SỨC MẠNH CỦA ÐẢNG, CỦA DÂN TỘC -
CỘI NGUỒN THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
Lê Mậu Hãn *
1 - Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời long trọng công bố với quốc dân đồng bào và thế giới bản Tuyên ngôn Độc lập khẳng định quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam. Tuyên ngôn nêu rõ :
"Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do".
"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, sự thật đã thành một nước tự do độc lập".
"Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy" (1) .
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã mở ra một kỷ nguyên mới trên con đường phát triển của dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên Độc lập Tự do.
Cách mạng Tháng Tám đã chặt đứt khâu yếu nhất trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu thời kỳ tan rã không gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và giải phóng dân tộc trên thế giới.
Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám : "Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng : lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền trong toàn quốc" (2).
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 mở ra kỷ nguyên phát triển nhảy vọt mới trên con đường tiến hóa của Việt Nam. Đó chính là thắng lợi của trí tuệ và sức mạnh của Đảng, của dân tộc, dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
2 - Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện Việt Nam, một quốc gia dân tộc có nền văn hóa lâu đời. Lịch sử tạo dựng và phát triển quốc gia dân tộc ta đã hình thành nên ý chí độc lập dân tộc, dòng chủ lưu trong giá trị truyền thống Việt Nam. Từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã khẳng định một cách khoa học rằng : ý chí độc lập dân tộc là một động lực lớn của đất nước... Phát động ý chí đó là một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời.
Xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp là một xã hội thuộc địa. Mâu thuẫn giữa đế quốc thực dân Pháp với toàn thể dân tộc Việt Nam là mâu thuẫn chủ yếu, tác động mạnh mẽ đến thái độ chính trị của các giai cấp, tầng lớp xã hội Việt Nam đối với vấn đề dân tộc ; là động lực thúc đẩy cuộc đấu tranh dân tộc của nhân dân Việt Nam. Yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định tính độc đáo của cách mạng ở thuộc địa. Đầu Xuân 1930, với tư cách là phái viên của Quốc tế cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, Hồ Chí Minh đã chủ động, độc lập, quyết đoán trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Cương lĩnh đó đã kết hợp biện chứng yếu tố dân tộc và dân chủ, quốc gia và quốc tế trong đó nổi bật lên như một điểm son sáng chói là yếu tố dân tộc, là tư tưởng độc lập, tự do. Vừa mới ra đời, số lượng đảng viên chỉ có 310 người, song có tổ chức chặt chẽ, thống nhất, có Cương lĩnh cách mạng sáng tạo nên Đảng sớm tập hợp, đoàn kết dân tộc và trở thành tổ chức cách mạng tiên phong, đại biểu cho lợi ích, trí tuệ, danh dự của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam. Đảng đã tổ chức và lãnh đạo một phong trào cách mạng rộng lớn ngay trong năm 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ - Tĩnh. Ở Thái Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi... phong trào cũng khá sôi nổi. Trong cao trào cách mạng ở Nghệ - Tĩnh, cùng với công nông đông đảo, các tầng lớp trí thức, sĩ phu, tư sản nhỏ, phú nông, tiểu địa chủ cũng có xu hướng cách mạng rõ rệt. Ngay khi cách mạng bị khủng bố trắng, họ vẫn ủng hộ cách mạng. Đây là một hiện tượng lịch sử hiếm có trong phong trào cách mạng thuộc địa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, một sự kiện lịch sử có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng.
Trong thời kỳ 1939 - 1945, các dân tộc ở Đông Dương bị đặt dưới hai tầng áp bức bóc lột của Pháp và Nhật. Quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng. Tình hình, thái độ chính trị của các giai cấp xã hội cũng đã có những chuyển biến mới. Cả tư sản bản xứ, phú nông và địa chủ, chỉ trừ một số ít làm tay sai cho Pháp hoặc nịnh Nhật, còn phần đông có cảm tình với cách mạng hoặc giữ thái độ trung lập. Sự thay đổi về kinh tế, chính trị, và thái độ các giai cấp nên Đảng quyết định phải chuyển hướng chiến lược và phương pháp cách mạng cho phù hợp với thực tiễn của đất nước. Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 11 - 1939 dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã sớm quyết định chuyển hướng chiến lược cách mạng, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của đế quốc, bất luận là Pháp hay Nhật, coi đó là mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Việt Nam cũng như đối với Lào và Cam-pu-chia.
