📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

tập truyện ngắn Ngô Viết Trọng 🔒

5 trả lời, 1.180 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-14 02:47:36Hoàng Dung>
tình hận (a)

Làng Lưu Xá thuộc phủ Hưng Hà là một làng lớn  nằm ven biển. Hầu hết dân làng đều sống với nghề đánh cá. Làng này nổi tiếng làm ăn thịnh vượng, dân chúng phần đông vẫn dư ăn dư để . Cũng vì thế thỉnh thoảng những bọn cướp đâu đâu lại đột xuất viếng làng. Không chỉ cướp bóc của cải, nhiều lần chúng còn giết các chức sắc, trai tráng chống lại chúng và có khi chúng bắt theo cả gái đẹp trong làng nữa.
Một nhà hào phú địa phương, ông Trần Lý, thấy vậy bèn nghĩ ra cách tổ chức những toán hương dũng để bảo vệ cho dân. ông rước một ông thầy võ già có tiếng giỏi về dạy cho hương dũng. Thanh niên trong làng vui vẻ, hăng hái học thêm nghề côn quyền rất đông. Trong số môn sinh, có một chàng trẻ tên là Độ, cháu gọi Trần Lý bằng bác, có thiên khiếu võ nghệ lạ thường đã làm vị thầy võ hết sức ngạc nhiên. Độ học đâu nhớ đó, lại có óc biến hóa, phối hợp các thế võ rất hữu hiệu. Người ta càng ngạc nhiên hơn, vì trước đây, ông Trần Lý đã rước một thầy đồ về đây chữ nghĩa cho con cháu thì Độ lại học nay thuộc mai quên rất là khổ sở Qua mấy năm khổ học, Độ đành phải bỏ cuộc bút nghiên, chỉ còn nhớ lõm bõm vài chữ thông thường.
Một hôm, người thầy võ nói với Trần Lý:
- Sở học võ nghệ của tôi, trò Độ này nắm được hết rồi. Rất đáng khen, y còn trẻ mà có tính quả quyết, lại thông minh, nhiều mưu lược, giỏi ứng biến. Y có thể tự phát triển sở năng, sau này y chắc chắn vượt tôi rất xa. Ông nên giao việc chỉ huy đám hương dũng này cho y, chắc chắn sẽ có kết quả tết. Cũng có thể một ngày kia y sẽ lập được công danh hiển hách với đời. Đám hương dũng này dưới sự trông coi của ông với sự giúp sức của trò Độ dư sức tự bảo vệ làng Lưu Xá . Tôi tuổi đã già và cũng cạn ngón nghề rồi, xin giã từ để về quê an dưỡng.
Độ mồ côi cha, được ông bác Trần Lý giúp đỡ nhiều trong cuộc sống. ông Lý rất thương Độ, coi Độ như con. Sau khi người thầy võ ra đi, Độ trở thành người trực tiếp chỉ huy và cũng là người dìu dắt huấn luyện những lớp thanh niên kế tiếp.
Trần Lý có hai người con trai đã lập gia đình là Trần Thừa và Trần Tự Khánh. Trần Thừa tuy học cả văn lẫn võ nhưng không có gì nổi lắm. Tánh tình Thừa quá chất phác, hiền hậu. Trần Tự Khánh khá hơn anh, có đầu óc cầu tiến, ôm ấp nhiều tham vọng. Nổi bật nhất trong nhà là người con thứ ba tên Dung, một cô gái có sắc nước hương trời lại thông minh, nết na dịu dàng ai cũng thương mến. Không một chàng trai nào không rung động khi gặp nàng...
Ngày kia, có tin một bọn cướp đang ẩn núp ở vùng núi non làng Vân Thê, một làng giáp ranh với làng Lưu Xá. Chúng vẫn hay xuất hiện bất ngờ cướp giựt khách đi đường hoặc tấn công một vài nhà khá giả. Độ bàn bạc với anh em rồi sau đó xin dẫn hương dũng đi giúp làng Vân Thê diệt cướp. Trần Lý ái ngại:
- Chúng không dám đến quấy phá mình là được rồi. Đi như vậy vừa tốn kém, vừa mệt sức anh em, có chuyện gì thì mình lại phải gánh trách nhiệm nữa, bác thật không muốn chút nào.
Độ hăng hái thưa:
- Đây là cháu trình bày theo ý nguyện của nhiều anh em. Cháu nghe thầy có dạy nhánh cây còn nhỏ mà không chịu bẻ, sau này phải dùng tới cái búa lớn mới chặt được. Nếu mình không giúp dân làng Vân Thê trừ lũ cướp ấy đi, để sau này chúng lớn mạnh thêm, biết đâu chúng chẳng tìm tới mình. Lúc ấy biết đâu mình có thể không còn chống nổi thì sao!
Thấy Độ quyết ý và nói có lý, Trần Lý nghe theo. Thế là Độ dẫn một toán hương dũng mở cuộc viễn chinh đầu tiên trong đời.
Trước ngày toán hương dũng lên đường, Trần Lý cho mở một bữa tiệc tiễn hành để chúc thành công. Bọn trai tráng vui vẻ ăn uống rồi ca múa um sùm. Trong lúc rượu ngà ngà, có một chàng đề nghị mời Trần tiểu thư ra hát giúp vui. Không ngờ ông Trần Lý cũng vui vẻ cho tiểu thư Dung ra ca hát thật. Tiểu thư hát rất hay, rất ngọt đã làm tất cả bọn trai trẻ ngất ngây thưởng thức, vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt.
Sau đó thì bọn trẻ lần lượt thi nhau trổ tài. Dù không phải là một cuộc thi, trong thâm tâm mỗi người đều quyết đem tài nghệ riêng phô trương để vượt lên những người khác, mong lọt được vào mắt xanh con gái chủ nhà. Kẻ hát, người ngâm thơ, người đi quyền, kẻ múa kiếm, đủ điệu.
Đặc biệt có một người đã trổ tài quyền kiếm tuyệt hảo không có đối thủ. Nhưng không ai dám nghĩ rằng người đó biểu diễn với ý muốn chinh phục người đẹp, vì người đó chính là em họ của Trần tiểu thư. ấy là chàng Độ, người cầm đầu đám hương dũng. Tất nhiên, mấy chàng trai đều có ý muốn nhờ Độ đứng ra làm môi giới cho mình...
Tiệc tàn, tiểu thư Dung phụ với mấy người nhà lo việc dọn dẹp. Các hương dũng lần lượt kéo nhau ra về, chỉ còn Độ, nấn ná ở lại dọn dẹp bàn ghế giúp mặc dầu lúc ấy Độ đã xoàng xoàng. Đang làm việc, đột ngột Độ nói với tiểu thư Dung:
- Này, chị Dung, tại sao trời lại bắt mình bà con với nhau nhỉ?
Tiểu thư là người thông minh, sau một giây chưng hửng, nàng đã đoán hiểu được phần nào hàm ý câu hỏi của người em họ. Nàng coi như đó là một sự xúc phạm mặc dầu nàng cũng cảm thấy có một cái gì hay hay.
Hôm nay cậu say mệt rồi, nên về nhà nghỉ sớm để ngày mai còn ra tay làm việc nghĩa! Bây giờ công việc cũng sắp xong, để bà quản làm một mình cũng được.
Nói xong, tiểu thư quay người làm ra vẻ mệt mỏi muốn đi nghỉ. Độ tần ngần giây lát rồi giã từ ra về.
Tiểu thư Dung về phòng riêng nằm suy nghĩ lung lắm. Tại sao Độ lại dám hỏi câu ấy? Hắn ta say đến mất sáng suốt hỏi tầm bậy hay có ý gì? Dân ta từ xưa vẫn có truyền thống cấm tiệt những người cùng họ liên hệ tình cảm bất chính với nhau. Đó là tội loạn luân. Những người vì lý do nào đó đưa đến lầm lỡ đều bị xã hội lên án gay gắt, phần nhiều phải chịu chết hoặc bỏ xứ mà đi. Gia đình liên hệ với người phạm tội cũng bị trừng phạt rất nặng: Chính gia trường phải mang lễ vật ra trước quan viên làng xã để xin lỗi. Người ta coi đó là một vết nhục lớn cho tổ tiên, gia tộc. Tại sao Độ lại có tư tường phiêu lưu như vậy? Dung hi vọng đây là một lời ngông cuồng của Độ trong cơn say hoặc chính Dung nghe lầm . . .
Toán hương dũng Lưu Xá đi được hai ngày thì có tin rất phấn khởi đưa về. Bọn cướp ở làng Vân Thê phải để lại ba tên bị thương bị giải lên quan còn bao nhiêu phải bỏ sào huyệt chạy thục mạng để trốn thoát. Người ta cũng cho biết là chàng Độ đã tả xung hữu đột giữa chiến trường tưởng chẳng khác Triệu Tử Long ngày trước. Dân chúng làng Vân Thê vô cùng cảm động trước nghĩa cử của đám hương dũng Lưu Xá. Họ đã tổ chức một tiệc liên hoan lớn ăn mừng với các dũng sĩ Lưu Xá để tỏ lòng biết ơn những dũng sĩ này.
Tin này đã làm tiểu thư họ Trần vừa mừng vừa suy nghĩ. Nàng biết Độ là một người xuất chúng, vượt hẳn hai ông anh ruột mình. Tính tò mò khiến trong đầu nàng dậy lên vài câu hỏi. Tại sao hôm ấy mình không nán lại thăm dò thử Độ muốn nói gì cho biết ? Cách cư xử hôm ấy của nàng có làm Độ buồn không! Và nàng cũng lại thắc mắc chính câu hỏi của Độ hôm trước:
- Ừ, tại sao trời bắt ta và Độ họ hàng với nhau nhỉ?
Nghĩ đến đây Dung lại lắc đầu cười một mình.
Thế rồi, tiểu thư Dung đề nghị với cha tổ chức một bữa tiệc nữa để thưởng công đám hương dũng Lưu Xá mừng thắng trận. ông Lý nghe con gái nói hợp lý thì bằng lòng ngay. Lần này chính tiểu thư Dung đứng ra lo cho bữa tiệc thịnh soạn hơn lần trước nhiều.
Những chức sắc địa phương và đoàn hương dũng đến dự tiệc đông đủ với khí sắc phấn khởi vô cung. Để mở đầu cuộc tiệc, ông Trần Lý tươi cười tuyên bố:
- Đây là bữa tiệc do chính tiểu thư Dung thết đãi ông tướng Độ và đoàn quân viễn chinh thắng lợi trở về.
Lời nói của cha nàng chỉ mục đích đùa vui nhưng vô tình nó làm cho tiểu thư thấy ngường ngượng. Buổi tiệc phải nói là linh đình một phần nhờ cái hồn của nó. Món ăn thức uống nào cũng có vẻ ngon hơn thường tình. Mọi ánh mắt đều có quyền trông chờ, cầu may, hi vọng... Lần này tiểu thư họ Trần đã xuất hiện với vẻ e ấp, không được tự nhiên như lần trước. Mọi người thiết tha yêu cầu nàng hát nhưng nàng nhất định không chịu hát. Hình như những sự kiện đó đã làm cho nàng tăng thêm cái vẻ tôn quí...
Hãnh diện vì đã có được một đạo hương dũng ngoài khả năng tự vệ lại còn có thể mở ảnh hưởng ra các làng lân cận, những vị chức sắc trong làng đua nhau vui chén đến say khướt cả . ông Trần Lý cũng say mèm, người nhà phải dìu ông vào phòng ngủ trước. Các vị lớn tuổi khác cũng được đám con cháu lần lượt đưa về nhà .
Đám hương dũng thì vẫn tiếp tục vui tới khuya. Mãi tới khi các bà vợ của Trần Thừa và của vài anh khác đưa chồng họ về nghỉ thì các chàng trẻ mới lần lượt về theo. Những người chưa lập gia đình, có lẽ ai cũng say sưa ngây ngất ra về với cõi lòng lâng lâng...
Người nhà bắt đầu dọn dẹp. Nhưng giữa chiếu tiệc còn một người chưa chịu về. Lại chính là chàng Độ. Anh ta ngồi gục đầu có vẻ say lắm. Mấy người nhà đề nghị dìu anh về thì anh trả lời không sao, cứ mặc anh, chốc nữa anh tự về. Đối với gia đình này, Độ là cháu chắt thân tín, lui tới thường nên không ai thắc mắc. Anh đã nói thế thì họ cứ để anh ngồi đó. Tiểu thư Dung cho phép các người nhà đi nghỉ rồi khuấy một ly nước chanh mang lại cho Độ.
- Này cậu Độ, cậu say lắm phải không? Tôi mang nước chanh lại cho cậu giải rượu đây, uống đi!
Độ ngồi bật dậy, không còn vẻ gì là say cả, tươi cười:
- Tại tiệc này chị Dung muốn đãi ông tướng Độ nên ông tướng Độ phải ở lại để cám ơn chị Dung chứ say gì! Mà nếu Độ này có say đi nữa thì cũng không phải là say rượu... Chị Dung biết Độ say chi không?
Dung bật cười:
- Cậu khéo ỡm ờ thật! Thôi, khuya lắm rồi! Cậu uống ly chanh này cho khỏe rồi còn về nghỉ kẻo thím chờ!
Không, Độ sẽ chưa về nếu chị Dung chưa trả lời xong cho Độ câu hỏi hôm kia!
Dĩ nhiên là Dung nhớ ngay, biết ngay là câu hỏi gì rồi nhưng nàng vờ vĩnh:
- Cậu nói câu gì? Thím đang trông cậu thật đấy!
- Chị nói trông gì?
Dung ngập ngừng rồi bỗng đùa cợt:
- Thím nói trông cậu . .. lấy vợ để sớm có cháu bồng ?
- Chị vẫn chưa trả lời câu hỏi của Độ. Chính vì sự mong mỏi của thím, Độ mới hỏi chị câu ấy đó. Tại sao trời lại bắt chị và Độ làm bà con?
Thêm chính xác rồi. Lúc này lời nói của người em
họ tai quái ấy không còn làm phật lòng Dung như lần
trước Dung bối rối thật sự, nhưng vẫn lại vờ vĩnh:
- Bà con thì tốt chớ sao! Cậu không nghe nói một giọt máu đào hơn ao nước lã đó à ? Bà con thì gần gũi nhau, thương mến nhau, khi hoạn nạn cứu giúp lẫn nhau, tại sao ông tướng lại không muốn?
- Chị cứ nói lảng! Nếu Độ là ông tướng thật, Độ sẽ cải cách phong tục hết rồi.
Cậu muốn cải cách cái gì ra sao nói tôi nghe thử?
Độ ngập ngừng:
- Nếu Độ được nắm quyền, Độ sẽ cho phép ... những người thương nhau thật tình được lấy nhau ... không bị giới hạn bởi một tập quán nào hết.
Dung giẫy nẩy:
- Cậu nói tầm bậy rồi. Phong tục là đúc kết của kinh nghiệm qua bao nhiêu đời trước mà thành. Không lý tiên tổ mình lại nghĩ sai? Mà dù có sai mình cũng phải tôn trọng theo nghĩa lý làm người.
Độ nói bằng những âm thanh như muốn nhũn ra:
- Chị Dung nói vậy là chị Dung chưa hiểu sự đau khổ của những ai đã yêu với một tình yêu vô vọng. Trời ơi! Yêu một người mà biết chắc không bao giờ được lấy người đó ? Một sự đau khổ tột cùng?
Nói xong câu đó, Độ thở dài. Lần này Dung không dám vờ vĩnh nữa, nàng xúc động thật tình:
- Chị biết lòng cậu rồi. Nhưng như cậu đã biết, phong tục xã hội ta thắt ngặt lắm, gia pháp của Bác cũng rất nghiêm. Cậu phải bớt ngông, phải lấy lý trí mà đè nén cảm tình mới được. Thời gian sẽ giúp cậu qua cơn sóng gió ...!
- Nhưng Độ muốn chị trong trắng mãi cho Độ tôn thờ!
Dung nói giọng nhỏ nhẹ nhưng cứng rắn:
- Cậu không có quyền đó.Chị cũng không có quyền đó Chị còn có cha mẹ và chị nhất định phải tuân lời cha mẹ!
Giọng Độ có vẻ xẵng:
Quyền chị ! Nhưng Độ này nguyền sẽ giết sạch cả
dòng họ người nào lấy chị!
Dung nghe Độ nói lời ấy thì sợ hãi lặng người. Cũng may vừa lúc ấy bà vú tuổi già ngủ không được thấy đèn phòng khách còn sáng thì bước ra:
- Sao cô chưa đi ngủ? Ô! Cậu Độ chưa về à?
Dung khôn ngoan liền nói với bà vú:
- Con mệt người và buồn ngủ lắm rồi vú. Vú chịu khó đợi khi cậu Độ về rồi đóng cửa giùm con!
Độ đành phải chào ra về.

