HỒI 207: HOẠ HẠI SINH ÁN ĐỨC
Sắc mặt Vương Thế Sung có thêm mấy phần huyết sắc, kế đó chầm chậm mở mắt, nhìn bọn Từ Tử Lăng, Vương Huyền Ứng, Vương Huyền Nộ, Âu Dương Hi Di, Lang Phụng, Tống Mông Thu, Dương Công Khanh, Linh Lung Kiều đứng xung quanh đó một lượt, rồi thở dài nói: “Ta còn chưa chết đựơc!”. Kế đó lại ngoái người ra phía sau, hỏi Khấu Trọng vẫn đang áp chưởng lên bối tâm của y truyền chân khí: “Hiện nay tình thế ra sao?”.
Khấu Trọng thấp giọng đáp: “Tình thế rất tốt!”.
Vương Huyền Ứng thất thanh kêu lên: “Thương thế của cha nặng như vậy, ngươi còn nói tình thế rất tốt nữa à?”.
Lần này thì đến cả Âu Dương Hi Di cũng cảm thấy lời của Khấu Trọng hơi quá đáng, dường như đã trở thành lời châm chọc.
Chẳng ngờ Vương Thế Sung chỉ ho khan hai tiếng, gật đầu nói: “May mà có Trường Sinh Khí của ngươi, khiến ta phùng hung hoá cát,, chỉ cần một tháng hay nửa tháng, ta tất có thể hoàn toàn phục nguyên. Hà! Dùng một chưởng này đổi lấy giang sơn của Lý Mật, chuyện này cũng lời lắm!”.
Nghe Vương Thế Sung nói vậy, nét mặt khó coi của Vương Huyền Ứng cũng trở nên dịu lại.
Vương Thế Sung chợt hỏi: “Sắp xếp thế nào rồi?”.
Khấu Trọng chậm rãi mỉm cười: “Chỉ cần chờ đục tường xong là Vương công có thể tiếp khách được rồi”.
Ngoại trừ hảo huynh đệ Từ Tử Lăng của gã ra, chúng nhân đều lấy làm ngạc nhiên.
o0o
Trần Trường Lâm đến bên Từ Tử Lăng nói khẽ: “Xong rồi!”.
Hậu đường giờ đã trở thành cấm địa, các cửa đều đóng kín, mỗi lối ra vào đều có cận vệ thân tín của Vương Thế Sung canh gác.
Từ Tử Lăng sớm đã điều tức cho sung mãn tinh thần, ngồi trên ghế đối diện với vách tường, hữu thủ thò qua một lỗ nhỏ đục trên tường, rồi lại một lỗ khác đục sau lưng ghế, áp vào bối tâm Vương Thế Sung, chân khí chầm chậm đẩy qua, giống như một nhịp cầu nối liền các kinh mạch bị bế tắc của nhân vật quyền thế nhất Lạc Dương này lại với nhau, để cho y có thể ứng phó với tình hình trước mắt. Trần Trường Lâm và Linh Lung Kiều thì đứng bên ngoài tấm bình phong, hộ pháp cho Từ Tử Lăng.
Đây chính là diệu kế che trời vượt biển mà Hư Hành Chi đã dày công nghĩ ra.
Vương Thế Sung ở tiền sảnh thở ra một tiếng đùng đục, rồi thẳng lưng dậy, hô hấp từ yếu ớt trở nên đều đặn dần dần. Không lâu sau thì có tiếng bước chân vang lên, ít nhất có hơn ba mươi người bước vào tiền sảnh, đều là các tướng lĩnh cao cấp dưới trướng Vương Thế Sung.
Tiếng hỏi thăm vang lên không ngớt.
Lang Phụng cao giọng nói: “Mời chư vị đứng dậy!”.
Có tiếng quần áo sột soạt, chư tướng lần lượt đứng dậy.
Vương Thế Sung ho khan mấy tiếng nói: “Hôm nay bản thừa mời các vị đến đây, thực ra là có một tin rất tốt muốn thông báo, thắng lợi đã đến gần trước mắt. Cụ thể thế nào, mời Dương đại tướng quân giải thích cho mọi người được hiểu”.
Dương Công Khanh lập tức hưng phấn nói: “Kế dụ địch đại công cáo thành, hiện giờ Lý Mật đã tuởng rằng thượng thư đại nhân bị hành thích trọng thương, tính mạng nguy cấp như chỉ mành treo chuông, kỳ thực thì kẻ thọ thương là một người khác. Đêm nay thượng thư đại nhân sẽ đích thân đến Yển Sư đốc quân ứng chiến, khiến cho Lý Mật có đến mà không có đi!”.
Vương Thế Sung cười lên ha hả: “Nơi này cho Lang Phụng tướng quân làm chủ, Tống Mông Thu tướng quân và Huyền Ứng, Huyền Nộ làm phó, tất cả phải chấp hành quân lệnh, không được lơ là. Ngày sau bản thừa khải hoàn trở về, dẹp yên bọn phản tặc sẽ luận công ban thưởng”.
Các tướng đều đồng thanh dạ ran, khí thế dâng trào.
Lúc này Từ Tử Lăng đã cảm thấy khó mà tiếp tục, cũng may là sau khi Tống Mông Thu dặn dò không được tiết lộ bí mật về thương thế của Vương Thế Sung, các tướng liền lập tức ra về.
Từ Tử Lăng vội vàng thu hữu thủ về, để Khấu Trọng đứng bên cạnh dùng chân khí giúp y giữ được tinh thần. Có tiếng Âu Dương Hi Di vang lên bên ngoài: “Thế Sung huynh cảm thấy thế nào?Chỉ cần tiếp thêm một đám người nữa là huynh có thể về hậu đường nghỉ ngơi rồi”.
Lúc này tiếng bước chân lại vang lên, Từ Tử Lăng hít sâu vào một hơi thanh khí, đưa tay vào lỗ nhỏ, ấn lên lưng Vương Thế Sung.
o0o
Từ Tử Lăng đang ngồi xếp bằng trên giường, vận công điều tức thì Khấu Trọng đẩy cửa bước vào,vẻ mặt mệt mỏi, nằm phịch xuống đất như muốn vứt bỏ tất cả, tứ chi duỗi ra, miệng lẩm bẩm: “Có biết thế gian này thứ gì là khó đối phó nhất không, chính là con người đó, con người lúc nào cũng nghĩ cách tranh đấu, hại người lợi mình. Chỉ cần nơi nào có người, nơi đó sẽ có chuyện xấu xa xảy ra”.
Từ Tử Lăng không có phản ứng gì, Khấu Trọng cũng chẳng lấy làm quái lạ, chẳng bao lâu thì đã ngủ thiếp đi”.
Mưa đã ngưng được nửa canh giờ, nhưng trên trời vẫn còn mây đen vần vũ, khiến người ta có cảm giác bất cứ lúc nào mưa lớn cũng sẽ trở lại thế gian.
Đến khi Hư Hành Chi và Âu Dương Hi Di đến tìm bọn gã, Khấu Trọng mới tỉnh lại, mơ màng ngồi dậy.
Âu Dương Hi Di ngạc nhiên thốt: “Tại sao lại ngủ trên đất như vậy?”.
Khấu Trọng vươn vai lười nhác, vừa ngáp dài vừa nói: “Đây gọi là hấp thụ địa khí!”. Nói đoạn liền bật người đứng dậy: “Tình hình bên ngoài thế nào rồi!”.
Âu Dương Hi Di ngồi xuống, chậm rãi thuật lại: “Dương Động đã hai lần phản công để thăm dò quân tâm sĩ khí của bọn ta, nhưng đều hao binh tổn tướng rút lui. Theo ta thấy thì trừ phi có ngoại viện, bằng không bọn chúng chỉ có ngồi mà chờ chết”.
Khấu Trọng và Hư Hành Chi ngồi xuống hai bên của lão.
Khấu Trọng cười cười nói: “Cái này gọi là mua dây buộc mình, cho dù trừ được Vương công, nhưng lại có thêm một Lý Mật, thật không hiểu Độc Cô Phong định làm trò gì nữa?”.
Từ Tử Lăng mở mắt gật đầu chào hỏi với Âu Dương Hi Di, rồi nói: “Phải là không lường trước được mới đúng. Ban đầu bọn chúng muốn mượn lực Lý Mật, nhân lúc Vương công đến Yển Sư, đoạt lấy quyền khống chế Lạc Dương, chẳng ngờ cơ sự không thành, nên mới để Vương công kịp thời trở về, thế trận đại loạn, Lý Mật mới thừa lúc sơ hở mà vào”.
Hư Hành Chi chợt lên tiếng: “Trầm Lạc Nhạn, Hoảng Công Thác đã rời Lạc Dương từ sáng sớm nay, quân Ngoã Cương giờ như tên đã rời cung, thế không thể dừng lại được”.
Khấu Trọng cả mừng thốt: “Lý Mật à! Cho dù ngươi gian ngoan như quỷ thì lần này cũng phải uống nước rửa chân của Khấu Trọng ta!”. Kế đó lại le lưỡi nói như vẫn chưa hết sợ: “Có điều đêm qua quả thực vô cùng nguy hiểm, suýt chút nữa thì không thể nào trở mình được nữa rồi”.
Âu Dương Hi Di gằn giọng: “Tri nhân tri diện bất tri tâm, không ngờ Khả Phong lại là hạng tiểu nhân bỉ ổi đó”.
Hư Hành Chi trầm ngâm: “Lão Quân Quan rốt cuộc là câu kết với Lý Mật hay Độc Cô Phong? Điểm này tương đối quan trọng”.
Khấu Trọng phân tích: “Có lẽ là liên quan với Lý Mật thì đúng hơn. Người đứng đầu Lão Quân Quan là yêu đạo Bích Trần, nói không chừng là cũng học theo Chúc Ngọc Nghiên, đặt cược Lý Mật sẽ giành được thiên hạ. Nếu như ngày nào Lý Mật lên làm hoàng đế, tà đạo của Bích Trần sẽ trở thành quốc giáo, áp chế phật môn chính tong của Từ Hàng Tịnh Trai và Tịnh Niệm Thiền Viện. Hừ! Bích Trần tính toán rất hay, có đièu ta sẽ khiến hắn trộm gà không được còn mất thêm đấu gạo!”.
Âu Dương Hi Di chán nản thở dài: “Thật không ngờ truyền nhân của Lý Nhĩ lại có hạng gian nhân hại thế như vậy, ta thật hận không thể lập tức đánh lên Thuý Vân Phong, thế thiên hành đạo một phen!”.
Lúc này có người đến báo, Tống Lỗ muốn gặp Khấu Trọng.
Khấu Trọng đang định nhờ Tống Lỗ trợ giúp, nghe tin liền mừng rỡ chạy ra đón tiếp.
o0o
Tống Lỗ và Khấu Trọng ngồi trong một gian khách sảnh nhỏ, đợi cho tỳ tử lui ra ngoài, mới lên tiếng: “Có phải tình hình Vương Thế Sung nguy ngập lắm không?”.
Khấu Trọng rướn người lại gần y thấp giọng nói: “Không nghiêm trọng như vậy, có điều muốn phục nguyên…sợ rằng cũng phải mất hơn mười ngày!”.
Tống Lỗ chau mày: “Sao lại để sơ thất như vậy?”.
Khấu Trọng không dám giấu y, bèn kể lại cả quá trình sự việc diễn ra, sau đó nói: “Kình lực của Lý Mật có thể thôi tâm phá phù, bá đạo phi thường, cũng mau lúc ấy Tiểu Lăng kịp thời đỡ lấy, thêm vào chân khí hộ thể của bản thân Vương Thế Sung cũng khá hùng hậu, hoá giải được bảy tám phần kình đạo, bằng không mạng y giờ đã ô hô ai tai rồi”.
Tống Lỗ nói: “Địa Sát Quyền của Lý Mật tương đối nổi danh trong giang hồ, bởi vậy chắc hẳn hắn tự tin mười phần vào võ công của mình. Thế nên đảm bảo hắn tuyệt đối không thể ngờ được chân khí Trường Sinh Quyết của hai người lại có khả năng khởi tử hoàn sinh, đưa Vương Thế Sung trở về từ Quỷ Môn Quan. Chẳng trách bọn Trầm Lạc Nhạn chẳng buồn lưu lại thêm một ngày để quan sát tình thế biến hoá, sáng sớm hôm nay đã theo dòng người tránh nạn, ngồi thuyền rời Lạc Dương rồi”.
Khấu Trọng mỉm cười: “Nếu không phải tiểu tử để cho chúng đi, bọn chúng cũng không đi được dễ dàng như vậy đâu. Đêm nay tiểu tử sẽ đến Yển Sư, không biết Lỗ thúc có dự định gì chưa?”.
Tống Lỗ nói: “Đại chiến đã gần kề, chúng ta ở đây lại cũng không có tác dụng gì lớn, nên cũng chuẩn bị Nam hạ, ngươi có lời gì cần ta chuyển cáo không?”.
Y nói hết sức đơn giản nhẹ nhàng, nhưng hiển nhiên là đang muốn Khấu Trọng tỏ rõ lập trường của mình với Tống phiệt.
Khấu Trọng nghĩ đến Tống Ngọc Trí, trong lòng bất giác cảm thấy hụt hẫng, hồi lâu sau mới nói: “Khấu Trọng có tư cách tranh đoạt thiên hạ hay không toàn bộ đều nhờ vào Dương Công Bảo Khố, nếu không đào được thì cho dù có khởi sự cũng chỉ có thể làm một tên tiểu tặc mà thôi. Hiện giờ nói những lời ấy dường như còn hơi quá sớm”.
Tống Lỗ vuốt râu mỉm cười: “Nếu người người đều giống như ngươi phải đợi tìm được bảo tàng mới khởi nghĩa, vậy giờ này chắc Dương Quảng vẫn còn an nhiên ngồi trên bảo toạ hoàng đế của y đó”.
Khấu Trọng cười khổ: “Đây gọi là mỗi lúc khác, khi đó khắp thiên hạ đều oán giận triều đình, chỉ cần có người đứng ra là muôn người cùng theo, hơn nữa bản thân những kẻ ấy đều là đại tướng đương quyền của Tuỳ thất hoặc cũng là hạng có tiền có thế, binh lực lớn mạnh. Giờ đây cục thế cắt đất chia giang sơn đã định, nếu muốn người khác bán mạng vì mình, tất phải có điểm đặc bệt để thu hút. Giang hồ không phải có truyền ngôn rằng chỉ cần lấy được Dương Công Bảo Khố, sẽ có được thiên hạ hay sao? Đây chính là thứ mà con quỷ nghèo như tiểu tử đây muốn có”.
Tống Lỗ gật đầu: “Chỉ nghe mấy lời này đã biết Tiểu Trọng ngươi hiểu được lòng người, đây chính là điều kiện tiên quyết để tranh đoạt thiên hạ. Yên tâm đi! Chỉ cần ngươi có thể làm ra thành tích, Tống gia sẽ toàn lực ủng hộ. Hừ, nếu để người Hồ giành được thiên hạ, người Hán bọn ta còn chỗ dung thân sao?”.
Khấu Trọng biết y đang ám chỉ Lý phiệt. Lý gia là quý tộc ở vùng Lũng Tây, xưa nay luôn tích cực thông hôn với các quý tộc Tiên Ty, xâm nhập Trung Nguyên từ thời Nam Bắc Triều để tăng cường thực lực chính trị và quân sự, còn các sĩ tộc phương Nam như Tống gia thì xưa nay luôn hôn nhân khép kín, để gìn giữ sự thuần nhất của huyết thống và văn hoá. Bởi vậy xưa nay luôn có sự cố kỵ bài xích lẫn nhau giữa người miền Nam và miền Bắc.