Sự chuyển hướng chiến lược và phương pháp cách mạng trở nên hoàn chỉnh hơn kể từ năm 1941, khi Hồ Chí Minh trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 5 - 1941 tại Pắc Bó, Hà Quảng, Cao Bằng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã nhấn mạnh : "Cần phải thay đổi chiến lược" cách mạng. Nhiệm vụ chiến lược của Đảng lúc này là phải tập trung cho được lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc, đánh tan giặc Pháp - Nhật xâm chiếm nước ta. Vì vậy "cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề : phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp "dân tộc giải phóng", vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng" (3).
Sự thay đổi chiến lược cách mạng tư sản dân quyền có tính chất phản đế và điền địa thành cách mạng dân tộc giải phóng dẫn đến sự thay đổi về chủ trương tổ chức tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc và thành lập chính quyền cách mạng theo thể chế cộng hòa dân chủ. Nhiệm vụ đánh Pháp đuổi Nhật không phải riêng của giai cấp công nhân và nông dân, mà là của toàn thể dân tộc. Do đó phải tổ chức cho được lực lượng dân tộc trong cả nước, không phân biệt công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc, phú nông địa chủ, các dân tộc, các tôn giáo, các đảng phái, ai có lòng yêu nước thương nòi cùng nhau đoàn kết thống nhất, đem toàn lực ra giành quyền độc lập, tự do. Mặt trận đó có nội dung và tên gọi có tính dân tộc, có sức đánh thức được tinh thần dân tộc được kết tụ từ xưa đến nay và có thể thực hiện được trong tình thế lúc bấy giờ. Mặt trận đó là Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Việt Nam độc lập đồng minh lấy ngọn cờ đỏ có ngôi sao vàng năm cánh là cờ hiệu. Đảng cũng ra một nghị quyết về chương trình Việt Minh làm cơ sở để tổ chức và lãnh đạo mặt trận.
Tuyên ngôn và Chương trình cứu nước của Việt Minh đã nêu rõ mục tiêu và chính sách toàn diện, cụ thể về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội cốt đáp ứng hai điều mà toàn thể dân tộc ta đang mong ước là : "Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập", "dân Việt Nam được sung sướng, tự do".
Để được độc lập tự do, sau khi đánh đổ ách thống trị của Pháp và Nhật phải dựng lên một chính thể dân tộc dân chủ của đông đảo dân chúng. Chính phủ đó không phải theo hình thức Xô-viết Công Nông mà như Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương đã chỉ rõ là : Sẽ thành lập một nước Việt Nam theo tinh thần dân chủ mới. Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc. Ai là người dân sống trên đất nước Việt Nam đều được tham gia và bảo vệ chính quyền ấy. Chính phủ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, do quốc dân đại hội cử lên và lấy ngọn cờ sao vàng năm cánh làm cờ chung cả nước.
Từ đầu nguồn cách mạng ở Pắc Bó, Cao Bằng, tổ chức Việt Minh đã ra đời, sớm lan tỏa khắp cả nước, từ miền núi đến nông thôn đồng bằng và đô thị. Tổ chức Việt Minh được tổ chức thí điểm ở Cao Bằng và sau khi được chính thức thành lập đã phát triển mạnh ở Việt Bắc. Đặc điểm to nhất, đáng chú ý nhất của Việt Minh ở Việt Bắc là tính chất rộng rãi đến một trình độ chưa từng thấy về mặt tổ chức quần chúng trong lịch sử vận động cách mạng đến lúc đó là trong từng xã, từng tổng, từng châu, từng huyện toàn dân đã tham gia vào hàng ngũ Việt Minh. Các hội cứu quốc đã phát triển trong cả nước, trong đó có Hội Văn hóa cứu quốc, Đảng Dân chủ Việt Nam - đã lần lượt được thành lập và đã tham gia Việt Minh. Trong cao trào kháng Nhật cứu nước từ tháng 3 đến tháng 8 - 1945, tổ chức Việt Minh đã thực sự có mặt khắp đất nước với thêm nhiều loại hình tổ chức quần chúng khá phong phú. Sự phát triển mạnh mẽ về lực lượng cách mạng, sự đoàn kết dân tộc trong Mặt trận Việt Minh là một nhân tố cơ bản, là nội lực của dân tộc để khi thời cơ khởi nghĩa xuất hiện, giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến, toàn quốc đồng bào ta nhanh chóng đứng lên "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".
