Gươm này dùng không được. Có cây nào khác tốt hơn xin mang ra cho tôi xem thử.
Chủ tiệm lấy thanh khác, chàng cũng lắc đầu không vừa ý. Rồi lấy ra hàng loạt bảy tám cây nữa, mà cây nào cũng bị Nhạc Phi chê cả.
Nhạc Phi nói:
- Như có cây nào thiệt tốt thì đem ra, bằng không thì thôi, đừng đem ra mất công. Nếu không có thì chúng tôi xin cáo biệt vậy.
Người chủ tiệm cau mày nói:
- Mấy thanh đao, kiếm này mà tướng công không vừa ý thanh nào sao? Thế thì đao, kiếm thế nào mới vừa ý tướng công?
Nhạc Phi nói:
- Những đao kiếm này chỉ dùng cho những hàng vương tôn công tử đeo cho oai thôi, chứ anh em tôi mua là để dùng khi ra trận mạc, an bang định quốc. Vì vậy như có thanh nào tốt thì giá cả bao nhiêu tôi cũng chẳng nài.
Ngưu Cao lại xen vào nói:
- Có thang gươm nào tốt cứ việc đem ra đây, đắt rẻ bao nhiêu tôi cũng trả đủ, chớ có ai trả thiếu anh đâu mà anh làm bộ kỳ vậy?
Người chủ tiệm ngắm nhìn kỹ tướng mạo bọn Nhạc Phi rồi nói:
- Chư vị tướng công muốn thứ cho thật tốt thì tôi có một cây, song tôi để tại nhà chứ không ở đây. Tôi sẽ nhờ em tôi đưa chư vị tướng công về nhà tôi xem có được chăng?
Nhạc Phi hỏi:
- Chẳng hay nhà ở gần hay xa?
- Gần lắm, phía trước kia kìa.
- Thế thì hay lắm, chúng ta sẽ đến đó xem thử nào.
Rồi anh em Nhạc Phi kiếu từ chủ tiệm đi them người em, chỉ trong chốc lát đã đến ngay.
Sau khi mời anh em Nhạc Phi ngồi xuống uống nước xong, người ấy nói:
- Trước khi xem gươm báu, xin chư vị cho biết tính danh.
Nhạc Phi giới thiệu:
- Tôi là người ở Trung Châu, huyện Thang Âm, họ Nhạc tên Phi, còn mấy em tôi đây ở Hoàng huyện. Người này tên Thang Hoài, người kia tên Vương Quới, người kia tên Trương Hiển ...
Ngưu Cao xen vào nói tiếp:
- Còng tôi đây chính tên Ngưu Cao, đã có miệng thì tự xưng cũng được, chẳng cần phải nhờ ai giới thiệu.
Nhạc Phi nói với chủ nhà:
- Xin lỗi ông, em tôi tuy tính tình có hơi nóng nảy song tình nghĩa, xin ông chớ chấp.
Người chủ nhà khen ngợi:
- Tôi chưa thấy người nào ăn nói thuần hậu như tướng công, và tôi cũng đã từng nghe danh tướng công nhiều rồi.
Nhạc Phi vừa muốn hỏi lại danh tính của chủ nhà, nhưng chưa kịp hỏi, người ấy đã đứng dậy nói:
- Xin chư vị vui lòng ngồi đây đợi một lát, tôi vào nhà lấy gươm báu ra đây cho chư vị xem.
Dứt lời người ấy bước vào nhà trong. Nhạc Phi ngồi ngước mắt nhìn lên trên vách thấy treo thơ phú nhiều lắm, chàng xem qua hai câu liễn cái rồi bảo với anh em:
- Người này chắc là họ Châu.
Thang Hoài hỏi:
- Sao đại huynh biết?
Nhạc Phi mỉm cười:
- Cứ xem hai câu liễn treo kia thì rõ chứ khó gì đâu.
Anh em trố mắt nhìn mãi hai câu liễn vẫn không thấy chữ Châu đâu cả nên ra vẻ ngơ ngác. Nhạc Phi liền giải thích:
- Liễn kia viết: “Liễu dinh xuân thí mã hổ tương gia đàm binh”. Vậy thì quả là thời Đường, Lý Tấn vương tặng Châu Đức Oai rồi, nên ta đoán chắc người này là họ Châu.
Ngưu Cao nói:
- Chẳng biết phải vậy hay không, để ông ta ra đây mình hỏi lại thì rõ.
Nói vừa dứt lời thì thấy chủ tiệm cầm gươm ra để trên ghế nói:
- Chư vị vào đây mà chẳng được ngồi hậu chuyện, thật có lỗi quá. Xin chư vị miễn chấp.
Nhạc Phi hỏi:
- Xin ông vui lòng cho chúng tôi biết danh tính với.
- Dạ tôi họ Châu, tên Tam Húy.
Mấy anh em nghe nói đều khen Nhạc Phi:
- Thiệt đại huynh quả là bậc thần thánh rồi.
Châu Tam Húy xưng tên họ xong liền đứng dậy mời Nhạc Phi xem gươm. Nhạc Phi cũng đứng dậy lễ phép tiếp lấy gươm xem xét hồi lâu rồi trịnh trọng để lên ghế nói:
- Xin ông hãy cất đi.
Châu Tam Húy ngạc nhiên:
- Sao tướng công xem mà không trả giá? Hay là gươm này cũng không vừa ý chăng?
Nhạc Phi đáp:
- Vật quí vô song, dù bao nhiêu tiền bạc cũng không thể sánh nổi, tôi không dám mơ tưởng.
Nói xong xin kiếu từ ngay. Châu Tam Húy liền mời lại hỏi:
- Tướng công biết gì về lai lịch cây gươm này, xin nói cho tôi biết với, sao lại bỏ đi vội vậy?
Nhạc Phi ngồi lại chưa kịp mở miệng, Tam Húy đã tiếp:
- Nguyên trước kia, ông tôi là võ quan trong triều nên mới có thanh gươm này để lại nó đến nay kể đã ba đời rồi, đến đời tôi đây thì theo đuổi nghiệp văn chương nên cây gươm trở thành vô dụng đối với tôi. Ông tôi trước khi chết có dặn lại rằng: “Sau này nếu có người nào biết gốc tích cây gươm này thì chỉ cho không mà thôi, chứ không được bán. Nay tiên sinh biết ngay nó là gươm báu, vậy xin nói cho tôi nghe thử có được không?
Nhạc Phi khiêm nhường đáp:
- Tiên sinh đã bảo thì tôi cũng xin nói những điều tôi biết về lai lịch thanh bảo kiếm này, dầu đúng, dầu sai, xin tiên sinh cũng bỏ quá cho.
Châu Tam Húy nói:
- Tiên sinh cứ chỉ giáo, quả thật tôi vô cùng hồi hộp. Có lẽ hôm nay cây gươm báu đã gặp chủ rồi chăng?
 
o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-05 00:47:12Hoàng Dung>
đánh máy: Lucern
Hồi thứ mười một 
Gươm báu trao vào tay tuấn kiệt
Đại thần tuyên thệ dụng nhân tài 

Bọn Vương Quới, Thang Hoài, Trương Hiển nhìn Nhạc Phi như muốn nói: Xin Nhạc huynh đừng khiêm nhượng nữa, chúng tôi cũng đang nóng lòng muốn nghe đây!
Biết không thể từ chối được, Nhạc Phi nói:
- Khi trước tôi có nghe tiên sư dạy rằng “Phàm kiếm chi lợi giả, thuỷ đoạn giao long, bộ hoa tây tượng. Hữu long tuyền“ Thái A, Bạch Hồng, Tử Điển, Mạc Gia, Cang Tướng, Ngư Trường, Cự Khuyết mỗi cây gươm đều có một nguồn gốc tiểu sử riêng của nó. Riêng cây gươm này hễ rút ra khỏi vỏ thì toát ra một hơi lạnh thấu xương, ấy quả thật là gươm thời Xuân Thu.
Ngừng một lát chàng tiếp:
- Hồi ấy Sở vương muốn thâu tóm các nước chư hầu, lại nghe đến nước Hàn chỗ Thất Lý Sơn có tên thợ rèn Âu Dương chuyên môn đúc gươm, Sở Vương vội sai người đến đòi y về triều phán:
- Trẫm đòi ngươi đến đây để nhờ ngươi rèn cho trẫm một cây gươm.
Thợ rèn Âu Dương tâu:
- Chẳng hay Đại vương muốn thứ gươm gì?
Sở Vương đáp:
- Trẫm muốn một cây Thư, một cây Hùng thật tốt, và hai cây gươm ấy phải biết bay và tự bay đến giết địch thủ theo ý muốn của trẫm, chẳng biết ngươi có thể rèn được không?
Người thợ rèn nghĩ thầm:
- „Sở Vương này bạo ngược lắm, nếu không chịu thì bị giết ngay“.
Rồi vội quỳ tâu:
- Gươm ấy, kẻ tiện dân này có thể rèn được, nhưng phải tốn một thời gian lâu lắm e đại vương chờ không được, nghĩa là rèn gươm ấy phải tốn thời gian ba năm mới xong.
Sở Vương nói:
- Thời gian ba năm có lâu chi? Được rồi, ta hẹn cho ngươi ba năm phải làm xong cặp gươm báu này.
Nói rồi, vua truyền lấy gấm nhiễu cùng vàng bạc ban thưởng. Người thợ rèn tạ ơn ra về nói cho vợ hay và để tiền bạc lại cho vợ, lên núi đúc gươm. Sau ba năm hắn đúc được một cặp gươm Thư, Hùng nhưng lại rèn them một cây gươm tầm thường nữa đem về bảo vợ rằng:
- Nay ta đến Sở quốc dâng gươm, nhưng ta tiên đoán rằng Sở Vương được gươm này sẽ giết ta mất.
Vợ hỏi:
- Tại sao vậy?
- Chỉ vì Sở Vương muốn một mình có gươm báu ấy thôi để thâu tóm các nước chư hầu nên sợ ta truyền nghề cho kẻ khác nên phải giết ta. Vì thế ta rèn thêm một cây gươm giả này để thay thế vào cây Hùng gươm kia cho đủ cặp, còn cây Hùng gươm thật ta sẽ chôn giấu tại nhà.
- Để làm gì vậy?
- Vì vua Sở có một cây Thư thôi thiếu cây Hùng thì không thể bay được, vua Sở lại cho ta là dở nên giết ta. Mối thù ấy sau này con ta lớn lên sẽ dùng cây gươm này mà báo oán. Như hiền thê có hay được tin dữ thì đừng than khóc mà mang họa, đợi cho mãn kỳ thai nghén sinh con, nếu con gái thì thôi, bằng con trai thì ráng nuôi nó để nó báo thù cho ta.
Dặn rồi, từ biệt vợ đi qua nước Sở dâng gươm.
Sở Vương thấy tên thợ rèn đến mừng rỡ cho đòi các quan văn võ họp tại giáo trường để thử gươm. Nhưng gươm không bay được, vua bị mất công chờ đợi ngót ba năm, nguồn hy vọng nay biến thành mây khói nên nổi giận truyền quân giết chết tên thợ rèn ngay.
Vợ người thợ rèn nghe tin chồng bị Sở Vương giết cũng không dám khóc than. Thấm thoát đến tuần khai hoa nhuỵ sinh được một trai. Khi đứa nhỏ được bảy tuổi, mẹ nó cho vào trường học. Một hôm nó gây lộn với bạn học, mấy đứa kia mắng:
- Mi là đứa không cha.
Thằng bé tức mình khóc, trở về hỏi mẹ cho biết cha mình đâu? Mẹ bèn kể hết câu chuyện xưa cho con rõ. Đứa bé sục sôi máu hận xin lãnh cây gươm và một mình mang sang nước Sở để rửa hận.
Đi đến Thất Lý San đường sá hiểm trở, đứa bé không biết đường nào đi nữa, nó ngồi khóc mãi, ba ngày sau con mắt chảy máu ròng ròng.
Bỗng có một lão đạo sĩ đi qua thấy thế thương hại hỏi:
- Vì sao cháu khóc đến nỗi chảy máu mắt như vậy?
Nó liền thuật lại câu chuyện sang nước Sở báo thù cho cha mà đến đây không biết đường đi.
Lão đạo sĩ nói:
- Mi còn nhỏ, còn Sở vương thì binh hùng tướng mạnh yểm hộ trước sau, làm sao mi báo thù được? Nhưng ngươi đã có chí như vậy thì ta cũng xin tình nguyện đi báo thù cho ngươi, nhưng muốn đạt được ý nguyện, ta cần dùng một vật của ngươi chẳng biết ngươi có bằng lòng không? 
Bằng giọng cương quyết, thằng bé nói:
- Ông có lòng tốt giúp tôi việc này thì dù ông muốn dùng cái đầu của tôi, tôi cũng xin dâng ngay lập tức.
- Đúng đấy, quả thiệt ta muốn dùng cái đầu của ngươi đấy, ngươi có bằng lòng không?
Thằng bé quỳ xuống ngửa cổ ra nói:
- Ông đã không ngại gian lao báo thù cho tôi thì cái đầu này đâu dám tiếc?
Ông đạo sĩ còn lưỡng lự thì thằng bé đã nhanh tay rút gươm tự vẫn. Ông đạo sĩ vội cắt thủ cấp nó và cầm cây Hùng kiếm đi thẳng qua nước Sở.
Đến được cung vua, lão đạo sĩ cười lên ba tiếng ra vẻ khinh mạn rồi khóc lên ba tiếng nghe thảm não. Quân sĩ thấy chuyện lạ kỳ như vậy vào báo vua Sở hay. Vua Sở sai quân ra hỏi, đạo nhân đáp:
- Ta cười là cười cho thế gian không ai biết quý trọng người tài. Chính ta đây là thầy cho thuốc trường sinh bất lão đây.
Quân sĩ vào tâu lại cho Sở Vương hay, Sở Vương cho mời vào, đạo nhân lấy cái đầu thằng nhỏ giơ ra trước mặt Sở vương.
Sở Vương ngạc nhiên hỏi:
- Ấy là cái đầu lâu, sao ngươi gọi là thuốc trường sinh?
Đạo nhân bảo:
- Đây chính là thuốc trường sinh đấy chứ. Xin bệ hạ sai lấy vạc dầu đem tôi nấu cho mà xem. Nấu độ một khắc thì môi nó đỏ, răng nó trắng, chừng hai khắc thì mắt nó đỏ, răng nó trắng, chừng ba khắc thì mắt nó nháy, bốn khắc thì nó kêu lên danh tính nội trào, năm khắc thì cây Diệp Hà trổ ra hoa, đến sáu khắc thì biến thành bụi sen, bảy khắc sen ấy có hột, ăn mỗi hột, sống được một trăm hai chục tuổi.
Sở Vương nửa tin nửa ngờ, sai đem vạc dầu ra, lão đạo nhân thực hiện thì quả nhiên đến bảy khắc có trổ hột sen, cả triều đình văn võ bá quan đều khen ngợi.
Đạo nhân chắp tay mời vua Sở xuống hái hột sen mà lấy thuốc trường sinh.
Sở Vương mừng quá bước xuống chẳng đề phòng, bị đạo nhân rút gươm ra chém một nhát đầu rơi vào vạc dầu. Các quan văn võ thấy vậy liền áp tới bắt tên hành thích, nhưng lão ta tự chặt đầu mình trước. Cái đầu lão ta cũng rớt chung vào vạc dầu ấy. Các quan vớt ra thì ba cái đầu ấy giống hệt như nhau không biết cái nào là của Sở Vương cho nên phải đem chôn hết cả ba cái đầu vào một chỗ. Bởi vậy lời xưa có nói “Sở hữu tam đầu mộ”, nghĩa là: Nước Sở có cái mả ba đầu. Còn cây gươm ấy để đến nay tên là Trảm Lư, qua triều Đường thì về tay Tiết Nhân Qúy, chẳng biết sao đến nay lại về tay ông.
Sự tích gươm này theo tôi được biết là như vậy, chẳng biết có đúng không?
Châu Tam Huý nghe qua mừng rỡ bảo:
- Quả thật tinh sinh là người thông kim, bác cổ, quảng văn.
Vừa nói, Tam Huý vừa cầm gươm đứng dậy dâng lên hai tay nói với Nhạc Phi:
- Cây gươm này thất lạc đã lâu đời, nay gặp được người biết, tất nhiên là chủ của nó, vậy xin tiên sinh hãy thâu nhận để ra công giúp nước, thì tôi mãn nguyện vì đã thực hiện lời dặn dò của ông tôi.
Nhạc Phi cũng đứng dậy khiêm nhường từ chối:
- Vật báu của người khác, tôi đâu dám lãnh?
Châu Tam Huý nói:
- Đây chỉ là tiền nhân tôi dạy bảo, tôi đâu dám trái lời.
Nhạc Phi từ chối năm bảy phen rồi mới chịu nhận gươm. Chàng bái tạ Châu Tam Huý rồi xin kiếu từ ra đi mua gươm cho các sư đệ mỗi người một cây.
Khi về đến quán trọ trời đã sẩm tối. Cơm nước xong, Nhạc Phi kêu chủ quán dặn:
- Việc thi cử của chúng tôi ba năm mới có một kỳ, vậy xin người hãy lo cơm nước cho sớm để sáng mai anh em tôi nhập trường cho kịp.
Chủ quán nói:
- Xin chư vị chớ bận tâm, việc ấy tôi hứa sẽ lo chu đáo.
Trống vừa điểm canh tư, chủ quán đã gọi anh em dậy dùng cơm, đoạn sửa soạn thương giáp chỉnh tề cùng nhau thẳng đến giáo trường.
Đến nơi đã thấy võ sinh từ các tỉnh về tề tựu đông đảo. Nhạc Phi nói nhỏ với chư huynh đệ:
Chỗ này đông đúc, ồn ào quá, chúng ta hãy tìm chỗ khác nghỉ, chờ gọi đến tên sẽ nhập trường.
Chợt thấy một người quảy gánh chạy vào gọi:
- Nhạc tướng công đâu?
Vương Quới ứng tiếp đáp:
- Có đây.
Tên quân để gánh xuống nói:
- Thức ăn trong gánh này của Tông Lưu Thú lão gia sai tôi đem đến cho các vị dùng đỡ đói.  
Anh em Nhạc Phi đều bái tạ rồi cùng nhau ngồi lại ăn uống.
Trời vừa sáng, đã thấy ba quan chủ khảo: Trương Bang Xương, Vương Đạt và Trương Tuấn đến giáo trường trước, còn ông Tông Trạch chậm bước đến sau. Mấy ông mời nhau ngồi trà nước xong, Trương Bang Xương hỏi Tông Trạch:
- Tông đại nhân, người môn sinh của đại nhân ghi vào bảng rồi chứ?
Tông Trạch nói:
- Môn sinh của tôi là ai đâu?
Trương Bang Xương nói:
- Tên Nhạc Phi ở Thang Âm huyện không phải là môn sinh của đại nhân là gì?
Tông Lưu Thú nghe nói biến sắc mặt, đáp:
- Việc này là quốc gia chọn anh tài để ra gánh vác giang san chứ không phải chúng mình khảo thi riêng, vậy thì trước khi khảo hạch, chúng ta nên lập bàn tuyên thệ để chứng tỏ là công tâm, công đức.
Nói rồi vội sai quân sĩ lập bàn đốt nhanh đèn lên. Tông Lưu Thú quỳ lạy trời đất rồi cất tiếng thề:
- Tôi là Tông Trạch ở Tích Giang, Kim Huê phủ, Nghĩa Điền huyện, được Thiên Tử giao cho nhiệm vụ khảo hạch võ sinh chỉ lấy công tâm mà chọn hiền tài. Như tôi có lòng khi quân ngộ quốc, ăn hối lộ, thì cho tôi thác về nghiệp đao tiễn.
Tông Trạch thề rồi mời Bang Xương cùng thề với mình. Bang Xương nghĩ rằng:
- “Lão này sao lại bày ra chuyện thề nguyền làm chi, nếu mình không thề ắt lão ta nghi kỵ”.
Nghĩ đoạn, lão ta quỳ xuống lẩm bẩm:
- “Tôi là Trương Bang Xương ở Hồ Quảng, người Huỳnh Châu, nhờ thánh ân cho làm giám khảo võ sinh, nếu như tôi có khi quân ngộ pháp, ăn của hối lộ thì cho tôi đời này hoá thành con lợn của phiên bang, chiết vì đao kiếm”.
Bang Xương thề xong tự nghĩ:
- “Ta đường đường là một quan đại thần thế này thì đời nào có thể làm lợn Phiên bang sao?”
Nghĩ vậy nên lão lấy làm đắc kế cho lời thề của lão, còn Tông Lưu Thú thì cố bày ra việc thề nguyền như vậy để chứng tỏ lòng mình ngay thẳng mà thôi chứ không thèm để ý đến lời thề của Bang Xương lèo lá ra sao.
Khi Bang Xương thề xong, Vương Đạt cũng quỳ xuống nói:
- Tôi là Vương Đạt cùng ở một làng với Bang Xương, lòng tôi có khi quân thì cho tôi hoá ra làm dê mà cùng thác như vậy.
Trương Tuấn thì thề rằng:
- Tôi là Trương Tuấn ở Nam Trực Lệ, người Thuận Châu, nếu tôi có lòng khi quân thì tôi chịu chết nơi miệng muôn người.      
Ba lời thề của ba người thật là kỳ quặc, chúng tưởng thề như vâỵ cho qua chuyện, ngờ đâu về sau lời thề ấy ứng nghiệm chẳng sai.
Khi bốn vị chủ khảo tuyên thệ xong liền lên ngồi chỗ cũ. Tông Lưu Thú nghĩ thầm:
- Thế nào bọn này cũng vị tình để cho Sài Vương giật giải Trạng võ chớ chẳng không, chi bằng ta đòi Sài Vương đến khảo hạch trước.
Nghĩ đoạn, sai kỳ bài quan ra đòi võ sinh tên Sài Quế ở Nam Ninh Châu đến ngay. Một lát sau Sài Quế bước vào xá Tông Lưu Thú rồi đứng lại một bên chờ lệnh.
Tông Lưu Thú hỏi:
- Có phải ngươi là Sài Quế không?
- Dạ phải.
- Ngươi đã đến đây chịu khảo thí sao chẳng quỳ? Nếu muốn cướp bảng đề danh thì phải làm theo nghi lễ, bằng cứ hợm mình là một vị Phan vương không chịu khảo hạch thì ta mời ngồi khỏi phải thi cử gì. Ta thiết tưởng người đã tới bực Vương hầu rồi lại nghe lời sàm nịnh tranh giành chức Võ Trạng làm gì? Có ai bỏ địa vị lớn theo đuổi chức vụ nhỏ nhen không? Hơn nữa chốn này là tứ phương anh hùng đủ mặt, chẳng lẽ không có kẻ cao cường, có đâu lại để chức Võ Trạng về tay người được? Chi bằng đừng màng chi việc ấy, danh vọng mình có mất đi đâu. Ngươi nghĩ kỹ xem lời ta nói có phải chăng?
Sài Quế đành ngậm miệng không biết nói gì hơn, vội quỳ xuống ngay.
Vì sao Sài Quế đang đường đường một vị Phan vương lại hạ mình tranh chức Võ Trạng và chịu nhục như vậy. Nguyên vì khi trước, Sài Vương đi về triều chầu Thiên tử, khi đi ngang qua núi Thái Hành có một tên cướp cầm Kim Bối Đao xưng là Kim Mao Đại Vương tên là Vương Thiện, sức địch muôn người, xung quanh hắn có bọn bộ hạ tâm phúc là Mã Bảo, Hà Lục, Hà Nhân, lại còn có tả hữu quân sư là Lưu Võ và Điền Ký.
Toàn là những bọn túc trí đa mưu tụ tập lâu la hơn ngàn vạn tên chiếm cứ núi Thái Hành, cướp phá nhiều nơi, nhưng quan binh không làm gì nổi.
Vương Thiện lại muốn cướp đoạt cả giang sơn của nhà Tống, ngặt vì không người nội ứng. Ngày kia Sài Vương nhập triều, Vương Thiện mời vào trà nước tử tế rồi Quân sư Điền Kỳ nói:
- Buổi Nam Đường suy thoái thì bị Triệu Khuông Dẫn lập mưu soán đoạt thâu tóm thiên hạ. Đến nay Đại Vương bất quá chỉ là một ông Phan Vương còn phải xưng thần quì bái. Nay tôi đây binh nhiều, lương đủ sao Đại vương không về triều thông mưu với kẻ gian thần đoạt cho được chức Võ Trạng nắm binh quyền trong tay làm nội ứng rồi gửi cho tôi một phong thư, tức tốc tôi đem binh giúp cho Đại vương dấy nghiệp. Kế ấy có phải là hay không?
Vương Thiện và quân sư hắn nói vậy là để lừa Sài Quế chớ lẽ nào khi nên việc rồi Vương Thiện lại để cho Sài Quế làm vua sao? Thế mà Sài Quế ngây thơ đem lòng mừng rỡ đáp:
- Lời của các khanh thật là chí lý, để cô gia về triều sẽ tính. Như thành công rồi thì cô gia với các khanh cùng hưởng.
Vương Thiện mừng rỡ bày tiệc thiết đãi rồi đưa Sài Quế xuống núi. Khi về đến kinh thành, Sài Quế bèn hối lộ với các vị chủ khảo. Mấy tên gian thần đều nhận của lót bằng lòng cho Sài Quế đoạt chức Võ Trạng, duy chỉ có một mình Tông Lưu Thú là lòng ngay, dạ thẳng quyết tâm chọn anh tài nên không chịu nhận, ông lại biết rõ mấy vị đại thần kia ăn hối lộ nên ông chỉ mặt Sài Quế nói mấy điều làm cho Sài Quế cứng họng quỳ gối làm thinh.
Trương Bang Xương thấy thế giận lắm, nghĩ thầm:
- “Lão ta chơi cú xỏ như vậy, để ta cũng đòi môn sinh của lão ra mắng cho bõ ghét”.
Bang Xương vội sai kỳ bài quan ra đòi Nhạc Phi ở Thang Âm huyện vào. Nhạc Phi bước vào thấy Sài Quế quì trước mặt Tông Lưu Thú, chàng cũng đến quì trước mặt Trương Bang Xương.
Bang Xương hỏi:
- Ngươi là Nhạc Phi phải không?
- Vâng, Nhạc Phi chính tên tôi.
Bang Xương nhìn chàng từ đầu đến chân rồi bĩu môi nói:
- Ta xem hình thù ngươi chẳng phải con nhà võ, mong gì đạt được chức Trạng võ?
Nhạc Phi đáp:
- Tiểu sinh đâu dám mong đoạt chức ấy, và chăng trong hội thi này hàng muôn ngàn cử tử đến đây chịu khảo hạch ai lại chẳng muốn đoạt chức Trạng võ, nhưng có phải ai đi thi cũng đoạt được sao? Vì thế đã là võ cử thì phải tuân theo luật lệ mà ứng thí, chứ tôi đâu dám vọng tưởng?
Trương Bang Xương tưởng kiếm chuyện mắng Nhạc Phi cho đã giận, ngờ đâu chàng trả lời trôi như nước chảy khiến lão ta lúng túng bèn nói:   
- Vậy thì bây giờ khảo hạch hai người này trước rồi sau sẽ khảo hạch người kia.
Rồi Bang Xương quay lại hỏi Nhạc Phi:
- Ngươi dùng binh khí gì?
- Dạ tôi dùng cây thương.
- Còn Sài Quế, dùng món binh khí gì?
- Tôi thì dùng đao.
Bang Xương liền bảo Nhạc Phi làm bài thương luận còn Sài Quế thì làm bài đao luận.
Hai người vâng lệnh vội hạ bút ngay giữa giáo trường.
Tài văn học của Sài Quế cũng không phải dở lắm, xong vì bị Tông Trạch nhục mạ nên lửa giận bốc lên tối tăm cả mặt mày, tay chân run rẩy khiến chữ viết không minh bạch, chữ đao không ra chữ đao, chữ lực không ra chữ lực. Cho nên bài thương luận của Nhạc Phi được dâng lên trước còn bài đao luận của Sài Quế phải dâng sau.
Bang Xương xem bài của Sài Quế trước rồi đút vào tay áo mới xem bài của Nhạc Phi sau. Ông ta thấy bài của Nhạc Phi nghĩa lý cao siêu, chữ lại tốt nên nghĩ thầm:
- Người này văn học có kém chi ta, hèn chi lão Tông Trạch yêu chuộng cũng phải.
Tuy nghĩ vậy nhưng ông cũng vẫn nạt lớn:
- Chữ nghĩa của ngươi như vầy mà dám tranh chức Trạng võ?
Dứt lời lại quăng bài xuống đất truyền quân đuổi ra.
Quân sĩ vừa ra tay, Tông Trạch nạt lớn:
- Hãy khoan, còn phải đợi lệnh ta nữa mới được thi hành.
Quân sĩ thấy quan Tông Lưu Thú quát, vội dãn ra chẳng dám trái lệnh.
Rồi Tông Trạch bảo quân sĩ lấy bài của Nhạc Phi đem cho mình xem. Quân sĩ đứng nhìn nhau chẳng ai dám đi lấy vì sợ Trương Thái sư giận. Nhạc Phi thấy vậy vội lấy dâng lên.
Tông Trạch trải bài thi lên bàn xem thì thấy lời lẽ như vàng đá, chữ viết như hạt châu. Tông Trạch nghĩ thầm:
- Ai ngờ kẻ gian thần nó khinh tài mà trọng lợi như vậy!
Liền lấy bài Nhạc Phi cất rồi hỏi Nhạc Phi:
- Tài năng ngươi như vậy mà vọng cầu công danh sao? Vậy ngươi có biết Tô Tần dâng thư vạn chữ và Ôn Đình Huân làm bài Nam Huê phú không?
Sở dĩ Tông Trạch hỏi Nhạc Phi hai câu ấy là vì khi trước Tô Tần đến nước Tần, Thương Ưởng thấy người tài cao thì ghét, lại sợ Tô Tần tài giỏi chiếm đoạt quyền thế của mình nên không dùng Tô Tần mà chỉ dùng Trương Nghị thôi. Còn ông Ôn Đình Huân là người nước Tấn khi vua Tấn mời thừa tướng Hoàn Văn vào ngự chốn hoa viên để xem hoa Nam Huê và truyền làm bài phú cho ngài xem. Hoàn Văn xin đem về nhà làm và sáng hôm sau đem nạp, chỉ vì Hoàn Văn không làm được bài ấy nên đem về mượn người trong nhà là Ôn Đình Huân làm hộ. Khi Ôn Đình Huân làm xong, Hoàn Văn xem qua thất kinh nghĩ thầm:
- Trong đời này lại có người tài giỏi đến thế, nhất định người này trước sau gì cũng được trọng dụng và khi ấy sẽ đoạt mất quyền thế của mình. Vì vậy ông bỏ thuốc độc giết chết ông Huân ngay rồi mang bài phú dâng vua bảo là của mình làm, ấy là những chuyện ghen ghét kẻ hiền tài.
Khi Bang Xương nghe ông Tông Trạch hỏi Nhạc Phi hai câu ấy thì biết rằng Tông Lưu Thú đã mắng khéo mình trong lòng vừa hổ thẹn vừa giận dữ nên đã quyết kiếm chuyện làm khó dễ cho Nhạc Phi.
o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-05 00:49:39Hoàng Dung>
đánh máy: Lucern
 Hồi thứ mười hai 
Tỉ võ, đâm chết Tiểu Lương Vương
Phá võ trường, Nhạc Phi thoát hiểm 

Sài Quế tự biết rằng bài đao luận của mình không ra gì nên chỉ đứng đưa mắt cầu cứu Trương Bang Xương.
Quả nhiên, Trương Bang Xương quay qua thách đố Nhạc Phi:
- Thôi được rồi, ta cũng chẳng cần đếm xỉa đến chữ nghĩa của ngươi làm gì nữa. Bây giờ ta hỏi ngươi: Vậy ngươi dám thi võ thuật với Sài Vương không?
Nhạc Phi thưa:
- Lão gia đã dạy tôi đâu dám chẳng vâng?
Tông Lưu Thú thấy thế trong lòng mừng thầm:
- “Nếu tỉ thí cung tiễn thì nhất định Nhạc Phi phải thắng”
Tông Trạch sai quân đem bia dựng ra cách xa chừng một trăm hai chục bước, Sài Vương thấy dựng bia xa quá vội bước đến thưa với Bang Xương:
- Việc cung tiễn thì tôi xin nhường cho Nhạc Phi bắn trước.
Bang Xương quay lại bảo nhỏ kẻ tả hữu:
- Chúng bay hãy lén nới bia ra cho xa đến hai trăm bước cho ta, nếu Nhạc Phi thấy xa không dám bắn thì ta đuổi quách nó ra cho rồi.
Nhưng Nhạc Phi chẳng chút nao núng, chàng vâng lệnh xuống thềm khai cung giữa đám anh hùng. Cung trương như mặt nguyệt, tên bắn tựa sao bay. Chàng bắn luôn chín mũi đều trúng đích hồng tâm, cờ phất, trống đánh vang tai.
Kẻ giữ bia đem lại cho Trương Bang Xương xem và nói:
- Người võ sĩ này bắn giỏi lắm.
Sài Quế nghĩ thầm:
- “Thi cung tiễn thì chắc ta thua hắn rồi, chi bằng xin tỉ võ với hắn, ta sẽ tìm lời dụ dỗ, nếu hắn chịu thì thôi, bằng không thì ta thừa kế giết quách hắn đi cho xong”.
Nghĩ vậy Sài Quế lớn tiếng bẩm:
- Nhạc Phi đã bắn trúng rồi, tôi có bắn trúng nữa cũng không biết ai cao ai thấp, vậy tôi xin thí võ với y mới định hơn thua được.
Trương Bang Xương chấp thuận ngay. Sài Quế nắm đao lên ngựa tới chỗ giáo trường kêu Nhạc Phi bảo:
- Ngươi hãy đến lãnh giáo đường đao của ta đây.
Nhạc Phi tuy võ nghệ cao cường nhưng thấy Sài Quế là một vị Phan vương, nếu thẳng tay chiến đấu thì sợ phạm thượng chăng? Trong lòng chàng phân vân vô cùng, nhưng vẫn gượng gạo cầm thương lên ngựa ra vẻ sợ sệt.  
Mọi người đứng ngoài xem thấy thái độ của Nhạc Phi như vậy xúm nhau bàn tán:
- “Tên võ sinh mà thí võ với Phan vương thì chắc chắn phải thua rồi”
Ông Tông Trạch thấy Nhạc Phi đến chỗ giáo trường mà sợ sệt như vậy thì giận và trách thầm:
- Thật là vô dụng, uổng công ta săn sóc lắm
Nhạc Phi vừa đến, Sài Vương lại nói nhỏ:
- Nếu ngươi biết điều giả thua chạy, thì cô gia sẽ trọng thưởng, bằng không nhất định tính mạng ngươi khó bảo toàn.
Nhạc Phi nói:
- Vương đã dạy vậy, lẽ ra tôi vâng lời mới phải, nhưng vì hôm nay là ngày khảo hạch, chẳng phải chỉ một mình tôi thôi, xin ngài hãy nhìn kỹ anh hùng tụ hội rất nhiều. Biết bao năm công phu luyện tập chỉ trông cho đến ngày nay để lập công danh cho hiển vinh tông tổ. Vả chăng Ngài đường đường một vị Phan vương phú quí vinh dự, lẽ nào đi tranh chức Trạng võ với cử tử làm chi, có phải là trên đã phụ lòng Thiên tử cầu hiền còn dưới lại khuất lấp anh hùng, thiếu kẻ ra đền nợ nước. Thế thì đúng ra Vương nên nhượng lại cho tôi mới phải, xin Ngài xét lại.
Sài Quế nghe nói nổi giận, mắng:
- Ta đã ôn tồn khuyên dỗ ngươi, đã không bằng lòng thì thôi, ngươi lại còn hàm hồ loạn ngôn thế sao?
Rồi thình lình chém Nhạc Phi một đao, Nhạc Phi vung thương đỡ khỏi. Sài Quế lại bồi thêm một đao nữa. Nhạc Phi cầm thương gạt ngang qua bên hữu.
Sài Quế không giết được, càng căm gan hơn, bèn vận hết thần lực chém luôn sáu bảy đao một lượt, buộc lòng Nhạc Phi phải đưa ngón võ “Đồng Tử Bảo Tâm” ra đón đỡ đủ bốn mặt Đông Tây Nam Bắc nên Sài Quế chém không trúng một đường nào cả.
Sài Quế liền dừng đao quay ngựa lại bước đến thính đường bẩm:
- Nhạc Phi võ nghệ tầm thường quá, làm sao thượng mã giao phong cho được.
Trương Bang Xương phụ hoạ:
- Ta cũng nhận thấy võ nghệ Nhạc Phi chẳng bằng Phan vương. Nhạc Phi cưỡi ngựa chạy theo đến nơi xuống ngựa quỳ sau Sài Quế, Tông Lưu Thú thấy vậy kêu Nhạc Phi nói:
- Võ nghệ ngươi như vậy mà mơ ước công danh sao được?
Nhạc Phi bẩm:
- Bẩm đại lão gia, chẳng phải là võ nghệ tôi chẳng được tinh thông, song chỉ vì tôi với Sài vương có tôn ty chi phận, nên tôi chẳng dám giao đấu thực sự đó thôi.
Tông Trạch bĩu môi đáp:
- Nếu vậy ngươi đừng đến đây chịu khảo thí.
Nhạc Phi lại thưa:
- Ba năm mới gặp hội một kỳ, lẽ nào tôi lại chẳng đi? Nhưng tôi tưởng khảo thí là cầm cung lên ngựa, múa đao thương cho trúng cách mà định liệt ưu, chớ như nay tôi với Phan vương thượng trận giao phong, hễ lưỡng hổ tranh hùng sao cho khỏi một con bị tử thương. Như Phan vương giết tôi chết thì chẳng nói làm chi, bằng tôi sẩy tay giết chết Phan vương thì dễ gì êm xuôi? Tôi tin chắc lúc ấy chẳng những một mình tôi mà cả thân tộc tôi cũng đều bị hại nữa.
Nay xin các vị chủ khảo làm chứng cho chúng tôi, hai bên lập một tờ giao kết sinh tử, hễ ai chết nấy chịu, không bồi thường nhân mạng, thì tôi mới dám giao thủ.
Tông Trạch nghe Nhạc Phi nói một hồi rồi gật đầu nói:
- Nói như thế cũng phải, vì cổ nhân có nói “Tráng sĩ lâm trận không chết cũng bị thương”, Sài Quế, ngươi có bằng lòng không?
Sài Quế còn do dự, Bang Xương đã nói tiếp:
- Nhạc Phi quả là người lợi khẩu, ta xem ngươi có tài cán chi mà dám làm điều tuyệt mạng như vậy?
Rồi quay lại bảo Sài Quế:
- Vậy Sài Quế hãy lập tờ giao kết sinh tử đi để cho nó có chết nó cũng thoả mãn và cho các cử tử kia vui lòng hàng phục đồng thời che lấp tiếng thị phi.
Sài Quế không biết tính sao, túng thế phải viết tờ giao kết. Nhạc Phi cũng làm một tờ, có bốn quan đại thần chủ khảo làm chứng và đóng dấu trong mỗi tờ.
Tờ của Sài Vương thì giao cho Nhạc Phi cầm, tờ của Nhạc Phi thì giao cho Sài Vương giữ. Nhưng Sài Vương giao cho Bang Xương cầm giùm, Nhạc Phi thấy vậy cũng trao tờ giao kết trong tay mình cho ông Tông Trạch, Tông Trạch lắc đầu nói:
- Tờ giấy này là bổn mạng ngươi, ngươi phải giữ lấy chớ nên giao cho lão có hại.
Hai người bước xuống dưới thềm, Nhạc Phi nói:
- Tờ của Ngài Phan vương thì Thái sư cầm giùm, còn tờ của tôi thì Tông lão gia không chịu cầm cho tôi, vậy để tôi giao tờ ấy cho bằng hữu của tôi, rồi tôi sẽ trở lại.
Nhạc Phi bước ra chỗ anh em đứng, gọi Thang Hoài bảo:
- Nếu như Tiểu Lương Vương có thua anh thì anh em phải coi chừng chỗ trướng phòng kia kẻo chúng đánh lén ta đấy.
Rồi gọi Trương Hiển đến dặn:
- Như trong trướng phòng có kẻ ra tay thì đệ phải ra sức ngăn cản còn Vương đệ thì phải giữ lấy cửa giáo trường mà chờ ta. Bằng ta bị Sài Quế giết chết thì nhặt xác về chôn, còn như ta bại trận thì phá cửa giáo trường cho ta chạy. Còn việc giấy giao kèo sinh tử này xin đệ giữ cho cẩn thận, nếu làm mất thì tính mạng ta chẳng còn, xin chư đệ hãy nhớ.
Nhạc Phi dặn dò anh em xong, liền trở lại chỗ giáo trường. Thiên hạ cùng các cử tử đứng bao vòng xem rất đông đảo.
Khi Sài Quế lập tờ giao kết sinh tử trao cho Nhạc Phi rồi thì trở lại trướng phòng trong lòng lo lắng chẳng yên.
Đây là chỗ giáo trường chứ chẳng phải trận mạc chi mà lập trướng phòng? Nhưng vì Sài Quế là một vị Phan vương chẳng phải như cử tử tầm thường khác, hơn nữa y đã lo lót với mấy lão gian thần nên muốn lập gì mà chẳng được, vả lại y có ý làm dữ nên phải phòng xa, lập trướng phòng để mai phục kẻ bộ hạ mình, phòng khi bất trắc có chúng nó phò tá.
Khi Sài Quế đến trướng phòng thì tập hợp gia tướng lại bảo:
- Nay cô gia muốn ứng thí để đoạt chức Trạng võ, chẳng ngờ Nhạc Phi nó lập “sinh tử trạng” mà tỉ thí với ta. Như cô gia giết nó được thì chẳng nói làm chi, bằng nó hại cô gia thì các người tính sao?
Gia tướng đồng thanh nói:
- Nhạc Phi có mấy cái đầu mà dám hại Lương Vương? Như nó ỷ sức mạnh thì chúng tôi xông ra bằm xác nó cho rồi. Trong triều đã có Trương Thái sư làm chủ và có mấy ông kia đỡ đầu, chúng mình lo gì.
Phan vương gật đầu tỏ vẻ đắc ý rồi giục ngựa thẳng ra giáo trường, lúc ấy Nhạc Phi cũng vừa đến.
Phan Vương trông thấy Nhạc Phi lúc bấy giờ oai phong lẫm lẫm chứ không phải khiếp sợ như lúc nãy, trong lòng hơi hồi hộp bèn nói với Nhạc Phi:
- Nhạc cử tử hãy theo lời ta hoà đi là hơn, vì khi ta được Trạng võ thì ngươi cũng được Thám hoa hay Bảng Nhãn cũng tốt lắm rồi.
Nhạc Phi đáp:
- Điều ấy tưởng tôi đã nói nhiều với Vương gia lúc nãy rồi. Vả chăng mười năm khổ công rèn luyện mới nên danh học trò, hơn nữa trong hội thi này đâu phải một mình tôi? Nếu làm như vậy có nên danh phận cũng không ai phục đâu.
Sài Vương nghe qua nổi giận vung đao chém liền. Nhạc Phi giơ Lịch Tuyền thương vừa gạt ngang một cái Sài Vương đã bị dội ngược lại rung động cả toàn thân, trong lòng kinh hãi song cũng ráng sức bình sinh lao mình tới chém một đao nữa. Nhạc Phi cũng đưa thương lên đỡ. Sài Vương trông thấy Nhạc Phi chỉ đỡ mà thôi tưởng chàng không dám đâm mình nên vung đao chém lia lịa.
Nhạc Phi nổi giận nói:
- Sài Quế, ta tưởng ngươi là một Vương gia nên ta chẳng nỡ, ngờ đâu ngươi lại không biết điều gì cả. Vậy đừng trách ta sao ra tay độc ác đấy nhé.
Sài Vương nghe Nhạc Phi gọi tên tục mình thì nổi nóng quát mắng:
- Nhạc Phi, ngươi quả là loại cẩu đầu. Sao ngươi dám mạo phạm đến tính danh của ta? Ta quyết phân mi ra muôn mảnh mới hả giận.
Nói rồi nghiến răng vận đủ mười thành công lực nhắm ngay đầu Nhạc Phi chém xuống một đao thật mạnh quyết hạ thủ cho kỳ được, nhưng Nhạc Phi đã gạt ngang một cái khiến Sài Quế quay mấy vòng, thừa thế Nhạc Phi đâm một thương trúng ngay giữa ngực. Sài Quế té nhào xuống ngựa, máu phun ra có vòi, chỉ còn giãy giụa mấy cái rồi im lìm, hồn lìa khỏi xác.
Thiên hạ đứng xem cùng các cử tử đều vỗ tay rầm rộ khen hay. Các quan tuần trường cùng bọn vệ binh trông thấy thế đều biến sắc mặt, vội bảo lính hộ vệ phải coi giữ lấy Nhạc Phi đừng để cho chàng tẩu thoát.
Nhưng Nhạc Phi vẫn thản nhiên như thường, chàng nhảy xuống ngựa cột dây cương vào cán thương rồi đứng đó chờ lệnh.
Tuần trường quan chạy đến phi báo với mấy quan giám khảo:
- Nhạc Phi đã đâm chết Phan vương rồi, xin quý thượng quan định liệu.
Tông Lưu Thú nghe báo vẫn làm thinh, nhưng trong lòng hơi sợ hãi. Còn Trương Bang Xương thì thất kinh hồn vía rụng rời vội sai quân trói Nhạc Phi lại tức tốc.
Tả hữu tuân lệnh chạy ra giáo trường thì thấy bọn thủ hạ của Sài Vương tay cầm gươm giáo đang lăm le muốn xông ra báo thù cho chủ. Thang Hoài vội vàng cầm thương lên ngựa chạy bay ra chận lại.
Ngưu Cao cùng múa song giản chạy đến thét lớn:
- Nhạc Phi đâm Sài Vương chết vẫn còn có chỗ công luận chứ bọn ngươi ỷ sức mạnh thì chúng ta chẳng dung đâu.
Gia tướng thấy tình thế không ổn muốn chạy quật ra phía sau thì có Trương Hiển cầm cây liêm thương cản lại. Bọn chúng bèn giựt phá trướng phòng hư hết phân nửa.
Trương Hiển quát lớn:
- Các ngươi muốn động thủ phải không? Nếu các ngươi muốn làm dữ thì anh em ta sẽ giết không chừa một đứa đấy.
Bọn thủ hạ Sài Quế khiếp nhược không dám ló ra một tên. Kế thấy quân đao phủ dẫn Nhạc Phi đi, chúng đoán chắc là Trương Thái sư sẽ gia hình nên yên tâm không rộn lên như lúc nãy nữa. Còn Ngưu Cao thì trông thấy Nhạc Phi bị quân đao phủ dẫn đi chàng thất kinh hồn vía vội chạy theo.
Đến nơi, Ngưu Cao lại nghe Trương Bang Xương truyền lệnh đem chém Nhạc Phi lấy đầu thị chúng, chàng toan xông vào cản trở. Bỗng nghe Tông Lưu Thú quát:
- Hãy dãn ra hết!
Rồi giơ tay nắm áo Trương Bang Xương gằn giọng:
- Tại sao lại truyền lệnh chém Nhạc Phi hả? Thiết tưởng hai bên đã lập trạng thư giao kết với nhau thì ai chết nấy chịu chứ còn nói năng gì nữa. Chẳng lẽ chúng mình thị chứng đóng dấu vào tờ giấy rồi đem Nhạc Phi ra giết, cử tử coi chúng ta ra gì nữa? Và như vậy chúng ta có thể bị hại nữa là khác. Chi bằng việc đâu còn có đó, để về tâu lại với thánh thượng, chờ lệnh trên định đoạt.
Bang Xương vẫn một thái độ hằn học:
- Không thể như thế được. Nhạc Phi là một kẻ võ sinh dám giết chết một vị Phan Vương? Quả là kẻ vô quân, vô phụ, loạn thần tặc tử, ai ai cũng đều giết được hà tất phải tâu vua làm gì?
Dứt lời lại truyền quân đao phủ đem Nhạc Phi chém cho mau.
Quân đao phủ tuân lệnh áp lại toan ra tay thì Ngưu Cao xông vào hét lớn:
- Hãy nghe ta nói đã. Thử hỏi thiên hạ anh hùng đến đây hôm nay ai mà chẳng vọng tưởng hai chữ công danh? Nay Sài Vương ỷ thế ra tranh chức, rủi bị Nhạc Phi võ nghệ cao cường đâm chết, đáng lẽ ra Nhạc Phi phải được chức Võ Trạng mới phải, sao lại còn bị đem chém, thế thì anh em tôi đây không phục tý nào cả. Chẳng lẽ chốn này là chỗ phỉnh phờ lừa gạt như vậy sao? Chi bằng giết quách bọn quan ôn dịch này cho hết, rồi chúng ta đến hoàng đế mà khiếu nại.
Nói dứt lời, Ngưu Cao vung song giản đánh ngã cây cột cờ để hăm doạ.
Các cử tử đứng bao vây xugn quanh cũng cùng la lên phụ hoạ:
- Trong ba năm mới mở hội một kỳ để tuyển chọn anh tài, Sài Vương ỷ thế, cậy thần ra cướp giựt chức Trạng võ tức là muốn dìm chúng ta xuống đáy biển rồi, chẳng lẽ ta nhịn thua sao?
Rồi mỗi người một tiếng hò nhau vang dội một góc trời. Cây cột cờ kia lại ngã xuống vang lên tiếng động như long trời lở đất, người ta cảm thấy có sức mạnh không gì cản nổi.
Bấy giờ Tông Lưu Thú buông Trương Thái sư ra và nói:
- Thái sư đã nghe các cử tử nói đó không? Thái sư có giỏi thì giết Nhạc Phi đi, tôi cũng không can thêm nữa.
Ba vị giám khảo kia bấy giờ mới xuống nước, mặt ông nào cũng tái mét cắt không còn giọt máu, vội xúm lại năn nỉ Tông Lưu Thú:
- Sự việc đến nước này thì nguy cho chúng tôi lắm, xin Nguyên Nhung lo liệu giùm. Vẫn biết ba anh em tôi với Nguyên Nhung cũng đều lãnh mạng triều đình, song chỉ có lệnh Nguyên Nhung thì cử tử mới chịu phục mà thôi.
Rồi ông lại quay qua dặn quân đao phủ:
- Chúng bay phải chờ lệnh Nguyên soái chứ đừng làm càn mà phạm quốc pháp đấy.
Các cử tử nghe nói có lệnh của Tông Lưu Thú thì im lặng dóng tai nghe, nhưng ông ta vẫn làm như không thèm nói gì hết.
Bang Xương lại bước tới trước mặt Tông Lưu Thú dịu giọng:
- Mặc tình Nguyên Nhung liệu định thế nào chúng tôi cũng theo cả.
Lưu Thú nói:
- Bây giờ nhân tình không phục toan làm loạn lên rồi, dù có viết sớ tâu lên vua cũng không kịp nữa, chỉ bằng thả Nhạc Phi ra cho bọn cử tử hài lòng cái đã rồi chúng mình sẽ toan liệu sau.
Ba người liền gật đầu ưng chịu ngay, vội sai mở trói cho Nhạc Phi.
Nhạc Phi thấy mình được thoát khỏi tai nạn lật đật lấy thương giáp nhảy phóc lên lưng ngựa chạy thoát ra ngoài không kịp nói một tiếng tạ ơn. Ngưu Cao cùng các huynh đệ cũng chạy theo. Vương Quới đứng giữa giáo trường chờ cho anh em chạy hết chàng mới phá cửa giáo trường tẩu thoát.
Chỉ trong chốc lát, giáo trường nhộn nhịp trở nên hoang vắng, các cử tử thì kéo nhau về hết, chỉ còn gia tướng của Sài Quế lo nhặt xác của chủ tướng.