Ở phương Bắc, chuyện thông hôn với người Hồ là hết sức bình thường, những gia tộc gốc Hồ như Nguyên, Trưởng Tôn, Vũ Văn đều hết sức lớn mạnh. Đại thần bên cạnh Dương Động mà Vương Thế Sung muốn thanh thảo Nguyên Văn Đô rồi một nhân vật quan trọng trong Thiên Sách Phủ của Lý Thế Dân, Trưởng Tôn Vô Kỵ đều không phải là người Hán, thế nên chuyện Tống phiệt ngờ vực bài xích là vô cùng tự nhiên. Nếu không phải có tình thế vi diệu này, Tống Khuyết cũng không đồng ý hứa gả Tống Ngọc Trí cho Lý Thiên Phàm khi Lý Mật công hạ được Lạc Dương. Nguyên nhân cũng chỉ vì Vương Thế Sung là người Hồ.
Nhưng “người phương Nam” như Khấu Trọng, lại càng phù hợp với tâm ý của Tống phiệt hơn.
Khấu Trọng gật đầu nói: “Tiểu tử có một chuyện muốn nhờ, chỉ e chỉ mình Lỗ thúc mới làm nổi mà thôi”.
Tống Lỗ vui vẻ nói: “Đừng tâng bốc ta quá như vậy! Ta thấy ngươi từ một tên tiểu tử vô danh, trở thành cao thủ mà thiên hạ võ lâm đều ngưỡng mộ, cũng giống như thấy hài tử của mình trưởng thành vậy, có gì cần giúp đỡ, thì cứ thoải mái nói ra đi!”.
Khấu Trọng thầm cảm động, ngần ngừ một lúc rồi nói: “Tiểu tử muốn nhờ Lỗ thúc đi Phi Mã Mục Trường báo cho trường thủ Thương Tú Tuần một tin tức quan trọng”. Tiếp đó lại giải thích tường tận âm mưu của bọn Lưu Vũ Châu và Tiếu Tiễn cho Tống Lỗ nghe,trầm giọng nói: “Lỗ thúc phải đích thân nói rõ tình hình cho Thương trường chủ biết, nếu để người khác đi, chỉ sợ nàng ta sẽ hoài nghi mà hỏng mất đại sự”.
Tống Lỗ gật đầu: “Ta hiểu! Chuyện này ngươi cứ yên tâm!”.
Khấu Trọng lại nói tiếp: “Nếu lần này may mắn thắng được Lý Mật, tiểu tử và Tiểu Lăng sẽ đến Giang Đô xem phải đối phó với liên quân Đỗ Phục Uy, Trầm Pháp Hưng thế nào. Lỗ thúc có thể nói với Thương trường chủ, Tiểu Trọng sẽ phái một người tên Hư Hành Chi đến báo cáo tình hình cho nàng ta rõ, người này nàng ta cũng biết mặt rồi”.
Tống Lỗ trầm ngâm giây lát rồi hừ nhẹ một tiếng: “Tên tiểu tử Tiêu Tiễn này thật khả ố, mượn lực chúng ta để kềm chế Lâm Sĩ Hồng, còn mình thì mưu tính chiếm lấy trọng trấn phía Bắc Trường Giang, có điều Chu Xán lẽ nào lại để y tự ý mở rộng thế lực lên phía Bắc như thế chứ?”.
Khấu Trọng nhớ người tự xưng là Già Lâu Lan Vương Chu Xán này, khi ở bến cảng Ba Lăng, gã còn hiểu lầm động thủ với nữ nhi võ công cao cường của y, Độc Thù Chu My, bèn thuận miệng hỏi: “Tình hình phía Chu Xán gần đây thế nào?”.
Tống Lỗ đáp: “Kẻ này thủ đoạn hung tàn, nên rất không được lòng người, có điều thủ hạ của y đông đến mười vạn, tuyệt đối không thể xem thường. Gần đây có đại chiến với tam đại khấu, tuy chiếm được thượng phong, nhưng cũng không có cách nào khuếch trương thế lực, nếu ngươi có thể hàng phục binh tướng dưới trướng họ Chu này, rồi dùng nhân đạo quản trị vùng đất của y, phối hợp với các quân tinh nhuệ ở Phi Mã Mục Trường và tàn quân Cảnh Lăng, đảm bảo có thể làm nên việc lớn”.
Khấu Trọng nghe vậy hai mắt sáng rực, gật đầu nói: “Lời vàng ngọc của Lỗ thúc Khấu Trọng nhất định sẽ nghe theo, quả nhiên gừng càng già càng cay!”.
Tống Lỗ phì cười nói: “Chuyện này nói thì dễ, làm thì khó, nhưng nếu có thể trừ được mối hoạ Chu Xán này thì cũng là một chuyện tốt cho thiên hạ thượng sinh, có thể tăng thêm uy vọng cho ngươi, thu phục lòng người. Lúc ấy thuận thế trừ diệt luôn tam đại khấu, phối hợp với quân Lĩnh Nam của Tống gia chúng ta, ít nhất là một phân tư thiên hạ dã nằm trong tay ngươi rồi đó!”.
Khấu Trọng hưng phấn nói: “Chỉ cần đào được Dương Công Bảo Khố, tất cả những chuyện này đều không khó thực hiện, đến lúc ấy nhất định Lỗ thúc phải lãnh binh đến giúp tiểu tử đó!”.
Lúc này có cận vệ đến báo, có khách muốn cầu kiến.
Khấu Trọng lúc này đang hưng phấn, đâu còn tâm trí gặp bất cứ ai, khó chịu gắt lên: “Hiện giờ ta không rảnh! À, người đó có xưng tên không?”.
Tên cận vệ đáp: “Y tự xưng là Tần Xuyên, còn nói Khấu gia nhất định sẽ gặp y”.
Khấu Trọng thất thanh kêu lên: “Là nàng ta!”.
o0o
Khấu Trọng bước vào tiểu sảnh, thấy Sư Phi Huyên đóng giả nam trang vận nho phục đang ngồi trong một góc, sắc mặt điềm tĩnh, đôi mắt trong sáng nhìn gã đăm đăm, dường như ngay cả những cử động nhỏ nhặt nhất của gã cũng không bỏ qua. Tiên giá của nàng tới đâu thì dường như nơi đó liền hoá thành tiên cảnh thánh địa vậy, gian tiểu sảnh tầm thường nhờ có sự xuất hiện của nàng mà cũng trở nên thoát tục.
Khấu Trọng ngồi xuống bên cạnh Sư Phi Huyên, song phương chỉ cách nhau một chiếc bàn nhỏ.
“Sư tiên tử có phải nhầm ta với Tiểu lăng rồi hay không, trong lòng muốn gặp Tiểu Lăng, nhưng lại nói nhầm thành tặc danh của tiểu đệ đây rồi”.
Trong lòng Sư Phi Huyên cũng có cảm giác dị dạng. Từ khi rời khỏi sư môn đến giờ, đây là lần đầu tiên có người dám đùa cợt trước mặt nàng. Trước mặt tiên tử tuyệt thế của nàng, không ai là không bị khí độ siêu phàm thoát tục làm cho trấn nhiếp, chỉ sợ ngôn hành cử chỉ của mình có gì thất thố, làm nàng khinh thị, đâu có ai dám nói năng như Khấu trọng bây giờ.
Sư Phi Huyên chậm rãi nói: “Khấu huynh nhất định là người trời sinh ra đã thích đùa cợt bỡn thế, Phi Huyên lần này chân thành đến đây bái phỏng, mong được thỉnh giáo huynh mấy vấn đề. Ngoài ra, Phi Huyên không phải là tiên tử gì cả”.
Khấu Trọng thoải mái dựa người vào ghế, thở hắt ra một hơi: “Nếu muốn hỏi đáp, tốt nhất Sư tiên tử nên tìm tiểu tử Lý Thế Dân, chỉ sợ tiểu đệ đây sẽ làm tiên tử thất vọng mất thôi!”.
Sư Phi Huyên khẽ nhướng mày lên ngạc nhiên hỏi: “Khấu huynh vẫn còn chưa biết Phi Huyên sẽ hỏi gì, tại sao đã nghiêm trận đón đầu, tràn đầy địch ý như thế?”.
Khấu Trọng cười khổ: “Bởi vì ta sợ tiên tử sẽ cho tiểu đệ một cơ hội tưởng chừng như công bằng mà thực ra lại tuyệt đối bất công, xem xem Khấu Trọng này có phỉa là nhân tài có thể thống nhất thiên hạ như Lý tiểu tử kia hay không. Sau khi đã chứng thực được định kiến trong lòng mình, sau này có thể toàn lực trợ giúp Lý tiểu tử đối phó ta mà không cảm thấy hổ thẹn với lòng nữa rồi”.
Sư Phi Huyên mỉm cười: “Khấu huynh quả thật tâm cơ rất mẫn tiệp, Phi Huyên bình sinh hiếm gặp, chẳng trách mà Khấu huynh có thể trở thành nhân vật hô phong hoán vũ trong thời loạn thế này, có điều thứ cho Phi Huyên ngu muội, không biết Khấu huynh dựa vào gì để nói trong lòng Phi Huyên sớm đã có thành kiến, cho rằng Khấu huynh không bằng Lý Thế Dân vậy?”.
Khấu Trọng cười ha hả nói: “Đây căn bản không phải là thành kiến, mà là sự thực. Hiện giờ tiểu đệ chỉ mới bắt đầu, đối với việc quản chính trị quốc một khiếu cũng chẳng thông, Sư tiên tử có hỏi cũng chỉ biết á khẩu vô ngôn mà thôi. Vì vậy nên mới tình nguyệ không đáp, bảo lưu một chút cảm giác thần bí trong lòng tiên tử, để khi rảnh rỗi…biết đâu…hì hì…Sư cô nương lại nghĩ lại xem tại sao tiểu đệ lại cuồng vọng đến vậy”.
Sư Phi Huyên mệt mỏi thở dài: “Huynh rất tự bíêt mình. Chỉ riêng điểm này thôi đã hiếm có người bì kịp rồi. Nhưng nếu đã như vậy, tại sao Khấu huynh không chọn ra một minh chủ, trợ lực y thống nhất thiên hạ, giải cứu vạn dân khỏi cơn bi khốn?”.
Khấu Trọng hừ lạnh nói: “Khấu Trọng này lẽ nào lại là hạng người chịu khuất phục kẻ khác chứ? Loạn thế tranh hùng là một chuyện, trịquốc an dân sau khi nhất thống thiên hạ lại là chuyện khác. Nếu muốn hỏi, chi bằng tiên tử cứ hỏi ta làm thế nào để có được thiên hạ đi! Những chuyện khác bây giờ nói ra vẫn còn quá sớm”.
Sư Phi Huyên hứng thú hỏi luôn: “Khấu huynh tin cũng được không tin cũng được, lần này Phi Huyên đến đây không phải muốn nói đạo trị quốc với Khấu huynh. Hiện giờ Khấu huynh đã chủ động đưa ra, vậy Phi Huyên cũng không khỏi hiếu kỳ, muốn thỉnh giáo dựa vào thứ gì để đột phá cục thế quần hùng cắt đất hiện nay chứ?”.
Khấu Trọng ung dung nhún vai đáp: “Tiểu đệ đây chỉ đi bước nào hay bước đó mà thôi, nếu đại sự không thành, thì sẽ trở về Dương Châu mở một tiệm ăn nhỏ. Hắc! Trù nghệ của hai huynh đệ bọn ta cũng thuộc loại xuất sắc, nếu tiên tử quá bộ bản quán, tiểu đệ nhất định sẽ làm mấy món chay tiếp đãi. Hà hà! Khấu Trọng này căn bản là một người biết tuỳ ngộ nhi an. Sau này tiên tử không cần hao tâm phí thần với ta nữa, nếu thích thì cứ đi trợ giúp Lý tiểu tử đi!”.
Sư Phi Huyên bật cười khúc khích, duyên dáng đến đọ khiến Khấu Trọng phải tròn mắt lên nhìn, thong thả nói: “Khương thái công có được mưu trong sách Âm Phù của Hoàng Đế, lược trong sách Lục Thao, phò Võ Vương diệt Thương lập quốc, Tô Tần được chân truyền của Quỷ Cốc Tử, du thuyết lục quốc, hợp tung đối phó nước Tần, lấy được ấn tướng của cả sáu nước. Trương Lương tinh thông Tố Thư, Tam Lược giúp Lưu Bang bình định thiên hạ, nay Khấu huynh có được Trường Sinh Quyết, tuy đây là bảo vật chí cao của Đạo gia, có thể giúp Khấu huynh trở thành đại tôn sư võ học trong thiên hạ, song không hề liên quan đến chuyện tranh đoạt thiên hạ, trị quốc an dân. Sao Khấu huynh không sớm quay đầu, tiếu ngạo giang hồ, để thanh danh truyền mãi muôn đời, vậy không phải hơn việc tự mình nhảy vào vòng xoáy tranh giành quyền lực mãi không ngưng nghỉ này hay sao?”.
Khấu Trọng cười khổ: “Chẳng trách mà tiên tử lại hân thưởng tên tiểu tử Từ Tử Lăng đó, mấy câu sau cùng của nàng chính là khắc hoạ chính xác nhất của con người hắn đó. Nếu không phải vậy, hắn đã chịu toàn lực trợ giúp ta tranh đoạt thiên hạ rồi , lúc ấy thì Khấu Trọng này có thể khẳng định tuyệt đối không cần phải mở quán cơm để qua ngày đâu”.
Với tu dưỡng của Sư Phi Huyên, cũng không khỏi chau đôi mày liễu lên nói: “Nếu Khấu huynh còn cố lôi kéo y vào chuyện này, Phi Huyên đành phải cáo từ ở đây, sau này không cần nói gì thêm nữa”.
Khấu Trọng vội rối rít: “Tiên tử bớt giận, sự thực thì tiểu đệ đây cũng vô cùng ái mộ tiên tử, chỉ có điều trong lòng biết rõ sẽ có mọt ngày nàng bạt kiém đối phó với mình, nên chỉ đành cố kềm nén cảm nhận thật trong lòng mà thôi. Giờ tiểu đệ đã biết sai rồi, xin tiên tử cứ tuỳ tiện phát vấn, tiểu đệ biết sẽ nói ngay, nói sẽ nói hết”.
Từ khi xuất đạo đến nay, đây mới là lần đầu tiên Sư Phi Huyên gặp một nam tử dám công khai bày tỏ lòng ái mộ với nàng như Khấu Trọng, nhưng nàng cũng biết rõ kẻ này chỉ thuận miệng nói bừa, không hề thật lòng, trong lòng đáng lẽ phải không vui, nhưng không hiểu tại sao nàng lại cảm thấy rất khó trách cứ gã được. Đây cũng là điểm mà không ai bì kịp được Khấu Trọng, dù là địch nhân thì cũng khó mà hận gã cho được.
Từ khi Khấu Trọng bứơc chân vào gian tiểu sảnh này, hai người luôn đối chọi lẫn nhau. Chỗ cao minh nhât của gã chính là căn bản không để đối thủ nắm được nhược điểm và sơ hở của mình, với trí tuệ phi phàm của Sư Phi Huyên mà cũng có cảm giác không biết nên bắt đầu từ đâu.
Kỳ thực Khấu Trọng cũng có nỗi khổ trong lòng.
Nếu luận kiến thức hay ngôn từ, gã khẳng định không thể bì kịp tuyệt thế kiều nữ thiên hạ vô song này, còn nàng thì rõ ràng là có ý khuyên gã chọn lựa phù trợ minh chủ hoặc thoái xuất giang hồ, gác mộng tranh bá đồ vương. Giả như gã dùng những lời lẽ quá cương quyết để cự tuyệt “hảo ý” của nàng, thêm voà chuyện Hoà Thị Bích trước đó, chỉ sợ sẽ có thêm một cường địch xinh đẹp tuyệt trần mà thiên hạ không ai muốn gây chuyện đến này. Vì vậy, gã chỉ có thể dùng cách của những kẻ bàng môn tà đạo sống nơi đầu đường xó chợ, cùng với thái độ thẳng thắn trực tiếp, khiến nàng chỉ có thể phát nộ nhất thời mà không thực sự trở mặt thành thù với gã.
