📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Nguyễn thị Hoài Thanh

2 trả lời, 639 lượt xem — Trang 1 / 1
.
Nguyễn Thị Hoài Thanh
Tưởng Năng Tiến


Trong những phụ nữ thuộc thế hệ chị và mẹ của mình, tôi rất thương chị Thanh và dì Bẩy. Khi còn đôi tám, người ta thường gọi dì là con Bẩy.

"Giọng hát của con Bẩy đưa đò khi cất lên cao thì cao hơn tầm bay bổng của con cò, con vạc, cao vút tận mấy vì sao đêm lấp lánh; giọng ấy lúc buông trầm xuống thì như hơi gió xao động cả dòng sông, chuyển rung mặt nuớc.” (Sơn Nam. "Con Bẩy Đưa Đò". Hương Rừng Cà Mau. 51-52).(*)

Tài sắc, cũng như đức hạnh, không mấy khi mang lại hạnh phúc và may mắn cho những kẻ sống trong thời ly loạn. Cuộc đời cô Bẩy (rất) không may và (hoàn toàn) không hạnh phúc.

Ở tuổi thanh xuân, cổ gặp (và yêu) một người trên sông Cái Lớn. Chàng từ Bình Thủy xuống, đẹp trai, lịch thiệp, và hò hát cũng rất hay. Chỉ có điều đáng tiếc là người ta không phải thường dân, nên không chịu cùng cô Bẩy kết duyên đôi lứa, và sống an phận thủ thường - như những đám lục bình trôi, nơi ao hồ sông rạch. Chàng quyết chí đi theo tiếng gọi của non sông.

“Nghe qua con Bẩy bùi nghùi tấc dạ; từ chỗ kính mến đến chỗ yêu thương chàng trai đó cũng không xa mấy. Con Bẩy nhìn vầng trăng khuyết vừa hé lên khỏi ngọn bần.”

- Bao giờ chàng trở lại em xin chờ.
"Chàng cười mà đáp:
- Cảm ơn.
- Lời em hứa là chắc. Hay là chàng không tin nơi lời nguyền của gái đưa đò.
- Đâu phải vậy. Chỉ sợ tôi không giữ đúng lời hứa ... Chí trai bốn biển là nhà…
"Dứt lời chàng đứng dậy cất mái chèo. Con Bẩy xúc động rưng rưng nước mắt. Duyên may một đời chưa chắc gặp hai lần."
- Vậy thì xin chàng dậy cho em một hai câu hò để em nhớ đời.
- Cô hò đã hay mà lại có duyên. Tôi còn biết gì mà dậy thêm. Họa chăng chỉ có một tấm lòng này...
"Một tấm lòng! Con Bẩy mãi suy nghĩ về ba tiếng đó, chừng giựt mình nhìn lại thì chàng đã khuất dạng trong lớp sương khuya" (Sơn N. sđd, trang 57).

Con Bẩy chờ hoài, chờ hủy nhưng người xưa không bao giờ trở về bến cũ. Thời gian thì đâu có chịu đợi ai. Tuổi đời khiến con Bẩy Đưa Đò phải chuyển nghề bán thịt, ở chợ Vàm, bên sông Cái Lớn. Thịt heo luộc của dì Bẩy nổi tiếng là "ngon hết biết" luôn.

Một hôm, có người năn nỉ xin chỉ cho cách luộc thịt. Dì Bẩy thoáng ngậm ngùi:

- Cái việc hò hát cũng như cái việc luộc thịt heo vậy. Ai làm cũng được. Cách thức dễ ợt. Nhưng mà công phu lắm.
- Công phu là thế nào dì Bẩy?
- Ở đây, hồi đó có người nói là cần "một tấm lòng” (Sơn N. sđd trang 59).
Chao ơi (là) một tấm lòng! Sống không có nó (ngó) cũng kỳ mà có thì phiền lắm và (đôi khi) phiền lớn. Cũng như dì Bẩy, chị Thanh lao đao lận đận - suốt cả cuộc đời - cũng chỉ vì một tấm lòng thủy chung, và đôn hậu của mình.

Bà Nguyễn Thị Thêu, một người bạn ấu thời của chị, kể lại rằng: ”Sau hiệp định Geneve chia đôi đất nước, gia đình tôi ra Hải Phòng để chờ ngày di cư vào Nam. Hoài Thanh vốn là người Hải Phòng nên ba tháng hè chúng tôi thường xuyên gặp nhau. Tôi rủ Hoài Thanh di cư vào Sài Gòn nhiều lần, nhưng Hoài Thanh bảo:

- Tao chờ anh Trúc ở ngoài kháng chiến về.”
(Nguyễn Thị Hoài Thanh. “Luyến Tiếc”. Hoa Phượng. Tiếng Quê Hương: Virginia, 2007. 121**).

Thành phố Hải Phòng của Việt Nam, hồi đầu thập niên 1950, cũng như thủ đô Lisbon của Bồ Đào Nha (vào cuối những năm 1940) là ngưỡng cửa của sự tử sinh. Nhiều người dân Âu Châu liều mình (và đã bỏ mạng) để đến được Lisbon, bến cảng mà người ta có thể từ đó vượt thoát khỏi sự săn đuổi chủ nghĩa phát xít. Tương tự: nhiều người Việt cũng đã bỏ ruộng vườn, tài sản, mổ mả ông bà chạy đến Hải Phòng - để có thể lên tầu di cư vào Nam, trốn chạy hiểm họa cộng sản. Riêng chị Thanh thì khác. Chị ở lại (chỉ) để chờ một người về.

Không một ai trở lại, như chị Thanh và dì Bẩy đã ngong ngóng đợi mong. Người đời rồi cũng dần lãng quên cái giọng hát “khi cất lên cao thì cao hơn tầm bay bổng của con cò, con vạc, cao vút tận mấy vì sao đêm lấp lánh” của cô gái đưa đò (xuân sắc) năm xưa. Và thời gian thì để mặc cho dì Bẩy sống hết đời mình, trong cô đơn và lặng lẽ, ven một bến sông êm đềm, ở miền Nam.

Chị Thanh, tiếc thay, đã không có được sự “may mắn” tương tự như dì Bẩy – hai muơi năm trước. Cái giá mà chị phải trả cho tấm lòng trung hậu của mình không rẻ vậy đâu. Ở miền Bắc, nơi mà (“miếng thịt lợn chao ơi là vĩ đại”) thịt thà không phải là thực phẩm thường dùng nên chị Thanh bán than:

Em lội giữa đống than như con cá mắc cạn
Cố vẫy vùng cho vượt khỏi gian truân…


(Chu Tất Tiến. “Viết Về Một Người Mang Tên Nguyễn Thị Hoài Thanh.” Hoa Phượng. Tiếng Quê Hương: Virginia, 2007. 153).

Sống “giữa lòng cách mạng,” muốn “vượt khỏi gian truân” e hơi (bị) khó. Lý lịch trích ngang của Nguyễn Thị Hoài Thanh được Bùi Ngọc Tấn tóm tắt, như sau:

“Có việc gì mà không trải qua. Hãy kể những việc chính: Công nhân xi măng, thợ điện Hải Phòng điện khí, thợ điện công ty xây lắp, công nhân bóc lạc công ty xuất nhập khẩu, đứng máy bào cuốn xí nghiệp gỗ Trương Công Định, công nhân công ty xếp dỡ, cấp dưỡng công ty vật liệu kiến thiết, súc sạc ắc qui Công Ty Quốc Doanh Đánh Cá Hạ long…Đó là chưa kể còn đi giao bánh rán, bánh mì, kẹo lạc, làm và bán nước mắm … Đồng luơng không đủ nuôi mình mà còn phải nuôi con … (Bùi Ngọc Tấn. “Một Mơ Ước Về Kiếp Sau.” Viết Về Bè Bạn. Tiếng Quê Hương: Virginia, 2005. 105***).

Chưa hết, còn có “huyền thoại” là chị Thanh có hai ông anh đã di cư: Nguyễn Xuân Vinh và Nguyễn Cao Kỳ. Cả hai đều (từng) là tư lệnh không quân của miền Nam. Huyền thoại này chỉ đúng năm chục phần trăm. Quả thực, chị là em của ông Nguyễn Xuân Vinh. Ở miền Bắc, có một ông anh cỡ đó cũng đủ chết (mẹ) rồi. Đâu cần đến cả hai.

“Dường như biết rằng có những dư luận bất lợi cho mình và mọi người nhìn mình bằng con mắt nghi kỵ xa lánh nên chị không chủ động thân thiết gần gũi với một ai.” (Bùi N.T. sđd, trang 99).

Chị sống thui thủi một mình là phải:

Sau hổi kẻng tan ca
Tôi ngã vào vòng tay lạnh lẽo của mùa đông.


Chị Thanh có một người em, cùng ở lại miền Bắc, tên Nguyễn Xuân Đăng. Ông mất sớm và được an táng ở Ninh Hải. Từ thành phố Hải Phòng, phải đi qua chợ Cầu Rào mới tới nghĩa trang này. Vì thế, trong tập Hoa Phượng, có một bài thơ thắm thiết tựa là “Chợ Cầu Rào”:

Em nằm bên kia sông
Chợ Cầu Rào chiều hôm nắng tái
Qua chợ dùng dằng
nửa muốn đi nửa toan ghé lại
Định mua quà cho em nhưng nào biết mua chi
Em nằm bên kia
Bên đây chợ lao xao kẻ mua người bán
Chỉ một thứ chẳng ai cần bán mua là nước mắt
Em mặc cả với đời mang nó đi theo …


Đời sống của cái gia đình nhỏ bé, riêng của chị Thanh, lại là thảm kịch khác. “Thời con gái chị vốn xinh đẹp. Nhất dáng nhì da. Chị được cả hai. Nhưng hồng nhan đa truân. Hai lần kết hôn, hai lần ly dị. Vẻ đẹp của tuổi ba muơi đang chín. Cái sắc đẹp không chủ đã gây cho chị biết bao nhiêu khó khăn, nhiều khi cả nguy hiểm nữa…”

“Hình như Nguyễn Thị Hoài Thanh sinh ra là để gặp rắc rối và vuợt qua những rắc rối khó khăn. Chịu đựng và vượt qua một cách thản nhiên bình tĩnh, không kêu ca như cuộc đời vốn như vậy” (Bùi N.T. sđd, trang 101 -104).

Thì quả có “như vậy” thật nhưng sao, đôi lúc, tôi vẫn mơ hồ nghe như có tiếng chị thở dài - dù (rất) khẽ:
Sông Cấm ơi! Sông như người bạn mới quen
Thân thiết thế mà sao không hiểu được
Chiều tan ca tôi đi bên dòng nước
Sông với tôi, với bóng là ba
Bóng tôi nghiêng với bao la
Sông mang về biển
Bóng tôi còn nguyên vẹn không sông?


Sông Cấm, đã có lúc, mang “nguyên vẹn” hình bóng của người thơ ra biển. Nhưng chính chị Thanh đã không giữ được nguyên vẹn hình hài, cho chính mình, như thế mãi.

“Tai nạn xẩy ra ngay ngã Sáu, gần nhà tôi. Chị nằm ngất trên đường mưa dầm ngày tết, mặt đường sền sệt một thứ nước bùn hoa. Cánh tay dập nát, xương gẫy… Chị bảo người nhà xin cho người tài xế đã gây ra tai nạn vì người ta không cố ý, người ta cũng khổ như mình” (Bùi N.T. sđd, trang 111-112).

Sau đó, sau khi bị thương tật - ở tuổi sáu muơi - chị Thanh sẽ không bao giờ còn được “khổ như” nhiều người dân Việt (trung bình) khác nữa. Có lẽ, chỉ còn có cách ăn xin để sống còn - như chị đã từng nghĩ thế.

Nhưng lòng tự trọng quá lớn đã không cho phép chị Thanh làm như vậy. Loay hoay một thời gian rồi chị cũng nghĩ ra một cách sinh nhai khác, lịch sự hơn. Chị vào Nam đi … mót!

Với dân Việt thì gặt lúa, bẻ bắp, rỡ khoai, rỡ lạc là những sinh hoạt quen thuộc hàng ngày. Mót lúa, mót bắp, mót khoai, mót lạc …cũng là những sinh hoạt quen thuộc khác - với những nông dân khốn khó hơn, như trường hợp của chị Thanh.

Có chiều, ở Đồng Xoài, trong khi chờ người ta thu hoạch lạc xong để mót, chị đang ngồi chơi vẩn vơ đùa nghịch với những cây hoa mắc thì ý thơ chợt đến:

Chiều lặng ngồi trên cây xấu hổ
Lá thẹn thò sau đám cỏ rối bời
Hãy ngoảnh mặt lại đây
Có gì đâu mà mắc cở
Chỉ mình ta bầu bạn với ta thôi.

Có gì đâu mà mắc cở? Vậy mà tôi cứ xấu hổ mãi, sau khi đọc xong tập thơ Hoa Phượng - nhất là những bài chị Thanh viết về Di Linh, Đức Trọng, Tùng Nghĩa … Đó là những nơi tôi cũng đã sống qua, một cách rất vô tình, và đã đành đoạn bỏ đi - cũng vô tình không kém!