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-05 00:53:02Hoàng Dung>
 đánh máy: Lucern
hồi thứ mười ba 
Vương Thiện dấy binh quyết phá Tống
Tông Trạch cáo ốm, chối mệnh vua 

Ra khỏi giáo trường, anh em Nhạc Phi phóng ngựa thẳng đến dinh Tông Lưu Thú thì thấy cửa dinh đóng kín, mọi người xuống ngựa vào cổng dinh rồi gọi quân canh nói:
- Xin làm ơn bẩm lại với lão gia rằng, Nhạc Phi này suốt đời đền ơn Ngài chẳng đặng, kiếp sau xin quyết làm thân khuyển mã để đền bồi.
Rồi cùng nhau lên ngựa trở về quán trọ tính tiền trả cho chủ quán và từ biệt trở về quê.
Lại nói chuyện các quan giám khảo trông thấy các cử tử bốn phương giải tán hết rồi, liền bảo bộ hạ của Sài Vương liệm hài cốt cẩn thận rồi vào Triều chầu thiên tử.
Trương Bang Xương dập đầu dưới bệ tâu:
- Muôn tâu bệ hạ, khoa này chốn võ trường có tên học trò của ông Tông Trạch tên Nhạc Phi đã đâm chết Tiểu Lương Vương nên các cử tử đều bỏ về hết. Tình trạng này xảy ra là do ông Tông Trạch đó thôi.
Vua nghe qua vô cùng thương tiếc Tiểu Lương Vương và giận dữ quở mắng Tông Lưu Thú.
- Thế thì tội khanh đáng chết nhưng ta cũng nể tình khanh là một quan đại thần có công với triều đình lâu nay nên trẫm tha chết cho.
Phán rồi truyền quân lột áo mũ Tông Trạch đuổi về làm thường dân. Tông Trạch cũng muốn thanh minh nhưng trống đổ bãi triều, Vua và các quan ra về hết.
Tông Trạch về đến dinh đã thấy quân giữ cửa quỳ thưa:
- Lúc nãy có năm anh em Nhạc Phi đến cửa viên môn quỳ lạy và hứa xin chờ kiếp sau sẽ đền ơn.
Tông Trạch nghe nói cảm động sa nước mắt, bèn vào dinh gói ghém một ít quần áo cùng vàng bạc ra đi một cách vội vã.
Gia đinh không biết Tông Trạch đi đâu vội hỏi:
- Lão gia đi đâu một mình mà gấp lắm vậy?
- Ta đi theo anh em Nhạc Phi.
- Bẩm mấy người ấy đã đi xa rồi, lão gia đi làm gì vô ích.
Tông Trạch đáp:
- Các ngươi đâu rõ lòng ta? Thủa xưa Tiêu Hà trong đêm tối, nhờ bóng trăng mà theo Hàn Tín, đến sau nhờ người ấy mà nhà Hán bền vững được bốn trăm năm, huống chi ngày nay Nhạc Phi tài trí thua gì Hàn Tín, vả lại trong lúc này quốc gia cần gấp người hiền, lẽ nào lại bỏ kẻ có tài sao? Vì vậy ta cần phải theo để căn dặn vài điều.
Tông Trạch đem theo vài tên tuỳ tùng, giục ngựa buông cương quyết theo gót Nhạc Phi.
Khi Nhạc Phi ra khỏi cửa thành, chàng ra roi cho ngựa phi nước đại, miệng thúc anh em chạy cho mau. Ngưu Cao nói:
- Mình đã ra đến đây còn sợ ai nữa mà chạy dữ vậy?
Nhạc Phi nói:
- Vì Ngưu đệ chưa rõ lòng nham hiểm của bọn gian thần, nhất định không khi nào chúng chịu buông tha anh em chúng ta đâu. Chúng ta được may mắn ra đến đây là nhờ có ân sư giúp đỡ. Nếu mình không tẩu thoát cho mau thì chúng sẽ kiếm chuyện khác đuổi theo tróc nã, lúc ấy có ăn năn cũng chẳng kịp.
Anh em nghe nói đều cho là phải rồi giục ngựa theo bén sát Nhạc Phi không dám chậm trễ.
Trong đêm tối, nhờ bóng trăng soi lờ mờ, năm chàng tráng sĩ kẻ trước người sau vừa đi vừa chuyện vãn chỉ trong chốc lát đã vượt được hai mươi dặm đường, bỗng nghe phía sau có tiếng động, Nhạc Phi quay lại xem thì quả nhiêm có bóng người cưỡi ngựa đuổi theo. Nhạc Phi kinh hãi nói:
- Hay là bộ hạ của Sài Quế theo chúng mình chăng?
Vương Quới nói:
- Sợ gì, chúng mình đi chậm lại chờ chúng nó đến, cho chúng toi mạng hết một lượt.
Ngưu Cao tán đồng:
- Phải đấy, chúng ta lại sợ lũ chuột nhắt ấy sao? Chi bằng cùng nhau quay lại Thành đô giết sạch lũ gian thần thâu đoạt Biện Kinh rồi tôn Nhạc đại huynh lên làm hoàng đế, còn lũ mình làm tướng thì sướng biết chừng nào, cần gì phải chịu khảo hạch chức Trạng võ cho mệt xác.
Nhạc Phi trợn mắt quát:
- Nói bậy, ngươi điên rồi sao? Từ nay về sau đừng có loạn ngôn như vậy nữa.
Ngưu Cao hờn dỗi:
- Thôi tôi chẳng thèm nói gì hết, để cho bọn nó đi đến đây rồi ngửa cổ ra cho chúng nó chặt chắc êm lắm!
Thang Hoài nói:
- Ngưu đệ chớ có nói vậy, anh em ta dừng ngựa lại chờ bọn nó đến xem sao. Nếu như chúng dùng lời lẽ ôn tồn thì chúng ta cũng dùng lời mà đối với chúng, bằng chúng hành hung thì chúng ta cho chúng một trận chí mạng chớ sợ gì?
Bỗng thấy một người cưỡi ngựa lướt tới, gọi lớn:
- Nhạc tướng công, hãy đi chậm chậm lại đợi lão gia với.
Nhạc Phi reo lên:
- Đúng là ân sư ta rồi, nhưng người theo ta có việc gì mà hấp tấp dữ vậy?
Tông Trạch vừa đến nơi, năm anh em đều xuống ngựa quỳ bên đường. Tông Trạch vội bước tới đỡ dậy, Nhạc Phi nói:
- Môn sinh nhờ ơn ân sư cứu thoát chết, chưa biết lấy chi báo đáp. Trong khi bất cập chẳng được diện kiến để bái từ, nay ân sư theo đến đây chẳng biết có điều gì dạy bảo?
Tông Trạch nói:
- Cũng vì việc ấy mà bọn Trương Bang Xương dâng sớ lên Thánh thượng cất chức ta rồi.
Bọn Nhạc Phi nghe vậy lấy làm ái ngại, vội lạy mà xin lỗi.
Tông Trạch khoả tay:
- Không can chi đâu. Lâu nay ta cũng muốn từ quan, song sợ triều đình không cho ta nghỉ, nay được như vầy, lão gia càng được an nhàn lắm có sao?
Rồi Tông Trạch quay lại hỏi hai tên tuỳ tùng:
- Chúng bay biết gần đây có chỗ nào nghỉ tạm đỡ một đêm được không?
Gia tướng bẩm:
- Thưa lão gia, đi chừng nửa dặm đường nữa thì đến vườn hoa của quan Giám nghị, vườn ấy rộng rãi mát mẻ có thể nghỉ được.
Tông Lưu Thú cùng Nhạc Phi lên ngựa đi ngay, chỉ trong chốc lát đã đến vườn hoa. Người coi vườn chào hỏi niềm nở và dẫn mọi người vào vườn.
Ngồi nghỉ hồi lâu, Tông Lưu Thú hỏi người coi vườn.
- Chúng ta đã đói bụng lắm rồi, chẳng biết gần đây có chỗ nào bán rượu không?
Người coi vườn đáp:
- Cách đây độ một dặm đường có chợ Chiêu Phong, bán đủ thực phẩm.
Tông Lưu Thú liền sai kẻ tuỳ tùng xuống chợ mua thức ăn, rồi mở lấy một gói vải trao cho Nhạc Phi nói:
- Lão phu chẳng có chi quí gí, chỉ còn một bộ khôi giáp đem theo tặng cho ngươi, hãy nhận lấy mà dùng.
Nhạc Phi chưa có giáp nay được Tông Trạch cho, chàng mừng rỡ tạ ơn rối rít.
Tông Lưu Thú nói:
- Chư vị tướng công chớ thấy công danh chưa đạt được mà buồn lòng, thối chí. Chỉ sợ mình bất tài chứ đừng sợ mình vô dụng. Rồi đây mưu thâm, kế ác của bọn gian thần bại lộ ra rồi, lão phu sẽ ra sức mà tâu với triều đình, thế nào các ngươi cũng được trọng dụng. Bây giờ đây chữ trung chưa thực hiện được hãy trở về phụng dưỡng mẹ cha để làm tròn chữ hiếu. Còn việc văn chương, võ nghệ phải luôn luôn luyện tập chớ có xao lãng.
Bọn Nhạc Phi đồng thanh nói:
- Lão gia đã thương tình chỉ dạy cho mấy lời châu ngọc, chúng tôi nguyện khắc cốt ghi tâm.
Câu chuyện vừa đến đây thì cỗ bàn đã dọn lên, anh em mời Tông Lưu Thú ngồi trước rồi anh em ngồi sau. Kẻ tuỳ tùng hầu hạ rót rượu thiết đãi.
Tông Lưu Thú cùng năm anh em Nhạc Phi ăn uống chuyện vãn, đàm luận việc binh pháp, Vương Quới và Ngưu Cao ngồi cuối bàn, hai người này ăn cơm hồi đầu canh rồi suốt ngày ở tại giáo trường chẳng ăn uống chi cả cho nên trong bụng đói như cào. Bây giờ trông thấy rượu thịt ngon miệng, mặc cho ai nói năng gì thì nói, hai người cứ việc ăn uống như rồng khát thấy nước, cọp đói gặp mồi vậy. Ăn xong hai người không thèm uống trà mà dùng gáo múc nước suối uống cho đã khát.
Bấy giờ tiếng gà trong xóm đã gáy vang, vừng đông ửng hồng hiện lên trăm nghìn hình tượng đẹp mắt. Bọn Nhạc Phi từ tạ Tông Lưu Thú ra đi, còn Tông Lưu Thú cũng trở về dinh.
Trên đường đi, anh em Nhạc Phi nói nói cười cười ai nấy đều cảm mến ông Tông Lưu Thú, họ không biết ngày nào mới đền ơn cho ông ta được.
Đang lúc trò chuyện, đột nhiên Vương Quới thình lình ngã nhào xuống ngựa, mặt mày tái nhợt, cắn răng, bất tỉnh nhân sự. Anh em hoảng hốt lật đật nhảy xuống ngựa bế xốc Vương Quới lên kêu gọi ầm ĩ.
Nhạc Phi cầm tay xoa bóp cho Vương Quới, nước mắt chảy ròng ròng, mếu máo nói:
- Vương đệ ơi! Vương đệ hãy tỉnh lại. Chữ công danh chưa đạt được nên phải trở về, mà về chưa đến nhà đã xảy ra cơ sự như vậy, nếu Vương đệ có bề gì thì ta biết nói thế nào với lệnh tôn đây?
Nhạc Phi than khóc chẳng cùng, anh em ai nấy đều kinh hãi.
Ngưu Cao nói:
- Chư huynh đệ đừng khóc chỉ tổ hoang mang vô ích, để đệ tìm cách cứu chữa xem sao. Theo đệ biết thì hôm qua Vương huynh đói bụng lắm nên hôm nay ăn nhiều quá, lại uống nước lạnh nữa thì bảo sao không mang bệnh?
Vừa nói, Ngưu Cao vừa sờ vào bụng Vương Quới, chàng cào qua cào lại nghe rột rột rồi nói:
- Đúng rồi, bụng Vương ca thế này thì bị thương thực rồi chứ gì nữa.
Ngưu Cao bèn lấy tay xoa tròn một hồi cho nóng rồi đặt trọn bàn tay nhận xuống bụng Vương Quới làm xổ ra nhiều nước tanh hôi. Tức thì Vương Quới tỉnh lại, nhưng vẫn còn ôm bụng rên xiết.
Nhạc Phi nói:
- Bây giờ anh em mình ở đây nghỉ đỡ, còn Thang đệ thì phải đi đến Chiêu Phong trấn tìm mướn một cái quán để đem Vương đệ đến đó thuốc thang.
Thang Hoài vâng lệnh lên ngựa thẳng đến Chiêu Phong trấn tìm vào một chiếc quán khá rộng rãi.
Người chủ quán ra tiếp đón niềm nở, Thang Hoài nói:
- Chúng tôi có năm anh em đều xuống võ trường ứng thí, khi về dọc đường rủi có một người lâm bệnh nên phải tìm chỗ tá túc, thuốc thang.
Người chủ quán vui vẻ đáp:
- Được lắm, không hề gì đâu, các vị cứ việc đem người bệnh đến đây nghỉ và lo chạy thuốc men, quán tôi rộng rãi mát mẻ có đủ điều kiện cho người bệnh tĩnh dưỡng.
Thang Hoài trở lại nói cho anh em hay rồi cùng nhau đến quán nghỉ ngơi và nhờ chủ quán đi đón thầy lang đến chẩn mạch bốc thuốc.
Chẩn mạch xong, ông thầy thuốc bảo:
- Bệnh này thuộc loại ẩm thực thương tỳ lại them ngộ cảm hàn khí, bây giờ phải đầu thang “thập thần” để tiêu trì hàn khí, đồng thời kiện tỳ tiêu thực rồi mới dám phục thuốc “quy tỳ” để bổ dưỡng tỳ trong ba thang. Làm thầy như tôi đã ba đời nối nghiệp kinh nghiệm có dư nên tuy bệnh trọng cũng chỉ vài thang thuốc là khỏi bệnh ngay.
Nhạc Phi nghe nói mừng rỡ trao tiền cho thầy bốc thuốc, anh em đều ở lại quán chăm sóc Vương Quới.
Lại nhắc đến Vương Thiện ở tại núi Thái Hành, sai người xuống kinh kỳ dò la tin tức, nên chỉ hai ngày sau có tin phi báo:
- Nguy tai! Sài Quế đã bị Nhạc Phi đâm chết tại võ trường, triều đình đã cắt chức Tông Trạch.
Vương Thiện vội nhóm họp các tướng sĩ cùng quân sư bàn bạc. Vương Thiện nói:
Nay triều đình trọng dụng kẻ gian thần nên các tướng sĩ đều ngã long. Vì vậy tuy Sài Vương bị giết song Tông Trạch bị cách chức thì triều đình không còn người giỏi nữa. Chúng ta thừa cơ hội này khởi binh vào Biện Kinh đoạt lấy giang sơn nhà Tống các ngươi nghĩ sao?
Quân sư Điền Kỳ nói:
- Nay nhà vua đã làm cho dân tình ta than, bỏ kẻ hiền trọng dụng tôi gian, trong triều văn võ bá quan chẳng hoà nhau, cơ hội này không khởi binh thì còn đợi cơ hội nào nữa?
Vương Thiện bèn sai Mã Bảo làm tiên phong và Hà Lục, Hà Thất làm phó tướng, dẫn ba nghìn tinh binh chia làm ba đạo kéo thẳng xuống Biện Kinh.
Khi binh kéo đến cửa Nam Huân còn cách xa thành chừng năm mươi dặm thì an binh hạ trại.
Tướng giữ thành này hay tin có giặc đến liền đóng kín các cửa thành phòng thủ rồi vào tâu cho Hoàng thượng hay.
Vua Huy Tông lập tức khai triều, nhóm họp đủ mặt văn võ bá quan rồi phán hỏi:
- Nay bọn cường khấu ở Thái Hành sơn kéo quân xuống đây, ai dám đem binh ra trừ khử?
Các quan chỉ nhìn nhau không ai lên tiếng. Vua cả giận nhìn thẳng vào mặt Trương Bang Xương quát mắng:
- Nuôi quân ngàn ngày chỉ nhờ một thuở. Các khanh ăn lộc nước đã lâu, nay giặc đến thành rồi mà chẳng ai biết bày một mưu chước, hay ra tay đẩy lui giặc, thế thì chẳng phải là uổng cơm của triều đình lắm sao?
Bỗng có quan Giám Nghị quỳ xuống tâu:
- Thần là Lý Can muốn tâu cùng thánh thượng điều này: Vương Thiện cso ý cướp ngôi thiên tử đã lâu, tuy hắn có binh hùng tướng mạnh song chẳng dám hành động là vì hắn sợ một mình ông Tông Trạch mà thôi, nay thánh thượng muốn đẩy lui giặc, chỉ còn cách là triệu ông ấy về cầm binh mới có thể xong việc được.
Vua Huy Tông nghe lời hạ chỉ sai Lý Can đến triệu ông Tông Trạch vào triều, lãnh binh diệt giặc.
Lý Can tuân mệnh thẳng đến dinh Tông lão thì thấy chỉ có con là Tông Phương ra nghênh tiếp. Lý Can hỏi:
- Sao không thấy đại nhân ra tiếp chỉ?
Tông Phương đáp:
- Phụ thân tôi lâm bệnh nằm liệt trên giường không thể ra tiếp được, tội đáng chết, xin được rộng lượng.
Lý Can vặn hỏi:
- Tông đại nhân đau hồi nào và đau bệnh gì?
- Thưa, phụ thân tôi lâm bệnh từ lúc võ trường bị phá đến nay.
Lý Can liền đặt thánh chỉ giữa trung đường đi thẳng vào chỗ Tông Trạch nằm thì thấy Tông Trạch ngủ ngáy khò khò.
Lý Can nhìn Tông Phương bảo:
- May mà ta đến đây chứ nếu kẻ khác đến thấy vậy thì ắt mang tội khi quân rồi!
Tông Phương vẫn một mực đáp:
- Thật tình phụ thân tôi mang bệnh chứ không giả dối đâu, xin thượng quan chớ nghi ngờ.
Bỗng Tông Trạch trở mình rồi lẩm bẩm nói:
- “Phải giết hết lũ gian thần kia cho ta!”
Nói rồi lăn qua ngủ nữa. Lý Can xem xét hồi lâu rồi nói với Tông Phương:
- Lệnh tôn đau thật, để lão phu vào triều tâu lại.
Lý Can trở về phục chỉ và tâu:
- Tông Trạch lâm bệnh nên không thể lãnh binh được.
Vua Huy Tông đang trông đợi, bỗng hay tin vậy thì lo sợ vô cùng, vội hỏi:
- Đau bệnh gì? Để ta sai thái y đến chữa chạy.
Lý Can tâu:
- Hạ thần tin chắc thái y không thể nào chữa bệnh cho Tông Trạch được đâu.
- Tại sao vậy?
- Chỉ vì từ ngày Tông Trạch chứng kiến sự việc tại giáo trường trong lòng hoang mang, lại bị tước chức, nên càng căm phẫn sinh bệnh ngày ngày la lối mắng nhiếc bọn gian thần. Vì vậy bệ hạ chỉ cần bắt gian thần hạ ngục thì tự nhiên Tông Trạch hết bệnh chứ không phải thuốc men gì cả.
Vua hỏi:
- Gian thần là ai?
Lý Can chưa kịp tâu thì Bang Xương đã quỳ tâu trước:
- Gian thần chính là Binh Bộ thượng thư Vương Đạt vậy.
Vua y theo lời, liền hạ chỉ bắt Vương Đạt giao cho Hình bộ giam lại.
Vương Đạt và Trương Bang Xương vốn là bạn tâm giao, là phường gian nịnh cả, thế sao Bang Xương lại đổ tội cho Vương Đạt.
Đó chính là xảo kế cảu kẻ gian nịnh. Nếu Bang Xương không nhanh miệng thì tất nhiên Lý Can chỉ đích danh cả thì khó gỡ, chi bằng y tâu đổ tội cho một mình Vương Đạt rồi thủng thẳng y kiếm kế gỡ ra.
Sau khi Lý Can về, Tông Trạch sai người đến triều đình thám thính, mới hay triều đình đã bắt Vương Đạt cầm tù.
Hôm sau Lý Can đến, Tông Trạch mới chịu ra tiếp chỉ.
Lý Can nói:
- Tôi biết ngài vì giận kẻ gian thần mà đau, nên tôi muốn tâu vua diệt trừ cả ba, thế mà Bang Xương đã nhanh miệng tâu trước thành thử chỉ có một mình Vương Đạt bị bắt mà thôi.
Thế rồi hai người vào cung triều kiến, vua phục chức lại cho Tông Trạch để được lãnh binh ra trừ giặc.
Trương Bang Xương thấy vậy quỳ tâu:
- Vương Thiện là quân cướp đường, bọn lâu la ô hợp, Tông đại nhân đây là người binh pháp thần thông, xin bệ hạ phát cho Tông Trạch chừng năm ngàn binh cũng đủ thắng quân giặc rồi.
Vua nghe theo, hạ chỉ phát cho Tông Trạch năm nghìn binh mà thôi. Tông Trạch nói với Lý Can:
- Ông đánh cọp chẳng xong, nên để cho cọp cắn lại tôi.
Lý Can nói:
- Việc đã lỡ rồi, xin Nguyên Nhung cứ việc ra binh, rồi sáng mai tôi sẽ tâu cùng Thánh thượng thêm binh tiếp ứng.
Hai người từ giã về dinh.
Hôm sau, Tông Trạch đến chỗ giáo trường kiểm binh mã có dẫn công tử Tông Phương theo, rồi kéo binh đến Mâu Đà Cang giáp chiến.
Tông Trạch thấy binh giặc đông đến bốn năm vạn, nghĩ thầm:
- Địch thì quân lính hằng hà sa số còn ta chỉ có vỏn vẹn năm nghìn thì đánh sao cho lại?
Rồi ra lệnh cho quân sĩ đi thẳng lên đỉnh Mâu Đà Cang hạ trại.
Công tử Tông Phương lấy làm lạ hỏi:
- Sao phụ thân lại đem binh đóng trên đỉnh núi thế này? Nếu quân giặc đến bao vây thì làm sao giải cứu?
Tông Trạch thở dài đáp:
- Ta há lại không biết thiên thời địa lợi sao? Nhưng chỉ giận gian thần ghen ghét cố hại ta, nên trong tay ta chỉ có năm nghìn người ngựa làm sao phá nổi bốn năm vạn lâu la? Cho nên cha quyết sẽ đơn thân độc mã vào sào huyệt giặc, nếu như không phá nổi chúng thì cha chịu chết để đền nợ nước. Lúc ấy con sẽ đem binh về bảo hộ gia quyến đưa về quê quán, chẳng nên ở chốn kinh thành mà mang hại. Nếu như ta làm cho binh tướng chúng rối loạn, dinh trại chúng hoang mang, thì con hãy đem ngay quân tiếp ứng thừa thế phá tan sào huyệt chúng.
o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-05 01:02:06Hoàng Dung>
đánh máy: Lucern
 hồi thứ mười bốn 
Nhạc Phi phá giặc đền ân trọng
Thi Toàn ăn cướp gặp bạn hiền 

Các tướng sĩ thấy Tông Lưu Thú liều thân như vậy vội chạy theo núi lại bẩm:
- Lão gia chớ nên đi một mình như vậy, thế giặc quá hung hăng lại đông như kiến. Anh em chúng tôi quyết liều chết theo lão gia chứ nhất định không chịu để cho lão gia đi một mình vào chốn miệng hùm, hang rắn.
Tông Trạch nói:
- Không phải ta không thấy giặc mạnh, nhưng có đem các ngươi theo cũng chẳng làm gì, chi bằng một mình ta đi cho khỏi mang hại đến các ngươi.
Quân sĩ nghe nói càng cảm động hơn nữa, nhưng can gián hết lời ông vẫn không nghe cứ việc giục ngựa thẳng đến trại địch lớn tiếng gọi.
- Ta, Tông Lưu Thú đến phá hang ổ chúng bay đây!
Vừa hét vừa xông vào chém địch như chém chuối, như đến chỗ không người, bọn lâu la không tài nào ngăn nổi lật đật chạy vào báo với Vương Thiện:
- Có Tông Trạch đơn thương độc mã xông vào dinh trại hung hăng quá, chúng tôi không cản nổi.
Vương Thiện suy nghĩ:
- Tông Trạch là danh tướng của nhà Tống mà một mình một ngựa vào đây liều chết thì chắc là gian thần mưu hại y rồi, nếu ta mà được người ấy thì lo gì giang sơn nhà Tống chẳng vào tay ta?
Nghĩ vậy nên vội ra lệnh cho binh tướng phải vây bắt cho kỳ được Tông Trạch, nhưng không được gây thương vong. Binh tướng được lệnh ào đến bao vây trùng trùng điệp điệp và gọi Tông Trạch bảo:
- Sao không xuống ngựa quy hàng cho sớm còn đợi chừng nào?
Nhưng Tông Lưu Thú không thèm đếm xỉa gì đến lời kêu gọi, ráng đem hết sức bình sinh ra đánh thốc vào đám giặc chẳng khác Triệu Tử Long vào trận Đương Dương.
Nhưng dù Tông Lưu Thú có tài giỏi đến đâu cũng khó mà thắng nổi số đông kia, nếu như quân địch dùng cung tên bắn loạn vào thì chắc chắn ông cũng khó mà bảo toàn tính mạng. Bởi vì Vương Thiện ra lệnh bắt sống nên quân sĩ chỉ bao vây chờ cho đối phương đuối sức mới ra tay thôi.
Trận này xin tạm gác lại sau sẽ tiếp, bây giờ lại nói đến mấy anh em Nhạc Phi đang ở Chiêu Phong trấn, ngày đêm săn sóc bệnh tình của Vương Quới, bệnh chàng hôm nay đã gần khỏi, Thang Hoài đang nấu nước trà cho Vương Quới uống, đột nhiên cánh cửa mở, người chủ tiệm cùng tên tiểu nhị hớt hải chạy vào nói:
- Nguy tai lắm chư vị tướng công ôi! Nay có đám ăn cướp trên Thái Hành sơn xuống muốn chiếm đoạt kinh thành. Như chúng chiếm được thì chẳng nói chi, bằng chúng bị thua quay trở lại đây sẽ phá làng xóm cướp bóc giết người ghê gớm lắm. Vì vậy bây giờ phải đi dò la tin tức, nếu liệu bề không xong thì phải dọn nhà trốn đi cho sớm kẻo hoạ đến nơi không chạy kịp. Còn mấy ông cũng phải lo thu xếp đi kẻo nguy đấy.
Thang Hoài nói:
- Không hề gì đâu, nếu chúng biết anh em ta ở đây thì dù cho chúng có ba đầu sáu tay cũng không dám bén mảng đến vì chúng đến đây lại phải nạp tiền mãi lộ cho chúng ta thì đến để làm gì?
Nói đến đây Thang Hoài cười ha hả. Người chủ tiệm đang kinh hãi chợt thấy thái độ ngạo mạn của Thang Hoài, hắn đứng nhìn sửng sốt đầy vẻ nghi ngờ rồi nói:
- Việc nguy biến sắp đến nơi sao tướng công lại đùa bỡn như vậy? Tôi nói thiệt đấy, xin tướng công hãy lo liệu gấp kẻo không kịp nữa.
Thang Hoài lại càng tức cười thêm, rồi không thèm đếm xỉa gì đến người chủ tiệm nữa, cứ thản nhiên bưng trà lên cho Vương Quới uống.
Nhạc Phi hỏi:
- Sao Thang đệ pha trà lâu thế?
Thang Hoài đem câu chuyện người chủ quán thuật lại đầu đuôi, Nhạc Phi vội kêu hắn vào hỏi lại:
- Câu chuyện người vừa mới nói ấy có thật không hay là nghe lời đồn huyễn hoặc?
- Quả thật như vậy tướng công ạ, bọn lâu la Thái Hành sơn kéo đến kinh thành đông không biết bao nhiêu mà kể, Triều đình đã sai quan quân đi dẹp rồi.
Nhạc Phi nói:
- Thế thì người làm ơn dọn cơm cho chúng ta ăn sớm đi.
Người chủ quán tưởng chàng thúc cơm ăn để anh em chạy cho mau, nên hắn lật đật đi sửa soạn.
Chủ quán đi rồi, Nhạc Phi nói với anh em:
- Ta đoán chắc triều đình sai người mang quân đi dẹp giặc, ngoài Tông ân sư ra thì không có ai khác đâu.
Thang Hoài hỏi:
- Tại sao đại huynh biết?
Nhạc Phi nói vẻ tự tin:
- Trong triều đều là những kẻ gian thần tham sống, sợ chết chẳng ai dám ra nơi trận mạc. Chỉ có Tông đại nhân là người thật tâm vì nước mà thôi, vậy Ngưu đệ hãy ở lại với Vương đệ cho có bạn để ba anh em ta đi thám thính xem, nếu quả có ân sư ta lãnh binh, bọn ta phải ra sức trợ giúp người.
Thang Hoài và Trương Hiển được đi rất vui mừng, còn Ngưu Cao không được đi, tức mình la lớn:
- Vương huynh đã khỏi rồi, để đệ lại làm gì?
Nhạc Phi đáp:
- Tuy Vương đệ khỏi bệnh rồi nhưng còn yếu chưa thể đi được, chẳng lẽ để Vương đệ ở lại một mình sao? Thôi Ngưu đệ hãy ở lại để ta đi cứu ân sư thì cũng như đệ cứu vậy.
Ngưu Cao vừa muốn phản đối thì Vương Quới liền giơ tay cào cào lưng Ngưu Cao ra hiệu bảo im. Ngưu Cao biết ý, liền dịu giọng bảo:
- Đại huynh không cho đi thì đệ ở lại thôi!
Cơm nước xong ba người nai nịt chỉnh tề, tung mình lên ngựa phóng đi như bay.
Ba người đi rồi, Ngưu Cao hỏi Vương Quới:
- Vương huynh lúc nãy cào lưng đệ là ý chi vậy?
Vương Quới mỉm cười nói:
- Đại huynh đã không muốn cho đệ đi thì dù có nài nỉ lắm cũng vô ích, vậy đệ có biết lý do gì mà ta đau đây không?
Ngưu Cao nói:
- Thì tại huynh ăn nhiều quá nên sinh bệnh chứ gì?
Vương Quới lắc đầu đáp:
- Không phải thế đâu, bởi vì nơi giáo trường ta chưa giết được người nào nên mới sinh bệnh, nay bọn cường đạo Thái Hành sơn xuống đánh phá kinh thành, thì chắc là bọn nó đông lắm cho nên ta cào đệ là có ý để cho ba người họ đi trước, rồi anh em mình lập tức theo sau, giết chúng một trận cho sướng tay thì mọi bệnh tiêu tan mất hết đó là uống thang “thập toàn đại bổ” vậy, chẳng biết đệ nghĩ sao?
Ngưu Cao vỗ tay đắc ý nói:
- Vương huynh nói chí lý, đáng đi lắm.
Rồi hai người dọn dẹp đóng cửa lại bảo với chủ quán:
- Phiền ông ở nhà coi sóc cho tử tế, để anh em ta đi giết hết quân giặc rồi sẽ trở về nhé.
Người chủ quán vâng dạ. Hai người thương giáp chỉnh tề lên ngựa nhắm cửa Nam Huân thẳng tới.
Lại nói, khi ba anh em Nhạc Phi đến Mâu Đà Cang, nhìn lên đỉnh núi cao trông thấy cờ hiệu tung bay phất phới, nhìn kỹ thì quả là cờ hiệu của Tông Trạch, Nhạc Phi ngạc nhiên tự hỏi:
Lạ thật ân sư là người tinh thông binh pháp, sao lại đóng quân trên đỉnh núi như vậy? Quả là hiện tượng bất thường, chúng ta hãy gấp rút lên đó thử xem nào.
Nói rồi ba người giục ngựa chạy lên, Quân canh vào phi báo, Tông công tử lập tức xuống đón lên.
Vừa vào đến trại, Nhạc Phi hỏi Tông Phương:
- Tông đại nhân là người thuần thục binh thư, tinh thông trận pháp, sao lại đóng binh nơi hiểm địa như vậy? Ngộ như quân giặc đến đây vây khốn, triệt đường tiếp tế và chận mạch nước thì biết liệu sao?
Tông Phương buồn bã đáp:
- Chỉ vì gian thần manh tâm hãm hại nên tâu với hoàng thượng phát binh quá ít chẳng đủ dùng, buộc lòng cha tôi cho đóng binh tại đây, rồi một mình một ngựa xông vào dinh trại địch quyết liều chết để đền nợ nước.
Nói đến đây, hai hàng nước mắt Tông Phương chảy xuống ròng ròng, khiến Nhạc Phi cảm động vô cùng, chàng nói:
- Bây giờ công tử hãy sửa soạn đi tiếp ứng, còn anh em tôi phải lập tức xông vào dinh trại địch cứu ngay ân sư ra mới được.
Rồi Nhạc Phi quay lại bảo:
- Thang đệ hãy đánh thẳng vào phía tả, còn Trương đệ thì xông vào phía hữu, riêng ta sẽ đánh vào giữa. Ai gặp ân sư trước thì người đó sẽ lập công đầu.
Thang Hoài nói:
- Binh giặc nhiều quá làm sao giết cho hết?
Nhạc Phi đáp:
- Ta cứ nhằm những đứa đầu đảng mà giết thì tự nhiên hàng ngũ địch tan rã ngay, miễn là làm sao vào được giữa trận, cứu được ân sư là tốt rồi.
Hai người khen phải rồi chia làm ba mặt cùng hét lên một tiếng, xông vào dinh trại địch một lượt.
Thang Hoài vung cây Lãng ngân thương xông vào phía tả chém giết địch như chẻ tre, Trương Hiển vung cây Câu liêm thương nhảy vào phía hữu, gặp người ngựa cũng đều giết sạch, lâu la kinh hồn hoảng vía. Còn Nhạc Phi thì xông vào cửa giữa, cây Lịch Tuyền thương trên tay chàng vung kêu vun vút, đầu giặc rơi như sung rụng. Chàng lớn tiếng hét:
- Có Nhạc Phi đến đây, hãy dãn ra cho ta cứu ân sư ta, bằng không ta sẽ giết không chừa một đứa nào!
Lúc ấy Tông Lưu Thú đang bị vây khốn, ráng hết sức bình sinh chống đỡ, hai tay đã rã rời mà vòng vây ngày một siết chạy. Quân địch gọi lớn:
- Tông Trạch! Đại vương ta bảo, hễ ngươi đầu hàng thì dung cho ngươi khỏi chết. Vậy ngươi hãy xuống ngựa cho mau để bảo toàn tính mạng.
Tông Trạch còn đang phân vân chưa biết nên hành động bằng cách nào, bỗng nghe bên ngoài có tiếng la ó:
- Có Nhạc Phi là người đâm chết Tiểu Lương Vương đang đánh vào trại ta dữ dội quá.
Tông Trạch nghe vậy nghĩ thầm:
- “Nhạc Phi đã về quê rồi lẽ nào lại có mặt nơi đây?”
Còn đang nghi ngại, bỗng nghe tiếng thét vang như sấm nổ, vòng vây đang siết chặt, lại loạn lên rồi một khoảng trống được mở ra. Quả nhiên Nhạc Phi đã lướt tới trước mặt, Tông Trạch cả mừng vừa thở vừa gọi:
- Hiền khiết ôi! Hãy mau đến đây trợ lực, ta đuối sức lắm rồi.
Nhạc Phi nghe gọi vội phóng mình vào, lễ phép đáp:
- Tiểu sinh đến trễ, xin ân sư tha tội.
Nói vừa dứt lời đã thấy Thang Hoài từ phía tả xông tới, rồi Trương Hiển cũng tiếp đến ngay. Nhạc Phi thấy thế kêu lớn:
- Này chư đệ, ân sư ở đây này, chúng ta hãy ráng sức phá dinh địch đưa ân sư ra cho kỳ được nhé.
Tông Trạch mừng rỡ hiệp bốn người cùng một chỗ đánh tháo ra, gặp binh giết binh, gặp tướng chém tướng, đánh theo lối mũi dùi, thế mạnh vô song.
Nhắc lại hai chàng Ngưu Cao và Vương Quới sợ ba người kia đến trước giết hết quân giặc nên quất ngựa chạy như bay. Đến nơi thấy quân giặc đông đảo thì mừng lắm, Vương Quới bảo Ngưu Cao:
- Địch còn nhiều lắm, ta tha hồ mà đánh.
Ngưu Cao quất ngựa lướt tới. Vương Quới cản lại nói:
- Ngưu đệ, hãy khoan đã để cho ta vào trước uống vài “hoàn thuốc bổ” cho nó sảng khoái tinh thần, chớ có vô lễ.
Ngưu Cao nói:
- Vương huynh đau vừa mới khỏi, để đệ vào trước cho.
Vừa nói, Ngưu Cao vừa giục ngựa ô truy tay múa thiết côn, tướng mạo như Nguyên Đan giáng thế. Vương Quới cũgn vung cây đại đao vùng vẫy trên lưng con hồng mã, xem như Quan Công tái sinh!
Hai người áp vào một lượt đánh phá tơi bời, máu thịt văng tứ tung, bọn lâu la hoảng kinh chạy vào báo với Vương Thiện:
- Phía trước dinh có ba người đánh vào rất lợi hại, còn phía sau lại có một người mặt đỏ, một người mặt đen đánh tới rất hung ác, không ai ngăn cản nổi, xin đại vương liệu định.
Vương Thiện nghe báo cả giận câầ đao xông ra. Lâu la thấy thế reo hò:
- Đại Vương đã ra kìa.
Vương Quới mừng rỡ nói:
- Hay lắm, đại huynh ta thường bảo đánh rắn phải đánh dập đầu, đánh giặc phải bắt chủ tướng, hắn ra đây tức nạp mạng cho anh em ta đấy.
Vừa nói, vừa xốc tới vung đao chém Vương Thiện. Ngưu Cao lướt tới kêu lớn:
- Vương huynh hãy nhượng “hoàn thuốc bổ” ấy cho đệ.
Tiếng hét của Ngưu Cao chấn động cả không gian khiến Vương Thiện giật mình bị Vương Quới chém sả một đao từ đầu xuống lưng phân làm hai mảnh.
Vương Quới lập tức nhảy xuống chặt lấy thủ cấp treo sau yên ngựa, đồng thời vứt cây đao của mình, lấy cây đao thật tốt của Vương Thiện rồi nhảy lên lưng ngựa tiếp tục tấn công.
Ngưu Cao thấy thế thèm quá lẩm bẩm:
- “Ta cũng tìm một đứa như vậy giết cho ngon tay”.
Vừa nói, vừa vung song giản đánh sâu vào trận địa.
Nhạc Phi thoáng thấy Ngưu Cao hùng hổ đánh vào, nghĩ thầm:
- “Chẳng lẽ nó bỏ Vương Quới ở nhà một mình lén đến đây đánh giặc sao?”.
Nhạc Phi vừa muốn lên tiếng hỏi, chợt thấy Vương Quới cũng xông đến bên lưng có đeo lủng lẳng một chiếc thủ cấp và đang vung đao rượt theo tướng Đặng Thành.
Đặng Thành vừa chạy vừa đỡ đao của Vương Quới, bị Nhạc Phi đâm một thương té nhào xuống ngựa chết tươi. Điền Kỳ nổi giận múa kích đánh tới, bị Ngưu Cao đánh cho một giản, cây kích rời khỏi tay văng ra xa lắc; thừa thế Ngưu Cao giáng xuống một giản trúng ngay giữa sọ, óc huyết văng tứ tung, ngã nhào xuống ngựa chết không kịp ngáp.
Quân giặc trông thấy chúa tướng và quân sư đều bị giết chết, liệu khó bề chống cự, không ai bảo ai, ùa nhau bỏ chạy tán loạn.
Lúc ấy Tông Phương cũng vừa đem binh đến thấy quân giặc chạy loạn, chàng ra lệnh áp tới chém giết, quân giặc chết không biết bao nhiêu mà kể, một số bị bắt sống, một số đầu hàng.
Tông Trạch liền sai quân đánh trống thu quân, truyền thu dọn đồ binh khí và tịch thu lương thực của địch quân rất nhiều.
Sau khi thắng trận, Tông Trạch cho bọn giặc bị bắt nhốt giữ riêng ra một chỗ, còn quân mình cho hạ trại nghỉ ngơi. Nhạc Phi bèn vào từ biệt ân sư để trở về Thang Âm huyện.
Tông Trạch nói:
- Hôm nay mấy anh em có công lớn với triều đình sao lại bỏ về như vậy? Để ngày mai lão phu vào tâu với thiên tử xem sao.
Nhạc Phi vâng mệnh ở lại dinh trại đợi chờ.
Hôm sau Tông Trạch dẫn hết binh mã cùng mấy anh em về đồn trú tại Ngọ môn, một mình vào trước Kim giai quỳ tâu:
- Hạ thần là Tông Trạch phụng mệnh lãnh binh dẹp giặc nhưng vì binh quá ít nên bị giặc vây khốn không thể thoát nổi, hạ thần tưởng thế nào cũng bỏ thây giữa trận tiền, may thay nhờ anh em Nhạc Phi xông vào đánh phá, cứu hạ thần ra khỏi trùng vây lại giết được tên đầu đảng Vương Thiện và quân sư của hắn là Đặng Thành và Điền Kỳ, hiện thần có mang thủ cấp chúng về đây trình chúa thượng. Quân giặc đầu hàng ta hơn một vạn tên, lại thu được ngựa voi lương thảo chẳng biết là bao nhiêu, xin thánh thượng cho phát tin mừng.
Vua Huy Tông nghe tâu vui mừng khôn xiết, vội cho phép Tông Trạch bình thân và cho vời năm anh em Nhạc Phi vào điện kiến giá.
Năm người quỳ lạy tung hô, vua Huy Tông quay qua hỏi Trương Bang Xương:
- Năm anh em Nhạc Phi có công lớn như vậy thì đánh phong làm chức gì?
Trương Bang Xương tâu:
- Như luận công phá giặc thì đánh phong làm quan lớn, ngặt vì chúng nó có tội nơi võ trường nên công ấy chỉ có thể chuộc tội mà thôi. Hay nếu có thương tình lắm cũng chỉ có thể cho tên Nhạc Phi cái chức Thừa tin lang là cùng, chờ ngày sau có công mới sẽ thăng thưởng thêm.
Vua Huy Tông gật đầu y theo. Nhạc Phi rất buồn tủi, nhưng vẫn tạ ơn rồi lui ra. Vua lại truyền cho quan Bộ Hộ coi việc thu điểm lương thảo, quan Bộ Binh thì điểm lại tù hàng binh, còn bao nhiêu khí giới đều cho nhập kho.
Đâu đó xong xuôi, các quan lui trào. Tông Trạch ra về trong lòng giận như lửa đốt nghĩ thầm:
- “Quan gian tặc nó ganh ghét người tài như vậy thì làm sao thiên hạ được thái bình?”
Nguyên cái chức Thừa tin lang chỉ cầm đầu có bảy tên quân mà thôi thì bảo ai mà không giận? Nhưng ngặt vì thánh thượng đã nghe đứa gian thần truyền chỉ rồi nên không dám tâu nữa, ông Tông Trạch trở về phủ mang một mối hận vô biên.
Ông ta về đến nơi trông thấy anh em Nhạc Phi đang đứng tại viên môn chờ đợi, Tông Trạch vội xuống ngựa dắt vào đại đường mời ngồi và nói:
- Lão phu cũng muốn tiến cử anh em vào triều đình trọng dụng ngờ đâu lại bị bọn gian thần cản trở, lão phu nhắm lúc này chưa phải là lúc lập công danh, vậy anh em hãy tạm lui về chờ cơ hội khác. Lão cũng muốn lưu anh em ở lại đây chơi ít ngày cho thoả lòng ái mộ, song lão cảm thấy hổ thẹn lắm.
Nhạc Phi thưa:
- Ơn nghĩa của ân sư đối với chúng sinh rất cao dày, ngàn đời không quên được, nagn vâng lời ân sư, chúng sinh xin từ biệt trở về quê quán.
Sau khi dặn dò điều hơn lẽ thiệt, Tông Trạch tiễn anh em Nhạc Phi ra khỏi viên môn rồi mới trở vào.
Bọn Nhạc Phi cho ngựa rảo bước trở về Chiêu Phong trấn sắp xếp hành lý, tính tiền cơm rồi đi thẳng về Thang Âm.
Dọc đường anh em Nhạc Phi chuyện vãn. Nhắc lại việc gian thần ngăn trở khó lập công danh, Ngưu Cao nói:
- Tuy công danh chẳng được song đệ giết bọn chúng một trận sướng tay quá, ước gì bắt bọn gian thần giết một trận như vậy nữa thì khoái biết mấy.
Nhạc Phi lườm Ngưu Cao và nạt:
- Ngưu đệ đừng nói bậy.
Vương Quới xen vào:
- Nếu không có đại huynh chắc lúc ở trong triều anh em tôi nắm đầu thằng Trương Bang Xương kéo xuống cho hắn một thoi cho hắn rồi đời, bất quá mạng đổi mạng chứ gì?
Thang Hoài nói:
- Ngươi đừng nói liều lĩnh như vậy, như việc ở ngoài đường thì chẳng nói chi, chứ ở giữa triều đình mà ỷ mạnh hành động như vậy ắt mang tội khi quân có thể tru di tam tộc nữa là khác chứ đâu có dễ dàng như vậy!
Câu chuyện giữa năm người vừa đến đây thì gặp một toán người vừa chạy vừa nói: “Nguy hiểm lắm mau mau trở lại đi đường khác mới xong!”.
Chúng vừa nói vừa chạy bán sống bán chết. Trương Hiển vội nhảy xuống ngựa chạy theo nắm một người đứng lại bảo:
- Ngươi bảo phía trước có chuyện nguy hiểm hãy nói lại cho ta nghe thử nào?
Người ấy đáp:
- Tại chân núi Hồng La phía trước đây có bọn cướp đón đường, chúng ta vừa bị chúng cướp hết hành lý, may mà chạy thoát được mới khỏi chết. Ta thương các người nên bảo cho biết để lánh nạn, sao lại kéo ta lậi làm gì? Hãy thả ta ra mau.
Trương Hiển buông người ấy ra rồi quay lại nói với Nhạc Phi:
- Họ cho biết rằng phía trước đây có bọn cướp.
Ngưu Cao nghe nói cười khanh khách:
- Cha chả là khoái, thế là gặp miếng mồi ngon nữa rồi.
Nhạc Phi quát mắng:
- Ngưu đệ chớ nên tự cao tự đại, phải đề phòng trước mới được. Bây giờ Thang đệ hãy đi trước thám thính xem tình hình thế nào rồi anh em hãy đến sau.
Năm anh em đứng lại sửa lại thương giáp, để chuẩn bị giao chiến. Còn Thang Hoài thì giục ngựa đi trước.
Đến chân núi kia bỗng có một người cưỡi con ngựa hồng sa, tay cầm đại đao xông ra chặn đường Thang Hoài, nạt lớn:
- Tiểu tử, hãy nạp tiền mãi lộ rồi mới được đi qua.
Thang Hoài cười khẩy rồi giơ cây thương lên đáp:
- Ngươi muốn thu tiền mãi lộ thì hãy hỏi người bạn của tay đây mà thu chớ ta không có tiền.
Tên cướp ngạc nhiên hỏi:
- Bạn của ngươi ở đâu?
Thang Hoài cười ha hả rồi chỉ cây Lang Ngân thương trên tay mình bảo:
- Bạn của ta đây này.
Tên cướp cả giận vung đao chém Thang Hoài. Thang Hoài đề thương đón đánh. Thương đâm đao đỡ, kẻ tràn qua người né lại, đánh vùi hơn hai mươi hiệp mà không ai chịu nhường ai, quả là lưỡng hổ tương phùng.
Vài phút sau bốn anh em Nhạc Phi vừa đến, thấy Thang Hoài không thắng nổi đối phương, Trương Hiển múa Câu Liêm thương xốc tới quát lớn:
- Có ta đến đây, hãy mau mau xuống ngựa quy hàng, bằng chống cự chứo trách anh em ta độc ác.
Vừa dứt lời bỗng thấy một người từ trên núi chạy xuống, tay cầm cây Điểm Cang thương xông vào đánh với Trương Hiển.
Vương Quới thấy vậy liền xông vào trợ lực, lại thấy một người mặt vàng như nghệ từ trên núi chạy bổ xuống cầm cây Tam Cổ thái thiên cản Vương Quới lại giao chiến.
Ngưu Cao lòng nóng như lửa đốt vội tung người nhảy vào thì từ trên núi lại phóng xuống một người nữa, người này mặt xanh như chàm tay cầm Lang nha Bổng chặn Ngưu Cao lại. Nhạc Phi thấy vậy nghĩ thầm:
- “Không biết trên núi này có bao nhiêu cường đạo nữa? Bọn cường đạo này xét ra võ thuật cũng khá cao cường, nếu ta không nhảy vào vòng chiến thì e không thắng nổi”.
Nghĩ rồi giục ngựa xông tới, chợt nghe trên núi có tiếng lạc ngựa vang lên. Một người đầu đội ngân khôi, mình mang bạch giáp, cỡi con bạch mã cầm cây ngân kích chạy xuống chỉ vào mặt Nhạc Phi nạt lớn:
- Hãy coi chừng có ta đây.
Vừa nói vừa phóng kích nhắm ngay mặt Nhạc Phi đâm tới. Nhạc Phi đưa thương ra đỡ rồi đánh trả. Đánh được bảy tám hiệp người ấy thình lình thoái lui ra ngoài vòng chiến kêu lớn:
- Hãy khoan, ta có chuyện muốn hỏi ngươi.
Nhạc Phi dừng thương lại hỏi:
- Chuyện gì vậy?
- Ta thấy ngươi hơi quen quen hình như có gặp đâu đấy một lần thì phải, nhưng ta nghĩ mãi chẳng ra, vậy ngươi hãy nói rõ danh tính cho ta biết thử nào.
Nhạc Phi đáp:
- Chúng ta từ Thang Âm huyện đi thi tại võ trường không đậu trở về đây, còn chúng bay là quân ăn cướp có can hệ chi mà nhìn nhận là quen?
Người ấy nhìn Nhạc Phi hồi lâu rồi nói:
- Ta nhớ ra rồi, ngươi có phải là Nhạc Phi đã đâm chết Tiểu Lương Vương tại giáo trường đó không?
Nhạc Phi gật đầu đáp:
- Phải đấy, sao ngươi biết?
Người ấy nghe nói vội nhảy xuống ngựa chắp tay thi lễ và nói:
- Tôi có mắt như mù nên không nhìn ra để đến nỗi phải thất lễ với Nhạc huynh thật đáng tội.
Nhạc Phi cũng ngạc nhiên bảo:
- Chẳng hay vì sao hảo hán lại biết rõ tôi như vậy?
Người ấy nói:
- Tôi sẽ phân tỏ sau, thôi để tôi gọi mấy đứa em tôi dừng tay đã kẻo xảy ra chuyện gì thì ân hận. Nói rồi lớn tiếng gọi “Mấy anh em đừng đánh nhau nữa, hãy lại ta bảo đây!”.

o0o
0
đánh máy: phuonguyen
hồi thứ mười lăm
Kim Ngột Truật đem quân đánh Tống
Lục Đăng lập kế giữ An Châu

Thấy bốn người đang đánh quyết liệt với mình đều dừng tay, anh em của Nhạc Phi cũng tạm ngưng chiến.
- Chúng em sắp thắng đối thủ, tại sao đại huynh lại không cho chúng em ra tay nữa ? Bốn người hỏi.
Người ấy không trả lời mà chỉ Nhạc Phi nói:
- Người này chính là Nhạc Phi đã đâm chết Tiểu Lương Vương tại giáo trường đó.
Bốn người nghe nói vội xuống ngựa thi lễ với Nhạc Phi. Nhạc Phi cũng gọi bốn người em lại làm lễ ra mắt nhau, rồi hỏi:
- Chẳng hay quý vị hảo hán tên họ là chi?
Người cầm kích lễ phép đáp:
- Tôi họ Thi tên Toàn, người cầm dao là Triệu Vân, người cầm thương là Châu Thanh, người cầm xoa là Lương Hưng, người cầm lang bổng là Khiết Thanh, năm anh em tôi đều kết nghĩa với nhau quyết ra đoạt chức Võ trạng, chẳng dè bị đại huynh đâm chết Lương Vương, làm tan rã võ trường, nên bọn tôi tính trở về nhà, ngặt vì trong túi không còn một xu lấy làm hổ thẹn. Chúng tôi lại nghĩ ở nhà cũng không có vợ con chi, chi bằng đi tìm đại huynh để kết nghĩa anh em mà nương dựa.
Khi đi ngang qua núi này chúng tôi lại gặp một lũ ăn cướp đón đường, tôi giết hết mấy tên đầu đảng, bọn lâu la tung hô anh em tôi làm chức Đại Vương. Chỉ vì túng quá, chúng tôi tạm ở đây ít ngày kiếm ít vàng bạc để khi tìm gặp được đại huynh dùng làm lễ tấn kiến. Ngờ đâu gặp đại huynh lại không biết nên xúc phạm, xin đại huynh miễn chấp.
Nhạc Phi mừng rỡ tỏ thái độ hoan hỉ, Thi Toàn vội mời hết mấy anh em lên núi, dọn bàn hương án kết nghĩa anh em rồi thâu góp đồ hành lý theo Nhạc Phi về Thang Âm huyện cùng ở chung luyện tập văn võ hàng ngày. Anh em khăng khít nhau như ruột thịt.
Bây giờ xin nói về phương Bắc, vua nước Đại Kim là Ô Cốt Đạt có năm người con. Thái từ là Hồ Hàn, bốn hoàng tử là Lạc Hàn, Đáp Võ, Ngột Truật và Trạch Lợi, lại có thừa tướng là Hấp Lý Cường, quân sư là Hấp Mê Xi, Nốt Mê Tây; đại nguyên soái là Khô Kịch Hốt, nhị nguyên soái là Giảo Ma Hốt, tam nguyên soái là Kỳ Ôn Xoa Trực Chơn, tứ nguyên soái là Ô Ly Đố, ngũ nguyên soái là Ngoa Ly Ba. Ô Cốt Đạt cai quản cả lục quốc tam xuyên, đất đai quá rộng mà lại còn vọng tưởng Trung Nguyên, quyết thâu đoạt giang sơn nhà Tống.
Một hôm vua Kim đang ngự triều, bỗng có quan trị điện vào báo:
-         Quân sư đã về.
Kim Vương cho triệu vào. Hấp Mê Xi vào triều bái tung hô rồi tâu:
Hạ thần qua Trung Nguyên thăm dò tin tức, được nghe lão Nam Man hoàng đế (chỉ Huy Tông) đã nhường ngôi cho con là Khâm Tông. Vị tiểu hoàng đế này lên ngôi, chỉ ham mê tửu sắc không ngó ngàng đến việc tiều chính cho nên bọn gian thần lộng hành, mưu hại kẻ trung lương. Vì thế hiện nay các ải đều không có tướng tài trấn giữ. Thừa lúc này Thánh thượng tung binh hùng, tướng mạnh qua đó thì chắc chắn chiếm cứ đất Trung Nguyên và lật đổ triều Tống dễ như trở bàn tay.
Ô Cốt Đạt nghe tâu mừng rỡ chọn ngày lành tháng tốt ra chốn giáo trường tuyển lựa một vị Đoạt Tống đại nguyên soái.
Để tuyển chọn một vị nguyên soái có thể thảo phạt cả miền Nam, đoạt cả triều Tống. Kim Vương treo bảng khắp cả trong ngoài kêu gọi kẻ có tài đến giáo trường tỉ võ. Bọn võ sĩ đổ xô đến giáo trường đông không biết bao nhiêu mà kể.
Kim Vương ngự ra giáo trường, ngồi chễm trệ trên đài cao, các quan văn võ triều kiến xong bước ra sắp hàng đứng hai bên trông rất nghiêm chỉnh.
Kim Vương giơ tay chỉ con thiết long để giữa giáo trường phán:
-   Con thiết long này của tiên vương ta để lại, nó nặng hơn ngàn cân, hễ ai cử nổi thì được phong chức Xương Bình Vương Tảo Nam đại nguyên soái.
Lệnh vua vừa ban ra mọi người đổ xô vào lần lượt kẻ trước người sau quyết tranh cho kỳ được chức ấy. Nhưng ai nấy đã ráng hết hơi mà con thiết long vẫn không thấy nhúc nhích , chẳng khác nào thằn lằn xô cột đá.
Kim Vương thấy vậy nói:
-   Xưa Hạng Võ bạt núi, Tử Tư cử đình. Nay nội nước ta chẳng có người nào cử nổi cái vật ngàn cân này sao?
Đang khi thất vọng bỗng thấy một người bước ra xin được cử. Người này mặt như than lửa, tóc tựa mây đen, mày rậm râu dài, miệng rộng mắt lồi, mình cao một trượng, lưng lớn ba vầng. Chẳng phải ai xa lạ mà chính là hoàng tử thứ tư của Kim Vương tên là Ngột Truật (cũng chính là Xích Tù Long ở thượng giới xuống phàm đầu thai vào vương gia Ô Cốt Đạt để nhiễu hại giang sơn nhà Tống)
Ngột Truật tâu lớn:
-   Con có thể cử nổi con thiết long kia.
Kim Vương nghe tâu vùng nạt lớn:
-   Quân đao phủ đâu? Hãy bắt nó đem chém đi cho ta.
Đao phủ tả hữu hai bên lập tức vâng lệnh bắt trói Ngột Truật lại.
Kim Vương đang cần tuyển kẻ tài ba mà con mình đứng ra xin cử nổi con thiết long đã không mừng lại còn truyền đem chém đi là tại làm sao? Ấy chì vì Ngột Truật là con vua Phiên mà hằng ngày cứ mơ tưởng bên Trung Nguyên, thậm chí khi vào trong cung cũng mặc y phục của người Trung Nguyên nên Kim Vương ghét cay ghét đắng, đang tức giận vì không thấy ai cử nổi thiết long lại thấy Ngột Truật ló mặt ra làm cho Kim Vương càng giận thêm nên mới truyền chém đi cho khuất mắt.
Quân sư Hấp Mê Xi thấy thế vội quỳ tâu:
-   Hôm nay là ngày chọn tướng mà hoàng tử Ngột Truật đã xin được cử, sao chúa thượng không để cho hoàng tử trổ tài lại muốn chém đi là sao? Mong chúa thượng hãy nghĩ lại kẻo oan cho hoàng tử lắm.
Kim Vương dịu giọng nói:
-   Quân sư chưa rõ chứ nội trong triều có bao nhiêu võ tướng cùng anh hùng khắp nơi mà không ai cử nổi, huống chi sức lựa của nó bao nhiêu mà dám cả gan đứng ra huênh hoang. Quân láo xược như vậy không chém đi để làm gì?
Hấp Mê Xi lại tâu:
-   Phàm dùng người chớ nên xem tướng, chúa thượng cứ để cho hoàng tử cử thử xem. Như quả cử nổi thì phong làm Tảo Nam đại nguyên soái, sai đi chinh phạt Trung Nguyên. Nếu thu phục được nhà Tống thì phúc lớn của chúa thượng, bằng cử không nổi thì sẽ xử trảm cũng chẳng muộn.
Kim Vương gật đầu phán:
-   Được rồi, trẫm sẽ vì khanh mà tạm tha cho nó nhưng nếu cử không nổi thì phải chém tức khắc để trị tội cuồng vọng ấy.
Phán rồi truyền quân mở trói cho Ngột Truật, sai đi cử thiết long.
Ngột Truật bước ra tạ ơn rồi ngước mặt lên trời vái thầm:
-   “Nếu xét ra tôi không vào được Trung Nguyên và đoạt được giang sơn nhà Tống thì đừng cho tôi cử nổi thiết long và để cho tôi chịu chết chém”.
Vái rồi tay phải vén cao, tay trái nắm cẳng con thiết long giơ lên nói lớn:
-   Phụ vương, con giơ nổi thiết long đây này.
Kim Vương xem thấy cả mừng, các quan văn võ đều vỗ tay reo lên:
-         Đệ tứ hoàng tử quả là thiên thần.
Ngột Truật nâng lên hạ xuống ba bốn lần rồi để con thiết long lại chỗ cũ, bước lên điện đợi lệnh.
Kim Vương liền phong Ngột Truật làm Xương Bình Vương Tảo Nam đại nguyên soái. Sau đó chọn thêm mấy phó nguyên soái để yểm trợ cho Ngột Truật rồi chọn ngày lành tháng tốt phát năm mươi vạn quân, làm lễ tế cờ, rầm rộ kéo xuống Trung Nguyên.
Đoàn quân Ngột Truật kéo đi, cờ xí đỏ rực trời, trống chiêng vang dậy đất. Đi bộ một tháng trời mới đến bờ cõi Trung Nguyên.
Ải thứ nhất của Trung Nguyên là Lộ An Châu, tướng giữ ải này là Lộ An Châu Tiết Đạt Sứ Lục Đăng, tự là Tử Kiến, biệt hiệu là Tiểu Gia Cát, phu nhận là Tạ Thị mới sinh được một con lên ba tuổi, binh sĩ trong thành ước hơn năm ngàn.
Lục Đăng là danh tướng của nhà Tống. Hôm ấy đang ngồi trong công đường bỗng có quân thám tử vào báo:
- Nay Đại Kim Quốc sai hoàng tử thứ tư là Hoàn Nhan Ngột Truật đem năm mươi vạn quân đến xâm phạm Lộ An Châu ta. Chúng còn cách thành chừng trăm dặm.
Lục Đăng nghe báo giật nẩy người lập tức thưởng cho tên thám tử một tấm ngân bài, sai hắn tiếp tục đi thám thính rồi sai quan kỳ bài ra ngoài thành truyền rao cho bá tánh phải lập tức đem hết gia quyến vào thành mà ở, còn nhà cửa thì phá sạch, hứa khi thái bình sẽ xuất tiền cất lại cho.
Lục Đăng tập trung hết các tướng sĩ leo lên bờ thành kiên trì cố thủ. Lại sai mua một ngàn cái chảo lớn và một ngàn cái thùng chứa đầy phân người, đoạn xây lò xung quanh bờ thành để nấu sôi nước phân ấy chờ cho quân địch đến dưới thành thì đổ phân sôi ấy xuống cho quân giặc tuột da mà chết.
Lục Đăng còn sai chặt hơn một nghìn cây tre để làm bẫy phòng khi địch có hãm thành ban đêm sẽ bị mắc bẫy. Ngoài ra Lục Đăng còn đem lưới có buộc vô số mắc câu thả xuống nước để đề phòng quân địch dùng đường thủy xông vào thành.
Sắp đặt đâu đó xong xuôi Lục Đăng thảo một đạo bổn chương, sai người mang về triều đình xin cầu cứu.
Khi người mang bổn chương đi rồi Lục Đăng lại nghĩ thầm:
- “Theo địa thế Lộ An Châu này quả là chỗ yết hầu, nếu viện binh đến trễ để cho thất thủ thì chắc chắn Biện Lương cũng khó giữ nổi”.
Lục Đăng suy tới nghĩ lui ngồi đứng chẳng yên, bèn viết hai bức văn thư sai người mang một bức qua trao cho quan tổng binh là Hàn Thế Trung và một bức trao cho thái thú hà giang phủ là Trương Thúc Dạ để yêu cầu hai người này phát binh đến giúp. Rồi Lục Đăng thống lãnh quân đội ngày đêm canh phòng nghiêm ngặt.
Nói về ngột Truật dẫn binh kéo đến cuồn cuộn như sóng trào. Khi còn cách thành Lộ An Châu chừng năm chục dặm, truyền quân an dinh hạ trại.
Lục Đăng đứng trên thành xem thấy quân Phiên trùng trùng điệp điệp cờ xí ngợp trời, gươm giáo sáng lòa, tướng mạo đứa nào đứa nấy mặt mũi dữ dằn trông dễ khiếp. Thật quả là đoàn quân vô cùng lợi hại.
Các tướng đứng trên thành thấy thế cũng lấy làm lo ngại bèn đề nghị với chủ tướng:
- Quân Phiên vừa mới đến chưa kịp đề phòng, ta thừa dịp đánh phủ đầu một trận may ra phá được.
Lục Đăng lắc đầu bảo:
- Không được đâu giờ phút này quân Phiên đang rất mạnh lại rất hiếu chiến, chúng ta cần phải cố thủ chờ viện binh đến sẽ hay.
Tướng sĩ tuân lệnh lo cố thủ thành trì chờ quân cứu viện.
Ngột Truật an dinh hạ trại xong bèn gọi quân sư hỏi:
- Chẳng hay thành Lộ An Châu này do tướng nào trấn thủ?
Hấp Mê Xi đáp:
- Ải này do quan tiết đạt sứ Lục Đăng trấn giữ. Người này có biệt hiệu là tiểu Gia Cát, có tài dụng binh giỏi lắm.
Ngột Truật lại hỏi:
- Người này trung hay nịnh? Quân sư có biết rõ không?
Hấp Mê Xi đáp:
- Người này là tôi trung bậc nhất của nhà Tống.
Suy nghĩ hồi lâu Ngột Truận hỏi:
- Thế thì hay lắm, để ta kéo quân đến hội diện với y một phen xem sao.
Nói rồi kiểm điểm năm ngàn binh mã và dẫn quân ra trận, thổi kèn gióng trống kéo thẳng đến thành.
Lục Đăng xem thấy quân Phiên kéo đến liền dặn dò tướng sĩ gìn giữ thành trì rồi nai nịt chỉnh tề, mang thương lên ngựa phát pháo khai thành, thả cầu xuống dẫn binh ra trước trận xem xét.
Trông thấy Ngột Truật đầu đội kim khôi sáng ngời, trên đỉnh giắt hai chiếc lông trĩ rã ra hai bên, mình mặc áo bào cẩm tú, mang giáp long lân khảm vàng cưỡi con ngựa “Tiết hỏa long cu”, tay cầm cây kim tước phủ, đường đường chẳng khác khai sơn lực sĩ.
Vừa trông thấy Lục Đăng, Ngột Truật lớn tiếng hỏi:
- Ngươi có phải là Lục Đăng không?
Lục Đăng đáp:
- Phải đấy, ngươi cũng biết ta sao?
Ngột Truật đứng nhìn sững đối phương, thấy Lục Đăng đầu đội đại hồng kiết đảnh xích hồng khôi, mình mang liên hồng tỏa tử hùng kim giáp, bên trái mang cung bên phải mang tên. Quả là anh hùng khí trượng, cái thế vô song bèn nghĩ thầm:
- “Nhân vật Trung Nguyên này quả là một trang tuấn kiệt ít ai bì”.
Nghĩ rồi kêu Lục Đăng ôn tồn nói:
- Lục tướng công, nay ta cử năm mươi vạn quân quyết đánh Trung Nguyên thâu tóm thiên hạ. Lộ An Châu này là chốn tiền đồn của Trung Nguyên. Ta nghe danh tướng công là một tay hảo hán nên phải đến đây để tỏ đôi lời hơn thiệt. Nếu như tướng quân thuận qui hàng thì sẽ được phong vương vị, chẳng biết tướng quân nghĩ sao?
Lục Đăng “hứ” một tiếng rồi gằn giọng:
- Ngươi là kẻ nào mà dám nói với ta lời lẽ láo xược ấy?
Ngột Truật đáp:
- Ta là Đại Kim Quốc Tông Lãnh Điện Tiền, Xương Bình Vương Tảo Nam đại nguyên soái tên là Ngột Truật đây.
Lục Đăng quát lớn:
- Đừng nói bậy, từ xưa đến nay Bắc Nam có ranh giới rõ ràng, ai lo giữ bờ cõi nấy. Chúa ta nhân đức rải khắp xa gần, thấy chúng bay là loài mọi rợ chẳng nỡ ra binh, sao chúng bay không giữ đạo làm tôi lại vô cớ mang binh đến xâm phạm cõi bờ là nghĩa gì vậy?
Ngột Truật cười khẩy đáp:
- Tướng quân nghĩ như vậy là sai rồi. Đất đai, thiên hạ trên thế gian này không phải của riêng một ai cả, hễ ai có đức thì được. Nay hoàng đế nhà Tống vô đạo ghét bỏ người hiền, tin dùng đứa gian nịnh khiến cho trời hờn dân oán. Vì vậy Chúa ta dấy binh để cứu bá tánh trong lúc đảo điên thì quả là làm một điều nhân nghĩa. Tướng quân phải thức thời theo ý trời, thuận lòng dân mới khỏi mất chức lại được phong hầu, bằng chấp né không chịu thì cái thành nhỏ này giữ sao cho được? Nếu ta phá rồi thì vàng đá chẳng phân, lúc ấy ăn năn sao kịp?
Lục Đăng mặt đỏ phừng phừng chỉ vào mặt Ngột Truật nạt lớn:
- Quân mọi rợ kia đừng huênh hoang khoác lác, hãy xem cây thương của ta đây.
Vừa nói vừa vung thương đâm Ngột Truật, Ngột Truật cũng giơ búa ra đỡ , rồi hai người đánh vùi với nhau đến năm sáu hiệp. Lục Đăng ngăn đỡ không nổi, quay ngựa bỏ chạy vào thành gọi quân lính trên thành lấy súng bắn xuống. Ngột Truật không dám rượt theo. Trên thành thả cầu xuống đón Lục Đăng lên thành.
Vào thành Lục Đăng nói với chư tướng:
- Tên Ngột Truật ấy lợi hại thật, các ngươi phải hết lòng gìn giữ, chớ nên thờ ơ mà mang hại.
Ngột Truật vừa thu binh về dinh, Hấp Mê Xi hỏi:
- Lục Đăng thua chạy sao nguyên soái không đuổi theo bắt nó?
Ngột Truật đáp:
- Lục Đăng chạy ắt có mai phục, hơn nữa trên thành súng bắn xuống như mưa thì đuổi theo làm gì?
Quân sư Hấp Mê Xi gật đầu khen là có lý.
Hôm sau Ngột Truật nai nịt chỉnh tề đến bên thành khiêu chiến nhưng trên thành treo miễn chiến bài. Ngột Truật lớn tiếng nhục mạ vua tôi nhà Tống mà cửa thành vẫn đóng kín mít.
Cứ như thế cầm cự suốt nửa tháng trời, Ngột Truật trong lòng nóng như lửa đốt bèn sai Ô Quốc Long, Ô Quốc Hổ đốc thúc quân sĩ đóng nhiều thang rồi giao cho đệ tam nguyên soái là Kỳ Ôn Thiết Mộc Chơn dẫn năm ngàn quân tinh nhuệ đi tiên phong, còn Ngột Truật thì tự lãnh binh đi hậu tập kéo đến bên hào bắc cầu tràn qua, đoạn bắc thang lên vách thành thôi thúc quân sĩ leo lên hãm thành.
Nhưng lạ thay trên thành vẫn lặng im không có một tiếng động. Ngột Truật đoán chắc Lục Đăng đã bỏ thành trốn thoát mất rồi.
Còn đang suy nghĩ bỗng nghe tiếng súng nổ vang, nước phân sôi sùng sục đổ xuống ào ào. Bao nhiêu quân Phiên ngã lăn ra chết sạch, số thang ấy bị kéo hết lên thành.
Ngột Truật thấy thế biến sắc mặt hỏi quân sư Hấp Mê Xi:
- Tại sao quân sĩ ta đang rầm rộ leo lên thành lại ngã nhào xuống chết hết như vậy?
Hấp Mê Xi đáp:
- Lục Đăng nó dùng nước phân nấu sôi đổ xuống. Phương pháp này gọi là lạp chấp thiêm, hễ trúng nhằm một giọt cũng đủ chết.
Ngột Truật nghe nói thất kinh, vội đánh chiêng thu quân trở về dinh trại. Còn Lục Đăng thì sai cắt hết thủ cấp quân Phiên treo xung quanh thành để uy hiếp kẻ địch, đồng thời cho chặt hết thang của địch ra để làm củi đun nước phân.
Ngột Truật về dinh bàn bạc với quân sư:
- Ta hãm thành ban ngày, chúng dùng nước phân đổ, ta tấn công ban đêm xem hắn làm gì nào?
Đêm hôm ấy quân Ngột Truật lại lặng lẽ kéo đi phá thành. Trời tối như mực, đoàn quân bắc cầu vượt qua hào rồi bắc thang leo lên thành như trước. Ngột Truật không thấy trên thành có đèn đuốc chi hết, quân Phiên đẽ leo tuốt vào thành, Ngột Truật mừng lắm bảo quân sư:
- Phen này chắc lấy được Lộ An Châu rồi.
Vừa nói dứt lời, trên thành bỗng có tiếng súng nổ vang, đèn đuốc sáng trưng như ban ngày. Bao nhiêu quân Phiên tràn vào thành đều bị chém đầu quăng xuống thành.
Ngột Truật thấy vậy kinh hãi hỏi quân sư:
- Nó làm cách nào lại giết hết quân ta như vậy?
Hấp Mê Xi ngơ ngác:
- Thiệt tôi cũng không rõ như thế nào cả.
Nguyên trên thành có nhiều tre gài bẫy vụt, lại có đóng lưới cột đầy móc câu thành thử quân Phiên vì trời tối không thấy rõ bị tre gạt hết sa vào lưới nên quân trong thành bắt giết hết.
Ngột Truật nhìn số đầu người lăn lông lốc liền khóc rống lên đau đớn vô cùng, các tướng phải khuyên giải hồi lâu Ngột Truật mới trở về dinh.
Ngồi trong dinh trại, Ngột Truật chống cằm suy nghĩ:
- Chỉ có một cái thành nhỏ này mà đánh phá bốn mươi ngày không được, lại hao binh tổn thương rất nhiều thì biết bao giờ thôn tính được Trung Nguyên?
Ngột Truật buồn rầu khôn xiết, Hấp Mê Xi thấy vậy khuyên Ngột Truật đi săn bắn giải buồn. Ngột Truật nghe lời đem một số quân sĩ vào rừng đuổi hươu nai, bỗng thấy xa xa có một người đang hớt hải chui vào rừng trốn.
Hấp Mê Xi nói với Ngột Truật:
- Trong rừng này có gian tế.
Ngột Truật vội sai quân đi bắt, chỉ mấy phút sau quân đã bắt đến một người. Ngột Truật quát hỏi:
- Ngươi là gian tế ở đâu hãy khai mau, bằng cố tình giấu giếm ta sẽ giết chết.
Người ấy phủ phục xuống van lạy:
- Tôi quả thiệt là một thương nhân hôm qua ra ngoài thành mua hàng hóa, lúc về thấy binh của đại vương đóng tại đây nên sợ hãi đem hàng hóa gửi nơi khác rồi trốn ở ngoại thành. Nay nghe được tin đại vương nghiêm ngặt cấm không cho binh lính động đến của dân một mảy may nên tôi đánh bạo đi lấy hàng hóa về, qua đây sợ hãi trốn tránh mà không kịp nên bị bắt, xin đại vương tha tội.

