Chương 7
Khe hẻm Helm
Mặt trời đã ngả về phía Tây khi họ rời khỏi Edoras, ánh mặt trời chiếu thẳng vào mắt họ, khiến những cánh đồng của Rohan đều nhuộm một màu vàng. Họ đi theo con đường mòn chạy theo hướng đông bắc dọc theo chân của dãy Núi Trắng, lúc lên dốc, khi lao xuống dốc, xuyên qua một vùng đồng quê xanh mướt, băng qua những dòng suối nhỏ chảy xiết nhờ các bãi cạn. Xa xa phía trước họ, nằm bên tay phải rặng núi Mù Sương hiện lên mờ ảo, mỗi lúc một hùng vĩ và rõ nét hơn khi từng dặm đường lần lượt trôi qua. Mặt trời từ từ lặn dần trước mắt họ. Từ phía sau lưng, màn đêm dần dần buông xuống.
Đoàn kỵ sĩ tiếp tục lao đi. Tình thế gấp gáp thôi thúc họ. Lo sợ sẽ đến nơi quá muộn, tất cả đều không tiếc sức ngựa, và gần như không nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi. Đàn chiến mã của Rohan tất thảy đều nhanh nhẹn và dai sức, nhưng quãng đường phải đi vẫn còn rất dài. Theo đường chim bay, hơn bốn mươi dặm đường ngăn cách Edoras với bãi cạn Isen, nơi họ hy vọng có thể tìm thấy các thuộc hạ của nhà vua đang cố gắng ngăn cản đội quân của Saruman.
Màn đêm đã bao trùm lấy họ. Cuối cùng đoàn người cũng dừng lại hạ trại. Họ đã trải qua chừng năm giờ liền trên lưng ngựa và đã đi khá xa về hướng đồng bằng phía tây, nhưng hơn một nửa chặng đường cần phải vượt qua vẫn còn đang chờ đợi phía trước. Dưới bầu trời đầy sao của đêm trăng tròn, họ dựng lều trại thành một vòng tròn lớn. Họ không nhóm lửa vì nghi ngại những bất trắc có thể xảy đến ; nhưng bố trí một vòng lính gác quanh trại, đồng thời một đội thám mã được cử đi dò đường trước một quãng xa, lao đi như những chiếc bóng qua các dải đất nhấp nhô. Buổi tối chậm chạp trôi qua vô sự. Đến rạng sáng tiếng tù và lại vang lên, và một giờ sau họ tiếp tục lên đường.
Vẫn chưa có đám mây nào xuất hiện trên bầu trời, nhưng bầu không khí mỗi lúc một nặng nề ngột ngạt, trời nóng bức lạ lùng so với lệ thường vào mùa đó. Vầng mặt trời buổi sớm lờ mờ hiện ra sau một màn sương, nhô cao dần trên bầu trời, chậm chạp theo sau là một quầng tối sẫm mỗi lúc một toả rộng, như một cơn dông tố khổng lồ tiến dần tới từ phía đông. Xa xa về hướng tây bắc, dường như cũng có một đám mây đen nữa bao trùm lấy chân rặng núi Mù Sương, giống như một bóng đen chầm chậm bò dần xuống thung lũng Phù Thuỷ.
Gandalf quay ngựa lại phía Legolas, đang phi ngựa cạnh Éomer. « Anh bạn có đôi mắt tinh tường của dòng dõi thần tiên, Legolas, » ông lên tiếng, « và đồng bào của anh có thể phân biệt một con chim sẻ với một con chim mai hoa từ cách xa một dặm. Vậy hãy cho ta biết, anh có nhìn thấy gì ở phía xa kia, về hướng Isengard hay không ? »
« Cách đây nhiều dặm, » Legolas trả lời, chăm chú nhìn về phía xa, một tay đưa lên che mắt cho khỏi chói. « Tôi có thể nhìn thấy một màn sương đen. Có nhiều bóng đen di chuyển trong đó, những bóng đen to lớn ở phía xa, bên bờ sông ; nhưng tôi không thể nói chắc chúng là gì. Không phải sương mù hay mây đen làm mất tầm nhìn của tôi ; có một tấm màn đen mà một quyền lực nào đó đã phủ lên mặt đất, và màn đen này di chuyển dần xuôi theo dòng sông. Như thể màn đêm dưới rừng cây vô tận đang lan dần từ phía các dãy núi xuống. »
« Và từ sau lưng chúng ta một cơn bão tố của Mordor đang lại gần, » Gandalf nói, « Bầu trời sắp tối sập lại rồi. »
Và trong khi ngày hành trình thứ hai trên lưng ngựa của họ trôi đi, bầu không khí dần trở nên mỗi lúc một thêm nặng nề. Vào đầu buổi chiều những đám mây đen bắt đầu bắt kịp đoàn người : một tấm phông khổng lồ tối sầm với những đường rìa cuồn cuộn dâng lên, bị xé ngang xé dọc bởi những tia chớp sáng loà. Mặt trời lặn dần, đỏ bầm một màu máu qua màn mây mù mờ mịt. Mũi những cây thương của các kỵ sĩ loé sáng khi những tia nắng cuối cùng làm bừng sáng những đỉnh núi dốc đứng của Thrihyrne : lúc này đoàn người đã tới rất gần dải núi chạy xa nhất về hướng bắc của dãy núi Trắng, ba đỉnh núi đá nhọn hoắt nổi bật trong ánh hoàng hôn. Dưới những tia nắng đỏ quạch cuối cùng những người đi đầu nhìn thấy một chấm đen, một kỵ sĩ đang thúc ngựa phi ngược trở lại về phía họ. Những người này liền dừng lại chờ đợi.
