LUẬN BÀN TAM QUỐC
Mao Tôn Cương
Người dịch: Phan Kế Bính
Hiệu đính: Bùi Kỷ
Nhà xuất bản Văn Học
ĐỂ HIỂU TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA ...
I
Tam quốc diễn nghĩa nguyên tên là Tam Quốc chí thông tục diễn nghĩa, là một bộ tiểu thuyết cổ điển dài, được nhân dân ưa thích nhất, và lưu truyền rộng rãi như truyện Thuỷ Hử, lại là bộ tiểu thuyết lịch sử thông tục độc đáo của Trung Quốc. Tác giả là La Quán Trung.
La Quán Trung tên là Bản, tên chữ là Quán Trung, lại có biệt hiệu là: “ Hồ Hải tản nhân”, có thể là người Thái Nguyên ( còn có những thuyết nói ông là người Lư Lăng, Tiền Đương, Đông Nguyên v.v...). Ông sinh vào cuối đời Nguyên, mất vào đầu đời Minh, ước chừng vào khoảng năm 1330 đến năm 1400 giữa thời thống trị của Nguyên Thuận Đế ( Thoát Hoan Thiếp Mộc Nhĩ) và Minh Thái Tổ ( Chu Nguyên Chương).
Ông rất có tài văn chương, rất giỏi về từ khúc câu đó, lại việt cả các loại kích, nhưng tổi tiếng nhất là về tiểu thuyết.
Về tiểu thuyết thì ngoài Tam Quốc ra, tương truyền có tất cả hơn mười bộ, như nay ta biết còn có: Tuỳ đường chí, Tần Đường ngũ đại sử diễn nghĩa, Tam Toại bình yêu truyện v.v... ( HIện nay những bản còn lưu truyền đã bị người đời sau sửa đổi, viết lại, không còn là nguyên bản của ông nữa); lại có truyền thuyết rằng: La Quán Trung cũng là một người tham gia soạn và chỉnh biện truyện Thuỷ Hử. Bạn của ông nói: tính tình ông “ít hoà hợp với mọi người” vì “ thời thế nhiễu nhương nhiều biến cố” nên ông đi lang bạt các nơi, về sau “ không biết đời ông kết cục ra sao”. Những truyền thuyết về sau này còn nhắc tới việc ông tham gia hoạt động trong cuộc khởi nghĩa của nông dân, từng có quan hệ với Trương Sĩ Thành, là một trong những người “ có chí mưu đồ sự nghiệp bá vương”. Tiệc rằng tình hình tường tận thế nào nay không thể biết rõ được.
Tam Quốc diễn nghĩa tuy về phương diện biên soạn chủ yếu là công lao của La Quan Trung, từ lâu, truyện Tam Quốc đã lưu truyền rộng rãi trong dân gian, nói cách khác, nhân dân quần chúng đã sớm sáng tạo ra những nhân vật điển hình và nhân vật lịch sử Tam Quốc. Đời nhà Đường có một nhà thơ, trong khi viết thơ tả về chuyện đùa giỡn của trẻ em đã ghi: “ Hoặc giễu Trương Phi đen, hoặc cười Đặng Ngải nói lắp”, trong đó chẳng phải đã ẩn hiện hình tượng của một Trương Phi lỗ mãng đó sao? Có thể chứng minh rằng ở thời đó một số nhân vật và sự tích trong truyện Tam Quốc đã rất phổ biến tới mức độ mọi nhà đều biết, đàn bà trẻ con đều hay. Thời Bắc Tống có một nhà văn cũng ghi lại rằng ở thông quê, lúc trẻ con quấy, nghịch, người nhà thường cho tiền chúng tụ họp nhau lại ngồi nghe kể chuyện Tam Quốc. Đồng thời vì đời Tống nền kinh tế thương phẩm thành thị từ trước chưa bao giờ phát đạt như vậy, yêu cầu về sinh hoạt văn hoá của các tầng lớp của nhân dân thành thị ngày càng tăng lên, nên truyện Tam Quốc ngày càng thịnh hành. Cứ xem trong các môn, loại “ chuyện kể” ở những đô thị lớn tới bấy giờ đã có riêng mục “kể chuyện Tam quốc” thì có thể biết rằng Tam Quốc cũng là một mục được quần chúng đô thị ưa thích nhất. Thời kỳ Nam Tống, th lời ghi của nhà thơ, “ Tào công đại chiến” (trận Xích Bích) là điển tích trang trí của đèn kéo quân trong dịp tết Nguyên Tiêu ( tết rằm tháng giêng). Đến triều Nguyên đã có bản in “ toàn tướng Tam Quốc chí bình thoại”, nửa tranh, nửa chữ, đây là dấu vết của “ chuyện kể” bằng miệng dần dần được ghi chép lại bằng chữ, bản viết được hình thành cũng chứng tỏ rằng chuyện Tam Quốc đã rất được lưu hành và phát triển. Ngoài ra, đời Nguyên là thời kỳ kịch hát rất thịnh, cứ xem những tiết mục không được đầy đủ của người đời Nguyên còn giữ lại đến nay, chuyện Tam Quốc cũng như Thủy Hử đều được các nhà viết kịch lịch sử thường lấy làm đề tài. Trong khi dân gian truyền miệng, các nghệ nhan kể chuyện, các nhà văn học nghệ thuật viết kịch, diễn kịch không ngừng sáng tạo, làm cho những tình tiết câu chuyện và hình tượng nhân vật phong phú thêm.