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-05 20:00:39Hoàng Dung>
đánh máy: phuonguyen
hồi thứ mười sáu
Giả gian tế, quân sư bị xẻo mũi
An Châu thất thủ, Lục Đăng liều thân.
Nghe thương nhân nói một cách chân thành, lại có ý ca tụng quân giáp nghiêm ngặt của quân Kim, Ngột Truật nhìn hắn từ đầu chân rồi dịu giọng:
- Nếu ngươi quả thật là lương dân thì ta tha ngay.
Hấp Mê Xi thấy vậy bước tới nói:
- Chúa công chớ nên tha hắn, tôi đoán chắc hắn là gian tế không sai vì nếu hắn là lương dân thì thấy chúa công phải biến đổi sắc mặt, giọng nói run rẩy, có đâu trả lời xuôi chảy như vậy? Trên thế gian này không có một tên lương dân nào mà lớn gan vậy cả, để tôi đem hắn về dinh tra hỏi mới được.
Ngột Truật nghe theo, truyền quân dẫn tên ấy về dinh trước rồi tiếp tục săn bắn vui chơi.
Chiều về cơm nước xong, Ngột Truật cho đòi tên ấy ra hỏi thì hắn vẫn nói y như trước chẳng sai lệch một tiếng. Ngột Truật nói với quân sư:
- Quả nhiên hắn là người lương thiện, hãy thả hắn đi cho rồi.
Quân sư nói:
- Muốn thả thì phải xét trong mình hắn đã.
Vừa nói Hấp Mê Xi vừa bước tới lục lọi khắp mình nhưng không tìm thấy vật gì lạ cả. Hấp Mê Xi co chân đá vào mông hắn một đá nói:
- Hãy đi đi cho khuất mắt.
Chẳng dè hắn lại đánh rơi ra một vật lạ, xem lại thì vật ấy là một  phong thư. Quân sư reo lên:
- Có thư của gian tế đây rồi!
Ngột Truật hỏi:
- Thư gì vậy?
- Đây chính là lạp hoàn thư dùng để mang các mật thư để cho người ta đừng để ý.
Dứt lời lấy dao rạch chiếc bao lấy ra một mảnh giấy gấp làm tư mở ra xem thì ra thư này của quan tổng binh Hàn Thế Trung gửi cho tiểu Gia Cát Lục Đăng.
Trong thư nói:
- Nay có tiết đạt sứ Tôn Hạo ở Biện Kinh phụng chỉ lãnh binh ra tiếp ứng. Nếu Tôn Hạo có ra trận thì xin đừng giúp y vì y chính là kẻ tâm phúc của Trương Bang Xương nên hãy coi chừng y phản phúc. Nếu y có chết vì tay giặc cũng không đáng tiếc. Nay tôi sai Triệu Đắc Thắng mang thư này đến cho ngài biết rõ!
Ngột Truật xem thư xong nói với quân sư:
- Bức thư này cũng chẳng có điều chi quan trọng.
Quân sư nghiêm sắc mặt nói:
- Chúa công chưa rõ chứ bức thư này lọt vào tay chúng ta thì quan trọng lắm đấy chứ. Vì hễ Tôn Hạo đem quân đến đây đánh với chúa công mà Lục Đăng dẫn binh ra trợ chiến thì ta thừa dịp ấy phát binh đoạt thành. Còn bức thư này lọt vào tay Lục Đăng hắn sẽ kiên trì cố thủ thành trì, biết đời nào ta đoạt thành cho được?
Ngột Truật gật đầu cho là phải rồi hỏi Hấp Mê Xi:
- Thế bây giờ chúng ta liệu sao đây?
Quân sư nói:
- Để tôi xem, ta hãy theo thư này giả khắc ấn cho giống rồi nhái theo kiểu chữ này viết ra một bức thư khác bảo Lục Đăng hãy ra trợ chiến. Chúng ta chờ cho Lục Đăng ra khỏi thành thì vây chặt lại rồi truyền chư tướng thúc quân công hãm thành trì thì chắc chắn là nắm phần thắng lợi trong tay.
Ngột Truật mừng rỡ nói:
- Vậy thì quân sư hãy tính việc ấy gấp đi, còn tên gian tế này hãy giết quách đi cho rồi.
Quân sư đáp:
- Chẳng nên giết nó, chúa công hãy giao nó cho tôi, tôi sẽ có chuyện dùng.
Hấp Mê Xi làm một phong thư lạp hoàn giả xong rồi đến ra mắt Ngột Truật. Ngột Truật gọi chư tướng hỏi:
- Có ai dám đem thư này đến gặp Lục Đăng?
Hỏi mấy lần vẫn không thấy ai lên tiếng, quân sư Hấp Mê Xi nói:
- Giả dạng làm kẻ gian tế phải biết tùy cơ ứng biến và đầy đủ mưu chước mới được, hình như việc này tôi cần phải đi mới xong, nếu như có bề nào thì chúa công hãy chăm lo săn sóc đến vợ con tôi.
Ngột Truật đáp:
- Quân sư cứ an tâm ra đi, miễn là được việc thì công lao chẳng nhỏ.
Hấp Mê Xi bèn thay đổi y phục giả làm Triệu Đắc Thắng, giấu chiếc bao lạp hoàn trong mình rồi từ biệt Ngột Truật đi thẳng đến bên hào thành kêu lớn:
- Hãy thả cầu xuống cho tôi lên thành có việc cơ mật.
Lục Đăng đứng trên thành thấy thế truyền quân thả cầu xuống. Khi qua khỏi hào, Hấp Mê Xi lại gọi mở cửa thành nhưng cửa thành không mở. Trên thành lại thòng xuống một cái giỏ, quân sĩ gọi vọng xuống bảo y ngồi trong giỏ để chúng kéo lên.
Hấp Mê Xi không biết làm sao đành phải vào trong giỏ ngồi. Chiếc giỏ từ từ được kéo lên nhưng khi gần đến biên thành thì dừng lại treo lơ lửng ở đó.
Lục Đăng cúi xuống hỏi:
- Ngươi tên họ là chi, vâng lệnh ai đến đây? Có thư chi không?
Tuy Hấp Mê Xi nói tiếng Trung Quốc rất thạo và đã làm gian tế vào Trung Nguyên rất nhiều lần song chưa lần nào gặp hoàn cảnh kỳ dị như hôm nay.
Hấp Mê Xi gượng đáp:
- Tôi là Triệu Đắc Thắng vâng lệnh Lưỡng Lang quan tổng binh đến đây đem thư cho lão gia.
Lục Đăng nghe nói nghĩ thầm:
- “Ta cũng có nghe Hàn nguyên soái dùng một tên Triệu Đắc Thắng song ta chưa hề biết mặt, không biết tên này thật hay giả để ta hỏi hắn thử cho biết”.
Nghĩ vậy Lục Đăng cất tiếng hỏi:
- Ngươi bảo là ngươi ở với Hàn nguyên soái, vậy ngươi có biết Hàn nguyên soái lập công trạng gì ở đâu mà được phong đến chức ấy không?
Hấp Mê Xi đáp:
- Nguyên soái của tôi với Trương Thúc Dạ đã chiêu an được bọn hảo hán nơi trại Thủy Hử nên mới được phong chức lãnh nhiệm vụ trấn thủ tại Lưỡng Lang quan.
Lục Đăng lại hỏi:
- Còn phu nhân của Hàn nguyên soái họ chi?
- Bà phu nhân ấy chẳng ai bì kịp, nghĩa là đang chấp chưởng cái ấn ngũ quân đô đốc, ai lại không biết người là Lương Thị phu nhân?
- Người xuất thân thế nào?
- Dạ điều ấy tôi không dám nói.
- Người có con cái chi không? Tên gì, mấy tuổi?
- Người có hai vị công tử, đại công tử tên là Hàn Thượng Đức năm nay mười lăm tuổi còn nhị công tử là Hàn Ngạn Trực.
Lục Đăng vui vẻ:
- Thế thì đúng rồi, hãy đưa thư cho ta xem nào.
Hấp Mê Xi đáp:
- Xin kéo tôi lên tới thành rồi tôi sẽ trao thư.
Lục Đăng nói:
- Để ta xem thư xong rồi sẽ cho ngươi lên cũng chẳng muộn.
Hấp Mê Xi chẳng biết tính sao đành phải dâng thư lên.
Sở dĩ Hấp Mê Xi biết hết việc nhà của Hàn Thế Trung là vì y bắt được Triệu Đắc Thắng đem về nhà hỏi cặn kẽ suốt một đêm nên việc gì cũng biết rõ và lĩnh mệnh đi làm gian tế.
Khi Lục Đăng bóc lạp hoàn thư ra xem rồi thầm nghĩ:
- “Lạ thật Tôn Hạo là phe đảng của gian thần sao lại bảo ta giúp hắn? Nếu ta ra thành tiếp chiến, Ngột Truật thừa cơ cướp phá thành trì thì chống sao lại?”.
Còn đang nghi hoặc, Lục Đăng bỗng ngửi thấy mùi thịt dê phảng phất liền hỏi gia tướng:
- Hôm nay chúng bay có ăn thịt dê phải không?
Gia tướng bẩm:
- Chúng tôi chẳng hề ăn thịt dê bao giờ.
Lục Đăng lấy làm lạ nhưng rồi cuối cùng đưa lá thư lên mũi ngửi, ông ta gật đầu cười lẩm bẩm:
- “Nếu chẳng có cái mùi dê thoảng qua đây thì đã bị chúng nó lừa rồi!”.
Lục Đăng lại cúi xuống nói với Hấp Mê Xi:
- Loài Phiên nô dám cả gan lập kế lừa gạt ta. Bây giờ mi làm cách nào thoát khỏi tay ta được? Hãy nói tất cả sự thật ra cho mau. Như mi có địa vị gì bên Phiên thì ta thả về còn như mi là một tên vô danh tiểu tốt thì ta giết quách cho rồi.
Hấp Mê Xi kinh hãi mồ hôi toát ra ướt mình, thầm nghĩ:
- Người này cao kiến thật, hèn chi tiếng đồn chẳng sai.
Rồi Hấp Mê Xi gượng cười đáp:
- Đã biết trên rừng có cọp nhưng vẫn phải làm liều, xét ra không còn cách nào hơn nữa vì ngươi cứ ở trong thành cố thủ hoài thì khó mà đánh phá được, buộc lòng phải làm mưu ấy thôi. Ta đây chẳng ai khác hơn là đại kim quốc quân sư Hấp Mê Xi.
Lục Đăng nói:
- Ta cũng thường nghe bên Kim Phiên có một tên hay giả dạng qua Trung Nguyên do thám những bí mật quốc gia đại sự, khi biết rõ nội tình mới sinh việc can qua này, mãi đến nay mới tận mắt thấy ngươi. Nếu ta giết ngươi theo tội kẻ gian tế thì người ta sẽ chê ta nhát gan không dám để cho ngươi sống trù mưu lập kế thu đoạt Trung Nguyên. Còn nếu thả ngươi về ngươi sẽ cho ta là dại, ngươi sẽ qua do thám nữa thì làm sao truy ra được. Thôi để ta làm dấu cho người trong nước ta dễ phân biệt.
Đoạn truyền lệnh cho quân sĩ cắt chiếc mũi Hấp Mê Xi rồi thòng xuống thả về.
Hấp Mê Xi đau đớn vô cùng nhưng chẳng dám tỏ vẻ sợ sệt. Đợi cho giỏ thòng xuống tới đất mới hối hả bước ra, lấy tay che mũi chạy thẳng về dinh Phiên.
Ngột Truật trông thấy Hấp Mê Xi hớt hải chạy vào, mình mẩy đầy những máu kinh hãi hỏi:
- Sao quân sư lại đến nỗi này?
Hấp Mê Xi kể lại câu chuyện đem thư giả bị bại lộ và giơ cái mặt bị cắt mất mũi cho Ngột Truật xem. Ngột Truật vừa căm giận Lục Đăng vừa thương hại quân sư vội kiếm lời an ủi:
- Xin quân sư hãy về dinh dưỡng bệnh chờ khi nào vết thương kia lành hẳn tôi sẽ bắt Lục Đăng đem về cho quân sư trả thù cho hả dạ.
Hấp Mê Xi lạy tạ ơn rồi lui về dinh lo băng bó thuốc men đến hai tuần mới lành nhưng đã trở thành một người sứt mũi suốt đời.
Quân sư bèn đến dinh Ngột Truật hiến kế:
- Đánh theo đường bộ đã mấy phen bị thất bại, nay ta phải dùng đường thủy tấn công địch mới được.
Ngột Truật cho là phải, nội trong đêm ấy kiểm điểm binh mã chọn một ngàn người biết bơi lội giỏi cho sung vào tiền đội kéo thẳng xuống thành nhảy xuống nước để phá thủy quan.
Ngờ đâu dưới nước đã có giăng lưới cột đầy móc câu, lại đeo đầy lục lạc nên khi quân Ngột Truật nhảy xuống nước bị sa lưới, lục lạc reo vang quân trên thành cứ việc kéo lên chém đầu từng đứa bêu trên thành làm lệnh.
Ngột Truật xem thấy cả kinh, tặc lưỡi lắc đầu giậm chân rồi thu quân về trại nói với quân sư:
- Tên Lục Đăng này có lắm mưu thần chước quỷ, chúng ta khó bề thắng nổi. Ta quyết chuyến này đích thân đi phá cho bằng được thuỷ quan mới nghe. Chư tướng ở ngoài chờ sẵn, khi nào ta phá được thuỷ quan sẽ mở cửa thành cho tràn vào, bằng ta có thác chư tướng hãy lui về nước cho xong.
Ai nấy đều khuyên chủ soái không nên mạo hiểm nhưng Ngột Truật vẫn không nghe, cứ việc chọn sẵn một ngàn quân tinh nhuệ chờ canh ba kéo đến thủy quan cho binh đứng chực trên bờ , một mình Ngột Truật lặn xuống đáy sông, lần đến thủy quan chui vào. Bị lưới cản lại, lục lạc kêu vang, quân lính trong thành vừa thò móc xuống giật lên thì Ngột Truật đã lấy dao nhỏ bén cắt đứt hết lưới ở dưới đáy rồi trồi lên mặt nước, nhảy phóc lên bờ.
Quân canh bất ngờ bị Ngột Truật vung búa chém sạch không kịp kêu lên tiếng nào.
Ngột Truật thừa thế chạy riết đến cửa thành chém quân canh cửa rồi mở toang cửa ra và hạ cầu xuống cho quân bên ngoài ùa vào.
Lúc ấy Lục Đăng đang ở trong dinh ngồi bấm óc tìm mưu kế bỗng thấy bọn tùy tướng sợ hãi chạy vào báo:
- Quân Phiên hãm được thành đã kéo vào vô số, xin lão gia liệu định.
Lục Đăng nghe vậy vội vào hậu đường gọi phu nhân nói:
- Thành này đã thất thủ tôi còn sống làm chi nữa? Phải hy sinh cho trọn nghĩa quân vương.
Lục phu nhân đáp một cách tỉnh táo:
- Nếu tướng công quyết tận trung vì nước, thiếp đây cũng quyết tận tiết cùng chồng vậy.
Dứt lời bà quay lại nói với người vú:
- Hôm nay ta với lão gia tử tiết, dòng họ Lục chỉ còn một giọt máu này thôi, xin người vì tình ráng nuôi dưỡng cho cháu thành người để mai sau có người thờ phụng tổ tiên thì ngươi là đại ân nhân của dòng họ Lục, hai ta ở chốn tuyền đài vẫn đội ơn ngươi đấy.
Bà dặn dò đôi ba phen rồi vào trong phòng thắt cổ chết.
Lục Đăng thấy vợ chết trước mình liền than thở:
- “Thôi đã đến bước đường cùng rồi, ta nên tự xử là hơn”.
Rồi bước ra đại đường rút dao đâm xuyên qua cuống họng. Chết rồi mà thây vẫn trơ như tượng đồng nên có thơ điếu Lục Đăng như sau:
Thành vỡ, anh hùng đã hết mong
Âu đành tử tiết, thế là xong
Gương trung muôn thuở không phai nhạt
Tiết nghĩa nêu danh khách má hồng.
Tướng sĩ thấy Lục Tiết Đạt sứ và phu nhân đã vì nước quyên sinh nên không chống cự, chỉ lo chạy trốn hết. Bà vú còn đang lo gom góp vàng bạc cùng đồ tế nhuyễn đã nghe lạc ngựa đến gần, túng thế phải bế Lục công tử chạy trốn sau cánh cửa.
Ngột Truật vừa xông đến vội xuống ngựa cắp búa bước vào chợt trông thấy một người cầm gươm đứng sững giữa đại đường liền quất lớn:
- Ngươi là ai, hãy xem cây búa của ta đây.
Vừa hét vừa chém tới nhưng chẳng thấy người ấy động đậy và nói năng gì hết. Ngột Truật lấy làm lạ dừng tay bước đến nhìn kỹ xem, thì ra người ấy là Lục Đăng nhưng đã tự vẫn chết rồi.
Ngột Truật nghĩ thầm:
- “Lạ thật, lý nào người đã chết sao chưa chịu ngã?”.
Ngột Truật tiến sâu vào hậu đường nhưng vẫn im phăng phắc không một tiếng động, chỉ có một cái thây đàn bà nằm chết dưới đất, lục soát khắp nơi chẳng thấy một ai bèn trở ra đại đường thì thấy Lục Đăng hãy còn đứng trơ trơ.
Ngột Truật lại nghĩ thầm:
- “Hay là Lục Đăng đã chết rồi mà còn sợ ta vào thành nhiễu hại đến bá tính nên chưa an tâm chết chăng?”.
Còn đang ngạc nhiên, bỗng Hấp Mê Xi đến vui vẻ nói:
- Tôi nghe chúa công ở đây nên đến trợ giúp.
Ngột Truật nói:
- Có quân sư đến thì hay lắm, vậy thì quân sư hãy ra truyền lệnh cho quân sĩ hãy tìm chỗ trống mà an dinh hạ trại, chớ có động chạm đến của dân. Ai vi lệnh thì chém đầu lập tức.
Hấp Mê Xi lĩnh mệnh ra truyền lệnh cho quân sĩ. Ngột Truật đến trước thây xác Lục Đăng nói:
- Lục tiên sinh ơi! Tôi chẳng hề hại đến bá tính của ngài xin ngài hãy nằm xuống cho yên thân.
Dứt lời Ngột Truật vẫn thấy xác Lục Đăng đứng trơ trơ không nhúc nhích lại tiếp:
- Có phải người đàn bà chết nơi hậu đường là phu nhân của ngài đã vì chồng mà tận tiết chăng? Nếu quả vậy thì tôi xin đem thây hai vợ chồng chôn chung một chỗ và chôn ngoài đại lộ để thiên hạ qua lại biết danh hai vợ chồng tiên sinh là trung thần và tiết phụ, như vậy ngài có bằng lòng không?
Nhưng vẫn không thấy Lục Đăng ngã, Ngột Truật lại nói:
- Tôi nghe xưa Sở bá vương Hạng Võ tự vẫn cũng đứng sừng sững như vậy, đến khi Hán vương Lưu Bang vái lạy mới chịu ngã. Nay Lục tiên sinh là kẻ trung thần, tôi có lạy ngài vài lạy cũng chẳng hại chi.
Nói rồi liền sụp lạy nhưng cũng vẫn không thấy xác của Lục Đăng ngã xuống. Ngột Truật lấy làm lạ không biết tính sao bỗng thấy quân sĩ bắt được một người đàn bà trong tay có bồng đứa con nít  dắt đến bẩm:
- Người đàn bà này đang bồng đứa con nít cho bú sau cánh cửa, chúng tôi bắt được xin trình chúa công.
Ngột Truật bèn hỏi người đàn bà ấy:
- Ngươi là ai lại bồng đứa bé nấp sau cửa cho bú?
Mụ vú sa nước mắt đáp:
- Đứa bé này là công tử của Lục lão gia, còn tôi đây là người vú nuôi công tử. Cảm thương cho lão gia và phu nhân đã vì nước quyên sinh, chỉ còn một chút huyết mạch đây thôi, xin lão gia dung thứ.
Ngột Truật nghe nói cảm động sa nước mắt liền quay lại nhìn Lục Đăng và nói:
- Lục tiên sinh ơi, tôi không khi nào tuyệt hậu tự của ngài đâu và nguyện nhận con của ngài làm con, đưa về bổn quốc để cho vú này nuôi dưỡng cho khôn lớn nên người, rồi cũng để theo họ ngài thừa tiếp hương hỏa ngày sau, chẳng biết ngài có vui lòng không?
Nói vừa dứt lời thì thấy xác Lục Đăng ngã xuống đất, Ngột Truật cả mừng bèn bồng Lục công tử vào lòng.
Lúc ấy Hấp Mê Xi bước vào thấy thế vội hỏi:
- Chúa công bồng con ai vậy?
Ngột Truật bèn thuật lại mọi việc cho quân sư nghe, Hấp Mê Xi nói:
- Nếu quả đứa bé này là con của Lục Đăng thì xin chúa công hãy cho tôi, để tôi giết nó mà báo thù về việc bị bố nó xẻo mũi.
Ngột Truật nghiêm sắc mặt hét:
- Đừng làm như vậy, đứa bé này có tội tình gì? Vả lại làm tôi thì ai vì chúa nấy, phỏng như quân sư có bắt được kẻ gian tế có bao giờ tha cho hắn không? Tuy Lục Đăng là kẻ địch nhưng ta kính người là một đấng trung thần, chớ nên làm càn. Phải cắt năm trăm quân hộ tống công tử với nhũ mẫu đem về bổn quốc mà nuôi dưỡng, đồng thời phải khâm liệm Lục tiên sinh và phu nhân đem đến chỗ cao ráo chôn cất tử tế.
Sau đó Ngột Truật để Hấp Lợi Tô trấn thủ Lộ An Châu, còn bao nhiêu thì kéo qua đánh Lưỡng Lang quan.
Lưỡng Lang quan có tổng binh Hàn Thế Trung trấn giữ. Hôm ấy người đang thao luyện quân sĩ, bỗng có quân thám tử vào phi báo:
- Lộ An Châu đã bị thất thủ, vợ chồng Lục lão gia đều tử tiết, nay Ngột Truật lại dẫn quân đến đây còn cách thành chừng trăm dặm xin nguyên soái định liệu.
Nghe tin phi báo Hàn Thế Trung lập tức truyền lệnh cho các tướng sĩ ra nơi tam khẩu là nơi yếu địa để ngăn chặn rồi cho phục binh ở đó và đặt súng ống rất nhiều, một mặt làm biểu văn sai người về Biện Kinh cấp báo.
Hàn Nguyên soái còn đang lo liệu toan tính bỗng có quân vào phi báo:
- Nay có tiết đạt sứ là Tôn Hạo đem năm vạn quân đi vòng qua thành lướt tới dinh Phiên rồi.
Hàn Thế Trung lấy làm lạ nghĩ thầm:
- Lạ thật tên gian tặc ấy mãi đến bây giờ nó mới tới sao? Nhưng sao nó lại không đến hợp với ta lại đến thẳng dinh Phiên? Phải chăng binh của Ngột Truật hơn năm mươi vạn còn binh của nó tài cán gì mà dám đương đầu như vậy?
Hàn Thế Trung lại nghĩ:
- Nếu không phát binh tiếp ứng thì đạo binh của Tôn Hạo sẽ bị tiêu diệt hết, bằng ra tiếp ứng thì ải chẳng ai giữ.
Còn đang do dự có kẻ chạy vào báo:
- Có phu nhân đến hội kiến.
Nguyên soái bèn ra mắt phu nhân, vợ chồng ngồi đối diện, nguyên soái lên tiếng hỏi:
- Phu nhân có mưu chước chi hay không?
Phu nhân nói:
- Thiếp nghe Tôn Hạo dẫn quân đến dinh Phiên, thiết tưởng hắn tài cán bao nhiêu mà dám chống chọi với năm mươi vạn quân của Ngột Truật, nhưng nếu tướng công chẳng phát binh tiếp ứng thì ắt gian thần sẽ dâng bổn về triều báo buộc tướng công rằng ngồi yên chẳng tiếp cứu. Vì theo ngu ý của thiếp thì tướng công phải phát binh đi tiếp cứu mới được.
Hàn nguyên soái nói:
- Lời phu nhân nói rất phải.
Rồi quay qua hỏi chư tướng:
- Có ai dám lãnh binh đi cứu ứng Tôn Hạo không?
Bỗng có một tiểu tướng bước ra bẩm:
- Con xin lãnh mạng.
Nguyên soái xem lại thì tiểu tướng ấy không ai khác hơn là đại công tử Hàn Thượng Đức.
Nguyên soái nói:
- Thế thì hay lắm, con hãy đem một ngàn quân tinh nhuệ đi cứu Tôn Hạo.
Công tử điểm binh mã ra đi, bỗng nghe phu nhân kêu lại bảo nhỏ:
- Phàm đạo làm tướng thì cần phải nghe cho đủ tám hướng và thấy cho đủ bốn phương. Gặp lúc nên đánh thì chớ có chần chừ, gặp lúc không nên đánh thì chớ có cưỡng. Con không thấy mặt Tôn Hạo thì không nên xông vào chỗ nguy hiểm nghe chưa?
Công tử lĩnh mệnh dẫn quân ra khỏi thành đến gần dinh Phiên chàng quay đầu ngó qua thấy một vùng đất khá rộng đều là quân Phiên đồn trú.
Thượng Đức nghĩ thầm:
- Quân Phiên đông như vậy nếu ta đánh tới thì một ngàn binh này chết hết, bằng chẳng đánh tới thì không biết Tôn Hạo ở đâu, bây giờ biết liệu sao đây?
Nghĩ vậy, vội quay qua dặn quân sĩ:
- Chúng bay hãy đóng tại đây để một mình ta xông vào dinh Phiên tìm Tôn Hạo. Như tìm được thì hiệp nhau đánh phá, bằng không gặp Tôn Hạo ta có chết tại dinh Phiên, chúng bay hãy chạy về báo cho lão gia hay.
Quân sĩ vâng lệnh đóng binh tại đó rồi một mình Thượng Đức vỗ ngựa vung đao xông đến dinh Phiên hét lớn:
- Có lưỡng lang quan Hàn Thượng Đức đến phá dinh bay đây.
Vừa hét vừa múa đao xông tới chém quân Phiên rụng đầu như sung những tưởng đâu vào tìm cho được Tôn Hạo có ngờ đâu cả đạo quân của y đã chết hết rồi.
Quân Phiên chạy vào báo với Ngột Truật:
- Nay có một tên tiểu nam man xưng là Hàn Thượng Đức xông vào đánh phá dinh ta vô cùng lợi hại, xin chúa công định liệu.
Ngột Truật quay hỏi quân sư:
- Hàn Thượng Đức là người thế nào?
Hấp Mê Xi đáp:
- Tên ấy là con trai lớn của Hàn Thế Trung, tôi đã nói với chúa công trước rồi đó. Vì cha mẹ nó võ nghệ cao cường nên mới sinh con dũng mãnh như vậy.
Ngột Truật mỉm cười:
- Dẫu sao nó cũng chỉ có một mình xông vào dinh trại ta, há lại có thề chống nổi năm mươi vạn quân của ta sao? Thôi để ta đi bắt sống dụ nó đầu hàng.
Nói rồi truyền lệnh các tướng sĩ cần phải bắt sống Hàn Thượng Đức cho kỳ được nhưng chớ gây thương tích. Quân Phiên ào ra một lượt bao vây Thượng Đức nhưng Thượng Đức không chút sợ hãi, chàng tả xông hữu đột tung hoành trong đám quân Phiên giết chúng vô số nhưng lớp này ngã lớp kia ùa vào, công tử không tài nào thoát ra nổi.
Binh tướng của Hàn Thượng Đức đóng ngoài xa trông ngóng hơn nửa ngày vẫn không thấy tin tức công tử đâu cả, chúng đoán chắc công tử đã chết trong dinh Phiên rồi, bèn đem nhau trở về thành báo với nguyên soái Hàn Thế Trung:
- Công tử bảo chúng tôi đóng binh ở ngoài rồi một người một ngựa xông pha trong dinh Phiên đã hơn nửa ngày mà không thấy ra, chúng tôi đoán chắc tính mạng người khó bảo toàn.
Nguyên soái nghe báo vội vào chốn hậu đường nói lại cho phu nhân hay.
Bà phu nhân nghe xong liền khóc rống lên nói:
- Đành rằng đã làm tướng thì phải liều mình vì nước, ngặt vì con tôi tuổi còn trẻ chưa từng thụ hưởng tước lộc của triều đình mà lại bỏ mình chốn sa trường, thật tội nghiệp.
Nguyên soái nói:
- Thôi phu nhân chớ nên bi thương làm gì, tôi quyết đem quân ra đó để nghe tin tức quân Phiên và báo thù cho con.
Nói rồi kiểm điểm binh mã kéo ra thành nhắm dinh Phiên thẳng tới.
Đi được nửa đường binh sĩ đều dừng ngựa, nguyên soái lấy làm lạ hỏi:
- Tại sao đến đây chúng bay lại không đi nữa?
Quân sĩ bẩm:
- Lần trước cũng đến tại đây, công tử truyền lệnh rằng trong dinh Phiên binh mã đông lắm, dù cho chúng ta có đôi ba nghìn quân đi nữa đến đó cũng chỉ nạp mạng mà thôi, nên để chúng tôi đồn trú tại đây chờ đợi.
Nghe vậy nguyên soái rơi nước mắt nói:
- Trước đây đã có lệnh của con ta như vậy thì đến lượt ta, các người cũng đóng binh tại đây mà đợi ta.
Dứt lời nguyên soái một mình một ngựa xông vào dinh Phiên hét lớn:
- Có Đại Tống Hàn nguyên soái đến đây!
Vừa hô hét vang rền vừa vung dao xông vào dinh Phiên chém giết mở đường qua khỏi mấy lớp dinh của giặc, không ai ngăn cản nổi.
Ngột Truật nghe quân phi báo khen nức nở:
- Hàn Thế Trung quả thật là anh hùng.
Rồi quay lại bàn việc cơ mật với quân sư, đoạn truyền quân sĩ hãy bao vây Hàn Thế Trung cho chặt, cố bắt sống không được giết.
Ngột Truật điểmmấy mươi vạn binh mã đi vòng sang phía hữu quyết chiếm lấy Lưỡng Lang quan.
Quan tổng binh Hàn Thế Trung tuy võ nghệ tinh thông song quân Phiên đông như kiến khó bề thoát khỏi vòng vây, vì thế đành chịu mắc kẹt trong đám quân giặc.
Một ngàn quân của Hàn Thế Trung đang đóng giữa đường bỗng thấy Ngột Truật rầm rộ kéo quân tới, hoảng hốt chạy về thành phi báo:
- Nguy tai! Nguy tai! Nguyên soái cũng đã bỏ mạng bên dinh Phiên rồi.
Phu nhân đang đứng trên ải nghe quân về phi báo tin dữ, lòng đau như cắt nhưng không dám khóc than vì sợ rối lòng quân khó bề phòng thủ.
Phu nhân tỏ ra bình tĩnh, không một chút nao núng truyền lệnh:
- Chúng bay phải cố sức canh giữ ải quan cho nghiêm ngặt, nếu ai trái lệnh ta chém đầu lập tức.
Quân sĩ dạ ran rồi bà cho gọi hai vợ chồng người vú giữ nhị công tử vào phòng dặn nhỏ:
- Việc đã khẩn cấp không biết rồi đây ta sống chết ra sao chưa có thể đoán trước được. Hai ngươi hãy thu góp hết vàng bạc cùng đồ tế nhuyễn , bồng con ta lên ngựa chạy ra khỏi ải, lựa chỗ rừng rậm ẩn nấp để nghe ngóng tin tức. Nếu như ta thắng được giặc thì hai ngươi sẽ trở về thành, bằng ta có thất thủ bỏ thây giữa trận tiền thì hai ngươi phải bồng con ta đi cho thật xa, dùng tiền của đó buôn bán làm ăn, nuôi con ta ăn học nên người. Khi khôn lớn hãy đưa về triều để nối chức của lão gia. Hai ngươi cũng được chung hưởng phú quý với nó.
Nói đến đây phu nhân thò vào túi lấy cái ấn trao cho vợ chồng người vú nói:
- Ngươi hãy giữ kỹ hai cái tướng ấn đây, phòng ngày sau dâng cho Thiên triều để làm tín vật. Ta phó thác chút huyết thống ấy cho hai ngươi, xin hai ngươi vì tình mà tận tâm với ta chớ nên sơ suất, linh hồn ta dưới suối vàng sẽ theo phù hộ hai ngươi.
Hai người động lòng rơi lụy, lo thu nhặt vàng bạc rồi bồng công tử lên ngựa chạy thẳng ra khỏi thành.
Chỉ mấy khắc sau quân lại vào phi báo:
- Quân Phiên đã đến bên thành rồi.
- Tướng Phiên đang đứng trước thành khiêu chiến.
Quân vào cáo cấp dồn dập, Lương phu nhân vội nai nịt gọn gàng rồi cầm thương lên ngựa ra quan ải.
Khi bà đến nơi, các tướng tá nghênh tiếp lên ải và thưa:
- Thưa Ngũ quân đề đốc, quân Phiên tràn đến thế mạnh như nước vỡ bờ, xin phu nhân chớ nên xuất trận, hãy kiên trì phòng thủ thành chờ binh tiếp cứu đến rồi sẽ hay. Nhưng Lương phu nhân lúc ấy tưởng chồng mình đã bỏ mạng trong dinh trại địch nên quyết sống chết với chúng một phen, làm sao có thể ngồi chờ quân tiếp viện cho đành?!
o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-05 20:03:18Hoàng Dung>
đánh máy:phuonguyen
hồi thứ mười bảy
Nữ anh hùng trấn giũ Lưỡng Lang quan
Thúc Dạ trá hàng, dâng Hà Giang Phủ

Ngũ quân Đề Đốc nghe chư tướng nói như vậy đáp:
- Chư tướng đề nghị như vậy cũng phải, song chồng con ta đã chết về tay Phiên nô, thù ấy không đội trời chung, ta đã có cách phá tan bọn Phiên quân tàn bạo.
Mọi người im lặng, phu nhân lại truyền lệnh:
- Chư vị hãy tuân lệnh ta thi hành cho nghiêm cách mới được. Nơi Tam Sơn khẩu đã có bố trí sẵn súng thần công. Bây giờ phải đem hết thiết hỏa xa ra đó để làm chướng ngại vật cản đường tiến của quân địch. Khi chặn được địch rồi thì phải nhả đạn trước sau cho đều chớ để một tên nào tẩu thoát, nhớ chưa?
Chư tướng đồng thanh tuân lệnh đi bày trí đâu đó xong xuôi thì phu nhân cũng kiểm điểm binh mã, đội ngũ chỉnh tề kéo binh ra ngoài thành lập trận thế.
Ngột Truật xem thấy phu nhân oanh oanh liệt liệt, chép miệng khen thầm:
- “Hèn chi thiên hạ đồn chẳng sai, rõ ràng là trang nữ trung hào kiệt”.
Lương phu nhân thấy Ngột Truật nhìn sững liền quát lớn:
- Tên mọi kia, ra trận sao không xưng tên còn đứng đó sao?
Ngột Truật đáp:
- Đại Kim Quốc, tứ điện hạ Xương Bình Vương Tảo Nam đại nguyên soái, Hoàn Nhan Ngột Truật chính là ta, còn ngươi là ai hãy xưng tên ra trước đây cho thiên hạ biết.
Ngột Truật lại nói:
- Ta hằng nghe ngươi là một tay võ nghệ cao cường tinh thông thao lược nhưng nay ta cử đại binh thi hành theo thiên mạng chiếm đoạt giang san nhà Tống, chẳng khác đá kia đem đi chọi trứng, nội nay mai Biện Kinh sẽ thuộc về tay ta. Nếu ngươi thức thời hãy tuân theo mạng trời quy hàng cho sớm thì mạng ngươi được bảo toàn mà chức Ngũ Quân đô đốc của ngươi cũng không mất. Ngươi hãy chọn một đường mà đi kẻo ăn năn không kịp đấy.
Lương phu nhân nghe mấy lời ngạo mạn nổi giận mắng:
- Loài mọi Phiên, chồng con ta đã vì mi bỏ thây trong Phiên trại, ta hận vì chưa bắt được mi để ăn gan cho hả giận nên quyết đến đây liều sinh tử một phen. Mi đừng uốn ba tấc lưỡi đối với ta vô ích.
Ngột Truật cười gằn:
- Ai giết chồng ngươi để làm gì? Ta chỉ truyền lệnh vây chặt trong dinh ta đó thôi, nếu ngươi bằng lòng quy hàng ta sẽ trả chồng con ngươi ngay tức khắc.
Lương phu nhân không tin hết lớn:
- Đừng nói dối, hãy xem ngọn thương của ta đây.
Vừa nói phu nhân vừa vung thương đâm thẳng. Ngột Truật đưa búa ra đỡ rồi tiếp đánh.
Hai người đánh nhau chừng năm hiệp vẫn chưa phân thắng bại nhưng xét thấy nữ nhi chống với anh hùng được sao? Lương phu nhân liệu bề đánh không nổi nên quay ngựa chạy lui vào ải.
Ngột Truật vỗ ngựa rượt theo. Khi quân Phiên đến gần trước ải, Lương phu nhân truyền lệnh nổ súng thần công và xô thiết hỏa xa ra cản đường.
Chư tướng vâng lệnh cho nổ súng vào đám quân Phiên. Đột nhiên một tiếng sét nổ vang lên long trời lở đất, khói bốc lên chín tầng mây loang ra ngoài mấy dặm.
Trước cảnh tượng ấy ai nấy đều kinh hồn táng đỏm. Khi bình tĩnh lại thì thấy mấy khẩu thần công đều toác miệng ra làm đôi, cửa ải bị vỡ toang, tạo thành một con đường lớn chạy thẳng tắp vào ải.
Cho nên đời sau thiên hạ thường có câu: “Lôi chấn Tam Sơn khẩu, pháo toạc Lưỡng Lang quan” nghĩa là trời đã giúp quân Phiên phá súng, mở đường cho Ngột Truật xua quân theo đại lộ tràn vào ải.
Lương phu nhân thấy lòng trời giúp cho Ngột Truật  nên chép miệng thở dài than:
- Thôi thế này thì khí số nhà Tống đã hết rồi.
Bà không chần chừ vội quất ngựa chạy thẳng vào rừng. Thật từ khi bà biết cầm thương lên ngựa đến giờ chưa khi nào thảm bại một cách kinh khủng như chuyến này.
Bà chạy một đỗi xa xa đến một lùm cây rậm rạp muốn tìm chỗ nghỉ ngơi đôi chút, bỗng nghe có tiếng gọi văng vẳng:
- Phu nhân ôi, công tử ở đây này, xin phu nhân hãy xuống ngựa vào đây.
Phu nhân nghe vậy vội gò cương nhìn vào lùm cây rậm kia thì rõ ràng hai vợ chồng người vú con đang bồng công từ. Bà vội xuống ngựa chạy đến bồng con hôn và khóc một hồi.
Vợ chồng người vú hỏi:
- Chẳng hay phu nhân ra trận thắng bại thế nào?
Phu nhân lắc đầu đáp:
- Trời đã giúp cho kẻ địch chiếm cứ thành trì rồi. Ta chắc lão gia và con ta khó toàn mạng được. Bây giờ chưa biết chúng ta phải nên ẩn trú nơi nào?
Nói đến đây phu nhân tủi lòng rơi lụy, than thở cùng vợ chồng người vú trong rừng rậm rất bi thảm.
Trong lúc ấy Hàn Thế Trung còn đang mắc trong vòng vây đánh phá tứ tung mà không sao thoát ra được.
Trong cơn lúng túng, thoạt trông thấy vòng vây địch quân nới lỏng dần, quân vây trở nên thưa thớt. Hàn Thế Trung lấy làm mừng rỡ nhưng nguyên soái có biết đâu Ngột Truật đã cầm chân nguyên soái để tràn vào chiếm cứ ải quan. Trong  lúc ấy ải quan đã thất thủ rồi mà Hàn Thế Trung lại mừng rỡ, nỗ lực phá vòng vây tẩu thoát.
Nguyên soái chạy được một quãng xa chợt thấy một viên tướng Phiên đang cố rượt bắt một tên tiểu tướng, Hàn Thế Trung nhìn kỹ thì viên tiểu tướng kia chính là Đại công tử con mình.
Nguyên soái mừng rỡ reo lên:
- Hãy chạy đến đây, có cha đây này.
Công tử cứ việc chạy và la to:
- Cha ôi, tướng Phiên ấy võ nghệ cao cường quá, con đánh không lại hắn.
Hàn nguyên soái vội thúc ngựa chạy đến rồi dồn thần lực chém xuống một dao vang lên tiếng kêu, tưởng đối phương đã phải rụng đầu, ngờ đâu lưỡi đao lại tỏa ra một luồng bạch quang dội ngược lại suýt nữa bị rời khỏi tay.
Nguyên soái Hàn Thế Trung thấy thế thất kinh quất ngựa cùng con chạy dài. Vừa chạy vừa nghĩ:
- “Thế thì thần thánh đã yểm hộ cho tướng Phiên này rồi”.
Thật vậy, tướng ấy chính là Kỳ Ốc Ôn Thiết Mộc, ngày sau sinh hạ ra Hốt Tất Liệt danh vang trong hoàn vũ, đánh chiếm gần hết nước Nga, Ba Tư, Ấn Độ, thâu Kim, diệt Tống, đoạt Trung Nguyên, sáng lập nhà Nguyên.
Tướng Phiên ấy bị Hàn nguyên soái chém xuống đầu một dao thình lình, lấy làm kinh khủng nên hắn quay ngựa trở về dinh chứ không rượt theo nữa.
Còn Hàn nguyên soái và công tử hiệp lực giải phá vòng vây chạy thẳng về ải, bỗng thấy trên ải toàn là cờ đề hiệu Kim Phiên bay phất phới. Hai cha con lại thất kinh chạy tuốt vào rừng.
Vừa ngang qua lùm cây rậm chợt nghe có tiếng phu nhân gọi:
- Tướng công, tuớng công, thiếp ở đây này.
Hàn Thế Trung nửa mừng nửa tủi vội xuống ngựa bước tới nắm tay phu nhân mừng rỡ. Công tử cũng lật đật xuống ngựa mừng mẹ. Nguyên soái hỏi:
- Vì cớ gì ải quan bị thất thủ?
Phu nhân đáp:
- Tôi nghe quân chạy về báo rằng tướng công đã tử trận nên quyết ra binh báo thù, ngờ đâu trời xui cho sét đánh họng súng thần công toác làm đôi trên Tam Sơn khẩu, khai đường tại Lưỡng Lang quan nên mới ra nông nỗi này.
Nguyên soái nghe nói thở dài đáp:
- Lòng trời đã vậy thì dù cữong cũng không được.
Phu nhân hỏi:
- Nay quan ải đã thất thủ rồi chúng ta đi đâu bây giờ?
Hàn nguyên soái đáp:
- Chúng ta phải trở về Biện Lương vào yết kiến thánh thượng xem thánh thượng chỉ dạy thế nào.
Thế rồi vợ chồng nguyên soái cùng hai con và hai vợ chồng người vú ra đi nhắm hướng Biện Kinh thẳng tới.
Đi vừa đến sông Hoàng Hà bỗng gặp quan khâm sai đệ thánh chỉ ra. Vợ chồng nguyên soái cùng quì lạy tiếp thánh chỉ. Quan khâm sai giở chiếu ra đọc:
- Hàn Thế Trung thất thủ Lưỡng Lang quan thật đáng tội, song bởi xét công trạng trước đây nên tha khỏi tội chết, phải cất chức trở về làm dân.
Vợ chồng cùng lạy tạ ơn thánh thượng rồi giao hai cái tướng ấn lại cho quan khâm sai, dẫn nhau nhắm hướng Hiệp Tây trở về quê cũ.
Nói về Ngột Truật, khi vào Lưỡong Lang quan an dinh hạ trại xong lập tức kiểm điểm lương thảo cùng khí cụ trong kho lại thấy thiết hỏa xa chẳng biết dùng để làm gì nên vội hỏi quân sư:
- Ai chế ra loại xe này và dùng để làm chi vậy?
Quân sư tâu:
- Những xe ấy là của Hàn Tín từ đời Tây Hán chế ra dùng để vây Sở Bá Vương, nay chúa công lấy được ải này mà không bị nó cản trở thật là hồng phúc của chúa công lớn lắm đấy.
Ngừng một lát quân sư tiếp:
- Nay trời giúp ta lấy được ải này, vậy chúa công hãy thừa thế tiến quân lấy luôn Hà Giang phủ. Được như vậy thì chúng ta chỉ còn qua con sông Hoàng Hà là thẳng đường đến Biện Lương, chẳng còn quan ải nào ngăn cản nữa cả.
Ngột Truật cả mừng cho người ở lại trấn giữ thành Lưỡng Lang rồi truyền lệnh kiểm điểm lương thảo, chỉnh đốn binh mã nhắm Hà Giang rầm rộ kéo đến.
Tướng giữ Hà Giang phủ là tiết đạt sứ Trương Thúc Dạ thình lình nghe quân báo Lưỡng Lang quan đã thất thủ, lại nghe Ngột Truật sắp kéo binh đến trong lòng vô cùng bối rối nghĩ thầm:
- “Mưu lược như Lục Đăng mà giữ không nổi lộ An Châu, tài trí có thừa như vợ chồng Hàn Thế Trung lại thêm có súng thần công, thiết hỏa xa mà vẫn bị thất thủ Lưỡng Lang quan, huống hồ ta đây tài cán bao nhiêu làm sao giữ nổi Hà Giang phủ này?
Nghĩ đoạn triệu tập chư tướng đến bàn bạc, Trương Thúc Dạ nói:
- Quân Phiên quá hùng mạnh và đông ngót năm mươi vạn lại thêm nhiều tướng kiêu dũng như thiên thần, nếu ta cố tình kiên trì cố thủ thành này chắc chắn khác nào lấy trứng chọi đá, đem số binh sĩ ta hy sinh một cách vô ích. Chi bằng hễ ngộ biến thì phải tòng quyền, ta nên tạm đều Kim Phiên để bảo toàn bá tính. Rồi đợi chúng nó kéo quân qua sông Hoàng Hà ta thừa thế chặn chỗ yếu địa phản công kịch liệt, Ngột Truật ắt phải thua. Lúc ấy chúng muốn rút lui lại phải chạy ngang qua đây chứ không còn đường nào khác nữa. Ta sẽ đem quân chặn đánh một trận tơi bời thế nào cũng bắt được Ngột Truật. Vậy chư tướng hãy nghe theo lời ta cắm cờ hàng trên thành cho sẵn, đợi quân Phiên đến đây giả kế quy hàng.
Chư tướng vâng lệnh sắp đặt việc đầu hàng Kim Phiên.
Tướng Trương Thúc Dạ giữ ải này có hai người con trai: đại công tử tên là Trương Lập vóc dáng to lớn, mình cao hơn trượng, mặt vuông tai lớn, nhị công tử tên Trương Dụng thân hình cũng to lớn, mắt đen láy. Cả hai sức mạnh phi thường đều dùng côn sắt làm binh khí.
Hôm ấy hai anh em đang ở trong phòng học tập thấy đã quá giờ ngọ mà không thấy thư đồng mang cơm vào. Trương Dụng nói với anh:
- Tại sao hôm nay cơm nước lại trễ như thế? Lẽ nào tên đầu bếp lại quên chúng ta sao?
Trương Lập đáp:
- Chính anh cũng lấy làm thắc mắc.
Hai anh em đang nói chuyện bỗng thấy thư đồng bưng cơm vào, Trương Lập hỏi:
- Tại sao hôm nay cơm nước lại trễ như vậy?
Trương Dụng xen vào:
- Chắc ngươi mải lo chơi bời nên quên mang cơm cho anh em ta chứ gì? Thật tội ngươi đáng đánh đòn lắm.
Thư đồng thưa:
- Thưa hai cậu, tuy bữa nay trễ mà còn có cơm, sợ vài hôm nữa không có mà ăn mới khổ cho chứ.
Nghe lời nói trái tai Trương Lập mắng:
- Hôm nay ngươi điên rồi sao lại nói bậy quá vậy? Việc gì đến nỗi không có cơm ăn?
Thư đồng thưa:
- Hai cậu mải lo học tập trong phòng làm sao biết được mọi việc xảy ra ở bên ngoài? Tôi cho hai cậu biết, Kim Phiên đã cử đại binh xâm lấn bờ cõi ta. Chúng hạ xong lộ An Châu và Lưỡng Lang quan, nay mai sẽ kéo binh đến đây. Lão gia lấy làm kinh sợ nên bàn với chư tướng lo việc dâng phủ Hà Giang này mà đầu hàng quân giặc. Thiên hạ cả phủ này đều xôn xao hoảng loạn tới lui rộn rịp, không làm chi được nên mới trễ cơm như vậy. Nếu Ngột Truật cho quy hàng thì may phúc cho bá tính bằng không cho quy hàng cử việc đập phá thành trì tàn hại sinh linh thì lúc ấy lấy ai nấu cơm?
Trương Dụng nói:
- Đừng nói bậy. Lẽ nào cha ta lại chịu nhục đi đầu hàng quân giặc sao?
Thư đồng đáp:
- Nếu cậu không tin thì cứ việc ra ngoài hỏi thử thì biết. Việc ai ai đều biết cả chỉ có hai cậu là không.
Dứt lời thư đồng từ tạ lui ra, đại công tử rất buồn bã nói với em:
- Cha chúng ta có công lớn với triều đình, có lẽ nào hôm nay lại hành động bất trung như thế sao?
Nhị công tử Trương Dụng nói:
- Anh em ta cứ việc ăn cơm no rồi ra hỏi mẹ ta xem có đúng vậy không? Nếu đúng vậy chúng ta đừng nói chi cả, cứ giả đò xin ra ngoài có việc. Lúc ra đi ta nhớ mang theo bạc vàng để tuỳ thân. Anh em ta sẽ chặn tên tướng Phiên Ngột Truật đánh cho một trận, nếu thắng được thì chẳng nói làm chi bằng thua thì bỏ chạy sang xứ khác, ở đây làm gì cho mang nhục.
Trương Lập gật đầu đáp:
- Em tính như vậy thật hợp với ý anh.
Cơm nước xong hai anh em lật đật chạy đến trung đường chào mẹ và hỏi:
- Thưa mẹ vì sao cha chúng con lại chịu làm kẻ gian thần thính đi đầu hàng giặc phiên như vậy?
Trương phu nhân đáp:
- Chúng con thơ ngây làm sao biết được việc đại sự của nước nhà? Cha chúng con có đủ toàn quyền định đoạt, dù dạy thế nào mẹ cũng nghe theo.
Hai anh em cùng thưa:
- Xin mẹ hãy vui lòng cho chúng con vài trăm lượng bạc.
Phu nhân hỏi:
- Lúc này đang lộn xộn , thiên hạ không yên, các con xin bạc làm gì?
- Thưa mẹ chúng con tính mua sách và vài món đồ chi dụng cho sớm, kẻo quân Phiên kéo vào thành rồi không thể đi mua được.
Phu nhân nghe nói có lý vội vào lấy ba trăm lượng bạc trao cho con.
Hai anh em tạ ơn rồi đem chia đôi số bạc, đoạn trở về phòng nai nịt khôi giáp chỉnh tề, tay cầm côn sắt lén ra phía sau vườn nhảy qua bờ tường trốn đi mất.
Đi được ba mươi dặm, bỗng thấy đằng xa có uân Phiên kéo đi rầm rộ.
Hai anh em bước qua bên mé núi, leo tuốt lên đỉnh đứng xem thế giặc. Thấy quân Phiên tiến quân cuồn cuộn như nước chảy, lô nhô lúc nhúc tràn đồng nội, Trương Dụng nói với anh:
- Chúng ta thừa cơ địch bất ngờ không đề phòng xông xuống đánh chơi một chặp cho thỏa chí.
Hai anh em chờ cho quân Phiên đến sát, chạy bổ xuống vung côn sắt đánh như sấm sét, làm cho đứa thì bể đầu phọt óc, đứa què tay gãy chân. Càng đánh hai anh em càng hăng máu không một sức nào kháng cự nổi. Quân Phiên hoảng loạn chạy lùi lại báo với Ngột Truật.
Ngột Truật nghe báo liền truyền lệnh quân sĩ cố bao vây bắt sống cho kỳ được.
Quân Phiên lập tức bua vây tứ phía. Hai anh em họ Trương nỗ lực mang hết sức bình sinh đánh phá quyết liệt mãi đến trời tối lúc nào không hay biết.
Bỗng Trương Lập ngoái lại kiếm em thì chẳng thấy đâu hế, nghĩ thầm:
- “Thôi để ta đánh tháo chạy ra cho xong kẻo trời đã tối rồi”.
Nghĩ vậy chàng ra sức đánh thủng một phía, cố mở đường thoát ra.
Bấy giờ trời đã tối mà quân Phiện chưa kịp nổi đèn đuốc nên hàng ngũ có phần lộn xộn. Trương Lập thừa cơ phá được vòng vây chạy thoát.
(Vì vậy hai anh em chạy lạc mỗi người một nơi, mãi đến sau này khi Nhạc Phi ba phen thu phục Hà Nguyên Khánh, anh em mới gặp lại nhau)
Binh Phiên bị anh em Trương Lập phá rối nên phải đình trệ. Bây giờ trời đã tối Ngột Truật đành phải truyền quân an dinh hạ trại, đợi sáng ngày sẽ tiến binh.
Hôm sau Ngột Truật đốc thúc binh sĩ thẳng đến bên thành, bỗng thấy một tướng quỳ cách thành chừng vài trăm dặm, trong tay có cầm cây cờ hàng, sau lưng có vài tên bộ hạ không cầm binh khí chi cả.
Quân Phiên tiếp tục kéo đến thì người ấy cúi đầu sát đất và nói:
- Hà Giang Phủ tiết đạt sứ Trương Thúc Dạ là tôi, đợi xin đầu hàng và nghênh tiếp chúa công nhập thành.
Quân Phiên thấy thế vội dừng bước, chạy trở lại báo cho Ngột Truật hay.
Ngột Truật vỗ ngựa chạy đến trước xem thì quả thấy người ấy còn đang quỳ mọp, đầu cúi xuống sát đất.
Ngột Truật vẫn ngồi yên trên ngựa quay qua hỏi quân sư:
- Tôi nghe Trương Thúc Dạ vốn là một trung thần phải không?
Hấp Mê Xi đáp:
- Cũng có thể lắm nhưng nếu quả hắn là trung thần thì chúng ta sẽ biệt đãi, để tôi hỏi hắn vài câu xem thế nào?
Hấp Mê Xi lên tiếng hỏi:
- Ngươi có phải là Trương Thúc Dạ không?
- Vâng chính là hạ thần đây.
Hấp Mê Xi cười khẩy:
- Lâu nay ta có nghe danh ngươi là bậc trung thần nghĩa sĩ, sao nay ngươi lại làm theo lối gian manh đi đầu hàng địch quân vậy? Hay là ngươi trá hàng?
Trương Thúc Dạ vẫn quỳ mọp thưa:
- Muôn tâu chúa công, tôi đâu có dám cả gan làm điều ấy? Song chỉ vì trong Tống triều lũ gian nịnh đã chuyên quyền, manh tâm sát hại kẻ tôi trung nên tôi chẳng biết trông cậy vào đâu nữa. Nay lộ An Châu và Lưỡng Lang quan là những nơi hiểm yếu còn bị thất thủ huống hồ thành này cũng không chắc chắn gì, binh tướng của tôi lại ít ỏi đánh sao cho lại? Nếu miễn cưỡng chống trả ắ tàn hại sinh linh nên tôi quyết định ra quy hàng để cứu sinh linh khỏi vòng binh lửa chứ không mong quan tước chi cả, mong chúa công thẩm xét và mở lượng bao dung.
Ngột Truật nghe thế cả mừng nói:
- Thế thì tướng công là kẻ trung thần song đã thấu lòng trời và biết thương xót sinh linh nên mới chịu quy hàng, quả thật tướng quân là người nhân đức vậy. Bây giờ ta phong cho tướng quân chức Lỗ Vương để trấn thủ thành này. Chỉ vì ta muốn bá tính nơi Hà Giang phủ được bình yên nên ta chẳng cần vào thành làm gì. Ta sẽ dẫn binh đi vòng ngoài thành để tiến quân đến Biện Kinh, nếu binh sĩ ta có kẻ nào lén vào thành phá phách ta cho phép tướng quân chém đầu làm lệnh.
Trương Thúc Dạ nghe mấy lời khoan nhân của Ngột Truật lấy làm mừng rỡ vội giập đầu xuống đất lạy đôi ba phen mới trở về thành. Đoạn hối thúc quân sĩ mang rất nhiều rượu thịt đến dinh Phiên khao thưởng binh sĩ.
Quân Phiên ăn uống no say rồi, vâng lệnh chúa soái đi vòng qua thành thẳng đến bờ sông Hoàng Hà, lựa một chỗ đất trống rộng an dinh hạ trại.
Dinh trại quân Phiên liên tiếp kéo dài theo bờ sông, hàng ngũ nghiêm chỉnh kỷ luật đường hoàng khiến bá tính phủ Hà Giang bình yên như chẳng có giặc vậy. Binh sĩ Phiên chẳng có tên nào dám bén mảng đến thành.
Dinh trại quân Phiên sắp đặt xong liền lo đóng thuyền bè để vượt qua sông.
Quan địa phương nơi ấy phi ngựa đi ngày đêm về Biện Lương cấp báo. Khi đến Biện Lương thì gặp buổi lâm triều.
Quan địa phương vào trước điện Kim giai tâu:
- Muôn tâu thánh thượng, Kim Phiên Ngột Truật kéo binh năm mươi vạn đến đóng bên bờ sông Hoàng Hà, cúi xin Thánh thượng điều binh khiển tướng lập tức đẩy lui quân giặc kẻo nhân dân đang vô cùng khiếp đảm.
Vua Khâm Tông nghe tin ấy lấy làm kinh hãi phán hỏi bá quan:
- Binh thế của Ngột Truật quá hùng cường, chẳng hay chư khanh có kế chi đánh lui được quân giặc không?
Trương Bang Xương vội quỳ tâu:
- Muôn tâu bệ hạ, vợ chồng Lục Đăng thất thủ lộ An Châu đã tử tiết, vợ chồng Hàn Thế Trung đã bỏ ải Lưỡng Lang chạy trốn còn Trương Thúc Dạ thì dâng Hà Giang phủ đầu hàng, tất cả cũng chỉ cản trở bước tiến của quân giặc đôi chút mà thôi. Đến khi Ngột Truật vượt khỏi sông rồi thì thành Biện Lương này nhất định sẽ vào tay hắn.
- Trong cơn nguy cấp này tôi xét các quan văn võ không ai đủ tài ba cho bằng Lý Can, Tông Trạch. Nếu thánh thượng muốn sớm trừ giặc Kim Phiên thì phải phong Lý Can làm đại nguyên soái, Tông Trạch làm tiên phong, phát cho năm vạn quân ra Hoàng Hà phá giặc ắt là xong.
Vua Khâm Tôn y tấu lập tức hạ chỉ phong Lý Can làm Bính Bắc đại nguyên soái, Tông Trạch làm tiên phong thống lãnh binh nhung đi dẹp giặc.
Hai người tạ ơn rồi lãnh chỉ lui ra.
Lý Can vốn là một quan văn nhưng nhờ tài bác học túctrí đa mưu nên làm được đến chức Gián nghị. Nếu dùng văn chương thì giỏi thật song qua việc võ điều binh khiển tướng thì thật chưa từng. Nay bọn Kim Phiên binh hùng tướng mạnh đã xâm nhập vào địa phận chỉ còn cách có con sông Hoàng Hà mà loài gian nịnh tâu vua cho Lý Can ra điều binh khiển tướng, đủ thấy gian thần xem sơn hà xã tắc có ra chi? Miễn chúng hại được người trung là hả dạ. Thế mà vua cũng nhắm mắt nghe theo.
Lý Can về đến phủ vào hậu đường, giã biệt phu nhân để sửa soạn lên đường, bỗng thấy một hảo hán đang đứng dưới thềm ngó lên, tướng mạo cao lớn vạm vỡ khác thường. Lý Can vội hỏi:
- Ngươi tên họ là chi?
Người ấy đáp:
- Bẩm lão gia tôi là Trương Bảo.
Lý Can lại hỏi:
- Lâu nay ngươi ở đâu, làm nghề gì?
Trương Bảo đáp:
- Lâu nay tôi ra hải ngoại chuyên nghề buôn bán.
- Ngươi tự xét ngươi có tài cán gì không?
Trương Bảo đáp không nghĩ:
- Tôi có thể vác năm sáu trăm cân chạy cả ngày không biết mệt.
Phu nhân nghe vậy đề nghị:
- Tướng công nên đem nó theo làm kẻ hầu hạ tâm phúc thì tốt lắm.
Lý Can nghe lời cho Trương Bảo sửa soạn đi theo.
Sáng hôm sau Tông Trạch đến rất sớm mời chủ soái ra giáo trường để lo việc khiển binh. Lý Can vội vã ra tận ngoài thềm nghênh tiếp Tông Trạch vào trong đãi đằng trà nước rồi nói:
- Thưa ngài xin ngài xét thử xem có phải là gian thần nó quyết làm hại tôi không. Tôi đây là quan văn biết gì đến việc điều binh khiển tướng thế mà nó bảo tấu cho ra cầm quân đánh giặc. Tôi chỉ còn cách trông mong nơi ngài và xin gửi cả tính mệnh cho ngài, nếu ngài thể tình tôi lấy làm đội ơn.
Tông Trạch thưa:
- Nguyên soái chớ lo điều ấy, trời nào lại bỏ người ngay đâu mà nguyên soái sợ.
Hai người chuyện vấn hồi lâu rồi lên ngựa ra ngoài giáo trường kiểm điểm binh mã, phát pháp, làm lệnh nhắm sông Hoàng Hà tiến quân.
Để ngăn ngừa giặc, nguyên soái truyền cho quân sĩ kéo hết thuyền ở dưới sông lên bờ rồi bài binh bố trận theo dọc tuyến sông. Sắp đặt đâu đó an bài, Tông Trạch liền sai người tâm phúc mang một bức thư chạy thẳng đến Thang Âm huyện, triệu thỉnh mấy anh em Nhạc Phi đến. Trong thư Tông Trạch tha thiết mời anh em Nhạc Phi hãy đem tài sức ra cứu nước.