Cuối cùng người kỵ sĩ cũng tới nơi, kiệt sức, mũ trụ móp méo, chiếc khiên bị chẻ toác. Anh ta chậm chạp xuống ngựa, đứng thở dốc một hồi. Sau đó anh ta bắt đầu lên tiếng. « Éomer có ở đây không ? » anh ta hỏi. « Cuối cùng các người cũng đã tới, nhưng quá chậm, và quá ít ỏi. Mọi chuyện đều trở nên tồi tệ từ sau khi Théodred ngã xuống. Chúng tôi bị đẩy lùi ngày hôm qua hỏi Isen và bị tổn thất nặng nề ; rất nhiều người bị chết trong khi vượt sông. Rồi khi đêm xuống viện binh của kẻ thù kéo tới vượt sông tấn công trại của chúng tôi. Có lẽ cả Isengard đều trống không vào lúc này ; và Saruman cũng đã vũ trang cho đám người miền núi man rợ cùng các bộ lạc xứ Dunland bên kia sông, và y đã tung thêm cả đám người này tới tấn công chúng tôi. Chúng tôi hoàn toàn bị áp đảo. Thế trận bị tan vỡ. Erkenbrand xứ Westfold đã cho rút lui toàn bộ đám tàn quân ông ta có thể tập hợp được về pháo đài của ông ở khe hẻm Helm. Những người còn lại đã tan rã cả. »
« Éomer ở đâu ? Hãy nói với đức ông rằng không còn hy vọng nào ở phía trước. Đức ông cần rút ngay về Edoras trước khi bầy lang sói của Isengard ập đến đó. » Théoden ngồi im lặng trên mình ngựa, nhà vua bị che khuất khỏi tầm nhìn của người kỵ sĩ bởi các vệ sĩ của ngài ; đến lúc này nhà vua thúc ngựa tiến lên. « Lại đây, đến trước mặt trẫm, Ceorl ! » ông ra lệnh. « Ta ở đây. Đội quân cuối cùng của Eorlingas đã xuất trận. Họ sẽ không quay lui mà không giao chiến. »
Khuôn mặt người kỵ sĩ sáng lên vì ngạc nhiên và vui sướng. Anh ta đứng thẳng người lên. Rồi quỳ xuống, anh nâng thanh gươm sứt sẹo lên trước mặt nhà vua. « Hoàng thượng, hãy hạ lệnh cho thần ! » người kỵ sĩ kêu lên. « Xin hãy tha thứ cho thần ! Thần đã nghĩ rằng …”
“Ngươi đã nghĩ rằng ta vẫn ở lỳ tại Meduseld còng xuống như một cành cây già dưới sức nặng của những bông tuyết mùa đông. Khi ngươi lên đường ra trận thì đúng là như vậy. Nhưng một trận gió tây đã quét sạch những tảng tuyết đó đi rồi,” Théoden đáp. “Hãy cho anh ta một con ngựa sung sức! Chúng ta cùng đi cứu Erkenbrand!”
Trong khi Théoden vẫn chưa dứt lời, Gandalf đã thúc ngựa lao lên trước một đoạn, ông một mình gìm ngựa đứng đó, nhìn đăm đăm về hướng bắc, về phía Isengard, và phía tây nơi mặt trời đang lặn dần. Rồi ông quay trở lại.
“Ra roi, Théoden!” ông nói. “ Thẳng tiến tới khe hẻm Helm! Đừng hướng tới phía bãi cạn Isen, và cũng không nên nấn ná lâu ngoài đồng trống! Tôi đành phải rời khỏi ngài một thời gian. Shadowfax và tôi cần đi gấp ngay bây giờ.” Rồi quay sang Aragorn, Éomer và các thuộc hạ của nhà vua, ông hô lớn: “Hãy bảo vệ Nhà vua của Mark, cho tới lúc tôi trở lại. Hãy đợi tôi tại cổng của pháo đài Helm! Từ biệt!”
