TRUNG ĐÔNG: CON TÀU HOÀ BÌNH CHƯA TÌM RA BẾN ĐẬU
Nguyễn Hoàng * - Thái Văn Long **
Liên tiếp trong một năm rưỡi qua, kể từ khi nổ ra cuộc nổi dậy của người Pa-le-xtin chống lại I-xra-en vào cuối tháng 9-2000, tình hình Trung Đông diễn biến hết sức phức tạp, luôn chao đảo trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh mới tại khu vực. Càng về những ngày gần đây, sự leo thang của làn sóng xung đột bạo lực và khủng bố đẫm máu chẳng những gây tổn thất nặng nề về người và của cho cả hai bên, mà còn đe dọa tước bỏ những thành quả đã đạt được trong tiến trình hòa bình đầy gian khó chín năm qua, phủ một bóng đen hoài nghi lên những nỗ lực mới nhằm kiếm tìm một bến đậu lâu dài cho con tàu hòa bình Trung Đông.
Từ trong lịch sử, với vị thế địa - chiến lược quan trọng và rất nhạy cảm, lại tiềm ẩn những mâu thuẫn sắc tộc hòa quyện với tôn giáo, Trung Đông luôn vần vũ trong những biến cố nóng bỏng của các cuộc giành giật quyền lực quyết liệt giữa các thế lực ở bên trong và bên ngoài khu vực. Bước vào thời hiện đại, cùng với những mâu thuẫn mang tính lịch sử, nguồn tài nguyên dầu lửa khổng lồ của khu vực với trữ lượng ước khoảng 90 tỉ tấn (tổng trữ lượng dầu lửa của toàn thế giới là 136 tỉ tấn) không chỉ một lần trở thành vũ khí lợi hại của các nước A-rập ở đây trong quan hệ quốc tế, mà còn đồng thời đưa Trung Đông vào tâm điểm của không ít những toan tính chiến lược địa - chính trị của các thế lực nước lớn tham vọng giành quyền lực toàn cầu. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản nhất làm bùng lên 5 cuộc chiến tranh khu vực thời kỳ chiến tranh lạnh, giữa một bên là các nước A-rập và bên kia là I-xra-en, sau khi nhà nước Do Thái được thành lập vào tháng 5-1948 theo Nghị quyết 181 (11-1947) của Liên hợp quốc (LHQ)
Thực chất và cốt lõi nhất của cuộc xung đột giữa các nước A-rập và I-xra-en là vấn đề Pa-le-xtin cùng những tranh chấp lãnh thổ giữa hai bên. Cuộc xung đột khu vực kéo dài do nhiều mâu thuẫn đan xen đã biến Trung Đông trở thành điểm nóng gay gắt khó tháo gỡ, vượt tầm khu vực, khiến cả cộng đồng quốc tế phải quan tâm và lo ngại. Được sự hậu thuẫn, dung túng của Mỹ, nên dù bị cô lập giữa thế giới A-rập rộng lớn, đông dân, nhiều tiền của, nhưng I-xra-en vẫn luôn ở thế lấn lướt, thường sử dụng vũ lực gây hấn chiếm thêm đất đai của người Pa-le-xtin và của các nước A-rập láng giềng. Tính cố kết lỏng lẻo và sự hạn chế của khối đoàn kết A-rập cũng phần nào làm gia tăng hành động hiếu chiến của một số thế lực diều hâu cực hữu I-xra-en. Tuy nhiên, khi chiến tranh lạnh kết thúc, cuộc đối đầu toàn cầu Mỹ - Xô bị triệt tiêu, thì cũng là lúc cục diện Trung Đông thay đổi sâu sắc, cơ bản. Mỹ điều chỉnh chính sách đối với khu vực nhằm phục vụ chiến lược toàn cầu của họ sau chiến tranh lạnh. Thay vì chỉ chú trọng I-xra-en, Mỹ cải thiện quan hệ với thế giới A-rập, hòa hoãn mâu thuẫn giữa các nước A-rập với I-xra-en, tìm kiếm giải pháp cho cuộc xung đột Trung Đông theo kịch bản của Mỹ. Mặt khác, các nước A-rập cũng muốn cải thiện quan hệ với Mỹ xuất phát từ tính toán riêng của mỗi nước. I-xra-en cũng không thể thờ ơ với việc củng cố quan hệ với Mỹ, khi vị trí của I-xra-en là đồng minh chiến lược duy nhất của Mỹ tại khu vực đang bị lung lay. Trong khung cảnh ấy, xuất hiện những tiền đề thực tế cho việc vãn hồi hòa bình Trung Đông sau gần nửa thế kỷ liên miên xung đột. Tuy nhiên những mâu thuẫn, bất đồng sâu sắc trong quá trình thực hiện các thỏa thuận, khiến hồ sơ Trung Đông vẫn nổi cộm và bế tắc trên nhiều vấn đề, như biên giới - lãnh thổ, các vùng "đất Thánh", các khu định cư của người Do Thái, quy chế sử dụng Giê-ru-xa-lem, hồi hương người tị nạn và nhà nước Pa-le-xtin...
Nhậm chức Thủ tướng thứ 11 của I-xra-en ngày 7-3-2001, A. Sa-rôn chủ trương dùng chính sách cứng rắn, dựa trên sức mạnh đối với Pa-le-xtin để bảo đảm an ninh cho ngưòi Do Thái. Bởi vậy, một năm cầm quyền của A. Sa-rôn cũng là một năm gia tăng bạo lực và đổ máu, cướp đi sinh mạng hơn 1 200 con người của hai bên, đẩy xung đột Trung Đông đến điểm cực phát. Nỗi ám ảnh về nguy cơ của một cuộc chiến tranh tổng lực mới đang làm tổn hao hy vọng của những người vốn được coi là lạc quan nhất về triển vọng của một nền hòa bình cho khu vực đầy biến cố này.