Chị Thanh thì khác. Từ Bắc vào Nam, không một người thân quyến, chị không đi để “nhận họ nhận hàng” với bất cứ ai. Chị đi qua từng vùng đất xa lạ của quê hương, với tấm lòng phơi phới:

Khi ta đến Di Linh chiều rất trẻ
Tiếng nắng về dát bạc dưới lòng thung…

Chị Thanh của tôi đến với tất cả chân thành và thiết tha, khi chia tay cũng thiết tha và chân thành - không kém:

Tạm biệt nhé Di Linh thôi chào nhé
Ở chưa quen đã vội vã ra về …

Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/ Nam - như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, như con suối nhỏ - len lách, róch rách - xuyên suốt cả ba miền đất nước…

Nhưng (thôi) đó lại là chuyện khác. Mà đêm thì sắp tàn rồi. Tôi “hứa” sẽ trở lại chuyện Bắc/Nam và chị Nguyễn Thị Hoài Thanh, trong những trang sổ tay kế tiếp, cũng trên diễn đàn này, khi có dịp.

© DCVOnline









Ghi chú:
(*) Sách được in lại (và in lậu) tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi một chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản.
(**) Tác phẩm Hoa Phượng của Nguyễn Thị Hoài Thanh, ấn phí và bưu phí 12 U.S.A dollars. Sách có thê đặt mua trực tiếp từ nhà xuất bản qua địa chỉ: [email=uyenthao1@juno.com]uyenthao1@juno.com[/email], hoặc Tủ Sách Tiếng Quê Hương P.O.Box 4653 Falls Church, VA 22044.
(***) Tác phẩm Viết Về Bè Bạn của Bùi Ngọc Tấn, ấn phí và bưu phí 20.00 U.S.A dollars, địa chỉ liên lạc như trên.


[/align]http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=3500
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-27 06:09:23Ngọc Lý>
.

[/align] 

[/align]Đọc thi phẩm HOA PHƯỢNG của Nguyễn Thị Hoài Thanh

[/align]Ngày 12/06/2007 - UYÊN THAO

[/align] 

[/align]


TỪ THƠ TỚI NHỮNG MẢNH ĐỜI ...

Kiếp sau nếu được làm chim
Tình thương dang dở bay tìm nơi nơi
Giương cung
- đừng nhé, người ơi!
Vết thương thuở trước luân hồi còn đau
.


Bốn câu thơ như lời nài xin của Nguyễn Thị Hoài Thanh vẳng mãi trong đầu tôi. Vết thương thuở trước khởi từ phần số của một người sinh ra để chịu đựng những rắc rối và cũng do phân định thành phần lý lịch là em gái tướng không quân kiêm thủ tướng ngụy Nguyễn Cao Kỳ - theo lời kể của Bùi Ngọc Tấn - dù Nguyễn Thị Hoài Thanh chỉ là em gái một phi công miền Nam đã giã từ quân ngũ và là một khoa học gia đang sống ở hải ngoại là Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, tác giả tập tuỳ bút Đời Phi Công.

Bốn câu thơ không gợi nhắc tôi về những rắc rối đã đến với Nguyễn Thị Hoài Thanh mà vụt thổi bùng lên một vùng lửa ngùn ngụt - vùng lửa đã chụp lên giấc ngủ nhọc nhằn của tôi nhiều đêm trong dãy 6 trại tù K3 trên đồi Phượng Vĩ sau buổi nghe câu chuyện từ một người tù thuộc đội Bếp.

Người tù theo quản giáo ra chợ Ngã Ba Đồn đã ghi được nhiều chi tiết về chuyện xảy ra đêm trước tại một căn lều trong khu Kinh Tế Mới phía ngoài trại tù. Căn lều bốc cháy giữa đêm khi mọi người vừa bắt đầu giấc ngủ sau mấy giờ tập trung tại hội trường nghe cán bộ giảng huấn về lập trường đấu tranh cách mạng và chỉ trích những thói hư tật xấu trong nếp sống cũ của người dân miền Nam. Điều bất ngờ chưa từng xẩy ra là một thiếu phụ vụt đứng lên giữa đám đông nói như hét với người cán bộ:

- Tôi khỏi cần nghe ai dạy dỗ. Tôi bị lùa tới cái xó rừng này là đủ quá rồi. Tôi chẳng biết đảng với cách mạng của các ông là những thứ gì. Bây giờ tôi phải về lo cho mấy đứa con tôi.

Và chị đi thẳng ra khỏi hội trường trước sự chết điếng của mọi người cùng sự lúng túng không kịp phản ứng của cán bộ. Không ai biết rõ chuyện gì sau đó, ngoài việc cán bộ thao thao cảnh giác về các mưu đồ phản động đang nhen nhúm trỗi dậy. Giữa khuya, ngọn lửa bùng lên.

Khu Kinh Tế Mới tại đây gồm mấy chục căn lều rải rác cách xa nhau có khi cả trăm thước và cuộc sống với đủ loại huấn lịnh khiến mọi người rất ít giao tiếp. Dù vậy, hết thẩy đều có mặt quanh căn lều đang bốc lửa để cùng đứng chết trân nhìn ngọn lửa hoành hành cho tới khi căn lều chỉ còn lại những tàn tích bốc khói khét mù hực nóng.

Giữa đống tro tàn, người ta tìm được xác thiếu phụ cháy đen tay còn vòng ôm chặt hai đứa con cũng cháy đen như mẹ. Cái xác trong tư thế vòng tay ôm cứng hai đứa con lập tức đưa ra lời giải thích:

Chính thiếu phụ đã nổi lửa hoả thiêu cuộc sống của mình và các con

  vì không thứ gì cản nổi họ chạy thoát, nếu đó chỉ là một đám cháy. Tự nhiên, tôi nghĩ tới cảm giác của người mẹ cố kìm cứng hai đứa con đang điên cuồng vùng vẫy để cùng chịu cực hình khủng khiếp của cái chết hãi hùng. Chẳng bao giờ tôi hình dung nổi cảm giác của họ ra sao, nhưng ý nghĩ về cảnh huống kinh hoàng đó ám ảnh tôi nhiều ngày và luôn làm bùng lên trước mắt tôi một vùng lửa nóng ngập ngụa khói đen, mỗi khi tôi rời khỏi mọi thứ để chuẩn bị đi vào giấc ngủ.

Giữa vùng lửa nóng, hình ảnh người thiếu phụ hiện lên với cặp mắt ngơ ngác gần như thất thần hướng về phía tôi, khi tôi bước tới. Tôi không thể quên cặp mắt đó và dáng hình thon thả đã biến thành gầy dộc như cội cây khô của người thiếu phụ. Chị trạc ba mươi tuổi, tự giới thiệu rất nhanh với tôi bằng những lời thì thào vội vã:

  Tôi ở quận Năm, lên đây hơn hai năm rồi. Mười tám tháng nay, ba mẹ con chưa biết hạt gạo là gì. Tội nghiệp thằng bé mới năm tuổi.

Tôi tiếp tục làm cái việc vô nghĩa là phạt vùng cỏ mắc cỡ với những cọng gai lớn gần ngang cườm tay. Mảnh đất đám tù phải dọn dẹp nằm sát mảnh đất mà thiếu phụ đang cuốc với hai đứa con lúi húi phía sau. Thằng bé mới năm tuổi - như lời giới thiệu - đang cùng chị nó không lớn hơn bao nhiêu ôm những đống cỏ mà thiếu phụ cào gom lại, mang vào một góc bờ. Tôi không thể hiểu thiếu phụ cùng hai đứa con khẳng khiu như cây sậy kia sẽ khai thác mảnh đất ra sao để có ngày được thấy lại hạt gạo. Tôi không kịp nói với thiếu phụ lời nào vì cán bộ võ trang đã phát hiện khoảng cách quá gần giữa chúng tôi và ôm súng đi tới.

Cuộc gặp chớp nhoáng đó diễn ra chỉ ba tuần lễ trước, vào một ngày mùa Đông năm 79 hay 80 tôi không nhớ rõ. Với tôi, ngày tháng và mọi thứ đều đã trở nên vô nghĩa. Nhưng câu chuyện về người thiếu phụ cứ liên tục khuấy động tâm não với hàng loạt câu hỏi và một câu hỏi đã dai dẳng đeo theo tôi:

  Do đâu mà người mẹ lại tìm cho chính những đứa con của mình, cái kết thúc kinh hoàng đó? Một buổi được rời xa cây cuốc để ngồi quây bên nhau, tôi nêu câu hỏi với một bạn tù từng là cựu thủ lãnh luật sư đoàn Huế, luật sư Vũ Đăng Dung.

Cụ Dung nhìn tôi hồi lâu rồi lắc đầu, thở dài. Câu trả lời bằng im lặng của vị luật sư già lập tức khua bật những âm thanh từng một thời luôn khơi dậy nỗi xúc động mơ hồ và gợi vang trong tâm tưởng tôi những lời ca đã chìm khuất:

Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình....  dạt dào.....................
Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền.... ngọt ngào ..............................

......................
 
Thương con....... khuya sớm bao tháng ngày
Lặn lội gieo neo......
nuôi con tới ngày lớn khôn......
...........................................................

Rất nhanh, tôi nhớ lại buổi cùng Thế Phong và Y Vân ngồi trong một quán cà phê vắng ngắt tại khu Tân Định và lần đầu nghe bài ca qua giọng hát Thái Thanh bất chợt cất lên từ một máy thu thanh nhỏ. Không chỉ Y Vân mà Thế Phong cũng im lìm nhìn theo những vòng khói thuốc. Lúc đó, ý nghĩ hiện lên trong đầu tôi là không phải Y Vân mà chính tình mẹ mà Y Vân nhận được đã viết lên những lời ca và tiếng nhạc đang ru vỗ chúng tôi.

Khi nhớ lại chuyện xưa, tôi không biết chắc người bạn tù già muốn nói gì nhưng cứ nghĩ cụ Dung cũng như Y Vân mấy chục năm trước đang nhớ về tình thương của mẹ và đang quay cuồng như chính tôi với một câu hỏi tương tự:

  Do đâu ...?

Từ đó, hình ảnh người mẹ vòng tay cố ôm cứng hai đứa con đang kinh hoàng dẫy dụa để chúng cùng chết thiêu với mình giữa vùng lửa đỏ luôn bừng dậy khi tôi chợt nghe nhắc tới cảnh đời của một phụ nữ nào đó. Lúc này là sự nhắc nhở từ cảnh đời và những bài thơ của một người tôi chưa hề gặp nhưng biết tên là Nguyễn Thị Hoài Thanh.

Năm 1954 Nguyễn Thị Hoài Thanh vừa mười tám tuổi, đã chọn sống tại quê hương Hải Phòng khi nhiều bạn bè cùng trường, cùng lớp di chuyển vào Nam.

Bên cạnh Nguyễn Thị Hoài Thanh, đã có hàng triệu Nguyễn Thị Hoài Thanh khác cùng chung chọn lựa và hết thẩy hẳn đều không thiếu những mộng mơ của tuổi khởi bước vào đời. Nhưng không một màu sắc mộng mơ nào của tuổi thanh xuân con gái hiện hình trong thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh.

Mở đầu tập thơ là những lời với mẹ:

Con đã đi cuối trời cơn ấm lạnh
Con đã đi cay đắng những mùa đau
Nắng cũ chiều hay ngày mới mưa mau
Vẫn chẳng thấy đâu một mái nhà cho con nghỉ lại.

Sinh Nhật

Rồi lại những lời với mẹ, những lời rơi vào hư vô và chỉ khơi dậy một vùng trời cô quạnh:

Con phục bên mộ chí
Gọi ngàn lần mẹ ơi
Chuyện trò chỉ một phía
Lời đáp tận chân trời.

(Mùa đông nhớ mẹ)

Màu sắc mộng mơ hết sức hiếm hoi trong thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh cũng xa biệt mịt mù với màu sắc mộng mơ của tuổi thanh xuân:

Dù mai sau tôi sẽ chẳng còn
Thì hoa phượng khắp nẻo đường
vẫn cháy lên mong ngóng
Thành phố hôm nay cất mình gió lộng
Tôi xin làm gió
đời đời ôm thành phố hát ca.

