THẮNG LỢI NGOẠI GIAO TUYỆT VỜI !
Trần Quang Cơ*
"Kháng chiến chống Mỹ là bản anh hùng ca trọn vẹn từ đầu đến cuối. Hiệp định Pa-ri năm 1973 là thắng lợi ngoại giao tuyệt vời". Đó là lời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng kính yêu, người đứng đầu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa trong suốt những năm tháng đầy sóng gió của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi cho ý kiến về việc tổng kết 50 năm ngoại giao Việt Nam.
Để hiểu thấu đáo sự đánh giá trên, chúng ta cần thấy rõ tính thời đại và ý nghĩa quốc tế lớn lao của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Điều này hiển hiện ngay trong bối cảnh thế giới bội phần phức tạp so với thời kỳ ta chống thực dân Pháp : Đối thủ của ta lần này là đế quốc đầu sỏ, vô cùng lớn mạnh, chúng xâm lược Việt Nam với mưu đồ toàn cầu. Tâm lý sợ Mỹ, trong những năm đầu của thập niên 60 (thế kỷ XX), còn đang bao trùm thế giới. Mỹ coi như chưa có tiền lệ thua trận ở đâu. Mỹ có mạng lưới liên minh quân sự khắp nơi. Khống chế Liên hợp quốc. Phong trào cách mạng quốc tế lại đang có khủng hoảng về đường lối, không nhất trí về quan điểm cách mạng, thậm chí sinh ra chia rẽ, mâu thuẫn về tổ chức.
Tính thời đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước còn ở chỗ mục tiêu đấu tranh của dân tộc ta hoàn toàn phù hợp với bốn mục tiêu của thời đại : hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, xã hội chủ nghĩa.
Nhận thức rõ tính thời đại và ý nghĩa quốc tế của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hồ Chủ tịch thấy cần nâng ngoại giao lên thành một mặt trận với tầm cỡ chiến lược. Kỳ họp Trung ương lần thứ 13 (khóa III), tháng 1-1967, đã ra nghị quyết xác định điều đó. Mặt trận ngoại giao phối hợp với mặt trận quân sự và mặt trận chính trị tạo thành sức mạnh tổng hợp đưa cuộc chiến đấu của toàn dân đến thắng lợi cuối cùng.
Trong chống Mỹ cứu nước, vị trí và chức năng của ngoại giao rất quan trọng với hai nhiệm vụ lớn :
a) Tăng cường hậu phương quốc tế của ta và làm suy yếu hậu phương địch. Để tăng cường hậu phương quốc tế của ta, phải thực hiện phương châm "thêm bạn bớt thù", tranh thủ từ bạn gần đến bạn xa, từ những đồng minh chiến lược cùng chung chí hướng xã hội chủ nghĩa cho đến những ai chỉ tán thành một trong những mục tiêu hòa bình, dân chủ, độc lập dân tộc.
b) Giải quyết vấn đề ta thắng địch thua. Đây là vấn đề phức tạp, phải có đầu óc thực tế. Có khái niệm thật đúng thế nào là ta thắng, thế nào là địch thua mới xác định được giải pháp. Ta thắng là khi nào ta bảo vệ được độc lập tự do, giải phóng được đất nước. Mỹ thua tức là Mỹ phải rút hết quân ra khỏi đất nước ta, chấm dứt xâm lược, phải cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam. Chính với tinh thần đó, Hồ Chủ tịch đã từng nói : "Nếu Mỹ chịu nhận rút thì chúng tôi rải thảm đỏ cho mà rút".
Đối với một địch thủ cỡ lớn như Mỹ, ta lại là nước nhỏ, cần có ngoại giao thực hiện phương châm "thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn".
Để tạo được sự ủng hộ của toàn thế giới, tranh thủ được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa cũng như các nước dân tộc độc lập, các lực lượng dân chủ cũng như các lực lượng hòa bình, Đảng ta đã có một đường lối quốc tế đúng đắn và sáng tạo : độc lập tự chủ đi đôi với đoàn kết quốc tế.
Phải độc lập tự chủ vì cách mạng quốc tế khi đó đang có khủng hoảng về đường lối, quan điểm không thống nhất.
Độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế, hai vế phải đi đôi. Thoạt nghe tưởng chừng như hai vế này độc lập nhau, nhưng trong tình hình lúc đó, có độc lập tự chủ mới đoàn kết quốc tế được.
Độc lập tự chủ chứ không tự cô lập, đoàn kết quốc tế nhưng không lệ thuộc. Mấy điều đó nghe như đơn giản, nhưng trên thực tế vận dụng vô cùng phức tạp, vô cùng khó khăn, cực nhọc.
Quan điểm của ta về vừa đánh vừa đàm thể hiện đường lối độc lập tự chủ. Đánh cũng đánh theo kiểu của ta, đàm cũng đàm theo kiểu của ta. Khác với quan điểm chỉ đánh mà không đàm, cho rằng đàm là cản trở đánh, cho là chỉ dùng biện pháp quân sự - chính trị mới buộc được Mỹ chấp nhận những yêu cầu của ta. Cũng khác với quan điểm chỉ đàm không đánh, cho là đánh sẽ phá vỡ đàm, cho là Việt Nam không thể thắng Mỹ, phải sớm đi vào một giải pháp thỏa hiệp với Mỹ.
Những quan điểm đối chọi nhau thể hiện ngay từ việc đánh giá đế quốc Mỹ thế nào ? Xử sự với xâm lược Mỹ ra sao ?
Với bản lĩnh vững vàng, Đảng ta đã nhận định một cách khách quan và sáng suốt : Mỹ là kẻ thù mạnh, vô cùng nguy hiểm, song không phải là có sức mạnh vô hạn và vô địch. Nó ví như con cọp thật, có nanh vuốt, nguy hiểm chết người, nhưng con cọp trong thế bị bao vây săn đuổi. Những người Mỹ tỉnh táo như Thượng nghị sĩ Phun-brai năm 1966 đã nói : "Nước Mỹ đang có dấu hiệu của sự ngạo mạn về sức mạnh. Đó là điều nguy hại làm suy yếu, đôi lúc trong lịch sử đã hủy hoại những nước lớn... Nguyên nhân những khó khăn của chúng ta ở Đông Nam Á không phải do thiếu sức mạnh mà do sử dụng quá đáng loại sức mạnh sai lầm. Điều đó đưa đến kết quả là gây nên một cảm giác về sự bất lực khi sức mạnh đó không thực hiện được đúng những mục tiêu mong muốn". Đảng ta đi đến kết luận là ta có thể đánh Mỹ và thắng Mỹ nếu như ta tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của tất cả lực lượng bạn bè trên thế giới.
Vì vậy, ta cần tạo lập Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ cứu nước để tập hợp dư luận quốc tế, cô lập Mỹ về chính trị, về tinh thần.
Việc tuyên truyền vận động quốc tế hướng vào ba nội dung chính : nêu cao chính nghĩa của ta, khẳng định quyết tâm đánh bại xâm lược, vạch rõ thiện chí hòa bình của ta.
- Việc nêu cao chính nghĩa của ta có thuận lợi vì ta sẵn có uy tín chính trị qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với chiến thắng Điện Biên Phủ và tên tuổi Hồ Chí Minh. Việt Nam đã là lá cờ đầu trong cách mạng giải phóng dân tộc.
- Khẳng định quyết tâm chống xâm lược. Muốn đạt được điều này phải vượt trở ngại tâm lý sợ Mỹ trên thế giới. Người ta có thể rất cảm tình với ta, tán thành Việt Nam đánh Mỹ nhưng chưa tin Việt Nam đánh được Mỹ. Phải chứng tỏ được ta quyết tâm chống Mỹ, cho đến khi nào đạt mục tiêu mới thôi, không bỏ cuộc. Điều đó không chỉ giải quyết bằng ngoại giao, mà phải qua thực tế chiến trường mới có sức thuyết phục.
- Nói rõ thiện chí hòa bình của ta : Phải làm đúng lúc và đúng mức mới có tác dụng. Khi Mỹ còn hung hăng leo thang chiến tranh mà ta đã nhấn mạnh "thiện chí hòa bình" thì người ta sẽ hiểu là ta lung lay, muốn rút lui rồi. Thời kỳ 1965 - 1967, đánh là chính, nêu chính nghĩa và quyết tâm là chính.