Cuối đời Nguyên đầu đời MInh nhà tiểu thuyết La quán Trung đã viết bộ Tam Quốc chí thông tục diễn nghĩa chính là đã dựa trên cơ sở sáng tác tập thể rất hùng hậu đó của quần chúng nhân dân. Dĩ nhiên trong khi viết, ông có tham khảo những bản ghi chép của các nhà viết sử và các nhà văn khác. nhưng quan trọng hơn, là phần thể nghiệm cuộc sống phong phú của bản thân ông và tài năng văn học kiệt xuất của ông. Một trong những bản Tam Quốc diễn nghĩa ra đời sớm nhất hiện nay còn giữ được bản in năm Giáp Dần niên hiệu Hoằng Trị đời Minh (1494), năm Nhâm ngọ Gia Tĩnh (1522) gồm 24 cuốn 240 tiết.
Từ đó về sau, đến đời Minh nhiều bản Tam Quốc ( nội dung đều không có gì khác nhau lắm) đã lưu hành gần 300 năm. Đầu đời Thanh, hai cha con Mao Luận, Mao Tôn Cương ( người Trần Châu, tình Giang Tô) lại bắt đầu tu đính truyện Tam Quốc. Công việc tu đính này hoàn thành vào khoảng năm Khang Hy thứ 18 (1679) hoặc sớm hơn một chút. Họ chỉ gia công, thêm bớt, nhuận sắc những chi tiết nhỏ, và thêm vào đó những lời bàn, dồn 240 tiết thành 120 hồi, lại đặt cho bộ Tam Quốc cái tên là “ cuống sách đệ nhất tài tử”. Từ đó bản của Mao tôn Cương thay bản của La Quán Trung tiếp tục được lưu truyền rộng rãi.
Truyện Tam Quốc của La Quán Trung so với bản truyện kể của đời Nguyên, đạikhía có mấy đặc điểm như sau:
1. Tước bớt một số phần mê tín, nhân quả báo ứng và những tình tiết “ quá ư hoang đường”.
2. Viết thêm, làm nội dung cuốn truyện phong phú lên rất nhiều, tô vẽ tính cách và hình tượng nhận vật cho sâu sắc, đậm nét hơn.
3. Nâng cao ngôn ngữ đến mức nghệ thuật, tăng cường thêm sức hấp dẫn của nghệ thuật.
4. Làm nổi bật lên một cách rõ ràng và mãnh liệt nhân dân tính và xu hướng tính văn học là yêu Lưu Bị, ghét Tào Tháo, hướng về Thục chống lại Ngụy trong toàn cuốn sách.
Nói tóm lại, La Quán Trung đã đem những phần phong phú trong truyện Tam Quốc mà quần chúng nhân dân và những nghệ nhân kể chuyên đã sáng tác ra, nâng cao lên thành một tác phẩm văn học lớn lao nổi tiếng. Còn bản của Mao Tôn Cương chẳng qua có thêm bớt ít cau, ít chữ, sửa chữa một số chi tiết nhỏ trong truyện, sắp xếp lại các hồi mục, câu đối, sửa chữa lại câu, lời trùng hoặc những chỗ chưa thỏa đáng trong bản cũ. Mao Ton Cương đã tước bỏ rất nhiều những chương tấu, những bài bình luận, tán rộng trong phần chú thích, thay đổi một số câu thơ lẫn lộn văn kể với văn vần v.v... làm cho truyện càng hoàn chỉnh, văn vẻ, trong sáng, gọt giũa, trên một mức độ nào đó tcũng đã làm tiện lợi cho mọi quần chúng độc giả. Vì vậy công việc tu đính đó có thể nói là có ích đối với bản cũ. Do đó, bản của Mao Tôn Cương có thể thay thế được bản cũ thịnh hành trong 300 năm và cũng vì thế ngày nay chỉnh lí ít lại trong bộ Tam Quốc, chúng tôi đã dựa vào bản của Mao Tôn Cương.