(Tôi ở Hải Phòng)

Suy nghĩ về tâm tư con gái từ cái khoảng cách giữa tuổi thanh xuân tới nỗi ước mong chỉ được làm gió để đời đời ôm ấp thành phố quê hương mình đã mở ra trước mắt tôi những trang viết của Bảo Ninh trong tác phẩm Nỗi Buồn Chiến Tranh về một loạt cảnh sống quê hương:

“Bấy giờ, nạn đào ngũ lan rộng khắp trung đoàn chẳng khác những cơn ói mửa làm ruỗng nhiều trung đội, không thể chắn giữ, ngăn bắt nổi, nhưng riêng trường hợp Can, trên vẫn truy lùng ráo riết... Sau nhiều ngày lội rừng sục sạo, vệ binh trung đoàn đã tìm thấy kẻ đào tẩu. Chẳng ở đâu xa, họ tìm thấy Can ở hẻm Tò Vò, cách cụm lán của trung đội trinh sát không đầy hai giờ băng rừng... Cuối tháng Chín, lính tráng nhận được thư nhà, đợt thư duy nhất suốt mùa mưa. Riêng đội trinh sát chỉ được độc một lá. Lại là gửi cho Can. Thư của bà mẹ:

"... cả xóm Gò hôm nay chung vui cùng mẹ may mắn bắt được thư con, mẹ liền biên ngay thư này mong các bác quân bưu thương tình chuyển chóng tới con để con hay rằng lẽ ra thì mẹ chết rồi mà nay còn sống là nhờ nhận được thư con đấy, con ơi

- Bà mẹ viết - Con ơi, từ ngày giấy của đơn vị anh con báo tử về rồi xã làm truy điệu rồi giao bằng Tổ Quốc, con ơi, mẹ ngày đêm sản xuất tăng gia cày cấy, ngày đêm cầu trời khấn phật, cầu ông bà tổ tiên, cầu thầy, anh con phù hộ độ trì cho con ở nơi binh lửa được cùng anh em tất cả bình an...". Kiên đọc đi đọc lại. Tờ thư run lật phật, nhòa trong mắt anh. Can chết rồi còn đâu. Bữa đó vệ binh chỉ lượm được cái xác. “Cái xác lở loét, ốm o như xác nhái bị dòng lũ xô tấp lên một bãi lau lầy lụa. Mặt của xác chết quạ rỉa, miệng nhét đầy bùn và lá mục, nom cực kỳ tởm. Và thối quá thể là thối, cái thằng bê quay (đảo ngũ) chết tiệt ấy - người lính vệ binh đã chôn Can kể lại với đám trinh sát.”

Lá thư chỉ được nhắc như một tin vui lỡ bước của người con xấu số. Không một dòng, một chữ nào viết về tâm tư người phụ nữ đã mất chồng, mất con và bây giờ mất nốt đứa con cuối cùng còn lại. Gánh nặng kinh hoàng này của người vợ - người mẹ phải chăng sẽ tiêu tan chỉ nhờ lời giải thích sinh ra để chịu đựng những rắc rối hay chỉ bằng việc nhận một mảnh giấy vô hồn với ba chữ Bằng Tổ Quốc? Tôi không tìm lời giải đáp, cũng không kìm mình bước tiếp tới một hoạt cảnh khác từ những trang Nỗi Buồn Chiến Tranh kể một chuyện xảy ra bên sông Sa Thầy tại Tây Nguyên cuối năm 1975 với tổ tìm hài cốt. Một buổi chiều, một người bỗng nghe dội lên tiếng cười ma quái từ phía đồi 300. Lạnh hết người, nhưng anh ta vẫn lần về hướng phát ra tiếng cười và kể lại:

  “Mẹ kiếp, tôi thấy... một túp lều... Tôi ngửi thấy mùi khét và mùi sắn nướng. Nghĩa là người. Nhưng... Các cậu hiểu không, trước cửa lều trong ánh nhá nhem tôi thấy một hình thù lồm xồm lông lá, đúng hơn là râu tóc quá dài, trần truồng ngồi trên một thân cây đổ nhìn thẳng về chỗ bụi cây tôi đang núp. Và tôi thấy, một quả lựu đạn... ở trong tay hắn. Tôi bò lui. Hình như có làm động cành cây nên con ma để ý hơn, nó đứng lên, chăm chú nhìn, và đi tới. Tôi bật lên vùng chạy. Lập tức tiếng cười kinh dị khi nãy lại cất lên đuổi theo tôi”.

Câu chuyện khơi lên những thắc mắc, những hồi tưởng... rồi Kiên - lúc này thuộc tổ tìm hài cốt - cùng cả tổ đi tìm sự thực về tiếng cười ma quái trong túp lều hoang. Khi Kiên và những người trong tổ tiến tới gần túp lều thì tiếng cười bốc lên dữ dằn như lời cảnh cáo. Rồi, hình ảnh mà cả nhóm ghi nhận được: “Ở nơi bãi gianh tiếp giáp rừng le, hiện thoáng lên chỉ trong tích tắc một bóng ma rách bươm, uyển chuyển và huyền bí, lướt ngang luồng ánh sáng rồi mất hút với mái tóc đen dài xõa bay. Một bóng ma nữa rạp cúi xuống chạy nên chỉ lộ cho mọi người vụt thấy một cái sống lưng đen cháy như lưng vượn.”... Mọi người luồn vào túp lều, thấy chỗ nằm trải những giát lồ ô có phủ một lượt cỏ làm đệm. Ba tảng đá kê lên thành một chiếc bếp ở góc lều....“Và, Kiên nhặt được một cái lược bằng nhôm máy bay, kẽ lược giắt những sợi tóc rất dài và mềm.

  Nghĩa là không phải ma. Không phải xà niên.

  Nhưng là ai? Một người thì thào. Là ngụy hay là lính mình đào ngũ sống ẩn trong rừng?

... Cả tổ cố công tìm kiếm. Nhưng cặp uyên ương mất trí ấy đã được rừng che chắn trong vòng huyền hoặc. Một lần một người trong tổ nói đã nom thấy chính người đàn bà nọ ở bờ sông dưới bóng chiều chạng vạng, đang tắm. Khi anh ta tiến gần lại thì người ấy bật lên cười, vẫn chuỗi cười rất rợn ấy và lập tức biến mất, không biết biến vào lùm cây ven bờ nước hay biến vào trong sóng”.

Tác giả Bảo Ninh dùng từ mất trí như lời giải thích về chọn lựa của những người phát ra tiếng cười ghê rợn điên cuồng và chập chờn ẩn hiện như bóng ma. Những người đó có thể là người lính miền Nam - mà người miền Bắc vẫn gọi là Ngụy - nhưng có nhiều lý do chứng tỏ họ chính là đồng chí một thời của những người đang có mặt trong tổ tìm hài cốt, cụ thể hơn chính là đồng chí của tác giả Bảo Ninh.

Có đúng họ mất trí hay chỉ vì họ không còn chịu đựng nổi cảnh sống mà con người đã biến thành một loại máy móc chỉ vận hành theo bàn tay bấm nút, nhất là đã cạn kiệt nhân tính như chính Bảo Ninh tả về nhân vật của mình:

“Lay động màn sương khói của ký ức, Kiên đột nhiên thấy lại rõ ràng cái cảnh mình và Tạo "voi" quỳ bên khẩu Mã Lai bắn xả vào dòng thác tàn binh của trung đoàn 45 đang tháo chạy khỏi vùng đất trống Phước An rìa ngoài Buôn Ma Thuộc. Khẩu đại liên hóa điên, điên rồ ngốn vào bụng những băng đạn đồng sáng loáng, khạc lửa tơi bời vào khối người mất trí đang đổ xô tới như hàng ngàn cái bia thịt, rú lên rũ rượi: gòa, gòa...? Dòng lính áo xám bị xe tăng rượt dồn tới, dồn tới để chết chồng chất vì tay Kiên. Không phải là bắn nữa mà là tàn sát... Nhân tính! Một trò lạ đấy nhỉ”.

.................

Anh nhớ lại vào buổi sáng trung đoàn đánh vào Ty Cảnh Sát Buôn Ma Thuộc.

Nhân tính! Mẹ kiếp?

Bọn cảnh sát văn phòng chống cự hăng không kém bọn lính chiến. Bắn nhau gần tiếng đồng hồ quân ta mới thọc được vào tòa nhà chính.

"Cứ áo trắng mà giết ...”

Nháy cò mỏi tay mà áo trắng vẫn túa ra từ các phòng như cò loạn tổ.

Kiên và Oanh trị xong được ổ trung liên trấn đầu cầu thang tầng ba, cùng nhau vọt lên. Dọc hành lang, cứ mỗi phòng tống cho một quả u-ét. Bọn cảnh sát dùng súng lục đáp lại tiểu liên và lựu đạn chứ không chịu hàng. Kiên nhớ đấy là căn phòng cuối cùng hành lang dài suốt dọc tầng ba... Ba cái bóng bận quân phục màu trắng lao ra như ba làn chớp liều mạng bổ tới cầu thang lên gác tư. ... Họng AK của Kiên vẫn kịp quất một loạt ngắn. Pầm pầm, pầm... Ba người đàn bà vận váy áo cảnh sát khuỵu xuống hành lang trải thảm xanh. Những búng máu màu mận chín vọt lên như vòi phun. Nhưng chỉ hai người dính đạn chết tươi, người thứ ba ngã ngồi vào chân tường... Không khí sặc mùi khói đạn và mùi máu mà vẫn không át hơi nước hoa. Mái tóc uốn của cô gái xõa xuống mặt nhưng cô vẫn đưa tay lên che mắt... Cô gái trẻ từ từ đứng dậy... Kiên bắn. Điều kinh khủng là anh đã tiến tới gần rồi mới bắn. Mặt đối mặt... Khi bị cả nửa băng đạn xô vật ra, cô ta vẫn còn thúc cùi tay xuống sàn và ngóc đầu lên, như toan ngồi dậy, Kiên bắn bồi luôn, không phải một phát mà là trọn nửa băng nữa. Những đầu đạn cỡ 7,6 ly quật đôm đốp vào nền đá hoa dưới lưng tấm thân vận bộ đồ trắng đã đỏ lòm ... Nhân tính! Tình người...?” Tôi chợt nhớ cảnh diễn ra chớp nhoáng trong một trận đánh tại vùng Quảng Ngãi. Giữa âm thanh điên loạn của đủ loại súng đang thi nhau nổ với mùi khói khét mù và không khí chết chóc nghẹt thở, một người lính bỗng vùng dậy. Anh ta không còn biết đến những lằn đạn đang nhằng nhịt đan chéo xung quanh, vươn thẳng người chạy băng băng về phía sau. Tay phải anh ta giơ lên cao nhưng không cầm cây súng mà cầm một cánh tay đang tuôn máu - cánh tay trái của anh ta vừa bị bắn đứt lìa.

Tiếng hét hãi hùng của anh ta trước khi ngã xuống chỉ vỏn vẹn:

  Tay tôi ... Thiếu Tá ơi!

Cơn điên loạn của người lính Biệt Động Quân và âm vang tiếng kêu cuối cùng của anh ta sống lại khi tôi đối diện với cơn điên loạn hiện lên từ các trang viết của Bảo Ninh. Nếu cơn mê loạn vì bàng hoàng do một cánh tay bị bứt rời thân thể khơi gợi nỗi bùi ngùi thì cơn mê loạn tàn sát cả một đám người đang bị những chiếc xe tăng hung hãn vây hãm, nhất là cơn mê loạn đến mức thản nhiên xả cả băng đạn vào thân hình cô gái trẻ với mái tóc uốn còn nồng mùi nước hoa đang đứng cách mình chỉ mấy bước khó dập tắt nổi cảm giác ghê tởm. Có thể cho là mất trí chăng với người lìa bỏ cảnh sống thúc đẩy những cơn mê loạn man rợ này, dù chọn lựa chỉ đưa họ vào rừng sâu để sống cùng hoang thú? Ít nhất, với cảnh sống đó, chắc chắn họ không phải thốt lên những lời như lời tự nguyền rủa của nhân vật Kiên:

- Nhân tính! Mẹ kiếp?

Nhưng, cơn mê loạn điên cuồng đã mở rộng trên mọi nẻo đường đất nước, đã thấm tới cỏ cây, chim chóc và những người phải chấp nhận chọn lựa cuối cùng bi thảm ấy vẫn không thể bình an. Kiên nhớ về việc xẩy ra trong năm trước, mùa mưa 1974:

“... Ở gần ngay chỗ chiếc Zil đêm nay đang đỗ, trước có dấu tích của con đường mòn dẫn vào làng Hủi. Hồi trung đoàn 3 về đây làng đã hoang tàn, tuyệt không một bóng người còn sống. Bệnh tật khủng khiếp và đói khổ triền miên đã tận diệt cuộc sống nơi đây.... Một hôm, Thịnh "con" ở tiểu đoàn Một liều mò tới đấy và giữa tro tàn của ngôi làng, cậu ta đã bắn chết một con vượn rất to, phải bốn người kéo ra mới khiêng nổi con thú về lán của đội trinh sát. Nhưng, lạy Chúa tôi, đến khi ngả nó ra, cạo sạch bộ lông thì giời đất ôi, con vật hiện nguyên hình một mụ đàn bà... da sùi lở nửa xám nửa trắng hếu, cặp mắt trợn ngược. Cả lũ bọn Kiên thất kinh, rú lên, ù té quẳng tiệt nồi niêu dao thớt”.

Không chỉ riêng Nỗi Buồn Chiến Tranh dựng lại cảnh sống này. Đây là cảnh sống đã hiện hình từ những trang hồi ký Đường Đi Không Đến của Xuân Vũ, những trang tiểu thuyết Vô Đe^` của Dương Thu Hương... Nhưng ở Nỗi Buồn Chiến Tranh, luôn nổi lên bóng dáng người phụ nữ, những người chân yếu tay mềm, những người uỷ mị với tấm lòng rộng mở mà tới giờ này khắp nơi trên thế giới vẫn dành cho vị thế nuông chiều để tô điểm cho cuộc sống và xoa dịu những bão táp bi thương. Bởi không ai có thể nói khác rằng người phụ nữ có mặt để làm vợ, làm mẹ là những thiên chức luôn biểu hiện một tình thương dịu ngọt, hiền hòa, đằm thắm, bao la...