Nhờ tích cực và làm đúng hướng, ta đã sớm hình thành được một Mặt trận nhân dân thế giới rộng rãi, làm nền tảng chính trị quốc tế vững chắc cho cuộc chống Mỹ cứu nước của ta. Đây thực sự là một kỳ tích lịch sử.
Ta đã cố gắng khắc phục mọi trở ngại để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế mặt tiêu cực nhằm tranh thủ được sự ủng hộ và giúp đỡ cao nhất của Liên Xô và Trung Quốc, phá tan âm mưu Mỹ lợi dụng chính sách hòa hoãn Xô - Mỹ, Trung - Mỹ hòng chia rẽ làm suy yếu chỗ dựa chính của ta trên quốc tế.
H. Kít-xing-giơ nhận định : Bản thân Việt Nam rất nghèo, rất yếu. Việt Nam sống được, chiến đấu được, chống Mỹ được là do trông nhiều vào viện trợ bên ngoài, chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc. Nếu như Mỹ khai thác được mâu thuẫn Trung - Xô, chia rẽ được họ với Việt Nam thì sẽ cắt được nguồn viện trợ bên ngoài cho Việt Nam. Mất viện trợ bên ngoài thì dù Việt Nam kiên cường đến mấy cũng không thể chống Mỹ được.
Thời kỳ Mỹ "leo thang chiến tranh" (1964 - 1968) : thủ đoạn của Mỹ lúc này là thương lượng trên thế mạnh đồng thời dùng trung gian đủ các loại nhằm xoa dịu phản ứng quốc tế hòng chuyển sức ép dư luận sang ta. L.B. Giôn-xơn, trong một cuộc họp tại Nhà Trắng, đã nói : "Cuộc chiến tranh này giống như một trận đấu ăn giải. Tay phải của ta nắm lực lượng quân sự, song tay trái cần có các đề nghị hòa bình. Mỗi khi đưa quân đội lên phía trước thì cũng phải đưa các nhà ngoại giao lên phía trước. Các tướng lĩnh đòi đưa quân nhiều nhiều hơn nữa. Song Bộ Ngoại giao cũng phải cung cấp cho tôi thêm cái gì nữa".
Với bài học của Hiệp nghị Giơ-ne-vơ 1954, ta chủ trương đàm phán trực tiếp với đối thủ của mình, "vấn đề Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam giải quyết", không đàm phán qua trung gian. Nhưng ngoại giao ta đã có thái độ đối xử thích hợp với từng nước trung gian theo phương châm "thêm bạn bớt thù", không để Mỹ lợi dụng tư tưởng hòa bình chủ nghĩa chuyển sức ép sang ta.
Tuy sức ép bên ngoài tăng lên, nhưng thời kỳ Mỹ tiến hành "Việt Nam hóa chiến tranh" (1969-1972) cũng chính là thời kỳ đường lối độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế của Đảng ta chứng tỏ rõ nhất sự đúng đắn và hiệu quả của nó. Trong cuộc họp báo tại Mỹ ngày 24-6-1972, H. Kít-xing-giơ phải nhận : "Mỹ thừa nhận rằng một dân tộc đã tận tụy hy sinh lâu dài như thế thì sẽ không chịu khuất phục trước những giải pháp do những nước khác ép buộc".
Cuộc đàm phán Pa-ri ngay từ đầu đến cuối xoay quanh hai vấn đề cơ bản : vấn đề rút quân Mỹ và vấn đề chính quyền ở miền Nam Việt Nam. Trong suốt thời gian đàm phán kéo dài, lập trường đàm phán của hai bên hoàn toàn đối lập. Mỹ chủ trương rút được quân Mỹ về mà vẫn giữ được ngụy. Mỹ đặt điều kiện quân Mỹ rút thì đồng thời quân Bắc Việt Nam cũng phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Mỹ đòi tách riêng giải pháp quân sự và giải pháp chính trị. Chỉ giải quyết các vấn đề quân sự : ngừng bắn, rút quân, thả tù binh Mỹ và rút quân Bắc Việt Nam. Còn giải pháp chính trị để cho các bên Việt Nam giải quyết với nhau sau.