3 - Muốn thoát vòng nô lệ, chúng ta chỉ có thể dựa vào sức mạnh của cả dân tộc. Khởi nghĩa dân tộc và chiến tranh giải phóng dân tộc là phương thức đấu tranh cách mạng cơ bản của nhân dân thuộc địa để đập tan nền thống trị của đế quốc thực dân và tay sai. V.I. Lê-nin đã vạch rõ : Khởi nghĩa dân tộc là một khởi nghĩa nhằm thiết lập quyền độc lập chính trị của các dân tộc bị áp bức của đế quốc thực dân nhằm tạo dựng nên một quốc gia dân tộc riêng biệt.
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh cũng đã sớm nêu lên quan điểm về khởi nghĩa dân tộc. Các cuộc khởi nghĩa ở đây phải có tính chất quần chúng rộng rãi chứ không phải là một cuộc nổi loạn. Khởi nghĩa phải được chuẩn bị chu đáo trong quần chúng. Tổ chức và chuẩn bị các hoạt động phối hợp cùng một lúc ở cả thành thị và nông thôn, coi đó là mục đích căn bản của các đảng cách mạng ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp. Song khởi nghĩa ở đô thị theo kiểu ở châu Âu có ý nghĩa quyết định thắng lợi chứ không chỉ khởi nghĩa đột ngột ở biên giới Trung Quốc theo phương pháp của các nhà cách mạng trước kia của chúng ta. Xuất phát từ các quan điểm lý luận nói trên, Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra chủ trương chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang thành nhiệm vụ trung tâm của Đảng, xây dựng lực lượng ở nông thôn và đô thị, từ lực lượng chính trị của quần chúng tiến lên từng bước xây dựng lực lượng vũ trang với các hình thức tổ chức thích hợp, đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp với đấu tranh vũ trang, xây dựng các căn cứ địa cách mạng, tiến hành chiến tranh du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa đánh đổ Pháp, Nhật giành lấy chính quyền trong cả nước.
Từ quan điểm, chủ trương đến tổ chức thực hiện của Đảng ta từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, đặc biệt từ năm 1941 đến tháng 8 - 1945 đã diễn ra theo phương hướng đó và đã dẫn đến thắng lợi của cuộc khởi nghĩa thành công trong cả nước.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 là một điển hình thành công về khởi nghĩa dân tộc, phản ánh rõ rệt tiềm năng sáng tạo và trí tuệ của Đảng, của dân tộc Việt Nam mà trước hết là Hồ Chí Minh, thể hiện trên các nét cơ bản sau :
- Cuộc cách mạng đó nổ ra bằng phương thức khởi nghĩa vũ trang nhằm thực hiện mục tiêu giành độc lập tự do cho dân tộc, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân tộc thống nhất và dân chủ của toàn dân. Ủy ban dân tộc giải phóng do Quốc dân đại hội bầu ra và mở rộng thành chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một chính phủ của dân, do dân và vì dân. Hoạt động của chính phủ luôn luôn "tỏ ra một ý muốn duy nhất làm sao đem lại cho dân chúng được tự do độc lập hoàn toàn và để cho tất cả mọi phần tử quốc dân được hưởng tự do độc lập như muôn vật được hưởng ánh sáng mặt trời" (4).
- Lực lượng quần chúng vùng dậy giành chính quyền không đơn thuần là công, nông mà bao gồm tất cả các giai cấp, tầng lớp dân cư, các tôn giáo, dân tộc, các đảng phái yêu nước và cách mạng được tập hợp trong tổ chức Việt Minh, một tổ chức có tính chất dân tộc rộng rãi với tên gọi có sức đánh thức được tinh thần và sức mạnh của cả dân tộc. Có những người chưa có điều kiện kịp tham gia tổ chức Việt Minh thì cũng sẵn có cảm tình với cách mạng và khi thời cơ khởi nghĩa chín muồi họ cũng đã tự giác xuống đường hành động theo ngọn triều khởi nghĩa của dân tộc. Kể cả việc Bảo Đại thoái vị để được làm dân của một nước độc lập và ngay sau đó không lâu được Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 23/SL ngày 10-9-1945 cử làm Cố vấn Chính phủ lâm thời cũng là một hiện tượng lịch sử nói lên tính dân tộc của cuộc khởi nghĩa năm 1945, một sự kiện có ý nghĩa về tinh thần chính trị và tính hợp pháp hóa truyền thống đã được thừa nhận ở nhiều nước trên thế giới. Có những người thờ ơ đứng bên lề cuộc đấu tranh của dân tộc, về sau trở thành đối lập với Việt Minh như Nguyễn Tương Bách chẳng hạn, đến năm 1981 đã viết trong cuốn Việt Nam những ngày lịch sử xuất bản ở Môn-rê-an cũng đã khâm phục hạ bút viết : "Lần đầu tiên chúng tôi tiếp xúc với sức mạnh của quần chúng và không khỏi ngạc nhiên tại sao lại có nhiều người tham gia như thế... Đâu cũng là Việt Minh cả... Họ tài thật. Chúng tôi không khỏi khâm phục". Và đối với Hồ Chí Minh, ông ta nói : "Chúng tôi vẫn khâm phục như một nhân vật thần kỳ !".