***
Nghe tin đồn toán hương dũng làng Lưu Xá diệt được bọn cướp làng Vân Thê, làng Phú Cối cũng cho người sang cầu cứu. Độ một lần nữa lại làm tướng viễn chinh. Nhưng lần này, khi đám hương dũng Lưu Xá đột nhập được vào sào huyệt lũ cướp thì chỉ còn thấy mấy cái chòi hoang. Bọn cướp quá khiếp sợ sức mạnh của họ nên đã bỏ đi nơi khác trước kịp thời. Những bọn giặc cướp khác ở các làng lân cận thấy vậy cũng đều phải lo di chuyển đi xa, đổi địa bàn hoạt động hết.
Nhờ sự lớn mạnh của đám hương dũng Lưu Xá mà cả một phủ Hưng Hà từ đấy trở nên yên ổn. Uy tín nhà hào phú Trần Lý lên như gió, vang dội cả một vùng.
Tuy những bọn giặc cướp trong vùng không còn nữa nhưng Trần Lý vẫn cho tiếp tục huấn luyện, phát triển lực lượng hương dũng Lưu Xá. ông là người lịch lãm việc đời nhìn xa thấy rộng, đoán biết được thời cuộc sẽ phải xảy ra như thế nào. ông tin rằng lực lượng võ trang của ông thế nào cũng có ngày hữu dụng.
Sự nghiệp nhà Lý khởi đầu bằng những vị anh quân dày công dựng nước, mở đất, cải tổ phong tục và phát huy văn hóa. Những chiến công chinh Chiêm phạt Tống lừng lẫy một thời khiến các lân bang phải e dè kiêng nể. Nhưng đến đời thứ bảy, khi vua Cao Tôn lên trị vì, nhà Lý bắt đầu tuột dốc.
Lý Cao Tôn lên ngôi lúc mới ba tuổi, nhằm vào thời kỳ đất nước khan hiếm nhân tài, gian thần trổ ra như nấm nên vua rất bị ảnh hường. Lý Cao Tôn không được giáo dục kỹ càng nên lớn lên không có được đức tính cao cả của một ông vua. ông chỉ biết chơi bời săn bắn, xây dựng cung điện, xài phí vô độ làm công quỹ cạn kiệt. Muốn bổ sung ngân quỹ quốc gia, vua phải đặt lệ mua quan bán tước, buông thả cho quan lại hà hiếp nhũng lạm, tăng cường sưu thuế nên dân chúng cả nước đều bất mãn. Giặc giã nổi lên khắp nơi trong nước. Các xứ Mán, Thái... và cả Chiêm Thành đều đua nhau làm phản cướp phá liên miên. Quân đội triều đình phải vất vả đánh dẹp mãi mà vẫn không yên được.
Năm Bính Thìn (1208), tên Phạm Du chiêu tập bọn vong mạng nổi lên mưu đồ đại sự ở Nghệ An. Quan Phụng Ngự là Phạm Bỉnh Gi được lệnh đi đánh dẹp. Phạm Bỉnh Gi đã thắng lớn, tịch thu được nhiều của cải đốt sạch được toàn bộ doanh trại cơ sở của quân giặc. Phạm Du thất thế phải bỏ trốn. Nhưng sau đó Phạm Du dò xét biết được trong triều đang có nạn gian thần lộng hành tranh quyền đoạt vị, bèn tìm cách bắt liên lạc với Lý Kinh Hà, một gian thần đang được nhà vua ưa chuộng. Du cho người đem nhiều vàng bạc đút lót Lý Kinh Hà nhờ mưu tính trả thù. Thế là Lý Kinh Hà và đồng bọn đặt điều vu khống cho Phạm Bỉnh Gi đã làm những điều hung bạo giết hại lương dân. Phạm Du lại giả làm gan dâng sớ xin về triều khiếu oan. Thế là vua Cao Tôn mắc mưu bọn gian thần, truyền triệu Phạm Bỉnh Gi về kinh rồi bắt giam lại.
Thấy chủ tướng đánh giặc có công lớn mà lại bị bắt oan, phó tướng là Quách Bốc bất mãn tuyên bố:
- Trong điều có gian thần lộng hành thì tướng sĩ ở trận tiền
không thể yên tâm đánh giặc được. Chúng ta phải về kinh thỉnh cầu Thánh thượng thả chủ tướng ra và trừng trị bọn gian thần mới được!
Chúng quân nghe thế liền hô lớn:
- Chúng ta phải cứu chủ tướng! Chúng ta nhất định phải diệt bọn gian thần!
Thế là chúng quân kéo về kinh thành. Bọn Lý Kinh Hà được tin hoảng hốt lập tức vào tâu với vua Cao Tôn:
- Nay chúng quân làm loạn chính là do ý đồ của Phạm Bỉnh Gi. Như thế là tội trạng của Phạm Bỉnh Gi đã rõ. Xin bệ hạ hãy cho đem Phạm Bỉnh Gi giết ngay đi để tuyệt lòng chúng và tránh hậu hoạn!
Vua Cao Tôn nghe tâu nổi giận phán:
- Phạm Bỉnh Gi đã bị giam mà vẫn ngầm xúi quân sĩ làm phản thật là tội lớn không thể tha thứ được. Vậy, phải đem y ra chém đầu bêu trước cổng thành lập tức để cho bọn phản loạn mất tinh thần!
Thế là Phạm Bỉnh Gi bị đem ra hành hình.
Quân sĩ của Quách Bốc thấy chủ tướng bị bêu đầu thì vô cùng phẫn nộ. Thế là chúng tấn công dữ dội vào kinh thành Thăng Long. Vua tôi nhà Lý đều phải bỏ thành chạy trốn...
Thái tử Lý Hạo Sảm, con vua Cao Tôn, cùng một đám tùy tùng bị giặc đuổi phải chạy miết về miệt Thái Bình. Khi chạy đến địa phận ấp Hải, làng Lưu Xá, Thái tử bị một toán người có võ trang chận lại, một người quát hỏi:
- Các người là ai? Đến đây làm gì?
Thái tử Sảm tái mặt than thở: "Mạng ta cùng rồi !".
Cũng vừa lúc ấy, toán quân truy đuổi của Quách Bốc lố nhố xa xa đang kéo tới. Thấy đường cùng, Thái tử Sảm bèn nói với toán võ trang chọn đường:
- Ta chính là Thái tử Lý Hạo Sảm đây! Các ngươi muốn làm gì thì làm!
Người cầm đầu toán võ trang lập tức quì xuống trước mặt Thái tử. Những người khác cũng vội quì theo. Thái tử Sảm thấy vậy mừng như chết đi sống lại khoát tay:
- Vậy thôi khỏi làm lễ gì cả! Các ngươi thương ta thì cho ta chạy thoát qua đây kẻo bọn phản loạn kia đang đuổi tới đấy!
Người cầm đầu toán võ trang, chính là chàng Độ, liền đứng dậy với vẻ phấn khởi, vui vẻ nói:
- Vậy Thái tử chẳng cần phải chạy nữa? Hãy ở lại đó xem chúng tôi giết bọn giặc này cho! Anh em ơi, chuẩn bị !
Mấy hồi tù-và vang lên. Toán quân đuổi theo thái tử cũng vừa đến nơi. Hai bên xáp lại đâm chém nhau dữ dội. Ban đầu thì toán võ trang địa phương hơi kém thế vì ít hơn. Nhưng những toán thanh niên khác trong làng nghe tiếng tù-và báo động lần lượt kéo ra tiếp ứng mỗi lúc một đông. Toán quân truy đuổi liệu chống không nổi phải bỏ chạy sau khi đã để lại mấy xác chết.
Cùng lúc đó nhà hào phú Trần Lý dẫn một số chức sắc trong làng đã ăn mặc chỉnh tề ra nghênh đón Thái tử Sảm. ông Trần Lý mời Thái tử về tạm cư ngụ tại nhà mình. ông lại đề nghị với Thái tử cho phép ông khởi binh dẹp giặc. Thái tử vui mừng chấp thuận ngay.
Thế là Trần Lý ra lệnh cho TÔ Trung Từ, em vợ ông, cùng hai con Trần Thừa, Trần Tự Khánh và cháu là Trần Thủ Độ lập tức tỏa ra chiêu mộ dân binh. Chẳng bao lâu Trần Lý nghiễm nhiên thành tư lệnh một đạo quân hùng hậu.
Tin chắc không ai dám xâm phạm làng Lưu Xá, vả lại, ông đã chuẩn bị cả hầm bí mật để sử dụng khi cần, Trần Lý vẫn để thái tử Sảm ở nhà mình. Còn ông thì chuẩn bị kéo quân về kinh sư.
Đạo quân của họ Trần với những người chỉ huy mưu lược, với nhiều tay thuần thục võ nghệ, với tinh thần dũng cảm, đã tiến với cái thế chẻ trúc phá ngói. Quân của Quách Bốc không bao lâu tan rã cả.
ổn định tình hình xong, Trần Lý cho người lên Qui Hóa (Phú Thọ) rước vua Cao Tôn hồi kinh. Tiếp đó ông lại cho người về làng Lưu Xá đón Thái tử Sảm.
Nói về Thái tử Sảm, khi về nhà Trần Lý, được Trần Lý dành cho một căn phòng khá đầy đủ tiện nghi và đẹp đẽ để ở tạm. Căn phòng này trước kia ông đã dành cho vị thầy dạy các con cháu ông học hành. Phòng cũng có một số sách do ông thầy để lại, Thái tử có thể đọc giải khuây.
Những người theo hầu Thái tử cũng được sắp xếp chỗ ăn ở gần đó để họ dễ bề hầu hạ Thái tử.
Tuy tạm yên thân, Thái tử vẫn hết sức lo rầu. Mãi đến khi ông Trần Lý đã tuyển mộ được một đội quân khá mạnh, Thái tử mới có chút sắc vui. Sau ngày Trần Lý kéo quân về kinh thành, Thái tử lại mất ăn mất ngủ hồi hộp trông ngóng tin tức. Sợ Thái tử lo rầu mà sinh bệnh, những người hầu tìm đủ cách để làm cho Thái tử khuây. Một hôm người hầu thân tín là Anh Huy thưa với Thái tử:
- Xin điện hạ bớt âu sầu, biết đâu chuyến ở đậu nhà này lại chẳng là duyên lành của điện hạ !
Thái tử ngạc nhiên:
- Ngươi nói gì? Sao lại gọi là duyên lành được?
Tên hầu Anh Huy nét mặt có vẻ cầu tài, thưa:
- Bẩm điện hạ, hạ thần dò biết trong nhà vị hào phú họ Trần này có một giai nhân tuyệt sắc. Hạ thần thấy nàng không thua kém gì những cung nữ ở kinh thành đâu.
Thái tử ngạc nhiên, mắt sáng rỡ lên, hỏi:
- Ngươi không trông lầm đấy chứ? Sao đã mấy ngày ta không hề thấy?
- Bẩm, có lẽ họ ngại ngùng chi đó. Từ hôm ông Trần và các con ông kéo quân về kinh thành, mọi việc trong nhà đều do Trần phu nhân và một bà vú điều hành hết. Tình cờ hôm kia, hạ thần thấy một thiếu nữ tuyệt đẹp từ phòng Trần phu nhân vừa bước ra thì bị Trần phu nhân đẩy trở lại rồi khép cửa liền. Có lẽ đó là con gái của ông Trần...
- Thật ư? Thế mà ở đây đã hơn mười ngày ta cứ tưởng nhà này không có con gái! Vậy, ngươi hãy kín đáo thăm dò mấy đứa ăn ở trong nhà coi thử đúng sai thế nào rồi cho ta hay!
Anh Huy sung sướng thưa:
- Hạ thần sẽ cố gắng hết mình!
Ngay buổi chiều cùng ngày ấy, Anh Huy thưa với Thái tử:
- Bẩm điện hạ, hạ thần đã dò hỏi đích xác, nhà này quả thật còn có một người con gái út, nàng ấy tên Dung.
Thái tử nghe xong nói:
- Nếu thật như thế, về triều ta sẽ thưởng cho ngươi !
Hôm sau, Thái tử cho mời Trần phu nhân lên nói chuyện. Sau khi phu nhân làm lễ bái kiến, Thái tử hỏi thăm qua loa rồi đột nhiên hỏi:
- Ta nghe ông bà còn có một người con gái út, sao đi đâu không thấy mặt ?
Trần phu nhân giật mình. Biết không thể giấu mãi được, phu nhân thưa:
- Bẩm điện hạ, tiện nữ quê mùa xấu xí quá nên không dám cho ra mắt...
Thái tử nói như ra lệnh:
- Không có sao hết, ta đã ở trong nhà phu nhân, phu nhân hãy cho tiểu thư ra đây cho ta biết mặt!
Trần phu nhân đành phải cho người vào mời tiểu thư. Một lát sau, tiểu thư Dung yểu điệu bước ra. Thái tử Hạo Sảm vừa thấy mặt đã choáng váng cả người! Quả thật tiểu thư không khác chi tiên giáng trần! Thái tử cười run run vừa trách vừa nịnh:
- Người như tiểu thư đây phải đúc nhà vàng cho ở mới xứng, sao phu nhân lại nói với ta là quê mùa xấu xí?
Phu nhân nói giả lả cho qua chuyện, sắc mặt không vui lắm. Trong khi đó, tiểu thư Dung thì lại càng làm ra vẻ yểu điệu, duyên dáng...
Thật ra, ngay từ ngày đầu khi Thái tử đến nhà mình, tiểu thư Dung đã nhìn thấy chàng. Cái vẻ quyền quí cao sang của Thái tử đã làm lu mờ ngay hình bóng anh chàng vai u thịt bắp miền quê vừa nhen nhúm trong lòng nàng thiếu nữ. Nàng rất tin tưởng vào sắc đẹp của nàng. Nàng nghĩ nàng có quyền mơ ước, mơ ước vượt qua vùng biển khơi đầy bất trắc với nắng cát rát da luôn sặc mùi tôm cá để đến chốn kinh thành hoa lệ...
Nhưng Trần phu nhân không bao giờ muốn thế. Bà đã không cho tiểu thư Dung ra chào thái tử như tất cả mọi người khác trong nhà khi Thái tử mới đến. Trần Tự Khánh thấy vậy thắc mắc thì bà nói:
- Con gái nhà quê lo thủ phận, ra chào Thái tử để làm gì?
Trần Tự Khánh lại nói:
- Thì mẹ cứ cho em Dung chào Thái tử biết đâu lại không có điều hay? Em Dung cũng sắc nước hương trời chứ kém ai đâu! Không chừng nó được phong hoàng hậu, hoàng phi thì họ mình lại được nhờ!
Phu nhân lắc đầu nguầy nguậy:
- Thôi! Thôi! Đưa con vô nội, bao nhiêu bậc cha mẹ phải ray rứt hối hận cả đời ? Một vạn cung phi mới có một người được lên hoàng phi, hoàng hậu chứ đâu có dễ! Còn bao nhiêu người khác phải sống một đời tối tăm khô héo cả trái tim lẫn thân xác, xa mẹ xa cha, không nếm được một chút ái tình cho tới chết! Các con không biết chứ các triều trước, mỗi lần có lệnh đi tuyển cung phi tại một xứ nào thì lập tức xứ đó, con gái còn tân bị cha mẹ cứ gả thốc gả tháo cho bất cứ chàng trai nào, không phân biệt đui, què, sứt, mẻ... Dù gả cho ai thì ít nhất họ vẫn còn có cơ hội gặp lại con gái của mình, chứ đưa vô cung là hết rồi...
Trần Tự Khánh bật cười:
- Thế chắc cũng có chuyện chàng mù bế được nàng tiên hả mẹ?
- Chứ sao không! Những dịp ấy chán chi những kẻ tật nguyền được người ta mời lấy vợ đẹp!
Dung không đồng ý với mẹ nhưng không dám trái lời Giờ thì nàng hết sức thỏa nguyện. Nàng biết mẹ không vui nhưng nàng tin rằng nàng sẽ không để mẹ phải buồn lâu. Nàng quyết lòng bằng mọi cách phải hớp hồn vị Thái tử. Quả thật, nàng đã thành công dễ dàng... Chẳng bao lâu, hai người đã thề non hẹn biển cùng nhau...
Nhân dịp quan quân về Lưu Xá rước mình về kinh, Thái tử Sảm đã xin đính hôn luôn thể, chấm dứt bao nhiêu mộng ước của những chàng trai Lưu Xá.
Riêng tiểu thư Dung, nàng biết chắc người đau khổ nhất chính là người em họ của nàng. Nhưng trước hào quang rực rỡ của tương lai, đối với người em họ ấy, nàng chỉ có một chút tình thương hại của kẻ bề trên chứ đâu có tình yêu! Nhớ lại lời "Độ này nguyền sẽ giết sạch cả dòng họ kẻ nào lấy chị!", tiểu thư chỉ thấy đó là một lời tức khí của trẻ con.
Vua Cao Tôn sau khi trở lại ngai vàng, ngài rất cảm ơn gia đình họ Trần. Ngài trao hẳn binh quyền cho Trần Lý và phong quan chức cho tất cả những người có công. Con cháu họ Trần trở thành những người có vai vế trong xã hội Đại Việt từ đó.
Chẳng bao lâu sau đó, Trần Lý bị giặc cướp giết. Binh quyền được chuyển sang tay con ông là Trần Tự Khánh.
Khi vua Cao Tôn thăng hà , Thái tử Hạo Sảm lên kế vị lấy hiệu là Huệ Tôn. Vua Huệ Tôn liền phong cho Trần Thị Dung làm Nguyên phi. Vua cũng phong cho cậu ruột của Nguyên phi là Tô Trung Từ làm Thái úy Thuận Lưu bá, Trần Thừa làm Nội Thị Phán thử, Trần Tự Khánh tước Trung Tín Hầu nắm trọn quyền chỉ huy quân đội. Quyền bính triều đình nhà Lý từ đó dần lọt vào tay anh em họ Trần.
Vua Lý Huệ Tôn là người kém cõi, nhu nhược, không biết gì về chính trị, lại quá sủng ái Trần Nguyên phi nên ảnh hưởng cánh họ Trần càng ngày càng lớn mạnh. Bà Thái hậu thấy vậy sinh nghi, tìm cách triệt hạ nàng. Bà thường bảo với những người thân tín:
- Ta thấy Thị Dung nhan sắc thu hút ma quái không khác gì Bao Tự, Đắc Kỷ. Bây giờ bà con dòng họ Thị được Hoàng thượng trao cho các chức vụ then chết trong triều, ta lấy làm lo lắm. Không chừng họ Lý ta sẽ nguy với Thị có ngày. Các ngươi có cách gì để ngăn chặn mầm họa đó không?
Thế rồi bà ra mặt nghiêm khắc với Trần Thị, mặt khác đòi vua Huệ Tôn phải phế bỏ nàng và thâu bớt quyền hành cánh họ Trần.
Trần Thị thấy thế, báo với Trần Tự Khánh. Trần Tự Khánh bèn đem quân đến đòi rước vua và Nguyên phi đi. Vua Huệ Tôn cũng đâm ra nghi ngờ Tự Khánh làm phản bèn giáng Nguyên phi Dung xuống chức ngự nữ.
Tự Khánh dâng sớ xin lỗi nhưng vua Huệ Tôn và Thái hậu phải chạy lên Lạng Sơn để đề phòng bất trắc Trần Tự Khánh lại một lần nữa dâng sớ xin lỗi rồi rước vua và Thái hậu trở về . Vua lại phục chức Nguyên phi cho Trần Thị.
Một hôm, Thái hậu cho mời vua vào cung mà nói:
- Ta nghe sắc đẹp xưa nay vẫn làm nghiêng thành đổ nước không biết bao nhiêu triều đại rồi. Phù Sai anh hùng một thuở đành chết vì Tây Thi. Trụ vương thông minh sáng suốt, sức khỏe phi thường rốt cuộc chết dưới tay Đắc Kỷ. Châu U vương cũng mất tiêu cơ nghiệp vì Bao Tự... Gương người xưa còn rành rành ra đó sao nhà vua không biết xét vậy? Ta yêu cầu nhà vua bỏ ngay con hồ ly tinh Trần Thị Dung đó đi thì may ra họ Lý ta còn giữ được. Nếu không nghe ta, nhà vua sẽ hối không kịp đó !
Vua Huệ Tôn thưa:
- Mẫu hậu già rồi nên suy nghĩ lệch lạc đấy chứ nàng có tội tình gì mà phải bỏ? Mẫu hậu không thấy dù cầm trọng binh trong tay, Trần Tự Khánh vẫn luôn trung thành kính thuận đó sao?
Thái hậu thấy con mình quá u mê ám chướng nổi giận đùng đùng:
- Cái đầu óc heo chó của mày thật không thể nào khai mở được!
Vua Huệ Tôn cũng giận dữ bướng bỉnh nói:
- Con có thể mất giang sơn nhưng không thể để mất Trần Thị!
Thế là từ đó tiếng đồn sự xung đột giữa mẹ chồng và nàng dâu trong cung cấm nhà Lý lan truyền tới ngoài dân chúng.
Một buổi chiều, Trần Thị trong dáng vẻ yếu ớt đến khóc với vua Huệ Tôn:
- Muôn tâu bệ hạ, thần thiếp nhịn đói cả ngày nay rồi!
Vua Huệ Tôn ngạc nhiên:
- Ủa, tại sao Nguyên phi lại phải nhịn ăn?
- Bệ hạ ơi, hình như có kẻ nào đó âm mưu đầu độc thiếp. Trong bữa cơm sáng nay, vừa đưa cơm lên miệng là thiếp thấy rùng mình nên không dám ăn. Cũng may thiếp không đói nên nhịn luôn. Không ngờ tên nữ tì đem cơm ấy cho con mèo ăn thì nó lăn ra chết. Nếu linh tính không báo trước, thiếp đã vong mạng rồi. Bây giờ nữ tì cũng mới dâng cơm lên, thiếp nghi ngờ lắm. Xin bệ hạ cho người đem cơm ấy xét nghiệm thử thì thiếp đội ơn vô cùng.
Vua Huệ Tôn liền cho người đi đem phần ăn của Trần Nguyên phi tới. Vua tự tay đổ xuống cho một con chó ăn. Nào ngờ vừa ăn xong con chó liền lăn ra chết.
Nguyên phi khóc thét lên:
- Bệ hạ thấy đó! Rõ ràng có người muốn hại thiếp. Thiếp làm sao mà ở chỗ này cho nổi! Xin bệ hạ cho thiếp đến một nơi nào an toàn để bảo toàn tánh mạng!
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-14 02:44:56Hoàng Dung>
tình hận (b)
Vua Huệ Tôn nổi giận đuổi ngay mấy người lo việc cơm nước cho Nguyên phi rồi thay hết những người hầu hạ cũ. Cũng từ đó, vua sai người chia phần cơm của mình cho Nguyên phi ăn.
Nhưng Nguyên phi cứ nằng nặc xin được đi ở nơi khác cho được. Bất đắc dĩ, vua phải cùng Nguyên phi đến huyện Yên Duyên, ở tạm nhà tướng quân Lê Mịch rồi vời Trần Tự Khánh đến bảo vệ. Thế là từ đó địa vị của Nguyên phi cũng như thế lực họ Trần càng vững chắc. Thái hậu thấy tình trạng như vậy buồn rầu sinh bệnh mà qua đời. Năm Kiến Gia thứ sáu, Trần Nguyên phi được gia phong làm Thuận Trinh phu nhân rồi sau đó lại tôn phong hoàng hậu.
Khi Trần Tự Khánh mất thì Trần Thừa được đặc cách làm Phụ Quốc Thái úy và Trần Thủ Độ được lãnh chức Điện tiền Chỉ huy sứ là một chức vụ then chốt trong triều. Trần Thừa tuy khá hiền nhưng Trần Thủ Độ lại cương quyết ra thủ đoạn đoạt cơ nghiệp nhà Lý về tay họ Trần.
Không bao lâu sau đó, không biết vì sao tự nhiên vua Huệ Tôn phát chứng điên loạn và lúc nào cũng tỏ vẻ khiếp sợ Trần Thủ Độ. Nhà vua hay uống rượu say sưa suốt ngày. Sau cùng, vua Huệ Tôn nghe theo lời khuyên của Trần Thủ Độ, nhường ngôi cho người con gái nhỏ mới tám tuổi tên Phật Kim tức Chiêu Thánh công chúa rồi đi tu hiệu Huệ Quang thiền sư.
Không bao lâu sau đó, một hôm Huệ Quang thiền sư đang ngồi nhổ cỏ trước chùa Chân Giáo gần kinh đô thì Trần Thủ Độ, bấy giờ đã trở thành Thái Sư nắm hết thực quyền trong triều, đi ngang qua nhìn thiền sư mà bảo:
- Nhổ cỏ thì phải nhổ tận gốc!
Huệ Quang thiền sư nghe nói thế thì trả lời:
- Ngươi muốn nói gì ta đã hiểu rồi!
Hôm sau, Thái Sư Trần Thủ Độ cho người đến mời thiền sư Huệ Quang vào triều bàn việc. Huệ Quang thiền sư biết ý bèn ra nhà sau thắt cổ mà chết.
Chiêu Thánh công chúa từ khi lên ngôi lấy niên hiệu là Lý Chiêu Hoàng, Hoàng hậu Trần Thị Dung trở thành Thái hậu. Thái Sư Trần Thủ Độ giữ quyền phụ chính.
Một hôm, Thái Sư Trần Thủ Độ xin vào yết kiến Thái hậu. Đây là lần đầu tiên từ khi Thái hậu Trần Thị Dung được phong làm Nguyên phi, hai chị em chính thức gặp nhau lại. Trước đó, dù vua còn thơ ấu, Thái hậu chưa hề tham gia triều chánh. Tuy ở địa vị mẫu nghi thiên hạ, lại là bậc chị, vị Thái hậu này không khỏi khiếp sợ trước con người lẫm liệt và tàn độc của Thái Sư Độ. Thái Sư bước vào nhà khách chưa kịp bái kiến thì Thái hậu đã chào trước:
- Thái Sư cần gặp gái góa này có việc gì?
- Muôn tâu Thái hậu, hạ thần muốn thỉnh ý Thái hậu về một vài vấn đề quan trọng.
- Việc nước đã có Thái Sư và triều đình lo rồi, gái góa này biết gì đâu mà hỏi?
Thái hậu thứ lỗi, có chuyện cần hạ thần mới dám phiền đến Thái hậu.
- Vậy thì Thái Sư hãy nói đi!
- Bẩm Thái hậu, việc cơ mật, không thể để cho mọi người cùng nghe!
Thái hậu mời Thái Sư ngồi xuống ghế và ra hiệu cho bọn cung nữ lui ra. Những người hầu của Thái Sư cũng tự động rút lui.
- Bây giờ thì Thái Sư có thể nói rồi.
Thái Sư nhìn thẳng vào mắt Thái hậu, đổi thái độ :
- Chắc hậu còn nhớ những đêm liên hoan của đám hương dũng Lưu Xá ngày xưa?
Thái hậu giật mình. Bà suy nghĩ chốc lát rồi ngập ngừng nói :
- Thái Sư, đầu óc ta mơ hồ lắm rồi, không còn nhớ được điều gì hết.
Thái Sư lặng thinh một chốc rồi cất tiếng:
- Chẳng lẽ một người sắc nước hương trời như hậu mà lại tàn nhẫn đến thế sao?
- Ta đã nói là ta không nhớ gì hết!
- Vậy thì ... hậu quá độc ... ác ...?
Vị Thái Sư oai quyền rúng động trời đất bỗng nhiên ấp a ấp úng nói không nên lời. ông không nhìn Thái hậu nữa, ngồi thẫn thờ gần như bất động, hai dòng lệ từ từ lăn xuống má. Giây phút ấy Thái hậu cũng lặng người luôn. Đôi mắt người đàn bà nửa đời xinh đẹp cũng long lanh ngấn lệ. Một chốc sau bà nói:
- Thôi được rồi! Ta không nhớ gì lắm đâu! Thái Sư nhớ gì hãy thử nhắc giúp ta!
Thái Sư ngẩng mặt lên, lại nhìn thẳng vào cặp mắt Thái hậu:
-Vậy là hậu nhớ cả rồi đấy nhé! Ngày ấy có lần ta đã hỏi hậu "Tại sao trời bắt hậu và ta lại là bà con?", chắc hậu nhớ? Ta cũng có lần nói với hậu nếu ta có quyền, ta sẽ cho phép những người thương yêu nhau được phép lấy nhau, không một điều gì ngăn cản được. Bây giờ ta đã có quyền, ta muốn gì chắc hậu biết!
Thái hậu rùng mình:
- Nhưng ta có bao giờ hứa gì với ông đâu?
- Ta yêu hậu và ta có quyền là được rồi đâu phải đợi hậu hứa ? Ta cho hậu biết, ta thương hậu từ lúc hậu mới lên mười một, mười hai tuổi. Không một lúc nào ta quên được hậu. Ta theo dõi hậu từng mỗi bước chân, từng mỗi việc làm, và nhất là theo dõi tâm tình thương ai ghét ai hay những nỗi vui nỗi buồn của hậu. Sở dĩ lúc bấy giờ ta không dám để lộ ra vì Bác quá nghiêm khắc, nhưng ta nguyện trong lòng bằng mọi giá phải lấy cho được hậu. Cái thằng Sảm khốn kiếp vong ân bội nghĩa đã cuỗm hậu đi làm ta đau khổ vô cùng mấy mươi năm nay rồi! Nếu ta không cứu nó khi nó bị bọn giặc đuổi tới làng Lưu Xá thì đâu đến nỗi! Hậu có thấy vì hậu mà ta phụ luôn lòng mong mỏi của mẹ ta là kiếm cho bà vài đứa cháu để bồng không? Ta dẫu có vợ là công chúa Bảo Châu cũng chỉ là vợ hờ không một chút tình thương. Ngoài hậu ra ta không còn yêu thương ai được nữa. Tâm hồn ta đã cô độc bao nhiêu năm nay, bây giờ ta nhất định đòi hậu phải trả nợ cho ta!
Người thiếu phụ gục đầu khóc thút thít rồi chuyển sang nức nở. Không hiểu bà xúc động vì tấm chung tình hiếm có của người đàn ông hay sợ hãi vì không thể thoát được móng vuốt của con quỷ tình hung hãn!
Thái Sư ngồi im lặng rất lâu. Thái hậu vẫn tiếp tục khóc.
Sau cùng thì Thái hậu gượng gạo nói:
- Ông có quyền thật đấy, nhưng trên nguyên tắc còn có vua, có triều đình, ông sẽ bị mọi người chống đối!
- Hậu nên nhớ rằng, cái gì cũng có lúc thịnh lúc suy Khí số nhà Lý hơn hai trăm năm cai trị bây giờ sắp dứt. Hậu là người họ Trần, một họ đang hưng thịnh nhất. Hậu có nhiệm vụ phải cùng ta giành lấy ngôi báu cho họ Trần. Ta sẽ bước từng bước một thật vững chắc.
Thái hậu lại rùng mình. Bà chợt nhớ lại Trần Thủ Độ còn một lời nguyền nữa "Kẻ nào lấy chị Độ này sẽ giết sạch cả dòng họ kẻ ấy", bà đau đớn nấc lên:
- Thôi! Đừng nói nữa! Ngươi hãy đi đi cho ta yên một chút!
- Thần xin tuân lệnh!
Vị Thái Sư vái chào Thái hậu rồi bước ra ngoài.
Lấy cớ tuyển chọn người làm nội dịch trong cung, Thủ Độ đưa ba người cháu là Trần Bát Cập, Trần Thiêm và Trần Cảnh đều khoảng lứa tuổi bảy, tám vào hầu hạ vị nữ ấu vương. Lý Chiêu Hoàng thích chơi đùa với Trần Cảnh hơn cả. Thủ Độ đã nhân đó lập mưu dàn xếp cho Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh lấy nhau.
Năm Bính Tuất (1226), dưới sự sắp đặt của Thủ Độ, vị ấu vương cuối cùng của nhà Lý đã nhường ngôi cho chồng. Cuộc soán ngôi này không tốn một giọt máu.
Trần Cảnh mở đầu cơ nghiệp nhà Trần lúc mới tám tuổi lấy hiệu Trần Thái Tôn, lập Chiêu Hoàng làm Chiêu Thánh Hoàng hậu.
Anh ruột của vua Thái Tôn, Trần Liễu cũng được ân huệ cưới người chị của Chiêu Thánh là Thuận Thiên công chúa và được phong tước Phụng Càn Vương.
Thái hậu Trần Thị Dung bị giáng xuống làm Thiên Cực công chúa. Bà xuôi tay bỏ mặc cho số phận đưa đẩy.
Để mở đầu sự cải cách phong tục về hôn nhân, triều đình nhà Trần, dưới sự chỉ đạo của Thái Sư Trần Thủ Độ đã tổ chức đám cưới tác hợp cựu Thái hậu Trần Thị Dung với Thái Sư Trần Thủ Độ làm tiêu biểu. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Đại Việt, hai chị em con chú con bác được "chính thức" lấy nhau. Thái Sư Trần Thủ Độ giải thích với hoàng tộc nhà Trần đây là một biện pháp để bảo vệ ngôi báu, bảo vệ huyết thống cao quí của họ Trần khỏi bị loãng đi.
Về phía dân chúng, họ khiếp sợ sự tàn độc của Thái Sư họ Trần không ai dám công khai nói gì nhưng mặt ngầm họ vẫn âm ỉ chê bai, phản đối đủ thứ. Tuyệt nhiên không một họ nào tuân theo sự cải cách phong tục này.
Một thời gian sau, cựu Thái hậu Trần Thị Dung được phong làm Linh Từ quốc mẫu.
Cũng vào năm Bính Tuất, người vợ trước của Phụng Càn Vương Trần Liễu là Thị Nguyệt sinh được một người con trai rất thông minh sáng sủa. Vương hết sức vui mừng, đặt tên là Trần Quốc Tuấn. Vương lại nhờ một thầy tướng giỏi xem thử vận mạng đứa trẻ. Thầy tướng xem quẻ rồi chúc mừng "Đây là một siêu nhân cứu nước giúp đời". Từ đó Vương chuyên tâm lo kiếm thầy giỏi để rèn luyện cho Trần Quốc Tuấn.
Thuận Thiên công chúa vốn có sắc, lại được giáo huấn cẩn thận từ nhỏ trong cung nên công dung ngôn hạnh rất vẹn toàn. Phụng Càn Vương quyến luyến yêu thương nàng lắm. Chẳng bao lâu, nàng công chúa kiều diễm này sinh cho Vương một người con trai cũng khôi ngô không kém gì Trần Quốc Tuấn. Vương đặt tên cho vương tử là Doãn và càng trân quí Thuận Thiên thêm. Năm Nhâm Thìn (1232), trong dịp các tôn thất nhà Lý về làm lễ tế tiên hậu nhà Lý ở thôn Thái Đường, làng Hòa Lâm, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh, Thủ Độ cho đào hầm rồi làm nhà lá lên trên chỗ tế. Khi các tôn thất nhà Lý vào làm lễ, Thủ Độ cho đánh sập hết xuống hầm và chôn sống tất cả. May mắn có một vị hoàng thân tên Lý Long Tường bị bệnh không đến dự lễ được nên thoát nạn. Nghe tin này, ông vội gắng gượng dắt gia đình cải dạng để đi trốn. Sau đó ông kiếm thuyền vượt biển sang nước Cao Ly xin tị nạn.
Để lòng người hết đường hoài vọng nhà Lý, lại lấy cớ ông tổ nhà Trần tên (Trần) Lý, Trần Thủ Độ lệnh cho tất cả những ai còn mang họ Lý phải đổi ra họ Nguyễn. Ai bất tuân đều bị tiêu diệt.
Việc bắt buộc những người họ Lý phải đổi ra họ Nguyễn đã làm cho Thuận Thiên công chúa vô cùng đau lòng. Thế là dòng họ nàng từ đây mất hẳn. Trước sự tàn bạo của viên Thái Sư độc tài, nàng chỉ dám khóc thầm. Những nụ cười tươi như hoa tắt hẳn trên môi nàng công chúa trẻ thay vào đó là cặp mắt lúc nào cũng đỏ hoe.
Ngày kia, Phụng Càn Vương Trần Liễu trong lúc buồn chán, một mình lững thững đến thăm công chúa. Đến nơi, Vương không cho người hầu thông báo trước mà đi thẳng vào phòng công chúa. Thấy công chúa và vương tử Doãn đang ôm nhau mà khóc sướt mướt, Vương dừng bước đứng nhìn. Hai người vẫn không hay biết.
- Con có thương người mẹ đau khổ này không? Cả dòng mẹ tiệt hết rồi! Mối hận tày trời này ai trả cho mẹ đây con ơi!
- Mẹ đừng khóc nữa mẹ ơi! Con sẽ trả thù cho mẹ! Con sẽ trả thù cho mẹ !
Nhìn dáng công chúa xác xơ rũ rượi, nhìn đứa con trai bé bỏng cưng quí thốt lên những lời đau đớn, vương thấy quặn thắt cả lòng. Vương càng thương hai mẹ con lại càng lo lắng. Thế này thì nàng có thể bị Trần Thủ Độ giết mất. Càng thương công chúa bao nhiêu, vương càng căm ghét lòng dạ tàn ác của người chú họ bấy nhiêu. Quá sợ họa tai vách mạch rừng, vương lên tiếng:
- Hai mẹ con đang làm gì đó !
Công chúa hoảng hết đưa tay áo rộng quệt vội nước mắt:
- Chàng đến chơi bất ngờ quá thiếp không hay mà nghinh tiếp thật là có lỗi lớn! Lạy chào Phụ vương đi con !
Vương tử Doãn, cậu bé khoảng bốn tuổi, trông thông minh, kháu khỉnh, cũng vội vàng quệt nước mắt quì xuống:
- Hài nhi kính lạy Phụ vương, chúc Phụ vương thọ cao ngàn tuổi!
Vương khoát tay cho hai người miễn lễ. Đứng lặng một lúc, vương lên tiếng:
- Công chúa và hài nhi phải cẩn thận mới được! Phải đề phòng tai vách mạch rừng! Lòng dạ Thái Sư không ai lường được. Ta rất thông cảm nỗi khổ của công chúa và hài nhi. Ta cũng đau khổ lắm! Hai người có bề nào thì ta cũng khó sống! Nhớ nhé, phải luôn luôn bảo trọng!
Nghe Phụng Càn vương nói, Thuận Thiên công chúa hiểu rằng những gì mới diễn ra giữa hai mẹ con vương đã biết hết. Nàng vội vàng kéo vương tử Doãn cùng phủ phục xuống đất:
-  Mẹ con thiếp đội ơn chàng đoái thương đùm bọc.Mẹ con thiếp xin thề muôn kiếp làm trâu làm ngựa để báo đáp ơn nghĩa sâu dày của phu quân!
Phụng Càn vương rơm rớm nước mắt đỡ hai người dậy:
- Ta cũng thề trọn kiếp này, ngày nào còn sống ta còn bảo vệ công chúa và hài nhi ngày ấy. Ta biết nỗi đau đớn, nỗi hận thù sâu sắc của công chúa. Ta không lấy thế làm buồn đâu ! Công chú a luôn luôn đúng ! Chính dòng họ ta mới là kẻ gây nên tội ác! Nhưng ta xin nhắc lại: Từ rày công chúa phải hết sức cẩn thận mới được! Thôi, bây giờ ta xin cáo từ!
***
Vua Thái Tôn lấy Chiêu Thánh hoàng hậu hơn tám năm mới có kết quả. Năm Quý Ty, Chiêu Thánh sinh được một trai, vua đặt tên là Trịnh. Nhưng nỗi mừng chưa trọn thì nỗi buồn đã đến, chỉ hơn một tháng sau Trịnh bị bệnh đột ngột mà mất. Đây là một biến cố làm hoàng tộc nhà Trần nhốn nháo. Những dư luận không tết cứ xôn xao quanh chuyện quả báo bởi hành động dã man tàn bạo cũng như chuyện loạn luân của họ Trần. Những dư luận ấy có thể không đến tai Thái Sư Trần Thủ Độ nhưng chắc chắn hầu hết mọi người trong hoàng tộc đều phải nghe qua ít nhiều. Rất nhiều gia đình trong hoàng tộc đã liên tục đốt hương cầu nguyện mỗi đêm khiến phần đông dân chúng cũng bắt chước theo. Đến nỗi nghề làm nhang ở kinh thành Thăng Long bỗng trở nên thịnh hành một thời. Một số khác người trong tôn thất nhà Trần còn rủ nhau xuống tóc đi tu...
Chiêu Thánh hoàng hậu sau lần sinh đẻ ấy cũng không thấy dấu hiệu thai nghén nữa. Trong dân gian, những lời truyền đồn cho đây là một hậu quả do vụ chôn sống người dòng họ Lý và tội loạn luân ngày càng lan rộng...
Vua Thái Tôn càng khôn lớn càng cảm thấy khó chịu vì sự chuyên chính của Thái Sư Trần Thủ Độ . Trái ngược với con người đầy mưu mô, độc ác Trần Thủ Độ Trần Liễu cũng như Trần Cảnh tánh tình lại rất
nhân ái nhu hòa. Hai anh em, dù bên ngoài đã thành danh nghĩa vua tôi nhưng bên trong vẫn giữ được nếp huynh hữu đệ cung. Uy tín Phụng Càn vương Liễu cũng ngày càng lên khiến cho Thái Sư Thủ Độ có phần ái ngại. Năm Giáp Ngọ, nhà vua cải phong cho Phụng Càn vương làm Hiển Hoàng (hoàng đế hiển hách) với hi vọng tăng uy tín cho người anh mình lên, chia bớt quyền hành trong tay người chú họ. Nhưng âm mưu ấy làm sao qua mắt được con người gian hùng tuyệt kỹ như Trần Thủ Độ! Việc đó rết cục chỉ dẫn đến tai họa cho gia đình Trần Liễu.
Vào tháng sáu năm Bính Thân (1236), trời mưa lụt lớn. Trận lụt kéo dài làm cho việc làm ăn, đi lại của dân chúng trên vùng châu thổ Hồng hà hết sức khốn đốn vất vả Ngay cả kinh thành Thăng Long cũng bị nước tràn vào. Hôm ấy tới buổi chầu, các quan vào triều đều phải đi bằng thuyền. Trần Thị Dung phu nhân, cũng là cựu Thái hậu, vợ Thái Sư Trần Thủ Độ, cũng lên một chiếc thuyền để vào triều. Trên đường đi, một người hầu của phu nhân là An Nhiên thấy trời mưa lụt quá nhiều ngày, trong lòng lại hậm hực chi đó, buột miệng than thở:
- Chắc là trời phạt tội loạn luân của người trần thế đây ! Một họ cứ lấy nhau đi rồi chết hết cho coi!
Không ngờ lời than ấy lại lọt tai một người hầu khác Thế là đến tai Trần phu nhân. Lúc đó thuyền đang đi qua gần cung Lệ Thiên. Như bị móc vào tim gan, phu nhân giận lắm, liền sai người xô An Nhiên xuống nước. Mặc cho An Nhiên chới với khóc lóc, phu nhân vẫn bỏ mặc, cứ thúc thuyền đi tiếp tục. Vì trời mưa gió chẳng mấy ai vào ra nên người trong cung Lệ Thiên cũng chẳng hay biết gì.
Nhưng số An Nhiên chưa chết. Nước lụt tuy dâng cao lai láng nhưng không chảy xiết khiến nàng chỉ phải ngắc ngoải hụp lặn rồi vịn được vào một thân cây mà kêu cứu. May sao, thuyền Hiển Hoàng Trần Liễu vào triều cũng đi ngang qua đó. Hiển Hoàng cho người vớt An Nhiên lên rồi cho đưa vào cung Lệ Thiên hơ sưởi nhờ, xong xuôi Hiển Hoàng mới vào triều.
An Nhiên trước đây là cung nữ Lý triều, hầu hạ Trần Thái hậu trong cung. Khi Thái hậu bị giáng làm Thiên Cực công chúa và kết hôn với quan Thái Sư thì bà đem một số cung nữ đó (nhà Trần hết dùng) theo về với mình. Trong lúc quá tức giận, Trần phu nhân đã cho xô An Nhiên xuống nước. Nhưng khi đi rồi thì bà cũng cảm thấy ân hận. Dù sao, An Nhiên cũng là người xưa nay rất trung thành tận tâm hầu hạ bà. Xong buổi chầu, Trần phu nhân cho thuyền ghé lại cung Lệ Thiên hỏi thăm. Thấy An Nhiên đã được cứu sống, bà hỏi chuyện rồi cho lên thuyền trở về với bà. Sau đó, Trần Thị đem sự việc đã xảy ra kể lại với chồng.
Thái Sư nghe vợ kể chuyện này xong thì mắt ngài sáng rỡ lên. Ngài lập tức cho đòi nàng An Nhiên đến phòng làm việc trong tư thất. Trước mặt Thái Sư, An Nhiên sợ hãi quì lạy dưới nền đất. Thái Sư đuổi tất cả tả hữu ra ngoài rồi quắc mắt giận dữ:
- Con tiện tì! Mày biết mày đã tới số chết chưa? Tại sao mày dám mở miệng nói xấu hoàng gia? Ai xúi mày?
An Nhiên run lên cầm cập. Nàng ấp úng van lạy:
- Tiện nữ trót dại lỡ lời, xin Thái Sư lấy lượng hải hà tha tôi chết cho, tiện nữ xin muôn kiếp làm trâu làm chó để báo đáp!
Thái Sư vẫn thái độ giận dữ:
- Không thể được! Mày đã xúc phạm đến hoàng gia thì mày đương nhiên phải chết! Mày có biết là bất cứ ai trên đất nước này, hễ ta cho sống là sống, ta cho chết thì phải chết không? Con tiện tì khốn kiếp!
Nàng cựu cung nữ đã thấy được bao nhiêu hành động tàn ác của Thủ Độ trước đây. Như con nhái đã bị thôi miên trước con rắn lớn đang vươn cổ, An Nhiên run bần bật đến độ không còn giữ nổi thân thể, nàng rục người xuống...
Trần Thủ Độ gằn giọng:
- Con tiện tì ! Mày rất xứng đáng lãnh tội chết. Nhưng mày vốn là gia nô của nhà này, ta muốn cho mày một con đường sống nếu mày làm được một việc!
An Nhiên đang thảng thốt mơ màng nghe tiếng Thủ Độ nói cho một con đường sống thì đầu óc dần bình tĩnh lại mặc dầu người nàng vẫn run bần bật.
- Con tiện tì! Mày nghe rõ chưa? Chọn chết hay chọn sống?
An Nhiên gắng gượng cố lấy hết can đảm thưa:
- Bẩm Thái Sư, tiện nữ muốn sống. Thái Sư bắt làm việc gì tiện nữ cũng xin tuân lệnh! Khó khăn mấy tiện nữ cũng không dám chối từ!
- Được! Nếu mày làm trôi tròn việc này không những khỏi chết mà còn được thưởng nữa. Đây là việc của mày...
Khắp kinh thành Thăng Long bỗng nhiên xôn xao lên cái tin cựu cung nữ An Nhiên tố cáo Hiển Hoàng Trần Liễu hiếp dâm nàng tại cung Lệ Thiên trong ngày đi chầu. Việc tố cáo này được sự làm chứng của mấy cung nữ tại cung Lệ Thiên. Đình thần phải họp để bình nghị. Hiển Hoàng kêu cả mấy người hầu đi theo ra làm chứng cho mình để minh oan nhưng không ai tin hết. Kết quả là Hiển Hoàng bị giáng xuống làm Hoài vương. Uy tín, danh vọng của Trần Liễu coi như tan nát vì chuyện này. Trần Thái Tôn vốn rất tôn kính Trần Liễu vì xưa nay Liễu vẫn sống rất đạo đức. Nhà vua không thể nào ngờ người anh mình lại có một hành động tồi bại đến thế. Nhưng qua người tố cáo và bao nhiêu người làm chứng như thế thì làm sao không tin cho được! Nhà vua cảm thấy đau lòng lắm!
 Họa vô đơn chí, Thuận Thiên công chúa chưa nguôi nỗi đau diệt tộc thì nhận tiếp cái đòn sấm sét này. Nàng hiểu Trần Liễu hơn ai hết. Nàng biết Trần Liễu là người không tán thành việc người cùng họ lấy nhau. Nàng biết là Trần Liễu rất thương người, nhất là những người sa cơ thất thế. Nàng biết Trần Liễu không thể là hạng làm càn được. Trần Liễu chỉ có khuyết điểm là không dám cương cường trong việc đua tranh.
Sau vụ án cưỡng dâm, Hoài vương Trần Liễu bệnh liệt giường một thời gian. Có lẽ do nguyên nhân buồn phiền, uất giận. Mỗi ngày Thuận Thiên công chúa đều vào săn sóc, vấn an vương. Một hôm vương rưng rưng nước mắt hỏi Thuận Thiên:
- Công chúa có tin là ta làm việc tồi bại đó không?
Công chúa cũng rớm lệ trả lời:
- Thiếp biết chàng, thiếp không thể nào tin chàng làm việc đó! Nếu thiếp tin là chàng có hành động như thế làm sao thiếp có thể vào đây hàng ngày để tận tụy săn sóc chàng được? Nhưng thiếp không thể đoán biết vì sao con tiện tì ấy lại vong ơn bội nghĩa vu vạ cho chàng như thế! Nhưng thôi, chẳng qua do vận mệnh sắp đặt hết. Chàng hiểu thiếp, thiếp hiểu chàng là đủ rồi...
Sau khi lành bệnh, Hoài vương Liễu không còn thích đi đây đi đó nữa. Ngoài những lần đi chầu, vương cứ quanh quẩn trong nhà, chăm sóc việc học hành cho vương tử Tuấn và vương tử Doãn. Vương rất hài lòng vì mình đã tìm được những ông thầy xứng đáng dạy dỗ cho hai con. Cả hai vương tử đều học đâu nhớ đó, học một biết hai. Nhất là vương tử Tuấn đã tỏ ra tài ba nhiều mặt. Đó là niềm an ủi rất lớn cho Hoài vương Liễu và Thuận Thiên công chúa.
***
Sáng kia, lúc Hoài vương Liễu định đi thăm coi việc học hành của hai vương tử Tuấn và Doãn thì một thị nữ của Thuận Thiên công chúa xin vào ra mắt. Vương lo lắng hỏi:
- Công chúa muốn gặp ta có chuyện gì?
- Khải bẩm vương gia, công chúa mời vương gia đến để báo tin gì đó. Tiện tì cũng không biết là tin gì. Vương nghe nói trong lòng rất nôn nóng hồi hộp. Giữa kinh thành Thăng Long phồn hoa mà bấy lâu nay vương vẫn sống như một ẩn sĩ. Như con chim đã bị ná bắn thấy cành cong, ngoài vợ con ra, vương không muốn tiếp xúc với ai hết. Vương cũng tránh va chạm với bất cứ một vị quan nào trong triều, Vương nghĩ rằng ai cũng có thể là cạm bẫy. Nếu không phải là anh ruột của đương kim thiên tử, có lẽ vương đã bị diệt tộc rồi. Thời gian gần đây, vương thấy Thuận Thiên công chúa rất ít khi có nụ cười. Nàng vốn đã kiều diễm, nỗi sầu muộn lại càng làm tăng vẻ kiều diễm ấy, càng hun hút khuấy sâu vào lòng vương. Khiến nhiều lúc nhìn công chúa, vương lại liên tưởng đến một cái gì phù du, vô thường. Vương lại càng cảm thấy thương yêu công chúa vô bờ.
Mặc dầu đã sống thu mình tối đa, nỗi lo vẫn không khi nào rời đầu óc vương. Cho nên khi nghe con nữ tì báo, vương vội vàng đến phòng công chúa.
Nhưng gặp mặt Thuận Thiên, vương sững sờ chưng hửng. Một nụ cười thật tươi đang nở trên môi công chúa. Lạy Phật lạy thánh! Các ngài đã cứu vớt một linh hồn đau khổ! Đã quá lâu rồi vương không thấy nụ cười tươi nào của công chúa như thế. Cõi lòng của Vương lâu nay cũng như đám đất khô cằn vì hạn hán nay chợt gặp được một trận mưa rào, Vương sung sướng vồn vã hỏi:
- Công chúa có tin gì vui cho ta hả?
Công chúa nũng nịu:
- Phu quân thử đoán xem đi! Hoàng thiên hữu nhãn! Thiếp đã biết chắc là sẽ hiến cho chàng một vương tử nữa đó! Trời không phụ người giữ đức, phải không chàng!
Hoài vương Liễu nghe xong mừng rỡ lắm:
- Đúng là ông trời có mắt! Đúng là ông trời có mắt!
Nhưng vương cũng chợt thấy hơi áy náy vì lời nói của mình. "ông trời có mắt" hay "trời không phụ người giữ đức" phải chăng là những lời vô tình xúc phạm đến vua Thái Tôn! Vua Thái Tôn đâu có làm gì thất đức! Cái vẻ sung sướng, vui mừng hồn nhiên của công chúa làm cho vương càng yêu mến. Vương cười nói khỏa lấp:
- Thôi, trời cho ai nấy hường' Ta hãy mở tiệc ăn mừng!
Khi vương sắp cắt đặt gia nhân tổ chức tiệc mừng thì có thánh chỉ đến.
Hoài vương liền cho đốt hương và quì nghe thánh chỉ:
Vâng mệnh trời, Hoàng Đế chiếu rằng,
Xét rằng, các trấn phía Bắc trong thời gian qua, trời hạn hán lâu ngày nên mùa màng không được khá. Dân chúng có phần chịu đói kém.
Một số người xấu đã lợi dụng thời cơ tụ tập cướp bóc làm cho dân chúng càng sống không yên.
Một số quan lại địa phương không làm tròn trọng trách chăn dân, bảo vệ dân.
Nay trẫm ủy thác hoàng huynh Hoài vương đi tuần thú và ủy lạo dân chúng ở các trấn nói trên. Hoàng huynh được toàn quyền thay mặt trẫm giải quyết tại chỗ cấp thời các vụ việc xảy ra có hại đến nền an ninh quốc gia.
Quan lại địa phương phải triệt để tuân hành chiếu chỉ này!
Khâm thử!
Hoài vương nhận chiếu chỉ vừa mừng vừa bối rối. Chuyến đi này nhanh lắm cũng phải hơn ba tháng. Tiệc mừng vợ có thai thành kiêm luôn tiệc "chén đưa nhớ bữa hôm nay...". Hoài vương cùng Thuận Thiên đối ẩm. Thấy Thuận Thiên có vẻ lo lắng, lưu luyến, vương nói:
- Công chúa đừng lo! Ta sẽ hoàn thành sứ mạng mà về sớm để nàng đỡ trông chờ.
Cao hứng, vương cầm gươm múa và ngâm:

Đại nhậm sứ trình phải ruổi dong,
Ta đi, nhất đinh sớm thành công!
Ơn vua, lộc nước mình đâu thẹn!
Đầu bạc bên nhau trọn vợ chồng.

Thuận Thiên cũng cao hứng nói:
- Chàng đã vui vẻ như vậy thiếp không vui sao được! Đây là cơ hội để đấng nam nhi đền ơn vua lộc nước há lẽ thiếp không hướng ứng với chàng? Vậy thiếp cũng xin họa mấy vần:

Tuổi già muốn hưởng cảnh thong dong,
Trai trẻ bây giờ phải gắng công!
Chàng đã hăng say lo việc nước,
Thiếp đâu để thẹn với con, chồng!

Thế rồi cả hai người cùng cụng chén đến say vùi...
***

Vụ án cưỡng dâm cung nữ ở cung Lệ Thiên tuy làm vua Thái Tôn bực mình nhưng ngài hoàn toàn im lặng. Mọi việc ngài để mặc Thái Sư và triều đình quyết định. Dù Trần Liễu đã bị giáng chức tước, vua Thái Tôn vẫn tỏ ra niềm nở kính trọng, không có một lời khiển trách làm cho Thái Sư Thủ Độ không hài lòng. Trong thâm tâm vị Thái Sư ngày mỗi già, ông rất ngại một ngày nào đó có thể uy tín Trần Liễu lại được phục hồi trong lòng vua Thái Tôn. ông sợ lòng nhân của hai anh em ông vua trẻ có thể tạo cơ hội cho những người còn luyến tiếc nhà Lý vùng đậy đạp đổ cơ đồ mà ông đã đem hết tâm huyết ra gây dựng. ông biết ân đức của nhà Trần chưa thấm nhuần bao nhiêu trong lòng dân, họ chỉ khuất phục vì bạo lực. Những đám dư đảng của Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng vẫn còn hoạt động nhiều nơi. Ngoài ra, khi Trần Thừa còn sống, thấy Thủ Độ có vẻ ưa lấn quyền, Trần Liễu thường lộ vẻ khó chịu ra mặt. Thủ Độ biết nhưng để bụng. Bây giờ Thủ Độ đã nghĩ tới ngày ông phải nằm xuống, ông càng lo lắng nhiều mặt. Vua Thái Tôn đã hai mươi tuổi mà
chưa có con. Trần Liễu thì ông không ưa. ông nghĩ Liễu là kẻ bất tài, nhu nhược. Thế mà vua Thái Tôn lại nể nang Liễu quá! Cái ngai vàng dưới mắt ông còn bấp bênh lắm. Càng lo sợ ông lại càng giận ghét Trần Liễu.
Vào năm Đinh Dậu, một hôm Thái Sư Trần Thủ Độ cho mời hai người em họ thân tín là Hải Dương hầu Trần Phong, Sơn Nam hầu Trần Tú đến nhà riêng. Trần Thủ Độ trình bày:
- Ta mời quí hầu đến đây với mục đích bàn cách bảo vệ cơ nghiệp nhà Trần của chúng ta. Vua lập hoàng hậu đã hơn mười hai năm mà vẫn không con nối dõi, như thế hoàng hậu đã phạm "thất xuất". ' Không con là tội đầu trong bảy tội: không con, dâm dật, không thờ cha mẹ chồng, lắm điều, trộm cắp, ghen tuông, có ác tật Người vợ phạm một trong bảy điều ấy thì gia đình người chồng có quyền đuổi trả về với gia đình cũ. Đó là luật lệ định sẵn xưa nay. Ta muốn quí hầu cùng ta yêu cầu vua Thái Tôn phải truất ngôi Chiêu Thánh để lập hoàng hậu mới. Quí hầu nghĩ sao?
Trần Thị, mẹ Chiêu Thánh, nghe chồng nói như thế, bà rất hồi hộp xúc động. Số phận đứa con gái của bà hẩm hiu đến thế sao ? Đang ở ngôi vị thiên tử bỗng trở thành hoàng hậu. Bây giờ lại rớt xuống tới đâu nữa đây! Bà hết sức sợ hãi cho con mình. Đã một thời ở ngôi hoàng hậu rồi thái hậu, bà có phương tiện để đọc sách vở nói về các triều trước. Một ông vua bị hạ bệ thường không bị chết vì cách này cũng chết vì cách khác Một hoàng hậu bị giáng thì thường chết tại lãnh cung. Nếu không bị vua quyết lòng giết hại thì cũng bị tân hoàng hậu ra tay để dứt đường trở lại của đấng quân vương. Và thói thường, theo quan niệm của người đương thời, một người đàn bà bị đuổi vì phạm thất xuất là một vết nhục lớn cho tổ tiên, cha mẹ . Bà đã quá biết tính chồng mình. ông đã nghĩ ra điều gì là nhất quyết làm cho kỳ được. Bà lặng người cau mày suy nghĩ rồi đề nghị cầu may:
- Theo thiếp nghĩ, nếu Hoàng Thượng không con, ta có thể chọn trong số con cháu hoàng gia một người để làm con nuôi cũng được. Hoàng Thượng và hoàng hậu đều còn quá trẻ, xin hoãn một thời gian nữa nếu hoàng hậu vẫn không sinh, sẽ lập người khác cũng không muộn!
Hải Dương hầu Trần Phong thưa:
- Bẩm Thái Sư, đại tỉ nói có lý đấy. Tạm thời cứ lập một vài người trong số con cháu hoàng tộc làm con nuôi cho Hoàng Thượng như ý đại tỉ cũng được. Vua và hoàng hậu đều còn quá trẻ lo gì không con!
Sơn Nam hầu Trần Tú cũng lên tiếng:
- Bẩm Thái Sư, phải đấy, tạm thời mình nên chọn con nuôi cho Hoàng Thượng đã. Ngu đệ cũng xin tán thành ý kiến của đại tỉ và Hải Dương hầu.
Thái Sư Thủ Độ nghiêm nghị nói:
- Ta biết các ngươi vì Chiêu Thánh mà nói thế chứ không phải vì nhà Trần. Bây giờ ta còn đây thì nhà Trần tạm vững đấy. Nhưng nếu ta nằm xuống, vua sẽ nể thằng Liễu để cho nó thao túng. Mầm loạn có cơ dấy lên và cơ nghiệp nhà ta có thể tiêu tan. Cho nên ta phải tính trước. ý ta đã quyết, phải giáng Chiêu Thánh rồi lập Thuận Thiên làm hoàng hậu, như vậy thằng Liễu quá thương Thuận Thiên sẽ đâm ra hận nhà vua. Anh em bất hòa thì thằng Liễu sẽ không còn cơ hội để gần vua mà chi phối được nữa. Như thế ta mới thật an tâm. Vậy, các ngươi phải vì nhà Trần mà tiến hành kế hoạch đó!
Trần Thị hoảng hốt quì xuống năn nỉ:
- Nếu thế thì số phận Chiêu Thánh sẽ ra sao? Xin phu quân vì thiếp mà hoãn chuyện ấy lại đã. Hơn nữa, hiện tại Thuận Thiên đã có thai nghén ba tháng. Đưa Thuận Thiên về làm hoàng hậu sao tiện?
Thái Sư trả lời cương quyết:
- Ta đã nói một là một, hai là hai! Cả dòng họ Lý ta diệt hết thì sá gì một con đàn bà của họ Lý? Lại nữa, phu nhân và nhị hầu không đề nghị để Hoàng Thượng nuôi con nuôi đó sao? Lỡ Hoàng Thượng không có con nữa thật thì sao? Thuận Thiên trở thành hoàng hậu thì con của Thuận Thiên muốn nói là con nuôi hay con đẻ của vua đều được cả không tiện sao? Bây giờ ta chỉ muốn các ngươi ngày mai cùng ta yêu cầu Hoàng Thượng thực hiện kế hoạch ấy! Tuy nhiên, kế hoạch phải đi từng bước một. Buổi chầu đầu, chúng ta chỉ nêu vấn đề truất phế hoàng hậu Chiêu Thánh và thi hành trước. Như vậy mới giảm bớt được phản ứng của Hoàng Thượng. Đợi ổn định chuyện ấy xong thì tiến hành bước kế tiếp,. tức là đưa Thuận Thiên lên ngôi vị hoàng hậu, có thể là phải vài ba ngày sau. Giờ đây thằng Liễu đang đi tuần thú chưa về không làm thì còn đợi khi nào nữa? Ngày mai vào chầu, Sơn Nam hầu nhớ coi như người chủ động nêu ra vấn đề. Tiếp đó, Hải Dương hầu lên tiếng tán thành và bổ túc thêm. Ta sẽ là người vì triều đình khen ý kiến nhị hầu là đúng và đề nghị tất cả triều thần đưa ý kiến biểu quyết. Dĩ nhiên triều đình sẽ không có ai phản đối. Các ngươi phải hiểu đây là một mệnh lệnh!
Trấn Thị đứng sững sờ trong khi Hải Dương hầu, Sơn Nam hầu đều nói:
- Tuân mệnh! Tuân mệnh!
***
Trong buổi chầu hôm sau, dưới áp lực của Thái Sư và triều đình, căn cứ vào điển lệ, vua Thái Tôn không có lý do để bảo thủ đành phải chấp thuận việc giáng chức hoàng hậu thành Chiêu Thánh công chúa.
Vua Thái Tôn không hề ngờ ngài vừa đồng ý thì lập tức Thái Sư Trần Thủ Độ cho mang tờ chiếu chỉ trình ra liền. Sự việc xảy ra quá đột ngột làm nhà vua sững sờ chốc lát. Ngài biết mọi chuyện đã được sắp đặt rồi. Ngài thẫn thờ đọc tờ chiếu chỉ, như kẻ vô hồn, ngài cầm bút phê vào rồi hờ hững trao cho quan giữ ấn Sau đó, chiếu chỉ được quan Hành Khiển tuyên đọc trước bá quan:
Trẫm nghe thánh đạo dạy rằng: "Bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại ". Đối với một người dân thường còn thế, huống trẫm lại mang trọng trách chăn dắt muôn dân, nắm giữ vận mệnh một nước! Nếu trẫm không có con kê tự thì lại càng đắc tội với trời, đắc tội với các đấng tiên vương.
Xét rằng, Lý Thị, tức Chiêu Thánh công chúa được lập làm hoàng hậu nay đã mười hai năm. Thế nhưng Lý Thị không đủ sức cho trẫm được một hài nhi để chuẩn bị kê tục trọng trách trời đã giao phó cho trẫm. Như vậy tức Lý thị đã không được trời thương và lại phụ lòng tin cậy của trẫm.
Xét rằng, căn cứ vào phong tục nước Đại Việt ta, người đàn bà không sinh con để nối nghiệp cho gia đình chồng là phạm tội đầu tiên trong bảy tội gọi là "Thất Xuất" mà gia đình chồng có quyền đuổi về cha mẹ cũ.
Vậy nay truất Lý Thị Chiêu Thánh là đương triều hoàng hậu xuống làm Chiêu Thánh công chúa. Sau khi nghe chiếu chỉ này, Chiêu Thánh công chúa phải lập tức rời cung hoàng hậu và đến chỗ ở mới theo sự sắp xếp của triều đình. Từ đây, nếu không có thánh chỉ triệu thì không được tự tiện vào cung.
Bộ Lễ, bộ Hộ cùng Chiêu Thánh công chúa phải triệt để thi hành thánh chỉ này!
Khâm thử!
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-14 02:54:20Hoàng Dung>
tình hận (C)
Vua Thái Tôn rất thương yêu Chiêu Thánh. Ngài không muốn phải xa lìa Chiêu Thánh. Mười hai năm chung sống cùng Chiêu Thánh tâm đầu ý hiệp với bao nhiêu kỷ niệm đẹp, thế nhưng chỉ vì thói tục mà ngài chưa tin là chính xác, đành phải chia tay! Chiêu Thánh đâu phải vô sinh! Bằng chứng là Chiêu Thánh đã sinh một lần nhưng không may hoàng tử lại đoản mệnh! Ngài cảm thấy thẹn khi nghĩ tới bất cứ một người dân tầm thường nào cũng có thể làm chủ gia đình họ. Còn ngài, mang danh nghĩa một đấng quân vương mà không có một chút thực quyền. Ngài đã hai mươi tuổi mà mỗi việc làm của ngài đều do người khác giựt dây. Muốn bảo bọc cho người mình từng chung sống với bao nhiêu thương yêu mà ngài cũng không thể nào bảo bọc nổi. Cái ý nghĩ từ bỏ ngai vàng bắt đầu nhen nhúm trong óc ngài. Ngài đâu muốn làm kẻ bù nhìn chìm đắm trong hư danh! Lúc này, mắt nhìn những công văn trình tấu của các quan mà đầu óc ngài cứ để tận đâu đâu. Rốt cục ngài phải xếp lại để lúc khác phê duyệt. Ngài thẫn thờ về cung với ý định hàn huyên với Chiêu Thánh một lần chót trước khi chia tay.
Nhưng thật bất ngờ ! Khi vua Thái Tôn ngự tới cung hoàng hậu thì Chiêu Thánh công chúa đã bị cưỡng bách thi hành thánh chỉ dời đi nơi khác rồi. Thái Sư đã cho làm việc đó quá nhanh chóng. Vậy là ngài không có cơ hội để có đôi lời phân trần, an ủi hay từ biệt Chiêu Thánh. Và như thế, có thể Chiêu Thánh sẽ hiểu lầm ngài suốt đời. Điều đó làm cho ngài vô cùng đau đớn. Chiều đó ngài bỏ luôn cả bữa ngự thiện.
Suốt đêm, vua Thái Tôn không thể nào chợp mắt được Những kỷ niệm giữa ngài và Chiêu Thánh cứ vòng vòng sống lại trong óc ngài...
Thuở ấy, Chiêu Thánh còn là một vị Hoàng đế của Đại Việt niên hiệu Lý Chiêu Hoàng. Là Hoàng Đế nhưng Chiêu Hoàng chỉ là một cô gái ngây thơ mới lên tám. Trần Cảnh, Trần Thiêm, Trần Bát Cập cũng lứa tuổi đó được Thái Sư Thủ Độ cho đưa vào cung để phụ việc nội dịch. Chiêu Hoàng rất thích chơi đùa với Trần Cảnh Một hôm Chiêu Hoàng khiến người đổ nước vào bể tắm rồi nói với Trần Cảnh:
- Bây giờ ta với ngươi tạt nước nhau xem ai bị ngộp trước nhé!
Trần Cảnh tuy còn nhỏ nhưng khôn ngoan, đã được dạy dỗ kỹ về bổn phận của mình nên khiêm cung nói:
- Hạ thần không dám xúc phạm đến mình rồng!
- Nếu bệ hạ muốn, thần sẽ đứng đây cho bệ hạ muốn tạt nước bao nhiêu thì tạt!
Chiêu Hoàng cười sung sướng:
- Thế là tại ngươi đấy nhé ! Bây giờ ngươi đứng yên cho ta tạt nước!
Chiêu Hoàng vừa cười sặc sụa vừa tạt một hồi làm cho Trần Cảnh ướt đẫm cả người. Ngày ấy trời không được ấm nên Trần Cảnh bị thấm nước lạnh run lên mà vẫn đứng chịu trận. Chiêu Hoàng bỗng ngừng tay tiến lại rờ đầu tóc Trần Cảnh hỏi:
- Ngươi không lạnh à?
Trần Cảnh lễ phép trả lời:
- Lạnh thì quả lạnh lắm chứ. Nhưng bệ hạ ban lạnh thì thần phải chịu lạnh vậy!
Nghe Cảnh nói, Chiêu Hoàng mở to đôi mắt đen láy đầy vẻ cảm động. Vị ấu vương cởi chiếc áo đang mặc ngoài của mình khoác lên thân Trần Cảnh:
- Lỗi tại ta cả . Ta đền cho ngươi đó!
Trần Cảnh vẫn mặc đồ ướt và khoác chiếc áo ngoài của ấu vương. Chiêu Hoàng tự tay đi lấy lược chải tóc cho Cảnh...
Hôm ấy, Trần Cảnh về nhà kể lại chuyện cho Thủ Độ nghe. Thủ Độ cười:
- Đây là điềm tốt cho họ Trần ta đấy!
Lần khác, trong một cuộc chơi, Chiêu Hoàng nghịch lấy khăn trầu ném cho Trần Cảnh. Trần Cảnh cũng về kể lại với Thủ Độ. Thủ Độ nói:
Nếu thật thế không biết họ ta thành hoàng tộc hay diệt tộc đây!
Sau đó, Thủ Độ trầm trồ dặn dò Trần Cảnh phải ứng đối thế nào khi có trường hợp tương tự xảy ra.
Không cần phải đợi lâu, chỉ mấy ngày sau Chiêu Hoàng lại chơi trò ném khăn trầu cho Trần Cảnh. Nhưng lần này thì Trần Cảnh hai tay cầm chiếc khăn trầu thưa :
- Bệ hạ có tha tội cho thần không? Thần xin vâng mệnh!
Chiêu Hoàng cười vang lên và nói:
- Tha tội cho ngươi ! Tha tội cho ngươi! Nay ngươi biết khôn rồi đó!
Chiêu Hoàng lại lấy khăn trầu phủ lên đầu Trần Cảnh vừa kéo vừa cười.
Trần Cảnh lại đem chuyện đó kể lại với Thủ Độ. Theo tục dân gian xưa, con gái nhà quyền quí hay chọn chồng bằng cách ném cầu. Người con gái ném cầu trúng ai hay ai bắt được cầu thì người ấy được chọn. Trường hợp ném khăn trầu lại còn ý nghĩa hơn vì miếng cau miếng trầu là đầu duyên nợ. Qua những việc đó, Thủ Độ cho rằng Chiêu Hoàng đã ưng thích Trần Cảnh.
Hôm sau Thủ Độ cho đóng cửa thành, canh phòng nghiêm mật cung cấm rồi ra thông báo: Bệ hạ đã có chồng!
Các quan trong triều không một ai thắc mắc, đều xin chọn ngày tết để chầu mừng. Có lẽ đây là đám cưới duy nhất của hai vợ chồng đều thuộc tuổi thơ ấu trong lịch sử nước Nam ta.
Dân ta vẫn có tục tảo hôn nhưng thường là cảnh chồng ấu vợ trưởng do những nhà giàu cưới vợ sớm cho con với mục đích kiếm người chăm sóc "cậu nhỏ" hay lo việc gia đình khi cậu nhỏ chưa biết làm gì. Chuyện vợ cõng chồng đi chơi phát xuất từ chuyện tảo hôn này. Về sau cậu nhỏ lớn lên thì thường cưới vợ bé vì vợ cả ... đã già.
Theo chỉ thị của Thái Sư Trần Thủ Độ, những viên quan dạy ấu vương triệt để giảng dạy về chương "phụ đạo (đạo làm vợ). Nào tam tòng tứ đức, nào phu xướng phụ tùy dồn dập nhồi nhét vào đầu óc vị ấu vương không có một chỗ dựa. Thế là không bao lâu vị ấu vương cảm thấy chỉ có thể tìm được chỗ dựa ở đức ông chồng. Không rõ các vị giáo sư bày vẽ thế nào, một hôm, Chiêu Hoàng thỏ thẻ với chồng:
- Này phu quân! Trẫm tuy ứng thụ đại báu của tổ tiên nhưng vốn là phận nữ lại còn thơ ấu không thể nào chấp chưởng cho tròn. Vã lại, theo đúng đạo làm vợ thì trẫm phải phục tùng phu quân mới hợp lẽ. Cho nên, trẫm muốn nhường đế vị cho phu quân để khỏi phụ lòng trông cậy của muôn dân. Phu quân nghĩ thế...
Trần Cảnh đã được người chú dặn dò kỹ nên thưa ngay:
- Bổn phận của đấng trượng phu là phò nguy tế khổn, gánh vác việc đời, mưu cầu thái bình cho dân cho nước. Nếu bệ hạ tin cậy Cảnh này mà ủy thác đại trọng trách, dù bất tài, Cảnh này cũng xin hết lòng hết sức lo cho tròn. Nhưng về chuyện ngôi đại báu, Cảnh này không dám xen vào!
Chiêu Hoàng nài nỉ:
- Đây là lòng thật của trẫm. Ngoài phu quân ra trẫm còn biết tin cậy vào ai? Trẫm không thể nào kham nổi đại sự nữa đâu. Đã là vợ chồng thì của phu quân cũng như của trẫm rồi. Xin phu quân vui lòng gánh vác cho vậy!
Ngày 11  tháng 12 năm ất Dậu, tại điện Thiên An, Lý Chiêu Hoàng làm lễ nhường ngôi cho Trần Cảnh tức Trần Thái Tôn và trở thành Chiêu Thánh hoàng hậu.
Vua Thái Tôn tuy còn quá trẻ nhưng có nhiều triển vọng trở thành đấng anh quân đầy đủ đức độ, nhân ái, thông minh, chịu khó học hỏi. Tuy thế, quyền lớn lại nằm trong tay Thái Sư Thủ Độ nên Thái Tôn chưa thi thố được gì.
Vua Thái Tôn càng trưởng thành càng cảm thấy áy náy về những điều quá đáng mà người chú mình đã làm đối với họ Lý . Do đó, ngài càng thương cảm Hoàng hậu thêm. Mặc dầu có sự thúc giục của vợ chồng Thái Sư và triều đình nhưng ngài không chịu tuyển thứ phi. Tình nghĩa vợ chồng giữa Thái Tôn và Chiêu Thánh vô cùng đậm đà thắm thiết. Đến năm Quý Tỵ thì hoàng hậu báo tin mừng cho vua Thái Tôn. Vua và hoàng hậu đã sống những ngày hi vọng, đợi chờ tràn ngập hạnh phúc.
Hoàng tử Trịnh ra đời gần như một nguồn vui tột đỉnh lan toả khắp hoàng cung rồi khắp cả nước. Triều đình đã ban lệnh cho khắp dân gian, ai có con sinh cùng ngày với hoàng tử được thưởng một lượng bạc. Ai có con sinh cùng năm với hoàng tử được thưởng một tiền gọi là lộc vua. Người ta còn xôn xao bàn tán vua sẽ xuống chiếu tha thuế một năm nữa.
Nhưng không ngờ niềm vui đó quá chóng tàn. Hoàng tử Trịnh mới sống hơn một tháng thì lìa trần kéo theo sự tan nát của cuộc đời Chiêu Thánh hoàng hậu. Năm năm liền tiếp theo vua cũng như hoàng hậu lại khắc khoải an ủi nhau mà chờ đợi.
Thái Sư Trần Thủ Độ và triều thần đã dùng vũ khí điển lệ trong nền tảng gia đình tấn công bất ngờ quá làm nhà vua không đón đỡ được. Chuyện chia uyên rẽ thúy đã không tránh khỏi hôm nay. Tuy còn mang danh nghĩa là công chúa nhưng Chiêu Thánh không còn được trở về cung cũ. Bà phải dời chỗ ở đến một căn nhà do triều đình chỉ định, được cấp một số bổng lộc vừa phải hàng năm và vài ba nữ tì để bà sai khiến. Theo khuôn khổ lễ giáo, không biết bà phải sống cảnh sống âm thầm, cô đơn, tủi nhục đó đến bao giờ. Những dằn vặt đó đã khiến vua Thái Tôn thao thức trọn đêm...
Hôm sau, vua Thái Tôn lâm triều với vẻ thẫn thờ mệt mỏi. Sau khi triều đình khánh chúc xong, vua Thái Tôn cho mọi người bình thân và đợi họ lần lượt tâu việc Vị quan đầu tiên quì trước bệ rồng chính là Hải Dương hầu Trần Phong, hầu trịnh trọng tâu:
- Muôn tâu bệ hạ, trời đất phải luôn luôn có đủ mặt trời mặt trăng. Nước đã có vua thì không thể thiếu quốc mẫu. Hiện nay triều đình đang khiếm khuyết ngôi vị hoàng hậu, xin bệ hạ cho tuyển chọn người để lập ngay!
Vài vị quan khác cùng lên tiếng tán thành ý kiến này.
Đề cập đến chuyện này chẳng khác gì lấy con dao nhọn mà khoét vào tâm tư nhà vua. Vua Thái Tôn đau đớn dằn cơn giận, chưa kịp phán lời gì thì Thái Sư Trần Thủ Độ bước ra tâu tiếp:
- Bệ hạ, Hải Dương hầu và các quan nói rất đúng. Bây giờ lập hoàng hậu là chuyện khẩn thiết. Điều kiện cần thiết cho vị quốc mẫu phải là người mẫu mực nết hạnh, phải thuộc dòng dõi quí phái, và cần hơn hết là phải mắn con. Hạ thần nhận thấy trong triều ta hiện tại chỉ có nội tướng của Hoài vương Liễu, tức Thuận Thiên công chúa là có đủ những điều kiện ấy. Vậy, xin bệ hạ xuống lệnh cho chọn ngày lành tháng tốt để phong hoàng hậu!
Vua Thái Tôn nghe Thái Sư tâu, ngài ngớ người ra như bị rớt vào một cõi xa lạ. Ngài bàng hoàng chốc lát mới trấn tĩnh được, ngài phán:
- Không thể được! Không thể được! Thuận Thiên công chúa đã là chị dâu trẫm. Trẫm không bao giờ làm chuyện đó . Thiên hạ thiếu gì phụ nữ mà trẫm phải giựt vợ của anh mình! Hoàng Thúc và các quan nên chọn người khác. Ngày xưa, Quan Vân Trường bị Tào Tháo ép ở chung phòng với hai người vợ của Lưu Bị, người anh kết nghĩa của ông ta, ông vẫn giữ đạo nghĩa bằng cách cầm đuốc sáng đêm để tránh hiềm nghi. Đó chỉ là anh em kết nghĩa thôi mà Vân Trường còn giữ đạo nghĩa đến thế. Nay nếu trẫm lại làm trái đạo như vậy thiên hạ bây giờ và ngàn sau nữa sẽ đánh giá thế nào về trẫm?
Phán xong, vua Thái Tôn với thái độ đầy bất mãn, rũ áo đi vào cung.
Quan Thái Sư thấy thái độ của vua Thái Tôn, quay sang nói với triều thần:
- Hôm nay long thể bất an. Hãy tạm hoãn chuyện ấy lại Bây giờ các quan hãy lui về ! Ngày mai chúng ta sẽ bàn nghị lại.
Thái Sư không nói gì nữa nhưng trông cũng có vẻ bất mãn lắm. Các đại thần cũng từng toán gặp nhau xôn xao bàn tán trước khi ra về . Dĩ nhiên tin này không mấy chốc đã đến tai gia đình Hoài vương Liễu trong khi vương vẫn còn đi tuần thú chưa về. Để đề phòng bất trắc, Thái Sư Trần Thủ Độ đã cho một toán do thám đến canh chừng ở dinh Hoài vương.
Công chúa Thuận Thiên được tin vô cùng đau khổ. Thuận Thiên khóc đến húp cả con mắt. Ôi, làm sao để chén rượu tiễn chàng đi công cán đừng thành chén rượu vĩnh biệt đây? Bà biết rằng khi Thủ Độ đã muốn làm gì thì không còn ai cản được. Thế rồi bà lén dẫn một con thị tì thân tín mang một ít của riêng lẻn trốn. Hai thầy trò tìm đến chùa Thiên Đức do nhà sư Tuệ Đống trụ trì để xin tá túc. Sau khi lễ Phật, Thuận Thiên công chúa thưa với sư Tuệ Đống:
- Bạch sư phụ! Dòng họ Lý chúng con phát tích từ cửa thiền. Tổ tiên chúng con dựng lập bao nhiêu chùa chiền, thi thố bao nhiêu ân đức chứ có làm ác bao giờ đâu! Thế mà không hiểu vì lẽ nào con cháu phải chịu họa diệt tộc! Phải chịu cảnh chôn sống cả dòng! Riêng Thuận Thiên, Chiêu Thánh chúng con đã phạm tội gì mà phải khổ đau vì duyên số đến mức này? Kính xin sư phụ cho vài lời chỉ giáo!
Sư Tuệ Đống nhìn công chúa bằng cặp mắt hiền hậu:
- Nam mô A Di Đà Phật! Chúng sanh mê mờ không thấy rõ ngọn nguồn tội lỗi. Thưa công chúa, trường hợp này phật ngữ gọi là cộng nghiệp. Ngay như dòng họ đức Thích Ca cũng bị tiêu diệt sạch khi ngài còn tại thế. Theo giáo pháp Phật, ở trên đời mọi sinh vật đều phải trải qua sinh, lão, bệnh, tử và muôn vật đều không thoát khỏi bốn tướng tương tục thành, trụ, hoại, không. Đó là định luật tất nhiên, bất biến. Công chúa hãy nghe bần tăng kể lại trường hợp này:
"Nước Ca Tì La rất hưng thịnh từ khi lập quốc cho đến đời Phật. Nguyên khi vua Ba Tư Nặc nước Kiều Tất La chưa qui y Phật đã cho sứ giả đến Ca Tì La cầu hôn với dòng họ Thích Ca. Các thân vương của dòng họ này tự cao tự đại cho dòng họ mình là cao quí nhất đời nên không chịu. Tuy vậy, họ cũng ngán vì lúc bấy giờ Kiều Tất La là một cường quốc vùng châu thổ sông Hằng. Vì thế, họ đã dùng một tì nữ trong cung tên Mạt Lỵ tráo thành vương nữ đem gả cho vua Ba Tư Nặc. Mạt Lỵ có sắc đẹp lại thông minh nên được vua Ba Tư Nặc rất yêu, phong làm đệ nhất phu nhân. Mạt Lỵ sinh con đầu lòng đặt tên là Tỳ Lưu Ly. Năm Tỳ Lưu Ly lên tám, được vua cha cho về quê ngoại để học bắn cung vì nước Ca Tì La rất giỏi về xạ thuật. Bấy giờ trong thành Ca Tỳ La mới kiến thiết xong một đại giảng đường nguy nga chỉ dành riêng đón Phật khi ngài về thuyết pháp. Dòng họ Thích Ca cho đây là chốn thiêng liêng nên tuyệt đối cấm không cho những kẻ ti tiện bước vào Không dè Tỳ Lưu Ly nhân thả bộ rong chơi trong cung, lạc vào chốn cấm địa ấy. Các thân vương bắt gặp đã xỉ vả không tiếc lời, bảo rằng con của gái nô lệ đã làm ô uế cấm địa. Họ đuổi Tỳ Lưu Ly ra và lập tức truyền gia nhân cấp tốc bới đất cũ trong giảng đường lên đổ đi và đem đất mới thay vào. Tỳ Lưu Ly nộ khí xung thiên thề độc rằng "Khi nào lên ngôi vua, ta thề tiêu diệt sạch dòng họ Thích Ca mới hả giận".
Khi trở về nước, Tỳ Lưu Ly ngày đêm mưu tính việc rửa hận. Một hôm vua Ba Tư Nặc và Mạt Lỵ bận đi tuần thú, Tỳ Lưu Ly cùng nghịch thần Ca Lê Da Na tập họp quân đội đoạt lấy ấn kiếm làm phản. Vua Ba Tư Nặc cùng Mạt Lỵ phải chạy sang tị nạn ở Ca Tì La. Không bao lâu sau, ông chết ở Ca Tì La.
Nghe tin vua cha mất, Tỳ Lưu Ly giết anh là thái tử Kỳ Đà rồi lên ngôi báu.
Trong một buổi đại triều, Tỳ Lưu Ly hỏi bá quan:
- Nếu có kẻ sỉ nhục đấng quốc vương tôn quí của mình, khinh thị đấng quốc vương ấy là con dòng hạ tiện, tội ấy các khanh nghĩ nên xử trị như thế nào?
Mọi người đều đáp rằng tội ấy đáng tru di. Tỳ Lưu Ly tiếp:
- Dòng họ Thích Ca tự cao tự đại. Họ cho rằng ta là con của một gái nô lệ, vậy, nay ta phải hưng binh tru diệt họ!
Ba lần xuất quân, ba lần Tỳ Lưu Ly gặp Phật tìm cách ngăn trở. Nhưng đến lần thứ tư, biết rằng không ngăn đón được nữa vì nghiệp nhân quá khứ của dòng họ Thích Ca quá nặng, Phật xót xa báo cho A Nan biết rằng trong 7 ngày nữa thì dòng họ Thích Ca sẽ bị tuyệt diệt. Tỳ Lưu Ly hãm thành Ca Tì La, sau đó hạ thành giết sạch tất cả quân dân không chừa một ai rồi sát nhập nước này vào lãnh thổ Kiều Tất La của ông ta."
Dòng họ Thích Ca tuyệt diệt chỉ vì một sự kiêu ngạo nhưng đó chỉ là nguyên nhân gần. Dĩ nhiên là còn nhiều nguyên nhân khác nằm trong lẽ báo ứng.
Chính Đức Thích Ca không cứu được cho dòng họ của Ngài là vì Ngài thấy "túc trái tiền khiên" của những người trong dòng họ mình quá lớn. Những người trong dòng họ ngài đã gây quá nhiều tội lỗi trong nhiều kiếp trước nên bây giờ phải trả. Tự mình tạo nghiệp dữ tất không cách gì cứu gỡ được.
Họ Lý ta hiện tại có lẽ cũng lâm vào trường hợp tương tự. Thầy kể chuyện này cho công chúa nghe hi vọng công chúa ứng ngộ ở cái lẽ luân hồi, nghiệp báo để bớt khổ đau. Nhà Lý thi ân bố đức nhiều thật, đồng thời cũng hưởng vinh hoa phú quí một thời gian hơn hai trăm năm rồi. Theo vũ trụ quan thành, trụ, hoại, không, bây giờ đến ngày tàn cũng là lẽ tất nhiên. Những tai kiếp luân hồi nghiệp báo cũng mượn cửa nhà Lý lúc suy tàn để báo ứng. Nhà Trần rồi đây cũng phải gánh những kết quả mà ngày nay họ đang gieo. Vậy, cốt lõi là công chúa phải tự cứu lấy mình chứ không ai có thể giúp công chúa được. Muốn thoát ra vòng khố đau thì chỉ có cách là sám hối tu tĩnh, làm điều thiện để gỡ nợ cho những kiếp trước và gieo nhân lành cho những kiếp sau. Chốn này gần kinh đô, công chúa không thể tá túc lâu dài. Vả, đây lại là chùa dành cho nam giới, tuy cửa thiền luôn mở rộng nhưng lý cũng không thể chứa chấp công chúa được. Tuy nhiên, bây giờ trời sắp tối, bần tăng sẽ cho dọn một phòng để công chúa tạm đỡ đêm nay. Nếu việc này Thái Sư biết được thì cũng phiền lắm đấy!
Công chúa Thuận Thiên lẻn đến chùa Thiên Đức, tuy đã cải dạng cẩn thận nhưng cũng không thoát khỏi cặp mắt nghi ngờ, theo dõi của một người. Hắn là Phan Năng, một tên trong đội do thám của triều đình. Với cặp mắt nhà nghề, dáng dấp và cử chỉ của công chúa làm sao hắn không đoán ra được! Phan Năng hớn hở đến thẳng dinh Thái Sư. Lúc ấy Thái Sư còn bận giải quyết công việc trong triều chưa về, chỉ có phu nhân ở nhà. Trần phu nhân thấy hắn tìm đến đoán có chuyện liền ân cần hỏi:
- Ngươi do thám thấy được điều gì lạ không? Hãy nói cho ta nghe!
Phan Năng thưa:
- Bẩm phu nhân, hình như công chúa Thuận Thiên đã cải dạng đi trốn. Tôi không biết mặt công chúa nhưng thấy một thiếu phụ trẻ đẹp có vẻ có thai, ăn mặc tầm thường, đi cùng một một thiếu phụ khác có vẻ như tôi tớ, trông rất khả nghi, đến chùa Thiên Đức!
Phu nhân nghe qua hoảng hốt nói:
- Thôi, ngươi cứ lui về coi như không biết, đừng có báo với Thái Sư làm gì! Ta sẽ hậu thưởng cho ngươi về vụ khám phá này!
Phan Năng vừa lui gót thì Trần phu nhân lập tức dẫn hai thị tì tìm đến chùa Thiên Đức. Bà rất sợ Thuận Thiên công chúa trốn đi vì như thế nàng chắc chắn chết dưới tay chồng bà. Thuận Thiên công chúa chết thì số phận Chiêu Thánh công chúa cũng lâm nguy. Kinh nghiệm qua lịch sử cho bà biết bất cứ người nào được lập làm hoàng hậu sau này cũng sẽ tìm cách hại Chiêu Thánh, nhất là Chiêu Thánh lại là cái gai trước mắt vị Thái Sư tàn độc. Chỉ có Thuận Thiên là người duy nhất có thể bao dung che chở cho Chiêu Thánh. Nghĩ thế nên ban đầu bà không muốn lập Thuận Thiên làm hoàng hậu nhưng bây giờ bà trở lại rất tán thành chủ trương ấy.
Khi Trần phu nhân đến chùa Thiên Đức thì trời vừa chạng vạng. Sư Tuệ Đống đã đoán ra việc gì, bước ra nghinh tiếp thưa:
- A Di Đà Phật! Kính chào phu nhân! Phu nhân đến chùa giữa lúc tối tăm này chắc có chuyện gì quan trọng?
Trần phu nhân nói:
- Đại sư, ta đến đây vì việc công chúa Thuận Thiên! Nghe công chúa đang có mặt ở đây, xin đại sư cho ta gặp công chúa!
Biết không thể giấu giếm được, sư Tuệ Đống bèn dẫn phu nhân vào phòng vừa dọn cho thầy trò công chúa trú qua đêm. Sư thưa thêm:
- Công chúa xin ở lại một đêm, bần tăng không thể cải lệnh. Xin phu nhân xá tội!
Phu nhân khoát tay:
-  Ta hiểu, không sao? Cho ta gặp công chúa là được rồi ! Nhưng ta muốn đại sư cùng vào gặp công chúa nói giúp ta một tiếng. Ta biết lời của đại sư rất giá trị !
Thấy mặt Trần phu nhân công chúa liền khóc òa. Phu nhân cũng xúc động ôm chầm lấy con. Công chúa thổn thức:
- Con không ngờ phận con hẩm hiu đến thế này!
- Con thề chịu chết chứ không thể phản bội Hoài vương được! Con không thể dứt bỏ chữ trung trinh! Mẹ có cách gì cứu con thoát khỏi hoàn cảnh này không mẹ? Mẹ ơi! Mẹ thương con thì mẹ hãy tìm cách cứu con với !
Trần phu nhân cũng không cầm được nước mắt.
Nhưng bà cố trấn tĩnh nói với con:
- Con hãy xem mẹ đây! Há lẽ mẹ không biết giữ chữ trinh với Phụ vương con! Nhưng nếu mẹ quyết làm như thế mẹ sợ hai con lâm nguy nên đành phải tùng quyền. Bây giờ tới lượt con, nếu con không chịu làm hoàng hậu thì tánh mạng con chắc chắn không giữ được! Chiêu Thánh em con cũng khó sống mà chồng con Hoài vương Liễu cũng khó yên thân! Ngoài ra, con phải thương đến vương tử Doãn và hài nhi trong bụng nữa ! Con phải nghe mẹ mà hi sinh đi ! Hãy trở về nhà lập tức!
Công chúa nghe mẹ khuyên càng khóc rống lên:
- Mẹ ơi mẹ! Con thà chết chứ không muốn sống nhơ nhớp như thế này ! Hoài vương Liễu vừa là chồng mà cũng là tri âm tri kỷ của con! Con nhất định không phản bội chàng! Nếu mẹ cũng ép con, con xin chết ngay trước mặt mẹ bây giờ! Con không còn muốn sống nữa...
Trần phu nhân thấy con nói nhất quyết như vậy bèn quay nhìn sư Tuệ Đống. Sư Tuệ Đống hiểu ý nói với công chúa:
- Thầy nghĩ là công chúa nên nghe lời phu nhân. Trước hết là công chúa sẽ cứu khổ được nhiều người như Hoài vương, vương tử Doãn, cái thai trong bụng và nhất là có thể cứu tử Chiêu Thánh công chúa. Đó cũng là một cách gieo nhân. Nếu công chúa nhất quyết không chịu trở về thì cầm chắc sẽ gây liên lụy đến rất nhiều người nữa. Theo lẽ quả báo, nếu có cơ hội trả nghiệp quả mà tránh chưa chịu trả thì oan trái vẫn còn đó, có nghĩa là phải trả dịp khác. Cũng có nghĩa là sự đau khổ còn kéo dài qua nhiều kiếp khác. Không nên như thế! ...
Trần phu nhân lại nói vào:
- Đại sư dạy đúng đó con ơi ! Con đã mang nợ những kiếp trước mà bây giờ còn trốn tránh khác nào tự mình kéo dài, chồng chất thêm nợ cho những kiếp sau thôi! Con hãy nghe đại sư, nghe mẹ mà trở về!
Cuối cùng thì công chúa Thuận Thiên cũng về với Trần phu nhân.
Ngày kế tiếp, Thái sư Trần Thủ Độ và Trần phu nhân cùng vào ra mắt vua Thái Tôn. Thủ Độ là chú họ thế mặt cha, phu nhân là cô ruột và cũng là nhạc mẫu của vua. Vua Thái Tôn bất đắc dĩ phải cho mời vào cung. Thái sư và phu nhân đều đem lẽ bảo vệ ngôi báu của họ Trần ra thuyết phục và nài ép vua Thái Tôn phải lập Thuận Thiên làm hoàng hậu. Vua Thái Tôn quá đau khổ, mệt mỏi, chán chường vì chuyện đó nhưng rồi cũng phải nhận lời.
Thế là hôm sau triều đình tổ chức lễ tôn lập hoàng hậu.
Có lẽ đây là cuộc tôn lập hoàng hậu lạ lùng nhất trong lịch sử nhân loại. Nhà vua ngơ ngáo buồn thiu, tân hoàng hậu cũng bơ thờ không một nụ cười. Cái khác đời nữa là hoàng hậu đã có thai hơn ba tháng với người khác...
Thuận Thiên công chúa giờ đã trở thành quốc mẫu. Bà được các quan và đoàn thái giám, tì nữ đưa về cung hoàng hậu.
Vua Thái Tôn sau buổi lễ buồn bực về long sàng nằm vắt tay lên trán. Bấy giờ ngài mới thấy thấm thía lời dạy "Đời là bể khổ" của Đức Phật. Ngài thương yêu Chiêu Thánh vô cùng mà giờ phải chia xa vĩnh viễn. Ngài kính quí Hoài vương Liễu vô cùng mà giờ đây thành cướp vợ của người. Hai người thân yêu nhất của ngài đó chắc chắn đau khổ vô cùng. Và chắc chắn họ cũng oán hận ngài vô cùng. Họ làm sao thấu hiểu được ngài cũng chỉ là nạn nhân! Ôi! Quyền uy! Ngai vàng! Dòng họ! Nó tạo nên biết bao nhiêu đau khổ cho thiên hạ ! Đức Thích Ca đã bỏ ngai vàng như bỏ chiếc dép đứt, tại sao ta không bắt chước ngài!
***
Một buổi sáng, người ta thấy ba người bộ hành trẻ tuổi đi về phía núi Yên Tử thuộc tỉnh Hải Dương. Họ nghỉ chân dưới một gốc cây rợp bóng mát trong số những cây bên đường gần một cánh đồng rộng lớn. Trời nắng gắt, lũ trẻ chăn trâu thả trâu xuống cả cánh đồng rồi tập trung dưới các gốc cây để đánh đáo hoặc kể chuyện xưa cho nhau nghe. Một số nông phu cũng kéo nhau lên ngồi dưới các gốc cây đó uống nước, hút thuốc hoặc mang cơm ra ăn.
Một bọn nhỏ đánh đáo ăn cõng, đứa nào thua phải cõng đứa thắng. Có một đứa thắng liên tiếp nhiều lần, đắc chí ngồi trên lưng bạn nhún nhảy nói:
- Tao là vua nên có ngựa cưỡi hoài!
Một nông dân ngồi gần đó cười:
- Làm dân mà cứ ngày no ba bữa vợ chồng hòa thuận con cái sum vầy là sướng nhất rồi chứ làm vua khổ lắm ham chi mà mong?
Một nông dân khác cười hô hố, nói:
- Ông nói lạ! Làm vua muốn ăn chi cũng có ? Muốn chơi cô nào cũng được! Muốn chặt đầu ai thì chặt? Sao lại không sướng?
Trong mấy người bộ hành có kẻ sầm mặt có kẻ nhíu mày. Người nông dân thứ nhất vô tình lại cười:
- Chú mày không thấy vua mới vừa giết sạch trơn dòng vua cũ đó sao? Vua cũ đã vào chùa tu rồi vậy mà vẫn phải thắt cổ mà chết đấy ! Ai trong dòng còn sót thì phải đổi ra họ khác hết. Làm vua vinh sang một thời rồi chuốc lấy chuyện diệt tộc như thế chú mày thấy có sướng không?
Một nông dân thứ ba, ngồi trong một toán khác nói xen vào:
- Việc đời được đó mất đó biết đâu chừng? Giành được cầm trong tay rồi cũng chưa chắc là của mình. Cái của cải, cái phú quí vinh hoa nó vậy đấy ! Mấy ông  nghe đây!
Ông ta cất giọng ngâm lên sang sảng:

Nhất phái thanh sơn cảnh sắc u,
Tiền nhân điền địa hậu nhân thu!
Hậu nhân thu đắc mạc hoan hỉ!
Hoàn hữu thu nhân tại hậu đầu!

-Đấy, một dãi núi xanh cảnh sắc u nhã, ruộng đất của người trước người sau thu lấy. Người sau dù thu lấy được cũng đừng vội mừng, vì đã có những kẻ muốn lấy đi nữa đứng chực phía sau lưng mình rồi đấy.
Người bộ hành trẻ tuổi nhất nghe chuyện thở dài đứng dậy. Hai người kia cũng lật đật đứng dậy theo. Họ lại tiếp tục lên đường. Đi cách xa đám nông dân và lũ chăn trâu một đoạn, người trẻ tuổi than thở:
- Thế là người đời cứ cho ta là kẻ làm những việc bạc tình, bạc nghĩa, thất nhân, ác đức ấy chứ họ đâu có biết ta cũng chỉ là một nạn nhân! Ôi! Vương làm chi! Đế làm chi! Giờ ta muốn làm một người dân tầm thường cũng không được nữa!
Khi bóng chiều đã ngã dài thì ba người bộ hành lên tới chùa Yên Tử. Chùa này do vị quốc sư Phù Vân trụ trì Vị quốc sư vừa thấy ba người khách thì ông kêu lên:
- A Di Đà Phật! Bệ hạ vì sao ra đến nông nỗi này!
Người khách trẻ quì xuống trước mặt vị sư. Hai người kia cũng quì xuống theo. Vị sư hoảng hốt lật đật bước tới định đỡ nhà vua dậy nhưng người khách trẻ nói:
- Đệ tử không còn là thiên tử nữa. Đệ tử đã nhất quyết xuất gia. Xin quốc sư rộng lòng thu nhận và xuống tóc cho đệ tử!
Quốc Sư Phù Vân đỡ nhà vua dậy:
- A Di Đà Phật! Cửa thiền tuy rộng mở, nhưng bệ hạ còn phải hưởng phước vinh hoa, còn phải chịu trách nhiệm về sự an nguy của dân tộc Đại Việt. Bệ hạ chưa thể tự tiện tránh đời được đâu. Giai đoạn này đất nước đang cần tới bệ hạ, không ai có thể thay thế được. Xin bệ hạ hãy giữ gìn long thể.
Nhưng nhà vua năn nỉ:
- Xin quốc sư hiểu cho, đệ tử đã chán chường công danh phú quí cũng như duyên nợ lắm rồi ! Hơn nữa, đệ tử tuổi còn thơ ấu, học hành non nớt, kiến thức hẹp hòi, không thể nào chấp chường việc lớn. ý đệ tử đã dứt khoát, xin quốc sư mở rộng con đường giải thoát cho đệ tử! Đệ tử chỉ muốn sớm hôm vui vầy với kinh kệ mà thôi.
Quốc sư Phù Vân ôn tồn nói:
- A Di Đà Phật! Thôi được, trong lúc bệ hạ đương cơn bức xúc, hãy tạm dung ở cửa thiền năm ba ngày cho tinh thần lắng dịu đã. Mong bệ hạ sớm ổn định mình rồng. Bần tăng tin rằng không sớm thì muộn thế nào triều đình cũng lên đây rước bệ hạ về.
Sau đó, quốc sư khiến người dọn chỗ cho vua nghỉ.
Quốc sư nói không sai. Chỉ tới trưa hôm sau, quan quân rầm rộ kéo lên chùa Yên Tử do chính Thái Sư Trần Thủ Độ dẫn đầu. Trần Thủ Độ dẫn các quan vào ra mắt vua Thái Tôn và thưa:
- Nước một ngày không thể thiếu vua, xin bệ hạ hãy trở về kinh thành kẻo thần dân trông ngóng!
Vua Thái Tôn buồn rầu nói:
- Trẫm hãy còn thơ ấu, chưa đảm đương được việc trọng đại, vua cha (Trần Thừa) lại vội từ trần, thành ra trẫm mất người nương tựa, không dám để nhơ nhuốc đến xã tắc!
Thái sư nài nỉ mãi mà vua Thái Tôn cũng nhất quyết
không chịu về . Thái sư bèn quay sang nói với các quan:
- Thôi được, thiên tử ở đâu thì triều đình ở đấy!
Nói xong, ông ra lệnh chuẩn bị cho xây dựng cung điện để biến núi Yên Tử thành kinh đô. Quốc sư Phù Vân vốn biết tính Thái Sư đã nói thì tất làm, ông lo sợ phải đến năn nỉ với vua Thái Tôn:
- Bệ hạ nên quay loan giá về kinh thành, không nên để họ làm tổn hại đến của cải của muôn dân và tổn hại đến chốn núi rừng!
Vua Thái Tôn bất đắc dĩ phải trở lại kinh thành.