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-05 20:07:00Hoàng Dung>
đánh máy: phuonguyen
hồi thứ mười tám
Một mình, Trương Bảo đốt thuyền địch
Ngột Truật vượt sông nhờ nước băng

Mấy ngày sau tên gia nhân mang thư trở về bẩm với Tông Trạch.
- Con đi suốt ngày đêm không nghỉ nhưng khi đến Thang Âm huyện trao thư thì được biết Nhạc Phi đang cơn bệnh nặng, anh em xúm xít bên giường săn sóc thuốc men chẳng ai chịu xa Nhạc Phi nên cùng từ chối cả, bất đắc dĩ con phải về đây phục lệnh.
Tông Trạch nghe qua than vắn thở dài hồi lâu và nói:
- Sao Nhạc Phi lâm bệnh trong lúc này? Thế thì trời kia muốn dứt nhà Tống rồi.
Khi Ngột Truật kéo quân đến sông Hoàng Hà an dinh hạ trại xong bèn phi ngựa chạy men theo mé sông để xem địa thế.
Ngột Truật thấy nước sông chảy quá mạnh không thể nào đưa quân qua sông được, cần phải đóng thuyền bè gấp mới có thể tiến quân như ý muốn.
Nghĩ rồi Ngột Truật trở về dinh cho đòi hai nguyên soái là Ô Quốc Long và Ô Quốc Hổ đến bảo:
- Hai ngươi phải lập tức truyền lệnh cho quân sĩ mang tiền qua phủ Hà Giang mua gỗ ván và mọi vật liệu về thuê thợ mộc đến đóng thuyền cho thật nhiều để đưa quân sĩ qua sông, sớm ngày nào hay ngày nấy.
Còn bên dinh Tống hàng ngày Lý Can đều cho binh sĩ đi do thám tình hình bên dinh Phiên xem địch quân động tĩnh thế nào để kịp thời ứng phó. Lý Can được tin quân Phiên canh phòng rất nghiêm ngặt nên sộ quân Phiên dùng thuyền nhỏ sang do thám bèn sai Trương Bảo lãnh vài mươi chiếc thuyền nhỏ chèo dọc theo ven sông để tuần phòng.
Trương Bão tuần tiễu ven sông Hoàng Hà vẫn nghe nói binh Phiên đông lắm, có đến năm sáu mươi vạn nhưng trong lòng nghi hoặc không tin, ngặt vì cứ đi lại bên này sông không thấy tận mắt, Trương Bảo nghĩ thầm:
- Để bữa nào ta lén qua sông đột nhập vào dinh Phiên xem có phải binh lính của chúng đông đảo như lời người ta đồn đại không?
Rồi một hôm trời tối ngửa bàn tay không thấy Trương Bảo dẫn mười mấy đứa thủy thủ xuống một chiếc thuyền con bí mật vượt sông.
Qua đến bờ bên kia Trương Bảo tìm chỗ cây rậm rạp giấu thuyền vào đó rồi nhẹ nhàng nhảy phóc lên bờ.
Thường thường Trương Bảo chỉ dắt trong lưng một cây đoản đao, hôm nay chàng lại xách theo một cây côn sắt to tướng, men theo bờ sông thẳng đến dinh quân Phiên.
Đến nơi vào khoảng canh năm, quân Phiên đang ngủ mê man. Trương Bảo rón rén đến gần nắm cổ một đứa, bụm miệng, cặp nách chạy dông đến chỗ rừng rậm mới vứt xuống để hỏi tin tức. Ngờ đâu sức Trương Bảo quá mạnh, chỉ kẹp sơ một chút mà tên lính Phiên ấy hộc máu chết tự lúc nào rồi!
Trương Bảo lấy làm tức giận, vội chạy trở lại bắt một đứa khác. Tên này bị chộp thình lình hoảng vía toan la lên nhưng chợt thấy đoản đao đã kề bên cổ, hắn cứng lưỡi lại toàn thân run lẩy bẩy.
Trương Bảo khẽ nói:
- Mi hãy đi cùng ta ra ngoài kia ta hỏi chút việc, bằng la lên ta giết chết ngay.
Dứt lời Trương Bảo ôm ngang eo tên lính chạy thẳng ra bên rừng vắng vẻ để xuống hỏi:
- Mi hãy cho ta biết trong dinh quân Phiên có bao nhiêu binh mã?
Tên lính Phiên đáp:
- Thưa lão gia, nghe nói độ năm sáu chục vạn.
Trương Bảo lại hỏi:
- Dinh Ngột Truật ở phía nào?
- Thưa lão gia, chúa công tôi an dinh cách đây hơn ba mươi dặm.
- Chỗ mi ở đó là dinh của ai?
- Thưa đó là dinh của một tướng tiên phong tên Hắc Phong Cao.
- Còn dinh của ai ở kế bên?
- Thưa đó là dinh của hai nguyên soái Ô Quốc Long và Ô Quốc Hổ. Hai người này vâng lệnh chúa công đến đó đốc thúc thợ mộc đóng thuyền cho chóng.
Thế là Trương Bảo biết cả những điều muốn biết nên cười gằn nói:
- Ta cám ơn ngươi.
Dứt lời Trương Bảo giáng cho hắn một côn trúng ngay đỉnh đầu bể não chết tươi.
Trương Bảo vung côn sắt chạy xông vào dinh Hắc Phong Cao la hét om sòm, vung côn đánh đập tơi bời khiến quân Phiên đang ngủ không biết đầu đuôi ra sao cả, vừa bàng hoàng đứng dậy đã bị đoản côn vụt chết ngay.
Quân Phiên hoảng hốt bỏ chạy ra ngoài hết. Trương Bảo rút đoản đao cắt một số đầu quân Phiên cột xung quanh mình rồi chạy thẳng đến mấy trại đóng thuyền gần đó.
Đến đây Trương Bảo thấy thầy thợ đông đảo, kẻ nấu cơm người nấu nước lăng xăng ăn uống để khởi công cho sớm. Chàng nhảy bổ vào, đoàn thợ hoảng kinh đạp nhào trên lò bếp chạy bán sống bán chết. Đứa nhanh chân thoát khỏi, đứa quýnh cẳng phải bỏ mạng.
Trương Bảo đánh giết một số thầy thợ, còn bao nhiêu chạy trốn hết. Sẵn có lửa trong bếp chàng nổi lửa đốt hết mấy trại đóng thuyền, ngọn lửa bốc lên cao đỏ rực một vòm trời. Bấy giờ Trương Bảo mới chịu chạy đến chỗ giấu thuyền hối thúc quân lính chèo nhanh sang bên kia sông.
Tướng tiên phong Hắc Phong Cao đang ngon giấc trong trướng bỗng nghe quân sĩ cấp báo, bèn giật mình chỗi dậy nai nịt chỉnh tề cầm binh khí xông ra. Nhưng chẳng thấy giặc đâu cả chỉ thấy quân mình nhớn nhác và một số tử thi nằm ngổn ngang dưới đất.
Hắc Phong Cao giận lắm nhưng không biết làm sao, phải truyền lệnh đem chôn các tử thi ấy.
Nguyên soái Ô Quốc Long và Ô Quốc Hổ vẫn còn đang mê man trong giấc nồng, bỗng nghe quân canh trại đóng thuyền chạy vào phi báo:
- Bẩm soái gia, có một thằng Nam man rất hung tợn, nửa đêm xông vào trại đánh chết thợ mộc rất nhiều, lại phóng hỏa đốt mấy trại đóng thuyền cháy rụi rả rồi, lại nghe nói hắn cũng xông vào dinh tiên phong giết rất nhiều quân sĩ, cắt lấy một mớ thủ cấp cột vào lưng dông xuống thuyền chạy qua sông rồi!
Hai tên nguyên soái Long, Hổ vừa nai nịt binh khí vừa hỏi tên quân báo:
- Hắn dẫn quân theo nhiều hay ít? Hắn đi được bao lâu rồi?
Tên quân bẩm:
- Bẩm soái gia, nó qua chỉ có một mình, nó cũng vừa xuống thuyền sang sông chưa lâu lắm đâu.
Ô Quốc Long và Ô Quốc Hổ vội điểm quân kỵ mã chạy bay đến mé sông Hoàng Hà nhưng chẳng thấy tăm hơi gì cả, trời còn tối chỉ thấy sương tỏa mịt mờ, nước chảy như cắt. Hai Phiên soái đứng nhìn ngơ ngác, trong lòng căm giận sục sôi lên nhưng không biết làm sao phải dằn lòng trở về dinh.
Sáng sớm hai tướng Phiên chạy đến chỗ Ngột Truật báo lại những điều xảy ra trong đêm hôm. Ngột Truật lập tức truyền quân sĩ cất lại trại, một mặt sai người qua phủ Hà Giang mộ thêm thợ mộc, mua gỗ ván đem về đóng thuyền gấp.
Trương Bảo làm náo loạn quân Phiên trong đêm hôm nên rất khoái chí. Sáng sớm chàng đem thủ cấp quân Phiên đến báo công với nguyên soái Lý Can.
Lý Can trông thấy giật nẩy người, nạt lớn:
- Sao ngươi dám cả gan trái quân lệnh, một mình qua sông mạo hiểm như vậy? Rủi sơ sẩy bị bắt, ngươi chết đã uổng mạng mà lại mất oai khí của quân ta nữa. Ấy chính là tội vi phạm quân lệnh chớ không phải công cán chi đâu. Nếu lần sau để xảy ra chuyện tương tự ta sẽ không dung đấy.
Trương Bảo cúi đầu làm thinh rồi đi ra ngoài nói lẩm bẩm:
- Không công cán cũng được miễn là giết lũ Phiên nô một đêm cũng đủ sướng tay rồi. Thôi bây giờ lo đi làm nhiệm vụ tuần thủ sông Hoàng Hà.
Thời gian trôi qua, nếu chẳng có việc chi khác thường xảy đến thì với tài phòng thủ của Lý Can và Tông Trạch tại bờ sông Hoàng Hà, Ngột Truật không thể nào đưa quân qua sông nổi. Nhưng lòng trời đã định cho giang san nhà Tống phải nghiêng ngửa, sinh linh Trung Nguyên phải chịu một phen binh lửa, khốn khổ tiêu điều nên trong lúc xuân sang mà gió bấc đột nhiên thổi lên cuồn cuộn suốt ngày đêm không ngớt, lạnh lẽo thấu xương.
Quân Phiên là dân miền Bắc nên quen khí lạnh, thế mà đã mặc khôi giáp bằng lông cừu còn run rẩy huống hồ quân Trung Nguyên sống trong xứ ôn đới nay lại gặp phải thời tiết lạnh lẽo lạ thường như vậy làm sao chịu nổi? Vì vậy quân Trung Nguyên bị nứt da, chết cóng rất nhiều.
Suốt ngày đêm gió bấc vẫn thổi vi vu, mưa phùn lắc rắc mây che vần vũ,lạnh đến teo gan héo ruột làm cho nước sông Hoàng Hà đóng băng lại dày trên hai thước.
Ngột Truật ngồi trong ngưu bì trướng thấy khí trời lạnh lẽo khác thường, ước chừng lạnh hơn giữa mùa đông bên Phiên quốc bèn hỏi quân sư:
- Nghe nói khí trời Trung Nguyên ôn hòa lắm, sao nay lại lạnh dữ vậy?
Quân sư Hấp Mê Xi nói:
- Lẽ thường thì phía bắc lạnh lẽo, phía nam ấm áp, hơn nữa từ khi tôi được biết đến giờ chưa từng nghe Trung Nguyên lạnh dữ như thế này. Hay là trời giúp cho chúa côgng đây cũng nên.
Ngột Truật nghe nói lấy làm lạ:
- Trời lạnh thấu xương tại sao quân sư lại bảo là trời giúp? Hấp Mê Xi nói:
- Trong lúc này trời lạnh chừng nào thì tốt chừng ấy. Tôi đã từng xem sử Trung Nguyên có đoạn chép về sự tích Quách Ngạn Oai dấy binh muốn thâu đoạt thiên hạ của Lưu Trí Viên. Khi đại binh kéo đến sông Hoàng Hà không thể qua sông được đột nhiên khí trời lạnh lẽo một cách lạ thường đến nỗi nước sông đóng băng lại. Quách Ngạn Oai nhờ đó xua binh qua sông đánh lấy kinh thành. Biết đâu hôm nay lòng trời chẳng giúp chúa công? Xin chúa công hãy sai quân thăm dò nước sông xem thử thế nào, nếu quả nước đã đóng băng thì phải lập tức xua quân qua, được như vậy thì lấy Biện Lương dễ như trở bàn tay.
Ngột Truật nghe nói lập tức sai quân cưỡi ngựa chạy thẳng ra sông xem thì chỉ một khắc sau quân về báo là nước đã đặc cứng rồi.
Ngột Truật cả mừng vội hạ lệnh cho tướng sĩ lập tức đạp băng vượt qua sông Hoàng Hà, nếu ai trễ nải thì chém đầu.
Năm mươi vạn quân Phiên, tướng nào binh nấy rầm rộ ké nhau vượt sông rất dễ dàng. Lúc ấy quân Tống đang lạnh cóng run lẩy bẩy xúm xít cho ấm, bỗng thấy quân Phiên kéo đến đông như kiến thì kinh hồn hoảng vía, mạnh ai nấy chạy.
Trương Bảo thấy vậy xông vào dinh kề vai cõng Lý Can chạy như bay nhắm Biện Lương thẳng tiến, còn Tông Trạch thấy quân mình đã rã rời nên cũng bỏ dinh chạy thẳng về Biện Kinh.
Dọc đường Tông Trạch gặp Trương Bảo đang cõng Lý Can bèn hợp đoàn cùng về triều bảo tấu.
Ngờ đâu trong lúc lộn xộn, có kẻ đã phi ngựa thẳng về Biện Lương cấp báo rồi, nên khi Lý Can và Tông Trạch mới về đến ngoài thành đã thấy khâm sai đệ chiếu chỉ ra tuyên bố:
- Lý Can và Tông Trạch bỏ Hoàng Hà mà chạy giặc, tội đáng chết, song vì nghĩ công bảo giá nên chỉ cách chức cho trở về quê làm dân, các ấn triện phải nạp cho khâm sai đem về triều phục chỉ.
Hai người cúi đầu lạy tạ thánh chỉ rồi giao ấn triện cho khâm sai đem về triều.
Tông Trạch nói với Lý Can:
- Dầu sao cũng là ơn sâu của thiên tử.
Lý Can cắt ngang nói:
- Ơn huệ gì mà bảo rằng sâu với nông? Ấy chẳng qua là quỷ kế của bọn gian thần, quyết chặt bớt vây cánh của nhà vua. Hôm nay chúng ta nỡ lòng nào ở lại chốn Biện Lương này để chứng kiến cái cảnh bán nước cầu vinh của chúng, nỡ lòng nào nhìn giang san gấm vóc này lọt vào tay rợ Phiên? Thôi chúng ta hãy về quê cho chóng để khỏi chướng tai gai mắt.
Tông Trạch đáp:
- Lời ngài nói chí lý lắm.
Rồi Tông Trạch sai công tử Tông Phương vào thành đem hết gia quyến trở về quê. Lý Can cũng sai Trương Bảo vào thành đem gia quyến ra.
Tông Trạch và Lý Can chia tay rồi ai nấy trở về cố hương.
Lúc ấy vua Khâm Tông nghe tin quân Phiên kéo gần đến thành Biện Lương bèn hạ chỉ cho chư tướng cố thủ thành trì chờ cho kẻ hào kiệt bốn phương dấy binh cần vương đánh lui giặc.
Khi ấy Ngột Truật xua binh qua khỏi sông Hoàng Hà chém giết quân Tống không chừa một tên, thây nằm chật đất, máu chảy thành sông.
Đến lúc quân nhà Tống bị đánh tan tác thì gió bấc cũng vừa im bặt, bầu trời quang đãng như thường, nước sông Hoàng Hà lại chảy cuồn cuộn như xưa. Thật quả nhiên là trời giúp Ngột Truật vậy.
Ngột Truật quay nhìn sang bên kia sông thấy còn mấy đạo quân chưa kịp qua sông, liền sai lấy hết thuyền bè sang chở qua hết. Đoạn truyền lệnh cho Mã Đề Đốc, nguyên soái Hắc Phong Cao lãnh năm ngàn binh đi tiên phong, nguyên soái Ô Quốc Long và Ô Quốc Hổ cũng lãnh năm ngàn quân kéo xốc tới Biện Kinh, cách thành chừng hai mươi dặm mới an dinh hạ trại.
Quân thám tử thấy thế chạy về phi báo, vua Khâm Tông liền triệu hết văn võ bá quan phán hỏi:
- Nay binh Ngột Truật đã qua khỏi Hoàng Hà kéo đến kinh thành, các khanh có cach gì làm cho chúng lui binh?
Trương Bang Xương quỳ tâu:
- Hạ thần đã truyền hịch khắp các nẻo cần vương để mang binh đến đánh với Ngột Truật, chẳng ngờ Lý Can bất tài để cho Ngột Truật qua sông quá gấp. Bây giờ chúng đã đến kinh thành rồi xin chúa thượng phải sắm lễ vật cho nhiều để cầu hòa. Chờ cho chúng rút binh qua khỏi Hoàng Hà, chúa thượng sẽ điều động binh mã các nẻo về chận đánh cho một trận tơi bời. Chúa thượng sẽ khôi phục lại Trung Nguyên chẳng khó chi.
Khâm Tông nói:
- Từ xưa đến nay đã có ông vua nào cầu hòa như vậy không?
Bang Xương đáp:
- Ngày xưa Hán gả Chiêu Quân, Đường dâng công chúa, nay chẳng qua bệ hạ chỉ ngộ biến tòng quyền, cứu cấp cho qua thời gian ngắn thế thôi. Vậy bệ hạ hãy nghe theo hạ thần dâng cho chúng vàng ròng một xe, gấm vóc ngàn cây, mỹ nữ năm chục ả, ca đồng năm chục đứa, trâu, heo, dê, rượu các loại đừng thiếu sót. Nhưng ngặt một nỗi chẳng biết có vị trung thần nào chịu đi cầu hòa cho bệ hạ không?
Khâm Tông vội nhìn hai bên văn võ bá quan hỏi:
- Có ai dám mang lễ vật sang dinh Phiên không?
Vua hỏi luôn mấy lần vẫn không thấy ai lên tiếng, Trương Bang Xương lại tâu:
- Hạ thần tuy bất tài song cũng xin đi thử một phen xem sao.
Khâm Tông mừng rỡ nói:
- Thái sư đã hết lòng với triều đình thật xứng đáng bậc trung thần.
Nói rồi truyền chỉ sắm lễ vật giao cho Trương Bang Xương.
Trương Bang Xương mang lễ vật đến dinh Phiên quân, thấy lính vào báo, nguyên soái Hắc Phong Cao vội truyền lệnh cho vào.
Sau khi Trương Bang Xương giập đầu bái kiến, Hắc nguyên soái hỏi:
- Tên Nam man kia, có phải hoàng đế của ngươi sai ngươi đến đây dâng lễ vật không?
Truơng Bang Xương đáp:
- Vâng chính chúa thượng sai tôi mang lễ vật sang đây để cống hiến, vậy xin nguyên soái cho tôi được ra mắt chúa công để dâng nạp.
Hắc nguyên soái nghe nói vùng nạt lớn:
- Hãy đem hắn ra chém quách cho ta.
Kẻ tả hữu vâng lệnh áp tới, Trương Bang Xương năn nỉ:
- Xin nguyên soái bớt cơn nóng giận để tôi dâng nạp ngay.
Nói rồi mang tờ ghi lễ vật hai tay dâng lên cho Hắc nguyên soái.
Hắc nguyên soái xem xong đổi giận làm vui nói:
- Trương Bang Xương, ngươi hãy bình thân, giao lễ vật lại đây cho ta về đi để ta tâu giùm lại với chúa công ta cho.
Trương Bang Xương lại nói:
- Tôi còn một việc cần bẩm với chúa công.
- Có việc gì ngươi cứ nói ra, ta sẽ tâu giùm cho ngươi cũng được.
Bang Xương trịnh trọng nói:
- Xin nguyên soái tâu cho chúa công biết rằng có tôi là Trương Bang Xương đến đây để dâng giang san nhà Tống cho người, trước tiên tôi làm cho hao tài tốn của nhà Tống trước đã.
Hắc nguyên soái cười ha hả nói:
- Ồ tưởng việc gì chứ việc ấy ta biết cả rồi, ngươi hãy về đi để ta tâu lại với chúa công ta cho.
Trương Bang Xương từ tạ ra khỏi dinh Phiên đi thẳng về triều phục chỉ.
Nói về Hắc Phong Cao xem thấy lễ vật rất nhiều lại thêm mỹ nữ ca đồng, vàng ròng gấm vóc, động lòng tham nghĩ rằng:
- Ta giúp Ngột Truật thâu đoạt giang san nhà Tống, công ấy to lớn biết bao nhiêu, nay ta có lấy của hắn bấy nhiêu lễ vật cũng chưa đáng công.
Nói rồi thu hết lễ vật, truyền tướng sĩ nhổ trại kéo rốc qua phía Tây Sơn trở về nước.
Quân sĩ phi báo cho Ngột Truật hay, Ngột Truật nghĩ thầm:
- “H8ác Phong Cao theo ta thâu đoạt Trung Nguyên, chỉ nay mai này là chiếm đoạt thiên hạ của nhà Tống, ta sẽ hậu thưởng cho y xứng đáng. Hôm nay chẳng biết duyên cớ gì y lại bỏ về như vậy?”.
Nghĩ xong liền truyền lệnh cho binh mã tiến thêm trăm dặm nữa mới hạ trại.
Quân Tống vội chạy vào triều phi báo:
- Nay quân Phiên chẳng biết vì sao đã áp gần chỉ cách thành độ năm dặm nữa, hay là chúng muốn công thành chăng?
Khâm Tông nghe báo kinh hãi hỏi Trương Bang Xương:
- Hôm qua đã đem lễ vật cầu hòa, tại sao hôm nay địch quân lại xáp tới thành ta làm chi vậy?
Trương Bang Xương nói:
- Hạ thần thiết tưởng tướng Phiên quá đông mà lễ vật ta quá ít nên chúng chia nhau không đủ, thành thử chưa chịu hòa đó. Vậy xin bệ hạ hãy dâng thêm lễ vật nữa thì chúng sẽ lui khỏi Hoàng Hà.
Khâm Tông không biết làm sao đành phải sắm sửa lễ vật như trước rồi sai Trương Bang Xương đi một lần nữa.
Tên gian thần ấy lãnh lễ vật lui ra khỏi ngọ môn liền đi thẳng sang dinh quân Phiên.
Quân Phiên vào phi báo, Ô Quốc Long nguyên soái lập tức cho vào. Trương Bang Xương quỳ mọp dưới đất thưa:
- Hôm nay tôi đến xin dâng lễ vật lên chúa công, đồng thời có việc cơ mật muốn tâu với người.
Ô Quốc Long và Ô Quốc Hổ xem qua lễ vật rồi bảo:
- Ta chẳng phải là chúa công. Hôm trước những lễ vật ngươi đem đến, Hắc nguyên soái đã thu hết và đi về nước rồi, nguyên soái ấy có dâng một tí gì cho chúa công đâu? Nay những lễ vật này chúng ta sẽ dâng giùm cho ngươi, ngươi hãy về thành mà đợi tin lành.
Trương Bang xương vui vẻ lạy tạ về triều phục chỉ.
Trương Bang Xương ra khỏi dinh, Ô Quốc Long và Ô Quốc Hổ bàn nhau. Ô Quốc Long nói:
- Hèn chi Hắc nguyên soái về nước cũng phải, bọn ta từ ngày dấy binh đến nay công lao không ít. Nay những lễ vật này có thu riêng cũng xứng đáng. Vậy chúng ta cũng thu hết rồi về nước cho sớm.
Ô Quốc Hổ nói:
- Tính như vậy thì gọn biết bao nhiêu.
Rồi truyền lệnh ba quân nhổ trại kéo vòng sang phía đông đi thẳng về đại Kim quốc.
Quân sĩ chạy vào báo với Ngột Truật:
- Không biết vì lý do gì hai ông nguyên soái họ Ô nhổ trại đi về hết rồi.
Ngột Truật cau mày:
- Lạ thật! Thôi để ta tự thân kéo binh đến tra xét xem sao?
Quân Tống lại hớt hải chạy vào triều phi báo:
- Bây giờ quân của Ngột Truật lại xông đến sát thành đóng trại.
Vua Khâm Tông lại hỏi Trương Bang Xương:
- Nay chúng nó còn đến nữa là sao vậy?
Trương Bang Xương tâu:
- Thần đến dâng lễ hai phen, nhưng chưa hề giáp mặt Ngột Truật. Vậy nay bệ hạ phải sắm sửa lễ vật cho thần đi một phen nữa may ra có giáp mặt Ngột Truật mới có thể cầu hòa được.
Khâm Tông sa nước mắt nói:
- Thái sư đã mang đi hai lần lễ vật quá nhiều, nay bảo trẫm phải dâng nữa thì biết lấy gì dâng đây?
Trương Bang Xương nói:
- Nếu bệ hạ chẳng nghe lời kẻ hạ thần thì ngày sau có bề gì xin chớ quở trách.
Khâm Tông nói:
- Vậy thì phải sai người ra ngoài mua thêm ca đồng và mỹ nữ mới đủ.
Trương Bang Xương lắc đầu:
- Nếu đi mua ngoài dân gian thì thần e không vừa ý Ngột Truật, chi bằng cứ việc chọn lựa trong cung mới xong.
Khâm Tông không biết làm sao nên phải tự mình đi điểm tra cung nữ, sắm lễ vật cho đầy đủ như hai lần trước để rồi cũng sai Trương Bang Xương đi nữa.
Chuyến này Trương Bang Xương đi thẳng đến dinh Phiên, quân canh gác rất nghiêm ngặt. Bang Xương thưa với viên quan Bình Chương tỏ việc muốn vào ra mắt Ngột Truật để dâng lễ vật cầu hòa.
Viên quan Bình Chương chạy vào báo:
- Có một tên Nam man xưng là thừa tướng nhà Tống đến xin ra mắt chúa công để dâng lễ vật cầu hòa.
Ngột Truật vội hỏi quân sư:
- Tên thừa tướng Trương Bang Xương ấy là trung thần hay kẻ gian nịnh?
Hấp Mê Xi đáp:
- Hắn là đứa gian thần đệ nhất của triều đình nhà Tống. Ngột Truật nói:
- Thế thì bắt nó xé thịt cho rồi.
Hấp Mê Xi can:
- Không nên đâu chúa công ạ, vì lúc này là lúc ta đang cần dùng đứa gian thần ấy nên phải nuôi dưỡng nó, lúc nào được thiên hạ rồi sẽ giết nó cũng chẳng muộn.
Ngột Truật khen phải liền cho vào.
Trương Bang Xương vào đến Ngưu bì trướng quỳ mọp dưới đất tâu:
- Tôi là Trương Bang Xương xin vào yết kiến chúa công.
Ngột Truật hỏi:
- Trương lão nhi đến đây có việc gì không?
Trương Bang Xương nói:
- Lúc tôi chưa gặp được chúa công tôi đã dự định làm một kế làm cho nhà Tống hao tài tổn sức. Đã hai phen tôi đem lễ vật đến đây đều bị mấy vị thu hết, nay đem lễ vật đến nữa tính đã ba phen rồi.
Ngột Truật vội lấy tờ ghi các lễ vật xem qua rồi nói:
- Lễ vật quý giá như vậy hèn chi binh mã của hai tướng ấy kéo về nước hết cũng phải.
Hấp Mê Xi kề tai nói nhỏ với Ngột Truật:
- Chúa công nên phong cho hắn một chức vương để làm vừa lòng hắn thì có lo chi chẳng lấy được giang san nhà Tống.
Ngột Truật gật đầu rồi gọi Trương Bang Xương bảo:
- Ta phong cho ngươi làm chức Sở Vương, ngươi hãy đầu hàng ta gấp đi.
Trương Bang Xương cúi đầu tạ ơn. Ngột Truật lại nói:
- Hiền khanh, nay ngươi đã làm bề tôi cho ta rồi, vậy ngươi hãy lập một kế chi để ta thâu tóm thiên hạ của nhà Tống?
Trương Bang Xương nói:
- Nếu như chúa công muốn thâu tóm hết thiên hạ nhà Tống thì phải làm cho chúa Tống tuyệt hậu đi mới được.
Ngột Truật hỏi:
- Khanh nói thế nghĩa là gì?
Trương Bang Xương tâu:
- Nay chúa công hãy sai một viên quan đi với hạ thần đến ra mắt Tống chúa để đòi một vị thân vương làm con tin. Nếu bằng lòng như vậy chúa công mới chịu lui binh. Trong lúc ấy hạ thần sẽ lấy lời lợi hại gạt vua Tống, chắc chắn vua Tống phải đem thái tử dâng cho chúa công. Chừng ấy chúa công muốn gì mà không được?
Ngột Truật nghe nói trong lòng giận dữ, nghiến răng nghĩ: “Tên gian thần này quả hiểm độc thật”.
Nhưng bề ngoài Ngột Truật giả vờ khen:
- Kế ấy hay lắm, thôi để ta sai tả thừa tướng Hấp Mê Cang và hữu thừa tướng Hấp Mê Cường đi với ngươi, còn những ca đồng kỹ nữ ta chẳng dùng, ngươi hãy đem về đi.
Trương Bang Xương cùng tả hữu thừa tướng Kim Phiên đem ca đồng kỹ nữ vào triều Tống. Hấp Mê Cang và Hấp Mê Cường còn đứng ngoài ngọ môn, Trương Bang Xương đã vào quỳ tâu:
- Ngột Truật chẳng dùng ca đồng và kỹ nữ, chỉ nài cho được một vị thân vương làm con tin mới chịu lui binh. Nay bệ hạ muốn thi hành kế ấy tất nhiên phải đưa điện hạ đến Kim Phiên làm con tin, rồi âm thầm điều động binh mã các xứ đến cho mau giết sạch quân Phiên cứu điện hạ về triều. Bằng không thì thiết tưởng quân Phiên đông lắm chúng sẽ đánh phá kinh thành, lúc đó vàng đá cũng tiêu tan không còn ăn năn kịp nữa.
Vua Khâm Tông còn đang suy nghĩ, Bang Xương lại tiếp:
- Việc đã gấp rút xin bệ hạ hãy liệu định cho mau.
Khâm Tông nói:
- Thế thì Trương tiên sinh hãy mời Phiên sứ ra nơi Kim Đình quán dịch chờ đợi, để trẫm hỏi ý phụ vương đã rồi sẽ quyết định dứt khoát.
Trương Bang Xương dịu giọng khẽ tâu:
- Việc này rất hệ trọng, có thể nói là việc mất còn của giang sơn nhà Tống, thế mà bệ hạ còn đi hỏi ý Thái Thượng Hoàng. Thế nào Thái Thượng Hoàng lại chẳng thương con xót cháu. Nếu người không bằng lòng thì việc lớn của bệ hạ hỏng mất, bệ hạ hãy liệu lấy, đừng vì chút tình cảm nhỏ nhen mà làm hỏng cả việc đại sự.
Vua Khâm Tông hứa chịu nhưng cũng vào cung tỏ cùng phụ vương:
- Nay Ngột Truật nó nài cho được một thân vương ở làm con tin mới chịu lui binh.
Huy Tông nghe tâu, sa nước mắt nói:
- Như vậy chắc là kế của gian thần rồi, song đã đến nước này con có cưỡng cũng chẳng được! Vậy con hãy sai em con là Triệu Vương đi mới được.
Huy Tông cho đòi Triệu Vương vào An Lạc cung vừa khóc vừa nói:
- Vương nhi, con có hay việc gì không? Nay Phiên quân nó hung hăng đến thế, Vương huynh con đã ba phen dâng lễ cầu hòa nhưng Ngột Truật vẫn nài cho được một vị thân vương ở làm con tin mới chịu lui binh. Nay cha muốn sai con đi mà lòng không nỡ nên chưa biết nên liệu sao đây?
Vị điện hạ này chính tên là Hoàn mới mười lăm tuổi, một người hiếu thảo ít ai bì, nên thấy cha mình rầu rĩ vội thưa:
- Phụ Vương chớ nên thương tiếc con. Đây chỉ vì việc đại sự của quốc gia, chớ nên vì tình cảm mà làm hỏng cả việc lớn, vả lại tổ tông ta khai sáng giang san chẳng phải là dễ. Chi bằng để con qua bên dinh Phiên giả làm con tin, chờ binh mã các tỉnh kéo đến giết hết giặc Phiên cứu con về cũng không sao.
Huy Tông nghe nói vậy cực chẳng đã phải ra ngự triều, nhìn hai bên văn võ phán hỏi:
- Nay Triệu Vương muốn qua dinh Phiên làm con tin, không biết trong các khanh có ai dám theo bảo hộ Điện hạ không?
Vừa dứt lời, tân khoa trạng nguyên Tần Cối bước ra tâu:
Thần xin theo bảo hộ Điện hạ.
Huy Tông vui vẻ đáp:
- Nếu được khanh đi theo thì hay biết chừng nào,. Lúc nào về triều trẫm sẽ phong quan chức cho.
Thượng hoàng lui giá về cung, các quan cũng bãi triều.
Sau đó Trương Bang Xương, Tần Cối cùng hai tên Phiên sứ dắt Triệu Vương qua bên dinh Phiên.
Trong lúc chia tay, Triệu Vương chẳng nỡ xa cha vùng khóc rống lên, hồi lâu mới cắn răng nuốt lệ ra khỏi ngọ môn lên ngựa thẳng đến dinh Phiên.
Trương Bang Xương, Hấp Mê Cang và Hấp Mê Cường vào trước còn Tần Cối thì bảo hộ Triệu Vương đứng ngoài cửa dinh chờ đợi.
Trương Bang Xương vào dinh ra mắt. Ngột Truật hỏi:
- Việc ấy ra sao?
Bang Xương chưa mở miệng, Hấp Mê Cang đã nói:
- Quả thật Sở Vương tài cán ít ai bì, đã làm Nam man hoàng đế phải nghe lời đưa em trai đến làm con tin, lại có một tên trạng nguyên tên là Trần Cối theo đến nữa, cả hai còn đang đứng ngoài dinh đợi chỉ.
Ngột Truật nói:
- Thế thì hãy bảo chúng vào đây.
Ngờ đâu dưới trướng có một tướng Phiên tên là Bồ Lư Ôn mặt mày dữ tợn nghe bảo ra gọi vào, hắn tưởng bảo ra bắt đem vào vội chạy ra ngoài dinh trợn mắt hỏi:
- Ai là tiểu điện hạ?
Tần Cối trỏ Triệu Vương bảo:
- Vị này là điện hạ đấy.
Bồ Lư Ôn liền xap lại bắt Triệu Vương kẹp nách chạy vào dinh. Tần Cối thấy thế chạy theo gọi lớn:
- Chớ nên làm dữ điện hạ ta sợ.
Bồ Lư Ôn vào đến trước trướng buông Triệu Vương xuống ngờ đâu Triệu Vương sợ quá tắt thở rồi.
Tần Cối bước vào thấy thế hỏi:
- Tại sao lại làm cho điện hạ ta chết như vậy?
Ngột Truật quay sang hỏi Hấp Mê Xi:
- Người này là ai? Hấp Mê Xi tâu:
- Người này là tân khoa trạng nguyên Tần Cối. Xin chúa công cho giữ nó lại không cho nó về Trung Nguyên.
Ngột Truật nói: Phải đấy, có lúc ta sẽ dùng đến nó!

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-05 20:10:46Hoàng Dung>
đánh máy: phuonguyen
hồi thứ mười chín
Nhược Thủy khảng khái mắng Phiên Vương
Thôi Hiếu dâng huyết thư truyền hịch.

Ngột Truật bảo Tần Cối đem thây Triệu Vương đi chôn cất rồi sau đó cho đi làm gia nhân cho một tướng Phiên.
Ngột Truật hỏi Trương Bang Xương:
- Triệu Vương chết, con cái Tống Vương còn đứa nào không?
Trương Bang Xương đáp:
- Triều Tống còn một vị điện hạ thứ chín là Khương Vương Triệu Cấu, để thần lừa hắn đến cho chúa công!
Nói xong từ tạ Ngột Truật trở về triều ra mắt Thái thượng hoàng Huy Tông , giả vờ khóc lóc nói:
- Triệu Vương điện hạ đã rủi ro bị ngã ngựa hết bên dinh Phiên rồi. Nay Ngột Truật lại muốn một vị thân vương khác ở làm con tin thì hắn mới lui binh. Nếu không y theo lời hắn thì hắn sẽ đánh thẳng vào cung.
Thái thượng hoàng nghe nói lòng đau xót vô cùng, cực chẳng đã phải gọi Khương Vương vào rồi thuật hết mọi việc cho nghe. Khương Vương tâu:
- Xã tắc là trọng, con đâu dám tiếc thân. Vậy con cần phải qua đó mới xong.
Huy Tông lại hỏi:
- Có ai dám theo điện hạ không?
Bỗng có quan Lại bộ Thị Lang tên là Lý Nhược Thủy bước ra tâu:
- Hạ thần xin lĩnh mệnh theo bảo hộ điện hạ cho.
Rồi cùng Khương Vương ra khỏi thành theo Trương Bang Xương thẳng qua dinh Phiên.
Trương Bang Xương vào trước ra mắt Ngột Truật tâu:
- Điện hạ Khương Vương Triệu Cấu đã bị hần lừa đến đây rồi. Bây giờ trong triều nhà Tống không còn một điện hạ nào nữa cả.
Ngột Truật nghe nói sợ Khương Vương lại bị chết nữa thì nguy, vội sai quân sư ra nghênh tiếp.
Lý Ngược Thủy lén căn dặn Khương Vương:
- Điện hạ nên nhớ câu: “Năng nhược năng cường thiên niên kế, hữu dũng vô mưu nhứt dán vong”. Nghĩa là có lúc yếu có lúc phải mạnh là kế hay ngàn đời, bằng ỷ mạnh không mưu thì nguy. Khi điện hạ vào ra mắt Ngột Truật tùy cơ ứng biến, chớ nên làm mất nhuệ khí của mình mà cũng chớ nên cứng cỏi quá mà mang hại.
Khương Vương nói:
- Việc ấy ta biết rồi.
Rồi theo Hấp Mê Xi vào dinh ra mắt Ngột Truật. Ngột Truật trông thấy Khương Vương tuổi còn nhỏ mà tướng mạo khôi ngô, mặt ngọc mắt sáng như sao. Thật là một vị điện hạ hiếm có trên đời.
Ngột Truật nói:
- Nếu ngươi bằng lòng xem ta như cha thì ta lấy được giang san nhà Tống sẽ giao lại cho ngươi làm hoàng đế, ngươi có bằng lòng không?
Khương Vương nghe nói sẽ giao giang sơn lại cho mình thì ráng bước ba bước tới nói:
- Con xin bằng lòng!
Ngột Truật mừng rỡ bảo Khương Vương ra sau dinh lập riêng phòng trướng để ở. Bỗng thấy Lý Nhược Thủy theo vào, Ngột Truật bèn gọi lại hỏi:
- Ngươi là ai?
Lý Nhược Thủy trợn mắt đáp:
- Ta là ai mặc kệ, can chi ngươi hỏi?
Nói rồi đi theo Khương Vương. Ngột Truật lấy làm lạ hỏi quân sư:
- Người ấy là ai mà cứng cỏi quá vậy?
Hấp Mê Xi đáp:
- Người ấy là đại trung thần của nhà Tống, đang làm chức Lại bộ Thị Lang tên là Lý Nhược Thủy.
Ngột Truật nói:
- Nếu vậy ông ta là một lão tiên sinh mà ta không biết nên thất lễ.
Nói rồi cho mời Lý Nhược Thủy ở lại dinh quân sư khoản đãi, mặc dầu lúc ấy trời đã tối.
Hôm sau Ngột Truật ra trướng cho gọi Trương Bang Xương đến hỏi:
- Nay còn phải làm gì nữa?
Trương Bang Xương nói:
- Thần đã hứa với chúa công, lẽ đâu dám chẳng hết lòng. Thần còn muốn đem cả nhị đế dâng cho chúa công nữa cơ.
Ngột Truật nói:
- Được như vậy thì gay lắm nhưng phải làm thế nào?
Trương Bang Xương kề tai Ngột Truật nói nhỏ:
- Bây giờ phải làm như vậy…như vậy!
Ngột Truật gật đầu lia lịa rồi y kế Trương Bang Xương mà làm.
Bang Xương trở về thành ra mắt Khâm Tông và nói:
- Hôm qua thần qua bên dinh Xương Bình Vương Ngột Truật vì trời tối nên nghị việc không kịp phải nghỉ lại đó. Nay Ngột Truật lại bảo rằng Khương Vương tuy là một vị thân vương song cũng chưa đủ, chúng còn muốn giữ cái bài vị của Tiên Vương năm đời chúng mới chịu. Thần thiết nghĩ, giữ lại cái bài vị đó cũng chẳng làm cho quân giặc lùi bước được, chi bằng ta cứ tạm giao cho chúng rồi chờ viện binh Cần Vương các tỉnh đến, lúc ấy sẽ tiêu diệt chúng rồi rước bài vị về cũng chẳng hại chi.
Khâm Tông chẳng dám phản đối nhưng rất đau lòng, vừa khóc vừa nói:
- Con cháu quá bất hiếu nên mới để lụy đến Tiên Vương.
Rồi đếnThái Miếu khóc rống lên một hồi, mới trao cho Bang Xương bưng bài vị đi, Bang Xương nói:
- Để tỏ lòng hiếu đạo, Nhị Đế phải thân hành đưa đi vài dặm mới phải lẽ.
Thái thượng hoàng Huy Tông và Khâm Tông đành nghe theo, đưa bài vị ra ngoài thành. Vừa ra khỏi đếu cầu bị quân Phiên áp lại bắt đem về dinh của Ngột Truật, còn Trương Bang Xương thì trở lại giữ thành.
Bắt được Nhị Đế, Ngột Truật vội sai Hấp Mê Xi điểm một trăm binh mã hộ tống Nhị Đế về Đại Kim quốc ở phía bắc.
Lý Nhược Thủy ở trong hay được tin ấy liền gọi Tần Cối dặn dò bảo hộ điện hạ rồi chạu thẳng ra dinh chửi mắng Ngột Truật một hồi rồi quyết đi theo hộ giá nhị đế Huy Tông và Khâm Tông.
Ngột Truật nghĩ thầm: “Lý Nhược Thủy này tính khí quá cương cường, thế nào qua đất bắc cũng bị phụ vương ta sát hại”
Nghĩ đoạn, gọi quân sư Hấp Mê Xi bảo:
- Người này tính cứng cỏi, quân sư phải coi chừng chớ nên giết hắn ta.
Hấp Mê Xi gật đầu đáp:
- Vâng, việc ấy tôi hiểu rồi nhưng còn chúa công cũng nên mau mau lui binh chớ nên vào thành vì e binh mã của Cần Vương chín tỉnh kéo đến chặn đứt đường về thì nguy tai. Chi bằng tạm lui về nước rồi qua mùa xuân sẽ dấy đại binh sang quét sạch nhà Tống, chừng ấy sẽ lên ngôi hoàng đế thống lĩnh cả Trung Nguyên. Chúa công nghĩ thế nào?
Ngột Truật khen phải vội sai Trương Bang Xương giữ thành Biện Kinh rồi đem hết gia thuộc của Tần Cối về Kim Phiên mới truyền lệnh lui binh.
Quân sư Hấp Mê Xi đẫn đoàn quân đi hộ tống Nhị Đế có Lý Nhược Thủy đi theo bảo hộ. Khi đi đến phủ Hà Giang bỗng thấy trước mặt có một tướng quỳ mọp xuống đất tiếp giá, xem kỹ lại thì người ấy chính là Trương Thúc Dạ. Vua tôi nhà Tống trông thấy nhau đều khóc rống lên.Lý Nhược Thủy gằn giọng hỏi:
- Ngươi là đứa gian thần còn đến đây khóc lóc làm gì?
Trương Thúc Dạ phân trần:
- Lý đại nhân chưa rõ đó thôi, việc tôi đầu hàng Phiên Vương chỉ là kế trá hàng. Vì thấy Lục Đăng thủ tiết, Thế Trung bỏ chạy. Trong thế cùng ấy ngoài kế trá hàng tưởng không còn cách nào khác hơn nữa. Tôi cũng tưởng phải dùng hạ sách đó để cứu bá tính khỏi vòng binh lửa để chờ bệ hạ triệu tập binh sĩ Cần Vương ở các tỉnh về tiêu diệt bọn Kim Phiên, tôi sẽ thừa cơ hội ấy chận đường về đánh cho chúng không còn manh giáp. Ngờ đâu sông Hoàng Hà nước bỗng đóng băng, triều đình lại cất chức Lý Can, Tông Trạch, nghe lời đứa gian thần để đến nỗi phải chịu tù đày thế này.
Nói đến đây Trương Thúc Dạ rút gươm giơ lên nói lớn:
- Nay tôi đã bất tài không giúp gì được cho triều đình thì sống cũng chẳng ích gì.
Nói rồi đâm vào cổ tự vẫn. Nhị đế thấy thế khóc rống lên, Khâm Tông nói:
- Bởi trẫm nghe lời đứa nịnh mới ra nông nỗi này.
Lý Nhược Thủy nói với Hấp Mê Xi:
- Ngươi phải chôn Trương Thúc Dạ cho tử tế nhé.
Hấp Mê Xi liền truyền lệnh quân sĩ chôn cất Trương Thúc Dạ rồi áp giải Nhị đế về Phiên.
Đi dọc đường Lý Nhược Thủy lại hỏi Hấp Mê Xi
- Đường đi còn xa lắm không?
Hấp Mê Xi đáp:
- Chẳng còn bao xa nữa, xong Lý tiên sinh qua đó phải ăn nói cho cẩn thận vì mấy vị Vương gia ở bên đó không phải có tính chất thương người như điện hạ Ngột Truật đâu.
Lý Nhược Thủy bĩu môi:
- Ta đi đây đã quyết liều một chết, thì mọi việc có nghĩa gì đối với ta đâu?
Ngày hôm sau Huy Tông và Khâm Tông bị áp giải về đến Hoàng Long phủ, đế đô của Đại Kim quốc. Dân trong nước đua nhau đến xem hai Hoàng đế nhà Tống rất đông. Khi vào đến Ngọ môn, Hấp Mê Xi đứng lại đợi chỉ. Một tên Phiên quan bước vào tâu với Kim Vương Ô Cốt Đạt.
- Nay có Hấp Mê Xi giải hai Hoàng đế nhà Tống là Khâm Tông và Huy Tông về hiện còn đang đứng ngoài Ngọ môn đợi lệnh.
Kim Vương nghe tâu cả mừng liền truyền lệnh cho vào.
Hấp Mê Xi vào triều kiến xong xuôi, đem hết việc hoàng tử Ngột Truật đi đánh Trung Nguyên kể lại rõ ràng và nói:
- Nay hoàng tử sai thần giải Nhị đế Tống Triều về nước để hầu chỉ.
Kim Vương hỏi:
- Vậy nay hoàng tử Ngột Truật còn ở tại đâu?
Hấp Mê Xi tâu:
- Hiện giờ bên Trung Quốc tuy không có Hoàng đế song binh mã chín tỉnh chưa phục nên điện hạ phải tạm lui về nước, người còn đang đi sau, chờ đến mùa xuân tới đây sẽ đem quân tảo thanh nhà Tống và rước chúa công qua đó lên ngôi hoàng đế.
Kim Vương mừng rỡ vội truyền bày yến tiệc ăn mừng, lại sai dẫn Nhị đế nhà Tống vào.
Quân Phiên vâng lệnh ra dẫn nhị đế vào trước Kim giai. Nhị đế vân đứng sừng sững không chịu quỳ. Kim Vương trợn mắt hét:
- Đã bao phen Tống triều sát hại binh tướng của ta, nay bị bắt rồi sao không chịu quỳ còn ương ngạnh sao?
Nhị đế vẫn thản nhiên không chịu khuất phục, Kim Vương bèn truyền quân đem lửa đến đốt chỗ đất trước Ngân An Điện cho thật nóng đồng thời lột hết áo mũ của Nhị đế, cho đội một chiếc mũ da chó, mình mặc áo xanh, phía sau lại bắt mang một cái đuôi chó, trên lưng mang cái trống thiếc, lại buộc thêm sáu cái lục lạc, hai tay cột hai nhành liễu nhỏ. Giày, tất đều lột hết chỉ để chân không.
Giây phút sau lửa nung chỗ đất trước Ngân An Điện đỏ ngầu. Kim Vương sai lính xô Nhị đế vào chỗ đất đốt đỏ ấy. Nhị đế bị nóng bỏng hai chân chịu không nổi phải nhảy lên nhảy xuống, trống cùng lục lạc kêu lên leng keng. Văn võ bá quan triều đình nhà Kim ăn uống vui cười khoái chí như xem một trò chơi.
Thương hại thay cho hai vị Tống trào Hoàng đế bị Kim Phiên bắt ra làm trò cười nhục nhã ấy cũng bởi nghe lời gian nịnh phế bỏ kẻ trung thần nên phải chịu báo ứng.
Lý Nhược Thủy đứng ngoài thấy thế lửa giận bốc lên tận đỉnh đầu, bèn nhảy bổ vào ôm Nhị đế chạy ra ngoài.
Kim Vương thấy vậy hỏi Hấp Mê Xi:
- Người ấy là ai vậy?
Hấp Mê Xi quỳ tâu:
- Tên ấy là Lý Nhược Thủy, một kẻ đại trung thần của nhà Tống đấy. Thái tử Ngột Truật yêu chuộng hắn lắm, sợ chúa công giết chết nên dặn thần phải gìn giữ,nếu hắn bị giết thì kẻ hạ thần phải đền mạng, xin chúa công ban ơn rộng tha cho hắn.
Kim Vương cười ha hả nói:
- Nếu vậy đừng đếm xỉa gì đến hắn.
Hấp Mê Xi tạ ơn, vừa đứng dậy bỗng Lý Nhược Thủy chạy đến trỏ vào mặt Kim Vương mắng lớn:
- Mi là tên chúa mọi tì nô chẳng biết lẽ trời, dám bắt Hoàng đế Trung Nguyên lăng nhục. Cũng có ngày chúng ta đem thiên binh vạn mã đến Huỳnh Long phủ này bắt hết bọn mọi chúng bay và đạp thành bình địa để rửa cái nhục hôm nay.
Lý Nhược Thủy lớn tiếng chửi rủa không ngớt khiến Ô Cốt Đạt nổi giận cho chặt đứt ngón tay Lý Nhược Thủy đi để cho khỏi chỉ trỏ nữa.
Bị đứt mất một ngón tay vẫn không thấy Lý NhượcThủy tỏ vẻ đau đớn gì cả mà lại càng giận dữ hơn nữa. Nhược Thủy lại lấy ngón tay khác chỉ vào mặt Lang chúa mắng tiếp:
- Tên dã man mọi rợ kia, ta tưởng trên đời này không ai ngu hơn mi nữa, mi chỉ cắt đứt được ngón tay của ta chứ làm sao mi cắt được sự giận dữ của ta? Làm sao mi cấm không cho ta chửi mi được.
Kim Vương nổi giận truyền chặt một ngón tay nữa  nhưng Lý Nhược Thủy lại càng mắng chửi thậm tệ hơn. Đến nỗi đã chặt đứt hết mười ngón tay mà Lý Nhược Thủy lại lấy cùi tay chỉ vào mặt Kim chúa la lối nhiếc mắng om sòm.
Giận quá, Kim Vương truyền cắt lưỡi, máu tuôn lai láng mà Lý Nhược Thủy ú ớ mãi, tuy không nghe rõ tiếng gì nhưng người ta cũng hiểu rõ ông ta không chịu im.
Tuy không nói được nữa, Lý Nhược Thủy nổi giận xung thiên, múa tay múa chân nhảy qua nhảy lại trước điện la ó giận dữ. Phiên tướng thấy vậy đều cười rộ lên cho đó cũng là trò vui nhộn, cứ việc ăn uống vui say không thèm đếm xỉa gì đến Nhược Thủy nữa.
Lý Nhược Thủy liền nhảy phóc lên điện môn ôm lấy Kim Vương cắn mạnh vào tai không nhả. Ô Cốt Đạt đau đớn vùng vẫy không nổi. Lúc ấy văn võ bá quan áp đến một lượt ôm Lý Nhược Thủy kéo ra nhưng than ôi, tai Kim Vương đã đứt nằm gọn trong miệng Lý Nhược Thủy rồi. Bọn Phiên tướng liền đemLý Nhược Thủy ra bằm nát như tương.
Người sau có thơ rằng:
Vì vua mắng giặc giữa Phiên triều.
Tay đứt mà lòng chẳng chút xiêu
Cắn tai Lang chúa cho hả giận
Chí khí anh hùng thật đáng nêu.