Do đâu họ bị tước đoạt các thiên chức đó? Do đâu họ phải giã từ cuộc đời giữa tuổi thanh xuân bởi những viên đạn tàn nhẫn? Do đâu họ biến thành bóng ma ẩn hiện giữa rừng sâu với thân hình phủ đầy lông lá của loài vượn? Lời giải đáp đến với tôi từ những dòng Nhật Ký của người con gái mang tên Đặng Thuỳ Trâm:

“Ai lại không tha thiết với mùa xuân, ai lại không muốn cái sáng ngời trong đôi mắt và trên đôi môi căng mọng khi cuộc đời còn ở tuổi hai mươi. Nhưng ... tuổi hai mươi của thời đại này phải dẹp lại những ước mơ hạnh phúc... Ước mơ bây giờ là đánh thắng giặc Mỹ....... Vì sao ư? Vì còn giặc Mỹ thì còn đau thương tang tóc, vì còn giặc Mỹ thì không có hạnh phúc nào...... Một câu triết lý bất di bất dịch của mỗi người dân Việt Nam là “Không có con đường nào hơn phải đánh cho không còn một tên đế quốc Mỹ nào .... Thằng chó Nich-xơn đã liều lĩnh điên cuồng mở rộng thêm cuộc chiến... Nhưng tao đã thề cùng các đồng chí của tao rồi, dù có chết cũng quyết đánh cho đến cùng... Ôi! Căm thù đến bầm gan tím ruột......... Bỗng nhớ đến câu thơ của Tố Hữu:

Có nơi đâu trên trái đất này
Như miền Nam đắng cay chung thuỷ
Như miền Nam gan góc dạn dày


Nhà thơ của chúng ta đã nói đúng vô cùng. Vì có nơi đâu như mảnh đất này không? Có nơi đâu mà mỗi người dân đều là một dũng sĩ diệt Mỹ, mảnh đất thấm máu kẻ thù .......

Đại hội huyện đoàn thanh niên sống giữa niềm vui của lớp thanh niên lớn lên trong chiến đấu. Được găp và nghe các em thiếu nhi báo cáo điển hình.

  Hoàng 14 tuổi trong sáu tháng đầu năm giết được 6 lính Mỹ, đánh lật 2 xe tăng bằng vũ khí tự tạo, lấy được 7 súng giặc trong đó có 2 cối cá nhân và các loại khác.

  Em An Phổ Châu lấy 5 súng, có 2 cối cá nhân, một đài RC.

Các em đã anh hùng từ trứng nước. ..........
.........................

Nhật ký bao giờ cũng là những lời chân thật vì là lời nói với chính mình. Nhưng những lời tự nhủ trong quyết tâm cao cả của người con gái đang mang cái sứ mạng vẫn được ví như mẹ hiền - lương y như từ mẫu - bỗng khơi dậy một cảm giác ngột ngạt.

Tôi không nghi ngờ ý hướng mong ước tốt lành của Đặng Thuỳ Trâm nhưng không khỏi xót xa về niềm vui sướng tự hào bừng lên từ cảnh những đứa trẻ chưa tới tuổi thành niên đã cuồng nhiệt nhúng tay vào máu. Từ ký ức tôi hiện lên khuôn mặt u uất của Phạm Duy một ngày thuở nào cùng giọng nói chán chường mệt mỏi khi anh hỏi tôi:

  Đất nước mình rồi sẽ ra sao khi đám trẻ chỉ được dạy cho một nghề duy nhất là sát nhân?

Thực ra, người con gái ấy vẫn căm thù hành vi nhúng tay vào máu, vẫn gọi đó là tội ác không thể dung tha. Nhưng người con gái ấy cũng như hết thẩy bạn đồng trang lứa không thể vượt khỏi tác động của không khí sinh hoạt bao trùm tâm não họ từ tuổi ấu thơ mà một bạn cùng trường, cùng lớp với Đặng Thuỳ Trâm là Vương Trí Nhàn đã ghi lại trong những trang mở đầu tập Nhật Ky’:

“Bao trùm xã hội là một không khí thiêng liêng, thành kính. Ngay đối với người dân thường, mọi chuyện làm ăn sinh sống chỉ là sự chuẩn bị cho ngày mai có mặt ở chiến trường... Trong tâm trí đám học trò chúng tôi lúc nào cũng thấm đẫm tinh thần lãng mạn của Ruồi Trâu, của Pavel Korsaghin trong Thép Đã Tôi Thế Đấy... Chúng tôi dắt xe đạp đi quanh Hồ Gươm trong tiếng nhạc dập dìu của mấy bài Hà Nội Huế Sài Gòn, Tiếng Hát Giữa Rừng Pắc Bó... và có thể nói không sợ ngoa là từ đấy nhiều người đi thẳng ra chiến trường... Một niềm tin tưởng chỉ có ở tôn giáo - thứ niềm tin mang đầy cảm giác thánh thiện - chi phối hành động mọi người. Lao vào chiến tranh lúc ấy không phải chỉ là nghĩa vụ mà còn là niềm ao ước, là vinh dự...”Thứ niềm tin mang đầy cảm giác thánh thiện này đã đẩy tất cả vào vũng lầy khát máu - mà họ hận thù tới bầm tím ruột gan như lời của Đặng Thuỳ Trâm - và say sưa những vầng hào quang anh hùng, dũng sĩ tạo nên bằng chém giết điên cuồng trong khi vẫn nguyền rủa sự tàn ác, phi nhân.

Cái từ mất trí mà Bảo Ninh gán cho những kẻ chối bỏ niềm tin này để sống với cỏ cây hoang thú giữa rừng sâu có lẽ chỉ chính xác khi giữ lại cho những kẻ tận trung với nó. Vì chính nhân vật của Bảo Ninh sau những ngày cuồng nhiệt hiến dâng đã phải thốt lên:

“- Hừ, hòa-bình! Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình... Nền hòa bình này... Hừ, tôi thấy hình như các mặt nạ người ta đeo trong những năm trước rơi hết. Mặt thật bầy ra gớm chết. Bao nhiêu xương máu đã đổ ra...”

Câu trả lời về hàng loạt thân phận oan khiên được gợi nhắc không đòi hỏi sự phân định rạch ròi vị thế của những danh từ, không cần truy nguyên nguồn cỗi gian trá trong cảm giác thánh thiện, cũng không cần chỉ vạch những bộ mặt thật ẩn sau những tấm mặt nạ... Những thứ đó, dù nhuốm màu sắc nào, mang hình vóc nào đều phản ảnh cơn mê loạn dẫn đến nghiệp chướng trầm luân của nhiều thế hệ con dân Việt Nam. Tuy vậy, không thể loại trừ sự góp phần của chính các nạn nhân đang mê loạn luôn nhiệt tình hào hứng đầy kiêu hãnh được xả thân dâng hiến cho quê hương trong khi chỉ đưa quê hương và chính bản thân vào cảnh sống chìm ngập giữa biển máu đau thương.

Câu trả lời có thể bao quát hết thẩy là gần tròn thế kỷ qua, nhiều thế hệ tiếp nối trên mảnh đất Việt Nam đã mù loà tự dấn thân vào những nẻo đường do ma đưa quỉ dắt. Ý nghĩ này khiến tôi tìm lại được cảm giác nhẹ nhàng khi đọc những câu thơ đượm nồng tình mẹ của Nguyễn Thị Hoài Thanh:

Đêm Thu nằm mơ thấy gió
Thổi vù làm cánh quạt quay
Tỉnh dậy gió còn phảng phất
Quạt nan mẹ phẩy trên tay.

(Cái quạt)


Nguyễn Thị Hoài Thanh có mặt giữa thời mê loạn, nhưng không bị cuốn theo sức hút của cơn mê, dù bản thân vẫn khó tránh những tai họa đưa mình vào cảnh sống đoạ đầy. Thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh luôn êm ả như dòng suối len lách giữa rừng cây, luôn dịu mát như những làn gió nhẹ trên đồng cỏ xanh hiền hoà vào một chiều thu nắng dịu:

Những ngày gió những ngày mưa
Tới ngày người đến
tay vừa trắng tay
Giờ thì ước được như mây
Núi cao biển rộng tháng ngày thung thăng
Giờ thì ước được như trăng
Bao nhiêu tuổi vẫn ngang bằng ngọn tre.
(Viết ở đầu hè)


Tình người tỏa ra từ những câu thơ đơn sơ đã xác định sự bất lực của những mưu tính điên cuồng đi ngược hướng diễn hoá tự nhiên của sự sống. Nhưng giữa những tháng ngày mà thơ chỉ là tiếng thét gào cổ võ hành động sát nhân, không phải dễ dàng có thể đắm mình trong cảnh sắc thiên nhiên để ngợi ca một ánh nắng, một giọt sương hay một tiếng ve như thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh:

Bữa nay thu sớm lạc vào hè
Nắng đã nhạt vừa gió chớm se
Chiều thấp lênh đênh sương lẫn khói
Vòm cây đã ẩm giọng ngân ve.
(Thu sớm)

Trong hình dung về cảnh vật lộn để tồn tại của tình người qua những dòng thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh vụt hiện một cái tên phụ nữ là Trần Thị Hằng.

Vùng lửa nóng vẫn ám ảnh tôi bây giờ biến thành vùng trời giá buốt thấu xương của mùa đông đất Bắc. Và, trước mắt tôi là một túp lều xiêu vẹo đang lập cập run rẩy giữa cơn gió bấc lạnh lùng. Túp lều không có ánh điện, không có ánh lửa đèn dầu hay hơi ấm than củi. Nhưng người phụ nữ mang tên Trần Thị Hằng vẫn cặm cụi thức giữa đêm đen bên đống đất nhão để nhào nặn thành những viên gạch. Những viên gạch mộc - vì không thể có tiền mua than đốt lò nung - được nặn từng đêm là nguồn lợi duy trì sự sống của ba người, Trần Thị Hằng cùng bà mẹ già và đứa con nhỏ.

Cảnh sống của Trần Thị Hằng đã trở thành một cảnh trong phim Chuyện Tử Tế từng được nhắc nhở giữa thập niên 80. Cuốn phim kể về một phụ nữ cùi, bị xã hội ruồng bỏ... nhưng sức mạnh của tình mẹ đã giúp chị vẫn đêm đêm vo đất bằng hai bàn tay co quắp không còn đủ mười ngón nặn thành những viên gạch để xây nổi cho đứa con một căn nhà. Người làm phim đã trút trách nhiệm gây nên cảnh sống bi đát của Trần Thị Hằng cho chứng bệnh cùi và thành kiến xã hội, trong khi phải nói chính cái xã hội mà Trần Thị Hằng đang sống đã nhiễm chứng bệnh cùi tâm não đến mức cạn kiệt tình người.

Bởi Trần Thị Hằng chưa bao giờ mắc bệnh cùi mà còn từng một thời góp mặt giữa những tấm gương thánh thiện hiến dâng. Cùng lứa tuổi với Đặng Thuỳ Trâm, cùng tốt nghiệp Đại Học như Đặng Thuỳ Trâm và cũng như Đặng Thuỳ Trâm, Trần Thị Hằng đã theo tiếng gọi cứu nước lên đường vào Nam chiến đấu giải phóng đồng bào đang bị đế quốc Mỹ khát máu tàn sát cùng đợt với Đặng Thuỳ Trâm, năm 1967. Trần Thị Hằng chỉ khác Đặng Thuỳ Trâm là đã đạp trúng mìn giữa đường đi, may mắn thoát chết nhưng phải dở cuộc hành trình. Quay lại miền Bắc, sau khi lành vết thương, Trần Thị Hằng lập gia đình và trở về với vai trò người phụ nữ bình thường trong cuộc sống.

Năm 1972, Trần Thị Hằng mất đứa con đầu mới tròn hai tuồi trong một cuộc oanh tạc của không quân Mỹ. Sau khi chị sinh đứa con thứ hai vào năm 1975 thì gia đình tan vỡ vì người chồng bỏ đi lúc Trần Thị Hằng mang bầu đứa con thứ ba. Gần đến ngày sinh, Trần Thị Hằng bị lên cơn sản phong, quằn quại đau đớn phải vào bệnh viện và chỉ có chị được cứu sống còn đứa con chưa chào đời đã chết.

Trần Thị Hằng trở về cõi sống để không biết sống ở đâu. Đất Bắc Ninh quê chồng không dung chứa mà đất Thái Bình quê mẹ cũng không nhận lại. Ở cả hai nơi đó, chị đều không được ghi tên vào hộ khẩu. Dù thuộc lớp tàn phế do thương tích trúng mìn trên đường vào Nam và là con liệt sĩ do cha chết trận, Trần Thị Hằng vẫn lâm cảnh bơ vơ. Chính quyền ở cả hai vùng quê của Trần Thị Hằng bảo chị mắc chứng sản phong tức bệnh phong cùi nên phải vào trại cùi.