Chỗ vi diệu bên trong, thật sự khó nói thành lời.
Đôi mắt sáng trong của Sư Phi Huyên như dán vào người gã, hồi lâu sau mới hé nở một nụ cười nhạt, nhạt đến nỗi phải tịnh tâm chú ý mới phát hiện được: “Được rồi! Đạo, đức, nhân, nghĩa, lễ là gì? Khấu huynh có thể giải thích cho Phi Huyên được không?”.
Khấu Trọng lấy làm ngạc nhiên, đồng thời cũng thầm khen lợi hại.
Gã vốn muốn làm nàng tức giận bỏ đi, chẳng ngờ nàng lại không hề động khí, còn đưa ra một đề mục hết sức trừu tượng để thử thách gã, mục đích chính là để gã phải tự lộ cái xấu. Đây không khác gì bức gã xuất chiêu để tìm ra sơ hở, dao động lòng tin tranh đoạt thiên hạ của gã. Nếu như gã vẫn dùng cách lúc nãy để đối đáp, sẽ chỉ làm nàng khinh thị mà thôi.
Nghĩ đoạn, Khấu Trọng đành cười khổ: “Đây giống như đề mục trong thi khoa cử vậy, tiên tử có thể hỏi vấn đề gì liên quan đến hiện thực một chút được không? Ví dụ như làm hoàng đế tốt là thế nào? Làm thế nào dẹp yên được thiên hạ quần hùng? Làm thế nào tạo phúc cho bá tánh chẳng hạn? Tiểu đệ xuất thân nơi xó chợ đầu đường, tự biết mình so với những công tử quý tộc xuất thân trong danh giá thì hiểu được những vấn đề đó hơn một chút. Nhưng nếu bảo tiểu đệ đây thi khoa cử thì đảm bảo ngay cả cuối bảng cũng không có tên ta nữa”.
Sư Phi Huyên thoáng rung động, nàng giỏi thuật nhìn người, nghe những lời này, biết rõ đây đều là lời thật lòng của Khấu Trọng, lại càng hiểu rõ gã đã khéo léo lấy mình so sánh với Lý Thế Dân, khiến nàng cảm thấy dùng cách này để chọn ra minh chủ căn bản là một chuyện không hề công bằng, cũng giống như là một thư sinh đỗ khoa cử, cũng không chắc chắn sẽ trở thành một vị quan được vạn dân kính phục vậy. Đương nhiên nàng tự biết mình không phải là hạng qua loa đại khái chỉ nghe người ta trả lời mấy câu đã đưa ra quyết định như vậy, mà phải thông qua một thời gian dài quan sát và phán đoán mới có được sự chọn lựa cuối cùng.
Khi vị mỹ nữ siêu phàm thoát tục này tưởng rằng Khấu Trọng sẽ không trả lời câu hỏi của mình thì gã đã nghiêm mặt nói tiếp: “Đạo, đức, nhân, nghĩa, lễ mà tiên tử vừa nêu ra kỳ thực chỉ là một mà thôi. Hì, tiểu đệ có nói sai không? Thiên có thiên đạo, nhân có nhân đạo là quy luật mà thiên địa vạn vật đều phải tuân theo. Có đạo thì sẽ có đức. Nhân nghĩa là hành vi phát từ nội tâm, có được từ lòng trắc ẩn thương người. Còn lễ? Lễ là quy phạm được định ra từ đạo, đức, nhân, nghĩa mà tất cả phàm nhân đều phải tuân theo, để bảo vệ quan hệ luân lý đạo đức nhân nghĩa giữa người và người”.
Những lời này đều được ghi trong chương đầu tiên của cuốn binh pháp mà Lỗ Diệu Tử đã tặng cho gã, trong đó còn chỉ rõ, yếu quyết của việc hành binh khiển tướng, là phải hiểu được thiên nhân chi đạo trước đã.
Trong sách có ghi: “Thiên đạo và nhân đạo không phải là phụ trợ lẫn nhau hay sao? Các bậc thánh hiền có ai là không tâm lĩnh thần hội được quan hệ này, đồng thời tận tâm tận lực mà thuận theo thiên đạo đâu. Ví như vua Nghiêu, cung kính thuận theo phép tắc của trời như kính sợ thượng đế vậy, vua Thuấn thì đã tuân theo thiên đạo mà lập nên bảy nguyên tắc lớn để trị vì quốc gia, Đại Vũ thì thuận theo địa lý tự nhiên chia thiên hạ thành Cửu Châu, người kế thừa của triều Ân là Võ Đinh tuân theo thiên đạo nên mới khiến Đại Thương trung hưng, Văn Vương nhờ vào Pháp Thiên Tượng Địa mới suy diễn ra đựơc Bát Quái, Chu Công noi theo quy luật xuân hạ thu đông mà lập nên tổ chức quan sứ, đồng thời đặt ra tam công: thái sư, thái phó, thái bảo, phụ trách điều hoà cân bằng âm dương. Khổng Tử cảm thấy thiên nhân chi đạo thâm ảo huyền diệu nên thường không muốn nói tới, Lão Tử thì dùng một chữ vô một chữ hữu để khái quát quy luật vận hành của thiên địa. Nhìn đạo trời, thuận đạo trời, mới thành được đại nghiệp. Thiên đạo có ngũ đức, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín ai thấy được thì hưng vượng, kẻ nào bỏ qua ắt sẽ bại vong”.
Khấu Trọng là kẻ thông minh tuyệt đỉnh, đã dựa vào đây để phát huy ra một thứ lý luận của riêng gã.
Sư Phi Huyên động dung thốt lên: “Những lời này của Khấu huynh quả là lời ít mà nghĩa nhiều, khiến Phi Huyên không thể không đánh giá lại. Chỉ xin được hỏi thêm một câu nữa, Khấu huynh là vì mình hay vì vạn dân trong thiên hạ mà nói ra những lời này vậy?”.
Khấu Trọng ung dung cười cười đáp: “Nếu nói không phải vì bản thân mình, tại hạ sẽ trái với đạo đức, nhưng chỉ vì mình mà không vì người, thì lại thiếu đi nhân nghĩa. Vì vậy mới nói đạo đức nhân nghĩa chỉ là một mà thôi!”.
Sư Phi Huyên lầm đầu tiên cảm thấy không biết làm gì với tên tiểu tử này, bởi vì nếu đáp án của gã là vì hạnh phúc của vạn dân mới đi tranh đoạt thiên hạ, thì nàng có thể dựa vào đây để thuyết phục gã vì lợi ích của vạn dân mà dừng lại.
Khấu Trọng lại nói tiếp: “Còn vì mình hay vì người trước, thì chỉ sợ cả Lý tiểu tử cũng không phân biệt được rõ ràng đâu? Bằng không thì y đã bỏ đi lợi ích của cá nhân và gia tộc mà đến giúp Khấu Trọng này nhất thống thiên hạ rồi, không biết Sư tiên tử thấy ta nói có đúng không?”.
Sư Phi Huyên chau mày: “Khấu huynh nói vậy không phải là không có đạo lý, nhưng lại quá xa rời thực tế, càng khiến Phi Huyên không thể tâm phục, mà đây cũng là điểm mấu chốt của vấn đề, chính là dựa vào thực lực hiện nay của Khấu huynh, làm sao chế phục chúng?Làm sao có thể dẹp yên quần hùng? Làm cho thiên hạ càng loạn, đối với Khấu huynh và vạn dân đều chỉ có hại mà không có lợi”.
Khấu Trọng cũng phải thừa nhận Sư Phi Huyên là một thuyết khách rất có mị lực, có điều nói cho cùng nàng cũng không cho rằng gã có thể làm ra được chuyện gì, chỉ sợ gã đào được Dương Công Bảo Khố trong truyền thuyết rồi làm cho tình thế đã loạn càng thêm loạn mà thôi.
Sư Phi Huyên bất ngờ uyển chuyển đứng dậy, đôi mắt đẹp nhìn gã đăm đăm: “Thiên phát sát cơ, tinh tú chuyển dời, địa phát sát cơ, long xà rời hang, nhân phát sát cơ, thiên địa phản phục. Hoả sinh từ mộc, hoạ phát tất khắc. Gian sinh từ quốc, thơi động tất tan. Sinh là gốc của tử. Tử là gốc của sinh. Ân đức sinh ra hoạ hại, hoạ hại sinh ra ân đức. Phi huyên đã cạn lời, có duyên sau này sẽ gặp lại!”.
Nói dứt lời liền chậm rãi bỏ đi.
---o0o---
HỒI 208: QUÂN TÌNH ĐỆ NHẤT
Vương Thế Sung ngồi trên giường, tinh thần rõ ràng đã khã hơn sáng sớm nay rất nhiều, nhưng nhãn thần vẫn còn mờ đục, sau khi đảo mắt nhìn chúng nhân đứng xung quanh một lượt, y chậm rãi nói: “Lần này xuất chinh, quan hệ đến thành bại của đại cục. Lão phu không thể đích thân tham dự quả là chuyện đáng tiếc nhất trong đời này”.
Dương Công Khanh vội nói: “Xin đại nhân yên tâm, thuộc hạ có Huyền Nộ công tử và Khấu huynh đệ trợ giúp, chuyến này nhất định sẽ không phụ lòng đại nhân, đánh cho Lý Mật bại không đường lui, vĩnh viễn cũng chẳng thể trở mình. Đợi sau khi đại nhân khang phục, sẽ lại suất lãnh chúng tướng nam chinh bắc thảo, nhất thống thiên hạ”.
Vương Thế Sung trầm ngâm: “Chúng ta và Lý Uyên thuy một ở Quan Tây, một ở Quan Đông, nhưng tình hình thì tương tự như nhau. Chúng ta bị Lý Mật kềm chế, vô phương Tây tiến, còn Lý phiệt thì lúc nào cũng phải đề phòng ứng phó với phụ tử Tiết Cử. Vì thế hiện giờ song phương đều phải tranh thủ thời gian, xem xem bên nào củng cố đựơc thực lực, bình định những mối hoạ bên mình trước, thì bên ấy mới hòng thành đại nghiệp vĩnh thế thiên thu”.
Đây là lần đầu tiên Khấu Trọng được nghe Vương Thế Sung bàn luận về tình cnảh hiện tại của mình, trong lòng biết rõ giờ đay họ Vương đã không thể không coi trọng gã, nên mới để gã nghe những chuyện cơ mật thế này.
Lúc này bên cạnh giường ngoại trừ gã ra, chỉ có Vương Huyền Ứng, Vương Huyền Nộ, Dương Công Khanh, Lang Phụng, Tống Mông Thu năm người, nội điểm này đã có thể thấy đây không phải là một hội nghị thông thường rồi.
Vương Thế Sung thở dài: “Tiết Cử là kẻ xuất thân trong nhà phú quý, xưa nay luôn thích kết giao bằng hữu, vung tiền như rác. Loại người này trừ phi luôn luôn thuận buồm xuôi gió thì mới đứng vững được, còn nếu chẳng may gặp phải thất bại, thì sẽ khó mà tiếp tục kiên trì. Một khi họ Tiết đầu hàng, thực lực của Lý Phiệt sẽ tăng lên rất nhiều, vì vậy chúng ta phải gấp rút tranh thủ trước khi chuyện này xảy ra, đánh vao Quan Trung. Cũng vì thế mà trận chiến với Lý Mật buộc phải tốc chiến tốc thắng, bằng không thì thắng cũng chẳng khác bại là bao”.
Khấu Trọng lần đầu tiên cảm thấy mình phải đánh giá lại con người Vương Thế Sung này, từ những phân tích này, có thể thấy y đích thực là một đại tuớng tinh thông binh pháp, thâm mưu viễn lự.
Vương Huyền Ứng nói: “Nhưng nhi tử Tiết Nhân Quả của Tiết Cử hào dũng thiện chiến, dường như không phải là loại người chịu đầu hàng nhận thua”.
Vương Thế Sung thở gấp hai hơi, Khấu Trọng vội vàng đẩy thêm một đạo chân khí vào nội thể y, tinh thần mới khôi phục lại mấy phần. Chỉ nghe y trầm giọng nói: “Đáng tiếc đối thủ của y lại là Lý Thế Dân trí dũng song toàn, trừ phi Lý Thế Dân chết, bằng không phụ tử nhà họ Tiết khó mà thoát được vận mệnh binh bại đầu hàng”.
Dương Công Khanh gật đầu tán thưởng: “Tiết Cử khởi binh chẳng qua chỉ là gặp thời mà lên thôi, không giống như đại nhân hay Lý Uyên bản thân đã là đại tướng, trước khi khởi nghĩa đrrù đã chinh chiến khắp thiên hạ, hoặ như Lý Mật, Đỗ Phục Uy, Đậu Kiến Đức tự mình giành lấy địa bàn. Năm đó, y dựa vào tiền tài của gia tộc, mà mua một chức hiệu uý nhỏ ở Kim Thành. Năm Đại Nghiệp thứ mưòi ba, Lũng Sơn có tặc phỉ, Kim Thành lệnh Hách Viện mộ được mấy nghìn binh mã, giao cho y thống lĩnh đi tiễu trừ khấu tặc, không ngờ y lại dùng quân đội đó đánh vào kho lương để cứu tế dân nghèo, rồi tự lập làm vương. Một điều nữa là ở Tây Cương không có đối thủ nào xứng tầm, chứ nếu y khởi binh ở Quan Đông thì chỉ sợ sớm đã bị người ta thu thập từ lâu rồi, bởi thế mà lời đại nhân vừa phân tích rất phải”.
Vương Thế Sung nói: “Đêm nay các người đến Yển Sư, ngàn vạn lần không được phô trương. Công Khanh phụ trách chấp chưởng hổ phù soái ấn, thống lĩnh toàn quân, Huyền Nộ làm phó tướng, Tiểu Trọng làm quân sư, ba người phỉa hợp tác chặt chẽ, lợi dụng sự khinh địch của Lý Mật, cho hắn một đòn phủ đầu. Nếu có thắng lợi thì nhất định phải truy kích đến cùng, nếu đoạt được thêm Lạc Khẩu, Hổ Lao nữa thì Lý Mật đại thế đã tiêu, chỉ còn lại hai đường một là chiến tử hai là đầu hàng, thiên hạ sẽ là vậy trong túi Vương Thế Sung này”.
Y càng nói càng hưng phấn, lại ho lên mấy tiếng.
Lang Phụng vội Khuyên: “Chỉ thị của đại nhân, bọn thuộc hạ sẽ nhất nhất chấp hành. Chi bằng đại nhân hãy đi nghỉ ngơi một lát đã!”.
Vương Thế Sung vất vả nói: “Chuyện Thục Ni gả vào Quan Tây, các ngươi cứ theo kế hoạch đã định mà làm, Tiểu Trọng ngươi có đề nghị gì khác không?”.
Khấu Trọng thấy mọi người đều nhìn mình, lấy làm lúng túng, vội nói: “Tất cả đầu nghe theo phân phó của Vương công”.
o0o
Lúc Khấu Trọng trở về đại sảnh thì Từ Tử Lăng và Trần Trường Lâm đang nói chuyện phiếm, thấy Khấu Trọng đến, Từ Tử Lăng liền vui vẻ nói: “Thì ra Trường Lâm huynh là người ở Nam Hải quận, gia tộc nhiều đời kinh doanh trên biển, nói chuyện với huynh ấy một buổi, thật còn hơn đi cả vạn dặm đường. Trường Lâm huynh biết rất nhiều kỳ phong dị tục ở các nơi, đảm bảo ngươi chưa được nghe bao giờ”.
Khấu Trọng thầm cảm thấy hổ thẹn, từ khi quen biết đến giờ, gã và Trần Trường Lâm còn chưa nói chuyện với nhau quá mười câu, nên vội vàng nói: “Trần huynh không phải thân thích của lão Hoảng đấy chứ! Đều là người Nam Hải cả mà?”.