Bọn Phiên quan tề tựu đến hỏi thăm sức khỏe của Kim Vương còn Hấp Mê Xi thì lo lượm thây Lý Nhược Thủy đựng vào trong cái hộp sơn vàng giấu riêng để đó. Thái y lập tức được gọi đến vào cho thuốc băng bó chiếc tai Kim Vương bị cắn đứt. Kim Vương truyền đem Nhị đế ra nhốt dưới giếng cạn.
Chẳng bao lâu Ngột Truật dẫn đại binh khải hoàn vào triều bái kiến phụ vương và tâu:
- Nhờ hồng phúc và oai vũ của phụ vương nên con đánh thốc vào kinh đô Trung Nguyên dễ dàng như chẻ tre.
Kim Vương khen ngợi Ngột Truật không ngớt vội truyền mở đại yến đãi hoàng tử Ngột Truật cùng chư tướng rồi đem chuyện Lý Nhược Thủy thóa mạ và cắn đứt tai mình cùng việc giết chết Nhược Thủy kể hết cho Ngột Truật nghe. Ngột Truật ra vẻ tiếc rẻ nhân tài cứ hỏi đi hỏi lại việc ấy đôi ba lần.
Khi đại yến đã mãn, Phiên Vương hạ chiếu đến các nước Phiên nhỏ mượn quân, hẹn mùa xuân năm tới sẽ họp tại Huỳnh Long phủ khởi binh vào Trung Nguyên lần thứ hai.
Từ khi nhị vị Tống đế bị cầm tù dưới đáy giếng tại Ngũ Cốc thành đến nay, tai chẳng được nghe tiếng nói của loài người, mắt không trông thấy mọi vật trên đời nữa, lúc nào cũng chỉ thấy một khoảng trời tròn bằng chiếc nia, trong lòng vẫn nuôi hy vọng thoát khỏi chốn tù hãm này nhưng rồi ngày tháng trôi qua, lòng hy vọng mỗi ngày một nhạt đi chỉ còn nỗi thất vọng tràn trề.
Bị cầm tù như vậy còn khổ sở hơn mọi cách cầm tù khác. Hơn nữa những vị đế vương từ nhỏ sống sung sướng đã quen, nay sa vào cảnh này còn khổ sở hơn người dân gấp bội.
Đang lúc thất vọng, bỗng nghe đâu đây có tiếng gọi:
- Bệ hạ! bệ hạ ơi!
Ôi! tiếng gọi ấy bị biến mất đã lâu, nay bỗng dưng lọt vào tai nó êm ái biết dường nào. Lòng hai vị vua thất thế lại bùng lên bao nhiêu hy vọng, vội vàng đáp:
- Ai gọi đó? Có ta đây!
Lại nghe một giọng nói đặc sệt tiếng Trung Nguyên đáp lại một cách vui mừng và quyến luyến lạ thường.
Người đứng trên miệng giếng, chõ miệng gọi xuống ấy chính là Thôi Hiếu, tổng binh Đại Châu Nhạn Môn quan ngày xưa. Nhưng sao người ấy lại ở bên Kim Phiên mà lại được hân hạnh vào chốn giam cầm hai vua Tống?
Nguyên mười tám năm về trước cũng thuộc đời Tống, quân Phiên đến hãm thành Nhạn Môn quan, bắt tổng binh Thôi Hiếu về nước. Bởi Thôi Hiếu có nghề cho thuốc ngựa rất hay nên binh tướng Phiên tin dùng.
Mười tám năm chuyên nghề làm thuốc cho ngựa trong các dinh quân Phiên nên bọn tướng sĩ Phiên ai nấy đều biết mặt.
Một hôm Thôi Hiếu đang trị bệnh ngựa trong dinh, nghe lỏm được tin Kim Vương bắt nhị vị Tống đế đem giam cầm dưới giếng cạn tại Ngũ Cốc thành. Thôi Hiếu vội về lấy hai cái áo da cừu, nướng ít chục cân khô bò gói lại tử tế, lại cầm theo vài sợi dây da đi thẳng đến Ngũ Cốc thành cười nói với quân canh:
- Tôi mới nghe chúa cũ của tôi bị giam cầm nơi đây, nên muốn vào thăm giây lát để tỏ lòng ngay cùng chúa cũ, xin chư vị hãy vui lòng cho phép tôi vào một tí nhé.
Quân canh nghe Thôi Hiếu nói vậy mỉm cười đáp:
- Cũng được nhưng vào một lát rồi trở ra ngay chớ có ở lâu đấy. Ngươi thường cho thuốc chữa ngựa giùm cho chúng ta mới được vậy, chớ người khác thì không được đâu.
Vừa nói vừa mở cửa thành cho Thôi Hiếu vào. Thôi Hiếu quay lại nói:
- Tôi chẳng dám ở lâu đâu, xin cảm ơn liệt vị.
Vào được Ngũ Cốc thành, Thôi Hiếu chạy khắp các miệng giếng kêu gọi chúa om sòm. Ở đây giếng cạn nhiều quá kêu gọi muốn đứt hơi, chạy đã mỏi gối mà vẫn chưa tìm ra cái giếng giam nhốt Nhị đế. Ông lão trung thần này chạy kiếm suốt nửa ngày chưa ra, mệt quá lăn ra đất nằm nghỉ. Trong lúc đang thiu thiu bỗng nghe đâu đây có tiếng nói rất khẽ:
- “Này Vươnt tử”
Thôi Hiếu chỗi dậy lắng tai nghe kỹ thì tiếng ấy phát ra gần lắm, lão ta lầm bầm:
- “Thôi đích là Nhị đế ở dưới giếng kia rồi”.
Rồi Thôi Hiếu lật đật chạy lại kề miệng xuống gọi:
- “Bệ hạ ôi! bệ hạ ôi!”.
Vừa nghe tiếng vua đáp, Thôi Hiếu mừng quá không đợi vua hỏi đã nói:
- Muôn tâu bệ hạ, thần đây chính là Đại Châu Nhạn Môn quan tổng binh ngày xưa tên là Thôi Hiếu đây.
Ngừng một lát, Thôi Hiếu tiếp:
- Nghe Nhị đế bị giam cầm nơi đây lòng thần lấy làm đau đớn nhưng vì ở đất khách quê người nên chẳng có chi đem dâng cho thánh thượng, chỉ có ít chục cân khô bò nướng vàng và hai cái áo lông cừu để thánh thượng ngự hàn. Hạ thần cầu xin cho thánh thượng được giữ yên quý thể.
Nói xong buộc áo và khô bò vào chiết dây da dòng xuống giếng.
Hai vị Tống đế mở dây nhận lấy và phán khen:
- Đã mười mấy năm mà lòng không quên vua cũ, thật ít ai có tấm lòng chung thủy như khanh vậy.
Thôi Hiếu lại hỏi:
- Chăng hay bây giờ bên nước còn ai lên ngôi kế vị cho thánh thượng không?
Hai vị Tống đế đáp:
- Bởi quá tin đứa gian thần Trương Bang Xương nên bị nó thi hành quỷ kế mãi quốc cầu vinh, lừa Triệu Vương đến dinh Phiên cho bỏ mạng. Trong triều chỉ còn có Cửu điện hạ Khương Vương cũng bị nó bày mưu dâng cho Ngột Truật làm con tin. Cuối cùng nó gạt bắt cả hai ta qua đây. Bây giờ trong nước không còn ai kế vị cả.
Thôi Hiếu nghe nói tỏ ý mừng thầm nói:
- Nếu có Cửu điện hạ ở theo dinh Ngột Truật thì cúi xin chúa thượng thảo cho một bức thư để hạ thần đi tìm Cửu điện hạ. Nếu như lòng trời còn thương nhà Tống thì chắc có thể gặp người. Lúc ấy hạ thần sẽ lập kế cho người trốn về nước lên ngôi, sau đó sẽ điều binh chín tỉnh đến đây ra sức cứu chúa thượng trở về nước.
Hai vị Tống đế than:
- Bị giam cầm dưới đáy giếng như vậy thì giấy bút đâu mà bảo có gia thảo chiếu?
Thôi Hiếu nói:
- Thần cam chịu tội muôn chết, xin Nhị chúa công cho thần vô lễ tấu một điều.
- Điều gì ngươi cứ việc tâu ra xem nào?
- Xin chúa công phải thảo huyết chiếu mới được.
Nhị vị Tống đế nghe nói tủi lòng khóc tức tưởi một hồi rồi xé vạt áo trải lên gối, cắn đầu ngón tay cho chảy máu viết ra một bức huyết chiếu như sau:
- “Ta sai Khương Vương phải tìm cách trốn về nước lên ngôi đế, chỉnh tu sơn hà xã tắc cho khỏi dứt nghiệp đế do tiên vương để lại”.
Huyết chiếu thảo xong, vội cuốn buộc vào dây da bảo Thôi Hiếu rút lên.
Thôi Hiếu xem xong huyết chiếu liền giấu kín vào vạt áo trong, đoạn khóc than một cách thảm thiết. Lão trung thần Thôi Hiếu trước khi đi không quên cúi lạy mấy lạy giã biệt. Nhị vị Tống đế dòm lên thấy thế cũng mủi lòng khóc rống lên nói:
- Hôm nay cha con cô gia phải sa vào chốn này chẳng thấy được một ai, may khanh có lòng trung nghĩa tìm đến đây, cha con cô gia xem như thể ruột rà chí thích. Nhưng gặp nhau than thở chưa được bao lâu, lẽ nào khanh đành dời gót vội thế? Để cho cha con trẫm ngày đêm vò võ thế này, thật quá đỗi đoạn trường chịu sao cho thấu?
Thôi Hiếu cũng sụt sùi tâu:
- Cúi xin nhị vị chúa công giảm bớt cơn phiền lụy, phải dằn lòng sầu não để bảo trọng mình rồng chờ cơ hội. Kẻ hạ thần này còn sống ở đây được ngày nào thì nhất định tìm cách đến thăm viếng chúa thượng luôn luôn. Xin chúa thượng chớ quá lo lắng.
Nói xong bái biệt hai vua ra đi.
Thôi Hiếu đi được ít bước đã thấy bọn quân canh chạy đi tìm la ó om sòm. Vừa gặp Thôi Hiếu chúng nắm áo gằn giọng nói:
- Kìa Thôi Hiếu, ngươi làm gì ở trong này đến nửa ngày, làm chúng ta đi tìm kiếm ngươi khổ muốn chết.
Nói đến đây, tên đầu sỏ ra lệnh:
- Quân sĩ, hãy bắt nó chém quách cho rồi!
Thôi Hiếu hoảng kinh hồn vía, nghĩ bụng: “Mình chết thì cũng chẳng sao nhưng còn huyết chiếu thư của Nhị đế? Biết lấy ai giúp đỡ cho Khương Vương về nước lên ngôi?
Rồi Thôi Hiếu sụp lạy, nức nở:
- Thân già này làm chi nên tội mà các vị đem chém!
o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-05 20:12:57Hoàng Dung>
đánh máy: phuonguyen
hồi thứ hai mươi
Thôi Hiếu dẫn Khương Vương chạy trốn
Ngựa đất chở vua qua Hiệp Giang

Nghe vậy, tên tướng Phiên nạt nộ:
- Ta chỉ cho ngươi vào một lát thôi, sao ngươi ở trong ấy hơn nửa ngày còn chưa chịu ra làm khổ chúng ta đi tìm ngươi khắp nơi. Nếu chuyện này đến tai chúa công thì không chỉ đầu ngươi mà cả đầu bọn ta cũng lìa khỏi cổ.
Thôi Hiếu làm ra vẻ lễ phép vái lia vái lịa rồi chắp tay thưa:
- Xin liệt vị hãy xem thử, giếng cạn ở đây nhiều như thế này thì tôi tài nào tìm ra được chúa cũ tôi bị giam trong giếng nào? Vì vậy tôi phải đi tìm khắp nơi nên mới lâu như vậy. Vả lại tôi già cả lụm cụm như vầy làm sao đi cho mau được? Xin liệt vị cũng nên xét kỹ dung thứ cho già này một phen. Nếu giết chết tôi đi thì còn ai chữa ngựa cho liệt vị?
Thôi Hiếu nói một hồi lại xá lia lịa nên chúng không nỡ giết và nói:
- Chúng ta nghĩ tình tha cho ngươi lần này. Thôi từ nay trở đi không cho ngươi bén mảng đến đây nữa, nếu trái lệnh chúng ta sẽ giết chết không tha nữa đâu.
Thôi Hiếu cảm tạ lia lịa và lui ra khỏi thành chạy riết về nhà.
Rồi bắt đầu từ hôm ấy, mỗi lần vào dinh cho thuốc ngựa,Thôi Hiếu lại cố ý tìm cho ra tung tích Khương Vương.
Lại nhắc đến Ngột Truật ngày đêm thao luyện binh mã thì thấy tiết xuân đã đến rồi. Vào lúc tháng hai, Ngột Truật kiểm điểm năm mươi vạn binh mã hiệp cùng các nước tiểu Phiên rầm rộ kéo qua đánh Tống.
Lần đi đánh Trung Nguyên này là lần thứ hai, quân kéo đi đến trung tuần tháng tư mới đến Lộ An Châu.
Sở dĩ chuyến này đi lâu là vì dọc đường còn săn bắn chơi bời cho thỏa thích.
Khi đến Lộ An Châu, Ngột Truật bèn thuật lại việc Lục Tiết Đạt hy sinh vì nước cho mấy vị điện hạ nghe. Ai nấy đều thương tiếc cho vị anh hùng chẳng cùng.
Khi đến Lưỡng Lang quan, Ngột Truật lại nhắc việc sét đánh Tam Sơn khẩu vẹt đường cho quân Phiên kéo vào một cách bình yên vô sự. Mấy vị điện hạ đều nói:
- Ấy là chúa ta phúc lớn nên trời mới khiến như vậy.
Khi đến phủ Hà Giang, Ngột Truật bèn truyền lệnh đóng quân ngoài thành không cho nhiễu nhương bá tính vì sợ phụ lòng Trương Thúc Dạ.
Qua mấy ngày sau đã đến sông Hoàng Hà nhằm lúc trung tuần tháng sáu, khí trời nóng bức. Ngột Truật truyền cho binh sĩ đóng binh dọc theo sông tạm nghỉ, chờ cho khí trời mát mẻ rồi mới qua sông.
Thời gian qua nhanh, chẳng bao lâu đã đến rằm tháng bảy, Ngột Truật truyền quân xây một tòa Lư Bồng, làm thịt heo, dê, gà, vịt quay qua phía Bắc tế tự tổ tiên.
Lễ vật sắm sửa sẵn sàng, các vị vương gia đều họp nhau chờ đợi, bỗng thấy Ngột Ttuật cưỡi ngựa Hỏa Long Cu, phía sau có mấy vị Vương tử, thảy đều mặc áo đại hồng, bêntả mang cung, bên hữu đeo tên, mình cưỡi sa mã, đầu đội thúc phát tử kim quang có giắt hai cây lông trĩ rẽ làm hai còn Thôi Hiếu thì cũng lúc nhúc chạy theo sau lẫn lộn trong đám quân hầu.
Sở dĩ có mặt Thôi Hiếu ở đây là vì từ khi Thôi Hiếu dò được tin tức Khương Vương nên cố theo sát không rời, chờ cơ hội để hành động.
Con tuấn mã của Khương Vương đang chạy bỗng vấp quỵ hai chân trước ngã nhào xuống. Khương Vương vội siết chặt cương lại. Nhờ vậy mà con ngựa nương thế đứng dậy được, Ngột Truật nhìn lại thấy thế lên tiếng khen:
- Vương nhi cưỡi ngựa giỏi thật.
Ngờ đâu khi con ngựa vấp ngã đã làm cho cung tên của Khương Vương đều rơi xuống đất, Thôi Hiếu ở sau vội chạy đến nhặt rồi hai tay dâng lên nói:
- Xin điện hạ thu lấy.
Ngột Truật nghe Thôi Hiếu nói tiếng Trung Nguyên rành rõi liền hỏi:
- Ngươi là ai vậy?
Thôi Hiếu quỳ xuống trước đầu ngựa bẩm:
- Thần là Thôi Hiếu chính là người Trung Nguyên, nhân qua làm thuốc ngựa cho chúa công đã mười chín năm trời rồi.
Ngột Truật gật đầu ra vẻ hài lòng:
- Ngươi già cả mà ăn ở trung hậu, vậy ta cho ngươi đi theo phục dịch điện hạ, lúc nào ta lấy được giang san nhà Tống, ta sẽ phong cho người làm quan lớn.
Thôi Hiếu cúi đầu tạ ơn.
Khi ra đến chỗ Lư Bồng, Khương Vương xuống ngựa làm lễ ra mắt mấy vị Vương bá, Vương thúc, sau đó Ngột Truật hướng về phía bắc làm lễ tế tự tổ tiên.
Tế rồi đem nhau về dinh ăn uống. Mấy vị Vương tử cùng các vị Bình Chương ăn uống chuyện trò vui vẻ, duy có Khương Vương cứ cúi đầu thầm nghĩ:
- “Bọn Phiên nô dã man mà chúng còn biết phụng thờ tổ tiên, còn ta đây, Nhị đế bị giam cầm còn tôn miếu thì hư nát. Hoàng thiên ôi: nếu chẳng giúp tôi hàn gắn lại thì đau đớn biết chừng nào”.
Ngột Truật đang ăn uống vui vầy chợt thấy Khương Vương sa nước mắt và không muốn ăn bèn hỏi:
- Sao Vương nhi không ăn uống gì cả vậy?
Thôi Hiếu nghe hỏi liền quỳ xuống tâu:
- Lúc nãy điện hạ bị ngã ngựa giật mình, bây giờ lại đau bụng, trong mình không yên nên không muốn ăn uống gì cả.
Ngột Truật bảo Thôi Hiếu:
- Thế thì ngươi hãy mau mau phò điện hạ ngươi vào dinh dưỡng bệnh.
Thôi Hiếu lĩnh mệnh phò Khương Vương về dinh, Khương Vương vào trướng than khóc thảm thiết. Thôi Hiếu vội ra sau trướng nói với bọn lính Phiên:
- Hôm nay trong mình Điện hạ chẳng yên, các ngươi khỏi cần hầu hạ, hãy đi ra ngoài chơi cho điện hạ nghỉ.
Bọn lính Phiên mừng rỡ chạy ra ngoài chơi hết. Thôi Hiếu nhìn trước sau thấy không còn ai nữa liền đến gần nói:
- Có chiếu chỉ của Nhị đế, điện hạ hãy quỳ xuống mà nghênh tiếp.
Khương Vương nghe nói có chiếu chỉ vội vàng quỳ xuống. Thôi Hiếu vội lấy bức huyết chiếu ra dâng cho Khương Vương, Khương Vương tiếp lấy giở ra xem.
Xem xong, Khương Vương lại còn bi thảm hơn nữa. Còn đang khóc lóc bỗng nghe tiểu Phiên vào phi báo:
- Có chúa công đến.
Khương Vương vội vã giấu bức huyết chiếu vào mình rồi bước ra nghênh tiếp. Ngột Truật vào trướng ngồi xong cất tiếng hỏi:
- Trong mình Vương nhi thấy đã đỡ chưa?
Khương Vương đáp:
- Cám ơn Vương phụ đã có lòng đoái tưởng, hiện giờ trong mình con đã khá rồi.
Trong lúc đang chuyện vãn, bỗng thấy trên không có một con chim vóc lớn bằng con gà mái , lông năm sắc đỗ xuống trước dinh kêu the thé:
- “Triệu Cấu, Triệu Cấu! Lúc này chưa chạy còn đợi lúc nào?”
Thôi Hiếu nghe thất kinh còn Ngột Truật không hiểu chi hết, vội hỏi:
Con chim ấy nó nói chi vậy? Từ trước đến nay ta chưa từng thấy con chim nào biết nói và lại nói tiếng Trung Nguyên nữa chứ.
Khương Vương đáp:
- Ấy là quái điểu bên Trung Quốc thường có, nó tên là ? nha, hễ thấy nó thì là điềm không tốt, nay nó lại đến đây chửi phụ vương thật là vô lễ.
Ngột Truật lại hỏi:
- Nó chửi thế nào?
Khương Vương lắc đầu:
- Dạ con không dám nói.
Ngột Truật giải thích:
- Ấy đâu phải là lỗi của Vương Nhi? Con cứ việc nói có việc gì mà ngại?
Khương Vương đáp:
- Nó chửi phụ vương  rằng: loài nghiệt súc, loài nghiệt cẩu, cắt họng, chém đầu cũng đáng lắm.
Ngột Truật nổi giận nói:
- Để ta cho nó một mũi tên chết phắt cho rồi.
Khương Vương nói:
- Xin phụ vương để cho con bắn cho.
- Được lắm, vậy thì con hãy bắn đi, để cha xem tài thiện xạ của con đến mức nào.
Khương Vương đứng dậy lầm rầm khấn vái:
- “Quả như trời đất chưa dứt nhà Tống, đã khiến con chim đến dắt tôi đi thì hãy cho tôi bắn trúng con chim này.”
Vái rồi giương cung bắn một mũi, con chim há miệng ngậm phứt mũi tên bay đi. Thôi Hiếu liền dắt ngựa đến bẩm:
- Điện hạ hãy theo nó cho mau.
Khương Vương không còn nghĩ ngợi gì nữa, vội tung mình nhảy lên lưng ngựa chạy theo thần điểu. Thôi Hiếu cầm roi chạy theo sau, gặp phải bụi bờ cũng sải bước nhảy qua. Còn Ngột Truật ngồi trong trướng thấy Khương Vương rượt theo con chim chạy như bay, bèn lẩm bẩm một mình:
- Con ta dại quá, đáng giá gì một mũi tên mà chạy theo chi cho mệt.
Dứt lời liền trở về dinh ngồi ăn uống vui chơi với mấy vị vương tử. Bỗng có quan Bình Chương vào báo:
- Điện hạ cưỡi ngựa phi nhanh quá làm ngã hết mấy cái trướng phòng.
Ngột Truật nạt lớn:
- Việc như vậy mà cũng đến cấp báo làm rộn lên làm gì.
Bình Chương nghe quở mắng chẳng dám nói thêm, cúi đầu lui ra lập tức. Mấy vị Vương tử thấy Ngột Truật thương yêu Khương Vương như vậy trong lòng không phục. Xương Bình Vương bèn lên tiếng nói:
- Trướng phòng hư hại chẳng nói làm chi, ngặt vì Vương nhi tuổi còn thơ ấu cưỡi ngựa chưa quen, nếu rủi ro té ngã thì biết làm sao.
Ngột Truật cười đáp:
- Vương huynh nói rất phải, vậy để đệ ra coi thế nào.
Ngột Truật vội vàng nhảy lên lưng Hỏa Long Cu phóng như bay ra ngoài hỏi bọn lính Phiên:
- Chúng bay thấy Vương nhi chạy đi ngả nào?
Bọn lính Phiên bẩm:
- Chúng tôi thấy điện hạ ra khỏi dinh rồi chạy đi thẳng không biết đi đâu.
Ngột Truật nghe nói vội giục ngựa chạy theo. Con Hỏa Long Cu của Ngột Truật chạy nhanh lắm. Chỉ trong chốc lát Ngột Truật đã thấy xa xa có bóng người phi ngựa và Thôi Hiếu chạy sau không kịp mệt thở hổn hển.
Ngột Truật nghĩ thầm:
- “Chắc lão già này nói to nói nhỏ gì với nó rồi nên nó mới đi như vậy. Nhưng sao nó lại dại khờ đến thế? Nay thiên hạ đã thuộc về của ta rồi, chạy đi đâu cho khỏi?”
Ngột Truật giục ngựa sải tới gọi:
- Vương nhi, vương nhi! Sao không trở về, còn chạy đi đâu?
Khương Vương đang chạy bỗng nghe Ngột Truật chạy theo gọi lại kinh hồn hoảng vía, ráng sức thúc ngựa chạy nhanh hơn nữa.
Ngột Truật nghĩ thầm:
- “Con ta nó dại quá, thôi để ta bắn chết con ngựa hắn cưỡi xem hắn chạy đi đâu cho được”.
Nghĩ đoạn giương cung nhắm phía sau ngựa bắn tới một mũi. Con ngựa bị tên ngã lăn ném Khương Vương nhào xuống đất. Khương Vương liền lồm cồm đứng dậy chạy bộ.
Ngột Truật thấy thế cười thầm:
- “Ta đã làm cho con ta sợ hết hồn”.
Đang cơn nguy cấp Khương Vương bỗng thấy trong rừng có một ông già bịt khăn vuông, mình mặc áo đạo sĩ, một tay dắt ngựa một tay cầm roi chạy ra kêu lớn:
- Chúa công, chúa công! Hãy lên ngựa cho mau.
Khương Vương tiếp lấy roi ngựa rồi tung mình nhảy lên lưng ngựa ra roi chạy như bay.Ngột Truật thấy thế chỉ vào mặt ông già mắng:
- Lão súc sinh kia, chốc nữa ta trở lại đây ta sẽ giết chết ngươi đấy.
Khương Vương chạy miết đến Hiệp Giang thì trước mặt là con sông rộng mênh mông và sâu thăm thẳm. Nhìn lại phía sau lại thấy Ngột Truật rượt theo cũng đã gần kịp.
Khương Vương cất tiếng than:
- Thế là trời đã hại ta rồi.
Nói chưa dứt lời, con ngựa Khương Vương cưỡi liền giậm chân nhảy ùm xuống sông. Ngột Truật thấy vậy thất kinh chạy riết tới mé sông kiếm tìm không thấy hình bóng Khương Vương đâu cả.
Ngột Truật đinh ninh rằng Khương Vương đã bị chìm chết dưới đáy sông kia rồi, liền khóc rống lên rồi quay lại tìm lão già khi nãy thì không thấy tung tích đâu cả. Đi mấy bước nữa lại thấy Thôi Hiếu tự vẫn chết bên vệ đường, Ngột Truật lại càng thê thảm hơn nữa.
Trở về dinh, mấy vị vương tử đến hỏi thăm, Ngột Truật sa nước mắt thuật lại việc Vương Khương bị rơi xuống nước chết đuối rồi.
Mấy vị Vương tử khuyên giải:
- Nó vô phận bạc phúc nên rủi ro như vậy xin vương huynh chớ có ưu sầu mà hao mòn quý thể.
Nhắc lại Khương Vương, khi con ngựa nhảy ùm xuống sông thì nổi lều phều trên mặt nước mà Ngột Truật không thấy là nhờ có thánh thần bảo hộ lấp che.
Khương Vương ngồi trên lưng ngựa cũng như ngồi trong đám sa mù không dám mở mắt ra chỉ nghe bên tai gió lướt qua ào ào.
Độ một canh giờ sau con ngựa đã vượt khỏi sông nhảy phóc lên bờ cất vó chạy riết một hồi nữa. Khi tới chỗ đám rừng rậm, bỗng con ngựa nghiêng mình trút Khương Vương xuống đất rồi chạy biến vào rừng mất dạng.
Khương Vương nhìn theo ngựa cất tiếng than:
- Thần mã ôi! Ngươi đã có lòng độ ta đến đây, sao ngươi chẳng ráng sức thêm một vài dặm nữa, lại bỏ ta giữa chốn rừng sâu như vậy?
Khương Vương than thở hồi lâu rồi thả bộ đi lần tới mé rừng, bỗng thấy có một tòa cổ miếu phía trước có tấm biển đề năm chữ lớn bằng vàng. Khương Vương lẩm nhẩm đọc:
- “Thôi Phù Quân thần miếu”.
Khương Vương bước vào miếu lại thấy một con ngựa bằng đất hình dạng giống hệt con ngựa chở mình đi khi nãy, mình mẩy lông lá đều ướt đẫm. Khương Vương nghĩ thầm:
- Chẳng lẽ con ngựa này đã đưa ta qua sông được sao? Nghĩ đoạn liền cất tiếng nói:
- Con ngựa này bằng đất mà xuống nước lại không rã hay sao?
Vừa nói dứt lời, bỗng thấy con ngựa rã rời sụm xuống đất nát tan. Thấy thế Khương Vương than thở chẳng cùng rồi bước tới giữa bàn thờ giơ tay lên nói:
- Đội ơn thần hộ mạng đã độ ta qua sông Hiệp Giang. Ta là Triệu Cấu Cửu điện hạ của Tống triều, nếu ta khôi phục được giang sơn nhà Tống, ta sẽ cho người đến đây sửa sang ngôi miếu và tạc tượng bằng vàng thờ phụng để tạ ơn.

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-05 20:16:50Hoàng Dung>
đánh máy: phuonguyen
hồi thứ hai mươi mốt
Tống Cao Tông lên ngôi hoàng đế
Từ nhân tuân chỉ, triệu Nhạc Phi

Chẳng biết vì sao đêm hôm ấy quan huyện Từ Châu Phong là Đô Khoan vùng thức dậy trong lúc canh ba, mở cửa ra công đường. Bọn nha dịch vội vã đốt đèn lên và chạy lăng xăng gọi nhau:
- Lão gia thăng đường!
Một tên thư lại lấy làm lạ bước đến bẩm:
- Giữa đêm khuya thế này mà lão gia thăng đường, chẳng biết có việc cần kíp lắm sao?
Đô Khoan đáp:
- Ta vừa chiêm bao thấy một vị thần xưng là Thôi Phủ Quân đến mách với ta rằng: nay có chân chúa ở tại miếu Thôi Phủ quân nằm ở bờ sông Hiệp Giang và báo ta phải mau mau đến đó tiếp giá. Ngươi có biết miếu Thôi Phủ quân ở đâu không?
Ngẫm nghĩ giây lâu, tên thư lại đáp:
- Chỉ vì lão gia quá tâm niệm đến hoàng thượng nên mới sinh ra chiêm bao như vậy, chứ ở đây con chưa hề nghe nói đến cái miếu ấy bao giờ?
Đô Khoan lại hỏi hết bọn nha dịch cũng không ai biết được nên rơi nước mắt nói:
- Nước mà không có vua thì bá tính đảo điên, biết liệu làm sao đây?
Rồi Đô Khoan gọi tên Môn Tử lên bảo:
- Hãy đem trà cho ta uống.
Môn Tử vâng dạ chạy xuống phòng trà thì đã thấy Thái Mậu đang cặm cụi đun nước pha trà, Môn Tử bảo:
- Kìa lão Thái, hãy pha trà nhanh lên cho lão gia uống.
Thái Mậu đáp:
- Có đây, nước đã gần sôi rồi. Ồ, sao hôm nay quan huyện lại thăng đường trong đem khuya thế này?
Môn Tử nói:
- Thật buồn cười, chỉ vì có một điềm chiêm bao mà tất cả đều mất ngủ.
Thái Mậu tò mò:
- Chiêm bao gì, ngươi có rõ không?
Môn tử vừa cười vừa nói:
- Ngài thấy cái ông Thôi Phủ Quân nào đó đến bảo ngài đi tiếp giá, nên ngài đang hỏi thăm cái miếu Thôi Phủ Quân, nhưng cái miếu lạ lùng ấy ai mà biết được? Bây giờ ngài khóc tức tưởi trên ấy mới lạ chứ.
Thái Mậu đáp:
- Miếu Thôi Phủ Quân thì ta biết nhưng xa giá ở đâu đó mà tiếp? Đó chỉ là chiêm bao mộng mị thôi.
Thái Mậu pha trà xong trao cho Môn Tử bưng lên và dặn:
- Ngươi lên trên ấy đừng bảo ta có biết miếu Thôi Phủ Quân mà mất công, cứ việc làm thinh đem trà cho ngài uống để ngài ngủ phứt đi cho chúng ta nhờ.
Môn Tử bưng trà vừa đi vừa cười thầm. Lên đến công đường quan huyện thấy hắn cười chúm chím liền nạt lớn:
- Có việc gì mà cười hả? ngươi cười ta sao?
Môn Tử sợ hãi bẩm:
- Dạ con đâu dám cười ngài, chỉ vì lão Thái Mậu pha trà ấy biết cái miếu ông Thôi Phủ Quân mà lại dặn con đừng nói với lão gia nên con thấy buốn cười.
Đô Khoan xoe tròn đôi mắt:
- Mi bảo sao? Có phải mi bảo tên Thái Mậu biết cái miếu Thôi Phủ Quân không? Hãy gọi hắn lên đây mau.
Môn Tử chạy thẳng xuống bếp trách móc:
- Cũng tại ngươi làm cho ta tức cười mà sinh chuyện, tí nữa là bị đánh đòn rồi. Bây giờ lão gia đòi ngươi lên bảo gì trên ấy, ngươi phải lên nagy đi.
Thái Mậu nghe nói, trống ngực đập thình thịch vội ra công đường quỳ mọp. Đô Khoan quát:
- Tên khốn kia, ngươi đã biết miếu Thôi Phủ Quân sao ngươi lại dặn Môn Tử đừng nói cho ta biết?
Thái Mậu lễ phép đáp:
- Thưa lão gia, chẳng phải tôi không muốn nói song vì cái miếu ấy lâu đời hư hỏng cả rồi nên tôi không dám nói.
Đô Khoan cau mày:
- Ngươi lẩn thẩn quá. Ta muốn tìm cái miếu ấy thôi chứ có hỏi cái miếu tốt hay xấu đâu nào.
Thái Mậu lại nói:
- Quê quán tổ phụ tôi ở gần sông Hiệp Giang nên biết rõ cách Hiệp Giang chừng năm dặm có một cái miếu Thôi Phủ Quân nhưng đã lâu đời hư nát, tôi chỉ sợ trong thành này có cái miếu Thôi Phủ Quân nào khác nên tôi không dám nói. Sáng mai lão gia tra hỏi khắp nơi thì rõ.
Đô Khoan nói:
- Thần minh mách bảo với ta rằng: chân chúa dưới sông lánh nạn lên, nên y phục còn ướt, nay cái miếu mi nói lại gần sông thì chắc là đúng đấy. Hãy bảo thắng ngựa đốt đèn lên và dẫn ta đến đó ngay lập tức.
Quan huyện lại sai Môn Tử lấy ra một bộ y phục cùng giày mũ đem theo rồi cùng Thái Mậu ra khỏi thành nhắm hướng Hiệp Giang thẳng tới.
Đi được hồi lâu, Thái Mậu chỉ vào đám rừng nói:
- Miếu Thôi Phủ Quân gần mé rừng này đây.
Đếnnơi, quan huyện Đô Khoan bảo kẻ tuỳ tùng ở ngoài ngồi chờ và phải im lặng, đoạn dắt Môn Tử bước vào, tìm khắp miếu mà chẳng thấy một ai. Đô Khoan lại bảo Môn Tử vén màn lên để xem tấm thần vị.
Môn Tử vừa vén màn chợt thấy hai cái lông trĩ, hắn hoảng hốt chạy lui ra la lớn:
- Lão gia, lão gia. Trong kia có yêu quái chớ nên vào.
Khương Vương đang ngủ, nghe tiếng kêu giật mình ngồi phắt dậy rút dao cầm nơi tay hét lớn:
- Ai dám đến đây, muốn làm gì ta?
Đô Khoan vội quỳ xuống nói:
- Xin chúa công chớ nghi oan, quả thật chúng thần tìm đến đây để tiếp giá.
Khương Vương hỏi:
- Ngươi là ai mà lại bảo đến đây tiếp giá?
Đô Khoan nói:
- Thần là tri huyện Từ Châu Phong tên Đô Khoan, nhờ ơn thần linh mách bảo cho thần đến đây tiếp giá.
Khương Vương mừng rỡ nói:
- Tuy thần thánh mách bảo song khanh cũng có lòng trung nghĩa lặn lội đến đây, ta rất lấy làm cảm kích.
Đô Khoan vội gọi kẻ tùy tùng mang y phục vào cho Khương Vương thay. Đoạn hai người dắt nhau ra khỏi cửa miếu. Đô Khoan mời Khương Vương lên ngựa, còn mình và kẻ tùy tùng đều đi bộ theo sau phò tá.
Về đến huyện đường, Đô Khoan mời Khương Vương lên ngồi và làm đại lễ. Sau đó một mặt lo dâng cơm rượu, một mặt lo tổ chức binh mã chu đáo để giữ thành.
Khương Vương hỏi:
- Tại đây binh mã được bao nhiêu?
Đô Khoan tâu:
- Ở đây chỉ có độ ba trăm kỵ binh và ba trăm lính bộ mà thôi.
Khương Vương nói:
- Nếu như quân Phiên kéo đến thì sao?
Đô Khoan nói:
- Xin chúa công hãy phát lệnh chỉ, ra lệnh cho các nẻo, đồng thời treo bảng chiêu mộ hào kiệt bốn phương. Vì lòng người vẫn còn nhớ đến nhà Tống, thấy thế thì ắt đến.
Còn đang bàn bạc, bỗng nghe quân vào báo:
- Có Vương nguyên soái dẫn ba nghìn quân đến bảo giá nhưng chưa có thánh chỉ nên chưa dám vào.
Khương Vương nghe nói vội truyền cho vào ngay.
Nguyên soái Vương Uyên vào đến huyện đường, chúa tôi thấy nhau cùng khóc rống lên một hồi, Khương Vương cho phép Vương Uyên ngồi và hỏi:
- Tại sao khanh biết có ta ở đây?
Vương Uyên nói:
- Cách đây mấy hôm, thần có nằm chiêm bao thấy một vị thần xưng là Đông Hớn Thôi Tử mách bảo cho đến đây hộ giá thánh thượng, ngờ đâu quả thật có chúa công tại đây.
Còn đang chuyện vãn, bỗng có quân vào bẩm:
- Có Kim Lăng Trương nguyên soái dẫn năm nghìn quân đến bảo giá còn đang ở ngoài thành đợi chỉ. Khương Vương cho gọi vào.
Trương nguyên soái phục lạy Khương Vương rồi đứng dậy ra mắt Vương Uyên và Đô Khoan. Khương Vương cho ngồi rồi ngắm nghía thấy Vương Uyên tướng mạo khác phàm còn Trương Sở tuổi đã bảy mươi mà tướng mạo vẫn còn oai phong lẫm lẫm thì mừng lắm, bèn nói:
- Huyện này rất hẹp thành này lại nhỏ bé, nếu như quân Phiên kéo đến đây biết liệu làm sao?
Vương Uyên tâu:
- Nhị đế còn bị quân Phiên giam cầm ở đất Bắc, không nên bỏ nước một ngày không vua, chúng thần muốn phò chúa công về Biện Kinh lên ngôi rồi triệu tập hết binh mã bốn phương lo khôi phục giang sơn nhà Tống.
Trương Sở nói:
- Biện Kinh đã bị quân Phiên phá nát. Huống chi lại có gian thần Trương Bang Xương lòng dạ sâu hiểm ở đó, chúng ta không nên đem chúa công về đấy.
Ngừng một lát, Trương Sở nói tiếp:
- Tôi thiết tưởng Kim Lăng là chỗ tổ tông thọ mệnh mà lại ở chính giữa thiên hạ tiện đường giao thông, nên đóng đô ở đó.
Khương Vương cho là phải, y theo lời, chọn ngày lành tháng tốt kéo tất cả binh mã đến Kim Lăng. Đi đến đâu, dân chúng đều đem lương thực dâng lên. Những cựu thần nhà Tống được tin cũng vội vã đến bảo giá rất đông.
Về đến Kim Lăng, Khương Vương ở tạm cung Hồng Khách, các quan đều vào triều kiến. Qua ngày mồng một tháng năm Triệu Cấu lên ngôi tại Kim Lăng, lấy hiệu là Cao Tông hoàng đế cải Nguyên là Kiến Viêm, đại xá thiên hạ rồi phát chiếu ra bố cáo trong ngoài, chiêu tập binh mã cần vương bốn phương.
Chỉ trong mấy ngày đã có Triệu Đảnh, Điền Tư Trung, Lý Can và Tông Trạch cùng Tiết Đạt Sứ và Tổng Binh các chỗ đều đem quân đến hộ giá.
Những người này đã sai quan đi khắp các chỗ thôi thúc lương thảo. Cho nên sau đó các nơi lục tục mang lương thực đến rất nhiều.
Trong đám này có một viên quan rất thanh liêm, vẫn là tri huyện Thang Âm tên là Từ Nhân. Lúc nghe tân vương lên ngôi lại nhằm năm mất mùa, lúa gạo đắt như châu ngọc nên bản thân phải đi khắp các làng tìm mấy nhà phú hộ góp được ngàn tạ thóc. Ngài đích thân đem đến Kim Lăng, tìm đến viên môn, cậy quan Trung Quân thưa dùm với Vương nguyên soái.
Quan Trung Quân nói:
- Lúc này nguyên soái mắc việc, chưa đi bẩm được.
Từ Nhân nói:
- Đây là việc đại sự, xin bẩm hộ cho.
Quan Trung Quân đáp:
- Việc của tôi đây cũng chẳng phải nhỏ.
Từ Nhân nghe nói hiểu ý, liền lấy ra sáu phân bạc gói lại tử tế mang đến trước Trung Quân vừa cười vừa nói:
- Chút đỉnh lễ mọn, xin ngài vui lòng làm ơn vào báo dùm cho tôi.
Trung Quân tiếp lấy nhưng thấy gói bạc nhẹ quá biết chẳng có bao nhiêu nên đổi sắc mặt, ném ngay xuống đất nói:
- Mười phần chưa được một.
Chỉ nói bấy nhiêu rồi quay ngoắt đi vào, chẳng thèm đếm xỉa đến Từ Nhân nữa.
Quan huyện Từ Nhân cúi lượm gói bạc lên và nói:
- Hèn chi triều đình bị khổ sở cũng phải. Chẳng nói chi những đứa gian thần, quan lớn, đến như một đứa Trung Quân mà còn như vậy thì quả là vô cùng thối nát đáng giận vô cùng. Nhất định việc này ta không thể làm thinh, ta sẽ không cần mi mà cũng có thể gặp được nguyên soái cho mà xem.
Nói rồi liền lấy roi ngựa bước đến gióng trống lên vang dậy. Vương nguyên soái ở trong nghe trống đánh liên hồi, không biết việc gì liền ra ngồi giữa công đường, sai quan kỳ bài ra xem ai đánh trống hoặc có điều gì khiếu nại?
Quan kỳ bài vâng lệnh ra đòi Từ Nhân. Từ Nhân không một chút sợ hãi cứ việc mạnh dạn theo kỳ bài quan vào đến công đường quỳ xuống bẩm:
- Tôi là tri huyện Thang Âm tên Từ Nhân, đem lễ một ngàn tạ thóc đến dâng chúa công.
Vừa nói vừa lấy bổn chương dâng lên. Vương nguyên soái xem qua cả mừng nhưng lại nói:
- Quý huyện giải lương đến đây tuy là việc cả song phải nói với Trung Quân bẩm lại với bản chức chứ không thể tự tiện đánh trống như vậy được. May bản chức biết rõ ngài là một vị thanh quan chứ như người khác thì phải tội rồi.
Từ Nhân thưa:
- Vì Trung Quân thấy hạ quan đi lễ có sáu chỉ bạc nên mới chê ít ném bạc xuống đất, không chịu bẩm giùm. Hạ quan đợi lâu quá sợ trễ việc nên mới cả gan đánh trống như vậy, xin nguyên soái thứ tội.
Vương nguyên soái nghe nói cả giận bèn sai gọi tên quan Trung Quân bảo dẫn đem đi chém.
Từ Nhân thấy thế quỳ bẩm:
- Nếu giết hắn ta thì ắt hạ quan phải mang lấy oan cừu, vậy mong nguyên soái ra ơn tha hắn một phen.
Nguêyn soái nói:
- Ngài hãy đứng dậy. Nay ngài đã xin tôi cũng nể lòng dung tội chết cho hắn.
Tuy tha chết cho viên Trung Quân nhưng nguyên soái cũng truyền quân bắt đánh mấy chục roi rồi đuổi ra ngay. Nguyên soái lại lấy ra năm chục lượng bạc cho quan huyện để làmlộ phí đi đường.
Từ Nhân tạ ơn và cao biệt nguyên soái, đi ra khỏi Viên môn tung mình lên ngựa thẳng về Thang Âm.
Khi Từ Nhân đi rồi, Vương nguyên soái liền nhớ lại một việc vội gọi kỳ bài quan căn dặn:
- Ngươi hãy đuổi theo mời Từ tri huyện lại đây cho ta nói chuyện.
Ngờ đâu tên kỳ bài quan này có hơi lãng tai nên nghe lầm, tưởng lại chạy theo bắt lại cho mau. Hắn mừng rỡ vô cùng vì có dịp để hắn trả thù cho Trung Quân.
Tên kỳ bài hầm hầm mặt giận lên ngựa chạy tuốt ra khỏi viên môn gọi lớn:
- Từ tri huyện khoan đi đã, nguyên soái dạy theo bắt ngài.
Vừa nói, kỳ bài quan vừa nắm áo kéo lại. Ngờ đâu chiếc áo Từ Nhân đã cũ thành thử rách toác làm đôi.
Từ Nhân giận quá quay ngựa lại, chạy riết đến cửa Viên môn chẳng thèm đợi lệnh, đi thẳng vào đại đường, lột mũ xuống ném trước mặt Vương nguyên soái:
Vương nguyên soái thấy thế thất kinh hỏi:
- Tại sao ngài có thái độ dị kỳ vậy?
Từ Nhân đáp:
- Tôi dầm sưong giãi nắng giải lương đến đây cực khổ biết dường nào? Mong ơn ngài đã cho bấy nhiêu tiền lộ phí, tại sao ngài lại sai kỳ bài quan đuổi theo bắt tôi? Làm cho cái áo tôi rách toang xấu hổ thế này. Thế thì cái mũ còn để làm gì không ném luôn?
Nguyên soái nghe nói cả giận bèn gọi tên kỳ bài quan vào quở mắng:
- Ta sai ngươi đi mời Từ tri huyện trở lại đây để có việc cần, sao ngươi lại kéo cho rách áo người như vậy?
Kỳ bài quan cúi đầu vâng dạ đáp:
- Thưa nguyên soái tội tôi đáng chết ngàn lần, vì tôi có tật lãng tai nghe không rõ nên tưởng lão gia bảo đi bắt, phần thì quan huyện đang cưỡi ngựa chạy nhanh, nên tôi mới nắm áo chưa giật đã rách, xin nguyên soái thứ tội.
Nguyên soái nổi giận quát:
- Việc nhỏ mọn chẳng nói chi, nếu như gặp lúc sai đi việc đại sự mà nghe lầm như vậy thì tai hại biết bao nhiêu?
Liền sai tả hữu đem chém quách cho rồi.
Lúc ấy Từ Nhân cảm thương nghĩ thầm:
- Thế thì tên này vì điếc lác nên nghe lầm, chẳng lẽ ta để cho hắn chết sao?
Nghĩ đoạn, bước tới lấy mũ đội lên đầu rồi quỳ xuống nói:
- Bây giờ hạ quan mới biết tại hắn nghe không rõ chứ không hắn cố ý làm điều vô lễ như vậy, hơn nữa mạng người tối trọng, mong nguyên soái nghĩ lại dung tha cho hắn một phen.
Nguyên soái đáp:
- Nếu quý huyện có lòng từ tâm thương hại xin cho nó thì phúc đức cho nó lắm đấy.
Nói rồi truyền quân tha chém nhưng sai đánh bốn chục roi và đuổi đi tức khắc.
Nguyên soái mời quan huyện lại ôn tồn bảo:
- Tôi mời huyện gia trở lại đây chỉ vì có một việc muốn hỏi thăm. Tôi có nghe tại quý huyện có một người hiền sĩ tên là Nhạc Phi, chẳng hay hiện nay người ấy thế nào?
Từ Nhân bẩm:
- Nhạc Phi đã đâm chết Tiểu Lương Vương tại võ trường, công danh không toại chí. Sau đó lại giúp Tông Lưu Thú dẹp lũ cường đạo tại Thái Hành sơn, chúa thượng lại phong cho chàng chức Thừa Tin Lang, chàng không bằng lòng nên mới trở về quê cũ làm ruộng nuôi mẹ.
Nguyên soái bảo:
- Nếu vậy xin ngài tạm ở lại nơi quán dịch nán lại một đêm chờ đến sáng mai vào triều với tôi kiến giá hoàng thượng để bảo cử Nhạc Phi, rồi đón chàng đến đây mà phò mã xã tắc.
Từ Nhân nói:
- Nếu được nguyên soái bảo cử thì mới là không uổng cái tài văn võ song toàn của Nhạc Phi
Nguyên soái sai người đưa Từ tri huyện ra nơi quán dịch và sai người cho dọn cơm rượu tiếp đãi, lại cho một cái mũ, một cặp áo mới và một đôi giày để mai vào triều.
Từ Nhân mừng rỡ lãnh áo mũ và cảm tạ nguyên soái.
Hôm sau, nguyên soái dắt quan huyện Từ Nhân vào triều.
Đi đến cửa Ngọ môn nguyên soái để Từ Nhân đứng lại, một mình vào trước thềm quỳ tâu:
- Nay có Từ Nhân, tri huyện Thang Âm giải lương đến đây, thần có hỏi thăm Nhạc Phi thì y bảo vẫn còn đang ở tại Thang Âm, Nhạc Phi chính là người văn võ song toàn thật xứng đáng là bề tôi trụ cột của triều đình. Cúi xin bệ hạ triệu thỉnh ông ta về đây khuôn phò xã tắc. Vì vậy thần có dắt Từ Nhân vào triều kiến, hiện còn ở tại Ngọ môn hầu chỉ.
Vua Cao Tông nghe tâu vội hỏi:
- Nhạc Phi năm xưa đâm chết Tiểu Lương Vương, sau lại hiệp với ông Tông Lưu Thú trừ được bọn cường đạo Vương Thiện quả có đại công, ngặt vì phụ vương ta nghe lời Trương Bang Xương để cho anh hùng bị mai một. Việc ấy trẫm biết đã lâu, vậy hãy cho triệu tri huyện Từ Nhân vào đây cho ta hỏi.
Từ Nhân nghe có triệu chỉ, vội vã vào triều bái yết.
Vua Cao Tông phán:
- Trẫm biết Nhạc hiền sĩ là người văn võ song tài, cũng bởi bọn gian thần đố kỵ nên chẳng được trọng dụng. Nay trẫm muốn gọi về phò tá quốc gia, ngặt vì trẫm mới lên ngôi báu chẳng lẽ đi xa nên khanh hãy thay mặt cho trẫm đến đó triệu mời Nhạc Phi vào triều.
Nói rồi truyền chỉ giao bức chiếu thư và lễ vật cho Từ Nhân để đón Nhạc Phi, lại ban cho Từ Nhân ba chén ngự tửu. Từ Nhân uống xong từ giã lui ra, lên ngựa thẳng về Thang Âm huyện.
Lại nói đến chuyện Nhạc Phi, từ lúc chàng gặp bọn Thi Toàn trở về nhà mải lo việc tập tành võ nghệ, chuyên đọc binh thư. Ngờ đâu năm ấy bệnh dịch hoành hành, vợ chồng Vương Viên ngoại bạc phước đều qua đời. Vợ chồng Thang Viên ngoại phải sang lo chôn cất lại rủi bị truyền nhiễm ít lâu sau cũng đã mất.
Lúc ấy lại gặp phải mất mùa thóc cao gạo kém, anh em túng bấn thường đi làm quấy để kiếm ăn, nhất là Ngưu Cao thường hay đến các nhà phú hộ cướp của, bà mẹ quở mắng mãi chẳng được lâm bệnh mà chết.
Riêng có vợ chồng Nhạc Phi dầu đói khát cũng cam tâm chịu cảnh thanh bần. Hôm đó Nhạc Phi đang ngồi trong thư phòng xem sách, khi chàng lật xem đến một trang chỉ về phần xem tướng chàng mới biết mình đến năm hai mươi ba tuổi bắt đầu đại phát.
Nhạc Phi nghĩ thầm:
- “Trong quẻ này sách tướng đoán ta đến hai mươi ba tuổi thì vận phát lắm, nhưng nay ta đúng hai mươi ba tuổi rồi mà chẳng thấy ứng nghiệm chi cả, ấy chẳng qua là một phương pháp làm tiền của bọn xem tướng đó thôi”.
Còn đang than thở, bỗng thấy Lý Thị, vợ của Nhạc Phi bưng trà vào và hỏi:
- Tướng công ôi! thiếp nghe nói người quân tử lúc nào cũng an phận thủ thường, cớ sao hôm nay xem tướng công buồn bã như vậy?
Nhạc Phi nói:
- Chỉ vì ta vừa xem một trang sách dạy về phần tướng số bảo rằng số ta năm nay phát đạt lắm, thế mà túng thiếu vẫn hoàn túng thiếu cho nên ta thắc mắc đó thôi.
Lý thị khuyên:
- Thời vận chưa đến thì đành phải đợi vậy, thiếp nghĩ rằng rồng cũng phải có lúc gặp mây chứ.
Nhạc Phi cười khẩy:
- Phải đợi đến bao giờ mới gặp mây?
Vợ chồng đang chuyện vãn, bỗng thấy bà An Nhân bước vào, vợ chồng vội đứng dậy nghênh tiếp. Bà nhìn Nhạc Phi bảo:
- Thời vận chưa đến phải sao chịu vậy, sao con lại trách vợ con?
Nhạc Phi quỳ thưa:
- Chỉ vì con thấy trong sách đoán số dạy không đúng nên con trách là trách thầy tướng chớ nào con có trách vợ con đâu?
Vừa nói đến đây bỗng thấy Nhạc Vân (con Nhạc Phi) đi học vừa về, bước vào phòng thấy cha mình đang quỳ cũng vội để sách vở bước lại quỳ một bên. Quả là hiếu thuận lại sinh con hiếu thuận, hễ cha có hiếu thì sinh con cũng vậy thôi.
Bà An Nhân thấy cháu mới lên bảy tuổi mà quỳ dưới đất nên vội xua tay bảo:
- Cháu hãy đứng dậy.
Nhạc Vân nói:
- Cha cháu đứng dậy thì cháu mới dám đứng dậy.
Khi bà An Nhân dắt dâu và cháu đi rồi, Nhạc Phi ngồi một mình suy nghĩ:
- “Xưa ân sư ta thường căn dặn không nên bỏ trễ việc luyện tập võ nghệ, vậy hôm nay rảnh rang, ta đem thương ngựa ra phía sau tập luyện cho khuây lãng”.
Nghĩ rồi lấy thương, thắng ngựa ra khoảng đất trống phía sau nhà nhưng chưa kịp thao diễn, chợt thấy mấy người em kết nghĩa nai nịt hẳn hoi dắt ngựa tới, nói nói cười cười ra vẻ hân hoan lắm.
Nhạc Phi thấy vậy than thầm:
- Đã bao phen ta khuyên chư đệ không nên làm càn, của phi nghĩa chẳng nên dùng, chẳng biết họ có nghe lời ta không mà hôm nay chúng lại kéo nhau đi đâu vậy?
Nhạc Phi lên tiếng hỏi:
- Mấy chư đệ đi đâu đó?
Cả bọn nín thinh, giây lâu Ngưu Cao mới đáp:
- Thưa đại huynh, túng khổ đói khát quá anh em tôi chịu đã hết nổi nên phải đi kiếm ăn.
Nhạc Phi nghe vậy lấy làm đau đớn trong lòng, bèn khuyên nhủ:
- Ngày xưa ông Khương Tiết Thiện tiên sinh có dạy: hễ người chánh trực không bao giờ có lòng tà, thì coi như luôn luôn được dư giả!
Vương Quới nghe vậy vội ngắt lời nói:
- Đại huynh dạy vậy thật là phải nhưng anh em chúng tôi mấy ngày rầy cơm không có đủ ăn, áo không có đủ mặc. Nếu cứ nghe lời vàng ngọc ấy mãi thì chắc chắn không thể sống nổi.
Nhạc Phi lại nói:
- Nếu các hiền đệ chẳng chịu nghe lời ta đi làm điều bất chính thì chuyến này dù được giàu có xin đừng ngó đến Nhạc Phi này làm gì, bằng có bị bắt cũng đừng ngó đến tên Nhạc Phi này mà khổ lây nhé.
Nói đến đây chàng cắm cây thương trên tay xuống đất rạch một đường đất sâu và nói:
- Mấy hiền đệ không nghe ta thì từ nay xin cắt đất để dứt tình huynh đệ vậy, rồi ai lo phần nấy chớ nên nhìn nhau nữa.
Cả bọn vẫn không hề nao lòng, càng nói:
- Ồ, hơi đâu mà nghe lời bậc thánh hiền ấy, bây giờ chúng ta lo chuyện cần kíp để no cái bụng đã rồi nói chuyện sau.
Nói rồi, nhảy phóc lên ngựa chạy đi mất hút.
Nhạc Phi thấy mấy người em kết nghĩa không nghe lời mình, buồn bã vô cùng, hai hàng nước mắt tự nhiên tuôn trào không ngớt, không còn lòng nào ở đó luyện tập được nữa.
Nhạc Phi dắt ngựa trở về vào thư phòng nằm khóc tức tưởi, bà An Nhân thấy vậy mắng:
- Mi quả là đứa con bất hiếu. Lúc nãy ta có mấy lời khuyên nhủ mi chẳng lẽ mi đem lòng oán trách ta sao? Nếu không, tại sao mi khóc tức tưởi như vậy?
Nhạc Phi quỳ lạy thưa:
- Thưa mẹ, con đâu dám oán trách mẹ? chẳng qua mấy đứa em kết nghĩa của con chẳng chịu nghe lời con cứ việc đi làm điều không phải mà con khuyên nhủ không được nên buộc lòng rạch đất dứt nghĩa kim bằng, nhưng lòng con không nỡ nên buồn lòng khóc đó thôi.
Bà An Nhân lại khuyên:
- Mỗi người đều có một chí hướng riêng, con lấy tình bạn khuyên nhủ nếu anh em không nghe thì thôi, việc gì phải khóc lóc làm gì cho mệt.
Bà An Nhân đang dạy con, bỗng nghe có tiếng gõ cửa, Nhạc Phi thưa với mẹ tạm lui vào nhà trong còn mình bước ra mở cửa ngõ. Ngoài cổng có một người từ từ bước vào để gói xuống thở hổn hển.
Nhạc Phi nhìn kỹ thì người ấy trạc độ đôi mươi, mặc áo, đội mũ thường, đi giày da. Có lẽ chàng chưa gặp người này bao giờ.