Ông thì thầm một tiếng với Shadowfax, và con ngựa lực lưỡng lao vút đi như một mũi tên rời khỏi dây cung. Khi mọi người kịp quay lại nhìn người phù thuỷ đã đi xa: một tia chớp bạc loé sáng trong ánh chiều tà, một ngọn gió lướt nhanh qua thảm cỏ, một chiếc bóng lao nhanh đi như tia chớp khuất khỏi tầm nhìn. Snowmane thở khụt khịt, dựng đứng trên hai chân sau, nóng nảy muốn lao theo; nhưng chỉ một con chim thật nhanh mới có thể thực sự đuổi kịp Shadowfax.
“Thế có nghĩa là gì?” một người vệ sĩ lên tiếng hỏi Háma.
“Có nghĩa là Gandalf Greyhame đang vội vã,” Háma trả lời. “ Lúc nào ông ta cũng đến và đi bất chợt như vậy.”
“Nếu Wormtongue (Lưỡi Sâu ??) có mặt ở đây, hẳn y sẽ không thấy chuyện này khó giải thích,” một người khác xen vào.
“Không sai,” Háma đáp, “nhưng về phần mình, tôi sẽ đợi cho tới khi thấy Gandalf quay trở lại.”
“Có thể ngài sẽ phải đợi lâu đấy,” người kia đáp.
Cả đoàn quân rời khỏi con đường dẫn tới bãi cạn Isen và quành xuống phía nam. Màn đêm đã buông xuống, và họ vẫn đi mải miết. Những dãy núi đã gần kề, nhưng những đỉnh cao vút của Thrihyrne đã chìm hẳn vào màn đêm. Cách xa chừng vài dặm, về phía đối diện của thung lũng Westfold, là một lũng núi hẹp xanh rì, một vùng trũng lớn nằm sâu giữa các dãy núi, ăn thông ra ngoài qua một khe hẻm. Dân cư trong vùng gọi đó là khe hẻm Helm, theo tên một người anh hùng từ thời của những cuộc chiến xa xưa đã xây dựng căn cứ của mình ở đó. Càng lúc càng dốc hơn và hẹp dần lại, khe hẻm ăn sâu vào núi từ phía Bắc, dưới bóng của đỉnh Thrihyrne, cho đến khi những vách núi đá đầy tổ quạ nhô ra từ hai bên như những toà tháp che phủ kín hoàn toàn khe núi.
Tại Cổng Helm, phía trước miệng khe núi, có một sống đá nhô ra từ vách núi phía bắc. Trên sống đá này vươn lên một bức tường cao ngất bằng đá cổ kính, cùng một toà tháp hùng tráng. Người ta kể rằng trong những ngày oanh liệt xa xưa của Gondor các hải vương đã cho xây bức tường này bởi những người khổng lồ. Công trình này được gọi là Hornburg, vì khi kèn hiệu được thổi lên toà tháp, tiếng kèn lập tức vang vọng từ khe núi phía sau, như thể những đạo quân đã từ lâu rơi vào quên lãng đột nhiên thức tỉnh sẵn sàng xung trận từ trong các hang động bên trong lòng núi. Người xưa cũng đã xây dựng một bức tường nữa từ Hornburg tới tận vách núi phía nam, che kín hoàn toàn đường vào hẻm núi. Dưới chân tường thành, con suối Deeping chảy ra ngoài qua một cửa cống rộng. Tới dưới chân Hornrock con suối uốn khúc, đổ vào một con lạch chạy xuyên qua giữa một doi đất rộng phủ đầy cây xanh, chảy thoai thoải từ từ Cổng Helm tới con hào của pháo đài Helm. Sau đó, dòng nước đổ vào khe Deeping rồi chạy về thung lũng Westfold. Ở đó, tại Hornburg nằm trước Cổng Helm, là nơi sinh sống của Erkenbrand, lãnh chúa của Westfold nằm sát biên thuỳ của Mark. Lúc này, khi từng ngày trôi qua càng lúc càng u ám hơn trước hiểm hoạ chiến tranh, là một người khôn ngoan, ông đã cho tu bổ các tường thành và củng cố pháo đài vững chắc hơn.
Đoàn kỵ sĩ vẫn còn đang ở dưới thung lũng thấp trước miệng khe hẻm, khi tiếng hò reo và tù và vọng lại từ toán thám mã đi trước. Từ trong bóng đêm những mũi tên rít lên lao tới. Một thám mã hối hả quay lại báo rằng một toán lính cưỡi chó sói ở sát dưới thung lũng, và một đội quân Orc và người man rợ đang gấp gáp tiến về phía nam qua bãi cạn Isen, thẳng hướng đến khe hẻm Helm.