Cùng lúc, chính quyền của Tổng thống G.W. Bu-sơ ở nước Mỹ - nước đóng vai trò bảo trợ chính cho tiến trình hòa bình (TTHB) Trung Đông - cũng tỏ ra lạnh nhạt, không dành cho cuộc xung đột khu vực mức độ ưu tiên như chính quyền WJ. Clin-tơn đã làm. Trái ngược hẳn với chính sách can dự của người tiền nhiệm, quan điểm của G.W. Bu-sơ là : nước Mỹ chỉ hành động khi lợi ích của Mỹ bị đe dọa trực tiếp. Thế nhưng, cuộc tấn công khủng bố vào nước Mỹ ngày 11-9-2001 đã làm đảo lộn mọi thứ tự ưu tiên mới trong chính sách đối ngoại của chính quyền G.W. Bu-sơ. Mỹ hầu như chỉ tập trung cho một ưu tiên bao trùm là chống khủng bố. Để tập hợp được lực lượng của liên minh chống khủng bố, nhất là giành được sự ủng hộ của thế giới A-rập, Mỹ thay đổi lập trường đối với vấn đề Pa-le-xtin. Mỹ gây áp lực buộc A. Sa-rôn chấp thuận để ngoại trưởng S. Pê-rét gặp Tổng thống Y. A-ra-phát (26-9-2001) và hai bên đạt được thỏa thuận ngừng bắn ba giai đoạn gần giống như thỏa thuận mà Giám đốc Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) G. Tê-nét phác thảo hồi tháng 6-2001. Đích thân Tổng thống G.W. Bu-sơ sau cuộc họp với các nhà lãnh đạo Quốc hội Mỹ, đã khẳng định trước giới báo chí : "Ý tưởng về một nhà nước Pa-le-xtin luôn là một phần trong cách nhìn nhận của Mỹ đối với Trung Đông, cũng như quyền tồn tại của I-xra-en phải được tôn trọng".
Đối với Mỹ, việc chấm dứt cuộc xung đột giữa I-xra-en và Pa-le-xtin đang ngày một leo thang nguy hiểm đã trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu, bởi Mỹ cần sự ủng hộ của các nước Hồi giáo để tiến hành cuộc chiến chống khủng bố với mũi nhọn đột phá nhằm vào Áp-ga-ni-xtan. Mỹ đẩy mạnh các hoạt động "ngoại giao con thoi" của đặc phái viên về Trung Đông A. Din-ni nhằm thực hiện kế hoạch Tê-nét và khuyến nghị của Ủy ban do Thượng nghị sỹ Mỹ Mit-chen-lơ đứng đầu. Theo đó, một lệnh ngừng bắn sẽ dẫn đến việc I-xra-en rút quân khỏi các vị trí đã chiếm trước khi các cuộc nổi dậy In-ti-pha-đa (9-2000) của người Pa-le-xtin nổ ra. Trong khi đó, Pa-le-xtin sẽ hành động để kiềm chế các phần tử quá khích, bảo đảm một thời kỳ yên tĩnh sau những biện pháp xây dựng lòng tin. Những biện pháp này bao gồm ngừng xây dựng các khu định cư của người Do Thái trên đất Pa-le-xtin mà I-xra-en chiếm đóng từ 1967. Cuối cùng là nối lại các cuộc đàm phán để bàn về một thỏa thuận hòa bình lâu dài ở Trung Đông.
Tuy nhiên, xét về thực chất, Mỹ vẫn giữ lập trường thiên vị, dung túng đối với I-xra-en. Một biểu hiện rõ nét là lần thứ hai kể từ tháng 3-2001 đến nay, Mỹ phủ quyết một nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc yêu cầu I-xra-en chấm dứt hành động leo thang bạo lực. Lợi dụng tình hình này, nhằm trả đũa các cuộc tấn công cảm tử của lực lượng Ha-mát và Di-hát trong PLO, A. Sa-rôn nêu chiêu bài "chống khủng bố", tăng cường hoạt động quân sự, đưa máy bay, xe tăng hạng nặng tấn công xâm nhập vào hàng loạt vị trí của người Pa-le-xtin ở dải Ga-da và khu Bờ Tây, bắn phá trụ sở cơ quan an ninh Pa-le-xtin và lực lượng cảnh vệ của Tổng thống Y. A-ra-phát.
Ngang ngược hơn khi I-xra-en áp đặt "lệnh cấm di chuyển" đối với Tổng thống Y. A-ra-phát, thiết lập một hàng rào xe tăng vây chặt xung quanh văn phòng của ông ở Ra-ma-la từ đầu tháng 12-2001. Đây thực chất là hành động giam lỏng nhà lãnh đạo Pa-le-xtin nhằm cô lập và hạ thấp uy tín ông. Bất chấp sự phản đối của dư luận quốc tế và việc phía Pa-le-xtin đã đáp ứng gần như hoàn toàn yêu sách của I-xra-en bắt giữ và trừng phạt các phần tử liên quan đến vụ ám sát Bộ trưởng du lịch I-xra-en, nhưng hạ tuần tháng 2-2002 vừa qua, I-xra-en vẫn quyết định không hủy bỏ "lệnh cấm di chuyển" nêu trên, mà chỉ "nới lỏng" phong tỏa Y.A-ra-phát.
Hành động quân sự của I-xra-en nhằm bảo đảm an ninh cho người Do Thái, trên thực tế đã không đạt được như mong muốn của A. Sa-rôn và các thế lực cánh hữu trong đảng Li-kut, trái lại chỉ làm cho người dân Do Thái luôn phải sống trong nỗi sợ hãi vì những vụ đánh bom liều chết từ phía Pa-le-xtin. Biện pháp này, một mặt đã bị cộng đồng quốc tế chỉ trích gay gắt ; mặt khác, nó khoét sâu nỗi thù hận đối với I-xra-en của những phong trào Hồi giáo cực đoan. Cũng bởi vậy, Thủ tướng A. Sa-rôn hiện đang ở thời điểm bế tắc nhất sau một năm cầm quyền, khi mà hầu như mọi chính sách của ông đưa ra đều thất bại. Một cuộc thăm dò dư luận mới đây nhất ở I-xra-en cho thấy 52% những người được hỏi đã tỏ ý không ủng hộ chính sách của Thủ tướng, đây là mức thấp nhất trong vòng một năm cầm quyền đầu tiên của A. Sa-rôn.