- Lực lượng được xây dựng ở cả miền núi, nông thôn đồng bằng và đô thị, bao gồm cả lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang đấu tranh với các hình thức và yêu cầu thích hợp. Đến khi cao trào kháng Nhật được phát động thì Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã chủ trương và tổ chức đẩy mạnh chiến tranh du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần, lập khu giải phóng và các căn cứ du kích coi đó là hình thức mấu chốt để đẩy mạnh phong trào kháng Nhật tiến lên, là phương pháp tích cực của dân tộc ta để phát triển lực lượng, đóng vai trò chủ động trong việc đánh đuổi phát xít Nhật, giành chính quyền, chuẩn bị hưởng ứng quân Đồng minh một cách tích cực với tư cách là người chủ đất nước.
- Trên cơ sở chuẩn bị chu đáo, tạo nên một ưu thế về lực lượng cách mạng rộng lớn, đã nhạy bén và kịp thời chớp thời cơ khi quân Nhật đầu hàng Đồng Minh, phát động cuộc khởi nghĩa trong toàn quốc với ý chí dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập tự do. Chớp đúng thời cơ để khởi nghĩa là một đặc điểm, một ưu điểm của Cách mạng Tháng Tám 1945.
Khi thời cơ đến cuộc khởi nghĩa giành chính quyền của dân tộc ta đã có bước phát triển nhảy vọt từ khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa trong cả nước, khắp cả nông thôn và đô thị, trong đó khởi nghĩa ở đô thị đóng vai trò quyết định thắng lợi dứt khoát và triệt để. Trong các cuộc khởi nghĩa ở đô thị thì khởi nghĩa ở Hà Nội thắng lợi có ý nghĩa quyết định nhất. Đây lại cũng là một đặc điểm, một ưu điểm nữa của cuộc khởi nghĩa năm 1945.
Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và khởi nghĩa dân tộc năm 1945 là một cuộc cách mạng vô cùng nhân đạo thể hiện tập trung, sáng tạo và sinh động một phong trào dân tộc sáng suốt. Sự thức tỉnh của ý thức dân tộc Việt Nam không hề đi theo lối bài ngoại quen thuộc, đặc điểm của những bùng nổ thông thường bột phát của chủ nghĩa dân tộc sô vanh. Cuộc Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam có nhiều ưu điểm so với cách mạng nhiều nước trên thế giới : "Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu nhiều. Có nước phải chặt đầu vua. Có nước đồng bào chia đảng phái, chém giết nhau liên tiếp trong bao nhiêu năm. Nước ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là nước được hoàn toàn độc lập và chống được giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra ngoài bờ cõi" (5).
Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 đã để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm lịch sử quan trọng. Những bài học đó đã được Đảng tiếp tục kế thừa và phát triển trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1955 - 1975) và trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. Các bài học sáng tạo đó đã góp phần làm phong phú kho tàng lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của thời đại.
Sự đóng góp sáng tạo đó là công lao, trí tuệ của dân tộc, của Đảng ta dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Di sản tư tưởng Hồ Chí Minh không thuộc riêng của Việt Nam mà vượt ra khỏi biên giới đến với nhân loại cần lao và tiến bộ trên toàn thế giới.
* GS Sử học (1)Hồ Chí Minh : Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t 3, tr 557 (2) Hồ Chí Minh : Sđd, t 6, tr 159 (3) Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t 7, tr 119 (4) Hồ Chí Minh : Sđd, t 4, tr 45 (5) Hồ Chí Minh : Sđd, t 4, tr 43 - 44
http://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=1&ID=502
CỘI NGUỒN THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
Lê Mậu Hãn *
1 - Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời long trọng công bố với quốc dân đồng bào và thế giới bản Tuyên ngôn Độc lập khẳng định quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam. Tuyên ngôn nêu rõ :
"Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do".