Mao Tôn Cương
Người dịch: Phan Kế Bính
Hiệu đính: Bùi Kỷ
Nhà xuất bản Văn Học
ĐỂ HIỂU TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA ...
I
Tam quốc diễn nghĩa nguyên tên là Tam Quốc chí thông tục diễn nghĩa, là một bộ tiểu thuyết cổ điển dài, được nhân dân ưa thích nhất, và lưu truyền rộng rãi như truyện Thuỷ Hử, lại là bộ tiểu thuyết lịch sử thông tục độc đáo của Trung Quốc. Tác giả là La Quán Trung.
La Quán Trung tên là Bản, tên chữ là Quán Trung, lại có biệt hiệu là: “ Hồ Hải tản nhân”, có thể là người Thái Nguyên ( còn có những thuyết nói ông là người Lư Lăng, Tiền Đương, Đông Nguyên v.v...). Ông sinh vào cuối đời Nguyên, mất vào đầu đời Minh, ước chừng vào khoảng năm 1330 đến năm 1400 giữa thời thống trị của Nguyên Thuận Đế ( Thoát Hoan Thiếp Mộc Nhĩ) và Minh Thái Tổ ( Chu Nguyên Chương).
Ông rất có tài văn chương, rất giỏi về từ khúc câu đó, lại việt cả các loại kích, nhưng tổi tiếng nhất là về tiểu thuyết.
Về tiểu thuyết thì ngoài Tam Quốc ra, tương truyền có tất cả hơn mười bộ, như nay ta biết còn có: Tuỳ đường chí, Tần Đường ngũ đại sử diễn nghĩa, Tam Toại bình yêu truyện v.v... ( HIện nay những bản còn lưu truyền đã bị người đời sau sửa đổi, viết lại, không còn là nguyên bản của ông nữa); lại có truyền thuyết rằng: La Quán Trung cũng là một người tham gia soạn và chỉnh biện truyện Thuỷ Hử. Bạn của ông nói: tính tình ông “ít hoà hợp với mọi người” vì “ thời thế nhiễu nhương nhiều biến cố” nên ông đi lang bạt các nơi, về sau “ không biết đời ông kết cục ra sao”. Những truyền thuyết về sau này còn nhắc tới việc ông tham gia hoạt động trong cuộc khởi nghĩa của nông dân, từng có quan hệ với Trương Sĩ Thành, là một trong những người “ có chí mưu đồ sự nghiệp bá vương”. Tiệc rằng tình hình tường tận thế nào nay không thể biết rõ được.
Tam Quốc diễn nghĩa tuy về phương diện biên soạn chủ yếu là công lao của La Quan Trung, từ lâu, truyện Tam Quốc đã lưu truyền rộng rãi trong dân gian, nói cách khác, nhân dân quần chúng đã sớm sáng tạo ra những nhân vật điển hình và nhân vật lịch sử Tam Quốc. Đời nhà Đường có một nhà thơ, trong khi viết thơ tả về chuyện đùa giỡn của trẻ em đã ghi: “ Hoặc giễu Trương Phi đen, hoặc cười Đặng Ngải nói lắp”, trong đó chẳng phải đã ẩn hiện hình tượng của một Trương Phi lỗ mãng đó sao? Có thể chứng minh rằng ở thời đó một số nhân vật và sự tích trong truyện Tam Quốc đã rất phổ biến tới mức độ mọi nhà đều biết, đàn bà trẻ con đều hay. Thời Bắc Tống có một nhà văn cũng ghi lại rằng ở thông quê, lúc trẻ con quấy, nghịch, người nhà thường cho tiền chúng tụ họp nhau lại ngồi nghe kể chuyện Tam Quốc. Đồng thời vì đời Tống nền kinh tế thương phẩm thành thị từ trước chưa bao giờ phát đạt như vậy, yêu cầu về sinh hoạt văn hoá của các tầng lớp của nhân dân thành thị ngày càng tăng lên, nên truyện Tam Quốc ngày càng thịnh hành. Cứ xem trong các môn, loại “ chuyện kể” ở những đô thị lớn tới bấy giờ đã có riêng mục “kể chuyện Tam quốc” thì có thể biết rằng Tam Quốc cũng là một mục được quần chúng đô thị ưa thích nhất. Thời kỳ Nam Tống, th lời ghi của nhà thơ, “ Tào công đại chiến” (trận Xích Bích) là điển tích trang trí của đèn kéo quân trong dịp tết Nguyên Tiêu ( tết rằm tháng giêng). Đến triều Nguyên đã có bản in “ toàn tướng Tam Quốc chí bình thoại”, nửa tranh, nửa chữ, đây là dấu vết của “ chuyện kể” bằng miệng dần dần được ghi chép lại bằng chữ, bản viết được hình thành cũng chứng tỏ rằng chuyện Tam Quốc đã rất được lưu hành và phát triển. Ngoài ra, đời Nguyên là thời kỳ kịch hát rất thịnh, cứ xem những tiết mục không được đầy đủ của người đời Nguyên còn giữ lại đến nay, chuyện Tam Quốc cũng như Thủy Hử đều được các nhà viết kịch lịch sử thường lấy làm đề tài. Trong khi dân gian truyền miệng, các nghệ nhan kể chuyện, các nhà văn học nghệ thuật viết kịch, diễn kịch không ngừng sáng tạo, làm cho những tình tiết câu chuyện và hình tượng nhân vật phong phú thêm.