Sự leo thang của làn sóng bạo lực ngày càng khốc liệt thời gian qua, đang đe dọa làm sụp đổ hoàn toàn tiến trình hoà bình Trung Đông, đã hối thúc cộng đồng quốc tế, nhất là các nước lớn, Liên hiệp quốc và một số chính khách trong khu vực tích cực tìm kiếm sáng kiến nhằm cứu vãn tiến trình này.
Trước hết, phải kể đến sự sốt sắng của Liên minh châu Âu (EU) trong những nỗ lực thúc đẩy cả hai bên Pa-le-xtin và I-xra-en tiến tới bàn đàm phán tìm giải pháp thương lượng. Những ngày cuối tháng 2-2002, ông H. Sô-la-na, đặc trách các vấn đề đối ngoại của EU đã sang Trung Đông tiếp xúc với giới lãnh đạo cao nhất của hai bên xung đột ; còn Ngoại trưởng Tây Ban Nha, ông J. Pic-kê, Chủ tịch đương nhiệm của EU cũng đã tới Mỹ để trao đổi quan điểm về vấn đề Trung Đông. Dưới tác động của các hoạt động này, Thủ tướng I-xra-en đã nới lỏng lệnh phong tỏa đối với Tổng thống Y. A-ra-phát. Cùng nhằm tạo ra những chuyển biến tích cực cho tiến trình hoà bình Trung Đông, nhiều nước EU, đi đầu là Pháp đã hỗ trợ mạnh mẽ chủ trương do H. Sô-la-na đưa ra. Pháp còn nêu đề xuất hướng giải quyết tập trung vào những vấn đề cốt lõi như : Thành lập nhà nước độc lập của người Pa-le-xtin, thế giới công nhận nhà nước đó ; tiến hành bầu cử cơ cấu lãnh đạo Pa-le-xtin, tiếp tục các cuộc đàm phán giữa I-xra-en và Pa-le-xtin để thảo luận vấn đề phân chia lãnh thổ, các khu định cư của người Do Thái, quản lý Giê-ru-xa-lem, hồi hương người tị nạn Pa-le-xtin. Ngoại trưởng Pháp cho rằng : "chìa khóa giải quyết vấn đề Trung Đông là thành lập nhà nước của người Pa-le-xtin, một nguyên tắc được nêu rõ trong Hiệp định Ô-xlô năm 1993".
Trong khi đó, Mỹ cũng đang trong quá trình hoàn tất sáng kiến với tham vọng "giải quyết vĩnh viễn" cuộc xung đột giữa I-xra-en và Pa-le-xtin. Nội dung chủ yếu của sáng kiến này bao gồm : I-xra-en rút khỏi toàn bộ dải Ga-da và 96% lãnh thổ Bờ Tây, 4% lãnh thổ còn lại là nơi tập trung các khu định cư của người Do Thái. Pa-le-xtin sẽ được nhận phần đất bên trong lãnh thổ I-xra-en đúng bằng diện tích 4% ở bờ Tây mà họ đồng ý để lại cho I-xra-en. Về thánh địa Giê-ru-xa-lem, các khu phố Ai-cập sẽ thuộc về Pa-le-xtin và sẽ là thủ đô của Pa-le-xtin trong tương lai. Các khu phố Do Thái sẽ thuộc về I-xra-en...
Bên cạnh những sáng kiến đề xuất nêu trên của các nước EU và Mỹ, hiện tại cộng đồng quốc tế cũng đang hướng sự chú ý đặc biệt tới đề nghị hòa bình do Thái tử A-rập Xê-út Áp-đu-la đưa ra ngày 17-2-2002. Vẫn dựa trên nguyên tắc "đổi đất lấy hòa bình" mà cả khu vực đang theo đuổi, nội dung chính của sáng kiến này là : tất cả các nước A-rập sẽ thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường với I-xra-en để đổi lấy việc nhà nước Do Thái phải rút quân ra khỏi tất cả các vùng lãnh thổ A-rập mà họ chiếm đóng trái phép trong cuộc chiến tranh Trung Đông năm 1967. Đó là cao nguyên Gô-lan, dải Ga-da, khu vực Bờ Tây và Đông Giê-ru-xa-lem. Thái tử áp-đu-la dự định sẽ đưa đề nghị này ra thảo luận tại Hội nghị thượng đỉnh Liên đoàn A-rập vào 28-3-2002 tới tại Li-băng.
Sáng kiến hòa bình của Thái tử Áp-đu-la được xem như là một lối thoát cho tiến trình hòa bình đang bế tắc. Có nhiều lý do để sáng kiến này trở nên hấp dẫn và được tất cả các bên quan tâm, hưởng ứng. Trước hết, phải kể đến tính kịp thời của nó bởi đây là sáng kiến hòa bình chính thức đầu tiên được đưa ra sau 17 tháng xung đột đẫm máu tại Trung Đông. Thứ hai, nó được đề xuất bởi A-rập Xê-út, một nước có vai trò quan trọng trong khu vực, đặc biệt là trong thế giới A-rập. Thứ ba, nội dung của sáng kiến này đã phần nào phản ánh các mục tiêu mà I-xra-en và Pa-le-xtin, hai chủ thể chính của TTHB đang hết sức quan tâm.