"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, sự thật đã thành một nước tự do độc lập".
"Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy" (1) .
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã mở ra một kỷ nguyên mới trên con đường phát triển của dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên Độc lập Tự do.
Cách mạng Tháng Tám đã chặt đứt khâu yếu nhất trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu thời kỳ tan rã không gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và giải phóng dân tộc trên thế giới.
Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám : "Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng : lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền trong toàn quốc" (2).
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 mở ra kỷ nguyên phát triển nhảy vọt mới trên con đường tiến hóa của Việt Nam. Đó chính là thắng lợi của trí tuệ và sức mạnh của Đảng, của dân tộc, dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
2 - Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện Việt Nam, một quốc gia dân tộc có nền văn hóa lâu đời. Lịch sử tạo dựng và phát triển quốc gia dân tộc ta đã hình thành nên ý chí độc lập dân tộc, dòng chủ lưu trong giá trị truyền thống Việt Nam. Từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã khẳng định một cách khoa học rằng : ý chí độc lập dân tộc là một động lực lớn của đất nước... Phát động ý chí đó là một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời.
Xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp là một xã hội thuộc địa. Mâu thuẫn giữa đế quốc thực dân Pháp với toàn thể dân tộc Việt Nam là mâu thuẫn chủ yếu, tác động mạnh mẽ đến thái độ chính trị của các giai cấp, tầng lớp xã hội Việt Nam đối với vấn đề dân tộc ; là động lực thúc đẩy cuộc đấu tranh dân tộc của nhân dân Việt Nam. Yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định tính độc đáo của cách mạng ở thuộc địa. Đầu Xuân 1930, với tư cách là phái viên của Quốc tế cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, Hồ Chí Minh đã chủ động, độc lập, quyết đoán trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Cương lĩnh đó đã kết hợp biện chứng yếu tố dân tộc và dân chủ, quốc gia và quốc tế trong đó nổi bật lên như một điểm son sáng chói là yếu tố dân tộc, là tư tưởng độc lập, tự do. Vừa mới ra đời, số lượng đảng viên chỉ có 310 người, song có tổ chức chặt chẽ, thống nhất, có Cương lĩnh cách mạng sáng tạo nên Đảng sớm tập hợp, đoàn kết dân tộc và trở thành tổ chức cách mạng tiên phong, đại biểu cho lợi ích, trí tuệ, danh dự của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam. Đảng đã tổ chức và lãnh đạo một phong trào cách mạng rộng lớn ngay trong năm 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ - Tĩnh. Ở Thái Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi... phong trào cũng khá sôi nổi. Trong cao trào cách mạng ở Nghệ - Tĩnh, cùng với công nông đông đảo, các tầng lớp trí thức, sĩ phu, tư sản nhỏ, phú nông, tiểu địa chủ cũng có xu hướng cách mạng rõ rệt. Ngay khi cách mạng bị khủng bố trắng, họ vẫn ủng hộ cách mạng. Đây là một hiện tượng lịch sử hiếm có trong phong trào cách mạng thuộc địa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, một sự kiện lịch sử có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng.
Trong thời kỳ 1939 - 1945, các dân tộc ở Đông Dương bị đặt dưới hai tầng áp bức bóc lột của Pháp và Nhật. Quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng. Tình hình, thái độ chính trị của các giai cấp xã hội cũng đã có những chuyển biến mới. Cả tư sản bản xứ, phú nông và địa chủ, chỉ trừ một số ít làm tay sai cho Pháp hoặc nịnh Nhật, còn phần đông có cảm tình với cách mạng hoặc giữ thái độ trung lập. Sự thay đổi về kinh tế, chính trị, và thái độ các giai cấp nên Đảng quyết định phải chuyển hướng chiến lược và phương pháp cách mạng cho phù hợp với thực tiễn của đất nước. Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 11 - 1939 dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã sớm quyết định chuyển hướng chiến lược cách mạng, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của đế quốc, bất luận là Pháp hay Nhật, coi đó là mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Việt Nam cũng như đối với Lào và Cam-pu-chia.