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-05 20:20:25Hoàng Dung>
đánh máy: ran _oo
hồi thứ hai mươi hai
Đuổi Vương Tá, không tham châu báu
Giữ lòng trung, thà chịu sống nghèo


Nhạc Phi nghĩ thầm: “Không hiểu người lạ mặt này vào nhà ta có việc gì!”.
Sau khi để gói đồ xuống, người ấy thở một hồi rồi nói:
- Chẳng biết đây có phải là nhà Nhạc Phi không?
Nhạc Phi gật đầu:
- Dạ đúng! Chẳng hay ngài hỏi Nhạc Phi tôi có chuyện gì?
Người ấy nghe nói, vội quỳ thụp xuống đất lạy và thưa:
- Tiểu đệ đây nghe danh tôn huynh đã lâu, muốn đến học thêm chút ít võ nghệ, mãi đến hôm nay mới tìm gặp được. Nếu tôn huynh vui lòng cho kết nghĩa kim bằng, đệ sẽ ở lại đây để đợi lúc nào rảnh rang nhờ huynh chỉ cho đôi chút võ nghệ. Chẳng hay ý tôn huynh ra sao?
Nhạc Phi nói:
- Người muốn vậy thì tôi rất sẵn lòng, nhưng không biết quí danh tính là chi, năm nay bao nhiêu tuổi?
Người ấy đáp:
- Đệ là Hồng Quảng tên Vu Công, năm nay được hai mươi hai tuổi.
Nhạc Phi nói:
- Vậy tôi lớn hơn một tuổi.
Hai người ra giữa trời, lạy tám lạy kết nghĩa kim bằng rồi Vu Công lấy ra hai trăm lượng bạc trao cho Nhạc Phi, nhưng Nhạc Phi từ chối không chịu nhận lãnh. Vu Công nài nỉ nói:
- Đã là nghĩa đệ huynh, của em với của anh cũng như một, xin tôn huynh đừng câu nệ.
Nhạc Phi từ chối năm bảy phen không được bất đắc dĩ phải tạm nhận số bạc ấy, đem vào trong giao cho mẹ tạm cất giữa rồi trở ra chuyện vãn với bạn mới.
Vu Công lại hỏi:
- Chẳng biết nhà có mâm to không, xin đại huynh cho đệ mượn ba cái.
Nhạc Phi vào trong lấy ba cái mâm to ra trao cho Vu Công. Vu Công vội nhắc một cái bàn ra để giữa nhà, sắp ba cái mâm lên, đoạn mở khăn gói lấy ra mười lượng vàng ròng để vào một mâm, một mâm nữa thì để một bộ tinh hồng chiến bào và một sợi dây Dương Chỉ Ngọc Lung Linh. Cuối cùng thò tay vào túi móc ra một phong thư để lên trên rồi nói với Nhạc Phi:
- Xin đại huynh đến tiếp thánh chỉ.
Nhạc Phi cau mày tỏ vẻ trách móc:
- Hiền đệ làm như vậy thiệt là hồ đồ. Đệ chưa nói rõ nguyên do gì cả lại bảo tôi đi tiếp thánh chỉ là nghĩa gì? Vậy chớ thánh chỉ của ai? Đệ nên phân tỏ cho minh bạch rồi ta mới tiếp, bằng không thì thôi.
Vu Công nói:
- Xin thú thật cùng tôn huynh, đệ chẳng phải là Vu Công mà là Vương Tá làm chức Đông Thắng Hầu, bộ hạ của Thông Thành Vương ở Động Đình hồ tỉnh Hồ Quảng. Bởi trong triều vua chúa hôn muội, tin dụng kẻ gian nịnh, xa lánh tôi trung lương, làm cho dân chịu cảnh lầm than, trăm họ điêu linh, kho tàng trống rỗng. Mới vừa rồi Nhị Đế đều bị Ngột Truật bắt đem về đất Bắc. Hiện nước nhà không vua, bá tính không biết phải trông mong vào đâu, bốn phương đều ly loạn.
Nhân đó chúa của đệ là Dương My ứng theo mệnh trời, thuận theo lòng người, toan khôi phục Trung Nguyên cho trăm họ yên nhờ. Bởi Chúa công ái mộ tài văn võ của đại huynh nên sai đệ đến đây mời đại huynh đến Động Đình hồ cùng lo gìn giữ giang san nước nhà. Vậy xin đại huynh thu nhận lễ vật này, lo đồ hành trang lên đường cho sớm.
Nhạc Phi nghe Vương Tá nói một hồi lấy làm ngao ngán, giận đến căm gan, nhưng rủi lỡ kết nghĩa kim bằng, nên phải dằn lòng đáp:
- Vương Tá quả là đứa to gan thật! Cũng may là ta đã lỡ kết nghĩa kim bằng với ngươi, nếu không ta bắt ngươi đem nạp quan ắt phải khốn. Ta đây là Nhạc Phi, tuy nghèo khổ chẳng tài cán chi, chớ đã sinh trưởng nơi đất Tống thì nỡ lòng nào tham giàu sang, đem thân làm tôi giặc. Hơn nữa ta đã nhậm chức Thừa Tín Lang của triều đình, làm sao lại bỏ đạo quân thần theo về với quân phản chúa được? Thôi đừng nhiều lời vô ích, hãy mang tất cả lễ vật này về đi.
Vương Tá năn nỉ:
- Xin đại huynh nghĩ lại xem. Người xưa có nói: Thiên hạ là chung há của phải riêng một người nào, hễ ai có đức lớn thì được, còn người đã được rồi mà bất nhân thiếu đức ắt phải mất. Huống chi nay Nhị Đế chẳng những là hôn quân mê muội lại đã bị Ngột Truật giam cầm bên Kim Phiên. Nay dân trong nước không có chúa, thiên hạ loạn ly. Mạnh ai nấy xưng hùng, xưng bá, có ai dám chắc giang sơn này sẽ về tay ai? Đây là thời buổi anh hùng xuất thân, hào kiệt đồ vương định bá, sao đại huynh chưa chịu lo hai chữ công danh với đời còn đợi đến chừng nào nữa? Mong đại huynh nghĩ lại chớ có chấp nê mà bỏ lỡ cơ hội ngàn năm có một này, uổng lắm.
Nhạc Phi đáp:
- Đấng làm trai lập đại chí khác nào khách má hồng phải kiên gan trinh liệt để giữ mình. Nhạc Phi này đã quyết một lòng sống thì làm tôi nhà Tống, chết cũng làm ma đất Tống, dù cho vật đổi sao dời cũng không thể sờn lòng, đổi dạ. Giá như Lục Cổ, Tiêu Hà có tái sinh cũng uổng công uốn ba tấc lưỡi. Nay ta nghĩ tình anh em muốn lưu ngươi lại chơi vào ba ngày, nhưng vì lời yêu cầu trái lý tưởng, sẽ có chỗ hiềm nghi sinh lời dị nghị bất tiện. Vậy ngươi hãy sớm dời gói về bẩm lại với chúa ngươi đừng mong tưởng đến ta nữa vô ích. Riêng đối với ngươi, ta đã kết nghĩa kim bằng thì chờ khi nào ta ra giúp Tống trào, ta ra trận giao phong, anh em mình sẽ gặp nhau.
Vương Tá thấy Nhạc Phi trước sau chỉ một lời, lòng dạ cứng hơn sắt đá, khó bề thuyết phục nên lo thu góp đồ đạc gói lại toan ra về.
Nhạc Phi vội chạy vào thưa với mẹ:
- Thưa mẹ, xin mẹ làm ơn trao giùm gói bạc con gửi khi nãy lại cho con.
Bà An Nhân lấy bạc trao ra, Nhạc Phi tiếp lấy đem trả lại cho Vương Tá và nói:
- Xin giao số bạc này lại cho ngươi luôn thể.
Vương Tá ngạc nhiên nói:
- Những vật này của Chúa công tôi đi lễ nghênh triệu đại ca, nếu đại ca không lãnh thì tôi đem về giao lại cho chúa công tôi. Còn bạc này là của riêng đứa em này kính tặng đại huynh, sao lại trả?
Nhạc Phi cười ha hả:
- Cũng vì nghĩa huynh đệ mà ngươi tặng số bạc ấy cho nên ta vui lòng nhận lấy. Nay ngươi lên đường về quê, ta cũng vì nghĩa ấy mà tặng cho ngươi lên đường làm lộ phí. Nếu ngươi từ chối chẳng chịu lãnh thì đâu phải huynh đệ!
Vương Tá biết Nhạc Phi chẳng chịu nhận của mình, nên lấy bỏ vào túi rồi từ giã Nhạc Phi lên đường.
Nhạc Phi tiễn chân Vương Tá ra khỏi ngõ mới trở vào.
Bà An Nhân hỏi:
- Con bảo người bạn của con muốn ở lại đây chơi vài bữa, sao chẳng lưu giữ người lại đãi một bữa cơm, lại để cho người vội vàng ra đi như vậy?
Nhạc Phi đáp:
- Thưa mẹ, nghĩ đến việc ấy làm cho cho bận lòng. Bởi khi mới đến, người ấy bảo là quyết tìm con để học thêm chút võ nghệ, nên kết thành nghĩa huynh đệ. Nào dè ý muốn gá nghĩa như vậy để dụ con làm điều bất chính. Y chính là bộ hạ của quân phản vua, bội chúa Dương My ở Động Đình hồ tên là Vương Tá, đến đây muốn mời con theo chúng, bị con từ chối nên y phải ra đi.
Bà An Nhân nghe nói, bỗng tưởng nhớ đến một chuyện vội bảo Nhạc Phi:
- Con hãy đi sắm sửa hương đèn để tại trung đường rồi mẹ ra đó sẽ hay.
Nhạc Phi vâng lời me, sắm sửa đặt bàn hương án tại giữa nhà rồi trở vào bẩm với mẹ:
- Thưa mẹ, hương án con sắp đặt đã xong.
Bà An Nhân liền dắt Lý Thị ra, mẹ con cùng quỳ trước hương án vái lạy tổ tông, rồi sai Nhạc Phi quỳ xuống và bảo Lý Thị mài mực. Bà trịnh trọng nói:
- Nay me thấy con chẳng nhận lễ vật của quân phản tặc, cam chịu cảnh thanh bần, chẳng ham trọc phú, ấy là một điều hay, mẹ mừng rỡ vô cùng. Song mẹ e lúc mẹ qua đời lại có quân bất chính nó đến dụ dỗ con, nếu như con thất chí nghe lời chúng làm điều bất trung, bất hiếu, thì có phải đem cái danh tiết nửa đời làm hư trong một lúc chăng? Vì vậy nay mẹ kính cáo với trời đất tổ tông, để thích trên lưng con bốn chữ “Tận trung báo quốc”, là ý muốn cho con được nên bậc trung thần. Khi mẹ có thác đi rồi mọi người nức tiếng khen bà An Nhân này khéo dạy con mới nên danh tận trung báo quốc, như vậy có phải là danh thơm muôn thưở mà mẹ đây cũng được ngậm cười nên chín suối không?
Nhạc Phi nói:
- Thánh nhân có nói: Mình vóc tóc da là của cha mẹ, chẳng nên hủy hoại là điều hiếu trước tiên. Nay mẹ dạy con thì con ghi nhớ, chẳng phải thích chữ làm gì.
Bà An Nhân nói:
- Chớ nên nói bậy. Nếu như ngày sau có có làm điều phi pháp, bị quan bắt khảo tra thì con có nói được với quan là mình vóc của con là của cha mẹ, không nên hủy hoại không?
Nhạc Phi nói:
- Mẹ nói rất chí lý, vậy mẹ hãy thích chữ đi.
Dứt lời, Nhạc Phi cởi áo ra, bà An Nhân lấy bút viết vào lưng con bốn chữ “Tận trung báo quốc” rồi lấy kim xâm vào. Cuối cùng lấy mực hòa giấm thoa lên để cho bốn chữ ấy không bao giờ phai mời,
Nhạc Phi đứng dậy lại mẫu thân rồi ai về phòng nấy mà an nghỉ.
Lại nói về việc Tri huyện Từ Nhân lãnh chỉ cùng lễ vật về đến huyện Thang Âm rồi vội vã đem đến nhà Nhạc Phi.
Đến nơi, Từ Nhân sai quân gõ cửa. Nhạc Phi vừa chạy ra đã thấy quan Từ Tri huyện, chàng mừng rỡ mời vào trung đường.
Từ Nhân nói:
- Hiền khiết hãy dọn bàn hương án mà tiếp chỉ.
Nhạc Phi nghe vậy nghĩ thầm:
- Lạ thật, hôm trước Vương Tá đến đây bảo ta tiếp thánh chỉ, hôm nay Từ Tri huyện cũng đến sai ta tiếp thánh chỉ. Vả lại Nhị Đế bị bắt, trong triều đình không có vua, vậy thì thánh chỉ của ai mà bảo ta tiếp? Đây chắc là tên gian tặc Trương Bang Xương đã tiếm ngôi rồi, hắn sợ ta nên lập kế lừa ta đây.
Nghĩ vậy, chàng xá quan huyện và hỏi:
- Nay Hoàng Thượng và Thiếu đế đều ở bên đất Bắc. Chẳng hay cái này là chiếu chỉ của ai? Xin đại nhân nói cho minh bạch thì tôi mới dám lãnh.
Từ Nhân nói:
- Hiền khiết chưa hay biết gì cả sao? Cửu Điện hạ Khương Vương nhờ ngựa đất đưa qua Hiệp Giang, nay đã lên ngôi tại Kim Lăng, ấy là Đại Tống Tân quân, hiệu Cao Tông thiên tử đó.
Nhạc Phi nghe nói mừng rỡ vội quỳ xuống mà nghe chỉ dụ.
Từ Nhân mở thánh chỉ ra trịnh trọng đọc:
”Nay nước nhà bị cơn ly loạn, giặc Kim xâm lấn bờ cõi, Nhị Đế bị bắt, tôn miếu tan tành, trẫm nhờ trời phật phù hộ chẳng dứt nhà Tống, nên được ngựa đất độ qua sông, các quan ủng hộ, lên ngôi tại Kim Lăng. Lúc này là lúc vui tôi ta nằm gai nếm mật mà khôi phục giang sơn, trả mối thù quốc sỉ. Ngươi là Nhạc Phi văn võ song toàn, tài đáng dùng việc lớn, nên trẫm sai Từ Nhân đem vàng ròng và lễ vật đến đón ngươi. Ngươi phải lập tức đến lãnh chức, để có thể đem tài trí của mình ra trừ lũ hôi tanh, đón Nhị Đế còn bị giam cầm nơi sa mạc, cứu sinh linh qua cơn lửa đỏ. Tiếp được chỉ này ngươi hãy đến cho mau kẻo trẫm mỏi lòng trông đợi.”
Từ Nhân đọc xong thánh chỉ trao cho Nhạc Phi. Chàng giơ hai tay tiếp lấy để trên hương án.
Từ Nhân lại nói:
- Việc quân gấp lắm, hiền khiết phải lo thu xếp lên đường cho kịp hôm nay. Tôi ở đây chờ đợi, mong hiền khiết sắp đặt việc nhà rồi cùng lên đường.
Nhạc Phi đáp:
- Nếu có thánh chỉ thì tôi đâu dám trễ nải, xin ngài hãy ngồi đây chờ tôi một tý.
Nói rồi thi lễ vật đem vào nhà sau, mời mẹ ra ngồi và thưa:
- May Cửu Điện hạ là Khương Vương đã lên ngôi tại Kim Lăng, lại sai Từ Tri huyện đem lễ vật đến đón con, nên con phải vào bái biệt mẹ để lên đường.
Bà An Nhân nói:
- Nay con được triều đình trọng dụng, cũng là nhờ ơn thầy con dạy dỗ. Vậy con phải  lạy mà từ biệt linh vị của thầy con trước đã.
Nhạc Phi vâng lời liền rót ngự tửu đế nơi bàn thờ thầy cúng vái, đoạn rót thêm một chén nữa đem cúng tổ tông.
Các việc xong xuôi, chàng rót một chén, quỳ xuống dân lên cho mẹ. Bà An Nhân tiếp lấy cầm nơi tay nói:
- Nay mẹ uống chén rượu này là ý muốn cho con ra sức với triều đình, hết lòng vì nước để nêu danh vào sử xanh, con chớ có quên.
Nhạc Phi cúi đầu đáp:
- Con xinh kính vâng lời mẹ.
Nói rồi đứng dậy rót một chén khác trao cho Lý thị và nói:
- Hiền thê có uống được chén rượu này không?
Lý thị đáp:
- Nếu là chén rượu nghĩa nhân thì tại sao thiếp lại không uống được?
Nhạc Phi đáp:
- Tôi vốn con một, anh em không có, nay vì nước phải đi xa, còn một mình mẹ già ở nhà, hiền thê phải thay mặt tôi mà phụng dưỡng và dạy dỗ trẻ thơ cho nên người. Nếu được như vậy, mới có thể uống chén rượu này.
Lý thị đáp:
- Đó là bổ phận của thiếp, tướng công khỏi phải dặn. Xin tướng công an tâm lo tròn phận sự làm trai, thiếp nguyện không làm phụ lòng tướng công đâu.
Nói rồi giơ hai tay tiếp lấy chén rượu uống cạn một hơi.
Lúc ấy quan huyện Từ Nhân đứng ngoài nghe rõ đầu đuôi, tấm tắc khen thầm:
- “ Cả nhà trung hiếu như vậy thật là hiếm có. Nay tân vương đã tìm được người hiền để khôi phục lại giang sơn rồi.”
Từ Nhân liền sai kẻ tùy tùng đem áo giáp của Nhạc Phi để trên lưng ngựa, còn binh khí thì có người khiêng theo.
Sau khi Nhạc Phi bái biệt mẫu thân và từ giã Lý thị rồi sắp sửa ra đi, bỗng thấy quan tay cầm roi, tay dắt ngựa bước tới nói:
- Xin hiền khiết lên ngựa.
Nhạc Phi tỏ ý khiêm nhường:
- Ngài làm như vậy tôi đâu dám.
Từ Nhân đáp:
- Hiền khiết chớ có khiêm nhường. Đến như Thiên tử còn muốn đến đây đón hiền khiết huống hồ lão đây. Ngặt vì Thiên tử mới lên ngôi chẳng lẽ đi xa, nên mới ban cho lão ba chén ngự tửu sai lão thay mặt đến đây cầu hiền khiết chẳng khác nào Tiêu Hà cầu hiền ngày xưa, xin hiền khiết chớ nên chối từ.
Nhạc Phi tỏ lời cáo lỗi rồi tung mình lên ngựa, còn Từ Nhân cũng giục vó câu theo sau.
Sắp sửa lên đường, bỗng thấy Nhạc Vân chạy ra quỳ trước đầu ngựa.
Nhạc Phi ngạc nhiên hỏi:
- Con theo cha làm gì?
Nhạc Vân nói:
- Con theo cha lên đường và muốn hỏi cho biết chẳng hay cha định đi đâu và làm việc gì?
Nhạc Phi đáp:
- Chỉ vì cha thấy con còn thơ ấu, sợ e bịn rịn chẳng nỡ phân ly nên không muốn cho con biết, nay con biết rồi thì cha phải nói cho con nghe. Nay Tân Vương triệu cha đi dẹp giặc bảo vệc giang sơn, con ở nhà hiếu thuận với bà nội và kính phụng mẹ con, săn sóc mấy đứa em học hành kinh sử, chớ nên chơi bời mà hư thân đấy.
Nhạc Vân nói:
- Con kính vâng lời cha dạy, nhưng cha nhớ khi ra trận đừng nên giết hết quân giặc.
Nhạc Phi hỏi:
- Tại sao vậy?
Nhạc Vân nói:
- Hãy để dành một nửa cho con giết với.
Nhạc Phi quát:
- Thôi, con đừng nói bậy, hãy trở về cho mau.
Nhạc Vân liền đứng dậy chạy thẳng vào nhà. Từ Tri huyện nói với Nhạc Phi:
- Bây giờ xin hiền khiết đi trước để lão phu trở về sắp đặt rồi sẽ theo sau.
Nói rồi trở về nhà sắm sửa lương thảo rồi giục ngựa tiếp theo, cùng Nhạc Phi nhắm theo hướng Kim Lăng.
Đi chẳng mấy ngày đã đến Kim Lăng, hai người cùng nhau vào cửa Ngọ môn đợi chỉ. Quan Hoàng môn vào tâu, Cao Tông cả mừng liền hạ chỉ triệu vào.
Từ Nhân dắt Nhạc Phi vào triều kiến xong, vua Cao Tông phán:
- Nhờ có Từ khanh nhọc nhằn lặn lội, nay trẫm ban vàng lụa để thưởng công, khanh hãy về Thang Âm lo lắng việc quan, chẳng bao lâu nữa trẫm sẽ gia thăng quyền tước cho khanh.
Từ Nhân tạ ơn lui ra rồi trở về huyện Thang Âm.
Vua Cao Tông thấy Nhạc Phi tướng mạo khôi ngô quả là một nhân tài hùng tráng, vua mừng thầm quay qua hỏi các quan:
- Hôm nay Nhạc Phi đã đến đay, ta nên phong làm chức chi?
Tông Trạch tâu:
- Nhạc Phi nguyên có chức cũ là Thừa Tín Lang.
Cao Tông nói:
- Ấy là chức của phụ vương ta phong khi trước, nay trẫm phong làm chức Đô Thống lĩnh ấn Tiên phong, đợi chừng nào có công hãy thăng thưởng thêm.
Nhạc Phi tạ ơn, vua Cao Tông truyền dọn yến tiệc thết đãi Nhạc Phi rồi lấy ra năm bức hình cũ của vua vẽ sẵn chỉ cho Nhạc Phi xem và nói:
- Đây chính là năm anh em Hồ Hãn ở bên Kim quốc. Chúng nó là kẻ thù số một của chúng ta, khanh hãy nhìn cho kỹ. Nếu có gặp chúng chớ có bỏ qua.
Nhạc Phi lãnh mệnh, Cao Tông lại hỏi:
- Nay Đại Nguyên soái Trương Sở chưởng quản binh quyền, khanh hãy đến dinh người mà hiệu dụng.
Nhạc Phi tạ ơn rồi lui ra tìm đến phủ Trương Nguyên soái.
Trương Sở vừa trông thấy Nhạc Phi đã mừng rỡ khôn cùng, vội sai Nhạc Phi ra chốn giáo trường lựa chọn binh mã.
Nhạc Phi vâng lệnh ra giáo trường chọn lọc kỹ lưỡng được sáu trăm quân. Nguyên soái thấy chàng chọn được ít quá nên sai Nhạc Phi vào trong dinh mình lựa thêm. Nhưng khi vào dinh, chàng chỉ lựa thêm được hai trăm tên nữa thôi, cộng tất cả là tám trăm người, chàng vào ra mắt Nguyên soái.
Trương Sở thấy chàng lựa chọn được ít quá bèn nói:
- Bao nhiêu binh mã mà chẳng lựa được một nghìn sao?
Nhạc Phi thưa:
- Tám trăm quân ấy đều là những tinh binh, tưởng cũng đủ dùng rồi.
Nguyên soái sai Nhạc Phi dẫn tám trăm quân ấy đi tiên phong rồi quay lại hỏi chư tướng:
- Có ai dám dẫn đạo quân  thứ hai đi theo ứng cứu không?
Hỏi luôn mấy lượt mà không thấy một ai lên tiếng, Nguyên soái cả giận gắt:
- Thế thì cả bọn này đều là quân tham sống sợ chết, không kẻ nào muốn ra sức với triều đình. Thôi để ta gọi đích danh sai đi mới được.
Trương Sở bèn gọi tên Sơn Đông Tiết Đại Sứ Lưu Dự.
Lưu Dự lên tiếng bước ra. Nguyên soái nói:
- Ngươi hãy dẫn bản bộ binh mã làm đạo thứ hai đi tiếp sau Nhạc Phi rồi ta sẽ dẫn đại binh đi làm tiếp ứng.
Lưu Dự không biết làm sao phải gắng gượng dẫn quân đi.
Sắp đặt binh mã đâu đó xong xuôi, qua bữa sau Trương Nguyên soái dẫn Nhạc Phi và Lưu Dự vào triều từ giã hoàng thượng. Bỗng có quan tuần thành chạy vào báo:
- Hiện có quân cường đạo vào đánh phá cửa Nghi Phụng lại đòi cho được Nhạc Phi ra trận.
Cao Tông nghe tâu liền hạ chỉ sai Nhạc Phi ra dẹp giặc.
Nhạc Phi lãnh chỉ rồi dẫn tám trăm quân xông ra trước trận, xem thấy bên đối phương, lâu la vô số, tất cả đều cầm đoản côn và cuốc xẻng, khí thế mạnh mẽ, lại thấy một viên tướng cưỡi ngựa xông ra. Người này mặt xanh, răng lộ, mười phần hung ác. Nhạc Phi gò cương cầm thương chuẩn bị đối phó với kẻ thù và quát lớn:
- Loài cường đạo ở đâu đến đây chịu chết, hãy nhận một thương của Nhạc Phi ta đây!

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-05 20:22:27Hoàng Dung>
đánh máy: ran_oo
hồi thứ hai mươi ba
Lưu Dự định cướp công Nhạc Phi
Hồ Tiên quyết trắng đen làm rõ


Nghe tiếng quát của Nhạc Phi, tên cường đạo mặt xanh cưỡi ngựa thanh tông, tay cầm Lang nha bổng xông đến trước trận, không phải để giáp chiến mà lại giơ cây Lang nha bổng lên trời, kêu lên:
- Nhạc đại huynh ơi! Em đến tìm anh đây.
Nhạc Phi nhìn kỹ thì người ấy không phải ai khác mà là Kiết Thanh, người bạn tâm giao đã từng chung sống với chàng qua những ngày hàn vi khổ sở.
Nhạc Phi quát lớn:
- Ngươi đã đi cướp của giết người còn đến đây làm gì nữa?
Nói rồi truyền quân áp tới bắt Kiết Thanh, nhưng Kiết Thanh không chút nao núng.
Quân sĩ lướt tới trói Kiết Thanh lại. Nhạc Phi trông thấy bọn lâu la của Kiết Thanh đều là dân làng bèn xua tay nói:
- Các ngươi hãy đem nhau trở về làm ăn lương thiện, đừng làm điều xằng bậy nữa, ta không dung tha đâu.
Dân làng tạ ơn rồi dắt nhau về hết, Nhạc Phi truyền quân dẫn Kiết Thanh vào thành để tại Ngọ môn rồi đi thẳng vào triều tâu:
- Hạ thần đã bắt được cường đạo rồi, hiện còn để tại Ngọ môn hầu chỉ.
Cao Tông hạ lệnh dẫn Kiết Thanh vào triều. Ngự lâm quân ra lôi cổ Kiết Thanh đến trước Kim giai, Kiết Thanh vùng la lớn lên:
- Hoàng đế ôi! Tôi không phải là cường đạo mà là anh em bạn của Nhạc Phi, tên tôi là Kiết Thanh, đến đây quyết tìm cho được anh tôi để hiệp lực bảo vệ triều đình.
Cao Tông nghe nói, nhìn kỹ lại tướng mạo của Kiết Thanh quả là một trang anh hùng tuấn kiệt, liền hỏi Nhạc Phi:
- Người này có phải là anh em bạn của khanh không?
Nhạc Phi tâu:
- Quả thật như vậy, song y đã làm điều xằng bậy. Thần rạch đất, dứt nghĩa kim bằng đã lâu rồi.
Cao Tông nói:
- Cứ xem qua tướng mạo, trẫm cũng đoán biết y là một tay hảo hán, mà lúc này là lúc dụng người, vậy khanh cũng nên rộng lòng dung để cho hắn lập công chuộc tội.
Nói rồi, vua sai quân cởi trói cho Kiết Thanh và phong cho chức phó Đô Thống, cho theo Nhạc Phi để phụ lực, ngày sau có công sẽ phong thưởng thêm.
Kiết Thanh vội vàng quỳ lạy tạ ơn vua. Nhạc Phi từ giã ra khỏi triều dẫn Kiết Thanh đến ra mắt Nguyên soái Trương Sở.
Nguyên soái sai Nhạc Phi dẫn binh đi trước ra tại Quỉ Sầu quan, còn Lưu Dự thì dẫn năm nghìn quân đi đạo thứ hai, còn Trương Nguyên soái cũng dẫn đại binh mười vạn đi sau tiếp ứng.
Nhắc qua Ngật Truật đang đóng binh tại phủ Hà Giang, chợt quân vào phi báo:
- Bẩm chúa công, hiện nay Khương Vương đã lên ngôi tại Kim Lăng, dùng Trương Sở làm Đại Nguyên soái, đang tập trung binh mã chống lại chúng ta.
Ngột Truật nghe báo cả giận, sai hai Nguyên soái là Kim Nha Hốt và Ngân Nha Hốt, mỗi người dẫn năm nghìn quân làm tiên phong, lại mời người anh là Thái tử Hồ Hãn dẫn mười vạn quân rầm rộ kéo thẳng qua Kim Lăng quyết phá tan không cho quân Tống đâm chồi, nẩy lộc.
Khi Nhạc Phi và Kiết Thanh dẫn tám trăm tinh binh và năm nghìn binh mã đi qua núi Bát Đàn, Nhạc Phi cho dừng binh đưa mắt xem xét địa thế một hồi rồi nói với Kiết Thanh:
- Ồ, hòn núi này tốt quá...
Vừa nói đến đây, Kiết Thanh đã ngắt lời:
- Trong giờ phút nghiêm trọng này mà đại huynh lại đi tìm chỗ phong cảnh đẹp để làm gì?
Nhạc Phi cười đáp:
- Sao đệ có ý nghĩ khờ khạo như vậy? Chit vì ta thấy hòn núi hiểm trở lắm, nếu binh Ngột Truật đến đây, tuy quân ta ít nhưng dựa vào hiểm địa này cũng có thể đánh tan chúng.
Hai người đang chuyện vãn, bỗng có quân vào phi báo:
- Đại binh của Kim Phiên đã gần đến đây rồi.
Nhạc Phi nghe báo cười ha hả chỉ tay lên trời nói:
- Ấy là phúc của chúa thượng ta đó.
Rồi lập tức truyền cho tinh binh cung ná sẵn sàng, mai phục hai bên và gọi Kiết Thanh dặn:
- Hiền đệ hãy đi trước dụ địch, phải giả thua chạy vào núi, ta chờ ở đây tiếp ứng.
Kiết Thanh vâng lệnh dẫn năm nghìn binh mã kéo đi, vừa gặp quân Phiên lập tức giao chiến. Quân Phiên thấy Kiết Thanh binh ít nên khinh thường áp tới la ó vang trời.
Kiết Thanh giục ngựa lướt tới không một chút sợ sệt. Kim Nha Hốt và Ngân Nha Hốt thấy thế cười ha hả nói:
- Ta tưởng tướng Nam man có ba đầu sáu tay chi, ngờ đâu cũng chỉ là phường vô danh tiểu tốt đến đây chỉ liều thân vô ích.
Kiết Thanh quát:
- Chúng bay chớ có khinh thường, hãy xem cây Lang nha bổng của ta đây.
Rồi Kiết Thanh không đợi giặc nói thêm một lời nào nữa, vũng roi đánh bổ tới. Bên kia Kim Nha Hốt cũng vung đao đón đánh trả.
Đánh được ba hiệp, Kiết Thanh nghĩ thầm:
- Đại huynh ta đã bảo dụ chúng vào núi, ta phải thi hành gấp mới được.
Nghĩ vậy, chàng đánh bậy một roi, rồi quay ngựa bỏ chạy. Hai Phiên tướng thấy thế lấy làm khoái chí, hô quân đuổi theo, quyết hạ thủ đối phương cho kỳ được.
Khi quân Phiên vừa chạy đến chân núi, thình lình hai phục binh nổi dậy, cung tên bắn vãi ra như mưa, cắt đôi đoàn quân Phiên không thể liên lạc với nhau được nữa.
Kim Nha Hốt vừa muốn quay ngựa rút rút lui, tìm đường thoát thân, tức  thì sau lưng đã có tiếng quát to như sấm:
- Kim Phiên tặc, ngươi muốn chạy đi đâu? Có ta là Nhạc Phi đây.
Nhạc Phi vừa hét vừa để ngang cây Lịch tuyền thương chặn Kim Nha Hốt lại đánh. Ngân Nha Hốt thấy thế xông vào trợ chiến. Kiết Thanh lập tức quay ngựa lại đón đánh Ngân Nha Hốt.
Hai bên núi, tiếng la ó vang trời dậy đất, tiếng tên bay vun vút, tiếng giáo mác chạm nhau hòa lẫn với tiếng rú thất thanh nghe rất ghê rợn, quả là một trận hỗn chiến vô cùng khốc liệt.
Trong lúc rối loạn, Kim Nha Hốt không biết quấn Tống có mấy trăm vạn nên trong lòng sợ hãi, vì vậy chỉ chậm tay một chút đã bị Nhạc Phi đâm một thương té nhào xuống ngựa. Ngân Nha Hốt thất kinh không kịp trở tay, bị Kiết Thanh vút một roi trúng ngay giữa đỉnh đầu óc huyết văng tứ tung. Tám trăm tinh binh ào ra một lượt chém giết quân Phiên hơn ba nghìn tên, còn bao nhiêu chạy thoát được.
Nhạc Phi cắt lấy hai thủ cấp của tướng Phiên, đồng thời thu dọn lương thảo cùng vô số binh khí rồi bảo Kiết Thanh giải qua dinh Lưu Dự cho người đem trình với Trương Nguyên soái.
Lưu Dự lĩnh rồi nói với Kiết Thanh:
- Ngươi hãy về đi, để ta sai người giải về báo với Nguyên soái giùm cho.
Kiết Thanh trở về dinh Nhạc Phi chờ lệnh. Lưu Dự ngồi ngẫm nghĩ:
- Nhạc Phi tài ba thật. Hắn chỉ có tám trăm binh mã mà mới đi mấy ngày đã lập được chiến công to tát thế này thì rồi đây công trạng của hắn biết đâu mà lường? Thế thì ta phải tìm cách cướp cái công đầu này mới được.
Nghĩ rồi vội lấy bút viết thư, sai kỳ bài quan giải thủ cấp cùng các vật của Phiên binh về đại doanh báo tiệp công cho mình.
Trương Nguyên soái có ngờ đâu việc xảo trá ấy, cứ việc ghi công đầu cho Lưu Dự rồi ban thưởng cho kỳ bài quan.
Kỳ bài quan tạ ơn Nguyên soái rồi trở về phục lệnh, Lưu Dự đắc ý vô cùng.
Nhạc Phi thắng trận, thừa thế tiến quân, ngày đêm không nghỉ. Ngày kia, đến một quả núi tên là Thanh Long sơn, chàng quan sát địa thế một hồi rồi hạ lệnh dừng binh tại đó, gọi Kiết Thanh bảo:
- Chỗ này địa thế vô cùng hiểm trở, lại càng dễ dàng dụng binh hơn khi ở Bát Bàn sơn. Ta định đồn binh tại đây sắp đặt cho sẵn sàng, chờ cho quân Phiên đến đánh một trận tơi bời không còn một manh giáp cho chúng biết tay.
Kiết Thanh gật đầu khen phải. Nhạc Phi lại bảo:
- Hiền đệ phải tức tốc trở lại dinh Lưu Dự ra mắt người, nhờ người cho mượn bốn năm trăm cái bao bố tời, vài trăm bao thuốc súng, hỏa pháo, hỏa tiễn cùng câu liêm, mỗi thứ ít nhất và ba trăm chẳng nên thiếu sót, rồi xin người đưa đến đây cho ta dùng việc gấp.
Kiết Thanh vâng lệnh phóng mình lên ngựa chạy như bay trở lại ra mắt Lưu Dự và thuật lại lời yêu cầu của Nhạc Phi. Lưu Dự đáp:
- Ở đây tuy cũng có song không đủ số ấy, ngươi hãy về thưa lại với Nhạc gia cứ việc an tâm, để ta sai kỳ bài quan trở về đại doanh xin Nguyên soái đủ các vật trên gửi đến ngay lập tức.
Kiết Thanh thấy Lưu Dự sốt sắng lấy làm mừng rỡ vội trở về phục lệnh. Còn Lưu Dự thì đã cướp được công của Nhạc Phi nên thích chí hối hả sai kỳ bài quan đến dinh Nguyên soái xin đủ các vật trên đem giao cho Nhạc Phi cấp tốc.
Nhạc Phi có đủ vật dụng, vội sai ham trăm tinh binh phi ngựa ra trước núi lấy cỏ khô cho thật nhiều rải rắc khắp núi, đồng thời vãi thuốc súng lên trên, cứ như thế sắp đôi ba lớp rồi mới cho quân sĩ mai phục.
Nhạc Phi lớn tiếng ra lệnh:
- Ba quân hãy nằm yên, nhất thiết không được động tĩnh gì cả. Chờ khi nào có tiếng pháo nổ ấy là hiệu lệnh, chúng bay hãy ra sức bắn tên đạn, hỏa pháo, hỏa tiễn ra cùng một lúc nhắm cho trúng vào hàng ngũ quân Phiên nhé!
Ba quân cùng vâng dạ, Nhạc Phi lại sai hai trăm quân ra phía sau núi lấy cát đổ vào bao đem chặn lòng suối như một chiếc đập làm cho mực nước ứ lại thật cao, đợi quân Phiên lội qua suối thì phá đập cho nước tuôn xuống dìm ngập chúng.
Địch quân, nếu tên nào thoát qua được bên kia thì chúng sẽ gặp hai bên vách núi dựng đứng, phải men theo con đường mòn chật hẹp mà chạy. Tính toán kỹ rồi, Nhạc Phi liền cắt một trăm quân đến nấp trên sườn núi hai bên con đường hẹp ấy, chất cây đá cho thật nhiều chờ quân Phiên qua lấy đó rồi cắt dây cho lăn cây, đá xuống.
Nhạc Phi lại giao cho Kiết Thanh hai trăm binh mã và dặn:
- Hiền đệ phải lãnh hai trăm binh mã này ra sau núi đến cuối đường chẹt ấy mà mai phục đón giết một số tàn binh Phiên chạy lạc đến đó. Chắc chắn đệ sẽ gặp một viên đại tướng cưỡi ngựa huỳnh bưu, mặt vàng như nghệ, tay cầm Lưu tinh chùy, đệ phải rán sức bắt cho được nó. Viên tướng này là anh của Ngột Truật, tên là Hồ Hãn, Thái tử Phiên quốc. Nếu đệ để cho nó chạy thoát thì ta sẽ bắt đệ đem về cho Trương Nguyên soái chiếu theo quân luật mà trị tội chớ không thể vị tình được đấy nhé!
Kiết Thanh vâng lệnh lãnh binh kéo đi ngay. Còn hai trăm quân, Nhạc Phi kéo đến trước sườn núi đóng, truyền cắm cờ xí cho thật nhiều và đánh trống khua chiêng cho rầm rộ để giao phong với quân Phiên tại đó.
Nói về Trương Nguyên soái, ngày nọ đang ở trong dinh nghị kế, bỗng thấy quan Trung quân Hồ Tiên vào bẩm:
- Bẩm Nguyên soái, chẳng biết hôm nay Lưu Dự sai người về xin bao bố và hỏa pháo để làm chi vậy? Tiểu tướng lấy làm lạ là Nhạc Phi đi đạo quân tiên phong mà chưa nghe tin thất trận sao đạo thứ hai Lưu Dự lại đánh thắng quân Phiên lập được công đầu? Tiểu tướng e trong ấy có điều gian trá chăng? Phỏng như y mạo công thì có phải là khuất lấp công trạng của kẻ anh hùng? Nếu ta không kịp thời tìm hiểu thì sự bất công ấy có thể làm cho không ai chịu ra sức với triều đình. Tiểu tướng xin Nguyên soái cho đi theo dõi điều tra xem tin tức ấy thế nào cho biết.
Trương Nguyên soái nghe mấy lời có lý, gật đầu đáp:
- Chính ta cũng đang nghi hoặc, muốn tra xét việc ấy, nếu ngươi tự thân đi điều tra việc này thì còn gì hay cho bằng.
Hồ Tiên vâng lệnh lặng lẽ ra đi, đến núi Thanh Long sơn thì trời sụp tối, bèn leo lên sườn núi, trông thấy một cây cổ thụ cành lá sum xuê, liền trèo lên nấp để dõi xem tình hình.
Hồ Tiên nhìn ra xa thấy quân Phiên kéo đến đầy núi, lấp rừng chẳng khác nào ong bầy. kiến lũ. Hồ Tiên không khỏi ngại, vì biết rằng Nhạc Phi chỉ có tám trăm binh mã thì làm sao chống cự lại, nếu bị thất trận thì chính bản thân Hồ Tiên nấp trên cây này cũng khó mà bảo toàn tính mạng.
Xin nhắc qua Hồ Hãn thống lãnh mười vạn Phiên binh kéo qua Kim Lăng. Đi dọc đường vừa gặp tàn quân thua trận về phi báo:
- Nay có hai tên Nam man tên là Nhạc Phi và Kiết Thanh quá hung hãn, chúng giết chết hai vị Nguyên soái ta rồi. Còn năm ngàn binh mã thì hao hơn phân nửa, số còn lại bị thương đi không nổi la lết dọc đường không biết bao nhiêu mà kể.
Hồ Hãn nghe báo lửa giận bốc lên tới tối mặt, vội xua binh lướt tới cho nhanh, bỗng nghe quân sĩ phi báo:
- Phía trước đây có Nam man đóng binh trên đỉnh núi, xin Đại vương liệu định.
Hồ Hãn bấm trán suy nghĩ rồi nói:
- Nếu quả vậy thì chúng ta nên dừng lại đóng binh tại đây, vì bây giờ cũng đã tối rồi, sáng mai sẽ ra quân tiến đánh.
Nói rồi nổ súng ra lệnh an dinh hạ trại.
Lúc Nhạc Phi đứng trên sườn núi trông thấy quân Phiên kéo đến, lòng mừng khấp khởi, nhưng lại thấy chúng đình binh hạ trại thì nghĩ thầm:
- “Binh chúng đông, binh ta ít, nếu để đánh ban ngày chắc là khó thắng”.
Nghĩ rồi gọi hai trăm tinh binh căn dặn:
- Bọn ngươi hãy ở đây gìn giữ không được động tĩnh, để ta đi dắt quân Phiên vào đây chịu chết.
Dứt lời chàng giục ngựa xuống núi vung thương xông thẳng vào dinh quân Phiên không một chút sợ sệt.
Hồ Tiên ngồi trên cây thất vậy toát mồ hôi cất tiếng than:
- Quả là một người liều mình cứu nước!
Vào đến dinh Phiên, Nhạc Phi hét lớn:
- Ta là Tống triều Nhạc Phi đến phá dinh bây đây.
Vừa hét vừa vung Lịch tuyền thương đâm chém như vào chỗ không người, thấy xác quân Phiên chết lăn dưới đất long lóc.
Một viên tiểu tướng Phiên vào trướng phi báo. Hồ Hãn cả giận cầm thương lên ngựa, dẫn hết bọn quan quân xông ra một lượt vây chặt Nhạc Phi vào giữa. Nhưng Nhạc Phi không chút nao núng, tỏ thần oai, tả xung hữu đột giết địch thây nằm như núi, máu chảy tựa sông.
Đánh một hồi, Nhạc Phi nghĩ thầm:
- “Ta chọc giận chúng như thế cũng đủ rồi, bây giờ phải dụ chúng vào núi thì mới thành công”.
Nghĩ vậy, Nhạc Phi buông một trận cười khiêu khích rồi hô lớn:
- Đã vào được thì phải ra được mới gọi là hảo hán.
Vừa nói vừa đánh bạt quân Phiên qua một phía và giục ngựa chạy dài. Hồ Hãn cả giận nói:
- Chỉ một tên Nam man mà ta không bắt được thì làm sao có thể vào thu Trung Nguyên. Ta quyết đạp hòn núi kia thành đất bằng mới hả giận.
Hồ Hãn đốc thúc ba quân đuổi theo. Nhạc Phi thấy vậy mừng thầm:
- “Bọn giặc kia hôm nay trúng kế ta rồi”.
Hồ Tiên ngồi trên cây thấy Nhạc Phi giục ngựa chạy thẳng lên núi, phía sau quân Kim rượt theo bén gót, trống đánh còi thổi hò hét vang lừng. Chúng ào lên cuồn cuộn như nước trào, đầy núi lấp rừng. Hồ Tiên cất tiếng than:
- Ôi thôi, phen này chẳng những Nhạc Phi phải chết mà ta đây cũng phải bỏ mạng chốn này.
Hồ Tiên đang lo sợ, bỗng nghe một tiếng pháo nổ vang lừng, tiếp theo là tiếng súng liên hồi. Hồ Tiên giật mình, tý nữa là vuột tay ngã xuống. Còn quân Phiên thì kẻ sa xuống ngựa, người người quăng giáo ngã lăn. Hai bên phục binh đều nổi dậy. Nào là hỏa pháo, hỏa tiễn, hỏa dược bắn vãi ra xối xả như mưa. Cỏ khô và thuốc pháo gặp phải lửa cháy bùng lên, chỉ trong giây phút lửa dậy bốc cao lưng trời, khói bay mịt đất. Quân Phiên mở mắt chẳng ra, lớp bị chết thui, lớp đạp nhau mà chạy. Ngựa đạp người, người đạp ngựa chết không biết bao nhiêu mà kể.
Đông Tiên Văn Lang và bọn Bình chương bảo hộ Hồ Hãn men theo con đường chật hẹp mà chạy, bỗng thấy trước mặt có con suối.
Hồ Hãn bảo:
- Hãy xem thử con suối kia sâu nông thế nào?
Quân sĩ thăm dò rồi cho biết con suối ấy chỉ sâu ba thước thôi. Hồ Hãn lập tức truyền quân lội qua ngay. Ba quân vâng lệnh ào ào xuống suối.
Lúc ấy chợt nghe đâu đây có tiếng pháo nổ vang, rồi không biết nước từ đâu ào ào đổ xuống tràn ngập làm quân Phiên không kịp trở tay, chết đuối rất nhiều.
Hồ Hãn thất kinh vội truyền quân tìm đường khác mà chạy. Quân Phiên kinh hồn hoảng vía kéo nhau chạy qua bên góc núi lẩn trốn. Hồ Hãn cũng theo Đồng Tiên Văn Lang, nhưng vừa đến góc núi bỗng nghe quân báo:
- Bẩm đại vương, phía trước đây đá dựng đứng như vách tường, không còn đường nào tiến quân được nữa.
Hồ Hãn ngước mặt lên trời than:
- Thế thì tính mạng chúng ta khốn rồi!
Lúc ấy có một vị Bình chương trỏ tay về phía hữu nói:
- Bên kia có con đường hẻm, không biết có ăn thông qua bên ngoài không. Chúng ta hãy chạy bừa qua đó rồi sẽ liệu.
Câu nói của viên Bình chương quả có hiệu lực ngay như một liều thuốc hồi sinh, khiến vẻ mặt Hồ Hãn lóe lên một tia hy vọng.
Hồ Hãn nói:
- Thế thì còn gì tốt cho bằng. Gặp lúc này, miễn có đường thì chạy, hơi đâu mà lựa.
Rồi đem nhau chạy theo con hẻm ấy. Ngờ đâu phục binh trên núi trông thấy quân Phiên kéo qua, liền cắt dây xô cây đá đổ xuống ầm ầm, quân phiên bể đầu, nát thây chết nằm la liệt. Đồng Tiên Văn Lang bảo hộ Hồ Hãn chạy thoát khỏi con đường ấy thì gặp một con đường khá rộng.
Lúc bấy giờ khoảng canh năm, Hồ Hãn được may mắn thoát ra khỏi góc núi ngước mặt lên trời cười khanh khách. Đồng Tiên Văn Lang thấy thế hỏi:
- Bị thất trận, chạy gần hết hơi sao Chúa công lại cười ra vẻ đắc ý lắm vậy?
Hồ Hãn đáp:
- Ta cười là cười Nhạc Phi tuy thắng trận, song ta xét lại hắn cũng tầm thường. Phải chi hắn cho một đạp binh mai phục nơi này thì chúng ta dù có cánh cũng không thoát khỏi.
Nói chưa dứt lời, bỗng có tiếng pháo nổ vang, phía trước đèn đuốc sáng ngời, quân lính lao xao, rồi một tướng mặt xanh như chàm, tóc đỏ như son, tay cầm Lang nha bổng xông ra nạt lớn:
- Có Kiết Thanh ở đây, hãy mau mau xuống ngựa nạp mạng, đừng để ta ra tay nhọc sức.
Hồ Hãn thất kinh run lẩy bẩy nói với Đồng Tiên Văn Lang:
- Thế thì Nhạc Nam man lợi hại thật. Hôm nay ta phải bỏ mạng tại đây rồi!
Nói rồi rưng rưng nước mắt. Đồng Tiên Văn Lang nói:
- Bây giờ Chúa công hãy mau mau thay đổi thương giáp, y phục để tôi giả Chúa công ra chịu chết, còn Chúa công cứ việc chạy, chắc chúng không để ý đến Chúa công đâu. Chỉ còn cách này Chúa công mới thoát được thôi, nhưng xin Chúa công hãy chăm lo đến vợ con tôi nhé.
Hồ Hãn cảm động nói:
- Trên đời này thật ít ai có lòng trung nghĩa như khanh.
Nói rồi lập tức thay đổi áp giáp và thương, ngựa cho Đồng Tiên Văn Lang rồi xông ra một lượt.
Kiết Thanh thấy Đồng Tiên Văn Lang ăn mặc như vậy ngỡ là Hồ Hãn, liền quơ Lang nha bổng lướt tới chặn đánh. Đồng Tiên Văn Lang cũng vung chùy ra đỡ, đánh chưa được mấy hiệp đã bị Kiết Thanh bắt sống. Còn Hồ Hãn thì dẫn đám tàn quân liều mình tìm đường chạy thoát. Kiết Thanh đuổi theo một hồi rồi thu quân trở lại dẫn Hồ Hãn giả về báo công.
Hồ Tiên nấp trọn một đêm trên cây xem thấy rõ ràng, trong lòng hết sức thán phục tài dụng binh của Nhạc Phi, lập tức trèo xuống chạy thẳng về dinh bẩm lại cho Trương Nguyên soái hay.
Nhạc Phi đứng trên đỉnh núi đợi cho đến sáng, các đoàn phục binh trở về báo công. Nghe tin Kiết Thanh đã bắt sống được Thái tử Phiên quốc là Hồ Hãn, Nhạc Phi hết sức vui mừng và nóng lòng trông đợi. Đến khi Kiết Thanh dẫn tên Hồ Hãn này vào trước trướng, Nhạc Phi vừa xem qua đã vô cùng tức giận, quát lớn:
- Quân đao phủ đâu! Hãy dẫn Kiết Thanh đem chém cho ta. Sao lại dám lừa ta, đây là tên Hồ Hãn đóng giả.

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-05 20:28:48Hoàng Dung>
đánh máy: ran_ oo
hồi thứ hai mươi bốn
Thả tướng Kim, Lưu Dự đi đầu giặc
Dâng ngọc tỷ, Bang Xương lừa Cao Tông