“Chúng thần đã tìm thấy rất nhiều người của chúng ta bị giết khi chạy trốn từ đó về đây,” người thám mã báo lại, “Và chúng tôi cũng gặp các đám tàn quân tháo chạy tan tác mỗi người một ngả, không có ai chỉ huy. Erkenbrand hiện giờ ra sao không ai có thể đoan chắc được. Có vẻ như ông ta đã bị quân thù bắt kịp trước khi ông ta kịp tới được Cổng Helm, nếu như ông ta không tử trận trước đó.”
“Có ai trông thấy Gandalf không?” Théoden hỏi.
“Muôn tâu, có. Nhiều người đã nhìn thấy một người già cả mặc đồ trắng trên lưng ngựa, thoắt ẩn thoắt hiện trên đồng cỏ như một cơn gió. Có nhiều người cho rằng đó là Saruman. Người ta còn nói rằng ông ta đã lao đi trước khi trời tối về hướng Isengard. Một số người khác cũng kể đã trông thấy Wormtongue trước đó, đi về hướng bắc cùng một toán Orc.”
“Nếu Gandalf tóm được Wormtongue thì y sẽ lôi thôi to,” Théoden lên tiếng. “ Dẫu sao ta cũng thấy thiếu vắng cả hai vị cố vấn này, cả người cũ lẫn người mới. Nhưng trong lúc cấp bách này chúng ta không có sự lựa chọn nào hơn là tiếp tục tiến lên, như lời khuyên của Gandalf, tới Cổng Helm, cho dù Erkenbrand có mặt ở đó hay không. Các ngươi có biết đoàn quân từ phía bắc tới đông khoảng bao nhiêu không?”
“Rất đông,” người thám mã trả lời, “Những kẻ bỏ trốn thường đếm một kẻ thù thành hai, nhưng thần cũng đã hỏi chuyện những người can đảm, và theo thần không nghi ngờ gì nữa, đạo quân chính của kẻ thù đông hơn tất cả lực lượng chúng ta có ở đây gấp nhiều lần.”
“Vậy chúng ta cần khẩn trương lên,” Éomer lên tiếng, “ Hãy đột phá qua đội quân địch đang án ngữ giữa chúng ta và pháo đài. Có rất nhiều hang động ở khe hẻm Helm có thể ẩn nấp được hàng trăm người; và có những con đường bí mật dẫn từ đó lên trên núi.”
“Không nên tin tưởng nhiều vào các con đường bí mật,” nhà vua đáp. “Saruman đã do thám kỹ càng vùng đất này từ lâu. Hãy đóng lại ở nơi chúng ta có thể cố thủ được lâu nhất. Đi thôi!”
Lúc này Aragorn và Legolas lao lên hàng đầu cùng Éomer. Họ phi ngựa lao xuyên qua màn đêm tối mịt, mỗi lúc một chậm dần khi dấn sâu dần vào bóng tối và con đường của họ dốc dần lên về phía nam, cao mãi, cao mãi lên tới những triền đá mờ mờ dưới chân núi. Họ gặp phải vài kẻ thù dọc đường. Thỉnh thoảng họ lại đụng đầu với một toán Orc đi lang thang, nhưng chúng lập tức bỏ chạy trước khi các kỵ sĩ có thể đuổi kịp hay tiêu diệt chúng.
“Tôi e rằng chẳng bao lâu nữa,” Éomer nói, “việc đội quân của nhà vua xuất hiện sẽ được báo cho Saruman hay tay phó tướng lão đã cử đến đây.”
Những âm vang của chiến tranh lớn dần lên sau lưng họ. Lúc này họ đã có thể nghe thấy, vẳng lại qua màn đêm, những tiếng hát hung tợn. Khi đã phi ngựa lên tới tận hẻm Deeping, họ dừng ngựa ngoái lại nhìn phía sau. Trước mắt họ, hằng hà sa số đốm sáng lung linh của lửa đuốc nổi bật trên nền tối của màn đêm, tản rộng như những đoá hoa màu đỏ, hay tiến lên từ phía vùng đất thấp theo từ hàng lay động. Thảng hoặc đây đó bùng lên những quầng sáng lớn hơn.
“Đó là đạo quân lớn đang theo sát gót chúng ta,” Aragorn nói.
“Chúng mang theo lửa,” Théoden đáp, “và chúng đốt tất cả dọc đường đi, đống rơm, nhà cửa, cây cối. Đó là một thung lũng trù phú có rất nhiều dân cư. Thật đau đớn cho thần dân của ta.”
“Giá lúc này là ban ngày và chúng ta có thể lao xuống quét sạch chúng khỏi những dãy núi này như một cơn lũ,” Aragorrn than thở. “Tôi thấy thật hổ thẹn khi phải bỏ chạy trước mặt chúng.”
“Chúng ta không cần phải thoái lui xa nữa,” Éomer đáp.