Trần Trường Lâm rõ ràng không phải là người thích đùa, chỉ nghiêm mặt giải thích: “Khấu huynh hiểu lầm rồi! Nam Hải ở đây chính là chỉ biển lớn ở phía Nam bản quốc, ven bờ có đến mười mấy quận, Nam Hải quận của chúng ta và Chu Nhai quận của Nam Hải Phái cách nhau hơn hai mươi ngày thuyền trình cơ”.
Khấu Trọng ngồi xuống bên cạnh Trần Trường Lâm: “Biển lớn rốt cuộc có những nơi nào kỳ thú? Năm xưa khi còn ở Dương Châu, ta thường thấy các thương thuyền ngoại quốc đến buôn bán, bọn họ ăn mặc rất là kỳ quái”.
Trần Trường Lâm nói: “Nhà Trần mỗ chính là buôn bán với người Ba Tư và Đại Thực đó”.
Khấu Trọng buột miệng hỏi: “Sao Trần huynh không ở lại Nam Hải quận mà phát tài, lại lặn lộn thiên sơn vạn thuỷ đến đây làm gì?”.
Song mục Trần Trường Lâm sáng rực lửa căm hờn, trầm giọng nói: “Nếu không phải bất đắc dĩ, có ai muốn sống cảnh tha hương đất khách quê người đâu chứ, chuyện này một lời khó mà nói hết, mong Khấu huynh lượng thứ”.
Khấu Trọng động tâm hỏi: “Có phải liên quan đến Trầm Pháp Hưng không?”.
Trần Trường Lâm giật mình chấn động: “Khấu huynh thật lợi hại, vừa đoán đã trúng ngay. Tuy không liên quan trực tiếp, nhưng Trầm Luân là nhi tử của y, thật sự không thể không tránh khỏi liên quan”.
Từ Tử Lăng và Khấu Trọng đưa mắt nhìn nhau, hạ thấp giọng hỏi: “Trầm Luân đã làm chuyện gì thương thiên hại lý với Trường Lâm huynh vậy”.
Trần Trường Lâm tở dài: “Trầm Luân hại ta nhà tan cửa nát, thù này không báo, ta có chết cũng không nhắm được mắt”.
Khấu Trọng đang định nói gì đó thì cận vệ chợt vào báo: “Tất cả đã chuẩn bị xong, xin hai vị đại gia động giá!”.
o0o
Mười hai chiến thuyền cùng lúc rời khỏi Lạc Dương, dọc theo dòng Lạc Thuỷ thiến thẳng đến Yển Sư, do thuận dọng nước, nên thuyền đi rất nhanh, tựa hồ nhất tả thiên lý. Trên đoạn đường thuỷ từ Lạc Dương đến Yển Sư, hai bên bờ đều có đặt trạm canh gác ở chỗ cao, giám thị tình hình trên sông, về mặt an toàn có thể nói là tuyệt đối không có vấn đề gì.
Ngoài Dương Công Khanh, Vương Huyền Nộ, đồng hành chuyến này còn có Linh Lung Kiều, chuyên phụ trách nghe ngóng tin tức tình báo. Mỹ nữ Quy Tử này sau khi lên thuyền liền tránh vào phòng riêng, cả cơm tối cũng khôgn ra ngoài ăn với mọi người.
Từ Tử Lăng cũng không hứng thú xã giao với Dương Công Khanh, nên ở lại trong tịnh thất của mình điều tức.
Sau bữa cơm, Dương Công Khanh lo lắng nói: “Lý mật rất giỏi dùng kế trá nguỵ kẻ địch của hắn nhiều khi đến lúc khai chiến mới biết mình đã trúng kế. Không biết Khấu huynh có lương sách gì để ứng phó chưa?”.
Khấu Trọng mỉm cười: “Lần này để xem thuật nguỵ trá của ai cao minh hơn. Việc quan trọng nhất trước mắt là phải tìm được địa điểm chính xác nơi đóng quân của Lý Mật, sau đó mới bắt đầu định kế. Ta đã hẹn với bọn Trác Kiều hội ngộ tại Yển Sư, đến lúc ấy bọn ta sẽ nắm được hư thực của hắn. kẻ giết chết Lý Mật, chính là nhi nữ của Trác Nhượng này đây”.
Vương Huyền Nộ không hiểu hỏi: “Khả Phong yêu đạo đã biết chuyện của Trác Kiều, tự nhiên sẽ nhắc nhở Lý Mật, chỉ e chúng ta sẽ trúng phải gian kế của hắn mất”.
Dương Công Khanh cũng gật đầu đồng ý.
Khấu Trọng cười ha hả: “Vấn đề là cả lão tử cũng không biết trong đám cựu bộ hạ của Trác Nhượng đó, ai là người thân tại Tào doanh tâm tại Hán. Tốt nhất là Lý Mật cứ hoài nghi tất cả đám cựu tướng đó, làm cho người người đều cảm thấy mình đang nguy hiểm, bất cứ lúc nào cũng bị chính chủ tử của mình sát hại, lúc ấy thì chỉ cần Lý Mật bại một trận, đảm bảo lòng quân sẽ tan rã. Quân Ngoã Cương chia năm sẻ bảy, khiến Lý Mật có muốn đông sơn tái khởi cũng chẳng còn binh tướng”. Ngưng một chút rồi gã gằn giọng nói từng chữ một: “Vì vậy chúng ta chỉ cần đại thắng một trận, Lý Mật sẽ vĩnh viễn không thể trở mình”.
Song mục Vương Huyền Nộ lộ ra thần sắc ngưỡng mộ: “Khấu đại ca đối với chuyện gì cũng có cách nhìn hết sức độc đáo và cao minh”.
Dương Công Khanh vẫn chưa thấy yên tâm, trầm ngâm nói: “Tổng binh lực của chúng ta chỉ có hai vạn người, tuy nói đều là tinh binh đã chinh chiến lâu năm, nhưng so với đại quân mười vạn của Lý Mật, bất luận là y có tổn thất thế nào sau trận Đồng Sơn với Vũ Văn Hoá Cập, cũng vẫn hơn xa chúng ta. Có lẽ hắn không thể thua trận này, nhưng chúng ta thì còn cần thắng lợi hơn gấp bội hắn, vì vậy phải tìm cách khiến hắn không thể dùng ngụy kế gian mưu, thì may ra mới có cơ hội đại thắng được”.
Khấu Trọng thong dong đáp: “Về mặt này đại tướng quân có thể tuyệt đối yên tâm. Thủ hạ của Trác Kiều có một người tên là Tuyên Vĩnh, người này tinh thông binh pháp, do trước đây đã từng theo Trác Nhượng Nam chinh Bắc chiến, bây giờ lại luôn giữ liên lạc với các tướng sĩ trung thành với họ Trác trong quân Ngoã Cương, bởi vậy mọi động tĩnh của quân Ngoã Cương y đều nắm rõ như lòng bàn tay, đảm bảo là Lý Mật có đặt mông xuống đâu, quay tả quay hữu thế nào chúng ta cũng biết được hết. Hà! Hai ngày nay mọi người đã bận rộn lắm rồi, chi bằng nhân lúc này về phòng nghỉ ngơi cho sớm, bởi vì sau khi đến Yển Sư, e là ngay cả thời gian để ngủ cũng không có nữa đâu!”.
o0o
Khấu Trọng đẩy cửa bước vào, chán nản nằm vật xuống bên cạnh Từ Tử Lăng đang đả toạ, hai chân vẫn chạm đất, thở hắt ra một hơi nói: “Trước đây không phải ngươi hay nằm luyện công à? Bây giờ sao lại học người ta ngồi xếp bằng đả toạ vậy, lẽ nào ngồi vậy thoải mái hơn vừa ngủ vừa luyện hay sao?”.
Từ Tử Lăng từ từ mở mắt: “Ngươi lai làm sao rồi, làm gì mà tức khí đầy bụng thế?”.
Khấu Trọng cười khổ: “Làm sao thì không sao, chỉ có điều hơi lo lắng một chút thôi! Đến giờ ta mới biết dù là Lý Mật tổn hao rất lớn sau trận Đồng Sơn nhưng binh lực vẫn ở trên chúng ta một bậc. Trận chiến này rất có thể sẽ lặp lại tình cảnh ở Cảnh Lăng! Mà ta còn phải tìm đủ mọi cách tỏ ra quân ta sẽ tất thắng để an ủi người khác, cái chức quân sư này thật không dễ làm!”.
Từ Tử Lăng mỉm cười: “Binh thư không phải đã nói binh quý hồ tinh bất quý hồ đa hay sao? Sau khi kịch chiến, tinh binh mãnh tướng của Lý Mật hẳn đã tử thương không ít, sĩ khí mết mỏi. Còn quân ta thì ai ai nấy nấy đều quyết ý tử chiến, bởi vậy, chỉ cần có sách lược ổn thoả, né mạnh đánh yếu, tất sẽ đại thắng thôi”.
Khấu Trọng cười khổ: “Đây cũng chính là điểm mà ta lo lắng nhất, lần trước khi ứng phó thích khách, tưởng chừng như đã chắc chín phần mười, nào ngờ đến cuối cùng vẫn đi sai một nước cờ, bị Lý Mật lợi dụng sơ hở, kế giả yếu dụ địch suýt chút nữa thì hỏng bét, nếu không phải có diệu kế của Hư Hành Chi, trận này chắc không cần phải đánh nữa rồi”.
Từ Tử Lăng chợt mở to mắt, trầm giọng nói: “Trận này chúng ta nhất định sẽ thắng, bởi Lý Mật nhất định cho rằng Vương Thế Sung trọng thương khó mà dậy nổi, lòng quân tản mạn, sĩ tốt không còn đấu chí, thế nên sẽ có ý khinh thị. Tình thế hiện nay, Đỗ Phục Uy và Trầm Pháp Hưng bất cứ lúc nào cũng có thể đánh tới Giang Đô, rồi dọc theo đường cũ của Vũ Văn Hoá Cập đánh lên phía Bắc, Đậu Kiến Đức thì đang có ý đồ Nam hạ, Lý phiết cũng phải ứng phó đại quân của phụ tử Tiết Cử ở mặt Tây, Lý Mật có thể kịp thời lấy được Lạc Dương hay không, thực sự có ảnh hưởng rất lớn đến bá nghiệp tranh thiên hạ của hắn. Vì vậy Lý Mật giờ đây còn nôn nóng lấy được Lạc Dương còn hơn chúng ta nôn nóng muốn giết hắn nhiều. Ngươi hiểu không?”.
Khấu Trọng ngồi thẳng người dậy, tinh thần phấn chấn: “Ngươi nói hay lắm! Nhưng nếu Lý Mật chặn đường trở lại Đông Đô của bọn ta, rồi dùng tinh binh đi theo đường thuỷ tiến công Lạc Dương từ phía Tây thì chúng ta phải làm sao?”.
Từ Tử Lăng thản nhiên nói: “Lý Mật còn nhẫn nại được như vậy sao? Lúc ấy chỉ cần chúng ta thủ vững Yển Sư, kéo chân sau của Lý Mật, đồng thời chặt đứt đường tiếp tế của hắn, Lạc Dương lại là thành kiên cố nổi tiếng trong thiên hạ, dễ thủ khó công, càng kéo dài, đại quân của hắn càng vô tâm luyến chiến. Bởi vậy cho nên ta có thể khẳng định trừ phi hắn không đến, bằng không nhất định sẽ dùng sách lược thắng một trận để lập uy và làm phấn chấn sĩ khí, rồi mới thừa kế đoạt lấy Đông Đô”.
Khấu Trọng vỗ giường khen: “Kiến giải hay lắm!”. Kế đó gã lại trầm ngâm nói: “Hi vọng Trác Kiều không làm ta thất vọng, để kỳ binh của Lý Mật biến thành phàm binh, vậy thì chúng ta có thể né mạnh đánh yếu, đại phá quân Ngoã Cương bách chiến bách thắng của hắn rồi”. Nói đoạn liền vỗ mạnh vai Từ Tử Lăng, khen ngợi: “Huynh đệ! Ngươi giỏi lắm!”.
Từ Tử Lăng thản nhiên nói: “Ngươi căn bản không có thời gian rảnh rỗi để suy nghĩ, có sơ sót cũng là chuyện đương nhiên thôi!”.
Khấu Trọng ngây người ra giây lát, rồi khẽ gật đầu: “Câu này của ngươi rất đáng để người ta phải chiêm nghiệm. Còn nhớ khi ở Cảnh Lăng, chúng ta phải đối diện với đại quân công thành của lão gia, ta đã ngộ ra tâm pháp coi cả chiến trường như một bàn cờ, siêu thoát khỏi sinh tử thành bại hay không? Kỳ thủ nếu như muốn chiến thắng, tất phải định mưu trước rồi mới hành động, mỗi nước đều có thể dắt mũi đối phương. Hiện giờ Lý Mật đã đi trước một nước, nhưng cục thế là do chúng ta bày bố, để xem hắn sẽ nhập cuộc thế nào”.
Từ Tử Lăng trầm giọng nói: “Trầm Lạc Nhạn rất giỏi dò la quân tình, đừng quên cuốn sổ bọn ta đã đánh cắp ở nhà ả đó”.
Khấu Trọng biến sắc thốt: “Vậy phải làm sao mới được đây?”.
Từ Tử Lăng chậm rãi nói từng chữ một: “Nếu ngươi muốn dùng kỳ binh đối phó kỳ binh, vậy thì ngàn vạn lần không được động dungj một binh một tốt nào của Vương Thế Sung, chỉ có Trác Kiều và người của nàng ta mới có thể trở thành kỳ binh được mà thôi”.
Khấu Trọng giật mình kêu lên: “Hảo tiểu tử! Ngươi giỏi thật! Có điều nghe khẩu khí của Trác Kiều, lúc này chịu theo nàng ta chỉ có Tuyên Vĩnh và mấy trăm thủ hạ thôi, làm sao đối phó được với đại quân vạn người của Lý Mật được”.
Từ Tử Lăng cười cười nói: “Tên tiểu tử nhà ngươi lúc nào cũng thích dụ ta nói ra cả. Ta không tin là ngươi không có đối sách đâu”.
Khấu Trọng ngượng ngùng đáp: “Ngươi nên biết là ta thích nhất là nghe ngươi phân tích mà. Binh phá có nói cần nhất là phải hư trương thanh thế, trên chiến trường lòng người đều hoảng loạn, cả tên cha mẹ là gì cũng có khi khẩn trương quá mà quên mất tiêu. Bởi vậy nếu như chính diện giao phong, mấy trăm người của Trác Kiều có khi chưa kịp đụng đến cọng lông đối phương có khi đã bị tiêu diệt toàn bộ rồi, nhưng nếu vòng ra phía sau doanh trại, đốt lương thảo địch thì lại thừa sức làm nổi. Bây giờ mọi sự đã chuẩn bị xong, chỉ còn thiếu gió đông nữa thôi. Trác Kiều à! Lần này ngươi có báo phụ cừu hay không thì phải xem ngươi có hăng hái hay không đó!”.
o0o
Hôm sau thì thuyền đã đến bến cảng ngoài thành Yển Sư, Khấu Trọng và Từ Tử Lăng đeo mặt nạ lên, giả làm hai binh tốt tầm thường, trà trộn vào thành.
Bọn gã cởi bỏ quân phục, để lộ ra lớp quần áo lái thương bên dưới, rồi tìm đến địa điểm hẹn trước để kiếm ám ký bọn Trác Kiều lưu lại, nửa canh giờ sau thì đã gặp được Tuyên Vĩnh ở một khu dân cư phía Đông thành.
Khấu Trọng ngạc nhiên nói: “Không ngờ là Tuyên huynh đích thân đến chờ, tình thế ra sao rồi?”.
Tuyên Vĩnh dẫn bọn gã vào trong nhà, đợi mọi người ngồi xuống rồi nói: “Lý Mật hiện giờ đang không ngừng tập trung quân lực, xem ra bất cứ lúc nào cũng có thể tấn công Yển Sư, kế dụ địch của Khấu gia đã có tác dụng”.