Sự chuyển hướng chiến lược và phương pháp cách mạng trở nên hoàn chỉnh hơn kể từ năm 1941, khi Hồ Chí Minh trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 5 - 1941 tại Pắc Bó, Hà Quảng, Cao Bằng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã nhấn mạnh : "Cần phải thay đổi chiến lược" cách mạng. Nhiệm vụ chiến lược của Đảng lúc này là phải tập trung cho được lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc, đánh tan giặc Pháp - Nhật xâm chiếm nước ta. Vì vậy "cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề : phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp "dân tộc giải phóng", vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng" (3).
Sự thay đổi chiến lược cách mạng tư sản dân quyền có tính chất phản đế và điền địa thành cách mạng dân tộc giải phóng dẫn đến sự thay đổi về chủ trương tổ chức tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc và thành lập chính quyền cách mạng theo thể chế cộng hòa dân chủ. Nhiệm vụ đánh Pháp đuổi Nhật không phải riêng của giai cấp công nhân và nông dân, mà là của toàn thể dân tộc. Do đó phải tổ chức cho được lực lượng dân tộc trong cả nước, không phân biệt công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc, phú nông địa chủ, các dân tộc, các tôn giáo, các đảng phái, ai có lòng yêu nước thương nòi cùng nhau đoàn kết thống nhất, đem toàn lực ra giành quyền độc lập, tự do. Mặt trận đó có nội dung và tên gọi có tính dân tộc, có sức đánh thức được tinh thần dân tộc được kết tụ từ xưa đến nay và có thể thực hiện được trong tình thế lúc bấy giờ. Mặt trận đó là Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Việt Nam độc lập đồng minh lấy ngọn cờ đỏ có ngôi sao vàng năm cánh là cờ hiệu. Đảng cũng ra một nghị quyết về chương trình Việt Minh làm cơ sở để tổ chức và lãnh đạo mặt trận.
Tuyên ngôn và Chương trình cứu nước của Việt Minh đã nêu rõ mục tiêu và chính sách toàn diện, cụ thể về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội cốt đáp ứng hai điều mà toàn thể dân tộc ta đang mong ước là : "Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập", "dân Việt Nam được sung sướng, tự do".
Để được độc lập tự do, sau khi đánh đổ ách thống trị của Pháp và Nhật phải dựng lên một chính thể dân tộc dân chủ của đông đảo dân chúng. Chính phủ đó không phải theo hình thức Xô-viết Công Nông mà như Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương đã chỉ rõ là : Sẽ thành lập một nước Việt Nam theo tinh thần dân chủ mới. Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc. Ai là người dân sống trên đất nước Việt Nam đều được tham gia và bảo vệ chính quyền ấy. Chính phủ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, do quốc dân đại hội cử lên và lấy ngọn cờ sao vàng năm cánh làm cờ chung cả nước.
Từ đầu nguồn cách mạng ở Pắc Bó, Cao Bằng, tổ chức Việt Minh đã ra đời, sớm lan tỏa khắp cả nước, từ miền núi đến nông thôn đồng bằng và đô thị. Tổ chức Việt Minh được tổ chức thí điểm ở Cao Bằng và sau khi được chính thức thành lập đã phát triển mạnh ở Việt Bắc. Đặc điểm to nhất, đáng chú ý nhất của Việt Minh ở Việt Bắc là tính chất rộng rãi đến một trình độ chưa từng thấy về mặt tổ chức quần chúng trong lịch sử vận động cách mạng đến lúc đó là trong từng xã, từng tổng, từng châu, từng huyện toàn dân đã tham gia vào hàng ngũ Việt Minh. Các hội cứu quốc đã phát triển trong cả nước, trong đó có Hội Văn hóa cứu quốc, Đảng Dân chủ Việt Nam - đã lần lượt được thành lập và đã tham gia Việt Minh. Trong cao trào kháng Nhật cứu nước từ tháng 3 đến tháng 8 - 1945, tổ chức Việt Minh đã thực sự có mặt khắp đất nước với thêm nhiều loại hình tổ chức quần chúng khá phong phú. Sự phát triển mạnh mẽ về lực lượng cách mạng, sự đoàn kết dân tộc trong Mặt trận Việt Minh là một nhân tố cơ bản, là nội lực của dân tộc để khi thời cơ khởi nghĩa xuất hiện, giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến, toàn quốc đồng bào ta nhanh chóng đứng lên "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".