(Còn tiếp)
Khe hẻm Helm
Mặt trời đã ngả về phía Tây khi họ rời khỏi Edoras, ánh mặt trời chiếu thẳng vào mắt họ, khiến những cánh đồng của Rohan đều nhuộm một màu vàng. Họ đi theo con đường mòn chạy theo hướng đông bắc dọc theo chân của dãy Núi Trắng, lúc lên dốc, khi lao xuống dốc, xuyên qua một vùng đồng quê xanh mướt, băng qua những dòng suối nhỏ chảy xiết nhờ các bãi cạn. Xa xa phía trước họ, nằm bên tay phải rặng núi Mù Sương hiện lên mờ ảo, mỗi lúc một hùng vĩ và rõ nét hơn khi từng dặm đường lần lượt trôi qua. Mặt trời từ từ lặn dần trước mắt họ. Từ phía sau lưng, màn đêm dần dần buông xuống.
Đoàn kỵ sĩ tiếp tục lao đi. Tình thế gấp gáp thôi thúc họ. Lo sợ sẽ đến nơi quá muộn, tất cả đều không tiếc sức ngựa, và gần như không nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi. Đàn chiến mã của Rohan tất thảy đều nhanh nhẹn và dai sức, nhưng quãng đường phải đi vẫn còn rất dài. Theo đường chim bay, hơn bốn mươi dặm đường ngăn cách Edoras với bãi cạn Isen, nơi họ hy vọng có thể tìm thấy các thuộc hạ của nhà vua đang cố gắng ngăn cản đội quân của Saruman.
Màn đêm đã bao trùm lấy họ. Cuối cùng đoàn người cũng dừng lại hạ trại. Họ đã trải qua chừng năm giờ liền trên lưng ngựa và đã đi khá xa về hướng đồng bằng phía tây, nhưng hơn một nửa chặng đường cần phải vượt qua vẫn còn đang chờ đợi phía trước. Dưới bầu trời đầy sao của đêm trăng tròn, họ dựng lều trại thành một vòng tròn lớn. Họ không nhóm lửa vì nghi ngại những bất trắc có thể xảy đến ; nhưng bố trí một vòng lính gác quanh trại, đồng thời một đội thám mã được cử đi dò đường trước một quãng xa, lao đi như những chiếc bóng qua các dải đất nhấp nhô. Buổi tối chậm chạp trôi qua vô sự. Đến rạng sáng tiếng tù và lại vang lên, và một giờ sau họ tiếp tục lên đường.
Vẫn chưa có đám mây nào xuất hiện trên bầu trời, nhưng bầu không khí mỗi lúc một nặng nề ngột ngạt, trời nóng bức lạ lùng so với lệ thường vào mùa đó. Vầng mặt trời buổi sớm lờ mờ hiện ra sau một màn sương, nhô cao dần trên bầu trời, chậm chạp theo sau là một quầng tối sẫm mỗi lúc một toả rộng, như một cơn dông tố khổng lồ tiến dần tới từ phía đông. Xa xa về hướng tây bắc, dường như cũng có một đám mây đen nữa bao trùm lấy chân rặng núi Mù Sương, giống như một bóng đen chầm chậm bò dần xuống thung lũng Phù Thuỷ.
Gandalf quay ngựa lại phía Legolas, đang phi ngựa cạnh Éomer. « Anh bạn có đôi mắt tinh tường của dòng dõi thần tiên, Legolas, » ông lên tiếng, « và đồng bào của anh có thể phân biệt một con chim sẻ với một con chim mai hoa từ cách xa một dặm. Vậy hãy cho ta biết, anh có nhìn thấy gì ở phía xa kia, về hướng Isengard hay không ? »
« Cách đây nhiều dặm, » Legolas trả lời, chăm chú nhìn về phía xa, một tay đưa lên che mắt cho khỏi chói. « Tôi có thể nhìn thấy một màn sương đen. Có nhiều bóng đen di chuyển trong đó, những bóng đen to lớn ở phía xa, bên bờ sông ; nhưng tôi không thể nói chắc chúng là gì. Không phải sương mù hay mây đen làm mất tầm nhìn của tôi ; có một tấm màn đen mà một quyền lực nào đó đã phủ lên mặt đất, và màn đen này di chuyển dần xuôi theo dòng sông. Như thể màn đêm dưới rừng cây vô tận đang lan dần từ phía các dãy núi xuống. »
« Và từ sau lưng chúng ta một cơn bão tố của Mordor đang lại gần, » Gandalf nói, « Bầu trời sắp tối sập lại rồi. »
Và trong khi ngày hành trình thứ hai trên lưng ngựa của họ trôi đi, bầu không khí dần trở nên mỗi lúc một thêm nặng nề. Vào đầu buổi chiều những đám mây đen bắt đầu bắt kịp đoàn người : một tấm phông khổng lồ tối sầm với những đường rìa cuồn cuộn dâng lên, bị xé ngang xé dọc bởi những tia chớp sáng loà. Mặt trời lặn dần, đỏ bầm một màu máu qua màn mây mù mờ mịt. Mũi những cây thương của các kỵ sĩ loé sáng khi những tia nắng cuối cùng làm bừng sáng những đỉnh núi dốc đứng của Thrihyrne : lúc này đoàn người đã tới rất gần dải núi chạy xa nhất về hướng bắc của dãy núi Trắng, ba đỉnh núi đá nhọn hoắt nổi bật trong ánh hoàng hôn. Dưới những tia nắng đỏ quạch cuối cùng những người đi đầu nhìn thấy một chấm đen, một kỵ sĩ đang thúc ngựa phi ngược trở lại về phía họ. Những người này liền dừng lại chờ đợi.