Kiết Thanh nghe vậy cũng hết sức ngạc nhiên và lo sợ nghĩ:
- “Thì ra ta đã mắc lừa địch để xổng mất tên Thái tử Phiên quốc”.
Nhạc Phi gằn giọng nói:
- Ta đã dặn kỹ ngươi nhìn kỹ lưỡng rồi, sao ngươi còn mắc kế “kim hoàn thoát xác” của địch quân?
Nhạc Phi quay qua chỉ tên Hồ Hãn giả nạt lên:
- Tên khốn kiếp kia, cái quỷ kế của ngươi chỉ có thể lừa được Kiết Thanh thôi, chứ lừa ta sao được? Ngươi hãy khai thật, ngươi là ai mà lại dám giả dạng để chết thay cho Hồ Hãn?
Tên này nghe nói nghĩ thầm:
- “Nay Trung Nguyên đã có người này thì chúa ta hết trông mong chiếm đoạt giang san nhà Tống”.
Tuy nghĩ vậy, nhưng hắn vẫn xoe tròn đôi mắt, lớn tiếng nói:
- Nhạc Nam man, chúa ta là chân mệnh chi chúa, lẽ đâu lại để cho mi bắt được. Ta đây là Kim quốc Đại Nguyên soái tên là Đồng Tiên Văn Lang đây.
Nhạc Phi hất hàm bảo Kiết Thanh:
- Kiết Thanh ngươi có nghe hắn nói gì không?
Kiết Thanh vội quỳ xuống thưa:
- Chỉ vì tôi thấy hắn ăn mặc giống như Hồ Hãn nên đã lầm, vậy tội tôi đáng chết. Xin đại huynh hãy giết tôi đi và cùng giết hắn luôn thể.
Chưa tướng thấy vậy đều quỳ xuống xin tha tội cho Kiết Thanh. Nhạc Phi động lòng nói:
- Hôm nay ngươi mới phạm một lần, ta tha cho ngươi đấy. Nếu còn tái phạm thì quân pháp bất vị thân, ta quyết chẳng dung tình đâu.
Kiết Thanh bàn quỳ lạy tạ ơn Nhạc Phi. Kế Nhạc Phi bảo:
- Bây giờ đệ phải dẫn tên tướng Phiên này cùng các chiến lợi phẩm đến đại dinh nạp cho Nguyên soái để báo công.
Kiết Thanh vâng lệnh áp giải Đồng Tiên Văn Lang cùng các vật thu được của giặc. Khi đi ngang qua dinh Lưu Dự, chàng kêu quân tiểu hiệu bảo vào bẩm với Lưu Dự mở cửa dinh cho mình đi đến dinh Nguyên soái nạp chiến lợi phẩm và tướng giặc.
Lưu Dự nghe tin, thầm nghĩ:
- Quân Kim mười phần lợi hại, Tống triều không ai dám cự, Nhạc Phi mới đến mà giỏi như vậy. Hắn chỉ dùng có tám trăm binh mà đánh ta mười vạn quân của giặc, lại bắt được cả Nguyên soái của quân Kim, thật không tài nào tưởng tượng nổi. Nếu luận công ra thì ắt chức phận hắn hơn ta rồi!
Suy nghĩ hồi lâu, Lưu Dự nói thầm một mình:
- “Thôi để ta chiếm đoạt cái kỳ công này rồi kỳ sau nếu có công nào khác ta sẽ để cho hắn”.
Nghĩ đoạn, bước ra gọi Kiết Thanh bảo:
- Kiết tướng quân, ngươi với Nhạc tướng quân đánh phá quân Phiên, lại bắt được Phiên tướng thì cái công lao ấy chẳng nhỏ, song bây giờ lại phải khó nhọc qua đại dinh để báo công, lần lữa lâu ngày trong dinh, Nhạc tướng quân thiếu người dùng, nếu binh giặc đến bất thình lình thì lấy ai chống cự? Chi bằng ngươi giao hết cho ta, vì ta với Nhạc Phi cũng như anh em, để ta sai người đi báo công giùm cho ngươi, còn ngươi đem trâu, heo, dê, rượu này về khao thưởng ba quân, như thế tiện hơn.
Kiết Thanh nghe nói bùi tai, bèn giao hết cho Lưu Dự rồi lãnh trâu, heo, dê, rượu về khao thưởng ba quân.
Khi Kiết thanh về rồi, Lưu Dự bèn giam Đồng Tiên Văn Lang nơi sau dinh rồi viết một bức văn thư, gọi kỳ bài quan vào căn dặn:
- Ngươi hãy đem bức thư này đến dinh Nguyên soái báo công. Nếu Nguyên soái có hỏi thì ngươi phải nói quân Kim Phiên kéo đến bị ta giết hết, và bắt được một viên Phiên tướng còn giam nơi đây song chẳng biết Nguyên soái có cần giải nó đến hay không? Nếu Nguyên soái có hỏi điều chi khác nữa thì ngươi phải tùy cơ ứng đáp, chớ có lỡ việc.
Quan kỳ bài vâng lệnh mang thư đi ngay.
Nhắc qua Hồ Tiên đi điều tra chứng kiến Nhạc Phi đánh trận trọn một đêm, về đến dinh thay đổi y phục rồi ra mắt Trương Nguyên soái.
Nguyên soái hỏi:
- Ngươi đi thám thính, thấy sự việc như thế nào?
Hồ Tiên bèn đem hết việc mình đi thám thính, đến Thanh Long sơn leo lên cây theo dõi trọn một đem, đầu đuôi sự việc kể lại một hồi không thiếu sót.
Trương Nguyên soái nói:
- Ngươi chịu nhọc nhằn như vậy, ta ghi công cho ngươi.
Qua hôm sau, Nguyên soái họp hết mấy vị Tiết Đạt sứ cùng mấy vị Tổng Binh nghị việc, bỗng nghe quân vào báo:
- Có nhị đội tiên phong là Lưu Tiết Đạt sai kỳ bài quan đến báo công, hiện còn ở ngoài dinh chờ lệnh.
Nguyên soái liền cho vào, kỳ bài quan vào cúi đầu dâng văn thư. Nguyên soái xem qua mới hay lần này Lưu Dự cũng lấy hết công của Nhạc tiên phong mà nhận làm của mình.
Nguyên soái bèn giả chúc khen ngợi và ban thưởng rồi căn dặn:
- Ngươi hãy về dinh giải tên Phiên tướng qua đây cho ta để ta làm văn biểu, dâng về kinh rồi chờ lệnh chỉ triều đình phán bảo ra sao sẽ hay.
Kỳ bài quan lạy tạ lui về. Trương Nguyên soái đợi tên kỳ bài đi khuất bèn nói với chư tướng:
- Hai phen đánh phá quân Phiên đều là công lớn của Nhạc Phi, thế mà Lưu Dự mạo công khuất lấp người hiền. Lúc này là lúc đang dụng người, thưởng phạt phải công minh, há để cho đứa gian thần rối loạn thế sao? Nay ta muốn bắt nó chém đầu thị chúng, rồi sẽ tâu với triều đình, chẳng biết có ai dám đi bắt nó cho ta không?
Vừa nói đến đây bỗng có quan Trung quân Hồ Tiên bước ra bẩm:
- Nếu Nguyên soái sai đi bắt y thì tôi e sẽ sinh biến, chi bằng sai người qua đó nói dối rằng Nguyên soái muốn mời y đến nghị việc, rồi họp hết chư tướng tra khảo cho rõ đầu đuôi. Chừng ấy sẽ chém thì lòng dân mới phục, mà chính y cũng không còn cớ gì oán trách được nữa.
Nguyên soái gật đầu đáp:
- Kế ấy hay lắm, vậy ngươi hãy thi hành ngay, và hãy đề phòng, chớ nên để lộ việc.
Hồ Tiên vâng lệnh lên ngựa đi ngay.
Lúc bấy giờ trong dinh Nguyên soái có một vị Tiết Đạt sứ tên là Tào Vinh là thông gia với Lưu Dự, thấy Nguyên soái sai Hồ Tiên đi lừa cho Lưu Dự về gặp, lão ta nghĩ thầm:
- “Dẫu sao Lưu Lân là con trai lớn của Lưu Dự cũng là rể của ta, nay việc đã như vậy ắt tính mạng của cha con họ Lưu khó bảo toàn, mà hễ cha con họ Lưu chết rồi thì con gái ta trở thành kẻ góa bụa, bơ vơ.
Nghĩ rồi, sai người tâm phúc cưỡi ngựa chạy ngay đến chỗ Lưu Dự báo cho y biết.
Hôm ấy Lưu Dự đang ngồi trong dinh đợi tên kỳ bài quan chưa thấy về, bỗng nghe quân sĩ vào báo:
- Tiết Đạt sức Tào gia gia có sai người qua đây muốn xin vào ra mắt lão gia.
Lưu Dự sai cho vào. Người này bước vào vẻ mặt hớt hải nói:
- Việc quá khẩn cấp, gia gia tôi chẳng kịp viết thư, bảo tôi qua đây cấp báo cho ngài hay rằng: Đại Nguyên soái đã biết được ngài mạo công của Nhạc Tiên phong nên giả chước sai quan Trung Quân đi mời ngài qua đại doanh nghị sự. Việc này chắc tính mạng ngài khó bảo toàn, xin ngài hãy lo kế thoát thân cho sớm.
Lưu Dự nghe nói mặt mày biến sắc, vội lấy năm chục lượng bạc thưởng cho người ấy và dặn:
- Ngươi hãy về nói lại với Tào gia, ta rất cảm ơn ơn cứu tử, ngày sau ta sẽ lo báo đáp.
Người ấy từ tạ lui về, Lưu Dự suy nghĩ một hồi rồi trở vào dinh sau, thả ngay Đồng Tiên Văn Lang đoạn nói với hắn:
- Tôi vẫn biết Nguyên soái là danh tướng của Phiên triều, nay rủi lầm kế bị Nhạc Phi bắt được. Tôi nhận thấy khí số nhà Tống đã suy, trái lại nhà Kim thì hưng thịnh lắm. Vì vậy tôi muốn thả Nguyên soái ra để ngài dắt tôi đi đầu nước Kim, chẳng hay Nguyên soái thấy thế nào?
Đồng Tiên Văn Lang nói:
- Tôi là kẻ bị bắt, tính mạng nằm trong tay ngài, nay ngày ra ân cứu tử hoàn sinh thì tôi phải lo báo đáp. Hơn nữa Chúa công của tôi là người yêu chuộng kẻ hiền, nếu ngài muốn qua đầu hàng nước tôi thì tôi sẽ bảo cử cho ngài được trọng dụng ngay.
Lưu Dự cả mừng liền sai dọn tiệc ăn uống, một mặt truyền kiểm điểm binh mã.
Khi sắp khởi hành, bỗng thấy tên kỳ bài trở về bẩm:
- Trương Nguyên soái lệnh giải Phiên tướng qua dinh cho người liệu định.
Lưu Dự cười gằn rồi thúc trống nhóm hết tướng sĩ, lên tiếng tuyên bố:
- Hiện nay Tân Vương còn nhỏ tuổi chưa biết chi cả, còn Trương Sở thì thưởng phạt bất minh, nay chúa công bên nước Kim yêu chuộng hiền tài nên ta đã ước với Kim quốc Nguyên soái để qua đó đầu hàng. Nếu bọn ngươi muốn đi thì hãy sắm sửa ra đi để qua đó lập công danh...
Lưu Dự vừa nói đến đây, tướng sĩ cùng đồng thanh nói:
- Chúng tôi đều có cha mẹ vợ con ở Tống, nhất quyết không khi nào chịu đầu quân Kim đâu.
Nói dứt lời bỏ chạy tứ tán. Lưu Dự đứng xem, lơ láo không biết làm cách nào. Chỉ có vài tên thủ hạn còn đứng đó, Lưu Dự và Đồng Tiên Văn Lang bèn vội vàng lên ngựa ra đi. Lưu Dự còn e binh mã của Nhạc Phi ở trước ngăn trở, nên phải lần theo con đường nhỏ mà đi.
Bỗng thấy từ phía sau có một người cưỡi ngựa chạy bay đến gọi lớn:
- Lưu lão gia đi đâu đó?
Lưu Dự quay lại biết ngay người ấy là quan Trung Quân Hồ Tiên, liền hỏi:
- Ngươi đến đây làm gì?
Hồ Tiên đáp:
- Có lệnh của Trương Nguyên soái đây, người bảo đến mời ngài qua đại dinh để nghị sự.
Lưu Dự cả cười:
- Việc ấy ta thừa hiểu, lẽ ra ta giết quách ngươi đi, song ta e không ai về báo tin, nên ta để cho ngươi sống về báo lại với lão Trương Sở rằng: Ta đây đường đường một đấng trượng phu chớ chẳng phải vật nuôi trong lồng, trong chậu đâu mà chịu cho nó tiết chế. Nay ta đi đầu hàng Kim quốc, ta tạm gửi cái đầu nó dính trên cổ ít ngày, rồi đây ta sẽ trở về cắt đứt.
Quan Trung quân Hồ Tiên chẳng dám nói nửa lời, vội quay ngựa trở lại, vừa đi vừa nghĩ:
- Lạ thật, không biết ai đã báo tin cho hắn mà hắn lại như vậy?
Trương Nguyên soái đang sắp đặt làm bổn chương để sai người về kinh tâu, bỗng nghe quân báo có thánh chỉ sai ra. Trương Sở vội vàng tiếp chỉ xem, mới hay triều đình cử mình phải ra phòng thủ Hoàng Hà và phong cho Nhạc Phi là Đô Thống.
Trương Sở tạ ơn rồi làm biểu tâu việc Lưu Dự đầu Kim và Nhạc Phi lập nhiều công lớn.
Biểu văn làm xong lập tức giao cho khâm sai đệ về kinh, rồi sai Nhạc Phi lãnh binh đi trước trấn giữ Hoàng Hà.
Bây giờ xin nhắc lại việc Hồ Hãn, từ khi bị thua một trận không còn một manh giáp, chỉ còn mấy tên tàn quân chạy hớt hải về ra mắt Ngột Truật. Ngột Truật hỏi:
- Vương huynh có đến mười vạn binh mã, tại sao lại có thể thua quân Tống?
Hồ Hãn nói:
- Nay có một tên Nam man Nhạc Phi rất lợi hại.
Hồ Hãn thuật lại hết đầu đuôi cho Ngột Truật nghe. Ngột Truật nói:
- Xưa nay đệ chưa từng nghe bên Tống triều có tên Nhạc Phi nào lợi hại như thế cả.
Hồ Hãn nói:
- Trong bước đường cùng, nếu chẳng có Đồng Tiên Văn Lang thế mạng thì anh phải bỏ thây tại Hiệp Sơn rồi còn chi.
Ngột Truật nghe nói cả giận nói:
- Thôi Vương huynh hãy yên tâm, để đệ dấy binh qua sông Hoàng Hà bắt bằng được Nhạc Phi để rửa hờn cho Vương huynh. Sau đó đệ sẽ kéo binh mã đến thẳng Kim Lăng đạp bằng nhà Tống thành bình địa.
Ngột Truật còn đang giận dữ, bỗng nghe quân canh vào báo:
- Đồng Tiên Văn Lang đã về, hiện còn đang đứng ngoài chờ lệnh.
Ngột Truật nghe báo lấy làm lạ, lẩm bẩm:
- “Lạ thật, Vương huynh ta đã bảo rằng nó bị bọn Nam man bắt rồi, sao hôm nay lại về được?”
Ngột Truật truyền lệnh cho vào, Đồng Tiên Văn Lang bèn nói với Lưu Dự:
- Ngài hãy đứng ngoài này đợi một lát, để tôi vào tâu trước đã rồi sẽ ra mời vào sau.
Lưu Dự chắp tay:
- Tôi nhờ ơn Nguyên soái.
Đồng Tiên Văn Lang vào trước trướng vội quỳ yết kiến, Ngột Truật hỏi:
- Nghe nói ngươi bị Nam man bắt rồi sao lại trốn về được?
Đồng Tiên Văn Lang bèn thuật lại mọi việc Lưu Dự thả mình và cùng đến đây muốn đầu hàng. Ngột Truật hừ một tiếng và nói:
- Những loài gian thần còn để nó làm gì! Hãy bắt nó vào đây bằm nát thây cho ta.
Quân sư Hấp Mê Xí vội can:
- Chúa công chớ nên làm như vậy, hãy cho nó vào đây và phong tước vương cho hắn, để hắn đấy ngày sau chúng ta sẽ có chỗ dùng.
Ngột Truật nghe theo lời quân sư, sai Bình chương ra gọi Lưu Dự vào, phong cho chức Lỗ Vương rồi cử đi trấn thủ miệt Sơn Đông. Lưu Dự mừng rỡ tạ ơn lui ra.
Lại nhắc đến Trương Nguyên soái, khi dẫn quân đến Hoàng Hà liền sai mấy viên Tiết Đạt sứ đến đóng quân ở các nơi có thể cố thủ, còn Nhạc Phi với Kiết Thanh thì đóng dinh tại hướng Bắc để ngăn chặn quân Phiên.
Cắt đặt xong xuôi, Trương Nguyên soái bèn dẫn đại quân qua định đánh lấy Biện Kinh.
Trương Bang Xương hay tin bèn nảy sinh một kế, liền vào yết kiến Thái hậu và tâu:
- Ngột Truật đã đem binh vào Trung Nguyên rồi, chẳng bao lâu đây chắc nó vào thâu đoạt Biện Kinh. Nay Khương Vương Cửa Điện hạ đã lên ngôi tại Lim Lăng, thần muốn bảo hộ Thái hậu qua đó. Vậy xin Thái hậu hãy giao ngọc tỷ cho thần để mang dâng cho Khương Vương.
Thái hậu nghe nói, nước mắt chảy ròng ròng, than thở:
- Nay Thiên tử đã biệt vô âm tính thì cái ngọc tỷ này còn để làm gì!
Tha rồi trao ngay ngọc tỷ cho Trương Bang Xương. Trương Bang Xương lấy được ngọc tỷ rồi vội vã về nhà góp nhóp vàng bạc châu báu dắt hết gia quyến thẳng qua Kim Lăng.
Khi Trương Nguyên soái kéo binh đến Biện Lương thì quân giữ thành vội mở cửa nghinh tiếp. Trương Sở vào thành yết kiến Thái hậu. Thái hậu thuật lại việc Trương Bang Xương lừa lấy ngọc tỷ rồi dắt hết gia quyến đi mất mà không biết đi đâu. Trương Sở tâu:
- Bốn phía đều có binh mã của hạ thần trấn giữ, không lẽ nó trốn đi đâu cho khỏi. Để thần sai người đi thám thính xem nó đi đâu rồi sẽ về phục chỉ.
Nói rồi từ giã lui ra truyền binh giữ chặt Biện Lương. Lúc ấy Trương Bang Xương đã đến Kim Lăng, lo tìm chỗ trú ngụ cho gia quyến rồi vào Ngọ môn nói với quan Huỳnh môn:
- Tôi là Trương Bang Xương đến đây giao ngọc tỷ, xin người vào tâu hộ.
Quan Huỳnh môn vào tâu cho vua Cao Tông hay, Cao Tông bèn hỏi quần thần:
- Nay tên gian tặc đến đây, chư khanh liệu thế nào?
Thái sư Lý Can tâu:
- Trương Bang Xương đến đây dâng ngọc tỷ thì cái công ấy lớn lắm, phải phong cho y chức Hữu Thừa tướng. Song tâm địa của hắn không tốt, Chúa công không nên gần nó thì dù nó có ở đây cũng không làm gì hại nổi.
Cao Tông khen phải, cho đòi Trương Bang Xương vào. Bang Xương quỳ mọp trước điện, Cao Tông phán:
- Cái tội trước của khanh trẫm đã bỏ qua. Nay khanh có công dâng ngọc tỷ, trẫm phong cho khanh làm chức Hữu Thừa tướng.
Trương Bang Xương mừng rỡ tạ ơn lui ra.
Qua bữa sau Trương Bang Xương vào điện tâu:
- Nay Ngột Truật lại qua xâm phạm Trung Nguyên lần nữa, song nhờ Nhạc Phi đánh tại Thanh Long sơn một trận, giết quân Phiên manh giáp chẳng còn, nếu không có người này, chắc chắn Trung Nguyên khó giữ, thật quả là bề tôi trụ cột của triều đình. Vậy theo ngu ý của thần, xin Chúa công triệu Nhạc Phi về kinh phong chức Nguyên soái đặng dấy binh đánh thốc qua Phiên quốc đón Nhị Đế về trào.
Cao Tông nghe tâu liền phán:
- Lời Bang Xương tâu cũng phải, song lời nói của Bang Xương dầu phải dầu trái, trẫm cũng không thể nghe theo.
Trương Bang Xương xấu hổ lui ra, về nhà ngồi nghĩ một mình:
- “Chúa thượng đã không thèm đếm xỉa đến lời nói của ta thì làm Thừa tướng như vậy có quyền thế chi đâu.”
Bang Xươngg đang lo mưu kế, bỗng thấy thị nữ Hà Hương và dâng tra, Bang Xương trông thấy con thị nữ ấy dung nhan sắc xảo, nghĩ thầm:
- “Để ta nhận con Hà Hương làm con đem dâng vào cung, làm sao cho nhà vua yêu dấu, hoang dâm tửu sắc, không kể đến việc triều chính. Chừng ấy dù ta có đem hết giang san nhà Tống dâng cho Kim vương cũng có thể được.”
Nghĩ vậy, Trương Bang Xương kêu Hà Hương dặn dò dạy bảo. Con Hà Hương thuận tình ngay.
Hôm sau, Bang Xương sai Hà Hương trang điểm lộng lẫy rồi lên xe đến Ngọ môn. Trương vào trước quỳ dưới bệ tâu:
- Thần có một đứa con gái tên là Hà Hương xin dâng vào cung để phục dịch bệ hạ, còn đang ở ngoài Ngọ môn đợi chỉ.
Vua Cao Tông tuổi còn trẻ, xuân tình đang mơn mởn nên nghe nói vội hạ chỉ triệu vào.
Hà Hương vào quỳ mọp trước Kim giai tung hô vạn tuế. Cao Tông trông thấy Hà Hương nhan sắc mặn mà, động lòng tình dục, vội truyền quan Thái giám đưa thẳng vào cung.
Lý Can thấy vậy bước ra tâu:
- Xin Chúa công sai Thái giám đưa qua Tây cung.
Cao Tông chưa kịp phán lời gì, Bang Xương đã tâu tiếp:
- Xin Chúa công hạ chỉ triệu Nhạc Phi về triều phong chức để kịp thời dấy binh đi bình phục Bắc Phiên.
Cao Tông không cần nghĩ ngợi gì cả, liền hạ chỉ sai Bang Xương phát chiếu đi triệu Nhạc Phi rồi vội vã di giá hồi cung để giao hoan với Hà Hương.
Mấy ngày sau Hữu Thừa tướng Trương Bang Xương lại vào triều tâu:
- Nhạc Phi vì thấy quân Kim xâm lấn bờ cõi nên đang phải dốc sức giữ gìn nơi yếu địa, không thể bỏ về được. Vì trường hợp ở ngoài nên tùy cơ ứng biến, nên Nhạc Phi không bằng lòng thụ chiếu.
Cao Tông thản nhiên đáp:
- Nếu thế thì thôi vậy.
Thực ra, khi Bang Xương lĩnh chỉ rồi để đấy mà không thèm đi triệu Nhạc Phi. Y tạo cơ hội để sau này vu oan cho Nhạc Phi cố tình chống chỉ của nhà vua và thực hiện những âm mưu đê hèn nhằm hãm hại viên tướng tài ba này.

o0o
0
đánh máy: ran_oo
hồi thứ hai mươi lăm
Dâng gái đẹp nhằm thao túng vua hèn
Làm chiếu giả, hại Nhạc Phi đối thủ


Chuyện Bang Xương dâng con gái nuôi cho Cao Tông khiến cho Thái sư Lý Can rất lo ngại. Đêm ấy, Lý Can về nhà thuật lại cho phu nhân nghe.
Phu nhân cười mỉa mai nói:
- Chỉ vì gian thần không thể chuyên quyền được nên mới lập kế dâng con gái vào cung để dễ bề thao túng.
Lý Can gật đầu:
- Phu nhân nói thật trúng tim đen của lũ gian thần. vậy thì ta phải xem chừng hành động của hắn mới được.
Đang nói chuyện, bỗng thấy có bóng người thấp thoáng dưới thềm. Thái sư bấm trán suy nghĩ hồi lâu rồi “à” một tiếng, gật đầu nói:
- À, ta nhớ ra rồi. Ngươi là Trương Bảo, thế mà lâu nay ta quên hẳn ngươi đi chứ. Chỉ vì nước nhà có nhiều việc bối rối ta phải lo lắng nhiều nên quên mất việc tiến cử ngươi. Thôi, ngươi hãy đi lấy giấy mực ra đây ta tiến cử cho.
Trương Bảo chạy đi lấy giấy mực đem để trên bàn. Lý Thái sư hí hoáy viết một phong thư niêm phong tử tế rồi trao cho Trương Bảo căn dặn:
- Ta tiến cử ngươi cho Nhạc Đô Thống. Ngươi hãy ra đó ở với người, phải hết lòng trung nghĩa, ngày sau sẽ được hưởng bổng lộc.
Trương Bảo lắc đầu tỏ vẻ không bằng lòng:
- Thưa lão gia, con không đi đâu. Người xưa có nói: “Gia đinh của Tể tướng cũng bằng quan thất phẩm”, sao lại đi ở với Nhạc Đô Thống như vậy?
Lý Thái sư cười gằn đáp:
- Nhạc Phi là bậc anh hùng, thật quả là một trang hào kiệt văn võ song toàn mà ngươi chẳng theo, còn đợi theo ai?
Trương Bảo đáp:
- Lão gia đã bảo vậy thì con xin vâng lời. Song nếu có theo người ấy một thời gian mà thấy người không đủ tư cách, con sẽ trở về hầu hạ dưới trướng của Thái sư.
Nói rồi bái biệt Thái sư trở về nhà từ giã vợ con, quảy hành lý và xách thiết côn ra đi.
Ba hôm sau Trương Bảo đến Hoàng Hà, tìm vào dinh nói với quân canh:
- Xin ngươi vào bẩm với quan Đô Thống rằng ta là người của Lý Thái sư ở kinh đô sai đem thư ra cho ngài.
Quân sĩ vào thưa lại, Nhạc Phi cho vào ngay. Trương Bảo vào dinh cúi đầu dâng thư, Nhạc Phi xem xong rồi nói:
- Trương quản gia ơi! Sao ngươi không ở với Thái sư để tìm chỗ xuất thân cho có danh vọng hơn, chính chỗ này khổ sở lắm, ngươi ở sao được! Thôi, ngươi hãy ra phía sau tạm dùng cơm, rồi ta viết một phong thư phúc đáp để ngươi mang về trao lại cho Thái sư.
Trương Bảo theo tên gia đinh vào trong tiêu dinh, trông thấy đồ vật trong dinh, bàn ghế đều làm bằng ván thông đóng thô sơ, chẳng có vật chi đáng giá cả.
Vài phút sau, cơm đã dọn lên, Trương Bảo nhìn qua mâm cơm chẳng có chi là sơn hào hải vị, ngoài đĩa cá, thịt, bát đậu, tô canh và bầu rượu trắng thì không có món gì nữa.
Tên gia đinh bước đến thân mật bảo:
- Xin Trương gia dùng cơm.
Trương Bảo cau mày nói:
- Sao ngươi dọn cho ta sơ sài quá vậy.
Tên gia đinh nói:
- Hôm nay có Trương gia đến đây mới mua những thức ăn này, chứ gia gia tôi ở ngoài này, bữa nào cũng ăn chay mà còn có vẻ không dám ăn nữa là khác. Đến nỗi cứ đến bữa ăn thì gia gia tôi lại quay mặt qua hướng Bắc khóc than rằng: “Thần ở bên này ăn uống no đủ như vậy, không biết Nhị vị thánh thượng bị cầm ở phương Bắc sống ra sao, thần không sao nuốt trôi miếng cơm.” Chẳng có bữa ăn nào mà gia gia tôi không khóc và không nói như vậy.
Trương Bảo nghe thấm ý, hắn gật đầu lia lịa rồi nói:
- Thôi thôi, ta hiểu rồi, đừng nói nữa, để ta ta ăn cơm.
Nói rồi Trương Bảo ngồi xuống ăn vài chục bát cơm trông rất ngon lành.
Uống nước xong, Trương Bảo chạy thẳng ra trước trướng hầu lệnh.
Nhạc Phi nói:
- Thư đã viết rồi, ngươi hãy đem về trao cho Thái sư.
Trương Bảo nói:
- Thưa Đô Thống, tôi chẳng về đâu, vì lệnh của Thái sư rất nghiêm, tôi không dám làm trái. Hơn nữa tôi cảm thấy ở đây tâm hồn sảng khoái, dù khổ cực đến đâu tôi cũng chịu nổi.
Nhạc Phi nói:
- Nếu vậy ngươi hãy ở tạm đây rồi sau sẽ hay.
Nói rồi sai Trương Bảo vào dinh ra mắt Kiết Thanh. Thế là từ đó Trương Bảo ở đó phục vụ Nhạc Phi một cách trung thành, không ai nghe chàng kêu ca khổ sở bao giờ.
Lại nói đến chuyện Trương Bang Xương, sau khi lừa được Thái hậu lấy ngọc tỷ, trước khi dâng lên vua Cao Tông, Bang Xương đã đóng sẵn ấn tỷ vào giấy trắng để làm chiếu giả, phòng khi cần đến.
Hôm ấy Bang Xương làm một đạo chiếu giả sai người mang ra Hoàng Hà triệu Nhạc Phi về.
Nhạc Phi tưởng thật, vội nói với quan Khâm sai:
- Xin Khâm sai về trước, tôi sắp đặt các việc xong xuôi sẽ theo sau.
Khâm sai vội cáo biệt ra về. Nhạc Phi gọi Kiết Thanh vào dặn:
- Nay ta phụng chỉ về kinh, còn e quân Kim có thể vượt sông Hoàng Hà bất thình lình, nên ta muốn tỏ cùng đệ một điều quan hệ, chẳng biết đệ có bằng lòng không?
Kiết Thanh nói:
- Đại huynh có điều gì căn dặn xin cứ việc dạy bảo.
Nhạc Phi nghiêm sắc mặt nói:
- Con sông Hoàng Hà vô cùng yếu trọng, nếu để quân Phiên tràn qua được thì khó mà giữ nổi Kim Lăng và Biện Kinh. Vì vậy trong những ngày ta vắng mặt ở đây, xin phó thác lại cho hiền đệ. Ta rất tin tưởng tài năng của hiền đệ, tuy thế vẫn còn e ngại. Vì vậy lúc ta lĩnh chỉ, ta cấm đệ không được uống rượu, đợi lúc nào ta trở ra đây thì tha hồ mà uống. Nếu hiền đệ bằng lòng, phải lấy chén trà này mà thề trước mặt ta.
Vừa nói, Nhạc Phi vừa rót chén trà trao cho Kiết Thanh. Kiết Thanh tiếp lấy và nói:
- Đệ xin tuân lệnh.
Nói dứt lời, uống hết chén trà. Nhạc Phi lại sai một tên gia tướng sang bên dinh Nguyên soái bẩm:
- Nay Nhạc gia tôi phụng thánh chỉ về triều. Chỉ vì mệnh vua nên không kịp đến đây từ biệt, xin Nguyên soái miễn chấp.
Trước khi ra đi, Nhạc Phi còn dặn dò Kiết Thanh đôi ba lần rồi mới lên ngựa cùng Trương Bảo lên đường.
Đi được nửa đường, bỗng gặp một chiếc cầu sập, phía dưới nước sâu lại chảy xiết không thể qua được, Nhạc Phi hỏi Trương Bảo:
- Hôm trước ngươi từ kinh đô ra, làm sao qua được chỗ này?
Trương Bảo đáp:
- Hôm trước hạ quan qua đây, chiếc cầu này vẫn còn chắc chắn lắm. Không hiểu sao hôm nay lại sập như thế này, thật là lạ lùng.
Nhạc Phi nói:
- Thế thì có lẽ nói mới bị sập đây thôi, ngươi hãy đi mượn một chiếc thuyền thì mới có thể qua được.
Trương Bảo lãnh mệnh đi dọc theo mé sông tìm kiếm nhưng không thấy một chiếc thuyền nào cả. Chàng ngó sang bên kia sông, chợt thấy một chiếc thuyền con đang đậu dưới lùm cây.
Trương Bảo lớn tiếng gọi:
- Bớ đò! Hãy qua đây đón ta sang sông với.
Bên kia, chiếc thuyền con quay mũi từ từ lướt sang. Khi con thuyền gần đến bờ, Nhạc Phi mới thấy rõ người chèo thuyền là mày to mắt lớn, da mặt đỏ bầm, mình cao một trượng, vai rộng lưng tròn, tướng mạo thật là hung dữ.
Thuyền chưa đến bờ, người ấy đã dừng thuyền lại bảo:
- Các người muốn qua sông phải không? Nếu cần thì phải trả giá trước đã.
Trương Bảo hỏi:
- Ngươi đòi bao nhiêu?
- Mỗi người mười lượng, con ngựa cũng mười lượng.
Nhạc Phi nghe nói nghĩ thầm:
- “Thế thì chắc tên này là kẻ đã phá sập chiếc cầu chứ chẳng phải ai khác”.
Trương Bảo nói:
- Ồ, sao mà đắt quá thế? Chúng ta cũng là anh em cả, bớt xuống chút đỉnh có được không?
Người ấy “hừ” một tiếng rồi trầm giọng:
- Giá nhất định như vậy rồi, không thể lên xuống gì nữa được.
Trương Bảo nói:
- Thôi, không hề chi. Ngươi cứ việc đưa ta qua sông rồi ta sẽ trả đủ số cho.
Tên ấy cau mày nghĩ thầm:
- Hắn nói thế là muốn lừa ta đấy, nhưng ta lại sợ hắn sao. Ta đưa hắn qua khỏi sông rồi dù hắn có bay lên trời cũng không thoát khỏi tay ta đâu.
Rồi hắn ngước mặt lên nhìn con ngựa rồi lại chăm chú nhì cái gói trong tay Trương Bảo. Hắn lẩm bẩm một mình: “Cái gói kia coi bộ nặng tay và con ngựa kia cũng tốt, chắc bán được nhiều tiền. Còn viên quan kia coi bộ nho nhã, chắc cũng dễ ra tay. Duy có tên quan hầu kia trong các thớ thịt nổi vồng, chắc hắn có sức mạnh, chi bằng lừa nó bắt con ngựa thì hay hơn”.
Nghĩ đoạn, hắn nói với Nhạc Phi:
- Tôi đưa các người qua sông rồi mới lấy tiền cũng được, ngặt vì thuyền tôi quá nhỏ không thể chở hết một lần được. Thôi để tôi chở ông và con ngựa qua trước rồi sẽ sang chở chú lính kia qua sau.
Trương Bảo nói:
- Ngươi đã chở được một người một ngựa, còn một mình ta đây thêm một chút không được sao? Thôi để ta chịu khó ngồi ghé sau chỗ lái cũng được.
Tên lái thuyền nghĩ thầm:
- “Thế thì thằng này đã tới số rồi, nếu nó ngồi sau lái thì ta chỉ cần hất một cái hắn sẽ té nhào xuống sông ngay, không cần phải ra tay dùng đến võ nghệ làm gì”.
Nghĩ vậy, hắn gật đầu đáp:
- Thế thì ông ráng chịu khổ một lát nhé.
Vừa nói, vừa chèo thuyền vào bờ. Nhạc Phi liền dắt ngựa xuống thuyền, quả nhiên thuyền ấy chỉ có thể chở một người một ngựa là vừa sức. Nhạc Phi để ngựa đứng giữa, chàng ra đứng trước mũi, còn Trương Bảo thì quảy gói bước xuống đứng sau lái, tay cầm côn sắt, mắt gườm gườm nhìn tên chèo thuyền.
Thấy vậy hắn nghĩ thầm:
- “Nó ngó chừng ta mãi, mà ta lại không có binh khí, làm sao ra tay cho được”.
Hắn dịu giọng nói với Trương Bảo:
- Ông làm ơn cầm hộ cây sào cho tôi để tôi lấy bánh ăn lót lòng. Nếu ông có đói bụng xin mời ông ăn với tôi cho vui.
Trương Bảo chủ tâm đề phòng, nhưng vẫn làm ra vẻ thản nhiên đáp:
- Được rồi, ông cứ để đó tôi chèo hộ cho.
Nói rồi để cây côn xuống, cầm mái chèo quạt nước rất thành thạo. Tên lái thuyền liền lật miếng ván lên, rút một con dao sáng ngời.
Trương Bảo vừa thoáng trông thấy đã tung mình nhảy tới dùng chân trái đá trúng cánh tay hắn khiến con dao rơi bõm xuống sông, rồi thuận đà, Trương Bảo bồi thêm một cú đá như trời giáng hất hắn xuống nước.
Nhạc Phi ngồi trước mũi thuyền gọi Trương Bảo nói:
- Hãy coi chừng, hắn ở dưới nước có thể ngầm hại ta đấy.
Trương Bảo vội bỏ mái chèo xuống lấy cây côn làm dầm bơi, chàng nói:
- Để xem hắn có thể làm gì.
Tên lái đò nhô đầu lên trông thấy Trương Bảo lăm le cây côn trên tay nên không dám bới đến gần. Trước mũi thuyền, Nhạc Phi cũng lấy cây Lịch Tuyền thương quạt do đó nước lia lịa.
Chẳng bao lâu con thuyền đã đến bờ bên kia. Nhạc Phi dắt ngựa lên, Trương Bảo cũng quảy gói theo sau. Con thuyền không còn ai nên quay ngang trôi theo dòng nước.
Trương Bảo thấy thế cười khúc khích nói với Nhạc Phi:
- Chắc hắn tức muốn vỡ mật mà không biết làm sao đây. Chuyến này thằng ăn cướp sẽ phải nhớ đến già.
Nhạc Phi lên ngựa ra roi, Trương Bảo quảy gói chạy bộ theo sau. Chạy điều kiện mươi bước, chợt nghe phía sau có tiếng gọi lớn:
- Hai tên kia, hãy trả tiền cho ta, không được chạy đi đâu cả.
Trương Bảo quay lại xem thì thấy tên chủ đò tay cầm chiếc côn đồng đang đuổi theo. Trương Bảo liền đứng lại giơ cao thiết côn lên bảo:
- Này ông bạn ơi! Nếu muốn đòi tiền, hãy hỏi thử cái côn của ta đây xem nó có chịu trả không đã.
Đang lúc giận dữ, lại nghe Trương Bảo nói giọng trịch thượng, hắn bừng bừng sát khí nghiến răng nói:
- Hừ! Mình định vuốt râu cọp hả? Ta bảo cho mà biết, trong thiên hạ này ta chỉ trừ có hai người đi đò ta không lấy tiền, ngoài ra dù cho đương kim Hoàng đế ta cũng không cho thiếu một đồng.
Trương Bảo cười khẩy nói:
- Sao ngươi không kể luôn ta đây cho đủ ba người?
- Tên khốn kiếp, ngươi là kẻ nào mà dám chọc đến ta? Hãy coi chừng cây côn này.
Vừa nói vừa vung công nhắm ngay đầu Trương Bảo đánh xuống, Trương Bảo cũng vận sức đỡ ra. Hai người đánh nhau đến mười mấy hiệp, Trương Bảo bị vướng chiếc gói sau lưng nên xoay xở bất tiện, coi bộ gần muốn thua. Nhạc Phi thấy thế liền giục ngựa xốc lại lấy thương đè hai cây côn xuống nạt lớn:
- Hãy dang ra!
Tên chủ đò nói:
- Dù hai đứa bay có hiệp lực cũng không làm gì nổi ta đâu.
Nhạc Phi cứ đè chặt hai cây côn, nói:
- Hãy khoan đánh đã, vì ta muốn hỏi một điều. Lúc nãy nghe ngươi bảo rằng trong thiên hạ này ngoại trừ hai người không lấy tiền đò, vậy hai người ấy là ai hãy cho ta biết.
Hắn đáp:
- Một là vị Thái sư trong triều tên Lý Can, ta không lấy tiền đò vì người ấy là một đại trung thần.
Nhạc Phi vội hỏi:
- Còn người thứ hai là ai?
- Còn một người nữa ở  tại Thang Âm huyện, tên là Nhạc Phi ta cũng không lấy tiền, vì người ấy là đệ nhất anh hùng trong thiên hạ.
Trương Bảo nói:
- Nếu thế thì hay lắm, sao không kể luôn ta vào cho đủ ba người?
Chủ đò cau mày:
- Ngươi đứng vào hạng nào mà dám bảo ta kể luôn đến ngươi vào đây?
Trương Bảo giơ tay chỉ Nhạc Phi nói:
- Ngươi đã không lấy tiền đò Nhạc gia ta đây, chẳng lẽ ngươi lại lấy tiền một mình ta sao?
Hắn trố mắt nhìn Trương Bảo:
- Ngươi bảo ai là Nhạc Phi? Ngươi muốn lừa ta để quỵt tiền đò phải không?
Nhạc Phi lên tiếng nói:
- Chính ta đây là Nhạc Phi đang trấn thủ Hoàng Hà để ngăn ngừa quân Kim, nay có chiếu chỉ của Hoàng thượng nên phải về kinh gấp. Chẳng hay tráng sĩ làm sao biết được tên ta mà cảm mến làm vậy?
Người lái đò nhìn sững Nhạc Phi hồi lâu rồi nói:
- Nếu vậy, ngài là người năm nọ đã đâm chế Tiểu Lương vương đó sao?
Nhạc Phi gật đầu:
- Đúng đây, chính ta đây.
Người chủ đò vội quăng cây côn xuống đất sụp lạy:
- Tôi có lòng ngưỡng mộ đại nhân, từ lâu muốn đi theo ngài, nhưng không có dịp. Nay may mắn được gặp ngài đây, do không biết nên đã xúc phạm, xin ngài dung thứ và thu dụng, tôi tình nguyện đi theo hầu ngài trọn kiếp.
Nhạc Phi nói:
- Tráng sĩ hãy đứng dậy, đừng lạy lục như vậy. Hãy vui lòng cho ta biết tên họ và quê quán ở xứ nào? Vì lý do gì muốn đi theo ta?
Người chủ đò đáp:
- Tôi sinh trưởng tại Dương Tử giang, họ Vương tên Hoành, xưa nay chuyên buôn bán hàng lậu ở bờ sông này để kiếm kế sinh nhai. Vì ham cờ bạc và uống rượu nên có đồng nào là tiêu hết. Bây giờ hồi tâm lại, muốn lo lập công danh sự nghiệp.Tôi nghe danh ngài đã lâu, muốn tìm để theo, ngặt một nỗi trong lưng không có tiền lộ phí nên ra sức phá cái cầu này để đưa đò kiếm tiền đi tìm ngài. Không ngờ lại gặp ngài nơi đây, thật là may mắn cho tôi biết chừng nào.
Nhạc Phi nói:
- Trên đời này ít kẻ thành tâm như ngươi, vậy ngươi hãy theo ta đặng phò giang san nhà Tống mà lập thân.
Vương Hoành nói:
- Tôi chẳng ham giàu sang phú quý, chỉ muốn theo hầu ngài cho đến trọn kiếp là mãn nguyện lắm rồi.
Nhạc Phi lại hỏi:
- Nhà cửa ngươi ở đâu? Cha mẹ còn cả chứ?
Vương Hoành đáp:
- Cha mẹ tôi mất sớm, chỉ có vợ và một con trai tên Vương Bưu ở trong túp lều xiêu vẹo sống gần bên mé sông phía trước đây. Chúng nương dựa với người cậu nghèo, rau cháo qua ngày. Hiện còn mấy lượng bạc giấu dưới khoang thuyền, để tôi lấy đem về cho vợ con, còn tôi thì đi theo gia gia.
Trương Bảo nói:
- Nếu muốn theo thì đi phắt cho rồi, chớ nên về nhà bịn rịn vợ con mà làm chi.
Nhạc Phi lườm Trương Bảo và nói với Vương Hoành:
- Thôi ngươi hãy về nhanh lên, chúng ta sẽ đứng đây đợi nhé!
Vương Hoành vội xuống đò lấy bạc rồi chạy thẳng về nhà từ giã vợ con, lấy áo quần gói lại khoác trên vai chạy theo Nhạc Phi.
Trương Bảo nói với Vương Hoành:
- Gia gia đi ngựa còn ta chạy theo cũng không kịp, chỉ sợ ngươi theo không nổi. Vậy hãy trao cái gói trên vai đó để ta quảy giúp cho.
Vương Hoành nói:
- Ta có thể gánh nặng ba bốn trăm cân và đi một ngày đến bốn năm trăm dặm không thấy mệt, huống chi cái gói này có đáng là bao. Ta xem cái gánh của ngươi có phần nặng hơn đấy. Chi bằng chia hai mỗi đứa một nửa mang đi tiện hơn.
Hai người cứ giằng co mãi, Nhạc Phi chẳng biết tính sao, cuối cùng chàng nói:
- Thôi để ta giục ngựa chạy trước xa, rồi hai người ra sức chạy theo xem thử ai chạy tới trước cho biết. Kẻo khoe khoang mãi thì biết ai hơn ai?
Trương Bảo reo lên:
- Thế thì hay lắm!
Nhạc Phi giục ngựa chạy xa gần tám trượng thì dừng lại, Vương Hoành và Trương Bảo ở sau chạy theo. Chỉ một khắc sau Vương Hoành chạy đến sau ngựa thì Trương Bảo đã đến đầu ngựa, thế là hai người chỉ hơn kém nhau mấy bước.
Nhạc Phi cười ha hả nói:
- Hai đứa bay thật xứng đôi quá. Vậy thì từ nay ta gọi Mã Tiền Trương Bảo và Mã Hậu Vương Hoành nhé.
Rồi ba thầy trò dắt nhau ra đi, dọc đường nói nói cười cười chẳng mấy chốc đã đến kinh sư.
Vừa đến cửa thành thì gặp Trương Bang Xương. Nhạc Phi vòng sang một bên lánh mặt, chẳng dè Trương Bang Xương trông thấy vội cho dừng kiệu lại niềm nở hỏi:
- Có phải Nhạc Tướng công đó không?
Nhạc Phi buộc lòng phải xuống ngựa ra trước kiệu chắp tay nói:
- Tôi không ngờ Trương Thừa tướng đi đến nên chẳng kịp thi lễ, mong ngài miễn chấp.
Trương Bang Xương nói:
- Tướng quân chớ nên nhớ lại việc xảy ra ở võ trường khi trước mà ngại ngùng làm gì. Hôm nay Bang Xương này đã dốc lo việc nước nên mới bảo cử tướng quân về kinh mà phong soái, thánh thượng cũng có lòng trông đợi tướng quân lắm vậy. Vậy thì sẵn đến đây, tướng quân hãy theo tôi vào triều kiến giá.
Rồi Bang Xương sai gia nhân xách đèn lồng theo. Vừa đến lầu Phân Cung, Bang Xương quay lại nói:
- Tướng quân hãy ở đây đợi chỉ, để tôi vào tâu cho thánh thượng hay.
Nhạc Phi vâng lời dừng chân lại. Bang Xương bước vào Phân Cung rồi bí mật sang bên kia, bảo người đến báo tin cho Hà Hương hay.
Lúc ấy Hà Hương đang ở trong cung ăn uống với Cao Tông, bỗng nghe quan Thái giám báo tin ấy. Hà Hương bèn thừa lúc Cao Tông đã quá chén lại thấy trăng tỏ, liền quỳ xuống tâu:
- Từ ngày thiếp vào cung đến nay chưa được biết hết các cung điện, nhân nay có trăng sáng, mát mẻ, xin bệ hạ dắt thiếp đi xem cho cho biết.
Cao Tông nói:
- Khanh muốn đi xem thì phải truyền bày xa giá, đi xem lầu Phân Cung trước đã rồi sẽ xem mấy cung kia.
Khi xa giá đi đến lầu Phân Cung, Nhạc Phi đang đứng mong chờ, chợt thấy đèn đuốc sáng ngời, loan giá vừa đi tơi, chàng nghĩ thầm:
- Vậy thì quyền thế của Trương Bang Xương vẫn còn lớn.
Rồi bước tới quỳ lạy:
- Tôi là Nhạc Phi xin tiếp giá.
Quan Nội giám vùng hô lớn lên:
- Có thích khách! Có thích khách!
Ngự lâm quân liền ra bắt Nhạc Phi trói lại. Cao Tông nghe vậy thất kinh vội truyền hồi cung lập tức và hỏi:
- Thích khách là ai vậy?
Nội giám tâu:
- Thích khách là Nhạc Phi.
Hà Hương nói:
- Nếu quả là Nhạc Phi thì phải chém đầu!
Lúc ấy vua Cao Tông đã say mèm không còn biết gì nữa cả, chỉ nghe lõm bõm tiếng của Hà Hương:
“Hôm trước triệu hắn về kinh, hắn nghịch chỉ không chịu về. Nay tự nhiên lại về, vào đến chốn thâm cung này hành thích.Xin bệ hạ hãy lệnh xử trảm hắn cho đúng quốc pháp”.
Nhà vua truyền lệnh dẫn Nhạc Phi ra pháp trường chém ngay lập tức!

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-06 02:07:21Hoàng Dung>
đánh máy: Lucern
hồi thứ hai mươi sáu 
Lý thái sư quyết bảo vệ Nhạc Phi
Quân thảo khấu kéo về triều cứu bạn 

Trương Bảo và Vương Hoành đứng ngoài trông thấy quân thị vệ vâng lệnh dẫn Nhạc Phi ra khỏi Ngọ môn hoảng hồn vội chạy đến hỏi:
- Tại sao gia gia lại bị hành hình vậy?
Nhạc Phi đáp:
- Sự thật ta cũng không biết vì lẽ gì?
Trương Bảo nổi giận, đôi mắt đỏ như lửa nói với Vương Hoành:
- Vương đệ hãy ở đây coi chừng, đừng cho chúng nó ra tay, để tôi đi có việc cần cấp rồi trở lại ngay.
Dứt lời Trương Bảo vác côn chạy như bay. Chàng chạy thẳng một mạch, gặp thành thì nhảy qua, gặp cửa thì dập bể cửa, kẻ nào cản trở thì đập chết. Quan giữ thành trông thấy thế nên hô quân rượt bắt, nhưng không ai có thể chạy theo kịp Trương Bảo được. Chàng chạy mau như tên bay đến dinh Thái sư Lý Can, sợ kêu cửa lâu, nên vung côn đập phá cửa để vào.
Trương Bảo chính là thủ hạ của Lý Can, nên ra vào đã quen thuộc. Chàng biết Thái sư nghỉ tại thư phòng, liền chạy thẳng đến vén màn lên bế thốc Thái sư lên rồi cõng trên lưng chạy ra ngoài cửa Phủ.
Vừa chạy Trương Bảo vừa nói:
- Nguy to rồi lão gia ơi! Nhạc gia tôi đã bị trói sắp đem ra pháp trường xử trảm. Hiện giờ hãy còn ở Ngọ môn, nếu không cứu kịp ắt người sẽ chết mất.
Lúc ấy Lý Thái sư đang ngủ lại bị Trương Bảo cõng chạy như dông, tâm thất bất định không hiểu đầu đuôi ra sao cả. Khi đến Ngọ môn, Trương Bảo để xuống; Lý Can mới thấy rõ Nhạc Phi bị trói, thất kinh hỏi lớn:
- Tướng quân về đây bao giờ và tại sao ra nông nỗi này?
Nhạc Phi đáp:
- Thưa Thái sư, tôi đang trấn giữ Hoàng Hà, bỗng nhiên có thánh chỉ triệu về kinh nên tôi phải về. Vừa đến cửa thành tôi gặp hữu thừa tướng Trương Bang Xương. Người dắt tôi vào Phân Cung lầu rồi dặn tôi ở đó mà đợi để một mình đi vào trong. Lâu lắm không thấ Thừa tướng ra, bỗng thấy xa giá Thiên tử ra, tôi vội quỳ xuống tiếp giá. Ngờ đâu nội giám lại hô lên rằng tôi là kẻ thích khách và bắt tôi trói đem ra đây. Việc này rất oan tình, xin thái sư chứng giám cho, dẫu tôi có thác cũng cam.
Lý Thái sư nghe nói vội gọi đao phủ đến dặn:
- Dù sao chúng bay cũng phải đợi ta, không được trái lệnh ta chém đầu hết.
Nói rồi toan vào đền đánh chuông nổi trống. Ngờ đâu Trương Bang Xương đã sắp đặt trước, cắm chuông sẵn ở cửa đền thành thử Lý Thái sư vừa chạy vào đã bị vấp ngã, bị chuông cắm vào tay chân, máu tuôn lai láng.
Trương Bảo thấy thế la lớn:
- Lý Thái sư bị trọng thương rồi!
Nội giám và các quan đại thần nghe la vội chạy ra cứu, thì thấy Lý Thái sư nằm lăn dưới đất máu tuôi khắp người, quằn quại đau đớn vô cùng. Các quan vội vào trước ngai vàng tâu với vua Cao Tông:
- Các quan đại thần hiện có mặt tại Ngọ môn, còn Lý Thái sư bị chông nặng, không biết sống thác thế nào, xin Thiên tử thăng điện gấp.
Hà Hương bèn nói:
- Bây giờ đêm tối canh khuya, để mai sớm bệ hạ sẽ thăng điện cũng chẳng muộn chi.
Cao Tông nói:
- Thái sư bị chông, các quan đều tụ tập nơi đại điện, việc lành dữ chưa rõ, trẫm không ngự ra sao được?
Nói rồi truyền quân hộ vệ ngự giá ra khai triều. Các quan văn võ tung hô rồi chia đứng hai bên. Cao Tông thấy Thái sư mình đầy vết máu liền truyền chỉ đòi Thái y đến chữa chạy gấp.
Lý Thái sư tâu:
- Tôi nghe Nhạc Phi là quan võ dám vào kinh sư hành thích bệ hạ thì ắt có người chủ mưu, vậy xin bệ hạ giam lại ít ngày, đợi cho tôi lành bệnh tra xét phân minh rồi trị tội cũng chẳng muộn.
Cao Tông nghe lời truyền đem Nhạc Phi hạ ngục rồi lui giá về cung, các quan đại thần đưa Lý Thái sư về phủ, Trương Bảo và Vương Hoành cũng dắt ngựa theo sau.
Đoạn, Lý Thái sư liền sai người đi mời quan Hình bộ tên là Sa Bỉnh đến căn dặn:
- Sự việc Nhạc Phi chắc là oan ức, xin ngài làm ơn dâng biểu tâu vua rằng hắn bị đau nặng để thánh thượng cho phép hoãn cuộc thẩm tra, chờ tôi vết thương đỡ rồi sẽ liệu định.
Sa Bỉnh tuân lệnh rồi bái biệt ra về.
Bữa sau Sa Bỉnh làm biểu dâng lên y như lời Lý Thái sư đã dặn, Cao Tông cũng chấp nhận lời tấu.
Lý Thái sư lại nghĩ ra một kế, bèn viết ra một tờ oan đơn, nói rằng: “Lý Can hãm hại Nhạc Phi” rồi sai thợ khắc bản in ra hơn mấy nghìn tờ. Vương Hoành và Trương Bảo lén đi dán khắp nơi để thiên hạ xem thấy đồn truyền lẫn nhau.
Nói về núi Thái Hành có Công Đạo đại vương tên Ngưu Cao, tụ tập lâu la trên núi xưng vương gọi là thay trời hành đạo, Hôm nay chính là ngày sinh của Ngưu Cao nên bọn Thi Toàn, Châu Thanh, Triệu Vân, Lương Hưng, Thang Hoài, Vương Quới và Trương Hiển bảy người đều sắm lễ vật đem đến chúc thọ.
Bảy người đồng thanh nói:
- Mấy anh em tôi đến đây chúc thọ Đại vương, lại có đem theo một ban hát để hát hầu Đại vương uống rượu. 
Ngưu Cao nói:
- Mấy anh em có lòng như vậy, tôi rất cám ơn.
Mãi đến giờ ngọ mà vẫn chưa ăn uống gì, Thang Hoài đói bụng nói:
- Chẳng hay mấy anh em ta đợi chừng nào mới vào tiệc?
Ngưu Cao nói:
- Tôi còn muốn đợi Kiết đại huynh đến đã vì thường ngày tôi cùng Kiết đại huynh đãi nhau hậu lắm, hôm nay là ngày vui chẳng lẽ Kiết đại huynh lại không đến sao?
Thang Hoài nói kháy:
- Nếu vậy chẳng lẽ anh em ta phải đợi cho đến chiều.
Vương Quới lại nói:
- Anh em mình phải chịu khó đợi chớ biết làm sao bây giờ.
Thang Hoài đói bụng lắm nên giận quá bỏ ra ngoài dạo chơi, vừa đi ngang qua buồng hát bộ chợt nghe bên trong có người nói:
- Lý Can hãm hại Nhạc Phi.
Thang Hoài liền bước vào hỏi:
- Ngươi bảo ai hại Nhạc Phi?
Tên kép hát đáp:
- Tôi thấy giấy dán ngoài đường nên mới gỡ đem về xem.
- Giấy đâu? Ngươi đưa cho ta xem thử nào.
Tên kép hát trao mảnh giấy cho Thang Hoài xem, Thang Hoài vội vã chạy vào Phân Kim điện lớn tiếng nói bằng giọng hốt hoảng:
- Ngưu đệ, Nhạc đại huynh đã bị người hãm hại rồi!
Ngưu Cao hỏi vặn:
- Tại sao Thang huynh biết được?
Thang Hoài đọc to tờ oan đơn lên cho Ngưu Cao nghe, Ngưu Cao nghe xong nổi giận lôi đình, nghiến răng nói:
- Thôi thôi, chẳng thèm ngày sinh ngày tử làm gì nữa, hãy kiểm điểm binh mã xuống kinh cứu đại huynh cho mau.
Nói rồi truyền lệnh tập hợp hết thảy binh mã của bảy vị đại vương kéo thốc xuống kinh sư. Binh déo đi rầm rầm rộ rộ dọc đường không ai cản trở nổi.
Khi đến Kim Lăng còn cách Phụng Đài môn chừng năm dặm thì truyền an dinh hạ trại. Quan giữ thành chạy vào phi báo, vua Cao Tông hỏi các quan:
- Có ai dám ra dẹp giặc ấy không?
Có quan Hậu quân đô đốc là Trương Tuấn bước ra lĩnh mệnh, rồi dẫn ba ngàn quân kéo ra khỏi thành.
Thang Hoài giục ngựa lướt tới nói với Trương Tuấn:
- Chúng ta đây chẳng phải kẻ phản loạn đâu, ngươi hãy vào thành đem Nhạc đại huynh ta ra đây trả cho ta thì ta tha, bằng không trả thì quyết đánh phá Kim Lăng giết không chừa một mống!
Trương Tuấn nói:
- Hèn chi Nhạc Phi nó làm phản cũng phải, vì nó ỷ thế bọn cường đạo này làm trong ứng ngoại hiệp. Nay ta vâng thánh chỉ ra đây để bắt hết bọn cường đoạ chúng bay đem về trị tội.
Ngưu Cao nổi giận hét lên một tiếng long trời lở đất vung song giản nhằm ngay đầu Trương Tuấn đánh bổ xuống. Trương Tuấn cũng vung đao tiếp đánh. Sau ba hiệp, Trương Tuấn đuối sức đánh không lại vội quay ngựa chạy thẳng vào thành. Ngưu Cao muốn đuổi theo, Thang Hoài kêu lại bảo:
- Ngưu đệ, hãy để cho nó chạy, nếu chúng ta bức nó lắm tất nhiên trong thành nó sẽ giết chết đại huynh ta.
Ngưu Cao vâng lời thu binh về dinh. Còn Trương Tuấn vào thành vội lên điện tâu:
Bọn cường đạo ấy mạnh lắm thần không đủ sức chống cự, và chúng cũng là đồng bọn của Nhạc Phi. Sở dĩ chúng làm loạn là để cứu Nhạc Phi, vậy xin bệ hạ chém quách Nhạc Phi đi để khỏi sinh hậu hoạ.
Cao Tông còn do dự chưa dám quyết bỗng có quan Huỳnh môn quan vào tâu:
- Có Lý Thái sư và đến Ngọ môn hầu chỉ.
Cao Tông truyền chỉ triệu vào, Lý Thái sư vào triều bái phụng. Cao Tông phán:
Trẫm đang lo quân đi dẹp bọn giặc đến phá thành. Nhưng Trương Tuấn đánh không lại chúng, đang không biết liệu sao, vậy khanh có kế gì không?
Lý Can tâu:
- Thế thì bệ hạ hãy sai Nhạc Phi ra dẹp giặc, khi xong giặc rồi sẽ định tội sau.
Trương Bang Xương lại bước ra tâu:
- Đô Đốc Trương Tuấn có bảo rằng bọn cường đạo ấy là đồng bọn của Nhạc Phi, nay mà sai Nhạc Phi đi ắt là trúng gian kế, chẳng khác thả cọp về rừng, xin bệ hạ xét lại.
Lý Can, Tông Trạch bèn quỳ xuống tâu một lượt:
- Hai chúng tôi tình nguyện bảo cửa Nhạc Phi, nếu có sai sẩy điều gì xin bệ hạ hãy bắtd hết cả nhà chúng tôi mà xử trảm.
Cao Tông nói:
- Lời Nhị khanh tâu rất phải.
Rồi hạ chỉ triệu Nhạc Phi vào triều. Nhạc Phi triều bái xong xuôi, Cao Tông sai Nhạc Phi lãnh binh ra dẹp giặc.
Nhạc Phi vừa mới lui ra, Lý Can liền quát lớn:
- Nhạc Phi hãy quỳ lại đó.
Nhạc Phi nghe nói vội vã quỳ xuống ngay. Lý Can hỏi:
- Chúa thượng đã trọng tài người nên mới sai Từ Nhân triệu đến kinh rồi sai ngươi ra trấn thủ Hoàng Hà sao ngươi dám lẻn về kinh hành thích? Thế thì tội ngươi đáng giết chín họ, Vậy ai chủ mưu cho ngươi, hãy khai cho minh bạch.
Nhạc Phi nói:
- Tội ấy đáng chết, nhưng oan tình chẳng lẽ chẳng phân minh? Vả chăng tôi phụng mạng trấn thủ Hoàng Hà, chỉ vì có thánh chỉ triệu về kinh nên tôi phải về. Nhưng khi tôi vừa về đến ngoài thành lại gặp Trương thừa tướng đang ngồi trên kiệu, người bèn dắt tôi vào Ngọ môn, vừa đến Phân Cung lầu người lại dặn tôi đứng đó hầu chỉ để một mình vao trong tâu. Ngờ đâu Trương thừa tướng vào trong rồi không ra nữa. Một lúc sau có thánh thượng giá lâm, tôi liền quỳ xuống tiếp giá, thì nội giám lại hô thích khách và bắt tôi trói lại. Việc ấy tuy oan, nhưng dầu có chết tôi đâu dám tiếc, ngặt vì mẹ tôi đã có thích sau lưng tôi bốn chữ “Tận trung báo quốc” tôi chẳng giám quên, xin Thái sư thẩm xét.
Lý Can quỳ tâu:
- Nếu nói vậy thì xin bệ hạ tra hỏi lại xem hôm ấy ai làm trị điện rồi mới có thể tra xét việc này được.
Cao Tông hạ chỉ sai nội thị tra xét xem ngày ấy ai làm trị điện. Chẳng bao lâu, nội thị trở vào tâu:
Ngày ấy Ngô Minh và Phương Hậu làm trị điện.
Cao Tông liền cho đòi Ngô Minh và Phương Hậu vào hỏi các việc trong đêm ấy.
Hai người quỳ tâu:
- Đêm ấy thần thấy có một đứa tiểu đồng tay xách một cái lồng đèn có đề chữ “Hữu thừa tướng Trương” đi trước, kế sau thì Trương thừa tướng dắt một người đi thẳng vào cung. Sở dĩ chúng thần làm thinh là vì ngày thường Thừa tướng vẫn tự do ra vào cung không ai ngăn cấm cả.
Vao Tông nghe tâu cả giận phán:
- Thế thì may lắm, suýt nữa ta đã giết oan Nhạc tướng quân rồi.
Nói rồi tryền chỉ bắt Trương Bang Xương trói lại, truyền đem ra ngoài thành chém đầu thị chúng.
Lý Can lại quỳ tâu:
- Xin bệ hạ nghĩ đến cái công của y đem dâng ngọc tỷ mà tha mạng cho y, hãy lột chức đuổi về làm dân là đủ.
Cao Tông y theo, hạ chỉ hẹn trong bốn giờ phải ra khỏi kinh thành. Trương Bang Xương về nhà sắm sửa góp nhặt tài vật đi ngay.
(Cái lòng nhân từ của Lý Can ấy cũng là lòng trời xui khiến làm cho Bang Xương khỏi chết để về sau y bị Ngột Truật giết chết ứng với lời thề lúc còn làm giám khảo tại võ trường).
Trương Bang Xương bị cách chức đuổi đi rồi, vua Cao Tông sai Nhạc Phi lãnh một ngàn binh ra thành dẹp giặc, Nhạc Phi tạ ơn biệt giã Thiên tử, rồi mang giáp lên ngựa, dắt Trương Bảo và Vương Hoành cùng binh mã mở cửa thành kéo ra.
Vừa ra khỏi cầu, bên kia Ngưu Cao và Thang Hoà đã trông thấy liền kêu nhau bảo:
- Đại ca chúng ta kia rồi!
Ai nấy đều xuống ngựa bước đến mừng rỡ hỏi han:
- Lâu nay đại huynh có mạnh giỏi không?
Nhạc Phi vẫn còn giận dữ đáp:
- Ai là đại huynh của các ngươi? Nay ta vâng chỉ ra đây bắt các ngươi để hỏi tội chức có phải ra đây để nhìn anh em đâu?
Mấy đại vương cường đạo thấy vậy đều đồng thanh nói:
- Đại ca khỏi nhọc công bắt bớ làm gì, để anh em chúng tôi tự trói mình nộp mạng, đại huynh cứ dẫn vào triều, thiên tử đối xử thế nào anh em tôi cũng chịu.
Nói rồi ai nấy tự trói mình còn số lâu la thì đầu hàng hết.
Quân thám tử thấy vậy vội chạy vào triều tâu:
- Quân giặc đã tự trói mình chịu tội, hiện còn ở ngoài Ngọ môn hầu chỉ.
Cao Tông nghe xong cả mừng, giây phút sau, Nhạc Phi vào tâu:
- Quân giặc đã đầu hàng, xin thánh thượng định liệu.
Cao Tông truyền cho vào. Quân sĩ vâng lệnh ra dẫn hết tám người vào trước ngai vàng. Thang Hoài quỳ tâu:
- Chúng tôi chẳng phải những kẻ làm phản, Chỉ vì lúc trước xuống võ trường ứng thi, vì Nhạc đại huynh tôi đâm chết Tiểu Lương Vương làm cho lỡ bước công danh nên mấy anh em tôi phải trở về quê quán, rủi thay gặp năm mất mùa, thóc cao gạo kém, không lấy chi sinh sống cực chẳng đã phải làm nghề bất lương. Vả chăng trong nước trọn năm không chúa, các quan còn phải tản lạc huống chi là chúng tôi. Nay nghe Nhạc đại huynh bị hãm hại nên chúng tôi phải hưng binh đến cứu. May thay đến đây thì Nhạc đại huynh tôi được bình yên tôi sự, chúng tôi tự trói mình đến nạp tình nguyện chịu chém đầu cho tròn nghĩa cả, chỉ xin thánh thượng phục chức cho Nhạc đại huynh.
Cao Tông nghe tâu, sa nước mắt phán:
- Các ngươi quả thật là những bậc anh hùng nghĩa sĩ.  
Rồi hạ chỉ mở trói cho mấy anh em. Nhạc Phi được phục chức Phó Nguyên soái, Tám anh em Ngưu Cao được phong chức Phó đô Thống. Chư tướng tạ ơn lui ra rồi theo Phó soái Nhạc Phi đem binh mã, đi phòng thủ Hoàng Hà.