Trong bối cảnh căng thẳng và phức tạp hiện nay ở Trung Đông, sáng kiến hòa bình của Áp-đu-la được đánh giá cao từ nhiều phía. Tổng thống Ai-cập H. Mu-ba-rắc và Tổng thống Xy-ri B. E-la-sat đã nhất trí kêu gọi I-xra-en hưởng ứng tích cực sáng kiến của Thái tử Áp-đu-la. Cả hai phía I-xra-en và Pa-le-xtin đều quan tâm đến sáng kiến này. Đối với I-xra-en, đây là lần đầu tiên một quốc gia có vị thế trong thế giới A-rập đặt vấn đề chính thức công nhận nhà nước Do Thái - một mục tiêu mà I-xra-en vẫn theo đuổi kể từ khi thành lập nước đến nay. Bởi vậy, chính bản thân Thủ tướng I-xra-en A.Sa-rôn cho biết sẵn sàng gặp các nhà lãnh đạo A-rập Xê-út để thảo luận cụ thể về sáng kiến mới này. Còn Tổng thống Y.A-ra-phát đã lên tiếng hoan nghênh và bày tỏ hy vọng về sáng kiến này sẽ góp phần vãn hồi hòa bình Trung Đông. Sở dĩ vậy là vì, nếu sáng kiến được thực thi thì hình hài địa lý của nhà nước Pa-le-xtin trong tương lai sẽ được khẳng định, đồng thời nguồn gốc xung đột từ nhiều thập kỷ nay giữa hai bên sẽ được giải quyết. Sáng kiến hòa bình của Thái tử Áp-đu-la cũng lập tức nhận được sự quan tâm, ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Ngày 28-2-2002, Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc đã thông qua sáng kiến này với đa số phiếu. Trước đây, tại Hội đồng bảo an, Mỹ thường sử dụng quyền phủ quyết để phong tỏa các kế hoạch hòa bình cho Trung Đông, nếu xét thấy không có lợi cho I-xra-en. Tuy nhiên, lần này sáng kiến hòa bình của A-rập Xê-út đã được cả Tổng thống G.W. Bu-sơ và Ngoại trưởng C. Pau-oen hoan nghênh, cho đây là một bước tiến của tiến trình hoà bình Trung Đông. Một số nước khác như Nga, Trung Quốc, các nước trong EU cũng bày tỏ sự ủng hộ và đều mong muốn một cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa Tổng thống Pa-le-xtin và Thủ tướng I-xra-en sẽ mau chóng được tổ chức.
Mặc dù được cộng đồng quốc tế ủng hộ, nhưng sáng kiến hòa bình của Thái tử Áp-đu-la chỉ có giá trị và có thể được thực thi khi được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh Liên đoàn A-rập sắp tới. Sự thống nhất của thế giới A-rập về tiến trình hoà bình Trung Đông mở ra một trang mới trong quan hệ của họ với I-xra-en, như kinh nghiệm lịch sử đã cho thấy, là điều không dễ đạt được. Sáng kiến hòa bình do Thái tử Áp-đu-la đưa ra hiện nay có nguồn gốc từ một kế hoạch hòa bình đã được anh trai của ông đề xuất cách đây 21 năm. Theo kế hoạch đó, I-xra-en phải rút quân ra khỏi các vùng lãnh thổ của A-rập bị I-xra-en xâm chiếm năm 1967, dỡ bỏ các khu định cư Do Thái trên các vùng đất chiếm đóng, giải quyết vấn đề người tị nạn Pa-le-xtin ; đổi lại, các nước A-rập công nhận nhà nước Do Thái. Tuy vậy, tại Hội nghị thượng đỉnh của Liên đoàn A-rập họp tại Ma-rốc năm 1981, kế hoạch nêu trên đã bị bác bỏ. Nhiều nước A-rập có đường lối cứng rắn đã coi việc công nhận nhà nước Do Thái, dù với điều kiện nào, cũng là phản bội thế giới A-rập.
Song, hiệu quả của sáng kiến mới nhằm vãn hồi hòa bình cho Trung Đông của A-rập Xê-út sẽ ra sao ? Câu trả lời vẫn đang còn ở phía trước. Sáng kiến của A-rập Xê-út lần này cũng có thể sẽ chịu chung số phận đổ vỡ như nhiều sáng kiến hòa bình đã được đưa ra trước đây, nếu làn sóng bạo lực ở khu vực vẫn không được kiềm chế. Một điều khiến cộng đồng quốc tế hết sức lo ngại là song hành với những nỗ lực tạo dựng hòa bình, các hoạt động bạo lực và tấn công trả đũa giữa hai bên xung đột vẫn diễn ra hằng ngày với con số tổn thất ngày càng cao, nó có thể làm lụi tắt những tia hy vọng hòa bình vẫn còn mong manh đang được nhen nhóm lại. Ngày 1-3-2002, Tổng thư ký Liên đoàn A-rập, ông Mut-sa cho rằng mọi hy vọng đạt được tiến bộ trong tiến trình hoà bình đều rất ít, nếu nhà nước I-xra-en vẫn duy trì chính sách cứng rắn hiện nay với người Pa-le-xtin.
Đối với vùng đất Trung Đông đang chao đảo trong vòng xoáy bạo lực hiện nay, một giải pháp hòa bình khả thi, rõ ràng đang trở thành khát vọng cháy bỏng của hàng triệu người dân trong khu vực cũng như của cả cộng đồng quốc tế. Đương nhiên, ở một nơi đã trải qua bao thập niên chiến tranh xung đột triền miên với những mâu thuẫn chồng chất khó hòa giải, thì con đường đi tới hòa bình chắc chắn sẽ không dễ dàng và không ít gian truân. Chăm chú dõi theo những diễn biến phức tạp tại Trung Đông, dư luận yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó có nhân dân Việt Nam, vẫn hy vọng và trông đợi các bên xung đột hãy kiềm chế và chấm dứt ngay bạo lực, trở lại bàn đàm phán, tiếp tục tiến trình hoà bình, nhằm sớm đạt tới một nền hòa bình công bằng, bền vững, bảo đảm lợi ích chính đáng cho các bên liên quan. Bởi như lời của Tổng thư ký Liên hiệp quốc K. An-nan : "Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy bất ổn, nhưng chúng ta không bao giờ được mất đi hy vọng và ước mơ. Điều quan trọng là cần phải xây dựng, bảo vệ và vun đắp niềm tin vững chắc trên con đường đi tới hòa bình".