Khấu Trọng mừng rỡ: “Lần này ta phải khiến tên lão tiểu tử này có đi mà không có về”.
Từ Tử Lăng trầm giọng nhắc nhở: “Đừng có vui mừng quá sớm như vậy”.
Tuyên Vĩnh gật đầu nói: “Từ gia nói rất đúng. Lý Mật hiển nhiên đã biết có tiểu thư đang ở đây, chẳng những phòng vệ thâm nghiêm, mà còn không cho thuộc hạ tuỳ tiện ra vào thành môn, đồng thời thiết lập các trạm canh ở khắp nơi, phòng ngừa thám tử đến dò la tin tức, khiến cho chúng ta và các tai mắt trong thành khó mà liên lạc với nhau được”.
Khấu Trọng chau mày nói: “Hiện nay tình hình Lý Mật thế nào rồi?”.
Tuyên Vĩnh đáp: “Sau khi đại phá Vũ Văn Hoá Cập, tinh binh hảo mã đã tử thương không ít, sĩ tốt mệt mỏi, chán ngán chiến tranh. Bởi vậy phải điều động thêm binh lính từ nơi khác đến bổ sung, thế nên tuy nói có mười vạn đại binh, song xấu tốt lẫn lỗn, ngoài mạnh trong yếu”.
Khấu Trọng hân hoan nói: “Nếu đã là vậy, nếu có thể nhân lúc quân Ngoã Cương còn đang mệt mỏi, trận cước chưa vững vàng đem quân tấn công, rồi dùng kỳ binh đột kích hậu phương của bọn chúng, khiến Lý Mật trước sau đều thọ địch, nhất định sẽ khiến đại quân ô hợp đó không đánh tự tan, bại không còn một manh giáp”.
Tuyên Vĩnh thở dài than: “Vấn đề là Lý Mật giỏi dùng kế trá nguỵ, nếu bọn ta không nắm được chính xác lộ tuyến hành quân của hắn, bỏ chủ lực mà đánh phải cánh quân phụ, ngược lại sẽ rơi vào cạm bẫy do đối phương bố trí sẵn, lúc ấy thì đến lượt chúng ta bại không dư địa đó”.
Từ Tử Lăng thắc mắc: “Hình như Tuyên huynh không nắm chắc có thể thăm dò được quân tình của Lý Mật thì phải?”.
Tuyên Vĩnh nói: “Sau khi Lý Mật biết được chuyện tiểu thư đã đến đây, đã hoài nghi tất cả những tướng lĩnh trước đây từng có quan hệ mật thiết với đại long đầu, không để bọn họ tham dự đại chiến lần này, đồng thời điều động đi trấn thủ những nơi khác. Hiện giờ chỉ có Trầm Lạc Nhạn, Từ Thế Tích, Nguỵ Trưng, Bùi Cơ Nhân, Vương Bá Đương, Đơn Hùng Tín, Trình Tri Tiết, Trần Chí Lược, Phàn Văn Siêu là được Lý Mật tin tưởng mà thôi, thế nên bọn ta cũng không thể làm gì được”.
Khấu Trọng tức giận mắng: “Ta thật muốn giết chết tên yêu đạo Khả Phong đó quá!”.
Từ Tử Lăng chau mày: “Lẽ nào không có cách gì hay sao?”.
Tuyên Vĩnh mỉm cười nói: “Hắn có kế Trương Lương thì ta có mưu Hàn Tín. Lý Mật chỉ có thể đề phòng mấy đại tướng có quan hệ với đại long đầu, chứ khó mà trừ được hết các bộ thuộc cũ của đại long đầu trong quân. Bọn họ tuy không có tư cách tham dự các hội nghị bí mật, nhưng cũng có thể dựa vào sự điều động binh lính mà cung cấp cho bọn ta những tin tức quý giá”.
Từ Tử Lăng thắc mắc: “Không phải Tuyên huynh vừa nói rất khó liên lạc với người trong thành hay sao?”.
Tuyên Vĩnh gật đầu: “Đích thực là vậy. Trước giờ chúng tôi luôn dùng phi cáp truyền thư hoặc nhét thư vào trong bình ném xuống kênh ngầm cho chảy ra ngoài, nhưng do Từ Thế Tích đã phái người giám thị cẩn mật, nên không thể dùng lại cách này được nữa. Có điều thế nào cũng vẫn phải có người ra thành làm việc, rồi giấu thư tín vào nơi đã chỉ định sẵn, sau đó chúng tôi sẽ đến lấy”.
Khấu Trọng vỗ đùi tán thưởng: “Tuyên huynh ắt hẳn đã tốn không ít tinh thần và tâm lực vào chuyện này rồi”.
Tuyên Vĩnh nở một nụ cười khiêm tốn, chậm rãi nói: “Đầu tiên chúng ta đã biết đại quân của Lý Mật chia thành bốn đạo, ba đạo phân biệt đóng trong ba trại lớn ở ngoài thành, mỗi sư có hai vạn người, đa phần đều là tân binh chưa huấn luyện hoặc các sĩ tốt già yếu. Chỉ có bốn vạn quân đóng trong thành mới là tinh binh đã từng theo Lý Mật đánh khắp thiên hạ, do Trình Tri Tiết, Từ Thế Tích, Bùi Cơ Nhân chỉ huy”.
Khấu Trọng và Từ Tử Lăng cùng lúc phấn chấn tinh thần.
Song mục gã họ Khấu sáng rực lên: “Hà hà! Lý Mật lại muốn diễn lại kế cũ rồi,sáu vạn quân kia chỉ có thể làm bình phong, ta có thể khẳng định chỉ có đạo tinh binh bốn vạn người kia là chân chính đánh đến Yển Sư mà thôi”.
Tuyên Vĩnh gật đầu nói: “Hiện giờ vấn đề quan trọng nhất là có thể nắm được hành tung của bốn vạn người này hay không. Trước đây mỗi lần Lý Mật hành binh giao chiến với người khác, đều dựa vào tin tức tình báo chính xác, dùng kỳ binh đột kích vào lúc địch nhân không ngờ đến nhất, hoặc giả dùng kế dụ địch, trá bại sau dó dùng phục binh phản kích, quay ngược lại dồn đối thue vào chỗ chết, Trương Tu Đà chính vì vậy mà bị hắn đánh cho thảm bại”.
Khấu Trọng nghiêm mặt nói: “Chuyện này phải nhờ đến tiểu thư và Tuyên huynh, có điều phải hết sức cẩn thận, Trầm Lạc Nhạn bà nương quỷ kế đa đoan, tuyệt đối không dễ đụng đến đâu”.
Tuyên Vĩnh gật đầu đáp ứng, rồi lại cười gượng nói: “Một vấn đề khác là Trầm Lạc Nhạn đối với cử động của các vị đều rõ như lòng bàn tay, khiến các vị khó mà trá nguỵ được, đến khi chính diện giao phong, cũng không biết thắng bại sẽ thế nào”.
Khấu Trọng và Từ Tử Lăng đưa mắt nhìn nhau, rồi hạ thấp giọng nói: “Việc này lại phải nhờ tiểu thư và Tuyên huynh rồi. Chỉ có cánh nhân mã của các vị mới trở thành kỳ binh mà Lý Mật không thể nắm được mà thôi. Nếu có thể khiến Lý Mật hiểu lầm đây là một cánh quân bí mật khác của Vương Thế Sung, làm dao động lòng quân của hắn thì càng tốt hơn nữa”.
Tuyên Vĩnh ngẩn người giây lát: “Nhưng chúng tôi chỉ có hai trăm người…à! Tại hạ hiểu rồi! Hai vị quả thật là người gan lớn hơn trời, Tuyên Vĩnh bội phục, bội phục!”.
Khấu Trọng tổng kết lại nói: “Hiện giờ điều quan trọng nhất là phải nắm được tin tức chính xác, chúng ta xin được đợi giai âm của Tuyên huynh!”.
Tuyên Vĩnh nói: “Khấu gia có thể làm cho tại hạ một giấy thông thành không, như vậy ra vào thành sẽ tiện hơn”.
Khấu Trọng nhổm người đứng dậy nói: “Không những ta cho huynh giấy thông thành, mà còn dẫn huynh đi chào hỏi với các binh thường thủ thành, khi cấn thiết có thể trực tiếp đến gặp ta, tránh để đại sự bị lỡ”.
---o0o---
HỒI 209: DOANH TRUNG HỌC PHÁP
Dương Công Khanh trải tấm địa đồ lên bàn, chỉ thấy ở giữa là dòng Lạc Thuỷ, phía trên là Hoàng Hà chảy song song với Đông Đô được ký hiệu bằng một hình vuông đen, nằm ở phía Tây sông Lạc, tiến về phía Đông là Yển Sư, Lạc Khẩu, Hổ Lao và Huỳnh Dương, hai thành Hổ Lao và Huỳnh Dương được xây bên bờ Phiếm Thuỷ và Tố Thuỷ, là sông Hoàng Hà đã nối ba dòng Lạc Thuỷ, Phiếm Thuỷ và Tố Thuỷ lại với nhau.
Khấu Trọng, Từ Tử Lăng, Vương Huyền Nộ, Linh Lung Kiều đứng xung quanh châu đầu vào nghiên cứu. Thời gian khẩn bách, đại quân của Lý Mật bất cứ lúc nào cũng có thể áp sát đến nơi, vì vậy nên không ai dám lơ là chủ quan dù chỉ một phút.
Khấu Trọng chỉ tay vào một điểm đen nhỏ hơi lệch lên phía Bắc nằm giữa Đông Đô và Yển Sư rồi nói: “Quân của Lý Mật chính là tập trung ở chỗ này. Tên này đúng là lão yêu gian hoạt, bởi vì phát quân từ Kim Dung thành này, thì bất luận là tiến công Lạc Dương hay Yển Sư, lộ trình cũng không khác nhau là mấy, khiến cho người ta khó mà đoán biết được hắn sẽ tấn công nơi nào, hau là chia binh làm hai nữa”.
Vương Huyền Nộ nói: “Đây chính là nguyên nhân mà cha ta phải đặt trọng binh đóng ở Yển Sư, nếu Lý Mật dám đánh đến Đông Đô, chúng ta ở đây sẽ khiến hắn rơi vào cảnh lưỡng đầu thọ địch, cùng lúc lại uy hiếp đến cả Hổ Lao, Lạc Khẩu ở phía Đông nữa”.
Dương Công Khanh gật đầu nói: “Vì vậy nếu Yển Sư thất thủ, Đông Đô sẽ hoàn toàn mất đi cứ điểm quan trọng phía Đông, Lý Mật càng không cần lo lắng phòng bị phía sau và chuyện lương thảo tiếp viện nữa mà có thể phóng tay toàn lực công hạ Lạc Dương. Bởi thế mà việc giữ được Yển Sư hay không, thực có ý nghĩa vô cùng quan trọng với quân ta đó”.
Linh Lung Kiều nhắc lại suy đoán của Khấu Trọng: “Nếu hắn chia binh làm hai đường, rồi phối hợp với Độc Cô Phiệt làm nội ứng, lấy công Lạc Dương làm chủ, bao vây Yển Sư làm phó, vậy chúng ta phải ứng phó làm sao?”.
Dương Công Khanh quả quyết nói: “Nếu tin tức của Tuyên Vĩnh là không sai thì Lý Mật tuyệt đối không có năng lực phát động thế công quy mô lớn như vậy, thêm nữa, chỉ cần bọn Độc Cô Phiệt và Dương Động có thể giữ được Hoàng cung thêm hai ngày nữa đã là giỏ lắm rồi, nên dù chúng có muốn nội ứng ngoại hợp đi chăng nữa, cũng chỉ hữu tâm vô lực mà thôi. Huống hồ bọn chúng lại càng mong thượng thư đại nhân và Lý Mật lưỡng bại câu thương hơn ai hết, làm sao lại ngu xuẩn đến mức dẫn sói vào nhà như vậy chứ, thế nên chúng ta có thể hoàn toàn yên tâm về Đông Đô”.
Từ Tử Lăng chỉ vào một rặng núi dài gần trăm dặm phía Bắc Kim Dung thành hỏi: “Đây là núi gì?”.
Dương Công Khanh nói: “Đó là Mang Sơn, Lão Quân Quan của Khả phong yêu đạo chính là ở đỉnh Thuý Vân Phong trong dãy núi này”.
Khấu Trọng nói: “Lý mật đúng là gian giảo, Kim Dung thành dựa lưng vào Mang Sơn, vậy nên hắn không cần lo phòng thủ phía sau nữa. Còn nếu chúng ta tấn công thành, hắn lại có thể ngầm phục kỳ binh trong núi, bất thần đột kích, khiến bọn ta khó mà phòng bị kịp”.
Dương Công Khanh nói: “Chẳng những như vậy, nếu như cần bỏ Kim Dung, hắn vẫn có thể đi xuyên Mang Sơn, vượt qua Đại Hà, trở về thủ ở Hà Dương, đó là một trọng trấn ở miền Hà Bắc, đồng thời cũng là căn cứ quan trọng để bổ sung thêm hậu viện cho đại quân ở tiền tuyến của Lý Mật. Xét về chiến lược, bố cục như vậy là vô vùng chặt chẽ rồi, vì vậy nếu không phải Lý Mật chủ động tấn công, chúng ta căn bản không thể làm gì được hắn. Còn nếu cứ mạo hiểm đánh vào Lạc Khẩu, bị hắn xuất binh công ở Kim Dung công hạ Yển Sư vậy thì đại quân viễn chinh của chúng chỉ còn một con đường toàn quân tan rã mà thôi”.
Lúc này Khấu Trọng và Từ Tử Lăng đã nắm được tình thế của hai phía địch ta và cũng bắt đầu hiểu ra được ảnh hưởng có tính quyết định của vị trí địa lý đến thành bại của cả cuộc chiến.
Dương Công Khanh thở dài: “Vì vậy ta mới luôn ủng hộ kế dụ địch của Khấu tiểu huynh, bằng không nếu để Lý Mật áp sát Đông Đô, dụ chúng ta xuất quân từ Yển Sư, rồi hắn lại lập tức quay ngược về Kim Dung thành, lúc ấy thì chúng ta chỉ có thể trở về Yển Sư, cứ như vậy mấy lần, chúng ta sẽ bị hắn dắt mũi mà đi, mệt mỏi chán nản, không bại mới là chuyện lạ đó”.
Chính vì Khấu Trọng đã sớm biết Lý Mật sẽ giở kế này, nên mới nghĩ ra kế dụ địch, chỉ là tính đi tính lại, cũng không ngờ suýt chút nữa thì Vương Thế Sung mất mạng.
Từ Tử Lăng chậm rãi nói: “Nếu chúng ta cứ cố thủ ở Yển Sư, dựa vào thực lực hiện giờ của Lý Mật, rốt cuộc có cách nào để công phá thành trì không?”.
Dương Công Khanh tự tin nói: “Đám thương binh mệt mỏi của Lý Mật thì làm được gì chứ? Chỉ cần trong thành có đủ lương thảo, ta có thể đảm bảo giữ vững, tuyệt đối không cho quân Ngoã Cương sính cường làm loạn”.
Khấu Trọng cười lên ha hả: “Lời này của đại tướng quân lập tức làm tiểu đệ nghĩ ra diệu kế. Chúng ta hãy xuất một chiêu mời người thiêu lương đi vậy!”.
Vương Huyền Nộ lập tức hiểu ra: “Đây đích thực là diệu kế. Chúng ta có thể vận chuyển lương thảo giả đến quân doanh ở bờ Nam phù kiều, làm ra vẻ như muốn tấn công Lạc Khẩu. nếu địch nhân cho rằng đã thiêu huỷ lương thảo thành công, ắt sẽ mau chóng khởi binh, có phải là như vậy không?”.
Khấu Trọng lắc đầu: “Nhị công tử vẫn còn thiếu một chút nữa mới đoán đúng, chính là chúng ta phải cho hắn thiêu lương thảo thật, chỉ cần để lại lương thảo cho mười ngày là được”.