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-06 02:10:46Hoàng Dung>
đánh máy: Lucern
hồi thứ hai mươi bẩy 
Lưu Dự muốn xin Vân Phan kỳ
Tào Vinh dâng Hoàng Hà cho giặc 

Ở bên kia sông Hoàng Hà, ngày đêm Ngột Truật cho quân thám thính tình hình địch không ngớt.
Một tên quân tuần thám về tâu:
- Binh Tống giữ gìn nghiêm ngặt lắm. Những nơi hiểm yếu đều có bố trí súng ống, ná tên, quân ta khó mà vượt qua sông được.
Ngột Truật vô kế khả thi, trong lòng lo lắng buồn bực chẳng yên.
Cũng xin nhắc qua Lưu Dự, từ khi qua đầu hàng quân Phiên, được phong làm chức Lỗ Vương, lấy làm đắc ý. Hôm ấy Lưu Dự đang ngồi dưới thuyền bỗng thấy phía trước có một chiếc thuyền treo cờ xí rực rỡ, bèn hỏi viên tiểu quan Phiên:
- Tại sao cờ xí của ta không được rực rỡ như thế kia?
Tiểu quan đáp:
- Ở trong nước Đại Kim này, chỉ có hoàng thân quốc thích mới có cờ ấy.
Lưu Dự lại hỏi:
- Cờ ấy có phải là Trân châu bửu triện Vân Phan đó không?
Tiểu Phiên thưa:
- Vâng, phải đấy.
Lưu Dự ngẫm nghĩ hồi lâu rồi sai quân dọn một chiếc thuyền nhỏ thẳng qua thuỷ trại của Ngột Truật.
Thấy Lưu Dự đến, viên quan Bình chương vào báo:
- Bẩm chúa công, có Lưu Dự đến hầu chỉ.
Ngột Truật truyền cho vào nhà hỏi:
- Ngươi đến ra mắt ta có việc gì không?
Lưu Dự tâu:
- Tôi mang ơn chúa công phong cho chức Vương song không có cây Trân châu bửu triện Vân phan thì không được oai phong lẫm liệt như ý muốn, vậy xin Chúa công cho tôi một cây để cho binh tướng khỏi coi thường.
Ngột Truật không bằng lòng đáp:
- Ngươi có công lao gì to lớn mà đòi hỏi đến cây cờ Vân phan của ta nữa?
Lưu Dự tâu:
- Nếu Chúa công cho tôi cây cờ quý giá ấy thì tôi sẽ có cách làm cho quân Phiên qua sông Hoàng Hà lập tức.
Ngột Truật nói:
- Nếu được vậy, ta có tiếc gì mà không cho ngươi.
Lưu Dự tạ ơn rồi trở về thuyền mình dựng cờ phan lên. Những quan bảo giá đại thần các nơi trông thấy cờ phan tưởng là thuyền Ngột Truật ra khỏi thuỷ trại nên đua nhau đến bảo giá.
Lưu Dự thấy thế chạy ra nói:
- Đây không phải là thuyền của chúa công, còn cây cờ phan này là của Chúa công mới ban cho tôi.
Mấy vị đại thần nghe nói lấy làm bất bình cùng nhau đến ra mắt Ngột Truật tâu:
- Cây bửu phan là cờ hiệu của Chúa công, sao lại cho Lưu Dự?
Ngột Truật đáp:
- Lưu Dự bảo rằng, nếu cho hắn cây cờ ấy, hắn sẽ có cách làm cho quân ta qua sông tức khắc. Thế thì ta còn tiếc cây cờ làm gì?
Bấy giờ mấy vị đại thần mới hết thắc mắc, rút lui về trại. Lưu Dự sau khi dựng cây cờ phan lên rồi thầm nghĩ:
- “Đã được vẻ vang như vậy thì phải làm sao cho binh Ngột Truật qua sông được, nếu không sẽ nguy to”.
Suy nghĩ một hồi nảy ra được một kế, liền thay đổi y phục rồi xuống một chiếc thuyền con, sai quân chèo thẳng qua bên kia sông. Đến nơi lại gặp dịp may là xa xa có cây cờ hiệu của Lưỡng Hoài Tiết Đạt sứ Tào Vinh, Lưu Dự vội sai quân chèo thẳng đến đó.
Quân Tống đón hỏi, Lưu Dự đáp:
- Ngươi báo với Tiết Đạt sứ rằng có Lưu Dự đến đây muốn gặp ngài để bàn việc cơ mật.
Quân sĩ nghe nói vội chạy vào báo với Tào Vinh.
Tào Vinh nghĩ thầm: Lưu Dự đến đây chắc có việc chi rồi?
Tào Vinh vội chạy xuống mé sông, quả nhiên thấy có Lưu Dự đang đứng đó. Lưu Dự vội bước tới xá Tào Vinh và tạ ơn người đã cứu mình khi trước.
Tào Vinh hỏi:
- Lâu nay, ngài thông gia ở bên ấy sống ra sao?
Lưu Dự đáp:
- Tôi qua bên ấy được phong chức Lỗ Vương vinh dự vô cùng, vì vậy hôm nay tôi về đây khuyên ngài qua đó đầu hàng đặng hưởng vinh hoa với nhau chẳng hay ngài có vui lòng không?
Tào Vinh nói:
- Nếu Kim quốc biết trọng người hiền như vậy thì tôi cũng nguyện qua bên ấy hưởng lộc cùng hiền huynh.
Lưu Dự nói rất tự tin:
- Nếu tiên sinh chịu đi, tôi chắc chắn cái tước Vương có sẵn trong tay rồi.
Tào Vinh nói:
- Tôi muốn nhân sớm mai là lúc Trương Sở còn ở Biện Lương, Nhạc Phi về triều chưa ra, tôi dâng Hoàng Hà này để làm lễ ra mắt vua Kim không biết có được không?
Lưu Dự mừng rỡ từ biệt Tào Vinh xuống thuyền trở về ra mắt Ngột Truật, nói:
- Được chúa công cho tôi cây cờ Vân phan nên tôi vội sang dinh Tống bàn cùng Lưỡng Hoài Tiết Đạt sứ Tào Vinh. Tôi bảo rằng Chúa công rất khoan nhân, đại độ biết chiêu hiền đãi sĩ nên y đã nghe lời tôi ước hẹn, đêm mai sẽ dâng Hoàng Hà này để làm lễ ra mắt chúa công. Vậy Chúa công hãy chuẩn bị sẵn sàng để sớm mai qua sông.
Ngột Truật thầm nghĩ:
- Thì ra tên Tào Vinh này cũng là tên gian thần.
Ngột Truật nói với Lưu Dự:
- Thế thì hay lắm, ngươi hãy trở về nghỉ ngơi, ta sẽ lo sắp đặt sẵn sàng và vạn sự nhờ ngươi đấy.
Lưu Dự cúi đầu vâng dạ rồi từ tạ trở về dinh. Ngột Truật lại nghĩ: “Khương Vương dùng toàn là bọn gian thần mãi quốc cầu vinh như vậy thì làm sao giữ gìn giang sơn cho được?”
Rồi cho mời quân sư Hấp Mê Xi vào thương nghị để sắp sửa ngày mai ra quân vượt Hoàng Hà.
Chiều hôm sau, khi mặt trời vừa gác non tây, Ngột Truật bảo Lưu Dự chèo thuyền đi trước dẫn đường còn mình thì cùng binh mã từ từ chèo thuyền sang sông.
Khi thuyền cặp bờ trời đã nhá nhem tối. Ở đó Tào Vinh đã chực sẵn rồi bước tới quỳ trước thuyền Ngột Truật tung hô vạn tuế. Hấp Mê Xi liền nói với Ngột Truật:
- Chuá công nên phong tước Vương cho y ngay bây giờ đi.
Ngột Truật nghe theo, phong cho Tào Vinh làm chức Triệu Vương. Tào Vinh mừng rỡ khôn cùng. Ngột Truật lại bảo Tào Vinh và Lưu Dự gìn giữ các chiến thuyền, còn Ngột Truật dẫn binh mã đánh lấn tới trước.
Lúc ấy binh Tống hay tin Tào Vinh đã đầu hàng Ngột Truật đều hoảng hốt bỏ chạy hết.
Nói về Kiết Thanh, từ ngày Nhạc Phi về triều, chàng vâng lời bỏ luôn mấy ngày không uống rượu. Hôm nọ nhân có bắt được mấy tên gian tế giải đến dinh, Nguyên soái mừng quá cho người mang đến mười hũ rượu và mười con dê khao thưởng tướng sĩ. Kiết Thanh thấy hơi rượu thèm quá nghĩ thầm:
- “Rượu của Nguyên soái ban thưởng mà không uống cũng tiếc, thôi hôm nay ta uống vùi một bữa rồi mai sẽ nhịn”.
Nghĩ rồi hối quân rót rượu uống lia lịa, chẳng mấy chốc đã say vùi. Còn đang gọi quân rót thêm bỗng quân thám thính về phi báo:
- Nguy tai rồi Ngột Truật đã đem quân qua khỏi sông Hoàng Hà, chúng đã đến gần dinh ta, hãy chạy cho mau.
- Đừng nói bậy, đại huynh ta đã phó thác cho ta gìn giữ Hoàng Hà, chúng bay bảo ta chạy đi đâu? Hãy đem giáp ra đây cho ta.
Kiết Thanh nai nịt xong xuôi tung mình lên ngựa, thân mình nghiên qua ngả lại, đôi mắt lim dim, tay cầm lang nha bổng múa lia lịa giục ngựa xông ra trận gặp Ngột Truật.
Lâu nay Kiết Thanh ra trận chưa gặp Ngột Truật nên không biết lợi hại như thế nào, còn Ngột Truật trông thấy tướng mạo Kiết Thanh lòng cười thầm:
- Rõ là thằng say, ta cho hắn một búa thì mạng vong ngay, nhưng đường đường một đấng anh hùng như ta mà ra tay như vậy đã giảm mất oai phong lại còn tội nghiệp cho con ma rượu.
Nghĩ đoạn gọi Kiết Thanh nói:
- Tên Nam man kia, mi say quá chén rồi, ta dung cho mi đấy, hãy đi đi, đợi lúc nào hết say sẽ trở lại đây giao phong với ta.
Kiết Thanh cười ha hả nói:
- Loài Phiên nô chớ có ngạo mạn, hãy xem cây lang nha bổng của ta đây.
Vừa nói vừa vung bổng đánh tới. Ngột Truật cả giận quát lớn:
- Thế thì con quỷ say này đã tới số rồi.
Ngột Truật quay ngựa lại giơ búa lên chém Kiết Thanh, Kiết Thanh đưa cây lang nha bổng đỡ vẹt qua, nhưng cây búa nặng quá đỡ không nổi buộc lòng phải tránh né sang một bên lưõi búa phớt ngang qua làm văng chiếc mũ trên đầu Kiết Thanh ra xa lắc, Kiết Thanh thất kinh quay ngựa chạy dài.
Tám trăm tinh binh do Nhạc Phi chọn lựa và huấn luyện, trong trường hợp này vẫn bình tĩnh hàng ngũ chỉnh tề chạy theo Kiết Thanh. Còn Ngột Truật rượt theo Kiết Thanh một đoạn khi qua khúc quanh, không thấy tăm dạng Kiết Thanh đâu nữa.
Ngột Truật quay nhìn lại quân binh của mình đã vào sâu không trông thấy nữa. Phần trời tối đen như mực, lại vừa muốn quay ngựa trở về. Bỗng Kiết Thanh lại từ trong bụi nhảy ra chỉ vào mặt Ngột Truật mắng:
- Ngột Truật, mi muốn bỏ chạy? Sao không theo ta nữa, sợ rồi sao?
Ngột Truật căm gan:
- Ta lại sợ mi sao?
Vừa nói vừa giục ngựa xông tới, nhưng Kiết Thanh lại quay ngựa bỏ chạy, làm cho Ngột Truật lại càng giận dữ hơn nữa, một người một ngựa đuổi theo hơn hai mươi dặm. Khi đến chỗ đường hẹp lại không trông thấy Kiết Thanh đâu cả. Ngột Truật tìm đường trở ra đến đại lộ thì trời đã sáng. Vừa trông thấy một xóm nhà nghèo nàn nấp dưới lùm cây rậm rạp. Có một ngôi nhà sát bên vệ đường cửa ngõ chẳng đóng, Ngột Truật bèn xuống ngựa cột trước ngõ, đi thẳng vào trong ngôi nhà trước mặt hỏi:
- Có ai trong nhà không?
Từ trong bước ra một bà lão đầu tóc bạc phơ, tay chống gậy.
Bà lên tiếng hỏi:
- Ai hỏi gì vậy?
Ngột Truật đứng dậy lễ phép đáp:
- Tôi là người lỡ bước không biết đường đi, đến đây hỏi thăm đường.
Bà lão nhìn Ngột Truật từ đầu đến chân rồi hỏi:
- Ngươi là ai mà lại ăn mặc như vậy? Mà định đi đâu lại hỏi thăm đường?
Ngột Truật thành thật đáp:
- Thưa, tôi là Đại Kim Quốc Điện hạ, Tứ hoàng tử…
Ngột Truật vừa nói đến đây bỗng thấy bà lão nôổ giận lôi đình quơ gậy nhắm đầu Ngột Truật đánh xuống lia lịa.
Ngột Truật không biết vì lý do gì nhưng bà ta quá già nua, vả lại Ngột Truật bản lĩnh anh hùng nên không cố chấp, cứ lấy tay đỡ cây gậy ra, vừa cười vừa hỏi:
- Sao bà lại đánh tôi?
Bà lão vùng khóc rống lên:
- Ta năm nay đã già cả, tuổi đã tám mươi, chỉ có một đứa con để nương cậy, cũng vì ngươi là quân tặc tử nên con ta phải bỏ mình nơi sa trường làm cho ta hiu quạnh vò võ một mình, đói no không biết cậy vào đâu. Hôm nay ta gặp kẻ thù đã giết con ta, nhất định ta liều sống chết với ngươi một phen cho thoả dạ.
Bà lão nói xong lại quơ gậy đập liên tiếp. Ngột Truật cũng chỉ lấy tay đỡ ra và hỏi:
- Xin bà bớt giận, hãy nói tên con bà cho tôi nghe. Biết đâu con bà không phải do tôi giết.
Bà ta hét:
- Con ta là Lý Nhược Thuỷ, không phải ngươi giết nó sao?
Bà vừa hét vừa khóc tức tưởi. Ngột Truật nghe vậy trong lòng đau xót chẳng cùng, cứ việc cúi đầu để cho bà đánh cho hả giận.
Trong lúc ấy chợt nghe ngoài cửa có tiếng lao xao, Ngột Truật nhìn ra thấy quân sư Hấp Mê Xi bước vào nói:
- Suốt đêm qua chúng tôi không thấy Chúa công đâu cả sợ có điều gì bất trắc xảy ra nên phải dẫn quân đi tìm kiếm khắp nơi. Đến đây nếu không có con ngựa của Chúa công cột ngoài ngõ thì chắc cũng không biết đâu mà tìm, vậy xin Chúa công hãy trở về dinh kẻo mấy vị Vương gia trông đợi.
Ngột Truật đem việc đuổi theo Kiết Thanh nói lại đầu đuôi cho Hấp Mê Xi nghe rồi chỉ Lý mẫu bảo rằng:
- Bà lão này chính là mẫu thân của Lý Nhược Thuỷ tiên sinh đấy Quân sư ạ. Quân sư hãy vào ra mắt người đi.
Hấp Mê Xi vội bước vào làm lễ ra mắt bà lão, Ngột Truật lại nói với Lý mẫu:
- Người này là quân sư của tôi, con của bà hết dạ thảo ngay mà chết, cho nên tôi cho người khâm liệm hài cốt rất kỹ, để tôi cho người đem đến cho bà chọn đất mai táng.
Ngột Truật lại sai lấy bạc ròng năm trăm lượng đem cho Lý mẫu để dưỡng già, lại cho một cây lệnh kỳ cắm tại trước cửa để cho quân Kim ngó thấy chẳng dám vào phá hại xóm ấy. Rồi Ngột Truật từ giã Lý mẫu cùng Quân sư dẫn quân tìm đường trở về dinh.
Bấy giờ nhắc qua Nhạc Phi phó nguyên soái lãnh mười vạn quân ra đến Hoàng Lăng rồi truyền lệnh ba quân đình bộ, cấm làm ồn ào kinh động tiên vương.
Nhạc Phi dắt vài tên tuỳ tùng lên bái yết Hoàng Lăng. Khi bái yết xong, đứng nhìn địa thế hồi lâu rồi nghĩ thầm:
- “Chỗ này địa thế tốt lắm”.
Nhạc Phi quay lại hỏi tuỳ tùng:
- Núi này gọi là núi gì vậy?
- Thưa gia gia, núi này gọi là Ái Hoa sơn.
Nhạc Phi nói:
- Chỗ này phục binh thì tuyệt, nhưng chẳng biết làm sao dụ quân Phiên đến đây cho được. Nếu dẫn được chúng đến đây, ta sẽ giết chúng không còn một manh giáp để cho chúng hết coi thường Trung Nguyên ta.
Vừa nói vừa dẫn kẻ tuỳ tùng trở lại và an dinh hạ trại.
Nhắc qua anh chàng say rượu Kiết THnah dẫn tám trăm quân chạy trọn đêm, khi đến Hoàng Lăng thì trời đã sang, trông thấy phía trước có quân sĩ lao xao, dinh trại dựng san sát, vội bước tới hỏi quân canh:
- Dinh trại này của ai vậy?
Quân canh đáp:
- Đây là dinh trại của Nhạc nguyên soái, còn ông là ai?
Kiết Thanh bảo:
- Ngươi vào bẩm báo cho Nhạc Nguyên soái biết rằng có ta là Kiết Thanh còn đang đứng ngoài hầu lệnh.
Quân sĩ vào bẩm:
- Bẩm Nguyên soái, trước dinh có một vị tướng quân xưng là Kiết Thanh xin ra mắt.
Nhạc Phi nói:
- Nếu có Kiết Thanh về đây, chắc Hoàng Hà mất rồi.
Nhạc Phi vội truyền cho vào. Kiết Thanh vào ra mắt, Nhạc Phi hỏi:
- Ngươi về đây chắc là Hoàng Hà mất rồi phải không? ấy cũng tại ngươi chẳng nghe lời ta dặn bảo, uống rượu say sưa nên mới hỏng cả đại sự.
Kiết Thanh thưa:
- Thưa đại huynh, việc này chẳng phải tại đệ mà bởi Tào Vinh nó dâng Hoàng Hà cho giặc, vì vậy đệ không kịp trở tay.
Nhạc Phi thấy Kiết Thanh đầu cổ bờm xờm lại hỏi:
- Tại sao thân hình ngươi tàn tạ đến thế?
Kiết Thanh nói:
- Đệ giao chiến với tên Ngột Truật, chẳng dè thằng mọi ấy nó mạnh quá đệ đánh không lại, bị nó chém cho một búa văng mất cái mũ, may mà né nhanh tránh kịp không thì trúng đầu bỏ mạng rồi.
Ngưu Cao đứng bên Nhạc Phi nghe nói vỗ tay cười ngất:
- Tôi thấy huynh đầu cổ bờm xờm, nãy giờ ngỡ là quỷ sứ duới âm ty chạy lên, làm hết hồn vía.
Nhạc Phi quay lại quát:
- Đừng nói đùa.
Rồi quay lại nói với Kiết Thanh:
- Tội ngươi lớn lắm, nhưng ta sẽ cho lấy công chuộc tội, nếu ngươi tìm cách nào dẫn dụ được Ngột Truật đến đây, bằng dẫn không được thì chớ mong thấy ta nữa.
Kiết Thanh cúi đầu tuân lệnh, một mình lên ngựa chạy thẳng đến dinh trại Ngột Truật.

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-06 02:14:00Hoàng Dung>
đánh máy: Lucern
hồi thứ hai mươi tám
Nhạc Phi đại chiến Ái Hoa sơn
Nguyễn Lương xuống nước bắt Ngột Truật 

Theo lệnh của Nhạc Nguyên soái, Trương Hiển và Thang Hoài dẫn hai ngàn binh mã cùng hai trăm quân cung thủ ra mai phục nơi phía đông.
Nhạc Phi căn dặn:
- Hễ nghe tiếng pháo hiệu phải lập tức dẫn binh xông ra bắt Ngột Truật nghe chưa?
Hai tướng vâng lệnh đi ngay. Nhạc Phi lại sai Ngưu Cao và Vương Quới lãnh hai ngàn binh mã cùng hai trăm quân cung thủ ra phía bắc mai phục và dặn:
- Chỗ ấy là đường vào núi, hễ thấy Ngột Truật dẫn quân đến đó, cứ để cho hắn vào khỏi Cốc khẩu. Khi nào nghe tiếng súng nổ báo hiệu thì phải lấy xe chở đá lấp kín và mai phục ở đó mà chặn đường về của chúng.
Hai tướng lãnh kế lui ra, Nhạc Phi lại sai Châu Thanh, Triệu Vân dẫn hai ngàn binh mã và cung tên đến phía tây mai phục, khi nghe tiếng pháo lệnh thì xông ra chặn đường Ngột Truật.
Hai người vâng lệnh đi rồi, Nhạc Phi giao cho Thi Toàn và Lương Hưng mang hai nghìn binh mã mai phục phía nam, cũng căn dặn phải xông ra một lượt vây đánh Ngột Truật khi nào có tiếng pháo lệnh.
Sau cùng Nhạc Nguyên soái cắt năm ngàn binh dũng mãnh gìn giữ lương thảo, rồi bản thân dẫn một ngàn binh cùng với Vương Hoành và Trương Bảo đóng tại trung dinh.
Đâu đó sắp đặt sẵn sàng, ai nấy ngậm tăm chờ Ngột Truật.
Nói về Kiết Thanh đi tìm chỗ đóng quân của Ngột Truật, nhưng chàng không biết đối phương ở nơi nào cả, cứ việc lần theo đường lớn giục gió buông cương, đôi mắt ngó xem tìm kiếm bốn phương tám hướng. Bỗng nghe phía trước có tiếng quân reo ngựa hí tưng bừng, chẳng bao lâu đoàn quân này đã tới gần.
Đạo quân này gồm một ngàn năm trăm binh mã của Hấp Mê Xi đi tìm Ngột Truật tại Lý gia trang trở về, Kiết Thanh vừa nhìn qua biết ngay là quân Phiên thì mừng rỡ vô cùng, bèn giục ngựa tới quát lớn:
- Tên mọi Phiên Ngột Truật đâu? Hãy đem đầu đến đây nộp cho ta gấp.
Ngột Truật lửa giận phừng gan lướt tới quát:
- Loài Nam man, bởi ta không giết mi nên mi dám chọc tức ta phải không?
Kiết Thanh cười khiêu khích:
- Tên Phiên nô kia chớ có tự phụ. Chỉ vì hôm qua ta say rượu nên mi mới chém đứt mấy sợi tóc của ta, hôm nay ta tỉnh rồi, nhất định ta phải trả thù cho bằng được.
Ngột Truật không thèm nói thêm nửa lời, vung búa chém liền, Liết Thanh cũng vung lang nha bổng đón đánh. Hai bên đánh vài ba hiệp thì Kiết Thanh quay ngựa bỏ chạy, Ngột Truật giục ngựa đuổi theo.
Theo được vài mươi dặm, Ngột Truật gò cương đứng lại. Kiết Thanh thấy thế quay lại mắng:
- Tên thất phu kia, ngươi sợ ta không dám theo nữa sao?
Ngột Truật cười gằn:
- Mi là loài cẩu tặc chẳng phải đối thủ của ta, theo mi làm gì?
Kiết Thanh lại khích:
- Ngươi nói đúng đấy, chính ta không phải là tay đối thủ của ngươi nhưng phía trước đây ta đã có quân mai phục, ngươi cũng không nên chạy theo ta đến đó làm gì chết uổng mạng.
Ngột Truật cảm thấy chạm lòng tự ái, gằn giọng:
- Được rồi, nếu mi chẳng nói thì thôi, bằng mi bảo có quân mai phục, ta sẽ bắt mi cho mà xem.
Nói rồi giục ngựa đuổi theo. Chỉ mấy phút sau đã đến Ái Hoa sơn, Kiết Thanh giục ngựa chạy thẳng vào Cốc khẩu. Đằng xa Hấp Mê Xi theo kịp thấy thế gọi lớn:
- Chúa công ơi, tôi xem thằng này nó có quân mai phục thật đấy, Chúa công đừng theo nó nữa mà mang hại đấy.
Ngột Truật lắc đầu:
- Nó sợ ta theo giết nó nên nói dối như vậy để doạ ta đó thôi. Chỗ ngày vào Kim Lăng không còn bao xa nữa, Quân sư hãy về kéo đại binh đến đây cho mau, để ta vào đó sửa trị thằng này mới được.
Hấp Mê Xi vâng lệnh quay ngựa bỏ đi, còn Ngột Truật dẫn binh xông vào Cốc Khẩu. Phía trong, Kiết Thanh lại giư tay ngoắc lia lịa nói:
- Hãy đến đây mau lên, ta hứa giao phong với ngươi vài trăm hiệp.
Vừa nói Kiết Thanh vừa lùi dần qua phía sau núi. Ngột Truật trông thấy chỗ ấy chính giữa là đất bằng, xung quanh đều có núi bao vây không có đường ra được, nghĩ thầm:
- „Chỗ này hiểm trở thật, nếu quả chúng có phục binh e có khi ta không có đường ra đấy. Chi bằng ta quay ra ngay bây giờ thì tiện hơn“.
Ngột Truật vừa quay ngựa trở ra bỗng nghe một tiếng pháo nổ vang rền, bốn phía trống đánh, quân reo hò, cờ xí, đao thương dựng lên rợp trời. Mười ngàn binh mã, tám trăm tinh binh vây lấy Ái Hoa sơn tưởng không lọt một con kiến.
Xung quanh quân lại reo lên một lượt:
- Chớ cho Ngột Truật tẩu thoát!
Ngột Truật thất kinh hồn vía, lại thấy cờ soái phất phới trước mặt, rồi một tướng xông ra, đầu đội lãng ngân khôi, mình mang ngân diệp giáp, trán vuông, mặt rắng, râu mọc ba chòm, vai nor, lưng ròn trông oai phong lẫm liệt, Trước mặt lại có một dũng tướng tay cầm côn sắt, sau lưng có gã mặt đen xách côn đồng. Ngột Truật cảm thấy nao nao trong lòng, song cũng gắng gượng hỏi:
- Ngươi tên họ là chi hãy nói mau!
Nhạc Phi nói:
- Ta biết mi rồi, mi chính là hoàng tử Kim quốc tên là Hoàn Nhan Ngột Truật, mi khinh thị Trung Nguyên ta không có người tài nên mới hưng binh xâm phạm, lại bắt Nhị đế ta đem về đất Bắc lăng nhục đủ điều. Mối thù ấy đối với dân Trung Nguyên không thể đội trời chung. Nay chúa ta là Khương Vương lên ngôi tại Kim lăng chiêu tập hết binh mã trong thiên hạ, sai ta đi bắt cho được mi để ăn gan nuốt mật đồng thời rước Nhị Đế ta về. Chẳng dè mi lại đến đây nạp mạng. Ta đây không phải ai xa lạ, chính là Phó nguyên soái Nhạc Phi đây, mi hãy mau mau xuống ngựa bó tay đừng để ta phải ra tay nhọc sức.
- À thì ra ngươi là Nhạc Phi đó sao? Phen trước đại huynh ta rủi lầm gian kế của ngươi bị hại đến mười vạn binh mã tại núi Thanh Long, lâu nay ta muốn đi tìm ngươi để báo thù hôm nay tình cờ gặp ngươi đây thật là may mắn. Ngươi chớ bỏ chạy, hãy xem chiếc búa thần của ta đây.
Vừa nói vừa vung búa đánh tới, Nhạc Phi cũng đưa thương ra đỡ, hễ thương đâm thì búa đỡ, búa đánh thì thương ngăn. Quả là anh hùng lại gặp anh hùng cần tài, ngang sức.
Nói về Hấp Mê Xi vâng lời Ngột Truật thẳng về dinh trại, nhưng mới đi nửa đường đã gặp thái tử Phiên quốc Hồ Hãn, cùng các hoàng tử: Lạc Hãn, Đáp Võ, Trạch Lợi thống lãnh một bọn Nguyên soái là Hồ Ma Hốt, Ô Lý Bố, Hoà Lý Bố, Hạ Tất Đạt, Đẩu Tất Lợi, Kim Cố Đô, Ngân Cốt Đô, Đồng Cốt Đô, Kim Nhãn Đại Ma, Ngân Nhãn Đại Ma, Đồng Tiên Văn Lang, Thiết Tiên Văn Lang, Hấp Lý Đồ, Hấp Lý Cường, Hấp Thiết Long, Hấp Thiết Hổ, Sa Văn Kim, Sa Văn Ngân cùng các tiểu Nguyên soái các Bình chương dẫn hơn ba mươi vạn binh mã, rầm rộ kéo đi đầy đường lấp lối.
Hấp Mê Xi bèn đem hết việc Ngột Truật rượt theo Kiết Thanh vào núi Ái Hoa. Hồ Hãn đã bị trúng mưu Nhạc Phi một lần nên nghe nói rất lo ngại vội điều động ba quân kéo tới Ái Hoa sơn cho mau.
Lúc ấy Ngưu Cao cứ đứng trên núi trông thấy quân Phiên kéo đến đông như kiến cỏ, bèn quay qua nói với Vương Quới:
- Trong núi này chỉ có một thằng Phiên, chẳng lẽ đại huynh ta đánh không lại nó? Chúng ta cứ đứng giữ mãi ba cái xe này buồn như rệp, Huynh hãy nhìn dưới chân núi kia xem, quân Phiên nó kéo đến hằng hà sa số. Anh em ta lén xuống đó xông vào giữa đám quân giết chúng một trận cho đỡ ngứa tay, không biết huynh nghĩ sao?
Vương Quới nhìn xuống chân núi rồi cũng reo lên:
- Hiền đệ nói trúng ý ta lắm!
Rồi hai người sia quân sĩ mở xe ra, dẫn hết hai ngàn quân chạy thẳng xuống núi chặn đánh quyết liệt đạo quân Phiên.
Khi Ngột Truật đánh với Nhạc Phi được bảy tám mươi hiệp nhắm bề cự không lại nên muốn quay ngựa bỏ chạy, nhưng vừa mới xoay mình đã bị Nhạc Phi cầm thương đánh văng cây búa ra, một tay rút ngân giản trong lưng nhằm trên vai đánh một cái rất mạnh. Ngột Truật rú lên một tiếng quay ngựa chạy dài.
Ngột Truật chạy qua phía Bắc nhằm chỗ Vương Quới và Ngưu Cao vừa bỏ trống, xuống núi giao chiến với quân Phiên nên ở đây không ai ngăn giữ. Vì vậy Ngột Truật thừa dịp thoát ra khỏi.
Khi Nhạc Phi rượt theo đến đó thấy vậy liền tra hỏi quân giữ xe mới hay Ngưu Cao và Vương Quới đã dẫn binh xuống núi rồi. Nhạc Phi bèn truyền lệnh chư tướng đều đem binh áp xuống tiếp chiến.
Tiếng súng hiệu lệnh vừa nổ vang, các vị anh hùng đều dẫn hết mười ngàn binh mạnh cùng tám trăm tinh binh chạy ào xuống núi như ong vỡ tổ, đánh nhau với quân Phiên chẳng khác hổ đói gặp mồi ngon, giết chúng đầu rụng như sung, thây nằm chật đất, tinh thần hoảng loạn, mạnh ai nấy bỏ chạy. Nhạc Phi thúc ba quân rượt theo chém giết máu chảy ngập bàn chân.
Số tàn quân Kim cứ nhằm phía Tây Bắc mà chạy. Quân Tống đuổi theo hơn ba mưoi dặm lại gặp một chỗ có hai hòn núi chặn ngang. Hòn núi phía bên tả gọi là núi Kỳ Lân, trên núi có một đại vương trấn ở đó tên là Trương Quốc Tường, là con của Thể Viên Thử Trương Thanh một trong những vị anh hùng Lương Sơn Bạc xưa kia. Quốc Tường này tụ tập lâu la hơn ba bốn ngàn chuyên nghề cướp giật khách đi đường.
Còn quả phía bên hữu gọi là núi Sư Tử, trên núi cũng có một vị đại vương tên là Đổng Phương con của Song Thương Tướng Đổng Bình trong giới giang hồ Thuỷ Hử khi xưa, tên này cũng tụ họp hơn ba bốn ngàn lâu la để cướp của.
Hôm ấy hai tên Quốc Tường và Đổng Phương cùng nhau ăn uống vui chơi, bỗng có lâu la chạy về phi báo:
- Bẩm nhị vị đại vương, phía trước đây có quân Phiên bại trận chạy về đây đông như kiến.
Trươg Quốc Tường nói với Đổng Phương:
- Hèn chi mấy bữa nay bọn lâu la đi tìm không ra mối, nay mới biết chỉ vì bọn này mà khách buôn không dám lai vãng, vậy sẵn dịp này hai chúng ta dẫn bọn lâu la ra hai phía rồi dùng trường thương, câu móc và cung tên sắp đặt sẵn sàng chờ chúng nó chạy qua phân nửa, ta chặn lại giựt đồ đem lên núi mà dùng, ý hiền đệ thế nào?
Đổng Phương gật đầu đáp:
- Đại ca tính vậy hay lắm.
Rồi cả hai truyền lệnh cho bọn lâu la mai phục hai bên. Mọi việc sắp đặt vừa xong đúng lúc quân Phiên vừa chạy đến.
Hai bên núi, lâu la nổi dậy một lượt la ó vang trời. Quân Phiên kinh hồn hoảng vía, chúng khóc than:
- Phía sau quân giặc đuổi tới, phía trước quân cướp đón ngăn, phen này bọn ta chắc chết hết rồi!
Chúng vừa khóc than vừa liều mạng tháo chạy, hai bên lâu la ào ra một lượt đánh giết một trận, quân Phiên chết vô số, song lâu la ít nên ngăn lại không xuể đành để cho quân Phiên chạy thoát hơn nửa. Lúc ấy Trương Quốc Tường cầm cây côn, Đổng Phương cầm hai cây thương xông ra giết thêm một số nữa còn bao nhiêu chạy thoát.
Kế đó Vương Quới, Ngưu Cao, Kiết Thanh và Lương Hưng bốn tướng đuổi theo vừa đến.
Trương Quốc tường và Đổng Phương trông thấy bốn tướng mặt mũi dữ dằn, ngỡ là Phiên tướng liền áp đến chặn đánh không thèm hỏi danh tính. Vương Quới và Ngưu Cao là hai tay lỗ mãng nên cũng không kể gì phải trái cứ việc đánh tràn.
Một bên bốn người đánh với hai người quần nhau để cho quân Phiên chạy hết. Một lúc sau đạo quân Nhạc nguyên soái vừa đến trông thấy thế liền gọi lớn:
- Hãy dừng lại!
Hai bên nghe kêu vội đứng dãn ra, Nhạc Phi hỏi hai người kia:
- Tại sao hai người lại dám cả gan ngăn cản đạo binh của triều đình để cho quân Phiên chạy mất hết?
Trương Quốc Tường và Đổng Phương trông thấy cờ hiệu của Nhạc Nguyên soái mới biết mình đánh lầm, vội vàng xuống ngựa quỳ lạy và nói:
- Hai anh em chúng tôi là cường đạo ở tại núi này, nhân thấy quân Phiên thua chạy đến đây nên chúng tôi xông ra đón giết, kế bốn vị tướng quân này vừa đến, chúng tôi thấy mặt mũi dữ dằn tưởng là Phiên tướng nên mới đánh lầm như vậy. Quả thật chúng tôi không có ý định đón ngăn đạo quân của Nguyên soái, nay anh em tôi được gặp Nguyên soái đây nguyện theo hầu hạ, xin Nguyên soái thu dụng.
Nhạc Phi nhảy xuống ngựa đỡ hai người ấy dậy và nói:
- Bỏ dữ theo lành thì còn gì quý hoá hơn nữa, nhưng chẳng biết hai anh em tên họ là chi?
Trương Quốc Tường bèn tự giới thiệu tên hai người và cho biết cả tông tích quê quán, Nhạc Phi mừng rỡ nói:
- Bây giờ bổn soái phải truy kích Ngột Truật gấp không thể chuyện vãn với hai vị được, vậy hai vị hãy về trại sắm sửa kéo binh ra Hoàng Hà sẽ gặp mặt nhau ở đó.
Hai người đồng thanh đáp:
- Vậy xin Nguyên soái đi trước, chúng tôi sẽ theo sau.
Rồi hai người quay qua xin lỗi bọn Ngưu Cao:
- Lúc nãy vì lỡ lầm nên xúc phạm đến bốn vị tướng quân, xin hãy miễn chấp cho.
Ngưu Cao nói:
- Nay đã thuộc một nhà rồi, khỏi phải khách sáo nữa, hãy trở về nhà sắm sửa để lên đường cho sớm.
Hai người từ biệt ai về nhà nấy, thu góp lương thảo và binh mã để kéo xuống Hoàng Hà.
Nhạc Nguyên soái hối thúc ba quân đuổi theo Ngột Truật. Còn Ngột Truật đang cơn bối rối lại thấy quân lính kêu khóc om sòm nên càng bực bội hơn nữa.
Phía trước là con sông Hoàng Hà nước sâu không có thuyền bè qua lại, phía sau là quân Tống lại đuổi theo gần kịp, Ngột Truật ngửa mặt lên trời than:
- “Phen này chắc ta bỏ mạng trên đất Trung Nguyên rồi”.
Trong lúc hiểm nghèo ấy, bỗng Hấp Mê Xi vỗ tay vừa chỉ vừa reo to:
- Chúa công có phúc lắm rồi. Hãy xem phía trên dòng nước kia có những năm sau mươi chiếc thuyền đều cắm cờ hiệu Đại Kim chắc chắn chúng ta sẽ thoát nạn.
Ngột Truật xem kỹ thì quả nhiên, vội thúc quân gọi to. Thì ra những thuyền ấy là thuyền của đạo binh Tào Vinh và Lưu Dự. Hai tướng này ngăn giữ Hoàng Hà bị Trương Sở đánh đuổi thua chạy đến đó.
Bọn Tào Vinh nghe kêu vội vã chèo nhanh nhưng vì ngược gió thuyền đến không kịp mà quân Tống đã đến quá gần. Ngột Truật còn đang thất kinh bỗng thấy trong lùm cây có một chiếc thuyền con từ từ chèo ra, trên thuyền có một dân chài ra vẻ thản nhiên lắm.
Ngột Truật giơ tay ngoắc gọi:
- Bơ chú chài, hãy bơi thuyền lại đây cứu ta, ta sẽ thưởng nhiều tiền bạc.
Người chèo thuyền đáp:
- Tốt lắm, hãy xuống đây mau.
Thuyền vừa cập bờ, anh ta ngước mặt lên bảo:
- Thuyền tôi nhỏ lắm chỉ chở được một người mà thôi.
Ngột Truật nói:
- Ta có một con ngựa, xin hãy ráng chở giùm cho.
- Cũng được, thôi hãy dắt xuống cho mau.
Ngột Truật vội vã dắt ngựa xuống thuyền, người lái thuyền chèo gấp ra, chỉ quạt vài cái, con thuyền đã rời bến hơn mấy trượng rồi cứ thủng thẳng chèo đi.
Ngột Truật đứng dưới thuyền nhìn lên thấy đoàn thuyền của Tào Vinh đã cập bến, nhưng vì quân tướng qúa đông nên giành nhau xuống thuyền một cách hỗn loạn, lớp bị rơi xuống sông, lớp bị chìm thuyền chết, thôi không biết bao nhiêu mà kể.
Kế quân Tống lại kéo đến, có mấy chiếc thuyền chưa rời kịp bến bị giết chết, thây chất ngổn ngang, máu nhuộm đỏ sông quả là một trận chém giết khủng khiếp.
Lúc ấy có tiếng từ trên bờ gọi vọng xuống:
- Bớ chú chài, sao ngươi lại chở kẻ thù số một của triều đình đi đâu vậy? Hãy chở trở lại cho mau.
Người chèo thuyền cười gằn đáp:
- Ấy là mối phát tài của ta, sao ngươi lại bảo ta chở lại cho ngươi lập công?
Nhạc Phi bèn nói với chư tướng:
- Ta nghe giọng nói người này quả là người Trung Nguyên, các ngươi hãy cố gắng kêu hắn chở Ngột Truật lại đây sẽ thưởng cho nó ngàn vàng và phong cho nó làm chức Vạn Hộ Hầu.
Trương Bảo và Vương Hoành đồng thanh kêu lớn:
- Bớ chú chài, hãy đem tên Phiên trở lại đây mau ta sẽ thưởng ngàn vàng và phong chức Vạn Hộ Hầu.
Ngột Truật nhìn người chèo thuyền khoa tay nói:
- Ngươi đừng nghe chúng nói. Ta chính là Đại Kim Quốc Hoàng tử Ngột Truật đây, nếu ngươi cứu ta về nước được thì ta sẽ phong vương cho, quyết không bội tín.
Chú chài đáp:
- Tốt lắm, nhưng ngặt một điều ta e không thể làm được.
Ngột Truật hỏi:
- Việc gì mà làm không được?
- Ta là người Trung nguyên. Cha mẹ bà con đều ở tại Trung Nguyên, làm sao hưởng sự giàu sang của ngươi được.
- Nếu vậy ngươi cứ đưa ta tới bờ, ta sẽ đền ơn cho ngươi bạc vàng muôn lượng.
- Tốt lắm, song ta nói chuyện với ngươi hết nửa ngày mà ngươi chưa biết họ tên của ta.
Ngột Truật như thức tỉnh hỏi:
- Ngươi tên họ là chi, hãy nói cho ta biết để ta còn báo đáp cho ngươi.
Chú chài nói:
- Lẽ ra ta cũng không cần nói tên làm gì, song ta sợ ngươi không biết và hiểu lầm nên ta phải nói. Xưa cha ta cũng như chú bác của ta đều vang danh thiên hạ là tam hùng họ Nguyễn dốc một lòng phò nhà Tống. Ta đây là con của Nguyễn Tiểu Nhị tên Nguyễn Lương. Nay đã có đại binh của Nhà Tống đến đây, há ta lại cứu ngươi hay sao? Vả lại chúa của ta vừa mới lên ngôi nên ta cần bắt ngươi để làm lễ ra mắt. Vậy ngươi hãy cởi y giáp ra cho sẵn để ta trói quách cho rồi.
Ngột Truật nghe nói toát mồ hôi ướt cả áo, nổi giận quát lớn:
- Được rồi, nếu ngươi nói vậy bây giờ ta và ngươi phải một sống, một chết mới được.
Ngột Truật vừa nói vừa vung búa xốc tới toan chém Nguyễn Lương, Nguyễn Lương cười ha hả nói:
- Khoan ra tay đã, để ta tắm rửa sạch sẽ rồi sẽ bắt ngươi.
Dứt lời, Nguyễn Lương nhảy ùm xuống sông, chiếc thuyền con không ai điều khiển quay ngang trôi theo dòng nước, còn Ngột Truật là người Bắc Phiên nên chỉ quen cưỡi ngựa chứ không biết chèo thuyền, phần thì không biết bơi lội nên không biết làm sao.
Nguyễn Lương nhảy xuống nước rồi cứ việc nắm mũi thuyền vừa lội vừa kéo vào bờ.
Ngột Truật thất kinh lớn tiếng gọi quân sư đến cứu. Hấp Mê Xi vội vã điều quân sĩ thả thuyền con chèo đến đón Ngột Truật.
Nguyễn Lương ở dưới nước thấy thế liền nhảy chồm lên đè một bên làm cho chiếc thuyền lật úp. Ngột Truật té xuống sông, chiếc búa cũng bị kẹt trong người nên Nguyễn Lương dễ dàng kẹp Ngột Truật vào tay rồi chỉ dùng hai chân lội thẳng vào bờ.

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-06 02:20:34Hoàng Dung>
đánh máy: Lucern
 Hồi thứ hai mươi chín
Nhạc Phi ra quân trừ cường đạo
Quá chén Ngưu Cao bị cầm tù 

Thấy Nguyễn Lương bơi đã gần bờ nách lại kẹp cứng tên Hoàng tử phiên quốc, chư tướng đều hết sức vui mừng. Ngờ đâu Ngột Truật nộ khí xung thiên trợn con mắt nhìn Nguyễn Lương, rống lên một tiếng rung động mặt nước, trên đầu Ngột Truật đột nhiên xuất hiện một con rồng lửa, nhe nanh múa vuốt, nhắm ngay mặt Nguyễn Lương chụp tới.
Nguyễn Lương thất kinh rú lên một tiếng thất thanh, buông Ngột Truật ra rồi lặn tuốt xuống đáy sông.
Quân Phiên chèo thuyền đến vớt ngay Ngột Truật và con ngựa đem lên thuyền lớn rồi chèo thẳng về phía bờ Bắc.
Quân Phiên nhảy được lên bờ vội vàng chạy thẳng về phủ Hà Giang. Ngột Truật kiểm điểm lại binh mã rồi sai tướng ra canh giữ Hoàng Hà.
Khi trấn an được tinh thần, Ngột Truật nói với chư tướng:
- Từ khi ta vào Trung Nguyên đến nay chưa hề có trận nào đại bại như vậy. Thật quả Nhạc Phi quá lợi hại.
Nói rồi làm biểu sai người về Phiên quốc xin thêm binh mã đem sang quyết hơn thua với Nhạc Phi một trận.
Khi Nhạc Phi thấy Ngột Truật thoát khỏi rồi, liền than thở với chư tướng:
- Quả thật lòng trời chưa dứt tên Ngột Truật, nhưng chỉ tiếc cho người dân chài, một kẻ anh hùng hảo hán trên đời ít có, không biết có được toàn tính mạng hay không?
Vừa than thở đến đây bỗng thấy hắn ta từ dưới nước trồi đầu lên, ai nấy đều mừng rỡ. Ngưu Cao lại kêu lớn:
- Bớ ông bạn, Nguyên soái đang trông ngươi đây này, hãy lên cho mau.
Nguyễn Lương nghe gọi vội lội thẳng vào bừo chạy lên quỳ trước đầu ngựa Nhạc Phi.
Nhạc Phi vội xuống ngựa đỡ người ấy dậy và hỏi:
- Chẳng hay hảo hán tên gọi là chi?
Nguyễn Lương đáp:
- Tôi họ Nguyễn tên Lương, vốn là con của Nguyễn Tiểu Nhi ở Lương Sơn Bạc ngày trước, từ bé đã quen sống trôi nổi đến đây. Hôm nay tôi cũng tưởng bắt được Ngột Truật lập công, ngờ đâu tự nhiên nó hiện ra một con quái vật. Trong lúc hoảng hốt để cho nó thoát khỏi, xin Nguyên soái tha tội.
Nhạc Nguyên soái nói:
- Ấy là tại hắn chưa tới số chứ đâu phải tại ngươi bất tài. Ta xem ngươi là kẻ trí dũng hơn người, vậy ngươi hãy theo ta lập chút công danh để khỏi mai một chí khí anh hùng.
Nguyễn Lương nói:
- Nếu được Nguyên soái thu dụng thì tôi xin nguyện ra sức báo đáp.
Nhạc Nguyên soái mừng rỡ vội sai quân đem y phục cho Nguyễn Lương thay rồi truyền lệnh an dinh hạ traị. Sau đó làm thịt heo, dê khao thưởng tướng sĩ ăn mừng chiến thắng.
Bỗng nghe quân vào báo có Trương Quốc Tường và Đổng Phương đã dẫn binh mã và chở lương thảo đến rồi. Nhạc Nguyên soái liền sai gọi vào dinh ra mắt với chư tướng, rồi kêu Nguyễn Lương, Đổng Phương, Trương Quốc Tường vào kết tình bằng hữu.
Sau đó Nhạc Nguyên soái viết bổn chương gửi về triều báo tin mới thu dụng thêm ba tướng và xin triều đình phong thưởng.
Hôm ấy các tướng sĩ ăn uống vui cười hỉ hả. Qua bữa sau, Nhạc Phi triệu tập các tướng lĩnh thương nghị rồi sai người đi mướn thợ đóng thuyền chiến để đưa quân vượt qua sông Hoàng Hà quyết định xốc tới Huỳnh Long phủ để đón Nhị đế về triều.
Còn đang thương nghị, bỗng nghe quân báo có thánh chỉ sai ra. Nhạc Nguyên soái vội vã bước ra nghênh tiếp khâm sai vào dinh rồi mở chiếu ra đọc:
- „Nay có bọn thuỷ khấu tại Thái Hồ cướp của giết người, nhân dân ta thán, nên gia thăng cho Nhạc Phi làm chức Ngũ Tỉnh Đại Nguyên soái, phải mau mau kéo binh qua Thái Hồ trừ khử gấp để cứu vãn sinh linh“.
Đọc chiếu xong, Nhạc Nguyên soái tạ ơn vua, khâm sai cũng từ biệt Nhạc Phi trở về triều.
Nhạc Nguyên soái sai người qua báo tin cho Trương nguyên soái hay để cho người ra trấn giữ Hoàng Hà rồi kêu Ngưu Cao, Vương Quới, Trương Hiển và Thang Hoài vào dặn dò.
Bốn tướng vâng lệnh, phát pháo dẫn quân ra đi. Chỉ ba hôm sau là đến phủ Bình Giang, khi còn cách thành chừng mười dặm thì truyền an dinh hạ trại.
Đâu đó xong xuôi, Ngưu Cao cưỡi ngựa đi chơi một mình, nhưng chàng đi đến đâu cũng thấy vắng hoe, ngoài đường không có một người lai vãng, nhà cửa điêu tàn, Ngưu Cao nghĩ thầm: - „Nhà cửa không có cũng không sao, duy không có quán rượu thì buồn chết“.
Vừa nghĩ vừa lần tới, chàng gặp một ngôi chùa tương đối lớn vội bước vào xem. Phía trước chùa treo tấm biển đề bốn chữ vàng „Hàn San cổ tự“. Ngưu Cao xuống ngựa buộc vào gốc cây rồi đi thẳng vào đại điện. Chàng vừa đi vừa kêu chẳng thấy ai lên tiếng, liền đi thẳng xuống trú phòng cũng không tìm thấy một người, bếp núc cũng không thấy, chỉ thấy một căn nhà chất đầy bao vôi, chàng lẩm bẩm:
- „Trong đống vôi này có thể có đồ vật gì người ta giấu trong này chứ chẳng không“.
Chàng rút cây giản ra xăm xỉa vào các bao vôi, bỗng thấy một người từ trong các bao vôi nhảy tung ra ngoài, mình mẩy đầu cổ vấy vôi cùng khắp khiến Ngưu Cao giật mình nhảy trái ra xa. Tên ấy vội bước tới quỳ lạy năn nỉ:
- Xin Đại vương tha mạng.
Ngưu Cao mắng:
- Tên khốn kiếp này làm cho ta giật mình, tại sao mi lại chui vào đó trốn để làm gì?
- Thưa Đại vương, tôi chính là người ở tại chùa Hàn San này, nhân trước đây có mấy vị Đại vương đến cướp giật đồ trong chùa nên mấy ông Hòa thượng đều trơn hết, duy còn một mình tôi còn chút ít đồ đạc nên nán lại mà góp nhặt mang đi, thấy Đại vương bước vào nên sợ hãi chui trốn vào đống vôi, xin Đại vương tha mạng.
Ngưu Cao nói:
- Ta chẳng phải là Đại vương nào hết mà là người của Hoàng Đế sai đến đây tìm bắt mấy tên Đại vương mà ngươi vừa nói đó. Ta đây là tướng bộ hạ của Nhạc Nguyên soái, làm chức Đô Thống tên Ngưu Cao. Bây giờ ta hỏi thật ngươi một điều, chẳng biết quanh đây có bán rượu không?
Người ấy nói:
- Thì ra ngài là một vị Tổng binh mà tôi không biết, xin ngài miễn chấp. Chốn này là Phong Kiều đại trấn  thì món chi không có, ngặt vì bọn cường đạo Thái Hồ nó  cướp phá nên dân bỏ chạy không còn ai buôn bán nữa.
Ngưu Cao lại hỏi:
- Thế chỗ này không còn quan địa phương sao?
- Dạ có chứ, quan phủ Bình Giang là Lục Chương,  nhưng nha môn của ngài ở tận trong thành cơ.
Ngưu Cao hỏi:
- Từ đây đến đó ước được bao xa?
- Thưa ước độ tám dặm là đến phủ thành. Thế thì ngươi chịu khó dắt ta đến đó.
Người ấy nói:
- Lúc nãy ngài xâm trúng chân tôi bị què rồi, làm thế nào đi được?
Ngưu Cao cúi sờ chân của người ấy rồi nói:
- Không hề chi đâu.
Nói rồi, Ngưu Cao dắt ngựa ra rồi ôm người ấy nhảy lên lưng ngựa ra roi phi nhanh.
Khi đi đến phủ thành, Ngưu Cao thả người ấy xuống rồi ngó lên thành gọi lớn:
- Nay có Nhạc Nguyên soái phụng chỉ đến đây dẹp giặc, tại sao quan địa phương chẳng ra nghênh tiếp?
Quân giữ thành chạy vào phi báo. Quan Tri phủ sợ hãi vội vã ra tận thành nghênh tiếp, quỳ xuống thưa:
- Tôi là Tri phủ ở tại phủ Bình Giang này, tên Lục Chương xin ra mắt Nguyên soái.
Ngưu Cao nói:
- Thôi, đừng quỳ lạy làm gì, ta chính là Ngưu Cao làm quan Đô Thống nhưng còn có ba người anh em lãnh đại binh cũng đã đến đóng dinh trại cách đây chừng một dặm. Sớm tối Nhạc Nguyên soái cũng đến đây, mấy anh em ta chịu cực khổ dầm mưa dãi gió cũng chỉ vì sự an ninh trong địa phương của ngươi, sao ngươi chẳng làm cho chúng ta một bữa rượu thịt chi hết vậy?
Lục Chương nói:
- Chỉ vì cả ngày mải lo việc sửa sang thành trì, hơn nữa chưa được hay tin quý vị đến đây, nên tôi mới thất lễ.
Ngưu Cao nói:
- Thôi ta cũng không chấp nê làm gì, miễn bây giờ ngươi biết mang rượu thịt đến cho nhiều thì thôi.
Tri phủ vâng lời, Ngưu Cao quay ngựa trở về.
Khi Ngưu Cao đi rồi, quan Tri phủ than thở:
- Gặp lúc loạn ly thế này chẳng luận quan chức lớn nhỏ làm gì, hễ ai có sức thì lớn hơn cả, ta cũng chịu nhục sắm sửa rượu thịt dâng phức cho rồi.
Ngưu Cao về đến dinh Thang Hoài trông thấy vội hỏi:
- Ngưu đệ đi đâu suốt nửa ngày vậy?
Ngưu Cao đáp:
- Chư huynh ngồi ở nhà có ích gì đâu, đệ đi tìm tên Tri phủ Lục Chương để đòi hỏi, trong lát nữa sẽ có rượu thịt mang đến cho mà xem. Nếu viên tri phủ ấy có đến đây xin chư huynh phải bắt y cúi đầu mới được.
Thang Hoài nói:
- Từ nay về sau Ngưu đệ chớ nên làm như vậy nữa vì đệ chỉ làm chức Đô Thống có cao cả gì đâu mà đi bắt nạt người ta chẳng sợ người oán trách sao?
Hai người đang nói chuyện vãn, bỗng nghe quân sĩ vào báo:
- Có tri phủ Bình Giang đem rượu thịt đến dâng hiện còn đứng ngoài.
Thang Hoài vội dắt hết mấy anh em ra đón vào làm lễ ra mắt. Quan phủ vội gọi kẻ tuỳ tùng khiên dê, lợn, rượu thịt vào.
Thang Hoài thu nhận và nói:
- Quí phủ đã có lòng, chúng tôi lấy làm cảm tạ, chẳng hay quân cường khấu ở tại nơi nào?
Lục Chương nói:
- Chúng ở tại Thái Hồ gần đây thôi, quân chúng hơn sáu ngàn chiếm đóng một chỗ đất độ năm sáu dặm vuông, xung quanh núi dựng đứng, chính giữa lại có hai toà núi cao ngất, phía đông là động Đình San, phía Tây có hồ sâu thăm thẳm. Chúng đóng binh, dồn tích lương thảo rất nhiều, chiến thuyền của chúng độ năm nghìn chiếc, tên đầu đảng là Dương Hổ. Nguyên soái của chúng là Hoa Phổ Dương. Chúng ỷ lại có con sông ngăn trở nên thường lớn lối hăm doạ sẽ thu phục cho kỳ được thiên hạ của nhà Tống và thường hay đến phá rối dân lành.
Trước đây tại phủ tôi có quan binh mã Đô Giám tên Ngô Năng, chỉ huy năm ngàn binh mã nhưng khi giao phong với chúng nó bị kế trá hàng và phục binh bắt Ngô Năng giết chết còn năm nghìn binh mã cũng bị giết chết phân nửa. Vì vậy tôi phải dâng biểu về triều đình cáo cấp để trừ khử chúng đi. Nay có liệt vị và Nhạc Nguyên soái ra đây thật là may mắn vô cùng.
Thang Hoài nói:
- Xin quí phủ hãy an tâm. Đến như Hoàng tử Phiên quốc là Ngột Truật kia hơn năm chục vạn binh mã mà còn bị chúng tôi đánh tả tơi không còn manh giáp, ôm đầu chạy trối chết như chuột bầy, huống chi một cánh quân thảo khấu này có đáng vào đâu. Tuy vậy đánh thuỷ phải dụng thuyền nên quý phủ phải lo sẵn sàng và chọn quân thuỷ thủ cho nhiều. Ngày mai chúng tôi dọn đến bên Thái Hồ phòng ngự và chờ cho Nguyên soái đến mới hiệp lực tấn công, đập nát cho tiêu tan sào huyệt chúng mới xong.
Lục tri phủ nói:
- Tôi xin lĩnh mệnh về lo việc ấy cho tướng quân.
Nói rồi từ biệt về thành lo sắm chiến thuyền và mộ nhiều quân thuỷ thủ để đem đến nộp cho Thang Hoài điều dụng.
Qua hôm sau, Thang Hoài cùng ba tướng truyền quân nhổ trại đi thẳng đến Thái Hồ, dọn chỗ đóng trại dọc theo mé hồ. Trời gần tối, Thang Hoài nói với ba anh em:
- Các hiền đệ chớ ỷ mình khinh địch. Bây giờ bốn anh em ta, mỗi người phải lãnh mười chiếc thuyền nhỏ, phân ra làm bốn đạo để đi tuần tiễu dọc theo mé hồ để đề phòng quân giặc đến cướp dinh, ý kiến chư đệ thế nào?
Ba người kia đáp:
- Lời đề nghị của Thang huynh đúng lắm.
Nói rồi chọn bốn mươi chiếc thuyền nhỏ, mỗi chiếc hai mươi thuỷ thủ, bốn người mỗi người lãnh mười chiếc đi dọc theo Thái Hồ tuần phòng những nơi hiểm yếu. Lúc bấy giờ nhằm tiết Trung thu trời trong trăng tỏ, Ngưu Cao ngồi trước mũi thuyền lấy làm thích thú.
Bỗng đoàn thuyền dừng lại, Ngưu Cao ngạc nhiên hỏi:
- Tại sao chúng bay không chèo thẳng vào trong hồ để tuần tra lại dừng lại nơi đây?
Quân thuỷ thủ vào bẩm:
- Chúng tôi không dám chèo thuyền vào trong ấy vì sợ chúng xông ra bất thình lình lui ra không kịp.
Ngưu Cao nghe nói nổi giận quát:
- Ta đến đây với mục đích bắt bọn cướp, sao chúng bay lại bảo sợ bị cướp là nghĩa gì? Ta đi thuyền đến đây cũng như đi trên bộ vậy, nếu ta hô tiến thì bay phải chèo tới, bằng không ta chém đầu ngay.
Quân thủy thủ tuân lệnh vội chèo thuyền tới, chín chiếc thuyền kia cũng chèo theo.
Ngưu Cao ngồi trước mũi thuyền nhìn trăng lòng đầy phấn khởi vội gọi:
- Quân bay, hãy lấy rượu ra đây cho ta dùng lập tức.  
Sau đó Ngưu Cao uống rượu, quân thuỷ thủ lo chèo tới.
Chợt phía trước có chiếc thuyền của địch quân xăm xăm lướt tới. Quân thuỷ thủ bẩm:
- Phía trước đây có chiếc thuyền lớn đang chạy tới.
Ngưu Cao nói:
- Thế càng hay, hãy rót thêm rượu cho ta.
Quân thuỷ thủ không dám cãi cứ việc chèo thẳng tới, còn Ngưu Cao cứ việc nốc cạn bầu rượu.
Khi thấy chiếc thuyền địch đã lù lù trước mặt, Ngưu Cao mới cố gắng đứng dậy rút cặp giản ra, nhưng chàng đã quá chén lại bị chiếc thuyền lớn đâm bổ tới nên mất thăng bằng ngã ngửa xuống sông.
Hoa Phổ Phương đứng trên thuyền lớn nhìn xuống trông thấy rõ ràng, vội nhảy ùm xuống nước bắt Ngưu Cao trói lại đem về sơn trại.
Lúc ấy, quân thuỷ thủ trên mấy chiếc thuyền con kinh hồn khiếp vía vội chèo đi tìm thuyền Thang Hoài phi báo.
Thang Hoài hay tin Ngưu Cao bị bắt khoc rống lên rồi nhóm hết mấy anh em bàn bạc để lo phương giải cứu.
Trương Hiển và Vương Quới cũng không biết tính sao nên đồng thanh nói:
- Xem Thái Hồ này rộng lớn, lại hiểm trở, hãy đợi đại huynh đến rồi sẽ liệu.
Mọi người không ai nghĩ ra kế gì hay nên phải đành đợi Nhạc Phi.
Khi Hoa Phổ Phương bắt được Ngưu Cao đem về sơn trại đợi cho trời sáng tâu với Dương Hổ:
- Đêm qua tôi đi tuần hồ bắt được một viên tướng tiên phong của Nhạc Phi tên Ngưu Cao xin chúa công định liệu.
Dương Hổ sai đem vào. Quân lâu la dắt Ngưu Cao vào trước mặt Dương Hổ.
Dương Hổ chỉ vào mặt Ngưu Cao nạt lớn:
- Ngưu Cao, ngươi đã bị bắt đến đây sao lớn mật không quỳ xuống.
Ngưu Cao trợn mắt mắng:
- Loài ăn cướp vô danh chớ vô lễ. Hôm qua chỉ vì lão gia say rượu nên ngã xuống hồ, chúng bay đem về đây đáng lẽ phải cung kính ta mới phải, sao lại nói ngược như vậy? Thôi ta cũng chẳng chấp nên gì, nếu ngươi biết cải tà quy chính đầu hang, ta sẽ tâu với triều đình phong cho ngươi làm chức tiên phong đi đánh quân Phiên lập công, chẳng hay ngươi nghĩ sao?
Dương Hổ cười gằn nói:
- Đừng nói bậy, ta đã quyết thu phục giang sơn nhà Tống, nếu ngươi chịu đầu hàng ta thì ta hậu đãi và cho ngươi được làm tướng cầm quân, chừng chiếm được giang sơn nhà Tống, ta sẽ dành cho một địa vị cao sang.
Ngưu Cao lại mắng:
- Loài cẩu tặc chớ có nói láo, ta là Ngưu lão gia, đường đường là một đấng trượng phu, triều đình phong ta làm chức Đô Thống há lại đi đầu hàng bọn trộm chó, cắp gà như bay vậy sao? Chúng bay hãy nghe lời lão gia, đốt phắt cái sơn trại này đi, rồi lão gia sẽ dẫn về hiệp quân cùng Nhạc nguyên soái đi đánh quân Phiên, thì địa vị cao sang sau này sẽ không mất phần, bằng không thuận thì hãy chém phứt lão gia cho rồi. Lúc Nhạc Nguyên soái ra đây thì cả lũ bay sẽ bị phân thây ra muôn đoạn lúc ấy có hối cũng không kịp.
Dương Hổ nghe nói cả giận, vội truyền lệnh:
- Hãy dẫn hắn ra chém phứt cho ta.

o0o
0
«« « 1 2 3 » »»