Không trại cùi nào chịu nhận Trần Thị Hằng vì không nơi nào tìm ra triệu chứng bị cùi. Trần Thị Hằng liều về dựng túp lều trên bờ cái ao hoang của gia đình tại Thái Bình. Cái ao này lại được thông báo đã thuộc về xã vì người đứng tên chủ ao là cha của Trần Thị Hằng đã chết. Cùng đường, năm 1978, Trần Thị Hằng lao đầu xuống bãi sông Thái Hạc để giã từ cuộc sống. Một ông già sống với nghề chài lưới bên sông đã ngăn cản cái chết bằng cách lao xuống kéo chị lên bờ. Lần thứ ba Trần Thị Hằng được đưa trở về cõi sống, sau hai lần thoát chết vì mìn và vì căn bệnh sản phong.

Lúc này Trần Thị Hằng trở thành một người cùi trước mắt mọi người. Không riêng chị mà ngay cả đứa con mới ngoài 3 tuổi luôn bị chửi bới, đánh đuổi, ném gạch đá bất kỳ lúc nào và ở đâu, bởi lý do...“phải tiêu diệt lũ hủi”. Tuy vậy, sau mấy lần chết hụt, Trần Thị Hằng đã dồn hết tâm lực cho cuộc sống của con. Vì thế, trong túp lều bên bờ cái ao hoang mà chị được thuận cho ở với lời hứa phải trả đủ khoản tiền mua lại cho xã - lời hứa này chị chỉ hoàn tất nổi sau 11 năm dài - đã diễn ra cảnh hằng đêm chị cặm cụi ngồi nặn từng viên gạch mộc để góp lại đem bán cho các lò nung.

Việc nặn gạch trong cảnh sống tối tăm, túng thiếu từ cơm ăn áo mặc... không bao lâu khiến những ngón tay Trần Thị Hằng nhiễm độc. Bắt đầu là ngón cái tay trái sưng tấy.

Không bệnh viện nào nhận người không cóù hộ khẩu, trong khi mỗi ngày dù tận lực làm mọi việc cộng thêm nặn gạch cũng chỉ kiếm nổi một bơ gạo để nấu cháo cầm hơi cho mẹ già và con thơ nên không thể có tiền mua thuốc. Ngón tay tiếp tục sưng và bắt đầu nhức nhối. Mức nhức nhối tăng tới độ không chịu nổi và Trần Thị Hằng đã nghĩ ra cách điều trị kinh hoàng là chặt bỏ đốt tay.

Chị đi kiếm lá nhọ nồi giã nhỏ hoà với nước vôi rồi nung đỏ con dao, kê ngón tay lên viên gạch, nghiến răng chặt mạnh. Đốt tay đứt rời với cái đau khủng khiếp.

Trần Thị Hằng chỉ kịp trút nắm lá nhọ nồi hoà nước vôi đắp lên ngón tay đang phun máu rồi ngất xỉu. May mắn là mức đau kinh hãi đó chỉ trong khoảnh khắc và ít ngày sau, ngón tay bắt đầu lành giúp chị thoát khỏi sự hành hạ của cơn nhức nhối kéo dài. Nhưng tình trạng nhiễm độc không dừng lại mà theo ngày tháng các ngón tay cứ nối nhau sưng tấy. Với kinh nghiệm đã có, Trần Thị Hằng tiếp tục nhờ lưỡi dao nung đỏ và nắm lá nhọ nồi hòa nước vôi để tự điều trị.

Hai bàn tay với những ngón thon dài của cô sinh viên Đại Học Kế Toán Tài Chính thuở nào cuối cùng chỉ còn là hai bàn tay với những ngón tay bị chặt cụt. Người làm phim Chuyện Tử Tế không hề nhắc đến cơn đau tới chết lịm mỗi khi lưỡi dao nung đỏ vụt chém xuống và lý do khiến người thiếu phụ phải nghiến răng tự chặt những đốt tay của mình. Người làm phim cũng không hề nhắc đến mức mù lòa của cả một xã hội ở cuối thế kỷ 20 vẫn tự nhốt mình giữa vòng vây hãm của thảm hoạ trí não u mê thuở tận trung tuân hành thánh chỉ nhìn bất cứ ai theo đạo Thiên Chúa cũng là quỉ ma phải tận diệt. Thay vào đó, người làm phim còn theo chính cái nhìn tối tăm của xã hội khẳng định nhân vật được giới thiệu là một người cùi.

Trong thực tế, oan nghiệt mà Trần Thị Hằng gánh nhận không chỉ có ở khoảng ngày tháng cực hình đó mà kéo dài dưới nhiều hình thức ghê rợn khác cho tới cuối thập niên 90, lúc mái tóc chị bắt đầu điểm bạc và cũng là lúc đứa con nhỏ đã trưởng thành để bước vào đời. Nhưng chỉ qua riêng đoạn đường thời gian đo bằng các đốt tay nối nhau bị chặt cụt bởi chính mình của người thiếu phụ, mức đoạ đày và sức chịu đựng để tồn tại của tình mẹ, tình người trên mảnh đất Việt Nam đã vươn khỏi mọi mức tưởng tượng. Đoạn đường thời gian này của Trần Thị Hằng cũng là đoạn đường thời gian của người thiếu phụ phải nghiến răng kìm cứng hai đứa con giữa vùng lửa đỏ dưới chân núi Chứa Chan. Tôi không thể so sánh mức đau đớn kinh hoàng của hai người mẹ cố đưa những đứa con thân yêu của họ thoát khỏi cảnh sống đáng sợ hơn cả cõi chết mà chỉ nghĩ tới cột mốc thời gian cuối thập kỷ 70 và nhớ lại những dòng nhật ký của Đặng Thuỳ Trâm: “Bọn Mỹ như những con quỷ khát máu... Bao giờ đuổi được hết chúng ra khỏi đất nước Việt Nam lúc đó máu mới ngừng chảy... Bỗng nhiên mình nhớ đến những cuốn phim và những bài hát trên cánh đồng Xã Hội Chủ Nghĩa ...”

Tôi tự hỏi:

Đặng Thuỳ Trâm nghĩ sao về dòng máu vẫn tuôn xối xả từ các ngón tay của Trần Thị Hằng và vùng lửa đỏ bốc lên hoả thiêu cuộc sống của những trẻ thơ vô tội, của người thiếu phụ không mong gì hơn được chăm sóc các con, khi họ đang sống giữa cánh đồng Xã Hội Chủ Nghĩa trên đất nước Việt Nam đã hoàn toàn vắng bóng bầy quỷ dữ khát máu đúng như ước nguyện của Đặng Thuỳ Trâm? Đặng Thuỳ Trâm có còn tự hào về hành vi cuối cùng của mình như đã được người em gái là Đặng Kim Trâm tả lại trong Nhật Ký: “Một vết đạn sâu hoắm ghim ngay giữa trán chị - điều này khi mẹ và tôi lên vùng núi Ba Tơ để đưa chị về, tôi đã nhìn thấy. Anh Tâm, bí thư huyện uỷ Đức Phổ hiện nay cho biết anh được nghe kể lại trước khi hy sinh chị còn hô vang Hồ Chí Minh muôn năm. Đả đảo đế quốc Mỹ”.

Nếu khó kìm một ý nghĩ mỉa mai chua xót cho viên đạn ghim ngay giữa trán vẫn nghe thấy những lời hô vang lại phải nhìn nhận khó có gì ngăn nổi tiếng nói trung thực của những con tim chưa cạn kiệt tình người. Những câu thơ của Nguyễn Thị Hoài Thanh về đề tài cây cỏ, hoa lá, gió mưa... giữa một thời bão táp chính là một âm vang của tiếng nói đó, tiếng nói từ tâm tư con người với cảm nghĩ của con người:

Trong yên lặng ta nghe chừng đã rõ
Tiếng nắng về dát bạc dưới lòng thung
Ta ngồi bên thác nước nhớ mông lung
Tiếng nước reo hay nước đòi hóa kiếp
Để thành mây mây về đâu chẳng biết
Cõi lưu đầy có gặp bến hư vô!
(Di Linh)

Những lời lẽ mơ hồ diễn tả những tình ý cũng mơ hồ nhưng tuyệt nhiên không vương dấu vết cơn mê loạn do trí não mù loà hay nỗi đam mê hào quang anh hùng, dũng sĩ tới mức cuồng điên để thấy sự sống chỉ là cống hiến, là hy sinh, là sự nghiệp đấu tranh vì lý tưởng này hay lý tưởng khác...

Qua những câu thơ mộc mạc của Nguyễn Thị Hoài Thanh, sự sống đã hiện hình từ cảm xúc tự nhiên trước một áng mây, một màu hoa, một tiếng chim hót ngoài vườn, những giây phút an hoà của con người trong tình thương ấm áp trao gửi và nhận lãnh từ tha nhân. Nguyễn Thị Hoài Thanh đã sống và cảm nhận đúng yêu cầu của sự sống khi cất lên tiếng kêu cứu từ dưới đáy vực sâu:

Trên miệng vực là những người đến cứu
Người thả sợi xích sắt loằng ngoằng
Người buông cái thang tre
Người hiện đại hơn
ròng sợi dây ni-lông siêu bền ............... Tôi ở dưới vực sâu kêu lên
  Tôi chỉ xin
một ánh trăng cô đơn
Toả xuống vực sâu để cứu linh hồn
(Vực sâu)

Nhưng có thể có chăng cái ánh trăng cô đơn mà Nguyễn Thị Hoài Thanh đang khẩn nài, trông đợi?

Tôi nhớ tới đám người bên bến sông mà những nhân vật tinh quái của Mark Twain một lần ghé lại tạo trò lừa đảo. Tất cả đều thù ghét bọn bất lương che mắt mình nhưng không ai dám thú nhận đã bị gạt và còn cổ võ cho trò lừa đảo để có thêm đông người cùng cảnh ngộ. Tâm lý bi hài này đang phổ biến khắp đất nước Việt Nam để tiếp diễn cái cảnh phẫn nộ rủa xả những tấm mặt nạ như kiểu nhân vật của Bảo Ninh - ngay giữa lúc cất lời rủa xả vẫn cố tô vẽ mình bằng những màu sắc lẫm liệt uy nghi trong vóc dáng hào hùng để ru vỗ lòng tự ái bằng ý nghĩ rằng luôn luôn mình vẫn đáng ngưỡng mộ ngợi ca.

Lời thú nhận đã tận trung khuông phò Kiệt Trụ như một sám hối phải có để thoát cơn mê loạn từng bước theo nẻo đường ma đưa quỉ dắt tự tay góp phần phá nát quê hương và cuộc sống của chính mình vẫn bị đè ép nghẹt thở. Vết thương thuở trước không chỉ đau tới bây giờ mà có lẽ còn đau nhiều kiếp nữa. -

Virginia 03.2007 (UYÊN THAO)

____________________________________________________________

HOA PHƯỢNG do Tiếng Quê Hương xuất bản.. Muốn có sách xin thư về: TIẾNG QUÊ HƯƠNG P.O Box 4653 - Falls Church - VA 22044 - USA
 
 
http://www.huongduong.com.au/article_1798.html?PHPSESSID=b6b2051408289599c8e1228397a809c8
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-27 16:41:33Ngọc Lý>
 
Một mơ ước về kiếp sau
NGUYỄN THỊ HOÀI THANH
Bùi Ngọc Tấn
 


Cây xấu hổ

Chiều lặng ngồi trêu cây xấu hổ
Lá thẹn thò sau đám cỏ rối bời
Hãy ngoảnh lại đây
Có gì mà mắc cỡ
Chỉ mình ta bầu bạn với ta thôi




Chiều lặng ngồi trêu cây xấu hổ
Nguồn: ctu.edu.vn/Ảnh: dvxe
______________________________________________________________


Nguyễn Thị Hoài Thanh ngồi một mình ở Đồng Xoài, chờ người ta thu hoạch lạc xong thì vào mót. Cô đơn ở xứ người, để giết thời gian, để quên đi nỗi lo kiếm sống, chị trêu chòng và trò chuyện với cây xấu hổ. Thế rồi thơ đến.

Khi ở tù ra hầu như tôi chỉ còn một nhúm bè bạn, trong đó có Nguyên Bình, người không bao giờ bỏ tôi trong những lúc gian lao nguy hiểm đói nghèo nhất. Anh vẫn đến chơi nhà , nói dăm ba câu chuyện hoặc nô đùa với các con tôi. Tôi chẳng dám trách ai. Bởi cái ống ngắm hiển nhiên là đang nhắm vào tôi. Chẳng ai lại muốn mình hiện hình trong vòng ngắm.Đừng có đem sinh mạng mình, đời sống gia đình vợ con mình ra đùa cợt.

Thế mà trong những ngày ấy tôi lại có thêm một người bạn mới: Nguyễn Thị Hoài Thanh. Chị thường xuyên đến nhà. Nói chuyện với tôi. Bàn chuyện làm ăn sinh sống với vợ tôi. Dạy hai đứa con gái tôi cách thêu may bô-đê để kiếm sống.