Ngoại trừ Từ Tử Lăng ra, ba người còn lại đều tròn mắt ngạc nhiên.
Khấu Trọng vỗ ngực tự tin nói: “chỉ có dùng lương thảo thật mới có thể gạt được Lý Mật và Trầm Lạc Nhạn. Đây cũng là kế đốt thuyền đập nồi, làm quân sĩ có lòng quyết tử, như vậy mới có thể nhất chiến định giang sơn được”.
Dương Công Khanh hít sâu một hơi, rồi thở hắt ra nói: “Như thế không phải hơi mạo hiểm quá sao?”.
Khấu Trọng hăng hái nói: “Không mạo hiểm, làm sao đánh bại được Bồ Sơn Công Lý Mật xưa nay nổi danh bách chiến bách thắng chứ? Chính vì không ai có thể ngờ được bọn ta gan lớn hơn trời, nên mới trúng kế này. Chỉ cần đánh bại quân chủ lực Nam hạ của Lý Mật, đám quân già yếu bệnh tật của Đơn Hùng Tín thì làm được trò trống gì chứ? Lúc ấy bọn ta có thể chia binh hai đường, một lấy Kim Dung, một vây Lạc Khẩu, lương thảo thì vận chuyển từ Đông Đô tới, không cần lo lắng bị người khác cắt đứt đường tiếp viện đâu”.
Sắc mặt Dương Công Khanh lúc ám lúc minh, hiển nhiên là đang rất do dự.
Từ Tử Lăng trầm giọng nói: “Hiện giờ Đông Đô tự lo cho mình còn khó, nếu Lý Mật dùng cách đánh chặn đường, vậy đạo quân của chúng ta sẽ trở thành cô quân, sớm muộn gì cũng rơi vào cảnh lương thảo thiếu thốn. Nếu đã là vậy, chi bằng cứ dụ Lý Mật ra quyết chiến một trận, ít ra vẫn còn một cơ hội thắng lợi”.
Vương Huyền Nộ tái mặt nhắc nhở chúng nhân: “Nhưng chỉ có một cơ hội”.
Dương Công Khanh ngẩng mặt lên trần suy nghĩ, hồi lâu sau mới nói: “Khi nhà Tuỳ vẫn còn, mỗi lần thượng thư đại nhân giao chiến với Lý Mật đều không phải thua về quân lực mà là bại về chiến lược, lần này binh lực bọn ta đã không bằng quân địch, phương pháp duy nhất để chiến thắng chính là dựa vào sách lược hơn người. Được rồi! Lần này ta theo Khấu tiểu huynh đánh bạc với Lý Mật một ván, xem thử coi lão thiên rốt cuộc đứng ở bên nào?”.
Vương Huyền Nộ thở gấp hai tiếng để làm bớt sự khẩn trương trong lòng, hỏi Khấu Trọng: “Huyền Nộ phụ trách bảo hộ lương thoả và kho hàng, rốt cuộc chuyện này phải tiến hành thế nào? Là cố ý khoa trương hay là…”.
Khấu Trọng mỉm cười: “Diễn kịch đương nhiên phải diễn cả vở, ca múa đương nhiên phải ca cả bài rồi, như vậy người xem mới nghĩ là thật chứ, có đúng không?”.
Lúc nói câu này, gã cứ nhìn đăm đăm vào Linh Lung Kiều, làm mặt nàng đỏ ửng lên, cúi thấp đầu không nói gì. Từ khi tỏ ý thích Khấu Trọng, nàng rất dễ bị gã làm cho xấu hổ đỏ mặt.
Vương Huyền Nộ gật đầu nói: “Huyền Nộ hiểu ý Khấu huynh rồi. Hà, nếu kế này không phải được nói ra từ miệng quân sư, Huyền Nộ tất sẽ kịch liệt phản đối cho xem”.
Từ Tử Lăng nói: “Chuyện này không những phải hết sức cẩn mật, mà trong thành còn phải nghiêm khắc chấp hành quân lệnh, cấm chỉ bất cứ người nào ra vào thành, trừ phi được đại tướng quân phê chuẩn, còn đâu đều phải ở lại trong quân doanh đợi lệnh, đặc biệt khi trời tối thì càng phải chú ý canh phòng nghiêm mật hơn”.
Dương Công Khanh gật đầu: “Theo lý là phải vậy, sau khi lương thảo rời kho, phải nhanh chóng dùng hàng giả thế vào. Ta sẽ điều động hai vạn quân đến đóng ở Hà Nam, làm ra vẻ chuẩn bị tấn công Lạc Khẩu”.
Khấu Trọng tiếp lời: “Còn phải phải cung tiễn thủ ra phục ở các cao điểm bên ngoài thành, nếu thấy chim câu bay ra phải lập tức bắn hạ, ngoài ra cần phải đề phòng gian tế lợi dụng đường kênh dẫn nước để đưa tin tức ra ngoài”.
Dương Công Khanh mỉm cười: “Làm vậy không sợ tin tức thật sự bị bịt kín sao?”.
Khấu Trọng cười khổ: “Ta chỉ sợ ngay cả số lương thực còn dư lại cũng bị Lý Mật đốt sạch, lúc ấy thì nguy lắm!”.
o0o
Khấu Trọng và Từ Tử Lăng khôi phục bản lai diện mục, thúc ngựa xuất thành, đi dcọ theo Lạc Hà tiến về phía cầu nổi.
Mặt trời đang ngả dần về Tây, bờ đối diện thấp thoáng ánh đèn, khói lam chiều bay lởn vởn giữa không trung, nhìn bề ngoài thì như có vẻ rất yên bình tĩnh lặng, nhưng không khí thì lại gây cho hai gã cảm giác một trận mưa gió kinh hoàng sắp xảy ra.
Khấu Trọng mỉm cười: “Âm Quý Phái hình như đã biệt tích mất tăm, không biết có phải muốn toạ sơn quan hổ đấu hay không?”.
Từ Tử Lăng hít sâu một hơi không khí mát mẻ của bờ sông, phóng mắt nhìn ra vùng cây xanh um tùm bên bờ đối diện.
Đoạn sông chạy qua Yển Sư hạ du quanh co khúc khuỷu, núi xnah trải dài, hai bên bờ cây xanh tươi tốt, hoa cỏ nở thắm, hơn ba mươi chiếc chiến thuyền đậu bên bờ như điểm xuyến thêm cho khung cảnh nơi đây.
Khấu Trọng thở dài: “Lâu lắm rồi không nghe được tin tức của Tần Thúc Bảo, không biết y có còn dốc sức cho Lý Mật nữa không, tốt nhất đừng để lỡ tay giết chết y đấy!”.
Từ Tử Lăng cuối cùng cũng có phản ứng: “Trầm Lạc Nhạn rất rõ Tần Thúc Bảo là người thế nào, lại càng biết rõ quan hệ của y với bọn ta, vì vậy tuyệt đối sẽ không để y tham dự trận chiến này. Trọng thiếu gia ngươi cứ việc yên tâm”.
Hai gã đi đến phù kiều thì dừng lại, nhường đường cho một đội hơn năm mươi chiếc xe lừa qua cầu. Do phù kiều có hạn chế nhất định về tải trọng nên mỗi lần chỉ có một chiếc xe qua cầu. hai bên đầu cầu đều có đài cao hơn mười trượng, bên trên có binh lính và cung tiễn thủ canh gác, quan sát và giới bị.
Khấu Trọng thấp giọng nói: “Nếu như Lý Mật án binh bất động lại không phái người đến đốt lương thảo, thì bọn ta cứ dứt khoát để lại năm nghìn người lưu lại Yển Sư, còn đâu chia thành hai đường thuỷ lục tấn công Lạc Khẩu, nhân lúc binh lực ở đó yếu kém, nhanh chóng đánh một đòn phủ đầu cướp thành, sau đó ung dung trở về Yển Sư, kéo chân sau của Lý Mật. Lý Mật lùi thì chúng ta cố thủ Lạc Khẩu, đây chính là phương pháp mà Lý Mật đã dùng để thắng Vũ Văn Hoá Cập đó”.
Khi ấy Vũ Văn Hoá Cập dẫn quân Bắc thượng đánh Lê Dương, Từ Thế Tích bỏ thành lui về kho lương phía Tây, còn Lý Mật thì dẫn hai vạn kỵ binh bộ binh đồn trú ở Thanh Kỳ. Sau khi Vũ Văn Hoá Cập chiếm được Lê Dương, liền chia binh bao vây kho lương. Lý Mật và Từ Thế Tích xa gần hô ứng, dựa vào thành cao hào sâu cố thủ không đánh. Còn nếu Vũ Văn Hoá Cập công thành thì Lý Mật ở Thanh Kỳ sẽ xuất binh đột kích hậu phương của y, hình thành thế giằng co, đến khi Vũ Văn Hoá Cập hết lương thảo, dùng kế trá bại phản kích, đánh bại Vũ Văn Hoá Cập ở Đồng Sơn.
Phương pháp của Khấu Trọng không phải là không thực hiện được, nhưng cần phải làm được hai việc trước đã. Đầu tiên là phải dẹp được cấm vệ quân của Dương Động, khiến Đông Đô được an định, kế đó là cắt đoạt đường tiếp viện giữa Kim Dung và Lạc Dương, trong đó việc thứ hai là hết sức khó làm, nếu không nhiều lắm cũng chỉ rơi vào thế giằng co, nếu để Lý Mật khôi phục nguyên khí, tình thế sẽ càng bất diệu.
Từ Tử Lăng làm sao không hiểu được tâm tình lo được lo mất của Khấu Trọng, bèn quả quyết nói: “Yên tâm đi! Lý Mật nhất định sẽ đến. Hơn nữa còn nhanh hơn tưởng tượng của ngươi nữa đó. Bởi vì hắn nhận định mình đã đánh trọng thương Vương Thế Sung, còn Đông Đô thì đang hỗn loạn, lúc này không đến thì còn đợi đến bao giờ nữa?”.
Khấu Trọng cười khổ: “Không ai hiẻu tâm tình ta bằng ngươi cả, trận chiến Cảnh Lăng chỉ là may mắn, thời gian căn bản không đế ngươi kịp suy nghĩ, nhưng lần này là chính thức định mưu rồi mới hành động, điều binh khiển tướng đối mặt trên xa trường. Nếu như để thua, cho dù giữ được mạng nhỏ này thì lòng tin cũng đã mất hết, sau này không cần phải tranh thiên hạ gì nữa. Thắng bại là chuyện thường tình của binh gia, câu nói này chỉ nói cho dễ nghe mà thôi, đại gia số binh gia thất bại đều có đứng dậy được đâu. Còn chúng ta lần này càng không thể thua được, nếu để Lý Mật thắng, cục thế thiên hạ sẽ thành lưỡng Lý tương tranh, kẻ khác chỉ còn biết đứng bên nhìn mà thôi”.
Từ Tử Lăng thở dài: “Lo lắng thì được cái khỉ gi chứ. Chúng ta căn bản không có thứ gì, nhiều lắm cũng là trở lại ngày trước chứ gì. Cũng như lão Dương đã nói đó, mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Giống như đột nhiên có một trận mưa gió, hình thế nói không chừng sẽ hoàn toàn thay đổi thì sao? chiến trường thực sự có quá nhiều thứ mà người ta không thể chống chế được”.
Khấu Trọng trầm ngâm hồi lâu, thấy đội xe đã qua hết, liền cúng Từ Tử Lăng thúc ngựa đi lên: “Ngươi cảm thấy mỹ nữ Thượng Tú Phương đó thế nào?”.
Từ Tử Lăng ngạc nhiên nói: “Thì ra ngươi vẫn còn tâm tình để nghĩ đến nữ nhân cơ à?”.
Khấu Trọng cười cười nói: “Đây gọi là điều tiết mà, nàng ta ở trong bữa tiệc đã ngầm hẹn ta gặp mặt, chẳng ngờ Vương Thế Sung thọ thương làm ta bận rộn từ sáng đến tối, nên quên mất luôn”.
Từ Tử Lăng cảm thán nói: “Quên đi là tốt nhất. Từ giờ khắc ngồi thuyền rời khỏi Lạc Dương, tất cả những chuyện ở Lạc Dương đều dường như bị vứt lại phía sau, trở nên mơ hồ và xa xăm. Đại chiến đã đến trước mắt, đến cả Tố tỷ ta cũng không dám nghĩ đến nữa”.
Phù kiều đã tận, hai gã chậm rãi cưỡi ngựa về cửa mộc trại, dọc đường xa mã, binh lính chen chúc, nhưng do không khí nặng nề trước lúc đại chiến diễn ra mà chẳng nghe thấy tiếng cười đùa vui vẻ, không thấy một nụ cười mà chỉ toàn những gương mặt lo âu.
Khấu Trọng nhẹ giọng nói: “Không phải cả Sư Phi huyên ngươi cũng gác sang một bên đấy chứ?”.
Từ Tử Lăng thở dài: “Sư Phi Huyên đích thực là một kỳ nữ tử khiến người ta khó mà quên được, có điều ngoại trừ cố quên nàng đi, thì còn cách nào khác nữa chứ?”.
Khấu Trọng ngạc nhiên thốt: “Lăng thiếu gia ngươi cũng thành thật lắm. Ồ, suýt chút nữa thì quên mất không nói hco ngươi biết, tối qua Sư Phi Huyên đến kiếm ta, khuyên ta thoái xuất giang hồ, bị ta trêu chọc cho một trận tức quá bỏ đi rồi. Hà! Nữ tử này đúng là có thể làm bất cứ nam nhân nào phải mê muội đếnc chết, khiến tiểu đệ đây cũng suýt chút nữa thì mắc bệnh tương tư như ngươi đó, cái này chắc là có hoạ cùng gánh đúng không nhỉ?”.
Từ Tử Lăng phì cười: “Có gánh mẹ ngươi ấy!”.
Khấu Trọng thất thanh thốt lên: “Mẹ ta không phải mẹ ngươi à?”.
Lúc này hai gã đã đi vào đến sát cửa trại, những chiếc xe còn chưa được kiểm tra đều không được vào trong. Đám binh sĩ canh cửa trông thấy hai gã đều hết sức cung kính, rõ ràng trong lòng họ, hai gã có địa vị rất cao.
Bọn gã hội kiến với Dương Công Khanh và Vương Huyền Nộ trong doanh trại, Linh Lung Kiều đã ra ngoài dò la tình hình quân địch. Khấu Trọng nhân lúc này thỉnh giáo Dương Công Khanh về các vấn đề quân sự, hành quân tác chiến.
Từ Tử Lăng cũng nổi lòng hiếu kỳ hỏi: “Khi chúng tôi còn ở phương Nam, đã từng thấy Đỗ Phục Uy cưỡng bức nông dân nhập ngũ, cực bất nhân đạo, đại quân của Đông Đô có phải cũng vậy không?”.
Dương Công Khanh nhấp một hớp trà nóng, chậm rãi nói: “Từ đời Tần đến Nam Bắc triều, đều lấy trưng binh làm chủ, mộ binh chỉ là phụ trợ thêm mà thôi. Gọi là trưng binh, chính là nam tử thành niên đều phải nhập ngũ, khi không có chuyện thì lao dịch, khi có chiến tranh thì ra chiến trường. Nhưng từ thời Tây Nguỵ thì bắt đầu phổ biến binh chế, thời bình ở nhà sản xuất, lúc nông nhàn thì huấn luyện, mỗi năm phải đến kinh sư hoặc các vùng khác đóng quân một tháng, khi có chiến tranh thì mới phải ra chiến trường. Sau trận chiến thì lại trở về nhà, vũ khí, trang bị, lương thảo đều phải tự lo lấy”.
Vương Huyền Nộ thở dài nói: “Dương Quảng trưng binh liên tục, bắt chiến sĩ phải xa nhà trong thời gian dài, khiến bọn họ không thể chịu đựng được, không phải đào ngũ bỏ trốn thì cũng làm loạn tạo phản, vì vậy cha ta đã đổi sang chế độ mộ binh. Trong thời loạn thế này, chỉ cần có đủ lương thảo, ngân lượng, tự nhiên sẽ có người chịu bán mạng cho mình. Đặc biệt là cấm vệ đội, càng phải cho họ thấy rằng đây là sự nghiệp chung thân, bằng không có nhiều cũng chẳng làm được gì cả”.