* TS, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ** Th.S, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
http://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=5&ID=316
Nguyễn Hoàng * - Thái Văn Long **
Liên tiếp trong một năm rưỡi qua, kể từ khi nổ ra cuộc nổi dậy của người Pa-le-xtin chống lại I-xra-en vào cuối tháng 9-2000, tình hình Trung Đông diễn biến hết sức phức tạp, luôn chao đảo trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh mới tại khu vực. Càng về những ngày gần đây, sự leo thang của làn sóng xung đột bạo lực và khủng bố đẫm máu chẳng những gây tổn thất nặng nề về người và của cho cả hai bên, mà còn đe dọa tước bỏ những thành quả đã đạt được trong tiến trình hòa bình đầy gian khó chín năm qua, phủ một bóng đen hoài nghi lên những nỗ lực mới nhằm kiếm tìm một bến đậu lâu dài cho con tàu hòa bình Trung Đông.
Từ trong lịch sử, với vị thế địa - chiến lược quan trọng và rất nhạy cảm, lại tiềm ẩn những mâu thuẫn sắc tộc hòa quyện với tôn giáo, Trung Đông luôn vần vũ trong những biến cố nóng bỏng của các cuộc giành giật quyền lực quyết liệt giữa các thế lực ở bên trong và bên ngoài khu vực. Bước vào thời hiện đại, cùng với những mâu thuẫn mang tính lịch sử, nguồn tài nguyên dầu lửa khổng lồ của khu vực với trữ lượng ước khoảng 90 tỉ tấn (tổng trữ lượng dầu lửa của toàn thế giới là 136 tỉ tấn) không chỉ một lần trở thành vũ khí lợi hại của các nước A-rập ở đây trong quan hệ quốc tế, mà còn đồng thời đưa Trung Đông vào tâm điểm của không ít những toan tính chiến lược địa - chính trị của các thế lực nước lớn tham vọng giành quyền lực toàn cầu. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản nhất làm bùng lên 5 cuộc chiến tranh khu vực thời kỳ chiến tranh lạnh, giữa một bên là các nước A-rập và bên kia là I-xra-en, sau khi nhà nước Do Thái được thành lập vào tháng 5-1948 theo Nghị quyết 181 (11-1947) của Liên hợp quốc (LHQ)
Thực chất và cốt lõi nhất của cuộc xung đột giữa các nước A-rập và I-xra-en là vấn đề Pa-le-xtin cùng những tranh chấp lãnh thổ giữa hai bên. Cuộc xung đột khu vực kéo dài do nhiều mâu thuẫn đan xen đã biến Trung Đông trở thành điểm nóng gay gắt khó tháo gỡ, vượt tầm khu vực, khiến cả cộng đồng quốc tế phải quan tâm và lo ngại. Được sự hậu thuẫn, dung túng của Mỹ, nên dù bị cô lập giữa thế giới A-rập rộng lớn, đông dân, nhiều tiền của, nhưng I-xra-en vẫn luôn ở thế lấn lướt, thường sử dụng vũ lực gây hấn chiếm thêm đất đai của người Pa-le-xtin và của các nước A-rập láng giềng. Tính cố kết lỏng lẻo và sự hạn chế của khối đoàn kết A-rập cũng phần nào làm gia tăng hành động hiếu chiến của một số thế lực diều hâu cực hữu I-xra-en. Tuy nhiên, khi chiến tranh lạnh kết thúc, cuộc đối đầu toàn cầu Mỹ - Xô bị triệt tiêu, thì cũng là lúc cục diện Trung Đông thay đổi sâu sắc, cơ bản. Mỹ điều chỉnh chính sách đối với khu vực nhằm phục vụ chiến lược toàn cầu của họ sau chiến tranh lạnh. Thay vì chỉ chú trọng I-xra-en, Mỹ cải thiện quan hệ với thế giới A-rập, hòa hoãn mâu thuẫn giữa các nước A-rập với I-xra-en, tìm kiếm giải pháp cho cuộc xung đột Trung Đông theo kịch bản của Mỹ. Mặt khác, các nước A-rập cũng muốn cải thiện quan hệ với Mỹ xuất phát từ tính toán riêng của mỗi nước. I-xra-en cũng không thể thờ ơ với việc củng cố quan hệ với Mỹ, khi vị trí của I-xra-en là đồng minh chiến lược duy nhất của Mỹ tại khu vực đang bị lung lay. Trong khung cảnh ấy, xuất hiện những tiền đề thực tế cho việc vãn hồi hòa bình Trung Đông sau gần nửa thế kỷ liên miên xung đột. Tuy nhiên những mâu thuẫn, bất đồng sâu sắc trong quá trình thực hiện các thỏa thuận, khiến hồ sơ Trung Đông vẫn nổi cộm và bế tắc trên nhiều vấn đề, như biên giới - lãnh thổ, các vùng "đất Thánh", các khu định cư của người Do Thái, quy chế sử dụng Giê-ru-xa-lem, hồi hương người tị nạn và nhà nước Pa-le-xtin...
Nhậm chức Thủ tướng thứ 11 của I-xra-en ngày 7-3-2001, A. Sa-rôn chủ trương dùng chính sách cứng rắn, dựa trên sức mạnh đối với Pa-le-xtin để bảo đảm an ninh cho ngưòi Do Thái. Bởi vậy, một năm cầm quyền của A. Sa-rôn cũng là một năm gia tăng bạo lực và đổ máu, cướp đi sinh mạng hơn 1 200 con người của hai bên, đẩy xung đột Trung Đông đến điểm cực phát. Nỗi ám ảnh về nguy cơ của một cuộc chiến tranh tổng lực mới đang làm tổn hao hy vọng của những người vốn được coi là lạc quan nhất về triển vọng của một nền hòa bình cho khu vực đầy biến cố này.