Tôi và Nguyễn Thị Hoài Thanh trước đó chỉ biết nhau chứ chưa hề chào nhau dù gặp nhau trong một cuộc họp, lại càng chưa một lần đối thoại. Tôi ấm lòng khi thấy chị lên nhà, ân cần, thân mật, cởi mở như một người bạn thân của cả gia đình và hoàn toàn chiếm được niềm tin, tình cảm của vợ chồng tôi. Chị như một chỗ dựa tinh thần, một sự động viên vợ tôi trong những ngày tháng gian lao ấy. Lúc đó tôi mới biết rằng chị làm ở Quốc Doanh Đánh Cá Hạ Long, một xí nghiệp tôi cũng từng quen, đã xuống lấy tin viết bài, nơi sản sinh ra anh hùng lao động Hồ Xuân Tuyên mà Dương Tường đã viết trong Thuyền Trưởng. Chị mách chúng tôi một cách kiếm sống: Làm nước mắm.

Ngày ấy nước mắm rất khan hiếm, cắt theo phiếu, theo tiêu chuẩn thang lương. Có nhà khoa học còn nghiên cứu làm nước mắm dắt, nấu từ con dắt, một loại sinh vật biển họ trai hến nhưng chỉ nhỏ bằng cái cúc áo. Đề tài nước mắm dắt được đăng ký cấp quốc gia hay cấp thành phố tôi không nhớ. Nhà ai chẳng phải ăn nước mắm. Nước mắm đang lên ngôi. Chúng tôi bị thuyết phục ngay.

Nguyễn Thị Hoài Thanh giảng cho chúng tôi nghe về con nước, về chợ chiều, cá ươn, cá ế, về loại cá rễ cau, như con chạch nhưng đỏ, không ai ăn, mua về làm chượp, và điều quan trọng là khi nấu mắm xong đừng lọc chắt ngay mà cứ để nguyên như vậy cho đến khi nguội hẳn vì trong quá trình ấy đạm vẫn từ bã thôi ra nước. Rồi chị giới thiệu cho tôi biết những chợ nào người ta hay bán cá rễ cau. Rồi tính toán tiền cá, tiền muối, một cân cá được bao nhiêu nước mắm loại một, nước mắm loại hai...

Nhưng lấy gì mà ngâm chượp?

Lại cũng chị Thanh. Tối hôm ấy vợ tôi vác xe đi. Chuẩn bị cả dây co nghĩa là dây cao su, cả bao tải. Lại mất điện. Vợ tôi đi trong bóng tối hun hút xuống nhà chị. Một khu tập thể không tên gọi, không số nhà. Cũng may, ban ngày Nguyễn Thị Hoài Thanh đã đưa vợ tôi xuống nhà để vợ tôi thuộc những ngóc ngách ngoắt ngoéo mà dù cho có tối tăm, mất điện, lại toàn những mái nhà lô nhô như bát úp ở một khu đất trước đây là trận địa pháo cao xạ mà về sau khi tôi xin được việc làm ở Quốc Doanh Đánh Cá Hạ Long, mới biết nó có tên là khu Bãi Cát, vợ tôi vẫn có thể tìm đến tận nơi.

Khi chiếc loa ngã sáu phát chương trình Quân Đội Nhân Dân, nghĩa là khoảng chín giờ, tôi nghe tiếng gọi của vợ tôi dưới cầu thang. Tôi vội chạy xuống. Trong bóng tối tôi thấy vợ tôi đang giữ chiếc xe đạp ở chân thang, và ở pooc ba-ga, một đống gì gồ cao đen sì. Tôi đặt tay lên đó. Chiến công của vợ tôi. Sự giúp đỡ tận tình của Nguyễn Thị Hoài Thanh. Niềm hy vọng của chúng tôi. Nó căng. Cứng. Và cong cong. To nữa. Cái bao tải to thế mà căng phồng.

– Chị Thanh đưa em qua cổng bảo vệ chứ không cũng không mang được về nhà đâu.

Đó là một bình gốm chuyên dùng, miệng nhỏ, có nắp vặn xoáy được để đựng a xít. Bình dầy nên tuy to nhưng chưa chắc đã đựng được nửa thùng nước.
Tài sản ban đầu của chúng tôi để tự kiếm sống là như vậy. Chúng tôi dội nước đầy bình cho a xít thôi ra trước khi ngâm chượp. Rồi đi mua cá rễ cau, cá ươn, cá ế ở chợ. Chẳng mấy chốc mà đầy hũ. Không dám để hũ dưới nhà. Sợ mất. Chúng tôi bê lên gác, đặt ngoài bệ cửa sổ. Sốt ruột mong nó phân huỷ, để nó thành chượp, nấu lên thành nước mắm mang đi bán.

Trong khi chờ đợi có nước mắm bán cả nhà vẫn cứ phải ăn. Nguyễn Thị Hoài Thanh hiểu được điều ấy. Chị đến dạy vợ tôi và hai đứa con gái còn chưa đến tuổi dậy thì bô-đê.

– Cái này là làm cho mấy bà buôn ở chợ Sắt.

Nhìn những mẫu bô-đê của chị tôi mới nhớ ra rằng ở những gấu quần xa tanh, gấu áo phin nõn của những người sang trọng luôn có những hoa văn đục thủng ra rồi viền lại như vậy.

Tôi không hiểu chị học bô-đê ở đâu mà đẹp thế. Hay chị học ở trường mồ côi? Mà chị có mồ côi và học ở trường mồ côi như người ta vẫn nói thật không? Rồi lại còn cái chuyện Nguyễn Cao Kỳ (tư lệnh không quân rồi phó thủ tướng ngụy) là anh ruột chị nữa. Nói chung là chung quanh chị có nhiều “huyền thoại”, những “hiện thực huyền ảo”giết người. Dường như biết rằng có những dư luận rất bất lợi cho mình và mọi người nhìn mình bằng con mắt nghi kị xa lánh nên chị không chủ động thân thiết gần gũi với một ai. Chỉ đến khi tôi đi tù về chị mới đến nhà tôi. Người khác có thể sợ chứ chị thì không. Chị nghĩ mọi cách giúp gia đình tôi kiếm sống. Chị nuôi ngan và bàn với tôi việc nuôi ngan. Chị bảo chị đã nghiên cứu và tìm ra thủ phạm của việc làm ngan chết hàng loạt là những con giun móc chui vào lỗ tai ngan vì vậy trong lúc trời mưa, tuyệt đối không được cho ngan sục nước. Chị vẽ ra một viễn ảnh sáng ngời: Tôi mang trên vai một chiếc cuốc nhỏ, lùa đàn ngan ra bãi Máy Tơ...

Nhưng tất cả kế hoạch của chị cũng chỉ hoàn toàn là kế hoạch của một nhà thơ. Hoặc kế hoạch mang tính khả thi đấy nhưng không thực thi được vì người thực hiện lại là tôi. Tuy nhiên về một mặt nào đấy những kế hoạch của chị cũng mang lại tác dụng. Nó làm chúng tôi ấm lòng. Nó giúp chúng tôi có thêm nghị lực sống, vượt qua được những ngày nào cũng dài đằng đẵng ấy. Chúng tôi vẫn có những người bạn để chia sẻ. Điều đó giúp chúng tôi có thêm nghị lực.

Thế nào mà khi được đi làm trở lại, tôi lại về Quốc Doanh Đánh Cá Hạ Long, nghĩa là về cùng xí nghiệp với Nguyễn Thị Hoài Thanh. Ông Hoàng Hữu Nhân nguyên bí thư thành uỷ Hải Phòng, khi đó là tổng cục trưởng tổng cục Thuỷ sản đã cứu tôi, quyết vượt qua mọi trở ngại, những mưu toan ngấm ngầm công khai của những người có thế lực khác tìm mọi cách không cho tôi trở lại với cơ quan xí nghiệp nhà nước.

Tôi làm văn phòng. Còn chị Thanh làm ở phân xưởng, tổ ắc quy, ngành điện. Trong sổ tay tôi còn ghi lại một buổi sáng xuân, tôi đứng trên mũi một con tầu đang xảm lại mặt boong. Trời xuân, không mưa bụi nhưng mát mịn da mặt. Phía bên kia sông, những cây sú lá xanh thẫm. Chân trời những đám mây xuân tầng tầng lớp lớp. Và gió. Gió không mạnh, chỉ đủ giục giã lên đường.

Người thuyền trưởng đứng sau tôi. Anh ôm tôi, nhấc bổng tôi lên. Rồi lại đặt tôi xuống. Từ phía đầu cầu cảng chạy vào một chiếc xe rùa, một loại xe chạy bằng ắc quy, êm không một tiếng động. Trên xe, mấy cô công nhân tươi cười rạng rỡ. Thuyền trưởng bỗng rời vòng tay ôm tôi, nhao ra lan can: “Cô Thanh ơi, chúng tôi thay ắc quy đấy nhé.” Lúc bấy giờ tôi mới để ý là Nguyễn Thị Hoài Thanh đang ngồi trên xe. Quần áo bảo hộ lao động rộng thùng, chiếc mũ lưỡi chai, khuôn mặt chị ngời ngợi giữa những món tóc bị gió thổi bay dập dờn trên mặt, trên má, trên miệng cô công nhân ngồi đằng sau chị. Chị nói như hét:

– Chưa thay được cho anh đâu.

Chiếc xe vẫn giữ nguyên tốc độ, vượt qua chỗ chúng tôi. Thuyền trưởng kêu to:

– Sao lại chưa ?

Chiếc xe đã ngoặt về phía cổng cảng. Vọng lại một câu trả lời của chị nhưng nghe không rõ. Chiếc xe đã biến mất. Nó lướt qua không một tiếng động. Như nó chưa hề đi qua đây. Một thuỷ thủ nói:

– Cô Thanh được đấy thuyền trưởng ạ

Thuyền trưởng cười:
– Già rồi.

Anh thuyền viên kêu to với đám thuỷ thủ đang trầu cáp, chuẩn bị cho một chuyến biển mới:

– Thuyền trưởng chê cô Thanh già, các cậu ơi!

– Tớ già chứ không phải cô Thanh. Hiểu chưa ?

Tất cả cười dòn. Năm ấy Nguyễn Thị Hoài Thanh còn đang tuổi ba mươi. Thời con gái chị vốn xinh đẹp. Nhất dáng nhì da. Chị được cả hai. Nhưng hồng nhan đa truân. Hai lần kết hôn, hai lần li dị. Vẻ đẹp của tuổi ba mươi đang chín. Cái sắc đẹp không chủ đã gây cho chị biết bao khó khăn, nhiều khi cả nguy hiểm nữa.

– Người ta cứ coi tôi là con mụ Hến anh ạ.

Chị nói vậy và cười hồn nhiên:

– Ngày ấy mình còn mầu mỡ.

Sau này khi đã lục tuần, ngồi ôn lại cuộc đời, chị nói với tôi như vậy. Và cũng như cô Hến, cái đám Nghêu, Sò cũng toàn là các hàng chức sắc nên rất nguy hiểm. Thời gian chị còn làm thợ điện ở công ty X, chỉ vì không chịu bắt tay ông trưởng phòng của chị mà chị không được chấm công, không có lương, dù ngày ngày vẫn đi làm với các đội, dù chị đã lấy đầy đủ xác nhận của các đội sản xuất. (Bắt tay là chuyện bình thường, nhưng đây lại là một kiểu ra đụng vào chạm, một kiểu lợi dụng của ông trưởng phòng mà chị biết quá rõ.) Và sự việc không dừng ở đấy. Chị ở tập thể, nghĩa là một nửa gian phía ngoài, còn nửa gian phía trong là kho dụng cụ (toàn cuốc xẻng). Một trưa đi làm về, chị thấy buồng chị bị khoá. Bé Đan, con gái chị đang ngồi khóc ở cửa. Người ta giải thích cho chị hiểu rằng không phải người ta khoá buồng chị mà người ta khoá kho dụng cụ, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa. Chị gặp người này gặp người khác. Chị đấu tranh. Khi cứng rắn. Khi mềm dẻo. Lúc pha cả hài hước. Mãi khuya ông trưởng phòng mới hạ lệnh mở khoá cho chị vào buồng.

Thế rồi khi ông chủ nhiệm công ty cũng muốn đến với Hến và bị Hến cự tuyệt thẳng thừng mới thật gay go. Lại một chiều đi làm về, vừa bước vào khu tập thể, bé Đan đã mếu máo chạy ra:

– Mẹ ơi. Nhà mình toàn bàn ghế thôi, con không nấu được cơm đâu.

Chị đứng lặng. Cái ô con con hai mẹ con vẫn chui ra chui vào cửa vẫn mở nhưng chật cứng bàn ghế. Chị đã hiểu. Người ta quyết không cho chị ở mấy mét vuông này. Chị thì thào với con gái :

– Mẹ con mình khiêng sang nhà bác chủ nhiệm nhé. Thật khẽ. Đừng để ai biết.