Lập trường của ta là phải có giải pháp "cả gói", tức là Mỹ có trách nhiệm giải quyết cả những vấn đề quân sự lẫn chính trị. Mỹ phải rút hết quân Mỹ và chư hầu không điều kiện, gắn việc rút quân Mỹ với việc thả tù binh Mỹ ; về chính trị, lập chính phủ liên hiệp ở miền Nam Việt Nam gồm ba thành phần, không có Thiệu - Kỳ - Khiêm, tán thành hòa bình, độc lập, trung lập, dân chủ.
Đến giai đoạn chót của cuộc đàm phán, ta đấu tranh hướng vào một giải pháp đáp ứng các yêu cầu của ta : Mỹ cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam ; Mỹ rút hết quân, chấm dứt dính líu vào chiến sự ở miền Nam, không được can thiệp công việc nội bộ miền Nam Việt Nam ; Mỹ phải công nhận trên thực tế ở miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng lãnh thổ, ba lực lượng chính trị.
Cuộc đàm phán Pa-ri đã kết thúc khi ta đã đạt được các mục tiêu cơ bản đề ra lúc ban đầu. "Một thắng lợi ngoại giao tuyệt vời !".
Trong bối cảnh thế giới phức tạp như vậy, với quyết tâm bảo vệ lợi ích tối cao của dân tộc, Đảng ta đã kiên trì đường lối độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế nên đã vượt qua được mọi thử thách, kết thúc đánh - đàm thắng lợi, thực hiện lời tiên định của Bác Hồ : "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".
Qua cuộc chống Mỹ cứu nước, càng thấy rõ khả năng to lớn của mặt trận đối ngoại. Ngoại giao đã thu được "thắng lợi tuyệt vời", góp phần làm nên "bản anh hùng ca trọn vẹn" của dân tộc Việt Nam.
* Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao, thành viên Đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam
http://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=3&ID=857
Trần Quang Cơ*
"Kháng chiến chống Mỹ là bản anh hùng ca trọn vẹn từ đầu đến cuối. Hiệp định Pa-ri năm 1973 là thắng lợi ngoại giao tuyệt vời". Đó là lời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng kính yêu, người đứng đầu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa trong suốt những năm tháng đầy sóng gió của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi cho ý kiến về việc tổng kết 50 năm ngoại giao Việt Nam.
Để hiểu thấu đáo sự đánh giá trên, chúng ta cần thấy rõ tính thời đại và ý nghĩa quốc tế lớn lao của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Điều này hiển hiện ngay trong bối cảnh thế giới bội phần phức tạp so với thời kỳ ta chống thực dân Pháp : Đối thủ của ta lần này là đế quốc đầu sỏ, vô cùng lớn mạnh, chúng xâm lược Việt Nam với mưu đồ toàn cầu. Tâm lý sợ Mỹ, trong những năm đầu của thập niên 60 (thế kỷ XX), còn đang bao trùm thế giới. Mỹ coi như chưa có tiền lệ thua trận ở đâu. Mỹ có mạng lưới liên minh quân sự khắp nơi. Khống chế Liên hợp quốc. Phong trào cách mạng quốc tế lại đang có khủng hoảng về đường lối, không nhất trí về quan điểm cách mạng, thậm chí sinh ra chia rẽ, mâu thuẫn về tổ chức.
Tính thời đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước còn ở chỗ mục tiêu đấu tranh của dân tộc ta hoàn toàn phù hợp với bốn mục tiêu của thời đại : hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, xã hội chủ nghĩa.
Nhận thức rõ tính thời đại và ý nghĩa quốc tế của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hồ Chủ tịch thấy cần nâng ngoại giao lên thành một mặt trận với tầm cỡ chiến lược. Kỳ họp Trung ương lần thứ 13 (khóa III), tháng 1-1967, đã ra nghị quyết xác định điều đó. Mặt trận ngoại giao phối hợp với mặt trận quân sự và mặt trận chính trị tạo thành sức mạnh tổng hợp đưa cuộc chiến đấu của toàn dân đến thắng lợi cuối cùng.