Cùng lúc, chính quyền của Tổng thống G.W. Bu-sơ ở nước Mỹ - nước đóng vai trò bảo trợ chính cho tiến trình hòa bình (TTHB) Trung Đông - cũng tỏ ra lạnh nhạt, không dành cho cuộc xung đột khu vực mức độ ưu tiên như chính quyền WJ. Clin-tơn đã làm. Trái ngược hẳn với chính sách can dự của người tiền nhiệm, quan điểm của G.W. Bu-sơ là : nước Mỹ chỉ hành động khi lợi ích của Mỹ bị đe dọa trực tiếp. Thế nhưng, cuộc tấn công khủng bố vào nước Mỹ ngày 11-9-2001 đã làm đảo lộn mọi thứ tự ưu tiên mới trong chính sách đối ngoại của chính quyền G.W. Bu-sơ. Mỹ hầu như chỉ tập trung cho một ưu tiên bao trùm là chống khủng bố. Để tập hợp được lực lượng của liên minh chống khủng bố, nhất là giành được sự ủng hộ của thế giới A-rập, Mỹ thay đổi lập trường đối với vấn đề Pa-le-xtin. Mỹ gây áp lực buộc A. Sa-rôn chấp thuận để ngoại trưởng S. Pê-rét gặp Tổng thống Y. A-ra-phát (26-9-2001) và hai bên đạt được thỏa thuận ngừng bắn ba giai đoạn gần giống như thỏa thuận mà Giám đốc Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) G. Tê-nét phác thảo hồi tháng 6-2001. Đích thân Tổng thống G.W. Bu-sơ sau cuộc họp với các nhà lãnh đạo Quốc hội Mỹ, đã khẳng định trước giới báo chí : "Ý tưởng về một nhà nước Pa-le-xtin luôn là một phần trong cách nhìn nhận của Mỹ đối với Trung Đông, cũng như quyền tồn tại của I-xra-en phải được tôn trọng".
Đối với Mỹ, việc chấm dứt cuộc xung đột giữa I-xra-en và Pa-le-xtin đang ngày một leo thang nguy hiểm đã trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu, bởi Mỹ cần sự ủng hộ của các nước Hồi giáo để tiến hành cuộc chiến chống khủng bố với mũi nhọn đột phá nhằm vào Áp-ga-ni-xtan. Mỹ đẩy mạnh các hoạt động "ngoại giao con thoi" của đặc phái viên về Trung Đông A. Din-ni nhằm thực hiện kế hoạch Tê-nét và khuyến nghị của Ủy ban do Thượng nghị sỹ Mỹ Mit-chen-lơ đứng đầu. Theo đó, một lệnh ngừng bắn sẽ dẫn đến việc I-xra-en rút quân khỏi các vị trí đã chiếm trước khi các cuộc nổi dậy In-ti-pha-đa (9-2000) của người Pa-le-xtin nổ ra. Trong khi đó, Pa-le-xtin sẽ hành động để kiềm chế các phần tử quá khích, bảo đảm một thời kỳ yên tĩnh sau những biện pháp xây dựng lòng tin. Những biện pháp này bao gồm ngừng xây dựng các khu định cư của người Do Thái trên đất Pa-le-xtin mà I-xra-en chiếm đóng từ 1967. Cuối cùng là nối lại các cuộc đàm phán để bàn về một thỏa thuận hòa bình lâu dài ở Trung Đông.
Tuy nhiên, xét về thực chất, Mỹ vẫn giữ lập trường thiên vị, dung túng đối với I-xra-en. Một biểu hiện rõ nét là lần thứ hai kể từ tháng 3-2001 đến nay, Mỹ phủ quyết một nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc yêu cầu I-xra-en chấm dứt hành động leo thang bạo lực. Lợi dụng tình hình này, nhằm trả đũa các cuộc tấn công cảm tử của lực lượng Ha-mát và Di-hát trong PLO, A. Sa-rôn nêu chiêu bài "chống khủng bố", tăng cường hoạt động quân sự, đưa máy bay, xe tăng hạng nặng tấn công xâm nhập vào hàng loạt vị trí của người Pa-le-xtin ở dải Ga-da và khu Bờ Tây, bắn phá trụ sở cơ quan an ninh Pa-le-xtin và lực lượng cảnh vệ của Tổng thống Y. A-ra-phát.
Ngang ngược hơn khi I-xra-en áp đặt "lệnh cấm di chuyển" đối với Tổng thống Y. A-ra-phát, thiết lập một hàng rào xe tăng vây chặt xung quanh văn phòng của ông ở Ra-ma-la từ đầu tháng 12-2001. Đây thực chất là hành động giam lỏng nhà lãnh đạo Pa-le-xtin nhằm cô lập và hạ thấp uy tín ông. Bất chấp sự phản đối của dư luận quốc tế và việc phía Pa-le-xtin đã đáp ứng gần như hoàn toàn yêu sách của I-xra-en bắt giữ và trừng phạt các phần tử liên quan đến vụ ám sát Bộ trưởng du lịch I-xra-en, nhưng hạ tuần tháng 2-2002 vừa qua, I-xra-en vẫn quyết định không hủy bỏ "lệnh cấm di chuyển" nêu trên, mà chỉ "nới lỏng" phong tỏa Y.A-ra-phát.
Hành động quân sự của I-xra-en nhằm bảo đảm an ninh cho người Do Thái, trên thực tế đã không đạt được như mong muốn của A. Sa-rôn và các thế lực cánh hữu trong đảng Li-kut, trái lại chỉ làm cho người dân Do Thái luôn phải sống trong nỗi sợ hãi vì những vụ đánh bom liều chết từ phía Pa-le-xtin. Biện pháp này, một mặt đã bị cộng đồng quốc tế chỉ trích gay gắt ; mặt khác, nó khoét sâu nỗi thù hận đối với I-xra-en của những phong trào Hồi giáo cực đoan. Cũng bởi vậy, Thủ tướng A. Sa-rôn hiện đang ở thời điểm bế tắc nhất sau một năm cầm quyền, khi mà hầu như mọi chính sách của ông đưa ra đều thất bại. Một cuộc thăm dò dư luận mới đây nhất ở I-xra-en cho thấy 52% những người được hỏi đã tỏ ý không ủng hộ chính sách của Thủ tướng, đây là mức thấp nhất trong vòng một năm cầm quyền đầu tiên của A. Sa-rôn.