Cuối cùng người kỵ sĩ cũng tới nơi, kiệt sức, mũ trụ móp méo, chiếc khiên bị chẻ toác. Anh ta chậm chạp xuống ngựa, đứng thở dốc một hồi. Sau đó anh ta bắt đầu lên tiếng. « Éomer có ở đây không ? » anh ta hỏi. « Cuối cùng các người cũng đã tới, nhưng quá chậm, và quá ít ỏi. Mọi chuyện đều trở nên tồi tệ từ sau khi Théodred ngã xuống. Chúng tôi bị đẩy lùi ngày hôm qua hỏi Isen và bị tổn thất nặng nề ; rất nhiều người bị chết trong khi vượt sông. Rồi khi đêm xuống viện binh của kẻ thù kéo tới vượt sông tấn công trại của chúng tôi. Có lẽ cả Isengard đều trống không vào lúc này ; và Saruman cũng đã vũ trang cho đám người miền núi man rợ cùng các bộ lạc xứ Dunland bên kia sông, và y đã tung thêm cả đám người này tới tấn công chúng tôi. Chúng tôi hoàn toàn bị áp đảo. Thế trận bị tan vỡ. Erkenbrand xứ Westfold đã cho rút lui toàn bộ đám tàn quân ông ta có thể tập hợp được về pháo đài của ông ở khe hẻm Helm. Những người còn lại đã tan rã cả. »
« Éomer ở đâu ? Hãy nói với đức ông rằng không còn hy vọng nào ở phía trước. Đức ông cần rút ngay về Edoras trước khi bầy lang sói của Isengard ập đến đó. » Théoden ngồi im lặng trên mình ngựa, nhà vua bị che khuất khỏi tầm nhìn của người kỵ sĩ bởi các vệ sĩ của ngài ; đến lúc này nhà vua thúc ngựa tiến lên. « Lại đây, đến trước mặt trẫm, Ceorl ! » ông ra lệnh. « Ta ở đây. Đội quân cuối cùng của Eorlingas đã xuất trận. Họ sẽ không quay lui mà không giao chiến. »
Khuôn mặt người kỵ sĩ sáng lên vì ngạc nhiên và vui sướng. Anh ta đứng thẳng người lên. Rồi quỳ xuống, anh nâng thanh gươm sứt sẹo lên trước mặt nhà vua. « Hoàng thượng, hãy hạ lệnh cho thần ! » người kỵ sĩ kêu lên. « Xin hãy tha thứ cho thần ! Thần đã nghĩ rằng …”
“Ngươi đã nghĩ rằng ta vẫn ở lỳ tại Meduseld còng xuống như một cành cây già dưới sức nặng của những bông tuyết mùa đông. Khi ngươi lên đường ra trận thì đúng là như vậy. Nhưng một trận gió tây đã quét sạch những tảng tuyết đó đi rồi,” Théoden đáp. “Hãy cho anh ta một con ngựa sung sức! Chúng ta cùng đi cứu Erkenbrand!”
Trong khi Théoden vẫn chưa dứt lời, Gandalf đã thúc ngựa lao lên trước một đoạn, ông một mình gìm ngựa đứng đó, nhìn đăm đăm về hướng bắc, về phía Isengard, và phía tây nơi mặt trời đang lặn dần. Rồi ông quay trở lại.
“Ra roi, Théoden!” ông nói. “ Thẳng tiến tới khe hẻm Helm! Đừng hướng tới phía bãi cạn Isen, và cũng không nên nấn ná lâu ngoài đồng trống! Tôi đành phải rời khỏi ngài một thời gian. Shadowfax và tôi cần đi gấp ngay bây giờ.” Rồi quay sang Aragorn, Éomer và các thuộc hạ của nhà vua, ông hô lớn: “Hãy bảo vệ Nhà vua của Mark, cho tới lúc tôi trở lại. Hãy đợi tôi tại cổng của pháo đài Helm! Từ biệt!”