Lúc đó đã tối. Giờ ăn cơm của cả khu tập thể. Bụng đói, bé Đan cùng mẹ khiêng từng chiếc bàn chiếc ghế sang nhà ông chủ nhiệm. Nhà ông ta rất rộng. Sân. Gian ngoài. Gian trong. Hai mẹ con đặt những đồ mộc ấy ở gian ngoài. Năm chuyến. Sáu chuyến. Bẩy chuyến. Đói. Im lặng. Thở. Như một trò tinh nghịch. Nghe rõ tiếng trò chuyện từ gian trong. Ngửi cả mùi cơm trộn mì, mùi canh dưa chua ngào ngạt bốc ra. Khiêng gần xong thì bị lộ. Ông chủ nhiệm quăng bát cơm chạy ra. Gầm lên:

– Cô Thanh ! Làm trò gì thế này?

– Tôi sẽ lập biên bản. Cô đúng là một người quá thể. Không còn coi ai ra gì!

Ông hét không thành tiếng.Cả khu tập thể vốn dĩ đói nghèo sự kiện, đói nghèo trò giải trí, bỏ dở bữa cơm đổ xô tới. Mọi người trong gia đình ông kêu thét ầm ĩ. Như một dàn đồng ca. Nguyễn Thị Hoài Thanh tươi cười lễ phép:

– Báo cáo chủ nhiệm, tôi đi làm về thì thấy số tài sản xã hội chủ nghĩa này trong nhà tôi. Tôi không hiểu ai vất vào. Đây là bàn ghế chứ ngộ nhỡ thuốc phiện thì có nguy hiểm cho tôi không. Cho nên tôi phải trình với chủ nhiệm. Hai mẹ con tôi dù chưa ăn, bụng đói cũng cố động viên nhau khiêng sang. Chả lẽ lại vất ra ngoài sân. Tài sản xã hội chủ nghĩa không thể thế được. Phải bảo vệ. Nên chỉ còn mỗi cách khiêng sang nhà thủ trưởng.

Hoài Thanh thắng. Thắng oanh liệt. Sau trận thắng chị hiểu rằng không thể nào ở lại công ty được, phải tìm cách chuyển thôi. Trong lúc giao thời thất nghiệp ấy, một người bạn rủ chị đi bán than cùng ông ta. Mừng như bắt được của. Không phải “một gánh càn khôn quẩy xuống ngàn, hỏi rằng chi đó gửi rằng than” mà là mua than của mậu dịch rồi xe đổ cho các nhà. Thứ than cám đã nháo bùn để người ta chim chim lại cho vào bếp lò. Than trộn bùn ướt nặng như đá. “Ông Hạp ơi! Khiêng hộ tôi lên bàn cân với!” “Ông Hạp ơi! Đẩy hộ cái xe vào đây!” Tiền thì chia đôi mà chốc lại ông Hạp ơi, ông Hạp ơi. Xe than đi đổ cũng lắm chuyện bi hài. Chuyến xe đầu tiên thế nào lại quành đúng vào khu nhà tập thể của chị. Chị lo lắng: “Ông Hạp ơi. Đổ cho nhà ai thế này?” Hoá ra đổ cho nhà ông chủ nhiệm. Chính vợ chồng ông chủ nhiệm cũng ngạc nhiên. Cô Thanh bây giờ đi làm cái này à? Vâng. Báo cáo chủ nhiệm, việc gì tôi cũng làm để có tiền nuôi mình nuôi cháu. Hẳn ông chủ nhiệm cười thầm trong lòng: Chiến thắng là thế đấy hử cô Thanh? Cứ chiến thắng nữa đi. Chị không xấu hổ về tư thế chiến thắng của chị, cái tư thế nhếch nhác đầy vẻ thất bại của chị. Chị biết thừa câu nói không thành lời của chủ nhiệm: Cô đã thắng tôi. Nhưng cô đã thấy cái giá phải trả cho chiến thắng của cô là thế nào chưa? Chiến bại đấy cô ạ! Chị chỉ tự hỏi: Ông chủ nhiệm hả lòng hả dạ hẳn rồi, nhưng không biết ông có còn chút lòng trắc ẩn?

Thật ra tự đáy lòng, chị cảm thấy ngượng. Không chỉ trong lần xe than đổ cho ông chủ nhiệm. Còn nhiều lần khác. Hôm đầu tiên đến bãi than phố Đà Nẵng với ông Hạp chị đã ngượng rồi. Hôm ấy chị đi đôi giầy da cũ của một người bạn cho chị rõ ràng là quá rộng. Cánh thanh niên có mặt ở bãi thấy một phụ nữ trẻ trung xinh đẹp đẩy xe vào bãi, reo hò:

– Chào em gái xinh đẹp.

– Anh đã bảo em cứ ở nhà rồi anh mang tiền về, sao em còn ra đây làm gì? Nhớ anh quá hả?

– Ái chà! Lại đi giầy bốt tin!

Lại một hôm đang đẩy đằng sau, thấy ông Hạp cầm càng ngoặt vào nhà một cô bạn, chị vội đội lên đầu cái khăn mặt tuỳ thân đen nhẻm cho nó phủ kín trán, kín hai gò má và kéo sụp nón xuống che hết mặt. Chị bạn quát:

– Xe đổ vào góc trong cùng ấy. Góc bên phải cơ mà. Không nhìn thấy gì à? Bẩn hết bếp rồi. Mấy tạ đấy?

Nguyễn Thị Hoài Thanh không nói một lời đến nỗi chị bạn gắt lên: “Câm đấy à?” Chị bạn không nhận ra chị vì chị đúng là “một con mụ bán than đen thui thủi” từ nón đến giầy bốt tin!

Vừa xe than, chị vừa đi tìm việc. Nhưng khi chị tìm được việc làm bên Quốc Doanh Đánh Cá Hạ Long, người ta lại không cấp giấy giới thiệu cho chị, mặc dù họ bảo chị nghỉ việc để liên hệ chuyển công tác. Chị, chẳng quen ai, không biết trông cậy vào ai, đi lên sở lao động tìm gặp bằng được ông phó giám đốc. Ông phó giám đốc ủng hộ chị. Có áp lực của sở lao động, chị được cấp giấy giới thiệu, được đi làm bên Quốc Doanh Đánh Cá Hạ Long. Nhưng người ta lại vin vào việc chị đã chuyển công tác để trục xuất chị khỏi khu tập thể. Một cuộc họp lãnh đạo công ty với khu tập thể có mời cả công an hộ tịch dự. Lập biên bản. Ra nghị quyết...

Hình như Nguyễn Thị Hoài Thanh sinh ra là để gặp những rắc rối, chịu đựng những rắc rối và vượt qua những rắc rối khó khăn. Chịu đựng và vượt qua một cách thản nhiên bình tĩnh, không kêu ca như cuộc đời vốn như vậy.

Tốt nghiệp trường công nhân kỹ thuật Hải Phòng, chị ghi vào mục nguyện vọng: Tình nguyện đi bất cứ nơi nào trừ Hà Nội, Hải Phòng. Bởi vì lúc đó chị vừa li dị và mới sinh cháu gái đầu lòng. Bà mẹ trẻ tuổi hai mươi ấy không muốn gặp lại người chồng cũ và chỉ mong được yên tĩnh ở một nơi nào đó. Cầu được, ước thấy. Chị được về Cẩm Phả, coi một trạm điện đầu trục 2 thuộc mỏ Lộ Trí. Chị và cháu gái mới sinh ở ngay trạm, liền với nhà đề bô rộng thênh thang, nhà đề bô đã có người chết ở đó. Ngày ấy nơi đây là chim kêu vượn hú. Ngày ấy hai mẹ con suốt đêm nghe gió thổi qua mái nhà đề bô, nghe mưa rơi, nhìn nước đổ như thác cuồn cuộn bên ngoài trạm...

Thế rồi từ Cẩm Phả, chị lại về Hải Phòng khi sóng gió trong lòng đã dịu. Rồi chị sang Kiến An. Chị về Vĩnh Bảo. Có biết việc gì không trải qua. Hãy kể những việc chính: Công nhân xi măng, thợ điện Hải Phòng điện khí, thợ điện công ty xây lắp, công nhân bóc lạc công ty xuất nhập khẩu, đứng máy bào cuốn xí nghiệp gỗ Trương Công Định, công nhân công ty xếp dỡ, cấp dưỡng công ty vật liệu kiến thiết, súc sạc ắc quy Quốc Doanh Đánh Cá Hạ Long... Đó là chưa kể còn đi giao bánh rán, bánh mì, kẹo lạc, làm và bán nước mắm... Đồng lương không đủ nuôi mình mà chị còn phải nuôi con. Cuộc sống tưởng chừng không có thời gian để thở, đó là chưa kể những chấn thương tinh thần sau hai lần li dị, ấy thế mà Nguyễn Thị Hoài Thanh vẫn làm thơ.

Cô gái ngay từ nhỏ đã có khí chất con giai này thực chất là đa cảm. Năm 13 tuổi bài văn xuôi đầu tiên được in trên báo Thế Kỷ. Năm 16 tuổi gửi thơ lên báo. Bài thơ không được in vì không chịu sửa theo ý biên tập. Bài thơ đầu tiên của chị được in trên báo Văn Học, cơ quan của Hội Nhà Văn là bài Lán Mông Giăng (1961). Đắm mình trong những vất vả khó khăn của công việc, của một mình nuôi con nhỏ, của mối tình đầu tan vỡ, chị nghĩ tới một khung cảnh đầm ấm có vợ có chồng và trong khi chị đang nằm ở lán Mông Giăng này, có một người ngoài kia nghĩ về chị và nói với mọi người xin chớ ồn ào, để em tôi ngủ.

Em tôi nào ngủ được. Bởi cô đơn. Bởi hoang vắng. Bởi nhà đề bô tối om từng có người chết ở liền bên. Bởi những tia chớp rạch trời thoắt hiện những khóm lau chìm trong bóng tối. Bởi bỗng một cánh tay đen sì từ nhà đề bô thò vào cửa sổ (một công nhân lò Lộ Trí lên gọi điện thoại báo tin máy hỏng). Bởi bé Đan viêm họng sốt cao. Không ngủ được thì cứ nằm mơ ước...
 
Nguyễn Thị Hoài Thanh làm thơ như một nhu cầu nội tâm. Chị làm thơ để trang trải nỗi lòng. Có một điều ngạc nhiên: Cuộc đời chị biết bao sóng gió mà thơ chị hồn nhiên trong trẻo thế. Chị có tài nhìn trong đổ vỡ để thấy được một cái gì vẫn là ấm áp như trong bài Bão tan:

Cây trụi lá mầu chiều say sắc trắng
Hàng dậu xô làng xóm xích gần nhau


Ngày tháng đề dưới bài thơ này là năm 1967, nghĩa là lúc Thị Hến đang lâm nạn đuổi nhà. Có lẽ đó không phải là cái tài của chị, mà chính là tâm hồn chị. Độ lượng, tha thứ, chịu đựng, vượt qua mọi gian lao và lúc nào cũng hướng về cái đẹp. Đọc lại những bài thơ của chị in rải rác trên các báo và tạp chí Văn Học, Văn Nghệ, Văn Nghệ Quân Đội, Cửa Biển và một vài tuyển tập, tôi lại có một “phát hiện” mới: Chị yêu Hải Phòng biết bao! Một Hải Phòng với những thành kiến, những trù dập, những nhọc nhằn kiếm sống, một Hải Phòng với những cuộc li hôn. Nhưng cũng là một Hải Phòng của thời thơ ấu, của những kỷ niệm không quên với bạn bè, của khát vọng vươn tới cái đẹp. Hải Phòng có bốn chiếc cầu ở bốn cửa thành phố thì hai chiếc đã nằm trong thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh: Bài Cầu Xi măng và bài Chợ Cầu Rào.

Bài Cầu Xi măng như một bức thư gửi người anh trai đang sống ở Mỹ, ông Nguyễn Xuân Vinh. (Cũng không sợ lạc đề nếu nói ở đây rằng ông Vinh là một nhà bác học lớn của NASA mà báo Lao Động đã viết một bài dài giới thiệu, ông đã từng chủ trì nhiều hội nghị không gian toàn thế giới. Trong cuốn tuỳ bút Theo Ánh Tinh Cầu của ông có đoạn: “Cuốn sách tôi viết nói về quỹ đạo thu hồi một cách an toàn những phi thuyền không gian. Nhà xuất bản trước khi nhận in đã đưa bản thảo để lấy ý kiến của nhiều nhà khoa học. Tất cả đều đồng ý đây là cuốn sách độc nhất, với trình độ khoa học cao nhất viết về đề tài này.” Không sợ lạc đề vì ông Vinh là nguyên nhân gây ra cái dư luận Hoài Thanh là em ruột Nguyễn Cao Kỳ.)

Anh đã xa cầu xi măng
Ba mươi năm từ đó
Xa con sông quê nước lợ
Anh có mơ một lần
sóng vỗ giấc mơ anh
Cầu xi măng ơi cầu xi măng
Thuở bé em nhìn sang bên sông
Trời đất một vùng chim bay chim lượn
... Mẹ ơi cầu có tự bao giờ ? em hỏi mẹ
Mẹ bảo tuổi cầu cùng với tuổi anh...


Còn đây là bài Chợ Cầu Rào chị khóc người em trai Nguyễn Xuân Đăng mai táng ở nghĩa trang Ninh Hải (từ thành phố Hải Phòng phải đi qua Cầu Rào mới tới).