Sự leo thang của làn sóng bạo lực ngày càng khốc liệt thời gian qua, đang đe dọa làm sụp đổ hoàn toàn tiến trình hoà bình Trung Đông, đã hối thúc cộng đồng quốc tế, nhất là các nước lớn, Liên hiệp quốc và một số chính khách trong khu vực tích cực tìm kiếm sáng kiến nhằm cứu vãn tiến trình này.
Trước hết, phải kể đến sự sốt sắng của Liên minh châu Âu (EU) trong những nỗ lực thúc đẩy cả hai bên Pa-le-xtin và I-xra-en tiến tới bàn đàm phán tìm giải pháp thương lượng. Những ngày cuối tháng 2-2002, ông H. Sô-la-na, đặc trách các vấn đề đối ngoại của EU đã sang Trung Đông tiếp xúc với giới lãnh đạo cao nhất của hai bên xung đột ; còn Ngoại trưởng Tây Ban Nha, ông J. Pic-kê, Chủ tịch đương nhiệm của EU cũng đã tới Mỹ để trao đổi quan điểm về vấn đề Trung Đông. Dưới tác động của các hoạt động này, Thủ tướng I-xra-en đã nới lỏng lệnh phong tỏa đối với Tổng thống Y. A-ra-phát. Cùng nhằm tạo ra những chuyển biến tích cực cho tiến trình hoà bình Trung Đông, nhiều nước EU, đi đầu là Pháp đã hỗ trợ mạnh mẽ chủ trương do H. Sô-la-na đưa ra. Pháp còn nêu đề xuất hướng giải quyết tập trung vào những vấn đề cốt lõi như : Thành lập nhà nước độc lập của người Pa-le-xtin, thế giới công nhận nhà nước đó ; tiến hành bầu cử cơ cấu lãnh đạo Pa-le-xtin, tiếp tục các cuộc đàm phán giữa I-xra-en và Pa-le-xtin để thảo luận vấn đề phân chia lãnh thổ, các khu định cư của người Do Thái, quản lý Giê-ru-xa-lem, hồi hương người tị nạn Pa-le-xtin. Ngoại trưởng Pháp cho rằng : "chìa khóa giải quyết vấn đề Trung Đông là thành lập nhà nước của người Pa-le-xtin, một nguyên tắc được nêu rõ trong Hiệp định Ô-xlô năm 1993".
Trong khi đó, Mỹ cũng đang trong quá trình hoàn tất sáng kiến với tham vọng "giải quyết vĩnh viễn" cuộc xung đột giữa I-xra-en và Pa-le-xtin. Nội dung chủ yếu của sáng kiến này bao gồm : I-xra-en rút khỏi toàn bộ dải Ga-da và 96% lãnh thổ Bờ Tây, 4% lãnh thổ còn lại là nơi tập trung các khu định cư của người Do Thái. Pa-le-xtin sẽ được nhận phần đất bên trong lãnh thổ I-xra-en đúng bằng diện tích 4% ở bờ Tây mà họ đồng ý để lại cho I-xra-en. Về thánh địa Giê-ru-xa-lem, các khu phố Ai-cập sẽ thuộc về Pa-le-xtin và sẽ là thủ đô của Pa-le-xtin trong tương lai. Các khu phố Do Thái sẽ thuộc về I-xra-en...
Bên cạnh những sáng kiến đề xuất nêu trên của các nước EU và Mỹ, hiện tại cộng đồng quốc tế cũng đang hướng sự chú ý đặc biệt tới đề nghị hòa bình do Thái tử A-rập Xê-út Áp-đu-la đưa ra ngày 17-2-2002. Vẫn dựa trên nguyên tắc "đổi đất lấy hòa bình" mà cả khu vực đang theo đuổi, nội dung chính của sáng kiến này là : tất cả các nước A-rập sẽ thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường với I-xra-en để đổi lấy việc nhà nước Do Thái phải rút quân ra khỏi tất cả các vùng lãnh thổ A-rập mà họ chiếm đóng trái phép trong cuộc chiến tranh Trung Đông năm 1967. Đó là cao nguyên Gô-lan, dải Ga-da, khu vực Bờ Tây và Đông Giê-ru-xa-lem. Thái tử áp-đu-la dự định sẽ đưa đề nghị này ra thảo luận tại Hội nghị thượng đỉnh Liên đoàn A-rập vào 28-3-2002 tới tại Li-băng.
Sáng kiến hòa bình của Thái tử Áp-đu-la được xem như là một lối thoát cho tiến trình hòa bình đang bế tắc. Có nhiều lý do để sáng kiến này trở nên hấp dẫn và được tất cả các bên quan tâm, hưởng ứng. Trước hết, phải kể đến tính kịp thời của nó bởi đây là sáng kiến hòa bình chính thức đầu tiên được đưa ra sau 17 tháng xung đột đẫm máu tại Trung Đông. Thứ hai, nó được đề xuất bởi A-rập Xê-út, một nước có vai trò quan trọng trong khu vực, đặc biệt là trong thế giới A-rập. Thứ ba, nội dung của sáng kiến này đã phần nào phản ánh các mục tiêu mà I-xra-en và Pa-le-xtin, hai chủ thể chính của TTHB đang hết sức quan tâm.