Khấu Trọng thắc mắc: “Dựa vào tài lực của Đông Đô, tại sao quân đội lại không nhiều bằng Lý Mật?Chỉ cần bán đi những trân bảo Dương Quảng lưu lại, không phải sẽ chiêu mộ thêm được rất nhiều binh mã hay sao?”.
Dương Công Khanh cười cười: “Ngươi chưa từng nghe câu binh quý hồ tinh bất quý hồ đa hay sao? Lý Mật có trong tay mấy chục vạn quân, lại giở hết âm mưu nguỵ kế, nhân lúc Vũ Văn Hoá Cập hết lương thảo mới đột kích mà vẫn có kết cục thắng thảm, chỉ riêng việc này đã thấy tầm quan trọng của tinh binh thế nào rồi. Cổ nhân có câu: “Binh càng dông thì càng yếu, thưởng càng nhiều thì nước càng nghèo”. Thượng thư đại nhân hiểu rất rõ điều này, nếu như không ngừng tăng binh, sẽ chỉ dẫn đến cục diện binh dư tướng thừa, làm cho sản xuất bị đình đốn, dân chúng không được an sinh”.
Ngưng một chút rồi y lại nói: “Người nhiều cũng vô dụng, lại còn phải lo liệu thêm trang bị lương thưởng nữa, vì vậy mộ binh cần phải chọn lựa nghiêm khắc, đào thải dư thừa, lấy chất lượng làm chủ yếu. Lý Thế Dân liên tiếp thắng trận, cũng là nhờ ở đội kỵ binh Hắc Giáp tinh nhuệ, đột kích bất ngờ làm quân địch choáng váng, nhiều lần lập được kỳ công, nhân số tuy ít nhưng lại không sợ thiên quân vạn mã của địch, chỉ cần trận thế của đối phương rối loạn, đại quân của y sẽ thừa thế tấn công dồn dập, nội ngoại hô ứng, khiến đich nhân phải nuốt hận chốn xa trường”.
Khấu Trọng nghe y nói mà mặt mày rạng rỡ, đến giờ mới hiểu rõ tầm quan trọng của Dương Công Bảo Khố, chẳng trách mà “tiểu quân” hai vạn người của Vương Thế Sung có thể làm Lý Mật uý kỵ đến thế. Đây chính là “nói chuyện với người một buổi, còn hơn đọc mười năm dèn sách”.
Khấu Trọng thấy Dương Công Khanh càng nói càng hứng thú, liền hỏi tiếp về cách tổ chức trong quân đội. Binh thư của Lỗ Diệu Tử tặng gã tinh diệu huyền ảo, nhưng lại thiếu kinh nghiệm thực tế trên chiến trường.
Dương Công Khanh vuốt râu cười cười nói: “Một đạo quân, ít thì hai vạn, nhiều thì vài chục vạn, làm sao mới có thể tổ chức thành một đạo quân mạnh có thể tác chiến trên xa trường? Chỉ có một cách mà thôi. Chính là trị chúng như trị hoả. Đó là năm người một ngũ, năm ngũ thành một hoả, năm hoả thành một đội, hai đội thành một quan, hai quan thành một khúc, hai khúc là một bộ, hai bộ thành một hiệu, hai hiệu thành một tỳ, hai tỳ ghép thành quân. Bất luận là trăm quân hay vạn quân cũng đều thống nhất như vậy, giống như vạn sợi tơ kết thành một mối vậy. Cả đại quân từ tướng đến binh đều xác định rõ cương vị và quan hệ của mình với những người xung quanh”.
Khấu Trọng tán thưởng: “Chẳng trách vừa rồi bao nhiêu người chen chúc trên đường mà không hề xảy ra hỗn loạn”.
Dương Công Khanh nói: “Bất luận là ngũ, hoả, đội, quan, khúc, bộ, hiệu, tỳ, quân hay ngũ, đội, kỳ, tiêu, ty, doanh. Sư, đều chỉ là danh xưng khác nhau mà thôi. Ngoài ra còn phỉa đặt ra người hò hét, người đánh trống, người cầm cờ, đại phu, mã phu, thợ mộc, thợ rèn, tạo thành một hệ thống tác chiến hoàn chỉnh, như vậy mới đủ tư cách ra chiến trường tranh thư hùng với địch nhân được”.
Khấu Trọng đang định lên tiếng hỏi tiếp thì bên ngoài chợt vang lên tiếng ồn ào hỗn loạn, chúng nhân còn đang hoang mang chưa kịp hiểu chuyện gì tì một tên thân binh đã bổ vào báo cáo: “Dương soái, đại sự chẳng lành!”.
Bốn người kinh ngạc nhìn nhau, lẽ nào kỳ binh của Lý Mật đã đến Yển Sư rồi sao?.
---o0o---
HỒI 210: ÁM ĐỘ TRẦN THƯƠNG
Dương Công Khanh, Khấu Trọng, Từ Tử Lăng, Vương Huyền Nộ trợn mắt há hốc miệng ra nhìn kho lương giờ đã cháy thành than, không biết nói gì. Trên mặt đất xếp mười mấy cỗ thi thể của binh lính canh kho và lũ chó canh, tất cả đều đã bị ngọn lửa làm cho đen kịt, khó mà nhận diện.
Đây chỉ là một trong mười sáu kho lương trong thành, nhưng lượng lương thảo cất giữ lại bằng cả mười lăm kho lương khác cộng lại. Lửa bắt cực nhanh, cùng lúc có mười mấy nơi bốc cháy, nếu không phải có tường cao vây kín phân cách kho lương với khu dân cư xung quanh, thời tiết lại đang ẩm ướt thì hậu quả đã không chỉ có vậy.
Viên thiên tướng phụ trách phòng thủ kho lương quỳ trên mặt đất, mặt cắt không còn giọt máu, thần thái tội nghiệp vô cùng.
Dương Công Khanh tức giận quát: “Không thể như vậy được, ta đã phái thêm người phòng vệ, vậy tại sao ngay cả cái bóng của địch nhân cũng không thấy đâu là thế nào? Sao lại để cháy thành than cả như vậy, ít nhất cũng phải kịp thời dập lửa chứ?”.
Viên thiên tướng kia run giọng đáp: “Giếng nước cứu hoả đã bị người dùng cát và đá lấp kín rồi”.
Dương Công Khanh ngây người: “Làm sao gian tế chuyển cát đá đến đây được?”.
Khấu Trọng khẳng định: “Chỉ cần phái ngưòi kiểm tra kỹ càng, nhất định có thể phát hiện ra địa đạo hay thứ gì đó tương tự. Chuyện này chắc là gian kế địch nhân đã chuẩn bị từ trước, tốt nhất là phái người đi kiểm tra tất cả các kho lương trong thành nữa”.
Lập tức có người lĩnh mệnh chạy đi.
Vương Huyền Nộ kéo ba người sang một bên, thấp giọng nói: “Chuyện này đúng là trong sai có lầm, ta vừa mới vận chuyển lương thảo thật ra quân doanh ngoài thành, lương thảo ở đây đều là giả cả. Vì mọi việc đều do thân binh của ta phụ trách vận chuyển, nên những người khác đều không ai biết số mới chuyển đến là hàng giả”.
Khấu Trọng cả mừng: “Nhị công tử làm việc quả thật vô cùng cẩn mật, năm mươi cỗ xe lừa sáng nay có phải vận chuyển lương thảo thật hay không?”.
Vương Huyền Nộ vui vẻ gật đầu: “Đúng là lương thảo thật, lần này phải làm sao?”.
Dương Công Khanh phấn chấn tinh thần: “Cái này gọi là hoạ trung đắc phúc, hay là trời giúp chúng ta cũng được. Hiện giờ quan trọng nhất là phải dốc sức điều tra gian tế, phàm là ngoại nhân không có hộ tịch đều phải bắt lại thẩm vấn, đồng thời trọng thưởng cho những người phát hiện ra kẻ khả nghi. Mặt khác phải tăng cường phòng vệ ở các kho lương khác, tìm cách xây dựng kho lương bí mật để tích trữ lương thảo”.
Vương Huyền Nộ thấy mình vô y lập đại công, chắc sẽ được phụ thân tán thưởng, hân hoan đi ra ngoài.
Khấu Trọng thấp giọng nói: “Xem ra chúng ta cũng nên về soái phủ uống rượu mừng để đón tiếp đại quân của Lý Mật đến rồi!”.
o0o
Trời còn chưa sáng, Khấu Trọng và Từ Tử Lăng đã bị người đánh thức, khi đến đại sảnh của soái phủ thì thấy Dương Công Khanh, Vương Huyền Nộ cũng đang ngáp ngắn ngáp dài, Linh Lung Kiều thì đang ngồi bên cạnh Dương Công Khanh, vừa nói vừa chỉ lên tấm địa đồ trải trên bàn.
Dương Công Khanh ngẩng đầu lên nhìn hai gã đi vào đại sảnh, cười ha hả nơi: “Quân Ngoã Cương đến rồi!”.
Khấu Trọng, Từ Tử Lăng cả mừng, vội bước đến gần ba người.
Linh Lung Kiều hưng phấn nói: “Ta đã liên lạc với tai mắt ở khắp nơi, đồng thời cũng tận mắt trông thấy quân tiên phong của Lý Mật đang thẳng tiến đến đây, nếu không có gì cản trở, ngày mai chúng ta có thể thấy kỳhiệu của quân Ngoã Cương ở bên ngoài thành rồi. Ngoài ra, ta còn phái thêm hơn mười hảo thủ khinh công giỏi nhất, ngày đêm giám thị động tĩnh quân địch, tin tức sẽ dùng phi cáp truyền về”.
Khấu Trọng hỏi: “Là cánh quân nào đang địch động? Nhân số bao nhiêu người?”.
Linh Lung Kiều nói: “Là ba đạo tân binh bên ngoài thành do Đơn Hùng Tín, Trần Chí Lược, Phàn Văn Siêu suất lãnh, quân chủ lực vẫn án binh bất động trong Kim Dung thành”.
Dương Công Khanh lo lắng: “Lý Mật lại muốn dùng kế trá nguỵ gì đây?”.
Từ Tử Lăng cũng băn khoăn hỏi: “Kiều cô nương có tiềm nhập vào thành thăm dò không?”.
Linh Lung Kiều kiêu ngạo đáp: “Không có thành trì nào có thể làm khó dễ được Linh Lung Kiều này, có điều ta sợ đả thảo kinh xà, nên chỉ quan sát từ xa mà thôi. Tình hình trong thành vẫn rất yên bình, rõ ràng là Lý Mật cho rằng mình đã chắc thắng mười mươi, nên mới tự tin như vậy”.
Vương Huyền Nộ hỏi: “Số tân binh đó có phải thật sự kém cỏi như lời Tuyên Vĩnh đã nói không?”.
Linh Lung Kiều nói: “Quân tiên phong do Đơn Hùng Tín chỉ huy nhân số ước chừng khoảng ba nghìn, xuất phát lúc hoàng hôn. Do bị cây rừng che mất thị tuyến, nên ta chỉ dựa vào bụi đất bốc lên mà đoán được số quân, biết được toàn bộ đều là bộ binh, đội ngũ không nghiêm, nên có thể khẳng định đây không phải là đạo quân chính quy đã được huấn luyện đầy đủ”.
Khấu Trọng ngạc nhiên thốt: “Kiều tiểu thư chỉ dựa vào bụi đất bốc lên mà đã nhìn ra nhiều thứ như vậy sao?Quả đúng là cao thủ trong việc quan sát và dò la quân tình của địch!”.
Linh Lung Kiều được Khấu Trọng tán thưởng, vui vẻ lườm gã một cái rồi nói: “Ngươi muốn học thì ta sẽ dạy. Bụi đất bốc cao, chính là kỵ binh. Còn bộ binh thì bụi đất thấp mà cuộn lên liên tục. Đám tân binh của Đơn Hùng Tín làm bụi đất cuộn lên tán loạn không đều, nhất định là vì chưa huấn luyện đủ mà đội hình không nghiêm chỉnh. Nếu là quân tinh nhuệ, bụi đất sẽ bốc lên từng đợt một, thanh mà không loạn, quân dừng thì bụi đất cũng không bốc lên nữa”.
Khấu Trọng và Từ Tử lăng nghe mà chỉ biết gật đầu thán phục, giờ mới biết dò la tình hình địch nhân cũng là một thứ học vấn.
Lúc này có thân binh đến báo đã nhận được tin tức từ tiền tuyến truyền về.
Dương Công Khanh mở thư ra xem lướt một lượt rồi đưa cho Linh Lung Kiều: “Quân đội đóng ngoài thành của Lý Mật đã lần lượt chia làm hai đường tiến về Yển Sư, nhưng chủ lực trong thành thì vẫn không thấy động tĩnh gì, xem ra hắn định dụ cho bọn ta xuất kích đây. Nếu lương thực của chúng ta thật sự bị đốt hết lương thảo, vậy thì cũng chỉ có con đường quyết chiến trước khi lương thực cạn kiệt mà thôi”.
Vương Huyền Nộ gật đầu nói: “Khi ấy hắn có thể dùng chủ lực đột kích, giết cho chúng ta trở tay không kịp”.
Dương Công Khanh thấy Khấu Trọng và Từ Tử Lăng vẫn chau mày như đang suy nghĩ gì đó, thì ngạc nhiên hỏi: “Lý Mật đã trúng kế, tại sao hai người vẫn còn lo lắng như vậy?”.
Từ Tử Lăng nói: “Ta luôn cảm thấy có điều gì đó rất không thoả đáng ở đây. Lý Mật đã có một tên gian tế cao cấp như Khả Phong, làm gì mà không biết cao thủ do thám như Kiều cô nương đang ngày đêm giám sát tình hình hành quân của hắn chứ?Nếu đã như vậy, hắn còn dùng kế này làm gì?”.
Khấu Trọng cũng gật đầu đồng tình, rồi hỏi: “Kiều tiểu thư có thấy các khu có quân lính đóng trong thành được canh phòng nghiêm mật một cách bất bình thường hay không?”.
Linh Lung Kiều khẽ giật mình, lộ ra thần sắc suy tư, gật đầu nói: “Đúng là như vậy, những kẻ đi tuần đều không phải binh lính tầm thường, mà là cao thủ dưới trướng của Lý Mật, thế nên ta mới đứng ở xa quan sát mà không đến tận nơi”.
“Bốp!”.
Khấu Trọng vỗ mạnh một chưởng lên bàn, thở dài than: “Lý Mật! Ngươi thật gian xảo! Nếu ta đoán không lầm, nhất định hắn đã lợi dụng địa đạo để đưa quân chủ lực ra ngoài thành đóng ở một doanh trại bí mật nào đó. Khi bọn ta tưởng rằng quân chủ lực vẫn chưa rời thành, vọng động tấn công đám tân binh của Đơn Hùng Tín, hắn sẽ diễn lại kế năm xưa đã đánh bại Trương Tu Đà, trá bại dụ quân ta rời xa Yển Sư, rồi dùng phục binh đánh úp, lúc ấy toàn quân không tan nát mới là lạ đó”.
Dương Công Khanh biến sắc: “Vậy không phải chúng ta đã mất tiên cơ rồi sao?”.
Khấu Trọng nói: “Điều này thì chưa chắc, việc bốn vạn người bí mật xuất thành, chỉ có thể làm được trong đêm tối, hơn nữa không thể một hai đêm mà làm xong được. Chỉ cần xem đạo quân của Đơn Hùng Tín lúc nào tới đây, thì biết bọn chúng cần bao nhiêu thời gian để chuyển quân, bởi vì đám tân binh đó thế nào cũng phải đợi quân chủ lực chuẩn bị thoả đáng, mới dám đến trước thành chúng ta mà khiêu chiến”.