***

Nói về ở phủ Hoài vương Liễu bấy giờ có hai người quản gia nòng cốt là Lữ Ngân và Đinh Lang. Cả hai đều được Hoài vương và công chúa tín nhiệm giao cho cùng điều hành mọi công việc trong phủ. Đinh Lang tuổi đã lớn, tánh tình ưa đãi bôi, bợ đỡ, lại hay tham lam tư túi. Đinh Lang đã tận dụng cái lưỡi của mình để giữ vững địa vị trong phủ này. Lữ Ngân thì ngược lại, còn khá trẻ, ngay thẳng, tháo vát, làm việc gì cũng hết lòng. Vì thế, cùng chung lo một việc nhưng lại chẳng ưa nhau. Biến cố xảy ra bất ngờ đã làm cho mọi người trong phủ đều nhốn nháo. Người thì hậm hực, kẻ thì than dài thở vắn, bầu không khí trong phủ vừa căng thẳng, vừa buồn thảm. Lữ Ngân vì quá thương xót cho chủ nên phẫn nộ ra mặt. Trước mắt kẻ thù mà để buồn giận lộ ra mặt thì rõ ràng đó là một nhược điểm. Đinh Lang thì khôn ngoan thâm trầm, cũng muốn nhân dịp này để loại đi một kẻ mà hắn không ưa. Đoán biết thế nào cũng xảy ra chuyện, Đinh Lang gọi Lữ Ngân thầm thì:
- Chủ ta bị áp bức như thế thiệt là quá đáng. Thực tức chết đi được ! Thế mà tôi còn nghe phong thanh Thái Sư sẽ diệt trừ Hoài vương Liễu để ngừa hậu hoạn. Chúng ta có nhiệm vụ phải tìm cách ra ngoài báo cho chủ ta biết tình trạng này để người tính liệu. Người cũng có vây có cánh chứ đến nỗi gì! Anh khỏe mạnh lanh lẹ có thể gánh vác việc đó không? Công việc ở nhà để tôi lo cho! Hay là . . .
Lữ Ngân đang nóng lòng vì chủ, nghe vậy lại càng hoảng hốt. Thấy Đinh Lang gợi ý như thế, cho là lời thành thật, Lữ Ngân liền sốt sắng nói:
- Ý kiến anh rất hay! Anh gắng chu tất mọi công việc trong phủ nhé. Để tôi đi tìm Vương gia cho. Nếu chậm trễ e người mắc họa mất! Mình trả ơn chủ chính ở giờ phút này đây. Ngay trong đêm nay tôi phải lên đường!
Đinh Lang nói như khích lệ thêm:
- Phải chứ! Hai ta phải có một người làm được việc đó chứ! Chúa nhục thì tôi phải chết là thường? Tôi nay đã già nua vô dụng, anh phải giúp Vương gia cố sức mà rửa mối nhục này!
Lữ Ngân nặng lòng vì nghĩa, thấy chuyện bất bình xảy ra cho chủ mình, lại bị Đinh Lang khích động, thề độc:
- Phải! Tôi nhất định giúp chủ rửa nhục!
Đinh Lang ân cần vỗ vai nói với Lữ Ngân:
- Hai ta lâu nay tuy ở chẳng hợp tính nhau nhưng bây giờ chủ gặp nạn lớn, thôi thì bỏ qua hết mọi chuyện cũ mà lo cho chủ mới là người phải. Tôi sẽ lo việc nhà chu đáo. Còn anh..., chúc anh lên đường may mắn!
Ngay đêm đó, Lữ Ngân một mình một ngựa ra đi trong đêm tối trước sự vui mừng của Đinh Lang. Lữ Ngân đã đi một cách dễ dàng không bị ai cản trở Thái Sư Trần Thủ Độ không phải bất ngờ về sự việc này mà thật ra ông không thèm đề phòng. ông đã đánh giá được con người Hoài vương Liễu. ông cho rằng Liễu sẽ không bao giờ làm nên trò trống gì.
Trước khi ra đi, Lữ Ngân đã biết được lộ trình trở về kinh thành do Hoài vương báo trước cho gia đình. Lữ Ngân gặp được Hoài vương trong một công quán ở huyện Võ Nhai, Thái Nguyên. Lúc đó Vương đang ngồi nói chuyện với hai người gia khách là Phạm Vinh và Trần Quang Thiệu. Ngân không ngần ngại đem mọi chuyện xảy ra ở phủ kể cho Vương nghe. Nghe chưa hết chuyện, Hoài vương hét lên một tiếng, bọt mép sùi ra, người lảo đảo muốn ngã. Lữ Ngân hoảng hốt:
- Vương gia tha tội! Vương gia tha tội!
Phạm Vinh, một người thân tín vẫn được coi như cái túi khôn của vương, vội đến đo vương ngồi lại và vuốt ngực cho vương:
- Vương gia bình tĩnh lại! Nóng giận chỉ làm hư việc!
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-14 02:57:37Hoàng Dung>
tình hận (d)
Nước mắt vương trào ra, giọng uất nghẹn hỏi Lữ Ngân:
Ngươi thấy công chúa vật thân vật mình dữ lắm hả! Người công chúa có tiều tụy lắm không?
Lữ Ngân chưa kịp trả lời thì vương gập bụng xuống mấy lần, nhăn mặt lắc đầu:
- Trời ơi trời có thấu cho không! Người thương quí nhất của ta bây giờ lại để cho người khác ôm ấp! Hận thù này làm sao nguôi trời ơi! Ta đâu ngờ chén rượu tiễn hành lại thành chén rượu vĩnh biệt!
Lữ Ngân thấy chủ quá đau đớn chịu không nổi, uất hận nói:
- Vương gia! Chúa nhục thì tôi phải chết! Để rửa hận cho vương gia, tôi xin sẵn sàng liều mình làm bất cứ việc gì vương gia sai khiến!
Hoài vương rên rỉ:
- Ta bây giờ bối rối tối tăm lắm rồi, các ngươi có ý gì hay nói thử giúp ta đi!
Phạm Vinh cũng uất hận nói:
- Xin vương gia tha tội, vương gia đã muốn sống như ẩn sĩ rồi mà vẫn không yên thân được, thật là quá lắm! Bây giờ có trở về sống ở triều cũng chẳng vui sướng gì nữa. Tôi xin đề nghị hai con đường vương gia có thể làm. Một là thầy trò mình lên núi tu hành cho xong! Hai là làm đại sự, ăn được cả, ngã phơi thây! Xin vương gia xét lại!
Hoài vương rầu rỉ nói:
- Vậy thì ta nên lên núi. Còn đại sự, ta như con cá nằm trên thớt, cô thế mức này còn mong làm được cái gì!
Phạm Vinh lại thưa:
- Bẩm vương gia, tôi nghe trước kia tướng Nguyễn Nộn khởi binh đã làm cho triều đình run sợ. Không may Nguyễn Nộn bị bạo bệnh mà chết thình lình triều đình mới yên. Tuy nhiên, những người theo Nguyễn Nộn đâu có phục tùng triều đình? Họ chịu yên chẳng qua chỉ vì thiếu người lãnh đạo. Nay ta hãy lấy cớ đi tuần du, lên Bắc Giang, Hồng Châu lấy danh nghĩa phục hồi nhà Lý ngầm chiêu dụ họ . Mặt khác, Lữ Ngân cấp tốc trở về ngầm chuẩn bị tổ chức gia đinh trong phủ làm nội ứng khi cần. Lòng người đang bàng hoàng hoảng sợ trước những đổi thay không thuận lòng người của Thái Sư, ta nhân cơ hội đó khởi hấn, biết đâu đại sự lại không thành!
Hoài vương Liễu đưa mắt nhìn Trần Quang Thiệu, một môn khách từng theo vương đã nhiều năm nay. Ông này vẫn theo vương như hình với bóng. Nãy giờ ông ta chỉ ngồi lắng nghe mọi người nói, thấy Hoài vương nhìn mình muốn hỏi ý, ông thủng thẳng lên tiếng:
- Vương gia! Không được đâu! Tôi nghĩ chuyện này đã nằm trong sự sắp xếp của Trần Thái Sư rồi. Chắc chắn Thái Sư đã tính toán trước những sự thay đổi trong cung đình cho nên mới cử vương gia đi tuần thú cho rảnh tay. Thế nào Thái Sư cũng đề phòng sự phẫn uất của vương gia có thể gây những hậu quả bất ngờ. Dĩ nhiên Thái Sư đã cho người bám sát chúng ta từ bước đầu rồi. Chúng ta không dễ gì hành động được đâu! Hơn nữa, vương gia nên lo kỹ cho hai vị vương tử ở nhà. Nếu chúng ta rục rịch, hai vị vương tử có thể sẽ thành kẻ hi sinh trước tiên! Vậy, xin vương gia hãy cẩn thận mới được!
Hoài vương trầm ngâm suy nghĩ rồi quay lại hỏi Lữ Ngân:
- Khi ngươi đến đây ở kinh thành có ai biết không?
- Bẩm vương gia, tôi khởi hành lúc nửa đêm, chỉ có Đinh Lang biết. Chính Đinh Lang cũng thúc đẩy tôi đi tìm vương gia.
Hoài vương có vẻ yên lòng:
- Vậy thì tết Đinh Lang là người thân tín của ta chắc không đến nỗi tiết lộ cho ai hay. Vậy ngươi cứ về trước kẻo lại sinh chuyện nghi ngờ phiền phức. Ta sẽ suy nghĩ xem phải nên hành động như thế nào rồi sẽ tìm cách cho ngươi biết! Ngươi đi đường gấp quá chắc cũng mệt lắm rồi. Hãy ăn uống nghỉ ngơi rồi thức dậy khi nào trở về lúc ấy chẳng cần chào ta làm gì, nhớ nhé!
Lữ Ngân vâng dạ . Vương lại quay sang Phạm Vinh và Quang Thiệu:
- Hai ông bảo tiểu nhị lấy thêm cho ta một bình rượu lớn rồi hãy đi nghỉ đi!
- Vương gia không để chúng tôi cùng hầu rượu cho đỡ buồn à!
- Khỏi cần! Các ông hãy đi nghỉ! Ta muốn được yên tĩnh một lúc!
Mọi người lần lượt đi nghỉ. Hoài vương ngồi lại bàn một mình uống hết chén này đến chén khác. . .Vương vốn ít uống rượu, thường chỉ uống ba chén trở lại. Hôm nay gặp chuyện buồn quá lớn nên vương mới phá lệ. Trần Quang Thiệu vốn biết như thế, khi thấy vương gọi thêm cả bình rượu lớn thì không yên lòng. Tuy phải nghe lời vương mà đi nghỉ nhưng Quang Thiệu không ngủ được. Chốc chốc Quang Thiệu lại trở dậy bước ra xem chừng. Khi chỉ còn một mình, Hoài vương đã vừa khóc vừa uống. Sau cùng vương say quá gục mặt xuống bàn. Thấy vậy, Quang Thiệu định ra đỡ vương vào giường. Nhưng chợt nhìn qua cửa sổ, Quang Thiệu thấy từ phía xa đèn đuốc lập lòe cả một vùng: chắc là quan binh đi đâu đây ! Chuyện gì vậy? Vốn tính cẩn thận, Quang Thiệu đứng quan sát hướng đi của đám người kia. Rõ ràng là họ đang tiến về phía công quán. Quang Thiệu lập tức trở vào đánh thức Phạm Vinh dậy, dặn Vinh ra trông chừng đám người kia. Mặt khác Quang Thiệu gọi tiểu nhị hỏi thăm lối thoát phía sau công quán nếu cần.
Không mấy chốc đám người cầm đèn đuốc trên đã đến trước cửa công quán. Phạm Vinh và mấy người người lính của Hoài vương chặn hỏi:
- Chẳng hay quan quân đến đây có chuyện gì?
Viên tướng cầm đầu, Hoàng Phụ, một tay thân cận của Trần Thái Sư hô lớn:
. Các ngươi hãy vào mời Hoài vương ra đây cho ta nói chuyện!
Nghe giọng nói thiếu lễ độ của viên võ quan triều đình đối với vị hoàng thân, Phạm Vinh đã hiểu ngay là có chuyện không lành. Phạm Vinh nói:
- Ngài đang nghỉ. Có chuyện gì sáng mai hãy hay!
Hoàng Phụ hách dịch nói:
- Lệnh của Thái Sư không được chậm trễ ! Thái Sư phái ta đến đây để bắt giặc Liễu ! Những ai kháng lệnh đều phải tru lục! Quân bây! Thi hành nhiệm vụ!
Phạm Vinh rút gươm hét lớn:
- Vương gia đang có thánh chỉ trong người. Chúng quân không được hỗn láo!
Khi đó Lữ Ngân cũng vừa thức giấc. Thấy có biến động, Lữ Ngân cũng bàng hoàng tuốt kiếm nhảy ra. Hoàng Phụ chỉ mặt Lữ Ngân hét:
- Giặc Liễu tuy có thánh chỉ trong người nhưng bây giờ y đã làm phản. Nếu không cố tình làm phản tại sao tên quản gia Lữ Ngân này có mặt ở đây? Đinh Lang đã tố cáo với Thái Sư tất cả rồi! Chúng bây hãy bó tay chịu tội may ra triều đình còn khoan thứ phần nào! Quân bây! Bắt chúng nó!
Thấy có giải thích với bọn này cũng vô ích, nếu để Hoài vương lọt vào tay Thái Sư thì coi như lánh mạng người khó toàn, Phạm Vinh và Lữ Ngân chỉ huy đám thuộc hạ liều mình tứ chiến. Quan quân dù đông đảo cũng phải vất vả lắm mới tiêu diệt được bọn Phạm Vinh. Nhưng khi họ lọt vào phòng Hoài vương thì vương và Trần Quang Thiệu biến mất cả rồi.
Hoàng Phụ chia quân lùng tìm ráo riết quanh vùng mấy ngày vẫn không có tông tích Hoài vương đành phải trở về triều phục mạng.
Những biến chuyển tại triều đình trong thời gian qua đã làm cho vua Trần Thái Tôn vô cùng phiền não. Ai gây ra không biết, nhưng trước mắt thiên hạ, ngài tự cảm thấy mình gánh tội lỗi ngập đầu. Ngài đã xa lìa người mình từng tay ôm gối ấp trong bao nhiêu năm không một lời từ giã. Ngài đã giựt người chị dâu về làm vợ mình trong khi anh ruột mình vắng mặt. Rồi bây giờ nữa, người anh ruột hiền lành của ngài bị triều đình gán ghép tội phản nghịch không biết đang trốn chui trốn nhủi phương nào, cũng có thể người đã không còn nữa. Có thể dư luận cho đó là một âm mưu của ngài. Càng nghĩ ngài càng thấm thía cái nhân sinh quan "đời là bể khổ". Muốn tẩy xóa được những gút mắc trong lòng thần dân của ngài cũng như tìm chút yên ổn trong tâm hồn cho chính ngài thật là muôn vàn khó khăn. Vua Thái Tôn lại nẩy ra ý định đến một ngôi chùa nào đó thật xa xôi để tìm phương giải thoát... Ngài rất sợ mang tiếng muốn đoạt vợ hay vì bảo vệ ngai vàng mà giết hại anh ruột mình. Hoài vương Trần Liễu đã bị ghép vào tội phản nghịch thì đương nhiên phải chết. Chính bản thân ngài không thể nào tin được người anh hiền lành trung hậu của mình lại làm phản. Hơn nữa, ông đâu có thể dựa vào thế lực nào? Nếu làm loạn, tất nhiên ông ta chỉ là một cofl thiêu thân!Có thể anh ngài trong lúc đau đớn tột cùng, đã có một vài hành động nào đó mà về mặt tình người rất đáng được thông cảm. Ngài đã từng nếm cảm giác đau đớn thế nào khi một người chồng phải xa na vĩnh viễn người vợ thương yêu. Kinh nghiệm chính bản thân ngài còn rành rành đó. Hình ảnh cảnh huynh đệ tương tàn đời Đường giữa anh em Lý Kiến Thành và Lý Thế Dân (Đường Thái Tôn) cứ hiện lên trong óc khiến ngài cứ rùng mình.
Lịch sử loài người sao trớ trêu đã tạo ra hai sự việc chẳng khác gì nhau mấy. Kiến Thành, Thế Dân là anh em cùng cha mẹ . Trong tiến trình khởi nghiệp gây dựng nhà Đường của Lý Uyên, Thế Dân là người đánh nam dẹp bắc công lao trùm hết. Thế Dân là một thiên tài quân sự, nhiều mưu lược, lại rất được lòng người. Trong khi đó, người anh, thái tử Kiến Thành ít tài, tánh tình lại nhỏ nhen hay đố kỵ, luôn tìm cách hại em mình để tuyệt mối lo về sau. Khi sự xung đột đến độ không đừng được, Thế Dân bắt buộc phải tự vệ và cuối cùng phải giết người anh. Hình ảnh Kiến Thành ngã xuống ngựa vì mũi tên của người em ruột Thế Dân làm ngài đau đớn lắm. Chính Thế Dân dù đạt tới tột đỉnh vinh quang do chính công lao của ông, suốt đời ông vẫn mãi ray rứt vì chuyện cũ trong gia đình.
Thái Tôn Cảnh tự xét, bản thân ngài chỉ là con cờ trong tay người chú họ, không có công trạng cũng như thực quyền. Người anh ngài cũng chỉ là một nạn nhân khốn khổ Hoài vương đã bị Trần Thái Sư đã chấm số tất nhiên không sớm thì muộn ông phải chết. Mà hễ ông ta bị hại, cái tội đó người ngàn sau tất nhiên lại đổ lên đầu ngài. Ngài nghĩ chỉ còn cách duy nhất là lên núi may ra giải được nỗi oan cho chính ngài. Đó cũng là cách có thể khiến Thái Sư Trần Thủ Độ chùn tay không giết Hoài vương Liễu. Từ đó, ngày nào nhà vua cũng lấy cớ giải sầu rong chơi sông này núi nọ, chờ cơ hội để thoát ly...
Nhưng vị vua trẻ này đâu có thể qua mắt được viên Thái Sư già "đã thành tinh". Những thám tử của triều đình luôn luôn để mắt đến từng hành động dù nhỏ nhặt của vua Thái Tôn.
***
Đang lúc Hoài vương say vùi tại công quán thì cơn nguy biến ập đến. Vương đã thoát được nhờ sự hết lòng của Trần Quang Thiệu và đám thuộc hạ trung thành. Nhưng vương phải trả một giá quá đắt: những người thân tín cố cựu như Phạm Vinh, Lữ Ngân đều phải hi sinh. Quang Thiệu cõng Hoài vương cố gắng chạy càng xa càng tết. Rất may, đêm không đến nỗi tối lắm và trên đường Thiệu cũng chẳng gặp trở ngại nào. Cho tới khi gặp được một khu vực cây cối um tùm Thiệu mới dám nghỉ chân. Sương gió đêm khuya lạnh lùng đã giúp vương sớm tỉnh người lại. Sự xúc động thái quá và chất rượu đã làm vương lả người đi nhưng trí óc vương vẫn còn đủ tỉnh để hiểu phần những chuyện gì đã xảy ra. Vương hỏi Quang Thiệu:
- Chắc chúng đã giết hết người của mình rồi! Còn ai thoát được nữa không biết?
Quang Thiệu hổn hển trả lời:
- Không hi vọng gì nhiều. Quân triều đông quá. May tôi đã nghi ngờ mà dò lối trước nếu không cũng kẹt luôn rồi. Bây giờ vương gia tính làm sao?
- Ta đang đau đớn trong lòng, không sao còn đủ sáng suốt để định liệu việc gì được đâu. ông hãy suy nghĩ giúp ta nên hành động như thế nào vậy. Nhưng ngay bây giờ hãy tìm chỗ nào tạm nghỉ đã . Ta đuối sức lắm rồi!
Sợ bị cảm mạo, Quang Thiệu đề nghị phải tìm một nơi khuất gió sương. Cũng còn may, hai người tìm được một cái chòi hoang, bèn ghé vào đó mà nghỉ. Qua cuộc bôn đào khá dài đầy hãi hùng để bảo vệ mạng sống, hai người đã hết sức mệt nhọc. Cho nên khi tìm được chỗ nghỉ, nằm một chốc, vương cũng như Quang Thiệu đều thiếp đi lúc nào không hay.
Khi mặt trời đã lên khá cao, Quang Thiệu mới thức dậy. Nơi này bóng cây rợp mát, chim chóc ca hót líu lo khắp chốn. ông hoảng hốt nhận ra cái sơ hở lớn của hai người là Hoài vương đang mặc phẩm phục triều đình còn ông đang mặc y phục thành thị. Không biết nơi đây là xứ nào nhưng chắc chắn nó thuộc miền trung du. Chuyện ăn mặc khác thường là điều tối kỵ trong hoàn cảnh này. Nếu có ai thấy được thì nguy hiểm không thể nào lường được. Quang Thiệu lật đật đánh thức Hoài vương. Vương thức dậy liền kêu nhức đầu và khát nước. Nhưng ban ngày ban mặt mà ăn bận như thế này thì dám đi đâu! Quang Thiệu nghĩ lui nghĩ tới rồi nói:
- Vương gia! Bây giờ chúng ta đang gặp nguy biến, phải uyển chuyển mới được. Xin vương gia hãy cởi phẩm phục triều đình giấu ới. Ngoài ra, khi có người lạ xin vương gia với tôi tạm thời đừng xưng hô theo tước vị mà chỉ nên tạm gọi nhau là huynh, đệ như vậy mới mong qua mắt được thiên hạ...
Hoài vương rầu rĩ im lặng gật đầu. Vương bèn cởi áo mão ra trao cho Quang Thiệu. Nhưng tình trạng vẫn chẳng ổn thỏa tí nào. Ngay cả đồ lót của vương cũng thêu thùa khác thường! Thế là cả hai người đành phải quanh quẩn vùng đó tìm phương kế an toàn. Ruột cồn cào và khát khô chịu không nổi nhưng họ phải cẩn thận lần từng bước để kiếm gì ăn uống. Khu vực này có chòi tất nhiên có người đến được. Người ta sẽ nhận ngay ra sự khác lạ trong lối ăn mặc của hai người. Vì thế, hai người chỉ dám đi sâu vào rừng để tìm kiếm thức ăn tạm thời trước khi nghe ra cách gì an toàn cho bản thân hơn. Hoài vương đi theo Quang Thiệu một cách miễn cưỡng.
May sao, đến giữa trưa thì họ gặp được một khe nước mà bên trên lại có mấy cụm chuối rừng. Họ mừng rõ bẻ ngay những buồng chuối trái nhỏ xíu, chín vàng rực, thơm phức rất hấp dẫn. Cả hai đều vội vàng vừa lột vỏ đưa lên miệng vừa đi xuống mép suối. Loại chuối rừng này thật kỳ lạ, nhìn thấy quá ngon lành mà không phải dễ gì ăn. Ngậm trái chuối vào miệng người ta tiếp nhận ngay một ít chất ngọt lịm đến mê ly nhưng liền đó lại gặp toàn hột là hột nhai ra chát đắng không thú vị gì. Hột chuối chiếm ước chừng hơn chín mươi phần trăm thể tích trái chuối. Chát thì chát, hai người vẫn chịu khó nhai để dằn bụng. ăn một hai miếng đã thấy nghẹn, họ vục từng ngụm nước để giúp sức đưa nó xuống cổ. Trời ơi, dòng suối trong mát lạ lùng. Ngậm một búng nước đã thấy người tỉnh táo, khỏe khoắn. Dù chỉ đưa vào bụng được một ít chất ngọt và hột chuối lảm xảm, hai người cũng cảm thấy lại sức nhiều. Nhưng nghẹn quá . Nhai chừng mươi trái là chán ngấy hết muốn nuốt.
Uống nước thỏa thuê, rửa ráy thoải mái xong, hai người ngồi xuống cạnh bờ suối tạm nghỉ. Họ cùng nhìn xuống dòng suối trong vắt, ngắm những đàn cá lớn nhỏ tung tăng lượn lờ. Chúng không có vẻ sợ hãi bóng người gì cả. Hoài vương lặng người để thương thức cái không khí mát mẻ dễ chịu dị thường bên bờ suối. Có lẽ cái không khí này vương mới được thưởng thức lần đầu trong đời. Tiếng chim hót líu lo, ríu rít nghe vang lừng khắp nơi. Thỉnh thoảng lại điểm thêm cả tiếng vượn réo hay một vài giống vật gì đó nữa kêu hú tạo thành một khúc nhạc tự nhiên đa dạng rất vui tai. Cảnh thật mà lại như trong mơ. Cái vẻ lâm tuyền huyền bí đầy thu hút khiến khách phong trần đang cơn khốn đốn cũng chợt tìm được giây phút êm dịu trong lòng. Hoài vương buột miệng than thở:
Loài cá, loài chim, loài thú ở đây sao đều sung sướng thế! Thật thân ta không bằng được một con vật nhỏ mọn! Lâu nay lăn lộn trong chốn bụi hồng ta nào có biết được những giây phút thoát tục này! Nếu việc nhà may mắn qua cơn gió bão chuyến này, có thể ta sẽ tìm tới những chỗ như thế này để tận hưởng cái hương vị lắng đọng của trời đất.
Quang Thiệu nhìn vương ái ngại mỉm cười:
Vương gia trong lúc bức xúc mà nhìn giả ảnh thanh
bình này rồi nghĩ vậy chứ không được đâu?
Hoài vương ngạc nhiên hỏi lại:
- Ta chẳng hiểu vì sao ông lại cho cảnh này là giả ảnh?
Quang Thiệu lại cười:
- Vương gia không để ý đấy chứ cảnh thấy vậy nhưng không phải vậy. Như vương gia nhìn dưới suối cá lớn, cá nhỏ đang lượn lờ xôn xao tướng như vui vẻ với nhau lắm nhưng kỳ thật là con lớn đang chực đớp con nhỏ, giống này đang lăm le rỉa ổ trứng của giống kia. Trên đất thì con trăn đang chờ nuốt trộng con nai, con cú đang chực xé xác con chim cút... Nói chung mọi giống đều như vậy cả . Chúng ta sinh ra, mỗi người đều mang sẵn một cái nghiệp. Có rất nhiều chuyện cứ xảy ra ngoài ý muốn của mình. Cả ngày mai của chúng ta cũng chưa biết ra sao nữa. Tôi mong vương gia phải cố giữ vững tinh thần, giữ vững sức khỏe để vật lộn với cơn khốn đốn này. . .
Hoài vương cười gượng gạo:
- Ta đang chịu đựng một nỗi đau quá lớn nên đuối sức rồi. Người xưa nói "Kim triêu hữu tửu kim triêu túy, Minh nhật sầu lai minh nhật ưu ", hôm nay sẵn rượu cứ say cái đã, ngày mai sầu đến ngày mai hãy lo. Hiện chúng ta tình cờ gặp được nơi cảnh trí vui mắt, không khí dễ chịu thì cũng nên tạm gác mọi chuyện để giải khuây trong chốc lát có được chăng? Đời mình chắc gì gặp lại cảnh này một lần nữa!
Quang Thiệu lại cười:
- Vương gia có tâm hồn phóng khoáng như thế thì thật quá tốt. Tôi chỉ sợ vương gia quá bức xúc đau đớn làm nguy hại đến huyết mạch bản thân. Tuy nhiên, thì giờ qua vùn vụt mà hiện tại chúng ta chưa có thức ăn cũng như chỗ nghỉ an toàn đêm nay trước khi chúng ta có thể lẫn lộn giữa dân gian, chuyện ấy không thể không lo tới được. Tôi hiện còn có một ít vàng bạc, phải tìm cách nào đem đổi lấy một ít áo quần nhà quê để dùng tạm mới có thể né tránh tai mắt của triều đình. Thôi thì vương gia cứ nghỉ tạm một mình ở đây, tôi đi thăm dò quanh quanh một chốc rồi trở lại! Sau đó chúng ta phải rời chốn này trở về chỗ nghỉ hồi hôm chứ ở đây sao được!