Trong chống Mỹ cứu nước, vị trí và chức năng của ngoại giao rất quan trọng với hai nhiệm vụ lớn :
a) Tăng cường hậu phương quốc tế của ta và làm suy yếu hậu phương địch. Để tăng cường hậu phương quốc tế của ta, phải thực hiện phương châm "thêm bạn bớt thù", tranh thủ từ bạn gần đến bạn xa, từ những đồng minh chiến lược cùng chung chí hướng xã hội chủ nghĩa cho đến những ai chỉ tán thành một trong những mục tiêu hòa bình, dân chủ, độc lập dân tộc.
b) Giải quyết vấn đề ta thắng địch thua. Đây là vấn đề phức tạp, phải có đầu óc thực tế. Có khái niệm thật đúng thế nào là ta thắng, thế nào là địch thua mới xác định được giải pháp. Ta thắng là khi nào ta bảo vệ được độc lập tự do, giải phóng được đất nước. Mỹ thua tức là Mỹ phải rút hết quân ra khỏi đất nước ta, chấm dứt xâm lược, phải cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam. Chính với tinh thần đó, Hồ Chủ tịch đã từng nói : "Nếu Mỹ chịu nhận rút thì chúng tôi rải thảm đỏ cho mà rút".
Đối với một địch thủ cỡ lớn như Mỹ, ta lại là nước nhỏ, cần có ngoại giao thực hiện phương châm "thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn".
Để tạo được sự ủng hộ của toàn thế giới, tranh thủ được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa cũng như các nước dân tộc độc lập, các lực lượng dân chủ cũng như các lực lượng hòa bình, Đảng ta đã có một đường lối quốc tế đúng đắn và sáng tạo : độc lập tự chủ đi đôi với đoàn kết quốc tế.
Phải độc lập tự chủ vì cách mạng quốc tế khi đó đang có khủng hoảng về đường lối, quan điểm không thống nhất.
Độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế, hai vế phải đi đôi. Thoạt nghe tưởng chừng như hai vế này độc lập nhau, nhưng trong tình hình lúc đó, có độc lập tự chủ mới đoàn kết quốc tế được.
Độc lập tự chủ chứ không tự cô lập, đoàn kết quốc tế nhưng không lệ thuộc. Mấy điều đó nghe như đơn giản, nhưng trên thực tế vận dụng vô cùng phức tạp, vô cùng khó khăn, cực nhọc.
Quan điểm của ta về vừa đánh vừa đàm thể hiện đường lối độc lập tự chủ. Đánh cũng đánh theo kiểu của ta, đàm cũng đàm theo kiểu của ta. Khác với quan điểm chỉ đánh mà không đàm, cho rằng đàm là cản trở đánh, cho là chỉ dùng biện pháp quân sự - chính trị mới buộc được Mỹ chấp nhận những yêu cầu của ta. Cũng khác với quan điểm chỉ đàm không đánh, cho là đánh sẽ phá vỡ đàm, cho là Việt Nam không thể thắng Mỹ, phải sớm đi vào một giải pháp thỏa hiệp với Mỹ.
Những quan điểm đối chọi nhau thể hiện ngay từ việc đánh giá đế quốc Mỹ thế nào ? Xử sự với xâm lược Mỹ ra sao ?
Với bản lĩnh vững vàng, Đảng ta đã nhận định một cách khách quan và sáng suốt : Mỹ là kẻ thù mạnh, vô cùng nguy hiểm, song không phải là có sức mạnh vô hạn và vô địch. Nó ví như con cọp thật, có nanh vuốt, nguy hiểm chết người, nhưng con cọp trong thế bị bao vây săn đuổi. Những người Mỹ tỉnh táo như Thượng nghị sĩ Phun-brai năm 1966 đã nói : "Nước Mỹ đang có dấu hiệu của sự ngạo mạn về sức mạnh. Đó là điều nguy hại làm suy yếu, đôi lúc trong lịch sử đã hủy hoại những nước lớn... Nguyên nhân những khó khăn của chúng ta ở Đông Nam Á không phải do thiếu sức mạnh mà do sử dụng quá đáng loại sức mạnh sai lầm. Điều đó đưa đến kết quả là gây nên một cảm giác về sự bất lực khi sức mạnh đó không thực hiện được đúng những mục tiêu mong muốn". Đảng ta đi đến kết luận là ta có thể đánh Mỹ và thắng Mỹ nếu như ta tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của tất cả lực lượng bạn bè trên thế giới.