Ông thì thầm một tiếng với Shadowfax, và con ngựa lực lưỡng lao vút đi như một mũi tên rời khỏi dây cung. Khi mọi người kịp quay lại nhìn người phù thuỷ đã đi xa: một tia chớp bạc loé sáng trong ánh chiều tà, một ngọn gió lướt nhanh qua thảm cỏ, một chiếc bóng lao nhanh đi như tia chớp khuất khỏi tầm nhìn. Snowmane thở khụt khịt, dựng đứng trên hai chân sau, nóng nảy muốn lao theo; nhưng chỉ một con chim thật nhanh mới có thể thực sự đuổi kịp Shadowfax.
“Thế có nghĩa là gì?” một người vệ sĩ lên tiếng hỏi Háma.
“Có nghĩa là Gandalf Greyhame đang vội vã,” Háma trả lời. “ Lúc nào ông ta cũng đến và đi bất chợt như vậy.”
“Nếu Wormtongue (Lưỡi Sâu ??) có mặt ở đây, hẳn y sẽ không thấy chuyện này khó giải thích,” một người khác xen vào.
“Không sai,” Háma đáp, “nhưng về phần mình, tôi sẽ đợi cho tới khi thấy Gandalf quay trở lại.”
“Có thể ngài sẽ phải đợi lâu đấy,” người kia đáp.
Cả đoàn quân rời khỏi con đường dẫn tới bãi cạn Isen và quành xuống phía nam. Màn đêm đã buông xuống, và họ vẫn đi mải miết. Những dãy núi đã gần kề, nhưng những đỉnh cao vút của Thrihyrne đã chìm hẳn vào màn đêm. Cách xa chừng vài dặm, về phía đối diện của thung lũng Westfold, là một lũng núi hẹp xanh rì, một vùng trũng lớn nằm sâu giữa các dãy núi, ăn thông ra ngoài qua một khe hẻm. Dân cư trong vùng gọi đó là khe hẻm Helm, theo tên một người anh hùng từ thời của những cuộc chiến xa xưa đã xây dựng căn cứ của mình ở đó. Càng lúc càng dốc hơn và hẹp dần lại, khe hẻm ăn sâu vào núi từ phía Bắc, dưới bóng của đỉnh Thrihyrne, cho đến khi những vách núi đá đầy tổ quạ nhô ra từ hai bên như những toà tháp che phủ kín hoàn toàn khe núi.
Tại Cổng Helm, phía trước miệng khe núi, có một sống đá nhô ra từ vách núi phía bắc. Trên sống đá này vươn lên một bức tường cao ngất bằng đá cổ kính, cùng một toà tháp hùng tráng. Người ta kể rằng trong những ngày oanh liệt xa xưa của Gondor các hải vương đã cho xây bức tường này bởi những người khổng lồ. Công trình này được gọi là Hornburg, vì khi kèn hiệu được thổi lên toà tháp, tiếng kèn lập tức vang vọng từ khe núi phía sau, như thể những đạo quân đã từ lâu rơi vào quên lãng đột nhiên thức tỉnh sẵn sàng xung trận từ trong các hang động bên trong lòng núi. Người xưa cũng đã xây dựng một bức tường nữa từ Hornburg tới tận vách núi phía nam, che kín hoàn toàn đường vào hẻm núi. Dưới chân tường thành, con suối Deeping chảy ra ngoài qua một cửa cống rộng. Tới dưới chân Hornrock con suối uốn khúc, đổ vào một con lạch chạy xuyên qua giữa một doi đất rộng phủ đầy cây xanh, chảy thoai thoải từ từ Cổng Helm tới con hào của pháo đài Helm. Sau đó, dòng nước đổ vào khe Deeping rồi chạy về thung lũng Westfold. Ở đó, tại Hornburg nằm trước Cổng Helm, là nơi sinh sống của Erkenbrand, lãnh chúa của Westfold nằm sát biên thuỳ của Mark. Lúc này, khi từng ngày trôi qua càng lúc càng u ám hơn trước hiểm hoạ chiến tranh, là một người khôn ngoan, ông đã cho tu bổ các tường thành và củng cố pháo đài vững chắc hơn.
Đoàn kỵ sĩ vẫn còn đang ở dưới thung lũng thấp trước miệng khe hẻm, khi tiếng hò reo và tù và vọng lại từ toán thám mã đi trước. Từ trong bóng đêm những mũi tên rít lên lao tới. Một thám mã hối hả quay lại báo rằng một toán lính cưỡi chó sói ở sát dưới thung lũng, và một đội quân Orc và người man rợ đang gấp gáp tiến về phía nam qua bãi cạn Isen, thẳng hướng đến khe hẻm Helm.