Trong bối cảnh căng thẳng và phức tạp hiện nay ở Trung Đông, sáng kiến hòa bình của Áp-đu-la được đánh giá cao từ nhiều phía. Tổng thống Ai-cập H. Mu-ba-rắc và Tổng thống Xy-ri B. E-la-sat đã nhất trí kêu gọi I-xra-en hưởng ứng tích cực sáng kiến của Thái tử Áp-đu-la. Cả hai phía I-xra-en và Pa-le-xtin đều quan tâm đến sáng kiến này. Đối với I-xra-en, đây là lần đầu tiên một quốc gia có vị thế trong thế giới A-rập đặt vấn đề chính thức công nhận nhà nước Do Thái - một mục tiêu mà I-xra-en vẫn theo đuổi kể từ khi thành lập nước đến nay. Bởi vậy, chính bản thân Thủ tướng I-xra-en A.Sa-rôn cho biết sẵn sàng gặp các nhà lãnh đạo A-rập Xê-út để thảo luận cụ thể về sáng kiến mới này. Còn Tổng thống Y.A-ra-phát đã lên tiếng hoan nghênh và bày tỏ hy vọng về sáng kiến này sẽ góp phần vãn hồi hòa bình Trung Đông. Sở dĩ vậy là vì, nếu sáng kiến được thực thi thì hình hài địa lý của nhà nước Pa-le-xtin trong tương lai sẽ được khẳng định, đồng thời nguồn gốc xung đột từ nhiều thập kỷ nay giữa hai bên sẽ được giải quyết. Sáng kiến hòa bình của Thái tử Áp-đu-la cũng lập tức nhận được sự quan tâm, ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Ngày 28-2-2002, Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc đã thông qua sáng kiến này với đa số phiếu. Trước đây, tại Hội đồng bảo an, Mỹ thường sử dụng quyền phủ quyết để phong tỏa các kế hoạch hòa bình cho Trung Đông, nếu xét thấy không có lợi cho I-xra-en. Tuy nhiên, lần này sáng kiến hòa bình của A-rập Xê-út đã được cả Tổng thống G.W. Bu-sơ và Ngoại trưởng C. Pau-oen hoan nghênh, cho đây là một bước tiến của tiến trình hoà bình Trung Đông. Một số nước khác như Nga, Trung Quốc, các nước trong EU cũng bày tỏ sự ủng hộ và đều mong muốn một cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa Tổng thống Pa-le-xtin và Thủ tướng I-xra-en sẽ mau chóng được tổ chức.
Mặc dù được cộng đồng quốc tế ủng hộ, nhưng sáng kiến hòa bình của Thái tử Áp-đu-la chỉ có giá trị và có thể được thực thi khi được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh Liên đoàn A-rập sắp tới. Sự thống nhất của thế giới A-rập về tiến trình hoà bình Trung Đông mở ra một trang mới trong quan hệ của họ với I-xra-en, như kinh nghiệm lịch sử đã cho thấy, là điều không dễ đạt được. Sáng kiến hòa bình do Thái tử Áp-đu-la đưa ra hiện nay có nguồn gốc từ một kế hoạch hòa bình đã được anh trai của ông đề xuất cách đây 21 năm. Theo kế hoạch đó, I-xra-en phải rút quân ra khỏi các vùng lãnh thổ của A-rập bị I-xra-en xâm chiếm năm 1967, dỡ bỏ các khu định cư Do Thái trên các vùng đất chiếm đóng, giải quyết vấn đề người tị nạn Pa-le-xtin ; đổi lại, các nước A-rập công nhận nhà nước Do Thái. Tuy vậy, tại Hội nghị thượng đỉnh của Liên đoàn A-rập họp tại Ma-rốc năm 1981, kế hoạch nêu trên đã bị bác bỏ. Nhiều nước A-rập có đường lối cứng rắn đã coi việc công nhận nhà nước Do Thái, dù với điều kiện nào, cũng là phản bội thế giới A-rập.
Song, hiệu quả của sáng kiến mới nhằm vãn hồi hòa bình cho Trung Đông của A-rập Xê-út sẽ ra sao ? Câu trả lời vẫn đang còn ở phía trước. Sáng kiến của A-rập Xê-út lần này cũng có thể sẽ chịu chung số phận đổ vỡ như nhiều sáng kiến hòa bình đã được đưa ra trước đây, nếu làn sóng bạo lực ở khu vực vẫn không được kiềm chế. Một điều khiến cộng đồng quốc tế hết sức lo ngại là song hành với những nỗ lực tạo dựng hòa bình, các hoạt động bạo lực và tấn công trả đũa giữa hai bên xung đột vẫn diễn ra hằng ngày với con số tổn thất ngày càng cao, nó có thể làm lụi tắt những tia hy vọng hòa bình vẫn còn mong manh đang được nhen nhóm lại. Ngày 1-3-2002, Tổng thư ký Liên đoàn A-rập, ông Mut-sa cho rằng mọi hy vọng đạt được tiến bộ trong tiến trình hoà bình đều rất ít, nếu nhà nước I-xra-en vẫn duy trì chính sách cứng rắn hiện nay với người Pa-le-xtin.
Đối với vùng đất Trung Đông đang chao đảo trong vòng xoáy bạo lực hiện nay, một giải pháp hòa bình khả thi, rõ ràng đang trở thành khát vọng cháy bỏng của hàng triệu người dân trong khu vực cũng như của cả cộng đồng quốc tế. Đương nhiên, ở một nơi đã trải qua bao thập niên chiến tranh xung đột triền miên với những mâu thuẫn chồng chất khó hòa giải, thì con đường đi tới hòa bình chắc chắn sẽ không dễ dàng và không ít gian truân. Chăm chú dõi theo những diễn biến phức tạp tại Trung Đông, dư luận yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó có nhân dân Việt Nam, vẫn hy vọng và trông đợi các bên xung đột hãy kiềm chế và chấm dứt ngay bạo lực, trở lại bàn đàm phán, tiếp tục tiến trình hoà bình, nhằm sớm đạt tới một nền hòa bình công bằng, bền vững, bảo đảm lợi ích chính đáng cho các bên liên quan. Bởi như lời của Tổng thư ký Liên hiệp quốc K. An-nan : "Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy bất ổn, nhưng chúng ta không bao giờ được mất đi hy vọng và ước mơ. Điều quan trọng là cần phải xây dựng, bảo vệ và vun đắp niềm tin vững chắc trên con đường đi tới hòa bình".
* TS, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ** Th.S, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
http://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=5&ID=316
Ở đời, hãy luôn đứng về chính nghiã
Vì chính nghĩa là chân lý!
Vì chính nghĩa là chân lý!