3 - Muốn thoát vòng nô lệ, chúng ta chỉ có thể dựa vào sức mạnh của cả dân tộc. Khởi nghĩa dân tộc và chiến tranh giải phóng dân tộc là phương thức đấu tranh cách mạng cơ bản của nhân dân thuộc địa để đập tan nền thống trị của đế quốc thực dân và tay sai. V.I. Lê-nin đã vạch rõ : Khởi nghĩa dân tộc là một khởi nghĩa nhằm thiết lập quyền độc lập chính trị của các dân tộc bị áp bức của đế quốc thực dân nhằm tạo dựng nên một quốc gia dân tộc riêng biệt.
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh cũng đã sớm nêu lên quan điểm về khởi nghĩa dân tộc. Các cuộc khởi nghĩa ở đây phải có tính chất quần chúng rộng rãi chứ không phải là một cuộc nổi loạn. Khởi nghĩa phải được chuẩn bị chu đáo trong quần chúng. Tổ chức và chuẩn bị các hoạt động phối hợp cùng một lúc ở cả thành thị và nông thôn, coi đó là mục đích căn bản của các đảng cách mạng ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp. Song khởi nghĩa ở đô thị theo kiểu ở châu Âu có ý nghĩa quyết định thắng lợi chứ không chỉ khởi nghĩa đột ngột ở biên giới Trung Quốc theo phương pháp của các nhà cách mạng trước kia của chúng ta. Xuất phát từ các quan điểm lý luận nói trên, Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra chủ trương chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang thành nhiệm vụ trung tâm của Đảng, xây dựng lực lượng ở nông thôn và đô thị, từ lực lượng chính trị của quần chúng tiến lên từng bước xây dựng lực lượng vũ trang với các hình thức tổ chức thích hợp, đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp với đấu tranh vũ trang, xây dựng các căn cứ địa cách mạng, tiến hành chiến tranh du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa đánh đổ Pháp, Nhật giành lấy chính quyền trong cả nước.
Từ quan điểm, chủ trương đến tổ chức thực hiện của Đảng ta từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, đặc biệt từ năm 1941 đến tháng 8 - 1945 đã diễn ra theo phương hướng đó và đã dẫn đến thắng lợi của cuộc khởi nghĩa thành công trong cả nước.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 là một điển hình thành công về khởi nghĩa dân tộc, phản ánh rõ rệt tiềm năng sáng tạo và trí tuệ của Đảng, của dân tộc Việt Nam mà trước hết là Hồ Chí Minh, thể hiện trên các nét cơ bản sau :
- Cuộc cách mạng đó nổ ra bằng phương thức khởi nghĩa vũ trang nhằm thực hiện mục tiêu giành độc lập tự do cho dân tộc, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân tộc thống nhất và dân chủ của toàn dân. Ủy ban dân tộc giải phóng do Quốc dân đại hội bầu ra và mở rộng thành chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một chính phủ của dân, do dân và vì dân. Hoạt động của chính phủ luôn luôn "tỏ ra một ý muốn duy nhất làm sao đem lại cho dân chúng được tự do độc lập hoàn toàn và để cho tất cả mọi phần tử quốc dân được hưởng tự do độc lập như muôn vật được hưởng ánh sáng mặt trời" (4).
- Lực lượng quần chúng vùng dậy giành chính quyền không đơn thuần là công, nông mà bao gồm tất cả các giai cấp, tầng lớp dân cư, các tôn giáo, dân tộc, các đảng phái yêu nước và cách mạng được tập hợp trong tổ chức Việt Minh, một tổ chức có tính chất dân tộc rộng rãi với tên gọi có sức đánh thức được tinh thần và sức mạnh của cả dân tộc. Có những người chưa có điều kiện kịp tham gia tổ chức Việt Minh thì cũng sẵn có cảm tình với cách mạng và khi thời cơ khởi nghĩa chín muồi họ cũng đã tự giác xuống đường hành động theo ngọn triều khởi nghĩa của dân tộc. Kể cả việc Bảo Đại thoái vị để được làm dân của một nước độc lập và ngay sau đó không lâu được Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 23/SL ngày 10-9-1945 cử làm Cố vấn Chính phủ lâm thời cũng là một hiện tượng lịch sử nói lên tính dân tộc của cuộc khởi nghĩa năm 1945, một sự kiện có ý nghĩa về tinh thần chính trị và tính hợp pháp hóa truyền thống đã được thừa nhận ở nhiều nước trên thế giới. Có những người thờ ơ đứng bên lề cuộc đấu tranh của dân tộc, về sau trở thành đối lập với Việt Minh như Nguyễn Tương Bách chẳng hạn, đến năm 1981 đã viết trong cuốn Việt Nam những ngày lịch sử xuất bản ở Môn-rê-an cũng đã khâm phục hạ bút viết : "Lần đầu tiên chúng tôi tiếp xúc với sức mạnh của quần chúng và không khỏi ngạc nhiên tại sao lại có nhiều người tham gia như thế... Đâu cũng là Việt Minh cả... Họ tài thật. Chúng tôi không khỏi khâm phục". Và đối với Hồ Chí Minh, ông ta nói : "Chúng tôi vẫn khâm phục như một nhân vật thần kỳ !".