“Chúng thần đã tìm thấy rất nhiều người của chúng ta bị giết khi chạy trốn từ đó về đây,” người thám mã báo lại, “Và chúng tôi cũng gặp các đám tàn quân tháo chạy tan tác mỗi người một ngả, không có ai chỉ huy. Erkenbrand hiện giờ ra sao không ai có thể đoan chắc được. Có vẻ như ông ta đã bị quân thù bắt kịp trước khi ông ta kịp tới được Cổng Helm, nếu như ông ta không tử trận trước đó.”
“Có ai trông thấy Gandalf không?” Théoden hỏi.
“Muôn tâu, có. Nhiều người đã nhìn thấy một người già cả mặc đồ trắng trên lưng ngựa, thoắt ẩn thoắt hiện trên đồng cỏ như một cơn gió. Có nhiều người cho rằng đó là Saruman. Người ta còn nói rằng ông ta đã lao đi trước khi trời tối về hướng Isengard. Một số người khác cũng kể đã trông thấy Wormtongue trước đó, đi về hướng bắc cùng một toán Orc.”
“Nếu Gandalf tóm được Wormtongue thì y sẽ lôi thôi to,” Théoden lên tiếng. “ Dẫu sao ta cũng thấy thiếu vắng cả hai vị cố vấn này, cả người cũ lẫn người mới. Nhưng trong lúc cấp bách này chúng ta không có sự lựa chọn nào hơn là tiếp tục tiến lên, như lời khuyên của Gandalf, tới Cổng Helm, cho dù Erkenbrand có mặt ở đó hay không. Các ngươi có biết đoàn quân từ phía bắc tới đông khoảng bao nhiêu không?”
“Rất đông,” người thám mã trả lời, “Những kẻ bỏ trốn thường đếm một kẻ thù thành hai, nhưng thần cũng đã hỏi chuyện những người can đảm, và theo thần không nghi ngờ gì nữa, đạo quân chính của kẻ thù đông hơn tất cả lực lượng chúng ta có ở đây gấp nhiều lần.”
“Vậy chúng ta cần khẩn trương lên,” Éomer lên tiếng, “ Hãy đột phá qua đội quân địch đang án ngữ giữa chúng ta và pháo đài. Có rất nhiều hang động ở khe hẻm Helm có thể ẩn nấp được hàng trăm người; và có những con đường bí mật dẫn từ đó lên trên núi.”
“Không nên tin tưởng nhiều vào các con đường bí mật,” nhà vua đáp. “Saruman đã do thám kỹ càng vùng đất này từ lâu. Hãy đóng lại ở nơi chúng ta có thể cố thủ được lâu nhất. Đi thôi!”
Lúc này Aragorn và Legolas lao lên hàng đầu cùng Éomer. Họ phi ngựa lao xuyên qua màn đêm tối mịt, mỗi lúc một chậm dần khi dấn sâu dần vào bóng tối và con đường của họ dốc dần lên về phía nam, cao mãi, cao mãi lên tới những triền đá mờ mờ dưới chân núi. Họ gặp phải vài kẻ thù dọc đường. Thỉnh thoảng họ lại đụng đầu với một toán Orc đi lang thang, nhưng chúng lập tức bỏ chạy trước khi các kỵ sĩ có thể đuổi kịp hay tiêu diệt chúng.
“Tôi e rằng chẳng bao lâu nữa,” Éomer nói, “việc đội quân của nhà vua xuất hiện sẽ được báo cho Saruman hay tay phó tướng lão đã cử đến đây.”
Những âm vang của chiến tranh lớn dần lên sau lưng họ. Lúc này họ đã có thể nghe thấy, vẳng lại qua màn đêm, những tiếng hát hung tợn. Khi đã phi ngựa lên tới tận hẻm Deeping, họ dừng ngựa ngoái lại nhìn phía sau. Trước mắt họ, hằng hà sa số đốm sáng lung linh của lửa đuốc nổi bật trên nền tối của màn đêm, tản rộng như những đoá hoa màu đỏ, hay tiến lên từ phía vùng đất thấp theo từ hàng lay động. Thảng hoặc đây đó bùng lên những quầng sáng lớn hơn.
“Đó là đạo quân lớn đang theo sát gót chúng ta,” Aragorn nói.
“Chúng mang theo lửa,” Théoden đáp, “và chúng đốt tất cả dọc đường đi, đống rơm, nhà cửa, cây cối. Đó là một thung lũng trù phú có rất nhiều dân cư. Thật đau đớn cho thần dân của ta.”
“Giá lúc này là ban ngày và chúng ta có thể lao xuống quét sạch chúng khỏi những dãy núi này như một cơn lũ,” Aragorrn than thở. “Tôi thấy thật hổ thẹn khi phải bỏ chạy trước mặt chúng.”
“Chúng ta không cần phải thoái lui xa nữa,” Éomer đáp.
(Còn tiếp)
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
(Schtroumpf-lunette)