Cuối đời Nguyên đầu đời MInh nhà tiểu thuyết La quán Trung đã viết bộ Tam Quốc chí thông tục diễn nghĩa chính là đã dựa trên cơ sở sáng tác tập thể rất hùng hậu đó của quần chúng nhân dân. Dĩ nhiên trong khi viết, ông có tham khảo những bản ghi chép của các nhà viết sử và các nhà văn khác. nhưng quan trọng hơn, là phần thể nghiệm cuộc sống phong phú của bản thân ông và tài năng văn học kiệt xuất của ông. Một trong những bản Tam Quốc diễn nghĩa ra đời sớm nhất hiện nay còn giữ được bản in năm Giáp Dần niên hiệu Hoằng Trị đời Minh (1494), năm Nhâm ngọ Gia Tĩnh (1522) gồm 24 cuốn 240 tiết.
Từ đó về sau, đến đời Minh nhiều bản Tam Quốc ( nội dung đều không có gì khác nhau lắm) đã lưu hành gần 300 năm. Đầu đời Thanh, hai cha con Mao Luận, Mao Tôn Cương ( người Trần Châu, tình Giang Tô) lại bắt đầu tu đính truyện Tam Quốc. Công việc tu đính này hoàn thành vào khoảng năm Khang Hy thứ 18 (1679) hoặc sớm hơn một chút. Họ chỉ gia công, thêm bớt, nhuận sắc những chi tiết nhỏ, và thêm vào đó những lời bàn, dồn 240 tiết thành 120 hồi, lại đặt cho bộ Tam Quốc cái tên là “ cuống sách đệ nhất tài tử”. Từ đó bản của Mao tôn Cương thay bản của La Quán Trung tiếp tục được lưu truyền rộng rãi.
Truyện Tam Quốc của La Quán Trung so với bản truyện kể của đời Nguyên, đạikhía có mấy đặc điểm như sau:
1. Tước bớt một số phần mê tín, nhân quả báo ứng và những tình tiết “ quá ư hoang đường”.
2. Viết thêm, làm nội dung cuốn truyện phong phú lên rất nhiều, tô vẽ tính cách và hình tượng nhận vật cho sâu sắc, đậm nét hơn.
3. Nâng cao ngôn ngữ đến mức nghệ thuật, tăng cường thêm sức hấp dẫn của nghệ thuật.
4. Làm nổi bật lên một cách rõ ràng và mãnh liệt nhân dân tính và xu hướng tính văn học là yêu Lưu Bị, ghét Tào Tháo, hướng về Thục chống lại Ngụy trong toàn cuốn sách.
Nói tóm lại, La Quán Trung đã đem những phần phong phú trong truyện Tam Quốc mà quần chúng nhân dân và những nghệ nhân kể chuyên đã sáng tác ra, nâng cao lên thành một tác phẩm văn học lớn lao nổi tiếng. Còn bản của Mao Tôn Cương chẳng qua có thêm bớt ít cau, ít chữ, sửa chữa một số chi tiết nhỏ trong truyện, sắp xếp lại các hồi mục, câu đối, sửa chữa lại câu, lời trùng hoặc những chỗ chưa thỏa đáng trong bản cũ. Mao Ton Cương đã tước bỏ rất nhiều những chương tấu, những bài bình luận, tán rộng trong phần chú thích, thay đổi một số câu thơ lẫn lộn văn kể với văn vần v.v... làm cho truyện càng hoàn chỉnh, văn vẻ, trong sáng, gọt giũa, trên một mức độ nào đó tcũng đã làm tiện lợi cho mọi quần chúng độc giả. Vì vậy công việc tu đính đó có thể nói là có ích đối với bản cũ. Do đó, bản của Mao Tôn Cương có thể thay thế được bản cũ thịnh hành trong 300 năm và cũng vì thế ngày nay chỉnh lí ít lại trong bộ Tam Quốc, chúng tôi đã dựa vào bản của Mao Tôn Cương.