Hoài vương nhìn Quang Thiệu ái ngại:
- Chốn rừng rú đi lẻ tẻ một mình cũng không hay. Thôi ta đi với ông nhé. Nếu kiếm được gì ăn thì cũng tốt nếu không thì chúng ta lại gắng nhai chuối rừng thôi. Khổ nỗi, mới ăn một lần đã thấy ngán rồi!
Quang Thiệu đi trước, Hoài vương theo sau, men xuôi dọc theo dòng suối. Một chốc sau, Quang Thiệu quay mặt ra hiệu cho Hoài Vương dừng lại: Một ông già đang ngồi trên mỏm đá bên bờ suối để câu cá. ông già giựt lên được một con cá trắng không lớn lắm. ông từ từ gỡ ra bỏ vào chiếc giỏ đan bằng mây theo hình dạng trái bầu eo rồi mắc mồi buông câu lại. Trông ông già có vẻ quắc thước, phong thái chững chạc, chừng như câu để giải trí hơn là kiếm cá đưa cơm. ông ta ăn mặc tươm tất, sạch sẽ, không có cái vẻ lam lũ của dân quê Hai người ngồi lại bàn bạc. Có thể đây là một viên chức sắc địa phương hoặc một vị quan hồi hưu. Phải tìm một cách nào để tiếp xúc với ông ta mà không bị lộ tông tích. Điều cần thiết bây giờ là phải kiếm được hai bộ quần áo nhà quê . Nếu chưa thực hiện được việc đó thì thật khó an toàn và điều trước mắt là phải ráng ăn chuối rừng trừ bữa. Nhưng bàn ới tính lại, không có lý do gì ổn thỏa để có thể tiếp xúc với ông già. Ngồi nán lén xem ông già bắt thêm vài con cá nữa rồi hai người men lối cũ tìm lại cái chòi đang tạm trú...
Chuyến đi quanh vừa rồi càng làm vương mệt nhoài, bước không muốn nổi. Vừa bước vào chòi, vương liền nằm lăn xuống đất, rên rỉ...
Biến cố ở triều đình đã làm vương đau đớn đến cực độ Vương bị xuống tinh thần một cách tàn tệ. Vả lại, Hoài vương xưa nay chưa từng quen với sự vất vả, sương nắng. Vì thế, người vương dễ trở nên bất an. Nỗi khổ nội tâm của vương bây giờ lại dấy lên dữ dội làm cho vương không còn biết sự việc gì xảy ra bên ngoài. Vương cứ để mặc cho muỗi mồng kiến bọ quấy rầy cho đến khi thiếp đi.
Về Quang Thiệu, hôm trước vì quá mệt mỏi, nằm xuống là ngủ liền, chẳng kịp để ý đến cảnh vật chung quanh. Nhưng hôm nay, cái bụng chỉ có nước suối và một ít chuối rừng toàn bã hạt cứ óc ách réo gọi, rất khó nhắm mắt. Những con muỗi rừng đua nhau tìm về cứ đốt vào da là sưng lên từng nốt gây ngứa ngáy rất khó chịu. Những cái vỏ chuối rừng còn sót lại ít chất ngọt vứt quanh chỗ nghỉ thu hút những đàn kiến đen, kiến đỏ lần lượt xuất hiện quấy phá lung tung. Chúng cứ bò quanh tìm thức ăn mà hễ gặp thịt da con người là cong mình nghiến lấy nghiến để từng miếng đau đến nhảy nhổm.
Quang Thiệu chỉ có thể ngủ chợp được từng giấc ngắn. Năm ba lần ông nghe tiếng nói mớ, tiếng rên rỉ, tiếng nấc của Hoài vương. Quang Thiệu cảm thấy đêm sao quá dài. Tiếng côn trùng, tiếng chim đêm, tiếng tắc kè, sóc kêu rắn gáy vài lúc hòa thành một điêu nhạc kỳ dị cứ lập đi lập lại. Thỉnh thoảng lại điểm thêm vài tiếng thú lạ kêu hú nghe đến rợn người.
Điều Quang Thiệu lo sợ nhất là vấn đề sức khỏe của Hoài vương. Nếu vương lâm bệnh lúc này thì thật khốn đốn chỉ trong vài ngày sau khi xảy ra biến cố, người vương xuống dốc một cách lạ thường. Chuyện xui xẻo vẫn có thể xảy đến bất ngờ, Quang Thiệu cứ trông cho mau sáng. Nhưng đến khi trời sáng thật sự thì Quang Thiệu cũng thật sự chìm vào giấc ngủ...
Sinh hoạt xôn xao của núi rừng và ánh nắng buổi trưa đã đánh thức Quang Thiệu dậy. ông quay lại, thấy Hoài vương vẫn nằm im. Không muốn phá giấc ngủ của vương, ông nhè nhẹ bước ra ngoài đảo mắt nhìn bốn phía.
Một chốc sau, Quang Thiệu trở vào định đánh thức Hoài vương để cùng đi xuống suối. Thấy vương vẫn còn có vẻ mê mệt, ông đặt bàn tay lên tay vương. ông bỗng giật mình phát hiện ra rằng tay Hoài vương đang nóng như cái bánh hấp, Quang Thiệu hoảng hết nắm lấy lay lay giật giật. Vương thức dậy nhưng rên hư hử kêu nhức đầu và kêu khát. Quang Thiệu lấy cái bong bóng lợn đựng nước suối lấy chiều hôm qua đem lại. Vương ngồi dậy súc miệng sơ rồi uống một mạch xong ôm đầu nằm xuống lại. Quang Thiệu lo lắng hỏi:
-  Vương gia thấy khó chịu trong người lắm à! Chuối rừng còn một ít ngài liệu có dùng được không?
Hoài vương rên rỉ:
- Miệng ta đắng nghét, đầu ta nhức dữ dội lắm, ta không muốn ăn gì hết...
Quang Thiệu sờ lên trán Hoài vương, ông càng hoảng sợ. Trán vương cũng chẳng khác gì cái bánh mới hấp. Bình thường Quang Thiệu không rành rẽ gì về chuyện thuốc men nên ông bối rối lắm. Hoài vương đã thật sự nhuốm bệnh sốt. Quang Thiệu chỉ biết đơn giản có vài loại bệnh sốt mà ăn vào một cái gì khó tiêu là bệnh trở nên nguy hiểm. Với tình trạng không thể chạy ra một miếng cháo như lúc này thì làm sao đây! Hình như Hoài vương đang lên cơn, ông kêu lạnh và co người lại, run bần bật. Túng thế, Quang Thiệu phải lấy chiếc áo triều đã gói lại giấu kỹ ra để đắp cho vương. Nhưng vương cứ tiếp tục kêu lạnh và càng run dữ dội. Quang Thiệu chỉ còn biết ngồi bên cạnh vương để ôm giữ vương, xoa bóp cho vương. Một lúc khá lâu cơn rét của vương mới giảm dần. Bấy giờ vương chịu nằm yên, nhắm mắt, chốc chốc lại buông một tiếng hư hử. Quang Thiệu hơi yên tâm, ông lại đưa bong bóng nước cho vương nhắp vài hớp. Bong bóng chứa nước uống cũng đã cạn.
- Vương gia tạm đỡ rồi tôi đi lấy nước cái đã rồi tính nhé!
Hoài vương gật đầu. Quang Thiệu nhai vài quả chuối để lấy sức trước khi xuống suối. Những bắp thịt trong người ông không mấy khi vận động tối đa như hôm kia bây giờ còn đau còn mỏi. Hai hôm nay lại chỉ lót lòng bằng mấy trái chuối rừng nên người ông muốn rệu rã. Đầu óc ông vô cùng căng thẳng. ông có thể tạm thời nhai chuối qua ngày nhưng Hoài vương đang bị sốt không thể ăn chuối rừng được thì làm sao! ông vừa đi vừa nghĩ muốn nát óc. Không thuốc, không cháo thì bệnh nào mà lành được! Muốn cứa mạng Hoài vương chỉ còn đánh nước liều, đi vào vùng dân cư cầu may...
Khi Quang Thiệu trở lại, Hoài vương vẫn còn nằm thiêm thiếp. ông vỗ nhẹ vào tay Hoài vương. Hoài vương mở mắt lơ láo, ứa nước mắt, hổn hển nói:
- Công chúa Thuận Thiên đã về tay người khác, lẽ sống của ta đã mất. Chuyện đời đau đớn ta không tường tượng nổi. Mất vợ ta đã đau lắm, nhưng ta còn đau hơn nữa khi chính em ruột ta cướp vợ ta rồi vu họa để giết ta. Thật là chuyện hiếm có trong dân gian. Ta biết sức ta lắm, chuyến này chắc không qua khỏi. Nếu vương vấn vì ta chắc ông cũng khó trở về . Thôi thì ông cứ bỏ mặc xác ta đây để làm cách nào tự toàn được thì làm. Ông là người khôn ngoan, ta hi vọng ông thoát khỏi bàn tay kẻ thù của chúng ta. Sau này, nếu may mà còn cơ hội gặp một trong hai vương tử thì ông nhớ nhắc lời ta, ta tha thiết muốn chúng trả thù cho ta. Đó là cách ông đã sống trọn tình trọn nghĩa với ta vậy!
Quang Thiệu cũng ứa nước mắt thưa:
- Vương gia, tôi nỡ nào bỏ vương gia trong hoàn cảnh này để bảo toàn lấy mình! Nhưng chúng ta gặp đường cùng rồi, mà cứ ở đây tất nhiên phải chết hết. Còn nước còn tát, chúng ta thử liều tìm đến khu dân cư cầu may, vương gia nghĩ có nên không?
Hoài vương uể oải:
Ông ăn ở hết tình như vậy ta cám cảnh vô cùng. Nhưng thân ta đau đớn, ruột ta rối bời đâu còn nghĩ ra điều gì Thôi, tùy ông muốn làm sao được thì làm! Nếu ở đâu cũng chết thì thà chết ở chỗ này, ta không muốn bị chúng làm nhục thêm một lần nữa.
- Thế bây giờ vương gia cứ chịu khó nằm nghỉ, tôi thử tìm đến chỗ ông già câu cá hôm qua xem sao. Tôi trông tướng ông già có vẻ phúc hậu đấy ! Nếu gặp ông ta thuận tiện, tôi sẽ dò hỏi tình hình để tính toán việc mình. Nếu không gặp, tôi cũng sẽ đi kiếm chút cháo cho vương gia đỡ lòng. Tôi sẽ trở về sớm cho vương gia khỏi trông ngóng. Xin vương gia yên chí, tôi đi một chốc sẽ về .
Hoài vương có chút sắc vui:
- Ông đi thì phải cẩn thận đấy nhé !
***
Vì tính mạng Hoài vương đã sắp nguy, Quang Thiệu không dám thậm thụt dè dặt nữa. ông cố gắng đi thật nhanh. Nhưng mới đi khỏi chòi chừng hơn trăm bước, Quang Thiệu gặp ngay hai người đang đi ngược chiều. Đó là một người đàn ông trung niên và một thiếu nam còn vẻ khờ dại trên mặt, chừng mười lăm tuổi. Hai người một cầm rựa, một vác búa. Nhìn thấy họ, Quang Thiệu nghĩ đây là hạng dân dã quê mùa áo rách quần bươm. Quang Thiệu rất mừng vì ông cho họ là những đối tượng không có gì nguy hiểm. ông vồn vã chào hai người:
- Xin quí vị làm ơn cho tôi hỏi thăm một chút!
Chú nhỏ nhìn khách có vẻ ngạc nhiên trong khi người lớn tuổi vui vẻ hỏi lại:
- Ông làm gì ở đây? Cần đến chúng tôi chuyện gì xin cứ nói!
Quang Thiệu nhỏ nhẹ:
. Thưa, chúng tôi là khách buôn bán vải vóc đường xa. Giữa đường không may gặp giặc cướp lấy hết của cải Chúng tôi phải chạy trốn mới thoát thân được. Không ngờ lại lạc đường đến xứ này, lương khô mang theo cũng hết sạch rồi. Chưa tìm được đường về thì người anh tôi không may mắc bệnh sốt rét rất nặng. Hai ngày nay ông ấy không có chút thuốc chút cháo nào vào trong bụng. Xin ông làm ơn làm phước giúp đỡ
Người đàn ông nghe qua chuyện có vẻ động lòng. Ông sốt sắng nói với Quang Thiệu:
- Thôi được, cứu người tức là gieo nhân lành. Nhà tôi cũng gần đây thôi. ông hãy dắt người bệnh theo chúng tôi về nhà nghỉ tạm mà lo chạy chữa.
Nói với khách xong, ông ta quay lại vẫy tay về phía cậu bé:
- Mình đình việc ấy lại đã con, ngày khác làm. Bây giờ đưa hai người này về nhà cứu người ta cho kịp cái đã!
Quang Thiệu thấy cách nói năng của người đàn ông thì mừng rỡ, yên lòng dắt hai người về chòi. Khi ba người đã bước vào chòi Quang Thiệu mới giật nẩy mình. ông đã quên lửng việc bộ phẩm phục triều đình đắp trên mình Hoài vương. Quang Thiệu chỉ còn biết tự trách mình bối rối quá đã sơ sót cả chuyện cảnh giác. Hai người dân quê hết sức ngạc nhiên khi thấy người bệnh đang đắp trên thân một bộ áo quần sang trọng. Quang Thiệu biết ý lúng túng giải thích cho qua:
- Chúng tôi đi buôn vải vóc mà bây giờ vốn liếng chỉ còn bấy nhiêu đấy!
Cha con người đi rừng như có vẻ tin lời, không nói gì Hoài vương đang mê man nằm chèo queo trên tấm ván mục, thỉnh thoảng vẫn rên hư hử. Quang Thiệu ngồi xuống bên cạnh nhẹ nhàng đánh thức vương dậy. Vương mở mắt ngơ ngác nhìn hai người lạ và vẫn rên hư hử. Quang Thiệu nói nhỏ với vương điều gì đó, vương mệt mỏi gật đầu. Quang Thiệu xếp bộ triều phục của vương lại cất đi. Người đàn ông giao cái búa cho người con cầm đi trước rồi cùng Quang Thiệu dìu Hoài vương về nhà mình.
Quang Thiệu để ý thấy con đường đi cong queo được đắp bằng thứ đất cứng khô chai bạc màu. Hai bên là hàng rào trồng cây xanh tốt có bóng mát để khách có thể nghỉ tạm núp nắng ven đường. Đi được một đoạn khá dài, người đàn ông nói với Quang Thiệu:
- Nãy giờ quên mất, tôi là Cả Lục, gia đình tôi làm cả nghề rừng lẫn nghề rẫy ở nơi đây đã nhiều đời. Vùng này dân chúng thưa thớt, hay bị sốt rét nên ai cũng có phòng trữ thuốc trị trong nhà . Tôi sẽ cho thuốc để ông anh đây uống. Nếu không giảm, tôi sẽ nhờ ông cậu tôi chữa cho. ông cậu tôi trước là quan ngự y của triều đình. Có lẽ vì buồn phiền thế sự, ông đã xin về hưu hơn năm năm nay, hiện cũng ở gần đây.
Bây giờ thì Quang Thiệu mới biết người đàn ông này không phải thuần túy là hạng vai u thịt bắp như ông đã tưởng lúc mới gặp. Rõ ràng Cả Lục có vẻ hiểu biết thời thế, có tư cách đàng hoàng. Anh ta đã có một ông cậu là cựa ngự y của triều đình thì gia thế anh ta chắc không phải tầm thường. Quang Thiệu nói:
- Thưa ông Cả, lúc nãy tôi cũng bối rối quên giới thiệu mất. ông anh tôi đây là Hai Hoàng, còn tôi là Quang, đều là người hạt Nam Định.
Nói chuyện đến đây thì đã tới nhà Cả Lục.
Nhà Cả Lục gồm hai phần. Nhà trên rộng, nền cao gồm ba gian hai chái lợp lá chung quân. Nhà dưới thấp hơn gồm ba gian nhỏ hơn thẳng góc và nối liền với nhà trên bằng một cái máng xối, lợp bằng tranh. Cả Lục sai người nhà dọn một phòng cho ông Hai Hoàng nằm nghỉ dưỡng bệnh. Quang Thiệu thì được mời nghỉ ờ một cái giường lèo. Cả Lục thân hành coi mạch, rồi chế thuốc cho người bệnh. Đồng thời, ông thúc người nhà nấu cháo loãng cho người bệnh dùng. Cả Lục cũng cho người nhà lựa một số áo quần cho hai người khách tạm thay.
Đêm đó, ông Hai có vẻ bớt sốt. Đến ngày hôm sau, ông Hai cũng ăn được ít cháo và vẫn tiếp tục uống thuốc. Thấy người bệnh thuyên giảm mau chóng ai cũng mừng. Nhưng không ngờ vào nửa đêm sau thì bệnh ông Hai bỗng trở nên nguy kịch. Người ông nóng lên dữ dội trở lại. ông cứ nói mê sảng từng hồi. Quang Thiệu lo sợ lắm, phải túc trực bên mình ông để coi chừng. ông Cả Lục cũng lăng xăng lo thuốc. ông rất lấy làm lạ vì xưa nay thứ thuốc ông ai dùng cũng công hiệu. Với người khách này, hôm qua bệnh cũng giảm thấy rõ, bây giờ lại trở nặng đột ngột chắc phải có một nguyên do gì. Cả ngày người khách chỉ dùng một ít cháo trắng chứ có ăn gì nữa đâu! ông chỉ còn cách cứ cho khách uống tiếp thuốc, nếu tới sáng không bớt thì đành phải cầu cứu ông cậu vậy. Người bệnh vẫn chốc chốc lại nói lãm nhảm không ai hiểu gì. Một lần thình lình người bệnh ú ớ rồi kêu to lên:
- Thuận Thiên công chúa! Nàng bây giờ ở đâu? Ta không muốn mất nàng. Ta chết mất công chúa ơi!
Câu nói đột ngột của người bệnh đã làm Quang Thiệu tái mặt, Cả Lục thì trố mắt ngạc nhiên rồi quay lại nhìn Quang Thiệu. Quang Thiệu lật đật cầm tay người bệnh lắc lắc với thái độ lúng túng:
- Tỉnh dậy, tỉnh dậy... huynh ơi! Đây là nhà thầy thuốc !
Người bệnh trở mình vài cái rồi lại thiêm thiếp.
Nhưng không lâu sau đó ông lại nấc lên đau đớn:
- Thuận Thiên! Thuận Thiên! Tấm thân ngà ngọc của nàng đã được tay người khác ôm ấp rồi! Trời ơi là trời...
Quang Thiệu lại một lần nữa lay người bệnh thức dậy. ông mở mắt nhìn hai người đang đứng bên giường một chút rồi trở lại thiêm thiếp. Hai người vẫn còn nghe người bệnh tiếp tục lảm nhảm nho nhỏ: "Thuận Thiên! Thuận Thiên!...". Một chốc sau, thấy người bệnh đã ngủ yên, Cả Lục nắm tay Quang Thiệu kéo lại ngồi bên chiếc bàn nhỏ:
- Ông Quang đừng ngại nhé, tôi hỏi thật các ông là ai?
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-14 02:59:51Hoàng Dung>
tình hận (e)
Quang Thiệu buồn rầu, ái ngại hỏi lại:
- Tôi nghe người nhân thấy người lâm nguy thì ra tay cứu giúp chứ cần chi biết lai lịch người thọ ơn thưa ông Cả !
Cả Lục nói như phân trần:
-  Xin ông đừng lấy làm lạ thấy chúng tôi có vẻ tò mò. Tôi chỉ muốn biết sơ một vài điểm cần thiết để có thể phỏng đoán bệnh trạng mà chữa cho ông anh thôi.
Quang Thiệu im lặng chốc lát rồi ngùi ngùi:
- Thôi, tới nước này tôi cũng không giấu ông làm gì nữa. Người bệnh đây chính là Hoài vương Trần Liễu, còn tôi là môn khách của người tên là Trần Quang Thiệu. Chúng tôi đang gặp nạn lớn, sống chết xin tùy lượng ông Cả vậy!
Cả Lục vô cùng ngạc nhiên, thắc mắc:
- Vậy ra quí ngài là yếu nhân của triều đình, kẻ thôn dân không biết cam thất lễ ? Nhưng sao vương gia lại mớ nói ra những lời gì khác lạ vậy? Phải chăng đã xảy ra chuyện gì? Tại sao tiên sinh không thông báo với bất cứ viên chức thôn xã nào về bệnh trạng của vương gia? Tôi nghĩ rằng bất cứ địa phương nào cũng có nhiệm vụ tìm mọi cách thông báo hoặc đưa vương gia về triều để kịp thời cứu chữa cho người, sao tiên sinh không tính chuyện ấy?
Quang Thiệu bất đắc dĩ phải kể lại mọi chuyện đã xảy ra. Nghe xong, Cả Lục nói:
- Vậy sáng mai tôi phải trình việc này với cậu tôi để ông ta tính sao!
Quang Thiệu ngần ngại:
- Xin ông Cả tha lỗi, liệu trình lại với ông cụ có thể gây sự nguy hiểm không đây.
- Tiên sinh cứ yên lòng. Cậu tôi một đời chỉ biết cứu người, không màng danh lợi cho nên ông mới từ quan về ở ẩn. ông là một thầy thuốc có tài, đã từng làm ngự y trong triều. Nếu không nhờ tay ông ta, tôi sợ mình không đủ sức chữa cho vương gia. Tuy nhiên, để ngăn ngừa chuyện có thể lộ ra đến tai triều đình, xin tiên sinh cũng như vương gia phải giữ kín tông tích. Xin hai vị từ nay coi như thân nhân của tôi cho tiện.
Quang Thiệu nghe Cả Lục nói thế thì cám ơn rối rít.
Hôm sau, vừa tảng sáng, Cả Lục thân hành sang nhà ông cậu. Sau khi nghe cháu trình bày đầu đuôi câu chuyện, ông cậu cười:
- Cậu cũng không ngờ cháu to gan đến thế. Chấp chứa phản tặc mắc tội tru di tam tộc như chơi đấy. Nhưng làm việc nhân nghĩa thì trời không phụ lòng đâu. Cháu đã có lòng như vậy thì cậu đâu tiếc sức. Tuy nhiên, phải hết sức cẩn thận đấy.
- Dạ, cháu sẽ hết sức cẩn thận.
Quang Thiệu ở nhà hồi hộp đợi chờ. Một chốc sau thì Cả Lục trở về với một ông già. Quang Thiệu ngạc nhiên thấy ông già mặt quen quen. Hình như đã gặp nhau đâu đây rồi.
- Kính chào cụ!
- Không dám, kính chào tiên sinh!
Hai người chào nhau trước khi Cả Lục kịp giới thiệu. Qua giây phút ngạc nhiên, Quang Thiệu chợt nhớ ra đây chính là ông già câu cá mà Hoài vương và ông đã thấy hôm kia . Quang Thiệu mừng rỡ như gặp được người quen cũ.
- Xin tiên sinh cho phép tôi vào thăm vương gia một tí.
Quang Thiệu và Cả Lục đi trước, ông già theo sau. Ông bước lại đứng cạnh giường Hoài vương quan sát. Lúc ấy Vương hơi tỉnh táo, nghe tiếng động Vương mở mắt ra thấy ông già thì lộ vẻ ngạc nhiên. Vương lại nhìn về phía Quang Thiệu như muốn hỏi. Quang Thiệu biết ý giải thích:
- Vương gia, đây chính là cụ già câu cá mà mình gặp hôm kia. Cụ chính là một viên quan ngự y của triều đình đã hồi hưu. Vương gia yên trí cụ sẽ chữa lành bệnh cho ngài.
Đến lượt cả cụ già lẫn Cả Lục ngạc nhiên, Cả Lục hỏi:
- Thì ra vương gia và tiên sinh đã gặp cậu tôi rồi?
- Không, thật ra bữa đó chúng tôi đã thấy cụ khi cụ đang câu cá nhưng chúng tôi ẩn mặt không dám lại chào.
Cụ già vái Hoài vương một cái:
- Lão là Phạm Lũy, kính chào vương gia, xin tha tội thất lễ!
Vương nhẹ gật đầu, mặt có sắc vui nhưng không nói gì, tỏ vẻ mệt nhọc. Sau đó vương lại nhắm mắt. Cụ Phạm nhìn sắc mặt rồi xin phép xem lưỡi, sờ trán, sờ lưng và cầm tay vương bắt mạch rất cẩn thận. Quang Thiệu im lặng lo lắng chờ đợi.
Thấy cụ già đã ngừng tay, Quang Thiệu nôn nóng hỏi:
-Thưa cụ, bệnh tình vương gia ra thế nào?
- Lẽ ra bệnh chưa đến nỗi nào, nhưng vì uất khí bên trong xung lên quá dữ dội làm kinh mạch đảo lộn hết, khiến bệnh chóng trở nên kịch liệt. Nếu để chậm một hai ngày nữa có lẽ khó phương cứu chữa... Bây giờ gặp lão thì tiên sinh cứ yên chí.
Cụ Phạm trở ra ngoài hết thuốc và chỉ cho người nhà Cả Lục cách sử dụng. Sau đó, Cả Lục mời cụ cùng ngồi Quang Thiệu uống trà.
Uống xong một ngụm nước, Quang Thiệu thưa:
- Kính thưa cụ, thưa ông Cả Lục, tính mạng vương gia nếu không gặp nhị vị chắc không xong rồi. Chúng tôi thật mang ơn nhị vị như ơn trời biển tái tạo. Nếu sau này chúng tôi được giải oan mà trở về triều thì nhất định vương gia sẽ không quên ơn ấy đâu...
Cụ Phạm khoát tay:
- Xin tiên sinh đừng bận tâm chuyện đó làm gì. Cứu nguy giúp khốn là sở nguyện của chúng tôi. Bây giờ chúng ta cầu sao cho vương gia chóng phục hồi sức khỏe, tai qua nạn khỏi là chúng tôi mừng rồi. à, tiên sinh có thể cho lão biết tình trạng Cựu Hoàng Chiêu Thánh bây giờ ra sao không? Đáng tiếc, một người sắc nước hương trời như vậy mà số phận hẩm hiu ?
- Thưa cụ, chính tôi cũng không biết gì. Tôi theo Hoài vương đi bên ngoài nên rất mơ hồ về chuyện xảy ra ở trong triều.
Cụ Phạm thở dài:
- Không ngờ thời buổi này lại xảy ra những chuyện động trời đến thế!
- Thưa cụ, tôi nghĩ chắc cụ đã quá chán chốn bụi hồng nên mới về đây tìm thú lâm tuyền!
- Vâng, thưa tiên sinh, cuộc đời dâu bể lắm chuyện thị phi, lão phu phần chán ngán công danh, phần tuổi già sức yếu nên về qui ẩn chốn này cũng hơn năm năm rồi. Lão phu là ngự y từng phục vụ các triều Cao tôn, Huệ tôn, Chiêu Hoàng nhà Lý rồi đến triều Thái Tôn nhà Trần. Tuy đã qui ẩn, lão phu vẫn nguyện mình còn giúp đời được gì thì cứ giúp. Tiên sinh cần gì cứ nói, lão phu rất sẵn sàng giúp đỡ nếu được.
- Thưa cụ, việc chữa bệnh cho vương gia là chính yếu trước mắt. Chúng tôi đội ơn nhị vị quá nhiều rồi. Nhưng sau này có thể chúng tôi còn làm phiền cụ và ông Cả Lục nhiều nữa.
- Không sao, xin tiên sinh cứ việc! ở triều xảy ra bao nhiêu chuyện lớn lao như vậy mà lão đây có hề nghe gì đâu! Nếu vương gia và tiên sinh không đến đây không biết bao giờ lão mới biết được. Rõ là ếch ngồi đáy giếng.
Chừng mươi hôm sau Hoài vương đã hoàn toàn bình phục. Sợ ở lại lâu có thể gây liên lụy cho gia đình người ơn, Hoài vương cáo từ lên đường. Bấy giờ thì hai ông đã có đủ áo quần ngụy trang để có thể trà trộn trong dân chúng. Cụ Phạm Lũy cảm thấy ái ngại cho hai người, đề nghị:
- Vương gia về đâu bây giờ? Theo lão nghĩ chỗ này coi như chốn thâm sơn cùng cốc ít ai biết tới, Vương gia cứ yên tâm tạm dung thân một thời gian đã. Lão sẽ cho người về kinh dò xem tình hình rồi tính dọi theo cũng được, cần gì mà vội!
Cả Lục cũng ân cần mời mọc mấy lần. Hoài vương thấy tình ý chủ nhân như vậy bèn chịu nương náu ở đó một thời gian nữa: Từ đó cụ Phạm hằng ngày vẫn hay qua lại thăm viếng, an ủi hai người. Cụ muốn giúp Hoài vương khuây khỏa bằng những ván cờ, những cuộc đàm đạo thơ văn...
Nhưng chỉ được vài ngày, Hoài vương lại tỏ vẻ ray rứt khó chịu. Chuyện vợ đã đành cam phận, còn các con nữa, bây giờ chúng ra sao! Những dấu hỏi cứ đập vào đầu khiến Hoài vương không thể nào nguôi ngoai được Trên mặt vương lúc nào cũng hiện rõ vẻ khổ não. Mấy hôm sau, trong một lần uống trà cùng cụ Phạm và Cả Lục và Quang Thiệu, Hoài vương nói.
- Ta rất cảm kích tấm chân tình của cụ Phạm và ông Cả dành cho ta. Ta cũng rất cảm kích lòng trung thành, chung thủy của Quang Thiệu đối với ta lâu nay. Kể từ giờ phút này, ta không muốn phiền nhiễu ai nữa. Công chúa Thuận Thiên đã về tay người khác, lẽ sống của ta cũng không còn. Vả lại, ta còn hai vương tử vô tội Tuấn và Doãn, chúng cần sống. Ta vui lòng nhận lãnh sự oan khuất, ta muốn chịu chết để cứu lấy hai vương tử. Cha mẹ nào mà chẳng thương con! Ta đã thấy ác mộng về chúng nhiều lần. Những hình ảnh hai trẻ thơ ngây bị đày đọa hoặc bị giết thê thảm cứ hiện lên tâm trí ta, ta không chịu nổi nữa. Hôm nay ta quyết về triều một mình. Quang Thiệu không nên theo ta làm gì nữa, đừng hi sinh vô ích, hãy tìm đường sống cho mình. Các người đừng bận bịu vì ta nữa nhé!
Cụ Phạm hết sức xúc động nói:
- Vương gia đã quyết lòng thì lão không dám cản. Tuy nhiên, lão cũng xin tiễn vương gia mấy lời chân thành: Lão đã cho người thăm dò và được biết, chính Hoàng Thượng cũng đau khổ như vương gia. Đã có lần Hoàng Thượng bỏ triều trốn vào núi tu hành nhưng rồi Thái Sư đem bá quan lên rước trở về lại. Hoàng Thượng rất thương và rất lo lắng cho số phận của vương gia. Nhưng ngược lại, triều đình đã có lệnh, bất cứ giới chức nào cũng được phép "tiền trảm hậu tấu" khi gặp vương gia. Vậy, xin vương gia nghĩ kỹ lại. Chỉ có Hoàng Thượng là người có thể che chở cho vương gia. Dạo này Hoàng Thượng chán nản việc đời nên hay rong chơi sông hồ. Tốt nhất là vương gia làm thế nào để diện kiến được Hoàng Thượng thì may ra an toàn. Vương gia còn sống thì nỗi oan khuất sẽ có ngày được tẩy rửa. Xin vương gia liệu lấy!
Quang Thiệu cũng xúc động nói:
- Vương gia nói vậy chứ tôi nỡ nào bỏ vương gia giữa lúc này! Nếu tôi sợ khổ, sợ chết, tôi đâu có theo vương gia đến bây giờ! Nhưng tôi nghĩ rằng, nỗi đau khổ quá lớn đã làm tổn hại đến sự suy nghĩ chín chắn của vương gia. Vương gia nên nén lòng ẩn nhẫn một thời gian nữa, chính tôi sẽ đích thân theo dõi, dò xét tình hình thế nào rồi chúng ta về triều cũng không muộn.
Nhưng Hoài vương cương quyết nói:
- Không, ý ta đã quyết. Nếu không chết vì triều đình thì ta cũng chết dọc đường mà thôi. Quang Thiệu! Nếu ông thương ta, hãy bảo trọng cái thân, sau này có dịp ông dìu dắt che chở các vương tử cho ta, biết đâu chúng trả thù được cho ta! Đó là điều ta kỳ vọng đấy!
Quang Thiệu rưng rưng nước mắt:
- Tôi xin hứa trước mọi người, tôi sẽ hết lòng làm những việc vương gia ủy thác. Nhưng bây giờ, tôi xin được theo chân tới khi nào vương gia gặp được Hoàng Thượng. Tôi không muốn vương gia mắc mớp bọn tiểu nhân dọc đường!
Hoài vương lắc đầu:
- Không được! Nếu ta gặp hoạn nạn dọc đường, ông nổi nóng nhảy vào rồi cũng gặp không may thì sao? Vậy là tuyệt đường trông cậy của ta rồi!
Cụ Phạm lên tiếng:
- Nếu vương gia đã quả quyết như vậy thì xin cứ việc Nhưng xin phép cho lão được tổ chức một bữa rượu tiễn chân, ngày mai vương gia hãy lên đường!
***
Hôm ấy, vua Thái Tôn đang ngự thuyền rong chơi trên sông Thao. Trước và sau thuyền rồng đều có thuyền chở những lính hộ vệ. Thình lình một anh dân chài ăn mặc rách rưới đến gần một người lính xin ra mắt vua. Y nói có chuyện cơ mật cần báo cáo gấp. Người lính trình lại, vua ngạc nhiên cho đòi vào. Sau khi lục xét kỹ khắp thân thể người lạ, tên lính hầu dẫn y đến trước mặt vua. Vừa thấy vua, người lạ bỗng quì xuống khóc tức tưởi Vua bỡ ngỡ một chút rồi lật đật bước tới đỡ người ấy đứng dậy, hai người ôm nhau mà khóc. Bọn lính hầu vô cùng ngạc nhiên cảnh tượng lạ đời ấy. Sau đó chúng mới biết người lạ chính là Hoài vương Liễu. Thái Tôn truyền lấy quần áo cho Hoài vương thay rồi cho quân hầu ra ngoài hết. Xong ngài hỏi vương những chuyện đã xảy ra trong thời gian vừa rồi...
Sau khi Hoài vương thành thật kể lại mọi chuyện với vua Thái Tôn, vua ngậm ngùi:
- Cái giống phản chủ nó đã làm cho vương huynh lâm tình cảnh thảm thiết như thế đó ! Nếu trẫm hồ đồ một chút thì hai vương tử cũng mang khốn rồi!
Hoài vương chợt thấy nhói trong lòng. Vua Thái Tôn đâu có ghét bỏ gì vương đâu! Vua vẫn nặng tình, vẫn thương cảm vương cơ mà!
- Thế bây giờ tình trạng hai vương tử như thế nào?
- Vương huynh yên chí! Hai cháu vẫn mạnh khỏe. Sau khi Thái Sư đã ra lệnh tịch biên gia sản và phân tán kẻ ăn người ở trong phủ vương huynh, trẫm đã cho đưa hai đứa về hoàng cung, cho ở phòng riêng, vẫn cất cử giáo sư giỏi dạy dỗ và cho người hầu hạ săn sóc chúng đàng hoàng.
- Cám ơn bệ hạ. Thế viên quản gia Đinh Lang bây giờ ở đâu?
- Tên phản chủ ấy bây giờ đang ở trong phủ Thái Sư Chính hắn đã báo cáo với Thái Sư rằng vương huynh tổ chức nổi loạn, vương huynh còn tiếc gì hắn nữa?
- Tôi vẫn tin tưởng và đối đãi với nó như bát nước đầy thật không ngờ được!
Hoài vương bùi ngùi nghĩ đến cảnh tan nát không thể nào hàn gắn được của mình. Vương lại nghĩ về Thuận Thiên công chúa. Bây giờ nàng còn nhớ đến ta chăng? Nàng vui hay nàng buồn? Vương nhìn vẻ mặt thông minh, hiền lành của vua Thái Tôn rồi nhớ đến gương mặt diễm kiều của Thuận Thiên, lòng vương đau như cắt. Sao trời bắt ta khổ thế này? Thuận Thiên diễm lệ tuyệt trần nàng ơi! Ôi, người cùng ta môi kề má áp bao nhiêu năm bây giờ để cho kẻ khác dày vò! Mỉa mai thay, kẻ ấy lại là em ruột ta! Nó đang ngồi trước mặt ta đó! Nếu không có nó thì ta đâu đến nỗi mất vợ! Nó không cố tình cướp đoạt thật nhưng chính nó lại là cái nhân gây nên chuyện! ôi chao là nhục nhã! Tại sao ta phải sống nhục như thế này? Lòng sân hận đang ngùn ngụt bốc lên trong người làm cho Hoài vương xâm xoàng...
Giữa lúc đó, một viên thị vệ bước vào:
- Muôn tâu, Trần Thái Sư đến xin gặp bệ hạ !
Vua Thái Tôn nói với Hoài vương:
- Lũ tai mắt của Thái Sư nhanh đến thế là cùng!
Vương huynh hãy tạm lánh vào trong khoang thuyền một chốc vậy.
Hoài vương chợt tỉnh người, chân tay rụng rời. Ông bước vào ngăn trong của khoang thuyền, mồ hôi ra như tắm. Thuyền Thái Sư đã cặp sát thuyền ngự. Thái Sư tay cầm kiếm tuốt nắp bước qua thuyền ngự, đi thẳng đến trước mặt vua Thái Tôn:
- Bệ hạ, nghe giặc Liễu vừa đến đây, thần xin mạn phép trừ hắn để tuyệt hậu hoạn!
Vua Thái Tôn đứng chắn cửa vào:
- Thái Sư, Hoài vương đến đầu hàng đấy. Xin Thái Sư bỏ qua cho!
Thấy vua Thái Tôn che chở Trần Liễu, Thủ Độ nổi giận quăng cây gươm xuống sông, nói lớn:
- Tao thật là con chó săn! Biết đâu anh em mày hòa thuận với nhau hay nghịch ý nhau!
Vua Thái Tôn khuyên lơn mãi Trần Thái Sư mới chịu cho êm.
***
Sau khi Hoài vương đã yên ổn về triều, vua Thái Tôn lấy đất các ấp An Phụ, An Dưỡng, An Sinh và An Bang giao cho Hoài vương làm thực ấp. Sau đó, vua cải phong cho Trần Liễu thành tước An Sinh vương. Tin hoàng huynh Trần Liễu được xá tội và được cải phong làm An Sinh vương truyền đi làm dân chúng xa gần có vẻ hài lòng. Chỉ mấy hôm sau thì Trần Quang Thiệu cũng trở về ra mắt vương. Quang Thiệu trình cho vương biết, Đinh Lang, người quản gia của vương trước đây chính là người ám hại vương. Tiếp tay Đinh Lang, còn vài người khác nữa, ông đang phanh phu tìm hiểu thêm để vạch tội chúng. Quang Thiệu cũng kể thêm về Đinh Lang như thế này:
Đinh Lang vốn là kẻ tham lam, gian ác. Trước đây khi nhắc lại chuyện này. Nhưng với lòng khảng khái đã được bồi đắp, khơi sáng lâu nay, cộng thêm một ý thức hận thù to lớn vì bao nhiêu người thân của mình đã bị tàn sát dã man mà người cha vừa gợi lại, Doãn uất hận nói:
- Con rất thương mẹ con và con đã hứa với mẹ như thế!
Đôi mắt vương sáng ngời lên. Một nụ cười chợt lóe trên gương mặt khắc khổ, vương hỏi lại Doãn:
- Con hứa với mẹ như thế nhưng con có chắc dám làm không?
- Con đã hứa thì dù có chết con cũng làm? Con thù hận những kẻ gian ác!
- Tốt lắm! Cha tin con. Thế nếu cha bị người khác làm nhục con có đủ can đảm trả thù cho cha không?
- Con cũng sẵn sàng hi sinh mình để rửa mối nhục cho cha!
- Vậy con có biết vì sao thân thế cha ra như vầy không?
- Cha bị người ta làm nhục!
- Phải, cha bị người ta làm nhục. Người ta đã cướp vợ của cha. Không những cha bị nhục mà chính con cũng bị xúc phạm. Chính con đã bị tước đoạt mất nguồnthương yêu nhất đời. Con bị tước đoạt tình mẫu tử, con đã thành một kẻ bơ vơ. Với cha, mẹ con là lẽ sống, mẹ con bị người ta giựt đi thì lẽ sống của cha cũng không còn. Cha hận mình tài hèn sức kém, phải bó tay khuất phục trước kẻ thù. Có thể cha không còn sống trên cõi đời này bao lâu nữa. Con hãy hứa với cha sau khi cha nằm xuống, con phải trả thù cho cha, rửa nhục cho mình! Con hứa nhé !
- Phụ vương yêu quí! Con hứa chắc! Hãy tin con!
An Sinh vương nghe con hứa chắc lấy làm sung sướng lắm. Bất giác vương nhảy vụt xuống đất chắp tay quì xuống trước mặt Doãn làm Doãn cũng hoảng hốt nhảy theo xuống ôm lấy cha. Thế là hai cha con ôm nhau khóc vùi một hồi. Sau đó An Sinh vương vỗ vai Doãn nói qua tiếng nấc:
- Con yêu quí! Nhờ con cha đã vơi bớt một phần nỗi đau lòng.
- Xin lỗi phụ vương kính yêu, phụ vương có thể cho con hỏi một điều không?
- Được mà! Con cứ hỏi.
- Thưa cha, cha hay ngâm câu thơ "Hầu môn nhất nhập thâm như hải, Tùng thử Tiêu lang thị lộ nhân" là ý nghĩa gì?
An Sinh vương nhìn con:
- Đồng bệnh tương lân (cùng bệnh thương nhau) đó con. Một lần vô cửa hầu như lặn xuống biển sâu. Từ đây chàng Tiêu trở thành khách qua đường. Cha nghĩ tới chuyện một người họ Tiêu đời Đường có vợ đẹp, đang sống với nhau nồng thắm thì người vợ bị cưỡng bách đưa vào làm thiếp cho vị quan tước hầu Quách Tử Nghi. Người họ Tiêu thương nhớ vợ quá nên thỉnh thoảng lại giả khách qua đường đi qua nhà họ Quách nhìn vào, cầu mong được thấy bóng vợ. Cha thấy nỗi khổ của mình mà thông cảm người xưa là vậy. Thật ra thì họ Tiêu còn có phước hơn cha nhiều, ông ta vẫn còn chút hi vọng thấy vợ mình còn cha thì không bao giờ! Thôi, con có thể trở về. Cha hoàn toàn trông cậy ở con!
Trong cùng một dòng tộc, đời nào cũng có vài người giống nhau. Trường hợp Thái tử Hoảng và vương tử Doãn lại càng đặc biệt hơn: đã cùng dòng tộc bên nội lại cùng một mẹ . Hễ nhìn Thái tử Hoảng, Thuận Thiên hoàng hậu lại nghĩ ngay đến vương tử Doãn. Vẻ cười, lời nói, cách đi đứng chơi đùa của Thái tử hình như không khác chi vương tử Doãn ngày xưa. Điều đó làm cho hoàng hậu thương nhớ vương tử Doãn khôn nguôi. Mà nhớ đến vương tử Doãn, Thuận Thiên lại không tránh khỏi liên tưởng đến người xưa. ở bên người chồng hiện tại, nhất là một người chồng đủ đức khoan dung nhân ái, mà nghĩ đến người khác thì cũng là một tội lớn, theo quan niệm đạo đức phương đông. Biết đâu khi tiết lộ tâm trạng đó lại tạo ra những rạn nứt khó lường đối với tình thương yêu của người chồng hiện tại! Những tâm trạng mâu thuẫn đó cứ dày vò hoàng hậu Thuận Thiên. Nàng rất khó mở miệng để nói với chồng nỗi nhớ đứa con riêng của mình. Và nàng cứ chịu ray rứt, đau khổ, mỗi ngày một héo hắt thêm. Vua Thái Tôn hết sức lo lắng, cho ngự y săn sóc hằng ngày. Khi rảnh rỗi vua lại đến thăm viếng hoàng hậu hết sức ân cần. Một hôm, vua hỏi hoàng hậu với giọng tha thiết:
- Đạo người quân tử bắt nguồn từ vợ chồng, ta đã cố gắng hết mình để sống cho trọn đạo. Hậu có gì phiền muội về ta xin cứ thành thật tỏ bày. Ta lúc nào cũng hướng về điều phải. Chẳng lẽ hậu không tin ta sao?
Thuận Thiên hoàng hậu thưa:
- Hoàng Thượng ở với thần thiếp từ trước tới nay thật không có điểm nào làm thiếp buồn được. Thần thiếp chịu ơn mưa móc của Hoàng Thượng sâu dày lắm rồi. Sở dĩ thần thiếp có chút phiền muội nào đó thì thật hoàn toàn riêng tư. Hoàng Thượng đã có lòng hỏi đến thần thiếp cũng xin thưa thật, thần thiếp nhớ vương tử Doãn lắm. Bệ hạ cho vương tử vào thăm thần thiếp một lần thì mẹ con thiếp sẽ đội ơn bệ hạ vô cùng.
Vua Thái Tôn cười hiền hòa:
- Ồ, tường chuyện gì. Cha mẹ nào chẳng có lòng thương con! Hậu đã muốn thì trẫm đâu nỡ ngăn trở!
Thế là vua cho thái giám đi vời vương tử Doãn đến.
- Tiểu thần Trần Doãn xin bái kiến hoàng hậu nương nương!
- Trời ơi, con của mẹ, chúng ta là mẹ con, đừng khách sáo, miễn lễ!
Mẹ con gặp nhau bao xiết vui mừng, xúc động. Hai người lại có dịp ôn lại thời quá khứ, từ khi vương tử Doãn còn là đứa bé như Thái tử Hoảng bây giờ. Đang thao thao nhắc chuyện cũ, Doãn bỗng cười nói với mẹ như khoe :
- Mẹ ơi, ngày trước con có hứa sẽ trả thù cho mẹ, con vẫn nhớ mãi và nhất định sẽ làm! Mẹ cứ yên chí!
Thuận Thiên bỗng ngớ người ra. Thật tình, Thuận Thiên là người sống nhiều về nội tâm nhưng dễ tính, không sâu sắc, rất cam phận. Ngày trước trong cơn đau đớn khi cả gia tộc mình bị giết hết, nàng xúc động mà nói với con muốn trả thù. Nàng cũng biết tức quá mà nói vậy chứ có muốn làm cũng không cách gì làm được. Bây giờ qua thời gian nàng cũng quên dần đi, không ngờ con mình nhắc lại việc ấy. Thuận Thiên lặng người một chốc rồi hỏi lại:
- Làm sao con nhớ chuyện đó kỹ vậy?
Vương tử Doãn thưa:
- Mẹ ạ, Phụ vương nhắc lại cho con. Con cũng hứa trả thù cho Phụ vương nữa !
Thuận Thiên hoàng hậu sợ hãi hỏi kỹ lại trước sau. Vương tử Doãn bèn kể lại cho hoàng hậu nghe hết đầu đuôi chuyện cha nói với mình. Hoàng hậu cau mày chắc lưỡi:
- Không ngờ chuyện lại rối rắm thế này! Con hãy nghe mẹ dặn đây! Mẹ không được ở gần con nên dù muốn cản con cũng không được. Mẹ chỉ biết khuyên con đừng bao giờ nói với ai những chuyện đó nữa! Con cũng phải khuyên cha con cẩn thận. Đừng có đem tâm sự gởi gắm cho ai quá dễ dàng không xong đâu.
. Thưa mẹ, con biết lắm chứ! Con chỉ nói với mẹ thôi!
- ừ, như vậy thì mẹ mới yên lòng ! Cha con bây giờ sức khoẻ ra sao?
Vương tử Doãn rưng rưng lệ thành thật nói:
- Người thương nhớ mẹ lắm, cứ bỏ ăn bỏ ngủ hoài nên sức khỏe hết sức suy tàn. Mỗi lần nhìn cha con cũng thấy đau lòng.
Hai dòng lệ từ từ bò xuống gò má hoàng hậu. Nàng lặng lẽ lấy khăn lau cho mình rồi lau cho vương tử Doãn. Xong, nàng ôm hôn lên đầu Doãn mấy cái...
Sau cuộc gặp vương tử Doãn, trong lòng hoàng hậu Thuận Thiên lại nẩy sinh thêm nhiều nỗi buồn phiền. Nàng lo sợ cho sự nông nổi của vương tử Doãn. Nàng xót xa cho người chồng cũ đang gánh chịu bao nỗi cô đơn cay đắng. An Sinh vương là kẻ bị oan khuất thật tình chứ có tội lỗi gì đâu? Chính nàng cũng là kẻ bị ép uổng bỏ chồng cũ để theo chồng mới ? Vậy tại sao nàng không được quyền thương nhớ, lo lắng cho người chồng cũ? Mà khổ nỗi, người chồng mới của nàng cũng đâu vướng lầm lỗi nào! Người đó cũng rộng lượng, quân tử và cũng hết mực thương yêu nàng! Vậy phải chăng nghĩ về người cũ thì lại mắc tội vong ân với người hiện tại? Càng suy nghĩ hoàng hậu càng thấy mâu thuẫn rối bời...
Tại sao lại vô lý đến thế được? Nàng nghĩ từ cái vô lý này tiến sang cái vô lý khác. Tại sao nàng phải khuất phục phụng sự một dòng họ đã tàn nhẫn tiêu diệt cả dòng họ của nàng? Tại sao nàng phải hi sinh để gầy giống cho họ? Hình ảnh vua Huệ Tôn tức thiền sư Huệ Quang, cha của nàng bị treo cổ hiện ra trước mắt nàng. Hình ảnh các ông, các bác, các chú của nàng loi ngoi dưới hố đất chôn tập thể khóc lóc rên xiết cố trườn lên, bị bọn tay chân của Thái Sư Thủ Độ đạp vào mặt, dập lên từng xẻng đất hiện ra trước mắt nàng. "Sao tôi khổ thế này?". Hoàng hậu bưng mắt lại, gục mặt xuống gối khóc nức nở.
Từ đó, hoàng hậu lại càng ngày càng gầy yếu, khô héo, mệt mỏi. Vua Thái Tôn lo lắng vô cùng, ngài cho nhiều ngự y đến chẩn bệnh cho hoàng hậu. Nhưng các ngự y không tìm ra bệnh. Vua lại cho yết thị cầu thầy thuốc trong dân gian nhưng bệnh hoàng hậu vẫn vô phương. Sâm nhung quế phụ bồi bổ bao nhiêu hoàng hậu cũng chẳng khá lên được. Người ta đồn đại là hoàng hậu mắc tâm bệnh. Năm này qua năm khác, sức khỏe hoàng hậu vẫn tiếp tục đi xuống.
Đến năm Mậu Thân, bệnh của Thuận Thiên hoàng hậu trở nên nguy ngập. Bà nằm liệt giường không còn ăn uống gì được nữa. Vua Thái Tôn thương xót vài ngày lại đến thăm một lần.
Một hôm, lần đó có vua Thái Tôn đến thăm, hoàng hậu có vẻ tỉnh táo, bà thều thào nói với vua:
- Thiếp bạc phước chắc không còn được sống để hầu hạ Hoàng Thượng nữa. Trước khi nhắm mắt, thiếp xin Hoàng Thượng một ân huệ cuối cùng, Hoàng Thượng có vui lòng chăng?
Vua Thái Tôn buồn rầu nói:
- Muốn gì ái hậu cứ nói, không cứ là một ân huệ, dẫu hậu muốn trăm ân huệ trẫm cũng bằng lòng.
Đôi mắt hoàng hậu sáng lên vẻ cười. Bà thều thào nói tiếp:
- Cám Hoàng Thượng rộng lòng ban ân. Vậy, thiếp xin Hoàng Thượng hai điều. Thứ nhất thiếp muốn được thấy mặt vương tử Doãn trước khi chết. Thứ hai, xin Hoàng Thượng nghĩ đến tình cũ đối với Chiêu Thánh công chúa mà gả nàng cho một người nào đó đàng hoàng để nàng có chỗ nương dựa.
Vua Thái Tôn nói:
- Ái hậu cứ yên chí. Trẫm đã phong Trần Quốc Khang tước Tĩnh Quốc vương, nay trẫm lại phong cho Trần Doãn tước Vũ Thành vương để cho chúng hiển hách với đời. Trẫm sẽ cho người đi vời Trần Doãn đến thăm ái hậu. Còn việc Chiêu Thánh công chúa, trẫm cũng sẽ lo cho nàng như ý hậu muốn.
Hoàng hậu mừng rỡ nói:
- Trần Doãn được phong tước Vũ Thành vương ư! Tạ ơn bệ hạ , tạ ơn bệ hạ!
- Thôi, ái hậu nghỉ cho khỏe! Trần Doãn sẽ đến bây giờ!
Vua Thái Tôn bước ra ngoài. Điều cầu xin của hoàng hậu làm ngài chợt bâng khuâng nghĩ về người cũ. Lâu nay ngài không hề gặp lại Chiêu Thánh công chúa. Người đàn bà tuổi bốn mươi không chồng không con lại mang trong người bao nhiêu tủi hận ấy bây giờ ra sao? Ngài biết những luật lệ khuôn phép thắt ngặt trong cung có thể làm cho những người có tâm hồn phóng khoáng điên đầu lên được. Họ chỉ có một môn giải trí trường kỳ là bài bạc... Ngài biết trong cung có môn giải trí thông dụng nhất là lối chơi đổ "lục phủ'. Đó là một môn chơi quí phái, văn nhã, nhẹ phần ăn thua, và có thể nhiều người cùng tham gia được. Điểm hấp dẫn của môn chơi này là sự tranh Trạng, đoạt Trạng của nhau. Điểm hấp dẫn giật gân đó đã làm cho bao nhiêu "người đẹp già" ghiền ngồi đến niễng lưng, mục xương sống không hay.
Vua Thái Tôn sực nhớ trong một lần đang ân ái với
Thuận Thiên hoàng hậu, khi vua nói các bà trong cung
hay chơi "lục phú" thì hoàng hậu thủ thỉ: " Xin bệ hạ thông cảm cho họ. Những người đàn bà trong chốn cung đình, ngoại trừ bọn nô tì lăng xăng công việc, đều phải "hưởng" một cái nhàn rộng lớn đến độ chán chường. Thêu thùa ư? Thêu thùa cũng chẳng làm được gì và thêu thùa mãi cũng chán. Kể chuyện với nhau ư? Quanh quẩn đó mãi rồi cũng không còn chuyện để kể ngoại trừ chuyện bươi móc nhau. Phần đông chỉ biết tụ lại bên nhau đánh bài để giết thời gian...".
Ngài không biết khi nói với ngài như thế, hoàng hậu có ngầm nhắc ngài nên lưu ý đến Chiêu Thánh công chúa không. Không biết một vị cựu Hoàng Đế cựu Hoàng hậu như Chiêu Thánh lại có thể hòa đồng được với hạng người nói trên không?
Chắc nàng phải mang một nỗi cô độc gậm xé trong lòng ghê gớm lắm! Phải chăng nàng đang ở trong một địa ngục? Ta có thể đày đọa người từng thương yêu mình đến thế sao? Ta phải làm một cái gì để chuộc tội với nàng...
***
Hoàng hậu đang nhắm mắt thiêm thiếp thì vương tử Doãn bước vào. Vương tử quì xuống trước giường mẹ :
- Hài nhi bái kiến nương nương hoàng hậu!
Hoàng hậu hé mắt ra nhướng lên mừng rỡ:
- Hài nhi thương yêu của mẹ đó à!... Cha con...
Bà bỗng ngoẹo đầu lại nhắm mắt bất động. Có lẽ vì hoàng hậu xúc động quá độ. Một người hầu vội lại gần quan sát cho rõ. Bà vẫy tay gọi một người khác:
- Đem cái gương lại đây !
Bà cầm gương đưa trước mũi hoàng hậu chốc lát rồi khóc thút thít:
- Hoàng hậu đi rồi!
Vương tử Doãn hoảng hết đứng dậy chồm người tới úp mặt lên thân thể hoàng hậu nức nở:
- Mẹ ơi!
Và vương tử Doãn cũng ngất đi.