Vì vậy, ta cần tạo lập Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ cứu nước để tập hợp dư luận quốc tế, cô lập Mỹ về chính trị, về tinh thần.
Việc tuyên truyền vận động quốc tế hướng vào ba nội dung chính : nêu cao chính nghĩa của ta, khẳng định quyết tâm đánh bại xâm lược, vạch rõ thiện chí hòa bình của ta.
- Việc nêu cao chính nghĩa của ta có thuận lợi vì ta sẵn có uy tín chính trị qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với chiến thắng Điện Biên Phủ và tên tuổi Hồ Chí Minh. Việt Nam đã là lá cờ đầu trong cách mạng giải phóng dân tộc.
- Khẳng định quyết tâm chống xâm lược. Muốn đạt được điều này phải vượt trở ngại tâm lý sợ Mỹ trên thế giới. Người ta có thể rất cảm tình với ta, tán thành Việt Nam đánh Mỹ nhưng chưa tin Việt Nam đánh được Mỹ. Phải chứng tỏ được ta quyết tâm chống Mỹ, cho đến khi nào đạt mục tiêu mới thôi, không bỏ cuộc. Điều đó không chỉ giải quyết bằng ngoại giao, mà phải qua thực tế chiến trường mới có sức thuyết phục.
- Nói rõ thiện chí hòa bình của ta : Phải làm đúng lúc và đúng mức mới có tác dụng. Khi Mỹ còn hung hăng leo thang chiến tranh mà ta đã nhấn mạnh "thiện chí hòa bình" thì người ta sẽ hiểu là ta lung lay, muốn rút lui rồi. Thời kỳ 1965 - 1967, đánh là chính, nêu chính nghĩa và quyết tâm là chính.
Nhờ tích cực và làm đúng hướng, ta đã sớm hình thành được một Mặt trận nhân dân thế giới rộng rãi, làm nền tảng chính trị quốc tế vững chắc cho cuộc chống Mỹ cứu nước của ta. Đây thực sự là một kỳ tích lịch sử.
Ta đã cố gắng khắc phục mọi trở ngại để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế mặt tiêu cực nhằm tranh thủ được sự ủng hộ và giúp đỡ cao nhất của Liên Xô và Trung Quốc, phá tan âm mưu Mỹ lợi dụng chính sách hòa hoãn Xô - Mỹ, Trung - Mỹ hòng chia rẽ làm suy yếu chỗ dựa chính của ta trên quốc tế.
H. Kít-xing-giơ nhận định : Bản thân Việt Nam rất nghèo, rất yếu. Việt Nam sống được, chiến đấu được, chống Mỹ được là do trông nhiều vào viện trợ bên ngoài, chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc. Nếu như Mỹ khai thác được mâu thuẫn Trung - Xô, chia rẽ được họ với Việt Nam thì sẽ cắt được nguồn viện trợ bên ngoài cho Việt Nam. Mất viện trợ bên ngoài thì dù Việt Nam kiên cường đến mấy cũng không thể chống Mỹ được.
Thời kỳ Mỹ "leo thang chiến tranh" (1964 - 1968) : thủ đoạn của Mỹ lúc này là thương lượng trên thế mạnh đồng thời dùng trung gian đủ các loại nhằm xoa dịu phản ứng quốc tế hòng chuyển sức ép dư luận sang ta. L.B. Giôn-xơn, trong một cuộc họp tại Nhà Trắng, đã nói : "Cuộc chiến tranh này giống như một trận đấu ăn giải. Tay phải của ta nắm lực lượng quân sự, song tay trái cần có các đề nghị hòa bình. Mỗi khi đưa quân đội lên phía trước thì cũng phải đưa các nhà ngoại giao lên phía trước. Các tướng lĩnh đòi đưa quân nhiều nhiều hơn nữa. Song Bộ Ngoại giao cũng phải cung cấp cho tôi thêm cái gì nữa".