- Lực lượng được xây dựng ở cả miền núi, nông thôn đồng bằng và đô thị, bao gồm cả lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang đấu tranh với các hình thức và yêu cầu thích hợp. Đến khi cao trào kháng Nhật được phát động thì Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã chủ trương và tổ chức đẩy mạnh chiến tranh du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần, lập khu giải phóng và các căn cứ du kích coi đó là hình thức mấu chốt để đẩy mạnh phong trào kháng Nhật tiến lên, là phương pháp tích cực của dân tộc ta để phát triển lực lượng, đóng vai trò chủ động trong việc đánh đuổi phát xít Nhật, giành chính quyền, chuẩn bị hưởng ứng quân Đồng minh một cách tích cực với tư cách là người chủ đất nước.
- Trên cơ sở chuẩn bị chu đáo, tạo nên một ưu thế về lực lượng cách mạng rộng lớn, đã nhạy bén và kịp thời chớp thời cơ khi quân Nhật đầu hàng Đồng Minh, phát động cuộc khởi nghĩa trong toàn quốc với ý chí dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập tự do. Chớp đúng thời cơ để khởi nghĩa là một đặc điểm, một ưu điểm của Cách mạng Tháng Tám 1945.
Khi thời cơ đến cuộc khởi nghĩa giành chính quyền của dân tộc ta đã có bước phát triển nhảy vọt từ khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa trong cả nước, khắp cả nông thôn và đô thị, trong đó khởi nghĩa ở đô thị đóng vai trò quyết định thắng lợi dứt khoát và triệt để. Trong các cuộc khởi nghĩa ở đô thị thì khởi nghĩa ở Hà Nội thắng lợi có ý nghĩa quyết định nhất. Đây lại cũng là một đặc điểm, một ưu điểm nữa của cuộc khởi nghĩa năm 1945.
Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và khởi nghĩa dân tộc năm 1945 là một cuộc cách mạng vô cùng nhân đạo thể hiện tập trung, sáng tạo và sinh động một phong trào dân tộc sáng suốt. Sự thức tỉnh của ý thức dân tộc Việt Nam không hề đi theo lối bài ngoại quen thuộc, đặc điểm của những bùng nổ thông thường bột phát của chủ nghĩa dân tộc sô vanh. Cuộc Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam có nhiều ưu điểm so với cách mạng nhiều nước trên thế giới : "Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu nhiều. Có nước phải chặt đầu vua. Có nước đồng bào chia đảng phái, chém giết nhau liên tiếp trong bao nhiêu năm. Nước ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là nước được hoàn toàn độc lập và chống được giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra ngoài bờ cõi" (5).
Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 đã để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm lịch sử quan trọng. Những bài học đó đã được Đảng tiếp tục kế thừa và phát triển trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1955 - 1975) và trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. Các bài học sáng tạo đó đã góp phần làm phong phú kho tàng lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của thời đại.
Sự đóng góp sáng tạo đó là công lao, trí tuệ của dân tộc, của Đảng ta dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Di sản tư tưởng Hồ Chí Minh không thuộc riêng của Việt Nam mà vượt ra khỏi biên giới đến với nhân loại cần lao và tiến bộ trên toàn thế giới.
* GS Sử học (1)Hồ Chí Minh : Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t 3, tr 557 (2) Hồ Chí Minh : Sđd, t 6, tr 159 (3) Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t 7, tr 119 (4) Hồ Chí Minh : Sđd, t 4, tr 45 (5) Hồ Chí Minh : Sđd, t 4, tr 43 - 44
http://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=1&ID=502
Ở đời, hãy luôn đứng về chính nghiã
Vì chính nghĩa là chân lý!
Vì chính nghĩa là chân lý!