Vương Huyền Nộ lo âu: “Nếu bọn ta không biết quân chủ lực của Lý Mật đã đi đâu, vậy thì chỉ còn cách cố thủ trong thành, đại kế đã định không còn dùng được nữa rồi”.
Khấu Trọng còn chưa kịp đáp lời tì đã có thủ hạ đến báo rằng Tuyên Vĩnh cầu kiến.
Tuyên Vĩnh chào hỏi qua loa bọn Dương Công Khanh rồi nghiêm mặt nói: “Lý Mật quả không hổ là danh tướng đương đại, không ngờ có thể dự đoán trước tình thế, đào sẵn ba đường địa đạo ra ngoài thành, chuyển quân chủi lực đến Bắc Mang Sơn, nếu không phải tiểu đệ đây hoài nghi từ trước thì cũng khó mà nhìn thấu được thủ đoạn của hắn”.
Dương Công Khanh khẩn trương hỏi: “Có biết hắn trú quân ở đâu không?”.
Tuyên Vĩnh chán nản nói: “Trầm Lạc Nhạn dùng quái điểu của ả bay trên trời giám thị nên tại hạ không dám vọng động, thêm vào đó, các chỗ hiểm yếu trên Bắc Mang Sơn đều có đặt trạm canh, muốn vào cũng vô cùng khó khăn. Theo dự đoán, với tốc độ hiện nay thì sớm nhất cũng phải thêm một đêm nữa Lý Mật mới chuyển hết toàn bộ quân chủ lực đến Bắc Mang Sơn được”.
Chúng nhân châu đầu vào tấm địa đồ chiến lược trên bàn, chỉ thấy Mang Sơn nằm ở phía trên bên trái của Kim Dung thành, kéo thẳng đến Đông Bắc Yển Sư, dài hơn trăm dặm. Nếu không thể nắm được hành tung của bốn vạn người này, sau khi khai chiến chúng có thể trở thành đạo kỳ binh xuất ở phía Bắc, có thể bất thần xuất hiện bất cứ lúc nào, khi ấy thì hậu quả khó mà lường trước được.
Tuyên Vĩnh nói: “Hiện giờ người của chúng tôi đều không dám khinh cử vọng động, hơn nữa đối phương cao thủ như mây, chỉ cần lộ ra hình tích, muốn đào tẩu e rằng còn khó hơn lên trời nữa”.
Khấu Trọng chặt tay xuống, gằn giọng nói: “Chuyện này cứ để ta lo, ta có thể vào Mang Sơn từ phía bên kia, không cần vòng đường núi, chỉ cần bọn chúng đốt lửa nấu cơm, hoắc chặt cây mở đường, là sẽ để lộ dấu vết ngay”.
Từ Tử Lăng nói: “Chúng ta phải suy tính thật kỹ trước đã, lần này Lý Mật bí mật hành quân, chắc chắn đã tính toán chu đáo, không dễ để chúng ta phát hiện như vậy đâu”.
Dương Công Khanh gật đầu đồng ý: “Địa đạo có thể dự kiến đào trước, những thứ khác tất nhiên cũng có thể an bài ổn thoả từ lâu, Mang Sơn rộng đến mấy trăm dặm, muốn tìm một đạo quân cố ý ẩn giấu hành tung đâu có dễ như chúng ta nói ở đây. Đại chiến đã gần kề trước mắt, chi bằng chúng ta quyết định xem nên xuất thành ứng chiến hay tử thủ trước đã?”.
Khấu Trọng quả quyết lắc đầu: “Chún ta vẫn theo kế cũ mà hành sự, trừ phi không tìm được chủ lực của Lý Mật thì mới đổi sang có thủ trong thành. Ít nhất chúng ta cũng còn một ngày một đêm để tận lực”.
Dương Công Khanh im lặng hồi lâu rồi quay sang hỏi Tuyên Vĩnh: “Tình hình bên phía quân Ngoã Cương thế nào?”.
Tuyên Vĩnh nói: “Ở lại giữ Kim Dung thành là quân của Vương Bá Đương, một đại tướng khác của Lý Mật là Bình Nguyên Chân trấn thủ Lạc Khẩu, binh lực cả hai thành đều dưới vạn người. Đại tướng thống lĩnh tân binh đến tấn công Yển Sư là Đơn Hùng Tín, người này vì tranh giành một kỳ nữ nên có hiềm khích rất sâu với Vương Bá Đương, nhưng cũng là một tướng tài”.
Khấu Trọng nói: “Bình Nguyên Chân thì sao?”.
Tuyên Vĩnh tỏ vẻ coi thường: “Kẻ này binh pháp cũng không tồi, rất giỏi thủ thành, nhưng quá thiếu đảm sắc nên không thể là nhân tuyển để dẫn binh xung phong nơi trận tiền”. Kế đó lại hừ lạnh nói: “Đơn Hùng Tín, Bình Nguyên Chân đều là cựu tướng của quân Ngoã Cương, trước nay đều không hoà mục với những kẻ mới đến được Lý Mật sủng tín như Bùi Cơ Nhân, Từ Thế Tích, Trầm Lạc Nhạn, Vương Bá Đương lắm, bởi thế chỉ cần đột phá quân của Lý Mật, đảm bảo quân Ngoã Cương sẽ chia năm sẻ bảy, mỗi người tự lo cho mình. Vấn đề làm sao mới đại phá được kỳ binh của Lý Mật ẩn nấp trong Bắc Mang Sơn rộng lớn dó bây giờ?”.
Dương Công Khanh thở dài: “Vậy thì đành phải ngồi đây đợi tin tức tốt lành thôi”.
o0o
Khấu Trọng, Từ Tử Lăng, Linh Lung Kiều, Tuyên Vĩnh đứng trên một đỉnh núi trong dãy Bắc Mang Sơn, dõi mắt nhìn xung quanh, chỉ thấy núi non trùng điệp kéo dài xa tít tắp, cảnh sắc biến ảo vô định, cực kỳ u tĩnh.
Trong thâm cốc phía xa xa, cây cối càng rậm rạp, mọc đầy trên dốc núi. Những chỗ hiểm yếu, tùng, bách, du tươi tốt cắm rễ trên vách đá dựng ngược.
Bắc Mang Sơn đúng là sơn phong thuỷ tú, chẳng trách mà Lão Quân Quan lại chọn nơi đây làm căn cứ địa, nhưng nếu như muốn tìm một đạo quân bốn vạn người giữa một dãy núi bao la thế này, quả thật đúng như Dương Công Khanh đã nói, chỉ có thể dựa vào vận khí.
Khấu Trọng hỏi: “Lão Quân Quan ở hướng nào?”.
Linh Lung Kiều chỉ về phía Kim Dung thành: “Chính là ở Đông Bắc Kim Dung thành, cách Yển Sư chừng nửa ngày đi ngựa, nhưng đương nhiên là không tính đoạn đường núi”.
Khấu Trọng gật đầu: “Bất luận thế nào, để kịp phối hợp với đạo quân của Đơn Hùng Tín, Lý Mật phải trọn một nơi nào đó không cách Yển Sư quá xa mà mai phục. Bốn vạn người cũng không phải là ít, chỉ cần tìm kiếm khu vực phía Mang Sơn phía Bắc Yển Sư thành, chắc chắn sẽ có dấu vết. Thời gian không nhiều, phải nhân lúc còn sương mù che chắn, chúng ta đi thôi!”.
o0o
Mưa càng lúc càng dày, đi giữa chốn thâm sơn cùng cốc này, dường như đi vào một thế giới hoàn toàn khác, muốn phân biệt đường đi đã không phải chuyện dễ, nói gì đến chuyện tìm kiếm tung tích địch nhân chứ. Trong tình trạng như vậy, ngay cả Linh Lung Kiều cũng không thể thi triển bản lĩnh.
Trời tối, công việc tìm kiếm càng khó khăn hơn.
Tuyên Vĩnh đề nghị: “Chi bằng chúng ta đi gặp đại tiểu thư trước, nhân thủ nhiều hơn, cơ hội thành công cũng sẽ lớn hơn”.
Khấu Trọng lắc đầu: “Nếu để địch nhân phát hiện chúng ta, kế dùng kỳ binh khắc chế kỳ binh sẽ tan thành bọt nước”.
Từ Tử Lăng trầm giọng: “Chi bằng chúng ta đến Lão Quân Quan thử vận khí. Để nhanh chóng hành quân trong núi, Lý Mật chắc phải vận chuyển chiến mã lương thảo đến một nơi nào đó trong núi để chờ sẵn. Nếu vậy thì không còn nơi nào phù hợp hơn Lão Quân Quan nữa, yêu đạo ở đó có cấu kết với Lý Mật mà”.
Khấu Trọng chau mày: “Suy luận của ngươi cũng rất hợp tình hợp lý, nhưng Lão Quân Quan ở tít trên Thuý Vân Phong, lên xuống thật không tiện lợi lắm đâu!”.
Tuyên Vĩnh giật mình thốt: “Khấu gia không biết rồi, bên dưới Thuý Vân Phong có Thuý Vân Cốc, trong cốc hơn mười toà tịnh xá cho các thiện nam tín nữ đến tham bái tạm thời nghỉ ngơi, còn có cây rừng che kín, nếu lập quân doanh ở đó, đích thực là vô cùng bí mật”.
Khấu Trọng vừa kinh ngạc vừa mừng rõ hỏi: “Từ Thuý Vân Cốc đến Yển Sư mất bao nhiêu thời gian?”.
Tuyên Vĩnh nói: “Chỗ đó không có sơn đạo, ít nhất phải mất hơn một canh giờ mới ra khỏi núi được. Kế đó mấy chục dặm đều là bình nguyên bằng phẳng, nếu toàn là kỵ binh, khoái mã tốc hành thì không cần hai canh giờ là đến nơi”.
Khấu Trọng vỗ tay reo lên: “Lần này được cứu rồi, Lý Mật và Trầm Lạc Nhạn à!Những gì mà các ngươi nợ ta, lần này tính hết một lượt đi!”
o0o
Lão Quân Quan toạ lạc trên đỉnh Thuý Vân Phong sừng sững, cây cối rậm rạp, xung quanh là núi cao, một bên là vực sâu, có thể nhìn thấy khe núi dốc sâu hơn trăm trượng từ trên đỉnh núi. Nếu lên đến đỉnh, có thể nhìn thấy Hoàng Hà ở phía Bắc, Lạc Thuỷ ở phía Nam. Dưới làn sương mù mờ ảo, Lão Quân Quan càng giống như một thần tiên động phủ cao vời trên thượng giới, ai có thể ngờ được người trụ trì ở đó lại là một nhân vật tuyệt đỉnh trong tà phái đâu chứ.
Thuý Vân Cốc nằm bên dưới Thuý Vân Phong, địa thế rộng rãi bằng phẳng, hơn mười toà tịnh xá tường đỏ ngói đen dựng bên bìa rừng phía Bắc sơn cốc, tiểu lộ giao nhau, dã hoa um tùm, khung cảnh như thơ như họa, đích thực là một đào nguyên thắng địa nơi trần thế, khiến người ta càng khó có thể tưởng tượng đến yêu đạo và những binh sĩ đang cầm sẵn đao thương, đợi chờ ác chiến.
Cốc khẩu phía Nam có một rừng tùng lớn, trong thời tiết này, từ trên cao nhìn xuống, cho dù có quân doanh bên dưới cũng khó mà phát hiện ra được. Nối liền với cốc khẩu là con đường dẫn xuống núi, đi xuyên qua hiệp cốc, ngoằn ngòeo khúc khuỷu, có điều do thế núi ngăn cản nên không thể nhìn thấy vùng đất bằng phẳng phía Nam.
Lòng tin của Khấu Trọng bắt đầu dao động: “Nếu đúng là đại quân của Lý Mật ẩn mình trong cốc, tại sao không nghe thấy tiếng ngựa hí gì hết vậy?”.
Lúc này Linh Lung Kiều mừng rỡ chạy lại, hưng phấn nói: “Quả như chúng ta dự đoán, trong rừng có rất nhiều doanh trại của quân Ngoã Cương, nhưng không thấy chiến mã gì hết, xem ra đã giấu ở một nơi khác rồi”.
Chúng nhân đều cả mừng.
Khấu Trọng nói: “Ta và Tiểu Lăng ở lại đây tiếp tục giám thị, các ngươi chia nhau về báo cho đại tiểu thư và đại tướng quân, tất cả đều y kế hành sự”.
Sau đó lại thương lượng thêm một lúc, nói rõ phương thức liên lạc và hội hợp, Tuyên Vĩnh và Linh Lung Kiều mới hân hoan bỏ đi.
Quá buổi hoàng hôn, mưa tạnh trời sáng, tình hình trong sơn cốc trở nên rõ ràng hơn, từ chỗ bọn gã nhìn xuống, có thể thấy quân doanh ẩn hiện trong rừng, thi thoảng còn nhìn thấy quân sĩ đi lại giữa các tán cây nữa.
Khấu Trọng nằm phục trong bụi cỏ, ngưng thần quan sát, hồi lâu sau mới nói: “Tiểu Lăng! Ta cứ cảm thấy có gì đó không ổn lắm!”.
Từ Tử Lăng nằm bên cạnh gật đầu: “Có phải vì không thấy Trầm Lạc Nhạn và con súc sinh kia không? Hay là vì trong doanh trại không có con ngựa nào?”.
Khấu Trọng không đáp mà hỏi ngược lại: “Chúng ta bị Trầm Lạc Nhạn hại không biết bao nhiêu lần, mà lần nào cũng trúng phải gian kế của ả, với sự thông minh của bọn ta mà vẫn bất lực như vậy, ngươi nói xem ả ta lợi hại ở chỗ nào?”
Từ Tử Lăng tịnh tâm nghĩ lại, đồng ý nói: “Ngươi không hề khoa trương, nếu luận âm mưu thủ đoạn, cười nói dùng kế, chúng ta hình như luôn kém Trầm Lạc Nhạn một bậc, từ khi Trác Nhượng bị giết đến lúc Vương Thế Sung bị hành thích, không có lần nào là chúng ta thắng được ả cả”.
Khấu Trọng nhăn mặt nói: “Còn nhớ lần đầu chúng ta gặp ả đã định ra hẹn ước bắt sống ba lần không? Ả đã bố trí cạm bẫy của Dã Tẩu Mạc Thành, để cho bọn ta tự động ngồi lên thuyền giặc, rồi lại cố ý làm lật thuyền trong đám loạn thạch, lợi dụng lòng tốt của bọn ta mà chế phục. Mỗi một chiêu đều tỏ rõ ả rất giỏi phóng đoán tâm lý đối phương. Nếu đã là vậy, thế nào ả cũng đoán được bọn ta sẽ đến Lão Quân Quan dò la đúng không? Vậy ả đâu ngu gì mà đem đại quân ẩn giấu ở chỗ này chứ?”.
Từ Tử Lăng bò lên, cúi xuống quan sát, giật mình nói: “Ngươi nói đúng lắm, quân doanh bên dưới nhất định là kế trung chi kế của Trầm Lạc Nhạn, mười doanh thì chắc có chín là không có ai, chỉ cần mấy nghìn tên làm trá binh, là có thể khiến chúng ta hiểu lầm đây là kỳ binh của Lý Mật rồi. Còn kỳ binh chân chính thì đã ở chỗ khác. Lần này hỏng bét rồi, sau khi trời tối bọn ta làm sao tìm kiếm đây?”.
Khấu Trọng nói: “Chúng ta đành tận lực mà làm thôi. Phục binh chân chính chắc cũng không ở quá xa Yển Sư đâu, vì vậy cứ thử tìm những nơi có hoàn cảnh tương tự như vậy ở vùng phụ cận xem. Nào! Thử xuống dưới kiểm tra cho kỹ, sau khi khẳng định không nghi oan cho Trầm bà nương, chúng ta mới quyết định xem bước sau sẽ thế nào”.
---o0o---
★
★
★
★
★
0