Em nằm bên kia sông
Chợ Cầu Rào chiều hôm nắng tái
Qua chợ dùng dằng
nửa muốn đi nửa toan ghé lại
Định mua quà cho em nhưng nào biết mua chi
Em nằm ở bên kia
Bên đây chợ lao xao kẻ mua người bán
Chỉ một thứ chẳng ai cần bán mua là nước mắt
Em mặc cả với đời mang nó đi theo
Em nằm bên kia sông
Chợ Cầu Rào chiều hôm nắng tái
Đến thăm em chẳng cần vội vã
Ở nơi đó bao giờ cũng có thể có em
Đến thăm em rất cần vội vã
Ở nơi đó bao giờ cũng không thể có em


Bài thơ chị làm trên đường sang nghĩa trang trong buổi sáng một ngày sau khi mai táng mà ta gọi là đi quơ mộ.

Không chỉ những cây cầu dính dáng đến người thân mới làm Nguyễn Thị Hoài Thanh xúc động. Hải Phòng là thành phố của hoa phượng. Tháng năm rợp trời hoa phượng đỏ (Hải Như). Hoa như mưa rơi rơi (Thanh Tùng). Tôi nghĩ bài Hoa Phượng của Nguyễn Thị Hoài Thanh là một trong những bài đặc sắc nhất về đề tài này:

Hoa rong chơi từ mùa thu năm ngoái
Hôm nay nghe phố gọi rủ nhau về
Gió đã mở nắng đã vàng đã chín
Hồn đã say chân đã bước đinh ninh
Trong ngất ngây như có ai cuối phố đợi mình
Ai hát nữa điều gì thao thức lạ
Hoa khờ dại cháy mình trong nắng hạ
Để thu về tan tác cả lòng ai


Hình như một kỷ niệm đang trở về cùng chị. Hoa phượng đã làm chị nhớ lại.

Trong ngất ngây như có ai cuối phố đợi mình
Ai hát nữa điều gì thao thức lạ


Lại nghĩ đến hai câu thơ của Thi Hoàng:

Một đầu đường không có ai trông ngóng
Một buổi chiều không biết cất vào đâu
 





   Hoa khờ dại cháy mình trong nắng hạ
   Nguồn: mtp.jpl.nasa.gov 






[/align]Để thấy những ngày Hoa Phượng ấy của Nguyễn Thị Hoài Thanh là như thế nào. Rồi chị thương hoa khờ dại cháy mình. Và lại thương ai. Tôi cứ nghĩ rằng chị tự thương mình. Chị thương chị. Hình như chị đã yêu, tình yêu chỉ tồn tại có một mùa hoa phượng. Nó đã qua rồi. Cùng phượng. Tôi lặng người khi đọc những vần thơ của chị viết về nỗi cô đơn:

Sau hồi kẻng tan ca
Tôi ngã vào vòng tay lạnh lẽo của mùa đông


Tan ca. Ra về. Chỉ lạnh lẽo một mùa đông chờ đợi. Bởi vậy khi có người hẹn đến chơi, niềm vui tràn lên đầu lưỡi, không có ai để chia sẻ, mà không thể không trò chuyện. Thì Nói chuyện với mèo:

Mèo ơi! Mèo có biết
Có người sắp đến thăm ta


Thời gian đợi bạn không phải là thời gian vẫn đến và vẫn đi nữa:

Ngày phập phồng như thể có tâm hồn
Đêm trằn trọc đợi mặt trời thở gấp


Bạn đến. Bạn tâm sự. Rồi bạn đi. Ngay cả con mèo chị nuôi vẫn quanh quẩn bên chị cũng nhẩy sang nóc nhà hàng xóm với bạn nó. Thì chị tâm sự với mình. Với cây. Với hoa. Điều ấy chị đã quen rồi. Chị thương yêu tất cả. Chị thương cả con bò người bạn chị dắt đi trên đường phố. Chị chào người bạn chăn bò vất vả để thêm vào đồng lương hưu ít ỏi rồi chị trò chuyện với bò. Chào bò bằng một cái nhìn nhưng bò chẳng nhìn đáp lại:

Có lẽ chú tưởng tôi là gốc cây
Với tâm hồn gỗ
Hay ngỡ tôi là cột điện
Trái tim sỏi trộn xi măng


Chị thương móng chân bò dẫm trên đường nhựa, thương đôi tai bò không được nghe tiếng hát cỏ xanh. Và không chào bò bằng mắt nữa, chị cất thành lời:

Chú bò ơi !
Chú đi như tù binh
Đi về đâu
tới lò sát sinh hay ra đồng ruộng
Đi về đâu
tới ngã ba đường tôi với chú chia tay
Đi về đâu
tôi biết rồi đấy nhé (...)


Người rủ rỉ tâm tình là thế. Nhưng bò vẫn đi. Vẫn không chịu tham gia vào cuộc đối thoại với người.

Người đi. Mèo đi. Bò đi. Có chân là đi. Chẳng chịu nghe chị, trò chuyện với chị. Thì chị trò chuyện bầu bạn với những gì không đi được. Từ ngày chuyển về Quốc Doanh Đánh Cá Hạ Long, làm việc súc sạc ắc quy (một công việc rất độc hại) chị có người bạn mới: Sông Cấm, dòng sông có “những cánh buồm nâu không địa chỉ ”:

Sông Cấm ơi ! Sông như người bạn mới quen
Thân thiết thế mà sao không hiểu được
Chiều tan ca tôi đi bên dòng nước
Sông với tôi với bóng là ba
Bóng tôi nghiêng với bao la
Sông mang về biển
Bóng tôi còn nguyên vẹn không sông?


(Xin mở một ngoặc đơn: Mong ước mình là mình, điều ấy là của nhiều người. Nhưng mong ước cái bóng của mình còn nguyên vẹn khi dòng sông đã mang ra biển thì có lẽ chỉ có Hoài Thanh ).

Hơn mười năm sau, vẫn cái nhìn ấy với sông, với cây và với phố. Lần đầu tiên thân gái dặm trường, bước chân vào cao nguyên Đắc Lắc, tối rồi, chưa có chỗ nghỉ lại không một người quen, chị đã có ngay một người bạn mới: Một phố nhỏ giữa cao nguyên hùng vĩ. Không những thế chị còn nhận diện được người bạn này, nó giống ai, bao nhiêu tuổi:

Phố như con của mùa Đông
Vừa mới sinh ra ban nẫy


Chị tới cao nguyên tìm đường đưa con gái và cháu ngoại vào sinh sống. Cũng như chị ngày trước, con gái chị đã li dị. Chị đi nhờ xe vào “trinh sát” rồi ra Hải Phòng trông cháu cho con gái vào gây dựng cơ sở. Tôi chép lại toàn bộ bài Cháu Liên Chi để thay cho những lời dài dòng của tôi về thời gian chị đã làm bà:

Bố mẹ chia tay từ đó
Về đây cháu ở với bà
Hai gian chông chênh đầy gió
Sớm chiều bà cháu vào ra
Đêm gối tay bà cháu hỏi
Mẹ sao đi mãi đi đâu
Thương cháu lựa lời bà nói
Thương bà cháu vuốt tay đau
Cha cháu giờ này ở quán
Mắt ngầu be rượu chênh chao
Tình thương cạn kiệt đáy cốc
Môi khô triết lý khô theo
Mẹ cháu miền Nam xa lắc
Suất tầu dành cả đời bà
Nửa đêm nhọc nhằn tráng bánh
Sáng còn đi chợ đường xa
Bao giờ mẹ cháu gửi ra
Suất tầu cho hai bà cháu
Bấy giờ lại được ra ga
Tay xách làn tay dắt cháu
Bóng bà bóng cháu nương nhau
Miền Nam có thương thì đợi
Tuổi bà mới ngoại năm mươi


Năm ấy chị mới ngoài năm mươi. Năm nay chị đã ngoài sáu mươi rồi. Không thể tay xách làn tay dắt cháu, bóng bà bóng cháu nương nhau được. Một tai nạn ô tô đã làm chị tàn phế một tay. Tai nạn xẩy ra ngay Ngã Sáu, gần nhà tôi. Chị nằm ngất trên đường mưa dầm ngày tết, mặt đường nhựa sền sệt một thứ nước bùn hoa. Cánh tay dập nát, xương gẫy. Nhưng không thể bó bột vì bùn hoa dính vào thịt gây nhiễm trùng dẫn đến hoại thư. Hàng ngày bác sĩ làm vệ sinh vết thương bằng nước, bằng ô xi già và lấy kéo cắt đi những mẩu thịt nhiễm trùng. Chị cắn răng chịu đựng. Lại còn nhớ đến một truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan khi nghĩ rằng mình bị tàn tật cả đời: Cái vốn để sinh nhai. Nhớ lại để cười. Bởi vì từ nay chị cũng có cái vốn như người tàn tật ấy.

Chị bảo người nhà xin cho người tài xế đã gây ra tai nạn khỏi bị truy tố “vì người ta không cố ý, người ta cũng khổ như mình”. Chị gần như không nhận tiền nong quà cáp của bè bạn, của những người thân. “Bởi vì anh ạ, nợ ân tình làm sao tôi trả được”. Ban đêm chị tự phục vụ dù một tay đã dập nát. (Hai đứa con gái, một mới sinh, một sắp ở cữ, chị bắt chúng phải về nhà.) Chị bảo chúng mang cho chị mỗi ngày ba cặp lồng cơm và muối vừng để chị ăn vào ba bữa sáng, trưa, chiều. Nằm gần như bất động, chị xúc từng thìa. Ăn như một nhiệm vụ, như một người cần hồi phục, cần phải sống. Như một cái gì phải vượt qua. Những cô con gái nhăn nhó hỏi mẹ:

– Con hỏi bác sĩ rồi. Mẹ không phải kiêng gì cả. Sao mẹ lại cứ ăn vừng?

“Mẹ thích ăn vừng”. Chị nói vậy. Bởi chị biết các con chị đang rất khó khăn. Chị thương chúng. Chúng là cuộc sống của chị. Ngày chúng còn thiếu nữ, nhìn chúng cắp sách đi học hay nằm ngủ bên nhau, một nỗi sợ trào lên trong lòng chị khi chị nghĩ đến một ngày chúng mồ côi mẹ:

Rồi mai đây khi mẹ vắng ít ngày
Các con ơi đêm mùa thu gió lạnh
Ngủ nhớ đắp tấm vỏ chăn cho ấm
Cửa sổ mở ra cho thoáng gió nghe con
Biết bao lo âu lòng mẹ ngày đêm
Từ khi các con còn là giọt sương trong lòng mẹ
Nếu như mẹ ra đi khi chưa kịp làm bà
Thì đêm đêm mẹ vẫn ru những đứa cháu ra đời
trong giấc mộng
Tình thương lớn không thể đo bằng năm tháng (...)
(...) Đừng khóc con ơi !
Mẹ ra đi như đêm tối
Bước lặng thầm như thể bóng đêm thôi
Mẹ lại về trong tiếng chim rơi
Trong làn khói cơm thơm lửa reo bếp nhỏ
Lời mẹ chuyện trò lao xao trong lời gió
Bóng mẹ ra vào trong bóng lá xanh tươi
Có những món nợ nần mẹ phải trả bằng đời
Một bài thơ về cầu xi măng
Chiếc cầu tuổi thơ đưa mẹ qua con sông nhỏ
Một cây mướp con trồng
ngọn trườn lên cửa sổ
Lá tay xinh quấn quít song tre.


Thật may. Chị nghĩ. Bánh xe chỉ lăn qua bắp tay. Nếu nó lăn thêm một chút nữa sẽ đè dập ngực chị. Chị sẽ chết. Và nếu vậy các con chị thừa hưởng những gì ở chị?

Khơng có gia tài để lại cho con
Chỉ có nước mắt rơi với ngày vui chưa trọn
Và thơ cười
đi suốt những đêm đau


Nguyễn Thị Hoài Thanh đã xuất viện. Chị vẫn sống. Vẫn vào Nam đi mót. Vẫn ra Bắc nâng giấc phụng dưỡng mẹ già chín mươi tuổi bằng một tay duy nhất còn lành lặn. Chị sống dai dẳng. Hài hước. Khoẻ mạnh. Và vẫn làm thơ. Đời Nguyễn Thị Hoài Thanh chưa lúc nào yên tĩnh. Tuy vậy chị vẫn có thời gian nghĩ đến kiếp sau:

Kiếp sau nếu được làm chim
Tình thương dang dở bay tìm nơi nơi
Giương cung
đừng nhé người ơi
Vết thương thuở trước luân hồi còn đau.

 



 

14/01/1999
(Trích Viết Về Bè Bạn – Tủ sách Tiếng Quê Hương(1), phát hành 03-2005)
______________________________________________________________


[/align](1) Tủ sách TIẾNG QUÊ HƯƠNG, P.O. Box 4653, Falls Church – VA 22044
(Trích Viết Về Bè Bạn, Bùi Ngọc Tấn – Tủ sách Tiếng Quê Hương (1), phát hành 03-2005)

http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=3488
Đăng nhập để trả lời
0