***
Dịp ấy, vương tử Doãn ở lại cung hoàng hậu cho tới khi việc tẩn liệm hoàn tất. Sau đó, Doãn về trình bày lại sự việc với cha. An Sinh vương nghe xong lăn lộn gào khóc thê thảm. Vương ra lệnh cho tất cả mọi người trong vương phủ phải để tang cho hoàng hậu một thời gian ba năm. Có người khuyên can cho đó là việc làm không đúng nhưng vương không chịu nghe .
Từ đó An Sinh vương ngày càng héo hắt thêm. Nhiều lúc vương đã trở thành người quẫn trí. Có một thời gian, ngày nào vương cũng nhắc đến chuyện trả thù. Vương tử Doãn quá thương cha nên vẫn hay lập lại với Vương lời hứa của mình.
Một buổi sáng Doãn vào thăm cha, thấy cha mặt mũi lem luốc, tóc tai bù xù, áo quần dơ đáy, đang nằm lăn lóc dưới nền nhà. Doãn bực bội lên tiếng:
- Người nhà đâu hết lại để cha ta thế này?
- Dạ... dạ...
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-18 19:26:09Ct.Ly>
tình hận (f)
Mấy người nhà lấm lét bước ra. Doãn vội vàng đến đỡ cha dậy. Nhưng An Sinh vương xô Doãn ra:
- Hãy để cho cha sớm về gặp mẹ con! Dưới đó thằng Trần Thủ Độ không thể nào chia uyên rẽ thấy được  nữa!
Người nhà cho Doãn biết là suốt đêm rồi vương cứ nằm ở đó mà khóc mãi. Ai mở miệng khuyên lơn dỗ dành đều bị vương nạt nộ mắng chửi dữ dội. Mọi người không dám làm phiền vương nữa, chỉ biết chia phiên nhau để canh chừng. Doãn năn nỉ:
- Cha dậy tắm rửa ăn uống đi cha ! Cha phải giữ gìn sức khỏe cho chúng con vui lòng chứ!
An Sinh vương quờ tay đánh Doãn:
- Cút đi cho rảnh! Đồ bất hiếu! Ta chỉ biết Thuận Thiên công chúa! Hãy để ta sớm về với nàng!
Vương tử Doãn cầm tay cha lại:
- Cha không thương tụi con sao? Cha nghe con vào tắm rửa, nghỉ ngơi...
An Sinh vương vẫn giận dữ:
- Bây là một lũ bất hiếu! Bây không biết trả thù cho cha mẹ bây!
Doãn nhìn thẳng vào mắt cha, dịu dàng nói:
- Cha hãy nghe con đi. Con xin thề độc, con sẽ trả thù cho cha. Nếu trái lời gươm giáo sẽ phân thây con!
Mọi người nghe nói đều sợ hãi. Riêng đôi mắt An Sinh vương chợt ánh lên vẻ cười cảm động, hài lòng:
- Vậy chớ, như thế con mới xứng là con hiếu của cha. Con phải giết tên giặc già Trần Thủ Độ nhé!
Vương tử Doãn gật nhẹ đầu. Khi ấy An Sinh vương mới chịu im lặng để cho Doãn cùng mấy người nhà dìu vào bên trong .
Vương tử Doãn rất lo lắng vì tình trạng của cha. Nếu cứ để An Sinh vương nói lung tung như thế thì chắc có ngày mang họa. Cũng may, một thời gian sau vương dần trở lại bình thường. Vương vẫn nói đến chuyện trả thù nhưng kín đáo hơn.
Bình thường An Sinh vương ít nhắc chuyện hận thùvvi vương tử Tuấn. Qua cách ăn ở, cư xử với mọi người,Tấn luôn tỏ ra một tấm lòng công minh chính trực.ở Tuấn, An Sinh vương thấy cả một cái gì siêu phàm. Do đó vương còn ngần ngại mặc dầu vương rất kỳ vọng ở vương tử Tuấn. Hình như vương cảm thấy lòng hận thù của mình có vẻ nhỏ nhoi trước vương tử Tuấn. Nhưng rồi một hôm, Vương cũng cho gọi vương tử Tuấn vào phòng riêng nói chuyện.
- Thưa Phụ vương gọi con có việc gì dạy bảo?
An Sinh vương buồn rầu nói với Tuấn:
- Bây giờ con là kẻ đã nổi tiếng học cao hiểu rộng, cha muốn bàn với con vài chuyện. Người ta ớ đời, cái danh là quan trọng nhất. Vì khi ta chết rồi, nó vẫn lưu truyền hậu thế. Cho nên không thể khinh thường. Như cha đây, tiếng là một đấng vương hầu, nhưng phải gánh chịu rất nhiều nỗi oan khúc, nhục nhã ê chề. Những điều xấu nếu do ta gây nên ta cũng đành cam chịu. Đằng này ta chỉ bị kẻ khác đổ vấy. Có thể ta phải mang tai tiếng muôn đời. Con là người có khả năng rửa hận cho ta, chẳng hiểu ý con thế nào?
Vương tử Tuấn suy nghĩ rồi thưa:
- Xin cha nói cụ thể hơn, con chưa thấy rõ vấn đề.
An Sinh vương cúi gầm mặt khép mắt trầm ngâm như cố nhớ lại một thời quá khứ, chốc sau ông nói:
- Đời cha quả là cả một chuỗi dài cay đắng. Ban đầu người ta dàn dựng nên vụ hiếp dâm cung nữ ở cung Lệ Thiên để triệt hạ uy tín cha. Sau đó người ta vu cho cha làm phản, tìm cách giết cha. Nhục nhã hơn nữa người ta lại cướp mất người vợ yêu quí của cha.Con có bao giờ tưởng tượng nổi sự đau đớn của một người đàn ông bất lực không bảo bọc được người mình thương yêu, để cho kẻ khác nâng niu ôm ấp? Nỗi tủi nhục đã khiến cha muốn chết từ lâu rồi. Nhưng cha vẫn gượng sống vì hi vọng ở các con, vì chờ đợi ở các con. Cha nhắm mình chẳng còn sống bao lâu nữa nên hôm nay cha đem tâm sự mà phó thác cho con. Cha tin rằng một người tài trí như con sẽ rất coi trọng chữ hiếu.
Vương tử Tuấn thưa:
- Thưa cha, con rất thông cảm nỗi khổ tâm của cha. Và nỗi tủi nhục của cha cũng chính là nỗi tủi nhục của chúng con. Cha là đấng sinh thành, dĩ nhiên chúng con sẽ nghe cha hơn bất cứ ai hết, theo đạo hiếu. Nhưng đây là vấn đề hết sức to lớn, không thể coi thường. Nếu con hứa bừa đi rồi làm liều như con thiêu thân hóa ra mình nông nổi, bất trí. Việc không thành tất nhiên để lại danh xấu chỉ làm nhục thêm cho cha. Vậy, con xin phép cha cho con được tùy cơ ứng biến. Con tin rằng con sẽ xứng đáng với lòng tin cậy của cha.
Nghe con nói như thế, An Sinh vương rất hài lòng. Vương nghĩ Tuấn là người bụng dạ quân tử, đã hứa tất làm. Tuấn lại chín chắn, kín đáo, đầy cơ mưu, đã ra tay tất khó thất bại. Lúc đó vương cảm thấy thoải mái trong lòng như vừa tìm lại được một vật quí đã mất. Trên môi vương chớm lên một nụ cười chan chứa niềm tin.
Những tưởng rằng nỗi sầu của vương sẽ vơi bớt một phần. Nhưng chỉ vài ngày sau, những nỗi nhục nhã trong quá khứ lại đua nhau quay cuồng trong đầu óc vương. Vương lại tiếp tục lâm tình trạng mất ăn mất ngủ. Người vương gầy rạc ra một cách đáng sợ. Vương bắt đầu hay tìm chỗ vắng nói lảm nhảm một mình. Người ta vẫn hay nghe vương nhiều lần nhắc đến tiếng "Thuận Thiên công chúa". Vua Thái Tôn nghe tin, ngài cho ngự y sang thăm bệnh và hốt thuốc cho vương nhưng tình trạng vẫn không khá hơn.
Sang năm sau thì vương mang chứng bại liệt. Việc đi đứng phải có người dắt dìu. Người vương khi mê khi tỉnh không thường. Nhiều lúc vương kêu khóc, than khổ. Nhiều lúc vương lại cười sằng sặc ra vẻ sung sướng: "Ta sắp được gần Thuận Thiên công chúa rồi! Phen này thằng giặc già Trần Thủ Độ làm sao mà chia uyên rẽ thúy được nữa!". Mỗi lần vương nói như thế, người chung quanh phải bưng miệng vương lại. Hình như ngày nào vương cũng nhắc đến Thuận Thiên. Cái cảnh đó kéo dài đến hơn một năm. Tuấn và Doãn hằng ngày đều thay nhau vào thăm nom sức khỏe của cha.
Một hôm, trong trạng thái tỉnh táo hơn những ngày thường, vương bảo người hầu ra mời cả hai vương tử vào nói chuyện. Tuấn cùng Doãn vào đứng bên giường cha nằm để nghe dạy bảo. Vương thều thào:
- Hai con đã từng hứa sẽ trả thù cho cha, phải không? Rất tiếc, cha không còn hi vọng trông thấy việc trả thù của hai con nữa đâu. âu đó cũng là số phận. Tuy nhiên, cha rất biết tài của hai con, nhất là Tuấn, dư sức làm việc đó Các con phải hứa, sau này, nếu các con không vì cha mà lấy thiên hạ (cướp ngai vàng) thì cha chết không nhắm mắt được!
Hai vị vương tử đều rưng rưng nước mắt cúi đầu chịu mệnh.
Hình như vương đã gắng dồn hết tinh lực, dồn hết sự minh mẫn cuối cùng vào những lời trăng trối mấu chốt đó. Sau đó ông lại thiếp đi. Giữa khuya hôm đó ông lặng lẽ qua đời, chưa thực hiện được lời nguyện để tang ba năm cho công chúa Thuận Thiên.
Sau ngày An Sinh vương mất, tình hình nước Đại Việt bắt đầu chớm lên cơn sốt đao binh. Quân đội Mông cổ hùng mạnh và hung tàn từ phương Bắc đã vượt Vạn Lý Trường Thành tấn công nhà Tống dữ dội. Các nước lân cận của nhà Tống đều phải rúng động run sợ. Triều đình nhà Trần lo xa liền ráo riết chuẩn bị chiến tranh. Các vương hầu đều được phép tuyển mộ binh sĩ riêng, tập luyện cho tinh thục để phòng khi hữu sự. Lúc bấy giờ Trần Quốc Tuấn đã được phong tước Hưng Đạo vương, Trần Doãn được phong tước Vũ Thành vương. Được phong vương đương nhiên được phép lập vương phủ riêng.
Triều đình lại cho phép các vương hầu được tùy tiện tuyển mộ binh sĩ để phòng lúc nguy biến. Lệnh này làm Vũ Thành vương Trần Doãn hết sức vui mừng. Ông đã bỏ ra nhiều của cải dùng vào công việc ấy. Ngày nào ông cũng chuyên chú luyện tập đám thuộc hạ. Chẳng bao lâu ông có một đạo quân có kỷ luật và khá thuần thục.
Hưng Đạo vương Tuấn thấy em mình khổ công như vậy thì biết ý. ông biết Vũ Thành vương là kẻ có tài. Bình sinh Vũ Thành vương rất yêu thương cha và không bao giờ trái lời cha mình. Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết, câu tục ngữ ấy mang ý nghĩa chính xác nhất trong giai đoạn này. ông rất lo sợ nếu Vũ Thành vương vì lời dặn của cha mà gây ra một biến cố. Một hôm ông đến thăm Doãn tại tư thất. Khi anh em cùng ngồi uống trà, Doãn hãnh diện hỏi anh:
- Vương huynh thấy đệ tập luyện chuyên cần như vậy liệu có giúp vương huynh làm nên việc lớn không?
Hưng đạo vương Tuấn nghiêm nghị nói:
- Tập luyện như vậy thì tuyệt lắm. Nhưng vấn đề làm nên việc lớn hay không thì phải tùy. Vương đệ có bao giờ tiết lộ ý định mình với thuộc hạ chưa? Chớ bao giờ đem tâm sự mà phó thác cho ai một cách dễ dàng nhé! Khó lắm.
- Vương huynh khỏi lo. Em chưa từng tiết lộ lòng mong muốn của cha với ai hết. Thế vương huynh nói vấn đề làm nên việc lớn hay không thì còn tùy nghĩa là thế nào?
- Tùy thuộc nhiều yếu tố, nhiều trường hợp. Trong trường hợp hiện tại, vương đệ chỉ có thể hợp tác chặt chẽ với triều đình thì mới phát huy được tối đa khả năng đạo quân này. Bằng ngược lại, huynh e rằng...
Vũ Thành vương nôn nóng không để anh mình nói hết lời:
- Vương huynh đã rõ, cha đã hết lòng trông cậy ở chúng ta. Vương huynh cũng đã từng hứa với cha, cớ sao bây giờ vương huynh có vẻ đổi thay như vậy? Vương huynh nỡ phụ lòng cha sao?
Hưng Đạo vương ôn tồn:
- Em đừng nóng, để anh lý giải sự việc cho em nghe. Hiện giờ quân Mông Cổ là giống giặc tàn bạo nhất đang đe dọa ngoài biên. Dân chúng mỗi ngày giật mình không biết mấy lần. Tất cả đều trông cậy vào sự che chở của triều đình. Nếu chúng ta đi ngược lại triều đình tức chúng ta đi ngược sự trông cậy của toàn dân. Như thế là chúng ta tự cô lập mình vậy. Hơn thế nữa, chúng ta có thể làm tan cái thế đoàn kết của quốc dân. Tạo cơ hội cho kẻ thù tiêu diệt dân tộc Đại Việt, đưa dân Đại Việt vào gông cùm nô lệ. Nếu chuyện xảy ra như vậy, chúng ta thành có tội lớn với dân tộc...
- Em đồng ý với anh điểm đó nhưng làm ngược lại lời cha thì em không chịu được. Thế thì chúng ta phải làm thế nào?
- Em có tin chắc nếu thi hành ý muốn của cha là rửa nhục được cho cha không? Anh không hoàn toàn dám nghĩ như thế. Kẻ trí hành động phải nghĩ kỹ đường tiến thoái. Nếu hành động mà thất bại, tất nhiên con cháu bị tru lục hết. Khi đã hết người để hương khói cho tổ tiên thì cái tội bất hiếu ai gánh cho đây? Bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại, trong trường hợp đó mình có dám hãnh diện vì đã hiếu với cha hay không? Hay mình đã làm điếm nhục tổ tiên?
Vũ Thành vương im lặng cúi đầu suy nghĩ. Hưng Đạo vương nói tiếp:
- Thôi được, anh xin kể cho em nghe câu chuyện một người xưa đã làm trái lời trăng trối của cha già mà vẫn được người đời ca tụng là có hiếu nhé:
Ngụy Thù là một danh tướng nước Tấn thời Đông Châu. Khi đã lớn tuổi, Ngụy Thù tuyển được một người thiếp rất đẹp, tên nàng là Tổ Cơ. Nàng Tổ Cơ ngoài sắc đẹp còn biết cách ăn ở, tâm đầu ý hiệp với Ngụy Thù nên Ngụy Thù thương quí lắm. Thấy mình đã già, lại hay đi trận mạc, sợ lỡ một mai bất ngờ không về thì tội nghiệp Tổ Cơ nên Ngụy Thù thường dặn con là Ngụy Khỏa:
"Khi ta mất rồi, con hãy tìm một người tốt mà gả Tổ Cơ để nàng có nơi nương tựa!".
Nhưng Ngụy Thù không chết trận. Về sau, ông đau liệt giường một thời gian. Khi sắp mất, ông gọi Ngụy Khỏa đến dặn:
"Khi ta chết, con hãy đem Tổ Cơ chôn chung xuống huyệt với ta cho có bạn!".
Ngụy Khỏa nghe cha nói cúi đầu vâng chịu.
Thế nhưng khi Ngụy Thù mất, Ngụy Khỏa không đem Tổ Cơ chôn theo cha như di mệnh. Người em Ngụy Khỏa là Ngụy Kỳ thắc mắc:
"Tại sao anh không đem Tổ Cơ chôn như lời cha dặn?"
Ngụy Khỏa giải thích:
"Bình thời cha vẫn dặn anh khi người khuất núi, hãy đem Tổ Cơ gả cho một người tết để nàng có nơi nương tựa. Đó là lời lúc người đang sáng suốt. Khi cha gần mất, người lại dặn phải đem chôn Tổ Cơ theo người, chẳng qua là lời nói lúc người trí óc đã hôn ám, không nên tin cậy".
Sau đó, Ngụy Khỏa đã gả Tổ Cơ cho một người đàn ông tốt có chút danh vọng.
Khi chiến tranh giữa hai nước Tấn và Tần tái diễn, Ngụy Khỏa đã gặp phải một mãnh tướng của nước Tần là Đỗ Hồi mà người Tấn không ai địch nổi. Một hôm Ngụy Khỏa đang khốn đốn vì chạm mặt Đỗ Hồi giữa trận tiền thì đột nhiên con ngựa Đỗ Hồi cỡi chân bị vướng cỏ ngã lăn làm Đỗ Hồi văng xuống đất và bị Ngụy Khỏa chém chết. Đêm đó Ngụy Khỏa mộng thấy một ông già xưng là cha của Tổ Cơ đến viếng. ông nói vì cảm nghĩa Ngụy Khỏa không chôn sống con gái mình nên ông kết cỏ làm ngựa Đỗ Hồi vấp ngã giúp Ngụy Khỏa trừ được Đỗ Hồi để đền ơn. Việc đó đã chuyển họa thành phúc cho gia đình Ngụy Khỏa và cho nước Tấn nữa Em nghĩ cái kết quả đó có thống khoái không? Đó cũng là sự giải thích cái điển tích "Kết Cỏ" vậy!
Vũ Thành vương nghe chuyện xong nêu ý kiến:
- Chuyện nghe được nhưng đoạn kết có vẻ hoang đường!
Hưng Đạo vương nói:
- Có thể như em nói đúng. Nhưng điều thực tế chắc chắn là không ai chê trách hành động của Ngụy Khỏa được Trường hợp chúng ta, anh không dám nghĩ cha trăng trối lúc cha không bình thường đâu nhé. Anh chỉ cho rằng lúc ấy đất nước đang thái bình nên cha nghĩ thế Nhưng bây giờ tình hình đã khác. Nước ta có câu ngạn ngữ "Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết!". Mình không thể vì ý riêng mà vô tình tiếp tay cho giặc. Em có đồng ý như thế không? Vậy, tạm thời mình khất nợ với cha để tránh chuyện có thể dìm cả dân tộc mình xuống hố diệt vong vậy.
Vũ Thành vương buồn rầu thưa:
- Vương huynh vì nước nghĩ như vậy thì thật là cao thượng. Nhưng hai anh em mình đã trót hứa với cha, nhất là em đã thề độc không đội trời chung với tên giặc già Trần Thủ Độ, không lý bây giờ em lại tiếp tay củng cố cho bạo quyền của y! Vậy, em xin giao lại vương huynh cái đạo binh mà em đã dày công huấn luyện thuần thục đó để anh sử dụng. Em sẽ tính đường em.
Hưng Đạo vương ái ngại nhìn em:
- Em giao đạo binh em đã dày công đào tạo đó cho anh à? Vậy em sẽ làm gì?
Vũ Thành vương nghiêm nghị nói:
- Vương huynh, ý định của em khi tuyển mộ một đạo binh riêng thật sự chỉ vì muốn thực hiện lời hứa với cha. Bây giờ vương huynh đã dạy cho em thấy được lẽ lợi hại và trách nhiệm trong việc làm của mình, em rút lui ý định ấy. Nhưng phải tuân phục mệnh lệnh kẻ thù thì em không chịu nổi, mà không tuân phục tức phải đi đến làm phản, cho nên em đã có chủ ý riêng.
Hưng Đạo vương thấy em mình nét mặt có vẻ căng thẳng thì nói lảng sang chuyện khác. Vũ Thành vương Trần Doãn đã bỏ ý định chống lại triều đình là ông mừng rồi. ông tin chắc một cuộc nổi dậy giữa lúc này chỉ là một vụ thiêu thân. Thái Sư Thủ Độ tuy độc tài, hung bạo, nhưng ông rất giỏi cầm quân. Vả lại, vua Trần Thái Tôn rất được lòng quan quân lẫn dân chúng. áp lực của kẻ thù hung hãn bên ngoài lại càng làm cho mọi người xích lại gần nhau. Bất cứ một vụ nổi dậy nào cũng chỉ làm cho tiềm lực quốc gia yếu đi, đưa quốc gia tới chỗ làm miếng mồi ngon cho lũ ngoại xâm thôi. Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết, đây là lúc câu châm ngôn này rõ rệt ý nghĩa nhất. Hưng Đạo vương cũng không muốn để một nhân tài đứng ra ngoài cuộc chiến tranh chống ngoại xâm sắp tới. Vũ Thành vương phải là một cột trụ của nước nhà.
Sau một hồi chuyện vãn loanh quanh, Hưng Đạo vương nói với Vũ Thành vương:
- Về đạo binh của vương đệ, anh sẽ suy nghĩ và bàn lại cùng em sau. Em nên tiếp tục công việc hàng ngày như không có gì xảy ra. Anh rất mừng vì em đã chịu nghe lời anh. Đó cũng là một điều phúc cho quốc gia vậy!
Vũ Thành vương nhìn anh bằng đôi mắt nhuốm buồn:
- Em đã có lời thề độc không thể cải, nhưng em nghe lời anh. Toán binh sĩ của em sẽ lần lượt gia nhập vào đội quân của anh. Em đã có chủ định rồi.
Hưng Đạo vương biết ý Vũ Thành vương đã quyết, không muốn làm cho đầu óc em mình căng thẳng thêm nữa. ông giã từ ra về với hi vọng một ngày nào đó có thể trở lại bàn tiếp vấn đề với em mình.
Một thời gian sau, phần đông lực lượng võ trang của Vũ Thành vương lần lượt đến xin tự đặt dưới quyền chỉ huy của Hưng Đạo vương. Họ cho ông biết Vũ Thành vương đã quyết định giải tán lực lượng của ông ta. Hưng Đạo vương biết ý em mình đã quyết, lại thấy chuyện phát triển lực lượng lúc này là cần thiết, bèn thâu nhận họ.
Tuy thế, Hưng Đạo vương vẫn thấy khó nghĩ vì trong lúc tình thế đất nước khá căng thẳng mà Vũ Thành vương lại giải tán lực lượng võ trang của mình. ông lại thân hành đến phủ Vũ Thành vương thăm em. Vương nói:
- Vương đệ giải tán lực lượng võ trang của mình đi, nếu chiến tranh xảy ra thì tính làm sao?
- Em đã cương quyết đứng ngoài cuộc chiến. Em nghĩ quên thù nhà mà lo việc nước như anh là đúng. Em rất khâm phục tấm lòng cao cả của anh. Nhưng nếu em cũng làm như anh, em sợ linh hồn cha sẽ tủi vì cả hai đứa con đều không nghe lời dặn của mình. Khi nào Thủ Độ không còn nữa, tổ quốc Đại Việt sẽ có bóng em dưới cờ!
Hưng Dạo vương phân vân:
- Nếu em là một kẻ tầm thường thì không nói làm gì Nhưng đây em là người đã nổi tiếng có tài thao lược Trường hợp này thật khó giải thích với triều đình cũng như quốc dân. Em nên suy nghĩ lại.
- Thưa vương huynh, em không thể làm khác được. Chắc anh còn nhớ chuyện anh em Ngũ Viên, Ngũ Thượng, ai có chí nấy. Nhưng anh yên chí, em sẽ không bao giờ phản bội tổ quốc đâu!
Thấy chưa thể thuyết phục em mình được, Hưng Đạo vương không nói chuyện đó nữa.
***
Một hôm vào tháng 7 năm Bính Thìn, Hưng Đạo vương đang huấn luyện quân sĩ ở thao trường thì vua Thái Tôn cho người đến gọi. Hưng Đạo vương kêu vua Thái Tôn bằng chú ruột. Thái Tôn biết tài Hưng Đạo vương và rất thương mến cháu. Trong thời gian gia đình Trần Liễu gặp cảnh khốn đốn dưới tay Thái Sư Trần Thủ Độ, chính vua Thái Tôn là người che chở, bảo vệ họ hết mình. Nhà vua cũng đặc biệt lưu tâm, khuyến khích việc học hành của Tuấn và Doãn. Mặc dầu bấy lâu nay, sự giao thiệp giữa hai gia đình vua Thái Tôn và An Sinh vương có phần lấn cấn nhưng với Tuấn, vua vẫn thấy gần gũi, vua coi Tuấn chẳng khác gì con của ngài.
Hưng Đạo vương vừa bái kiến xong thì vua Thái Tôn hỏi:
- Vương điệt có biết bây giờ Vũ Thành vương và gia đình ở đâu không?
Hưng Đạo vương sửng sốt không hiểu. Thời gian này ông tập trung mọi nỗ lực vào việc luyện quân đội nên ít chú ý đến những chuyện khác. Hầu hết các đội quân của các vương hầu đều có qua tay ông huấn luyện. Hưng đạo vương đang ngẩn ngơ lo ngại đã có một biến cố gì xảy ra thì vua Thái Tôn nói:
- Hắn đã đem gia đình trốn sang Tàu. Vương phủ của Doãn đã bị niêm phong. Tước Vũ Thành vương đã bị triều đình tước bỏ. Ta đã cấp thời cử người sang Tàu yêu cầu đưa hắn trở về. Ta báo cho vương điệt biết như thế!
Hưng Đạo vương hoảng hốt quì xuống lạy:
- Em của hạ thần làm bậy mà thần không biết để ngăn chặn được. Cúi xin bệ hạ cho bắt giam hạ thần để xử tội!
Vua Thái Tôn ôn tồn nói:
- Không. Anh khác, em khác, ai có bụng nấy. Ta không có ý bắt tội vương điệt. Ta chỉ muốn bảo cho vương điệt biết ta và Thái Sư không hề nghĩ rằng việc này có liên hệ đến vương điệt. Vương điệt cứ yên tâm trở về lo huấn luyện quân đội.
Hưng Đạo vương đau khổ tạ ơn ra về .
***
Từ khi thành lập đội võ trang, Vũ Thành vương lúc nào cũng bận rộn việc quân. Ngoài những lần vào triều chầu vua, ông đều thức dậy sớm để đến thao trường. ông làm việc không biết mệt mỏi. Có lẽ sở học qua sách vở bây giờ có cơ hội đem thực hành áp dụng đã làm cho ông vui thích. Vẻ mặt ông lúc nào cũng phấn khởi, hăng hái. Sau những giờ phút hăng say ở thao trường, ông lại mang theo niềm phấn khởi đó về với vợ con. Phu nhân Lê thị chăm sóc cho chồng từng miếng ăn miếng uống. Hằng đêm, hai con nhỏ là Huân, Hải, đứa lên bốn, đứa lên ba đều cứ quấn quít bên cha bắt kể chuyện Tào Tháo Vân Trường hay Nhạc Phi Tần Cối Vũ Thành vương thì lúc nào cũng sẵn chuyện để ru chúng vào giấc ngủ dễ dàng.
Cuộc sống trong phủ Vũ Thành vương đang đều nhịp như thế bỗng ông cho giải tán lực lượng võ trang của mình. Hàng ngày vương không ra thao trường nữa mà đêm về ông cũng không còn vui vẻ với vợ con. Nét mặt ông bấy giờ lúc nào cũng có vẻ đăm chiêu suy nghĩ. Ngoài những lúc ăn uống, ông cứ đóng cửa ở miết trong phòng riêng. Suốt thời gian đó ông cũng không gặp gỡ riêng phu nhân lần nào. Phu nhân Lê thị hết sức lo lắng về thái độ của chồng.
Một hôm, Vũ Thành vương mời Lê thị vào phòng riêng. Phu nhân hồi hộp đoán rằng sẽ có một điều gì quan trọng xảy ra.
- Phu quân gọi thiếp có việc gì chăng?
Vũ Thành vương nghiêm trang nói:
- Ta báo cho phu nhân một chuyện hết sức quan trọng. Chúng ta sắp đi xa và có thể không trở lại chốn này. Nhưng chuyện không thể hở cho người ngoài biết.Vậy, xin phu nhân kín đáo thu xếp hành trang. Chừng năm ngày nữa chúng ta lên đường.
Phu nhân hoảng hốt:
- Nhưng phu quân chưa cho thiếp biết đi đâu và vì sao phải đi. Vì sao lại phải kín đáo chuẩn bị. Thiếp cũng cần biết những điều đó để yên tâm lo công việc chứ.
Vũ Thành vương cười:
- Ừ, muốn biết cũng được thôi. Hiện chiến tranh giữa nước ta với Mông cổ sắp xảy ra. Bậc đại trượng phu đáng lý nhân dịp này ra tay đền ơn nước, lập công danh với đời mới phải. Nhưng nhà ta gặp chuyện oan nghiệt. Người đang nắm vận mệnh đất nước hiện tại là kẻ thù không đội trời chung của tiên vương. Trước khi nhắm mắt, người đã di ngôn cho Hưng Đạo vương huynh và ta phải trả thù. Vì sự sống còn của dân tộc, Hưng Đạo vương huynh, với tấm lòng thánh thiện cao cả, đã tạm thời bỏ lơ thù riêng để lo việc nước. Hưng Đạo vương huynh làm rất đúng nhưng ta không thể làm theo được Bởi lẽ ta không muốn linh hồn cha phải tủi hận nơi suối vàng khi cả hai đứa con trai người tin tưởng đều bỏ lơ lời trăng trối của người. Nếu ta còn ở đây, giặc đến nhà mà không ra giúp nước ta sẽ bị thiên hạ cười Mà ra giúp nước tức là giúp Trần Thủ Độ và phải chịu tuân phục mệnh lệnh của ông ấy, đó là điều ta rất khổ tâm. Bởi vậy, ta quyết định phải ra đi. Ta muốn sang Trung Quốc tìm một nơi nào đó yên ổn làm ăn.
Lê thị thấy chồng đã quyết như vậy bèn trở ra chuẩn bị cho chuyến đi.
Cả gia đình cải trang thành nhà dân giả lưu lạc kiếm sống. Sau bao nhiêu ngày vất vả, họ đã tới được lãnh thổ Trung Quốc. Vì gặp lúc chiến tranh đang lan rộng, các cửa ải đều bị quan quân nhà Tống kiểm soát chặt chẽ để đề phòng gian tế. Gia đình Trần Doãn bị quân Tống giữ lại để điều tra. Vợ chồng Trần Doãn vẫn một mực khai là dân quê lưu lạc kiếm ăn. Không may cho Trần Doãn, gặp lúc quan nhà Tống nhận được thông điệp của triều đình Đại Việt yêu cầu kiểm soát và bất trả lại những kẻ vượt biên y khớp với gia đình Trần Doãn nên họ biết chắc họ đã bắt giữ đúng đối tượng. Muốn nhận số tiền thường, viên quan kiểm soát biên giới là Hoàng Bính bèn cho giam cả gia đình Trần Doãn để chờ trao trả cho Đại Việt.
Nửa tháng sau thì triều đình Đại Việt nhận được thông điệp của Hoàng Bính yêu cầu cho một toán quân đặc nhiệm đến biên giới để áp giải gia đình Trần Doãn về.
Vua Thái Tôn lập tức cho người lên biên giới tiếp nhận. Vua ban thưởng rất hậu cho viên quan nhà Tống Hoàng Bính. Đồng thời vua ra lệnh tăng cường kiểm soát biên giới chặt chẽ hơn.
Toán người vượt biên lớn nhỏ đều bị nhốt trong cũi để giải về kinh.
Về đến Thăng Long, khi mở cũi ra người ta người ta mới biết được Vũ Thành vương Trần Doãn chỉ còn là một cái xác không hồn. ông đã dùng thuốc độc để tự tử. Trong người ông có giữ một vuông giấy đề rõ: "Kẻ có tội tự xử để tránh sự khó nghĩ cho Đức Hoàng Thượng và Hưng Đạo vương".
Vua Thái Tôn thấy xác Trần Doãn, xúc động nói:
- Trẫm nào muốn hại vương điệt đâu? Tại sao vương điệt lại tự làm khổ thân thế này!
Vua Thái Tôn cho phép Hưng Đạo vương chôn cất Trần Doãn đàng hoàng và tha hết vợ con Trần Doãn, lại cấp cho nhà cửa và tiền bạc để họ sinh sống.
Vụ Trần Doãn tự sát thật tình cũng làm giảm bớt phần nào sự lấn cấn khó xử của triều đình, giảm thiểu được sự nghi kị bất lợi trong đầu óc một số vương hầu.
Để làm cho Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn yên tâm lo việc quân sự, vua Thái Tôn lại cho Thái Tử Trần Hoảng cưới em ruột của Trần Quốc Tuấn và Trần Doãn là Thiên Cảm về làm vợ.
Sau này, khi Thái tử Hoảng lên ngôi vua tức Trần Thánh Tôn thì Thiên Cảm trở thành hoàng hậu. Hình như đó cũng là một hành động tỏ ý hàn gắn sự nứt rạn tình cảm giữa hai gia đình Trần Thái Tôn và An Sinh vương.
***
Sáu tháng sau, vào đầu năm Đinh Tỵ thì quân Mông Cổ tràn sang nước ta. Tướng Mông Cổ Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy toàn quân theo ngả Vân Nam, xuôi sông Thao tiến xuống Hưng Hóa, đe dọa thành Thăng Long. Vua Thái Tôn sai Hưng Đạo vương Tuấn, bấy giờ mới 31 tuổi chỉ huy quân tiên phong chống giữ mặt trận biên giới. Nhưng vì quân ít, chống không nổi quân Nguyên, vương phải rút quân về Sơn Tây. Vua Thái Tôn tự cầm quân ra trận cũng thua luôn, phải bỏ Thăng Long chạy về giữ Hưng Yên.
Quân Nguyên tràn xuống chiếm Thăng Long, tàn sát quân dân ta tại kinh thành hết sức man rợ. Vì thế, quan tướng binh sĩ cũng như dân ta khắp nơi đều nức khí hận thù.
Vua Thái Tôn thấy tình thế bi quan, hỏi ý Thái Sư Trần Thủ Độ thì ông cứng rắn đáp: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo! ". Nhờ câu nói cương quyết đó vua Thái Tôn cũng giữ được tinh thần để tiếp tục kháng chiến.
Gặp lúc thời tiết chuyển đổi, khí hậu trở nên oi bức khó chịu. Quân Mông Cổ quen sống ở xứ lạnh chịu không nổi nên sinh ra nhiều bệnh tật. Lợi dung cơ hội đó, vua Trần Thái Tôn ra lệnh phản công. Quân Nguyên đau ốm mệt mỏi chịu thảm bại phải rút bỏ về nước, kết thúc lần xâm lăng thứ nhất của giặc Nguyên nhằm vào Đại Việt
Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông xâm lược nước ta lần thứ nhất thắng lợi lớn, quân dân Đại Việt vô cùng phấn khởi. Lúc bấy giờ Thái Sư Trần Thủ Độ đã già, vua Trần Thái Tôn đã nắm gần hết thực quyền trong tay. Vua ân thưởng rộng rãi cho những người có công trong cuộc chiến.
Trong dịp này, vua Thái Tôn đột nhiên ra một thánh chỉ triệu công chúa Chiêu Thánh vào triều. Mọi người đều ngạc nhiên bàn tán... Sau hơn hai mươi năm bị biếm truất, đây là lần đầu Chiêu Thánh được trở lại hoàng cung. Công chúa bây giờ tuy đã lớn tuổi nhưng vẫn còn đẹp, vẫn nguyên vẻ quí phái tự nhiên. Bà nghiêm trang, ít khi nói chuyện với những người đi theo. Bà được nội thị dẫn vào nội điện, nơi bà đã từng ngự trị, để bái kiến vua... Hình như bà cố giữ một vẻ bình thản, không xúc động:
- Tiện thiếp Chiêu Thánh xin bái kiến Hoàng Thượng!
Vua Thái Tôn ôn tồn phán:
Trẫm miễn lễ! Cho phép công chúa ngồi!
Đây là một biệt lệ. Nội thị đưa công chúa đến một chiếc ghế đặt sẵn trước án vua làm việc. Vua Thái Tôn nói hơi cười:
- Trẫm biết bao nhiêu năm nay công chúa đã phải sống trong sự đau khổ tột cùng. Thật sự trẫm cũng đau khổ lắm chứ. Trẫm rất thông cảm hoàn cảnh công chúa nhưng trẫm không thể nào cứu vớt công chúa được. Lúc bấy giờ chính trẫm cũng bị bao vây bốn mặt và không có được một chút tự chủ nào cả. Trẫm hi vọng công chúa hiểu cho trẫm mà không oán trách trẫm. Bây giờ tình hình đã biến cải, trẫm muốn đền bù một phần nào những đau khổ mà công chúa phải chịu bấy lâu nay. Trẫm muốn tác hợp công chúa với một vị đại quan danh giá văn võ kiêm toàn để hưởng hạnh phúc lâu dài, công chúa nghĩ sao?
Công chúa Chiêu Thánh mở tròn cặp mắt long lanh cảm động:
- Muôn tâu, bệ hạ còn đoái nghĩ đến thần thiếp là thần thiếp vui lắm rồi. Bệ hạ muốn sắp xếp thế nào thần thiếp cũng xin tuân mệnh.
Vua Thái Tôn tươi cười:
- Vậy là công chúa đã đồng ý, trẫm sẽ đứng làm chủ hôn đám cười này!
Trong khi quân Nguyên hùng hổ đánh bại đạo binh của Trần Quốc Tuấn rồi đánh bại luôn đạo binh của chính vua Thái Tôn chỉ huy, đuổi tràn xuống Thăng Long, tướng Lê Phụ Trần đã anh dũng cản hậu cho vua rút lui an toàn. Tiếp đó, Lê Phụ Trần lại anh dũng và mưu trí lập nhiều chiến công khác nữa. ông đã góp công lớn trong cuộc phản công quân Nguyên dành thắng lợi cuối cùng cho Đại Việt.
Vua biết rằng viên tướng này đang ở tình trạng góa bụa, lại nhớ đến lời trăng trối của Thuận Thiên hoàng hậu, vua đã nghĩ đến chuyện tác hợp Chiêu Thánh công chúa với ông ta. Với cuộc hôn nhân này, vua Thái Tôn vừa chuộc được lỗi với người xưa, vừa ban được một phần thưởng rất xứng đáng cho vị tướng trung dũng của mình.
Từ đó, Lê Phụ Trần và Lý Chiêu Thánh đã thật sự tìm được hạnh phúc. Hai người có với nhau được hai người con là Lê Tông và Ngọc Khuê đều được phong tước xứng đáng. Lê Phụ Trần và Chiêu Thánh cũng được sống hạnh phúc bên nhau đến bạc đầu.
Về sau, quân Nguyên còn sang xâm lược nước ta hai lần nữa, vào các giai đoạn 1284-1285 và 1287-1288 với những đội quân vô cùng hùng mạnh. Lúc này Thái Sư Trần Thủ Độ đã mất, quân dân nhà Trần đặt dưới sự chỉ huy tài ba của Tiết Chế Quốc Công Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, đã chiến thắng vẻ vang cả hai lần làm nhà Nguyên nản lòng, cam chịu bỏ hẳn ý đồ xâm lược nước ta.
Dân tộc ta chiến thắng được một đội quân hùng mạnh và lớn lao nhất thế giới thời bấy giờ ấy là nhờ đâu? Trước hết là nhờ sự đoàn kết một lòng của toàn dân mà biểu hiệu là Hội Nghị Diên Hồng. Tiếp đó là lòng tuyệt đối tin tưởng nhau giữa những người lãnh đạo chính yếu. Đó là hai nhân vật đối nghịch liên hệ chí thiết với vụ tình hận lịch sử: Tiết Chế Quốc Công Hưng Đạo vương, con của An Sinh vương Trần Liễu và Thượng Tướng Thái Sư Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, con vua Trần Thái Tôn. Họ đã từng mang những điểm bất đồng sâu sắc với nhau đáng kể. Hai người này vì sự sinh tồn của dân tộc, đã tự chế ngự được những tham, sân, oán thù riêng tư của mình. Hai ngài cùng nêu một tấm gương sáng ngời: Coi nhẹ thù riêng, biết đoàn kết để bảo vệ sự sống còn của quốc gia, dân tộc Thật là đại phước cho dân tộc Đại Việt!

***
HẾT
 
 
Đã mang vào thư viện,
cảm ơn Hoàng bang chủ nhé [;)]
 
Chúc vui
0