Với bài học của Hiệp nghị Giơ-ne-vơ 1954, ta chủ trương đàm phán trực tiếp với đối thủ của mình, "vấn đề Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam giải quyết", không đàm phán qua trung gian. Nhưng ngoại giao ta đã có thái độ đối xử thích hợp với từng nước trung gian theo phương châm "thêm bạn bớt thù", không để Mỹ lợi dụng tư tưởng hòa bình chủ nghĩa chuyển sức ép sang ta.
Tuy sức ép bên ngoài tăng lên, nhưng thời kỳ Mỹ tiến hành "Việt Nam hóa chiến tranh" (1969-1972) cũng chính là thời kỳ đường lối độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế của Đảng ta chứng tỏ rõ nhất sự đúng đắn và hiệu quả của nó. Trong cuộc họp báo tại Mỹ ngày 24-6-1972, H. Kít-xing-giơ phải nhận : "Mỹ thừa nhận rằng một dân tộc đã tận tụy hy sinh lâu dài như thế thì sẽ không chịu khuất phục trước những giải pháp do những nước khác ép buộc".
Cuộc đàm phán Pa-ri ngay từ đầu đến cuối xoay quanh hai vấn đề cơ bản : vấn đề rút quân Mỹ và vấn đề chính quyền ở miền Nam Việt Nam. Trong suốt thời gian đàm phán kéo dài, lập trường đàm phán của hai bên hoàn toàn đối lập. Mỹ chủ trương rút được quân Mỹ về mà vẫn giữ được ngụy. Mỹ đặt điều kiện quân Mỹ rút thì đồng thời quân Bắc Việt Nam cũng phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Mỹ đòi tách riêng giải pháp quân sự và giải pháp chính trị. Chỉ giải quyết các vấn đề quân sự : ngừng bắn, rút quân, thả tù binh Mỹ và rút quân Bắc Việt Nam. Còn giải pháp chính trị để cho các bên Việt Nam giải quyết với nhau sau.
Lập trường của ta là phải có giải pháp "cả gói", tức là Mỹ có trách nhiệm giải quyết cả những vấn đề quân sự lẫn chính trị. Mỹ phải rút hết quân Mỹ và chư hầu không điều kiện, gắn việc rút quân Mỹ với việc thả tù binh Mỹ ; về chính trị, lập chính phủ liên hiệp ở miền Nam Việt Nam gồm ba thành phần, không có Thiệu - Kỳ - Khiêm, tán thành hòa bình, độc lập, trung lập, dân chủ.
Đến giai đoạn chót của cuộc đàm phán, ta đấu tranh hướng vào một giải pháp đáp ứng các yêu cầu của ta : Mỹ cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam ; Mỹ rút hết quân, chấm dứt dính líu vào chiến sự ở miền Nam, không được can thiệp công việc nội bộ miền Nam Việt Nam ; Mỹ phải công nhận trên thực tế ở miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng lãnh thổ, ba lực lượng chính trị.
Cuộc đàm phán Pa-ri đã kết thúc khi ta đã đạt được các mục tiêu cơ bản đề ra lúc ban đầu. "Một thắng lợi ngoại giao tuyệt vời !".
Trong bối cảnh thế giới phức tạp như vậy, với quyết tâm bảo vệ lợi ích tối cao của dân tộc, Đảng ta đã kiên trì đường lối độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế nên đã vượt qua được mọi thử thách, kết thúc đánh - đàm thắng lợi, thực hiện lời tiên định của Bác Hồ : "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".
Qua cuộc chống Mỹ cứu nước, càng thấy rõ khả năng to lớn của mặt trận đối ngoại. Ngoại giao đã thu được "thắng lợi tuyệt vời", góp phần làm nên "bản anh hùng ca trọn vẹn" của dân tộc Việt Nam.
* Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao, thành viên Đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam
http://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=3&ID=857